Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,...   Click to listen highlighted text! Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,... Powered By DVMS co.,ltd
Kính mời quý khách like fanpage ủng hộ Vạn Sự !

Vạn Sự

Nét tướng cách ở phụ nữ luôn được phúc khí bao bọc

Phụ nữ có sống mũi cao, thẳng, Sơn Căn rộng và đầy, cánh mũi nở to thường có mệnh phú quý, là mệnh phu nhân, được gả vào gia đình giàu có, được phúc đức bao bọc cả đời.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

1. Đôi môi hồng hào, hàm răng trắng đều
 
Đa phần những cô nàng có nét tướng cách này đều được cánh mày râu săn đuổi nhiệt tình. Vì sao ư, vì tính cách họ dịu dàng, giọng nói nhẹ nhàng dễ nghe.
 
Hơn thế, người này có ưu điểm rất lớn chính là tính cách dung hòa, điềm tĩnh, lại rất chu đáo, sau này sẽ là người vợ hiền, mẹ đảm, cuộc sống hôn nhân hạnh phúc, tốt đẹp. Đây chính là một trong những đặc điểm của tướng phụ nữ được phúc khí bao bọc.
 

Nhin ra tuong phu nu duoc phuc khi bao boc hinh anh 2
 
2. Tướng mũi cao và thẳng
 
Phụ nữ có sống mũi cao, thẳng, Sơn Căn rộng và đầy, cánh mũi nở to thường có mệnh phú quý, là mệnh phu nhân, được gả vào gia đình giàu có.
 
Người này thông minh lanh lợi, dù không thành công trên con đường học hành nhưng cũng giỏi ở ngành nghề đã chọn. 
 
Sau khi kết hôn, người này được nhờ chồng, đồng thời cũng phò tá tốt cho chồng. Vậy nên họ luôn được chồng yêu mến, cưng chiều.
 
3. Tướng cằm đầy đặn
 
Ưu điểm dễ nhận thấy ở người này là tính cách lạc quan, yêu đời, dễ hòa hợp, thân thiện với mọi người xung quanh.
 
Sách tướng cổ có ghi: “Phong hạm trọng di, vượng phu hưng gia”, nghĩa là phụ nữ có cằm đầy đặn, nhất là hai cằm là quý tướng, giúp hưng vượng nhà chồng.    Có được người vợ luôn được bao bọc bởi phúc khí này nâng khăn sửa túi, gia đình trong ấm ngoài êm, kinh tế ngày càng phát triển dồi dào.
 
Nhin ra tuong phu nu duoc phuc khi bao boc hinh anh 2
 
4. Chất tóc mềm mại
 
Chủ nhân của chất tóc mềm mại thường có tính cách điềm đạm, dịu dàng, suy nghĩ tích cực, cuộc sống an bình, thư thái. 
 
Trong gia đình, người phụ nữ này đóng vai trò cân đối hài hòa các mối quan hệ, chu toàn mọi việc trong nhà, bề trên người dưới đều ưng thuận.
 
5. Nhân trung sâu, rõ ràng
 
Đa phần phụ nữ có Nhân trung (phần ngấn rãnh môi trên thẳng từ mũi xuống) sâu, rõ ràng đều có khả năng sinh con tốt, con cháu đề huề. Hơn thế, chúng còn thông minh, nhiều phúc đức, có hiếu với cha mẹ. 
 
6. Phần dái tai to bản và dày dặn
 
Người có kiểu tai này nhất định được hưởng số mệnh tốt, phúc đức bao bọc cả đời. Bản thân họ khoan dung, độ lượng, hết mực quan tâm, chăm sóc người xung quanh, nhìn chung nhân duyên tốt đẹp. 
 
Phúc khí ở người phụ nữ này cực lớn, cả nhà bạn sẽ tiếp nhận được phúc khí của cô ấy, hưởng thụ cuộc sống an nhàn, dư dả về vật chất. 
 
Nhin ra tuong phu nu duoc phuc khi bao boc hinh anh 2
 
7. Khuôn mặt chữ “Điền”   Đặc điểm của khuôn mặt chữ “Điền” là trán hình vuông, khung xương quai hàm nhô ra, khuôn mặt đầy đặn phúc hậu. 
 
Chủ nhân của tướng mặt này có tâm tính lương thiện, lối sống phóng khoáng, rộng lượng, đối xử tốt với bạn bè, sẵn lòng giúp đỡ người khác. Do đó, họ dễ lọt vào “mắt xanh” của những gia đình danh giá, được hưởng số mệnh phú quý.
 
8. Mắt to, ánh nhìn có thần sắc   Phụ nữ có kiểu mắt to, thần sắc tốt đều xinh đẹp, tâm  hồn ngây thơ, trong sáng, tính cách cởi mở, tốt bụng và rất lạc quan. Chính vì thế mà được phúc khí bao bọc, gặp nhiều may mắn trong cuộc sống. Lấy được chồng giỏi giang, thương yêu hết mực cũng là một trong những điều may mắn ấy.  
Ngọc Điệp

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Nét tướng cách ở phụ nữ luôn được phúc khí bao bọc

Xem tướng tay: Lòng bàn tay

Lòng bàn tay có nhiều chỉ gò nổi cao là người hay lo nghĩ, suy tính. Lòng bàn tay trũng là có điềm xấu, thiếu can trường tranh đấu, thiếu kiên nhẫn, khó thắng vận thời. Cho vay thường bị giựt. Lòng bàn tay phẳng lỳ, không có gì nổi rõ là người dửng dưng, thiếu sức khoẻ.
Xem tướng tay: Lòng bàn tay

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


- Lòng bàn tay rộng: Có óc phân tích tỉ mỉ.

- Lòng bàn tay thật mềm, thật nhỏ và mỏng: Thiếu sinh lực, suy nhược và mơ mộng xa vời.

- Lòng bàn tay rộng, bằng phẳng: Óc cầu tiến, tìm tòi.

- Lòng bàn tay nhỏ hẹp: Óc tính toán, tế nhị.

- Lòng bàn tay dài hơn ngón giữa: Thông minh, ít nghĩ đến chi tiết, chỉ nghỉ đến việc lớn lao.

- Lòng bàn tay nhỏ và ngắn hơn ngón giữa: Tế nhị, khéo léo, có trực giác, giàu lý trí, ưa lý sự.

- Lòng bàn tay và ngón giữa bằng nhau: Tính quân bình, sáng suốt, thông minh, công bình.

- Lòng bàn tay dài hơn ngón giữa: Thông minh, không để ý những chi tiết nhỏ nhặt.

- Lòng bàn tay có sắc ấm: Nóng tính, hay gắt gỏng.

- Lòng bàn tay có sắc lạnh: Tình duyên trắc trở.

- Lòng bàn tay có sắc khô: Thần kinh dao động.

- Lòng bàn tay có màu đỏ, nóng và khô: Yếu tim.

- Lòng bàn tay trơn ướt: Hay thương vay khóc mướn.

- Lòng bàn tay vừa nóng vừa ướt: Yếu bộ hô hấp.

- Lòng bàn tay lạnh: Yếu tim.

- Lòng bàn tay nóng: Coi chừng gan, cơ thể bị chứng nhiệt.

- Lòng bàn tay ướt mồ hôi: Phong thấp, ưa an nhàn, nhạy cảm, hay xúc động.

Nguồn: Tổng hợp
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem tướng tay: Lòng bàn tay

Tất tần tật về chuẩn phong thủy phòng vệ sinh nhà bạn

Theo phong thuỷ học nhà ở, phòng vệ sinh là nơi tích tụ nước và cửa sổ nhà vệ sinh đóng vai trò là đường thoát của uế khí trong nhà.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Khi thiết kế phòng vệ sinh cho gia đình, bạn cần lưu ý một số nguyên tắc. Theo nguyên tắc phong thủy “tọa hung hướng cát”, khu vệ sinh nên đặt vào các hướng xấu, nhìn về hướng tốt. Đây là nơi thủy khí rất nặng, nếu đặt nó ở hai phương vị thổ khí đương vượng là Tây Nam hoặc Đông Bắc thì sẽ sinh ra “Thổ khắc Thủy” nên sẽ ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe của mọi người trong gia đình.

Phong thủy phòng vệ sinh không có cửa sổ Phòng vệ sinh là nơi âm khí nhiều nhất trong nhà, nơi mà dương khí duy nhất e chỉ có ánh sáng đèn điện. Nói cho cùng, ánh sáng đèn điện không phải ánh sáng tự nhiên, hơn nữa chỉ buổi tối mới bật, cho nên không có nặng lượng cao như ánh sáng tự nhiên. Ngoài ra phòng vệ sinh còn có nhiều uế khí, không thể đào thải sạch sẽ được, lại thêm không có cửa sổ, cho dù là ban ngày, phòng vệ sinh cũng sẽ rất tăm tối. Một nơi âm - lạnh - uế-đục, rất không có lợi cho sức khỏe của các thành viên trong gia đình và phong thủy của cả nhà.

Hóa giải phong thủy phòng vệ sinh không có cửa Nhiều người do chịu hạn chế về diện tích hoặc không gian xung quanh căn nhà nên không thể làm cửa sổ phòng vệ sinh. Cách hóa giải như sau:

Tất tần tật về chuẩn phong thủy phòng vệ sinh nhà bạn
Ảnh minh họa
- Trong phòng vệ sinh, lắp đặt quạt thông khí và nên thường xuyên bật để làm sạch và làm khô không khí trong nhà. - Lắp đèn trường minh để thắp sáng cả ngày.  Đảm bảo phòng vệ sinh luôn sạch sẽ, khô thoáng, nên thường xuyên quét dọn, diệt trùng.

Phòng vệ sinh nên đặt ở đâu trong nhà? Khu vực vệ sinh vốn là nơi bài tiết các chất thải, tàng chứa nhiều uế khí nên về vị trí tất yếu phải theo nguyên tắc “toạ hung” tức là nằm ở những cung xấu trong ngôi nhà. Việc lựa chọn không gian đặt nhà vệ sinh cũng cần tránh vị trí trung tâm của ngôi nhà (trung cung).

Đây là khu vực quan trọng quản 8 cung còn lại, đòi hỏi phải luôn cao ráo, sáng sủa, thoáng đãng, nhất thiết không được bố trí vật gì tạo ra uế khí.

Việc đặt bể phốt bên dưới cũng phải tuân theo hai nguyên tắc này. Nếu không thì sức khoẻ và tiền tài của những người sống trong nhà sẽ không được như ý.

Phòng vệ sinh tốt nhất nên “giấu” ở những vị trí khuất tầm mắt. Có thể tiết kiệm diện tích bằng cách bố trí ở những góc không vuông vắn hoặc tận dụng gầm cầu thang nếu thoả mãn điều kiện về phương vị.

Phòng thủy cửa sổ phòng vệ sinh - Cửa sổ phòng vệ sinh không nên đặt đối diện với đường, do có sát khí gây nên bất lợi. Cách hóa giải là treo trên cửa sổ một tấm gương hướng về phía đường. - Cửa sổ phòng vệ sinh không nên mở vào trong nhà. Nếu mở vào trong nhà chỉ làm cho uế khí của phòng vệ sinh vào trong nhà, không có lợi cho phong thủy.Tức là không nên đối diện với hành lang trong nhà hoặc phòng khách, càng không được đối diện với cửa phòng bếp. Hơn nữa nếu đối diện phòng vệ sinh sẽ dễ khiến người trong nhà mắc các bệnh về đường ruột. - Cửa sổ phòng vệ sinh kỵ đối diện gương, tốt nhất là dịch chuyển vị trí của gương.

Một số điều cần chú ý Nhà vệ sinh phải đặt ở cuối hướng gió, vị trí phải kín đáo nhưng dễ tìm. Theo nguyên tắc phong thủy, phòng vệ sinh nên đặt ở hướng dữ, tránh đặt đè lên hướng lành. Nhà vệ sinh, nhà tắm là chỗ đại tiểu tiện, tắm rửa làm sạch mọi dơ bẩn trên người nên bản chất của nó không phải sạch sẽ, vì vậy không nên đặt nhà vệ sinh ở hướng lành, nếu không sẽ làm cho các sao lành bị bẩn, ảnh hưởng đến vận may của đất ở.

Tất tần tật về chuẩn phong thủy phòng vệ sinh nhà bạn
Ảnh minh họa
Nếu như nhà vệ sinh nhìn thẳng ra cửa chính tạo thành một đường thẳng hay đập vào mắt người vào cửa sẽ mất mỹ quan và cũng không phù hợp phong thủy. Theo phong thủy, điều này sẽ dẫn đến bệnh tật, ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe con người. Khi xây mới nhà ở, một số gia đình để tiết kiệm không gian đã lấy ra một gian vệ sinh làm thành phòng ngủ. Điều này không chỉ trái với phong thủy mà còn không hợp với vệ sinh. Theo quan niệm của phong thủy học, nhà vệ sinh là nơi không sạch sẽ, cần được đặt hướng dữ để trấn áp các sao dữ. Phòng ngủ đặt gần nhà vệ sinh là tối kỵ huống gì là cải tạo chúng thành phòng ngủ. Nên chăng chỉ cải tạo gian vệ sinh thành nơi để đồ đạc thì có thể chấp nhận được.

Cũng giống như bất kỳ không gian sống khác trong nhà, nhà vệ sinh cũng cần được giữ gìn sạch sẽ, thoáng đãng. Do đó, cửa thông gió hoặc cửa sổ cần thường xuyên mở để thoáng khí, luôn đón không khí trong lành.

*Thông tin trong bài chỉ mang tính tham khảo
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tất tần tật về chuẩn phong thủy phòng vệ sinh nhà bạn

Luận Bàn Họa Của Nghề Nghiệp

a. Cách chức, thôi việc: Tuần, Triệt ở cung Quan: trắc trở cho quan trường bằng nhiều hình thái: chậm công danh, công danh...
Luận Bàn Họa Của Nghề Nghiệp

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

a. Cách chức, thôi việc: Tuần, Triệt ở cung Quan: trắc trở cho quan trường bằng nhiều hình thái: chậm công danh, công danh vất vả, thấp kém, không bền vững, thăng giáng thất thường. Sao Triệt báo hiệu sự gãy đổ ít nhất một lần trong sự nghiệp. Sao Tuần tác họa nhẹ hơn nhưng lâu dài hơn. Gặp cả Tuần, Triệt đồng cung thì tai họa nghề nghiệp vừa nặng, vừa nhiều. Tuy nhiên:       Tuần, Triệt gặp Âm, Dương ở Sửu, Mùi thi không phá mà làm vượng quan.       Tuần, Triệt gặp Sát, Phá, Liêm, Tham hãm tối hay bại tinh mờ ám cũng làm vượng quan.       Tuần, Triệt gặp Tử, Phủ, Cự, Nhật, Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương sáng sủa thì bất lợi cho chức vụ rất nhiều như   chậm quan, chóng tàn, gặp hung họa, thăng giáng thất thường. Nếu tám sao trên mà hãm địa thì khá hơn, tức là gặp khó khăn, thất thường trong việc thăng tiến nhưng tựu chung có chức vị khá lớn, nhất là về sau.       Tuần, Triệt gặp Sát, Phá, Liêm, Tham đắc địa cũng còn đỡ khổ, không đáng lo ngại về sự thăng giáng hay gãy đổ sự nghiệp. Nếu hãm địa thì lại đẹp: công danh bộc phát mạnh mẽ.
Cung Quan vô chính diệu cần có Tuần, Triệt trấn thủ tại đó mới hay. Bằng không thì dễ sa sút. Nếu chính tinh xung chiếu mà sáng sử thì còn khá, ngược lại nếu mờ tối thì bất lợi.
Thiên Tướng gặp Tuần, Triệt thì dù được đắc địa, quan chức không những bị truất giáng mà còn dễ chết thảm khốc. Tướng Quân gặp Tuần, Triệt cũng lâm vào họa hại như thế.
Không, Kiếp: chỉ sự thăng trầm, lên voi xuống chó. Hãm địa thì càng nguy, chắc chắn phải ít ra một lần mất chức nhục nhã, bị đổi đi xa vì kỷ luật, chưa kể những hung họa dẫy đầy, dễ chết vì binh lửa, chiến nạn. Như vậy, sự gián đoạn chức vụ có thể bắt nguồn từ hai nguyên nhân bị chết hoặc bị cách chức. Còn những họa nhỏ khác như vất vả, đè nén, đố kỵ thì khỏi kể. Tai họa công  vụ của Không Kiếp cũng còn do tật xấu của chính mình. Người có Không Kiếp có lá số xấu thường xử xự bằng thủ đoạn, bá đạo, ám muội, phi pháp, kiểu như tham lận, cướp của, hối lộ, tham nhũng, buôn lậu, biển thủ đưa đến việc mất chức.
Thiên Hình, Thiên Tướng, Tuần, Triệt: Hình hãm địa ở Quan có nghĩa gián đoạn công vụ vì bị ngục tụng, những tai bay vạ gió làm cho viên chức phải bị liên lụy trong quan trường, chẳng hạn như bị khiển trách, bị điều tra, bị ngưng chức, bị truy tố, bị sa thải. Nếu đi với sát tinh, dễ bị hình tù vì Thiên Hình chỉ hình phạt, bằng kỷ luật hay bằng tòa án. Cho dù Hình gặp Tuần hay Triệt, ngục tụng cũng khó tránh. Cũng đồng nghĩa đó nếu Hình đi với Thiên Tướng ở cung Quan. Nếu có thêm Thiên Khôi, sẽ có thể bị mất đầu. Những họa nói trên sẽ tránh được nếu đương sự bị đau phải mổ hay bị chết nhưng dù sao, Tướng Hình Khôi ở Quan bao giờ cũng đập nặng vào chức vụ: Thiên Hình ở Quan là hình thương đến công vụ. ý nghĩa này vẫn tồn tại nếu Hình đi chung với Liêm Trinh; với Quan Phù, Thái Tuế, Quan Phủ; với Hóa Kỵ; với Cự Môn hãm địa ...
Hóa Quyền, Thiên Hình hay Tuần, Triệt: Hóa Quyền tượng trưng cho quan tước, gặp Hình hay Tuần, Triệt thì có gián đoạn công vụ, thông thường là bị bãi nhiệm, bị đổi chỗ hoặc phải thôi việc. Nếu có chức phận cũng không giữ được lâu bền, phải từ bỏ vì một nguyên nhân nào đó. Những sao đồng nghĩa với Hóa Quyền mà gặp một trong ba sao này cũng rơi vào tai họa tương tự. Đó là các bộ sao: Quốc ấn, Thiên Hình hay Tuần, Triệt; Phong Cáo, Thiên Hình hay Tuần, Triệt; Thái Dương hãm, Thiên Hình hay Tuần, Triệt. Thông thường, ý nghĩa mất việc chỉ rõ ràng nếu bộ sao này đóng đồng cung ở Quan, nếu chỉ hội chiếu thì việc mất chức không rõ ràng lắm, có thể là tự ý thôi việc. Một số quý tinh khác như Thai Phu, Đường Phù gặp Tuần, Triệt hay Hình không đến nỗi nặng lắm, có thể có nghĩa như hụt thăng trật, hụt huy chương ...
Tuế, Đà, Kỵ: hội ở cung Quan chỉ mọi sự xui xẻo liên tiếp do sự tố cáo, chỉ trích, vu khống, xuyên tạc, đố kỵ, cạnh tranh làm cản trở bước tiến quan lộc, từ đó có thể đưa đến sự thôi việc, sự thay đổi công việc. Vì có Đà La, bộ sao này cho thấy có sự tranh cãi, gây lộn, ăn thua, khiếu nại, có khi ẩu đả giữa đồng nghiệp, xô xát với cấp chỉ huy để rồi cuối cùng gián đoạn công vụ.
b. Đè nén, đố kỵ Phục Binh: điển hình cho sự hãm hại bằng thủ đoạn ngầm, sự đố kỵ, ghen ghét giữa đồng nghiệp hay giữa mình với cấp chỉ huy. Phục Binh còn có nghĩa âm mưu, kết bè, kết phái để đào thải, loại trừ đối thủ, có khi tổ chức phục kích, ám sát, thanh toán hoặc gài đương sự vào chỗ chết, chỗ kẹt, chỗ bị án, bị tù, bị quy trách. Thông thường, Phục Binh hay sử dụng mánh lới, thủ đoạn bất chính và bí mật để phá hoại đồng nghiệp, có khi liên kết với tòng phạm, bè cánh, tổ chức. Nếu có Tả Phù, Hữu Bật đi kèm thì nạn nhân phải chạm trán với cả một hệ thống chằng chịt bao gồm nhiều tay sai ở nhiều ngõ ngách, muốn khiếu nại cũng không được như ý, nhiều khi chẳng đi đến đâu.
Hóa Kỵ: chỉ đó kỵ, ganh ghét, cạnh tranh bằng thủ đoạn gièm pha, thêm bớt, thọc gậy. Hóa Kỵ là người bị nghi ngờ, bị theo dõi, bị để ý. Đi chung với Phục Binh, sự đố kỵ có tính cách ám hại, tầm thù, chẳng những bằng lời nói mà còn bằng hành động. Đi với Thiên Hình, Hóa Kỵ dễ sinh quan tụng, thưa gửi, khiếu nại, điều trần, cảnh cáo, khiển trách, ẩu đả lẫn nhau. Chỉ trừ khi đi với Thanh Long mới đẹp.
Thiên Không: chỉ phần tử lưu manh trong công/tư sở, chuyên môn phá hết kẻ này đến người khác, thọc gậy bánh xe, cản trở bước tiến của đồng nghiệp với ác tâm, có tà ý, âm mưu phá hoại. Bị Thiên Không, viên chức khó lòng ngóc đầu lên nổi, bị khép trong kỷ luật, khống chế, mình làm mà thiên hạ hưởng, bị cấp trên hay cấp ngang cướp công.
Đà La, Kình Dương: chỉ sự ngăn trở quan trọng vì ganh đua, cạnh tranh gay gắt. Tại vị trí hãm địa, đương số là nạn nhân của chia rẽ, phân hóa trong nghề nghiệp, làm việc nặng nhọc, gánh trách nhiệm mà bị tội vạ, hiểu lầm, khiển phạt. Những bạc bẽo của nghề thường do hai sao này quảng diễn.
Cự Môn hãm địa: đồng nghĩa với Hóa Kỵ nhưng nặng nề hơn. Con người Cự Môn cũng như Hóa Kỵ lúc nào cũng bất mãn, mưu tìm sự canh cải theo ý mình, không bảo thủ mà đấu tranh thay đổi thành phần bảo thủ. Nếu đắc địa thì việc đấu tranh có cơ hội thành công, trái lại, Cự Kỵ sẽ là nạn nhân của thái độ cấp tiến của mình, gánh lấy hậu quả của sự kìm chế, đè nén, cô lập. Đi chung với các sao ám khác như Thiên Không, Kình Dương, Đà La, Phục Binh, là những người hay kết bè kết đảng để đấu tranh. Nếu có sát tinh đi kèm thường có đổ máu, hình ngục, thanh toán, trả thù qua lại.
Tuế, Đà, Kỵ: tượng trưng cho những xui xẻo liên tiếp trong quan trường, trong nghề nghiệp, trong đó có sự đè nén, thị phi, gièm pha, đố kỵ.
Đại Hao, Tiểu Hao: đi chung với quyền, quý, dũng tinh, Nhị Hao thường chỉ sự sa sút hậu thuẫn, sự sút kém tín nhiệm, sự mất mát thế lực. Viên chức có Song Hao ở Quan, ngoài ý nghĩa hư danh, hư quyền, bị tổn thương uy tín, thất sủng, từ đó làm việc gì cũng không lâu bền, ở với ai cũng khó hòa hợp, có thể ngồi xơi chơi nước hay được giao những công việc chạy vặt, liên lạc, kém quan trọng. Về mặt tâm lý, Đại Tiểu Hao ở Quan còn chỉ những người đứng núi này trông núi nọ, bất mãn không khí đang sống, lúc nào cũng chực hờ, tìm chỗ tốt, chỗ bở, hay thay đổi chức vụ mà chũng chẳng hiển vinh gì bao nhiêu. Tính tình của Nhị Hao thường bất nhất, không bền chí, không kiên tâm tiến thủ trên cái gì đã có mà chỉ lo đổi chỗ để tìm lợi lộc, tìm thăng tiến. Nếu được đắc địa thì Nhị Hao có lợi hơn về mặt tài lộc, kinh nghiệm.
Thiên Khốc, Thiên Hư hay Tang Môn, Bạch Hổ: Trừ phi đắc địa ở Tý Ngọ, Khốc Hư ở Quan biểu tượng cho những ưu tư, lo buồn, hoang mang, sợ sệt khi hành nhiệm. Ngoài ra, còn có đặc tính bị khinh ghét, chê bai vì bất lực, bất hòa. Người có Khốc Hư ở Quan không thoải mái trong công việc, phải quan tâm lo lắng nhiều mối, vì nhiều lý do, có khi phải gánh chịu nhục nhã, xấu hổ bởi tai tiếng, bởi thị phi. Nếu đắc địa, các sao này chỉ uy tín và hoạt động chính trị cũng như năng tài hùng biện, giáo khoa, tâm lý chiến. c. Bất dụng, sai dụng, thiểu dụng: Lực Sỹ, Kình Dương: tượng trưng cho sự bỏ quên, việc ngồi chơi xơi nước, việc nghỉ giả hạn. Lực Sỹ chỉ tài năng, sự tháo vát, linh hoạt, lanh lợi đồng thời cũng ám chỉ thành tích, công lao, chiến tích. Kình Dương chỉ sự ngăn cản, trở lực, trục trặc trong công danh. Cả hai hội ý chỉ sự thi thố không hết mức tài năng, sự đãi ngộ bất xứng với thành tích, sự thiểu dụng, từ đó nảy sinh sự bất mãn, bất đắc chí. Kình Lực không nhất thiết ngụ ý người có tài mà lắm khi ngụ ý người tự cho rằng mình có tài, vì bị bạc đãi nên bất mãn. Kình Lực đôi khi chỉ tham vọng, sự cậy tài, sự ỷ lại quá đáng làm cho quần chúng ghét bỏ, xa lánh.
Thiên Mã, Tràng Sinh ở Hợi: Thiên Mã thông thường chỉ tài năng. Gặp thêm Tràng Sinh là có cơ may tiến đạt. Nhưng hiềm vì ở cung Hợi cho nên năng tài này bị chìm trong bóng tối. Đây là hạn người kém may, không có cơ hội thi thố được, hoặc chỉ có danh mà không có quyền, chỉ có hư vị hơn là thế lực, hoặc bị đặt vào chỗ tượng trưng để lợi dụng uy tín chứ không phải để hành sử quyền binh. Công lao của Mã Sinh ở Hợi thường chỉ ở trong bóng mờ, hay bị người khác lấn át. Nếu gặp Phục Binh, ngụ ý người có tài mà bị ruồng bỏ, bị gièm xiểm, bị đào thải ...
Thiên Mã, Tuần, Triệt: không chỉ tai nạn xe cộ mà chỉ sự bất dụng, sự thiếu may mắn trong nghề nghiệp, làm cái gì cũng thất bại, tai ương, xui xẻo khiến cho thượng cấp mất dần tín nhiệm, không dám giao phó đại sự. Cho nên, công danh của Mã, Tuần, Triệt tương đối nhỏ.
Lộc Tồn, Tuần, Triệt: Lộc Tồn cũng chỉ tài năng như Thiên Mã, đặc biệt là tài tổ chức, quyền biến, khai sơn phá thạch, có nhiều sáng kiến giải quyết mọi việc. Gặp Tuần Triệt, tài năng, cơ may bị tiêu tán. Đó là trường hợp những người bị thiểu dụng, bị uổng dụng, bị sai dụng.
Thiên Tài: đi chung với Nhật, Nguyệt sáng sủa sẽ làm mất đi sự tốt đẹp, làm giảm ánh sáng của Nhật, Nguyệt. Đó là trường hợp tài năng thiếu cơ hội.
Tại cung Quan vắng bóng những sao trợ quyền, những sao may mắn thì tài năng thường cô độc, thiếu người công lực, nâng đỡ, thiếu may mắn của thời cuộc. Đó là những sao Ân Quang, Thiên Quý, Tả Phù, Hữu Bật, Thiên Quan, Thiên Phúc, Thanh Long-Lưu Hà, Thanh Long-Hóa Kỵ, Thiên Mã-Tràng Sinh (trừ ở Hợi), Bạch Hổ-Phi Liêm, Tràng Sinh-Đế Vượng, Thiên Hỷ-Hỷ Thần, Tứ Linh, Tam Hóa ...

4. Họa cho tài sản: thường hay xuất hiện ở hai cung Điền và Tài, ở những cung chiếu Điền (Tử, Tật, Bào), chiếu Tài (Phúc, Quan, Mệnh), cung Thân và các cung Hạn.
a. Những đại họa tài sản: Địa Không, Địa Kiếp hãm địa: trong bối cảnh một cung Điền hay cung Tài xấu vì chính tinh hãm địa, sự hiện diên của 1 trong 2 sao hoặc của cả 2 sao này báo hiệu hiểm họa lớn lao cho tài sản, họa lớn, có tính chất bất khả kháng, ảnh hưởng đến nhiều người cùng một lúc. Có thể hình dung Không Kiếp như một tai họa chiến tranh làm tiêu tán tài sản, nạn lạm phát đồng tiền, thiên tai lớn, hành vi pháp lý của Nhà nước có hậu quả nặng nề đến cuộc làm ăn của toàn dân, việc quốc hữu hóa các công ty thương mại ... Mặt khác, Không Kiếp còn có thể tượng trưng cho sự cướp của, sự hủy hoại tài sản cá nhân, sự đốt nhà, phá hoại hoa màu ... Nếu hội với sao xấu như Phá Toái, Kiếp, Sát thì hệ số họa sẽ lên cao, nguy hiểm nhiều hơn. Càng hội tụ nhiều, số lượng càng chồng chất, họa vô đơn chí.
Thiên Không: hậu quả của Thiên Không trên tài sản cũng gần tương đương như Địa Không, nhất là khi tọa thủ ở Tài, Điền và nhất là khi gặp thêm hạn xấu. Hội với Địa Không, Địa Kiếp, sức tác họa càng dữ thêm, có hại đến cả sinh mạng. Thông thường, Thiên Không rơi vào cung hạn thì tác họa mạnh mẽ hơn bình thường: các dự định đều thất bại, sự nghiệp sa sút, mua bán thua lỗ, mất của thường do lường gạt, lừa đảo, có khi vướng vào tù tội.
Tuần, Triệt đồng cung ở Điền, Tài: dù Điền hay Tài có chính tinh hay không, có cát tinh đi nữa thì cũng không quân bình được bất lợi của cả Tuần lẫn Triệt đồng cung. Hai sao này hợp nhất phối hợp phá hoại tài sản đến cùng. Gặp chúng, cá nhân không có di sản, dù có cũng bán hết hoặc không thể thụ hưởng, thường phải tự lực lập nghiệp nhưng có rồi lại dễ mất ngay vì họa, hoặc vì túng thiếu. Đây là bộ sao điển hình của vô sản.
Kình Dương, Đà La hãm địa: cũng báo hiệu họa tài sản, dưới hình thức phá tán tổ nghiệp, điền trạch cũng như tiền bạc. Đi với Không, Kiếp, Thiên Không, ý nghĩa họa càng chắc chắn hơn và họa nhất định nặng hơn. Đặc biệt vào cung hạn, nếu Kình Đà gặp Lưu Kình, Lưu Đà thì họa đến mau chóng và khủng khiếp. Nếu Kình Đà và hai sao Lưu lại tọa thủ hoặc xung chiếu vào Điền, Tài thì họa vào sản nghiệp hiện có thay vì di sản.
Hỏa Tinh, Linh Tinh: chỉ riêng mối họa lửa, dù Hỏa Linh đơn thủ hay hội họp với sát hao tinh khác. Hai sao này đi chung với một số sao khác cũng mang ý nghĩa tương tự như: Hỏa Kiếp Cơ, Hỏa Tang, Linh Hình Việt, Phi Hỏa, Cự Hỏa, Cơ Hỏa, Hỏa Linh Tướng Binh. Chỉ riêng bộ sao Hỏa Tướng Binh hay Linh Tướng Binh có nói ít nhiều đến nguyên nhân hỏa hoạn: đó là việc gian phi đốt nhà, đốt ruộng, đốt hoa màu, hàng hóa.
Lưu Hà: thủy họa đối với tài sản, đi chung với Địa Không, Địa Kiếp chỉ tại họa lớn: nước lụt đắm tàu, hoa màu úng thủy, hàng hóa bị ngập nước ...
Đại Hao, Tiểu Hao: Trừ phi đắc địa ở Mão, Dậu (có tiền của dồi dào), Nhị Hao bao giờ cũng phá tán của cải, hao hụt điền sản thường là do cái đà ăn xài quá lớn không kìm hãm được nữa. Song Hao ở Điền, Tài thường xuyên có chuyện tốn kém, lớn có nhỏ có và liên tiếp. Sự hao tán của bộ sao này gần như triền miên. ở Điền, Nhị Hao ngụ ý phải lo "một kiểng hai huê". ở Tài thì luôn luông có chuyện phải tiêu lớn, tiêu nhỏ. Nếu Thiên Không tối kỵ ở cung Quan thì Nhị Hao tối kỵ ở cung Tài và cung Điền. Ngoài ra, về bệnh tật, Nhị Hao phải tốn vì một bệnh trầm kha, tái đi tái lại nhiều lần, thường là bệnh về bộ máy tiêu hóa tương đối nặng.
Tướng, Binh, Kiếp hay Không: chỉ họa cướp của. Đóng ở Điền, Tài, đương số sẽ bị cướp đến khảo của, phá nhà, tống tiền, có thể bị thanh toán. Nếu có thêm Tả Hữu thì thường có nội gián, tòng phạm lâu la đông đảo. Bộ sao này cũng nói lên trường hợp bị cưỡng bách đóng thuế bằng cách hành hung, đe dọa sinh mạng hoặc bắt cóc đòi tiền chuộc. Trong trường hợp có bắt cóc tống tiền thì thường có Thiên Hình đi kèm.

b. Những tiểu họa tài sản: Phục Binh: điển hình cho sự mất trộm. Cung Điền, Tài bị sao Binh trấn đóng hay hội chiếu thường bị người khác lấy của bằng cách trộm, lừa đảo, ăn chặn, quỵt hụi, trốn nợ, giựt đồ, móc túi ... Có khi tai họa không do thủ phạm mà do sơ xuất của chính mình, dù sao cũng là sự mất mát ngoài ý muốn của sở hữu chủ.
Binh, Tả, Hữu: có tòng phạm giúp đõ, chỉ dẫn, dụ dỗ, đánh lừa để lấy đồ bằng mưu chước xảo quyệt. Có khi Tả Hữu còn chỉ tôi tớ trong nhà, làm nội ứng chỉ điểm cho gian phi, hoặc chính người giúp việc trộm cắp của chủ nhân. Bộ sao này cho thấy việc đánh cắp có tổ chức, có kế hoạch.
Thiên Không: đứng riêng rẽ, sao này chỉ tên lưu manh, gian hùng, xảo quyệt, có nghĩa tương tự như Phục Binh. Nếu cả hai cùng hội tụ thì đây là cách gian phi họp đang, tác họa nhiều hơn.
Quan Phù, Thái Tuế, Quan Phủ, Hóa Kỵ: chỉ hao tài sản do sự lường gạt, phản bội, hoặc do kiện tụng mà hao hụt của cải, kiện tụng về tài sản cụ thể như bị xử ép, chia của không sòng phẳng, thanh toán không phân minh. ứng vào điền sản, những sao này cho thấy phải có tranh chấp về đất đai, ruộng vườn, phải tốn tiền vì điền thổ mới có của, phải kiện thưa mới đuổi được người cư ngụ bất hợp pháp mới cất được nhà. Cũng có thể nhà, đất của mình không có lai lịch phân minh, bị tố tụng, thưa kiện và có khi thất kiện phải mất đất, trả nhà.
Thiên Hình: ở Điền, Tài, sao này chỉ họa của người bị bắt giam vì tài sản, bị họa lụy vì tiền bạc hoặc nếu là điền sản thì có thể bị tịch thu, tịch biên. Đây là trường hợp những người bị bắt để đổi tiền chuộc mạng, của bọn khảo của, tống tiền, thu thuế bằng bạo hành, đe dọa. Nếu đương số làm nghề tài chính, thì Hình sẽ ứng vào các vụ biển thủ, quản lý sơ suất để mất tiền phải bị ra tòa, đền tiền. Nếu ở cung Điền, nhà đất dễ bị tịch thu, sai áp, niêm phong do một án tiết cá nhân, có liên quan đến của cải bất hợp pháp hoặc đến uy thế chính trị suy sụp. Nếu ứng vào cơ thể có nghĩa thương tích thì ứng vào điền trạch cũng có nghĩa bế tỏa như vậy. Bị Thiên Hình, cơ xưởng, làm ăn có thể bị sai áp, quốc hữu hóa, trưng dụng, trưng thu. Nếu có thêm sát tinh khác, đây có thể là đại họa.
Điếu Khách, Văn Xương, Văn Khúc: chỉ họa hao tài vì đánh bạc, thông thường có đi đôi với Song Hao, hoặc Khốc Hư, Tang Hổ, Xương Khúc thì thỉnh thoảng có đỏ đen, còn Điếu Khách thì máu cờ bạc quá nặng đến nỗi trở thành tập quán khó chừa, lấy đổ bát làm sinh kế và chắc chắn cũng vì đổ bát mà tán tài, tán điền.
Hỏa, Linh với Song Hao: họa tài sản bắt nguồn từ bệnh nghiện thường là nghiện á phiện, ma túy, rượu, rất nguy kịch cho của cải và sức khỏe. Không cần gì phải có cả Hỏa và Linh với Song Hao, chỉ cần Hỏa hay Linh cũng đủ.
Đào, Hồng với Song Hao: họa tài sản do gái/trai tạo ra. Đây là hoàn cảnh của các chàng hào hoa bị dại gái bị lừa gạt, phải chi khá nhiều để chu cấp cho gái hoặc phụ nữ mê trai cũng chu cấp cho các chàng thất nghiệp. Đào Hồng ở Tài, Điền thì phải tốn tiền ít nhiều cho tình nhân, nếu có Song Hao thì chi phí lớn theo tỷ lệ túi tiền của nạn nhân.



Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Luận Bàn Họa Của Nghề Nghiệp

Cửu tinh cát hung đoán- Thất Xích

Trong Huyền Không học, đều dựa vào Cửu tinh mà biến chế. Do vậy, rõ được tính chất Cửu tinh thì mới luận đoán được.
Cửu tinh cát hung đoán- Thất Xích

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tôi dịch bài Cửu Tinh Cát Hung Đoán, là tài liệu rất thực tế về tính chất Cửu tinh, trong đó có trích dẫn đầy đủ các lời đoán trong cách sách kinh điển như Huyền Cơ Phú, Phi tinh đoán, Huyền không bí chỉ v.v…. có thể giúp các bạn mới nghiên cứu Huyền Không nắm được mấu chốt quan trọng vậy.

Mong được góp lời.

TUETVNB

CỬU TINH CÁT HUNG ĐOÁN
(Quốc học tạp chí – Lưu Dung Cơ)

Nhân gian vạn sự, hữu cát hữu hung, quân khả dĩ dụng cửu tinh thôi tri.

(Vạn sự trong nhân gian, có cát có hung, đều có thể dùng cửu tinh mà biết được!)
Thất xích: ngũ hành chúc kim

Thất xích kim tiên thiên tại tốn ( đông nam ), hậu thiên cư đoài ( chính tây ), ứng phá quân chi túc, hào vi ( túc sát ), kỳ sắc xích hồng,
Hữu tiểu nhân chi trạng, vi đạo tặc chi tinh; tử bạch quyết vân: “Phá quân xích danh, túc sát kiếm phong chi tượng.”

Trị kỳ sinh vượng tài đinh diệc tăng;

Nhược vi khắc sát, định chủ quan phi khẩu thiệt, tất tu dữ loan đầu cập tinh sổ hợp tham cát hung.

Phi tinh phú vân: “Xích vi hình diệu, na kham xạ hiếp thủy phương.”

Huyền không bí chỉ vân: “Đoái khuyết hãm nhi thần vong xỉ hàn.” ( nguyên chú: hạ nguyên đoài phương khuyết hãm, hoặc thủy trùng bại, giai chủ khuyết thần âm ách, khẩu hầu chư bệnh. ).

Phi tinh phú vân: “Thất hữu hồ lô chi dị, y bặc hưng gia.” ( nguyên chú: thất vi hình, hữu trừ chi tượng, cố vi y, hồng phạm thất kê nghi cố vi bặc, hồ lô sa, hình như hồ lô dã ).

Phi tinh phú vân: “Thất phùng đao kiềm chi tượng, đồ cô cư tứ.” ( nguyên chú: đao kiềm, sa hình dã, thất nãi tây phương kim, cố vi đồ, hựu vi khẩu thiệt, cố vi cô dã. )

Hựu vân: “Thiết tượng duyên kiềm chùy thất địa.” ( nguyên chú: thử bằng sa chi hình tượng dĩ đoạn, thiên biến vạn hóa, tổng tại hình dữ tinh dã. ) thu kim chủ sát, cửu tử khả chế, hạ nguyệt kỵ lâm, bát bạch hòa chi.

DỊCH

Thất xích : Ngũ hành thuộc Kim

Thất xích – kim tiên thiên tại Tốn (Đông Nam), hậu thiên tại Đoài (Phương Tây), ứng với sao Phá Quân, hiệu gọi là Túc sát, màu đỏ.
Hình dáng như tiểu nhân, là sao đạo tặc.

Tử bạch quyết nói : “Tên là Phá Quân xích, là tượng sát của mũi kiếm”

Ở nơi sinh vượng thì đinh-tài cũng được tăng tiến. Nếu là bị khắc sát, chủ về quan phi khẩu thiệt, ắt sẽ hợp với loan đầu cũng tinh số xen vào sự cát hung.

Phi tinh phú nói :”Xích là Hình diệu, không chịu được thủy từ phương hai bên công lại”

Huyền không bí chí nói :” Đoài khuyết hãm là Môi hở răng lạnh” (nguyên chú : Hạ nguyên, Đoài phương khuyết hãm, hoặc bị thủy trùng phá, đều chủ về tai ách sứt môi, tiếng nói… bệnh về mồm họng)

Phi tinh phú nói : “Thất mà có Hồ lô khác lạ, chủ về Y-Bốc hưng gia” (nguyên chú : Thất là hình, tượng là thềm, Hồng phạm thất kê cho rằng đó là tượng của Bói. Hồ lô sa là sa có hình như cái hồ lô ).

Phi tinh phú nói : « Thất gặp hình đao – kìm, làm đồ tể bán thịt » (Nguyên chú : Đao kìm là hình của Sa, Thât –Kim ở Tây phương, nên là giết mổ, lại là khẩu thiệt, nên nói là bán thịt vậy)

Lại nói : « Thất địa là nơi thợ rèn cầm kìm búa », (Nguyên chú : đây là dựa vào hình thế của Sa mà đoán, , thiên biến vạn hóa, đều tại Hình với sao mà ra). Mùa thu kim chủ về Sát, Cửu tử có thể chế, Kỵ chiếu vào hạ nguyệt, Bát bạch thì hòa.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Cửu tinh cát hung đoán- Thất Xích

10 giấc mơ mang theo điềm báo đổ vỡ hôn nhân

Những giấc mơ tưởng chừng vô thưởng vô phạt song lại ẩn chứa rất nhiều bí mật. Bạn có biết trong giấc mơ có thể nhìn thấy điềm báo đổ vỡ hôn nhân không?
10 giấc mơ mang theo điềm báo đổ vỡ hôn nhân

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Mơ, hay giấc mơ là những trải nghiệm, những ảo tưởng của trí óc trong giấc ngủ. Có những giấc mơ chẳng có ý nghĩa gì trên thực tế, song có những giấc mơ lại như một điềm báo trước những điều sắp xảy ra.
  Có thể trong cuộc sống, bạn thường không chú ý đến những tiểu tiết trong giấc mơ của mình, nhưng theo môn khoa học giải mã giấc mơ thì qua đó, bạn có thể biết được rất nhiều chân tướng sự việc mà ngoài đời thực bạn không hề hay biết.

giac mo bao hieu do vo hon nhan
 
  Hôn nhân là điều vô cùng thiêng liêng, ai cũng mong muốn có được hôn nhân hạnh phúc nhưng chẳng phải lúc nào chúng ta cũng có được điều mình muốn. Vậy những giấc mơ như thế nào là dấu hiệu của việc đổ vỡ hôn nhân, tình cảm gia đình rạn nứt. Hãy cùng Lịch ngày tốt khám phá thêm về những giấc mơ không lành đó nhé.  

1. Mơ thấy đánh nhau với người khác trong nước: Tình yêu tay ba

  Nếu trong giấc mơ, bạn thấy mình đang ở trong nước, lại đánh nhau với một người khác, song do trở lực của nước nên bạn càng ngày càng thấy sức yếu dần đi, vậy thì rất có thể ngoài đời thực, bạn đang phải đối mặt với tình yêu tay ba. Bạn mệt mỏi với việc tranh giành tình cảm giữa tam giác tình yêu phức tạp, dần mất đi niềm tin và động lực với tình yêu, bạn đang muốn buông xuôi.  

2. Mơ thấy tường đổ: Có kẻ thứ ba xuất hiện

  Bức tường hay bức vách tượng trưng cho sự bảo vệ, nhưng nếu trong giấc mơ, bạn nhìn thấy bức tường sụp đổ ngay trước mắt mình thì điều đó cũng có nghĩa là lớp áo giáp bảo vệ cho hôn nhân của bạn đã bị lấy mất. Bạn nên cẩn trọng bởi có kẻ thứ ba đang rình rập phá hoại hạnh phúc gia đình, khiến cuộc hôn nhân của bạn đứng trên bờ vực đổ vỡ.   Mời bạn đọc thêm: 4 mẹo phong thủy đánh bay kẻ thứ 3.  

3. Mơ thấy cây rụng lá: Vợ chồng bất hòa


vo chong bat hoa
 
Trong giấc mơ của bạn xuất hiện một cái cây hay một khu rừng, mà cây vốn đang xanh tươi lại rụng sạch hết lá, vậy thì bạn rất có thể đang đối mặt với nguy cơ đổ vỡ hôn nhân do vợ chồng bất hòa. Cây rụng lá tượng trưng cho sự suy bại, diệt vong, rất có thể vợ chồng bạn đang có mâu thuẫn, thường xuyên tranh cãi không thôi. Hãy học cách đối thoại với nhau, thông cảm và suy nghĩ cho đối phương nhiều hơn nữa.  

4. Mơ thấy quần áo bị lấm bẩn: Hôn nhân đang có vấn đề


hon nhan tan vo
 
Bộ quần áo trong giấc mơ của bạn tượng trưng cho người vợ. Nếu người chồng mơ thấy người khác mặc quần áo của mình thì rất có thể vợ bạn đang có tư tình với người khác. Còn nếu bạn thấy quần áo của mình trong mơ bị lấm bẩn thì đó là điềm báo hôn nhân của bạn đang xảy ra vấn đề khá nghiêm trọng.  

5. Mơ thấy mặt trời lặn hay trăng tàn: Yêu lầm người

  Thông thường, những giấc mơ có xuất hiện mặt trăng hay mặt trời đều mang ý tốt, là điềm báo thăng quan tiến chức. Song nếu bạn mơ thấy trăng tàn hay hoàng hôn mặt trời lui bóng thì đó chính là dấu hiệu cảnh báo bạn cần tỉnh táo hơn, tránh yêu phải người không nên yêu.  

6. Mơ thấy người yêu cũ: Thay lòng đổi dạ

  Nếu nam nữ còn độc thân mơ gặp người yêu cũ thì đơn giản là họ đang khao khát có được tình yêu. Nhưng khi bạn là người đã có đôi có cặp mà lại gặp giấc mơ như vậy thì có thể bạn sẽ quay về với người tình cũ.    Riêng với những người đã có gia đình, giấc mơ này thể hiện bạn đang không hài lòng với một nửa của mình và muốn quay trở lại quá khứ.  

7. Mơ thấy nhẫn cưới bị hủy hoại: Ly hôn


tinh cam ran nut
 
Giấc mơ này thể hiện hai vợ chồng bạn cần ngồi lại nói chuyện với nhau về cuộc hôn nhân của mình. Nếu nhẫn cưới bị hủy hoại thì có thể hai bạn sẽ đổ vỡ hôn nhân.  

8. Mơ thấy ở trong một căn phòng xa lạ: Bắt cá hai tay

  Giấc mơ này là lời cảnh báo đối với tình cảm hôn nhân của bạn, rất có thể đối phương đang có người khác, bạn nên xem lại tình cảm của hai người có thực sự vững chắc hay không.

Mời bạn đọc thêm: Mẹo phong thủy hôn nhân giúp chồng luôn chung thủy.
 

9. Mơ thấy bị người khác lừa gạt: Ngoại tình

  Bạn mơ thấy bị người khác lừa, vậy thì bạn cần cẩn thận bởi bạn đang trong u mê chẳng rõ điều chi, người ấy có thể đang say đắm trong cuộc tình ngoài hôn nhân mà bạn không hề hay biết.  

10. Mơ thấy người bị bệnh nan y: Hôn nhân có nguy cơ tan vỡ

truc trac trong chuyen chan goi
 
  Đây là giấc mơ báo hiệu bạn và người ấy đang có mâu thuẫn về tình cảm hay gặp trục trặc trong chuyện gối chăn. Nếu bạn không muốn đổ vỡ hôn nhân thì hãy tạo thêm cho cả hai nhiều cơ hội hơn để bồi đắp tình cảm, hàn gắn những rạn nứt đang có.    Thiên Thiên      6 giấc mơ báo hiệu tình yêu sắp đến Nhận dạng cô nàng thục nữ hay hổ báo trên giường qua giấc mơ Không thể bỏ qua 8 giấc mơ tiết lộ bí mật tương lai Giải mã giấc mơ: Mơ thấy nếp nhăn tiềm ẩn cả niềm vui và nỗi lo lắng
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: 10 giấc mơ mang theo điềm báo đổ vỡ hôn nhân

Sưu tầm về Dịch thuyết

Một bài viết tổng hợp về Kinh Dịch của cụ Hà Uyên. Rất hay!
Sưu tầm về Dịch thuyết

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Dịch dĩ đạo âm dương

"Dịch dĩ đạo âm dương" chỉ rõ nét đặc sắc của Kinh Dịch, trình bày về lý âm dương. Câu này, có xuất xứ trong Trang Tử - Thiên hạ luận, nguyên văn cả câu là: "Thi bày tỏ cái chí, Thư là để thuật lại công việc, Lễ là để hướng dẫn hành động, Nhạc là để dẫn dắt chí tuệ. Dịch nói về lý âm dương, Xuân Thu chỉ rõ danh phận".

Trang Tử - Thiên hạ thiên viết: "Dịch là để nói về âm dương". Sử ký - Thái Sử công tự tự viết: "Dịch làm sáng tỏ trời đất, âm dương, tứ thời, ngũ hành. Cho nên Dịch sở trường ở chỗ biến". Những lời đó đều nói về tôn chỉ căn bản của Dịch, là vạch rõ quy luật tự nhiên biến hóa của âm dương. Hàn Khang Bá - Hệ từ truyện chú kế thừa Vương Bật lấy Lão Trang để giải thích tông chỉ của Dịch, viết: "Đạo nhất âm nhất dương gốc ở Hư vô. Lại nói: Đạo là gì? Đó gọi là Vô. Không có gì không thông, không có gì là không bắt nguồn từ đó, cái đó gọi là Đạo. Đã là tịch nhiên vô thể, thì không thể là Tượng, phải vận dụng hết "Hữu" thì "Vô" mới hiển dụng. Cho nên đến như "Thần vô phương nhi Dịch vô thể", thì Đạo có thể thấy được vậy. Bởi thế, cùng biến thì tận thần, nhân thần mà minh đạo, âm dương tuy khác nhau, nhưng đồng nhất ở Vô. Ở âm mà vô âm, âm do đó sinh ra; ở dương mà vô dương, dương do đó mà hình thành, cho nên nói 'nhất âm nhất dương' vậy".

Tư Mã Thiên, người thời Tây Hán nói "Dịch dĩ đạo hóa". Ông cho rằng, nội dung đặc sắc của Kinh Dịch là ở chỗ nó nêu lên cái lý biến hóa của sự vật, cho nên ông nói: "Lễ là để ước chế lòng người, Nhạc là để khởi phát cái hòa, Thư là để hướng dẫn công việc, Thi là để biểu đạt tâm trạng, Dịch là để chỉ ra sự biến hóa, Xuân Thu là để chỉ ra cái 'nghĩa'. Kéo đời loạn đưa trở về ngay chính, không gì hơn là đọc Xuân Thu".

Hệ Từ - Hạ truyện viết: "Thần diệu biến hóa, khiến cho dân noi theo"; và, "Thấu hiểu được lẽ thần diệu, biết được lẽ biến hóa, đức sẽ lớn mạnh vậy".

Sử ký - Hoạt kê liệt truyện tự Khổng Tử nói: "Lục nghệ, quy về nói từng thứ một thì, Lễ là để chế ước con người, Nhạc là để khởi phát cái 'hòa', Thư là để hướng dẫn công việc, Thi là để diễn đạt tâm trạng, Dịch là để tỏ rõ thần kỳ biến hóa, Xuân Thu nói về cái nghĩa. Thái sử công nói: Đạo trời lồng lộng, chẳng lớn lắm sao? Trong cái lời nói vi diệu ấy, cũng có thể hiểu được".

Hệ Từ - Thượng truyện viết: "Ôi, đạo của Dịch rộng thay, lớn thay! Lấy nó mà nói về việc ở xa thì không bao giờ cùng, lấy nó mà nói về việc ở gần thì bình thản chính đính, nó bao gồm đầy đủ cả mọi việc trong trời đất". (Phù dịch quảng hĩ, đại hĩ! Dĩ ngôn hồ viễn tắc bất ngự. Dĩ ngôn hồ nhĩ tắc tỉnh nhi chính. Dĩ ngôn hò thiên địa chi gian tắc bị hỉ). Việc lập ra quẻ, từ gốc đến thân, từ thân ra cành, tự nhiên thuận hành, đủ trời đất người, có phân có hợp, có tiến có thoái, có ngang có dọc, có thuận có nghịch, v.v...nhưng không có gì, đi mà không lại, tới mà không lui, thấu hiểu tự nhiên.

Khổng Dĩnh Đạt - Chu Dịch chính nghĩa nói: "Câu trên là muốn chỉ rõ tầm vóc quảng đại của Dịch lý. Lẽ biến hóa của Dịch thông khắp bốn phía xa, cho nên gọi là 'quảng'; nó thông tới tận trời, cho nên gọi là 'đại". Lại nói: "cái lẽ biến hóa của Dịch cùng cực u thâm, không bao giờ ngừng nghỉ", "cái lẽ biến hóa của Dịch, ở nơi gần, thì giữ được bình thản yên tĩnh mà chính đính, không hỗn loạn vậy".

Du Diễm - Chu Dịch tập thuyết nói: "Đạo Dịch rất quảng đại. Từ việc gần, việc xa, cho đến mọi việc trong trời đất này, không có gì không phải là Dịch. Lấy Dịch mà suy việc xa thì lý thông suốt, không hề trở ngại. Lấy Dịch mà bàn việc gần, thì lý đầy đủ rõ ràng ngay trước mắt, thản nhiên mà chính đính.Lấy Dịch mà bàn luận mọi việc trong vòng trời đất, thì lý lẽ của mọi sự mọi vật đều đủ cả trong đó. Có thể gọi là quảng đại vậy".

Lễ ký - Kinh giải viết: "Khiết tịnh tinh vi, Dịch giáo dã" (Trong sạch thuần khiết, tinh vi, đó là cái giáo lý của Dịch vậy). Chú giải cho câu nói này, Khổng Dĩnh Đạt - Lễ ký chính nghĩa viết: "Dịch cho rằng, đạo làm người ngay chính gặp điều lành, tà vạy ắt sẽ gặp điều dữ, không dâm lạm thái quá, như vậy gọi là 'khiết tịnh'; cùng lý tận tính, lời lẽ vi nhiệm thì gọi là 'tinh vi' vậy".

Dịch chi thất tặc

Câu nói này được viết trong Lễ Ký - Kinh giải. Ý nghĩa câu "dịch chi thất tặc" cho rằng nghiên cứu Dịch, nếu không biết tự tiết chế trong lời dạy của Dịch, thì sẽ có mối lo làm tổn thương tới Lý, làm hại tới vật. Làm người mà cung kính, không cẩu thả thì đủ để giúp cho nội tâm được chính trực. Hành vi thích hợp cũng đủ để giúp cho vẻ ngoài được đoan phương. Trịnh Huyền - Lễ Ký chú viết: "Thất, có nghĩa là không có khả năng tiết chế trong lời dạy của Dịch", lại nói "Dịch tinh vi, ái ố tương công, viễn cận tương thủ, tác bất năng dung nhân, cận vu thương hại". Nghĩa là: Đạo Dịch rất tinh vi, yêu ghét đối chọi nhau, xa gần chấp thủ nhau, vậy thì nó không thể chứa người khác ý, nếu không sẽ dẫn tới tai hại.

Khổng Dĩnh Đạt - Lễ Ký chính nghĩa viết: "Dịch chủ ở sự thuần tĩnh nghiêm chỉnh, xa gần chấp thủ nhau, yêu ghét đối chọi nhau, nếu không biết tiết chế, ắt sẽ bị tai hại". Khổng Dĩnh Đạt lại phân tích lời chú giải của Trịnh Huyền "Dịch tinh vi", ý muốn nói Dịch lý rất vi diệu sây sắc, cầu tránh xác đáng, không dung chứa người khác mình. Dịch nói "ái ố tương công" là để chỉ sáu hào của quẻ Dịch, hoặc hào âm cưỡi hào dương, hoặc hào dương nén hào âm, kề cạnh nhau mà không có sở đắc, gọi là "ái ố tương công". Nói "viễn cận tương thủ", là chỉ bỉ thủ có ứng là xa gần hợp nhau. Hoặc nếu xa mà không có ứng, gần mà không hợp nhau, thì không thể hòa hợp đến với nhau được.

Câu "tác bất năng dung nhân, cận vu thương hại", là ý muốn nói, nếu ý hợp nhau thì dù xa mà vẫn yêu nhau; nếu ý xa nhau, thì có gần mà vẫn ghét nhau, tức là không nên cùng với người không giống mình, nếu không sẽ bị tổn hại như bị giặc làm hại vậy.

Dịch khí tòng hạ sinh

Chu Dịch Càn tạc độ có câu: "Dịch khí tòng hạ sinh", nghĩa là Dịch lý thuyết minh quá trình phát sinh của sự vật, đều xuất phát từ sự vận động của "Khí"; mà sự sinh - thành của Khí đều thuận từ dưới lên trên, từ vi tế đến hiển hiện rõ ràng. Do vậy, 6 hào của các quẻ trong Dịch, đều được liệt theo thứ tự từ dưới lên trên.

Chu Dịch Càn tạc độ viết: "Vật do cảm nhau mà động, các vật cùng loại thì ứng với nhau, Khí của Dịch được sinh ra từ dưới". "Khí của trời đất tất có đầu có cuối. Vị trí của sáu hào đều từ dưới lên trên. Cho nên, Dịch bắt đầu từ cái Một, một phân ra hai, hai thông ở ba,... ở bốn, thịnh ở năm, kết thúc ở trên cùng".

Trịnh Huyền chú: "Dịch vốn không có hình, từ vi tế mà hiển hiện ra, khí từ dưới sinh ra, nên lấy hào dưới cùng làm khởi đầu vậy". "Dịch vốn không có hình thể, do Khí biến mà sinh ra cái Một, cho nên Khí từ dưới mà sinh ra".

Bàng thông

Điều lệ dịch học do Ngu Phiên đề xướng. Ý nói hai quẻ sáu hào so sánh với nhau, thể của hào âm dương khác nhau, tức là đây là dương thì kia âm, đây là âm thì kia dương, bàng thông với nhau từng cặp một. Ngu Phiên nói: "Quẻ Tỵ bàng thông với Đại hữu, quẻ Đại hữu bàng thông với quẻ Tỵ". Các quẻ khác giống như vậy.

Bàng thông là một trong những điều lệ quan trọng trong Dịch thuyết của Ngu Phiên. Xét, Văn ngôn truyện quẻ Càn nói: "Lục hào phát huy, bàng thông tình dã", ý nói hào của Dịch biến động chẳng dừng. Ngu Phiên đã căn cứ vào đây mà lấy danh từ "bàng thông", nhưng biến đổi ý nghĩa mà sáng tạo thành Dịch lệ của mình. Tới đời Minh thì Lai Tri Đức phát minh ra Tổng quái, Thác quái, được người đương thời gọi là "tuyệt học", trong đó Thác quái tức là áp dụng lệ Bàng thông của Ngu Phiên.

Trích dẫn

Sáu Hào phát huy biến động, biến thông tình - lý sự vật. Hào ở quẻ này là Âm, thì hào tương ứng của quẻ kia là Dương. Ở quẻ này là hào Dương, thì hào tương ứng ở quẻ kia là Âm.

Một sự vật nếu có thành tựu, thì sự vật ấy ắt phải đắc vị - đắc thời - đắc trung. Muốn duy trì một sự vật gì (?), thì chớ để nó phát triển tối đa, mà phải luôn cảnh giác phòng bị mặt trái của nó. Có như vậy, mới không nhận lấy mặt trái của nó.

Cho nên nói tình dã

Thành Ký tế định

Một trong những điều lệ Quái biến do Ngu Phiên đề xướng, nói rằng các hào vị bất chính đều sẽ biến thành chính, quẻ thành Ký tế, hào vị mới định.

CHI CHÍNH

"Chi" giống như nói "biến". "Chính", là chỉ hào âm cư âm vị - ngôi vi chẵn, hào dương cư dương vị - ngôi vị lẻ. Đây là một trong những điều lệ do Ngu Phiên đề xướng.

Trong quẻ, phàm hào vị nào bất chính đều cần phải biến cho thành chính, tức là điều mà Dịch truyện cho là "chính" và "đáng vị", cũng gọi là "chi biến". Theo điều lệ này, thì hào Sơ phải là dương, hào Nhị phải là âm, hào Tam phải là dương, hào Tứ phải là âm, hào Ngũ phải là dương, hào Thượng phải là âm. Khi quẻ sáu hào đều "chính", thì quẻ thành Ký tế, hào vị đã định, bởi vậy còn gọi là "thành Ký tế định". Ngu Phiên dùng thể lệ này để thuyết giải nhiều thể lệ biến của Dịch. Như quẻ Truân lời hào Lục Nhị là "Thập niên nãi phu", ông giảng là: "Khôn số thập, tam động phản chính, Ly nữ đại phúc, cố thập niên phản thường nãi phu, vi thành Ký tế định dã". Có nghĩa là: quẻ Truân, Chấn hạ Khảm thượng, duy có hào Tam bất chính, biến động đến chính, thành Ký tế mà hạ thể là Ly, thì mới có lời giải thích như trên". Lại như tượng truyện hào Cửu Nhị quẻ Vị tế viết: "Vị Sơ dĩ chính, Nhị động thành Chấn, cố thành chính", hào Cửu Tứ nói: "Động chính, đắc vị", hào Lục Ngũ nói: "Chi chính tắc cát", hào Thượng Cửu nói: "Chung biến chi chính, cố vô cữu". Nghĩa là quẻ Vị tế sáu hào đều thất chính, Ngu Phiên thuyết giải năm hào đều nên biến đến chính. Duy thiếu chỉ có một hào Lục Tam thì cũng theo lệ ngày mà suy ra.

Tam biến thụ thượng

Ngu Phiên đề xuất điều lệ Dịch học, chỉ hào thứ Ba biến, thì đổi vị trí cho hào Thượng, còn gọi là "Quyền" hay là "Quyền tượng". Chu dịch tập giải khi bàn về quẻ Gia nhân, dẫn lời Ngu Phiên nói: "Hào Tam đã biến, thì đổi vị trí cho hào Thượng. Đổi thì được đắc vị. Cuối cùng sẽ tốt". Lại dẫn Tượng truyện nói: "Chỉ hào Tam động. Hào Thượng đổi vị trí với hào Tam thành Ký tế định". Đây là nói quẻ Gia nhân chỉ có hào Thượng Cửu là thất chính, thì lấy hào Cửu Tam đã chính, biến thành hào âm, đổi vị trí với hào Thượng Cửu, thì sau hào đều chính mà thành Ký tế.

Xét thấy, lệ này của Ngu Phiên, lời chú ở sách Chu dịch tập giải đã dẫn, chỉ thấy có hai quẻ Gia nhân và Tiệm, đều thuộc quẻ mà hào Tam và hào Thượng là hào dương. Hào Tam là dương, vốn đã được chính, lại biến thành hào không chính, sau đó đổi ngôi vị với hào Thượng Cửu, khiến hai hào đều được chính. Phép này ngược với lệ: "Chi chính thành Ký tế". Bởi vậy, Ngu Phiên mới tự đặt tên là phép Quyền nghi.

Chu dịch tập giải ở hào Thượng Cửu quẻ Tiệm dẫn chú Ngu Phiên, nói: "Hào Tam đã đắc vị, lại biến nhận với hào Thượng là quyền. Khổng Tử nói: có thể hợp đạo, không thể quyền nghi, cũng không lạ vậy".

Phản quái

Điều lệ Dịch học do Ngu Phiên đời Tam quốc đề xướng. Nghĩa là lấy 6 hào của quẻ 6 vạch đảo ngược lại thành quẻ khác. Như quái tượng quẻ Quán, đảo ngược lại thì thành quái tượng quẻ Lâm. Quẻ Quán và quẻ Lâm hỗ nhau, thành quẻ phản quái.

Người đời sau cũng gọi là quẻ "phản đối", gọi như vậy thấy không chính đính với học thuyết của Ngu Phiên, do vì chữ "đối" theo nghĩa âm đối dương hay dương đối âm, ví như quẻ Quán có quẻ đối là quẻ Đại quá.

Nhưng trong 64 quẻ của Kinh, có 8 quẻ gồm Càn, Khôn, Khảm, Ly, Di, Trung phu, Tiểu quá, Đại quá có hình quẻ đặc biệt, đảo ngược cũng không biến đổi, nên không có "phản quái".

Lý Đỉnh Tộ - Chu dịch tập giải ở phần quái từ quẻ Di, dẫn lời Ngu Phiên nói: "Phản phục không suy, cũng như Càn Khôn Khảm Ly Di Trung phu Tiểu quá Đại quá". Trong Dịch thuyết của Ngu Phiên, dùng rất nhiều thí dụ về "phản quái". Như Chu dịch tập giải, ở quái từ quẻ Thái, dẫn lời Ngu Phiên nói: "Phản là Bĩ. Ở quái từ quẻ Minh di lại nói: phản là Tấn. Ở quái từ quẻ Tiệm nói: phản thành Quy muội, v.v..." Xét, thể lệ phản quái, hoặc phản đối, thực ra là một trong những đặc trưng vốn có của hình thái 64 quẻ trong Kinh.

Tuân Sảng

Tuân Sảng (128 - 190), người Dĩnh Xuyên, Dĩnh Âm, này là thành phố Hứa Xương, tỉnh Hà nam, thời Đông Hán, tự là Từ Minh, còn có tên là Tư. Thủa nhỏ ham học, 12 tuổi đã đọc được Xuân Thu, Luận Ngữ, ông đam mê kinh truyện, không chúc mừng thăm viếng ai, được người đương thời gọi là "Tuân thị bát long, Từ Minh vô song", và được Thái úy Đỗ Kiều khen rằng "có thể làm thầy người khác".

Hậu Hán thư - Tuân Sảng truyện, thì trước tác rộng khắp các loại kinh, tử, sử cộng hơn trăm thiên của ông đều thất truyền. Về Dịch học theo cổ văn Dịch của Phí Trực, lấy Thập dực giải thích nghĩa Kinh, ông đã sáng tạo nghĩa lệ đặc trưng "Càn Khôn thăng giáng", kết hợp dùng cả thể lệ quái biến, tiêu tức để giải thích yếu chỉ của Kinh, tác phẩm Dịch giải của ông đã thất truyền.

Hậu Hán thư - Nho lâm truyện viết: "Vào thời Kiến Vũ, Phạm Thăng truyền bá Mạnh thị Dịch để dạy cho Dương Chính, còn Trần Nguyên và Trịnh Chúng đều truyền bá Phí thị Dịch, về sau Mã Dung cũng truyền dạy cho Trịnh Huyền. Trịnh Huyền soạn Dịch chú, từ đó Dịch học họ Phí thịnh hành, mà Dịch học họ Kinh suy yếu".

Quái biến, thể lệ Dịch học của Tuân Sảng, có thể thấy được đại cương phép quái biến thông qua phép Càn Không thăng giáng, nhưng còn có biệt lệ:

1- Có loại từ Càn Khôn mà biến ra, như Thoán truyện quẻ Khiêm dẫn lời Tuân Sảng nói: "Càn lai chi Khôn" (Khôn từ Càn mà biến ra), lại dẫn trong Thoán truyện quẻ Giải: "Càn động chi Khôn, Càn Khôn giao động, động nhi thành Giải" (Càn động biến thành Khôn, Càn Khôn giao động, do động mà biến thành Giải).

2- Có loại từ Lục tử biến ra, như Thoán truyện quẻ Truân nói: "Đây vốn là quẻ Khảm. Xét, hào Sơ thăng lên Nhị, hào Nhị giáng xuống Sơ, đó là cương nhu bắt đầu giao nhau". Lại dẫn Thoán truyện quẻ Mông nói: "Đây vốn là quẻ Cấn. Xét, hào Nhị tiến lên (thăng) chiếm ngôi hào Tam, hào Tam lùi xuống (giáng) hào Nhị, cương nhu đắc trung cho nên thông".

3- Có loại từ tiêu tức quái biến ra, như quái từ quẻ Tụng dẫn lời Tuân Sảng nói: "Dương đến chiếm ở hào Nhị mà phu động ở hào Sơ". Tiêu Tuần cho rằng ở đây nói quẻ Tụng là gốc ở quẻ Độn. Lại như Thoán truyện quẻ Bĩ dẫn: "Đây vốn là quẻ Thái chỉ âm từ trên xuống, ở vào giữa quẻ Càn".

Dịch thuyết của Tuân Sảng nói đến quái biến còn lại không nhiều, lệ ấy có phải chỉ chừng ấy không, thì chưa rõ. Đến khi Dịch học của Ngu Phiên ra đời, thì thể lệ quái biến càng trở nên tỉ mỉ và có hệ thống.

THẬP NHỊ TÍCH QUÁI

Các nhà Dịch học thời Hán lấy 12 hình quẻ đặc thù trong 64 quẻ, phối hợp với khí hậu từng tháng của 12 tháng trong một năm, biểu thị ý nghĩa "âm dương tiêu tức" của vạn vật trong thế giới tự nhiên, gọi là Thập nhị tích quái, hay còn gọi là Nguyệt quái, Hậu quái, Tiêu tức quái.

Nguồn gốc của Thập nhị tích quái rất cổ. Thuyết này đầu tiên thấy ở Quy Tàng: "Tý Phục, sửu Lâm, dần Thái, mão Đại tráng, thìn Quải, tị Càn, ngọ Cấu, mùi Độn, thân Bĩ, dậu Quan, tuất Bác, hợi Khôn" (Mã Quốc Hàn - Ngọc hàm sơn phòng tập dật thư). Thượng Bỉnh Hòa cho rằng, Tả truyện - Thành công năm thứ 16 chép chuyện Tấn Hầu bói việc đánh nước Sở, được quẻ Phục, nói: "Năm quốc kiển, xạ kỳ nguyên, Vương trung quyết mục, dĩ Phục cư Tý". là dẫn chứng rõ nhất về việc vận dụng Thập nhị tích quái để nói về Dịch.

Chữ "Tích" còn có nghĩa là Vua (quân), "chủ" là nói 12 quẻ này làm chủ 12 tháng. Nay dựa vào bộ Hán thượng dịch truyện - Chu Chấn truyền lại Quái khí thất thập nhị hậu đồ của Lý Cái vẽ Thập nhị tích quái đồ biểu thị rõ tôn chỉ: dương đầy là "tức", âm hư là "tiêu". Sáu quẻ từ Phục đến Càn là tức quái, là Phục nhất dương sinh thuộc cung Tý, quẻ tháng 11; Lâm nhị dương sinh thuộc Sửu quẻ tháng 12; Thái tam dương sinh thuộc Dần quẻ tháng Giêng; Đại tráng tứ dương sinh thuộc Mão thuộc tháng 2; Quải ngũ dương tức, thuộc Thìn quẻ tháng 3; đến Càn lục dương tức, thuộc Tị quẻ tháng 4. Sáu quẻ từ Cấu đến Khôn là "tiêu" quái, là Cấu nhất âm tiêu, thuộc Ngọ, quẻ tháng 5; Độn nhị âm tiêu, thuộc Mùi, quẻ tháng 6; Bĩ tam âm tiêu, thuộc Thân, quẻ tháng 7; Quan tứ âm tiêu, thuộc Dậu, quẻ tháng 8; Bác ngũ âm tiêu, thuộc Tuất, quẻ tháng 9; đến Khôn là quẻ lục âm tiêu, thuộc Hợi, quẻ tháng 10.

Hai quẻ Càn Khôn là mẹ của "tiêu - tức", Dịch vĩ - Càn tạc độ viết: "Thánh nhân nhân âm dương mà nêu ra tiêu tức, lập Càn Khôn để thống nhất Thiên Địa", lại chép: "Quẻ tiêu tức, thuần là Đế, không thuần là Vương".

Dịch vĩ - Càn nguyên tự chế ký viết: "Tích quái, ôn khí không theo 6 quẻ, vật dương không sinh, khí đất sẽ dấy lên", Trịnh Huyền chú: "sáu quẻ là chỉ quẻ Thái, Đại tráng, Quải, Càn, Cấu (dưới Cấu còn có Độn, ghi chép sót), hàn khí không theo 6 quẻ, không dẫn đến đông vinh, vật thực không thành", Trịnh Huyền chú "Sáu quẻ là nói các quẻ Bĩ, Quan, Bác, Phục, Lâm". Các nhà Dịch học từ Mạnh Hỷ, Kinh Phòng thời Tây Hán; Mã Dung, Trịnh Huyền, Tuân Sảng, Ngu Phiên thời Đông Hán, cho đến các học giả đời Thanh, chẳng ai không dùng Thập nhị tích quái để lập thuyết, ảnh hưởng rất lớn. Thượng Bỉnh Hòa nói: "Người hậu Hán chú Dịch thường dùng Nguyệt quái nhưng không nói rõ, cho rằng Nguyệt quái mọi người đều biết, bất tất phải nói kỹ, điều đó cho thấy tính quan trọng của Nguyệt quái".

Hệ từ - Hạ truyện viết: "Cương nhu tương thôi, biến tại kỳ trung hỹ", Chu dịch tập giải dẫn lời chú của Ngu Phiên nói: "Nói về tiêu tức của 12 tháng, cửu lục tương biến, cương nhu tương thôi mà sinh biến hóa, cho nên bên trong có biến đổi vậy".

TRỊNH HUYỀN VÀ DỊCH VĨ CHÚ

Trịnh Huyền là Kinh học gia, Dịch học gia nổi tiếng đời Hán. Cống hiến quan trọng đối với Dịch học của ông là: chú thích kiệt xuất công trình Dịch Vĩ, với trước tác đồ sộ và sắc bén, Trịnh Huyền đã trở thành tập đại thành của Tượng - Số dịch học đời Hán.

Trịnh Huyền (127 - 200) người đất Cao Mạt, thời Đông Hán, tự là Khang Thành, ông nổi danh là một đại sư về Dịch học, tinh thông Ngũ hành, là người kế thừa đầu tiên của Kinh thị dịch học.

Trịnh Huyền nghiên cứu Phí thị dịch học, sau đó ông theo nhà kinh học nổi tiếng Mã Dung nghiên cứu Cổ văn kinh. Học xong, ông về làng giảng dạy ngũ kinh. Do chính biến giữa Hoạn quan với Đại thần thời Hán Linh Đế, ông bị bắt giam; Ra tù ông đóng cửa không đi đâu, ở nhà viết sách.

Ông trước tác nhiều về Ngũ kinh, hậu như chú giải toàn bộ, như Chu dịch chú - Tùy thư - Kinh tịch chí được chép thành 9 quyển, Dịch tán, Dịch luận, tác phẩm nổi tiếng nhất của Ông là Dịch vĩ chú được chép trong Tứ khố toàn thư. Đặc biệt của sách này là hào thần, thần ở đây có nghĩa chỉ về ngôi sao, vì Trịnh Huyền coi 12 hào của Càn và Khôn là 12 'thần' tức 12 ngôi sao, ông dùng Dịch để lập thuyết về Thiên văn học. Trịnh Trần đời Thanh có soạn 4 quyển Trịnh học lục, đây là tư liệu quan trọng để nghiên cứu về Trịnh học. Ngoài ra, Vương Ứng Lân thời Nam Tống biên soạn Chu dịch Trịnh Khang thành chú; Mã Quốc Hàn biên soạn Tân bản Trịnh thị Chu dịch; Viên Quân đời Thanh biên soạn Trịnh thị di thư.

Trịnh Huyền là đệ tử của Mã Dung, quan điểm học thuật giống như Mã Dung, trên cơ sở kế thừa Kinh thị dịch học mà phát huy Phí thị học.

Chu dịch chú của Trịnh Huyền đã thất lạc. Tùy thư - Kinh tịch chí đã sao chép được 9 quyển, đời sau có biên soạn Chu dịch Trịnh Khang thành chú một quyển, sách tương đối có tính đại biểu. Những tư liệu trong Tứ khố toàn thư còn lưu giữ đều là những tư liệu nghiên cứu về Trịnh Huyền với Dịch học.

Sách Dịch vĩ được Trịnh Huyền chú giải có trình độ lý luận rất cao. Trên cơ sở của Kinh Phòng về bát quái, hào vị tương kết tương hợp, Trịnh Huyền đã xây dựng thêm số Ngũ hành thành Đại biến số để giải thích số Đại diễn và số Trời Đất của Dịch.

Dịch nói: 天一地二。天三地四。天五地六。天七地八。天九地十。Thiên nhất Địa nhị, Thiên tam Địa tứ, Thiên ngũ Địa lục, Thiên thất Địa bát, Thiên cửu Địa thập”. Số lẻ là dương thuộc Thiên; số chẵn là âm thuộc Điạ. Cho nên ta mới có 10 số thiên-nhiên, dàn thành 5 cặp âm-dương: (1, 2), (3, 4), (5, 6), (7, 8), (9, 10). Trịnh Huyền chú giải: 河以通乾出天。洛以流坤吐地符。河龍圖發。洛龜書成。河圖有九篇。洛書有六篇。(Hoàng-hà để thông hiểu quẻ Kiền suy ra từ trời. Lạc-thủy để lưu hành quẻ Khôn nhả địa-phù. Hoàng-hà Long-đồ phát-xuất, Lạc-thủy Quy-thư hoàn thành. Hà-đồ gồm 9 thiên, Lạc-thư gồm 6 thiên).

Tiêu Diên-Thọ 焦延壽, tự Cống, là sư phụ của Kinh Phòng, đã truyền lại cho Kinh Phòng nguyên lý Hào thần. Sách có chép "Bát-quái Lục-Vị-Đồ 八卦六位圖", lấy ngũ-hành, 10 can (nạp-giáp), 12 chi (trang chi) phổ vào các hào của bát-quái. Đó chính là một thuật của Kinh Phòng. Phép Hào thần sau này đã được Trịnh Huyền sử dụng lấy làm hào âm dương để giải thích Dịch, được ghi lại trong sách Dịch Hán Học 易漢學 của Huệ-Đống 惠棟, Quyển IV, có chép Đồ này.

Số Ngũ hành được xuất hiện sớm nhất ở Thượng thư - Hồng phạm viết: "Đầu tiên là ngũ hành. Thủy nhuận hạ, hỏa viêm thượng, mộc khúc trực, kim tùng cách, thổ viên giá sắc" (Nước thấm xuống làm nên vị mặn, lửa bốc lên làm ra vị đắng, gỗ cong thẳng làm nên vị chua, kim theo thay đổi làm nên vị cay, đất để gieo cấy làm nên vị ngọt). Thông qua đây, Trịnh Huyền lấy số Ngũ hành để chú giải về số trời đất trong Dịch, viết: "Khí của trời đất mỗi thứ có 5. Theo thứ tự ngũ hành, 1 là thủy đó là số trời, 2 là hỏa đó là số đất; 3 là mộc đó là số trời; 4 là kim đó là số đất; 5 là thổ đó là số trời". Ông lại nói: "Số trời đất là 55, với ngũ hành khí thông. Phàm ngũ hành giảm 5, đại diễn lại giảm 1 cho nên thành 4".

Trịnh Huyền chú thích Dịch vĩ rất rõ ràng khúc triết, ông phát triển "Hào thần thuyết" của Dịch vĩ lấy 6 hào của quẻ, tương phối với 12 thần trong 1 năm. Cứ 2 quẻ Dịch đối, ứng trực cho 1 năm, 64 quẻ ứng trực cho một vòng 32 năm, khởi đầu từ hai quẻ Càn Khôn, kết thúc ở hai quẻ Ký tế và Vị tế. Mục địch của Trịnh Huyền là cho quái và hào tương ứng với nội hàm của Thời gian, dẫn tới hiệu quả Thời gian tương ứng với Tiết khí. Hào Thần đối ứng tương tự như với phương pháp Nạp giáp vào quẻ vào hào với vận trình thời gian cho từng năm mới. Tức là: đối với quẻ dương thì đi theo chiều thuận, đối với quẻ âm thì đi theo chiều nghịch. Ta lấy quẻ Càn Khôn làm ví dụ:

Càn vận hành theo chiều trái:

- Hào Thượng: tháng Chín - kiến Tuất

- Hào Ngũ: tháng Bảy - kiến Thân.

- Hào Tứ: tháng Năm - kiến Ngọ

- Hào Tam: tháng Ba - kiến Thìn

- Hào Nhị: tháng Giêng - kiến Dần

- Hào Sơ: tháng Một - kiến Tý.

Khôn vận hành theo chiều phải:

- Hào Thượng: tháng Tư - kiến Tị

- Hào Ngũ: tháng Hai - kiến Mão

- Hào Tứ: tháng Chạp - kiến Sửu

- Hào Tam: tháng Mười - kiến Hợi

- Hào Nhị: tháng Tám - kiến Dậu

- Hào Sơ: tháng Sáu - kiến Mùi

Trịnh Huyền dùng thuyết Hào thần để chú giải quẻ Dịch, chính là do Hào thần đã phản ánh được quy luật âm dương tiêu trưởng, khi Hào thần kết hợp với âm dương khí hóa, đã giải thích được sự thuận nghịch, thành bại của sự - vật, phát huy đầy đủ nguyên lý của Dịch về sự tương ứng giữa con người với thế giới tự nhiên.

Đặc điểm của Trịnh Huyền là lấy Kinh để chú giải Nghĩa, có nghĩa là lấy Dịch kinh chú giải Dịch truyện, cũng như lấy Kinh để giải Vĩ, đây là ông căn cứ vào thuyết lấy âm dương ngũ hành làm cơ sở, Ông đã đề xuất tăng cường ý - nghĩa cho âm dương của Tượng hào, đồng thời dùng Âm dương hào, để giải thích Dịch. Ông cũng đề xuất xây dựng quan điểm của Lão Tử để giải Dịch, như Trịnh Huyền chú Dịch vĩ với Dịch tam nghĩa, lấy tư tưởng vô vi vô vật của Lão để trình bầy mọi điều, Ông viết: "Noi theo Dịch mà vô vi, thì tính của thiên hạ không thể không tự hình thành. Với điều đó, ta có thể nói Dịch đạo là vô vi. Cho nên, trời đất, vạn vật, tất cả đều biến thông".

THUYẾT GIẢI DỊCH CỦA KINH PHÒNG

Kinh Phòng là người khai sáng phái tượng - số Hán dịch, cống hiến chủ yếu về Dịch học của ông là phát triển tượng số học của Dịch học, sự phát hiện ra những điều mới trong Dịch của ông, đã gây được những ảnh hưởng sâu sắc. Đời sau đã coi ông với Mạnh Hỷ là đại biểu cho các nhà Dịch học đời Hán, điều này đã khẳng định vị thế của ông trong Dịch học.

Kinh Phòng (77 - 37 tr.CN) người Tây Hán, người đất Đốn Khâu Đông quận, tự là Quân Minh, ông vốn họ Lý. Ông học dịch ở Tiêu Diên Thọ, rất thích âm luật, sau chết trong tay Trung thư lệnh Thạch Hiển.

Ông biên soạn rất nhiều, nhưng theo Hán thư - Nghệ văn chí, thì nay chỉ còn 11 thiên Tai dị Mạch thị Kinh Phòng, 2 thiên Ngũ lộc xung Phòng lược thuyết, Kinh thị đoạn gia. Trừ 3 quyển Kinh thị dịch truyện ra, thì toàn bộ trước tác khác của ông đều thất lạc.

Kinh Phòng là riêng một học phái, đặc điểm về học thuật của ông là nhấn mạnh thuyết "thiên nhân cảm ứng", do làm rõ được về tai dị trong thiên nhiên, rồi từ đó Ông chiêm nghiệm khí số cho xã hội, nên được nhà vua ban thưởng. Kinh Phòng là mở đầu của phái tượng - số Dịch học. Tập Kinh thị dịch truyện là gốc của tượng - số, là ông tổ của chiêm nghiệm Dịch học.

THẾ - ỨNG

Thế - Ứng là điều lệ Dịch học của Kinh Phòng thời Tây Hán. "Thế" là chỉ quẻ nào đó, trong hệ thống bát cung quái, thuộc thế quái thứ mấy của Cung nào đó, như vậy có nghĩa là hào thứ mấy tức là hào "Thế".

"Ứng" là chỉ sau khi xác định hào của Thế quái, hào này nếu là Sơ thì ứng với hào Tứ, nếu là Tam thì ứng với hào Thượng. Ngược lại cũng như vậy.

Thế - Ứng trong Dịch thuyết của họ Kinh là rất quan trọng, là một trong những phương pháp cơ bản để đoán quẻ khi chiêm sự. Thượng Bỉnh Hòa bàn tới hàm nghĩa của Thế - Ứng và phương pháp suy tìm Thế - Ứng, Thế hào, Ông chỉ rõ: "Thế - Ứng là chủ trong quẻ, là chỗ dựa để suy đoán lành dữ, đại để như Trinh - Hối (tức là nội quái và ngoại quái). Thế là ta, Ứng là nó. Song Thế - Ứng xét ra gặp hào nào, vẫn vốn lấy gốc từ bản cung của quẻ Ngộ quái".

Do đó, tìm hiểu căn nguyên của Thế - Ứng của bất cứ một quẻ nào đó, đều phải khảo cứu Bản cung quái thuộc trong Bát cung quái. Lấy cung Càn làm ví dụ, hào Sơ biến là Nhất thế quái Thiên Phong Cấu, vì quẻ Cấu là từ hào Sơ quẻ Càn biến mà ra. Cho nên Cấu: Thế tức tại hào Sơ, Ứng tại hào Tứ. Hào Nhị của Càn lại biến, thì hào Nhị Thế quái Thiên Sơn Độn, vì Độn từ hào Nhị của quẻ Càn biến mà ra, nên Thế của quẻ Độn là hào Nhị, còn Ứng tại hào Ngũ. Hào Tam quẻ Càn lại biến thì thành Tam thế quái Thiên Địa Bĩ, vì quẻ Bĩ do hào Tam của quẻ Càn biến mà thành. Cho nên Thế của Bĩ là ở hào Tam, còn Ứng thì tại hào Thượng. Hào Tứ của Càn lại biến thì thành Tứ thế quái Phong Địa Quan, vì quẻ Quan là do hào Tứ quẻ Càn biến mà ra. Cho nên Thế của quẻ Quan là ở hào Tứ, còn Ứng thì ở tại hào Sơ. Hào Ngũ quẻ Càn lại biến thì thành Ngũ thế quái Thiên Địa Bác, vì quẻ Bác là do hào Ngũ quẻ Càn biến mà ra, cho nên Thế của quẻ Bác là ở hào Ngũ, Ứng tại hào Nhị. Hào Thương quẻ Càn chẳng thể biến đổi, nếu biến thì xuất cung. Sau khi do hào Ngũ của Ngũ thế quái Bác thoái lùi, thì hào Tứ lại biến thành Dương, thành ra Du hồn quái Hỏa Địa Tấn, Thế của Tấn lùi ở hào Tứ (giống với Tứ thế quái Quan), còn Ứng tại hào sơ. Lại do Tứ của Du hồn quái Tấn thoái lùi, hoàn toàn biến đổi ba hào ở dưới, thì thành Quy hồn quái Hỏa Thiên Đại hữu, Thế của quẻ Đại hữu lại lùi ở hào Tam (giống với Tam thế quái Bĩ), còn ứng tại hào Sơ. Còn như bản cung quái Càn là Thiên, thì Thế tại hào Thượng, Ứng tại hào Tam. Bảy cung còn lại cũng giống như vậy.

Khi tìm hiểu quy luật ở trong của Thế - Ứng, thì thấy Thế vị của Nhất thế quái cho đến Ngũ thế quái, lần lượt ở tại hào Sơ cho đến hào Ngũ, bản cung quái tại hào Thượng, thì Du hồn quái giống Tứ thế quái tại hào Tứ, Quy hồn quái giống Tam thế quái tại hào Tam. Xác định Thế hào rồi thì vị trí của Ứng hào sẽ rất dễ thấy. Cho nên Thượng Bỉnh Hòa nói: "Thế đã định thì cách hai hào là Ứng hào", nói cách hai hào là Ứng hào là cách nói giản tiện về sáu ngôi - vị chẵn lẻ âm dương tương ứng của các quẻ trong Dịch.

Kinh thị dịch truyện - về quẻ Quy hồn Đại hữu của cung Càn,Kinh Phòng nói: "Tam công lâm Thế, Ứng Thượng cửu vi Tông miếu". Từ Ngang nói: "Quy hồn đảm đương chức Tam công, Thế vị thì tại hào thứ ba, thế hào Thìn thổ tương ứng với Tông miếu hào Tị hỏa, (đó tức là hào Thượng, Thượng cư quái cực là tông miếu), Hỏa có khả năng sinh Thổ".

Phép Thế - Ứng mà các nhà bói toán đời sau vận dụng, là do Dịch học của Kinh Phòng mà ra. Các nhà dịch học Hán Ngụy, lưỡng Tấn như Tuân Sảng, Can Bảo,... thì lại thường lấy điều lệ "thế - ứng" để giải thích nghĩa của Dịch.

PHI – PHỤC

Điều lệ Dịch học do Kinh Phòng đời Hán đề xướng. "Phi" là chỉ Quái tượng của hào thế đã hiện rõ của một quẻ nào đó, của một cung nào đó. "Phục" là để chỉ Quái tượng đang ẩn phục chưa hiện rõ do hào thế, hoặc hào tương ứng với nó biến thành.

Phàm là tượng "phi - phục", thì phải có âm dương đối nhau, dương phi thì âm phục, âm phi thì dương phục. Chu Chấn - Hán thượng dịch truyện viết: "Phàm quẻ hiện rõ gọi là phi, quẻ chưa hiện rõ gọi là phục. Phi là mới đến. Phục là đã qua".

Kinh thị Dịch truyện trình bày thể lệ được thâu tóm như sau:

1. Bản cung quái trong Bát cung quái lấy âm dương đối nhau để hỗ thành "phi - phục". Như quẻ Càn và quẻ Khôn đối nhau, Càn là "phi" thì Khôn là "phục", Khôn là "phi" thì Càn là "phục". Tượng làm chủ là hào thế (hào Thượng Cửu Thượng Lục). Các cặp quẻ dịch đối Chấn - Tốn, Khảm - Ly, Cấn - Đoài cũng vậy.

2. Quẻ do Bát cung hóa sinh ra từ nhất thế đến ngũ thế, ba quẻ trước là "phi - phục" đối với nội quái, hai quẻ sau là "phi - phục" đối với ngoại quái. Như quẻ Cấu nhất thế quái của cung Càn, hào thế Sơ Lục đã hiển hiện mà cư ở nội Tốn, hào Sơ Cửu quẻ Càn được hóa sinh ra liền ẩn phục mà cư ở nội Càn, bởi vậy quẻ Cấu phi ở nội Tốn mà phục ở nội Càn, hào Sơ là chủ tượng. Cũng với lý đó, quẻ Độn nhị thế quái, phi ở nội Cấn phục ở nội Càn, hào Nhị là chủ tượng. Cũng với lý đó, quẻ Bĩ tam thế quái, phi ở nội Khôn phục ở nội Càn, hào Tam làm chủ tượng. Quẻ Quán tứ thế quái, phi ở ngoại Tốn phục ở ngoại Càn, hào Tứ là chủ tượng. Quẻ Bác ngũ thế quái, phi ở ngoại Cấn phục ở ngoại Càn, hào Ngũ là chủ tượng. Bản cung còn lại theo đó mà suy.

3. Quẻ Du hồn là "phi - phục" với ngoại quái của ngũ thế quái bản cung. Quẻ quy hồn là "phi - phục" với nội quái của quẻ Du hồn bản cung. Như quẻ Tấn là quẻ Du hồn của cung Càn, hào thế Cửu Tứ đã hiển hiện mà cư ở ngoại Ly, hào Lục Tứ của quẻ ngũ thế quái Bác do quẻ Du hồn phục biến, liền ẩn mà cư ngoại Cấn, hào Tứ là chủ tượng. Quẻ Quy hồn cung Càn là Đại hữu, hào Cửu Tam là hào thế, đã hiển hiện ra mà cư ở nội Càn, ba hào âm dưới quẻ Du hồn Tấn, phản quy phục biến, liền ẩn mà thành nội Khôn; bởi vậy quẻ Đại hữu phi ở nội Càn phục ở nội Khôn, hào Tam là chủ tượng. Bảy cung còn lại theo đây mà suy.

4. Khi chiêm quẻ, gặp hai hào động của bản quái, ba hào động của bản quái trở lên, thì lấy hào động trên cùng làm chủ tượng, xét từ trên xuống dưới, từ ngoài vào trong, cũng đều căn cứ vào Quái từ Quái tượng và Hào từ Hào tượng để định cát hung.

Xét, về thể lệ "phi - phục", thực chất Kinh Phòng vận dụng nguyên lý đầy vơi, tiêu tức trong mâu thuẫn đối lập âm dương của Dịch, sau đó suy rộng phát triển mà thành. Từ Ngang trong Kinh thị Dịch truyện tiên nói: "Âm dương tiêu trưởng mà có phi-phục. Hiển là phi, ẩn là phục. Đã phi thì từ hiển mà ẩn; đã phục thì từ ẩn mà hiển. Trong phi có phục, trong phục có phi, tiêu tức tuần hoàn không cùng".

Hán thư - Kinh Phòng truyện viết: "Tiêu quái gọi là Thái âm. Tức quái gọi là Thái dương". Nhan Sư Cổ chú: "Tiêu quái gồm Cấu, Độn, Bĩ,Quán, Bác, Khôn. Tức quái gồm Phục, Lâm, Thái, Đại tráng, Quải, Càn". Chu Hy chép ở đầu sách Chu dịch bản nghĩa có nói: "Thái dương sinh hai quẻ Càn Đoài. Thái âm sinh hai quẻ Cấn Khôn".

Kinh Phòng đã kết hợp, vận dụng cả Ngũ hành, Can Chi, Ngũ tinh, Tứ khí, Lục thân, Cửu tộc, Phúc đức, Hình sát, v.v...để giúp vào việc chiêm nghiệm. Các nhà bốc phệ đời sau đều lấy phép "phi-phục" của Kinh Phòng để xin âm dương chiêm đoán tai dị. Những nhà Dịch học thời Hán Ngụy như Tuân Sảng, Ngu Phiên lại thường dùng lý luận "dương hạ phục âm, âm hạ phục dương" trong thể lệ phi-phục để giải thích nghĩa của Dịch. Về câu "Lý sương kiên băng chí" trong Văn ngôn truyện quẻ Khôn, Tuân Sảng nói: "Sương là mệnh lệnh của Trời, dưới Khôn có Càn ẩn phục. 'Lý sương kiên băng', đó là nói đạo thuận tòng. Càn khí thêm vào, tính biến thành cứng. Như bề tôi thuận theo mệnh vua mà hoàn thành đạo làm tôi". Hoặc câu "Quân tử dĩ trí mệnh toại chí" trong Đại tượng truyện quẻ Khôn, Ngu Phiên nói: "Quân tử là chỉ hào Tam, dương đang ẩn phục".

Kinh Phòng kiên trì thuyết "quái khí" để bình nghị âm dương tai biến, cho nên di thuyết của ông truyền ở đời rất sâu rộng. Đầu quyển Thượng là: Càn cung bát quái, thứ đến Chấn cung bát quái, Khảm cung bát quái, Cấn cung bát quái. Đầu quyển Trung là: Khôn cung bát quái, thứ đến Tốn cung bát quái, Ly cung bát quái, Đoài cung bát quái. Đầu quyển Hạ bàn về Thánh nhân làm Dịch, phép đếm cỏ thi bày quẻ, rồi bàn về phép Nạp Giáp, sau đó bàn về 24 khí hậu phối hợp với 64 quẻ, và Tứ Dịch: Thiên dịch - Địa dịch - Nhân dịch - Quỷ dịch. Thiên quan, Địa quan và Ngũ hành sinh tử. Phép bói dùng đồng tiền đời sau thực ra xuất phát từ đây. Cách dùng Hỏa châu lâm cựu truyền cũng khởi đầu từ sách của Kinh Phòng.

DU HỒN

Du hồn là quẻ thuần bản cung của mỗi cung, khi biến đến hào thứ năm, thì hào trên không biến, mà lại đi xuống, biến ở hào thứ tư đã biến, quẻ được hình thành như vậy, thì gọi là quẻ Du hồn. Kinh thị Dịch truyện, đó là Du hồn". Lục Tích chú thích: "Khi âm đã bóc hết dương, nhưng dương đạo không thể bị diệt hết, vì vậy phản dương phục đạo. Nhưng không quay về ngôi bản vị, thì gọi là Du hồn theo "lệ" của Bát quái". Nói về quẻ Tấn: "Khí tinh túy thuần"

Xét, gọi tên Du hồn, vốn gốc từ Hệ từ - Thượng truyện "Tinh khí vi vật, du hồn vi biến". Kinh Phòng đã tiếp thu, lấy làm tên gọi cho quẻ hình thành bởi lần biến thứ sáu của Bản cung quái. Can Bảo chú giải về quẻ Tụng nói: "Quẻ Tụng là du hồn của quẻ Ly. Ly là binh qua, thiên khí hình sát, là quẻ mà vương công phải dùng tới quân đội".

QUY HỒN

Quy hồn là quẻ bản cung của mỗi cung, đã biến đổi tới lần thứ 6 thành quẻ Du hồn, thì đồng thời biến đổi 3 hào đã biến ở dưới quẻ, như vậy thì thành quẻ, gọi là quẻ Quy hồn. Kinh thị Dịch truyện trong mục quẻ Đại hữu nói: "Quẻ trở về bản cung gọi là Đại hữu, tượng trong thấy Càn là bản vị". Gọi là "Bản cung", hay "Bản vị" là chỉ cung Càn biến tới quẻ Quy hồn, thì ba hào dưới lại biến nữa mà trở về Càn. Như vậy, hào Sơ, hào Nhị, hào Tam đều biến hai lần. Hào Tứ biến lần hai thì được quẻ Du hồn.

Lục Tích chú thích rằng: "Tám quẻ vốn khởi từ cung Càn, tới Đại hữu là Quy hồn. Gọi là Quy hồn là nói về tượng của quẻ đó biến, mà quay trở về bản vị Hạ quái của bản cung". Tuân Sảng nói: "Tùy là quy hồn của Chấn, Chấn trở về (quy) từ Tốn (chỉ hạ thể quẻ tam thế Chấn thành Tốn, tới quẻ quy hồn mới hồi phục bản thể thành Chấn), cho nên rất thông thuận. Vì Tốn là khiêm tốn, hòa thuận, nên có nghĩa là Thông.

Kinh thị Dịch truyện nói: "Dịch của Khổng Tử chép: Có tứ dịch. Nhất thế Nhị thế là Địa dịch. Tam thế Tứ thế là Nhân dịch. Ngũ thế Bát thuần là Thiên dịch. Du hồn Quy hồn là Quỷ dịch". Lại nói: "Du hồn, Quy hồn là Quỷ dịch. Quỷ là lại quay về. Quẻ Du hồn từ hào thứ năm, thì quay về mà biến ở hào thứ tư; quẻ Quy hồn từ hào thứ tư, lại quay về mà biến ở ba hào ở dưới quẻ. Thể lệ này đều bao hàm cả tôn chỉ của sự 'quay về' (phục quy)".

Thế quái khởi Nguyệt lệ

Điều lệ Dịch học của Kinh Phòng. Phép này đem Bát cung quái chia ghép với 12 tháng. Không giống với thể chế đem quẻ ghép với tháng, trong Quái khí đồ của Mạnh Hỷ.

Khởi Nguyệt lệ:

- Nhất thế quái: âm làm chủ tháng Năm, vì một âm tại Ngọ. Dương làm chủ tháng Một, vì một dương tại Tý.

- Nhị thế quái: âm làm chủ tháng Sáu, vì hai âm tại Mùi, Dương làm chủ tháng Chạp, vì hai dương tại Sửu.

- Tam thế quái: âm làm chủ tháng Bảy vì ba âm tại Thân, dương làm chủ tháng Giêng, vì ba dương tại Dần.

- Tứ thế quái: âm làm chủ tháng Tám vì bốn âm tại Dậu, dương làm chủ tháng Hai vì bốn dương tại Mão.

- Ngũ thế quái: âm làm chủ tháng Chín vì năm âm tại Tuất, dương làm chủ tháng Ba vì năm dương tại Thìn.

- Bát thuần Thượng, âm làm chủ tháng Mười vì sáu âm tại Hợi, dương làm chủ tháng Tư vì sáu dương tại Tị.

- Du hồn do Tứ thế làm chủ, giống với Tứ thế quái.

- Quy hồn do Tam thế làm chủ, giống với Tam thế quái.

Âm dương nói ở đây, là chỉ hào Thế của thế Quái cùng Du hồn quái, Quy hồn quái, thuộc quẻ nào đó, thuộc cung nào đó, là hào âm hay hào dương. Căn cứ vào thuyết này mà lập "Thế quái khởi nguyệt lệ biểu".

Tất cả 12 tiêu tức quái, đều hợp với 12 tháng phối thuộc, còn 52 quẻ khác, vì hào Thế của chúng hợp với tiêu tức hào của 12 tiêu tức quái, nên cũng phân biệt liệt vào 12 tháng. Cho nên, khởi Nguyệt lệ của Kinh Phòng chính là do 12 tiêu tức quái mở rộng ra mà thành. Sự vận dụng lệ này, vốn là để bói toán chiêm nghiệm.

- Nguyệt kiến Tý - quẻ đời một (nhất thế quái): Phục, Bí, Tiết, Tiểu súc

- Nguyệt kiến Sửu - quẻ đời hai (nhị thế quái): Lâm, Đại súc, Giải, Đỉnh

- Nguyệt kiến Dần - quẻ đời ba (tam thế quái) Thái, Ký tế, Hằng, Hàm.

- Quẻ Quy hồn: Đại hữu, Tiệm, Cổ, Đồng nhân

- Nguyệt kiến Mão - quẻ đời bốn (tứ thế quái) Đại tráng, Khuê, Cách, Vô vọng.

- Du hồn quái: Tấn, Đại quá, Tụng, Tiểu quá

- Nguyệt kiến Thìn - quẻ đời năm (ngũ thế quái) Quải, Lý, Tỉnh, Hoán.

- Nguyệt kiến Tị - quẻ Bát thuần (Bát thuần quái) Càn, Cấn, Tốn, Ly

- Nguyệt kiến Ngọ - nhất thế quái: Cấu, Dự, Lữ, Khốn

- Nguyệt kiến Mùi - nhị thế quái: Độn, Truân, Gia nhân, Tụy

- Nguyệt kiến Thân - tam thế quái: Bĩ, Tổn, Ích, Vị tế

- Quẻ Quy hồn: Tùy, Sư, Tỵ, Quy muội

- Nguyệt kiến Dậu - tứ thế quái: Quán, Thăng, Mông, Kiển

- Du hồn quái: Minh di, Trung phu, Nhu, Di

- Nguyệt kiến Tuất - ngũ thế quái: Bác, Phong, Phệ hạp, Khiêm

- Nguyệt kiến Hợi - Bát thuần quái: Khôn, Chấn, Khảm, Đoài.

Sở Tử Huy viết lời bạt cho sách Khải mông tiểu truyện, đã làm rõ nghĩa của Chu Tử còn thiếu, lập luận của Ông có căn cứ, lý lẽ có hệ thống chặt chẽ. Đã làm rõ nghĩa “Càn Khôn nạp Giáp”, quẻ Càn từ Giáp đến Nhâm, quẻ Khôn từ Ất đến Quý, số của nó đều là 9. Tuy nhiên Ông ngờ thuyết cho rằng, số 9 của quẻ Càn có khả năng kiêm cả số 6 của quẻ Khôn. Nhưng Khôn âm không thể bao hàm Càn dương. Tử Huy cho rằng, trong số 6, có số 1, 3, 5 (là các số dương), như vậy thì số 9 dương cũng có thể chứa trong số 6 âm. Thực ra học thuyết về số không ngoài chẵn - lẻ, chỉ có một nghĩa đó mà rất nhiều thuyết bàn tới, càng suy luận càng nẩy sinh những luận lý mới, thuyết nào cũng đúng cả.

Xét, một quẻ sinh 3 con, 3 con sinh 9 cháu. Phép Bát phong của họ Kinh, mỗi quẻ có 3 hào là “sinh”, có 3 hào ngoài là “hành”. Một quẻ sinh 3 cho nên 8 quẻ “biệt sinh” ra 24 “tử tức” (con cháu), 8 quẻ còn “hoà sinh” 24 “tử tức” nữa. Ngoại quái đều có 1 người hành ở một hào. 3 người “hành” vào trong (nội quái) làm khách, cho nên nói: “có ba người khách từ từ đến”. Nhân lấy phép một hào biến của Tả Thị, mỗi quẻ có 6 biến hào làm thành một quẻ, lại hợp 6 lần biến thành 36 quẻ

Nguồn:

- Kinh thị Dịch truyện - Từ Ngang

- Từ điển Chu dịch - Trương Thiện Văn.

THUYẾT VỀ DỊCH SỐ

Số là sự thăng hoa của Tượng, Dịch số bắt nguồn từ Dịch tượng, hào số trong Dịch là tổ của vạn số. Nói là tổ của vạn số, là từ sau khi Phục Hy họa vẽ bát quái, hào âm "- -" (2 số) và hào dương "-" (1 số), số tổng của hai số (3 số) đã trở thành tổ của vạn số.

Dịch số bao gồm Thiên số và Địa số - số của Đại diễn, số của kỳ - ngẫu (số lẻ - chẵn), và nội dung của tứ đại sinh thành số (bốn số lớn sinh thành). Trong đó Dịch số Hà Lạc có nội hàm quan trọng trong khoa học sinh mệnh.

Sự kết hợp giữa Dịch tượng và Dịch số có ý nghĩa quan trọng về phương diện đi sâu làm sáng tỏ Dịch lý. Số là điểm cơ bản của Khoa học tự nhiên, khi ứng dung về mặt chiêm phệ của tượng - số còn được gọi là "thuật số học", là hạt nhân của văn hóa chiêm phệ, sự tương bổ tương thành giữa tương - số và thuật số đều là hạt nhân của Dịch học.

Đặc điểm tượng - số của Dịch là thông qua tượng - số, phân tích làm sáng tỏ Dịch lý. Trong quá trình từ Tượng đến Số, từ Số đến Lý, về khách quan đã thúc đảy tư duy hình tượng đến tư duy trừu tượng, còn được gọi là Huyền học của tư duy Cổ đại. Dịch số không những có tác dụng quan trọng đối với sự phát triển của Dịch tượng, mà còn có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của Dịch lý. Quy luật phát triển giữa hai bộ môn đó với nhau là: Dịch số bắt nguồn từ Tượng lại phát triển Tượng lên; Dịch số ra đời từ Lý lại thúc đẩy cho Lý phát triển. Ba bộ môn Số - Tượng - Lý tương phản tương thành, cùng chung kích thích sự phát triển của Dịch học và Khoa học tự nhiên.

THIÊN SỐ VÀ ĐỊA SÔ CỦA DỊCH

Nội hàm số Thiên Địa của Dịch là lấy số thiên địa để chứng minh nguyên lý hợp nhất của Thiên Địa, mục đích dùng để chứng minh quy luật tự nhiên của Vũ trụ, như viết: "Thiên nhất, địa nhị, thiên tam địa tứ; thiên ngũ địa lục, thiên thất địa bát; thiên cửu địa thập".

Khái niệm 'cực' trong Dịch là nói đến cái bản nguyên của Thiên Địa, như Dịch truyện - Hệ từ nói: "Hữu thiên địa, nhiên hậu vạn vật sinh yên" (Có trời đất, sau mới sinh ra vạn vật), nên Dịch bàn về số là chủ ý lấy Số để chứng minh sự biến hóa vận động của Thiên Địa. Dịch truyện - Hệ từ viết: "Thiên số ngũ, địa số ngũ, ngũ vị tương đắc nhi các hữu hợp. Thiên số nhị thập hữu ngũ, địa số dĩ thành biến hóa nhi hành quỷ thần dã".

Lấy Thiên số và Địa số làm tiêu chí trong quá trình tiêu trưởng của Dịch, đặc biệt là lấy sự nghịch - thuận của âm dương của số, để làm tiêu chí mất còn của âm dương thiên địa, như Dịch - Thuyết quái viết: "Số vãng giả thuận, tri lai giả nghịch, thị số dịch số nghịch dã".

Gọi là nghịch - thuận của Số, là chỉ vãng - lai của Số; "vãng" là số tả huyền (xoay sang trái), thuận thiên nhi hành nên viết thuận; "lai" là số xoay chuyển song hữu (phải) nghịch thiên nhi hành nên viết nghịch. Cho nên, thuận số tượng trưng cho dương sinh âm trưởng, nghịch số tiêu chí âm trưởng dương tiêu. Như trong Tiên thiên bát quái phương vị đồ của Phục Hy, các quẻ Càn Đoài Ly Chấn của nửa vòng bên trái, thì lấy tả huyền vi thuận, tượng trưng cho dương trưởng âm tiêu. Ngược lại, với nửa vòng tròn bên phải, các quẻ Tốn Khảm Cấn Khôn dịch chuyển về bên phải, thể hiện dấu hiệu âm trưởng dương tiêu. Đúng như Chu Hi đã viết: "thiên tả hành, hữu địa tuyền" (Trời đi về phía trái, đất xoay về phía phải).

Thứ tự thuận của Bát quái là từ phải sang trái, tức do: Khôn, Cấn, Khảm, Tốn, Chấn, Ly, Đoài, Càn; cho nên dương sinh xoay vòng sáng trái (tả) theo thiên thời, âm trưởng đi theo sang vòng bên phải (hữu), tương phản đúng hướng tốt. Bởi vậy Dịch viết: "dịch chi số do nghịch như thành hĩ" (số của Dịch do ngược lại mà thành). Vậy tức là 'Dịch' lấy sự nghịch thuận của số, để chứng minh giải thích mối quan hệ mật thiết giữa bát quái định vị với thiên địa vận hành, phản ánh bối cảnh thiên văn của bát quái.

Dịch lấy Thiên số Địa số để tượng trưng cho Tứ tượng lão dương, lão âm, thiếu dương, thiếu âm là Thái cực tứ tượng. Căn cứ theo nguyên lý thái cực thái cực âm dương tiêu trưởng, số tứ tượng tiêu chí cho bốn giai đoạn của thiên địa âm dương tiêu trưởng. Tức lấy 6 làm số lão âm, tượng trưng cho cực của địa âm; lấy '7 số' làm số thiếu dương đại biểu số khởi đầu của thiên dương; lấy '9 số' làm số lão dương tiêu chí cho cực của thiên dương, lấy 8 làm số thiếu âm tượng trưng cho số khởi đầu của địa âm. Dịch truyện lại tiến thêm một bước ứng hợp giữa tứ tượng số và hào số với nhau, để dùng trong chiêm phệ bói toán.

Thiên số và Địa số trong quá trình phát triển, quan trọng nhất là Trần Đoàn thời Bắc Tống, ông lập thuyết chủ yếu lấy Thiên số và Địa số của Dịch, làm cơ sở để thông biến với Hà đồ và Lạc thư. Trong "Long đồ tam biến" nổi tiếng, Trịnh Huyền đã xây dựng học thuyết sáng tỏ về sự diễn biến của Hà đồ - Lạc thư, tức là ông đã dung hòa và kết hợp được giữa Thiên số và Địa số của Dịch, thêm nữa là Kỳ số và Ngẫu số với Ngũ hành sinh thành số, có nghĩa là đệ nhị biến, đem số của 'ngôi vị' hợp với thiên số và địa số trong đệ nhất bất biến, thành số dĩ hợp thiên địa, đã thể hiện ý nghĩa sâu xa sự tượng hợp thiên địa, hàm ẩn số thiên địa của Dịch, đúng như trong Tống văn giám - Long đồ tự - Đồ tam biến đã nói: "Hậu ký hợp dã; thiên nhất cư thượng vị đạo chi tông, địa lục cư hạ vị địa chi bản; thiên tam địa nhị địa tứ vi chi dụng. Tam nhược tại dương tắc tỵ (tránh) cô âm, tại âm tắc tỵ quả (thiếu, ít) dương". (Sau đã được tổng hợp lại: trời là số 1 làm tôn chỉ của đạo. Đất làm số 6 đặt làm gốc của quả đất. Thiên 3, địa 2, địa 4 đều vận dụng vào. Số 3 nếu ở tại dương thì số âm tránh được sự sô độc, còn ở tại âm thì số dương tránh được cô quả".

Lưu Mục trên cơ sở của Trần Đoàn, lại tiến hành tái tạo thêm, phát triển số thiên địa thành ngũ hành sinh thành số. Có nghĩa là phân biệt Long đồ thiên số địa số với ngũ hành sinh thành số tương kết hợp, sáng tạo nên 'Hà Lạc ngũ hành sinh thành số' nổi tiếng. Như viết: "Đó là số ngũ hành sinh thành. Thiên nhất sinh thủy, địa nhị sinh hỏa, thiên tam sinh mộc, địa tứ sinh kim, thiên ngũ sinh thổ. Đó là số sinh vậy. Như vậy thì số dương không có số để hợp, số âm sẽ không gặp may. Cho nên, địa lục thành thủy, thiên thất thành hỏa, địa bát thành mộc, thiên cửu thành kim, địa thập thành thổ. Dẫn đến là số âm dương đều có sự hòa hợp và may mắn, như vậy vật sẽ đắc thành, nên được gọi là thành số".

Số thiên địa của Dịch là mẫu của vạn số, có mối quan hệ mật thiết với ngũ hành sinh thành số, âm dương kỳ ngẫu số, đại diễn phệ số. Thiên số và Địa số là cơ sở của ngũ hành sinh thành số, là sản vật kết hợp giữa thiên địa số và ngũ hành của Dịch, Dịch truyện - Hệ từ viết: "Thiên nhất địa nhị, thiên tam địa tứ, thiên ngũ địa lục, thiên thất địa bát, thiên cửu địa thập". Hán thư - Ngũ hành chí viết: "Thiên dĩ nhất sinh thủy, địa dĩ nhị sinh hỏa, thiên dĩ tam sinh mộc, địa dĩ tứ sinh kim, thiên dĩ ngũ sinh thổ". Dịch số câu ẩn đồ viết: "Thiên nhất sinh thủy, địa nhị sinh hỏa, thiên tam sinh mộc, địa tứ sinh kim, thiên ngũ sinh thổ, địa lục thành thủy, thiên thất thành hỏa, địa bát thành mộc, thiên cửu thành kim, địa thập thành thổ".

Hơn nữa sự tương hợp của số thiên địa trong "Long đồ tam biến" của Trần Đoàn, cũng bắt nguồn từ Dịch truyện - Hệ từ viết: "Thiên số ngũ, địa số ngũ, ngũ vị tương đắc như các hữu hợp, biến hóa nhi hành quỷ thần dã". Lại viết "Trên trời là số 1, dưới đất là số 5, vị trí số 5 tương đắc sẽ có sự hòa hợp nhau, sẽ có sự biến hóa mà làm thành quỷ thần vậy".

Dịch lấy thiên số làm kỳ số là dương số; lấy địa số làm ngẫu số là âm số, từ đó mà đặt cơ sở cho kỳ ngẫu âm dương số. Như trong thiên địa số của Dịch truyện - Hệ từ viết: "Phàm thiên số đều là kỳ số, địa số đều là ngẫu số. Lấy thiên làm đương, lấy địa làm âm", qua đây ta thấy mối quan hệ sâu xa giữa kỳ ngẫu âm dương số của Dịch với thiên địa số.

Số 50 của Đại diễn là số diễn giả, dùng để chiêm phệ Dịch, đồng thời cũng có mối quan hệ mật thiết với số thiên địa của Dịch. Bởi vì số Đại diễn là cơ sở để lấy thiên số và địa số hợp ngũ phương mà diễn giả vạn số. Hơn nữa số Đại diễn cũng thoát thai từ số thiên địa của Dịch. Đúng như Dịch truyện - Hệ từ viết: "Đại diễn chi số ngũ thập... thiên số nhị thập hữu ngũ, địa số tam thập. Phàm thiên địa chi số ngũ thập hữu ngũ, thử số dĩ thành biến hóa nhi hành quẻ thần dã".

Lấy kỳ số và ngẫu số tượng trưng thiên địa, được khởi nguồn từ tứ tượng pháp thiên địa mà có, từ phản ánh bắt nguồn ở tượng của số, nói rõ tính vật chất của Dịch số. Như Dịch - Thuyết quái viết: "Tham thiên lưỡng địa nhi ỷ số", tham tức là số 3 là kỳ số (số lẻ); lưỡng tức là số 2 là ngẫu số, 'tham thiên lưỡng địa' tức là để gọi thiên kỳ địa ngẫu, thiên dương địa âm, cũng có nghĩa là để giám sát cả trời đất. Ý tứ của toàn câu là lấy số âm dương kỳ ngẫu để nắm chắc độ số của thiên địa, thông qua Ngũ âm làm số đo trời, cụ thể là lấy âm dương của số, làm thước đo âm dương của trời đất. Cho nên nói đây là nội hàm chủ yếu của kỳ ngẫu số trong Dịch.

Kỳ số và ngẫu số làm tiêu chí cho số âm dương, được bắt nguồn gốc ở hào âm hay dương, trong đó Hào dương là kỳ số, là 'dương số chi phụ' (cha của số dương); Hào âm là ngẫu số, là 'âm số chi mẫu' (mẹ của số âm). Từ đây đặt nên mối quan hệ vững chắc giữa kỳ ngẫu số và âm dương.

Kỳ số và ngẫu số cũng biểu thì cho sự 'hư - thực', vẫn bắt nguồn từ hào âm dương, trong đó ngẫu số là 'hư', kỳ số là 'thực'. Nội hàm hư thực của kỳ ngẫu số cũng được phản ánh ở Bát quái, như quẻ Ly là trung hư, quẻ Khảm là trung mãn. Cho nên trong Thái cực đồ, điểm trắng kỳ số tượng trưng cho thực, điểm đen ngẫu số tượng trưng cho hư.

Đối với triết lý, được phản ánh trong mối quan hệ giữa Dịch truyện và Lão Tử. Thứ nhất, là từ góc độ của Ngẫu số tiến hành phân tích rõ sự sinh thành của Vũ trụ, như "Dịch hữu thái cực, thị sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái". Cụ thể là sự sinh thành của Bát quái và vạn vật, thông qua kỳ số và ngẫu số của Dịch, đã phản ảnh triết lý 'nhất phân vi nhị' (một chia làm đôi), nhờ sự gợi mở của triết lý này mà người đời sau đã sáng lập nên 'Tiên thiên bát quái thứ tự đồ', và 'Thiên thiên lục thập tứ quái thứ tự đồ'. Hai đồ hình này đã bao hàm rõ nét nguyên lý 'nhất phân vi nhị', đã ảnh hưởng lớn đến thế hệ sau.

Ngoài ra, trên cơ sở 3 hào làm nhất quái của Dịch kinh, thì Dịch truyện còn đề xuất tư tưởng 'tam tài quan' của thiên địa nhân nhất thể. Trên cơ sở này, mà người đời sau đã xây dựng lập thuyết 'hàm tam vi nhất' (bao hàm 3 làm 1), như trong Tam thống lịch đời Ngụy, Mạnh Khang chú giải: "Thái cực nguyên khí, hàm tam vi nhất", có nghĩa là lấy hai con cá mầu đen trắng đại biểu cho thiên địa, đường phân giới tuyến hình chữ 's' đại biểu cho Nhân, từ đồ hình đã chỉ rõ hợp nhất tam tài thiên địa nhân.

Lão Tử đã phát triển nổi bật Kỳ số của Dịch, chủ yếu là lấy Kỳ số giải thích sự sinh thành của Vũ trụ: "Đạo sinh nhất, nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật". Dịch truyện nhấn mạnh Ngẫu số 'nhị', đó là Thái cực sinh lưỡng nghi. Lão Tử phát huy 'tam' Kỳ số, tích cực đề xuất rằng 'tam' sinh vạn vật. Dịch truyện sáng lập bộ môn sáng trói về "nhất phân vi nhị", còn Lão Tử đề xướng "nhất phân vi tam". Thuyết minh Dịch truyện và Lão Tử lấy 'tham' và 'lưỡng' để giải thích vũ trụ thông qua hình đồ triết lý diễn sinh như sau:

......................[Hào âm --> ngẫu số 2 --> nhất phân vi nhị

Tham thiên [Hào số 3 --> hàm tam vi nhất --> Trung hòa quan

Lưỡng địa [Hào dương -->Kỳ số 1 --> nhất phân vi tam

.....................(nhị hợp vi nhất)

Dịch lấy hào dương làm Kỳ số, hào âm làm Ngẫu số, Dịch ghép lấy hào ba của Kỳ số 'tổ' thành kinh quái, lấy Ngẫu số lưỡng kinh quái 'hợp' thành trọng quái. Kỳ Ngẫu số của Dịch đã xác lập định luật lấy đơn số làm 'lẻ', lấy song số làm 'chẵn', đặt cơ sở cho luật kỳ - ngẫu cổ đại. Đặc biệt là căn theo luật Kỳ số là hào dương, Ngẫu số là hào âm, đã quy định Kỳ là số dương Ngẫu là số âm, từ đây xác định nội hàm âm dương của luật Kỳ - Ngẫu, đã có ảnh hưởng rất lớn đối với hậu thế cho đến tận này nay. Như trong Bạch hổ thông - Giá tụ Ban Cố viết: "Dương số Kỳ, âm số Ngẫu", đã nói rõ kỳ ngẫu của Dịch có quan hệ mật thiết đối với sự hình thành của luật kỳ ngẫu âm dương.

Luật kỳ ngẫu âm dương đã có ảnh hưởng sâu sắc đối với nhiều bộ môn: lịch pháp, thuật số, chiêm phệ, vận khí học,... của thời cổ đại. Như thời tính Can chi kỷ (12 năm), lấy kỳ số làm dương Can, ngẫu số làm âm Can, học thuyết Vận khí trong Hoàng đế nội kinh cũng như vậy. Lại như các thuật số Thái ất, Kỳ môn, Lục Nhâm cũng đầu lấy âm dương kỳ ngẫu làm tiền đề: hào âm tượng trưng cho 'nhất phân vi nhị', hào dương có ý chỉ 'hợp nhị vi nhất'.

Dịch truyện dựa trên cơ sở Dịch kinh, đã xác minh rõ quan niệm về sự thống nhất đối lập ẩn tàng trong luật kỳ ngẫu của các hào âm và hào dương, hoàn toàn phù hợp với số sinh tượng, tượng sinh lý, có nghĩa là quy luật tư duy trìu tượng sản sinh ở tư duy hình tượng, tiến thêm một bước chứng thực quan điểm 'tham thiên lưỡng địa nhi ỷ số'. Từ đây mà tư tưởng biện chứng được xác lập.

Gọi là luật chính phản, có nghĩa là chỉ hướng chính và hướng phụ của sự vật. Bất cứ sự vật nào trong vũ trụ đều tồn tại hai mặt chính phản (phải trái), tức có chính hướng tất có phản hướng, bao gồm hư thực u ẩn, khai hợp (khép mở), minh ám (sáng tối), trú dạ (ngày đêm), tử sinh,... Hào dương và hào âm của Dịch kinh, có hắc ngư và bạch ngư trong Thái cực đồ, rồi tới hắc điểm và bạch điểm của Hà đồ Lạc thư, tất cả đều tàng ẩn chứa đựng nguyên lý thư thực chính phản, mà còn đều lấy Kỳ làm chính hướng làm thực, lấy Ngẫu làm phản hướng làm hư; đối với Hà Lạc cũng vậy: Kỳ số là chính là thực, Ngẫu số là phản là hư.

Luật chính phản là luật đặc hữu của Dịch, là sự phát triển đặc thù của quy luật mâu thuận của Dịch, mà chủ yếu chỉ tính chất hư thực, u hiện (kín lộ), khai hợp (đóng mở), để làm sáng tỏ quy luật chính phản của sự vật. Cụ thể như hào âm của bát quái là hư số, còn Hào là thực số vậy. Cũng như số ẩn (độn số) của Kỳ môn độn Giáp, các hào trong Kỳ môn gồm: Độn - Giả - Mộ - Tỵ (tránh) - Huyệt - Phục thì đều thuộc ẩn thuộc hư, còn Kỳ - Môn - Tiến - Du - Phi - Sư thì đều là các hào hiển lộ rõ, là thực. Sau đó Kỳ môn dựa vào đó suy diễn hư thực, chiêm đoán cát hung, đạt đến mục đích tránh được họa, được hưởng phúc.

SỐ ĐẠI DIỄN

Số Đại diễn là thành phần chủ yếu của Dịch số. Đại diễn tức là diễn ngữ, diễn dịch, là chỉ về phương pháp dùng thẻ bằng cỏ Thi để diễn dịch xem đoán vận số. Số Đại diễn là tổng hòa của thiên số và địa số trong Dịch: "Thiên nhất địa nhị, thiên tam địa tứ, thiên ngũ địa lục, thiên thất địa bát, thiên cửu địa thập".

Số Đại diễn sở dĩ lấy 'ngũ thập' là do thời cổ đại, lấy 'ngũ thập' làm cực số tự nhiên quan trọng, nguyên nhân là do số 'ngũ thập' có đầy đủ nội hàm với vũ trụ thiên văn. Như trong Hoàng đế nội kinh nói: "nhân khí hành Kinh mạch ngũ thập doanh", nhấn mạnh 'ngũ thập doanh' là số thọ của phép dưỡng sinh. Linh Khu - Ngũ thập doanh viết: "ngũ thập doanh bị, đắc tân thiên chi thọ hỉ" (được số thọ của cả trời đất). Chu dịch chính nghĩa - Khổng Dĩnh Đạt dẫn lời Kinh Phòng nói: "Ngũ thập giả, vị thập nhật, thập nhị thìn, nhị thập bát tú dã". Mã Dung cũng nói: "Thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh nhật nguyệt, nhật nguyệt sinh tứ thời, tứ thời sinh ngũ hành, ngũ hành sinh thập nhị nguyệt, thập nhị nguyệt sinh nhị thập tứ khí, phàm ngũ thập" (khái quát lại là năm mười)

Số Đại diễn 'ngũ thập hữu ngũ', còn có thuyết là số căn cứ để vua Đại Vũ trị thủy thời cổ đại, như trong Chu bễ toán kinh nói "Vũ trị hồng thủy, bắt đầu mở rộng vận dụng và bỏ lược đi phần huyền hoặc nên gọi là số đại diễn".

Số Đại diễn là điển phạm lấy Số mà nghiên cứu Tượng, tuy là số chiêm toán, nhưng lại có mối tương quan mật thiết với vũ trụ sinh thành, lý luận này bắt nguồn từ ở Thái Nhất (Bắc Thìn) ở trong bất động, là bối cảnh thiên văn vũ trụ xoay chuyển của 49 ngôi sao bắc đẩu tinh tọa, Mã Dung viết: "Hợp thái cực, lưỡng nghi, tứ thời, ngũ hành, thập nhị nguyệt, nhị thập tứ khí vi ngũ thập, nhi giảm khứ bắc thìn chi nhất vi dụng tứ thập cửu. Dịch hữu thái cực vị bắc thìn dã. Thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh nhật nguyệt, nhật nguyệt sinh tứ thời, tứ thời sinh ngũ hành, ngũ hành sinh thập nhị nguyệt, thập nhị nguyệt sinh nhị thấp tứ khí. Bắc thìn cư vị bất động. Kỳ dư tứ thập cửu, chuyển vận nhi dụng dã". Giảm bớt đi số 1 của bắc thìn, xem như giảm một ngày để dùng số 49. (Dịch có thái cực gọi là bắc thìn. Thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh nhật nguyệt, nhật nguyệt sinh 4 mùa, bốn mùa sinh 5 hành, 5 hành sinh ra 12 tháng, 12 tháng sinh ra 24 khí. Sao ở Bắc cực ở vị trí bất động, ngoài ra còn lại 49, được chuyển vận mà sử dụng)

Số Đại diễn ngoài hàm chứa tính thiên văn ra, thì cũng hàm chứa cả số âm dương, cụ thể là số "dư" từ số Đại diễn sau khi kinh qua tam biến của chiêm phệ, lấy đó trừ đi 4 thì được 9 là lão dương số, được 6 là lão âm số, được 7 là thiếu dương số, được 8 là thiếu âm số, bốn số này cũng tức là âm dương tứ tượng. Ngoài ra, số lão dương và số lão âm được lấy làm tiêu chí của hào dương và hào âm trong Dịch.

Số Hà Lạc là sự hợp nhất của số thiên địa, số đại diễn và số sinh thành. Tổng số của Hà đồ là "ngũ thập hữu ngũ" (năm mươi dư năm), đây là số tổng hòa trong Dịch, mà Lạc thư tổng số là "tứ thập hữu ngũ" (bốn mươi dư năm). Hai số đại diện cho chính - phản, trái phải của số Đại diễn.

Thổ khí là nguyên cớ của vạn vật. Được gọi là số 'sinh' gồm các số 1, 2, 3, 4, 5 là số tượng trưng cho thủy, hỏa, mộc, kim, thổ; trong đó số của Thổ là nguyên cớ cho bốn số đứng ở ngôi vị trước mà ỷ vào (nhi ỷ số: số dựa vào) mà được thành số 6, 7, 8, 9, 10. Tổng hòa của Hà đồ sinh thành số cũng là 'ngũ thập hữu ngũ'.

Phệ số tức là số bói quẻ bằng cỏ Thi 'kỳ dụng tứ thập hữu cửu' (dùng số bốn mươi dư chín). Thi số là chỉ phệ số của 'tứ thập hữu cửu' rút ra trong 'ngũ thập' của số Đại diễn một "can rễ" không dùng, thông qua sự biến hóa của bói toán (phệ biến), thì thấy được sự dung nhất giữa ba bộ môn số - tượng - lý.

Sách số là chỉ Càn Khôn sách số có nguồn gốc từ lấy số 4 đại diện cho tứ doanh nhân với 9 là số 'dụng cửu' của hào dương mà thành 36, tiếp theo lại nhân với 6 của hào dương mà thành 216 sách số của Càn. Số 4 của tứ doanh nhân với số 6 là số 'dụng lục' của hào âm thành thành 24, lại nhân tiếp với 6 của hào âm thì được 144 là sách số của Khôn, tổng hòa của sách số là 'tam bách hữu lục thập', đây là chỉ số của một vòng quay mặt trời thời xưa. Cho nên, Càn Khôn sách số là tiêu chí chỉ sự vận hành của thiên địa, cũng tức là Càn Khôn sách số của 28 vì sao quanh bầu trời vòng quay hết 64 quái 384 hào.

Số chỉ vạn vật là số 11520, là một khí số quan trong thời cổ đại, được tổ hợp từ sách số của Càn là 36 nhân với 192 hào dương được 6912, sách số của Khôn là 24 nhân với số hào âm được 4608, cộng lại thành số 11520. Phệ số và số phi ức có sự tương quan mật thiết giữa số chỉ vạn vật với khí số thiên văn (số phi ức: số không ức đoán hoặc số không phán đoán được).

Thiệu Ung đã phát triển phệ số, lấy bát quái tự số (số thứ tự) và lục hào số làm cơ sở của phệ số, để tiến hành bói toán diễn dịch, và trên cơ sở của Càn Khôn sách số và số chỉ vạn vật, xây dựng thuyết "vạn vật giai số". Chỉ ra số chung thủy của thiên địa là số 1.216.192.320, số trước sau của trời đất.

Trần Đoàn kết hợp giữa số Đại diễn và số hà lạc, mà sáng chế ra "Hà lạc lý số". Tức là sự đối ứng giữa việc lấy năm tháng ngày giờ sinh ra con người, với số can chi Hà đồ Lạc thư và bát quái, từ đây mà chiêm nghiệm mệnh số của con người. Với đặc điểm có đủ diễn biến thừa tiếp của tiên thiên quái và hậu thiên quái, lấy Giờ sinh của con người định ra vị trí hào động của tiên thiên quái, sau lại biến thành hậu thiên quái, để xét mệnh vận lâu dài.

Số bát quái do số đại diễn của Dịch bao quát, được Đại Tử Bình phát triển thành phương pháp xem Bát tự, tức tứ trụ mệnh học, cụ thể là phối ứng giữa can chi của năm-tháng-ngày-giờ sinh, kết hợp với quy luật âm dương ngũ hành sinh khắc, để tiến hành chiêm nghiệm vận mệnh nhân sinh.

Huệ Đống nói: "Hư ngũ nhi hữu diễn, hư nhất nhi khả dụng, nhất dữ ngũ giai đạo chi bản dã" (Số 5 hư mà có thể diễn dịch, số 1 hư mà có thể khả dụng, số 1 và số 5 đều là gốc của đạo vậy".

THUYẾT VỀ PHỆ PHÁP

Phệ pháp là phương pháp xem bói theo Dịch. Hệ từ thượng truyện nói: "Dịch là đạo của thánh nhân, gồm bốn phương diện, mà thứ nhất là chiêm bói". Bài 'Đại diễn chi số' cũng là bài riêng trình bầy chi tiết về yếu chỉ của phép bói. Thiên Phệ nghi trước là do Chu Hi soạn ở đầu quyển Chu dịch bản nghĩa đã trình bầy rõ về phép bói.

Trước hết, chuẩn bị 50 thẻ cỏ thi đựng vào trong ống. Phía nam ống đặt một khay gỗ, chia làm hai ô to, ô to bên trái lại được chia làm 3 ô nhỏ. Khi bói, hai tay cầm 50 sợi cỏ thi, tay phải nhặt ra một thẻ đặt vào trong ống (đây là điều mà Hệ từ truyện gọi là: Số đại diễn 50, sử dụng có 49, còn gọi là 'hư nhất bất dụng'). Rồi lấy cả hai tay tùy ý chia đôi 49 thẻ đặt vào hai ô to bên trái và bên phải của khay gỗ. Đây gọi là 'doanh thứ nhất' (doanh có nghĩa là kinh doanh), cũng tức là điều mà Hệ từ gọi là: chia ra làm hai để tượng trưng cho lưỡng nghi. Tiếp đó, dùng tay trái cầm lấy số thẻ trong ô to bên trái, tay phải nhặt lấy 1 thẻ trong ô to bên phải, rồi cài vào khe ngón tay út trái. Đây tức là 'cài 1 để tượng trưng cho tam tài: trời đất người'. Tiếp theo, dùng tay phải đếm 4 thẻ một số thẻ ở tay trái. Đây tức là nửa trước 'của doanh thứ ba', cũng là điều mà Hệ từ gọi là 'đếm bằng số 4 để tượng trưng tứ thời'. Tiếp đó, lấy số thẻ sau khi đếm 4 còn thừa, hoặc 1 thẻ, 2 thẻ, 3 thẻ, 4 thẻ, kẹp vào khe ngón tay vô danh của tay trái. Đây tức là nửa trước của 'doanh thứ tư', cũng tức là điều mà Hệ từ gọi là: 'quy số lẻ về chỗ kẹp để tượng trưng cho nhuận'. Tiếp theo, dùng tay phải trả lại số thẻ đã đếm vào ô lớn bên trái, rồi cầm lấy số thẻ trong ô lớn bên phải, và dùng tay trái đếm 4 thẻ một. Đây tức là nửa sau của 'doanh thứ ba'. Tiếp theo, lại lấy số thẻ, sau khi đếm 4 còn thừa, hoặc 1 thẻ, 2 thẻ, 3 thẻ, 4 thẻ, như trước kẹp vào khe ngón tay giữa của tay trái. Đây tức là nửa sau của 'doanh thứ tư', đây cũng là điều mà Hệ từ gọi là 'kẹp lần hai để tượng trưng cho hai lần nhuận'.

Bây giờ, những thẻ thừa ra trong hai lần đếm đã kẹp được, ô lớn bên trái thừa 1 thẻ, thì ô lớn bên phải thừa 3 thẻ; Bên trái thừa 2 thẻ thì bên phải thừa 2 thẻ; Bên trái thừa 3 thẻ thì bên phải thừa 1 thẻ; Bên trái thừa 4 thẻ thì bên phải cũng thừa 4 thẻ. Lấy số thẻ thừa của hai lần đếm, nhập vào số thẻ của một lần cài, thì được không phải là 5 thẻ thì 9 thẻ. Bốn doanh thế là xong. Dùng tay phải, lấy số thẻ đã đếm, đưa trở lại vào ô to bên phải, gộp với số thẻ đã qua 1 lần cài 2 lần kẹp, đặt vào ô nhỏ thứ nhất bến trái khay gỗ. Đó là hoàn thành một lần biến. Tổng số thẻ thừa có được sau lần biến thứ nhất 'không 5 thì 9'.

Sau lần biến thứ nhất, dùng hai tay lấy số thẻ đã đếm xong 1 lần biến, ở hai ô to bên trái và bên phải khay gỗ, gộp lại làm một, rồi theo trình tự 4 doanh ở lần biến thứ nhất, lấy số thẻ 1 cài 2 kẹp đặt vào ô nhỏ thứ hai bên trái. Đó là hoàn thành 2 lần biến. Tổng số thẻ thừa sau lần biến thứ hai là 'không 4 thì 8'.

Sau lần biến thứ hai, đêm số thẻ đã đếm của lần biến thứ hai, ở trong 2 ô to bên trái và bên phải, gộp lại làm một, rồi theo trình tự 4 doanh như lần biến thứ nhất, thứ hai, mà lấy số thẻ 1 cài 2 kẹp đặt vào ô nhỏ thứ ba bên trái. Đó là hoàn thành ba lần biến. Tổng số thẻ thừa có được lần biến thứ ba là 'không 4 thì 8' (giống lần biến thứ hai).

Xong ba lần biến, thì mới xem số thẻ đã đếm của lần biến thứ ba, và số thẻ cài kẹp thu được của 3 lần biến, mà vạch thành từng hào. Số thẻ cài kẹp thu được sau ba lần biến là 5, 4, 9, 8. Các số 4, 5 là lẻ (trong hai số này, đều chỉ chứa một số 4, nên gọi là lẻ). Các số 9, 8 là chẵn (trong hai số ngày, đều chứa hai số 4, nên gọi là số chẵn). Tổng hợp lại số 1 cài 2 kẹp và số chẵn hay lẻ như sau: gọi là 3 số lẻ, tức là 5, 4, 4 thì gọi là 'tam thiểu', gộp lại là 13, thì số thẻ đã đếm là 36 (49 - 13), đem chia cho 4 được 9, gọi là Lão dương, phép bói gọi là "trùng".

Nếu số cài kép thu được sau 3 lần biến là 2 số lẻ 1 số chẵn (tức 5, 4, 8 hoặc 9, 4, 4), thì gọi là 'lưỡng thiểu nhất đa', gộp là là 17 thẻ, thì số thẻ đã đếm là 32 (tức 49 - 17), đem chia 4 được 8, là Thiếu âm, còn gọi là "sách".

Nếu số cài kẹp thu được sau 3 lần biến là 2 số chẵn 1 số lẻ (tức 9, 8, 4 hoặc 5, 8, 8), thì gọi là 'lưỡng đa nhất thiểu', gộp lại là 21 thẻ, vậy là số thẻ đã đếm là 28 (tức 49 - 21), đem chia cho 4 được 7, là Thiếu dương, còn gọi là "đơn".

Nếu số cài kẹp thu được sau 3 lần biến là 3 số chẵn, tức là 9, 8, 8, thì gọi là 'tam đa', gộp lại là 25 thẻ, thì số thẻ đã đếm là 24 (tức 49 - 25), đem số thẻ đã đếm chia 4 được 6, là Lão âm, còn gọi là "giao".

Bốn doanh thành một biến, ba lần biến thì được một hào, 18 lần biến thì được 6 hào mà thành quẻ. Hào thu được trong 3 lần biến đầu gọi là Sơ hào. Hào thu được của lần biến thứ 4 đến thứ 6 là Nhị hào. Hào thu được của lần biến thứ 7 đến thứ 9 là Tam hào. Hào thu được của lần biến thứ 10 đến thứ 12 là Tứ hào. Hào thù được của lần biến thứ 13 đến thứ 15 là Ngũ hào. Hào thù được của lần biến thứ 16 đến thứ 18 là Thượng hào.

Quẻ bói được gọi là "bản quái", quẻ biến thành gọi là "chi quái". Phép bói thời cổ dựa vào tình hình biến và bất biến của Bản quái (quẻ chiêm được), mà chiêm đoán cát hung lợi hại. Sách Chu dịch khải mông của Chu Hi quy nạp thành 7 điều như sau:

1. Một hào biến thì xem ở lời hào biến của Bản quái.

2. Hai hào biến thì xem ở lời của hai hào biến của Bản quái, nhưng vẫn lấy hào trên làm chính.

3. Ba hào biến thì xem ở Thoán từ của Bản quái và Chi quái, đồng thời lấy Bản quái làm "Trinh" (trong), Chi quái làm "Hối" (ngoài).

4. Bốn hào biến thì xem hai hào bất biến ở Chi quái, vẫn lấy hào dưới làm chính.

5. Năm hào biến thì xem ở hào bất biến của Chi quái.

6. Sáu hào biến thì xem ở hai hào Dụng ở quẻ Càn và quẻ Khôn, những quẻ còn lại xem ở Thoán từ và Chi quái.

7. Sáu hào đều không biến thì xem ở Thoán từ của Bản quái.

Trong quá trình bói Dịch, được một quẻ sáu hào, nếu có một, hai, hoặc mấy hào biến động, thì hào ấy gọi là "động hào", cũng gọi là "biến hào". Sách Chu dịch khải mông của Chu Hy có bàn về quy định của các lệ này. Đời sau, các nhà Dịch học có người coi đó là Pháp thức, nhưng cũng có người chỉ trích.

Thượng Bỉnh Hòa soạn sách Chu dịch cổ phệ khảo căn cứ vào thuyết sẵn có của Chu Hi, và chỉ ra rằng: "Quẻ có nhất hào động, nhị hào động, tam hào động, thậm chí tứ hào, ngũ hào, lục hào toàn động. Ta gặp quẻ này thì suy đoán thế nào? Nay xét thành lệ của người xưa, cùng những điều bàn luận quy định của Chu Tử lấy đó làm pháp thức. Song chẳng thể câu nệ. Vì Dịch quý ở chỗ chiêm nghiệm sự biến dịch. Sự thông biến của Tượng và Từ, cùng sự ứng hợp với sự thực, sự gợi ý của thần minh, đều là thiên biến vạn hóa, có những điều chẳng thể nghĩ bàn, cho nên không thể cố chấp. Cần phải căn cứ vào Sự mà chọn lấy Từ, quan sát Tượng mà ấn chứng với Ta, bỏ chỗ sơ mà dùng chỗ thân".

Thượng Bỉnh Hòa còn tập hợp các lời bói trong Sử truyện làm chứng cứ, nói rõ những tình huống mà Chu Hi nêu ra, và chỉ ra rằng, khi bói Dịch đều phải kết hợp quái tượng của Bản quái và Chi quái để suy đoán cát hung, ông chỉ trích mạnh thuyết "Càn Khôn chiêm nhị dụng" của Chu Hi, cho rằng Nhị dụng chỉ chứng tỏ phép bói Dịch dùng Cửu - Lục, không dùng Thất - Bát, quyết không phải là lời chiêm đoán của quẻ Càn và Khôn, và chỉ rõ: "Đặt ra cái đó, mà lời chiêm đoán của sáu hào đều biến, thì 62 quẻ còn lại, đều nên có lời chiêm đoán của sáu hào biến, thế mà sao lại không có? Hơn nữa, trong Dịch, nhất, nhị, tam, tứ, ngũ hào biến đều chưa xem tới, mà đột ngột xem tới lục hào biến, về nghĩa khó thông, về lệ cũng không thỏa đáng".

Lại nói: "Xét, phép cũ của cổ nhân, thường xem lời Thoán truyện mà đoán. Nhưng Thoán truyện thường không sát với ta, thì xem cái gì phù hợp mà suy đoán, thế thì quan sát Tượng quẻ là hơn".Có nghĩa là, vừa phải dựa vào Quái từ, vừa phải coi trọng việc phân tích hàm nghĩa của Quái tượng".

"Dịch vốn là dùng để bói, không nắm được phép bói, ý nghĩa của "cửu - lục", thì không biết vì sao lại như vậy, và càng khó lý giải về chương Đại diễn của Hệ từ. Ngay sách Xuân Thu nói "mỗ quái chi mỗ quái" là cũng chưa nắm được duyên do. Vì vậy, người học Dịch trước hết phải nắm vững phương pháp của phép bói. Nay ta sử dụng Phệ nghi do Chu Tử lưu truyền lại. Vậy thì Phệ nghi là do Chu Tử chế định ra, hoặc có thể do tiên nho truyền lại, Chu Tử không nói gì, bất tất phải bàn luận gì thêm".

ĐƠN SÁCH TRÙNG GIAO

Từ sau đời Hán, người bói dùng đồng tiền thay cho 50 cọng cỏ Thi. Bói được hào Thiếu dương, thì gọi là "Đơn", tức giống như đếm cỏ Thi mà gặp "lưỡng đa nhất thiểu", số của nó là 7, vẽ thành phù hiệu --(vạch dương); Bói được hào Thiếu âm, thì gọi là "Sách", tức khi đếm cỏ Thi gặp "lưỡng thiểu nhất đa", số của nó là 8, vẽ thành phù hiệu - - (vạch âm). Bói được hào Lão dương, thì gọi là "Trùng", tức là đếm cỏ Thi gặp "Tam thiểu", số của nó là 9, vẽ phù hiệu (hình vuông); Bói được hào Lão âm, thì gọi là "Giao", tức là khi đếm cỏ Thi gặp "Tam đa", số của nó là 6, vạch thành phù hiệu X (dấu nhân).

Trịnh Huyền chú Nghi lễ - Sĩ quan lễ có đoạn "phệ dữ tịch" kể đến phép lấy tiền thay cỏ Thi như sau: "Lấy 'tam thiểu' làm "trùng tiền", trùng tiền thì 9; 'tam đa' làm "giao tiền", giao tiền thì 6; "lưỡng đa nhất thiểu" làm "đơn tiền", đơn tiền thì 7; "lưỡng thiểu nhất đa" làm "sách tiền", sách tiền thì 8".

Bói Dịch, ba lần biến mà được số [9 - 8 - 8] thì gọi là Tam đa. Tức là biến lần đầu được 9, lần thứ hai và thứ ba đều được 8, thì được hào Lão âm. Ba lần biến của việc bói Dịch khi được số [5 - 4 - 4] thì gọi là Tam thiểu, có nghĩa là lần biến thứ nhất được số 5, lần biến thứ hai và thứ ba đều được số 4, thì được hào Lão dương. Sau ba lần biến được số [9 - 8 - 4] hay [5 - 8 - 8] thì gọi là Lưỡng đa nhất thiểu, có nghĩa là lần biến thứ nhất được 9 hoặc 5, lần biến thứ hai được 8, lần biến thứ ba được 4 hoặc 8, thì được hào Thiếu dương. Sau ba lần biến được số [5 - 4 - 8 (5-8-4)] hoặc [9 - 4 - 4] thì gọi là Lưỡng thiểu nhất đa, thì được hào Thiếu âm.

Số thẻ cài kẹp được "Tam cơ", ví như [5 - 4 - 4], cộng là 13 thẻ, là số đã qua gọi là số "phục". Số còn lại là 36 thẻ, là Lão dương, là số hiển hiện hay số "phi". Do vậy, số cho hào "phục" gồm số Tam cơ là 13 - 25 và số Tam ngẫu là 17 - 21.

Lý Lâm Phủ chú: "Dùng 49 thẻ, chia ra mà đếm. Về biến có 4 loại: một là hào Đơn, hai là hào Sách, ba là hào Giao, bốn là hào Trùng. Tất cả 18 lần biến mà thành quẻ".

Hệ từ - Thượng truyện viết: "Tam ngũ dĩ biến, thác tổng kỳ số; Thông kỳ biến, toại thành thiên địa chi văn; Cực kỳ số, toại đinh thiên hạ chi tượng". = Năm ba lần biến hóa, đan xen tổng hợp các số. Biến đã thông, thì thành vẻ đẹp của trời đất; Số đã cực, thì định được tượng của thiên hạ. Lý Đỉnh Tộ dẫn lời Ngu Phiên nói: "Số là số của sáu vạch. Sáu hào biến động, đạo tam cực sinh, vì vậy mà tạo thành tượng cát hung trong thiên hạ".

Khổng Dĩnh Đạt giải thích: "Cực kỳ số, chỉ sự tính toán cùng cực số âm dương, để định ra tượng muôn vật trong thiên hạ, như là tính toán cùng cực 216 thẻ để định ra tượng Lão dương của Càn. Tính toán cùng cực 144 thẻ để định ra tượng Lão âm của Khôn. Nêu ra Càn Khôn, thì những cái khác là có thể biết được vậy".

Thượng Bỉnh Hòa giải thích "Tam ngũ dĩ biến" trong Chu dịch thượng thị học nói: "Số hào đến 3, nội quái đến đó là cuối. Cho nên, nói hẳn phải biến đổi" (Hào số chí tam, nội ngoại chung hỉ cố viết tất biến". Đây là nói theo Tam tài, còn nói theo Ngũ hành, thì đến năm là đủ, cho nên quá năm là phải biến đổi.

Khổng Dĩnh Đạt - Chu dịch chính nghĩa khi nói về hào Sơ Cửu quẻ Càn viết: "Số 7 là Thiếu dương, số 8 là Thiếu âm, số 9 là Lão dương, số 6 là Lão âm".

Nhà sư Nhất Hạnh đời Đường cho rằng, khi đếm cỏ thì bói quẻ, ba lần biến đều là lẻ, tức là "Tam cơ", còn gọi là Tam thiếu, được số 9 tức là tượng quẻ Càn; Đều là chẵn, tức là Tam ngẫu, cũng gọi là Tam đa, được số 6, là tượng của quẻ Khôn. Càn Khôn là Cha Mẹ, nên gọi Cửu Lục là Lão dương Lão âm. Ba lần biến, hai chẵn một lẻ, tức "lưỡng đa nhất tiểu", được số 7, là tượng của các quẻ Chấn Khảm Cấn. Còn trong ba lần biến được hai lẻ một chẵn, tức "lưỡng thiểu nhất đa", được số 8, là tượng các quẻ Tốn Ly Đoài. Sáu quẻ này là ba trai ba gái mà Càn Khôn sinh ra, nên gọi Thất Bát là Thiếu âm Thiếu dương.

Thuyết của Nhất Hạnh nói:

Ba lần biến đều là thiểu là tượng của quẻ Càn, Càn là Lão dương, mà số dư của phép đếm 4 được 9 nên gọi là Cửu.

Ba lần biến đều là đa là tượng của quẻ Khôn, Khôn là Lão âm, mà số dư của phép đếm 4 được 6, nên gọi là Lục.

Ba lần biến mà một lần thiểu là tượng các quẻ Chấn Khảm Cấn, ba quẻ này là Thiếu dương, mà số dư phép đếm 4 được 7, nên gọi là Thất.

Ba lần biến mà một lần đa là tượng của các quẻ Tốn Ly Đoài, ba quẻ này là Thiếu âm, mà số dư của phép đếm 4 được 8, nên gọi là Bát.

Cho nên, những số Thất Bát Cửu Lục là do số dư mà đặt tên là Âm Dương. Âm Dương sở dĩ là Lão Thiếu không phải vì điều đó, mà vì là tượng của Bát quái trong ba lần biến.

Hệ Từ - Hạ truyện viết: "Dịch cùng tắc biến, biến tắc thông, thông tắc cửu". Triết lý của Dịch cho rằng, quy luật của sự vật khi phát triển đến cùng cực thì sẽ biến hóa, khi đã biến hóa thì sẽ thông suốt, khi đã thông suốt thì sẽ lâu bền.

Khổng Dĩnh Đạt - Chu Dịch chính nghĩa viết: "Đạo của Dịch khi cùng thì tùy theo thời mà biến đổi, khi đã biến đổi thì có sự khai thông, khai thông thì được lâu bền, cho nên nói 'thông' tất 'bền' vậy".

Du Diễm - Chu dịch tập thuyết viết: "Đến thời biến, thì phải biến, nếu không biến sẽ cùng, đó là đạo có biến tất có thông của Dịch. Có biến sẽ có thông, tức là tùy theo thời. Dân hãy còn hăng hái, chưa thấy mệt mỏi chán ghét, Thánh nhân không được bắt họ từ bỏ cái chí hăng hái đó; dân chưa được yên ổn Thánh nhân không được bắt buộc họ phải hăng hái làm việc. Chỉ đến khi số đã cùng, thời đã biến, lúc đó Thánh nhân nhân đó mà biến thông thúc đẩy, có như vậy dân mới không mệt mỏi. Nếu không dân sẽ cảm thấy phiền nhiễu, chán ghét, làm sao không mệt mỏi được? Cứ như vậy mà thuận theo, không cần biết lý do tại sao, như vậy là "thần"; thuận hành dần dần biến cải, không cần câu thúc vào ngôn từ để hướng dẫn hành động, như vậy là "hóa". Theo đạo "thần hóa", đó là đạo dạy dân, dưỡng dân của Thánh nhân đấy, nếu không theo đạo đó, tất dân không chịu theo.

Đạo của Dịch không có cùng, chỉ có số mới cùng. Số dương cùng ở số 9, số âm cùng ở số 6. Cùng thì biến, biến thì thông, thông thì lâu dài, lâu dài thì lại cùng. Do vậy, "nếu được trời giúp thì tốt, không có cái gì không lợi vậy".

Theo nghĩa "Dịch biến" và "Dịch bất biến" làm chuẩn mực để sáng tỏ về lẽ động tĩnh của nhân sự: Số cơ ngẫu là 7 - 8 vậy; giao trùng là 6 - 9 vậy. Quẻ vạch theo số 7 - 8 là "Dịch bất biến", hào vạch theo số 6 - 9 là "Dịch biến" vậy. Quẻ tuy là "dịch bất biến", mà trong lại có "dịch biến", thì có nghĩa là 'hanh'. Hào tuy là "dịch biến", mà trong lại có cái "dịch bất biến", thì gọi là 'trinh'. Phép xem Hồng Phạm dùng hai chữ "trinh - hối", "trinh" tức là tĩnh, "hối" tức là động. Cho nên, nếu thấy tĩnh cát mà động hung thì chớ dùng; Thấy động cát mà tĩnh hung thì chớ xử; Thấy động tĩnh đều tốt thì mọi việc đều tốt; Thấy động tĩnh đều hung, thì trong vòng trời đất không thể trốn đâu cho thoát được.

Tiên Nho khi nói Quái biến thì chưa có sự chuyển dịch về cương nhu âm dương, đảo ngược vị trí trên dưới. Nay lấy Càn làm Khôn, lấy Thủy làm Hỏa, lấy trên làm dưới, làm rối ren chìm đắm, thường thì tượng Dịch từ đây mà nhầm lẫn vậy. Du Việt theo thể lệ Bàng thông "thành Ký tế định" của Ngu Phiên, và phép "thăng - giáng" của Tuân Sảng, bàn chung về cái lý "cùng tất biến, biến tất thông" của các quẻ Dịch.

Trong Dịch, có 192 hào âm và hào dương "đắc chính", cũng đồng thời tồn tại 192 hào âm và hào dương "thất chính"; Được chính tức là Ký tế định, thất chính sẽ hóa thất chính thành chính, rồi sau đó mới có thể định. Cho nên đối với những quẻ Bàng thông, bỉ thử giao dịch lẫn nhau, thì trong 192 hào, có 96 hào âm gặp hào dương; hoặc 96 hào dương gặp hào âm, do vậy có thể biến dịch được. Có 96 hào âm gặp hào âm, hoặc hào dương gặp hào dương, do vậy không biến dịch. Có thể biến dịch, thì gọi là "thông", không thể biến dịch, thì gọi là "cùng"; Cùng tất sẽ có biến và có phép của sự biến thông, biến tất sẽ có hóa, hóa tất sẽ chuyển từ bất chính thành chính.

Lại nói rằng, muốn biết Lý "cùng - thông", thì trước hết phải biết lý "thăng - giáng" của âm dương, đây là thuyết của Tuân Từ Minh, muốn biết cái lý "thăng - giáng", trước hết phải biết cái lý "cùng - thông", đây là thuyết của Ngu Trọng Phiên. Tham nhập hai thuyết làm một, đó là do Tiêu Lý Đường.

Tóm lại, hào quẻ có thể thông với các quẻ khác, thì gọi là "thông", khi hào quẻ không thông với các quẻ khác thì gọi là "cùng". Cùng, mà tự biến đổi âm dương của mình, tức là hóa bất chính thành chính, thì gọi là "biến hóa".

THUYẾT VỀ "KHÍ" CỦA TRƯƠNG TẢI

HÀM NGHĨA CHUNG VỀ KHÍ

Khí là nguồn gốc hoặc là bản thể của vạn vật trong thế giới tự nhiên. Khí là thứ vật chất tinh vi, chuyển động không ngừng, Khí là cơ sở thống nhất của Thiên Địa vạn vật, là nguồn gốc sinh thành vạn vật. Lý luận này có liên quan đến thuyết sinh – thành vũ trụ cổ đại. Khí là nguyên nhân sự tồn tại của thiên địa vạn vật, cho nên Khí không là hình thái vật chất cụ thể nào, nó không có hình thể, không có âm thành và hình thái. Như vậy, những người đưa ra và theo thuyết Khí bản thể luận đã loại bỏ ý kiến cho rằng Lý, Thái cực, Đạo có trước Khí, và chúng ngự ở trên Khí để chi phối Khí; họ chỉ rõ: Khí là bản thể cao nhất. Mặt khác, họ thuyết minh mối liên kết giữa Khí với Thái hư, và nêu rõ: Khí là phạm trù thông thường mang nội dung trừu tượng.

Khí là nguyên tố hoặc chất liệu của tồn tại khách quan. Chất liệu này, nguyên tố này hoặc hữu thể, hữu hình, có thể thấy được, có thể nghe được; hoặc là vô hình, vô thể, không thấy được, không nghe được. Khí là hiện tượng vật chất vi nhỏ, là thứ hỗn độn chưa có hình chất, sau khi ngưng tụ mới trở thành có hình có tượng. Nghiên cứu Khí sẽ nhận thấy tính thống nhất của vạn vật trên thế giới, nghĩa là thấy được bản chất chung của những hiện tượng và của vạn vật. Những học gia theo quan điểm Khí bản thể luận, thì coi Khí là phạm trù cao nhất của kết cấu logic triết học lý luận mà họ tin theo. Các học gia theo quan điểm Lý học bản thể luận và Tâm thức bản thể luận cũng cho rằng: Khí có tính vật chất và tính năng động, Khí nhập vào Đạo, vào Lý, vào Thái cực, và vào Tâm, đó là nguyên tố, chất liệu hoặc khâu trung gian để cấu tạo nên thế giới muôn vật.

Khí là thực thể khách quan có động thái công năng. Khí không ngừng chuyển động biến hóa, lúc thì tụ vào, lúc thì tản ra, nghi ngút, khi bay bổng, khi trầm lắng, lúc co đặc, lúc dàn mỏng, … Chuyển động biến hóa chính là hình thức và điều kiện tồn tại của Khí. Nếu Khí không có công năng động thái này thì Khí không tồn tại và chẳng có giá trị gì. Khí hàm chứa cặp âm dương đối lập thống nhất, Khí là bản chất của vật, cho nên Khí chuyển động biến hóa không ngừng thì mọi vật luôn chuyển động và biến hóa. Vai trò của Khí trong một hệ thống được xem như thứ vật chất trung gian môi giới, chuyển động biến hóa của Khí mà tạo tác nên muôn vật, thuộc tính của Khí cũng ảnh hưởng đến muôn vật.

Khí là sinh mạng của con người. Con người sống thọ hay chết yểu, đức tính con người thiện hay ác, đời sống vật chất giầu hay nghèo, sang hay hèn, địa vị tôn quý hay ti tiện, đều liên quan đến Khí. Khí chuyển động ở cơ thể con người thực hiện đạo dẫn thần khí, đấy chính là công pháp nhằm điều chỉnh cơ năng sinh lý cơ thể con người, đẩy nhanh quá trình trao đổi chất, tăng cường sinh lực và khả năng miễn dịch, trị bệnh kiện thân, kéo dài tuổi thọ. Vì thế Khí là đồng hồ sinh học mang nội dung những thông tin về sinh mệnh cơ thể người, bởi vì con người bẩm thụ khí mà sinh ra. Khí có Khí trong sạch và Khí vẩn đục, Khí u ám, Khí quang minh, Khí thành hiền, Khí thô bỉ, do bẩm thụ Khí khác nhau mà từng con người có tư chất, thọ yểu, quý tiện khác nhau.

Khí là vật chất môi giới hoặc môi thể đầy ắp trong vũ trụ. Trong khoảng không vũ trụ, các hành tinh như nhật nguyệt trăng sao, cùng chuyển động trong một trật tự hài hòa, mọi sự vật tương hỗ cùng tồn tại trong một hệ thống, giữa các sự vật đó có một dòng Khí quán thông với nhau, làm cho các vật thể có sức hút để giữ lấy nhau, và có lực đẩy để khỏi va chạm vào nhau. Sức hút ấy, lực đẩy ấy, gọi là “ái cự lực”. Nó làm cho mọi vật trong vũ trụ vừa cự nhau vừa dựa vào nhau mà tồn tại. Khí chính là môi giới hoặc môi thể làm cho ánh sáng, âm thanh được phát ra và truyền đi lan tỏa rộng khắp. (Khí hút nhau gọi là “ái lực”, khí đẩy nhau gọi là “cự lực”, cái gọi là “ái cự lực” tạo nên sự chuyển động trong mâu thuẫn tự thân của Khí)

Khí là phẩm cấp đạo đức. Khí là do tụ nghĩa mà sinh thành một lý tưởng đạo đức, Khí này đầy ắp giữa khoảng trời đất, nó quán thông với Khí của đất trời. Thứ Khí này, không phải thứ huyết khí cụ thể, mà là tri Khí, thần Khí, là một loại tinh thần, ý thức hoặc ý chí, đó cũng là sự tu dưỡng đạo đức.

Khí hàm nghĩa vừa là thực thể của tồn tại khách quan, vừa là tinh thần đạo đức của chủ thể. Khí là phàm trù bao trùng cả thế giới tự nhiên cùng toàn bộ đời sống xã hội, sự sống của con người, Khí cũng là phạm trù mà mọi dòng phái, mọi học phái triết học cùng sử dụng chung trong suốt chặng đường phát triển của lịch sử. Khí có hàm nghĩa rất sâu rộng, khó mà lý giải một cách phiến diện và đơn nhất.

THÁI HƯ TỨC LÀ “KHÍ”

Trương Tải (1020-1077) là triết gia thời Bắc Tống, Ông sáng lập ra học phái Quan học, với tư tưởng Khí là bản thể của vũ trụ, xây dựng logic kết cấu Khí nhất nguyên luận, ông cho rằng: Thái hư vô hình là trạng thái bản nhiên (vốn có) của Khí, Khí là nguồn gốc và quá trình biến hóa của muôn vật trong vũ trụ. Khí với hư, hữu với vô, âm với dương, coi Khí hóa là Đạo, Đạo với Lý gắn bó chặt chẽ với nhau, quan điểm Lý khách thể thật rõ ràng.

Trương Tải cho rằng, Khí tức là hư, hư tức là Khí; Khí tụ thành hình, Khí tan biến thì hình mất, Khí trở về nguồn, quay về Thái hư. Thái hư là tên gọi khác của Khí, hàm nghĩa của Khí và Thái hư tương đương nhau, chúng khác nhau ở chỗ, Thái hư là Khí vô hình, trạng thái hữu hình là muôn vật. Thái hư không có thuộc tính của hữu hình. Chính mông - Thái hòa, Trương Tải chỉ rõ: "Thái hư không thể không có Khí, Khí không thể không tụ thành muôn vật, muôn vật không thể không tản ra thành Thái hư, theo đó mà quay vòng không bao giờ dứt". Thái hư vô hình và muôn vật hữu hình là quá trình chuyển hóa lẫn nhau, bởi vì chúng cùng chung nguồn gốc là Khí.

Từ quan điểm "Thái hư vô hình là bản thể của Khí", Trương Tải cho rằng Thái hư cũng là bản nguyên của vũ trụ. Trương tử ngữ lục - trung viết: "Hư là tổ tông của trời đất, trời đất sinh từ hư không" (Hư giả, thiên địa chi tổ, thiên địa tòng hư trung lai). Quan điểm "hư có thể sinh ra khí", coi hư là bản nguyên của vũ trụ, coi Khí do Thái hư sinh ra, quan điểm này trái ngược với lý luận "Thái hư tức là Khí" của Trương Tải. Ông chỉ rõ, quan điểm "Hư sinh Khí" thực chất là quan điểm "Hữu sinh ra từ Vô" của Lão Tử, đó là lối tư duy hư cấu, một thứ bản thể mang tính quan niệm, thoát ly thế giới vật chất, sau đó lại từ cõi "Hư" hoặc "Vô" sinh ra thế giới vật chất. Trương Tải kiên trì quan điểm: Khí là gốc, khẳng định vật chất là tính bản nguyên và là tính chất thứ nhất của Khí. Thật rõ ràng!

Đạo thể hiện quy luật mang tính cương lĩnh định hướng; Lý thể hiện quá trình mang tính nguyên tắc thực thi. Đạo và Lý thể hiện sự chuyển động biến hóa của Khí, chúng không phải bản thể ở trên Khí, mà thống nhất trong hệ thống triết học Khí bản thể luận. Ông nói: "Bởi Thái hư nên mới có tên gọi là Thiên, bởi Khí hóa nên mới có tên gọi là Đạo". Trương Tải cho rằng Đạo là "Do Khí hóa mà có tên là Đạo", tức là quá trình chuyển động biến hóa của Khí mang tính vật chất, xa rời Khí là xa rời chuyển động của Khí, như vậy sẽ không có cái gọi là Đạo. Khi nói về phạm trù Lý, ông viết: "Khí trời đất tuy hàng trăm ngả tụ và tản, được và mất, nhưng chúng vẫn thuận theo Lý, không rối loạn", đều tuân theo quy luật và trật tự, đó chính là Lý. Đạo và Lý không thể tách rời khỏi Khí mà tồn tại riêng.

"Thái hư là thể của Khí" đã giải quyết đúng mối quan hệ Thái hư với Khí, Thái hư vô hình và muôn vật hữu hình được đặt thống nhất trong Khí.

Trên cơ sở "Thái hư tức là Khí", Trương Tải nêu quan điểm Khí vừa là 'hữu' vừa là 'vô'. "Khí năng nhất hữu vô" tức là Khí có thuộc tính thống nhất 'hữu - vô' ngay trong bản thân Khí. Chính mông - Thái hòa viết: "Nếu nói vô vàn tượng là sự vật thấy được trong Thái hư, thì đó là vật với hư không tồn tại mối liên hệ trợ giúp nhau. Hình độc lập với Hình, Tính độc lập với Tính. Hình và Tính, trời và người không tồn tại mối qua hệ qua lại với nhau; kiến giải như vậy là sa vào thuyết sai lầm, coi trời đất núi sông là hệ quả ảo hóa". Thái hư là vô hình, muôn tượng là hữu hình, tuy Trương Tải xây dựng mối liên hệ giữa chúng, thông qua thuyết Khí tụ tán, nhưng giữa chúng vốn có sự khác biệt. Ông chỉ rõ, nếu không nhận ra sự khác biệt đó, sẽ không thể hiểu được muôn vật sinh ra như thế nào, tách rời bản nguyên với muôn vật, coi chúng là tồn tại độc lập riêng rẽ, không liên quan với nhau, thì sa vào quan điểm sai lầm của Phật giáo, coi thế giới Càn Khôn là ảo hóa.

Trương Tải nói: "Biết hư không tức là Khí, hữu vô, ẩn hiện, thần hóa, tính mệnh quan hệ trong sự thống nhất vô nhị. Nhìn vào những chuyển động tụ tán, xuất nhập, có hình và không có hình, có thể biết được gốc sinh ra chúng, hiểu biết đó chính là đi sau vào Dịch".

"Bản" tức là lấy Khí làm gốc, hữu vô, ẩn hiện, tụ tản, có hình hoặc không có hình đều bắt nguồn ở Khí, chúng là hai loại hình thái biểu hiện khác nhau của Khí bản thể. Khi Khí tản, chúng là Thái hư vô hình, biểu hiện của chúng là: vô, ẩn, u tối, không có hình, hư. Khi Khí tụ, chúng là muôn vật hữu hình, biểu hiện của chúng là: hữu, hiển, minh, hình, và thực. Đạo và Dịch phản ánh chuyển động biến hóa của Khí.

Hoành cừ dịch thuyết - Hệ từ thượng viết: "Khí tụ lại, hiện ranh giới rõ ràng thì đó là hữu hình. Khí tản ra, không thấy ranh giới rõ ràng thì đó là vô hình. Vậy, khi mà Khí tụ lại, sao lại không gọi chúng là Hữu? Khi mà Khí tản ra, sao lại không theo đó gọi chúng là Vô?". "Từ vô sinh ra hữu, biểu hiện thành vật. Từ hữu chuyển thành vô, đó là quá trình ẩn mà biến đi...đại ý là không vượt quá giới hạn hữu vô, vật tuy là thực mà gốc của thực ở cõi vô" (vật tuy thị thực, bản thị hư lai). Trương Tải cho rằng, Khí kiêm hai thuộc tính hữu và vô, đây là thuộc tính của tự nhiên. Hai thuộc tính của tự nhiên dựa vào nhau, trợ giúp nhau, không thể khuyết một trong hai thuộc tính đó. Chính mông - Càn xưng viết: "Những gì có thể tạo nên hình dạng đều là Hữu, mọi cái là Hữu đều là Tượng, mọi Hình Tượng đều là Khí".

Từ Khí hóa nên Tượng, từ Tượng hóa thành Hữu. Khi Khí tản chưa tụ lại thì đó là Vô. "Thái Hư là gốc của Khí, thì trong suốt vô hình". Từ Khí hóa hư, hư thì vô hình. Thuộc tính "vô" của Khí không phải tuyệt đối hư vô, đó chính là chỉ về Thái hư vô hình, mắt không nhìn thấy được, khi so sánh với muôn vật hữu tượng hữu hình thì Thái hư là vô hình, cho nên gọi đó là Vô, nhưng Thái hư vô hình không phải tuyệt đối hư vô, mà trong cái "hư" hàm chứa cái "thực", trong cái "vô" hàm chứa cái "hữu".

Trương tử ngữ lục - trung - Trương Tải nói: "Đạo của trời đất lấy cực hư làm thực, con người cần tìm lấy cái thực trong cái hư" (Thiên địa chi đạo vô phi dĩ chí hư vi thực, nhân tu hư trung cầu xuất thực). Muôn vật hữu hình tuy là thực hữu, nhưng sự vật cụ thể chung quy phải tiêu vong.

So sánh với sự vật cụ thể biến hóa mất đi, thì Thái hư vô hình là vĩnh hằng. Hữu và Vô luôn chuyển hóa lẫn nhau, sự vật hữu hình chuyển hóa thành Thái hư vô hình, Thái hư vô hình chuyển hóa thành sự vật hữu hình. Thế giới vật chất biến hóa theo quy luật Khí hóa tụ tán, hữu và vô liên hệ với nhau. Vô không phải tuyệt đối hư vô, mà chỉ là vô hình của Thái hư. Trương tử ngữ lục - Trung viết: "Kim loại sắt thép cũng đến lúc phải mục ruỗng, núi đồi cũng đến lúc phải đổ nát. Mọi vật hữu hình đều dễ hoại, chỉ có Thái hư là không lay chuyển, cho nên, Thái hư là thực nhất". Chính mông - Thái hòa - Trương Tải nhấn mạnh: "Biết Thái hư là Khí, không phải là Vô". Trong hư không mênh mông vô cùng vô tận, đâu đâu cũng là Khí mịt mù. Bản thân Thái hư chính là Khí, Khí của Thái hư là vô hình. Hiểu được đạo lý này, thì không có cái gọi là Vô; Dịch - Hệ từ: "Thánh nhân ngẩng lên và cúi xuống, rồi nói biết hàm nghĩa của 'u minh', mà không nói biết hàm nghĩa của 'hữu vô'. 'U' tức là 'vô', 'minh' tức là 'hữu'. Dùng khái niệm 'u' thay thế cho khái niệm 'vô', để tránh ngộ nhận 'vô' là khẳng định tuyệt đối hư vô vậy".

Khí là thứ vật chất mang tính liên tục, tính tự có khiêm thuộc tính hữu và vô. Đây thuộc về phạm trù tính hữu hạn và tính vô hạn, tính tạm thời với tính vĩnh hằng, tính gián đoạn với tính liên tục trong sự tồn tại của thế giới vật chất. Sự cầu thị trong thế giới Càn Khôn.

Trương Tải cho rằng, mâu thuẫn tồn tại trong nội bộ của sự vật là căn nguyên làm cho sự vật chuyển động. Khí âm dương cảm ứng nhau, biến hóa co dãn không ngừng, sự chuyển động này ở trong nó hàm chứa biến hóa, là tồn tại khách quan, không phụ thuộc vào ý chí của con người. Sự biến hóa đó gọi là "Thần", có nghĩa là biến hóa thần diệu khôn lường. Khí âm và Khí dương tác động lẫn nhau là căn nguyên của mọi biến hóa. Như vậy, sự biến hóa tồn tại trong cả âm lẫn dương, tồn tại ngay trong cả động và tĩnh, tồn tại trong cả thực và hư; đó là thuộc tính cố hữu của Khí, thuộc tính này được bộc lộ ra muôn vàn sự vật cụ thể, Khí chỉ là một mà biến hóa của Khí có nhiều vẻ khác nhau. Khí là bản nguyên của "vô" và sự vật, Khí là một, bản nguyên của vô vàn sự vật cũng chỉ là một. Nhưng nhất Khí phân chia âm dương, âm dương đối lập thể hiện trong muôn vàn sự khác biệt. Cho nên, Trương Tải đề xuất quan điểm biện chứng "nhất vật lưỡng thể".

Hoàng cừ dịch thuyết - Hệ từ hạ viết: "Khí Thái hư là một vật có âm có dương, nhưng lại có lưỡng thể thuận trong sự thống nhất" (Thái hư chi Khí, âm dương nhất vật dã, nhiên hữu lưỡng thể kiện thuận nhi dĩ). Khí Thái hư là một, Khí có âm có dương, đó là hai. Hai tồn tại trong cái một, biểu hiện thành hai mặt đối lập, "nhất" (một) là chỉ sự thống nhất của hai mặt đối lập.

Khí là bản nguyên của vũ trụ, là sự đối lập thống nhất của âm dương. Nếu không có đối lập sẽ không có thống nhất. Nếu không thống nhất thì không có đối lập, "nhất" và "lưỡng" cùng dựa vào nhau, chuyển hóa lẫn nhau, muôn vật trong trời đất giao cảm cùng biến hóa, sinh sôi và phát triển. Hoành cừ dịch thuyết - Thuyết quẻ viết: "Nhất vật lưỡng thể" là quy luật phổ biến trong vũ trụ, tất cả mọi sự vật đều tồn tại hai mặt vừa đối lập vừa thống nhất. "Nhất" đó là "Thần"; "lưỡng" nghĩa là biến hóa khôn lường, có "lưỡng" cho nên tự nó biến hóa phát triển cái "nhất", có nghĩa là trời cùng tham dự trong quá trình biến hóa".

Hư thực, động tĩnh, tụ tản, trong đục là biểu hiện cụ thể của hai mặt đối lập, cũng là nội hàm cụ thể của nhất Khí âm dương, hai mặt đối lập âm dương cùng hợp thành thể thống nhất của Khí, chúng là căn nguyên của mọi biến hóa chứa đựng trong sự chuyển động, đồng thời mọi vật cũng được sinh ra trong quá trình biến hóa đó. Trương Tải viết: "Nếu không có hai mặt đối lập thì không thấy sự thống nhất, nếu không thấy sự thống nhất thì không có sự sống của hai mặt đối lập. Biểu hiện của lưỡng thể trong sự thống nhất hư thực, động tĩnh, tụ tản, trong đục" (Lưỡng bất lập tắc nhất bất khả biến, nhất bất khả biến tắc lưỡng chi dụng tức. Lưỡng thể giả, hư thực dã, động tĩnh dã, tụ tán dã, thanh trọc dã, kỳ cứu nhân chi dĩ).

"Khí có âm dương, chuyển động dần đó là biến hóa, hợp nhất khôn lường thì gọi là thần" (Khí hữu âm dương, thôi hành hữu tiệm vi hóa, hợp nhất bất trắc vi thần). Trong quá trình chuyển động biến hóa, "có biến thì có tượng" (hữu biến tắc hữu tượng).

Hoành cừ dịch thuyết - Hệ từ thượng viết: "Trời chuyển động nhất Khí làm cho muôn vật sinh sôi". Khí chuyển động sinh ra muôn vật, mặt khác, muôn vật là thể vật chất chứa đựng quá trình chuyển động. Quá trình biến hóa được chia làm hai giai đoạn: biến hóa dần dần và biến hóa rõ rệt: "Biến là mô tả sự chuyển hóa rõ rệt, hóa là mô tả sự chuyển hóa dần dần". Cái bên ngoài thực hữu thấy được, thì đó là sự biến; cái bên trong thực có mà không thấy được sự chuyển hóa dần dần, đó là sự hóa. Nên nói: "trong hóa ngoài biến, trong chậm ngoài nhanh, trong âm ngoài dương, trong hư ngoài thực". Trương Tải cho rằng, sự vật chuyển hóa dần dần, để đạt tới chuyển hóa nhanh rõ rệt. Biến và Hóa chuyển hóa lẫn nhau. Chính mông - Thần hóa viết: "Biến chuyển lên hóa, chuyển từ thô đến tinh. Hóa để mà sắp xếp, chọn lọc thì gọi là biến, biến rõ rệt tinh tế" (Biến tắc hóa, dẫn thô nhập tinh dã. Hóa nhi tài chi vị chi biến, dĩ trữ hiển vi dã). Tư tưởng nhận thức về quá trình biến hóa trong chuyển động của vạn vật thật sâu sắc!

Hoành cừ dịch thuyết - Thượng kinh Quan viết: "Có âm dương thì nhất định chúng cảm ứng nhau. Vậy, cảm ứng của trời có liên quan gì đến tư duy? Đó là tự nhiên". Cảm ứng nghĩa là ảnh hưởng lẫn nhau, tác động lẫn nhau, có khác nhau thì có cảm ứng, những điều này đã xác định mối liên hệ giữa các sự vật với nhau, khi có cảm ứng âm dương. Sự cảm ứng âm dương phát sinh một cách tự nhiên, không liên quan đến tư duy của con người. Chính mông - Càn xưng viết: "Muôn vật vốn có cùng một nguồn gốc, cho nên một gốc có thể gắn hợp những mặt khác nhau, hiện tượng có gọi là cảm, âm dương cảm ứng lẫn nhau, vì chúng có cùng một nguồn gốc. Muôn vật do trời đất sinh ra, tuy chúng thụ Khí khác nhau nhưng đều luôn cảm ứng lẫn nhau".

"Ham muốn của con người giảm đi theo tuổi già, đấy là sự việc cảm ứng nhau. Cảm cũng như ảnh hưởng, không có lặp lại trước sau, có chuyển động là có cảm ứng, tất cả mọi cảm đều ứng, vậy nói mọi cảm ứng đều diễn ra nhanh chóng". Muôn vật trong vũ trụ cảm ứng lẫn nhau, bất kể cùng loại hay khác loại, sự vật của thế giới tự nhiên hay của xã hội loài người, chúng đều cảm ứng có mối liên hệ với nhau một cách phổ biến; đó là quy luật phổ biến của vũ trụ.

Trương Tải trình bày mô thức tồn tại "nhất vật lưỡng thể", khẳng định Khí âm dương cảm ứng lẫn nhau, và chuyển động biến hóa cấu tạo nên Khí hóa lưu hành. Nguyên nhân làm cho sự vật chuyển động biến hóa là nội lực bản thân của sự vật. Chính mông - tham lưỡng viết: "Tất cả mọi chuyển động quay tròn nhất định phải có động cơ, đã gọi là động cơ thì không thể từ bên ngoài đưa tới". Động cơ, đó chính là tác động tương hỗ của nhị Khí âm dương. Biến hóa vô cùng tận của Khí âm dương thúc đẩy cả vũ trụ biến hóa.

Mối liên hệ giữa Thái hư với Khí, chỉ rõ Thái hư là trạng thái vô hình và bản nhiên của Khí, Khí là bản thể của vũ trụ, Khí có thuộc tính tương phản: hữu vô, hư thực, ẩn hiện. Khí âm dương tác động lẫn nhau, làm cho thế giới vật chất không ngừng chuyển động và biến hóa. Đối với Trương Tải, Khí là phạm trù cao nhất. Mệnh đề Khí có âm dương, nhất vật lưỡng thể, có ảnh hưởng sâu rộng với hậu thế. Ông nói: "Rất khó nhận ra đâu là mối tiếp giáp cái hữu với cái vô; tiếp giáp hữu hình với vô hình. Cần hiểu là Khí bắt đầu từ đây, thì Khí kiêm cả hữu và vô, vô thì Khí sinh ra một cách tự nhiên, sự sống của Khí tức là Đạo là Dịch".

Trương Tải nói: “Khí năng nhất hữu vô. Hữu sinh hình, vô sinh dụng.”

THUYẾT VỀ THẬP NHỊ TÍCH QUÁI

Các nhà Dịch học thời Hán lấy 12 hình quẻ đặc thù trong 64 quẻ, phối hợp với khí hậu từng tháng của 12 tháng trong một năm, biểu thị ý nghĩa "âm dương tiêu tức" của vạn vật trong thế giới tự nhiên, gọi là Thập nhị tích quái, hay còn gọi là Nguyệt quái, Hậu quái, Tiêu tức quái.

Nguồn gốc của Thập nhị tích quái rất cổ. Thuyết này đầu tiên thấy ở Quy Tàng: "Tý Phục, sửu Lâm, dần Thái, mão Đại tráng, thìn Quải, tị Càn, ngọ Cấu, mùi Độn, thân Bĩ, dậu Quan, tuất Bác, hợi Khôn" (Mã Quốc Hàn - Ngọc hàm sơn phòng tập dật thư). Thượng Bỉnh Hòa cho rằng, Tả truyện - Thành công năm thứ 16 chép chuyện Tấn Hầu bói việc đánh nước Sở, được quẻ Phục, nói: "Năm quốc kiển, xạ kỳ nguyên, Vương trung quyết mục, dĩ Phục cư Tý". là dẫn chứng rõ nhất về việc vận dụng Thập nhị tích quái để nói về Dịch.

Chữ "Tích" còn có nghĩa là Vua (quân), "chủ" là nói 12 quẻ này làm chủ 12 tháng. Nay dựa vào bộ Hán thượng dịch truyện - Chu Chấn truyền lại Quái khí thất thập nhị hậu đồ của Lý Cái vẽ Thập nhị tích quái đồ biểu thị rõ tôn chỉ: dương đầy là "tức", âm hư là "tiêu". Sáu quẻ từ Phục đến Càn là tức quái, là Phục nhất dương sinh thuộc cung Tý, quẻ tháng 11; Lâm nhị dương sinh thuộc Sửu quẻ tháng 12; Thái tam dương sinh thuộc Dần quẻ tháng Giêng; Đại tráng tứ dương sinh thuộc Mão thuộc tháng 2; Quải ngũ dương tức, thuộc Thìn quẻ tháng 3; đến Càn lục dương tức, thuộc Tị quẻ tháng 4. Sáu quẻ từ Cấu đến Khôn là "tiêu" quái, là Cấu nhất âm tiêu, thuộc Ngọ, quẻ tháng 5; Độn nhị âm tiêu, thuộc Mùi, quẻ tháng 6; Bĩ tam âm tiêu, thuộc Thân, quẻ tháng 7; Quan tứ âm tiêu, thuộc Dậu, quẻ tháng 8; Bác ngũ âm tiêu, thuộc Tuất, quẻ tháng 9; đến Khôn là quẻ lục âm tiêu, thuộc Hợi, quẻ tháng 10.

Hai quẻ Càn Khôn là mẹ của "tiêu - tức", Dịch vĩ - Càn tạc độ viết: "Thánh nhân nhân âm dương mà nêu ra tiêu tức, lập Càn Khôn để thống nhất Thiên Địa", lại chép: "Quẻ tiêu tức, thuần là Đế, không thuần là Vương". Dịch vĩ - Càn nguyên tự chế ký viết: "Tích quái, ôn khí không theo 6 quẻ, vật dương không sinh, khí đất sẽ dấy lên", Trịnh Huyền chú: "sáu quẻ là chỉ quẻ Thái, Đại tráng, Quải, Càn, Cấu (dưới Cấu còn có Độn, ghi chép sót), hàn khí không theo 6 quẻ, không dẫn đến đông vinh, vật thực không thành", Trịnh Huyền chú "Sáu quẻ là nói các quẻ Bĩ, Quan, Bác, Phục, Lâm". Các nhà Dịch học từ Mạnh Hỷ, Kinh Phòng thời Tây Hán; Mã Dung, Trịnh Huyền, Tuân Sảng, Ngu Phiên thời Đông Hán, cho đến các học giả đời Thanh, chẳng ai không dùng Thập nhị tích quái để lập thuyết, ảnh hưởng rất lớn.

Hệ từ - Hạ truyện viết: "Cương nhu tương thôi, biến tại kỳ trung hỹ", Chu dịch tập giải dẫn lời chú của Ngu Phiên nói: "Nói về tiêu tức của 12 tháng, cửu lục tương biến, cương nhu tương thôi mà sinh biến hóa, cho nên bên trong có biến đổi vậy". Ngụy thư - Luật lịch chí chép từ Chính Quang lịch - Cầu tứ chính thuật ghi thứ tự tiếp nhau của 60 quẻ như sau:

- Tháng Một: Vị tế, Kiển, Di, Trung phu, Phục [18 âm - 12 dương]

- Tháng Chạp: Truân, Khiêm, Khuê, Thăng, Lâm [19 âm - 11 dương]

- Tháng Giêng: Tiểu quá, Mông, Ích, Tiệm, Thái [17 âm - 13 dương]

- Tháng Hai: Nhu, Tùy, Tấn, Giải, Đại tráng [14 âm - 16 dương]

- Tháng Ba: Dự, Tụng, Cổ, Cách, Quải [13 âm - 17 dương]

- Tháng Tư: Lữ, Sư, Tỵ, Tiểu súc, Càn [14 âm - 16 dương]

- Tháng Năm: Đại hữu, Gia nhân, Tỉnh, Hàm, Cấu [10 âm 20 dương]

- Tháng Sáu: Đỉnh, Phong, Hoán, Lý, Độn [11 âm - 19 dương]

- Tháng Bảy: Hằng, Tiết, Đồng nhân, Tổn, Bĩ [13 âm - 17 dương]

- Tháng Tám: Tốn, Tụy, Đại súc, Bí, Quan [15 âm - 15 dương]

- Tháng Chín: Quy muội, Vô vọng, Minh di, Khốn, Bác [17 âm - 13 dương]

- Tháng Mười: Cấn, Ký tế, Phệ hạp, Đại quá, Khôn [18 âm - 12 dương]

18 + 19 + 17 + 14 + 13 + 14 = 95 hào âm

12 + 11 + 13 + 16 + 17 + 16 = 85 hào dương

10 + 11 + 13 + 15 + 17 + 18 = 84 hào âm

20 + 19 + 17 + 15 + 13 + 12 = 96 hào dương

Thứ tự này là theo cách nói của sách Dịch vĩ - Kê lãm đồ. Căn cứ theo thuyết: "Nhu tại nội nhi cương đắc trung" lấy quẻ Trung phu làm khởi đầu. Đây là nêu hào Ba hào Bốn có đức "âm hư" ở giữa 6 hào, và hai hào Nhị Ngũ có đức "dương thực" nằm giữa thượng quái và hạ quái, để nói rõ hàm nghĩa "trung hư" là thành, "trung thực" là tín, biết hồi chuyển mà quay trở lại. Dịch vĩ - Kê lãm đồ viết: "Khí dương của trời đất, vũ trụ bắt đầu sinh ra từ quẻ Trung phu". Lại viết: "Giáp Tý, khí của quẻ khởi từ Trung phu, 6 ngày 7/80 ngày". Tức là chỉ hào Năm quẻ Trung phu có số thứ tự là 365, tương đương với số ngày của một Năm.

Phép 'Cầu tứ chính thuật', là do Mạnh Hỷ người thời Tây Hán đề xuất, tự là Trường Khanh, là người khai sáng Mạnh thị học về Kinh Dịch kim văn, thành tài và có trước thư lập ngôn. Dịch Hán học - Huệ Đống đã nói về đặc điểm về Mạnh thị học như sau: "Quái khí đồ của họ Mạnh lấy các quẻ Khảm Chấn Ly Đoài làm bốn quẻ chính, 60 quẻ còn lại, mỗi quẻ chủ 6 ngày 7 phân (lục nhật thất phân) hợp với số vòng trời 12 Nội tích quái, gọi là tiêu-tức. Càn đầy là tức, Khôn rỗng là tiêu, kỳ thực Càn Khôn là 12 vạch". Lại nói: "Bốn quẻ chỉ bốn mùa, mỗi hào chủ 24 khí, 12 quẻ chủ 12 giờ, mỗi hào chủ 72 hậu, 60 quẻ chủ 6 ngày 7 phân, mỗi hào chủ 365 ngày 1/4 ngày. Tích quái là Quân. Tạp quái là Thần. Tứ chính là phương bá. Hai ngày 'chí', hai ngày 'phân', hàn, ôn, phong, vũ, đều lấy ứng quái làm tiết. Ngoài ra, trong 48 quẻ còn lại, quẻ Dương có 24 quẻ, gọi là Thiếu dương, quẻ Âm có 24 quẻ, gọi là quẻ Thiếu âm. Cho nên 60 quẻ này còn được gọi là Tạp quái, cũng giống như nói rằng: vua tôi chung sức liên hợp, giao tạp để thành hình quái khí, để mà chỉ rõ cái lý âm dương tiêu tức". Dịch vĩ - Càn tạc độ có câu: "Lục thập tứ quái tam bách bát thập tứ hào giới", Trịnh Huyền chú giảng là: "Tiêu tức ở tạp quái là tôn quý, mỗi tháng ví như một quẻ mà ngôi thuộc vào đấy, đều có nơi hệ thuộc".

Chu dịch Thượng thị học - Thượng Bỉnh Hòa nói: "Người đời Hậu Hán chú Dịch, thường dùng Nguyệt quái mà không nói rõ ra, vì Nguyệt quái mọi người đều biết, không nhất thiết phải chỉ ra. Tầm quan trọng của nó có thể bết vậy". Tức là 12 Tích quái, vì 12 quẻ này dùng để biểu thị quy luật âm dương tiêu-tức của 12 tháng, cho nên gọi là Nguyệt quái.

TÍNH LIÊN TỤC THỜI GIAN THEO THUYẾT KINH PHÒNG

Thuyết quái viết: Thiên địa định vị

...........CÀN.........................KHÔN

........G.Tuất......Hỏa...........A.Dậu..........Thủy

........G.Thân.....Thủy..........A.Hợi...........Hỏa

........G.Ngọ.......Kim...........A.Sửu..........Kim

........G.Thìn......Hỏa...........A.Mão..........Thủy

........G.Dần......Thủy..........A.Tị..............Hỏa

........G.Tý.........Kim...........A.Mùi............Kim

- Giáp Tý - Ất Sửu = hào 1 - hào 4

- Giáp Tuất - Ất Hợi = hào 6 - hào 5

- Giáp Thân - Ất Dậu = hào 5 - hào 6

- Giáp Ngọ - Ất Mùi = hào 4 - hào 1

- Giáp Thìn - Ất Tị = hào 3 - hào 2

- Giáp Dần - ẤT Mão = hào 2 - hào 3

Thuyết quái viết: Sơn Trạch thông khí

............CẤN............................ĐOÀI

...........B.Dần......Hỏa.............Đ.Mùi..........Thủy

...........B.Tý........Thủy............Đ.Dậu..........Hỏa

...........B.Tuất.....Thổ..............Đ.Hợi...........Thổ

...........B.Thân.....Hỏa.............Đ.Sửu.........Thủy

...........B.Ngọ......Thủy............Đ.Mão.........Hỏa

...........B.Thìn......Thổ..............ĐTị.............Thổ

- Bính Dần - Đinh Mão = hào 6 - hào 2

- Bính Tý - Đinh Sửu = hào 5 - hào 3

- Bính Tuất - Đinh Hợi = hào 4 - hào 4

- Bính Thân -Đinh Dậu = hào 3 - hào 5

- Bính Ngọ - Đinh Mùi = hào 2 - hào 6

- Bính Thìn - Đinh Tị = hào 1 - hào 1

Thuyết quái viết: Lôi Phong tương bạc

...............CHẤN..............................TỐN

..............C.Tuất.......Kim................T.Mão........Mộc

..............C.Thân......Mộc.................T.Tị...........Kim

..............C.Ngọ.......Thổ.................T.Mùi.........Thổ

..............C.Thìn.......Kim.................T.Dậu........Mộc

..............C.Dần.......Mộc.................T.Hợi.........Kim

..............C.Tý..........Thổ.................T.Sửu........Thổ

- Canh Tuất - Tân Hợi = hào 6 - hào 2

- Canh Thân - Tân Dậu = hào 5 - hào 3

- Canh Ngọ - Tân Mùi = hào 4 - hào 4

- Canh Thìn - Tân Tị = hào 3 - hào 5

- Canh Dần - Tân Mão = hào 2 - hào 6

- Canh Tý - Tân Sửu = hào 1 - hào 1

Thuyết quái viết: Thủy Hỏa bất tương xạ

..............KHẢM..........................LY

.............M.Tý.......Hỏa...............K.Tị.........Mộc

.............M.Tuất....Mộc...............K.Mùi......Hỏa

.............M.Thân...Thổ................K.Dậu.....Thổ

.............M.Ngọ.....Hỏa...............K.Hợi.......Mộc

.............M.Thìn....Mộc...............K.Sửu......Hỏa

.............M.Dần.....Thổ...............K.Mão......Thổ

- Mậu Tý - Kỷ Sửu = hào 6 - hào 2

- Mậu Tuất - Kỷ Hợi = hào 5 - hào 3

- Mậu Thân - Kỷ Dậu = hào 4 - hào 4

- Mậu Ngọ - Kỷ Mùi = hào 3 - hào 5

- Mậu Thìn - Kỷ Tị = hào 2 - hào 6

- Mậu Dần - Kỷ Mão = hào 1 - hào 1

Bài Tây Minh của Trương Hoành Cừ tức Trương Tái là một áng văn quan trọng của Đạo học gia. Bài này, vốn là đoạn văn đầu của thiên Càn Xưng trong Chính Mông.

Trương Tái chép đoạn đầu thiên này vào vách tường phía Tây nơi thư phòng, ông đặt tên là Đính Ngoan, rồi chép đoạn cuối của thiên này vào vách tường phía Đông, ông đặt tên là Biếm Ngu. Trình Di thấy thế, đổi Đính Ngoan thành Tây Minh, và đổi Biếm ngu thành Đông Minh. Về sau, Chu Hi tách bài Tây Minh này ra thành một bài độc lập và chú giải nó. Bài Tây Minh của Trương Tái và Thái Cực Đồ Thuyết của Chu Liêm Khê là hai áng văn bất hủ của Tống Nho. Bài Tây Minh như sau:

Càn là cha, Khôn là mẹ; tấm thân nhỏ nhoi của ta tương hợp với trời đất mà đứng ở giữa. Cho nên cái Khí lấp đầy trời đất là thân thể của ta. Cái thống lĩnh trời đất là bản tính của ta. Người dân là đồng bào của ta. Vạn vật là bạn bè của ta. Nhà vua là con cả của cha mẹ ta (tức trời đất). Quan đại thần là người quản lý việc nhà của con cả. Hãy tôn trọng bậc trưởng thượng, vì họ là bậc trưởng thượng (của trời) đáng cho mình tôn trọng.; hãy thương xót kẻ mồ côi yếu đuối, vì chúng là trẻ thơ ấu (của trời) đáng cho mình thương. Thánh nhân hợp nhất với đức (của trời). Hiền nhân là bậc ưu tú (của trời). Trong thiên hạ những kẻ già yếu, tàn tật, không anh em, già không con, già không vợ, già không chồng, đều là anh em của ta, họ chật vật khốn khổ mà không biết than thở cùng ai. (Kẻ khá giả) Tùy thời mà bao bọc những kẻ đáng thương ấy, đó là thể hiện lòng tôn kính (cha trời mẹ đất). (Kẻ khốn đốn) vui với mệnh trời, không lo buồn tủi phận, đó là thể hiện lòng chí hiếu (với cha trời mẹ đất). Làm trái lệnh cha mẹ là phẩm hạnh của đứa con ngỗ nghịch. Kẻ làm hại điều nhân gọi là tặc. Kẻ gây ác là hạng bất tài. Ai giữ được nguyên hình sắc như thủa ban đầu mới là giống hệt cha trời mẹ đất. Ai hiểu được sự biến hóa của sự vật tức là nối được sự nghiệp của cha trời. Ai nghiên cứu đến tận cùng cái thần diệu của sự vật, là nối được chí lớn của cha trời. Cẩn thận khi ở một mình, dù ở chỗ̃ khuất vắng mà không làm điều hổ thẹn với lương tâm, đó là một hiếu tử không làm nhục cha trời. Luôn gìn giữ tâm và nuôi dưỡng tính, đó là hiếu tử không biếng lười của cha trời. Ghét riệu (vì riệu làm loạn tâm tính), đó là sự quan tâm ông Vũ đến cong lao dưỡng dục của cha trời mẹ đất. Nuôi dưỡng anh tài là ban ân đức cho đồng loại (thể hiện đạo hiếu) của Dĩnh Khảo Thúc (đối với cha trời mẹ đất). Tận tâm chí hiếu để cha mẹ vui lòng, đó là công của Thuấn. Không chạy chốn (số mệnh) mà chỉ đợi bị giết, đó là Thân Sinh cung kính (thiên mệnh). Giữ gìn toàn vẹn thân thể do cha mẹ sinh ra cho đến lúc chết, đó là Tăng Sâm. Một mực vâng lời cha, đó là Bá Kỳ. (Cha trời mẹ đất cho ta) phú quý hạnh phúc, là làm dày dạn cuộc sống của ta; cho ta nghèo hèn lo buồn, tức là cho ngọc quý để ta mài giũa vậy. Khi còn sống ta cứ thuận theo trời mà hành sự; khi ta chết, ta cảm thấy thanh thản an bình.

Nho gia cuối thời Chiến Quốc đều chịu ảnh hưởng của Đạo gia. Trong số Nho gia thời đó, Tuân Tử là một bậc đại sư, tuy chịu ảnh hưởng của Đạo gia, đạt được chủ nghĩa tự nhiên của Đạo gia. Như chữ thiên theo Khổng Tử là ông Trời, tức đấng chủ tể vũ trụ. Theo Mạnh Tử thì chữ thiên này là số mệnh hay vận mệnh. Còn theo Tuân Tử thì chữ thiên này là cõi tự nhiên.

Giải Tế - Tuân Tử viết: "Cho nên từ phương diện thực dụng mà nói, Đạo rốt cuộc là Lợi [...] Từ phương diện ngôn từ mà nói, Đạo rốt cuộc là luận biện. Từ phương diện trời mà nói, Đạo rốt cuộc là nguyên nhân. Các thứ ấy chỉ nói lên một góc của Đạo. Đạo có bản thể thường hằng nhưng (ứng dụng) thì luôn biến đổi. Biết một góc thì không đủ gọi là biết. Kẻ thiên kiến thì chỉ thấy một góc của Đạo chưa thể xem là biết được. Nhưng hắn tự cho mình biết hết, còn tô điểm vẽ vời cho cái biết của mình, thế là bên trong thì loạn bên ngoài thì gạt người, trên che lấp dưới, dưới bưng bít trên, đó là cái họa của che lấp

(Cố do dụng vị chi, đạo tận lợi hĩ. [...] Do từ vị chi, đạo tận luận hĩ. Do thiên vị chi, đạo tận nhân hĩ. Thử sổ cụ giả, giai đạo chi nhất ngung dã. Phù đạo giả, thể thường nhi tận biến, nhất ngung bất túc dĩ cử chi. Khúc tri chi nhân, quan ư đạo chi nhất ngung, nhi vị chi năng thức dã, cố dĩ vi túc sức chi, nội dĩ tự loạn, ngoại dĩ hoặc nhân, thượng dĩ tế hạ, hạ dĩ tế thượng, thử tế tắc chi họa dã).

Đối với những học thuyết của các nhà thời đó, Tuân Tử cũng có nhận thức rõ ràng và phê bình xác đáng!

Thiên luận - Tuân Tử nói: "Lão Tử có thấy chỗ co mà không thấy chỗ duỗi. Mặc Tử có thấy chỗ bằng nhau mà không thấy chỗ khác nhau" (Lão Tử hữu kiến ư khuất, vô kiến ư tín. Mặc Tử hữu kiến ư tề, vô kiến ư kỵ).

Giải Tế - Tuân Tử nói: "Mặc Tử bị dụng che lấp nên không biết văn" (Mặc Tử tế ư dụng nhi bất chi văn).

Ông lại nói: "Huệ Tử bị lời nói che lấp nên không biết cái thực. Trang Tử bị trời che lấp nên không biết người (Huệ Tử tế ư từ nhi bất tri thực. Trang Tử tế ư thiên nhi bất tri nhân).

Đại sư Tuân Tử nòng cốt vẫn là Nho gia, chịu ảnh hưởng lớn từ Khổng Tử. Thời ông có thể nói là loạn, nên dân chúng tìm niềm tin vào đồng cốt và cúng tế. Tư tưởng Nho gia và nghề nghiệp làm Quan Cai trị của ông ảnh hưởng chủ đạo ở sách ông viết. Do vậy Tuân Tử cũng “Thiên Kiến” trong phê bình Lão học và âm dương gia…(có thể thiên kiến cả về đẳng cấp xã hội). Còn Đạo và thấy của Tuân Tử là cái thấy của nhà cai trị và Thầy dậy người đi cai trị.

Quan niệm Đạo đức của Tuân Tử ngược với Mạnh Tử và cho con người bản tính vốn ác, quan điểm này có thể cũng xuất phát từ quan điểm Cai trị, hoặc hoàn cảnh thời ông sống hỗn loạn, cái ác nhiều. Do vậy, Tuân Tử phản kích kịch liệt Mạnh Tử và các Đạo gia, Âm dương gia.

Ông lại có quan niệm kỳ quặc về Thánh nhân, Thánh nhân là phải cố hết sức tự cầu cho có nhiều phúc và chiếm nhiều tài nguyên, chỉ biết súc tích tài vật và lợi dụng trời đất - phải chăng quan điểm này có ảnh hưởng hậu duệ sau này..??

Vì tư tưởng Nho gia cố hữu và là nhà Cai trị vậy, nên có thể nhận định Tuân Tử không thâm nhập được vào Lão Trang học và học phái Âm dương gia. Tuy Tuân Tử có nhắc đến Tự Nhiên nhưng là Tự Nhiên theo đại sư Tuân Tử.

(Tham khảo Lịch Sử Triết Học Trung Quốc – Tg Phùng Hữu Loan ; NXB Khoa Học xã Hội)

Quái từ: Khuê, tiểu sự cát.

Lời quẻ: Quẻ Khuê tượng trưng cho sự ngang trái chia lìa, biết thận trọng xử sự thì thu được tốt lành.

Tự quái truyện giải thích Khuê là quai = ngang trái. Thuyết văn giải tự - Hứa Thận giải thích là "Mục bất tương thích", tức là hai mắt không nhìn nhau, có nghĩa là chống trái, không hòa thuận với nhau.

Tiểu, chỉ về âm nhu, hàm nghĩa cẩn thận, thận trọng. Lời quẻ chỉ ra rằng: phàm sự vật ở vào thời chống trái nhau, thì phải dùng phương pháp mềm mỏng, nhu thuận, thận trọng tìm ra cách xử lý thích hợp, thì mới có thể chuyển mâu thuẫn thành hài hòa được. Nếu cứ cương cứng một cách thái quá, khiên cưỡng mong cầu hòa hợp, thì khó mà vượt qua khuê ly được. Vì vậy, Lời quẻ mới nói là Tiểu sự cát.

Cổ nhân nói:

Trịnh Khang Thành giảng: "Khuê tức là đối lập nhau, lửa thì muốn bay lên, (nước) ao hồ thì muốn thấm xuống, cũng như con người đồng cư tâm ý khác nhau, nên gọi đó là Khuê" (Khuê, quai dã. Hỏa dục thướng, Trạch dục hạ. Do nhân đồng cư nhi chí dị dã, cố vị chi Khuê).

Ngu Phiên chú giảng: "Hai quái Ly Đoài tượng trưng cho hai thiếu nữ vậy" (Nhị nữ Ly Đoài dã).

Quách Dương chú giảng: "Tám quẻ Văn Vương lập ra, Ly là con gái giữa, Đoài là con gái út. Cả hai đều là tượng âm nhu, cho nên đối lập nhau chứ không tương ứng. Ly ở trên, là tượng dính bám vào trời. Đoài ở dưới là hồ nước, tượng trưng cho khả năng dung hòa. Lấy nhu tiến lên phía trên, đến hào Ngũ đắc vị. Trên ứng với Thượng, nên gọi là đắc trung ứng cương. Lại thêm hào âm nhu chiếm vị trí ngôi tôn, là bề tôi mà chiếm vị của vua, cùng tương ứng với Nhị, là vuâ phải ứng theo bề tôi, cho nên chỉ thành tựu được việc nhỏ" (Văn Vương bát quái, Ly vi trung nữ, Đoài vi thiếu nữ, gia vị âm tượng, cố tương khuê nhi bất tương ứng. Đoài tại hạ, Ly tại thượng. Ly giả, lệ vu thiên chi tượng, Đoài giả, trạch tại hạ năng dung chi tượng. Dĩ nhu nhi thượng tiến, chí lục ngũ đắc vị, thượng ứng thượng cửu, cố xưng vi đắc trung ứng cương. Hựu nhân âm hào lục ngũ chiếm cửu ngũ chi vị, vi thần chiếm quân vị; dữ cửu nhị tương ứng, vi quân ứng vi thần, chỉ năng thành tựu tiểu sự).

Chu dịch tập giải dẫn lời Ngu Phiên nói: "Tiểu là chỉ hào Ngũ. Âm cũng gọi là tiểu. Hào này đắc trung ứng cương nên được tốt".

Chu dịch chiết trung dẫn lời Hà Khải nói: "Việc đã chống trái nhau rồi, thì không thể lấy cái tâm nóng giận mà giải quyết được. Chỉ có cực kỳ bình tĩnh, từ từ chuyển hóa. Đó là mẹo hay để hòa hợp vậy. Cho nên mới nói Tiểu sự cát. Tiểu sự là chỉ việc xử sự mềm mỏng. Không phải đại sự là không tốt, mà chỉ sự thận trọng thì được tốt vậy".

Chu dịch chính nghĩa - Khổng Dĩnh Đạt nói: "Một khi vật tình đã chống trái nhau, thì không thể làm việc đại sự được. Làm việc đại sự là phải huy động nhiều người, việc đó chỉ có ở thời đại đồng mới làm được. Tiểu sự là những việc như ăn uống, quần áo, không phải đợi sức đông, tuy chống trái mà vẫn có thể làm được".

(Bài viết sưu tầm của cụ Hà Uyên)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Sưu tầm về Dịch thuyết

Bói tình yêu, những người khó tìm bạn đời

Đường Hôn nhân mảnh yếu không nét là chỉ đường Hôn nhân mờ không nhìn thấy, hoặc đường vân quá mờ nhạt, có thể vì hoàn cảnh mà mất cơ hội tình yêu,
Bói tình yêu, những người khó tìm bạn đời

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Có người tính tình tốt,nhiều tài năng  nhưng lại không tìm được người bạn đời như ý, vì sao lại như vậy. Bói tình yêu trên bàn tay sẽ giúp bạn  nói lên điều đó… 

Đường Hôn nhân mảnh yếu, không nét

Đường Hôn nhân mảnh yếu không nét là chỉ đường Hôn nhân mờ không nhìn thấy, hoặc đường vân quá mờ nhạt, cho thấy về mặt tình cảm có thể vì hoàn cảnh mà mất cơ hội tình yêu, hoặc do duyên phận với người khác giới quá kém, không thể tìm được người bạn đời phù hợp, chỉ có thể cố gắng chờ đợi.

Đường Hôn nhân tạp loạn

Đường Hôn nhân tạp loạn là chỉ đường Hôn nhân xuất hiện quá nhiều nhưng quá loạn, cho thấy cơ hội tình yêu rất nhiều, rất đề gặp được người bạn đời của mình, hơn nữa chung sống cũng không có vấn đề gì. Nhưng chính vì tâm thái quá phóng túng, nên họ thường không biêt phải lựa chọn thế nào. Người này thường xuyên quan hệ với nhiều người khác giới, nhưng lại không muốn đi đến hôn nhân.

Đường Tình cảm không thông suốt

Đường Tình cảm không thông suốt là chỉ đoạn cuối của đường Tình cảm không đi đến sát vào mép bàn tay, hơn nữa còn có tình trạng đứt nối liên tiếp, cho thấy về cơ bản họ không tin vào chuyện tình cảm, có biểu hiện thích bông đùa, đối với người khác giới thường không cự tuyệt, tình cảm rất hỗn tạp, đôi khi sẽ bị tổn thương về mặt tình cảm mà trơ thành người cô độc, khép kín.

Đường cổ tay tạp loạn mà còn nhô lên

Đường Cổ tay tạp loạn mà còn nhô lên là chỉ giữa các đường cổ tay xuất hiện trạng thái nhấp nhô, mà các đường lại rối loạn. Người này ít nói chuyện với đối phương, một số quan niệm của hai bên cũng khó mà dung hợp được, vì vậy mà quan hệ tình cảm cũng khó mà duy trì, có khả năng đứt gánh giữa đường.

Đường Vận mệnh từ gò Nguyệt kéo dài ra

Đường Vận mệnh từ gò Nguyệt kéo dài ra là chi đường chỉ tay từ gò Nguyệt kéo dài tới ngón giữa, cho biết đây là người có quan hệ xã hội rất tốt, đặc biệt là với người bạn khác giới, họ thường nhận được sự giúp đỡ thật sự. Bàn tay này còn đại diện cho tư duy nhạy bén, tính giác ngộ cao, rất thích hợp làm nhừng việc như tôn giáo, huyền học hoặc nghiên cứu sự vật thần bí và có được thành quả nhất định. Đương nhiên kiểu người này thường vì vùi đầu vào việc nghiên cứu, cho nên tình yêu thường đến muộn và sẽ có thể phải sông độc thân trong thời gian dài.

doc-than-2

Lòng bàn tay có hình chữ thập

Lòng bàn tay có xuất hiện ký hiệu hình chữ “thập” là ngưòi thích nghiên cứu sự vật thần bí, hơn nữa trực giác của bản thân họ cũng rất tốt, rất thích hợp làm việc liên quan đến mệnh lý, tôn giáo, người này khi đối mặt với chuyện tình cảm phàm tục tốt nhất là nên kiềm chế.

Đường Trí tuệ ngang dài nhưng hướng xuống

Đường Trí tuệ ngang dài nhưng hướng xuống là chi đường Trí tuệ hướng ngang kéo dài nhưng ở phần đuôi lại hưóng xuống, cho thấy tư duy nhạy bén, phản ứng nhanh nhạy, cảm thấy cuộc sông hiện thực rất có ý nghĩa nhưng lại có hứng thú đặc biệt với những sự vật thần bí, khả năng tưởng tượng phong phú, nếu lại đi sâu vào nghiên cứu thì chắc chắn sẽ có thành tựu. Đương nhiên, kiểu người này khó mà tránh khỏi cuộc sống cô đơn.

Ngón tay xuất hiện dường chỉ tay âm dương

Trên ngón tay xuất hiện đường chỉ âm dương, cho biết bẩm sinh người này đã có khả năng về mặt tôn giáo, huyền học, có thể cảm nhận được từ trường mà người khác không cảm nhận được bằng khả năng trực giác hơn người của mình, nếu có thế khai thác được điểm này thì họ sẽ gặt hái được nhiều thành tựu lớn. Nhưng về mặt tình cảm, kiểu người này sẽ lãnh đạm vô cùng.

Mép bàn tay xuất hiện đường Trực giác

Mép bàn tay xuất hiện đường Trực giác là chỉ ở giữa gò Nguyệt và ngón út xuất hiện đường thẳng, cho thấy phản ứng thần kinh của người này khá nhạy cảm, còn có khả năng dự đoán được xu thế phát triển của tương lai, rất thích hợp vối huyền học hoặc quy y tôn giáo, chuyên tâm ngộ đạo.

 


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Bói tình yêu, những người khó tìm bạn đời

5 dấu hiệu trên lòng bàn tay chứng tỏ bạn dễ lấy chồng đại gia

Nếu có hình chữ thập ngay dưới đường tâm đạo, bạn dễ có cuộc sống gia đình hạnh phúc, giàu sang, không bao giờ phải lo lắng về các vấn đề tiền bạc, vật chất.
5 dấu hiệu trên lòng bàn tay chứng tỏ bạn dễ lấy chồng đại gia

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

1. Đường tâm đạo dài, thẳng, trơn tru

Đây là dấu hiệu điển hình của những cô nàng có số "vượng phu" - không những lấy được chồng giàu, mà cuộc sống hôn nhân cũng rất hạnh phúc, viên mãn.

2. Dưới đường tâm đạo có hình chữ thập

Hình chữ thập đại diện cho tình yêu, hôn nhân và hạnh phúc. Nếu có hình chữ thập ngay dưới đường tâm đạo, bạn dễ có được cuộc sống gia đình hạnh phúc viên mãn, cuộc sống giàu sang, phú quý, không bao giờ phải lo lắng về các vấn đề tiền bạc, vật chất.

5-dau-hieu-tren-long-ban-tay-chung-to-ban-de-lay-chong-dai-gia

3. Trên ngón tay có vân tiền tài

Vân tiền tài nhỏ, mảnh, nằm ở giữa ngón út và ngón vô danh. Những người có vân tiền tài thường lấy được chồng đại gia, tài sản kếch xù, cuộc sống giàu sang phú quý, không phải lo nghĩ gì chuyện tiền nong.

4. Lòng bàn tay sáng mịn và hồng hào

Những người có lòng bàn tay sáng mịn, hồng hào thường tính cách tốt bụng, nhiệt tình. Mọi chuyện xảy ra với họ đều thuận buồm xuôi gió, dữ hóa lành... Không những thế, họ còn dễ lấy được người chồng vừa có tài lại có đức - lúc nào cũng yêu chiều, chăm sóc, cuộc sống trôi qua yên bình, nhẹ nhàng.

5. Lòng bàn tay có nốt ruồi

Nốt ruồi trong lòng bàn tay là đại diện cho sự thông minh và tài lộc - cuộc sống an nhàn, dễ lấy chồng giàu sang, môn đăng hộ đối.

Mi Na (theo D1xz)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: 5 dấu hiệu trên lòng bàn tay chứng tỏ bạn dễ lấy chồng đại gia

Bỏ túi những mẹo hóa giải xui xẻo

Bạn sẽ làm gì khi thấy gương vỡ hay mèo đen chạy vào nhà?
Bỏ túi những mẹo hóa giải xui xẻo

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Gương vỡ, mèo đen chạy vào nhà… là một trong những điềm báo cho thấy bạn sẽ gặp xui xẻo liên tiếp. Nếu rơi một trong những trường hợp này, bạn hãy nghĩ ngay tới việc áp dụng những mẹo nhỏ dưới đây.

  1. Dùng muối xua tà ma, đem lại may mắn
 
Không chỉ riêng Việt Nam, nhiều nước trên thế giới cũng coi muối là điềm lành, là vật có thể xua đuổi tà khí và mang lại may mắn. Dân gian có câu “đầu năm mua muối, cuối năm mua vôi”, có nghĩa muối mặn xua đuổi tà ma, vận xui xẻo để mang lại may mắn. Ngoài ra, mua muối còn thể hiện ước muốn hòa thuận trong gia đình, sự mặn mà trong các mối quan hệ làm ăn…

Bo tui nhung meo hoa giai xui xeo hinh anh
Ném muối qua vai trái để xua đi tà khí, mang lại may mắn

Nếu thấy mèo đen chạy vào nhà hoặc gần đây bạn liên tiếp gặp xui xẻo, mách bạn mẹo hóa giải xui xẻo đơn giản này. Bạn cầm một nắm muối ném qua vai trái của mình. Lưu ý, phải ném qua vai trái vì nếu ném qua vai phải thì còn mang lại sự xui xẻo gấp đôi.
 
2. Chôn hoặc vứt gương vỡ xuống sông
 
Từ xa xưa, gương vỡ là điềm xui xẻo và bị coi là rất độc. Khi làm vỡ gương, nên quét dọn sạch sẽ mọi mảnh vỡ và bỏ vào một chiếc túi rồi mang đi chôn hoặc vứt xuống sông. Không nên vứt trực tiếp các mảnh vỡ vào thùng rác, tránh vận xui tăng gấp đôi.
 
3. Đốt hương hóa giải năng lượng tiêu cực
 
Nếu gần đây bạn thường xuyên gặp trục trặc trong cuộc sống thường ngày thì nên nghĩ đến cách hóa giải xui xẻo là đốt hương tại nhà. Nếu gặp các vấn đề về công việc, có thể thắp hương tại văn phòng. 
 
Theo quan điểm dân gian, đốt hương (đặc biệt là hương trầm) có thể gia tăng may mắn và hóa giải nguồn năng lượng tiêu cực. Mùi hương sẽ giúp tinh thần bạn thư thái hơn, đồng thời có thể hóa giải vận đen hữu hiệu. Tuy nhiên, lưu ý khi thắp hương cho gia tiên, Thần Phật nên thắp số lẻ.
 
4. Mang bên mình bùa hộ mệnh
 
Nhắc tới bùa hộ mệnh không ít người cho rằng điều này là mê tín. Tuy nhiên, bùa hộ mệnh ở đây không theo nghĩa tiêu cực mê tín dị đoan, nó đơn giản chỉ là những bảo bối phong thủy như chiếc vòng tay, dây chuyền hoặc một vật nhỏ để trong túi. 
 
Theo quan điểm phong thủy, đeo bên mình một chùm chìa khóa có 3 chìa sẽ giúp chủ nhân của nó mở cánh cửa giàu có, tình yêu và sức khỏe.

Ngoài ra, nếu tìm được cỏ 4 lá tượng trưng cho tiền bạc, danh vọng, tình yêu và sức khỏe và luôn mang nó theo mình sẽ có được nhiều may mắn và thành công, hóa giải mọi xui xẻo trong cuộc sống.
 
Ngoài ra, có thể sử dụng đá phong thủy để làm bùa hộ mệnh hoặc bài trí chúng tại nhà ở, phòng làm việc giúp chống lại các nguồn năng lượng xấu. Cụ thể, thạch anh hồng phấn sẽ gia tăng năng lượng tích cực, đẩy lùi tà khí; đá xà cừ bảo vệ bạn khỏi những linh hồn bơ vơ; thạch anh tím tăng độ an toàn khi đi du lịch…
 
ST  
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Bỏ túi những mẹo hóa giải xui xẻo

Cha mẹ kiểm tra lại vị trí kê giường ngủ sai phong thủy

Nếu thấy trẻ ốm đau trong suốt thời gian dài mà lại không rõ nguyên nhân, cha mẹ nên nghĩ ngay tới khả năng kê giường ngủ sai phong thủy và tiến hành kê lại.
Cha mẹ kiểm tra lại vị trí kê giường ngủ sai phong thủy

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

– Vị trí kê giường ngủ hợp phong thủy sẽ mang tới giấc ngủ chất lượng, giúp tinh thần sảng khoái, sức khỏe dồi dào. Nó vô cùng quan trọng, nhất là với trẻ nhỏ. Nếu thấy con bạn hay ốm đau mà không rõ nguyên nhân, hãy nghĩ ngay tới khả năng kê giường sai phong thủy.



Kê giường thẳng cửa ra vào có hại như thế nào? Kỵ giường ngủ đối diện cửa phòng tắm Hướng dẫn đặt giường ngủ theo năm để tránh họa rước hên
1. Giường ngủ sát cửa sổ   Theo phong thủy phòng ngủ, kê giường ngay sát cạnh cửa sổ vừa tạo cảm giác không an toàn, lại dễ bị tiếng ồn ào bên ngoài ảnh hưởng, khiến trẻ cảm thấy sợ hãi, ngủ không ngon giấc.    Hơn nữa, ánh sáng mặt trời chiếu thẳng vào giường ngủ gây ra hiện tượng phạm quang sát. Nguồn sáng quá mạnh khiến trẻ khó tập trung, tinh thần lơ đễnh, ngày càng ốm yếu.   Vậy nên, nếu thấy trẻ ốm đau trong suốt thời gian dài mà lại không rõ nguyên nhân, cha mẹ nên nghĩ ngay tới khả năng kê giường ngủ sai phong thủy và tiến hành kê lại.  
Cha me kiem tra lai vi tri ke giuong ngu sai phong thuy hinh anh
 
2. Kê giường sát nhà bếp, nhà vệ sinh   Hiện nay, những khu chung cư cao tầng phần lớn là nhà thương mại, có cùng một kiểu thiết kế. Trước khi mua nhà, phụ huynh nên xem xét vị trí đặt phòng ngủ và giường ngủ cho con thật tỉ mỉ. Tránh tình trạng ngay phía trên hoặc phía cạnh sườn giường ngủ của con là nhà bếp, nhà vệ sinh…    Điều này là một trong những đại kị phong thủy, ảnh hưởng rất xấu tới sức khỏe của con trẻ. Xú khí từ nhà vệ sinh, mùi khó chịu trong bếp… đều là nguồn năng lượng tiêu cực, khiến sức khỏe trẻ nhỏ giảm sút, bệnh tật, ốm yếu triền miên.   Lựa chọn phong cách phòng ngủ cho trẻ Kiêng kỵ đối với phòng của trẻ em Kiêng kỵ đối với phòng ngủ của trẻ em
3. Kê giường ngay dưới xà nhà
  Đặt giường ngay dưới xà nhà là đại kị trong phong thủy. Xà nhà tạo sức ép lớn, gây ra cảm giác bí bách, ngột ngạt, người lớn cũng bị ảnh hưởng nặng nề chứ đừng nói tới trẻ nhỏ có hệ miễn dịch non nớt.   Người nằm ngủ trên giường bị xà ngang chèn ép lâu ngày cảm thấy hít thở khó khăn, thường xuyên mơ thấy ác mộng, sức khỏe giảm sút nghiêm trọng, nhất là hệ tim mạch trong cơ thể.  
Cha me kiem tra lai vi tri ke giuong ngu sai phong thuy hinh anh
 
4. Vị trí kê giường không giống nhau   Những gia đình có từ hai con trở lên thường hay kê hai hoặc ba giường trong cùng một phòng ngủ để tiện cho việc con cái sinh hoạt, nghỉ ngơi.    Cách làm này cũng không có vấn đề gì nếu như vị trí các giường đặt loạn xạ, không theo chiều hướng nhất định nào. Trong phong thủy, điều này sẽ khiến con trẻ dễ cãi nhau, mâu thuẫn, lâu dần tình cảm anh chị em ruột thịt bị rạn nứt.   Vậy nên, nếu bạn ở trong trường hợp này, nên kê giường ở phương vị giống hệt nhau, đầu giường và cuối giường cùng phía.   5. Kê giường ngay cạnh tivi, loa đài   Những sản phẩm công nghệ như tivi, loa đài… đều gây ra tiếng ồn lớn. Tiếng ồn cũng được coi là sát khí trong phong thủy.   Nếu kê giường trẻ nhỏ ngay cạnh những đồ vật này, không những trẻ khó ngủ, dễ mơ thấy ác mộng mà còn khiến thần kinh của trẻ bị suy nhược, thường xuyên ốm đau, học hành thiếu tập trung.   Ngọc Điệp   Không nên lơ là phong thủy phòng ngủ cho trẻ nhỏ
Cha mẹ nào cũng thương con, vì vậy việc quan tâm đến phong thủy phòng ngủ cho trẻ nhỏ là điều rất cần thiết, không thể bỏ qua.

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Cha mẹ kiểm tra lại vị trí kê giường ngủ sai phong thủy

Đàn ông tuổi nào hào phóng tiêu tiền vì người yêu

Nếu được yêu và lấy người đàn ông này làm chồng, quý cô được sống trong điều kiện thoải mái và hạnh phúc nhất có thể.
Đàn ông tuổi nào hào phóng tiêu tiền vì người yêu

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo



Dan ong tuoi nao hao phong tieu tien vi nguoi yeu hinh anh
Ảnh minh họa
  1. Đàn ông tuổi Thân   Nam giới cầm tinh con khỉ thường nhiệt tình, tự tin, có tinh thần trách nhiệm. Họ thích cuộc sống tự do tự tại, ghét phải gò bó trong không gian chật hẹp. Trong tình yêu, người tuổi Thân lãng mạn, sẵn sàng hi sinh tất cả vì người mình yêu. Với họ, tiền bạc vật chất chỉ là vật ngoài thân. Do đó, dù là người yêu hay bạn bè, người tuổi Thân không bao giờ tính toán so đo hay phải cân nhắc lợi ích cá nhân, miễn sao mọi người được vui vẻ, hạnh phúc.    Nếu có người yêu hoặc người chồng như con giáp này, chắc chắn bạn sẽ được sống trong điều kiện tốt nhất. Mọi vất vả khổ cực, đàn ông tuổi Thân sẽ gánh vác và đảm đương hết, bạn chỉ cần yên tâm sinh và nuôi dạy con cái.   2. Đàn ông tuổi Mùi   Đa số đàn ông tuổi Mùi có tính cách điềm đạm, khoan dung, hào phóng và rất chung tình. Trong số 12 con giáp, đàn ông tuổi Mùi biết cách chiều chuộng nửa kia của mình nhất. Họ không tiếc chi những món tiền lớn để mua quà tặng đắt giá tặng người yêu. Với họ, tình yêu là điều đáng trân trọng, dù có phải tốn bao nhiêu công sức và tiền bạc cũng xứng đáng nếu cả hai dành tình cảm chân thành và yêu thương nhau thực sự.    Được nâng khăn sửa túi cho anh chàng tuổi Mùi là niềm hạnh phúc và mơ ước không chỉ riêng quý cô nào. Tuy nhiên, nếu thực sự hiểu và biết vun vén cho gia đình hoặc tương lai mai sau, người vợ (người yêu) phải quản lí tốt tài chính, tránh tiêu xài quá lãng phí vào những món đồ không cần thiết.    3. Đàn ông tuổi Dậu   Những nét tính cách nổi bật thường thấy ở đàn ông tuổi Dậu chính là sự thẳng thắn, cương trực, hành sự quyết đoán và coi trọng đời sống vật chất. Nói như vậy không có nghĩa là họ coi nhẹ tình cảm, trái lại, khi đã tìm được ý chung nhân, người tuổi Dậu lại hết mực coi trọng và dành toàn bộ niềm tin và nỗ lực phấn đấu cho viễn cảnh tương lai tươi sáng.    Đàn ông tuổi Dậu không tiếc tiền bạc để lo cho người yêu, vợ con, gia đình. Nếu họ có mạnh tay chi cho việc nào đó, thì cũng chính là nhằm mục đích mang lại niềm vui, hạnh phúc và thoải mái về tinh thần cho những người thân yêu.    Anh Khánh (Theo DYXZ)  
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Đàn ông tuổi nào hào phóng tiêu tiền vì người yêu

3 chòm sao sự nghiệp lao đao trong tháng 8

Ai cũng đều mong muốn có sự thăng tiến nhưng không may mắn là có 3 chòm sao sự nghiệp kém trong tháng 8 này, làm hoài vẫn lận đận, không có tiến triển.
3 chòm sao sự nghiệp lao đao trong tháng 8

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Sau tất cả sự nỗ lực, cố gắng làm việc mỗi ngày, ai cũng đều mong muốn có sự thăng tiến, thu về thành công trong sự nghiệp. Nhưng không may mắn là có 3 chòm sao sự nghiệp kém trong tháng 8 này, làm hoài vẫn lận đận, không có tiến triển.


3 chom sao su nghiep lao dao trong thang 8 hinh anh 2
 
Cự Giải   Chòm sao Cự Giải không có dã tâm, tính khí tương đối âm thầm, ngày thường đều rất tận tình làm việc, thái độ chuyên cần, tinh thần học hỏi cực kì cao. Nhưng làm tốt không bằng người khác biết mình làm tốt, Cự Giải lúc nào cũng rụt rè, khép nép lại không biết cách lấy lòng cấp trên nên dù rất được việc cũng bị người ta ngó lơ, không ghi nhận. Tháng 8 này, sự nghiệp của Cự Giải còn kém khả quan hơn khi bạn liên tiếp bị đồng nghiệp qua mặt dù năng lực cao hơn họ hoặc bị đồng nghiệp tranh công cướp việc mà chẳng thể làm gì.   Xử Nữ   Năng lực làm việc của Xử Nữ thì không còn gì để bàn cãi rồi. Nhưng họ lại là một trong những chòm sao sự nghiệp kém trong tháng 8. Nguyên nhân chính là do cơ hội chưa tới, bên cạnh đó, bản tính lề mề, cái gì cũng yêu cầu thập toàn thập mĩ của Xử Nữ cũng khiến họ chậm chân hơn người khác. Trong mắt Xử Nữ, công việc phải tỉ mỉ, xử lý đâu ra đó, điều này tốt nhưng với những nghiệp vụ đòi hỏi sự nhanh chóng, tức thời, linh hoạt thì họ rất lúng túng, không đáp ứng được yêu cầu, dễ bị tụt hậu. Cơ hội thăng tiến chỉ xuất hiện một lần thôi, không nắm được thì đương nhiên phải lãnh hậu quả rồi.  
3 chom sao su nghiep lao dao trong thang 8 hinh anh 2
 
Kim Ngưu
  Mọi người đều biết, Kim Ngưu kiên định, ổn trọng, bất luận là trong cuộc sống hay trong công việc đều không muốn thay đổi, biến hóa. Bọn họ cho rằng, chỉ cần hoàn thành những điều lãnh đạo giao là tốt rồi, yên ổn mới là hạnh phúc. Nhưng không ngờ rằng, Kim Ngưu muốn yên nhưng người khác lại không cho yên, ai cũng muốn tiến lên thì chắc chắn có cạnh tranh, kèn cựa. Trong tháng 8, Ngưu chan sẽ phải đối diện với những tình huống chơi xấu bất ngờ khiến cho sự nghiệp tụt dốc, lùi hẳn lại phía sau.
Ghen tị với 3 chòm sao có tình duyên ngọt ngào nhất tháng 8 Điểm danh 4 chòm sao có vận trình phát đạt nhất tháng 8 Thái Vân
 

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: 3 chòm sao sự nghiệp lao đao trong tháng 8

Cách xem tướng hình dáng bàn tay nam giới bộc lộ tính cách –

Trước khi xem các đường chỉ, những nốt ruồi, những điểm đỏ đen…trong bàn tay chúng ta nên hiểu về hình dáng của bàn tay và ý nghĩa của nó. Cách xem tướng Sau đây là một số hình dạng của các bàn tay thường gặp: - Bàn tay ngắn quá: Bàn tay ngắn quá ng
Cách xem tướng hình dáng bàn tay nam giới bộc lộ tính cách –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Cách xem tướng hình dáng bàn tay nam giới bộc lộ tính cách –

Bảng “Cửu diệu tinh quân” – Chín ngôi sao hợp tuổi hằng năm –

STT Tuổi Tên sao ứng với mỗi tuổi Nam Nữ 1 10 19 28 37 46 55 64 73 82 91 La Hầu Kế Đô 2 11 20 29 38 47 56 65 74 83 92 Thổ Tú Vân Hán 3 12 21 30 39 48 57 66 75 84 93 Thuỷ Diệu Mộc Đức 4 13 22 31 40 49 58 67 76 85 94 Thái Bạch Thái Âm 5 14 23 32 41 50

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

201401153459_9_sao_cuu_tinh_nam_2014_1

STT

Tuổi

Tên sao ứng

với mỗi tuổi

Nam

Nữ

1

10

19

28

37

46

55

64

73

82

91

La Hầu

Kế Đô

2

11

20

29

38

47

56

65

74

83

92

Thổ Tú

Vân Hán

3

12

21

30

39

48

57

66

75

84

93

Thuỷ Diệu

Mộc Đức

4

13

22

31

40

49

58

67

76

85

94

Thái Bạch

Thái Âm

5

14

23

32

41

50

59

68

77

86

95

Thái Dương

Thổ Tú

6

15

24

33

42

51

60

69

78

87

96

Vân Hán

La Hầu

7

16

25

34

43

52

61

70

79

88

97

Kế Đô

Thái Dương

8

17

26

35

44

53

62

71

80

89

98

Thái Âm

Thái Bạch

9

18

27

36

45

54

63

72

81

90

99

Mộc Đức

Thủy Diệu


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Bảng “Cửu diệu tinh quân” – Chín ngôi sao hợp tuổi hằng năm –

Tại sao căn nhà cùng hướng như nhau nhưng lại có phong thủy khác nhau? –

Cùng với sự phát triển của xã hội văn minh, căn nhà hiện đại được xây càng cao càng to khiến cho rất nhiều căn nhà cùng nằm trên một hướng, ví dụ như toà nhà chung cư cao 32 tầng. Nếu chúng ta đoán hung cát của một căn nhà theo toạ hướng của nó thì l

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

iệu những căn nhà có một đơn nguyên số 01 từ tầng 1 lên đến tầng 32 đều có phong thuỷ giống hệt nhau không? Tất nhiên là không thể, tuy nhiên tình huống gặp phải của những người sống trong căn nhà đó là gần như tương đồng. Ví dụ, căn nhà số 01 ở tầng 1 phạm thanh sát thì phần lớn các căn số 1 của tầng 2 đến tầng 32 có khả năng cũng gánh chịu tiếng ồn làm nhiễu loạn. Đây là do ảnh hưởng của Phi Tinh gây nên.

Nhưng có điểm cần chú ý, không phải tất cả các căn nhà trên đều cho rằng đó là sự nhiễu loạn. Điều nàv là vì từ trường ảnh hưởng đến “nhân” (con người). Bản thân con người cũng có từ trường, khi sống trong một căn nhà thì từ trường của căn nhà đó chịu sự ảnh hưởng của con người nên cũng thay đổi. Hơn nữa, nếu dùng la bàn để tính toán tỉ mỉ thì bạn sẽ phát hiện ra những căn nhà trên có nhiều điểm khác biệt rất nhỏ. Độ cao thấp của căn nhà không giống nhau, hướng cũng khác (dù không rõ rệt) đều khiến kim la bàn thay đổi. Từ đó, hướng của căn nhà cũng thay đổi. Chúng ta có thể nói rằng dù sống trong căn nhà cùng vị trí nhưng cát hung lại khác nhau rõ rệt. Cũng giống như những người sinh đôi hoặc sinh ba có khuôn mặt, dáng vẻ giống nhau nhưng tính cách và thói quen sinh hoạt lại không hoàn toàn như nhau.

p25

Nếu người ngũ hành cần Kim sống trong căn nhà luôn có xe cộ đi lại, tiếng ồn, còi xe nhiễu loạn thì anh ta cảm thấy rất thoải mái, không khó chịu chút nào. Nguyên nhân là do tiếng còi xe ngũ hành thuộc Kim. Ngược lại, nếu một người ngũ hành kỵ Kim sống trong căn nhà đó thì tiếng còi xe sẽ tạo thành một loại thanh sát, không những làm tinh thần của anh ta căng thẳng, không tập trung mà còn ảnh hưởng đến sự nghiệp và sức khoẻ của anh ta.

Từ những ví dụ trên ta có thể thấy, thực ra con người là nhân tố của phong thuỷ. Con người khiến cho từ trường tạo ra phản ứng khác nhau, từ đó làm thay đổi phong thuỷ của căn nhà. Bản thân toạ hướng của căn nhà không thể thay đổi, nhưng khi có con người dọn đến sinh sống thì nó dần dần phát sinh biến hoá. Cho nên khi dùng la bàn tìm được vị trí của căn nhà xong, nhân tố con người không thể thiếu để tham khảo. Chúng tôi cũng nhắc các bạn một điều: Trong tất cả các nhân tố  khiến từ trường thay đổi thì sức mạnh lớn nhất là của động vật.

Trong cơ thể động vật phát ra một loại khí và từ trường vô cùng mãnh liệt khiến kim của la bàn chuyển động liên tục. Chính vì điểm này mà cách giải tượng của la bàn được phân thành hai tầng lớp: Một là vị trí đó đúng là của Trái Đất. Hai là vị trí đó đã được con người cải tạo. Điều đó chứng tỏ rằng phong thuỷ là từ trường được điều giải ngũ hành âm dương sau khi con người xuất hiện. Vậy làm thế nào bảo vệ trạng thái phong thuỷ tốt của căn nhà? Điều này rất cần tới bố cục phong thuỷ. Những căn nhà bình thường đều chịu sự ảnh hưởng của từ trường con người và Phi Tinh mỗi năm, mỗi tháng, mỗi ngày, mỗi giờ. Từ đó vận khí của căn nhà cũng thay đổi theo. Bố cục phong thuỷ có thể khiến từ trường của căn nhà duy trì trạng thái nào đó rất nhiều năm mà không sản sinh ra biến động nào lớn.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tại sao căn nhà cùng hướng như nhau nhưng lại có phong thủy khác nhau? –

Tuyển tập những lời chúc mừng sinh nhật vợ

Tuyển tập những lời chúc mừng sinh nhật vợ hay và ý nghĩa nhất gửi tới người vợ yêu quý của mình. Hãy thể hiện lời chúc như cám ơn bà xã của mình
Tuyển tập những lời chúc mừng sinh nhật vợ

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tuyển tập những lời chúc mừng sinh nhật vợ hay và ý nghĩa nhất gửi tới người vợ yêu quý của mình. Hãy thể hiện lời chúc như cám ơn bà xã mỗi ngày nấu bữa ăn ngon cho cả gia đình, đã sinh được bé kháu khỉnh., cám ơn vì bà xã đã động viên.

Vậy bạn hãy cùng xem những lời chúc mừng sinh nhật hay nhất nhé. Chúc bạn có được cho mình những lời chúc mừng sinh nhật vợ ý nghĩa và đáng yêu nhất!

Tuyển tập những lời chúc mừng sinh nhật vợ

Vợ yêu của anh à. Anh và con chúc em luôn luôn mạnh khỏe, xinh đẹp, vui vẻ. Vợ ơi! Yêu vợ nhiều lắm. Cảm ơn vợ đã vất vả vì bố con anh!

———-

Hôm nay là sinh nhật của Vợ yêu, Anh muốn gửi tới Em tình cảm yêu thương nhất từ sâu thẳm trong trái tim Anh. Với Anh, Em là tất cả, tài sản vô giá của cuộc đời Anh. Anh luôn cầu nguyện và hằng mong cho Em có sức khoẻ để được bên Anh trên cuộc đời này. Anh luôn chúc Em thành công trong sự nghiệp, nhưng với Anh sức khoẻ của Em là quan trọng nhất để Anh luôn có Em bên cạnh. Anh yêu Em nhiều và nhất, chỉ một mình Em thôi!

———–

Sinh nhật này hay các sinh nhật các năm mới tiếp theo vợ yêu sẽ vẫn mãi là Em trong lòng Anh! Những gì tốt đẹp nhất sẽ luôn luôn đến với Em!

Anh luôn dành cho em trọn vẹn tình yêu thương trong trái tim. Chúc em luôn khỏe, trẻ và là chỗ dựa tinh thần vững chắc cho anh và các con! Yêu em nhiều! Happy birthday!

Chúc Em mãi mãi xinh đẹp, mãi tươi trẻ, đáng yêu, đằm thắm như thủa ban đầu và mãi là như thế … Cám ơn Em về tất cả những gì Em đã mang lại cho anh…anh vẫn luôn lấy đó là niềm tự hào hãnh diện vì có Em, một người vợ xinh đẹp, ngoan ngoãn và chu đáo, hết mực yêu thương chồng.

Chúc em yêu ngày sinh nhật tràn đầy vui vẻ và hạnh phúc. đầu tiên anh muốn gửi đến yêu thương của anh là anh rất nhớ em và yêu em rất nhiều. Em có biết rằng anh yêu em nhiều lắm không. Không được ở bên em trong ngày sinh nhật ý nghĩa nhưng trái tim… luôn hướng về em.

Chúc mừng người phụ nữ rất xinh đẹp, rất đảm đang và vô cùng tuyệt vời…Đặc biệt rất thương chồng thương con và luôn chăm lo hết mình đến gia đình nhỏ bé của mình. Anh yêu em nhiều lắm, Anh hạnh phúc vì đã có em.

Nhân ngày sinh nhật vợ yêu, chúc vợ sức khỏe, hạnh phúc, vui vẻ, luôn sát cánh và chăm lo cho chồng con. Anh yêu em nhiều!

Anh chẳng biết nói gì hơn, nhân ngày sinh nhật em, Anh chỉ biết chúc em luôn luôn mạnh khoẻ, hạnh phúc, xinh đẹp và luôn luôn là vợ hiền, người mẹ tuyệt vời của các con.

Nhân ngày sinh nhật vợ, xin gửi tới vợ ngàn lời yêu thuơng, ngàn lời hạnh phúc.Vợ mãi mãi xinh đẹp, đáng yêu, Anh luôn tự hào về một người vợ xinh đẹp, ngoan ngoãn, đảm đang.

Bà xã của anh ơi. Em đã vất vả với cả bố con anh nhiều rồái. Bố con anh rất cám ơn những bữa ăn ngon, những bộ quần áo thơm tho, đặc biệt tình yêu vô bờ mà em đã dành cho anh và các con . Anh chúc bà xã sinh nhật sức khỏe, xinh đẹp. Nhà này mẹ các con là số 1 nha. Bố con yêu mẹ nhiều lắm.

Vợ yêu của anh à. Anh và con chúc em luôn luôn mạnh khỏe, vui vẻ và… ăn khỏe. Vợ ơi! Cố gắng an nhiều vào nhé! Yêu vợ nhiều lắm. Cảm ơn vợ đã vất vả vì bố con anh!

Vợ yêu, thế là đã đến ngày sinh nhật của em rồi đấy!
Hôm nay là sinh nhật của Vợ yêu, Anh muốn gửi tới Em tình cảm yêu thương nhất từ sâu thẳm trong trái tim Anh. Với Anh, Em là tất cả, tài sản vô giá của cuộc đời Anh. Anh luôn cầu nguyện và hằng mong cho Em có sức khoẻ để được bên Anh trên cuộc đời này. Anh luôn chúc Em thành công trong sự nghiệp, nhưng với Anh sức khoẻ của Em là quan trọng nhất để Anh luôn có Em bên cạnh. Anh yêu Em nhiều và nhất, chỉ một mình Em thôi!

Chúc Vợ yêu thêm một tuổi đầy hạnh phúc bên chồng và Em mãi mãi xinh đẹp, mãi tươi trẻ, đáng yêu, đằm thắm như thủa ban đầu và mãi là như thế … Anh đã rất hạnh phúc lắm lắm Em biết không? anh cám ơn Em về tất cả những gì Em đã mang lại cho anh…anh vẫn luôn lấy đó là niềm tự hào hãnh diện vì có Em, một người vợ xinh đẹp, ngoan ngoãn và chu đáo, hết mực yêu thương chồng.

Vợ yêu, thế là chúng ta đã là một gia đình ngọt ngào
Chồng luôn tự hào về một người vợ xinh đẹp ,ngoan ngoãn
Cho dù chúng ta ít khi chia sẻ với nhau hơn như hồi trước , vợ nhỉ ^:^, nhưng đối với chồng _vợ luôn có một ý nghĩa thật quan trọng và đặc biệt.
Gửi tới vợ ngàn lời yêu thuơng,
ngàn lời hạnh phúc,
Vợ mãi mãi xinh đẹp, đáng yêu, ….

Chồng yêu vợ thật nhiều, muốn ôm vợ yêu thật chặt, muốn tặng vợ yêu với những nụ hôn thật sâu. Chồng yêu vợ. Sinh nhật chồng chúc vợ bản lĩnh trong công việc và chúc cho tình yêu của vợ chồng mình dành cho nhau ngày càng ngập tràn trong căn phòng của vợ chồng mình. Mãi yêu vợ, mình sẽ mãi mãi hạnh phúc nhé vợ yêu của chồng……Chúng mình cùng nhau vươtj qua tất cả nhé…yêu vợ nhiều……chụt chụt chụt……

Em yêu!
Cho dù chúng ta ít thời gian bên nhau để chia sẻ bao nổi lo toan cuộc sống Em nhỉ?, nhưng đối với anh, Em luôn có một ý nghĩa thật quan trọng và đặc biệt trong cuộc đời Anh. Cảm ơn Mẹ đã sinh ra Em vào ngày này  năm ấy và cảm ơn cuộc đời đã dành Em cho Anh! ước gì lúc này Anh đang được ở bên Em và ôm Em thật chặt vào lòng để Em không bao giờ rời xa Anh dù chỉ một phút cũng không. Anh nhớ Em quá…!!! Nhiều lúc Anh cũng đã nghĩ nếu không có Em thì anh sẽ như thế nào? Anh cũng không biết nữa.

Đây chính là sinh nhật đầu tiên có Anh phải không? Em đừng buồn nhé! Mặc dù không ở bên Em nhưng con người Anh, trái tim Anh luôn luôn nghĩ về Em và lo lắng cho Em. Vợ yêu qúy của Anh không được buồn đâu đấy nhé, Vợ yêu ơi ! hãy cười lên cho Anh xem nào… Đấy!!! Như thế có phải xinh hơn không. Em có biết không, chính nụ cười của Em là lẽ sống của Anh.

Một lần nữa chúc Em sinh nhật vui vẻ! Chúc Em thêm tuổi mới sẽ vẫn mãi là Em trong lòng Anh! Những gì tốt đẹp nhất sẽ luôn luôn đến với Em!
Anh yêu Em nhiều lắm, Vợ yêu qúy và đáng yêu của Anh!

Anh muốn gửi tới Em tình cảm yêu thương nhất từ sâu thẳm trong trái tim Anh. Với Anh, Em là tất cả, tài sản vô giá của cuộc đời Anh. Anh luôn cầu nguyện và hằng mong cho Em có sức khoẻ để được bên Anh trên cuộc đời này. Anh luôn chúc Em thành công trong sự nghiệp, nhưng với Anh sức khoẻ của Em là quan trọng nhất để Anh luôn có Em bên cạnh. Anh yêu Em nhiều và nhất, chỉ một mình Em thôi!!!

Vợ yêu,
Chúc Vợ yêu hạnh phúc bên chồng và Em mãi mãi xinh đẹp, mãi tươi trẻ, đáng yêu, đằm thắm như thủa ban đầu và mãi là như thế … Anh đã rất hạnh phúc lắm lắm Em biết không? anh cám ơn Em về tất cả những gì Em đã mang lại cho anh…anh vẫn luôn lấy đó là niềm tự hào hãnh diện vì có Em, một người vợ xinh đẹp, ngoan ngoãn và chu đáo, hết mực yêu thương chồng.

VỀ NGÔI NHÀ MỚI EM ƠI !
VỀ NGÔI NHÀ MỚI CHO ĐỜI THÊM HƯƠNG
NGÔI NHÀ ẤM ÁP TÌNH THƯƠNG
CỦA ĐÔI TA ĐÓ THIÊN ĐƯỜNG TRẦN GIAN
CÓ TA VÀ CŨNG CÓ NÀNG
CHUNG VUI SUM HỢP NỒNG NÀN BÊN NHAU !
ĐÊM VỀ TA CÓ TRĂNG SAO
CÓ TRĂNG CHIẾU SÁNG VƯỜN AO CÁ MÈ
DƯỚI TRĂNG TA SẼ NGUYỆN THỀ
THƯƠNG NHAU GIỮ TRỌN LỜI THỀ TRĂM NĂM !
ĐÊM NAY RỰC ÁNH TRĂNG RẮM
YÊU NHAU NGÂY NGẤT TA NẰM BÊN NHAU !
ĐÊM MƠ MÁ ẤP MÔI ĐÀO
NGUYỆN XIN TRỜI ĐẤT TRĂNG SAO CHỨNG LÒNG
TRỌN ĐỜI CHUNG THỦY VỢ, CHỒNG
LÒNG KHÔNG THAY ĐỔI MÁ HỒNG EM ƠI !
ANH YÊU EM SUỐT CUỘC ĐỜI
SẼ LÀ SUỐT KIẾP VỚI NGƯỜI TÔI YÊU !

Anh luôn dành cho em trọn vẹn tình yêu thương trong trái tim. Chúc em luôn khỏe, trẻ và là chỗ dựa tinh thần vững chắc cho anh và các con! Yêu em nhiều! Chúc mừng năm mới

Gà ngốc của anh, hôm nay sinh nhật em, anh chúc vợ yêu của anh luôn vui vẻ, trẻ trung và quyến rũ nhé. Love you!

Trên đây là tuyển tập những lời chúc mừng sinh nhật vợ yêu cực kì dễ thương và ý nghĩa thay lời muốn nói. Hãy gửi gắm những tình cảm của mình vào các câu thơ, lời chúc nhân ngày sinh nhật vợ nhé!


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tuyển tập những lời chúc mừng sinh nhật vợ

5 kiểu mặt bằng nhà "xin đừng mua" để tránh phạm sát khí

Từ quan điểm phong thủy, tốt nhất là để tránh việc lựa chọn một số bố cụ nền nhà nhất định mang sát khí.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

1. Mặt bằng nhà hình chữ L

Một căn nhà với phong thủy tốt cần vuông vức và hoàn chỉnh với tất cả các phòng chức năng cần thiết. Bố cục nhà hình chữ L, trông tương tự như khẩu súng lục, tạo ra do khuyết thiếu đất, nên cần tránh. Những hình dạng mang tính sát thương không tốt cho vận mệnh của những thành viên trong gia đình.

 5 kieu mat bang nha

2. Nhà vệ sinh ở trung tâm

Nhà vệ sinh là nguồn gây ô nhiễm và năng lượng tiêu cực. Nếu được đặt ở trung tâm của ngôi nhà, nó sẽ ảnh hưởng đến sự may mắn và tài lộc của tất cả những người cư ngụ. Bố cục này được coi là rất xấu và tuyệt đối cần tránh trong phong thủy nhà ở.

 5 kieu mat bang nha

3. Mặt bằng nhà hình tam giác

Trong phong thủy, những góc nhọn hình tam giác trông như đầu mũi tên. Như vậy, với bố cục này, cả ngôi nhà phạm vào "mũi tên độc" trong phong thủy. Nếu mọi người sống trong ngôi nhà như vậy, nó sẽ gây ra sự khó chịu và mang đến vận xấu cho những người sống bên trong.

 5 kieu mat bang nha

4. Mặt bằng hình thù kì dị

Những loại nhà có hình dạng kỳ lạ có khả năng lưu thông khí và thông gió kém. Trong xây dựng, những ngôi nhà như vậy rất khó để không khí tươi mát bên ngoài có thể trao đổi đến tất cả các phòng. Về lâu dài, nó sẽ gây ra các vấn đề sức khỏe cho những người cư ngụ.

 5 kieu mat bang nha

5. Nhà thông gió kém

Đừng chọn những bố trí ngôi nhà có rất ít hoặc thậm chí không có cửa sổ vì nó sẽ ảnh hưởng đến sự lưu thông không khí và tích lũy những không khí độc, vi khuẩn trong nhà. Nó sẽ gây ra các vấn đề liên quan đến sức khỏe và tinh thần.

 5 kieu mat bang nha
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: 5 kiểu mặt bằng nhà "xin đừng mua" để tránh phạm sát khí

Đeo tất chân phong thủy sai cách, cẩn thận xui xẻo ập đến

Một trong những điều cần lưu ý khi đeo tất chân phong thủy là phải giữ vệ sinh tất sạch sẽ và nhớ thay đổi kiểu dáng các loại tất.
Đeo tất chân phong thủy sai cách, cẩn thận xui xẻo ập đến

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

– Xét theo góc độ phong thủy, khi đi tất có màu không phù hợp bản mệnh còn ảnh hưởng tới vận thế của bạn, dễ có kẻ tiểu nhân đeo bám, tìm cách hãm hại, gây điều phiền nhiễu.


6. Không biết chọn màu tất theo bản mệnh


Bản mệnh mỗi người có màu sắc cũng như con số may mắn riêng biệt theo ngũ hành. Nếu biết mình thuộc ngũ hành nào, bạn sẽ chủ động trong việc lựa chọn và phối kết hợp với màu sắc tương sinh, mang lại sự hài hòa về mặt phong thủy.

Ví dụ, nếu bạn mệnh Hỏa, nên chọn màu xanh lá tương sinh cho bản mệnh, hoặc màu đỏ, tím, hồng thuộc ngũ hành bản mệnh để gặp nhiều may mắn trong cuộc sống. Ngược lại, nên tránh chọn các màu đen hoặc trắng, biểu trưng của hành Thủy, tránh Thủy Hỏa xung khắc, không tốt cho tài vận cũng như sức khỏe của bạn.

Xét theo góc độ phong thủy, khi đi tất có màu không phù hợp bản mệnh còn ảnh hưởng tới vận thế của bạn, dễ có kẻ tiểu nhân đeo bám, tìm cách hãm hại, gây điều phiền nhiễu.

Deo tat chan phong thuy sai cach, can than xui xeo ap den hinh anh
 
7. Đi tất bẩn

Với một số người, đi lại tất đã dùng là chuyện bình thường, vì nhìn bằng mắt thường, tất vẫn khá sạch, không có vết bẩn. Nhưng trên thực tế, tất đã dùng một lần cũng tích tụ nhiều vi khuẩn, bụi bẩn, mùi hôi khó chịu do mồ hôi tiết ra.

Bên cạnh đó, đi tất bẩn cũng ảnh hưởng không nhỏ tới vận thế của bạn, đa phần là ảnh hưởng tiêu cực, mang tới điều xui xẻo. Vậy nên, bạn đừng quên giặt tất thường xuyên, kể cả những đôi lâu ngày không dùng tới mà để ở nơi ẩm thấp.

Đeo tất chân sai cách, cẩn thận xui xẻo ập tới (P1)
– Một đôi tất (vớ) nhỏ xíu nhưng nếu bạn không biết cách phối hợp sao cho hài hòa về mặt phong thủy, e rằng xui xẻo sẽ gõ cửa nhà bạn lúc nào
8. Đi tất chiếc ngắn chiếc dài, không cân xứng

Trường hợp này thường gặp ở các bạn nữ nhiều hơn. Có thể là do thói quen hay cách phối thời trang khác người nào đó mà họ chọn cho mình những chiếc tất có độ ngắn dài không bằng nhau. Đây là một trong những trường hợp đeo tất chân phong thủy sai cách.

Theo góc độ phong thủy, cách làm này ảnh hưởng tới vận tình duyên của bạn. Nó như rào cản, ngăn vận đào hoa đến với bạn, tình cảm không như ý muốn.

Deo tat chan phong thuy sai cach, can than xui xeo ap den hinh anh 2
 
9. Đi tất không phù hợp với từng hoàn cảnh

Khi tham dự một bữa tiệc sang trọng, bạn không nên đi tất giày cộm kèm theo đó là đôi giày thể thao to đùng. Đó là một trong những ví dụ điển hình nhất cho việc đi tất không đúng với hoàn cảnh.

Cách làm này khiến bạn bị mất tự tin giữa đám đông, vận thế vì vậy cũng bị ảnh hưởng ít nhiều.

10. Bốn mùa đều đi một kiểu dáng tất như nhau

Điều này thường thấy ở nam giới hơn nữ giới. Theo quan điểm phong thủy, việc đi những đôi tất có kiểu dáng và màu sắc y chang nhau quanh năm suốt tháng như vậy sẽ tạo ra sự nhàm chán, ảnh hưởng tới tài vận và tình cảm lứa đôi.

Bên cạnh đó, nó còn khiến bạn rước họa tiểu nhân vào người, có kẻ xấu luôn rình mò tìm cách hãm hại.

(Hết)

Hoàng Lam

Khéo đặt bình uống nước, tài lộc gia tăng không ngừng
– Theo quan điểm phong thủy, bình uống nước thuộc tính Thủy, có liên quan đến tài lộc. Vị trí đặt bình uống nước đúng chuẩn góp phần thúc

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Đeo tất chân phong thủy sai cách, cẩn thận xui xẻo ập đến

12 con giáp đọ may mắn đường tình duyên tháng 3

Tháng cuối của quý 1 khiến nhiều người phải bận tâm suy nghĩ nhiều hơn, do đó mà ảnh hưởng ít nhiều đến tình cảm.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tuổi Tý:

Tình cảm tháng này bình thường, có lúc vui có lúc buồn, chủ yếu là do những chuyện vụn vặt hằng ngày mà ra. Khi tâm trạng không được tốt hãy tâm sự với đối phương về điều đó. Nửa kia sẽ cảm nhận được bạn đang cần gì thay vì cứ im lặng việc ai nấy làm.

Nam giới nên chủ động trong mọi tình huống, hãy cảm ơn người bạn đời của mình khi người ấy giúp mình bất kỳ việc gì. Nữ giới thì nên làm chỗ dựa vững chắc trong gia đình, để đối phương cảm nhận được sự yên tâm. Còn những bạn đang độc thân thì tháng này tạm thời chưa nên thổ lộ tình cảm của mình với đối phương.

Mức độ chủ động làm quen: ★★★

Mức độ chủ động thổ lộ tình cảm: ★★

Chỉ số tình cảm đôi bên: ★★★★

Cầu hôn, hôn nhân: ★★★

Tình cảm vợ chồng: ★★★

Vận đào hoa của bản thân: ★★★

Tuổi Sửu:

Chuyện tình cảm trong tháng 3 khá tốt, đôi bên tương đối hiểu nhau. Đối phương luôn dành cho bạn sự cổ vũ, động viên trong mọi tình huống. Có những lúc bạn có thể chọn họ là nơi tin tưởng để chia sẻ những vấn đề xảy ra trong cuộc sống thường nhật để đôi bên cảm thấy cần nhau hơn.

Nam giới cần chủ động vun đắp tình cảm. Nữ giới thì chủ động tiếp xúc với đối phương nhiều hơn để rút ngắn khoảng cách của hai bên. Những bạn còn đang độc thân hãy chọn thời cơ tốt để gián tiếp bày tỏ tình cảm của mình chứ không nên biểu lộ trực tiếp.

Mức độ chủ động làm quen: ★★★

Mức độ chủ động thổ lộ tình cảm: ★★★★

Chỉ số tình cảm đôi bên: ★★

Cầu hôn, hôn nhân: ★★★

Tình cảm vợ chồng: ★★★

Vận đào hoa của bản thân: ★★★★

 12 con giap do may man duong tinh duyen thang 3 - 1

Tuổi Dần:

Tình cảm tháng này lúc lên lúc xuống, đôi bên chưa thực sự hiểu nhau lắm. Bản thân người tuổi Dần do quá nhiều khía cạnh xuất hiện tình trạng lúc xấu, lúc tốt nên tình cảm cũng không được ổn định. Lúc thì họ nhiệt tình, vui vẻ, lúc lại trầm ngâm, im bặt nên khiến đối phương có cảm giác khó lòng giữ chặt. Nếu hai bên hiểu nhau thì không sao, nếu không hiểu nhau bạn rất dễ đẩy đối phương dần xa mình hơn, vậy nên cần điều chỉnh suy nghĩ, tình cảm của mình cho hợp lý.

Mức độ chủ động làm quen: ★★

Mức độ chủ động thổ lộ tình cảm: ★★★

Chỉ số tình cảm đôi bên: ★★★

Cầu hôn, hôn nhân: ★★

Tình cảm vợ chồng: ★★★★

Vận đào hoa của bản thân: ★★★

Tuổi Mão:

Vận thế tình cảm tháng này khá tốt. Hai bên rất hiểu nhau, nhưng những vấn đề rối ren xảy ra xung quanh cuộc sống của tuổi Mão hay suy nghĩ của đối phương ít nhiều có ảnh hưởng đến tình cảm của cả hai. Do vậy trong tình yêu không nên chỉ dừng lại ở việc tạo nên sự lãng mạn khi gặp nhau mà có thể đi du lịch, dành những kỳ nghỉ dài ngày cùng nhau để vun đắp thêm cho tình cảm hai bên.

Nam giới thì hãy quan tâm nhiều hơn đến đối phương. Nữ giới thì thể hiện sự chăm sóc của mình trong chính cuộc sống sinh hoạt thường nhật. Những bạn còn độc thân tạm thời chưa nên thổ lộ tình cảm với đối phương tránh trường hợp đối phương từ chối.

Mức độ chủ động làm quen: ★★

Mức độ chủ động thổ lộ tình cảm: ★

Chỉ số tình cảm đôi bên: ★★★

Cầu hôn, hôn nhân: ★★

Tình cảm vợ chồng: ★★★★

Vận đào hoa của bản thân: ★★

 12 con giap do may man duong tinh duyen thang 3 - 2

Tuổi Thìn:

Tình cảm tháng này theo chiều hướng tốt. Đối phương đã cảm thấy tin tưởng bạn hơn. Nếu muốn tình cảm mặn nồng hơn nữa thì bản thân cần chủ động gặp gỡ nhiều hơn. Mọi nỗ lực trong thời điểm này đều có tác dụng gia tăng tình cảm. Với những bạn còn đang độc thân mặc dù đôi bên đã khá hiểu nhau nhiều nhưng thời gian này cũng chưa nên tính chuyện lâu dài đề phòng xảy ra mâu thuẫn.

Mức độ chủ động làm quen: ★★★★★

Mức độ chủ động thổ lộ tình cảm: ★★★★

Chỉ số tình cảm đôi bên: ★★★

Cầu hôn, hôn nhân: ★★★

Tình cảm vợ chồng: ★★★

Vận đào hoa của bản thân: ★★★★

Tuổi Tỵ:

Tình cảm tháng này khá tốt. Những mâu thuẫn nhỏ cũng không khiến bạn quá lo lắng, dần dần mọi việc đều sẽ được thu xếp ổn thỏa. Nên vun đắp tình cảm nhiều hơn nữa không nên để mọi thứ quá ảm đạm. Có thời gian hãy thu xếp đi du lịch cùng nhau để gia tăng tình cảm cũng như hoài niệm về khoảng thời gian đẹp đã từng có trước đây.

Mức độ chủ động làm quen: ★★★

Mức độ chủ động thổ lộ tình cảm: ★★

Chỉ số tình cảm đôi bên: ★★

Cầu hôn, hôn nhân: ★★

Tình cảm vợ chồng: ★★★★

Vận đào hoa của bản thân: ★★


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: 12 con giáp đọ may mắn đường tình duyên tháng 3

Lễ hội truyền thống diễn ra vào tháng 3 âm lịch

Lễ hội truyền thống diễn ra vào tháng 3 âm lịch như Hội Đền Trần, Hội Lim, Hội đền bà chúa kho, Hội đền và
Lễ hội truyền thống diễn ra vào tháng 3 âm lịch

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

1. Ngày 2/3 dương lịch (tức ngày 12/1 âm lịch) - Lễ hội Cầu Ngư ở Thái Dương Hạ -Làng Thái Dương Hạ, thị trấn Thuận An, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế

2. Ngày 3/3 dương lịch (13/1 âm lịch)  - Hội Lim - Đồi Lim, thị trấn Lim, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh

3. Ngày 3 – 8/3 dương lịch (13-18/1 âm lịch) -Lễ hội đền Trần Thái Bình - Xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình

4. Ngày 4/3 dương lịch (14/1 âm lịch) - Lễ hội đền Bà Chúa Kho - Làng Cổ Mễ, phường Vũ Ninh, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh

5. Ngày 5/3 dương lịch (15/1 âm lịch) - Lễ hội núi Bà Đen - TP. Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh

 

6. Ngày 5/3 dương lịch (15/1 âm lịch) - Lễ hội đền Và - Đền Và, thôn Vân Gia, xã Trung Hưng, thị xã Sơn Tây, Hà Nội

7. Ngày 10/3 dương lịch (15-20/1 âm lịch) - Lễ hội khai ấn đền Trần - Phường Lộc Vượng, TP. Nam Định, tỉnh Nam Định

8. Ngày 12/3 dương lịch (18-22/1 âm lịch) -Hội Côn Sơn- Chùa Côn Sơn, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương

9. Ngày 17/3 dương lịch (27/1 âm lịch) - Lễ hội xuống đồng của người Giáy (lễ hội Roóng Poọc)- Xã Tả Van, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai

10. Ngày 20 – 29/3 dương lịch (1-10/2 âm lịch) - Lễ hội đảo Dấu – Đồ Sơn - Quận Đồ Sơn, TP. Hải Phòng

11. Ngày 21 – 23/3 dương lịch (2-4/2 âm lịch) - Lễ hội Đền Cửa Ông - Đền Cửa Ông, phường Cửa Ông, TP. Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh

12. Ngày 27 – 29/3 dương lịch (8-10/2 âm lịch) -Hội đền Nghè - Quận Lê Chân, TP. Hải Phòng

13. Ngày 29/3 dương lịch (10/2 âm lịch) - Hội Xuân Phả - Xã Xuân Trường, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa

14. Ngày 29/3  dương lịch (10/2 âm lịch) - Lễ hội Xên Mường - Xã Mường Than, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu

15. Ngày 29/3  dương lịch (10/2 âm lịch) - Hội làng Nghi Tàm -Đình Nghi Tàm, phường Quảng An, quận Tây Hồ, TP. Hà Nội

 


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Lễ hội truyền thống diễn ra vào tháng 3 âm lịch

LỰA CHỌN ĐỒNG NGHIỆP VÀ BẠN LÀM ĂN THEO NĂM SINH

Chọn bạn cùng hợp tác thông qua tính chất tương hợp năm sinh

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Nếu bạn là người tuổi Tý

Hợp tác với các tuổi:

Tý: Kết quả không hay lắm, làm ăn dễ thất bại, kết quả xấu.

Sửu: Người tuổi Sửu không có đầu óc làm ăn, buôn bán, nhưng bù lại họ rất cần cù, chịu khó, không ngại công việc.

Dần: Người tuổi Dần thường gặp may, kết quả tốt.

Mão: Không nên hợp tác.

Thìn: Mối quan hệ hợp tác lý tưởng nhưng phải để người Thìn chỉ huy.

Tị: Không nên hợp tác

Ngọ: Không nên hợp tác

Mùi: Người tuổi Mùi nên tiêu tiền lãng phí, không nên hợp tác.

Thân: Có thể hợp tác, nhưng đừng quá tin tưởng vào người tuổi Thân

Tuất: Hợp tác không tốt, người tuổi Tuất tuy thực tế, nhưng đôi lúc lại lý tưởng hóa mọi vấn đề

Hợi: Người tuổi Tý sẽ chiếm nhiều lợi hơn, nhưng người tuổi Hợi luôn gặp may mắn

 Lựa chọn đồng nghiệp và bạn làm ăn theo năm sinh

Nếu bạn là người tuổi Sửu

Hợp tác với các tuổi

Sửu: Hợp tác rất tốt, kết quả sẽ hoàn hảo, hoàn mỹ

Dần: Không nên hợp tác vì cả hai đều trái ngược nhau

Mão: Đôi bên lợi dụng lẫn nhau, nghi ngờ lẫn nhau, không nên hợp tác

Thìn: Cả hai không ai nhường ai, ai cũng muốn làm ông chủ, không nên kết hợp

Tị: Không nên hợp tác làm ăn, cũng nhau các công việc cùng làm khác

Ngọ: Cả hai đều chịu khó, cần cù, kết quả rất tốt đẹp

Mùi: Không nên hợp tác bởi cả hai luôn xung khắc

Thân: Không nên hợp tác vì tuổi Thân khôn ngoan và tuổi Sửu sẽ chịu thiệt thòi

Dậu: Làm nhiều được ít, không nên hợp tác

Tuất: Không nên hợp tác

Hợi: Nên hợp tác vì tuổi Hợi luôn tin tưởng vào năng lực của người tuổi Sửu

Nếu bạn là người tuổi Dần

Hợp tác với các tuổi

Dần: Khó kết hợp, làm ăn

Mão: Có thể hợp tác, song người tuổi Mão nên cảnh giác đề phòng tham vọng của người tuổi Thìn

Thìn: Kết hợp rất tốt

Tị: Không nên hợp tác, ý kiến  thường trái ngược và luôn có xung đột, mâu thuẫn

Ngọ: Có thể hợp tác, tuy quan hệ khá phức tạp nhưng kết quả vẫn tốt

Mùi: Không nên hợp tác vì tuổi Mùi quá nhút nhát

Thân: Người tuổi Dần nên đề phòng sự xảo trá của người tuổi Thân, người tuổi Thân phải đề phòng dã tâm của người tuổi Dần

Dậu: Không nên hợp tác.

Tuất: Cả hai có thể làm chung bất cứ việc gì trừ việc buôn bán

Hợi: Người tuổi Dần luôn lợi dụng, uy hiếp người tuổi hổ

Nếu bạn là người tuổi Mão

Hợp tác với các tuổi

Mão: Chỉ nên làm đồng nghiệp với nhau

Thìn: Người tuổi Mão nên nhường quyền quyết định cho người tuổi Thìn, còn mình thì tham mưu

Tị: Có thể chung vốn làm ăn nhưng người tuổi Mão nên ít nói

Ngọ: Có thể hợp tác

Mùi: Kết quả tốt đẹp

Thân: Không nên hợp tác

Dậu: Người tuổi Dậu nên thận trọng vì tuổi Mão có ý đồ khác khi hợp tác

Tuất: Nên hợp tác, kết quả rất tốt

Hợi: Có thể hợp tác làm ăn lớn

Nếu bạn là người tuổi Thìn

Kết hợp với các tuổi

Thìn: Không nên hợp tác vì ai cũng muốn chiếm phần lợi về mình

Tị: Có thể hợp tác nhưng phải phân rõ trách nhiệm và quyền lợi

Ngọ: Có thể hợp tác theo thời vụ, không nên làm ăn lâu dài

Mùi: Có thể hợp tác trong lĩnh vực nghệ thuật mà người tuổi Thìn làm chủ

Thân: Mối quan hệ lý tưởng, có thể thành công rực rỡ

Dậu: Có thể hợp tác với điều kiện người tuổi Thìn làm chủ

Tuất: Luôn đối đầu, mâu thuẫn nên khó làm ăn lâu dài

Hợi: Mối quan hệ hợp tác tốt đẹp

Nếu bạn là người tuổi Tị

Hợp tác với các tuổi

Tị: Có thể cùng mưu tính chứ không nên chung tay hành động

Ngọ: Có thể hợp tác lâu dài

Mùi: Mối quan hệ hợp tác tốt đẹp

Thân: Cả hai cùng tài giỏi nên không ai chịu nhường ai, dễ đi tới thất bại

Dậu: Không nên làm ăn chung

Tuất: có thể hợp tác đầu tư làm ăn vừa và nhỏ

Hợi: Xung khắc, khó hợp tác

Nếu bạn là người tuổi Ngọ

Hợp tác với các tuổi

Ngọ: Cả hai đều tự tư, tự lợi, không nên hợp tác

Mùi: Có thể hợp tác, kết quả tốt đẹp

Thân: Không thể hợp tác làm ăn

Dậu: Có thể hợp tác nhưng người tuổi Ngọ không nên quá tự tin, cậy tài

Tuất: Hợp tác đạt kết quả tốt đẹp cho cả lợi ích chung và việc công

Hợi: Khó hợp tác vì quan điểm bất đồng

Nếu bạn là người tuổi Mùi

Hợp tác với các tuổi

Mùi: Không nên kết hợp, làm ăn buôn bán

Thân: Có thể hợp tác và thành công với điều kiện là người tuổi Mùi không được sợ thiệt thòi

Dậu: Không thể hợp tác vì rất khó cảm thông thấu hiểu

Tuất: Không nên hợp tác vì người tuổi Tuất thường cậy công lao

Hợi: Có thể hợp tác, kết quả rất tốt đẹp

Nếu bạn là người tuổi Thân

Hợp tác với các tuổi

Thân: Không nên hợp tác vì ai cũng cho rằng mình tài giỏi hơn người kia

Dậu: Phần thiệt thòi cho người tuổi Dậu phải gánh chịu hoàn toàn

Tuất: Khó có được kết quả tốt đẹp

Hợi: Có thể có kết quả tốt đẹp đôi bên cùng có lợi

Nếu bạn là người tuổi Dậu

Hợp tác với các tuổi

Dậu: Không nên hợp tác

Tuất: Không nên hợp tác

Hợi: Có thể làm ăn chung và đạt kết quả tốt đẹp

Nếu bạn là người tuổi Tuất

Hợp tác với các tuổi

Tuất: Có thể kết hợp trong sự nghiệp

Hợi: Kết hợp làm ăn lớn, có kết quả tốt đẹp

Nếu bạn là người tuổi Hợi

Hợi: Có thể hợp tác làm ăn lớn, đạt thành tựu lớn lao

Tổng hợp


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: LỰA CHỌN ĐỒNG NGHIỆP VÀ BẠN LÀM ĂN THEO NĂM SINH

Bày tủ lạnh biến thành siêu bảo bối phong thủy trong nhà

Bất kì đồ vật nào, dù nhỏ đến lớn, đều ảnh hưởng đến bố cục phong thủy trong ngôi nhà.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Mỗi khi hè sang, vai trò của tủ lạnh lại trở nên vô cùng quan trọng trong cuộc sống. Không chỉ làm kem cho trẻ nhỏ, ướp lạnh bia cho nam chủ nhà, còn bảo quản hoa quả làm đẹp cho phụ nữ… Tuy nhiên, có thể bạn chưa biết, tủ lạnh còn có thể trở thành bảo bối phong thủy, giúp cải thiện bố cục phong thủy trong nhà.

 bay tu lanh bien thanh sieu bao boi phong thuy trong nha - 1

Tủ lạnh có thể trợ vận nếu bạn biết sử dụng đúng cách.

Cũng giống như các đồ điện khác trong gia đình, tủ lạnh không ngừng ảnh hưởng tới phong thủy trong nhà và sức khỏe của các thành viên trong gia đình thông qua sống quang điện từ mà nó phát ra. Trợ vận hay bại vận, có lúc cần phải xem bạn đã lợi dụng được nó hay chưa.

Tủ lạnh có lợi nhất cho người nào?

Đối với những người mệnh lý hợp Kim mà nói, tủ lạnh chắc chắn là một phương thuốc tốt giúp trợ vận. Nhiệm vụ mở tủ lạnh hàng ngày giao cho người này, để mỗi lần mở tủ lạnh đều có thể nâng cao vận thế của họ.

Tủ lạnh đặt ở đâu là thích hợp nhất?

Thông thường, để tiện sử dụng, tủ lạnh thường đặt trong phòng bếp. Phòng bếp là nơi hỏa vượng, lấy hỏa của phòng bếp khắc kim của tủ lạnh, sẽ dần dần làm tiêu hao tính hỏa của phòng bếp, có lợi cho việc cân bằng Ngũ hành của phòng bếp.

Tủ lạnh có những cấm kị phong thủy gì?

- Tủ lạnh không được để rỗng

Tủ lạnh có quan hệ mật thiết tới việc ăn uống của mọi người trong gia đình. Đồ ăn trong tủ lạnh có ngụ ý cơm no áo ấm; còn tủ lạnh trống rỗng là điềm báo tình trạng kinh tế không tốt đẹp.

 bay tu lanh bien thanh sieu bao boi phong thuy trong nha - 2

Tủ lạnh để rỗng ảnh hưởng tới tài vận.

- Lau rửa tủ lạnh định kỳ

Tủ lạnh xét về mặt phong thủy còn có liên quan đến tài vận, do vậy nên lau rửa tủ lạnh định kỳ, đảm bảo tủ lạnh luôn sạch sẽ mới có thể thúc đẩy tài vận.

- Tủ lạnh không được đối diện cửa

Bất kể tủ lạnh trong bếp hay phòng ăn, hay thậm chí phòng khách, thì vẫn nên tránh đối diện với cửa, nếu không sự đối nghịch của khí lưu sẽ khiến cho tài vận không ổn định, thậm chí hao tài.

- Trên tủ lạnh không nên đặt các đồ điện khác

Để tiết kiệm không gian, nhiều người đặt lò vi sóng, máy xay sinh tố, máy làm sữa đậu nành… trên tủ lạnh. Không nói đến khoa học, nếu chỉ xét về phong thủy, các loại điện khí phát ra các khí lưu và điện từ sẽ làm rối loạn khí trường xung quanh, không có lợi cho sức khỏe của chủ nhân. Hơn nữa, đặt nhiều đồ lên trên tủ lạnh không có lợi cho việc tụ tài.

Làm thế nào để dùng tủ lạnh “khai vận”?

- Kết hợp tủ lạnh với mệnh lý của chủ nhân

Mỗi người đều có thể tìm được phương vị phù hợp mệnh lý của mình trong nhà, ví dụ nam chủ nhà tương ứng với góc Tây Bắc, nữ chủ nhà tương ứng góc Tây Nam, con trai hướng chính Tây, con gái hướng Đông Nam… (Điều này chỉ áp dụng với gia đình 3 người, số lượng thành viên khác phương vị tương ứng sẽ khác).

- Trong gia đình, thành viên nào cần Kim, thì nên đặt tủ lạnh ở vị trí đó, sẽ có tác dụng tăng vận thế cho người đó.

- Tủ lạnh thường xuyên đựng nhiều đồ lạnh, có thể nâng cao vận thế sự nghiệp và tài vận của chủ nhân.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Bày tủ lạnh biến thành siêu bảo bối phong thủy trong nhà

Tôi học được rằng…

Ta không nên quá háo hức để khám phá bí mật vì nó có thể làm thay đổi cuộc đời ta mãi mãi. Dù hai người cùng nhìn vào một vật nhưng họ lại có thể thấy những điểm khác biệt rất lớn. Cùng xem bài viết "Tôi học được rằng..." để nghiệm tra những triết lý sống.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tôi học được rằng…
Sẽ không đủ nếu ta chỉ biết tha thứ cho người khác. Đôi khi cũng phải học cách tha thứ cho chính mình.

Tôi học được rằng…
Có những điều dù ta chỉ làm trong khoảnh khắc nhưng lại làm ta đau lòng cả đời.

Tôi học được rằng:
Mỗi khi xa rời người thân yêu, hãy luôn nói lời thương yêu nhất, bởi có thể đó là lần cuối ta gặp họ.

Tôi học được rằng:
Đã là bạn thân, dù không làm gì cả, ta vẫn có những phút giây tuyệt vời khi bên nhau.

Tôi học được rằng:
Tình bạn chân thành sẽ mãi lớn lên dù cho có cách xa ngàn dặm, và tình yêu đích thực cũng thế đấy.

Tôi học được rằng:
Chỉ vì ai đó không yêu ta theo cái cách mà ta mong muốn, điều đó không có nghĩa là họ không yêu ta hết lòng. Đối với một người bạn tốt, sẽ chẳng có vấn đề gì nếu chẳng may họ làm tổn thương ta, và hãy biết tha thứ cho họ vì điều đó.

Tôi học được rằng:
Sẽ không đủ nếu ta chỉ biết tha thứ cho người khác. Đôi khi cũng phải học cách tha thứ cho chính mình.

Tôi học được rằng:
Bất kể con tim ta có tan vỡ, cuộc sống cũng sẽ chẳng dừng lại, và vẫn vô tình như không biết đến tổn thương của ta.

Tôi học được rằng:
Cuộc đời ta có thể bị đổi thay tại một khoảnh khắc nào đó bởi một người thậm chí ta không quen biết.

Tôi học được rằng:
Ngay cả khi trắng tay, ta vẫn có thể thấy được mình thật giàu có để giúp đỡ mỗi khi bạn bè cần đến.

Tôi học được rằng:
Người mà ta rất quan tâm, thậm chí cả cuộc đời thì lại có thể rời xa ta rất sớm.
Người mà ta nghĩ sẽ vùi ta xuống đất đen khi hoạn nạn, nhưng chính họ lại là người nâng ta dậy khi ta vấp ngã.

Tôi học được rằng:
Khi không vui, ta được quyền giận dỗi, nhưng lại chẳng được phép ******* và hung ác.

Tôi học được rằng:
Trên đời này, không phải ai cũng tốt và tử tế với ta, cho dù ta không động chạm đến họ. Cách tốt nhất là đừng nên để ý đến những kẻ muốn chứng kiến ta gục ngã . Hãy sống vì những người yêu quý ta.

Tôi học được rằng:
Để “thành nhân”, thành người mà ta mong muốn, phải mất thời gian rất dài.

Tôi học được rằng:
Hãy chịu trách nhiệm về những gì ta làm dù điều đó có làm lòng ta nát tan.
Tôi học được rằng:
Nếu ta không làm chủ được hành vi của mình, nó sẽ điều khiển lại ta.

Tôi học được rằng:
Người trưởng thành có nhiều điều phải suy nghĩ với những kinh nghiệm đã qua, và có được những bài học rút ra từ đó, và không bao giờ quan tâm nhiều đến việc mình đã tổ chức bao nhiêu lần sinh nhật.

Tôi học được rằng:
Hoàn cảnh sống có ảnh hưởng đến việc hình thành nhân cách của chúng ta, nên hãy ý thức về điều đó.

Tôi học được rằng:
Chiếc áo không bao giờ có thể làm nên thầy tu.

Ta không nên quá háo hức để khám phá bí mật vì nó có thể làm thay đổi cuộc đời ta mãi mãi. Dù hai người cùng nhìn vào một vật nhưng họ lại có thể thấy những điểm khác biệt rất lớn..


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tôi học được rằng…

Mơ thấy khăn choàng: Cách biểu hiện tư tưởng, tình cảm trong cuộc sống và khát vọng thể hiện nữ tính –

Khăn choàng là vật phẩm được đa số phái đẹp ưa dùng với tác dụng làm đẹp. Giấc mơ vởi hình ảnh chiếc khăn choàng cho thấy rõ cách biểu hiện tư tưởng, tình cảm trong cuộc sống, cũng như khát vọng thể hiện nữ tính.   Khi kể lại giấc mơ, nếu người
Mơ thấy khăn choàng: Cách biểu hiện tư tưởng, tình cảm trong cuộc sống và khát vọng thể hiện nữ tính –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Mơ thấy khăn choàng: Cách biểu hiện tư tưởng, tình cảm trong cuộc sống và khát vọng thể hiện nữ...

Những câu chúc tết hay 2017

Những câu chúc tết hay năm 2017 Đinh Dậu, tuyển chọn những lời chúc năm mới hay nhất dành cho ông bà, cha mẹ, anh em bạn bè hoặc đồng nghiệp nơi công sở
Những câu chúc tết hay 2017

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tuyển chọn những câu chúc tết hay năm 2017 Đinh Dậu dành những lời chúc cho người thân, bạn bè và đồng nghiệp.

Một mùa xuân nữa lại sang, nhà nhà vui đón Tết, mừng một năm mới an khang và thịnh vượng. Cùng với thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ thì không thể thiếu những câu chúc tết hoăc ý nghĩa, hoặc vui vẻ hoặc vô cùng hóm hỉnh của bạn dành cho ông bà, cha mẹ, anh chị em, cô gì chú bác, họ hàng gần xa, cùng bạn bè và đồng nghiệp.

Những lời chúc tết hay được sưu tầm và chọn lựa đều mang nhiều ý nghĩa may mắn, dồi dào tài lộc cho những người thân yêu mà bạn tặng. Bao gồm:

  1. Câu chúc tết hay nhất trang trọng nhất
  2. Lời chúc tết hay nhất tặng bạn bè
  3. Lời chúc năm mới về tiền tài thịnh vượng
  4. Những câu chúc hay nói chung

Những câu chúc tết hay và trang trọng nhất

Đây là những lời chúc tết hay để bạn dành tặng cho người thân quen một cách lịch sự, trang trọng.

CHÚC NĂM MỚI:
Tươi sáng tương lai, tấn tài tấn lộc
Trên thuận dưới hòa, giàu sang phú quý
Trong trẻo vận niên, tình duyên tốt đẹp
Thuận thiên đắc địa, thịnh vượng an khang
Trẻ mãi không già, mặn mà nhan sắc
Gia đạo an khang, dồi dào sức khỏe
Trăm sự vuông tròn, giòn tan tiếng trẻ
Cá chép hóa rồng, công thành danh toại

—–

Cung chúc tân niên một chữ nhàn.
Chúc mừng gia quyến đặng bình an.
Tân niên đem lại niềm Hạnh Phúc.
Xuân đến rồi hưởng trọn niềm vui

—–

VẠN chuyện lo toan thay đổi hết
SỰ gì bế tắc thảy hanh thông
NHƯ anh, như chị, bằng bè bạn
Ý nguyện trọn đời đẹp ước mong
CHÚC MỪNG NĂM MỚI

Tống cựu nghênh tân
Vạn sự cát tường
Toàn gia hạnh phúc!

Tết tới tấn tài.
Xuân sang đắc lộc.
Gia đình hạnh phúc.
Vạn sự cát tường!

Ngàn lần như ý,
Vạn lần như mơ,
Triệu sự bất ngờ,
Tỷ lần hạnh phúc!

Đong cho đầy hạnh phúc.
Gói cho trọn lộc tài.
Giữ cho mãi an khang.
Thắt cho chặt phú quý.
Chúc năm mới bình an.
Cả nhà đều sung túc.

Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua.
Phúc lộc đưa nhau đến từng nhà.
Vài lời cung chúc tân niên mới.
Vạn sự an khang vạn sự lành.

Những câu chúc tết hay dành cho bạn bè

Đây là các lời chúc năm mới hay nhất để bạn dành tặng bạn bè hoặc những người đồng trang lứa

Giao thừa sắp đến
Chúc bạn đáng mến
Sự nghiệp tiến lên
Gặp nhiều điều hên!

Một lời chào mong một ngày may mắn
Một lới nhắn nhủ mong bạn thành công
Một lời chúc mong bạn ấm lòng
Một nụ cười để vượt qua tất cả
Một ý chí để đập tan vất vả, lo âu
Một năm mới tràn đầy niềm vui và hạnh phúc
Chúc mừng năm mới

Một lời chào mong một ngày may mắn
Một lới nhắn nhủ mong bạn thành công
Một lời chúc mong bạn ấm lòng
Một nụ cười để vượt qua tất cả
Một ý chí để đập tan vất vả, lo âu
Một năm mới tràn đầy niềm vui và hạnh phúc
Chúc mừng năm mới

Bạn ơi cho hỏi, hôm nay ngày gì, thấy PHÚC LỘC đến, đen đủi lại đi, ông THỌ gói bánh, ông TÀI rửa hành, ông MAY sóc gạo, ông QÚY nhân xào? Bạn ơi cho hỏi, còn thiếu ông nào, tôi điểm DANH nốt, cho theo bạn nào?

Sáng sớm mở cửa, đón gió AN LÀNH, chạm cành LỘC BIẾC, hái chiếc MAY MẮN, vươn vai KHỎE KHOẮN, nhận được tin nhắn CHÚC MỪNG NĂM MỚI!

Tặng bạn một cành MAY biếc lộc, cắm vào một chiếc BÌNH AN, đặt lên bàn PHÚ QUÝ, chờ đợi nở bông SỨC KHỎE, khoe sắc NHƯ Ý, tỏa hương THỊNH VƯỢNG. Chúc mừng năm mới.

Tặng bạn cành lộc để nở ra phú quý, rụng xuống nghèo khổ, trổ bông tài danh, tỏa hương sức khỏe, đón gió may mắn!

Nhất SỨC KHỎE, Nhị THUẬN LỢI – BÌNH AN, tam SANG – PHÚ – QUÝ, tứ PHÚC – LỘC – THỌ – THÀNH, ngũ Ái – HỶ – DANH – NHƯ Ý- MAY MẮN! Chúc mừng năm mới.

Rước ngựa vào nhà, bao la phú quý, tình duyên như ý, sức khỏe dẻo dai, rạng rỡ tương lai, tiền tài đồ sộ…chúc mừng năm mới!

Năm mới tặng bạn một cuốn sách thần thánh, mở ra là nhà, lật trang là quà, đọc xong là hạnh phúc bao la, gấp lại là thấy một nhà phú quý, cất sách đi mọi việc đều như ý. Chúc mừng xuân mới tài lộc, thắng lợi!

Chúc bạn năm mới, một bị tiền tài, một tương lai giàu có, một bó công danh, một làm ăn tấn tới, một hạnh phúc phơi phới, một năm mới bình an, một không gian trong lành, một cành lộc biếc!

Chúc mừng năm mới, trút bỏ âu lo, tậu nhà thật to, xuất kho thật ít, vui mừng ríu rít, hôn hít cả ngày, lộc tài đầy tay, làm ăn may mắn, bách chiến bách thắng, giàu có vù vù, hạnh phúc đầy lu, bạc vàng đầy lọ, sức khỏe sống thọ, trăm họ đều ưng, ai cũng vui mừng, năm nay tấn tới.

Năm mới chúc bạn vạn niềm vui, một trời hạnh phúc, một đại dương sung túc, một ca khúc tình yêu, một buổi chiều độc đắc, một tích tắc buồn đau, cả 365 ngày sau phú quý.

Năm mới một giỏ tiền tài, một vai sức khỏe, một tuổi trẻ căng tràn, một làn phú quý, một í chung nhân, một xuân vui vẻ.

Tết đến rước hên, lộc vàng xuân tràn, sức khỏe vô đối, làm ăn tấn tới, bạc vàng gấp bội, cả năm vui phơi phới.

Chúc mừng xuân mới, một hang của cải, một kho phú quý, một hầm sức khỏe, một trang công danh, một nhà hạnh phúc, một năm đại thành!

Một năm mới, một tuổi mới, nhiều hiểu biết mới và một lời chúc cũ: Chúc bạn mãi hạnh phúc bên gia đình và những người thân yêu nhất

12 tháng phú quý, 365 ngày phát tài, 8760 giờ sung túc, 525600 phút thành công, 31536000 giây vạn sự như ý!

Những câu chúc tết hay nhất về tiền tài dồi dào

Đây là các lời chúc tết hay nói về tiền bạc, vui vẻ có, hóm hỉnh có và trịnh trọng cũng có

Cung chúc tân xuân, nhiều may mắn
Con đường danh vọng, mãi thênh thang
Lộc tài trọn vẹn, đều như ý
Sung túc một năm, với an nhàn.

Bây giờ đã hết mùa đông
Nghe đoàng pháo nổ mùa xuân sẽ về
Chúc cho độc đắc gần kề
Chúc cho tiền bạc vỡ đê tràn vào.

Ai xui con nhện giăng tơ
Ai xui phú quý giao thừa đến xông
Tiền vào như nước sông Hồng
Tiền ra nhỏ giọt như không mất gì
Vận xui đội nón ra đi
Để cho vận đỏ lì lì đứng trong
Bao nhiêu mơ ước, ngóng trông
Xuân sang một cái thần thông ắt thành.

Buôn to bán nhỏ cũng hời
Buôn 5 lại lãi đến 20 lần
Đồng tiền đã xuất là thông
Thả con săn sắt cá kình sẽ vô.

Giàu nứt đố đổ vách
Vui khanh khách cả năm
Thuận lợi đến gấp trăm
Tiền tài nhiều vô kể
Mọi việc đều như ý
Xuất hành đắc bình an
Sự nghiệp được vinh quang
Bạc vàng nhiều núi núi.

Xuân như ý, tiền vào nặng ví
Tết giàu sang, hạnh phúc an khang
Mừng một năm mới đã sang
Nguyện cầu may mắn lộc vàng về tay.

Mừng xuân đón Tết
Quên hết muộn phiền
Năm mới gặp hên
Giàu lên trông thấy.

Đoàng tiếng pháo, Giao thừa đã tới
Lất phất mưa, xuân mới đã sang
360 ngày, thuận lợi bình an
Tiền vào như nước, tràn tràn suốt năm.

Đầu xuân hoa nở
Sức khỏe dồi dào
Phúc lộc thêm cao
Một năm thuận lợi.

Vuông tròn tài lộc
Sức khỏe lâu dài
Công danh rạng mở
Sung túc gấp hai.

Xuân mới an khang
Sự nghiệp thênh thang
Tiền vào rủng rỉnh
Cả năm đủng đỉnh
Tha hồ bội thu.

Một năm sung túc, an vui
Một năm dung mạo ngời ngời trẻ trung
Một năm thuận lợi, thành công
Một năm tất bật tiền nong thu về!

Năm mới chúc bạn, chạm tay là vàng, đi ngang là tiền, tiến lên là thành, công danh phú quý.

Cung chúc tân niên.
Vạn sự bình yên.
Hạnh phúc vô biên.
Vui vẻ triền miên.
Kiếm được nhiều tiền.
Sung sướng như tiên!

Năm mới chúc nhau sức khỏe nhiều.
Bạc tiền rủng rỉnh thoải mái tiêu.
Gia đình hạnh phúc bè bạn quý.
Thanh thản vui chơi mọi buổi chiều!

Năm mới đến: Chúc luôn hoan hỉ, sức khỏe bền bỉ, công danh hết ý, tiền vào bạc tỉ, tiền ra ri rỉ, tình yêu thỏa chí, vạn sự như ý, luôn cười hi hi, cung hỷ cung hỷ…

Thần tài rảo bước khắp mọi nhà,
Tiền lộc đầy ắp, xuân hạnh phúc,
Mọi người sum họp vui năm mới.

Những câu chúc tết hay chúc mọi người nói chung

Đây là các lời chúc tết hay nhất dành cho tập thể, công sở, văn phòng:

Việc nhiều bù đầu, sức khỏe sống lâu, cầu đâu được đấy, khó khăn chẳng thấy, thuận lợi bình an, phú quý giàu sang, bạc vàng chất đống. Chúc mừng năm mới!

Tiền đến bất chợt, tài vô bất ngờ, phúc lộc đang chờ, chúc mừng năm mới!

Năm mới cái gì cũng tốt
Cái gì cũng lành
Thêm tài thêm lộc
Thêm vợ thêm chồng
Thêm duyên thêm dáng
Thêm ngày thêm tháng
Thêm ý trung nhân
Thêm đường công danh
Phú quý cộng vào
Vài câu chúc tết
Tuy là đơn giản
Nhưng tấm lòng thành
Mong sao mọi điều
Chúc thành sự thật

Năm mới vừa sang
Hạnh phúc mênh mang
Ý chí vững vàng
Niềm vui rộn ràng
Tiền bạc lai láng
Sức khỏe cường tráng
Cả nhà cười vang
Chúc mừng năm mới

Chúc mọi người đẹp như hoa Hồng
Thành công như Cúc
Hạnh phúc như hoa Mai
Phát tài như hoa Pháo
Độc đáo như hoa Lan
An khang như hoa Huệ
Trí tuệ như hoa Sen

Cung chúc tân xuân: Cầu mong một năm mới an hòa thịnh vượng. Chồi non đâm tược, cây cỏ xum xuê tươi tốt, vũ trụ hài hoà. Thân chúc mọi người khỏe mạnh, hạnh phúc, tinh thần luôn sáng suốt.

Nhân dịp Tết tây đã qua, Tết ta thì sắp đến chúc mọi người thực hiện những mục tiêu từ nhỏ bé với từng bước chậm chạp nhưng vững chắc để đón năm mới với chìa khóa của sự thành công.

Năm hết Tết đến kính chúc mọi người: người già, người trẻ nhiều sức khoẻ, miệng cười vui vẻ, mua xe rẻ rẻ, tiền vào mạnh mẽ, tóm lại cái gì cũng được suôn sẻ, để sống tiếp một cuộc đời thật là đẹp đẽ.

Kính chúc mọi người một năm mới tràn đầy niềm vui và hạnh phúc: Vui trong sức khoẻ, trẻ trong tâm hồn, khôn trong lý tưởng và trưởng thành mọi lĩnh vực.

1 nụ cười cho lòng thêm ấm áp
1 ánh mắt cho hạnh phúc tràn đầy
1 lời nói cho trọn vẹn niềm tin
1 cái nắm tay cho yêu thương còn mãi
1 sự chờ đợi cho tình mãi bền lâu
1 chút hờn ghen cho yêu thương toả sáng.
1 trái tim hồng cho tình yêu thuỷ chung.

Chúc mừng năm mới an khang, thịnh vượng – Phát tài phát lộc –  Tiền vào cửa trước, vàng vào cửa sau – Hai cái gặp nhau, chui vào két sắt – Một phần mua đất, một phần mua nhà – Vẫn còn rủng rỉnh, ta đi du lịch.

Xuân sang xin chúc mấy câu
Người dân no đủ làm giàu quê hương
Ra đường xin hãy nhịn, nhường
Giao thông văn hóa, học đường văn minh
Xuân về trên đất nước mình
Xin đừng xả rác thanh bình quê hương
Du khách từ khắp bốn phương
Việt Nam điểm đến niềm tin mọi người
Xuân về xin chúc muôn nơi
Một năm may mắn, mọi nhà yên vui!

Cung chúc tân niên, Gia đạo bình yên, Chồng thảo vợ hiền, Ấm êm toàn diện.
Cung chúc tân niên, Làm ăn thuận tiện, Kiếm được nhiều tiền, Giầu sang vinh hiển.
Cung chúc tân niên, Thành đạt triền miên, Sự nghiệp phát triển, Công danh thẳng tiến.
Cung chúc tân niên, Sức khỏe vô biên, Đau ốm chẳng phiền, Chẳng thèm đi viện.
Cung chúc tân niên, Đẹp đường tình duyên, Nam nữ thanh niên, Yêu nhau… ngấu nghiến.
Cung chúc tân niên, Chúc các bạn hiền, Trên khắp mọi miền, Sung sướng như tiên

Năm mới Tết đến. Rước hên vào nhà. Quà cáp bao la. Mọi nhà no đủ. Vàng bạc đầy hũ. Gia chủ phát tài. Già trẻ gái trai. Sum vầy hạnh phúc. Cầu tài chúc phúc. Lộc đến quanh năm. An khang thịnh vượng!

Xem thêm:

Những câu chúc tết hài hước dễ thương 2017

Lời chúc năm mới 2017 tặng người yêu tặng vợ tặng chồng

Những lời chúc tết hay tặng đồng nghiệp và sếp nơi công sở 2017


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những câu chúc tết hay 2017

Mơ thấy nhện là điềm báo gì?

Nhện có thể giết chết đối thủ bằng nọc độc, nhện đáng sợ như vậy nhưng đôi khi mơ thấy nhện lại chẳng đáng sợ chút nào.
Mơ thấy nhện là điềm báo gì?

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Nhện là loài vật nhỏ bé nhưng hình dáng của nó lại khiến con người cảm thấy ghê sợ, hơn nữa một số loài nhện nhỏ nhưng lại độc vô cùng, chỉ một lượng độc nhỏ nó cũng khiến cho đối thủ mất mạng. Nhện đáng sợ như vậy nhưng đôi khi mơ thấy nhện lại chẳng đáng sợ chút nào.

 

Chiêm bao thấy nhện là bạn sắp nhận được tin tốt lành.
 

Chiêm bao thấy nhện đang giăng tơ là điềm báo bạn sắp phát tài, công việc trong tương lai sẽ vô cùng thuận lợi.

 

Mo thay nhen – lanh it du nhieu hinh anh
Ảnh minh họa

Chiêm bao thấy nhện độc hoặc nhện đen là ngụ ý bạn đang sợ hãi hoặc lo ngại về một mối quan hệ nào đó. Giấc mơ này còn mang thông điệp của sự thù địch đối với người bạn đời của bạn.
 

Chiêm bao thấy bạn đang giết một con nhện là dự báo bạn sắp gặp chuyện bất hạnh hoặc không may mắn.

Mơ thấy một con nhện bị chết thì điều này có ý nghĩa là bạn đã chế ngự được sự độc đoán của người khác lên bạn.
 

Mơ thấy nhện đang giăng tơ thì nên vui mừng vì bạn sắp vượt qua được thời kỳ khó khăn trong công việc, từng bước chạm tới thành công. Tuy nhiên, nếu nhìn nhận một cách tiêu cực thì điều này lại ám chỉ bạn đang có một cảm giác bế tắc trong chuyện tình cảm.
 

Giấc mơ về trứng nhện cho thấy rằng bạn đang không tự tin vào năng lực của bản thân và bạn đang loay hoay tìm cách thể hiện mình.
 

Chiêm bao thấy một con nhện đang bò trên tường là điềm báo mong muốn và ước ao của bạn sẽ sớm được thực hiện.
 

Mơ thấy bị nhện cắn là điềm báo bạn sắp có xung đột với mẹ hoặc vợ mình.
 

Mơ thấy mình đang ăn một con nhện là ngụ ý bạn hoàn toàn có thể kiểm soát được tình hình cuộc sống của mình trong hiện tại.


Nam giới mơ thấy nhện ngụ ý tài sản bị người xấu giám sát, đề phòng tiểu nhân.


Nữ giới mơ thấy nhện là điềm báo sắp bị bệnh về tử cung.



Mơ thấy nhện dệt mạng là chỉ có phấn đấu chăm chỉ thì mới đạt được thành công.


Nữ giới đã kết hôn mơ thấy nhện đan mạng ngụ ý chuyện làm ăn hưng vượng.


Người bệnh mơ thấy nhện dệt mạng là sắp vượt qua nguy hiểm, bệnh tình chuyển hướng tốt.


Mơ thấy nhện chết là mọi đau buồn sẽ qua.


Mơ thấy nhện bắt ruồi là sắp gặp chuyện tang tóc, sự cố nghiêm trọng xảy ra mà tử vong.


Mơ thấy nhện bị đánh chết rơi trên người dự báo thân thể khỏe mạnh.


Mơ thấy đạp chết nhện là điềm xấu, đại nạn sắp giáng xuống đầu cả gia đình.


Mơ thấy nhện từ trên nóc nhà hoặc chỗ cao rơi vào người là điềm xấu.

 

► ## giải mã giấc mơ theo tâm linh chuẩn xác


Lichngaytot.com

Cơn ác mộng: Mơ thấy chim ưng Cảnh báo: Phụ nữ mơ thấy chuột túi là sắp ly hôn chồng? Khám giá giấc mộng về con kiến bé nhỏ
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Mơ thấy nhện là điềm báo gì?
Click to listen highlighted text! Powered By DVMS co.,ltd