Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,...   Click to listen highlighted text! Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,... Powered By DVMS co.,ltd
Kính mời quý khách like fanpage ủng hộ Vạn Sự !

Vạn Sự

Câu chuyện Tử Vi: Tử vi và sự khiêm tốn

Một câu chuyện hài hước, đầy hàm ý về việc xem Tử Vi. Mời bạn cùng đọc và suy ngẫm.
Câu chuyện Tử Vi: Tử vi và sự khiêm tốn

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Một anh thanh niên mới học Tử Vi được chừng 1 năm. Cũng chưa có chút thành tích nào gọi là đáng kể. Anh ta yêu một cô gái. Và hôm nay, là ngày anh tới nhà cô gái để gặp mặt gia đình. Bố cô gái là một công chức về hưu, khá vui vẻ hòa đồng. Sau khi nói chuyện xong, thấy trên bàn làm việc của bố cô gái có lá số tử vi đã cũ, hơi nhàu và khuyết góc. Hắn liền hỏi:

- Bác cũng nghiên cứu tử vi ạ?

Ông lão nói:

- Tôi tìm hiểu từ khi còn thanh niên tới giờ cũng trên bốn chục năm rồi. Tôi rất mê nó cháu ạ!

Hắn thấy có lợi thế, liền nói:

- Cháu cũng có học Tử Vi một ít. Cháu xem thử, bác góp ý cho cháu với nhé!

Và hắn nói luôn:

- Đương số này là người hiền lành, làm nhiều hưởng ít, hết sức làm việc mà không mong mỏi được đền đáp tướng xứng. Một mẫu người cam chịu và cần mẫn.

Ông lão nói:

- Đúng cậu ạ! Không sai tí nào.

Hắn nghĩ trong đầu "Mệnh ở ví trí Trực phù trong vòng Thái tuế" thì sai sao được. Cụ Thiên Lương dành cả đời nghiệm lý để khám phá ra mà.

Sau đó hắn lại thấy cung Phụ mẫu ở Sửu nhị hợp cho cung Mệnh theo chiều sinh cho cung Mệnh (tam hợp Kim: Tị Dậu Sửu sinh cho tam hợp thủy Thân Tí Thìn). Theo tâm pháp phái "Thiên Lương" trong đầu hiện lên, hắn chốt hạ:

- Đương số được bố mẹ chiều chuộng, chăm chút lo cho rất nhiều. So với bạn bè cùng trang lứa thì cuộc sống thuận lợi may mắn hơn.

Ông lão nói:

- Đúng cháu ạ! Lúc nhỏ mang tiếng con nhà nông dân. Bố mẹ thì làm đồng ruộng vất vả mà đương số chả phải làm gì. Bố mẹ làm cho hết, chỉ phải ngồi học hành, đi chơi cùng bạn bè thôi. Sau này cuộc sống rất thuận lợi.

Ngắm thấy "cung Huynh đệ phi Hóa Lộc vào cung Mệnh", hắn chốt hạ:

- Lá số này có anh em sống rất có tình có nghĩa, lo toan cho rất nhiều. Được nhờ anh em. Hình như là em gái ạ!

Ông lão nói:

- Chuẩn! Có một cô em gái ít hơn 3 tuổi rất quan tâm tới anh trai.

Hắn tiếp tục nhìn và nghĩ "cung Nô Bộc phi Hóa Lộc nhập cung Tử Nữ và chiếu cung Điền Trạch", hắn chậm dãi nói tiếp:

- Bạn bè quan tâm lo lắng cho gia đình của đương số, rất thương con cái của của đương số.

Ông lão nói:

- Rất đúng! Thấy tôi chậm con cái bạn bè anh em rất quan tâm giúp đỡ tôi và lo cho các cháu.

Hắn lại ngắm thấy "cung Tử Tức phi Hóa Kỵ vào cung Thiên Di, xung vào Mệnh". Hắn chốt tiếp:

- Lá số này con cái là vấn đề đau đầu mệt mỏi với đương số. Rất vất vả về con cái. Có thể chậm sinh và tốn tiền về việc sinh con.

Ông lão vỗ đùi nói:

- Đúng cậu ạ! Tới tận năm 32 tuổi mới sinh được một trai, 2 năm sau mới sinh thêm được một gái nữa.

Nhìn rất kỹ, hắn cố nghĩ trong đầu ra một vận nào đó thật sắc nét để chốt hạ, sau đó tung chiêu "Bàng Đao Trắc Kích" mà Bạch A Tú dạy Thạch Phá Thiên khi giao chiến tới gần phút hạ hồi để rút lui an toàn. Qua một hồi nhìn ngắm Đại vận 26-35, và nghĩ thầm tâm pháp Tứ Hóa Phái trong giây lát:

"Hóa kỵ [đại vận] nhập cung Thiên Di của thiên bàn và xung kích cung Mệnh của thiên bàn; vì xung kích cung Mệnh của thiên bàn, sự xung kích này nhất định phải mãnh liệt hơn Hóa Kỵ xung kích cung mệnh của địa bàn; hơn nữa, ắt sẽ gây tổn hại mang tính vĩnh viễn. Lại ví dụ như cung mệnh đại vậy này trùng điệp với cung phúc đức của thiên bàn, vận dụng tính chất của hai cung trùng điệp, có thể đoán định trong đại vận này, về tình cảm, sẽ xảy ra vấn đề, đối với mệnh tạo sẽ gây ra thất lợi rất lớn, vì tổn hại này mang tính vĩnh viễn, tạo thành vết thương trong tâm hồn vĩnh viễn không cách nào lành. Tượng trưng trong cuộc sống thực tế là, một khi chia tay, đến già đến chết cũng không gặp lại nhau!"

Khớp thật rồi. Thiên di ở cung Ngọ. Hắn chốt liền một câu:

- Đại vận 26-35 ở cung Phúc Đức, lá số này có xảy ra hạn rất lớn, tổn hại trong tâm hồn lâu dài. Chắc chắn là vợ chồng đang hạnh phúc thì ly hôn năm Mùi, mà đương số số Nam này bị vợ bỏ và rất đau khổ, day dứt cho tới hết cuộc đời, chả thể nào quên được. Lý ra là ứng kỳ vào năm Ngọ nhưng vì.. lên chậm sang năm Mùi. Năm Mùi ly hôn!

Ông lão vỗ đùi thật mạnh và ra hiệu khâm phục. Ông nói:

- Đúng năm Mùi (30 tuổi) thì ly hôn, sau đó lấy vợ khác và sinh được 2 người con.

Ông lão nói tiếp:

- Cậu tuổi trẻ tài cao. Tôi nghiên cứu tới giờ là cũng hơn 40 năm có lẻ, chưa thấy ai khán chuẩn như cháu. Thật đáng khâm phục. Tuổi trẻ tài cao. Câu nói nào cháu nói ra cũng chính xác tới mức tuyệt đối. Bội phục!

Có chút phấn khích, tự hào. Sung sướng quá! Chưa khi nào làm được việc vĩ đại như thế này. Xem chính xác tuyệt đối. Hắn nói liền một mạch:

- Tử vi phải xem "chặt sắt", "trích kim thấy máu" chứ phán chung chung xoàng lắm, kém lắm! Nghiên cứu 40 năm thứ "tử vi hàng chợ ấy" vô ích thôi. Người học tử vi phải....

Hắn cứ nói liên tục, liên tục,.. tới khi dừng lại thì thấy Ông lão xầm mặt lại. Biết là có vấn đề nhưng phanh không kịp mất rồi.

...

Hôn nhân không thành. Bẵng đi một thời gian gặp lại cô gái (giờ đã có chồng con rồi, còn hắn cũng có hai quý tử). Hắn hỏi thật cô gái:

- Hồi đó chúng ta yêu nhau nhiều, ngày ra mắt bố em sao lại là kết thúc của tình yêu chúng ta em nhỉ? Anh không hiểu lắm!

Cô gái trả lời:

- Cũng vì tử vi đấy anh. Anh có còn nhớ không?

Hắn nói:

- Anh hồi đó xem chính xác tuyệt đối mà. Rất "thật thà và dũng cảm" như bác Hồ dạy.

Cô nói:

- "Thật thà và dũng cảm" thì đúng rồi. Nhưng "Khiêm tốn" thì chưa. Câu đầy đủ bác Hồ dạy là "Khiêm tốn, thật thà và dũng cảm". Anh không "khiêm tốn" thì mọi thứ kết thúc là đúng thôi. Anh chê một người dành cả đời nghiên cứu là nghiên cứu thứ hàng chợ, phế phẩm. Thì làm sao bố em chấp nhận được anh, tin tưởng giao con gái mình cho anh.

Hắn ngẫm nghĩ và nói:

- Em nói đúng!

(Câu chuyện tử vi 2016 - Phù Cừ Cổ Học)

(*) Bài viết sử dụng kiến thức Tử Vi của Phái Thiên Lương và Tứ Hóa Phái kết hợp.

Nguồn: tuvi.cohoc.net
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Câu chuyện Tử Vi: Tử vi và sự khiêm tốn

Giá trị của tu dưỡng - bạn chọn thành công hay thất bại?

Vì sao có người mỗi năm gặp lại thấy tiến bộ phát triển, còn có những người qua nhiều năm vẫn như ngày xưa cũ? Ấy là vì sự lĩnh hội về cách sống và tu dưỡng
Giá trị của tu dưỡng - bạn chọn thành công hay thất bại?

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

bản thân. 


Gia tri cua tu duong - ban chon thanh cong hay that bai hinh anh 2
 
Thông thường, bất cứ ai cũng sẽ gặp phải chướng ngại trên đường đời, không ai là chỉ đi trên con đường bằng phẳn, dễ dàng. Người xưa có câu “tiên trách kỉ, hậu trách nhân”, gặp vấn đề trước tiên phải nhìn nhận lại bản thân trước khi trách móc người khác. Phật dạy, bế tắc là do chính mình tạo ra, và cũng chỉ có thể do chính mình giải quyết. Những bài học tâm linh thường có tác dụng lớn về tinh thần và có tính ứng dụng vào đời sống.
  Vì đâu mà có người vấp ngã vẫn đứng lên và mạnh mẽ hơn, còn có người vùi chôn cuộc đời trong thất bại? Vì đâu có người mỗi năm một đổi khác, một hoàn thiện còn có người cả đời vẫn như cũ, tụt lùi lạc hậu? Đó là vì chưa thực sự xem xét lại bản thân.    Sai lầm càng nhiều thì kinh nghiệm càng phòng phú, càng tích lũy được nhiều ưu điểm để sửa chữa, hoàn thiện, khởi đầu lại càng tốt. Người biết tiếp thu thì coi thất bại là thầy giáo, người không biết tiếp thu thì coi thất bại là kẻ thù.   Ngày sinh chào đón sự ra đời của mỹ nhân
Bát tự sinh thần đều có Thiên can đại biểu cho nhan sắc, đó chính là Nhật trụ (ngày sinh). Hãy tìm hiểu bốn ngày sinh dễ chào đón sự ra đời

Người thành công là người không ngừng quan sát, không ngừng kiểm điểm bản thân và bổ sung những thứ mình thiếu hụt. Người thất bại là người tự cho mình đúng, bảo thủ và thiếu tầm nhìn. Vì vậy, thành công hay thất bại là ở mình, do mình và vì mình.
  Ngoại cảnh có tác động tới đời sống một người hay không? Chắc chắn là có, nhưng nếu để hoàn cảnh xô đẩy và chi phối vậy thì con người sẽ không thể quyết định và làm những điều mình mong muốn. Cũng như thử thách càng cam go thì thành công càng rực rỡ, xuất phát thấp sẽ chạy nhanh hơn. 
Gia tri cua tu duong - ban chon thanh cong hay that bai hinh anh 2
 
Mỗi người đều có cách lựa chọn cuộc sống của riêng mình, lựa chọn đấu tranh hay gục ngã, thành công hay thất bại. Tính cách tạo nên số phận, tu dưỡng bản thân và không ngừng tiến về phía trước sẽ biến ước mơ thành sự thực, chông gai thành huy chương. Người ở lại sau lưng là người không thể tìm thấy chính mình,   
► Xem thêm: Những câu nói hay về triết lý nhân sinh cuộc đời đáng suy ngẫm

Tâm Lan
Xem Clip Tội ác vô cảm

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Giá trị của tu dưỡng - bạn chọn thành công hay thất bại?

Sao Hỷ Thần

Hành: Hỏa Loại: Thiện Tinh Đặc Tính: May mắn, vui vẻ, tăng tài lộc, cưới gả, sinh con, thi cử đỗ đạt Phụ tinh. Sao thứ 8 trong 12 sa...
Sao Hỷ Thần

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Hành: HỏaLoại: Thiện TinhĐặc Tính: May mắn, vui vẻ, tăng tài lộc, cưới gả, sinh con, thi cử đỗ đạt
Phụ tinh. Sao thứ 8 trong 12 sao thuộc vòng sao Bác Sĩ theo thứ tự: Bác Sĩ, Lực Sĩ, Thanh Long, Tiểu Hao, Tướng Quân, Tấu Thư, Phi Liêm, Hỷ Thần, Bệnh Phù, Đại Hao, Phục Binh, Quan Phủ. Phân loại theo tính chất là Thiện Tinh.
Ý Nghĩa Hỷ Thần Ở Cung Mệnh
Tính Tình
Người có lòng tốt, vui tính.
Ý Nghĩa Hỷ Thần Với Các Sao Khác:

  • Hỷ Thần gặp Long Trì, Phượng Các: Cả ba sao đều chỉ sự vui mừng, báo hiệu cho sự may mắn về thi cử hoặc về công danh hoặc về hôn nhân hoặc về sinh nở. Nói chung, đây là điềm lành về nhiều mặt.
  • Hỷ Thần gặp Đào Hoa (hay Hồng Loan): Có sự may mắn về tình duyên.
  • Trong tinh thần đó, Hỷ Thần ghép với một số sao khác sẽ làm lợi thêm cát tinh của sao đó, cụ thể như Hỷ Thần gặp Thiên Mã, Tràng Sinh hay Thiên Mã, Hóa Lộc hay gặp Phong Cáo, Quốc Ấn... có nghĩa đắc lợi về vận hội, về tiền bạc, về danh giá...
Ý Nghĩa Hỷ Thần Ở Cung Tật Ách
Dễ có bệnh trĩ, ung nhọt, nếu đi chung với các sao Địa Kiếp, Điếu Khách.
Ý Nghĩa Hỷ Thần Ở Cung Phu Thê
  • Cũng trong ý nghĩa chính là may mắn, Hỷ Thần đóng ở cung nào ban sự lành và lợi cho cung đó. Sao này ví như một hệ số về may mắn, bất luận hậu quả của sự may mắn đó có lợi hay hại.
  • Hỷ Thần đi với Đào hay Hồng thì vợ chồng xứng đôi.
Ý Nghĩa Hỷ Thần Ở Cung Huynh Đệ
Hỷ Thần, Thiên Riêu: Anh chị em chơi bời, phóng túng.
Hỷ Thần Khi Vào Các Hạn
Sao Hỷ Thần cũng báo hiệu cho hỷ sự, may mắn. Tùy theo các sao đi kèm sẽ giúp giải đoán phương diện nào được may mắn. Tuy nhiên, nếu gặp Điếu Khách, sự may mắn đó bị suy giảm hay tiêu tán đi vì Điếu Khách chế hóa được sự may mắn của Hỷ Thần.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Sao Hỷ Thần

Ngũ hành Thủy - Tổng hợp ý nghĩa các nạp âm của ngũ hành Thủy

Nạp âm của ngũ hành Thủy có 6 đại diện là Giản Hạ Thủy, Đại Giản Thủy, Đại Hải Thủy, Trường Lưu Thủy, Thiên Hà Thủy, Tỉnh Tuyền Thủy. Xem ý nghĩa các nạp âm
Ngũ hành Thủy - Tổng hợp ý nghĩa các nạp âm của ngũ hành Thủy

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Nạp âm của ngũ hành Thủy có 6 đại diện là Giản Hạ Thủy, Đại Giản Thủy, Đại Hải Thủy, Trường Lưu Thủy, Thiên Hà Thủy, Tỉnh Tuyền Thủy.


Ngu hanh Thuy - Tong hop y nghia cac nap am cua ngu hanh Thuy hinh anh
 
Đại Hải Thủy, Thiên Hà Thủy lưu Nhị ban bất dữ Thổ vi cửu Ngoại giả đô lai toàn kỵ Thổ Phùng chi y lộc tất nan cầu.
Ngũ hành Thủy vượng thì thành đầm lầy, sông nước. Thủy sinh Mộc, Mộc nhiều thì Thủy mất đi, Thủy mạnh thì Mộc sinh tồn mà phát huy hết thế mạnh của nó. Thủy khắc Hỏa, Hỏa nhiều thì Thủy khô kiệt, Hỏa yếu thì gặp Thủy tất diệt. Thủy sinh Kim, Kim nhiều thì Thủy đục, Kim sinh Thủy, Thủy nhiều thì Kim chìm. 
 

1. Giản Hạ Thủy - Nước khe suối

Đào Tông Ngại viết: "Bính Tý, Đinh Sửu là Giản Hạ Thủy, Thủy vượng tại Tý, tang tại Sửu, vượng tương phản với tang nên không thể tung hoành trên sông lớn nên thành nước khe hẹp".
 Giản Hạ Thủy không phải là sông lớn nhưng lại hình thành nên sông, nơi tụ hội những dòng chảy nhỏ mà thành, khi mưa xuống nước bằng chảy siết vùng lên thành sóng lớn. Nước từ Nam chí Bắc cùng tụ hội, bản thân cũng không chia phương hướng mà chảy lúc Đông lúc Bắc thật bất định. Giản Hạ Thủy thanh tịnh, chỉ vang mà không vọng, róc rách đêm ngày, nhìn mà không bắt được nông sâu. 
 

2. Đại Giản Thủy - Nước suối lớn


Đào Tông Ngại viết: "Giáp Dần, Ất Mão là Đại Hải Thủy, Dần là Đông Bắc, Mão là chính Đông, nước chảy chính Đông tất thuận, xuyên qua khe chảy thành dòng lớn tụ lại thành khe nước to nên gọi là Nước suối lớn”. 
Đại Hải Thuỷ toạ Đông Bắc và chính Đông, nước sông chảy theo hướng Đông, trăm sông đổ ra biển lớn nên thuận theo tự nhiên.
Đại Hải Thuỷ thượng trên núi cao, thế nước mạnh, đổ dồn dập thành sóng lớn, bao trùm vạn dặm phủ khắp giang sơn. Dòng nước mạnh mẽ lúc rẽ phải lúc quặt trái biến đổi khó lường hướng trực tiếp ra biển vì thế Đại Hải Thuỷ mang tính chất đa biến, cá tính trầm mặc và có lúc rất hiện thực vô tình.
 

3. Trường Lưu Thủy - Nước sông dài


Đào Tông Ngại viết: "Nhâm Thìn, Quý Tỵ là Trường Lưu Thủy, Thìn là kho nước, Tỵ là Kim nơi sinh sôi nảy nở, Kim sinh thì Thủy tính tất tồn tại, kho Thủy làm trường sinh Kim nên nguồn nước mãi mãi không dừng thì gọi là Nước sông dài”. 
Trường Lưu Thủy trong Ngũ hành Thủy xuất hiện từ đầu nguồn nên dòng chảy đẹp đẽ giống như một người không có dã tâm, tất cả đều phơi bày hết dưới ánh sáng. Trường Lưu Thủy dường như cái gì cũng muốn nhưng lại không cần nhiều thứ cao cấp, luôn dễ dàng tự thỏa mãn.
 

4. Thiên Hà thủy - Nước trên trời


Đào Tông Ngại viết: "Bính Ngọ, Đinh Mùi là Thiên Hà Thủy; có Bính Đinh thuộc hành Hỏa, Ngọ là đất vượng Hỏa mà nạp âm vẫn thuộc Thủy, Thủy tự Hỏa mà ra thì chỉ có ngân hà mới có nên gọi là Nước trên trời".
 Thiên Hà Thủy bắt nguồn từ phía Nam là đất vượng Hỏa, Thủy sinh từ Hỏa thì chỉ có sông trên trời mới có. Hệ ngân hà là hệ sao của thái dương nơi các vì tinh tú tụ hội xung quanh, có một tầng mây khói che phủ khiến hành tinh nằm giữa sản sinh Hỏa vượng, cũng tương thích với nghiên cứu của khoa học hiện đại và nước sông ngân hà này thời cổ đại đã được coi là vùng đất của lửa.
 
Thiên Hà Thủy này do chảy từ sông ngân hà nên có thể vươn khắp năm châu bốn bể, phân bố nghìn dặm, là cam lộ của trời đất, sinh ra vạn vật. 
Thiên Hà Thủy chảy từ vùng đất sinh ra lửa. Ngọn lửa cháy bập bùng đó nhìn thì nhiệt tình ấm áp nhưng khi chảy xuống hạ giới lại vô cùng lạnh lùng ác độc. Nếu không cẩn thận sẽ bị vẻ về ngoài đẹp đẽ đó đốt cháy thành tro bụi.
 

5. Tỉnh Tuyền Thủy - Nước trong giếng


Đào Tông Ngại viết: "Giáp Thân, Ất Dậu là Tỉnh Tuyền Thủy, Kim lâm quan, Thân Dậu đều vượng, Kim tất vượng, nhờ có Thổ mà sinh ra Thủy nhưng sức mạnh không lớn nên gọi là Nước trong giếng". Nước trong giếng sức mạnh tiêu điều nhưng không bao giờ mất đi, có thể dùng bất cứ lúc nào, hết lại đầy; nếu như không sử dụng thì lúc nào cũng sóng sánh đầy nhựa sống nên khó mà biết được sức mạnh của nó.
 
Tỉnh Tuyền Thủy vốn trong xanh, mát lạnh là nguồn sống của vạn vật dân cư. Vì nước nằm sâu trong lòng đất, không bao giờ bị sóng gió thời tiết ảnh hưởng, cũng không bị nước từ bên ngoài xâm chiếm tấn công nên lúc nào cũng yên bình lặng lẽ. Tỉnh Tuyền Thủy luôn yên bình, dùng mắt thường không thể đoán biết được nông sâu, giống như một vị quan chức lạnh lùng khó đoán biết thái độ vậy.
 

6. Đại Hải Thủy - Nước biển lớn


Đào Tông Ngại viết: "Nhâm Tuất, Quý Hợi là Đại Hải Thủy, nước nhỏ giọt đem Tuất tới Hợi, nước nhỏ giọt từ từ tạo nên sức mạnh hùng hậu, mà Hợi còn là căn của sông nước nên gọi là Nước biển lớn". 
Đại Hải Thủy trong Ngũ hành Thủy là nơi tụ hội của trăm nghìn con sông, nơi tụ hội của Thủy nên Thủy thế hưng vượng, tượng khí hùng vĩ, khí thế oai phong tự cổ chí kim. 
Đại Hải Thủy còn là nơi thu hút mọi ánh sáng của nhật nguyệt, có thanh có đục, Nhâm Tuất còn có Thổ khí nên đục, Quý Hợi can chi thuần Thủy lại có nạp âm là Thủy nên thanh tịnh.
 
Mỗi khi biển bằng dậy sóng lại kích thích mây vần sóng vũ có thể nhấn chìm cả một con thuyền to, Đại Hải Thủy chính là có thể nhấn chìm hàng nghìn con thuyền lớn nhỏ nhưng cũng vô cùng bao dung độ lượng. Vừa thân quen lại vừa xa cách, không loại trừ những gì kì dị khác lạ nhưng cũng không tỏ vẻ tâm tư luôn thông suốt. Phàm gặp chuyện gì cũng chuyện to hóa nhỏ không hề mang tâm địa, tính dung hòa cực lớn chính là Đại Hải Thủy.
► Lịch ngày tốt gửi tới độc giả công cụ: Xem phong thủy chuẩn xác để đón lành tránh dữ

Màu sắc phù hợp nhất với người mệnh Thủy
Lichngaytot.com

 

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Ngũ hành Thủy - Tổng hợp ý nghĩa các nạp âm của ngũ hành Thủy

Đền Vua Rộc - Thái Bình

Đền Vua Rộc là một trong bốn ngôi đền thiêng ở huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình, Trước kia, Đền nằm trong khu rừng nguyên sinh hiếm có trong cả huyện
Đền Vua Rộc - Thái Bình

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Đền Vua Rộc là một trong bốn ngôi đền thiêng ở huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình, Trước kia, Đền nằm trong khu rừng nguyên sinh hiếm có, rộng 2,4 mẫu với đa dạng các loài thực vật quý hiếm. Được bao quanh bởi cây cối tươi tốt và hồ nước mát lạnh, đền Vua Rộc tạo ra không gian tĩnh tâm và nghỉ ngơi lý tưởng cho những ai cần sự bình yên. Đền Vua Rộc là điểm tham quan của khách thập phương có bề dày lịch sử, linh thiêng.

Đền Vua Rộc còn được biết đến với tên gọi khác là đền “đầu rồng” vì theo thuật phong thủy, đó là vùng đất đắc địa với mũi rồng không bao giờ cạn nước. Đền Vua Rộc được coi là tứ linh từ (bốn ngôi đền thiêng) nổi tiếng của huyện Kiến Xương. Đền thờ Vua Rộc, một vị tướng phương Bắc nhưng theo gia phả còn giữ lại tại xã Vũ An thì Vua Rộc chính là Đoàn Thượng Công, một vị tướng tài năng thời nhà Lý đã ra sức giết giặc. Sau này được nhà Lý phong tước là Đông Hải và Tây Hải Đại Vương.

Đền nằm trên cánh đồng Rộc của thôn An Điềm, theo như các cao niên thì đây là đất long mạch, tức “đầu rồng”. Vùng đất dựng đền cao hơn hẳn so với mặt bằng chung. Khí hậu ở đây rất lạ lùng, mùa đông thì ấm áp, mùa hè lại rất mát mẻ.

Hiện tại, đền Vua Rộc còn tồn tại dấu tích được xác định là “đầu rồng”. Phía trước đền có hai cái ao nhỏ được gọi là mũi rồng. Ông Vũ Thượng Đốc, Thủ từ đền Vua Rộc cho hay: “Hai cái mũi rồng không bao giờ cạn nước. Còn phía trên có hai tai rồng lại không bao giờ ngập nước, dù có mưa to hay bão lụt lớn như thế nào”.

Phía trước cổng đền có gò đất “hình nhân bái tướng”, phía Nam lại nổi lên gò đất hình voi phục. Trên hậu cung là gò hậu chẩm, tức là gối của vua. Đây là vùng đất cấm kỵ nên dân địa phương không ai dám làm mồ mả quanh đây.

Tương truyền, Khi Đoàn Thượng Công bị địch chém đứt đầu nhưng không chết, vua Rộc một tay giữ đầu, một tay thúc ngựa giết giặc. Đến cánh đồng Rộc, vua gặp một bà lão bán nước đã hỏi, liệu người đứt đầu thì sống được không? Bà lão trả lời, người đứt đầu thì chỉ có chết. Tức thì vua Rộc chịu chết và được an táng tại gò đất cao nhất.

Mộ Vua Rộc ngày càng đùn to lên, chính vì vậy dân làng đã xây đền thờ tụng. Nhiều hiện tượng lạ xảy ra tại đây khiến người dân khiếp sợ không dám bén mảng. Chính vì vậy, giữa vùng đất lúa đã còn sót lại một cánh rừng già với các loại gỗ quý và cổ thụ bao quanh đền.

Đền Vua Rộc lúc nào cũng thâm u bởi được phủ bởi những cây cổ thụ quý hiếm, qua cổng đền là ngũ môn đồ sộ cao tới 27m là thế giới của rừng nguyên sinh còn sót lại với Thiều Hoa, Bẹ Vàng, Móc, Màng Rề… Chính vì vậy mà đền Vua Rộc không bao giờ thiếu vắng những con rắn hổ mang cực độc. Rắn ở đây nhiều đến nỗi xác da rắn lúc nào cũng la liệt khắp các cành cây.

đền vua rộc
Giếng nước trong Đền Vua Rộc

Phía cạnh “mũi rồng” bên phải còn một cây sanh ôm chặt và bao quanh cây cọ trông rất kỳ lạ. Thậm chí cây sung cổ thụ cũng có bộ rễ rồng uốn lượn đẹp mắt. Trên thân cây xuất hiện những u bướu hình người với đủ mọi tư thế.

Phía cạnh hậu cung đền Vua Rộc còn một rừng tre lạ lùng vài trăm năm tuổi. Mỗi cây tre đều to hơn bình thường, thẳng tắp và dài đến 30m. Đặc biệt, gai tre to như chiếc đũa và cứng như đinh sắt. Tre mọc độc lập không thành bụi quanh một cái hố nhỏ.

Ngoài những câu chuyện tâm linh, đền Vua Rộc từ xa xưa đã trở thành nơi cầu duyên của các đôi trai gái. Chính vì vậy, vào ngày 5, 6 tháng Giêng hằng năm người dân đều tổ chức lễ hội rất trang trọng. Đền Vua Rộc từng là nơi sơ tán và hoạt động bí mật của Đảng trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Năm 2002, UBND tỉnh Thái Bình đã công nhận đền Vua Rộc là di tích lịch sử văn hóa.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Đền Vua Rộc - Thái Bình

Tướng đường chỉ tay hôn nhân –

Là một trong năm đường cơ bản nhất của bàn tay. Nó xuất phát từ lòng bàn tay chạy về ngón út đến dưới ngón út. Đường này chỉ về trạng thái hôn nhân. Đồng thời kết hợp với ý nghĩa của đường tâm tính để hiểu thêm về hạnh phúc của cá nhân. Sự kết hợp na
Tướng đường chỉ tay hôn nhân –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tướng đường chỉ tay hôn nhân –

Sao Địa Không

Hành: Hỏa Loại: Sát Tinh Đặc Tính: Trở ngại, thất bại, bần hàn, tai nạn, tác hại, gian xảo, kích động Tên gọi tắt thường gặp: Không
Sao Địa Không

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Phụ tinh. Thuộc bộ sao đôi Địa Không và Địa Kiếp. Phân loại theo tính chất là Sát Tinh, Hung Tinh.
Cũng là một trong 6 sao của bộ Lục Sát Tinh gồm các sao Kình Dương, Đà La, Địa Không, Địa Kiếp, Linh Tinh, Hỏa Tinh (gọi tắt là Kình Đà Không Kiếp Linh Hỏa).
Cũng là 1 trong 4 sao của cách Hình Riêu Không Kiếp (Thiên Hình, Thiên Riêu, Địa Không, Địa Kiếp).
Khi đóng trong cung không có chính tinh gọi là cách hung hoặc sát tinh độc thủ.
Khi có sao Địa Kiếp trong cùng một Cung Tỵ hoặc Cung Hợi gọi là cách Không Kiếp đồng cung Tỵ Hợi.
Khi một trong các Cung Tý, Cung Tuất, Cung Thìn, Cung Ngọ có sao Địa Không thì tại Cung Hợi hoặc Cung Tỵ thuộc cách giáp Không Kiếp.
Vị Trí Ở Các Cung

  • Đắc Địa: Dần, Thân, Tỵ, Hợi.
  • Hãm Địa: Tý, Sửu, Mão, Thìn, Ngọ, Mùi, Dậu, Tuất.
Ý Nghĩa Địa Không Ở Cung Mệnh
Tướng Mạo
Sao Địa Không ở Mệnh thì thân hình thô xấu, da kém vẻ tươi nhuận.
Tính Tình
  • Địa Không đắc địa: Có mưu trí, thâm trầm và lợi hại, rất can đảm, táo bạo, dám nói, dám làm, kín đáo, bí mật, hay giấu diếm, hay suy xét, mưu trí cao thâm, thủ đoạn. Những đặc tính này đúng cho cả phái nam và nữ.
  • Địa Không hãm địa: Ích kỷ, tự kỷ ám thị, suy tật xấu của người từ tật xấu của mình, xảo quyệt, gian tà, biển lận, tham lam.
Công Danh Tài Lộc
Sao Địa Không cho dù đắc địa cũng không bảo đảm trọn vẹn và lâu dài công danh và tài lộc. Sự nghiệp sẽ hoạch phát nhưng hoạch phá nghĩa là tiến đạt rất nhanh chóng song tàn lụi cũng lẹ. Uy quyền và tiền bạc phải gặp nhiều thăng trầm, lúc thịnh lúc suy; nếu có phú quý lớn thì hoặc không hưởng được lâu, hoặc phải có lần phá sản, lụn bại.
Nếu hãm địa, nhất định phải cực kỳ nghèo khổ, vất vả, không có sự nghiệp và sinh kế để nuôi thân. Sao Địa Không giáp Mệnh cũng liên lụy ít nhiều đến bản thân, công danh, tài lộc như phải vất vả, tha phương lập nghiệp, bị mưu hại, trộm cắp.
Phúc Thọ Tai Họa
Đắc địa: Cuộc đời phải vất vả cực nhọc, tuy tai họa tiềm tàng, nhưng không mấy hung hiểm. Dù sao, phải chịu nhiều cảnh thăng trầm, khi vinh, khi nhục. Nếu gặp phải sát tinh, thì sự phá hoại dễ dàng phát tác mau chóng.
Hãm địa: Địa Không ví như một nghiệp chướng bám vào vận mệnh con người, có ảnh hưởng đa diện và nặng nề, cụ thể như:
  • Bị tật nguyền vĩnh viễn, bệnh nặng.
  • Hung họa nhiều và nặng nề.
  • Nghèo khổ, cô độc, vô sản, phải đi xa làm ăn.
  • Yểu mạng.
Những Bộ Sao Tốt
Địa Không đắc địa gặp Thiên Tướng, Thiên Mã, Hóa Khoa: Những sao này thủ Mệnh là người tài giỏi, lập được sự nghiệp lừng lẫy trong cảnh loạn ly.
Địa Không đắc địa với phi thường cách: Phi thường cách hoặc gồm Tử Phủ, Vũ, Tướng đắc địa, hoặc gồm Sát, Phá, Liêm, Tham đắc địa, được sự hội tụ của cát tinh đắc địa như Tả, Hữu, Khôi, Việt, Xương, Khúc, Long, Phượng, Đào, Hồng, Khoa, Quyền, Lộc và của sát tinh đắc địa như Kình, Đà, Không, Kiếp, Hình, Hổ. Đây là cách nguyên thủ, đế vương, hội đủ tài đức và vận hội, có cả lương thần và hảo tướng trợ giúp, xây dựng chế độ, để danh tiếng lừng lẫy cho hậu thế.
Những Bộ Sao Xấu
  • Địa Không với Thiên Hình, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh: Nếu cùng đắc địa cả thì phú quý được một thời. Nếu cùng hãm địa cả thì rất nguy hiểm tính mạng, sự nghiệp, tài danh, suốt đời gặp nhiều chuyện đau lòng. Dù đắc hay hãm địa, cả trai lẫn gái đều khắc vợ, sát phu.
  • Địa Không, Thiên Cơ (hay Hỏa): Bị hỏa tai như cháy nhà, phỏng lửa.
  • Địa Không, Tham Lang đồng cung: Bị thủy tai (chết đuối, bị giết dưới nước), nếu không cũng chật vật lang thang độ nhật, dễ sa vào đường tù tội.
  • Địa Không (Kiếp) Phục Binh, Thiên Hình, Hóa Kỵ: Gian phi, trộm cướp, du đãng.
  • Địa Không, Trực Phù, Thiên Khốc, Điếu Khách, Cự Môn, Nhật: Cách này biểu hiện cho tai họa, tang khó, đau buồn liên tiếp và chung thân bất hạnh.
Ý Nghĩa Địa Không Ở Cung Phụ Mẫu
  • Cha mẹ mất sớm, chết sớm, chết thảm, bị hình tù, ly cách.
  • Không nhờ vả được cha mẹ mà có khi phải gánh nợ di truyền của cha mẹ để lại.
Ý Nghĩa Địa Không Ở Cung Phúc Đức
  • Sao Địa Không đắc địa, thì hưởng lộc một thời.
  • Sao Địa Không hãm địa, chủ sự bất hạnh lớn về nhiều phương diện, giòng họ sa sút, lụn bại, vô lại, cường đạo, sự nghiệp tan tành, tuổi thọ bị chiết giảm, đau ốm triền miên vì một bệnh nan y.
Ý Nghĩa Địa Không Ở Cung Điền Trạch
  • Địa Không đắc địa, có điền sản một dạo, nhưng phải mua đi bán lại luôn.
  • Địa Không hãm địa, vô sản, bị sang đoạt, bị phá sản, bị tai họa về điền sản (cháy nhà, nhà sập ...) hoặc sang đoạt, tạo điền sản bằng phương tiện táo bạo, ám muội.
Ý Nghĩa Địa Không Ở Cung Quan Lộc
  • Công danh thấp kém, làm ăn rất chật vật.
  • Bị khinh ghét, dèm pha, không thăng tiến.
  • Bị mất chức ít nhất một lần.
Nếu đắc địa, có bộc phát được một thời nhưng sau cũng tàn lụi, hoặc phải lên voi xuống chó.
Ý Nghĩa Địa Không Ở Cung Nô Bộc
  • Tôi tớ phản chủ, hại chủ, giết chủ.
  • Bạn bè xấu, tham lận, lường gạt.
  • Nhân tình ám hại, bêu xấu, bòn của.
Ý Nghĩa Địa Không Ở Cung Thiên Di
  • Ra ngoài làm ăn vất vả, phải bon chen, đôi khi có sựï gây gỗ, bực mình.
  • Công danh vất vả, làm ăn lúc được lúc không, làm nghề cực nhọc.
  • Tình cảm bạc bẽo, có số ly hương, đi xa, mồ côi, nếu không thì gia đạo cũng ly tán, xa cách.
Ý Nghĩa Địa Không Ở Cung Tật Ách
Sát tinh này có rất nhiều đặc tính bệnh lý, hầu hết là rất nặng. Nó gây thương tàn cho bộ phận cơ thể đi kèm, dù sao đó chỉ xung chiếu hay bàng chiếu. Cuộc đời hay gặp tai nạn, trắc trở, bệnh khó chữa, có ám tật.
  • Địa Không, Thiên Đồng: Ruột dư phải mổ, hay bệnh thận phải mổ, bệnh mật có sạn.
  • Địa Không, Đế Vượng: Gãy xương sống, sái xương sống.
  • Địa Không, Hỷ Thần: Bệnh trĩ kinh niên hay bệnh mụn nhọt lớn ở mông.
  • Địa Không, Phá Toái: Đau yết hầu, ung thư cổ họng.
  • Địa Không, Thai: Bào thai chết trong bụng mẹ, mẹ cố ý phá thai.
  • Địa Không, Hóa Kỵ: Ngộ độc bị phục độc.
Ý Nghĩa Địa Không Ở Cung Tài Bạch
  • Địa Không nếu đắc địa: thì hoạch phát nhanh chóng một thời, nhưng về sau phá sản cũng rất nhanh. Thường thường kiếm tiền bằng những phương cách táo bạo (buôn lậu, ăn cướp, sang đoạt) và ám muội (đầu cơ, oa trữ, buôn bán đồ quốc cấm).
  • Địa Không nếu hãm địa: Vô sản, bần nông.
Ý Nghĩa Địa Không Ở Cung Tử Tức
  • Không con, hiếm muộn, ít con, phải ở xa con cái.
  • Sát con rất nhiều.
  • Con du đãng, đĩ điếm không nhờ vả được mà còn phải bị di lụy.
  • Con phá sản nghiệp cha mẹ.
Ý Nghĩa Địa Không Ở Cung Phu Thê
Có những ý nghĩa sau:
  • Sát phu, sát thê, góa bụa bất ngờ.
  • Có thể không có gia đình.
  • Nếu có gia đình thì sát hay phải xa cách nhau lâu dài vì tai nạn xảy ra cho một trong hai người.
  • Phải hai, ba lần lập gia đình, lần nào cũng nhanh chóng.
Ý Nghĩa Địa Không Ở Cung Huynh Đệ
Có những ý nghĩa sau:
  • Không có anh chị em hoặc anh chị em ly tán.
  • Có anh chị em dị bào, có người đau ốm bệnh tật, có tật nguyền, hoặc đoản thọ, chết yểu.
  • Không nhờ vả được anh chị em mà còn phải bị liên lụy vì họ (vì Địa Không bấy giờ giáp Mệnh).
Địa Không Khi Vào Các Hạn
Nếu đắc địa, sẽ bộc phát tài danh mau lẹ, nhưng phải làm bệnh nặng về phổi, mụn nhọt, hoặc phải đi xa.
  • Nếu hãm địa, rất nhiều tai nguy về mọi mặt:
  • Bị bệnh nặng về vật chất và tinh thần (lo buồn).
  • Bị mất chức, đổi chỗ vì kỷ luật.
  • Bị hao tài, mắc lừa, mất của, thất tình.
  • Bị kiện cáo.
  • Bị chết nếu gốc nhị Hạn xấu.

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Sao Địa Không

Ngày sinh tốt nhất của 12 con giáp

Nếu sinh vào những ngày tốt, được phúc tinh chiếu mệnh, cả cuộc đời bạn sẽ không phải lo lắng vấn đề tiền bạc.
Ngày sinh tốt nhất của 12 con giáp

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Nếu sinh vào những ngày tốt, được phúc tinh chiếu mệnh, cả cuộc đời bạn sẽ không phải lo lắng vấn đề tiền bạc.

=> ## cung cấp công cụ tra cứu ngày sinh con năm 2016 đẹp nhất và hợp tuổi bố mẹ

Tuổi Tý: Ngày sinh tốt nhất: 4, 13 và 30 âm lịch
Người tuổi Tý sinh vào tháng 4 âm lịch của bất kì tháng nào trong năm Tý sẽ thông minh và thích hợp làm nghiên cứu. Đa số người tuổi này đều có cuộc sống ổn định, của cải dồi dào và vô cùng hạnh phúc.
 
Những người sinh vào ngày 13 âm lịch dễ đạt được thành công lớn trong sự nghiệp do có nhiều may mắn. Người này cũng sống lâu với của cải dồi dào. Còn những người sinh vào 30 âm lịch thì liêm chính, thích làm việc thiện, cuộc sống giàu có khi vào trung vận. Khi về già, họ cũng được hưởng phúc lộc từ con cháu.
 
Tuổi Sửu: Ngày sinh tốt nhất 13 và 27 âm lịch
Những người tuổi Sửu sinh vào ngày 13 hoặc 27 âm lịch đều rất thông minh và may mắn. Họ có cuộc sống bình an, sung túc, không phải lo lắng vấn đề cơm áo gạo tiền.
Tuổi Dần: Ngày sinh tốt nhất 16 và 27 âm lịch
 
Người tuổi Dần sinh vào ngày 16 âm lịch dễ đạt được cả danh tiếng và sự giàu có. Còn người sinh vào ngày 27 thì luôn được quý nhân phù trợ, hạnh phúc viên mãn trong hôn nhân với nhiều con trai và cháu trai.
 
Tuổi Mão: Ngày sinh tốt nhất 26, 27 và 29 âm lịch
 
Người sinh vào ngày 26 âm lịch thường có địa vị cao, được mọi người tôn trọng. Sinh vào ngày 27 là người thông minh, thiên về học thuật, sẽ mang lại vinh dự cho tổ tiên, dòng họ và có hôn nhân hạnh phúc. Còn người sinh vào ngày 29 âm lịch thì may mắn hơn hẳn, họ kinh doanh nhiều tài lộc và có khả năng quản lí tài chính rất tốt.
 
Tuổi Thìn: Ngày sinh tốt nhất là 1 và 16 âm lịch
 
Người tuổi Thìn sinh vào ngày 1 hoặc 16 vô cùng thông minh và may mắn. Họ có được sự nghiệp thuận lợi, có tiềm năng trở thành lãnh đạo cấp cao và đạt được cả danh tiếng cũng như sự giàu có.

Ngay sinh tot nhat cua 12 con giap hinh anh
Ảnh minh họa
Tuổi Tỵ: Ngày sinh tốt nhất là 1 và 23 âm lịch
 
Người sinh vào ngày mùng 1 thường có cuộc đời bình an, hạnh phúc. Còn sinh vào ngày 23 âm lịch thì có lòng dũng cảm và trí tuệ hơn người nên được nhiều người tôn trọng.   Tuổi Ngọ: Ngày sinh tốt nhất là 5 và 20 âm lịch
 
Những người tuổi Ngọ sinh vào mùng 5 có năng khiếu về nghệ thuật, dù phải trải qua khó khăn nhưng đều đạt được thành công nhất định. Nếu sinh vào 20 âm lịch thì hưởng cuộc sống bình yên bên con đàn cháu đống.
 
Tuổi Mùi: Ngày sinh tốt nhất là 7 và 30 âm lịch
Người tuổi Mùi sinh vào ngày 7 âm lịch thường hiền lành và khoan dung nên dễ dành được sự ủng hộ của mọi người xung quanh. Còn sinh vào ngày 30 lại rất may mắn, tài năng và dễ thành công trong sự nghiệp.
Tuổi Thân: Ngày sinh tốt nhất là 14 và 28 âm lịch
 
Nếu sinh vào ngày 14, người này có cuộc sống giàu có nhờ sự giúp đỡ của cha mẹ và quý nhân. Còn sinh vào ngày 28 âm lịch là người có khả năng lãnh đạo trời phú, hợp với quyền cao chức trọng.   Tuổi Dậu: Ngày sinh tốt nhất là 4 và 26 âm lịch
 
Người tuổi Dậu sinh vào ngày 4 sẽ thành đạt và nổi danh ngay từ khi còn trẻ. Còn sinh vào ngày 26 thì được trời phú cho tài năng kinh doanh, hưởng cuộc sống giàu sang phú quý.
Tuổi Tuất: Ngày sinh tốt nhất là 7 và 28 âm lịch
 
Dù sinh vào ngày 7 hay 28 âm lịch, người tuổi Tuất đều được phúc tinh chiếu mệnh, nên sống trường thọ và thành công hơn người khác.
Tuổi Hợi: Ngày sinh tốt nhất là 17 và 24 âm lịch
 
Người tuổi Hợi sinh vào ngày 17 đều rất thông minh, giữ chữ tín và được mọi người tôn trọng. Còn sinh vào ngày 24 là người được hưởng cuộc sống sung túc, giàu có.
ST  
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Ngày sinh tốt nhất của 12 con giáp

Vận mệnh người tuổi Tân Hợi theo Lục Thập Hoa Giáp

Tử vi của người tuổi Tân Hợi ngũ hành Kim, nạp âm Thoa xuyến Kim, nam tính mạnh, đường nhân duyên tốt đẹp.
Vận mệnh người tuổi Tân Hợi theo Lục Thập Hoa Giáp

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tử vi của người tuổi Tân Hợi ngũ hành Kim, nạp âm Thoa xuyến Kim, nam tính mạnh, đường nhân duyên tốt đẹp.


 

Giai ma van menh nguoi tuoi Tan Hoi theo Luc Thap Hoa Giap hinh anh
 
Người sinh năm Tân Hợi là nam mệnh thì tốt hơn một chút so với nữ mệnh. Trời sinh thông minh, nữ nhân thì mạnh mẽ, nam nhân thì chí khí, bề ngoài phù hoa nhưng tâm kiên định, có lý trí.   Tử vi của người năm Tân Hợi tuy cả đời lao lực, nhưng có phúc lộc, được sự trợ giúp của người khác phái. Duyên phận với gia đình không sâu, chủ yếu là tự thân lập thân, độc lập, thái độ làm người cố chấp, làm việc sợ nhất là không tới nơi tới chốn.   Xem tử vi người sinh năm Tân Hợi trưởng thành sớm, đa tình mà phong lưu nên có thể vướng phải thị phi, hôn nhân không như ý. Người này ham hư vinh, để ý tiểu tiết bề ngoài. Lúc nhỏ chịu nhiều khổ sở, càng trưởng thành càng an khang.
Mơ thấy kim là chìm trong biển khổ
Kim và đinh đều là những vật sắc nhọn, có hình dáng tương đồng với nhau, thế nhưng mơ thấy kim sẽ “nguy hiểm” hơn mơ thấy đinh rất nhiều.

Nam mệnh tuổi Tân Hợi
tính tình quái gở, được vợ trợ giúp. Nữ mệnh năng lực hơn người, cá tính mạnh, quyết đoán độc lập, tự chủ cao, nổi loạn, có tham vọng. Tuổi trẻ là thời điểm duyên phận nhiều trắc trở, kết hôn muộn thì tốt hơn. 
  Khuyết điểm của người tuổi Tân Hợi là nhiều lời, vợ hay mắng chồng, cẩn thận tuổi 40 gặp trường hợp ly dị, cô quả. Trụ gặp quan tinh, tuy tự tin nhưng vấp phải thất bại.   Người nạp âm Thoa xuyến Kim trong sự nghiệp khó có sự tiến bộ vượt bậc, gặp tiểu nhân trở ngại, ở thời điểm quyết định nam nên mang theo trang sức làm bằng đá màu cam, nữ nên mang trang sức mã não. 
 
Giai ma van menh nguoi tuoi Tan Hoi theo Luc Thap Hoa Giap hinh anh 2
 
Để trợ giúp nhân duyên thì tuổi Tân Hợi nên mang bên người bùa hộ mệnh làm bằng đá thạch anh.  
=> Chuyên trang Tử vi - ## gửi đến bạn đọc công cụ tra cứu Tử vi hàng ngày, Tử vi trọn đời chuẩn xác nhất

Trần Hồng
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Vận mệnh người tuổi Tân Hợi theo Lục Thập Hoa Giáp

Thực hư vòng gỗ sưa tránh tà trong tháng cô hồn

Vòng gỗ sưa tránh tà: Nhiều người kinh doanh buôn bán không tiếc tiền bỏ ra hàng chục triệu đồng để mua về chiếc vòng bằng gỗ sưa nhằm tránh tà và cầu may mắn.
Thực hư vòng gỗ sưa tránh tà trong tháng cô hồn

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Nhiều người kinh doanh buôn bán không tiếc tiền bỏ ra hàng chục triệu đồng để mua về chiếc vòng gỗ sưa nhằm tránh tà và cầu may mắn.

 

► Xem thêm: Những điều kiêng kỵ trong tháng cô hồn để tránh xui xẻo

Người xưa từng so sánh gỗ sưa đắt tựa vàng mười, trong khi đó các loại gỗ hoàng đàn hay gỗ ngọc am chỉ được sánh với giá trị của ngọc. Đây là loại gỗ hoàng tộc quý hiếm và có giá trị kinh tế cao. Do đó, mỗi khi tháng cô hồn tới, không ít người lại săn lùng chiếc vòng gỗ sưa này với mong muốn xua đuổi những điều xui xẻo, tăng phước khí và sự an lành cho cuộc sống.

Thuc hu vong go sua tranh ta trong thang co hon hinh anh
Ảnh minh họa

Trong dân gian lưu truyền quan niệm rằng đeo vòng gỗ sưa giúp trừ tà khí, ma quỷ và loại gỗ này có thể dùng để làm bàn thờ, đồ thờ cúng giúp xua đuổi tà khí, mang lại sự hưng thịnh về tiền tài cho gia chủ.
 
Người Trung Quốc cổ đại còn lấy mạt gỗ sưa đỏ để ướp xác hoặc để cho vào cốt bát hương; các thầy cúng dùng loại gỗ này để làm kiếm, đồ trấn yểm trừ tà… Có lẽ đây là lí do chính khiến nhiều người đua nhau chi bạc triệu để mua vòng gỗ sưa về để trừ tà, cầu bình an, cầu đức Phật gia hộ.
 
Ngoài ra, một số người làm trong nghề mộc, thường xuyên tiếp xúc với gỗ sưa cho rằng khi đeo vòng làm từ loại gỗ này có thể ngăn ngừa một số bệnh da liễu, tránh côn trùng đốt. Gỗ sưa đỏ phát ra vượng khí rất mạnh và có mùi hương dịu nhẹ, giúp hành khí, hoạt huyết, tốt cho người bị bệnh tim mạch, dạ dày, cao huyết áp… Người đeo vòng này vừa có thể tăng cường sức khỏe lại giúp tinh thần thoải mái, thêm phúc phận.
 
Hiện nay trên thị trường có hai loại vòng gỗ sưa đỏ ở dạng hạt mộc và hạt đánh bóng. Hạt đã đánh bóng có mức giá cao hơn so với hạt mộc. Một số người cho rằng, loại vòng gỗ sưa chất lượng là khi tiếp xúc với da thịt từ 1 tháng trở lên thì lớp đánh bóng bạt hết, màu gỗ bóng dần đẹp lên một cách tự nhiên. Tùy từng loại gỗ khác nhau mà giá trị các loại vòng khác nhau, loại đắt nhất được làm từ lõi cây sưa, vân hiếm có giá hàng chục triệu đồng, chuyên phục vụ những doanh nhân và người giàu có.
 
Theo một số chuyên gia phong thủy, vòng gỗ sưa là vật khí có tính chất huyền bí trong tâm linh chứ không phải vật đặc trưng trong phong thủy. Với phong thủy, loại vòng này chỉ dùng để hộ mệnh. Tuy nhiên, trên thực tế chưa có nghiên cứu rõ ràng nào về tác dụng đặc biệt của loại vòng gỗ sưa mà hầu hết chỉ là truyền miệng.

Các bài viết cùng chủ đề tháng cô hồn, có thể bạn quan tâm:
Mặc tháng cô hồn xui xẻo, những con giáp này vẫn rủng rỉnh tiền tiêu Chuyên gia phong thủy giải đáp: Cưới trong tháng cô hồn – Nên hay không nên? Cho đàn ông sờ ngực sẽ gặp may mắn trong tháng cô hồn? Bảo bối phong thủy xua đuổi tà khí trong tháng cô hồn Kinh nghiệm cúng lễ đuổi ma xua tà trong tháng cô hồn
ST
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Thực hư vòng gỗ sưa tránh tà trong tháng cô hồn

Điểm danh 4 chòm sao đổi vận tốt lành trong tháng 7

Cuộc đời không thể lúc nào cũng mưa thuận gió hòa, có ngày khổ tận thì cũng đến lúc cam lai, như 4 chòm sao đổi vận trong tháng 7 dưới đây.
Điểm danh 4 chòm sao đổi vận tốt lành trong tháng 7

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Cuộc đời không thể lúc nào cũng mưa thuận gió hòa, hanh thông như ý nên dù gặp phải trắc trở cũng đừng vội nản chí. Có ngày khổ tận thì cũng đến lúc cam lai, như 4 cung đổi vận trong tháng 7 dưới đây.

Xem thêm Top 5 chòm sao chuẩn soái ca, thục nữ


Diem danh 4 chom sao doi van tot lanh trong thang 7 hinh anh 2
 
6 tháng đầu năm vận trình của chòm sao này quả thật là kém, siêu cấp suy sụp, làm cái gì cũng không thuận lợi. Nhưng bước sang tháng 7 thì ngay lập tức sự tình khác hẳn, tốt lên trông thấy nhé.
  Xử Nữ
Chòm sao đổi vận trong tháng 7 này có ngay Xử Nữ, gặp niềm vui liên quan tới tài chính. Sao Mộc tuy lệch vị trí, nhưng tiến vào tiền tài cung của chính mình nên người cung Xử Nữ không cần lo tới tiền, việc vui gõ cửa, thu vào tăng thêm, quản lý đầu tư tài sản đi vào quỹ đạo và vận hành tốt.
4 chòm sao có quý nhân vận phát đạt trong 6 tháng cuối năm 2016 Top 5 chòm sao có kết quả mĩ mãn trong kì thi sắp tới Các chòm sao sinh ra có phú quý mệnh

Bạch Dương
  Chòm sao Bạch Dương ở nửa năm đầu quả thất là xấu hết chỗ nói nhưng bước vào tháng 7 là khai vận đào hoa, nhân duyên rộng mở, về phương diện tình cảm có niềm vui lớn. Sao Mộc ở cung hôn nhân của Bạch Dương mang tới cơ hội gặp gỡ đối tượng tốt cho người độc thân, yêu đương nồng thắm rồi tiến tới kết hôn rất dễ dàng. Nếu kết hôn trong năm nay còn có thể sinh được quý tử đấy Bạch Dương.   Song Ngư   Chòm sao phát tài trong tháng 7 không thể không kể tới Song Ngư, sự nghiệp có việc vui, dễ thu về tài lộc. Cơ hội thăng chức, tăng lương trong tháng 7 này của Song Ngư rất rõ ràng hoặc là cùng người khác hợp tác, đầu tư thuận lợi. Thổ tinh ở cung danh vọng còn giúp chòm sao này gia tăng địa vị xã hội, có chức có quyền nên được người khác nể trọng, nhờ cậy.
Diem danh 4 chom sao doi van tot lanh trong thang 7 hinh anh 2
 

Thiên Bình   Sao Mộc mạnh mẽ nhập cung Thiên Bình nên trên nhiều phương diện nghênh đón việc vui. Ví như tình yêu thuận lợi, tình cảm ngọt ngào, hôn nhân mỹ mãn, sự nghiệp hanh thông, công việc tiến triển, tiền tài rủng rỉnh, thu nhiều hơn chi. Bao nhiêu vui mừng, tốt lành đều sẽ đến với chòm sao may mắn trong tháng 7 này nên chỉ cần tĩnh tâm, tự tại mà đón nhận thôi.
► Theo dõi: Tử vi hàng tháng của bạn được cập nhật nhanh chóng, chính xác

Sức khỏe năm 2016 của chòm sao nhóm Lửa Bật mí tình yêu năm 2016 của chòm sao nhóm Lửa
Tâm Lan

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Điểm danh 4 chòm sao đổi vận tốt lành trong tháng 7

Trăm năm mệnh lý què quặt

Một bài viết hay về mệnh lý theo môn Tử Bình. Mời các bạn cùng đọc.
Trăm năm mệnh lý què quặt

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tác giả: Vương Khánh (Bạn Durobi dịch)

1. Tỉnh ngộ

Học mệnh 15 năm, nghi hoặc và tìm kiếm mất đủ 11 năm, khoảng thời gian sung sức nhất đời người thế là lãng phí mất. Tôi (VK) vẫn còn may, hãy còn chưa bị hói hết tóc thì thấy ánh sáng cuối đường hầm của mệnh học, không biết bao nhiêu dân nghiền bát tự còn đang mò mẫm trong đêm tối. Bát tự tức nhân sinh, mệnh học tức vũ trụ. Bát tự mệnh học quả là không đơn giản, may có những vị tiên sư trí tuệ phi phàm như Quỉ Cốc Tử, Từ Tử Bình đã đem môn huyền học cao thâm của vũ trụ này dùng công thức đơn giản để định cách, tức đã sáng lập nên hệ thống bát tự dự đoán học. Người đời sau như chúng ta chỉ cần vận dụng công thức đi dự đoán, trong đa số trường hợp có thể đoán rất chuẩn xác. Lý luận cao thâm, trình thức phức tạp không tương đồng với vận dụng khó khăn, như máy tính vậy, là kết tinh của trí tuệ khoa học, vận dụng nó thì cực đơn giản. Bát tự mệnh học cũng vậy, nếu không thì làm sao những vị thầy bói khiếm thị không biết lấy một chữ cũng lấy nó làm nghề mưu sinh được? Cái lý thì thế nhưng hình như trong thực tế không phải vậy, đại lục TQ kể từ khi thầy Thiệu Vỹ Hoa vào những năm 90 khởi xướng phổ cập môn Bát Tự đến nay đã hơn 20 năm rồi; Đài Cảng từ thời Dân Quốc đến nay cũng gần cả trăm năm; người học qua môn mệnh lý này đâu ít hơn số triệu, thế mà cho đến nay người thực sự được giới mệnh lý công nhận là cao thủ ít ơi là ít! Mấy năm trước có vị tiền bối bên Kỳ Môn cảm thán rằng: “Đại lục không có một ai biết đoán mệnh cả!”

Bây giờ đi qua mới phát hiện, thứ mà đại lục và Đài Cảng cả trăm nay học là thứ “Mệnh lý què quặt”, mà lại què đúng cái chân nhẽ ra phải là chủ lực. Một bệnh nhân với cái chân tật nguyền như vậy nếu có cho anh ta thêm 100 năm nữa thì đi được bao xa?

2. Điểm chuyển biến của Tử Bình mệnh học

Phương pháp luận mệnh từ nhà Thanh về trước hầu hết dùng cách cục làm chính, kiêm cố thêm nhật chủ vượng suy, đi bằng hai chân cách cục pháp và vượng suy pháp. Điều này thể hiện rõ rành rành trong những kinh điển như “Uyên Hải Tử Bình”, “Tam Mệnh Thông Hội”, “Tích Thiên Tủy”. Nếu bạn lâu quá không đụng tới mấy cuốn ấy thử bỏ chút thời gian lật lại xem có phải vậy không. Đến thời nhà Thanh, phương hướng luận mệnh môn Tử Bình phát sinh chuyển biến, đem Tử Bình pháp phân làm Vượng Suy phái và Cách Cục phái. Nhân vật đại biểu cho Vượng Suy phái là nhà mệnh lý chuyên nghiệp – tiên hiền Nhậm Thiết Tiều sống khoảng niên hiệu Đạo Quang nhà Thanh, tác phẩm tiêu biểu của ông là “Tích Thiên Tủy Xiển Vi”

Nhân vật đại biểu cho Cách Cục phái là vị tiên hiền Tiến Sĩ đời Càn Long là Thẩm Hiếu Chiêm, tác phẩm tiêu biểu của ông là “Tử Bình Chân Thuyên” Từ đó về sau, Tử Bình mệnh học không còn hoàn chỉnh nữa, hễ dùng cách cục thì không nhắc tới nhật chủ vượng suy, hễ trọng thị vượng suy thì khinh thị cách cục thành bại. Cuộc cải cách này cả trăm năm lại đây rất được những kẻ sơ học ủng hộ. Phải thôi, học tập mệnh lý không còn bị ràng buộc bởi cách cục và vượng suy bên nào nặng bên nào nhẹ, sẽ không còn bị khó khăn làm thế nào dung hòa cách cục và vượng suy. Hai phương pháp luận mệnh sau khi cải cách, vô luận là cách cục pháp hay là vượng suy pháp, chủ tuyến rạch ròi, đường hướng suy luận rõ ràng, trình tự đơn giản, dễ nhập môn, chẳng tốn bao thời gian là có thể nhập đạo. Từ đó, mệnh học là môn huyền học có ít người nghiên cứu nay trở thành môn học đại chúng dễ dàng, người học tăng rất nhiều. Từ đó, môn Tử Bình mệnh học mà cách cục và vượng suy liên quan chặt chẽ đã diễn biến thành môn mệnh lý không khuyết chân phải thì què chân trái, và đó chính là mệnh lý đại chúng hiện đại.

3. Sự truyền thừa của mệnh học hiện đại

Sự phát triển của mệnh lý hiện đại công lao lớn nhất đương nhiên phải qui công cho ba đại gia: Viên Thụ San tiền bối, Từ Lạc Ngô tiền bối và Vi Thiên Lý tiền bối, đương thời gọi là Nam Viên, Bắc Vi, Đông lạc Ngô. Nếu không có ba vị tiền bối này dốc bao tâm huyết trước tác rất nhiều tác phẩm mệnh lý để lại cho hậu học thì chúng ta đâu dễ tiếp xúc môn mệnh lý huyền học này. Về học thuật tu dưỡng của ba vị tiền bối thì khỏi bàn cãi, đều là bậc bác lãm quần thư, tất cả mọi kinh điển Tử Bình mệnh học đương nhiên là tư liệu học tập chủ yếu của các ông. “Tam Mệnh Thông Hội”, “Uyên Hải Tử Bình” quá là bao la phức tạp, “Thần Phong Thông Khảo” thì hệ thống chưa đủ sự tinh luyện, chỉ có “Tích Thiên Tủy Xiển Vi” do Nhậm Thiết Tiều chú và “Tử Bình Chân Thuyên” của Thẩm Hiếu Chiêm là chủ đề rõ ràng, luận thuật tường tận, nên sự ảnh hưởng đến ba vị tiền bối là rất rõ. Nhậm Thiết Tiều dùng vượng suy pháp lấy nhật chủ làm trung tâm, vừa đơn giản rõ ràng vừa dễ học dễ dùng, phù hợp tâm tính thích đi đường tắt của con người; cách cục pháp của Thẩm Hiếu Chiêm tuy hệ thống cũng khá là tường tận, có điều bên trong đặt quá nhiều cánh cửa, đọc rất hay nhưng rất khó áp dụng. Do như vậy nên ba ông đương nhiên ngả về vượng suy pháp của Nhậm Thiết Tiều thôi. Đại sư cũng là phàm nhân, khi học tập đều theo thói thường, khuynh hướng ở tác phẩm chủ đề rõ ràng, lý luận rành mạch.

Sự khác biệt lớn của đại sư và người thường khi học Dịch là họ có độ nhạy cảm đối với Dịch học, thiên tính này của họ loáng thoáng cảm giác rằng cách cục pháp nhất định là thứ hay, chỉ có điều nhất thời chưa hiểu lắm, nên không thể bỏ qua. Cứ như vậy sau khi hấp thu vượng suy pháp của Nhậm Thiết Tiều xong thì cũng bảo lưu cách cục pháp, hình thành nên phương pháp luận mệnh lấy vượng suy chủ đạo cách cục. (cách cục pháp và vượng suy pháp là hai hệ thống luận mệnh khác nhau, lấy lý luận vượng suy pháp chỉ đạo cách cục đó là nguyên nhân chủ yếu làm cho từ nhà Thanh về sau cách cục pháp hoàn toàn đi chệch hướng.)

Cách cục pháp trong hệ thống luận mệnh của ba ông kỳ thực chỉ là một thứ phụ thuộc, thường chỉ có tác dụng gọi tên cho bát tự, giống như tên người thì không liên quan cát hung vậy; cũng thường dùng như vũ khí để khỏa lấp lúc vượng suy pháp không cách nào giải thích được cát hung họa phúc của mệnh cục. Kỳ thực ai tinh ý sẽ thấy rõ, cách cục giống như “gân gà” của ba ông vậy, ăn thì dở mà bỏ thì tiếc, lấy làm vật bài trí cho rồi. Ba vị tiền bối tung hoành Dịch đàn mấy mươi năm, quyết định hướng đi của mệnh học từ thời Dân quốc đến nay, để lại nhiều tác phẩm ảnh hưởng sâu sắc. Thử hỏi, từ Dân quốc về sau người nào có chút văn hóa, có tâm cầu tiến, mấy ai không đọc sách của ba ông? Sách mệnh lý xuất bản hầu hết là của ba ông hoặc học giả hậu học trưởng thành đi theo sau ba ông biên soạn, thế thì làm sao không bị học thuật của ba ông ảnh hưởng? Nhất là Từ Lạc Ngô tiền bối, rất là dụng tâm lương khổ, muốn cho hậu học đều có thể đọc hiểu cổ thư nên bèn “các kinh ta chú thích hết”, vô luận sách mệnh lý phái nào sau khi ông chú xong cũng đóng lên cái dấu ấn vượng suy pháp, như cuốn “Tử bình Chân Thuyên” chuyên luận cách cục sau sự nỗ lực của ông đã bị biến thành phương pháp phụ thuộc của vượng suy pháp – vượng suy cách cục pháp. Kỳ thực con đường học tập mệnh lý rất hẹp, chủ yếu chỉ hai đường, manh phái và phái sáng mắt. Manh phái chỉ truyền người khiếm thị. Phái sáng mắt cơ bản là không có sư thừa, chủ yếu lấy sách làm thầy, hoặc có thể nói sư phụ của sư phụ chúng ta là sách. Hễ đọc sách thì không thể không đụng ba vị tiền bối này, nói trắng ra là sư phụ của hầu hết người sáng mắt chính là ba ông Viên, Vi, Từ.

Và như vậy vượng suy pháp đã trở thành chủ lưu, thậm chí là pháp môn có một không hai lưu truyền rộng rãi cho đến ngày nay.

4. Giới thiệu đôi nét về vượng suy pháp và cách cục pháp

Chúng ta đã rất quen thuộc vượng suy pháp rồi, chính là lấy nhật chủ làm trung tâm, định ra sự vượng suy cường nhược của nhật chủ và thập thần, sau đó dùng phép tắc cân bằng định ra hỉ kỵ, đoán cát hung.

Bộ phận quan trọng nhất của vượng suy pháp là định vượng suy của nhật chủ chính là thân vượng thân nhược, sau đó xác định nhật chủ hỉ gì, kỵ gì. Thường thì thân vượng cần khắc, tiết, hao để cân bằng, hỉ Tài Quan Thực Thương; thân nhược cần sinh phù để cân bằng, hỉ Ấn Tỷ. Cường thì ức (chế), nhược thì bổ, thuận thế hóa tiết, thông quan điều hậu, là nguyên tắc chọn dụng thần tối cơ bản.

Cách cục pháp luận mệnh dùng chủ khí trong mệnh cục làm trung tâm (thần nắm lệnh của tháng là chủ khí của trời, thập thần tích cực nổi trội nhất trong thiên can là chủ khí của đất), lập hướng, định cách cục, luận thành bại, thành cách thì quí, thành cục thì phú, không thành cách cục đều là người bình thường.

Làm thế nào để đoán định thành bại của cách cục, chủ yếu phải xem lập hướng điểm có thông qua được 3 cửa quan là hộ vệ, thật giả, thanh thuần hay không. Chỉ có 3 cửa quan đều thông qua thì mới tính cách cục được thành lập, không quí thì phú. 3 cửa chỉ cần 1 cửa không thông qua thì luận là không thành cách cục, án tình huống cụ thể phân làm 3 loại bán thành phẩm, thứ phẩm và phế phẩm, lấy tiêu chí này đoán định ngoài đại quí đại phú ra (đã thành cách cục) thì còn có các tầng thứ khác, hoặc tiểu phú quí, hoặc có thành tựu, hoặc bình phàm, hoặc là đồ bỏ đi, rõ ràng đâu ra đấy.

Cái gọi là 3 cửa quan: Hộ vệ, thật giả, thanh thuần, được biểu thuật như sau.

Hộ vệ: Tức là thập thần lập hướng (thập thần lập cách cục) xung quanh có hình thành một cơ chế bảo vệ hoặc ức chế hoàn thiện hay không. Lấy nguyên tắc hộ vệ hung thần thì nghịch dụng, cát thần thì thuận dụng để phán đoán thành bại. 4 hung thần: Sát, Thương, Kiêu, Kiếp cần chế cần hóa, như Thương Quan cần gặp Tài hoặc Ấn, Thất Sát cần gặp Thực hoặc Ấn hoặc Thương Nhận hợp Sát ; 4 cát thần: Tài, Quan, Ấn, Thực cần được sinh và hộ vệ, như Quan tinh cần gặp Tài hoặc Ấn, Ấn tinh cần gặp Quan hoặc Tỷ. Cát hung thần chỉ khi đã cụ bị cơ chế hộ vệ và ức chế này mới có thể kiện khang và thành tựu, và mới có thể là vật hữu dụng cho ta.

Lúc luận cách cục, hộ vệ là tối quan kiện, chúng ta chớ cho rằng thân vượng gặp Tài, Sát thì có thể thăng quan phát tài. Bạn đầu tiên phải tính: Tài này tự thân nó có an toàn, kiện khang hay không? Sát này có thể thuần phục làm vật hữu dụng cho ta không? Đơn lẻ chỉ mỗi thập thần thì nó chỉ là “nguyên liệu” mà thôi, chỉ khi qua sự tổ hợp hợp lý mới thành hình, tức biến thành “thành phẩm”, tức Tài là tài phú, Quan là địa vị.

Ví dụ 1: Càn tạo: Giáp Dần-Đinh Mão-Ất Sửu-Ất Dậu Đại vận: Tân Mùi Lưu niên: Kỷ Sửu Thân vượng Kiếp vượng, vượng suy pháp nhất định sẽ cho rằng địa chi Sát có Tài sinh có thể dùng được, nhưng trên thực tế vấn đề xảy ra ngay chỗ Sát này. Thất Sát là hung thần, không có chế hóa mà lại có nguồn; mà xung quanh nhật chủ không có Ấn tinh hộ vệ, Thực Thần thì yếu nên khó dùng, không hề có chút lực để kháng kích Thất Sát, điềm đại hung. Đại vận Tân Mùi Sát thấu, ứng kỳ đến, lưu niên Kỷ Sửu bị ung thư không chữa khỏi mà chết.

Ví dụ 2: Khôn tạo: Canh Tý-Quí Mùi-Canh Tý-Canh Thìn Vượng suy pháp nhất định sẽ cho rằng mệnh này thân vượng Thương Quan đắc dụng nên mệnh chủ rất thông minh. Dùng cách cục pháp mà nói, sau Tiểu Thử 4 ngày thì Đinh hỏa nắm lệnh, Quí thủy Thương Quan che đầu, mà Tý Thìn củng thủy, Thương Quan quá vượng. Thương Quan là thập thần lập cục. Thương Quan là hung thần, gặp Tài và Ấn mới tính là chế hóa thành công. Hiện ở thiên can chẳng những không có thần hộ vệ, còn có 2 Tỷ Kiên tương sinh, hung thần Thương Quan ngông nghênh, tất sẽ làm chuyện xấu. Khí nắm lệnh là Chính Quan bị Thương Quan khắc phá, dự báo đây là hung mệnh. Mệnh chủ bước vào vận thứ 2 là Nhâm Ngọ bị sốt đến độ hoại não, trở thành người thiểu trí. Chắc qua 2 ví dụ trên các bạn chắc đã nhận thức tầm quan trọng của hộ vệ.

Thật giả: Tức là vấn đề căn khí và lực của thập thần hộ vệ. Có căn gốc tức có lực, là thật; không có căn gốc thì vô lực, là giả.

Thanh thuần: Tức là vấn đề đơn nhất hay đa hiện của thập thần lập hướng (thập thần lập cách cục). Chỉ có một là thanh thuần, âm dương cùng hiện 2 bên hoặc âm âm, dương dương song hiện ở 2 bên là tạp trọc (năm tháng là một bên, giờ là một bên). Như Quan Sát hỗn tạp, Thực Thương cùng hiện, Ấn Ấn song thấu, đầu là tạp trọc.

Cách cục pháp luận mệnh, nói đơn giản thì rất đơn giản, chính là trước tiên phải tìm chủ khí lập hướng (lập cách cục), sau đó xem nó có thông qua 3 cửa quan hộ vệ, thật giả, thanh thuần hay không, thông qua thì thành cách cục đại phú đại quí, không qua thì thành người phổ thông

Trong các giai tầng xã hội. Phú quí bần tiện, cát hung họa phúc chỉ một chốc là rõ ngay. Mức độ khó của nó ở chỗ tìm đúng trung tâm điểm để luận mệnh, hoặc gọi là lập hướng điểm hoặc lập cách cục điểm. Trên lý luận nói dễ tìm, không phải thần nắm lệnh của tháng thì là thập thần nào hoạt động tích cực nhất trên hàng can, nhưng trên thực tế vận dụng có một số mệnh cục do nhân tố tổ hợp, chủ khí của lệnh tháng hoặc là bị phá hoại hoặc bị hợp hóa hoặc bị che lấp mất nên không dùng được; thập thần hoạt động tích cực nhất trên hàng can phải tính tới vượng suy, cát hung thần, thập thần ý hướng v.v…cho nên cũng không phải ngó sơ một cái mà xác định được. Ưu thế lớn nhất của vượng suy pháp ở chỗ trung tâm điểm là cố định khỏi cần tìm, nhật chủ chính là trung tâm điểm luận mệnh, đơn giản thế đấy, cho nên rất được người mới học ủng hộ.

Vượng suy pháp và cách cục pháp có 3 điểm lớn khu biệt với nhau:

A. Trung tâm điểm luận mệnh (thái cực điểm) không giống nhau.

Vượng suy pháp lấy nhật chủ làm trung tâm điểm luận mệnh, cách cục pháp lấy chủ khí của trời và đất làm trung tâm điểm luận mệnh. Trên thực tế là sự khác biệt cực lớn của 2 loại nhân sinh quan, nhân sinh lấy “ta” làm trung tâm, hay là lấy “tự nhiên trời đất” làm trung tâm.

B. Lối suy nghĩ luận nhân sinh thành bại không giống nhau. Vượng suy pháp lấy vượng suy cân bằng luận nhân sinh thành bại cát hung. Cách cục pháp lấy cách cục luận nhân sinh phú quí bần tiện.

C. Nhận thức đối với thập thần không giống nhau Vượng suy pháp đối với thập thần chỉ bàn hỉ kỵ, không luận cát hung. Phù hợp nguyên tắc vượng suy cân bằng thì là cát, chính là Sát, Kiêu. Thương, Kiếp cũng là là hỉ; không phù hợp nguyên tắc vượng suy cân bằng thì là hung, dù là Tài, Quan, Ấn, Thực cũng là kỵ với ta.

Cách cục pháp đối với thập thần có sự phân biệt cát hung rõ ràng, hơn nữa còn nghiêm ngặt án theo nguyên tắc thủ dụng hung thần thì nghịch dụng, cát thần thì thuận dụng

Cho nên vượng suy pháp và cách cục pháp là 2 hệ thống luận mệnh hoàn toàn không giống nhau, tối kỵ dùng lẫn với nhau. Dùng lý niệm của vượng suy pháp đi bình cách cục thì thật nực cười. Cũng giống như vậy mà dùng tư tưởng của cách cục pháp đi luận vượng suy thì cũng tréo nghoe.

5. Tính cục hạn của vượng suy pháp, cách cục pháp nguyên nhân đi chệnh hướng của nó

Vượng suy pháp và cách cục pháp là 2 phương pháp luận mệnh độc lập, chúng có thể lưu truyền tới ngày nay, đặc biệt là vượng suy pháp trở thành chủ lưu của luận mệnh thì tất nhiên phải có chỗ độc đáo của nó. Đồng thời, 2 phương pháp này luôn bị người ta chất nghi và phê phán thì chắc chắn có tồn tại không ít khuyết điểm. Một phương pháp mà có thể lưu hành được đương nhiên là phải có sự hợp lý, một phương pháp hay bị phê phán thì cũng phải có nguyên nhân. Chúng ta tĩnh tâm lại tìm thử nguyên nhân ở đâu.

(A) Ưu điểm của vượng suy pháp.

Phương pháp vượng suy cân bằng lấy nhật chủ làm trung tâm, khi luận đoán những phương diện như mệnh chủ tính cách, chủ quan năng động tính, phương thức của hành vi, tình hình sức khỏe, hôn nhân gia đình thì rất thiện nghệ, chẳng những dễ học mà tính chính xác rất cao; đối với phú quí bần tiện, cát hung họa phúc cũng có thể xem được đại khái.

Những ưu thế kể trên đủ để người mới học phục lăn, tự nhiên đối với vượng suy pháp nảy sinh cảm giác tin tưởng và tin phục, còn đối với những hạng mục như tầm mức của phú quí bần tiện và sự biến hóa của nó, sự lớn nhỏ của cát hung họa phúc và ứng kỳ của nó thì luôn cho rằng đấy là thứ cao cấp trong mệnh lý, theo sự nâng cao trình độ dần dần của mình thì nhất định sẽ có thể giải quyết, không hề nghi ngờ chút nào tính cục hạn của vượng suy pháp. Vượng suy pháp chỉ có ưu thế ở vài phương diện như nêu trên cũng đủ làm người học bình thuờng tự thấy vui rồi, dù gì mục đích học mệnh lý của đa số người không phải lấy nó làm nghề mà chỉ đơn thuần là sự ham thích.

(B) Khuyết điểm lớn nhất của vượng suy pháp

a. Lấy nhật nguyên làm trung tâm luận phú quí bần tiện, cát hung họa phúc.

Đặc điểm lớn nhất của vượng suy pháp luận mệnh là dùng nhật nguyên làm trung tâm tiến hành toàn diện luận mệnh, sự phú quí bần tiện, thọ yểu cát hung, biến hóa trồi sụt, tất tần tật đều lấy đó làm trung tâm. Chúng ta phải nhận thức rõ: Trong cuộc sống hiện thực, là “ta” ảnh hưởng, cải tạo tự nhiên và xã hội, hay là “ta” bị tự nhiên và xã hội ảnh hưởng, cải tạo. Nói đơn giản một chút, trong cuộc sống thực tế, “ta” là trung tâm của xã hội hay là xã hội là trung tâm của “ta”. Lý lẽ rõ là: Con người cực nhỏ bé trong thế giới tự nhiên, con người là một bộ phận nhỏ trong xã hội. Chúng ta thường bị tự nhiên xoay chuyển, thường bị trào lưu xã hội dắt mũi. Chúng vì cuộc sống mà hàng ngày xoay tròn quanh công việc, quanh sự nghiệp. Chúng ta có nhà có xe, nhưng phải làm để trả tiền nhà tiền xe. Chúng ta cả đời muốn thay đổi người khác, đến cuối cùng ngay đến con cái nó cũng chẳng thèm nghe ta. Chúng ta nỗ lực thay đổi mệnh vận, đến cuối cùng cũng phải tin là con người có mệnh. Chúng ta tin rằng “xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều”, đấu tranh kháng lại tự nhiên, kết cục cuối cùng là kính úy tự nhiên, nhận ra thuận theo tự nhiên, vận dụng tự nhiên thì nhân loại mới hòa hợp hòa hợp vạn thế, di dưỡng thiên niên.

Phương pháp luận mệnh vượng suy lấy nhật chủ làm trung tâm đi ngược với qui luật tự nhiên, không phù hợp hiện thực xã hội, đã sai ngay từ lập hướng điểm lúc ban đầu. Đây là chỗ sai lớn của vượng suy pháp. Nó chỉ có thể suy đoán những tượng thuộc tự nhả, như tính cách, hành vi, hôn nhân, sức khỏe, mà đối với chủ tượng của nhân sinh, chúng ta thường nói là mối quan hệ giữa con người và xã hội, cũng chính là phú quí bần tiện, cát hung họa phúc, thì không hề với tới.

b. Thập thần chỉ phân hỉ kỵ, không phân cát hung.

Thập thần trong bát tự là hình tượng miêu tả hoặc đại biểu cho các loại nhân vật sự kiện. Khí có âm dương, người có thiện ác, vật có đẹp xấu, thế thì thập thần đại biểu cho nhân vật và sự kiện làm sao không thể có sự phân biệt thiện ác? Đây phải là điều cơ bản của mệnh lý, nếu thập thần không phân chia thiện ác thì chỉ ngũ thần là đủ, cổ nhân khi xưa tiếc chữ như vàng cớ gì phải làm ra thêm 5 thần dư thừa như vậy?

Chỉ cần là người có dụng tâm học qua mệnh lý đều biết, Thương Quan, Thất Sát, Kiêu Thần, Kiếp Tài chỉ cần vượng mà không có chế hóa, không hợp trói thì dù cho có là dụng thần vượng suy cũng khó nên thành tựu gì, và chuyện rắc rối theo sau nó cũng không ít.

Thất Sát đoạt mệnh, Thương Quan thương thân gây chuyện, Kiếp Tài tranh danh đoạt lợi, Kiêu Thần chuyên giật chén cơm, có cái nào mà không phải châm đối sự kiện khang và phú quí của nhật chủ đâu, nếu không phân cát hung thì đời người đâu có nhiều hung tai hoành họa lắm thế.

Cử 2 ví dụ để đơn giản nói rõ.

Ví dụ 3: Càn tạo: Ất Hợi-Kỷ Sửu-Giáp Thìn-Ất Hợi

Bát tự này nhìn giống như thân Tài lưỡng đình, dùng vượng suy pháp xem thì mệnh này tốt. Dùng cách cục pháp xem, dùng Chính Tài cách luận thành bại, cát thần Chính Tài cần có Quan Sát hoặc Thực Thương hộ vệ, hiện thời thì không thấy dụng thần Quan Sát, Thực Thần nào cả, đã thế còn có 2 Kiếp Tài tọa vượng đến khắc, chẳng những không thành cách mà còn bị phá tổn nghiêm trọng. Phú quí thôi đừng mơ nữa, cát thần nắm lệnh bị phá, cách bị phá bởi hung thần Kiếp Tài không có chế hóa, tất là người có tai nạn lớn. Mệnh chủ là người cực kỳ nghèo, sau do sự cố trong lúc mưu sinh mà mất đôi cánh tay, phải đi làm ăn mày. Kiếp Tài là đệ nhị ác thần trong 4 hung thần, cực hung hãn, là cường đạo chuyên môn đoạt Tài, không có Tài thì đoạt mệnh.

Ví dụ 4: Càn tạo: Đinh Dậu-Quí Mão-Nhâm Ngọ-Canh Tuất

Đại vận: Mậu Tuất

Lưu niên: Mậu Tý

Mệnh này Thất Sát có nguồn ám tàng, trong kết cấu thì Thất sát không bị chế, Sát cơ trùng trùng, đại vận thấu Sát sẽ là ứng kỳ. Vận Mậu Tuất, năm Bính Tuất bị ung thư ruột, năm Mậu Tý không chữa khỏi mà chết. Thất Sát không bị chế, không hợp trói, chỉ cần có lực và có nguồn thì tất sẽ công thân. Thiên can chỉ hung tai hoành họa có tính bất thình lình, địa chi chủ ác tật tuyệt chứng, điều này ít khi không ứng nghiệm. Vượng suy pháp không phân thập thần cát hung, xem thì đơn giản, thực tế thì đã chặn mất nửa con đường dự đoán, càng đi càng hẹp.

c. Không phân âm dương, không quản đục trong.

Vượng suy pháp luận mệnh chỉ bàn sự cân bằng của lực lượng, không bàn hỗn tạp đục trong. Có lúc cũng ngờ rằng những người quá thiên về vượng suy có phải họ sống trong chân không? Hiện thực cuộc sống mỗi ngày cho chúng ta biết: Người mà trong cuộc sống, công việc, hành vi hỗn tạp vô trật tự sẽ không có thành công và hạnh phúc thực sự. Luận mệnh xem mức độ của phú quí bần tiện, đặc biệt phải chú ý thanh thuần, tạp đục. Một trong những biểu hiện của tạp đục là âm dương thập thần phân lập mệnh cục làm 2 bên, như Quan Sát, Thực Thương. Âm âm, dương dương cùng hiện cũng là một loại của tạp đục, có điều ảnh hưởng đến mức độ phú quí ít hơn. Hỗn tạp là sự tạp loạn vô trật tự của khí, không có ảnh hưởng phương hướng, càng không có lực lượng duy trì. Thể hiện trên tính cách là không có chủ kiến, do dự không quyết; thể hiện trên hành vi là không muốn làm gì cả, không muốn đi sâu thâm nhập cái gì; thể hiện trên tình cảm là bắt cá hai tay, tình cảm không chuyên nhất. Kết quả là nhất sự vô thành, còn hai bàn tay trắng.

Thường người ta hay nói: “Bá nghệ bá tri, vị chi bá láp”, chính là chỉ kết quả của Thực Thương hỗn tạp.

Phụ nữ mệnh có Quan Sát hỗn tạp thì ai cũng biết là hôn nhân trắc trở, một là đàn ông theo đếm không hết, hai là khó ở mãi với một ông chồng.

Mệnh nam giới mà Quan Sát hỗn tạp thì khó có nghề nghiệp ổn định đàng hoàng, thuộc giới tam giáo cửu lưu. Hỗn tạp không thanh (trong), cách cục pháp luận mệnh cho là không cát, ít ra cũng làm giảm tầm mức của cách cục. Vượng suy pháp luận mệnh chẳng những không kỵ hỗn tạp, khi thân vượng còn mừng Quan Sát hỗn tạp, bởi vì phù hợp yêu cầu cân bằng, nhưng trên thực tế lại hoàn toàn không phải vậy. Những ví dụ như vậy rất nhiều, lấy ngay bát tự của tôi và bát tự cùng năm tháng ngày nhưng khác giờ của bạn học của tôi làm một so sánh.

Ví dụ 5: Càn tạo: Quí Sửu-Ất Mão-Bính Ngọ- Đinh Dậu

Ví dụ 6: Càn tạo: Quí Sửu-Ất Mão-Bính Ngọ-Nhâm Thìn

Theo vượng suy pháp luận mệnh thì nhật chủ của hai người đều rất vượng, nhật chủ hỉ gặp Quan Sát cùng đến chế ngự. Vd (6) hiển nhiên ngon hơn vd (5) nhiều. Thực tế thì lại không phải như vậy. Cách cục pháp giải quyết mối nghi hoặc này khá dễ. Vd (6) Ấn cục dụng Quan, mà Quan Sát lại hỗn tạp, cục không thành. Cho nên mới khó chuyên tâm theo đuồi công việc tính chất Ấn và bị thất nghiệp, chỉ đi làm thuê. Vd (5) Ấn cục dụng Quan, Quan tinh thanh mà không tạp, thành cục. Có điều Quan tinh bị ám thương, cục có tì vết. May mà có thể chuyên tâm theo nghề nghiệp thuộc Ấn.

Khí phân trong đục thì mới hiện rõ sự trật tự và tạp loạn; tình cảm phân trong đục thì mới thấy chuyên nhất và lăng nhăng; người phân trong đục thì mới có phú quí và bần tiện. Thiên địa nhân nào có phải thứ khác, luận mệnh sao không thể phân trong đục?

d. Sử dụng thập thần, nhầm coi nguyên liệu là thành phẩm.

Vượng suy pháp luận mệnh, đem cá thể Tài, Quan, Ấn làm tượng trưng cho giàu có, địa vị, quyền lực. Tài tức tiền tài, vật chất, Quan tức quan chức, địa vị, Ấn tức phúc khí, chỗ dựa. Kiểu lý luận như vậy thường dẫn đến kết luận và hiện thực không khớp. Mệnh có thân vượng Tài vượng mà không giàu, thân vượng Quan vượng mà không quí rất nhiều. Kỳ thực đơn lẻ thập thần như Tài Quan Ấn đều chỉ là một loại nguyên liệu cho phú quí mà thôi, không phải thành phẩm của phú quí. Những nguyên liệu phú quí này có thể trở nên phú quí thật sự hay không, cũng tức là sự giàu có, địa vị, vinh dự, thế thì phải xem chúng có thể thành tài được không.

Thế nào gọi là thành tài? Chính là có một cơ chế bảo hộ hoàn thiện, như gặp Tài thì xem Quan, thấu Quan xem Ấn, gặp Ấn xem Quan, chỉ khi tự thân phối hợp hoàn thiện mới tính là thành tài, nếu nhật chủ thực sự có thể được như vậy mới tính là phú quí.

Ví dụ 7: Càn tạo: Quí Hợi-Quí Hợi-Mậu Thìn-Kỷ Mùi

Ví dụ 8: Càn tạo: Quí Hợi-Quí Hợi-Mậu Thìn-Mậu Ngọ

Hai bát tự này chỉ khác mỗi giờ sinh, quĩ tích của nhân sinh cũng khá giống. Hai người đều thân vượng Tài vượng, vd (8) Thìn Ngọ giáp Tị, Tỉ Kiên cũng vượng, Mậu Quí hợp, thế đoạt Tài rất lớn. Bát tự như vậy có phải rất giàu không? Tài ở đây không thể xem là tài phú sau khi “thành tài”, bởi vì nó đã không có Quan Sát chế Tỉ Kiếp, cũng không có Thực Thương tiết Tỉ Kiếp để hộ vệ, Tài này tự thân nó cũng khó bảo toàn thì còn có thể xem là tài phú cho mình được chăng? Kiểu Tài không nguồn không hộ vệ này lúc nào cũng bị Tỉ Kiếp uy hiếp là tượng thương thân lao lực. Do đó cả hai người đều là người bình thường, vd (8) còn bị thương tai phá tài liên miên, ngón tay đã bị tàn tật.

© Nguyên nhân làm vượng suy pháp tẩu hỏa nhập ma

Cách luận mệnh vượng suy cân bằng lấy nhật chủ làm trung tâm quả thực có thể nhanh chóng suy đoán chính xác không ít chuyện, như tính cách, sức khỏe, hôn nhân như đã nói ở trên. Những thứ này đều là việc cá nhân, bản thân của nhật chủ, lúc luận đoán nhất định phải lấy nhật chủ làm trung tâm, vừa vặn phù hợp lý luận suy đoán lấy nhật chủ làm trung tâm của vượng suy pháp, cho nên tỷ lệ chính xác rất cao. Suy đoán chuyện quá khứ của bản thân hoặc việc bên ngoài bản thân như: giàu có, địa vị, vinh dự, công việc, sự nghiệp, v.v… thế thì không phải lấy nhật chủ làm trung tâm nữa, mà là lấy chủ khí trong mệnh cục làm trung tâm điểm, hoặc thần nắm lệnh hoặc thập thần tích cực nhất trên hàng can làm trung tâm.

Vượng suy pháp lấy nhật chủ làm trung tâm, do có ưu thế suy đoán việc trong nội bản thân nên bị ngộ nhận là suy đoán tất cả sự vật trong đời người đều có thể lấy nhật chủ làm trung tâm, phạm sai lầm lấy cái thiên lệch làm cái toàn bộ, hoặc tự ngã ý thức bành trướng đến không có điểm dừng. Loại sai lầm như vậy thực ra không ít vị dẫn dắt vượng suy pháp đã biết từ trước, chỉ có điều bởi lý do tự thân lợi ích hoặc là không tìm ra được một phương pháp luận mệnh tốt hơn nên chìm đắm vào nó không ra được, cứ như vậy càng lúc càng sa lầy, li khai Tử Bình mệnh học càng lúc càng xa.

(D) Cục hạn tính của cách cục pháp Cách cục pháp chủ yếu luận tầm mức của nhân sinh và sự biến hóa của thành bại được mất, còn về tính cách, sức khỏe, hôn nhân, lục thân, v.v… thì lại không phải sở trường. Tuy nhiên lúc dùng cách cục đoán mệnh, có lúc cũng có thể đoán trúng hơn nửa tình trạng sức khỏe, hôn nhân, nếu đóan trúng nhiều thì cũng là xảo hợp, không phải tất nhiên, cũng giống như vượng suy pháp cũng có lúc đoán trúng tầm mức phú quí cùa nhật chủ vậy.

Tử Bình mệnh học là môn học vấn chuyên bàn thiên đạo, địa đạo, nhân đạo, lấy cách, cục, tượng để thể hiện. Cách cục pháp chủ yếu luận thiên đạo và địa đạo, cũng chính là luận cách và cục. Cách, để xem quí tiện; cục, để xem giàu nghèo. Thành cách thành cục, phá cách phá cục chủ về sự biến hóa của cát hung, thành bại, được mất, các phuơng diện nhân sinh sự vật hình tượng khác thì không thuộc cách cục cai quản, nếu cứ muốn nhất định phải dùng lý luận cách cục pháp, có một số việc cũng giải thích được, có điều như vậy rất dễ phạm sai lầm giống như vượng suy pháp, hiện thời có không ít vị học cách cục pháp đã dính vô sai lầm tự ngã ý thức bành trướng rồi!

Tại sao phải học hết sở trường các pháp, chẳng qua bởi vì mỗi phương pháp tự thân nó đều có tính cục hạn. Thay vì tốn bao tinh lực đi bù vá khuyết hãm của mình, chi bằng sau khi làm mạnh ưu thế tự thân mình xong, dùng ít thời gian đi học thêm chỗ hay của người khác. Kiểu lấy dài đắp ngắn này vừa đỡ mất công sức vừa nhanh, đó mới là đường lối học tập đúng của chúng ta.

(E) Một sai lầm của cách cục pháp

Cách cục, là cái sườn, kết cấu tổ chức của bát tự. Nếu nói vượng suy pháp và tượng pháp là “da” thì cách cục phải xem là “xương”.

Hiện nay cách cục pháp không dễ học, nguyên nhân chủ yếu là do chỗ sai quá nhiều, đem những cách, cục, tượng rất đơn giản làm cho phức tạp lên, thậm chí còn gom cách, cục, tượng vô làm một, cũng chính là kiểu tự ngã bành trướng cách cục pháp là tất cả. Điểm sai lớn nhất của cách cục pháp là cho rằng cách cục và nhật chủ vượng suy là vô quan, cho rằng cách cục khẳng định sự phú quí và thành tựu, cơ bản là không dùng nhật chủ vượng suy. Trên thực tế luận mệnh nhất định không phải như vậy, cái khác không nói, tạm nói Tài cách vậy, Tài là cát thần, điều kiện thành cách của nó là phải gặp Thực Thương và Quan tinh đến hộ vệ, kị gặp Tỉ kiếp và Ấn tinh, chỉ khi Tài tinh song thấu làm đục cục mới cần Tỉ Kiếp khử đi. Thế nhưng khi bạn xem “Tử Bình Chân Thuyên” và một số sách cách cục, luận đến thủ dụng Tài cách, hễ thân nhược Tài vượng thì phần lớn lấy Ấn Tỉ làm dụng thần, thế là có những cách quái đản như Tài cách phối Ấn, Tài cách dụng Tỉ, tự mâu thuẫn với Tài cách luận thành bại luận đã nói ở trước.

Chẳng phải đã nói cách cục pháp không bàn nhật chủ vượng suy hay sao? Chẳng phải đã nói điều kiện Tài cách thành công là gặp Thực Thương và Quan tinh hay sao? Bây giờ tài tinh lại song thấu, thế tại sao phải lấy Tỉ Kiếp và Ấn tinh mới thành cách? Kỳ thực mục đích lấy Ấn tinh và Tỉ Kiếp không phải để hộ vệ Tài tinh mà là để sinh phù nhật chủ, để nhật chủ có năng lực gánh nổi Tài. Tử Bình mệnh học chân chính, nguyên bản chính là sự hài hòa thống nhất của cách cục pháp và vượng suy pháp, lấy cách cục làm chủ, vượng suy làm phụ, lấy nhật chủ làm thể, cách cục làm dụng, chẳng những phải tìm cách cục dụng thần mà còn phải xem thể dụng thần. Đàm luận cách cục, mục đích tối cùng không xa rời mối quan hệ giữa cách cục và nhật chủ, hà tất phải phủ nhận nhật chủ vượng suy?

6. Mệnh lý chỉ khi dùng hai chân mà đi thì mới đi được xa

Môn học âm dương, cho dù là phong thủy hay là tứ trụ, chỉ cần là cái học chân chính thì nhất định phải dùng 2 chân để đi, 1 chân cũng có thể đi nhưng cô âm thì không sinh, độc dương thì không trưởng, đi không được xa, được lâu là vậy. Võ học cái thế đều phân nội công và ngoại công, nội luyện hơi thở, ngoại luyện gân cốt bì, mục đích là để bản thân đạt cảnh giới thủy tạt không vô, đao thương bất nhập. Mệnh học cũng vậy, phân hai hệ thống thể và dụng, cách cục pháp lấy thiên địa chủ khí làm chủ và tượng pháp (bao gồm vượng suy) lấy nhật chủ làm trung tâm, chỉ cần hai pháp trên dung hợp mới có thể định được tầm mức nhân sinh, lại có thể đoán được chuyện lẻ tẻ trong đời người, thiên địa nhân, cách cục tượng, có hết ở trong ấy.

(Vương Khánh)

P/s: Đáng lưu ý nhất là câu này:

Mấy năm trước có vị tiền bối bên Kỳ Môn cảm thán rằng: “Đại lục không có một ai biết đoán mệnh cả!”

(Nguồn: sưu tầm)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Trăm năm mệnh lý què quặt

Phong tục Bày mâm ngũ quả

Mâm ngũ quả là phong tục truyền thống của người Việt Nam từ bao đời nay. Nó thể hiện đạo lý luôn luôn coi trọng lễ nghĩa của con cháu đối với tổ tiên.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Mâm ngũ quả dâng cúng tổ tiên là phong tục truyền thống của người Việt từ bao đời nay. Bày mâm ngũ quả thể hiện đạo lý ngàn năm luôn luôn coi trọng lễ nghĩa của con cháu đối với tổ tiên ông bà. Khi tết đến, xuân về,  nhà nào nhà nấy đều  chăm chút sửa soạn mâm ngũ quả thật tươm tất để dâng cúng trên bàn thờ gia tiên.

Mâm ngũ quả thường gồm năm loại quả mà tên gọi có ý cầu mong đạt được một điều gì đó.

Đi xa hơn về căn nguyên thì “ngũ”, tức con số 5 là con số chỉ trung tâm. Người ta tìm thấy nó tọa ở ngăn giữa Lạc thư. Tự dạng chữ ”ngũ” nguyên thể có hình chữ thập của bốn nguyên tố, cộng với điểm trung tâm. Sau này, hai vạch song song được chêm vào đấy tức trời và đất mà giữa chúng, âm và dựơng tạo nên năm nguyên tố tương tác sinh khắc của vạn vật, gọi là ngũ hành của vũ trụ. Theo quan niệm cổ đại phổ biến trong khu vực chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc, thường cho rằng các quy luật phổ biến đều gộp vào con số 5.

mâm ngũ quả

Trong Đại từ điển, ”ngũ” có đến mười hai nghĩa và một ngàn một trăm bôn mươi tám từ kép ghép với nó. Phổ quát vì chúng ta có ngũ phương (Đông, Tây, Nam, Bắc và Trung ương), hay ngũ sắc, rồi ngũ vị, ngũ âm, ngũ tạng, ngũ kim, ngũ quan, ngũ luân, ngũ cốc,… Như vậy, số 5 là biểu hiện chung của sự sống và ở đây ”ngũ quả” được coi là đầy đủ của loại lễ vật dâng cúng là quả. Vì vậy, mâm ngũ quả phần lớn được yêu cầu sao cho thật đẹp mắt là được. Đối với người nông dân thì ngũ cốc (đạo/nếp hương, lương/gạo, thúc/đậu, mạch/ lúa mì, tắc/kê) là lương thực chủ yếu và ngũ quả sẽ là thứ yếu. Do đó, người ta thường quan sát sự tốt xấu của “ngũ quả” sau đây để dự đoán việc được mùa của ngũ cốc:

Mận chủ vào đậu

Hạnh chủ vào lúa mì

Đào chủ vào tiểu mạch

Lật (hạt dẻ) chủ vào nếp hương

Tảo (táo) chủ vào lúa

Theo sự xác tín đã trở thành tập tục phổ thông trong dân gian nên có thể “ngũ quả” nêu trên là “chuẩn” của năm thứ quả dùng làm lễ vật bỏi lẽ việc dâng lễ vật nào đều có thể là cách biểu thị sự cầu mong của người dâng lễ. Ở đây, đối với người nông dân thời cổ thì điều cầu mong lớn nhất là được mùa ngũ cốc.

Quả (trái cây) là biểu tượng của sự sung túc, dồi dào. Vì quả thường chứa nhiều hạt được đồng nhất với quả trứng vũ trụ, biểu tượng cho mọi nguồn gốc, mọi sự khỏi nguyên; biểu trưng quả (với hạt bên trong của nó) biểu thị cho sự phồn thực, sinh sôi và khao khát sự bất tử – hiếu theo nghĩa là sự nối truyền dòng giống miên viễn.

Theo chiều hướng này, quả bao gồm cả ý nghĩa biểu trưng vượt lên trên nhịp điệu sinh tồn của vạn vật: sự xen kẽ luân hồi của sự sống và cái chết; giữa cuộc sống dưới đất (của hạt giống) và cuộc sống dương thế… Trong văn hoá, cụ thể là trong văn học và nghệ thuật tạo hình, quả vừa là biểu trưng chung vừa là biểu trưng có ý nghĩa riêng – hoặc theo sự đồng âm của nó hoặc nó được xác định bỏi các tình tiết văn học truyền kỳ, thần tiên…

Ở miền Nam, trong mâm ngũ quả thường thấy có mãng cầu, tức là cầu chúc cho mọi điều đều như ý:

Có dừa, vì lối phát âm “dừa” của người miền nam đọc tương tự như chữ “vừa”, có nghĩa là không thiếu. Có sung, vì gắn với biểu tượng sung mãn về sức khỏe hay tiền bạc.

Và đu đủ, vì đó có nghĩa mang đến một năm mới được đầy đủ thịnh vượng. Ngoài ra còn có xoài, vì âm “xoài” na ná đọc như là “xài”, để cầu mong cho tiêu xài không thiếu thốn. Do đó ngày Tết nhìn mâm ngũ quả còn được chen thêm nhiều loại quả khác sẽ vô cùng đẹp mắt như: dưa hấu, táo, đào tiên,…

Khác với người miền nam, đặc trưng của mâm ngũ quả của người miền Bắc là:

Đầu tiên là chuối xanh – ứng-với mùa xuân (hành mộc). Nải chuối như bàn tay ngửa, hứng lấy những gì tinh túy nhất của mùa xuân để đọng thành quả ngọt; nó còn có ý nghĩa che chở, bao bọc.

Thứ hai là quả phật thủ màu vàng – tượng trưng hành thổ nên được đặt ở giữa, trong lòng nải chuôi. Phật thủ là loại quả có mười cánh múi chụm lên như 10 ngón tay nên dân gian gọi là tay Phật. Phật thủ được chưng lên bàn thờ với niềm cầu mong được bàn tay Phật trời ban phúc lộc. Nếu không tìm được Phật thủ, có thể thay bằng quả bưởi chín vàng, cũng mang ý nghĩa tương tự.

Tiếp theo, 3 loại quả khác có các màu đỏ (ứng vối mùa hạ – hành hỏa) như ớt sừng, cam – quýt chín, quả trứng gà, hồng…; màu trắng (ứng với mùa thu – hành kim) như roi, đào; màu đen (ứng với mùa đông I hành thủy) như mận, hồng xiêm…

Nếu như ở miền Bắc, hầu như tất cả các loại quả đều có thể bày lên bàn thờ gia tiên, kể cả quả ớt mang vị cay, miễn sao mâm ngũ quả trông đẹp mắt là được; thì người miền Nam lại có sự kiêng cữ. Mâm ngũ quả của người miền Nam không bao giờ có chuối, vì loại quả này tên gọi có âm giống từ “chúi”, thể hiện sự nguy khó. Quả cam cũng không được có mặt trong mâm ngũ quả ngày Tết, vì câu “quýt làm cam chịu”…

Bàn thờ là nơi trang trọng nhất trong mỗi gia đình, mỗi căn hộ, là nơi để tâm linh mỗi người ước nguyện hướng tới những gì tốt đẹp hơn. Tết nếu thiếu bàn thờ thì cái hoang tàn xô đến, niềm cô quạnh dâng đầy, và hình như ta không còn là ngưòi dân Việt nghìn năm trọng tình, hiếu nghĩa, biết ơn tiên tổ nữa. Bàn thờ có chân đèn, chân nến, lư đồng, đài nước, hộp sắc vua phong, tam sự hay ngũ sự… Và ngày Tết, không thể thiếu hương sắc, hình ảnh của mâm ngũ quả. Mâm ngũ quả làm cho quang cảnh Tết và không gian thờ cứng trong mỗi gia đình Việt thêm ấm áp, rực rỡ mà hài hòa; thể hiện sinh động ý nghĩa triết học – tín ngưõng – thẩm mỹ, đồng thời cũng chứa đựng ước vọng của con người.

Tục chưng mâm ngũ quả ngày Tết là một phong tục đẹp của người Việt

 Xem Tướng chấm net


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Phong tục Bày mâm ngũ quả

Bỏ túi những mẹo hóa giải xui xẻo

Bạn sẽ làm gì khi thấy gương vỡ hay mèo đen chạy vào nhà?
Bỏ túi những mẹo hóa giải xui xẻo

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Gương vỡ, mèo đen chạy vào nhà… là một trong những điềm báo cho thấy bạn sẽ gặp xui xẻo liên tiếp. Nếu rơi một trong những trường hợp này, bạn hãy nghĩ ngay tới việc áp dụng những mẹo nhỏ dưới đây.

  1. Dùng muối xua tà ma, đem lại may mắn
 
Không chỉ riêng Việt Nam, nhiều nước trên thế giới cũng coi muối là điềm lành, là vật có thể xua đuổi tà khí và mang lại may mắn. Dân gian có câu “đầu năm mua muối, cuối năm mua vôi”, có nghĩa muối mặn xua đuổi tà ma, vận xui xẻo để mang lại may mắn. Ngoài ra, mua muối còn thể hiện ước muốn hòa thuận trong gia đình, sự mặn mà trong các mối quan hệ làm ăn…

Bo tui nhung meo hoa giai xui xeo hinh anh
Ném muối qua vai trái để xua đi tà khí, mang lại may mắn

Nếu thấy mèo đen chạy vào nhà hoặc gần đây bạn liên tiếp gặp xui xẻo, mách bạn mẹo hóa giải xui xẻo đơn giản này. Bạn cầm một nắm muối ném qua vai trái của mình. Lưu ý, phải ném qua vai trái vì nếu ném qua vai phải thì còn mang lại sự xui xẻo gấp đôi.
 
2. Chôn hoặc vứt gương vỡ xuống sông
 
Từ xa xưa, gương vỡ là điềm xui xẻo và bị coi là rất độc. Khi làm vỡ gương, nên quét dọn sạch sẽ mọi mảnh vỡ và bỏ vào một chiếc túi rồi mang đi chôn hoặc vứt xuống sông. Không nên vứt trực tiếp các mảnh vỡ vào thùng rác, tránh vận xui tăng gấp đôi.
 
3. Đốt hương hóa giải năng lượng tiêu cực
 
Nếu gần đây bạn thường xuyên gặp trục trặc trong cuộc sống thường ngày thì nên nghĩ đến cách hóa giải xui xẻo là đốt hương tại nhà. Nếu gặp các vấn đề về công việc, có thể thắp hương tại văn phòng. 
 
Theo quan điểm dân gian, đốt hương (đặc biệt là hương trầm) có thể gia tăng may mắn và hóa giải nguồn năng lượng tiêu cực. Mùi hương sẽ giúp tinh thần bạn thư thái hơn, đồng thời có thể hóa giải vận đen hữu hiệu. Tuy nhiên, lưu ý khi thắp hương cho gia tiên, Thần Phật nên thắp số lẻ.
 
4. Mang bên mình bùa hộ mệnh
 
Nhắc tới bùa hộ mệnh không ít người cho rằng điều này là mê tín. Tuy nhiên, bùa hộ mệnh ở đây không theo nghĩa tiêu cực mê tín dị đoan, nó đơn giản chỉ là những bảo bối phong thủy như chiếc vòng tay, dây chuyền hoặc một vật nhỏ để trong túi. 
 
Theo quan điểm phong thủy, đeo bên mình một chùm chìa khóa có 3 chìa sẽ giúp chủ nhân của nó mở cánh cửa giàu có, tình yêu và sức khỏe.

Ngoài ra, nếu tìm được cỏ 4 lá tượng trưng cho tiền bạc, danh vọng, tình yêu và sức khỏe và luôn mang nó theo mình sẽ có được nhiều may mắn và thành công, hóa giải mọi xui xẻo trong cuộc sống.
 
Ngoài ra, có thể sử dụng đá phong thủy để làm bùa hộ mệnh hoặc bài trí chúng tại nhà ở, phòng làm việc giúp chống lại các nguồn năng lượng xấu. Cụ thể, thạch anh hồng phấn sẽ gia tăng năng lượng tích cực, đẩy lùi tà khí; đá xà cừ bảo vệ bạn khỏi những linh hồn bơ vơ; thạch anh tím tăng độ an toàn khi đi du lịch…
 
ST  
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Bỏ túi những mẹo hóa giải xui xẻo

Mơ thấy mình đi bơi có đáng sợ không?

Giấc mơ bơi lội ngoài ý nghĩa có liên quan đến giới tính, còn đề cập đến sự quan tâm sức khỏe bản thân.
Mơ thấy mình đi bơi có đáng sợ không?

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Đêm qua, bạn mơ thấy mình bơi lội tung tăng dưới nước nhưng lại không mặc quần áo là điềm báo bạn sẽ gặp rất nhiều may mắn. Ngược lại, bơi lội mà mặc nguyên đồ tắm lại là điềm không tốt, có thể bạn sắp phải thất vọng hay xấu hổ vì một việc gì đó.    Nếu mơ thấy bạn đang dạy người khác tập bơi thường là điềm rất may. Bạn sắp được gia tăng tài vận, trở nên giàu có và gặp nhiều may mắn.    Nếu bạn mơ thấy mình bơi trong bể bơi thường là điềm báo bạn cần phải đề phòng sự ganh ghét, đố kỵ ngầm của những người xung quanh. 

Mo thay minh di boi co dang so khong hinh anh
Ảnh minh họa
  Nếu mơ thấy người khác đang bơi lội là điềm báo tốt lành. Nếu là nữ giới đang bơi thường là điềm báo bạn sẽ gặp nhiều may mắn trong tình yêu.

Nếu mơ thấy nam giới đang bơi  thì bạn sẽ gặp rất nhiều may mắn trong công việc. Mơ thấy cả hai phái đang bơi thì bạn luôn gặp may mắn và vui vẻ trong cuộc sống. 
  Nếu trong giấc mơ, bạn thấy mình bị chết đuối thường là điềm không tốt liên quan đến công việc làm ăn, có thể bạn sẽ gặp trắc trở hoặc bị thất bại. Ngược lại, nếu thấy có người sắp bị chết đuối nhưng được cứu sống lại thường là điềm báo nhờ quý nhân giúp đỡ mà bạn có thể gây dựng lại sự nghiệp sau những mất mát, thất bại.   Mơ thấy mình đang bơi giữa dòng sông thường là điềm sắp có tiền của. Nếu đang bơi giữa dòng sông mà bị hụt chân chìm xuống đáy thường là điềm nên đề phòng chuyện liên quan đến kiện tụng. Mơ thấy mình bơi ngược dòng sông thường là điềm sự nghiệp thuận lợi. Còn nếu mơ thấy mình đang cố bơi vào bờ thường là điềm báo mình phải cố hết sức mới có thể gặt hái được thành công.  

Mơ thấy mình đang cố gắng bơi ra xa khỏi ai đó, điều này ngụ ý bạn đang né tránh một số vấn đề về tình cảm.

Nằm mơ thấy trẻ em hoặc em bé đang bơi có nghĩa là bạn cần phải vô tư hơn. 

Nếu nằm mơ thấy mình mang theo một số dụng cụ bơi lội như mũ bơi, kính bơi... điều này cho thấy bạn đã sẵn sàng đối đầu với một số cảm xúc đau thương hay tổn thương.

Nếu mơ thấy bơi lội ở nơi có người, hay nước hồ bơi biến màu thì mang hàm ý ảo tưởng tình ái mãnh liệt. Ngoài ra, nếu trong mơ cảm thấy căng thẳng trước khi xuống nước, cho thấy tâm trạng lo lắng cực độ đối với sự vật, đặc biệt sự bất an về năng lực tình ái của bản thân, sợ bị người khác vứt bỏ.

Bơi lội thường diễn ra với hình thức gần như lõa thể, hay đi kèm với những động tác xoay chuyển thân người, chứng tỏ người nằm mơ có dục vọng mãnh liệt về tình ái.

Tổng hợp

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Mơ thấy mình đi bơi có đáng sợ không?

Khám phá tình yêu qua độ dày của đôi môi - Xem bói - Xem Tử Vi

Khám phá tình yêu qua độ dày của đôi môi, Xem bói, Xem Tử Vi, xem bói, xem tử vi Khám phá tình yêu qua độ dày của đôi môi, tu vi Khám phá tình yêu qua độ dày của đôi môi, tu vi Xem bói

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Khám phá tình yêu qua độ dày của đôi môi

1. Môi trên và dưới dày bằng nhau

Điều này cho biết bạn tràn đầy hy vọng và cảm xúc trong chuyện tình yêu của mình. Bạn rất quan trọng con đường tình yêu, hôn nhân của mình như thế nào và có xu hướng thích sự lãng mạn. Bạn bước vào cuộc sống hôn nhân một cách điềm đạm, bình tĩnh, luôn giữ sự cân bằng cho gia đình và quan tâm chu đáo đến người bạn đời của mình.

2. Môi trên và dưới đều mỏng

Bạn thích những điều đẹp đẽ và nói ra những lời ngọt ngào. Dù là nam hay nữ, bạn cũng sẽ rất tháo vát với mọi tình huống như bản năng của mình. Đôi khi, bạn lo lắng tình yêu sẽ làm tổn thương trái tim mình, vì thế bạn luôn nghĩ đến việc phải bảo vệ bản thân.

Bạn không phải chỉ biết nói “lời hay ý đẹp” mà bạn còn có một đức tính rất tốt, đó là sự nhẫn nại chịu khó. Điều này sẽ giúp vun đắp cho cuộc sống hôn nhân của bạn sau này. 

3. Môi trên dày, môi dưới mỏng

Làn môi này thể hiện bạn có suy nghĩ khá tiêu cực về tình yêu, đối với chuyện này bạn cảm thấy mệt mỏi. Bạn hay thử thách tình cảm của mình và chỉ tin vào bản thân mà thôi. Đồng thời, bạn ít khi hài lòng với hiện tại và thường tỏ thái độ “khinh miệt, đùa giỡn” với mối quan hệ cần sự nghiêm túc, trong khi đó trái tim bạn cũng chẳng hề yên lòng ngày nào.

4. Môi trên mỏng, môi dưới dày

 Bạn thụ động trong các vấn đề tình cảm vì bạn cho rằng bản thân không thể tin tưởng vào chuyện tình yêu, nó không đáng tin cậy. Điều đó làm bạn trở nên lạnh nhạt với chuyện yêu đương và luôn hoài nghi về tình cảm.

Nếu bạn cứ mãi từ chối sự ngọt ngào của tình yêu, thì cuộc sống bạn sẽ buồn lắm, hãy thử đón nhận nó một lần nhé.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Khám phá tình yêu qua độ dày của đôi môi - Xem bói - Xem Tử Vi

Hình xăm phật bà quan âm bồ tát –

Sự tích hình xăm phật bà quan âm bồ tát: Quán Âm Bồ Tát là danh hiệu của một vị Phật đáng lẽ đã chứng quả Phật, nhưng còn nguyện lẫn lộn ở cõi ta bà để cứu độ chúng sinh. Người ta cũng gọi Ngài là Quan Âm Phật, Quan Âm Như Lai, Quan Thế Âm, Quan Âm N

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Sự tích hình xăm phật bà quan âm bồ tát:

Quán Âm Bồ Tát là danh hiệu của một vị Phật đáng lẽ đã chứng quả Phật, nhưng còn nguyện lẫn lộn ở cõi ta bà để cứu độ chúng sinh. Người ta cũng gọi Ngài là Quan Âm Phật, Quan Âm Như Lai, Quan Thế Âm, Quan Âm Nam Hải, Phổ Đà Phật Tổ, v.v…

hinh-xam-phat-quan-am-bo-tat-1

Quyền pháp năng lực của Ngài cao siêu.

Quyển kinh nói về Ngài, mà hiện nay phái Bắc Tôn (Trung Hoa, Cao Ly, Nhựt Bổn, Việt Nam) còn truyền tụng là quyển “Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Quan Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm”. Theo lời kinh Phổ Môn bất cứ là hạng nào trong chúng sanh, bất cứ là ở vào tình cảnh nào, lúc nào, hễ cầu đến Ngài, niệm danh hiệu Ngài thì đặng cứu ngay. Ngài dùng huyền diệu cứu vớt chúng sanh không biết muôn ức nào mà kể. Nếu cầu Ngài với danh hiệu thuộc về một phân thân nào của Ngài thì Ngài xuất hiện y theo phân thân ấy để cứu độ. Kinh Phổ môn có biên rành 12 điều đại nguyện của Ngài.

hinh-xam-phat-quan-am-bo-tat-3

Theo kinh truyện để lại, Ngài phân thân giáng trần 33 kiếp, khi thì mượn xác nam nhi, khi thì làm thiếu nữ, khi thì ở vào cảnh quyền quý cao sang, khi thì vào hàng bần cùng cơ khổ, khi thì sanh làm đạo sĩ, khi thì làm tỳ khưu, v.v…

Hình xăm phật mang tới sự thanh tịnh, an phận thủ thường. Những người có hình xăm phật thường có tính hướng thiện, muốn tránh xa khỏi những cám dỗ tìm về nương tựa nơi đức phật.
Khi phải đối diện với cảnh thăng trầm, vinh nhục của nhân thế. Khi cảm nhận được nỗi đau sanh, lão, bệnh, tử . Khi thấu hiểu nỗi khổ “ái biệt ly” lìa xa hay mất mát những người thân yêu của mình. Ta mới thấy được hình ảnh đức phật bình an và thanh tịnh biết nhường nào.

hinh-xam-phat-quan-am-bo-tat-6

Hình xăm phật bà quan âm mang đến vẻ đẹp thẩm mỹ. một hình xăm phật ở trước ngưc, sau lưng hay trên cách tay sẽ làm bạn trông nổi bật và cá tính hơn rất nhiều. Hình xăm phật cũng có rất nhiều mẫu để bạn lựa chọn. Có thể là những hình xăm đen trắng, cũng có thể là những hình xăm nhiều màu sắc.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Hình xăm phật bà quan âm bồ tát –

Luận về Địa Không-Địa Kiếp

Không-Kiếp tên gọi tắt của hai sao Địa Không Địa Kiếp. Có người cho rằng Địa làm sao Không, vậy thì Thiên Không Địa Kiếp đi một cặp. Lý luận này sai vì Thiên Không là một sao riêng biệt. Địa Không Địa Kiếp là một cặp.
Luận về Địa Không-Địa Kiếp

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Thiên Không so với Địa Không nhu hòa hơn và có tác dụng khác hẳn. Tính chất Địa Không theo cổ nhân viết: "Tác sự hư không, bất thành chính đạo thành bại đa đoan”-(làm việc coi thường, không theo chánh đạo, thành bại theo nhau).

Nói tóm lại Địa Không chẳng làm điều gì phải. Với Địa Kiếp cổ nhân viết “Tác sự cơ cuồng” (làm việc bừa bãi).

Thực tế kinh nghiệm cho thấy Không Kiếp không hẳn như những lời phê trên đây. Không Kiếp phải tùy thuộc chính tinh chúng đi cùng để mà luận đoán.

Có rất nhiều trường hợp nhờ Không Kiếp mà tốt, biến ra một cách cục kỳ lạ. Tỉ dụ: Thái Dương Thiên Lương gặp sao Xương Khúc Không Kiếp phải đoán là con người có tư tưởng mới lạ, táo bạo nhưng vững vàng, thành công qua nghiên cứu học thuật, đem những điều tân kỳ cho tư tưởng nếp nghĩ. Vậy thì Không Kiếp đâu có xấu.

Cổ nhân ngại Không Kiếp bởi lẽ Không Kiếp ưa làm đảo lộn, đột biến không hợp với xã hội bảo thủ nền nếp. Nhưng hiện tại xã hội luôn luôn chuyển dịch, bảo thủ an định có nghĩa là không phát triển thành trưởng, Không Kiếp hẳn nhiên khả dĩ mang đến lợi ích để thoát khỏi tình trạng thiếu tiến bộ.

Địa Không thuộc âm hỏa, chủ về phiêu lưu mạo hiểm, lên thác xuống ghềnh. Tâm tính bất định, thích biến đổi, đôi lúc mơ tưởng đến mức ảo tưởng, thích khác người, không chấp nhận ý nghĩ gì được coi làm khuôn vàng thước ngọc, sẵn sàng dấn thân, chấp nhận gian khổ.

Địa Kiếp thuộc Dương hỏa, chủ bôn ba, lúc cát lúc hung. Tính tình ngoan cố, cô độc, hỉ nộ vô thường, dám làm dám hành động, không do dự và toàn làm những việc trái khoáy không cần biết thành hay bại, thành thì vui, bại không buồn.

Không Kiếp đều khởi từ cung Hợi mà tính đi để đặt định vị trí. Địa Kiếp theo chiều thuận. Địa Không theo chiều nghịch. Hợi là giờ cuối cùng của một này. Tới Hợi là thời gian của ngày hôm ấy chấm dứt mọi sự mọi vật đều thành bảo ảnh, thành không hư. Không Kiếp tự chỗ không hư ấy mà dấy lên.

Hợi cung thuộc thủy. Không Kiếp thuộc hỏa. Thủy chủ trí, Hỏa cùng chủ trí. Thủy Hỏa giao chiến tất cả đều hủy diệt thành Không, đều hết Kiếp để chuyển hoán thành một tình thế mới tuyệt đối. Nếu không xong thì Kiếp Không qui ẩn tu hành như Chiêu Lý Phạm Thái sau khi thất bại với mưu đồ phù Lê, sau khi Tương Quỳnh Như đã chết.

Không Kiếp là hai sao của thành bại, chứ không phải chỉ có bại thôi. Câu phú: "Mệnh lý phùng Không Kiếp, bất phiêu lưu tất chủ bần khổ”-sai, chỉ luận đoán mới có một chiều.

Địa Không tác sự hư không, hư không đây là thái độ chống đối phủ định ẩn chứa cái can trường muốn thay cũ, đổi mới, mưu vọng này phần bại nhiều hơn phần thắng là lý đương nhiên. Thời xưa quyền lực bảo thủ cực mạnh, không ưa tư tưởng hay hành động có tính cách chống lại truyền thống cho nên nhìn Địa Không bằng con mắt hiềm thù bảo là tác sự hư không.

Địa Kiếp tác sự sơ cuồng, hành động của con người không câu nệ tiểu thuyết, tư tưởng đi ngược với trào lưu thời thượng, dĩ nhiên quyền lực bảo thủ không mấy bằng lòng mà gọi bằng sơ cuồng điên điên chẳng ra đâu vào đâu.
Như vậy những hình dung gán cho Không Kiếp “hư không” và “sơ cuồng” ta nên hiểu theo cái nghĩa “phản truyền thống”, “phản trào lưu” của những hành động không thích ứng với xã hội đã thiết lập trật tự đâu vào đó.

Người có tư tưởng triết học, có khí chất nghệ thuật ngay cả những người trong lĩnh vực khoa học nếu có được Không Kiếp mới thành công đến mức sáng tạo.

Những luận bàn về Tử vi đời nhà Thanh đưa ra thuyết : "Kim Không tắc minh, Hỏa Không tắc phát” nghĩa là Kim gặp Không như chuông đồng rỗng tạo âm thanh, Hỏa gặp Không như lửa được dưỡng khí bốc cháy mạnh. Thuyết này không xuất hiện vào đời Minh. Có thể nó xuất phát từ thời kỳ động loạn của Minh mạt chăng ?

Kim có người cho rằng Kim tứ cục và Hỏa là Hỏa lục cục. Không đúng. Các nhà Tử vi đời Thanh muốn nói về những sao Kim Hỏa gặp Địa Không đó.

Như Vũ Khúc, Thất Sát thuộc Kim hội với Địa Không thường là những số mạng cuộc đời gian khổ cuối cùng thành đạt phấn phát.

Như Liêm Trinh, Thái Dương, Thất Sát (Thất Sát vừa Hỏa vừa Kim) gặp Địa Không do nhẫn nại phấn đấu mà nên công.

Chỉ nói ngộ “Không” tắc minh, tắc phát không nói đến ngộ Kiếp, rõ ràng Địa Kiếp không cùng một tác dụng ảnh hưởng như Địa Không. Điều trên cũng chứng minh rằng cuộc đời nhiều lúc bị tỏa triết, bị đẩy vào chỗ cùng cực đến phải thay đổi lại thành hay về sau, như thi không đậu rồi đi lính mà nên tướng nên tá.

Về Địa Kiếp có những trường hợp nó rất hợp với Tham Lang Hỏa Tinh. Địa Kiếp đem đến biến động đảo lộn để Tham Linh ứng phó mà phấn phát, hoặc Tham Hỏa cũng thế. Đừng câu nệ hay thành kiến, cứ thấy Không Kiếp là đã mang ngay ấn tượng không tốt. Một trường hợp khá đặc biệt: Phúc Đức có Không Kiếp mà Mệnh cung Tham Hỏa hay Tham Linh vẫn kể làm số phát mau.

Không Kiếp đồng cung hay Không Kiếp hội tụ vào Mệnh, hay Không Kiếp giáp Mệnh ảnh hưởng ngang nhau về tốt xấu.

Câu phú Không Kiếp giáp Mệnh vi bại cục không nhất định là với số nào cũng đúng. Câu phú: “Sinh lai bần tiện Không Kiếp lâm Tài Phúc chi hưởng”, không nhất định với số nào cũng thế. Tuy nhiên Tài Bạch mà bị Kiếp Không thì thật hiếm trường hợp tốt vì tính chất keo bẩn.

Địa Không Địa Kiếp có ba thế: a) Đồng cung b)giáp c)hiệp. Không Kiếp đồng cung chỉ thấy ở Tỵ hay Hợi, còn giáp hiệp thì ở mọi chỗ.

Có câu phú: "Không Kiếp Tỵ hợi phản vi giai luận nghĩa là Mệnh có Không Kiếp kể là tốt. Tốt mức nào còn tùy chúng hội hợp với những chính tinh nào? Kiếp Không thường ăn ý với hung tinh hơn cát tinh.

Qua kinh nghiệm rồi qua chứng dẫn sách vở, nhiều trường hợp hai sao Liêm Trinh Tham Lang ở Hợi hay Tỵ mà đứng cùng Không Kiếp rất thành công khi vào lĩnh vực nghệ thuật. Liêm Tham vốn là hai sao đào hoa, Tham là chính đào hoa, Liêm là phó đào hoa, trong khi Không Kiếp lại biểu tượng cho những tư tưởng khác lạ mà nên vậy. Nhưng Thiên Riêu, Đào Hoa, Mộc Dục mà đứng với Không Kiếp lại không biến hoá như trên.

Xin nhắc lại Không Kiếp tuy hơi giống nhau trên tính chất, nhưng có một điểm khác khá tinh tế ấy là : Địa Kiếp chủ về phản trào lưu, Địa Không chủ về phản truyền thống; Địa Không dễ được tiếp thu hơn Địa Kiếp.

Riêng với nữ mệnh mà bị Không Kiếp, nếu đứng trên quan niệm Nữ chủ an định thì Không Kiếp thành phiền vì Không Kiếp vốn gây sự điêu linh do chất phản trào lưu, phản truyền thống ít hợp với đời sống nữ.

Không Kiếp Tỵ Hợi gặp Tướng Mã và hóa Khoa là người can trường, có mưu cơ, công danh càng tốt vào đất loạn thời loạn, Không Kiếp Dần Thân cũng tương tự nhưng không bằng Tỵ Hợi.

Không Kiếp Dần Thân gặp Tử Phủ tất làm hại Tử Phù. Không Kiếp đứng cùng Tả Hữu ở Mệnh, tâm ý thích lừa gạt. Không Kiếp hãm gặp Hỏa Linh Tuế Kị dễ bị trộm cướp. Không Kiếp Hồng Đào vào số nữ thường gian truân với duyên tình.

Không Kiếp đứng với Hóa Quyền trắc trở công danh. Tại sao đứng với Hóa Quyền lại vậy. Vì tính chất của Hóa Quyền là tích cực và ổn định. Ở đâu có Hóa Quyền thì tính tích cực và ổn định tăng cao. Tính chấp Không Kiếp ngược lại làm thành sự mâu thuẫn với Hóa Quyền.

Dưới đây là những câu phú nói về Địa Không Địa Kiếp:

 - Địa Kiếp độc thủ thị kỳ phi nhân

(Mệnh Địa Kiếp đứng một mình luôn luôn cho ý mình là phải. Địa Kiếp độc thủ làm tăng tính phản trào lưu đến mức quá lạm mà nên thế)

- Dần Thân Không Kiếp nhi ngộ quí tinh thăng trầm vô độ

(Mệnh Dần Thân Không Kiếp thủ chiếu đứng cùng với cát tinh như Tử Phủ Đồng Lương Khôi Việt, Xương Khúc thường lên voi xuống chó)

- Tỵ Hợi Kiếp Không nhi phùng Quyền Lộc hoạnh đạt tung hoành
(Kiếp Không Tỵ Hợi có Quyền Lộc tài giỏi nghênh ngang nhưng cũng lại rất bôn ba, mau phát mau tàn chóng)

- Sinh sứ Kiếp Không thủ Mệnh do như bán thiên triết sỉ
(Kiếp Không thủ Mệnh ở Tỵ Hợi Dần Thân là nơi của sao Tràng sinh lên như diều gặp gió, xuống như chúi vào bùn đen).

- Kiếp Cơ ngộ Hỏa tất ngộ hỏa tai
(Mệnh Thiên Cơ Địa Kiếp gặp Hỏa Tinh xung chiếu hoặc đồng cung hay gặp hỏa hoạn)

- Nhan Hồi yểu tư do hữu Kiếp Không Đào Hồng Đà Linh tọa thủ
(Thầy Nhan Hồi chết yểu chỉ vì Mệnh có Kiếp Không Đà Linh toạ thủ. Số thầy Nhan Hồi làm sao mà biết chính xác thế. Chẳng qua chỉ mượn cái chết yểu của một người tương đối tiếng tăm để đặt cách cho các sao thôi, vì vậy cũng có câu khác:”Căn Xương hãm ư Thiên thương Nhan Hồi yểu triết”)

- Kiếp Không Phục Binh phùng Dương nhẫn lột thượng kiếp đồ
(Mệnh Kiếp Không Phục Binh Kình Dương làm côn đồ kẻ cướp)

- Địa Kiếp chi đan tâm phương lẫm
(Địa Kiếp thủ Mệnh với nhiều quí tinh thì lòng dạ sắt son, với thị kỷ phi nhân gần nhau, lòng dạ sắt son đôi lúc cũng vì thị kỷ mà ra)

- Mệnh cung ngộ Kiếp Tham lãng lý hành thuyền
(Mệnh Địa Kiếp đứng cùng Tham Lang cuộc đời nổi trôi bất định. Kiếp Tham Ngọ Tí Mão Dậu không phải là Tỵ Hợi)

- Mệnh Không Thân Kiếp lại hội song Hao ư chính diệu, thiểu học đa thành mạc ngộ Phúc Âm, Hao tinh niên thọ nan cầu vượng hưởng
(Mệnh Không Thân Kiếp thêm song Hao mà Mệnh không chính tinh thì học giỏi. Nhưng Mệnh Không Thân Kiếp lại tối kị gặp Đồng Lương. Phá Quân hãm thì khó thọ)

- Mệnh Thân dù có lâm Không Kiếp
Gia Triệt Tuần chẳng khiếp tai nguy.

- Kiếp Không Hình Kỵ Đà Dương
Gian nan bệnh tật mọi đường lo âu

- Tử cung Không Kiếp trùng gia
Binh phùng huyết tán, thai bảo phù hoa
(Cung tử tức có Không Kiếp khó khăn khi sanh nở)
- Phúc cung hãm ngộ Kiếp Không
Họ hàng lắm kẻ hành hung ở ngoài

- Kiếp Không tan sạch ra tro
Đề phòng kẻo phải lộ đồ nam kha
(Vận hạn gặp Kiếp Không hãm phải thận trọng không thì bao thành quả đã tạo dựng mất mát hát)

- Phu Thê Không Kiếp trùng xung
Trải hai ba bộ mới xong cửa nhà.

- Kiếp Không ai nấy khá ngừa
Lâm vào huynh đệ đơn sơ một mình
(Thiếu anh em hoặc xa cách anh em)

- Đà La Địa Kiếp chiếu phương
Gặp Hỏa Linh nạn bất tường chẳng sai

- Tử phùng Không Kiếp hiển gian
Hoặc là tứ sát trong làng gian phi

- Không Kiếp Tỵ Hợi đồng sang
Công danh hoạnh phát phải tường cơ vi

- Mấy người thu ấn triệt hồi
Bởi sao Không Kiếp đứng ngồi không yên

- Cung Quan mừng được Đào Hồng
Thiên Di tối kị Kiếp Không lâm vào

- Kìa ai tiền phú hậu bần
Bởi chưng Không Kiếp chiếu tuấn vận sau

- Đất Tí Ngọ Sửu Thân bó Lộc
Hội Kiếp Không là gốc tàn suy

- Lộc ngộ Không Kiếp đồng qui
Cũng là vô dụng hóa vi cơ hàn.

- Tuế ngộ Không Kiếp vận suy
Cứu tinh Mệnh có Tử Vi mới lành

- Hồng Đào Không Kiếp đồng danh
Ấy phương yểu tử đã dành một hai
(Hồng với Kiếp Không khó công danh phú quí. Đào Hoa Không Kiếp lận đận tình duyên không phải yểu tử)

- Quyền Hao Không Kiếp chớ màng
Kẻ trên biếm loại khỏi đàng công danh

- Địa Kiếp với Hồng sanh phu vị
Cung Mệnh hay duyên ấy trăm năm
- Mệnh xấu duyên dứt tơ tằm
Sinh ly sẽ định loan phòng mười năm

- Triệt Tuần Không Kiếp giao lâm
Mối mang dang dở ba lần mới nên
(Triệt Tuần Không Kiếp vào cung phối)

- Thiên Di Không Kiếp khốn sao
Hồn qui dặm liễu gặp nào người thân.

- Không Kiếp Thiên Tướng gian truân
Khoa tinh niên thiếu giữ tuần đăng khoa
(Đây là Không Kiếp đóng cung Quan Lộc cùng với Thiên Tướng)

Qua những câu phú, qua những luận bàn của sách vở thì Không Kiếp chỉ tốt khi đóng đúng cách và hội hợp đúng cách mệnh cung, còn đóng các cung khác Tài quan Thê Tử Phúc và hiện lên qua vận hạn hoặc giáp hiệp thì không mấy tốt đẹp.



Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Luận về Địa Không-Địa Kiếp

Mơ thấy lễ nhậm chức: Khát vọng nắm lấy thành công –

Mơ thấy lễ nhậm chức là biểu hiện cho sự nghiệp thành công và những hoạt động xã hội. Trong mơ xuất hiện buổi lễ nhậm chức trang nghiêm, cho thấy trong lòng bạn luôn khát khao có được thành công từ những nỗ lực của bản thân. Nếu bạn mơ thấy mình đang
Mơ thấy lễ nhậm chức: Khát vọng nắm lấy thành công –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Mơ thấy lễ nhậm chức: Khát vọng nắm lấy thành công –

Tướng mặt của người cô đơn

Tướng cách cô độc: Lông mày có hình chữ “bát”, tiếng nói như sấm,

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tướng cách cô độc: Lông mày có hình chữ “bát”, tiếng nói như sấm

tuong-menh-yeu

Nếu như xương to nặng, đó là người cô đơn.

Dái tai quá to, lông mày giao nhau, lông mao dày, tóc mai dày, đó là người cô đơn.

Nếu vành tai lật ngược người đó thường sống một mình.

Lông mày rậm dày, chủ cô đơn.

Nếu như tiếng nói như tiếng sấm, đó cũng là người cô đơn.

Nếu như nách có mùi, cằm lệch cũng là mệnh cô đơn.

Xương gò má cao chủ về người đơn độc, cô lẻ.

Nếu như khóe miệng hướng xuống cũng chủ người cô đơn.

Tướng cô quả: Xương gò má cao, dưới mắt không có thịt 

Người có xương gò má cao, một đời cô độc, không có con nối dõi hoặc phải nhận con nuôi.

Người dái tai mỏng, sống xa cha mẹ vợ con, nhà cửa gia nghiệp phá tán, không bảo vệ được cơ nghiệp tổ tông.

Xương lông mày cao, nhiều vợ nhưng vợ phá hoại, bạc bẽo. Những người có hình tướng như thế còn lắm bệnh nhiều tật, tính khí bạo ngược, nóng nảy.

Người mà dưới mắt mỏng thịt, con gái gặp tai họa, ít khi giúp người khác, không được người ngoài quý mến.

Tướng yểu: Mặt như hoa đào, dáng đi nghiêng ngả

Người béo như không xương là tướng đoản mệnh.

Nếu người có hình tướng sau: 2 mắt không có thần, tai nhỏ vẹo, người mệt mỏi như vô thần vô khí, thân dài nhưng mặt ngắn, da mặt mỏng, lưng lõm xuống, sắc mặt giống như hoa đào, dáng đi nghiêng ngả là tướng đoản mệnh.

Tướng tản mạn: Tướng mệnh không thọ

Nếu người có hình tướng sau thì tuổi thọ không dài: Đuôi lông mày tản mạn, dái tai mỏng, khuôn mặt không hài hòa, mũi hếch, lỗ mũi lộ, trán nhọn, cằm nhọn, sống mũi lệch vẹo, da mặt lạnh, khí sắc ảm đạm, các bộ vị đều có nếp nhăn lại có nốt ruồi đen, 3 bộ vị là trán, mũi, cằm đều bằng phẳng và rộng, vẻ mặt sáng láng rạng rỡ thì người đó làm việc gì cũng thành.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tướng mặt của người cô đơn

Xem tướng ba ngón chính – tam chủ |

Tướng pháp cho rằng trong bàn tay có các ngón là phần thứ hai sau chỉ lòng bàn tay và cổ tay. Như vậy ba phần cơ bản của một bàn tay gồm: Lòng bàn tay, các ngón tay và cổ tay. Ở phần trên đã nói rõ tướng mạo và các đường chỉ tay của lòng bày tay. Các
Xem tướng ba ngón chính – tam chủ |

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem tướng ba ngón chính – tam chủ |

Mơ thấy diễn viên –

Mơ thấy diễn viên hài cho thấy bạn đang xem thường cuộc sống thực tế, còn khi bạn mơ thấy diễn viên xinh đẹp thì bạn sẽ gặp may mắn lắm đó. 1. Mơ thấy diễn viên hài, cho thấy bạn đang xem thường cuộc sống thực tế, có lẽ trong ý thức của bạn, bạn hy v
Mơ thấy diễn viên –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Mơ thấy diễn viên –

Hướng kê giường hợp người sinh năm 1975 Ất Mão –

Hướng kê giườngTuổi 1975 Ất Mão Quẻ mệnh: Đoài Kim - Ngũ hành: Đại Khe Thủy (Nước khe lớn) - Thuộc Tây Tứ Mệnh, nhà hướng Tây Bắc, thuộc Tây Tứ Trạch Hướng tốt: Tây Bắc (Sinh Khí); Đông Bắc (Diên Niên); Tây Nam (Thiên Y); Tây (Phục Vị); Hướng xấu: Bắ

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Hướng kê giườngTuổi 1975 Ất Mão

Quẻ mệnh: Đoài Kim

– Ngũ hành: Đại Khe Thủy (Nước khe lớn)

– Thuộc Tây Tứ Mệnh, nhà hướng Tây Bắc, thuộc Tây Tứ Trạch

Hướng tốt: Tây Bắc (Sinh Khí); Đông Bắc (Diên Niên); Tây Nam (Thiên Y); Tây (Phục Vị);

Hướng xấu: Bắc (Hoạ Hại); Đông (Tuyệt Mệnh); Đông Nam (Lục Sát); Nam (Ngũ Quỷ);

ke-giuong-ngu-dung-cho-_1526191710

Phòng ngủ:

Con người luôn giành 30% cuộc đời mình cho việc ngủ, nên phòng ngủ chiếm một vai trò đặc biệt quan trọng.

Vị trí phòng ngủ trong nhà và vị trí giường ngủ trong phòng ngủ nên ưu tiên ở hướng tốt (các hướng Sinh Khí, Thiên Y, Diên Niên, Phục Vị)

Gia chủ mang mệnh Thủy, Kim sinh Thủy, nên hướng giường nên quay về hướng thuộc Kim, là hướng Tây Bắc; Tây; 

Nếu tính cho các phòng ngủ của các thành viên khác trong gia đình, thì cần tính hành ứng với mỗi thành viên.

Màu sơn trong phòng ngủ, màu sắc rèm cửa nên sử dụng màu Trắng, Xám, đây là màu đại diện cho hành Kim, rất tốt cho người hành Thủy.

Tủ quần áo nên kê tại các góc xấu trong phòng để trấn được cái xấu, là các góc Ngũ Quỷ, Hoạ Hại, Lục Sát, Tuyệt Mệnh.

Giường ngủ cần tránh kê dưới dầm, xà ngang, đầu giường tránh thẳng với hướng cửa mở vào, thẳng với hướng gương soi.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Hướng kê giường hợp người sinh năm 1975 Ất Mão –

Sinh năm 1982 mệnh gì –

Người sinh 1982, Nhâm Tuất, có Ngũ hành năm sinh là Đại Hải Thuỷ, nhưng Mệnh Cung của Nam và Nữ khác nhau: 1. Nam Cung LY, hành HOẢ, hướng Nam, quái số 9, sao Cửu Tử, Đông tứ mệnh (Nhà hướng tốt: Đông, Đông Nam, Bắc, Nam ). Đeo đá màu Xanh lá cây để
Sinh năm 1982 mệnh gì –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Sinh năm 1982 mệnh gì –

Chọn lựa thương phố như thế nào để thích hợp với bản thân? –

Mấy năm gần đây, mọi người tự chủ sáng nghiệp ngày càng nhiều, loại hình và địa điểm của thương phố ngày càng đa dạng hoá. Như vậy, người đầu tư phải lựa chọn thương phố như thế nào để thích hợp với bản thân? Thương phố siêu thị Siêu thị mô hình lớn
Chọn lựa thương phố như thế nào để thích hợp với bản thân? –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Mấy năm gần đây, mọi người tự chủ sáng nghiệp ngày càng nhiều, loại hình và địa điểm của thương phố ngày càng đa dạng hoá. Như vậy, người đầu tư phải lựa chọn thương phố như thế nào để thích hợp với bản thân?

cong-vien-ha-noi-12

Thương phố siêu thị

Siêu thị mô hình lớn thường xây dựng bên khu dân sinh, nó có ưu thế tích tụ nhân khí. Các thương phô siêu thị mô hình lớn đa số là chia cát tách rời, các thương phố khá độc lập, kinh doanh linh hoạt, do đó nguy hiểm cũng khá thấp.

Chú ý: Các thương phố siêu thị dựa vào siêu thị mà sinh ra, cho nên sự kinh doanh tốt hay xấu của siêu thị trực tiếp ảnh hưởng đến tình hình thắng lợi của thương phố siêu thị. Do vậy, lựa chọn các thương nhân kinh doanh siêu thị có thực lực hoặc siêu thị đã xây dựng được thương hiệu thì sẽ đạt được một nửa của sự thành công.

Thương phố xã khu

Thương phố xã khu là một trong loại hình thương phố có tiềm lực rất lớn. Thông thường, một xã khu mới chỉ cần định vị chuẩn xác, môi trường phát triển tốt, tùy theo sự thành thục của xã khu mà mang đến những giá trị thương phố cao.

Chú ý: Mở rộng kinh doanh thông qua việc tuyên truyền bao bì hạng mục, từ đó xúc tiến thành một thương phố xã khu giá cả tiêu thụ tốt, như vậy thương phố mới từng được giá trị không gian.

Thương phố phố thương nghiệp

“Kinh điển vượng phố” của phố thương nghiệp, không khí thương nghiệp ưu việt, lưu lượng khách hàng ổn định quyết định đến khả năng thu được lợi nhuận khá cao của loại hình thương phố này.Nhưng tiền thuê hoặc giá cả đơn vị diện tích cũng sẽ cao, trong các thành phố thương nghiệp khá phát đạt thậm chí xuất hiện cục diện nghìn vàng cũng không có được.

Chú ý: Chuyên gia đầu tư thương phố cho rằng: Vị trí, khoáng dđất loại này tốt được gọi là “Kinh điển vượng phố”, giá cả của những khu vực này cũng khá cao. Nêu như nhà đầu tư không để ý thì sẽ dễ gặp nguy hiểm lớn.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Chọn lựa thương phố như thế nào để thích hợp với bản thân? –

Thực sự có ma quỷ trong tháng 7 cô hồn?

Tháng côn hồn - Tháng 7 âm lịch được gọi là tháng của quỷ, rằm tháng 7 là quỷ lễ, ngày xá tội vong nhân. Vậy tháng 7 cô hồn có thực sự có quỷ hay không?
Thực sự có ma quỷ trong tháng 7 cô hồn?

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tháng 7 âm lịch được gọi là tháng cô hồn, tháng của quỷ, rằm tháng 7 được coi là quỷ lễ, ngày xá tội vong nhân. Vậy tháng cô hồn có thực sự có quỷ hay không?


► Tra cứu ngày âm lịch hôm nay chuẩn xác theo Lịch vạn sự

Thuc su co ma quy trong thang 7 co hon hinh anh 2
 
Sở dĩ tháng 7 âm lịch được gọi là tháng 7  cô hồn vì theo truyền thuyết dân gian, đây là thời điểm quỷ môn rộng mở, nhân gian và địa ngục thông với nhau, ma quỷ được tự do trở về cõi người nên nhân gian tràn ngập âm hồn. Vì thế mà Rằm tháng 7 nhà nào cũng phải tổ chức tế bái vong linh tổ tiên, làm lễ xá tội vong nhân, cúng lễ cho những linh hồn phiêu bạt. Vậy, phải chăng ma quỷ là có thật?    Dân gian và rất nhiều người tin rằng tháng 7 là tháng của quỷ, phải kiêng kị nhiều thứ và có tâm lý bất an, sợ hãi. Nhưng nguồn cơn của truyền thuyết này lại không ma quỷ, đáng sợ đến vậy đâu.   Theo quy luật tự nhiên, tháng 7 âm lịch là bắt đầu của mùa thu, dương khí tiêu tán, âm khí thịnh vượng, âm thịnh dương suy. Hơn nữa, mùa thu xơ xác tiêu điều, không khí bi thương tràn ngập khiến người ta không khỏi nhớ tới người xưa nghĩa cũ, hoài niệm về người thân đã khuất. Thiên nhiên âm dương biến hóa, con người tâm lý chông chênh kết hợp với nhau tạo nên sự ra đời của tháng cô hồn.   Trên đời thực sự tồn tại những hiện tượng tâm linh kì bí mà con người chưa biết đến nhưng liệu đã có ai gặp ma quỷ trong tháng cô hồn chưa? Có nhiều nhận định cho rằng, ma quỷ là một loại năng lượng, chia thàng 2 dạng, hữu ích đối với con người thì gọi là “linh”, tai hại đối với con người thì gọi là “quỷ”.

Thuc su co ma quy trong thang 7 co hon hinh anh 2
 
Khi con người mất đi sẽ không hoàn toàn tan biến mà lưu lại năng lượng tương ứng gọi là “hồn phách”, cũng chính là “linh”. Đối với dạng này, chúng ta không cần sợ hãi, mà lấy cảm ơn, hoài niệm, thanh tâm tôn kính, tế bái, giữ hiếu. Ngoài biết ơn và tưởng niệm, còn hi vọng tổ tiên linh tính, phù hộ cho con cháu bình an, hạnh phúc.    Còn “quỷ” là một dạng kí hiệu của âm, tà, sát, những năng lượng xấu ảnh hưởng tới con người. Con người càng yếu đuối, phiền muộn và nghĩ ngợi thì “quỷ khí” càng mạnh mẽ, dễ dàng dọa nạt và làm con người thêm bất an, sợ hãi, thần hồn nát thần tính. Vì thế, tục tháng 7 cô hồn là phản ánh nỗi sợ của con người và cúng tháng cô hồn là cách để con người trấn an mình, coi như một liệu pháp tinh thần.   Đối với các lĩnh vực tâm linh huyền bí, mọi cách giải thích, mọi giả thuyết đều chỉ mang tính chất phỏng đoán, chưa có gì được chứng minh rõ ràng. Nhưng “tin thì là có, không tin thì là không có”, không nên hoang mang, lo lắng quá khi bước vào tháng cô hồn.
30 điều cấm kị trong tháng cô hồn Hóa giải xui xẻo dồn dập ập tới không chỉ trong tháng cô hồn Đuổi dữ đón lành trong tháng cô hồn bằng thảm trước nhà
Tâm Lan
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Thực sự có ma quỷ trong tháng 7 cô hồn?

Tiết Lập Đông tiễn thu đón đông, vạn vật ủ ấm

Tạm biệt nóng bức, đón chào giá lạnh, sau thu nghênh đông. Tiết Lập Đông – một trong 24 tiết khí hàng năm đã đến.
Tiết Lập Đông tiễn thu đón đông, vạn vật ủ ấm

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

  


► Tra cứu Lịch âm dương, Lịch vạn niên nhanh chóng và chuẩn xác nhất tại Lichngaytot.com

Tiet Lap Dong tien thu don dong, van vat u am hinh anh
 
Tiết Lập Đông là tiết khí bắt đầu mùa đông, kéo dài từ ngày 7 hoặc 8 tháng 11 đến 22 hoặc 23 tháng 11 dương lịch. Lúc này, Mặt Trời ở xích kinh 225°. Đây cũng là thời điểm kết thúc một năm mùa màng, tạm gác chuyện mùa màng, thu hoạch cấy hái, thu về tiền của cả năm. Nông dân lo tu sửa, bồi đắp đê điều, thủy lợi và cơ sở vật chất để chuẩn bị cho năm sau.   Trong dân gian, tiết Lập Đông được coi là tiết khí chủ động báo đông về, vạn  vật thu gom, thu hoặc phơi sấy xong xuôi, nhập kho, động vật cũng chuẩn bị ngủ đông. Như vậy, không chỉ là tiết khí đại diện cho đông đến mà Lập Đông còn là lúc vạn vật náu mình tránh rét.   Lập Đông cũng như Lập Thu, có thể dựa vào đó mà dự đoán thời tiết của mùa đông. Ví như Lập Đông trời quang đãng không mưa thì mùa đông lạnh; Lập Đông mưa dầm thì mùa đông ấm áp, ít lạnh hơn.    Về thời tiết, Lập Đông thì Bắc bán cầu thu được ánh sáng Mặt trời ngày càng ít nhưng nhiệt lượng từ nửa năm trước vẫn chưa tan hẳn nên chưa quá lạnh. Thời gian này sắc trời sáng sủa, ấm ấp không chỉ rất hợp lòng người mà còn rất có lợi với thu hoạch và sinh trưởng của các loại cây mùa đông. 
 
Tiet Lap Dong tien thu don dong, van vat u am hinh anh
 
Nhưng ở phía Bắc thì khí lạnh đã mạnh, không khí lạnh lẽo, hình thành gió to, nhiệt độ hạ xuống, xuất hiện mưa. Không khí lạnh không ngừng tràn xuống ảnh hưởng tới phía Nam. Từ đây, càng ngày thời tiết càng lạnh và khô, mặt trời ít lo, chủ yếu là khí trời hơi âm u.   Trong tiết Lập Đông, quan trọng nhất là giữ ấm cổ và ngực, không ra ngoài quá sớm, không về nhà quá khuya vì phổi dễ bị tổn thương. Khí khô, lạnh cần nhất là bổ sung bình, ấm cho cơ thể để trơn phổi, ích tỳ, kiện thận. nên uống rượu hoa cúc, ăn thịt thỏ, thịt vịt, gạo nếp, tập thể dục hàng ngày, ngâm chân nước muối gừng ấm mỗi tối.
Món ăn dưỡng sinh trong 24 tiết khí (phần 1) Món ăn dưỡng sinh trong 24 tiết khí (phần 2) Món ăn dưỡng sinh trong 24 tiết khí (phần 3)
Trần Hồng
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tiết Lập Đông tiễn thu đón đông, vạn vật ủ ấm
Click to listen highlighted text! Powered By DVMS co.,ltd