Xem tướng ăn uống và đoán mệnh |
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Yến Nhi (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Yến Nhi (##)
![]() |
| ► Cùng đọc những câu nói hay về cuộc sống và suy ngẫm |
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
![]() |
![]() |
Số 90, 91, 92, 93, 94, 95, 96, 97, 98, 99 có ý nghĩa gì? Giải mã ý nghĩa số 90 đến số 99? Những con số bạn đang dùng mang ý nghĩa gì, con số đó mang ý nghĩa tốt hay xấu? Cùng Phong thủy số tìm hiểu ý nghĩa các con số từ 90, 91, 92, 93, 94, 95, 96, 97, 98, 99.
Ý nghĩa của số 9 là con số may mắn nhất trong dãy số, đây là con số may mắn và thuận lợi nhất.
.jpg)
Số 90 có ý nghĩa gì? Số 90 mang ý nghĩa tốt hay xấu? Ý nghĩa số 90 tượng trưng cho sự nguy khốn, chủ về tang thương, khó khăn vất vả, việc đi lại gặp nhiều khó khăn trắc trở.
Số 91 là số chủ về làm ăn, luôn gặp khó khăn, thất bại, dễ hao tài tốn của. Số 91 có ý nghĩa xấu vì số này đại diện cho sao Tuế phá.
Xem thêm: Giải mã hiện tượng nháy mắt phải, giật mắt trái
Số 92 có ý nghĩa là biểu trưng cho quyền lực, cho sự vĩnh cửu mãi mãi. Ý nghĩa của số 92 là thể hiện sự may mắn trên con đường công danh sự nghiệp, nhanh được thăng quan tiến chức.
Số 93 có ý nghĩa gì? Đây là con số tượng trưng cho sao Bạch Hổ, chủ về sự lo lắng, buồn rầu. Con số 93 mang ý nghĩa về sự khó khăn trong giải quyết công việc, ngoài ra còn là sự hao tán về tiền bạc.
Số 94 mang ý nghĩa về việc làm ăn thuận lợ, mọi công việc đều tiến triển theo đúng định hướng kế hoạch. Đây là một con số may mắn và được nhiều người sử dụng.
Số 95 mang ý nghĩa gì? Con số 95 là tượng trưng cho ngôi sao xấu, chủ về trí đa mưu và thủ đoạn, nếu người làm ăn sở hữu số 95 thì dễ gặp thất bại, lụn bại.
Số 96 đại diện cho sao Phục Tinh. Vậy số 96 có ý nghĩa gì? Ý nghĩa số 96 biểu hiện sự dèm pha, dễ bị người khác cạnh tranh trong công việc, làm ăn nên cận thẩn bị người khác chơi xấu.
Số 97 có ý nghĩa là con Hạc với mong muốn trường thọ. Con số 97 thường được nhiều người sưu tầm với để biếu người khác với mong muốn chúc tụng họ trường thọ, sống lâu với những người thương yêu.
Nhiều bạn thắc mắc về ý nghĩa số 98 mà mình đang sở hữu. Bạn muốn biết số 98 có ý nghĩa gì? Theo Phong thủy số thì số 98 có ý nghĩa là mang lại may mắn, phát đạt thành công cho người sở hữu nó.
Ý nghĩa số 99 là con số kép, gồm 2 số 9. Về mặt ngữ nghĩa thì số 99 có ý nghĩa là trường cửu phát. Vì số 99 là con số tượng trưng cho sức mạnh, cho quyền uy, quyền lực và là thời gian vĩnh cửu.
Mong rằng bài viết trên cung cấp đầy đủ thông tin cho bạn về ý nghĩa các con số từ 90 đến 99. Nếu bạn có những thắc mắc hay ý kiến khác, mời góp ý tại danh mục thư viện: Xem bói.
: Ý nghĩa của các con số từ 0 đến 100
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
Trùng tang là một hiện tượng mà từ trước tới nay vẫn luôn được thêu dệt một cách huyền bí, mang màu sắc tâm linh rõ rệt và thể hiện “quyền lực” siêu nhiên không giới hạn của con người ngay cả khi đã… chết. Vậy “trùng tang” có thật hay không và nên hiểu nó như thế nào trên cả hai phương diện khoa học duy tâm và duy vật

Cách đây hơn một năm, nhiều tờ báo đưa tin về trường hợp trùng tang ở quận Tây Hồ, Hà Nội rất đáng sợ. Đó là một gia đình trong một ngày xảy ra 2 cái chết của bố chồng và nàng dâu cách nhau chưa đến 5 tiếng đồng hồ. Điều đáng nói là người con dâu đang khỏe mạnh bình thường, vẫn còn đang tất bật chuẩn bị “hậu sự” cho bố chồng thì bỗng nhiên đột tử vì cảm. Để tránh không chôn cất cùng một giờ, hơn nữa, chưa được “giờ đẹp” nên người bố “hạ huyệt” trước, sau đó người con dâu mới được khâm liệm và hạ huyệt sau.
Khỏi phải nói gia tộc đó hoảng sợ đến mức nào, nhất là người con trai cả đồng thời cũng là chồng của người vợ quá cố. Anh rất lo lắng cho đứa con trai độc nhất 15 tuổi và cả bản thân mình. Vì người ta bảo nhà anh bị “trùng tang”. Từ trước tới nay anh có biết “trùng tang” là gì đâu, hơn nữa, những chuyện như vậy chẳng khi nào anh quan tâm do không biết thực hư thế nào. Nhưng khi trong gia đình mình cùng lúc 2 cái chết của bố và vợ thì anh hoảng hồn thực sự, đến nỗi ai bảo gì anh làm nấy để gọi là tránh chuyện tương tự xảy ra.
Như gia đình trên đây, thì một gia đình ở ngay phố Ngọc Hà, quận Ba Đình cũng xảy ra những cái chết tương tự. Chỉ khác là gia đình này, trong vòng 3 năm, 2 người con trai duy nhất trong gia đình đều “đi” theo bố và “đi” một cách “bất đắc kỳ tử”. Người bố sau một thời gian bị bệnh nan y thì qua đời khi ở tuổi “thất thập cổ lai hy”. Nỗi đau của những người trong gia đình chưa qua thì chỉ sau cái lễ 100 ngày của ông ít hôm, lại đến con trai trưởng của ông mất. Cái chết của anh ở tuổi “vẫn còn đang xoan” không chỉ khiến cho người ta thương tiếc mà còn làm cho câu chuyện về “trùng tang” được tin nhiều hơn và thêu dệt nhiều hơn.
Đêm hôm trước, anh vẫn còn ngồi quán nước và nói chuyện oang oang về thế sự, không một chút biểu hiện của người đau ốm, bệnh tật. Thế mà sớm hôm sau, khi vợ gọi anh dậy để đỡ chị dọn hàng bán đồ ăn sáng như mọi khi, anh đã mãi ngủ không bao giờ dậy. Liên tiếp 2 cái chết xảy ra trong vòng hơn 3 tháng, tưởng như gia đình anh không thể gắng gượng được.
Vậy mà chưa hết, 2 năm sau, người con trai út đang phơi phới tuổi xuân bỗng dưng một chiều đi làm về kêu mệt, vào giường nằm rồi mất lúc nào cũng không ai biết. Cả gia đình nhộn nhạo, hoảng loạn. Không ai có thể giải thích được nguyên nhân vì sao chỉ trong thời gian ngắn mà cả 3 người đàn ông trong nhà đều ra đi ngoài lý do duy nhất: “Trùng tang”. Và trùng tang như thế được gọi là “trùng tang liên táng”.
Thực ra, từ trước tới nay, chưa bao giờ có một định nghĩa chính thống về “trùng tang” mà chỉ dựa trên hiện tượng rồi đúc kết thành quan niệm. Ngay cả, Phật pháp cũng không định nghĩa về hiện tượng này, mặc dù đây là “hồn cốt” của thế giới tâm linh. Theo cách hiểu dân gian “trùng tang” là trường hợp người chết “phạm” phải năm hoặc tháng hoặc giờ xấu do đó linh hồn không siêu thoát nên cứ quanh quẩn trong nhà trở thành “trùng” (có khái niệm cho rằng là “âm binh”) rồi lần lượt “bắt” theo từng người thân trong dòng tộc.
Nhưng phải trong 3 năm liền xảy ra liên tiếp những cái chết của những người trong cùng dòng tộc mới coi là “trùng tang”. Còn nếu không thì không phải. Có rất nhiều người nhầm lẫn điều này nên thấy trong gia tộc có nhiều người mất nhưng không phải trong 3 năm liên tiếp vẫn nhận là bị “trùng tang”.
Cách tính “trùng tang” theo “Phật pháp bách vấn” thì như thế này: Đối với những người tuổi thân, tý, thìn nếu mất vào một trong bất kể ngày hoặc tháng, năm, giờ tỵ thì coi là bị mất vào ngày trùng tang, còn được gọi là ngày “kiếp sát”. Tức là những tuổi đó “kỵ tỵ”. Mà đã ‘kỵ tỵ” thì những người tuổi thân, tý, thìn càng không được an táng vào ngày tỵ. Tương tự cách tính ấy, tuổi dần, tuất, ngọ kỵ hợi; tuổi tỵ, dậu, sửu kỵ dần; Hợi, mão, mùi kỵ thân. Tiện ích tính tự động trùng tang liên táng tại đây
Còn cách tính ngày trùng là chẳng hạn, ngày dần, tháng dần, năm dần, hay ngày thân, tháng thân, năm thân… cũng được gọi là ngày “trùng”. Ngày “trùng” này không tính riêng cho một tuổi nào mà bất kỳ người tuổi nào mất vào ngày “trùng” cũng “kỵ”.
Sách “Tam giáo chính hội” còn nói đến cách tính “trùng tang” cổ xưa là phải tính theo niên, nguyệt, nhật, thời (năm, tháng, ngày, giờ) thì mới biết người quá cố có “trùng tang” hay không. Theo cách tính đó thì những người mất ở tuổi (âm lịch): 10, 13, 16, 19, 22, (cứ cộng thêm 3) thì sẽ bị “trùng tang”. Hoặc những người tuổi tý, ngọ, mão, dậu nếu mất vào một trong các năm tuổi ấy, cũng coi là “trùng tang”…
Tuy nhiên, việc “trùng tang” có thật hay không hay chỉ là sự ngẫu nhiên tình cờ?
Mặc dù là thế giới tâm linh đầy huyền bí và cũng có hẳn cách tính ngày “trùng tang” nhưng Phật giáo lại quan niệm về “trùng tang” như thế này: Sống chết là chuyện thường niên, do nghiệp lực của tự thân mỗi người chi phối. Sống và chết chỉ là hai hiện tượng trong tiến trình luân hồi bất tận. Nghiệp tuy có chung và riêng song nghiệp riêng vẫn giữ vai trò chủ động, quyết định, có tính cách độc lập, không ai có thể thay thế cho ai. Vì thế Phật giáo không có quan niệm về ngày trùng tang, trùng nhật và hoàn toàn phủ nhận việc ngày giờ mất cũng như chôn cất của một người mà có thể ảnh hưởng đến sự sống chết của người khác…”.
Trên cơ sở khoa học, GS.VS Đào Vọng Đức, PGS.TS Hà Vĩnh Tân, những nhà vật lý thuộc Hội Vật lý Việt Nam cũng đã bỏ nhiều thời gian nghiên cứu về vấn đề này đã lý giải theo cách của mình.
Mà cách lý giải ấy rất giống với những kiến giải của cố GS Nguyễn Hoàng Phương - nhà vật lý học nổi tiếng - từng giải thích hiện tượng “trùng tang” theo lý thuyết sóng điện từ và trường năng lượng: “Trong mối quan hệ giữa người chết bị “trùng tang” và người bị “trùng bắt” không có sự tiếp xúc xác thịt trực tiếp nên tất yếu phải có phần sóng vô hình của đôi bên tham gia vào. Đó có thể là một hiện tượng cộng hưởng sóng mang tính chất huyết thống, dòng họ. Do tần số khác nhau nhiều nên theo lý thuyết về nhạc, loại cộng hưởng này mang tên cộng hưởng Harmonic (tần số này là bội số của tần số kia). Đó là cơ chế cộng hưởng Harmonic hình thái huyết thống”.
Còn TS Đỗ Kiên Cường, một người rất am hiểu về những khả năng tiềm ẩn của con người, về những cái gọi là “thế lực siêu nhiên”… đồng thời là tác giả của rất nhiều bài viết lý giải về vấn đề này dưới góc độ khoa học cho rằng: “Trùng tang” đơn giản chỉ là sự trùng hợp mang tính ngẫu nhiên. Trong đó, bản chất của sự trùng hợp là luật số lớn trong lý thuyết xác suất và thống kê. Định luật này đơn giản có thể hiểu là: “Với một mẫu xét đủ lớn, bất kỳ hiện tượng kỳ lạ nào cũng có thể xảy ra”.
Như vậy, với những cách giải thích trên đây, mặc dù chưa có cách giải thích nào có thể chứng minh theo kiểu “tai nghe mắt thấy” nhưng rõ ràng “trùng tang” chỉ là một quan niệm “siêu thực”, xuất phát và tồn tại trong tín ngưỡng, thế giới tâm linh của con người. Và khi đã tồn tại trong tín ngưỡng dân gian, thế giới tâm linh của con người thì nhận định như nhà văn hóa Trần Lâm Biền “cần gì phải biết đúng - sai; thực - hư mà cứ để nó như vậy. Duy chỉ có điều không được khoác lên nó, thêu dệt xung quanh nó màu sắc mê tín dị đoan”.
Còn cách “hóa giải” trùng tang như Phật giáo khuyên: “Vì là tập tục đã ăn sâu vào tâm thức mọi người nên trong tinh thần phương tiên, nhà chùa vẫn khuyên các Phật tử không an táng thân quyến vào những ngày trùng, nhằm giúp họ an tâm để chu toàn tang lễ đồng thời nỗ lực cầu nguyện, khai thị, làm phúc hồi hướng cho hương linh. Đây mới là những điều cần làm để “âm dương lưỡng lợi” theo quan điểm của Phật giáo”.
Còn để “trấn an” tinh thần của những người còn sống, dân gian có cách “giải” trùng tang là: dùng các vị thần sa, chu sa, sương luật, địa liền… cho vào một cái túi rồi đặt trong quan tài người chết. Hoặc có thể dùng bộ linh phù để gối đầu người đã khuất, dán lên ngực, hoặc lót dưới quan tài… Bộ linh phù này được biết ở chùa Hàm Long, Bắc Ninh có bộ ván in khắc phù giải đã có mấy trăm năm nay. Người dân có thể đến đây nhờ các sư thầy tư vấn mà không nên lập đàn tế lễ tốn kém, gây hoang mang cho người còn sống…
Theo Tùng An
Nhìn từ góc độ phong thuỷ học cổ đại, thì không nên ôm đồm đại khái, mà phải căn cứ vào tình hình cụ thể để quyết định
Bởi vậy, cần đặc biệt chú ý mấy điểm sau đây:
1. Nói chung, màu đỏ (hồng) quá nổi trội, không nên sơn cửa bằng màu này. Màu đỏ trong ý thức truyền thống của người Trung Quốc là màu của tưng bừng, vui mừng chúc tụng, đồng thờ cũng là màu sợ hãi, hung hiểm, dễ tạo cho người ta cảm giác hưng phấn, choáng ngợp. Nhà ở là nơi mọi người cần có sự yên tĩnh, an bình, nếu cửa, cổng lớn sùng màu đỏ sơn phết là không hợp.
2. Thứ đến là màu lam (xanh) và màu đen. Về màu sắc thì hai loại gam màu này quá u ám, gây cho người ta cảm giác u uất nặng nề, quét cửa bằng những màu này khiến chủ nhân và cả khách khứa tới nhà đều bị ảnh hưởng không tốt tới tâm tình.
3. Màu nâu đất cũng không nên dùng sơn quét cửa cổng màu nâu đất là gam màu ảm đạm, tử khí, vậy nên sơn cửa tối kị màu này. Ngược lại, nếu quét bằng sơn vàng tươi thì lại gây cho người ta cảm giác sáng sủa nhẹ nhõm.

Phong thuỷ học truyền thống cho rằng, màu sắc sau đây là những gam màu hỷ kỵ (tốt và kị) cho 8 phương vị cửa (cổng) như sau:
1. Cửa đông (đông môn- Phương chấn): Phương đông thuộc Mộc, tương sinh với thuỷ (nước) và tương trợ với Mộc (gỗ) kỵ, tương khắc với kim (kim loại), hao tổn với Hoả (lửa) ảnh hưởng của Thổ (đất) không lớn, thuộc nấc trung bình.
+ Màu sắc cửa công lớn:
Hỷ tốt: Mộc-xanh, lục; thuỷ- đen, lam.
Kỵ tránh: kim – vàng kim, trắng; thuỷ- đỏ- tím- vàng chanh, Bình (trung): thổ- vàng, cà phê.
2. Cửa đông nam (phương Tấn), phương đông nam cũng thuộc Mộc, hỷ thuỷ tới đề tương sinh và Mộc tới để tương trợ; kị Kim tới tương khắc, Hoả tới hao tổn, ảnh hưởng của thổ không lớn, xếp hàng trung (bình).
+ Màu sắc cửa (cổng) lớn:
Hỷ: Mộc- xanh lục; thuỷ- đen; lam.
Kỵ: Kim- vàng kim. Trắng: Hoả- đỏ, tím, vàng chanh.
Bình: Thổ- vàng, cà phê,
3. Cửa nam (phương ly): Phương Nam thuộc Hoả, hỷ mộc tới tương sinh và Hoả tới tương trợ, Kỵ thuỷ tới tương khắc và thổ tới tổn hao, ảnh hưởng37ng của Kim không lớn, nên xếp trung (bình).
Màu sắc của (cổng) lớn.
Hỷ: Mộc- xanh lục; Hoả- đỏ, tím, vàng chanh.
Kỵ: Thuỷ- đen, lam; thổ- vàng, cà phê.
Bình: Kim- vàng kim, trắng.
4. Cửa Tây Nam (phương không): Phương tây Nam thuộc thổ, Hỷ Hoả tới tương sinh và Thổ tới tương trợ, kỵ mộc tới tương khắc, Kim tới tổn hao, ảnh hưởng của Thuỷ không lớn, xếp hạng trung (bình).
Màu sắc cửa (cổng) lớn:
Hỷ: Hoả- đỏ, tím, vàng chanh; thổ- vàng, cà phê,
Kỵ: Mộc xanh, lục, Kim- vàng kim, trắng.
Bình: Thuỷ- đen, lam.
5. Cửa Tây (Phương đoài): Phương Tây thuộc Kim, hỷ thổ tới tương sinh và Kim tới tương trợ, kỵ Hoả với tương khắc và Thuỷ tới tổn hao, ảnh hưởng của Mộc không lớn, xếp hạng trung (bình).
Màu sắc của (cổng) lớn:
Hỷ : thổ- vàng, cà phê; Kim- vàng kim, trắng.
Kỵ: Hoà- đỏ, tím, vàng chanh; thuỷ- đen, lam.
Bình: Mộc- xanh, lục.
6. Cửa Tây Bắc (Phương Càn):Phương Tây Bắc cũng thuộc kim Hỷ Thổ tới tương sinh và Kim tới tương trợ, Kỵ Hoả tới tương khắc và Thuỷ tới tổn hao, ảnh hưởng của Mộc không lớn, nên xếp trung (binh)
Hỷ: Thổ vàng, cà phê, kim- vàng kim, trắng.
Kỵ: Hoả- đỏ, tím, vàng chanh, thủy đen, lam.
Bình: Mộc, xanh, lục.
7. Cửa Bắc (Phương khảm): Phương bắc thuộc Thuỷ, hỷ kim tới tương sinh và thuỷ tới tương trợ, kỵ thổ tới tương khắc và mộc tới tổn hao, ảnh hưởng của Hoả không lớn, nên xếp trung (bình).
Màu sắc cửa (cổng) lớn:
Hỷ- Kim- vàng kim- trắng: Thuỷ- đen, lam.
Kỵ thổ-vàng, cà phê, mộc- xanh, lam.
Bình- Hoả - đỏ, tím vàng chanh.
8. Cửa đông Bắc (Phương Cấn), Phương Đông Bắc thuộc thổ, hỷ, Hoả tới tương sinh và Thổ tới tương trợ, Mộc tới tương khắc và Kim tới tổn hao, ảnh hưởng của Mộc không lớn, xếp hạng trung bình.
Màu sắc của (cổng) lớn:
Hỷ- hoả- đỏ, vàng chanh, Thổ- vàng, cà phê,
Kỵ: Mộc- xanh lục, Kim vàng kim, trắng.
Bình: thuỷ- đen, lam.
Lý thuyết phong thuỷ học truyền thống cho rằng màu sắc cửa lớn cần phải phối ngũ hành, như khảm trạch (cửa nhà hướng khảm (bắc) thuộc thuỷ, thích hợp với màu xanh lam da trời, màu nước hồ thu; khôn, Cấn thuộc thổ đều thích hợp với màu cà phê hoặc màu vàng rơm … và căn cú vào ngũ hành sinh khắc là kim sinh thuỷ, thuỷ sinh mộc, mộc sinh hoả, hoả sinh thổ, thổ sinh kim mà quyết định.
(Theo 100 câu hỏi về phong thuỷ nhà ở)
Xem ngay nhà bạn có phạm phải 4 lỗi phong thủy phòng bếp sau đây không nhé. “Dân dĩ thực vi thiên”, chuyện ăn uống tuy nhỏ nhưng cũng vô cùng quan trọng trong cuộc sống. Đặc biệt theo phong thủy thì vị trí cần chú ý thứ hai trong nhà, chỉ đứng sau phòng khách, chính là phong thủy phòng bếp. Nếu phòng bếp nhà bạn phong thủy không tốt thì tới cuối cùng, hậu quả sẽ là gia đình tán tài tán lộc, phá sản mất tiền. Hôm nay, Lịch ngày tốt sẽ chia sẻ với các bạn 4 lỗi phong thủy phòng bếp, chỉ cần bạn sửa ngay những lỗi này thì chắc chắn sẽ đại cát đại lợi, tài lộc đầy kho, tiền bạc dồi dào.
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
Sau bộ Không Kiếp, đến bộ Kinh Đà (Kình Dương, Đà La). Cũng như Không Kiếp có đắc địa mới ăn. Kình Dương, Đà La chỉ ăn ở các cung đắc địa. Và phải có chính tinh chỉ huy. Như Phá Quân cùng với Không Kiếp đắc địa thì ăn lớn, Kình phải có Thất Sát mới ăn to. Kình, Đà đứng hai bên Lộc Tồn, cho nên không có trường hợp đồng cung. Chiếu thì lại không ăn to. Phải đóng ngay tại Mạng hoặc tại cung mà thôi. Cho nên cần phần biệt các trường hợp riêng rẽ.

TRƯỜNG HỢP KÌNH DƯƠNG
Ai cũng biết rằng có cách Hình, Sát thì oai hùng. Hình là Thiên Hình. Sát là Thất Sát. Được cách Hình Sát tại Mạng thì phát công danh lớn, thường về võ nghiệp.
Kình, Sát (Kình Dương, Thất Sát) cũng được hưởng như Hình, Sát (vì Kình đóng vai hình)
Về cách này, xin chú ý :
– Kình phải đóng tại Mạng cùng với Sát mới được.
– Hoặc là Mạng có Thất Sát, thì đến Đại Vận có Kình là ăn. Nếu chỉ gặp Đại Vận có Kình chiếu thì cũng hưởng, nhưng kém hơn
– Phải là Thất Sát mới chỉ huy được Kình, tức là mới vận dụng được Kình. Trong bộ Sát, Phá, Tham chỉ có Sát mới chỉ huy được Kình, còn các sao khác kém hơn, không đủ sức chỉ huy.
– Kình phải đắc địa tại Thìn, Tuất, Sửu, Mùi thì mới có ảnh hưởng tốt.
Kỳ trước, chúng tôi đã ghi rằng bộ Phá Quân, Không Kiếp đắc địa rất mạnh. Bộ Thất Sát, Kình cũng mạnh, nhưng kém hơn bộ Phá Quân, Không Kiếp. Nhưng kinh nghiệm lại cho biết rằng bộ Sát, Kình tuy ảnh hưởng kém mạnh, nhưng lại hay hơn bộ Phá Quân, Không Kiếp, là vì nó “phù hẳn”, chứ không “tráo trở” không phù mạnh rồi hạ xuống.
Nếu không có Thất Sát
Mệnh phải có Thất Sát, mới vận dụng được Kình.
Nhưng nếu không có Thất Sát, thì có Phá Quân cũng tạm được, nhưng ảnh hưởng tốt kém Thất Sát.
Họa hại vì Kình
Kình Dương kị các tuổi : Dậu, Tuất, Hợi.
Ba tuổi đó đến Đại vận có Kình Dương là gặp họa hại, phải coi chừng.
Ba tuổi đó, Mạng có Kình Dương, cũng phải coi chừng những họa hại.
TRƯỜNG HỢP ĐÀ LA
Đà La đắc địa tại : Dần, Thân, Tị, Hợi, ở cung Mạng vô chính diệu, không có Tuần Triệt là Đà La độc thủ, rất anh hùng. Tức là cho đương số phát mạnh, phát lớn, phần nhiều về võ nghiệp. Nhưng phải là người Kim Mệnh hay Thủy Mệnh thì mới ăn; chứ người Hỏa thì lại không được.
Trong trường hợp trên, Đà La độc thủ đã trở thành chính tinh, rực rỡ, cho nên phải không có Tuần Triệt tại đó mới được, có Tuần Triệt lại hỏng mất cách hay.
TRƯỜNG HỢP XẤU CỦA ĐÀ LA
Đà La ở hai cung Thìn, Tuất đóng vai trò La Võng chi địa.
Không phải cứ hai cung Thìn, Tuất là Thiên La, Địa Võng, tức là lưỡi trời ràng buộc các đương số, phải có Đà La đóng đó mà Đà La là lưới trời, thì hai cung đó mới là hai cung lưới trời trói buộc. Do đấy đừng thấy Mạng đóng tại Thìn Tuất mà bảo rằng Mạng bị ràng buộc. Mạng tại Thìn Tuất, mà có Đà La thì mới bị ràng buộc (phải Đà La ngay cung Mạng, chứ Đà La chiếu sang Mạng cũng không sao)
Đà La là lưới tại Thìn, Tuất thì các sao khỏe ở đấy như như Tử-Tướng, Phá Quân bị trói lại, không thi thố được nữa. Những sao yếu, hiền lại không bị Đà La trói buộc.
Cũng như Kình đóng vai trò của Thiên Hình, Đà đóng vai trò của Hóa Kị.
CÁCH AN KÌNH, ĐÀ
Theo kinh nghiệm của cụ Thiên Lương, cách an Kình Đà có hơi khác các sách, nhưng hợp lý ở chỗ phân biệt Âm, Dương.
Kình, Đà ở hai bên có Lộc Tồn, và theo nguyên tắc “Tiền Kình, hậu Đà”. Nhưng hướng trước sau phải tuỳ theo người tuổi Âm hay tuổi Dương. Như tuổi Âm thì an theo chiều ngược lấy chiều đó rồi, thì Kình đi trước cung có Lộc Tồn, và Đà La đi sau cung có Lộc Tồn. Vì dụ tuổi Ất Mùi, Lộc Tồn ở Mão thì Kình ở Dần, Đà La ở Thìn.. Tuổi Dương thì theo chiều Dương, và theo chiều đó, như tuổi Giáp Dần, Lộc Tồn ở Dần, thì Kình ở Mão, Đà La ở Sửu.
Theo cách an đó, nhớ là Kình Lực luôn luôn đi với nhau. Chỗ nào có Lực Sĩ là có Kình Dương.
trích (KHHB)
Phúc Đăng, Lư Trung dữ Sơn Đầu
Tam Hỏa nguyên lai phách Thủy lưu
Thiên Thượng, Tích , Sơn hạ Hỏa
Thủy trung nhất ngô cân vương hâu.
Còn Thiên Thượng Hỏa (lửa trên trời) và Tích Lịch Hỏa (lửa sấm sét) lại cần phối hợp với hành Thủy, bởi có nước thì càng phát huy được tính chất, khí âm (thủy) gặp khí dương (hỏa) sẽ gây ra sấm sét.
Sách Bác Vật Vựng Biên chép: "Mậu Tý, Kỷ Sửu, Sửu thuộc Thổ, Tý thuộc Thủy, Thủy ở chính vị mà nạp âm lại là Hỏa, nếu không phải thần long tất nhiên Thủy không biến ra Hỏa được, cho nên gọi bằng Tích Lịch Hỏa như tia lửa từ sấm chớp tức Thủy trung chi Hỏa".
Tích Lịch Hỏa lẫm liệt như tiếng sấm vang, nhanh tựa tia điện. Người Tích Lịch Hỏa mệnh nhiều sao tốt sự nghiệp cơ nghiệp thành công hơn người, thích làm việc to tát, càng loạn lạc càng xáo trộn khả năng càng phát triển.
Người mạng Tích Lịch Hỏa mà mệnh cung tầm thường chuộng hư danh thích nổi trôi dễ bị xúi giục làm những việc xuẩn ngốc như kiểu ôm bom ba càng nằm chắn xe tăng.
Người Tích Lịch Hỏa ưa vào cờ bạc thường bị bịp làm những chuyện bất ngờ, tâm ý nhiệt thành không giảo quyệt, luôn luôn ngăn nắp và kỷ luật.
Phòng bếp là nơi gia đình thường quây quần bên nhau sau mỗi bữa ăn, vì vậy phong thủy phòng bếp rất quan trọng. Chính vì điều đó, khi bố trí phòng bếp cần phải sắp xếp sao cho vừa khoa học lại phù hợp với mệnh của chủ nhà. Để biết phong thủy phòng bếp của bạn được bố trí hợp phong thủy hay không, bạn cso thể sử dụng công cụ tra cứu phong thủy phòng bếp để kiểm tra nhé.

Yếu tố ảnh hưởng lớn đến phong thủy phòng bếp là “ tàng phong tụ khí”, chính là khu bếp là nơi phong thủy, nên hạn chế tránh gió lùa. Vì vậy khi chọn hướng bếp, cần tránh hướng gió lùa.
Ngoài ra, việc bố trí cửa chính, các cửa số phía sau khu vực bếp nấu cũng rất quan trọng. Theo đó, phòng bếp không nên nhìn thắng ra cửa chính. Ngoài ý nghĩa phong thủy, thì việc đặt phòng bếp tránh gió lùa còn hạn chế nguy cơ bị cháy nổ.
Ngoài ra, phong thủy phòng bếp nên đặt theo hướng :tọa hung hướng cát” tức là đặt phòng bếp ở hướng xấu và nhìn về hướng tốt, giúp đẩy lùi những điều không may mắn và mang đến những điều tốt cho gia đình.
Không gian phòng bếp thường hội tụ 2 yếu tố phong thủy xung khắc với nhau là Thủy và Hỏa. Tủ lạnh, vòi nước, bồn rửa chén bát,… tượng trưng cho yếu tốt Thủy, còn bếp nấu tượng trưng cho yếu tốt Hỏa. Vì vậy khi bố trí hai yếu tố này nên cần chú ý tới việc không nên đặt bếp ở ngay dưới xà ngang, không nên đặt gần các vòi nước hay rãnh nước, máy giặt,…
Nên tránh đặt bếp ở gần phòng ngủ hoặc đối diện với phòng ngủ. Phòng bếp là nơi nấu nướng, sinh ra nhiều nhiệt lượng cùng với nhiều dầu mỡ, mùi thức ăn, khói bụi rất độc hại, không nên đặt gần nơi nghỉ ngơi ảnh hưởng tới cả phong thủy phòng ngủ và phòng bếp. Cũng không nên đặt ở những góc nhọn hoặc góc tường.
Kiêng đặt bếp đối diện với nhà vệ sinh, vì bếp là nơi nấu nước thức ăn cho gia đình, cần không gian sạch sẽ, thoáng đãng. Trong khi nhà vệ sinh chứa nhiều âm khí, khí độc vì vậy không đặt bếp nấu ăn đối diện với nhà vệ sinh. Nếu không thì những vi khuẩn gây bệnh có thể bay vào thức ăn, làm hại tới sức khỏe cho những người trong gia đình.
Thùng đựng gạo hay hũ gạo trong bếp theo phong thủy cũng như quan niệm của nhiều người là khu tài sản, tượng trưng cho sự hưng thịnh về tiền tài, vật chất cũng như sự no ấm hạnh phúc của gia đình. Vì gạo được trồng trên đất nên thuộc hành Thổ, đặt hũ gạo ở phương vị Tây Nam hoặc Đông Bắc là tốt nhất là vị trí đại lợi, những hướng khác kinh tế trong gia đình dễ bị sa sút.
Nếu đặt bếp ở hướng Tây, để hóa giải phong thủy thì nên bày trí thêm một bình hoa thủy tiên hoặc các loại hoa màu vàng, nên đặt ngay cạnh cửa số phòng bếp để ngăn chặn khí độc và sát khí, hút các khí vượng vào nhà.
Nếu chẳng may đã bố trí bếp nằm ở hướng Nam thì trồng ở phía ngaoif bếp nhiều lá cây, hoặc nhưng giống cây có lá to để giảm ánh nắng mặt trời chiếu vào bếp và giảm xu hướng tiêu tán tài lộc của gia chủ.
Nếu chẳng may nhà bếp ở hướng Bắc thì gia chủ nên gia tăng độ nóng của Hỏa và giảm bớt độ lạnh của Thủy bằng cách như bày trí thêm nhiều cây hoa màu hồng, màu cam trên bàn hoặc trên tủ bếp. Ngoài ra, cần đảm bảo đủ ánh sáng cho phòng bếp. Các vật dụng trong bếp thì nên lựa chọn những màu sắc thuộc gam màu nóng làm tăng sinh khí cho nhà bếp.
Không nên trang trí phòng bếp với các ánh sáng mờ ảo cho gian bếp, tốt nhất là tận dụng những ánh sáng tự nhiên hoặc sử dụng những loại đèn có ánh sáng mạnh và rõ.
Xem thêm: Hóa giải những điều hung kị trong phong thủy
| ► Mời các bạn tra cứu Lịch 2016 theo Lịch vạn sự chuẩn xác |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
Chùa Châu Hoằng Liên Xã là một ngôi chùa nhỏ nằm ngay đầu làng Lại Bằng của huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế. Ngôi chùa nằm ẩn mình trong một khuôn viên có nhiều cây cối xanh tươi dưới bầu trời chiều quan đảng, mây trời lồng lộng xanh thăm thẳm gợi lên một sự ấm cúng, tĩnh lặng đến lạ lùng.
Chùa Châu Hoằng Liên xã nằm trong dự án “Hoằng pháp thị gia vụ” mà cố Hòa thượng Thích Đức Tâm đã hằng bao tâm nguyện khởi xướng và sáng lập với mục đích ”liên xã” là chốn an dưỡng cho chư tôn đức trong chốn “tùng lâm” xứ Huế, đồng thời cũng là nơi ”đặc khu kinh tế tự cung tự cấp của của chốn Đại Tùng Lâm”…nên dự án ban đầu có diện tích đất rất rộng lớn đến mấy chục hetta…được phân thành nhiều khu và nhiều loại hình canh tác khác nhau.
Kế hoạch triển khai dự án chưa xong thì cuộc chiến giành độc lập của đất nước ta đến hồi ác liệt nhất, nơi đây lại là vùng cận kề núi rừng, chiến địa diễn ra liên miên, dự án bèn “treo” lại nằm chờ…ngày độc lập để khai hoa…
Sau ngày thống nhất đất nước (1975), trong tình hình khó khăn chung, dự án cũng không được triển khai, một số Thầy được cử về đây để trông coi cầm chừng chứ chưa phát triển được, đất đai từ đây do người dân canh tác nên cũng bị thu hẹp lại nhiều, đến nay chỉ con khoảng chưa đầy 1 hecta.
Năm Canh Thìn (2000), Hòa thượng Thích Tâm Thọ, Trú trì Tổ đình Vạn Phước – Huế (lúc bấy giờ đương chức Chánh Đại diện Phật giáo huyện Hương Trà) về giữ chức vụ Trú Trì chùa Châu Hoằng Liên Xã.
Sau khi về Trụ Trì, Hòa thượng cử các vị đệ tử trực tiếp trông coi và thường xuyên ra vào để đốc thúc việc trùng tu sửa chữa chỉnh trang lại chùa.
Chùa gồm 3 phần chính liên kết chặt chẻ theo truyền thống kiến trúc chùa Huế: tiền đường bài trí chuông trống, Hộ Pháp, Tiêu Diện Đại sĩ-chánh điện tôn trí tượng Phật, Bồ tát – hậu liêu thờ chư Tô và người sáng lập (HT. Thích Đức Tâm) và chư Tăng, Phật tử đã quá cố; sau đó là các hạng mục nhà hậu, nhà Tăng, nhà trù, đài Quán Thế Âm…
Đến nay việc trùng tu sửa chữa chùa cơ bản đã ổn định nhưng vẫn trong giai đoạn xây dựng các hạng mục như hội trường-giảng đường tu Bát Quan trai cho bà con Phật tử trong vùng. Đồng thời từng bước chỉnh trang vườn tược (dự kiến có khu vườn thập bát La Hán và khu vườn Thập đại đệ tử…).
Dưới cảnh trời chiều yên ả, ngôi chùa nhỏ khiêm tốn ẩn mình dưới trời xanh mây trắng thật yên bình, tiếng chim hót buổi hoàng hôn mang mác chút buồn nơi miền sơn cước, tiếng mõ công phu lốc cốc đều đặn rơi nhịp giữa thinh không nối dài nhịp sống đạo vị giữa người xưa, người nay…
Hiện tượng: Hiện nay nhà ở vì muốn tăng thêm diện tích sứ dụng mà làm thêm phần hành lang chòi ra ngoài, như vậy ảnh hưởng nghiêm trọng đến gia vận. Nếu bếp ga mà đặt ở hành lang thì hiệu ứng càng lớn. Nếu đặt bếp ga như vậy vừa không phù hợp với đạo phong thủy mà còn không an toàn, bời vì như vậy một mặt sẽ làm cho khí trường gia trạch bị suy yếu đi, mặt khác khả năng chịu sức nặng của hành lang có hạn nên có thể gây ra sự cố nghiêm trọng.

Phương pháp hóa giải: Nếu có thể tốt nhất nên chuyển bếp ga vào trong nhà, không nên đặt ngoài hành lang. Nếu nhất định phải đặt ngoài hành lang, tạm thời chưa cải tạo được thì đề nghị bạn nên đặt xung quanh chân hành lang 36 đồng tiền cổ với khoảng cách đều nhau để làm ổn định khí trường và nhất định phải hạn chế đặt những vật nặng khác ngoài hành lang.
Điều nên biết:
Nhà ở phạm phải các loại sát khí sau có thể dùng Sơn Hải Trấn để hóa giải:
1. Hóa giải lộ xông: minh đường có đường đi hoặc đường nước xông thẳng vào.
2. Hóa giải quan mạo sát: nếu căn phòng chính đối với căn nhà của bạn có hình quan mạo thì trên cửa có thể treo Sơn Hải Trấn để hóa giải sát khí.
3. Hóa giải phản cung sát: minh đường thấy nước chảy hoặc đường cái quay ngược lại thi có thể treo Sơn Hải Trấn để hóa giải.
4. Minh đường thấy nhà cao tầng, núi cao cản trở khí hoặc đối diện với cửa hậu của nhà khác hoặc phía trườc nhà cao hơn nhà mình, lúc ấy có thể sử dụng Sơn Hải Trấn đề hóa giải.
5. Khi Minh đường thấy cây đại thụ, âm khí quá nặng thì cũng có thể sủ dụng Sơn Hải Trấn.
6. Các loại hình sát hoặc sát khí quá nặng càng có thích hợp sử dụng.
7. Mặt gương Sơn Hải Trấn càng lớn thì khả năng hóa sát càng mạnh, vì thể nếu khí sát khí đối diện tương đối lớn thì đề nghị phải dùng tấm Sơn Hải Trấn lớn.
|
| (Hình vẽ Ngưu Lan, Chức Nữ) |
Theo quan niệm dân gian thì rằm tháng 7 ở dưới âm phủ, Diêm Vương mở ngục, xá tội cho một số linh hồn và mọi vong nhân có thể thoát khỏi ngục hình trong một hôm để trở về dương thế với gia đình. Do vậy, ngày này nhà nào cũng đốt vàng mã và làm cỗ cúng gia tiên.
Bên cạnh đó, một số gia đình còn làm lễ cúng các cô hồn, còn gọi là cúng cháo. Lễ vật cúng cháo thường có cháo hoa, cơm vắt, chuối, ổi, bánh kẹo, ngô rang, xôi, chè, giấy tiền, quần áo giấy… Cúng cháo để bố thí cho các cô hồn không nơi thờ cúng. Tục lệ này mang đậm tính nhân đạo, thể hiện tình yêu thương đồng loại của dân tộc Việt Nam.
Vào ngày rằm tháng 7, ở các chùa cũng tổ chức lễ cúng thập loại chúng sinh để cầu cho các linh hồn được về nơi cực lạc.
Dâng hương lễ Trung Nguyên phải cúng từ trong nhà ra ngoài trời: Cúng gia thần, gia tiên và cuối cùng là cúng chúng sinh. Khi đã khấn xong sẽ đốt tiền vàng đồng thời rắc gạo, rắc muối ra các hướng.
(Theo Nghi lễ thờ cúng của người Việt)
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
| ► Bói nốt ruồi đoán tính cách chuẩn xác |
Quan sát tướng mặt của người khó thành công, dễ thất bại
Hai người ở cùng nhau không tránh khỏi va chạm, hòa hợp tới mấy cũng có lúc mặt nặng mày nhẹ. Quan trọng không phải là không mâu thuẫn mà là có mâu thuẫn cùng nhau giải quyết. Cùng xem cách 12 chòm sao giải quyết cãi vã như thế nào nhé!
![]() |
![]() |
![]() |
Đây là quẻ Quan Âm thứ 60 được xây dựng trên điển cố: Xích Bích ao binh – hay Đại chiến Xích Bích.
Quẻ hạ thuộc cung Dần. Ý quẻ nói cho dù có nhiều lựa chọn tốt đi chăng nữa thì cũng không bằng hãy giữ nguyên tình hình như hiện tại, nếu không, khi có biến đổi, e rằng mọi chuyện không tốt lại ập đến. Điều này chẳng khác như việc ôm củi đi cứu hỏa vậy.
Thử quái bão tân cứu hỏa chi tượng. Phàm sự diệc tự cẩn phòng dã.
Thời kỳ Tam Quốc mới phân chia, vào năm Kiến An thứ 13 đời vua Hán Hiến Đế, Tôn Quyền và Lưu Bị liên quân đánh bại quân Tào ở dải Xích Bích trên sông Trường Giang, từ đó mà định ra được cục diện chân vạc của ba nước, lịch sử gọi đây là đại chiến Xích Bích.
Sau khi Tào Tháo đã cơ bản thống nhất được phương bắc, vào tháng bảy năm Kiến An thứ 13 (năm 208), dẫn hơn mười vạn quân, tiến về Kinh Châu ở phía nam, muốn thống nhất nam bắc. Lúc này Tôn Quyền đã thống lĩnh quân đội từ Giang Đông đánh thắng Hạ Khẩu (nay là thành phố Vũ Hán), mở được cánh cửa đi vào Kinh Châu ở phía tây, đang chờ thời cơ thôn tính hai châu Kinh và Ích, rồi tiếp tục phát triển về hướng bắc.
Lưu Bị lúc này đang dựa dẫm vào Lưu Biểu là quan Mục ở Kinh Châu, nhờ những mưu tính của Gia Cát Lượng, đã định ra sách lược chiếm lĩnh Kinh Châu và Ích Châu, liên hợp với Tôn Quyền, tiến đến chiếm Trung Nguyên.
Quân Tào có những nhược điểm như quân đội mệt mỏi phải đi xa, khí hậu không thích hợp, không giỏi thủy chiến, đã làm chắc chắn thêm quyết tâm chống Tào của Tôn Quyền.
Tôn Quyền phong Chu Du làm Đại đô đốc, Trình Tấn làm Phó đô đốc, Lỗ Tiêu làm Tán quân hiệu úy, dẫn ba vạn thủy binh tinh nhuệ, hợp quân với Lưu Bị, tổng cộng khoảng năm vạn quân, ngược sông đi lên, đến đóng quân ở Hạ Khẩu.
Sau khi Tào Tháo tấn công chiếm được Giang Lăng, cho đại tướng Văn Sính của Lưu Biểu làm Thái thú Giang Hạ, nhưng vẫn thống lĩnh thủy binh của mình, trấn thủ ở Hán Châu. Quan Mục ở Ích Châu là Lưu Chương cũng điều binh gia nhập quân của Tào Tháo, bắt đầu cống nạp cho triều đình. Tào Tháo lại càng kiêu ngạo khinh địch, không nghe lời khuyên tạm hoãn việc xuống phía đông của Giả Hủ, lại gửi thư đe dọa Tôn Quyền, lớn tiếng muốn quyết chiến ở đất Ngô. Mùa đông năm Kiến An thứ 13, Tào Tháo đích thân thống lĩnh quân đội, quân thủy quân bộ cùng tiến.
Liên quân Tôn – Lưu ngược sông đón đánh quân Tào, gặp nhau ở Xích Bích. Quân bộ quân thủy của Tào đối diện với sông lớn đã mất hết uy thế, quân thủy mới được tổ chức lại cùng với quân của Kinh Châu mới sáp nhập vào, sức chiến đấu kém, lại thêm bệnh dịch hoành hành, dẫn đến vừa đánh đã thua, vội vàng lui về bờ phía bắc, đóng quân ở Ô Lâm, đối diện với liên quân qua con sông.
Để giảm bớt việc thuyền bè bị sóng gió làm chao đảo, có lợi cho quân phương bắc vốn không quen sông nước, Tào Tháo hạ lệnh xích liền các chiến thuyền với nhau, chờ cơ hội tấn công quân địch. Chu Du thấy quân địch đông mà quân mình ít, nếu để lâu sẽ bất lợi, nên quyết tâm tìm cơ hội tốc chiến. Bộ tướng là Hoàng Cái nhằm vào nhược điểm của quân Tào là chiến thuyền liên hoàn, kiến nghị sử dụng hỏa công và được chấp nhận.
Nhưng suốt mấy ngày liền, trên sông đều nổi gió tây bắc, dùng hỏa công không chỉ không thiêu cháy được quân Tào ở bờ phía bắc, mà ngược lại sẽ tự thiêu mình. Chu Du vì thế mà buôn rầu không vui, đến nỗi mắc bệnh nằm liệt giường. Gia Cát Lượng biết được, liền đưa ra phương thuốc cho Chu Du: “Muốn phá quân Tào, phải dùng hỏa công; chuẩn bị đã đủ, chỉ thiếu gió đông”. Chu Du bèn hỏi Gia Cát Lượng có biện pháp gì không. Gia Cát Lượng nói rằng, mình có thể mượn gió đông đến. Ông nhờ Chu Du đắp cho một đàn Thất tinh cao chín thước, rồi bước lên đàn làm phép.
Mấy ngày sau, quả nhiên có gió đông nam nổi lên.
Hoàng Cái thi hành “khổ nhục kế”, gửi thư cho Tào Tháo giả đầu hàng, sau đó mang theo mấy chục chiến thuyền xuất phát, những thuyền phía trước chứa đầy củi cỏ khô đã được tẩm dầu, dùng vải che lại, cắm cờ hiệu để ước định với Tào Tháo; lại buộc thêm con thuyền nhỏ và nhẹ ở phía sau thuyền, thuận theo gió đông nam lái thuyền về phía Ô Lâm. Quân Tào trang bị lỏng lẻo tranh nhau ra nhìn. Khi đến gần bờ, Hoàng Cái hạ lệnh châm lửa đốt củi cỏ khô, rồi chuyển xuống thuyền nhỏ lui quân. Con thuyền rừng rực lửa theo gió lao vào đoàn thuyền của quân Tào, đoàn thuyền của quân Tào phút chốc đã trở thành một biển lửa, nhanh chóng lan đến doanh trại đóng ở ven bờ. Liên quân Tôn Lưu thừa thế tấn công, quân Tào thương vong vô số. Tào Tháo biết rằng không còn cứu vãn được cục diện thất bại, liền hạ lệnh thiêu hủy những chiến thuyền còn lại, dẫn quân thoái lui, đi đường tắt đến Giang Lăng, chạy qua đạo Hoa Dung trốn thoát.
Người Nam bộ hay dùng thứ bậc sinh hạ trong các con của gia đình để gọi kèm theo tên ví dụ: Anh Hai Bảo, chị Tư Hậu, anh Sáu Dần, ông Ba Chẹo…

Các từ thứ bậc ít khi được dùng “chính tắc”, tức mang tính pháp lý. Các từ thứ bậc là cách gọi thân thuộc ngẫu nhiên. Nó như một phụ tên nếu được dùng kèm theo Tên Họ. Song rất hạn hữu một khi nó đã được xã hội công nhận, ví dụ: Chị út Tịch, anh Ba Dũng, anh Sáu Dân… nó mang tính vùng miền.
Tuy vậy nó không phải là từ Phụ tên “chính tắc” nên không số hóa.
– Trường hợp tên gọi được đặt theo số thứ tự. Nghĩa là nó là Tên chính tắc, ví dụ: Trần Văn Tám, Lê Hữu Bảy, Thái Văn Mười v.v…
Đó là Tên chính tắc vì nó được công nhận hợp pháp từ khi khai sinh, nhập tịch.
Các trường hợp này khi số hóa ta tính nét trong từ bình thường theo quy tắc chung (phần này khác với môn “Tính danh dự đoán học” của người Trung Hoa. Họ tính số nét bằng chính số thứ tự nghĩa là nếu tên ai là “Lục”, “Bát”, “Cửu”… thì số nét chữ sẽ là sáu, tám, chín v.v…).
Như vậy đối với phương pháp số hóa, ta áp dụng bình thường là Tên. Và số nét được tính cụ thể theo nét có trong từ Tên. Ví dụ tên là Tám thì có số nét là: 10 nét; tên là Ba sẽ có số nét là: 6 nét. Tính như vậy để tìm số lý. Nó hợp lệ bởi vì từ Tên là số, song khi viết nó được viết là chữ gồm các chữ cái trong từ.
| ► Xem tử vi hàng ngày, tuần mới của bạn được cập nhật liên tục, chuẩn xác tại Lichngaytot.com! |
![]() |
![]() |
Phục Binh chỉ sự lừa gạt, dối trá, âm mưu, gài bẫy, hãm hại. Đế Vượng có nghĩa là cái lưng, là số nhiều, là sự hưng thịnh, phát đạt. Đế Vượng còn chỉ sự sinh sôi nảy nở, sự canh cải mới mẻ. Thiên Tướng/Tướng Quân trong cách này hàm ý nghĩa là người đàn ông.
Bộ Thai Phục Vượng Tướng (TPVT) không có ý nghĩa gì nhiều về công danh, sự nghiệp hay giàu sang phú quý, và cũng không có gì đáng nói với nam giới. Đối với nữ giới, bộ sao này rất là quan trọng. TPVT cũng phần nào giống như bộ Cự Kỵ, hay Tham Kỵ, nói lên bản tánh, những biến cố, cũng như những khúc quanh quan trọng về mặt tình cảm, hay khuynh hướng tình dục trong cuộc đời của một người, đặc biệt là phụ nữ. Vì vậy chúng ta phải rất thận trọng và cân nhắc khi thấy một lá số nữ mệnh có cách TPVT. Bởi vì lời giải đoán là sự đánh giá về danh tiết và phẩm hạnh của đương số. Điều đó đối với một người đàn bà tối ư quan trọng.
Trường hợp nữ mệnh có TPVT nằm trong các cường cung như Mệnh, Tài, Quan, Phúc, Di, Thê mà chính cung có những sao chủ sự đoan chính, hay những sao có khả năng khắc chế tính lãng mạn, dâm đãng, lẳng lơ, sự buông thả trong vấn đề tình dục, thì lá số đó sẽ có 2 trường hợp:
1. “Tiền Dâm Hậu Thú” có nghĩa là ăn ở với nhau trước rồi mới cưới hỏi sau. Với nhịp sống của một xã hội tân tiến hôm nay thì vấn đề này trở nên hết sức bình thường. Nhưng nếu ngược trời gian trở về một thế kỷ trước đây thì qủa là một điều khó có thể chấp nhận được. Điều lý thú là khoa Tử Vi có thể nói lên những điều thầm kín ấy một cách khá chính xác.
2. Sao Thai, Phục Binh nói lên sự hư thai, Đế Vượng ý nói nhiều lần. Đương số có thể gặp cả hai trường hợp nêu trên.
Cũng cách TPVT nhưng Mệnh và các cung chính lại không có những sao khắc chế, ngược lại có thêm những dâm tinh khác như Tham Lang, Đào Hoa, Thiên Riêu, Mộc Dục…đồng thủ hay hợp chiếu thì đương số sẽ thất trinh, thất tiết với người khác khi lấy chồng, hoặc sống với nhau theo kiểu già nhân ngãi, non vợ chồng, chứ không có cưới hỏi gì.
Trường hợp nữ Mệnh gặp cách TPVT mà cung Mệnh và những cung chính bị nhiều sát tinh như Địa Không, Địa Kiếp đồng cung hay hợp chiếu thì sự thất tiết có thể là do hoàn cảnh hay tai nạn ngoài ý muốn. Không hẳn đương số là hạng đàn bà lẳng lơ mất nết.
Trường hợp có sao Thai thủ Mệnh, nhưng không đủ 4 sao mà Thai lại gặp Đào Hoa hay Hồng Loan tọa thủ đồng cung hoặc hợp chiếu thì ý nghĩa ở đây không những chỉ đơn thuần vấn đề ăn ở với nhau trước khi cưới hỏi mà còn chỉ bản tánh lẳng lơ, mất nết, thích chuyện ngoại tình, cho nên phú Tủ Vi mới có câu:
“Đồng Hồng mà ngộ sao ThaiChồng vừa khỏi cửa đón trai vào nhà”
Trường hợp nữ mệnh có TPVT mà sao Thai cùng với những dâm tinh khác tọa thủ tại Mệnh, mà đương số đã có gia đình thì sẽ có thai do ngoại tình. Nếu Thai gặp Song Hao thì dễ bị hư thai, gặp Lưu Hà hay Hóa Kỵ thì dùng thuốc mà phá thai, hặp Thiên Hình hay Kiếp Sát thì nạo thai, hay khi sanh phải bị mổ xẻ.
Nếu Thai tọa thủ tại Mệnh có Thiên Riêu đồng cung hay hợp chiếu thì đây cũng là mẫu đàn bà có cuộc sống rất buông thả. Nếu Thai Riêu gặp thêm Đào Hoa nữa thì phải chịu một kiếp phong trần, và nếu không được những sao khắc chế bớt sẽ dễ trở thành gái giang hồ, đàn bà lăng loàn, xem thường luân thường đạo lý.
Cũng cách TPVT mà có Phục Binh thủ Mệnh hoặc xung chiếu từ Thiên Di thì sự thất trinh của đương số thường là bị dụ dỗ, cưỡng bức, hay gài bẫy. Nếu có thêm sát tinh Không Kiếp đồng cung hay hợp chiếu thì càng chắc chắn hơn.
Trường hợp nữ Mệnh không thuộc cách TPVT nhưng trong lá số bộ sao này nằm ở một cung nào đó thì chúng ta cũng nên cân nhắc 2 trường hợp sau đây:
1. Mệnh của đương số là người đoan chính, đến hạn gặp TPVT thì vấn đề sinh con đến trong hạn này.
2. Nếu Mệnh là người đa tình, lãng mạn mà hạn gặp TPVT (phải đủ 4 sao) thì phải nên thận trọng trong vấn đề giao lưu tình cảm. Trong hạn này (thường ứng nghiệm vào tiểu hạn 1 năm) cuộc đời sẽ có nhiều thay đổi, những khúc quanh trong vấn đề tình cảm, và có thể khúc quanh này sẽ thay đổi cả cuộc sống hiện tại của đương số.. Và một điều đáng lưu ý là sự việc không chỉ đơn thuần trên vấn đề tình cảm mà TPVT còn có ý nghĩa sâu đậm trên vấn đề xác thịt.
Đối với nam giới thì cách TPVT chỉ rõ bản tính đặt nặng vấn đề vật chất hơn tình cảm. Trong tình yêu, họ cho rằng trái tim và tâm hồn của người yêu chưa đủ, mà phải chiếm đoạt cho được cả thân xác. Nếu hội thêm những sao như Tham Lang, Phá Quân hãm địa, Không Kiếp, Quan Phù, Quan Phủ…thì đương số chắc chắn là bà con của họ Sở.
Tóm lại, trong cách TPVT, đặc biệt đối với phụ nữ thì nói lên sự chủ ý hay tự nguyện của đương số nặng hơn là vì hoàn cảnh, hay tai nạn như cách Cự Kỵ. Nhìn chung, mẫu người TPVT có thể bao gồm mọi thành phần, mọi giai cấp trong xã hội, từ một người đàn bà tầm thường cho đến một mệnh phụ phu nhân, vì đây chỉ là lãnh vực tình cảm hay khuynh hướng tình dục, là vấn đề phẩm hạnh của con người.
Chùa Hoằng Ân còn có tên thường gọi là chùa Quảng An, Chùa tọa lạc tại xã Quảng An, quận Tây Hồ, Hà Nội.
Đây là một trong số ít những ngôi chùa cổ ở Hà Nội đã nghìn năm tuổi, được xây dựng từ thời nhà Lê. Trải qua thời gian biến cố lịch sử, đến nay chùa vẫn giữ được những nét cổ kính. Mỗi ngày nơi đây đều có đông phật tử đến tham quan cúng bái.
Lịch Sử: Chùa Hoằng Ân (Quảng Bá) được Thiền sư Ngộ Ấn tạo dựng, ban đầu chỉ là một am thờ Phật, sau dựng thành chùa và có tên là Báo Ân tự (chùa Báo Ân). Trải qua thời gian dài Báo Ân Tự vừa là nơi thờ Phật cũng là nơi sinh hoạt văn hóa, tâm linh của cộng đồng dân cư.
Vào năm Vĩnh Tộ thứ 10 đời Lê Thần Tông (1628) chùa được xây dựng lớn bởi công chúa Nguyễn Thị Ngọc Tú, con gái Hoàng đế Nguyễn Hoàng, vợ chúa Trịnh Tráng (1623 – 1657), sau đó chùa được đổi tên thành chùa Long Ân. Năm Minh Mạng thứ hai (1821), nhân chuyến tuần du ra Bắc, Vua đã đến thăm chùa, lúc này chùa được đổi tên thành Sùng Ân tự. Năm Tân Sửu (1841) Vua Thiệu Trị đến thăm chùa Sùng Ân cho tu sửa lại chùa và đổi thành chùa Hoằng Ân.
Ngay từ khi ra đời chùa đã là một danh lam của kinh thành Thăng Long, chùa cũng từng là nơi ngự giá, thăm viếng của các bậc đế vương. Dưới thời Trần Anh Tông, Tam Tổ Huyền Quang từ núi Yên Tử cũng chọn nơi đây để giảng kinh Thủ Lăng Nghiêm. Triều Nguyễn vua Minh Mạng, vua Thiệu Trị đều chọn chùa là nơi dừng chân vãn cảnh.
Kiến Trúc: Chính chùa gồm Tiền Đường và hậu cung: có 5 gian lợp ngói, bờ nóc và bờ dài chạy thẳng, chính giữa đắp hổ phù đội mặt trời. Phía trước hiên là hai cột trụ trên nóc đắp hình búp sen. Kiến trúc chùa chủ yếu làm theo lối bào trơn đóng bên với hình thức chồng giường, con nhị kèo ngồi xa nách. Gian giữa có hệ thống cửa bức bàn. Các mảng chạm kỹ lưỡng với những mảnh chạm điển hình nơi xứ Huế. Nền chùa và Hậu cung được lát gạch Bát Tràng. Hậu cung 3 gian xây liền với Tiền Đường tạo cho chùa chính có dạng chuôi vồ.
Ngôi chính điện này trước đây được xây trên gò tam cấp, đến nay vẫn còn nguyên vẹn, chưa có sửa chữa gì, gần đây vào năm 2002 được sự quan tâm của các cấp chính quyền chùa đã nâng cấp xung quanh như: xây tường bao khuôn viên, đường vào và xây kè hồ. Chùa trước đây nuôi dấu cán bộ, có hầm nằm trong khuôn viên nhà Tổ, mỗi khi có địch đến, nhà sư liền gõ mõ, đập gậy làm tín hiệu báo cho chiến sĩ ta.
Chùa Hoằng Ân hiện nay còn lưu giữ được rất nhiều hiện vật quý: gồm có 2 quả chuông đồng (Quả lớn được đúc thời vua Lê Hiển Tông (1743), cao 1,5m, đường kính 0,8m; vai chuông khắc nổi bốn chữ Hán “Long Ân Tự chung”, Quả chuông nhỏ được đúc vào thời Nguyễn); 33 tấm bia từ thế kỷ 19 đến thế kỷ 20; 30 Pho tượng có niên đại từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 20. Hệ thống tượng tròn của chùa còn khá đầy đủ với những pho tượng có giá trị nghệ thuật cao như tượng Quan âm Nam Hải, các Pho tượng Tam Thế, A Di Đà tạc vào thế kỷ 17- 18.
Với giá trị lịch sử – văn hóa và thế đắc địa mà thiên nhiên ban tặng, nhìn ra Hồ Tây mênh mông, chung quanh là những vườn quất trĩu quả, chùa Hoằng Ân là một trong những điểm văn hóa – du lịch của thành phố thu hút khách muôn nơi.
Xem tay
Tay dài quá gối là đại trí anh hùng, tay ngắn và dày thô là tham bỉ biển lận, tay dài mà nhỏ là thường giúp đỡ mọi người. Thân hình nhỏ bàn tay lớn có phước lộc.
Thân hình lớn tay nhỏ là người thanh cao: Tuy nghèo mà vẫn đầy đủ tư cách, tay thơm có hơi ẩm là người hào hoa, tình tứ. Tay hôi âm ĩ lạnh là ô trược, thô bỉ, háo dâm. Ngón tay thon nhỏ dài thiếu quyết đoán, nhưng khôn ngoan mưu trí.
Ngón tay ngắn cứng là cộc cằn nóng nảy, làm liều, làm sai, ngu xuẩn mà ngoan cố. Ngón tay sè ra kín đáo là tài cầm của. Ngón tay khô thưa sè ra có kẻ hở lớn là phá hại của cải không giữ lâu bền.
Đầu ngón tay nở lớn là người có phước lộc: tay mỏng ngón gầy khô như tre rừng là bần tiện nghèo hèn, vô tài bất trí. Tay nhuyễn là giàu sang.
Tay cứng cũng như móng bò là ngu si bần tiện, bàn tay dài, thân bàn tay và ngón tay đều, dài là người sang quí đài các, mỏng ngắn là bần hàn, dùi đục là thô bỉ cộc cằn.
Chung quanh thịt cao, lòng bàn tay sâu lỏm là người giàu có. Chung quanh thật thấp giữa lòng bàn tay no đầy là hao tài tán tài không có dư, bàn tay tươi mịn là phú quí, khô cằn là nghèo khổ.
Bàn tay sắc đỏ như son là giàu sang, dầu có nghèo cũng sạch, cũng sung sướng. Bàn tay màu vàng nghệ hay xanh xám là cùng khốn, nghèo hèn. Bàn tay trắng bệch là nghèo khổ bệnh tật.
Tóm lại bàn tay và ngón tay quí là no đủ đầy đặn, và dài kín ấm thơm và sắc hồng nhuận là thật tốt.
Xem chân
Chân là cột trụ chống đỡ thân mình. Chân cần thon, có dáng vóc vuông dài, thanh lịch mềm mại là người phú quí, nếu chân nhỏ cụt, mỏng và dáng thô và cứng ngắc, đó là người bần tiện.
Gót chân nứt nẻ là hạ tiện, dày mà rộng lớn bề ngang quá cũng nghèo khổ chớ không sang. Dưới gót có lằng như cái xoáy là có danh vọng lớn. Lòng bàn chân bằng như miếng gỗ là nghèo hèn cực khổ tới già.
Lòng bàn chân khuyết như chiếc thuyền úp, hay mặt trăng lưỡi liềm nằm giữa là người phú quí.
Ngón chơn dài, hơi thon nhọn là người trung nghĩa thuần hậu. Dưới bàn chân có nút ruồi là có uy quyền. Chân mà dẹp mỏng là hèn, chân thon nhỏ mà dầy cao là sang quí.
![]() |
![]() |
| ► Lịch ngày tốt cung cấp công cụ bói tình yêu để biết nhân duyên của hai người |
3 con giáp có “tiền vào như nước sông Đà” trong tháng 7
![]() |
| Chùa Vĩnh Nghiêm |
| ► Xem lịch âm và giờ hoàng đạo chuẩn xác tại Lichngaytot.com |
Miền Bắc:
* Kiêng quét nhà: Trong ba ngày Tết, kiêng quét nhà vì sợ quét hết vận đỏ đi. Vì thế, ai cũng quét dọn nhà cửa, vườn tược trước lúc giao thừa.

Miền Bắc là nơi có nhiều tục lệ kiêng kỵ nhất
* Kiêng đổ rác: Tục kiêng đổ rác xuất phát từ câu chuyện trong Sưu thần ký.
Chuyện kể rằng, có một người lái buôn đi qua hồ Thanh Thảo được Thủy thần tặng nàng hầu tên là Như Nguyệt. Ông trở nên giàu có, tiền bạc đầy nhà.
Năm ấy, vào ngày mồng Một Tết, Như Nguyệt mắc lỗi nhỏ, bị ông chủ đánh đập nên biến vào đống rác. Người lái buôn không biết, mang rác đổ đi. Từ đấy, ông lại nghèo như xưa.
* Kiêng không treo những tranh "xui xẻo" như: đánh ghen, kiện tụng... mà phải tìm treo tranh mang ý tài lộc như lợn, gà, cậu bé...
* Kiêng cho lửa ngày Tết: Ngày mùng Một Tết người ta rất kỵ người khác đến xin lửa nhà mình. Vì quan niệm lửa là đỏ là may mắn. Cho người khác cái đỏ trong ngày mùng Một Tết thì cả năm đó trong nhà sẽ gặp nhiều điều không may như làm ăn thua lỗ, trong nhà lủng củng, ra đường hay gặp tai bay vạ gió. Các bạn chớ có nên đi xin lửa nhà người khác ngày Tết nha!
* Rắc vôi bột ở 4 góc vườn: Ở nông thôn, nhà nào cũng rắc vôi bột ở 4 góc vườn rồi vẽ hướng ra phía cổng để xua đuổi ma quỷ. Vì thế, dân gian có câu: "Đầu năm mua muối, cuối năm mua vôi". Đầu năm bạn mua muối tặng cho mọi người cũng chính là lời chúc năm mới làm ăn phát đạt, gặp nhiều may mắn đó!
* Xông nhà: Những người "nặng vía", không hợp tuổi với gia chủ đừng nên đến xông nhà ngày đầu năm. Người có tang không nên xông đất nhà người khác để tránh xui xẻo.
* Tránh nói giông: Ngày đầu năm, ta phải hết sức tránh những ngôn ngữ, hành động có thể đem lại sự không may, còn gọi là nói giông hoặc nói xui như: "Chết rồi!", "Tiêu rồi!".
* Kiêng cho nước đầu năm: vì nước được ví như nguồn tài lộc trong câu chúc tiền vào như nước, nếu cho nước thì coi như mất lộc

Người ta kiêng cho nước, hay lửa đầu năm để không bị mất lộc
* Kiêng làm vỡ bát đĩa: Bát đĩa tượng trưng cho gia đình, vì thế, trong ngày này không được đánh vỡ bát đĩa, ấm chén, cãi nhau, chửi nhau, kiêng những điều không vui xảy ra với gia đình.
* Kị mai táng: Ngày Tết Nguyên Đán là ngày vui của toàn dân tộc, ngày mở đầu cho vận hội hanh thông của cả một năm, có ý nghĩa rất thiêng liêng. Gia đình phải tạm gác mối sầu riêng để hoà chung với niềm vui toàn dân tộc.
Vì vậy có tục lệ cất khăn tang trong ba ngày Tết. Nhà nào có đại tang kiêng đi chúc Tết, mừng tuổi bà con, xóm giềng, ngược lại bà con xóm giềng lại cần đến chúc Tết và an ủi gia đình bất hạnh.
Miền Trung
* Kiêng ăn một số món: Người dân miền Trung có tục kiêng ăn trứng vịt lộn, thịt vịt trong ngày Tết và cả tháng đầu năm. Người ta cho rằng ăn thịt vịt sẽ gặp xui xẻo. Một số vùng không ăn tôm vì sợ... đi giật lùi như tôm. Nếu ăn trong ngày Tết, công việc sang năm sẽ lùi chứ không thể tiến tới.

Một số nơi ở miền Trung, người ta không ăn tôm vì sợ công việc sang năm sẽ lùi chứ không thể tiến tới ... đi giật lùi như tôm.
* Kiêng mua quần áo màu trắng, vải trắng suốt tháng Giêng Âm lịch.
Miền Nam:
* Ở một số vùng quê Nam bộ còn có tục kiêng không để cối xay gạo trống vào những ngày đầu năm. Điều này tượng trưng cho việc thất bát, mất mùa năm tới. Chính vì vậy, người ta thường đổ một ít lúa vào cối xay, ngụ ý cầu mong năm mới lúa gạo đầy tràn.
* Ngày Tết có lệ ai đến nhà, bất kể giờ giấc nào, gia chủ cũng dọn cỗ, mời uống rượu, ăn bánh. Khách không được từ chối bữa ăn, dù no cũng phải nhấm nháp chút ít.
* Đi đâu xa cũng phải về nhà trước giờ Giao thừa. Ai không về kịp xem như cả năm sau người ấy phải bôn ba vì công việc làm ăn.
* Sau khi quét dọn phải cất hết chổi. Nếu trong ngày Tết để mất chổi nghĩa là năm đó gia đình sẽ bị trộm vét sạch của.