Các lễ hội ngày 10 tháng 11 Âm Lịch -Hội Làng Mạnh Tân, Hội Làng Cả
Vào ngày 10 tháng 11 âm lịch có các lễ hộiHội Làng Mạnh Tân và Hội Làng Cả, Hội làng Mạnh Tân tổ chức tại Hà Nội và Hội làng Cả tổ chức tại tỉnh Phú Thọ
Xem hướng nhà theo tuổi thường lấy tuổi đàn ông, nhưng với gia đình mẹ góa con côi, người độc thân thì làm nhà, mua nhà xem theo tuổi chủ gia đình, có thể là phụ nữ. Lịch Ngày Tốt xin hướng dẫn xem hướng nhà tốt xấu cho phụ nữ tuổi Sửu.
Xem hướng nhà theo tuổi phụ nữ cũng tương tự như nam giới, căn cứ mệnh cục để xác định hướng tốt hướng xấu.
1. Tuổi Kỷ Sửu 2009 – mệnh Càn
- Hướng tốt: Hướng Tây Nam – Diên niên: Nhà này được giàu sang phú quý, tăng nhân đinh, nhiều tài lộc, gia đình hòa thuận, trường thọ, con cháu thông minh hiển đạt, thịnh vượng lâu bền. Hướng Đông Bắc – Thiên y: Kinh tế khá hưng vượng, gia đình hạnh phúc. Con người nhân hậu. Nhưng do nhà thuần dương nên bất lợi cho người con gái trong nhà về mặt sức khỏe.Hướng Tây Bắc – Phụ vị: Nhà này con cháu nhiều người thành đạt, con trưởng tài hoa, gia tài được hưng vượng nhưng dương thịnh, âm suy, phụ nữ hay ốm yếu, khó nuôi con.- Hướng xấu:Hướng Tây – Sinh khí: Mặc dù đây là hướng tạo sinh khí nhưng do Tham Lang Mộc tinh bị cung Đoài Kim khắc nên nhà này ban đầu giàu sang, thịnh vượng, đông nhân đinh nhưng về sau dễ suy kém.Hướng Nam – Tuyệt mệnh: Sao Phá Quân Kim tinh nhập cung Hỏa, bị hướng nhà Ly Hỏa khắc, cho nên sự hung có phần giảm bớt song vẫn rất xấu.Hướng Bắc – Lục sát: Nhà này lúc đầu kinh tế tương đối tốt nhưng dần bị dần bị hao tổn khỏe; phụ nữ trong nhà dễ bị tổn thương; con cái không tu chí, dễ hư hỏng.Hướng Đông Nam – Họa hại: Nhà này lúc đầu làm ăn khá phát đạt. Tuy nhiên do có tương khắc nên về sau người trong nhà sẽ phát sinh bệnh tật, khó sinh con và khó nuôi con, người con gái lớn trong nhà cũng gặp nhiều bất lợi. Tuy nhiên hướng nhà là Tốn Mộc khắc sao Thổ, cho nên sự hung ác của Lộc Tồn có phần giảm bớt.Hướng Đông – Ngũ quỷ: Gia sự có thể phát sinh điều dữ, thường hao tổn về tài sản, hỏa hoạn dễ xảy ra; người nhà hay gặp nhiều chuyện thị phi, kiện cáo, không yên ổn, hay bị bệnh tật. Do Chấn đại diện cho trưởng nam nên người con trai trong nhà dễ bị tổn thương. Xem thêm bài viết Chọn hướng nhà đại cát cho 12 con giáp
2. Tuổi Đinh Sửu 1997 – mệnh Chấn
- Hướng tốt:Hướng Nam – Sinh khí: Nhà này phát phúc nhanh chóng, phụ nữ lương thiện, sống hiếu thảo. Con trai và con gái đều thông minh, giỏi giang. Giàu có và phú quý.Hướng Đông Nam – Diên niên: Nhà này công danh rất phát, phúc lộc thọ đều tốt. Người trong nhà đều có chí lớn, biết rèn luyện thành tài, công danh hiển hách nhà này sẽ sinh ra hiền tài làm công thần cho đất nước.Hướng Bắc – Thiên y: Nhà này giàu có, phú quý, mọi người sống nhân hậu. Nhưng vì thuần dương nên phụ nữ trong nhà suy yếu, bệnh tật.- Hướng xấu: Hướng Đông – Phục vị: Xem hướng nhà tốt xấu cho phụ nữ tuổi Sửu, nhà này lúc đầu khá giàu có. Nhưng do thuần dương nên vợ con tương khắc, dễ bất hòa trong gia đình, phụ nữ dễ sinh bệnh, nhân khẩu không tăng.Hướng Tây – Tuyệt mệnh: Nhà này không giàu có, gia sản suy bại, nhiều chuyện, kinh doanh khó khăn; Cung Chấn (đại diện cho trưởng nam) bị khắc nên người con trai cả trong gia đình dễ đoản thọ.Hướng Đông Bắc – Lục sát: Nhà này làm ăn khó khăn, tài lộc không có. Nhà này dương thịnh, âm suy nên con gái trong gia đình hay bị tổn thương, con trai út cũng hay bị tổn thương, ốm đau.Hướng Tây Nam – Họa hại: Nhà này nhân đinh ít, làm ăn khó khăn; người bà người mẹ (đại diện của cung Khôn bị khắc) là người dễ bị tổn thương.Hướng Tây Bắc – Ngũ quỷ: Nhà này làm ăn sa sút, hay gặp chuyện kiện cáo, thị phi. Con trai trưởng sẽ hay gặp rắc rối về bệnh tật và sức khỏe.
3. Hướng Ất Sửu 1985 – mệnh Ly
- Hướng tốt:Hướng Đông – Sinh khí: Nhà này phú quý, thịnh vượng, người trong nhà đỗ đạt cao, có tài có danh, con cháu khỏe mạnh và thông minh, gia đình hòa thuận.Hướng Bắc – Diên niên: Nhà này giàu sang. Sức khỏe người trong gia đình tốt. Con cái thông minh, thành đạt trong cuộc sống. Tuy nhiên cần hóa giải Thủy - Hỏa xung.- Hướng xấu: Hướng Đông Nam – Thiên y: Nhà này lúc đầu thịnh vượng, có tài có danh, giàu có, phụ nữ thông minh và nhân hậu. Nhưng về sau nam giới hay bị bệnh, không thọ. Phụ nữ dễ thành cô quả.Hướng Nam – Phục vị: Nhà này lúc đầu cũng có tài lộc, nhưng không giàu có. Do nhà thuần âm, dương khí kém nên nam giới dễ mắc bệnh, giảm về nhân đinh.Hướng Tây Bắc – Tuyệt mệnh: Xem hướng làm nhà, nhà này khó giàu, làm ăn sa sút, tai họa nhiều. Bậc cha ông không thọ, phụ nữ trong nhà phải sống cô đơn.Hướng Tây Nam – Lục sát: Nhà nay âm thịnh dương suy, nên nữ giới nắm quyền, nam giới kém, tổn thọ.Hướng Đông Bắc – Họa hại: Nhà này kinh làm ăn khó khăn, kinh tế suy kém. Nhiều chuyện thị phi, tai ương.Hướng Tây – Ngũ quỷ: Nhà này âm thịnh dương suy, nam giới đoản thọ; phụ nữ nhất là con gái thứ cũng gặp nguy hại. Kinh tế sa sút. Xem thêm bài viết Chọn hướng làm nhà tránh Không Vong
4. Tuổi Quý Sửu 1973 – mệnh Càn
- Hướng tốt: Hướng Tây Nam – Diên niên: Nhà này được giàu sang phú quý, tăng nhân đinh, nhiều tài lộc, gia đình hòa thuận, trường thọ, con cháu thông minh hiển đạt, thịnh vượng lâu bền.Hướng Đông Bắc – Thiên y: Kinh tế khá hưng vượng, gia đình hạnh phúc. Con người nhân hậu. Nhưng do nhà thuần dương nên bất lợi cho người con gái trong nhà về mặt sức khỏe.- Hướng xấu: Hướng Tây – Sinh khí: Mặc dù đây là hướng tạo Sinh khí nhưng do Tham Lang Mộc tinh bị cung Đoài Kim khắc nên nhà này ban đầu giàu sang, thịnh vượng, đông nhân đinh nhưng về sau dễ suy kém.Hướng Tây Bắc – Phục vị: Nhà này con cháu nhiều người thành đạt, con trưởng tài hoa, gia tài được hưng vượng nhưng dương thịnh, âm suy, phụ nữ hay ốm yếu, khó nuôi con.Hướng Nam – Tuyệt mệnh: cha già không thọ; phụ nữ nhiều hơn nam, phụ nữ nắm quyền; bệnh tật ở mắt và ở đầu. Kinh tế suy giảm và tán tài.Hướng Bắc – Lục sát: Nhà này lúc đầu kinh tế tương đối tốt nhưng dần bị dần bị hao tổn khỏe; phụ nữ trong nhà dễ bị tổn thương; con cái không tu chí, dễ hư hỏng.Hướng Đông Nam – Họa hại: Nhà này lúc đầu làm ăn khá phát đạt. Tuy nhiên do có tương khắc nên về sau người trong nhà sẽ phát sinh bệnh tật, khó sinh con và khó nuôi con, người con gái lớn trong nhà cũng gặp nhiều bất lợi. Hướng Đông – Ngũ quỷ: Gia sự có thể phát sinh điều dữ, thường hao tổn về tài sản, hỏa hoạn dễ xảy ra; người nhà hay gặp nhiều chuyện thị phi, kiện cáo, không yên ổn, hay bị bệnh tật.
5. Tuổi Tân Sửu 1961 – mệnh Chấn
- Hướng tốt:Hướng Nam – Sinh khí: Nhà này phát phúc nhanh chóng, phụ nữ lương thiện, sống hiếu thảo. Con trai và con gái đều thông minh, giỏi giang. Giàu có và phú quý.Hướng Đông Nam – Diên niên: Nhà này công danh rất phát, phúc lộc thọ đều tốt. Người trong nhà đều có chí lớn, biết rèn luyện thành tài, công danh hiển hách nhà này sẽ sinh ra hiền tài làm công thần cho đất nước.Hướng Bắc – Thiên y: Nhà này lúc đầu giàu có, phú quý, mọi người sống nhân hậu. Nhưng vì thuần dương nên phụ nữ trong nhà suy yếu, bệnh tật.- Hướng xấu: Hướng Đông – Phục vị: Nhà này lúc đầu khá giàu có. Nhưng do thuần dương nên vợ con tương khắc, dễ bất hòa trong gia đình, phụ nữ dễ sinh bệnh, nhân khẩu không tăng.Hướng Tây – Tuyệt mệnh: Nhà này không giàu có, gia sản suy bại, nhiều chuyện, kinh doanh khó khăn; người con trai cả trong gia đình dễ đoản thọ.Hướng Đông Bắc – Lục sát: Nhà này làm ăn khó khăn, tài lộc không có. Nhà này dương thịnh, âm suy nên con gái trong gia đình hay bị tổn thương, con trai út cũng hay bị tổn thương, ốm đau.Hướng Tây Nam – Họa hại: Nhà này nhân đinh ít, làm ăn khó khăn; người bà người mẹ (đại diện của cung Khôn bị khắc) là người dễ bị tổn thương.Hướng Tây Bắc – Ngũ quỷ: Nhà này làm ăn sa sút, hay gặp chuyện kiện cáo, thị phi. Con trai trưởng sẽ hay gặp rắc rối về bệnh tật và sức khỏe. Xem thêm bài viết Cách hóa giải hướng nhà xấu theo phong thủy không hợp tuổi gia chủ
6. Tuổi Kỷ Sửu 1949 – mệnh Ly
- Hướng tốt:Hướng Đông – Sinh khí: Xem hướng nhà theo tuổi, nhà này phú quý, thịnh vượng, người trong nhà đỗ đạt cao, có tài có danh, con cháu khỏe mạnh và thông minh, gia đình hòa thuận.Hướng Bắc – Diên niên: Nhà này giàu sang. Sức khỏe người trong gia đình tốt. Con cái thông minh, thành đạt trong cuộc sống. Tuy nhiên cần hóa giải Thủy - Hỏa xung.- Hướng xấu: Hướng Đông Nam – Thiên y: Nhà này lúc đầu thịnh vượng, có tài có danh, giàu có, phụ nữ thông minh và nhân hậu. Nhưng về sau nam giới hay bị bệnh, không thọ. Phụ nữ dễ thành cô quả.Hướng Nam – Phục vị: Nhà này lúc đầu cũng có tài lộc, nhưng không giàu có. Do nhà thuần âm, dương khí kém nên nam giới dễ mắc bệnh, giảm về nhân đinh.Hướng Tây Bắc – Tuyệt mệnh: Xem hướng nhà cho phụ nữ tuổi Sửu, nhà này khó giàu, làm ăn sa sút, tai họa nhiều. Bậc cha ông không thọ, phụ nữ trong nhà phải sống cô đơn.Hướng Tây Nam – Lục sát: Nhà nay âm thịnh dương suy, nên nữ giới nắm quyền, nam giới kém, tổn thọ.Hướng Đông Bắc – Họa hại: Nhà này kinh làm ăn khó khăn, kinh tế suy kém. Nhiều chuyện thị phi, tai ương.Hướng Tây – Ngũ quỷ: Nhà này âm thịnh dương suy, nam giới đoản thọ; phụ nữ nhất là con gái thứ cũng gặp nguy hại. Kinh tế sa sút. Giải đáp những thắc mắc thường gặp để xác định hướng nhà tốtNhững điều không thể không biết để chọn hướng nhà hợp phong thủyXem hướng nhà theo tuổi: Nam tuổi Sửu nên và không nên làm nhà theo hướng nào? Trần Hồng Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Yến Nhi (##)
Nếu nhắc đến những địa điểm tâm linh của tỉnh Hải Dương chúng ta không thế không nhắc Đền Tranh – một ngôi đền lớn thờ nhân vật mang tính huyền thoại theo tín ngưỡng dân gian.
Đền Tranh hay còn gọi là đền Quan Lớn Tuần Tranh nằm ở gần bến đò Tranh, Tổng Bất Bế, huyện Vĩnh Lại thời Lê và Nguyễn, nay thuộc xã Đồng Tâm, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương, thờ vị thần sông nước coi khúc sông.
Tương truyền, Quan lớn Tuần Tranh là viên quan phủ Ninh Giang. Ngày xưa, tại bến sông Tranh, có hai con rắn dữ thường nổi lên quấy phá. Một hôm, chúng bắt đi nàng hầu xin đẹp của quan. Vị quan này khởi kiện Diêm Vương. Rắn bị xử thua phải mang cả dòng họ dời đi nơi khác. Từ đó bến sông sóng yên nước lặng, nhân dân nhớ ơn vị quan phủ mà lập đền thờ, tôn là vị thần bảo vệ khúc sông.
Thời Trần, tại vùng ngã ba sông Tranh giao với sông Luộc, người dân đã lập ra một ngôi đền thờ vị thủy thần cai quản khúc sông này. Ngôi đền này ban đầu chỉ là ngôi miếu nhỏ nằm sát bến sông, vì vậy thường bị tác động của thủy triều và dòng nước xoáy. Do bờ sông thường bị xói lở nên đến năm 1935, người dân lập một đền thờ mới tại làng Tranh Xuyên (nay thuộc thị trấn Ninh Giang). Ngôi đền mới này vẫn được dân chúng giữ tên gọi là Đền Tranh.
Đến giữa thập kỷ 40 của thế kỷ XX, đền Tranh được tôn tạo với quy mô khá lớn, kiến trúc theo kiểu Trùng thiềm điệp ốc với những cung và gian thờ khác nhau. Năm 1946, thực hiện tiêu thổ kháng chiến, nhiều hạng mục ngôi đền bị tháo gỡ.
Đến những năm 60 của thế kỷ XX, đền được chuyển về phía bắc của thị trấn Ninh Giang cách đền cũ khoảng 300m, nay thuộc địa phận thôn Tranh Xuyên, xã Đồng Tâm, huyện Ninh Giang. Đền Tranh qua ba lần chuyển dời cùng nhiều lần trùng tu tôn tạo, đã chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử và tích hợp được nét đẹp của văn hóa Việt. Căn cứ vào hệ thống bia ký tại đền cho biết, vào năm Tự Đức thứ 5 (1852) đền đã có nhiều người công đức để tu tạo.
Công trình hiện nay khá hoành tráng với kinh phí xây dựng do nhân dân công đức. Đền Tranh là nơi tập trung và phong phú nhất về tín ngưỡng dân gian mà điển hình là nhân vật huyền thoại Quan Lớn Tuần Tranh.
Đền Tranh thờ thần và đặt trong khám và đây đó trên xà trên khung cửa được gắn những rắn thần bằng vải nhồi bong màu sặc sỡ, ban đêm được ánh điện soi sang lấp lánh cửa đồ thờ, hương án làm tăng thêm vẻ uy nghi vốn có của nơi thờ tự.
Trong dân gian truyền tụng là ”đền thiêng lắm, linh ứng lắm, cầu gì được lấy” nên hàng năm kỳ mở hội, khách thập phương từ Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định vv… về trẩy hội khá đông. Lễ hội được mở từ ngày 25/2 âm lịch( hiện nay là 14/2 ÂL).
Ngày rước thần có những ông đồng bà đồng “xiên lình” qua má để tỏ phép lạ của con người khi linh ứng nhập. Thanh đồng Nguyễn Thanh Tâm(ông đồng hay xuất hiện trong các cuộc hầu đồng biểu diễn ở Kiếp Bạc, Lảnh Giang) người Kim Thành, Hải Dương là người có rất nhiều canh hầu ở đền.
Đền Tranh một năm có ba mùa lễ hội. Hội tháng 2, từ ngày 10-20 / 2, trọng hội vào 14 – ngày sinh của quan lớn Tuần Tranh, đây là hội chính hàng năm. Hội tháng 5, từ ngày 20-26 / 5, trọng hội vào 25 – ngày hoá của Đức thánh.
Lễ hội đền Tranh có quy mô rộng lớn, thu hút khách nhiều tỉnh phía Bắc, một trong những hội lớn của Hải Dương, có sức hấp dẫn lạ thường, đặc biệt với các bà các cô ở các thành phố, bởi thế khách thập phương đến đây rất đông. Không chỉ trong những ngày hội (thường kéo dài tới 7 ngày) mà những ngày thường cũng không ít khách đến lễ và không thể thiếu tiết mục hát chầu văn.
Nửa thế kỳ trôi qua, thị trấn đã trải qua những thăng trầm qua hai cuộc chiến tranh, đền Tranh được dựng lại và tôn tạo trên địa phận thôn Tranh Xuyên xã Đồng Tâm. Không những đền được tôn tạo lại rất bề thế uy nghiêm mà còn được mở rộng rất nhiều, bên cạnh còn có chùa Tranh mới được xây dựng thêm. Không chỉ ngày hội mà ngày thường khách đến lễ cũng rất đông.
Phương Vị: Nam Đẩu TinhHành: HỏaLoại: Quý TinhĐặc Tính: Khoa giáp, quyền tước.Tên gọi tắt thường gặp: Việt Phụ Tinh. Cùng với sao Thiên Khôi thành bộ Thiên Ất Quý Nhân.
Ý Nghĩa Thiên Việt Ở Cung Mệnh Tính Tình Người uy nghi, mô phạm, hiền lương, thông minh, tài năng, thanh bạch, khoan hòa, là con trưởng hoặc đoạt trưởng, hoặc trong nhà, ngoài đời giữ chức vụ quan trọng, gần người quyền quý, cao thượng. Phúc Thọ Tai Họa Thiên Việt có thể hóa giải được bất lợi của một số sao hãm địa như Âm Dương hãm, chính tinh hãm. Nếu tọa thủ ở cung Phúc Đức thì được linh thần che chở luôn luôn, tai nạn được giải trừ, có hiệu lực giống Quang Quý. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng những lợi điểm trên chỉ có nếu Thiên Việt không bị Tuần, Triệt, Hóa Kỵ, Thiên Hình và sát tinh xâm phạm. Ý Nghĩa Thiên Việt Với Các Sao Khác
Xương Khúc, Thiên Việt (Khôi), Quang Quý: Thi đỗ các văn bằng cao nhất.
Tọa Khôi hướng Việt (Thiên Khôi hợp chiếu): Đỗ cao lúc tuổi còn trẻ.
Thiên Việt (Khôi), Nhật Nguyệt hãm: Thiên Khôi phục hồi sức sáng cho Nhật Nguyệt hãm.
Thiên Việt (Khôi), Đà Kỵ: Kẻ sĩ ẩn dật.
Ý Nghĩa Thiên Việt Ở Cung Phụ Mẫu Cha mẹ có chức quyền, nếu không cũng là người danh giá, là con trưởng, có nghề khéo, nổi tiếng, hay giúp đỡ thân nhân. Ý Nghĩa Thiên Việt Ở Cung Phúc Đức
Được hưởng phúc, gia tăng tuổi thọ.
Có sự linh thiêng của tổ tiên gia tộc phù hộ.
Ý Nghĩa Thiên Việt Ở Cung Điền Trạch
Nhà cửa khang trang.
Dễ tạo dựng nhà cửa.
Đi đâu cũng có quý nhân giúp đỡ về nơi ăn chốn ở.
Ý Nghĩa Thiên Việt Ở Cung Quan Lộc
Công danh dễ thành đạt.
Có quý nhân giúp đỡ.
Chức vụ lâu dài, được tín nhiệm.
Dễ thăng chức, có tài đặc biệt.
Ý Nghĩa Thiên Việt Ở Cung Nô Bộc
Được bè bạn, người giúp việc giúp đỡ.
Được người có chức quyền hoặc giàu có tiến cử mình.
Có học trò, đệ tử tài giỏi trung thành.
Ý Nghĩa Thiên Việt Ở Cung Thiên Di
Ra ngoài hay gặp quý nhân, thuận lợi.
Ý Nghĩa Thiên Việt Ở Cung Tật Ách Giải trừ được tai nạn, nhưng nếu có thêm sao xấu như Thiên Hình, Thiên Riêu, Địa Không, Địa Kiếp, Kình Dương, Đà La, Hóa Kỵ thì hay có thương tích ở đầu, có sẹo, công danh muộn màng, bất mãn, chán đời, ẩn dật. Ý Nghĩa Thiên Việt Ở Cung Tài Bạch
Dễ kiếm tiền, hay có quý nhân giúp đỡ.
Ý Nghĩa Thiên Việt Ở Cung Tử Tức
Con cái ngoan, có công danh, có tài, có hiếu.
Ý Nghĩa Thiên Việt Ở Cung Phu Thê
Vợ hoặc chồng là con trưởng hoặc đoạt trưởng, hoặc có vai trò quan trọng trong nhà, danh giá, đoan chính, làm nên sự nghiệp.
Ý Nghĩa Thiên Việt Ở Cung Huynh Đệ
Anh chị em tài ba, hòa thuận.
Thiên Việt Khi Vào Các Hạn
Hạn gặp sao Thiên Khôi, Thiên Việt, Tử Vi, là hạn mọi sự lôi thôi đều thắng lợi.
Khoa học phong thủy rất quan tâm đến việc làm cải thiện năng lượng của không gian sống.
Dòng năng lượng luân chuyển uốn khúc và thong thả sẽ tốt hơn dòng năng lượng luân chuyển thẳng và nhanh. Nếu sự luân chuyển của dòng năng lượng bị cản trở, dồn nén sẽ ảnh hưởng không tốt tới gia chủ.
Để có được sự hòa hợp trong đời sống tình cảm cũng như trong quan hệ hôn nhân, nên làm cho năng lượng âm - dương được cân bằng. Điều này nhằm giúp các thành viên trong gia đình cảm thấy thoải mái và khỏe mạnh trong môi trường mà mình đang sống.
(Ảnh chỉ mang tính chất minh họa)
Nhìn chung, khi phong thủy của ngôi nhà không có sự cân bằng năng lượng âm - dương, cuộc sống của các thành viên trong gia đình sẽ bị ảnh hưởng và họ hầu như khó có thể có các mối quan hệ tốt đẹp.
Tạo sự hài hòa năng lượng âm - dương:
- Không nên bài trí quá nhiều biểu tượng mang năng lượng âm trong nhà. Tránh việc lạm dụng tông màu âm (xanh, đen) trong trang trí.
- Không nên sử dụng quá nhiều tranh ảnh tối màu và loại ánh sáng mờ nhạt trong nhà.
Cần chú ý, trong những căn phòng lạnh lẽo, vắng lặng, không có vật nuôi hoặc không có âm nhạc thì năng lượng âm sẽ chế ngự và lấn át năng lượng dương.
Ngày noel hay còn gọi là ngày lễ giáng sinh 25 tháng 12 dương lịch. Đây là ngày lễ của bên thiên chúa giáo, ngày lễ thiên chúa giáng sinh, ngày kỉ niệm chúa Giê su chào đời.
Ngày noel hay còn gọi là ngày lễ giáng sinh 25 tháng 12 dương lịch. Đây là ngày lễ của bên thiên chúa giáo, ngày lễ thiên chúa giáng sinh, ngày kỉ niệm chúa Giê su chào đời. Họ tin rằng, Giê su được sinh ra tại Bethlehem, tỉnh Judea, Đế quốc La mã giữa năm 6 TCN và năm 6. Để tìm hiểu rõ hơn về ý nghĩa ngày noel, chúng ta hãy cùng tham khảo.
1. Ngày noel là gì?
Noel, giáng sinh, hay còn gọi là ngày thiên chúa giáng sinh, đây là ngày kỉ niệm chúa Giê su chào đời. Ngày lễ được cử hành chính thức vào ngày 25 tháng 12 tuy nhiên thường được tổ chức từ đêm 24 tháng 12 theo lịch Do thái.
Trước đây, ngày lễ noel, giáng sinh là lễ hội của người phương Tây, tuy nhiên càng ngày người ta càng tổ chức một cách trang trọng và linh đình. Kết quả là bây giờ, lễ giáng sinh trở thành ngày lễ quốc tế quan trọng, có ông già noel, cây thông noel... và nó cũng phổ biến tại Việt Nam.
Cùng xem ngày noel năm sau vào thứ mấy tại: Xem ngày tốt xấu
2. Ý nghĩa ngày noel
+ Ngoài ý nghĩa theo đạo Thiên Chuá, Noel còn trở thành một ngày lễ gia đình cực kỳ lớn, là ngày mọi người tụ tập quây quần bên nhau. Cũng giống như vào ngày tết cổ truyền của dân tộc Việt Nam, con cháu dù đi xa đến mấy cũng đều mong ước có dịp được về quê ăn tết với bố mẹ, ông bà, người thân. Và ngày lễ noel, ngày giáng sinh này cũng vậy.
Mọi người sẽ cùng nhau ăn một bữa cơm cùng nhau, 1 đêm không ngủ, 1 đêm tiệc trong nhà hoặc ngoài trời, hoặc ở nhà thờ...
+ Ngoài ra, ý nghĩa ngày noel còn là mang một thông điệp hòa bình “Vinh danh Thượng Đế trên cao, bình an cho người dưới thế ” câu trích dẫn này có mặt trong một bài hát với ý nghĩa những thiên thần báo tin sự xuất hiện của vị cứu thế và Noel cũng là ngày người ta chia sẻ với những ai bị bỏ rơi, bị cô đơn, bệnh hoạn hay già yếu…
+ Tại Việt Nam, trong đêm giáng sinh, thường thường những người yêu nhau họ hay tặng quà cho nhau, còn trẻ em thì háo hức sự xuất hiện của ông già noel, các gia đình tổ chức yến tiệc, hát hò... tóm lại đây là dịp để mọi người quây quần, vui vẻ bên nhau, cùng hát khúc ca mừng giáng sinh...
3. Ý nghĩa của tên gọi noel
Noel có gốc từ tiếng lating, có nghĩa là ngày sinh. Ngoài ra cũng có nhiều ý kiến cho rằng, noel xuất phát từ tước hiệu Emmanuel, tiếng Hebrew có nghĩa là “Thiên Chúa ở cùng chúng ta”, như được chép trong sách Phúc âm Matthew.
4. Các biểu tượng trong ngày lễ giáng sinh
Trong ngày lễ giáng sinh, một vài thứ biểu tượng trong ngày lễ giáng sinh không thể thiếu đó là cây thông giáng sinh, hang đá, vòng lá mùa vọng, các tấm thiệp chúc mừng, quà giáng sinh, ngôi sao giáng sinh...
Bên trên là một số điều về ý nghĩa ngày noel mà mọi người cần biết. Hãy tham khảo tại Phong thủy số để bổ sung thêm kiến thức của mình về những ngày lễ lớn này nhé.
: Thơ vui chúc tết Tết 2017 Mâm cỗ ngày tết gồm những gì Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Ngọc Sương (##)
Những câu nói về tình yêu hay nhất tràn đầy cảm xúc. Tình yêu đôi lứa, thứ tình cảm được mọi người quan tâm nhất, đặc biệt là những người đang trong độ tuổi yêu đương.
Những câu nói về tình yêu hay nhất, thể hiện những cung bậc cảm xúc khác nhau được chúng tôi sưu tầm và chia sẻ cùng bạn đọc, hãy cảm nhận và suy ngẫm qua những câu nói dưới đây nhé.
Những câu nói về tình yêu hay nhất tràn đầy cảm xúc
† Một Người : • Thực sự yêu thương bạn… • Là người dù bạn có vô tâm, im lặng hay giận dỗi… • Thì họ cũng vẫn sẽ cố gắng… • Không để bạn bước ra khỏi cuộc đời họ… Còn Người : • Yêu thương bạn không thật lòng… • Là khi bạn làm người đó bực tức hay giận dỗi… • Người đó sẵn sàng nói ra những lời……làm tổn thương bạn……… • Nhưng họ lại không hề – Quan tâm tới cảm nhận của bạn.. Vì đơn giản : • Chẳng có một người con trai hay con gái nào… • Bận đến nỗi không có một chút thời gian nào… • Để viết, để soạn 1 SMS hay để gọi một cuộc thoại… • Cho người mà họ hết mực nói là Yêu Thương… Vấn đề : • Là ở chỗ Yêu Thương ấy… • Có được người đó trân trọng và thật lòng hay không… Còn lại : • Tất cả các lý do… • Đều chỉ là : Ngụy Biện…
.Trong một bản nhạc… …thường có những nốt thăng và nốt trầm…… Và trong cuộc sống cũng thế… ……Những lúc ta vui chính là những nốt thăng… …Còn khi ta buồn đó chính là những nốt trầm trong bản nhạc của chính mình…… ..Bản nhạc mang tên “Cuộc sống”…..
• Trong tình yêu,không phải chỉ cần tình cảm là đủ! Một thứ quan trọng mà nhiều người đã bỏ quên… • Đó là “sự quan tâm”… Không có nó sẽ có “khoảng cách! • Vô tâm là nguyên do khiến tình cảm nhạt phai! Một chút quan tâm nhau có thể làm ta yêu nhau hơn.
Khi yêu thì đừng đề cập đến … … Xứng hay không xứng … hoặc … … Tư cách hay không đủ … Và … … giàu với nghèo … –> khi đã yêu thì đừng quan tâm người bạn yêu là ai … Quá khứ như thế nào … Mà hãy quan tâm người đó yêu bạn ra sao và bạn hạnh phúc như thế nào.
Người yêu tớ không đẹp đâu Nhưng được cái vui tính, dễ thương lắm. Yêu tớ, thương tớ nhất. Tâm lý và hiểu tớ nhất! Chỉ ghét mỗi tội tính trẻ con, thích chơi trốn tìm. Làm tớ…..! Tìm mãi mà chưa ra..! :))
– Hạnh phúc ngọt ngào… • Rồi cũng có lúc trào dâng đau đớn… … Tình yêu có lớn… • Cũng không tránh khỏi những vật cản vô hình… … Nỗi Đau Thể Xác… • Không bằng cảm giác con tim… • Nhắm mắt lim dim ta lặng im rơi lệ… … Hạnh Phúc : • Tao vớt -Sao mày chìm… … Đau Thương : •Tao dìm -Sao mày cứ nổi… … Muộn Phiền : •Tao thổi -Sao mày chằng chịu bay….
người con trai yêu bạn cho dù có nói chuyện với nhiều cô gái thì trước khi đi ngủ người họ luôn nghĩ tới cuối cùng là bạn.
Người yêu bạn thật lòng : • Sẽ không ngại nắm tay bạn ở giữa đám đông… • Sẽ không giấu ảnh bạn trên Facebook, Y!M… • Sẽ không sợ công khai bạn với bạn bè… • Sẽ không giấu người thân về mối quan hệ của hai người… • Sẽ tự hào, sẽ khoe, khoe nhiều lắm… • Và cũng sẽ còn, còn nhiều, còn nhiều lắm… Bởi đơn giản • Nếu ai đó yêu bạn thật lòng.. • Họ luôn muốn cho không chỉ những người xung quanh… • Mà họ còn muốn cho cả thế giới biết rằng… • Họ yêu bạn nhiều như thế nào.. . • Được yêu bạn họ hạnh phúc ra làm sao.. . • Mà không cần ngụy trang, không cần giấu giếm.. Thế nên để nhận ra ai yêu mình thật lòng không phải là quá khó, đúng không bạn ?
Khi mà.. ~ Người ta mới thích nhau…… ~ Người ta thường rất tin tưởng nhau… Nhưng .. ~ Càng về sau…. ~ Người ta lại càng hay nghi ngờ nhau … ~ Kễ cả đó là từ những điều nhỏ nhặt nhất……. Không phải… ~ Là vì người ta… ~ Đã hết thích nhau …. Mà là vì…. ~ Ai cũng sợ mất đi….. ~ Người mà mình đang yêu thương nhất..
Không chỉ là những câu nói hay mà chúng tôi chuyên sưu tầm và chia sẻ cùng các bạn độc giả những bài thơ tình yêu hay, những stt về tình yêu, danh ngôn về tình yêu và cuộc sống. Hãy ghé thăm ## thường xuyên để đọc được những bài viết hay nữa nhé.
Gia Cát Lượng là người tinh thông tử vi, tướng số, phong thủy thuộc hàng bậc nhất thiên hạ. Nhưng “người tính không bằng trời tính” lá số tử vi của Gia Cát Lượng chính ông cũng không thể thay đổi.
Theo lá số tử vi của người phương Đông, Gia Cát Lượng là người mệnh vô chính diệu (cung mệnh không có sao chính tinh thủ chiếu). Những người mệnh vô chính diệu thì phải xét đến sự góp mặt của những sao không vong (Tuần, Triệt, Địa Không, Thiên Không) thì mới làm rõ được tính cách của bản mệnh. Gia Cát Lượng có sao Thái Âm, miếu địa tại cung quan và sao Thái Dương vương địa ở cung tài tam chiếu, đây được gọi là cách nhật nguyệt định minh (hoặc nhật nguyệt chiếu vào hư vô cách). Điều này chứng tỏ rằng, Gia Cát Lượng có chân mệnh là người thông minh, cơ trí. Nếu xét về các sao không vong, thì Gia Cát Lượng là người vô chính diệu đắc nhị không (Tuần và Địa Không). Mặt khác, cung phúc đức của Gia Cát Lượng vô chính diệu lại có sát tinh là Địa Kiếp, chính vì vậy mà tuổi thọ của ông không được cao (ông chỉ thọ 54 tuổi). Cung mệnh của Gia Cát Lượng có sao Hữu Bật Tả Phù, cộng với Long Trì Phượng Các ở cung Thiên Di và hóa quyền tại cung tài, nên Gia Cát Lượng là người tinh thông nhiều vấn đề và có uy quyền thực sự, có tài thuyết phục người khác. Cung Di của Gia Cát Lượng có sao Thiên Đồng (đây là sao nói về di chuyển và dời đổi), nên có thể khẳng định ông là người rời quê hương lập nghiệp xa xứ. Gia Cát Lượng là người mệnh Mộc. Có sao mệnh chủ là Văn Các, đây là sao nói về khả năng sư phạm tài ba, cộng với sao Điếu Khách ở cung mệnh, có thể khẳng định ông là người có tài ăn nói, tài về diễn thuyết, tuy nhiên cung của ông là Kim, khắc với mệnh là Mộc nên không thể thọ lâu được. Chính vì Mộc với Hỏa và Thủy nên Gia Cát Lượng là người sử dụng hóa công rất giỏi. Tại cung quan của Gia Cát Lượng có sao Thái Âm miếu địa, lại có Thiên Cơ vượng địa xung chiếu cộng với các sao Quốc ấn thiên mã, điều này khẳng định Gia Cát Lượng là người có công danh cao và sớm thành danh. Dưới thời nhà Thục (221- 263), Gia Cát Lượng giữ chức quân sư, nhưng thực chất là thừa tướng, chỉ sau vua, nắm mọi quyền hành của nhà Thục Hán. Gia Cát Lượng còn là người có tài dùng binh, vì xung chiếu với cung quan lộc, ông có sao Quốc ấn, Tướng Quân, đấy là những sao thể hiện quyết đoán của những vị tướng. Ở cung Nô Bộc của Gia Cát Lượng có sao Văn Xương, Thiên Hỷ, điều này cho thấy dưới quyền có nhiều tướng lĩnh tài ba phò trợ cho ông gây dựng nghiệp lớn. Tuy nhiên, cung ở cung Nô Bộc lại có những sao xấu như Thiên Hình, Hóa Kỵ và Tuần nên ông cũng bị kẻ dưới trở cờ làm phản không tuân lệnh (với như Mã Tốc, Ngụy Diên). Trong cuộc đời chinh chiến 27 năm, Gia Cát Lượng đã dùng tài trí của mình xoay đổi càn khôn, chuyển bại thành thắng, nhưng đối với vận mệnh của bản thân thì không xoay đổi được. Trước khi mất, khi xem Thiên tướng, ông cũng biết được, vận mình đã hết nhưng vì muốn sống thêm 12 năm (1 giáp) nữa để phò tự nhà Hán thống nhất thiên hạ, nên Gia Cát Lượng đã đăng đàn, xin tuổi thọ, nhưng đúng vào thời khắc cuối cùng thì ngọn nến bản mệnh bị tắt do Ngụy Diên chạy vào trướng bị gió thổi vào, vì vậy mà ông không thể sống được nữa. Trong năm Giáp Dần 234, sao Lưu Thiên hư chiếu ở cung bản mệnh, Lưu Kinh dương chiếu ở cung di, đây đều là những sao xấu ảnh hưởng trực tiếp đến bản mệnh. Cung Di của Gia Cát Lượng còn có sao Tuần và Bệnh Phù, điều này nói lên ông đã bị mắc bệnh một thời gian dài trước khi mất. Ở cung Thân (bản thân) có Lưu Thiên Khốc và Lưu Đà là những sao hàng lục sát rất xấu trong hàng bản mệnh. Cộng với cung Phúc Đức trong lá số tử vi của Gia Cát Lượng đã xấu, nên dù tài giỏi ông cũng không tránh được mệnh của sao mình.ST Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Mỹ Ngân (##)
Trong phong thủy, việc hướng nhà hợp mệnh chỉ là một phần khá nhỏ trong tổng thể các phương pháp suy đoán cát hung của một ngôi nhà. Ngoài hướng, cũng nên quan tâm đến vị trí bố trí các khu chức năng, các Tiết minh trong một ngôi nhà. Vị trí thực tế
Trong phong thủy, việc hướng nhà hợp mệnh chỉ là một phần khá nhỏ trong tổng thể các phương pháp suy đoán cát hung của một ngôi nhà.
Ngoài hướng, cũng nên quan tâm đến vị trí bố trí các khu chức năng, các Tiết minh trong một ngôi nhà. Vị trí thực tế còn quan trọng hơn là hướng rất nhiều.
Theo Bát trạch, Nếu Hướng nhà không hợp mệnh, thì dùng hướng bếp để hóa giải. Nên xoay bếp hướng về hướng Đông Bắc là hóa giải được hướng nhà không hợp này.
Theo Huyền không phi tinh, trong vận 8 (2004-2023) nếu xây nhà vào khoảng thời gian như trên thì hướng Đông Nam với sơn Thìn thì có cách cục xấu (nhưng xấu như thế nào còn do loan đầu và cách bố trí), Nếu nhà có hướng Tốn hoặc Tỵ thì cơ bản là đẹp. Nếu nhà ở vào hướng Tốn hoặc Tỵ thì đó là nhà có cách cục vượng đinh, vượng tài, tốt cho sức khỏe cũng như công việc.
Tuy nhiên, dù ở cách cục nào ta vẫn nên hóa giải hướng nhà không hợp. Bởi vì, ở ngôi nhà sinh vượng có thể ta kiếm được tiền, sức khỏe ta tốt nhưng cũng có thể con cái phát sinh hư hỏng, anh em mâu thuẫn, vợ chồng khắc khẩu, phản mục nhau,…
Thế nên để hóa giải hướng nhà không hợp thì dùng hướng bếp như trên .
Lưu ý khi đầu tư vào cửa hàng tầng thấp của khu vực nhỏ –
Khách hàng mục tiêu của những khu cửa hàng dưới những khu nhà ở là những người dân khu phố là chính, nếu là những khu tương đối sầm uất phồn hoa còn bao gồm cả những người dân xung quanh, thậm chí những nhà tiêu dùng khu vực. Chính vì vậy, khi đầu tư
vào những loại cửa hàng này cần phải thận trọng phán đoán mặt cữa hàng ở vị trí nào sẽ có lưu lượng khách đến nhiều nhất hoặc tương đối nhiều.
Nhưng cần chú ý rằng: Cũng không thể phán đoán lượng người thành lưu lượng khách. Tiếp đó những cửa hàng phía dưới này phẩn lần được xây dựng xung quanh các khu vực nhỏ, giá trị của cửa hàng và vị trí của nó cũng có quan hệ rất lớn. Thường những khu vực nhỏ thì vị trí gần cửa ra vào là quan trọng nhất hoặc những cửa hàng tầng trệt gần đường giao thông giá cả cũng tương đối cao.
Do những cửa hàng ở tầng dưới của những căn hộ chung cư thường phục vụ khu vực thuộc đó, cho nên điều kiện giao thông có ảnh hưởng không lớn lắm đến giá trị của cửa hàng. Nhưng điều kiện để dừng xe mua hàng cần được lưu ý coi trọng, do những ngành ăn uống, đặc biệt là những ngành dịch vạt ăn uống có quy mô trung bình là những khách hàng chủ yếu của loại cửa hàng này.
Những cửa hàng ở dưới những khu chung cư hay tòa nhà thì đối tượng phục vụ thường là những chủ hộ trong khu nhà đó. Chính vì vậy ngành kinh doanh nên lựa chọn những đó dùng thường ngày trong đời sống, đồ ăn uống và những dịch vụ có liên quan. Những loại cửa hàng này tất yếu sẽ chịu ảnh hưởng của những mục có liên quan, nếu những hạng mục cửa khu nhà trung cư đó định vị cao, quy mô lớn, những loại cửa hàng này càng đáng để nhà đầu tư lựa chọn. Đối với những vấn đề nói trên, những hình thức, định vị, trình độ quản lý đầu tư của các hạng mục trong khu nhà đó thì sự anh hưởng đến giá trị cửa hàng là không thể tả hết.
Người đầu tư vào các cửa hàng khi tiến hành đầu tư vào loại cửa hàng tầng trệt của các khu chung cư cần phải hiểu rõ giá bán ban đầu của những cửa hàng đó có phản ánh được giá trị khách quan thực trạng của cửa hàng đó hay không, chứ không phải là mức giá cả đúng thực sự giá trị mà thông qua các cô bán hàng hay những vị tiêu thụ khi mở cửa hàng đưa ra sau khi đã đóng gói xong các đồ trong cửa hàng, hoặc đã rời khỏi cửa hàng đó.
Vấn đề này trong thị trường đầu tư cửa hàng là một vấn đề nhạy cảm nhất, bởi lẽ sự bùng nổ thị trường mở rộng các cửa hàng ở khắp nơi đã tạo ra không gian hoạt động rộng lớn, điều này chính là sự thức tỉnh tuyệt đối của những nhà đầu tư cửa hàng. Có thể xoá bỏ một cách hợp lý nhân tố của những cửa hàng khu xá, tránh khỏi những giao ước giá cả quá nóng, sẽ là nội dung cảnh tỉnh cần thiết nhất của những nhà đầu tư cửa hàng. Giá trị cửa hàng một khi đã bị các cửa hàng mở rộng nắm được, việc đầu tư của các nhà đầu tư cửa hàng sẽ gây tổn thất, trong trường hợp xấu nhất, những nhà đầu tư cửa hàng loại này đã bị cao thủ “xỏ mũi”.
Các loại cửa hàng được coi là loại hình bất động sản ngành thương mại lâu đời nhất của cơ sở thị trường, rất phù hợp với nhà đầu tư tư nhân. Một mặt chỉ cần giá bán hợp lý thì những rủi ro đầu tư cũng sẽ tương đối thấp, tỷ lệ thuế khống cũng thấp, lợi nhuận thu được của việc cho vay vốn cũng có thể được đảm bảo; mặt khác, nếu các hạng mục của cán bộ đó có quy mô lớn, nhân khẩu khu nhà về mặt tiêu thụ cũng mạnh mẽ, thì lợi nhuận đầu tư càng được bảo đảm.
Những em nhỏ ĐI HOANG, DU ĐÃNG, SÌ KE và chánh phạm THIÊN KHÔNG
Bài viết trên Tạp Chí Khoa Học Huyền Bí trình bày kinh nghiệm tử vi Thiên Lương về vấn đề những em nhỏ ĐI HOANG, DU ĐÃNG, SÌ KE và "chánh phạm" THIÊN KHÔNG. Đây cũng là một khám phá thú vị.
Xin quý vị chú ý tới đại vận Thiên Không của con em thiếu nhi
Từ ngày tìm hiểu Tử Vi, nhất là trên hai năm nay thường được tiếp xúc với quý vị phụ huynh hay than phiền về các con em. Thấy số rất đẹp mà thành ra hỏng như chiếc bình cổ xưa quý giá, bỗng rớt bể tan nát không hi vọng hàn gắn. Quý vị không hiểu sao lại thế, mà so giờ sanh thì thấy là giữa giờ, chứ không phải là đầu hay cuối, có thể lầm là giờ trên hay giờ dưới. Có một số quý vị thấy Mệnh số đóng ở Tuế Phá, Tang Môn, Điều khách đến hỏi có phải là tại đời bất mãn nên khiến ra như vậy. Cũng có một số quý vị thấy mệnh số đóng ngay Thái Tuế, Quan phù, Bạch hổ cũng thấy con em hư thân mất nết, cuộc đời kể như không cơ cứu vãn, vá víu vào đâu để trở thành người dân lành lương thiện, chứ không giám mong mộng anh hùng công hầu, khanh tướng.
Trong cảnh tượng đáng phàn nàn đáng thương hại đó, phải chăng là sự đau sót con em của tình phụ huynh trong gia đình không đành lòng buông xuôi cho chúng cuốn theo chiều nước. Ngoài ra lại còn có những vị nghiêm sư cũng thông hiểu lý số, đem những lá số của môn sinh tràn trề hi vọng ở tương lai, nay thấy học trò quá ư hư hỏng đến xin góp ý kiến để biết nguyên do. Nay nhân tiện xin trình bày để trả lời chung quý vị hãy thận trọng trông chừng đám con em, đầu xanh mới trên 10 tuổi, tùy theo cục của số như:
Thủy nhị cục là 12, Mộc tam cục là 13, Kim tứ cục 14, Thổ ngũ cục 15 và Hỏa lục cục 16.
Chúng nào đã biết gì và còn lắm khờ dại.
Xin nhắc lại vấn đề Âm, Dương, vì có phân Âm Dương mới rõ các trường hợp. Người Dương nam khi đến vận trên 10 tuổi tức là Đại vận thứ 2 xếp sau Đại vận thứ nhất ở Mệnh, nếu thấy Mệnh đẹp đóng ngay trong tam hợp Thái tuế, Quan Phù, Bạch hổ, thì đại vận thứ 2 này ở Phụ mẫu gặp ngay trúng Thiên Không:
1) Như tuổi Giáp Ngọ, mệnh đóng ở Ngọ có bộ sao Dương thủ đắc tức là Sát Phá Liêm Tham Tử Phủ Vũ Tướng, tức là được Khoa, Quyền, Lộc và Lộc tồn thì hiển nhiên phải là đẹp. Hỡi ơi, đại vận kế đó tức là trên 10 tuổi phải sang cung Mùi (Phụ Mẫu) gặp ngay Thiên Không. Như vậy dầu mệnh đóng ở Dần hay ở Tuất cũng thế, cung đại vận trên 10 tuổi vẫn có Thiên không chiếm ngự ở trong tam hợp.
2) Còn như số xấu như trường hợp Mệnh đóng ở Tuế phá, Tang môn, Điếu khách phải là người Âm nam mới có trường hợp Đại vận trên 10 tuổi gặp vận Thiên Không ở cung Bào. Như tuổi Kỷ Mão Mệnh đóng ở Dậu có bộ sao Âm làm nòng cốt là Cơ Nguyệt Đồng Lương Cự Nhật tức là Quyền Lộc ra ngoài cả Lộc tồn. Đại vận thứ 2 sang cung Bào gặp ngay Thiên không ở trong tam hợp Thân Tí Thìn, có nghĩa là dầu Mệnh đóng ở Tuế Phá, hay Tang môn, hay Điếu khách. Đại vận thứ 2 sang cung Bào là phải có Thiên không. Mặc dầu thủ đắc Hóa khoa ở Mệnh Đại vận thứ 2 là 14 tuổi có Thiên không vẫn khổ vồ vỏ chuối, vồ ếch miên man ở chống trường học. Rồi sau đó gặp vận thứ 3 là 24 tuổi tức là Thái Tuế, Quan Phủ, Bạch hổ mới mở mặt mở mày, mão cao bào tía của vị Tân khoa vinh quy bái tổ.
Nói đến Thiên không, dầu ở vị trí nào cũng nên tránh né, là một biến cố suy sụp quan trọng đáng sợ nhất của đời người. Bốn vị trí Dần Thân Tỵ Hợi đối với Thiên Không có thể nó là nới tay nhất vì còn tùy thuộc ở Hồng Loan, vẫn còn ý nghĩa là sắc sắc không. Tự mình tỉnh giấc mộng vàng thì còn dở như đức Phật từ bỏ ngai vàng, vợ đẹp con ngoan, chịu cam phận kham khổ dưới gốc bồ đề. Xin trình quý vị nào ở vào vị trí này là đã tạo được phước lớn ở những kiếp trước xa xưa, nên coi như là hạnh phúc cho mình ở kiếp này.
Bốn cung Tí Ngọ Mão Dậu, Thiên không bị sô đẩy lôi kéo bởi chủ quyền Đào hoa. Biết bao khêu gợi thèm muốn, biết bao thúc bách động lòng tham sân si, tưởng phải là người có trí kiên trì, thân hồn phải làm chủ được thân xác, mới mong thoát được luật bù trừ, rồi ra vẫn là hai bàn tay trắng, nếu không phải đeo thêm cái tiếng thủ đoạn quỷ quyệt mà vẫn là trắng tay.
Còn bốn cung Thìn Tuất Sửu Mùi uy quyền của Thiên không là vô bờ bến, biết bao anh hùng chinh Đông phạt Bắc tiếng tăm lừng lẫy cũng phải treo cổ dưới mũi gươm khắc nghiệt của Thiên không như Hạng Võ, một đời danh vọng tuyệt đích cao sang như Tổng thống Ngô Đình Diệm, đáo hạn Thiên không cũng đưa thân thế co quắp nằm trong hầm xe thiết giáp, nhà tỉ phú chủ nhân nhà trọc trời đường Võ Tánh, cũng trơ mắt ếch ngó sản nghiệp chạy vào túi áo người khác mà rồi hồn phải lìa xác vì uất hận.
Tóm lại hạn Thiên không là hạn phá sản mà người đời càng luyến tiếc bao nhiêu, cố níu kéo cái gì đã ở trong tay mình, thì Mệnh mình cũng bị lôi kéo luôn với gì cố cầm giữ. Không phải chỉ trên hai năm nay mới có những lời than phiền về các con em bị sa lầy trong đám bùn nhơ hầu như không còn phương cứu chữa, thưa rằng trước kia cũng có. Nhưng nó xẩy dến bằng nhiều hình thức để cản trở, hành hạ, điêu luyện đám đầu xanh trên bước tiến đường đời như: Người bỗng nhiên mất trí thành điên cuồng, kẻ mắc bệnh trầm kha phải lâu ngày cứu chữa.
Đối với ba hạng người Tuế phá (Tang môn, Điếu khách) Thiếu Dương (Tử phù, Phúc đức) Thiếu Âm (Trực phù, Long Đức) người thì gặp hoàn cảnh bất mãn, kẻ quá hóm hỉnh muốn lấn lướt quơ vét vào mình, còn người tin tưởng ai cũng như mình thành khờ dại, đồng gặp hoàn cảnh điêu linh, vất vả, sản nghiệp như thủy triều đã đành. Còn như người Thái tuế, Quan phù, Bạch hổ, đường đường phương diện quốc gia thường được hài lòng với hành động luôn luôn chánh nghĩa, tại sao trong khoảng thời gian quý báu nhất để trau dồi học thức của tuổi vị thành niên cũng bị bôi sóa gạt bỏ thì còn gì hi vọng.
Đấng anh hùng cứu quốc, nhà tài phiệt kinh doanh trên thương trường nào mấy ai sanh ra được trọng đãi từ ngay lúc nhập thế cuộc, cũng phải trải qua hai ba chục năm gặp bước gian truân tôi luyện mới trở nên hữu dụng, thư là ngoài 40 tuổi, là cái tuổi có thể dã dầy kinh nghiệm cuộc đời, biết rõ đâu là chánh, đâu là tà nên dễ trở nên vỹ nhân hào hiệp (Mệnh đóng tam hợp Thái tuế gặp vận tam hợp Thái tuế)
Hạn Thiên Không không chừa một ai, không kể thời gian nào, từ ông già bà cả đến trẻ đầu xanh vị thành niên, mỗi khi gặp là cơ nguy phá sản đã đến làm tình tội hay điêu luyện con người tùy theo nhân quả của cá nhân, ngày sau được danh thơm muôn thuở, hay lưu sử vạn niên tùy theo vị trí ngự trị của Mệnh đóng trên vòng Thái tuế.
Vậy xin mời quý phụ huynh và ân sư của đám con em nhỏ tuổi nên tìm cách đưa mình vào địa vị Thiên không mà răn trừng chúng dìu dắt bằng cách này hay cash khác, nhất là phương diện tài chính không thể để cho chúng được rộng rãi vung tay qua trán, nên hiểu chúng là kiếp người đang đi vào giai đoạn phá sản, nỗi túng thiếu phải triền miên. Lòng thương con em không để lộ liễu để chúng lợi dụng ỷ thế trở thành bụi đời. Đó là trách nhiệm của các bực cha anh trong hoàn cảnh khó khăn chăn dắt con em phải thận trọng tùy trường hợp mà quyết định (bệnh hoạn hay phóng túng).
Hổ Cáp là chòm sao có cá tính và sự lì lợm bậc nhất vòng tròn hoàng đạo. Nhưng dù mạnh mẽ đến đâu, cứng rắn đến đâu thì con người ai cũng có những lúc mềm yếu rơi lệ. Khi Hổ Cáp khóc, chỉ có thể là bốn việc cực kì nghiêm trọng dưới đây.
Mất đi giấc mơ mình mong đợi
Muốn hỏi cung Hổ Cáp coi trọng điều gì nhất, đáp án chính là giấc mơ. Họ sẵn sàng sống cùng giấc mơ của mình, vô cùng nhiệt tình, không hề oán trách, không hề hối hận. Nếu một ngày mà chòm sao này mất đi điều mà mình đã tâm tâm niệm niệm, không còn đủ tư cách để theo đuổi mục tiêu, chắc chắn họ sẽ thoái chí nản lòng tới mức bật khóc, không cách nào kiềm chế được.Sinh ra đã có lý tưởng, có kế hoạch, có thể nói những giấc mơ và mục tiêu của Hổ Cáp chính là động lực để họ phấn đấu không ngừng nghỉ, tiếp tục tiến về phía trước. Dù khó khăn khổ sở cũng không làm Hổ Cáp khóc nhưng sự thất bại, tuyệt vọng sẽ đánh gục chòm sao này ngay lập tức.Có thể là giấc mơ ấy không thành hiện thực vì quá viển vông, cũng có thể do năng lực bản thân không đủ, thực sự quá xa vời để chạm tới, thực tế đánh bại, mà mòn mọi ước vọng. Nước mắt sẽ không tự chủ được mà rơi xuống, như một dấu chấm hết cho cái kết buồn.
Người mình yêu rời đi
Đối với bất cứ chuyện gì Hổ Cáp đều có thể đóng vai chòm sao lý trí nhưng riêng tình cảm thì họ khẳng định là chòm sao lụy tình. Toàn tâm toàn ý vì đối phương mà trả giá nhưng đến một ngày phát hiện ra, hình như họ không hề yêu mình nhiều như mình vẫn tưởng. Còn gì đau lòng hơn, giống như niềm tin bị đánh cắp, hi vọng hóa ra chỉ là ảo tưởng.Giữa hai người có khoảng cách, Cáp Cáp nhất định không khống chế được tâm tình, vội vàng gây ra những chuyện làm tổn thương người kia, quá đau khổ nên không còn tỉnh táo nữa rồi. Làm thương tổn người khác, cũng làm thương tổn chính bản thân mình, ngốc nghếch lắm. Kiên cường nhất, thà đổ máu chứ không đổ lệ, thái độ kiên quyết tới mức người khác nhìn mà còn thấy kinh hãi, trừ khi là chuyện kinh thiên động địa bằng không đừng hòng để chòm sao này rơi nước mắt. Tuyệt đối đừng chọc họ đau lòng bởi năng lực trả thù mạnh vô cùng, là chòm sao thù lâu nhớ dai bậc nhất vòng tròn hoàng đạo, làm tổn thương họ một, họ sẽ trả gấp mười, gấp trăm.Bình thường không khóc to, gào thét điên cuồng, chỉ một mình âm thầm chịu đựng, tìm kiếm căn nguyên khiến mình đau và thật bất hạnh cho ai làm Hổ Cáp khóc. Nước mắt của họ chính là kim cương, rơi xuống rồi, cái giá phải trả sẽ vô cùng đắt. Nỗi đau biến thành động lực để tàn nhẫn, dù từng yêu nhau tha thiết nhưng đến phút này cũng không một chút nương nhẹ, làm cho người kia sức cùng lực kiệt, sống dở chết dở mới thôi.
Khắc sâu nỗi tự ti của chính mình
Ai cũng nghĩ Hổ Cáp là chòm sao xấu bụng, lạnh lùng, vô tình nhưng kì thật họ cũng có rất nhiều tâm tình, hay nghĩ ngợi. Phần nhiều người thuộc cung này thích đối phương có nhiều điểm ưu tú nhưng sau khi thấy người ta có nhiều ưu điểm quá thì lại tự ti. Thậm chí Cáp Cáp còn ngốc tới nỗi vì tự ti mà ảnh hưởng tới hành vi của mình, sinh lòng bực bội, không chịu đựng được bèn chủ động nói lời chia tay. Xem thêm bài viết Những chòm sao sưởi ấm trái tim Bọ Cạp lạnh lùngChia tay rồi cũng vẫn chưa buông tha, không ngừng đổ lỗi cho chính mình khiến lòng chua xót, tự bật khóc. Thời khắc nửa kia đáp ứng lời yêu, hai người là bình đẳng, trong tình yêu cần nhất sự chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau, không có một mối quan hệ nào có thể ỷ lại hoàn toàn vào đối phương. Hổ Cáp không hiểu điều này, có lòng ỷ lại, dựa dẫm vào người kia lại thấy mình không đủ tốt, không đủ xuất sắc, không xứng với người ta. Đúng là tự nghĩ tự mua dây buộc mình, đến lúc ôm gối khóc thầm thì chỉ còn biết oán trách vậy thôi, chẳng cứu vãn nổi.
Bị người khác liên lụy
Hổ Cáp trời sinh là chòm sao chịu được khổ nhưng tính cách lại rất kiên cường và trọng thể diện. Đói cũng được, mệt cũng được, nghèo cũng được nhưng họ sợ nhất là mất lòng tự trọng, phải vay nợ người khác rồi luồn cúi, góp nhặt từng đồng trả nợ. Đây là điều cực kì mất mặt mà họ không thể nào chịu nổi. Càng không thể chịu nổi hơn là việc này hoàn toàn không do mình gây ra, bị người khác liên lụy, gánh khoản nợ từ trên trời rơi xuống. Đối với tình cảm, Hô Cáp rất chung thủy, rất si tình, rất hết lòng, vốn xưa kia sức hấp dẫn ngời ngời, chẳng thiếu người theo đuổi nhưng lại chỉ “nhất kiến chung tình” với một người duy nhất, bằng lòng vì người đó mà trả giá tất cả. Xem thêm bài viết Hé lộ mâu thuẫn tình yêu của Thiên YếtNgười đó có thiếu thốn, khó khăn thì Hổ Cáp cũng nguyện trả nợ nay, chỉ là trong lòng không ngừng đau buồn, không ngừng mệt mỏi, khóc uất ức vì chuyện chẳng đành. Ngoài mặt tươi cười nhưng bên trong có bão lòng, một mình ngấm ngầm chịu đựng tất cả, gồng mình lên gánh vác. Hổ Cáp khóc vì thương mình, thương cho sự lụy tình khốn khổ của bản thân.
Có thể bạn quan tâm: 10 điều nhất định phải nhớ trước khi hẹn hò Hổ CápChòm sao nữ Hổ Cáp - độc dược của đàn ôngTuổi Sửu cung Hổ Cáp: Khôn khéo và lòng tự tôn cao Thái Vân Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Thanh Vân (##)
Theo quan niệm của người xưa khi làm tổn thương đến Long Mạch, thì gia đình thường dễ gặp tai hoạ...Do đó gia chủ phải làm lễ bồi hoàn địa mạch để giải trừ
Theo quan niệm của ông bà ta xưa, khi gia đình ai đó đào đất lấp ao, khơi rãnh, xây tường không may chạm Long Mạch, thì những người sống trong gia đình đó dễ gặp tai hoạ, vận rủi, điềm xấu… Do đó gia chủ phải làm lễ bồi hoàn địa mạch để giải trừ tai hoạ, vận xấu.
1. Sắm lễ:
Để tránh được tai họa thì gia chủ phải lấy nước ở ba con sông, hoà với năm loại đất linh để nặn Thần Quy (Thần Rùa), cho chỉ 5 màu vào thân Rùa.
Sau đó, chọn các ngày Thiên Xá, Thiên Nguyên, Địa Nguyên, Cường Nhật, Trùng Mậu, Trùng Kỷ rồi tìm nơi đào đất tạo thành hố bày lễ hoa quả ứng với Ngũ Hành (5 màu: xanh, vàng, đỏ, trắng, đen hoặc tím), cùng lễ mặn ứng với Ngũ Hành, hoa 5 màu, hương, vàng mã… cạnh hố khấn cầu theo bài văn khấn bồi hoàn địa mạch.
2. Văn khấn bồi hoàn địa mạch:
- Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.
- Con kính lạy Đức U minh Giáo chủ Địa Tạng Vương Bồ Tát
- Con kính lạy Đức Hoàng thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.
- Con kính lạy các Ngài Ngũ phương, Ngũ đế, Ngũ nhạc thánh đế, Nhị thập tứ khí phần quan, Địa mạch thần quan, Thanh Long Bạch Hổ, chư vị thổ thần cùng quyến thuộc.
- Con kính lạy các ngài Kim Niên Đương cai Tôn thần, Bản cảnh Thành hoàng Tôn thần và các vị thần minh cai quản trong khu vực này.
Tín chủ (chúng) con là:……
Ngụ tại:……………………
Hôm nay là ngày…. Tháng…. Năm…, tín chủ con thành tâm sắm lễ, quả cau lá trầu, hương hoa trà quả, thắp nén tâm hương dâng lên trước án, xin điền hoàn địa mạch. Tín chủ có lời thưa rằng:
Bởi vì trước đây Do tinh mờ mịt Thức tính hồn mờ Đào đất lấp ao Gầy nên chấn động Hoặc bởi khách quan Hoặc do chủ sự Tổn thương Long Mạch Mạo phạm thần uy
Ảnh hưởng khí mạch
Nay muốn cho phong thổ an hoà, gia đình chúng con mọi người được an bình, miễn trừ tai họa, nên tín chủ con trượng uy Đại Sỹ, nương đức Tôn thần, cung tạo bồi hoàn, nhương kỳ khẩn đảo thần công, nguyện xin bảo hộ, chứng minh sám hối, thụ hưởng đan thành.
Tín chủ chúng con xin thành tâm cúng dâng:
Ngài U minh Giáo chủ Bản tôn Địa Tạng Vương Bồ Tát;
Ngài Kiên Lao địa thần Bồ Tát;
Các Ngài Ngũ phương, Ngũ đế, Hậu Thổ nguyên quân, Sơn nhạc Đế quân, Đương phương Thổ địa, Thổ phủ Thần kỳ;
24 Khí Thần quan; 24 Long Mạch Thần quan, 24 Địa Mạch Thần quan, 24 Sơn Địa Mạch Thần quan, 24 Hướng Địa Mạch Thần quan;
Thanh long Bạch hổ, Thổ bá, Thổ hầu, Thổ mãnh, Thổ trọng Thần quan, Thổ phụ, Thổ mẫu, Thổ lương, Thổ gia Thần quan, Thổ tử, Thổ tôn, Thổ khảm, Thổ khôn Thần quan, Thổ kỳ Ngũ phương Bát quái và các Thần minh quyến thuộc, Kim niên Hành khiển Thái tuế chư đức Tôn thần,
Đương cảnh Thành hoàng bản thổ Đại Vương và tất cả các vị Thần minh cai quản khu vực này,
Cúi xin thương xót tín chủ chúng con, nhận lời cầu thỉnh, chuẩn tâu sám tạ, giáng phó án tiền, hưởng lễ vật. Nguyện cho: Phong thổ phì nhiêu Khí sung mạch vượng Thần an tiết thuận Nhân sự hưng long Sở cầu như ý.
Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.
Sức lực của các bạn tuổi Sửu trong tháng 5 này chủ yếu tập trung vào học hành, công việc. Tuy bận rộn nhưng bạn vẫn dành nhiều thời gian và tâm huyết cho gia đình. Mọi nỗ lực và đóng góp của bạn giúp các thành viên trong nhà luôn cảm thấy hài lòng, bầu không khí ngập tràn niềm vui và sung túc.
Tuổi Mèo
Nhìn chung vận khí của các bạn tuổi Mèo trong năm nay luôn ổn định. Đặc biệt trong tháng 5 này, vận thế gia đình của bạn cực thịnh vượng. Do bản thân tuổi Mèo rất xem trọng gia đình, luôn cố gắng giữ gìn sự hòa thuận, hạnh phúc của những người thân. Bạn sẽ có một tháng thoải mái, không vướng bận lo âu.
Tuổi Tuất
Những gì các bạn tuổi Tuất dành cho gia đình thường không nhỏ, đặc biệt là bạn rất quan tâm đến không khí của các thành viên trong nhà, vì vậy luôn hết lòng vun đắp và nuôi dưỡng tình cảm. Tháng 5 này, vận thế gia đình của bạn rất tốt, nhiều tin vui tốt lành đến nhà.
Tuổi Tý
Các bạn tuổi Tý vốn đã có mệnh tốt, lại quý trọng cuộc sống gia đình, nên dù thỉnh thoảng có mâu thuẫn xung đột, bạn vẫn là người cố gắng hòa giải và duy trì sự hòa thuận trong nhà. Tháng 5 này sẽ là thời cơ để bạn củng cố sự gắn bó, êm ấm cho gia đình, cuộc sống tràn đầy hạnh phúc và khỏe mạnh.
Theo tín ngưỡng dân gian, Thần tài mang lại tiền bạc hay của cải cho mỗi gia đình, nên mỗi gia đình, nhứt là gia đình mua bán hay kinh doanh đều có bàn thờ Thần tài, đốt nhang nghi ngút để cầu xin Thần tài cho mua may bán đắt, trúng mối lời nhiều, đem lại nhiều tiền bạc sung túc.
Người đời rất quí trọng tiền bạc nên rất quí trọng Thần tài. Những nhà kinh doanh đều có lập bàn thờ Thần tài rất long trọng, đặc biệt bàn thờ Thần tài không được đặt trên cao mà phải đặt ngay trên mặt gạch nền nhà.
Ngày vía của Thần Tài
Để tưởng nhớ Thần Tài, mọi người chọn ngày vía Thần Tài là ngày Thần Tài bay về trời: Ngày mùng 10 tháng giêng âm lịch.
Ngày vía của Thần Tài mọi người thường mua : 1 bình bông, 1 con tôm, 1 con cá lóc nướng, 1 con cua, 1 miếng heo quay, 1 bộ giấy tiền vàng mã, 1 đĩa quả, chum rượu, để cúng lấy vía Thần Tài, cầu xin cho năm mới làm ăn phát đạt.
Ngoài ngày vía chính của Thần Tài là ngày mùng 10 tháng giêng âm lịch. Nhưng mọi người vẫn chọn ngày mùng 10 âm lịch hằng tháng để cúng Thần Tài, cầu xin cho may mắn về tài lộc trong tháng đó, nên trở thành thông lệ.
Thông thường thì vào ngày mùng 1 và ngày 15 âm lịch, cùng với bàn thờ Tổ tiên và các bàn thờ khác trong nhà, hoặc vào ngày mùng 10 âm lịch hàng tháng. Cúng Thần Tài để trả lễ khi gặp vận hên tài lộc.
Đồ cúng thường là các món ăn ngon như heo vịt quay, gà, hoa quả, nước uống hàng ngày… Dân gian truyền miệng Thần Tài rất thích món Cua biển và heo quay, chuối chín vàng.
Thường ngày nên đốt nhang mỗi sáng từ 6h - 7h và chiều tối từ 6h - 7 giờ, mỗi lần đốt 5 cây nhang. Thay nước uống khi đốt nhang, thay nước trong lọ hoa, và chưng thờ nải chuối chín vàng.
Tránh để các con vật chó mèo quậy phá làm ô uế bàn thờ Thần Tài.
Hàng tháng thường lau bàn thờ, tắm cho Thần Tài vào ngày cuối tháng và ngày 14 âm lịch với nước lá bưởi, hay rượu pha nước. Khăn lau và tắm cho Thần Tài không được dùng vào việc khác.
Thỉnh Thần Tài
Khi thỉnh tượng Thần Tài ngoài cửa hàng về cần gói bọc trong giấy đỏ, hoặc trong hộp sạch sẽ, mang vào chùa nhờ các Sư trong chùa “Chú nguyện nhập Thần”, và nhờ các Sư chọn cho ngày tốt đem về nhà để an vị Thần Tài (kể cả ông Địa cũng vậy).
Về nhà dùng nước lá bưởi rửa và đặt lên bàn thờ, mua các đồ cúng về cúng khấn là được, lần sau cúng vái bình thường.
Ai muốn thờ Thần Tài đều nên thực hiện như trên, Thần Tài mới có linh khí, nếu không thì cũng chỉ như bức tượng bình thường.
Khi thỉnh Thần Tài cũng có Thần Tài hợp với gia chủ, cũng có Thần Tài không hợp với gia chủ, chọn tượng Thần Tài mặt tươi cười, mặt sáng sủa, tượng không bị nứt, vỡ, nhìn tượng toát lên vẻ phú quý.
Việc cầu xin tài lộc được nhiều hay ít còn phụ thuộc vào lòng thành của gia chủ, phước đức và số vận của gia chủ.
Thần Tài không thể cho hay biếu người khác, phải tự gia chủ thỉnh về.
Đặt bàn thờ Thần Tài
Bàn thờ Thần Tài đặt dưới đất, nơi trang nghiêm hướng ra cửa chính.
Sắm lễ cúng ngày vía thần Tài
Vào ngày thần Tài, mùng 10 Tết âm lịch gia chủ cần sắm sửa bày biện những lễ vật sau đây để cúng lấy vía thần Tài cầu lộc lá cả năm: •1 bình hoa (hoa đồng tiền, hoa cúc hoặc hoa hồng) •5 loại trái cây •5 cây nhang •5 chum rượu •2 đèn cầy •2 điếu thuốc •1 đĩa gạo •1 đĩa muối hột •2 miếng vàng bạc •1 bộ tam sên đều đã luộc gồm: một miếng thịt ba rọi, một hột vịt, một con tôm hoặc cua
Bộ tam sên gồm thịt, hột vịt và tôm hoặc cua tương truyền đây là 3 món mà thần Tài ngày còn ở nhân gian rất thích.
Văn khấn vía thần Tài ngày 10 Tết âm lịch
Vào ngày thần Tài mùng 10 Tết âm lịch, gia chủ sửa soạn sắm lễ vật được nêu ở trên. Nếu là cửa hàng hoặc công ty thì thực hiện ở ngay ở cửa hàng, công ty. Sau khi thắp hương thì đọc bài khấn thần Tài này.
– Kính lạy ngài Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần. – Con kính lạy ngài Đông Trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân. – Con kính lạy Thần Tài vị tiền. – Con kính lạy các ngài Thần linh, Thổ địa cai quản trong xứ này.
Tín chủ con là:……………………… Tuổi:…….. Ngụ tại ……………………………… Hôm nay là ngày……. tháng……. năm…… (âm lịch).
Tín chủ con thành tâm sửa biện, hương hoa, lễ vật, kim ngân, trà quả và các thứ cúng dâng, bầy ra trước án kính mời ngài Thần Tài tiền vị và chư vị tôn Thần.
Cúi xin Thần Tài thương xót tín chủ, giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật phù trì tín chủ chúng con an ninh khang thái, vạn sự tốt lành, gia đạo hưng long thịnh vượng, lộc tài tăng tiến, tâm đạo mở mang, sở cầu tất ứng, sở nguyện tòng tâm.
Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ cúi xin được phù hộ độ trì.
Với người tuổi Mùi thuộc nhóm máu AB, tình yêu dường như là cuộc tìm kiếm hình mẫu lý tưởng. Ánh mắt nụ cười hay những cảm nhận ban đầu về một chàng trai/ cô
Với người tuổi Mùi thuộc nhóm máu AB, tình yêu dường như là cuộc tìm kiếm hình mẫu lý tưởng. Ánh mắt nụ cười hay những cảm nhận ban đầu về một chàng trai/ cô gái cũng đủ khiến con tim rung động nếu họ thấy thấp thoáng ở đó bóng hình người trong mộng của mình.
Lời tỏ tình của người tuổi Mùi thuộc nhóm máu này tuy không nồng nàn và lãng mạn nhưng đối phương có thể dễ dàng cảm nhận được sự chân thành và thẳng thắn. Họ bày tỏ tình cảm với một nửa của mình qua những món quà nghệ thuật đầy ý nghĩa. Những câu thơ tình, những bức tranh nhỏ xinh là tất cả tấm lòng mà họ dành tặng cho người mình thương mến.
(Ảnh chỉ mang tính chất minh họa)
Khó khăn khi kiếm tìm hình tượng trong mộng khiến không ít người tuổi Mùi thuộc nhóm máu AB bước vào cuộc sống hôn nhân khá muộn. Họ khó mở lòng ngay cả với những đối tượng vốn được xem là lý tưởng trong mắt người xung quanh. Sự chờ đợi khiến nhiều người hướng đến cuộc sống độc thân mặc dù trong thâm tâm, họ luôn muốn có được gia đình hạnh phúc.
Cả nam giới và nữ giới thuộc tuổi này nên xây dựng hạnh phúc lứa đôi với người vui tính, hoạt bát và thông mình. Cuộc sống của họ sẽ trở nên hạnh phúc và tràn đầy tiếng cười vui.
Lý giải vận mệnh và tính tuổi xung theo Lục Thập Hoa Giáp
Trong tử vi, Lục thập hoa giáp được biết tới như một trong những cách lý giải vận mệnh con người tương đối đơn giản, dễ xem nên khá phổ biến và được nhiều
Trong tử vi, Lục Thập Hoa Giáp được biết tới như một trong những cách lý giải vận mệnh con người tương đối đơn giản, dễ xem nên khá phổ biến và được nhiều người sử dụng.
Bắt nguồn từ 10 Thiên Can và 12 Địa Chi sẽ cho ra 6 chu kỳ hàng Can kết hợp với 5 chu kỳ hàng Chi, tạo thành một vòng quay 60 được gọi là Lục Thập Hoa Giáp. Bắt đầu từ Giáp Tý rồi đến Ất Sửu,… cuối cùng là Quý Hợi sẽ kết thúc một vòng Hoa Giáp. Mỗi 10 năm thì chữ Giáp lại được lặp lại đầu tiên: Giáp Tý, Giáp Tuất, Giáp Thân, Giáp Ngọ, Giáp Thìn, Giáp Dần. Trong Lục Thập Hoa Giáp, ngũ hành được chi làm 30 tổ Kim - Mộc - Thủy - Hỏa - Thổ và cứ 2 năm một tổ. Ngũ hành nạp âm dùng để phân rõ tính chất khác nhau của từng hành, ví như Hải Trung Kim, Kiếm Phong Kim, Sa Trung Kim,... đều là hành Kim nhưng lại mang tính chất khác nhau. Và phải thông qua ngũ hành nạp âm mới định rõ được đặc điểm của từng mệnh. Từ đó mà rút ra các ưu điểm, nhược điểm của từng mệnh, gợi ý đường đi nước bước trong đời. Nạp âm Lục Thập Hoa Giáp giải nghĩa ít nhiều về vận mệnh của mỗi tuổi, thường xem về các điểm chính của đời người như cha mẹ, công danh, gia sự và đưa ra một số gợi ý khi chọn bạn đời, chọn người làm ăn. Dưới đây là bảng tính Lục Thập Hoa Giáp và các tuổi xung khắc để bạn đọc tham khảo.
Số
Ngày tháng năm
Ngũ hành
Tuổi xung khắc
1
Giáp Tý
Vàng trong biển (Kim)
Mậu Ngọ, Nhâm Ngọ, Canh Dần, Canh Thân
2
Ất Sửu
-
Kỷ Mùi, Quí Mùi, Tân Mão, Tân Dậu
3
Bính Dần
Lửa trong lò (Hoả)
Giáp Thân, Nhâm Thân, Nhâm Tuất, Nhâm Thìn
4
Ðinh Mão
-
Ất Dậu, Quí Dậu, Quí Tị, Quí Hợi
5
Mậu Thìn
Gỗ trong rừng (Mộc)
Canh Tuất, Bính Tuất
6
Kỷ Tị
-
Tân Hợi, Đinh Hợi
7
Canh Ngọ
Ðất ven đường (Thổ)
Nhâm Tý, Bính Tý, Giáp Thân, Giáp Dần
8
Tân Mùi
-
Quí sửu, Đinh Sửu, Ất Dậu, Ất Mão
9
Nhâm Thân
Sắt đầu kiếm (Kim)
Bính Dần, Canh Dần, Bính Thân
10
Quí Dậu
-
Ðinh Mão, Tân Mão, Đinh Dậu
11
Giáp Tuất
Lửa trên đỉnh núi (Hoả)
Nhâm Thìn, Canh Thìn, Canh Tuất
12
Ất Hợi
-
Quí Tị, Tân Tị, Tân Hợi
13
Bính Tý
Nước dưới lạch (Thuỷ)
Canh Ngọ, Mậu Ngọ
14
Ðinh Sửu
-
Tân Mùi, Kỷ Mùi
15
Mậu Dần
Ðất đầu thành (Thổ)
Canh Thân, Giáp Thân
16
Kỷ Mão
-
Tân Dậu, Ất Dậu
17
Canh Thìn
Kim bạch lạp (Kim)
Giáp Tuất, Mậu Tuất, Giáp Thìn
18
Tân Tị
-
Ất Hợi, Kỷ Hợi, Ất Tị
19
Nhâm Ngọ
Gỗ dương liễu (Mộc)
Giáp Tý, Canh Tý, Bính Tuất, Bính Thìn
20
Quí Mùi
-
Ất Sửu, Tân Sửu, Đinh Hợi, Đinh Tị
21
Giáp Thân
Nước trong khe (Thuỷ)
Mậu Dần, Bính Dần, Canh Ngọ, Canh Tý
22
Ất Dậu
-
Kỷ Mão, Đinh Mão, Tân Mùi, Tân Sửu
23
Bính Tuất
Ðất trên mái nhà (Thổ)
Mậu Thìn, Nhâm Thìn, Nhâm Ngọ, Nhâm Tý
24
Ðinh Hợi
-
Kỷ Tị, Quí Tị, Quí Mùi, Quí Sửu
25
Mậu Tý
Lửa trong chớp (Hoả )
Bính Ngọ, Giáp Ngọ
26
Kỷ Sửu
-
Ðinh Mùi, Ất Mùi
27
Canh Dần
Gỗ tùng Bách (Mộc)
Nhâm Thân, Mậu Thân, Giáp Tý, Giáp Ngọ
28
Tân Mão
-
Quí Dậu, Kỷ Dậu, Ất Sửu, Ất Mùi
29
Nhâm Thìn
Nước giữa dòng (Thuỷ)
Bính Tuất, Giáp Tuất, Bính Dần
30
Quí Tị
-
Ðinh Hợi, Ất Hợi, Đinh Mão
31
Giáp Ngọ
Vàng trong cát (Kim)
Mậu Tý, Nhâm Tý, Canh Dần, Nhâm Dần
32
Ất Mùi
-
Kỷ Sửu, Quí Sửu, Tân Mão, Tân Dậu
33
Bính Thân
Lửa chân núi (Hoả)
Giáp Dần, Nhâm Thân, Nhâm Tuất, Nhâm Thìn
34
Ðinh Dậu
-
Ất Mão, Quí Mão, Quí Tị, Quí Hợi
35
Mậu Tuất
Gỗ đồng bằng (Mộc)
Canh Thìn, Bính Thìn
36
Kỷ Hợi
-
Tân Tị, Đinh Tị.
37
Canh Tý
Ðất trên vách (Thổ)
Nhâm Ngọ, Bính Ngọ, Giáp Thân, Giáp Dần
38
Tân Sửu
-
Quí Mùi, Đinh Mùi, Ất Dậu, Ất Mão
39
Nhâm Dần
Bạch kim (Kim)
Canh Thân, Bính Thân, Bính Dần
40
Quí Mão
-
Tân Dậu, Đinh Dậu, Đinh Mão
41
Giáp Thìn
Lửa đèn (Hoả)
Nhâm Tuất, Canh Tuất, Canh Thìn
42
Ất Tị
-
Quí Hợi, Tân Hợi, Tân Tị
43
Bính Ngọ
Nước trên trời (thuỷ)
Mậu Tý, Canh Tý
44
Ðinh Mùi
-
Kỷ Sửu, Tân Sửu
45
Mậu Thân
Ðất vườn rộng (Thổ)
Canh Dần, Giáp Dần
46
Kỷ Dậu
-
Tân Mão, Ất Mão
47
Canh Tuất
Vàng trang sức (Kim)
Giáp Thìn, Mậu Thìn, Giáp Tuất
48
Tân Hợi
-
Ất Tị, Kỷ Tị, Ất Hợi
49
Nhâm Tý
Gỗ dâu (Mộc)
Giáp Ngọ, Canh Ngọ, Bính Tuất, Bính Thìn
50
Quí Sửu
-
Ất Mùi, Tân Mùi, Đinh Hợi, Đinh Tỵ
51
Giáp Dần
Nước giữa khe lớn (Thuỷ)
Mậu Thân, Bính Thân, Canh Ngọ, Canh Tý
52
Ất Mão
-
Kỷ Dậu, Đinh Dậu, Tân Mùi, Tân Sửu
53
Bính Thìn
Ðất trong cát (Thổ)
Mậu Tuất, Nhâm Tuất, Nhâm Ngọ, Nhâm Tý
54
Ðinh Tị
-
Kỷ Hợi, Quí Hợi, Quí Sửu, Quí Mùi
55
Mậu Ngọ
Lửa trên trời (Hoả)
Bính Tý, Giáp Tý
56
Kỷ Mùi
-
Ðinh Sửu, Ất Sửu
57
Canh Thân
Gỗ thạch Lựu (Mộc)
Nhâm Dần, Mậu Dần, Giáp Tý, Giáp Ngọ
58
Tân Dậu
-
Quí Mão, Kỷ Mão, Ất Sửu, Ất Mùi
59
Nhâm Tuất
Nước giữa biển (Thuỷ)
Bính Thìn, Giáp Thìn, Bính Thân, Bính DDần
60
Quí Hợi
-
Ðinh Tị, Ất Tị, Đinh Mão, Đinh Dậu
► Khám phá: Tử vi trọn đời của bạn bằng công cụ xem bói tử vi chuẩn xác
Theo Tử vi toàn tập Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Mỹ Ngân (##)
Nếu trong cuộc sống hiện thực, bạn bị cướp hoặc bị giết thì điều đó thật kinh khủng, thế nhưng nếu chuyện đó xảy ra trong giấc mơ, đôi khi cũng khiến bạn lo lắng một chút nhưng đa số vẫn là cát mộng, dự báo những điềm lành.
Ảnh minh họa
Mơ thấy mình bị cướp là điềm báo khó khăn sắp chồng khó khăn.
Phạm nhân mơ mình bị cướp là cát mộng, ngụ ý sắp được thả.
Ngư dân mơ mình gặp hải tặc thì nên thận trọng, chú ý kẻ thù sắp tấn công.
Ngư dân mơ đồ của mình bị hải tặc cướp đi thì sẽ đột nhiên phát tài, ra khơi cá sẽ đầy khoang.
Mơ thấy đánh nhau với kẻ cướp là bạn sẽ có những người bạn mới trung thành đáng tin cậy và kết giao với họ.
Sinh dữ - tử lành, liệu có đúng? Ai trong chúng ta cũng ít nhất một lần mơ thấy người chết. Và chúng ta thường lo nghĩ rằng liệu đây là điềm báo tốt hay xấu. Thực tế là có rất nhiều loại giấc Mơ thấy mình kết bạn với kẻ cướp thì lúc gặp khó khăn sẽ được bạn bè đồng tình.
Nếu mơ mình bị giết, tự sát hoặc thậm chí bị chém đầu thì phải hồi tưởng lại cảm giác của toàn bộ quá trình trong giấc mơ. Rất nhiều người mơ mình bị chết nhưng người đã chết lại như chưa chết. Giấc mơ này pảhn ánh nội tâm hoặc nguyện vọng của bạn. Có thể bạn muốn thoát khỏi tình hình khó khăn hiện tại.
Mơ mình bị chết và người đồng hành vô cùng đau khổ ám chỉ sắp tới bạn sẽ gặp khó khăn khiến nội tâm trở nên căng thẳng.
Lichngaytot.com Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Bích Ngọc (##)
Người ta yêu nhau, đến với nhau được là do duyên phận, vì thế đừng vội buồn khi mình cô đơn và khi duyên đến rồi, cũng đừng vứt bỏ.
Trên đời này, không thiếu những cuộc tình dang dở. Có những mối tình sâu đậm kéo dài nhiều năm nhưng cuối cùng lại kết thúc, chẳng đi đâu về đâu. Thậm chí, có cô gái tưởng kết hôn đến nơi rồi lại đột ngột đứt gánh giữa đường.
Hay có những cô gái mải mê phấn đấu sự nghiệp, lớn tuổi rồi mà lỡ dở tình duyên. Đến khi ngoảnh lại, tuổi đã chơi vơi mà mảnh tình vắt vai chưa có.
Tất cả những điều này, đều là do duyên chưa đến.
Con người gặp và yêu nhau là do duyên phận. Nhưng duyên phận lại là điều vô cùng kỳ lạ, không ai có thể hiểu thực sự về nó. Có thể hữu duyên vô phận. Có thể yêu nhau, nhớ nhau nhưng không thể gần nhau. Không cố ý đeo đuổi thì lại có, cố gắng có khi lại chẳng thành.
Người ta thường có thói quen cầu xin Phật để tìm được người yêu, nhưng Phật dạy rằng, dù cầu xin cũng chỉ là xin duyên xin phận chứ không thể xin người. Mà duyên ấy là do người tự cầu phúc, tự tạo ra, Phật chỉ kết nối chứ không thể ban cho. Thế gian biển người mênh mông, người với người gặp nhau là duyên tiền định, yêu nhau là phận kiếp trước, bên nhau là trả nợ đời đời.
Thế gian trăm ngàn mối duyên, chỉ có một mối duyên thực sự dành cho mình. Phật giáo tin rằng, tu trăm năm mới cùng chung thuyền, tu ngàn năm mới chung chăn gối, mối duyên vợ chồng là mối duyên phải vun đắp, cố gắng thật nhiều mới có được.
Vì thế, phụ nữ có muộn duyên tình chớ có quá đau buồn. Chưa gặp người ưng ý là do bản thân tu chưa đủ phúc, duyên chưa đủ sâu. Tuổi tác lớn không phải vấn đề, chưa gặp đúng người thì chưa thể gọi là muộn. Chỉ có bỏ lỡ mối duyên đích thực mới thật sự là muộn màng. Người sống trên đời, ấm lạnh chỉ có bản thân hiểu rõ nhất, đừng vì áp lực bên ngoài mà sống trái với lòng, yêu lầm cưới sai. Như vậy không chỉ kiếp này khổ mà còn kết nghiệt duyên, liên lụy tới kiếp sau, nhất định phải trả giá. Lãng phí duyên kiếp này, tạo nghiệp báo kiếp sau, đừng vì một chốc lát cô đơn mà đánh đổi.
Mỗi vị trí nốt ruồi trên cơ thể mang một ý nghĩa khác nhau có ảnh hưởng tới cuộc đời hay vận mệnh của bạn. Có thể là một điềm báo xấu hoặc tốt đối với vận mệnh của bạn. Mỗi nốt ruồi ở chân mang một ý nghĩa khác nhau, có thể là mang ý nghĩa tốt hay xấ
Xem bói tình yêu và tính cách qua tướng tay nam giới
Đối diện với tình yêu, mỗi người có một thái độ và cách nghĩ khác nhau, sự khác biệt này có thể được phản ánh ngay trên bàn tay. Hiểu được cách nghĩ của đối phương khi xử lý vấn đế trong chuyện tình cảm, há chẳng phải sẽ rất tốt cho mối quan hệ với họ sao? Thông qua việc xem bói tướng tay nam giới sẽ giúp bạn hiểu rõ về mình hoặc người ấy của mình hơn.
Tướng tay giàu sức sống
Những người có hai tay cứng rắn, bàn tay dày dặn, đầu ngón tay như hình cái xẻng, hơi có chút thô kệch. Kiểu người này có sức sống dồi dào. Nếu như đường Sinhmệnh dài kéo xuống gần cổ tay, gò Kim tinh nhô lên đầy đặn, biểu thị là người có thể lực siêu phàm, nhu cầu tình dục của người này cũng rất mạnh mẽ.
Tướng tay có thực lực
Người mà có tỷ lệ giữa bàn tay và ngón tay tương xứng, các gò nổi lên đầy đặn. Kiểu người này có tinh lực dồi dào, xứng đáng là chỗ dựa. Nếu như thêm đường Vận mệnh hoặc đưòng Công danh kéo từ trên xuống thì đây có thể được coi là đấng nam nhi tài giỏi.
Tướng tay dị thường
Trên bàn tay mà đường Tình cảm không cùng một hướng, hỗn loạn, đứt đoạn, phân tán (A). Đường Tình dục (B) hoặc vòng Kim tinh khá nhiều. Kiểu người này khó có thể khống chê ham muốn tình dục. Hơn nữa, nếu như thêm đường Hôn nhân phân tán (D), đường Trí tuệ không rõ ràng (E), đây có thể là kẻ biến thái.
Tướng tay bản năng
Đa số những người có đường Tình cảm (A) quá ngắn, thể hiện tình cảm lộ liễu, không thế không chế tình cảm của mình, là kiểu người bản năng dùng cái tôi làm bản thể. Nếu như có thêm đường Trí tuệ cũng rất ngắn (B), thì đó chính là bàn tay của người xử lý công việc một cách thẳng thắn.
Tướng tay lý luận
Trong xem bói tướng tay người có các ngón tay dài, các khớp rõ ràng, thuộc tướng người theo đuổi lý luận. Nếu như thêm đường Trí tuệ cong kéo dài đi xuống đoạn giữa gò Nguyệt, đây sẽ là người đàn ông rất coi trọng những nhu cầu tinh thần.
Tướng tay cảm thụ
Bàn tay nhỏ dài, đẹp, ngón tay thon dài. Kiểu người này đa tình, thuộc phái người cảm thụ. Nếu đoạn đầu của đường Tình cảm có nhiều đường phân nhánh nhỏ thì đây là người có thể ôn hòa, nhẹ nhàng, đối đãi với người khác thì luôn chi ly tính toán.
Tướng tay thật thà
Bạn thấy những người có ngón tay dài, đầu ngón tay vuông lànhững người thật thà, quy củ, bất luận là công việc hay hẹn hò đều tuân theo quy tắc. Người đàn ông, sau khi ngón tay khép lại ở điểm đầu của đưòng Trí tuệ và đường Sinh mệnh chồng lên nhau là người thận trọng trong tình yêu.
Có rất nhiều kiểu dáng để nói về lông mày, như: Dương My Kiếm Xuất Sao (Lông mày như kiếm rút khỏi bao), My Phi Sắc Vũ (Lông mày như múa), Kiếm My Nhập Mấn (Lông mày như kiếm đâm vào tóc mai). Nga My Đàm Tảo (Lông mày như nét cong mỏng), My Đầu Khẩn
Nghĩ thế là không có từ bi, không có từ bi mà dám nhận nợ của thí chủ, như vậy là ăn gian rồi.
Lâu lắm chúng tôi không có cơ hội về giảng cũng như nhắc nhở sự tu hành cho toàn thể chư Tăng Ni ở khu Đại Tòng Lâm. Hôm nay được ban tổ chức trường hạ Đại Tòng Lâm mời về thăm và nói chuyện với tất cả Tăng Ni và Phật tử nơi đây, tôi liền hoan hỉ chấp nhận.
Vì trước kia Hòa thượng Giám đốc và Phó giám đốc ở Ấn Quang, khi thành lập được khu Đại Tòng Lâm thì chúng tôi có mặt bên cạnh, vâng lời dạy của các ngài phụ giúp phần nào đối với cơ sở này. Giờ đây hai Hòa thượng đã theo Phật, chúng tôi những người còn sót lại tự nhiên cảm thấy bổn phận phải làm sao duy trì gìn giữ ngôi Đại Tòng Lâm này đúng như sở nguyện của hai Hòa thượng.
Tất cả những vị ở Đại Tòng Lâm, hoặc là trường Trung cấp, hoặc là trường Cao cấp, hoặc các Thiền viện do chúng tôi thành lập trong khu vực này đều là Tăng Ni chung của Đại Tòng Lâm, mà cũng là của Phật giáo Việt Nam, chúng ta không thể tách riêng biệt được. Vì vậy khi cần, chúng tôi sẵn sàng đến để nhắc nhở Tăng Ni, Phật tử hiểu biết tu hành cho đúng với chánh pháp.
Mùa an cư này chư Tăng chư Ni về đây an cư là cơ hội tốt để Đại Tòng Lâm càng ngày càng phồn thịnh hơn, sự tu hành càng tinh tiến hơn, đó là điều hết sức quí báu. Vì vậy tôi nghĩ không thể nào chỉ nói suông, tán thán một cách tổng quát như vậy mà cần phải đi sâu vào vấn đề đạo lý, để cho Tăng Ni và tất cả quí vị nghe hiểu có kinh nghiệm thêm trên đường tu hành. Đó mới là điều quí giá. Vấn đề tôi nói hôm nay là hai vấn đề tối hệ trọng của những người tu Phật, đó là trí tuệ và từ bi.
Như chúng ta đã biết đạo Phật là đạo giác ngộ. Đức Phật ngồi thiền định dưới cội bồ-đề mà được giác ngộ. Ngài đi giáo hóa khắp nơi để truyền đạo giác ngộ này. Nhưng sao chúng ta không gọi là đạo giác ngộ mà gọi là đạo Phật. Phật nguyên tiếng Phạn là Buddha, Bud là giác, dha là người. Người giác ngộ đi truyền bá đạo giác ngộ. Nhưng nếu giải nghĩa chữ Phật là giác ngộ thì sợ người ta hiểu lầm. Bởi có những người làm ăn bất chánh không lương thiện, khi có ai nhắc nhở dạy bảo, họ bỏ điều bất chánh trở thành người lương thiện thì người ta sẽ nói anh ấy đã giác ngộ rồi. Giác ngộ đó chỉ có nghĩa là bỏ cái xấu, cái dở để trở thành người tốt thôi. Nếu hiểu đạo Phật theo nghĩa giác ngộ như vậy thì đánh giá quá thấp đạo Phật, làm mất giá trị siêu thoát của đạo Phật. Bởi vậy trong nhà Phật để nguyên từ Phật.
Nói Phật chắc quí vị sẽ có nghi. Tại sao bây giờ chúng ta nói đức Phật mà hồi xưa ông bà tổ tiên chúng ta lại nói là Bụt. Như vậy nói Bụt trúng hay nói Phật trúng? Từ Bụt cho chúng ta thấy đạo Phật được trực tiếp truyền vào Việt Nam từ những vị Sư Ấn Độ. Ngày xưa ở miền Bắc vùng Luy Lâu rất phồn thịnh, các sư người Ấn theo tàu buôn đến đó truyền bá. Các ngài trực tiếp dạy người dân biết đạo Phật, và đức Phật được gọi là Bụt. Bụt nguyên là Bud, đọc trại đi một tí thành Bụt. Đọc Bụt nghe gần hơn, còn đọc Phật nghe xa quá. Vậy đạo Phật có mặt trên đất nước Việt Nam gốc từ người Ấn truyền sang, chớ không phải từ Trung Hoa truyền sang buổi đầu.
Tại sao bây giờ chúng ta đọc là Phật? Ở Trung Hoa từ đời Tống đến đời Minh có in những Tạng kinh dịch từ chữ Phạn, chữ Pali ra chữ Hán rồi tặng cho Việt Nam. Đời Trần được tặng một Tạng kinh và sau này chúng ta cũng có thỉnh thêm những Tạng kinh từ Trung Hoa. Chữ Buddha người Trung Hoa dịch gồm một bên chữ nhân đứng, một bên chữ phất. Như vậy Phật là phát sanh từ chữ Hán mà ta đọc theo âm Việt Nam là Phật hay Phật-đà.
Nói đến đạo Phật là nói đến sự giác ngộ viên mãn tuyệt cùng, chớ không phải sự giác ngộ thông thường của thế gian, vì e người ta hiểu lầm nên để nguyên âm là Phật, chớ không nói là giác ngộ. Giờ đây chúng ta học Phật phải dùng những từ gần thời hiện tại như giác ngộ, trí tuệ để dễ thâm nhập hơn.
Vì vậy chúng ta phải hiểu tường tận gốc của đạo Phật là giác ngộ viên mãn. Nên người tu Phật lúc nào cũng phải thuộc lòng Phật là tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn. Nói đến Phật là nói đến sự giác ngộ viên mãn, tức giác ngộ tròn đầy không thiếu khuyết một góc cạnh nào.
Chúng ta học Phật, tu Phật là tu theo đạo giác ngộ. Mà đạo giác ngộ dĩ nhiên trí tuệ là căn bản không thể nào thiếu được. Người tu theo Phật dù xuất gia hay tại gia cũng phải mở sáng con mắt trí tuệ.
Chúng ta hãy xét lại xem từ ngày phát tâm tu theo Phật đến giờ đã mở sáng trí tuệ được nhiều hay ít? Có người khi nghe đến trí tuệ dường như sợ nên thường xưng Ngu tăng hay Phàm tăng như để nói lên sự khiêm nhường, họ ít nói đến sự giác ngộ.
Mà chưa giác ngộ thì chưa phải tu theo đạo Phật. Ở đây, tôi không nói đến giác ngộ mà chỉ nói trí tuệ. Bởi vì trí tuệ mở màn cho giác ngộ cứu kính.
Chúng ta nhớ lời Phật dạy, người tu phải tự giác và giác tha. Tự giác là mở sáng trí tuệ của mình.
Giác tha là đem trí tuệ đó đánh thức, cảnh tỉnh mọi người cùng giác ngộ. Tự giác là việc của mình. Giác tha là giúp cho người. Giúp cho người là lòng từ bi. Cho nên có giác ngộ rồi mới có từ bi. Chưa giác ngộ mà nói đến từ bi, chỉ là từ bi gượng thôi.
Nếu một vị Tăng đã thấy bổn phận mình phải truyền bá chánh pháp, phải thực hành hạnh từ bi mà không chịu tu, không thức tỉnh, không chịu giác ngộ thì chẳng biết vị ấy sẽ thực hành hạnh từ bi bằng cách nào? Chẳng lẽ chúng ta đi đắp đất, cuốc đường hay hốt rác cho thiên hạ. Từ bi như vậy người phàm tục cũng làm được mà. Vậy từ bi trong đạo Phật là thế nào? Tôi sẽ nói rõ hơn vấn đề này ở phần sau.
Bây giờ trở lại phần trí tuệ. Trí tuệ mà Phật dạy cho Tăng Ni là ba môn tuệ học: Văn tuệ, Tư tuệ và Tu tuệ.
Văn tuệ là như thế nào? Chúng ta đến với đạo, tự mình làm sao giác được. Nên phải nhờ những người đi trước như bậc thầy, các hàng Tôn túc đã tu, đã học, đã mở được đôi phần trí tuệ hướng dẫn, chỉ dạy cho chúng ta từ từ mở con mắt trí tuệ. Nhờ lắng nghe những lời chỉ dẫn, giảng dạy ấy mà chúng ta mở được con mắt trí tuệ của mình là Văn tuệ. Người tu cất thất ở riêng, không học hành gì hết chắc chắn sẽ không có Văn tuệ. Không có Văn tuệ mà tu thì chỉ là tu mù. Những người tu này khi chỉ dạy cho kẻ khác thì cũng chỉ dạy một cách mù quáng mà thôi. Trong kinh Phật nói: “Một người mù dẫn một đám mù, người mù đi trước sụp hầm, những kẻ mù theo sau cũng té xuống hầm luôn.” Người học Phật mà thiếu Văn tuệ không thể được.
Trong kinh A-hàm Phật dạy: Người cư sĩ đến chùa đầu tiên phải gặp Tăng Ni. Gặp Tăng Ni để thưa hỏi Phật pháp chớ không phải để cúng cầu an cầu siêu, như vậy là Văn tuệ. Sau khi nghe chư Tăng Ni dạy Phật pháp rồi phải suy gẫm lời thầy dạy có đúng với kinh Phật không, có đúng với lẽ thật chân lý không? Nếu đúng mới tin, còn dạy sai dạy lầm thì không tin. Cho nên Tư tuệ hết sức thiết yếu. Sau khi suy tư nghiệm thấy đúng kinh Phật, đúng chân lý rồi mới tu. Phật dạy cư sĩ còn như vậy huống là tu sĩ xuất gia mà lại thiếu Văn, Tư, Tu. Thế mà có nhiều tu sĩ cứ tự tu không cần học với ai cả thì thật sự hết sức sai lầm.
Tư tuệ là như thế nào? Phật dạy chúng ta nghe rồi phải suy gẫm, suy gẫm đó chính là tư duy, phải là chánh tư duy. Nếu nghe dạy chúng ta tin mà không hiểu, thì tin đó chưa phải là chánh. Cần phải suy gẫm cho đúng, hiểu cho đúng mới gọi là chánh.
Hồi xưa lúc còn làm Tăng sinh, tôi cũng học như quí vị. Những gì tôi không hiểu thì tôi hay nghi, nghi thì phải tra tìm. Những năm Sơ đẳng, tôi học lý nhân quả luân hồi kỹ lắm, nhưng khi học cổ sử Ấn Độ tôi thấy lý nghiệp báo luân hồi không phải mới có từ thời đức Phật, mà đã có từ thời Áo nghĩa thư của Ấn Độ, tức trước Phật cả mấy trăm năm. Biết được vậy tôi rất buồn, tôi nghĩ Phật đã giác ngộ rồi sao không lựa điều gì mới, mà lại lấy cái cũ của người ta đem ra dạy mình.
Có lần tôi đọc cuốn sách của một số học giả phê bình rằng: “Đạo Phật ăn cắp lý nghiệp báo của Áo nghĩa thư làm của mình.” Đọc đến đó tôi thấy xót quá, khó chịu quá. Đức Phật của mình sao lôi thôi vậy, của người ăn cắp đem làm của mình thì thật là buồn. Lâu nay chúng ta tin rằng đức Phật giác ngộ viên mãn thì những gì Phật dạy đều từ trí tuệ giác ngộ của Ngài lưu xuất. Thế sao lại ăn cắp của người ta đem làm của mình, tôi không bằng lòng như vậy.
Khi lên Trung đẳng, rồi Cao đẳng tôi đã tra hết các bộ kinh A-hàm trong Hán tạng. Đọc một lần chưa thấm, đọc hai lần rồi ba lần, tôi có nguồn an ủi. Trong một bài kinh đức Phật dạy: “Khi Ngài chứng được Thiên nhãn minh rồi, nhìn lại thấy chúng sanh bị nghiệp dẫn luân hồi sanh tử giống như người đứng trên lầu cao nhìn xuống ngã tư đường, thấy kẻ đi đường này, người đi đường kia một cách rõ ràng không nghi.” Như vậy sở dĩ Phật nói luân hồi nhân quả hay nghiệp dẫn luân hồi là Ngài thấy rõ ràng, chớ không phải ăn cắp như người ta nói xấu.
Rồi lần lần tôi lại thấy ra, trong Áo nghĩa thư có nói về nghiệp báo luân hồi nhưng chưa phân tích rõ ràng. Nên khi đạo Bà-la-môn kế thừa tinh thần của Áo nghĩa thư, mới đặt ra bốn giai cấp. Trong đó Bà-la-môn được sanh ra từ đầu của Phạm Thiên nên được kính trọng nhất, còn các giai cấp khác được sanh từ ngực, từ bụng, từ bàn chân nên không được kính trọng bằng. Sự phân chia giai cấp này khiến người dân càng khổ, đó là điều thứ nhất.
Điều thứ hai, dù họ nói nghiệp báo luân hồi nhưng phải nhờ các vị Bà-la-môn cầu cúng thì mới hết nghiệp hết tội. Hoặc phải mở những hội tế đàn nào là trâu, dê cúng cho nhiều thì mới hết tội. Cả hai điều này đều bị Phật bác hết. Về mặt giai cấp, Phật bảo không có giai cấp khi mọi người máu cùng đỏ và nước mắt cùng mặn như nhau, nên mọi người đều bình đẳng.
Kinh kể hôm nọ Phật ở trong rừng với đệ tử, một số thầy Bà-la-môn đến hỏi Phật:
– Thưa ngài Cù-đàm, đệ tử Ngài chết Ngài cầu cho họ sanh về cõi lành được không?
Phật không trả lời mà chỉ hỏi lại:
– Đệ tử các ông chết các ông cầu cho họ sanh về cõi lành được không?
Các vị Bà-la-môn đáp:
– Được.
Lúc đó Phật nói thí dụ:
– Như nơi một giếng sâu, có người ôm cục đá bỏ xuống giếng rồi nhờ các ngài cầu cho nó nổi, đừng chìm được không?
Các vị Bà-la-môn đều lắc đầu, Phật hỏi tiếp:
– Có người cầm chai dầu đổ xuống giếng, rồi nhờ các ngài cầu cho dầu chìm xuống đáy giếng được không?
Các vị Bà-la-môn cũng lắc đầu, Phật nói:
– Cũng vậy, người làm nghiệp lành sẽ sanh cõi lành giống như dầu nhẹ nổi lên, dầu các vị có ác ý cầu cho xuống địa ngục họ cũng không xuống. Ngược lại người làm dữ phải đi xuống giống như đá, dầu các vị có thiện cảm chấp tay cầu nguyện cũng không nổi lên được.
Vậy đức Phật chấp nhận cầu nguyện hay chấp nhận nghiệp? Nghiệp lành, nghiệp dữ đưa mình lên hoặc lôi mình xuống, chớ không phải cầu nguyện mà được lên hoặc xuống. Đức Phật thấy rõ về nghiệp, cho nên Ngài biết manh mối nào đưa chúng sanh tới cõi lành, manh mối nào đưa chúng sanh tới cõi dữ.
Trong nhà Phật dạy chúng ta có Ngũ thừa là: Nhân thừa, Thiên thừa, Thanh văn thừa, Duyên giác thừa và Bồ-tát thừa. Nhân thừa là sanh trở lại làm người, Phật dạy tu giữ năm giới. Năm giới nếu giữ toàn vẹn bảo đảm người đó đời này làm người, đời sau chết trở lại làm người. Tu Thập thiện, sau khi mạng chung sẽ sanh lên cõi trời. Mỗi một nhân đưa tới một quả, Phật thấy tường tận rõ ràng như thế. Còn Áo nghĩa thư của Bà-la-môn giáo nói nghiệp báo không phân biệt rành rõ, chưa biết cái gì nhân cái gì quả nên chưa thấu đáo. Do đó nên biết Phật nói nghiệp, nói luân hồi là vì Ngài thấy tường tận, chớ không phải ăn cắp của người làm của mình. Khi thấy rõ như vậy, tôi không còn nghi, không còn mặc cảm nữa.
Đức Phật rất khoa học, từ thời Áo nghĩa thư đã có thuyết nghiệp, luân hồi. Sau Ngài tu thấy điều đó đúng nên cũng thừa nhận. Nhưng khác hơn là Ngài vạch rõ từng phần chi tiết, thế nào là nhân, thế nào là quả, Ngài phân tích rành cho chúng ta. Đó là tinh thần khoa học chớ không phải học lóm. Từ đó về sau tôi mới hài lòng, đức Phật không phải dở như người ta nói.
Nói về lý nghiệp báo luân hồi, sau khi suy tư kỹ càng, tôi thấy đó là một chân lý không chối cãi được. Ai có nói gì cũng không lay chuyển được tôi, vì đó là một sự thật. Tại sao tôi tin như vậy? Bởi kinh nghiệm từ những việc bên ngoài, cho tới bản thân mình tôi thấy rõ như vậy.
Luân hồi là gì? Luân là bánh xe, hồi là xoay tròn. Bánh xe xoay tròn lên xuống, lên xuống cứ đảo đi lộn lại hoài. Đối với ngoại vật, chúng ta đặt câu hỏi trái đất có xoay tròn không? Trái đất cứ xoay tròn, xoay tròn, vậy nên trái đất luân hồi. Đến con người, chúng ta thấy máu từ tim chạy ra các mạch, rồi từ các mạch trở về tim, cứ như vậy đảo đi lộn lại hoài, đó là luân hồi. Rõ ràng con người đang luân hồi, quả đất đang luân hồi, vậy chết có luân hồi không? Tôi nói hai phần:
1- Vật chất: Thân chúng ta gồm tứ đại tức bốn chất đất, nước, gió, lửa hợp thành. Những gì là đất? Tóc, lông, gân, móng, da, thịt, răng, xương… những thứ cứng là đất. Những gì là nước? Mồ hôi, máu mủ tức chất ướt là nước. Những gì là gió? Hơi thở vào ra, vào ra là gió. Những gì là lửa? Hơi ấm trong người là lửa, cầm hai tay chà một hồi ấm lên, đó là phát ra lửa.
Đất nước gió lửa sẵn trong con người chúng ta, khi chết bốn thứ đó đi đâu? Nhẹ nhất là hơi thở, lúc sống hít vô trả ra, khi trả ra mà không hít lại là chết. Vậy chúng ta trả ra chớ không phải hết, không phải mất. Thứ hai là hơi ấm trong người, chúng ta chết rồi nó cũng tan vào hư không, theo luồng hơi ấm trong nắng trong lửa, trở về với lửa. Đến đất, nước khi chết thân này nứt nẻ nước tuôn ra, rồi tới đất rã. Nước theo mạch chảy đi khắp nơi cũng không mất, đất cũng trả về đất không mất. Như vậy tứ đại mất đi chỉ mất cái giả tướng duyên hợp, chớ bản chất nó đâu có mất.
2- Tinh thần: Tứ đại không mất thì tinh thần có mất được không? Tinh thần đi theo nghiệp duyên của nó. Ví dụ nước từ thể lỏng đổ vào trong nồi nấu, nước sôi bốc hơi rồi cạn. Nước cạn người ta nói hết nước, nhưng thật ra nước bốc thành hơi bay lên, gặp lạnh đọng lại thành nước rơi trở xuống. Hoặc lấy một ly nước để trong tủ lạnh thì nó sẽ đặc thành thể cứng. Như vậy nước không mất mà có thể chuyển biến từ thể lỏng thành hơi hoặc thể rắn. Nước để ở nhiệt độ vừa chừng, không nóng quá, không lạnh quá thì nước còn hoài.
Cũng vậy người tu có duyên lành nhiều, nghiệp lành nhiều khi nhắm mắt sẽ đưa tới cõi lành, tức lên. Ngược lại nghiệp dữ nhiều sẽ đưa tới chỗ dữ, tức xuống. Nếu tư cách con người tốt, vị lai trở lại làm người, như nước giữ quân bình không lạnh nóng thì ở thể lỏng hoài. Phật dạy Nhân thừa là do giữ đúng năm giới nên đời này làm người đời sau cũng được làm người. Như nước y nguyên nhiệt độ đừng cao đừng thấp thì bao nhiêu nước còn nguyên bấy nhiêu. Đó là một lẽ thật không nghi ngờ gì.
Chúng ta khi ra đời còn trẻ, đáng lẽ ham danh lợi tài sắc ở thế gian, nhưng tại sao lại ham tu? Như vậy do trong nghiệp từ quá khứ của chúng ta còn lưu lại. Như tôi khi chưa đi tu, mỗi lần qua chùa nghe tiếng chuông, thấy xôn xao trong lòng quá. Cái gì làm cho mình bất an, nếu không phải là chủng tử trước kia?
Mỗi khi chúng ta ra đời, nghiệp từ quá khứ còn lưu lại trong con người hiện tại chớ không phải mất. Nếu chúng ta nhìn vào một lớp học thì biết rõ sự sai biệt, người giỏi về văn, người giỏi về toán v.v… Thầy cô dạy như nhau nhưng điểm riêng biệt của mỗi học trò lại khác. Điểm đó ở đâu ra? Chẳng qua chủng tử từ quá khứ còn lưu lại nơi mỗi người, nên không ai giống ai. Nếu nói do thầy cô dạy mới biết, thì tại sao không biết như nhau mà lại có sự sai lệch. Rõ ràng do chủng tử từ quá khứ chớ không phải ngẫu nhiên. Như những vị thần đồng chưa học mà đã biết, đâu do ai dạy. Đó là chủng tử quá khứ còn nguyên vẹn chưa mất nên ra đời nhớ lại liền. Vậy luân hồi là một lẽ thật, không phải là một nghi vấn nữa.
Khi học Phật, chúng ta cần phải suy tư, chớ không chỉ nghe bao nhiêu biết bao nhiêu thôi. Phải tìm, phải gẫm cho tới nơi tới chốn, như vậy chúng ta mới đủ lòng tin Phật. Do đó Tư tuệ là một điều hết sức thiết yếu.
Tu tuệ là như thế nào? Tư chí lý rồi đến tu rất dễ, không còn nghi ngờ gì nữa. Nhờ nghe hiểu, suy gẫm và biết cách ứng dụng những pháp mình đã học được vào đời sống tu hành, thấy có lợi ích. Đây chính là Tu tuệ. Ba vấn đề Văn, Tư, Tu đều là trí tuệ. Trí tuệ từ thầy ban cho, trí tuệ do mình suy gẫm, trí tuệ do mình cố gắng thực hành, cho nên ba Tuệ học ấy không thể thiếu được.
Nhà Phật nói trí tuệ có hai phần: Một là Hữu sư trí, tức trí học nơi thầy như Văn Tư Tu. Hai là Vô sư trí, tức trí sẵn có của mình, không do học. Đó là Tam vô lậu học, tức ba môn học giải thoát Giới, Định, Tuệ. Giới là đức hạnh, Định là thiền định, Tuệ là trí tuệ. Nhờ giữ được giới nên thiền định không bị xao xuyến. Vì vậy giới trước rồi định sau. Nhờ thiền định nên Trí vô sư phát sanh là tuệ.
Tại sao thiền định được Trí vô sư? Khi thiền không nghĩ gì cả nên được định, được định nên trí sáng giác ngộ, đó là trí không thầy. Trong kinh có kể lại: Đức Phật sau khi thành Phật rồi, Ngài tuyên bố ta học đạo không thầy. Bởi vì bốn mươi chín ngày đêm ngồi dưới cội bồ-đề Ngài không học với ai cả, mà nhờ định nên được giác ngộ. Vì vậy nói Ngài học đạo không có thầy.
Phật giác ngộ viên mãn Trí vô sư, ngày nay chúng ta tu muốn giải thoát sanh tử cũng phải đi tới Trí vô sư đó, nên nói Giới, Định, Tuệ là ba pháp môn tu được giải thoát. Chữ Vô lậu là không còn rơi, không còn rớt lại Tam giới nên gọi là giải thoát sanh tử. Như vậy người học Phật phải đủ trí tuệ, từ Hữu sư trí rồi tiến tới Vô sư trí. Hữu sư trí là nhờ học, Vô sư trí là nhờ tu. Đó là hai phần hết sức rõ ràng.
Điều hệ trọng thứ hai là từ bi. Bởi vì chúng ta không có quyền nghĩ mình tu để hưởng an lạc một mình. Tại sao? Đức Phật ngày xưa chủ trương đi khất thực là vì sao? Khất thực tức là gieo duyên với chúng sanh. Tôi nói là lãnh nợ của chúng sanh. Nếu chúng ta tu mà đối với mọi người không có liên hệ, không trao qua đổi lại thì không có gì dính dáng. Mà không có dính dáng thì giáo hóa họ không được, nên Phật dạy tu sĩ phải nhận của đàn-na thí chủ cúng dường. Có những thí chủ rất nghèo cúng dường nhưng chúng ta cũng phải nhận. Nhận để chi? Để người đó gởi mình, mình nhận nợ.
Nên từ gieo duyên là nói cho đẹp, thật ra chúng ta nhận nợ. Có nợ thì mới gặp lại để đền trả.
Trả nợ có hai cách:
Nếu chúng ta không tu không đủ phước đức thì phải mang lông đội sừng để trả nợ. Nếu chúng ta tu hành có đủ phước đức thì trả bằng cách làm thầy. Bây giờ tôi cũng đang trả nợ đó. Bởi vì chúng ta đều có duyên có nợ với nhau nên mới gặp nhau, còn không duyên không nợ thì không gặp. Gặp để chúng ta giáo hóa, chúng ta chỉ dạy người có duyên với mình. Vì vậy người tu đều phải phát tâm từ bi nhận tất cả những gì của Phật tử gởi gấm. Không phải nhận vì ích kỷ, mà nhận để có duyên hay có chút nợ nần với nhau, hầu giáo hóa giúp đỡ trên đường đạo.
Người xuất gia do Phật tử ủng hộ, nếu hiểu đạo rồi lo tu cho giải thoát, về Cực lạc, bỏ mọi người ở lại ra sao thì ra, như vậy có hơi nhẫn tâm không? Mình tu giải thoát nhập Niết-bàn không bao giờ trở lại nữa, những người cúng cho mình thấy chúng ta nhập Niết-bàn, bỏ họ bơ vơ buồn khổ, thật tội nghiệp cho họ. Vì vậy với tinh thần Phật giáo Đại thừa, người tu không nỡ nhập Niết-bàn liền, mà phải đi đi lại lại trong cõi thế gian này để giáo hóa, để trả nợ. Đến chừng nào thí chủ của chúng ta hiểu được tu tập được, mình mới yên.
Thí dụ như trong Tứ quả Thanh văn, chúng ta được quả thứ ba là A-na-hàm, thì ít ra đệ tử của mình cũng được quả thứ nhất là Tu-đà-hoàn. Nếu mình tới Bồ-tát Thập trụ, thì đệ tử cũng tới Thập tín mới được. Khi tu thiên hạ nuôi, đến thành tựu chúng ta lại hưởng một mình, như vậy có buồn không? Giả sử tôi là quí Phật tử, tôi cũng không chấp nhận điều đó nữa. Quí thầy ăn gian quá đâu được. Vậy mà có người tha thiết tu một đời này để về Cực lạc cho rồi, ở đây khổ quá. Về bên đó vui có một mình, bỏ người ta ở đây khổ, ai mà đành lòng. Thôi thì cùng ở với nhau nhưng ở trong sự tỉnh giác chớ không phải trong cái mê mờ, nhớ như vậy.
Tinh thần từ bi của đạo Phật dạy chúng ta phải làm sao đem lại cho mọi người ánh sáng đạo lý, để cho họ biết được lẽ chân thật, không tạo những điều đau khổ, luôn luôn tiến tới chỗ an vui. Lòng từ bi chúng ta không thể nói suông mà phải được thể hiện cụ thể. Muốn thể hiện lòng từ bi chúng ta phải thực hành hạnh bố thí: bố thí tài, bố thí pháp, bố thí vô úy. Phải đem của cải, hoặc đem chánh pháp mình hiểu hoặc đem sự tốt lành cao quí an ủi người đau khổ. Đó mới thể hiện lòng từ bi.
Bố thí tài phần lớn dành cho cư sĩ Phật tử vì họ làm ra tiền. Họ mới có điều kiện giúp đỡ người nghèo khổ. Còn các sư có làm ra xu con nào đâu? Nếu có chăng cũng ăn mày của đàn-na thí chủ chớ đâu phải tự mình có tiền lương mỗi tháng. Hàng Phật tử cũng có người làm ra tiền của, có người nghèo cháy da, vậy làm sao bố thí? Nên Phật dạy tài thí có hai phần ngoại tài và nội tài.
Người Phật tử muốn thể hiện lòng từ bi mà không có tiền bạc giúp cho người nghèo đói thì đem công sức của mình ra giúp. Người có tiền tới chùa cúng, người không tiền vào chùa làm công quả. Người có tiền cho tiền, người không tiền ra công đi ủy lạo, khuân vác cũng là bố thí. Nên hiểu có tiền mới bố thí được là lầm. Đem của bố thí là ngoại tài, đem công bố thí là nội tài, như vậy có ai không làm được hạnh bố thí đâu.
Bố thí pháp là phần của Tăng Ni. Tăng Ni tu thấy được cái hay, cái cao quí của Phật pháp, đem sự hiểu biết đó ban rải cho Phật tử cùng biết cùng hiểu như mình. Đem pháp mình đã tu học được, chỉ dạy cho người khác gọi là bố thí pháp.
Bố thí tài, bố thí pháp cái nào tốt hơn? Bố thí tài chỉ giúp người bớt khổ trong giai đoạn hiện tại. Còn bố thí pháp chẳng những giúp người hết khổ trong hiện tại mà mãi về sau cũng không còn khổ nữa, đó là điểm sâu xa.
Ví dụ chú đạp xích lô có một vợ hai con, mỗi ngày chạy xe kiếm được hai ba chục ngàn nuôi vợ nuôi con. Nhưng nếu chiều vô quán nhậu hết thì vợ con đói khổ. Người hàng xóm thấy thương, đem ít lít gạo lại cho, đó là bố thí tài. Rồi mai chú đạp xe có tiền cũng nhậu hết như vậy thì sao, cho đến chừng nào mới đủ, chừng nào gia đình mới ấm no. Bây giờ có một thầy, một cô nào đó sáng suốt tới khuyên chú, nói với chú uống rượu có hại gì, bệnh hoạn ra sao, rồi vì uống rượu mà không đủ tiền nuôi vợ con, làm vợ con đói khổ. Chú nghe hiểu, thức tỉnh bỏ rượu. Như vậy chúng ta chỉ nói chuyện một giờ, nửa giờ mà chú thức tỉnh bỏ rượu. Từ đó làm được bao nhiêu tiền chú đem về nuôi vợ con. Như vậy bố thí pháp không có cạn hết. Chỉ dùng lời nói, lý lẽ chân thật khuyên chỉ người, khi người tỉnh ngộ rồi gia đình hết khổ. Còn nếu cho tiền cho cơm hằng ngày, thì họ chỉ hết khổ tạm rồi mai mốt sẽ khổ nữa. Như vậy cái nào hơn?
Có kẻ cho rằng người tu Phật tiêu cực quá, nhất là Tăng Ni không chịu làm phước, làm việc xã hội, cứ đi nói pháp hoài. Những người tích cực làm việc này, việc kia giúp cho đồng bào rất dễ thấy, còn người nói pháp xem như không có lợi ích gì. Nhưng thật tình việc này lợi rất lớn. Nên trong hai thứ bố thí: bố thí tài và bố thí pháp thì bố thí pháp là hơn.
Bố thí pháp là đem lòng từ bi của mình chỉ dạy nhắc nhở mọi người biết tu, chỉ dạy nhiều chừng nào tốt chừng ấy. Giả sử tôi có mười ngàn đồng muốn đem bố thí, nếu tôi cho mỗi người một ngàn đồng, thì cho mười người là hết. Còn tôi bố thí pháp thì có một trăm người, tôi cũng bố thí trọn đủ hết. Vậy bố thí pháp là bất tận. Chúng ta học đạo phải học cái bất tận, còn những việc có chừng mực, có giới hạn chúng ta làm một phần nhỏ thôi, gốc là phải bố thí pháp. Muốn bố thí pháp, chúng ta phải có học có tu và có lòng từ bi. Vì vậy từ bi sau trí tuệ. Hai việc đó không tách rời nhau.
Bố thí vô úy là sao? Vô úy là không sợ. Chúng ta mang tới cho người niềm an ổn không sợ hãi. Không sợ này có nhiều thứ: Sợ ma, sợ rắn, sợ cọp… đủ thứ sợ.
Thí dụ đối với người sợ ma, chúng ta muốn cho họ khỏi sợ, phải giải thích cho họ hiểu ma không đáng sợ. Phật dạy trong lục đạo luân hồi: địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh, người, a-tu-la, trời, thì ngạ quỉ là loại quỉ đói đứng thứ hai, người cao hơn ngạ quỉ hai cấp. Mình cao hơn nó mà lại sợ nó thì vô lý quá. Chẳng lẽ ông Tỉnh trưởng lại sợ người dân, người lại sợ ma thì thật ngu khờ. Giải thích cho người biết và hết sợ đó là bố thí vô úy.
Như có người sợ chết, chúng ta phải giảng giải cho họ hiểu chết là một lẽ đương nhiên thôi, ai rồi cũng phải chết. Phật chết, Bồ-tát chết, chư Thánh tăng chết, Phàm tăng, Phàm ni chết, cư sĩ chết. Đó là chuyện thường, phải chi có người không chết thì mình sợ, ai cũng chết hết thì có chi mà sợ. Giải thích có căn bản cho người ta hiểu, hiểu rồi thì không sợ. Đó là bố thí vô úy. Như vậy, bố thí pháp trùm cả bố thí chánh pháp và bố thí vô úy luôn.
Nghĩ thế là không có từ bi, không có từ bi mà dám nhận nợ của thí chủ, như vậy là ăn gian rồi. Đó là điều không hợp lý. Nhập thất tu để sáng đạo thì được, nhưng cũng phải đi giáo hóa, chớ không được đóng cửa suốt đời.
Hồi xưa học luật, Phật dạy thầy Tỳ-kheo không nên đi dép da vì làm tổn thương lòng từ bi. Nhưng khi thấy Bồ-tát Văn-thù cỡi sư tử, Bồ-tát Phổ Hiền cỡi voi… tôi sanh ra thắc mắc. Tại sao các Ngài không đứng trên cụm mây thôi được rồi. Lại cỡi sư tử cỡi voi, như vậy các Ngài có từ bi không? Sau khi tra cứu hiểu ra rồi tôi mới thấy có lý. Vì đức Phật Thích-ca là vị Giáo chủ cõi Ta-bà, mà dân cõi Ta-bà này thì cang cường nan điều nan phục. Muốn điều phục được phải có trí tuệ vượt bực, nên vị Bồ-tát phụ tá thứ nhất cho đức Phật là Văn-thù.
Văn-thù tượng trưng cho Căn bản trí. Ngài ngồi trên lưng sư tử để biểu trưng rằng chỉ có trí tuệ mới hàng phục được ma quân, chỉ có trí tuệ mới giáo hóa được chúng sanh cang cường này. Đó là ý nghĩa hết sức thâm trầm. Song vì chúng sanh cõi này cứng đầu quá, dùng trí tuệ dạy họ, rồi ít bữa cũng trở lại y cũ, thì làm sao đây. Vì vậy phải có đại nguyện đại hạnh, cho nên bên trái của đức Phật vị Bồ-tát phụ tá thứ hai là Phổ Hiền cỡi voi. Vì hạnh lớn mạnh nên tượng trưng cho voi. Voi sáu ngà nghĩa là đem pháp giáo hóa chúng sanh không biết mệt mỏi. Như vậy các hình tượng ấy mang ý nghĩa đức Phật vào cõi Ta-bà giáo hóa phải có đủ trí tuệ vượt bực, hạnh nguyện to lớn mới giáo hóa được. Nếu không sẽ dễ thoái chuyển, dễ chán lắm.
Đức Phật Di-đà thì bên phải có Bồ-tát Quan Thế Âm, bên trái có Bồ-tát Đại Thế Chí. Đức Phật Di-đà ở cõi Cực lạc là chỗ sạch vui. Muốn sang Ta-bà là chỗ uế trược độ chúng sanh, phải có lòng từ bi tràn trề, nên tượng trưng cho Bồ-tát Quan Thế Âm. Vì chúng sanh khó độ nên chúng ta thấy vẽ tượng đức Phật Di-đà ở trên mây duỗi tay xuống, còn chúng sanh đang trồi hụp dưới biển mà không chịu trồi đầu lên đưa tay cho Phật vớt, cứ hụp lặn ở dưới hoài. Vì vậy muốn không thối tâm phải có đại chí tức là chí cứng rắn vững vàng. Dù cho nó khó, nó mê, nó đắm say ngũ dục cũng ráng chờ vớt nó lên. Nếu không có chí lớn thì chán lắm.
Thí dụ trong hoàn cảnh xã hội của chúng ta, có người khá giả thấy những đứa trẻ bụi đời lang thang ở góc phố này góc chợ kia muốn gom lại nuôi dạy. Từ một người giàu có, bây giờ cất trại về ở với mấy thằng nhỏ khó dạy như vậy thì phải hi sinh sự ổn định của mình, chấp nhận cảnh khổ. Do đó phải có lòng từ bi trước, lòng từ bi thật rộng lớn mới làm được việc đó. Mấy đứa nhỏ đem về dạy có dễ đâu. Nhiều khi nó muốn thoi lại mình nữa. Nó là dân bụi đời, mình thương muốn dạy dỗ nó, nhưng nó lại không biết gì, không mang ơn mà còn cự cãi với mình. Nếu không có ý chí vững bền sắt đá thì không thể nào làm được.
Nên tôi nhắc Tăng Ni phải có tâm biết thương những người chờ đợi mình, trông ngóng mình. Học rồi đem sự hiểu biết chánh pháp đó giáo hóa được năm bảy người, thì phước đức cũng lớn lắm. Do đó quí vị thấy trách nhiệm chúng ta không phải đơn giản. Không phải lo cho mình có địa vị cao, có chức tước lớn là hay. Mà phải làm sao thực tế đời mình đem lợi ích thiết thực cho Phật tử, cho mọi người. Đó mới là giá trị thật đáng quí. Mong tất cả Tăng Ni ở đây hãy nhớ lấy điều này, mà đem hết tâm nguyện phụng sự chúng sanh để đền ân chư Phật.
Khi dọn nhà đến nhà mới, nếu bạn là một người đã có gia đình thì người vợ trong gia đình nên cầm 1 cái gương tròn đem vào nhà trước. Tiếp theo là người chồng bưng bát nhan(nồi hương) bàn thờ tổ tiên vào trong nhà, rồi mới lần lượt sau đó đem bếp lửa,
Nếu nhà không có đàn ông thì người mẹ mới bưng bát nhang tổ tiên vào nhà. Sau đó các con đêm các đồ khác vào sau.
Nên dọn dẹp chuyển hết đồ đạc vào bên trong nhà rồi mới tiền hành dọn cúng sau.
Và một điều cần lưu ý khi vào nhà mới thì mọi người ai cũng phải cầm một thứ gì đó trên tay, không được đi tay không vào nhà. Tuổi dần thì nghiêm cấm phụ dọn nhà kể cả phụ nữ có thai cũng không được.Trong giờ tốt, gia chủ tự tay cầm tiền bạc nữ trang, tài sản quý giá cất vào tủ.
Và nếu bạn đi đám nhà mới hay còn gọi là Tân gia, bạn nên mua theo một số vật dụng trong gia đình đến tặng bạn bè, những thứ vật dụng như soong nồi, chén bát, nó có ý nghĩa mang lại sự sung túc cho gia đình gia chủ.
CÁC LỄ VẬT CÚNG NHÀ MỚI
Khi cúng động thổ, quý vị hãy chuẩn bị các lễ vật sau : ngũ quả ( là 5 loại trái cây ), bông tươi, nhang đèn,1 bộ tam sên ( 1 miếng thịt luộc, 1 con tôm luộc, 1 trứng vịt luộc ), xôi thịt, 3 miếng trầu cau ( đã têm ), giấy vàng bạc, 1 dĩa muối gạo, 3 hũ nhỏ đựng muối-gạo-nước. Sau khi cúng xong, đốt giấy vàng bạc và rải muối gạo hãy động thổ. Riêng 3 hũ muối-gạo-nước thì cất lại thật kỹ. Sau này khi nhập trạch thì đem để nơi Bếp, nơi thờ cúng Táo Quân. Nhớ mỗi kỳ đổ mái -đổ thêm tầng đều phải sắm lễ cúng vái.
VĂN KHẤN GIA TIÊN KHI NHẬP TRẠCH
NAM-MÔ A-DI-ĐÀ PHẬT !LIỆT TỢ LIỆT TâNG…(ghi họ tộc chỗ này)GIA TẠI THƯỢNGCỬU HUYỀN THẤT TỢ NỘI NGOẠI…..GIA TIÊN LINH.
Hôm nay là ngày……tháng……năm…… Gia đình chúng con dọn đến đây là……………………..(ghi địa chỉ) Hôm nay chúng con thiết lập hương án, sắm sanh phẩm vật, trước linh vị kính trình các Cụ tổ Tiên nội ngoại 2 bên : nhờ hồng phúc Tổ Tiên, nhờ Âm Đức cha mẹ, chúng con đã tạo được ngôi gia. Nay hoàn tất thi công, chúng con chọn được ngày lành tháng tốt để di cư nhập trạch, kính rước chư Hương linh Tiên Tổ về đây để chúng con sớm hôm hương khói tỏ lòng hiếu kính. Cúi xin, âng Bà Tổ tiên nội ngoại 2 bên thương xót con cháu, chứng giám lòng thành giáng lâm linh án thụ hưởng lễ vật. Độ cho chúng con phước lộc song tu, gia đạo hưng long, xuất nhập bình an, lộc tài thạnh vượng. Cúi mong Anh linh Tiên Tổ chứng giám, thọ cảm ân sâu. Kính cáo.
Phong thủy đối với người Á Đông luôn hữu ích với mọi không gian sinh hoạt và làm việc. Một số nguyên tắc phong thủy sau sẽ giúp bạn tạo cơ sở tốt nhất cho sự
Phong thủy đối với người Á Đông luôn hữu ích với mọi không gian sinh hoạt và làm việc. Một số nguyên tắc phong thủy sau sẽ giúp bạn tạo cơ sở tốt nhất cho sự phát triển của mình cũng như công ty. Nên dựa vào người có quyền hành cao nhất để tính toán phong thủy cho văn phòng.
Bên cạnh phòng của sếp không nên có vòi nước nhằm tránh “dột tiền tài”. Tương tự, nền nhà hay tường công sở bị thấm nước, rạn nứt cũng tượng trưng cho sự "rơi lọt tiền tài". Cần có biện pháp khắc phục ngay.
Phong thủy tốt giúp công ty làm ăn phát đạt
Vị trí tài lộc chính là góc chéo đối diện ngay cửa đi vào trong phòng. Vị trí này cần sáng và sạch sẽ; kiêng đặt hoa và cây cảnh giả.
Cổng văn phòng tối kỵ đối diện cột điện, ống khói hoặc gốc cây to. Cũng không đặt nhà vệ sinh ngay cạnh cổng bởi toilet sẽ chặn luồng không khí mới vào văn phòng, ảnh hưởng xấu đến vận may và sự nghiệp.
Nền nhà văn phòng kỵ quá thấp vì sẽ không đem lại may mắn trong làm ăn, đồng thời ảnh hưởng đến việc thông gió.
Cầu thang tránh đối diện cổng vì như vậy luồng khí đến và đi sẽ xung đột, không tốt cho vận may và sức khỏe.
Văn phòng không có cửa sổ là điều đặc biệt xấu vì khí không thể lưu thông.
Bàn làm việc trong văn phòng kỵ nứt vỡ, tổn hại đường công danh; không đặt đối diện nhà vệ sinh sẽ bị ảnh hưởng khí xú uế. Bàn làm việc tốt nhất nên làm bằng gỗ, tránh bằng kim loại.Phía sau bàn làm việc tối kỵ cửa thông cửa (cả cửa ra vào lẫn cửa sổ), như vậy vừa không an toàn vừa dễ mất tập trung khi làm việc. Bàn làm việc tốt nhất nên có 1 góc dựa vào tường, tối kỵ đặt chéo.Phía sau văn phòng kỵ hành lang và nhiều người đi lại ồn ào. Tốt nhất nên là không gian tĩnh. Ngay cả trong phòng cũng cần không gian đó. Các chuyên gia cho rằng khi thiết kế phòng làm việc, dùng thảm trải nền và rèm kéo cũng mang lại hiệu quả trong cách âm.
Tránh ánh sáng tối tăm. Ánh sáng trong văn phòng phải chan hòa, ánh sáng tự nhiên tốt hơn là đèn điện. Vì thời gian làm việc rất dài, cường độ ánh sáng mạnh yếu sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến thị lực.
Trong văn phòng ngoài bày tủ sách, máy tính, ghế ngồi cũng nên trang trí thêm các đồ thủ công mỹ nghệ, cây cảnh tạo không gian tươi sáng, trang nhã.