Theo phong thủy, việc quan sát xem một người ngủ ở vị trí nào là có thể cho thấy vận thế và tính cách người đó. Vị trí kê giường và mối quan hệ giữa hai vợ chồng cũng có mối liên quan khăng khít với nhau. Phòng ngủ phía Tây Phòng ngủ ở phía chính Tây
Theo phong thủy, việc quan sát xem một người ngủ ở vị trí nào là có thể cho thấy vận thế và tính cách người đó. Vị trí kê giường và mối quan hệ giữa hai vợ chồng cũng có mối liên quan khăng khít với nhau.
Phòng ngủ phía Tây
Phòng ngủ ở phía chính Tây, đầu giường lại hướng về phía Tây khiến gia chủ thường hay ngủ nướng, người chồng thường lơ là, lạnh nhạt với vợ. Vì vậy, cần cố gắng kê giường ngủ sát vào hướng Bắc, hoặc đầu giường quay về hướng Đông, hướng Nam hoặc chuyển phòng ngủ về vị trí trung tâm căn nhà. Phương vị này có tác dụng thúc đẩy, làm tăng nguồn năng lượng, đặc biệt với người tuổi Dậu.
Phòng ngủ phía Bắc
Tại vị trí này, trường khí trong phòng quá thịnh cho thấy vận thế tiền tài và tình yêu đều do cần cù, chịu khó, chịu khổ mà có được. Nếu để lò sưởi ở hướng chính Bắc sẽ làm suy giảm tiền tài và sự nghiệp. Người phụ nữ ở trong căn phòng hướng này đa số thường rất đôn hậu, biết giữ gìn gia đạo.
Phòng ngủ chính Đông Bắc
Nếu phòng ngủ của hai vợ chồng được đặt theo hướng này, họ sẽ thường xuyên phải chuyển nhà, hoặc người chồng thường hay thay đổi công việc, rất lãng phí về mặt tiền bạc. Vì vậy, cần giữ cho căn phòng luôn gọn gàng, sạch sẽ để có thể nâng cao tài vận và sức khỏe, hơn nữa còn có thể có được tài sản bất ngờ. Phòng ngủ ở hướng Đông Bắc thường mang lại may mắn cho những người tuổi Sửu và tuổi Dậu.
Phòng ngủ phía Đông
Chứa đựng nguồn năng lượng vô hạn, phòng ngủ phía Đông rất thích hợp với những người trẻ tuổi. Người nằm ngủ ở vị trí này sẽ có một cuộc sống vô cùng năng động, tuy nhiên họ lại thiếu kiên nhẫn và dẽ nóng giận. Phòng ngủ hướng về phía Đông thường đem lại may mắn cho người sinh năm Mão.
Phòng ngủ phía Đông Nam
Phòng ngủ phía Đông Nam cho thấy tình cảm vợ chồng luôn hòa thuận, có mối nhân duyên rất tốt đẹp. Những người tuổi Thìn, Tỵ nên chọn căn phòng ngủ có hướng Đông Nam là tốt nhất.
Phòng ngủ phía Nam
Phòng ngủ phía Nam thể hiện mối quan hệ vợ chồng luôn hòa thuận, vui vẻ. Ánh sáng trong phòng luôn tràn trề, vợ chồng sẽ hòa thuận, quan tâm lẫn nhau, nhưng rất khó gặp may mắn về tài vận, bới vậy không nên chơi chứng khoán hay mua trái phiếu. Phòng ngủ ở hướng này có thể đem đến trí tuệ và vẻ đẹp cho người tuổi Ngọ.
Phòng ngủ phía Tây Nam
Phòng ngủ phía Tây Nam thể hiện vận khí của hai vợ chồng luồn được hanh thông. Tính cách hai vợ chồng thường rất ổn định, thể hiện rõ nhất là ở người phụ nữ. Người vợ thường rất cần cù, chịu khó, ít kêu ca phàn nàn nhưng lại mau già. Phương vị này đem lại may mắn cho người tuổi Mùi, Thân.
Phòng ngủ ở giữa căn nhà
Ở vị trí này, người phụ nữ thường là mẹ hiền, vợ đảm. Ở giữa tượng trưng cho bậc đế vương, vì vậy người nằm ở vị trí này rất có thể trở thành nhân vật lớn, có quyền uy.
Làm người ai cũng muốn nhanh nhẹn, hoạt bát, đi trước nhưng 5 chòm sao ngốc nghếch dưới đây lúc nào cũng chậm hơn người khác nửa bước trong chuyện tình cảm.
Nhiều khi không phải là họ chậm đâu, chỉ vì tính cách mà phải theo sau thôi, thông cảm cho họ nha.
Bạch Dương: trời sinh đại khái
Bạch Dương kích động, nhiệt tình, thần kinh đột phá hơn người, ai mà có ý định sử dụng phương thức hàm súc nội tâm để thể hiện tình cảm với họ thì đảm bảo là cừu trắng không hiểu đâu. Cho dù nói đến tận nơi họ cũng không hiểu, không thể trách được, bẩm sinh đã qua loa đại khái như vậy rồi đấy.Nhiều người thấy như vậy thì rất tức giận, phản ứng lúc nào cũng chậm chạp, nói dễ nghe thì là chòm sao ngốc nghếch nhưng nói khó nghe thì là ngu xuẩn đấy. May thay tuy đơn giản nhưng trí thông minh không thấp nên đối phó cũng không quá tệ, giả mù giả điếc cho qua, cuối cùng cũng lờ mờ nhận thấy người ta có ý với mình. Tốt nhất có chuyện gì cần thông báo với Bạch Dương thì hãy thật lớn tiếng, thất trực tiếp vào nhé. Xem thêm bài viết 3 cặp đôi hoàng đạo duyên nông phận cạn, gặp nhau chỉ là tiếng thở dài
Ma Yết: quá mức lý trí
Nói Ma Kết ngốc đương nhiên là không phải, chi bằng nói họ chậm nhiệt thì chính xác hơn. Họ yêu thích yên tĩnh là thật, yêu thích náo nhiệt cũng là thật nhưng trời sinh có sự kiềm chế mạnh, ít bộc lộ tình cảm. Kết Kết ghét nhất là ràng buộc, muốn trầm mặc một mình một góc khiến người khác khó tiếp cận, càng không muốn việc riêng tư bị người khác bàn tán.Mềm không được cứng không xong, quá lạnh lùng, quá bình tĩnh, hoàn toàn không tiếp thu được những nhiệt tình thái quá. Người khác vui rồi họ vẫn chưa vui, người khác thân rồi họ vẫn chưa thân, phải qua một thời gian tìm hiểu lâu dài, đặc biệt xác định rồi mới tiếp thu được sự thay đổi. Nên phải đến khi mối quan hệ chín chắn, họ mới gật đầu đồng ý được, chậm mà chắc.
Kim Ngưu: trời sinh chậm chạp
Nói tới phương diện chậm chạp trong tình cảm thì Kim Ngưu nhất định chiếm hạng nhất. Khả năng nhận biết của họ cực kém, đây cũng là nhược điểm trí mạng của chòm sao ngốc nghếch này. Huống hồ, chỉ có tiền tài mới mang lại cảm giác an toàn nên họ thường xuyên dùng vật chất để biểu đạt tình cảm, rất trực tiếp nhưng cũng rất thô thiển.Để hướng dẫn Ngưu chan dần nhanh nhẹn hơn, biết cách bày tỏ tấm lòng hơn thì phải tiếp xúc nhiều, chia sẻ nhiều để họ hiểu đồng thời kiên trì chờ đợi cho tới khi thật sự thấm nhuần, đạt được thành tựu,Có thể nói yêu Kim Ngưu nhất định phải từ từ, nhẫn nại. Xem thêm bài viết Yêu là yêu, những chòm sao đơn thuần nhất trong tình cảm
Nhân Mã: ngây ngốc không nhận rõ
Mã Mã vừa ngốc lại vừa lười, vô tâm vô tính, nhất định chẳng nhận ra những tín hiệu rắc rối phức tạp của tình yêu, chẳng phân biệt được là tình bạn hay hơn cả tình bạn. bẩm sinh khuyết thiếu trí tưởng tượng lãng mạn, chỉ tiếp thu được những ám chỉ đơn giản mà thôi, việc họ thường xuyên không hiểu người khác có ý đồ gì diễn ra như cơm bữa vậy.Thực ra Nhân Mã rất ghét phiền phức, họ chỉ thích suy nghĩ đơn giản nên chuyện gì không rõ ràng thì dứt khoát giả bộ không biết để bản thân được thoải mái, yên tĩnh. Tiếp cận họ phải thật sáng tỏ, yêu là nói luôn, thích là tiến tới chứ không có kiểu ngại ngùng e ấp đợi chờ, mất điểm lắm. Xem thêm bài viết Xử Nữ và Nhân Mã - cặp đôi hoàng đạo cần hiểu nhiều hơn yêu
Cự Giải: quen ẩn giấu tâm tư
Là chòm sao có tính cách nhạy cảm, tâm tư tỉ mỉ, không thích ảo tưởng, không thích tự cho là đúng. Khi chưa làm rõ được tình hình, để tránh những hiểu ầm không cần thiết Cự Giải chủ yếu là thăm dò, kín đáo, không bộc lộ thái độ. Đối với họ thờ ơ, không động lòng chính là một loại phương thức tự bảo vệ mình. Khuyết thiếu lòng tin lại không biết cách biểu đạt nội tâm nên Cự Giải bài xích những chuyện vui đùa bỡn cợt, người mà tiếp cận họ bằng phương pháp này cầm chắc thất bại. Người ta có thể yêu nhau khi vừa quen biết nhưng với chòm sao ngốc nghếch này, ít thì vài tháng, nhiều thì cả năm mới dám mở lòng ra đón nhận tâm tư tình cảm của đối phương. Sao Kim nghịch hành, 4 chòm sao vượng đào hoa trong tết Đoan NgọGợi ý điểm du lịch lý tưởng cho 12 cung hoàng đạoNhững lý do khiến Hổ Cáp mạnh mẽ cũng phải bật khóc Thái Vân Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Ngọc Sương (##)
Hòn sỏi và lời nói...Thả một lời nói không tốt, không cẩn trọng: trong phút chốc bay đi. Nhưng để lại vô vàn gợn sóng lăn tăn xoay tròn, lan toả… Và không có cách nào lấy lại một khi bạn đã nói ra.
Thả một lời nói không tốt, không cẩn trọng: trong phút chốc bay đi. Nhưng để lại vô vàn gợn sóng lăn tăn xoay tròn, lan toả… Và không có cách nào lấy lại một khi bạn đã nói ra.
Thả một hòn sỏi vào trong nước: một tiếng bắn toé lên, rồi chìm nghỉm. Nhưng để lại vô số gợn sóng lăn tăn xoay tròn. Lan toả từ trọng tâm, tràn ra biển cả. Thả một hòn sỏi vào trong nước: trong phút chốc bạn lãng quên. Nhưng có những gợn sóng nhỏ xoay tròn, hoà vào con sóng lớn. Bạn đã xáo động một đại dương hùng vĩ chỉ bằng một hòn sỏi mà thôi
***
Thả một lời nói không tốt, không cẩn trọng: trong phút chốc bay đi. Nhưng để lại vô vàn gợn sóng lăn tăn xoay tròn, lan toả… Và không có cách nào lấy lại một khi bạn đã nói ra.
***
Thả một lời nói không tốt: trong phút chốc bạn lãng quên. Nhưng có những gợn sóng nhỏ xoay tròn mãi… Có thể bạn đã làm ứa một dòng nước mắt trên con tim buồn. Bạn đã xáo động một cuộc đời hạnh phúc chỉ vì những lời nói kia.
Thả một lời nói vui vẻ và tốt bụng: chỉ trong giây lát chúng bay đi. Nhưng để lại vô vàn gợn sóng lăn tăn, xoay tròn mãi. Mang hy vọng, niềm vui, an ủi trong mỗi con sóng xô bờ. Bạn sẽ không ngờ được sức mạnh của một lời nói tốt bạn cho đi.
***
Thả một lời nói vui vẻ và tốt bụng: trong giây lát bạn lãng quên; Nhưng niềm vui dâng tràn, và những gợn sóng reo vui xoay tròn mãi Bạn đã làm cho con sóng được vỗ về trong điệu nhạc êm ái Có thể nghe thấy trên hàng hải lý từ việc thả một lời nói tốt mà thôi
Violet là loài hoa báo xuân bởi khi xuân vừa về là những nhành hoa mỏng manh lại phủ tím những gánh hàng. Cành hoa violet mềm lại, lá nhỏ li ti có thể cắm riêng thành một bình lớn, hoặc khi làm hoa phụ cũng không hề lép vế.
Cành violet rất dài và mảnh nên thích hợp cắm bằng lọ nhỏ, cao. Để dễ dàng tạo hình, bạn có thể đặt một lồng tre bên trong. Rọ tre dài giúp tôn dáng cho những cành hoa dài, mà tránh được tình trạng cuống hoa ngập quá sâu trong nước, dẫn đến tình trạng thối cuống.
Ngoài ra, khi cắm hoa violet, bạn nên tỉa hết lá ở phần cuống hoa ngập trong nước. Lá hoa là nguyên nhân chính khiến nước nhanh bốc mùi. Cành hoa phía trên chỉ cần tỉa bớt một phần lá để bình hoa có dáng vẻ thanh nhã, duyên dáng hơn.
Nước cắm hoa, bạn có thể pha thêm một ít nước rửa chén nhằm ngăn chặn sự phát triển của vi khuẩn, giúp hoa tươi lâu gấp từ 2 - 3 lần. Vì violet hút rất nhiều nước nên cần phải thêm nước hàng ngày. Chỉ cần hơi thiếu nước là violet mỏng manh sẽ héo rũ ngay lập tức.
Bình Violet của anh Vy Anh đã cắm suốt 5 ngày nhưng vẫn tươi nguyên
Vào ngày đầu năm, mọi người thường hay đi lễ chùa cầu an. Đình, đền, chùa, miếu mạo ...là những địa điểm thờ cúng trong đời sống tâm linh của người Việt. Nhưng không phải ai cũng biết ý nghĩa của các công trình này thờ ai.
Năm mới 2016 của bạn như thế nào? Hãy xem ngay TỬ VI 2016 mới nhất nhé!
Vào ngày đầu năm, người Việt thường có phong tục đi lễ chùa cầu an. Đình, đền, chùa, miếu mạo ...là những địa điểm thờ cúng trong đời sống tâm linh của người Việt. Nhưng không phải ai cũng biết ý nghĩa của các công trình này thờ ai. Lịch vạn niên 365 xin đưa ra một số thông tin cơ bản để mọi người có thể có kiến thức cơ bản để khi đi lễ cầu an có thể phân biệt và biết về vị Phật, Thánh nhân mình đang cầu lễ và có ứng xử tương ứng thể hiện qua văn khấn để nhận được công đức viên mãn.
Đền?
Đền: Kiếp Bạc
Là công trình kiến trúc được xây dựng để thờ cúng một vị thần hoặc một danh nhân quá cố. Ở Việt Nam, phổ biến nhất là các đền thờ được xây dựng để ghi nhớ công ơn của các anh hùng có công với đất nước hay công đức của một cá nhân với địa phương được dựng lên theo truyền thuyết dân gian.
Nếu tụng Kinh là nghi lễ quan trọng khi lễ chùa thì hiện nay Hầu Đồng và hát chầu Văn là các nghi lễ chính trong nghi lễ cúng đền, phủ (tuy nhiên nghi lễ này chỉ do những Thanh Đồng (tức những người có căn quả hợp để hầu Thánh và Mẫu). Theo tín ngưỡng thờ Mẫu thì Hầu Đồng chính là nghi lễ mà các Thanh Đồng được Thánh giáng đồng (nhập xác) thông qua các giá hầu để ban phát phúc, lộc cho mọi người)
Bái trí trong đền thì thông thường ban ngoài cùng sẽ là ban tứ phủ công đồng (có Ngọc Hoàng bệ hạ, Nam Tào, Bắc Đẩu và các quan trong tứ phủ, tam tòa trong đạo thơ Mẫu và thờ Thánh là tín ngưỡi bản địa của Việt Nam) trong hậu điện mới thờ vị thánh, thần ngự tại đền. Người đến cúng đền nên tìm hiểu về danh tính, sắc phong, công đức và tiểu sử của vị thần, thánh ngự trong đền để kêu đúng danh tính của các ngài khi cúng lễ.
Theo tín ngưỡng dân gian, sắp lễ tại đền thì có thể cúng hoa quả, bánh trái, chè thuốc, trầu cau, nhang đèn (nến) và lễ mặn (chủ yếu cúng lễ mặn như rượu, xôi và thịt tại ban công đồng), sắp lễ tùy tâm không kể ít nhiều nhưng phải thành kính và sạch sẽ, đồ cúng tươi ngon (hoa tươi, quả tốt).
Các đền nổi tiếng có thể kể đến ở nước ta như Đền Hùng, đền Kiếp Bạc, đền Sóc, đền Trần… thờ các anh hùng dân tộc. Đền Voi Phục, đền Bạch Mã, đền Kim Liên, đền Quán Thánh…thờ các vị thánh theo truyền thuyết dân gian.
Miếu?
Là một dạng di tích văn hóa trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam, có quy mô nhỏ hơn đền. Miếu thường ở xa làng, yên tĩnh, thiêng liêng và là nơi thờ các vị thánh thần. Khi miếu phối hợp với thờ Phật thì được gọi là Am, ở Nam bộ gọi là Miễu.
Miếu và đền về kiểu mẫu thì giống nhau, chỉ khác nhau về quy mô. Các miếu thường thờ các vị thần như miếu thổ thần, thủy thần, sơn thần, miếu cô, miếu cậu…
Bài trí điện thờ trong Miếu đơn giản hơn trong đền, cũng có thể có 2 cung nhưng chủ yêu là 1 cung thờ, nếu kết hợp thờ Phật thì có ban Phật phía trước. Sắp lễ cúng Miếu cũng tương tự như cúng đền, riêng ban Phật chỉ cúng chay.
Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam
Chùa?
Là công trình kiến trúc phục vụ mục đích tín ngưỡng của đạo Phật, đây là thờ Phật đồng thời là nơi ở sinh hoạt, tu hành và thuyết giảng đạo Phật của các nhà sư, tăng ni. Đây là nơi những tín đồ đạo Phật lui tới để nghe thuyết giảng và thực hiện các nghi lễ tôn giáo. Ở một số nơi, chùa cũng là nơi cất giữ xá lị và chôn cất các vị đại sư.
Việt Nam có một số chùa lớn như chùa Bái Đính, chùa Dâu, chùa Bút Tháp, chùa Tây Phương…Khi du nhập vào Việt Nam, đặc biệt là ở Miền Bắc thì nhiều chùa còn xây dựng cả điện thờ Mẫu bên cạnh hoặc phía sau (đạo thờ Mẫu là tín ngưỡng bản địa của người Việt Nam)
Chùa Bái Đính
*Bài trí trong chùa
Chủ yếu có 3 ban thờ, chính giữa là ban Thượng Trụ Tam Bảo (ban Phật). Bên tay phải (hướng mặt đối với ban Tam Bảo) thông thường là ban Đức Thánh Ông. Bên tay trái (hướng mặt đối Tam Bảo) là ban Đức Thanh Hiền (một số chùa có thể thay thế bằng các vị thánh tăng khác, vd ở chùa Trấn Quốc thì bên tay trái là Quan Công). Cúng lễ Phật thì tụng kinh và thực hành theo kinh Pháp của Phật, làm nhiều việc thiện để gieo nhân lành là quan trọng nhất, không quá quan trọng lời khấn vì khi “tâm xuất, Phật biết”. Theo giáo lý của đức Phật thì họa hay phúc của mỗi người do chính mình tạo ra theo thuyết nhân quả. Thông qua kinh tạng, đức Phật sẽ giúp mỗi người tinh tấn, chuyên cần tu tập để thật sự thấm nhuần thuyết nhân quả và tự khuyến thiện, tự mình mang phúc đến cho mình và tự diệt họa cho mình bằng chính hành động, lời nói và việc làm của mình trong cuộc sống hàng ngày.
>>> Năm mới 2016 AI xông đất nhà bạn? Sẽ mang lại nhiều may mắn tài lộc?
Xem ngay XEM TUỔI XÔNG ĐẤT 2016 mới nhất>>>
*Đi lễ Phật (hay lễ Thánh, Thần, Mẫu cũng thế)
Đều yêu cầu phải ăn mặc trang nghiêm, nói năng nhẹ nhàng thể hiện sự tôn kính ơn trên. Bất cứ ngôi chùa nào cũng có 3 cửa (tam quan). Khi đi vào chùa khuyên nên đi vào bằng cửa bên phải (phía bên ban đức thánh ông – ý nghĩa là bỏ mọi nghiệp ác và ra khỏi chùa bằng cửa bên tay trái (phải đức Thánh Hiền với ý nghĩa khuyến thiện – sau khi ra chùa làm thêm nhiều việc thiện). Lễ Phật tùy tâm và tùy hỷ, thông thường thì chỉ cúng chay (hoa quả, bánh trái, nhang, nến) chứ không cúng lễ mặn. Tiền công đức nếu có thì nên bỏ vào trong hòm công đức (ở 1 ban tam bảo hoặc đức Ông là được) không nên bỏ tiền lẻ dải ra các ban.
Đình?
Là công trình kiến trúc cổ truyền của làng quê Việt Nam, là nơi thờ Thành hoàng và cũng là nơi hội họp của người dân.
Ban đầu, đình là điểm quán để nghỉ của các làng mạc Việt Nam. Đến khoảng giữa thế kỷ 13, vua Trần Nhân Tông cho đắp các tượng Phật ở các đình quán. Sau đó, đến thời Lê sơ, các đình làng bắt đầu là nơi thờ thành hoàng làng và là nơi hội họp của dân chúng.
Đình làng thường được bố trí ở trung tâm làng xã, địa điểm thoáng đãng nhìn ra sông nước. Trong tiềm thức văn hóa người Việt, đình làng gắn liền với hình ảnh cây đa, giếng nước, là địa điểm sinh hoạt chung và hồn vía của làng xã. Các ngôi đình nổi tiếng như Đình Bảng, đình Thổ Hà, đình Bát Tràng…
Đình Bảng
Phủ?
Thường là nơi thờ Mẫu - phủ Gầy, phủ Tây Hồ... một số nơi thờ tự (không nhất thiết thờ Mẫu) ở Thanh Hóa cũng gọi đền là phủ. Suy cho cùng phủ là một nơi thờ tự Thánh mẫu khá sầm uất, mang tính chất trung tâm của cả một vùng lớn, vượt ra ngoài phạm vi địa phương, thu hút tín đồ khắp nơi đến hành hương (tương tự như chốn Tổ của sơn môn đạo Phật). Ngôi phủ sớm nhất còn lại hiện biết là điện thờ các thần vũ nhân ở chùa Bút Tháp, có niên đại vào giữa thế kỷ VVII.
Phủ Tây Hồ (Hà Nôi)
Quán?
Một dạng đền gắn với đạo Lão (Đạo giáo). Tùy theo từng thờ mà có các dạng thức thờ tự khác nhau. Vào các thế kỷ XI và XIV đạo Lão ở Việt nặng xu hướng thần tiên nên điện thờ thực chất chỉ như của một ngôi đền thờ vị thần thánh cụ thể.
Như Bích Câu đạo quán thờ Tú Uyên, rồi đền thờ Từ Thức... Sang tới thế kỷ XVI và XVII, sự khủng hoảng của Nho giáo đã đẩy một số nhà Nho và một bộ phận dân chúng quan tâm nhiều tới Lão giáo, và điện thờ đạo Lão có nhiều sự phát triển mới, với việc thờ cúng các thần linh cơ bản theo Trung Hoa. Đó là Tam thanh (Nguyên Thủy Thần Tôn, Linh Bảo Đạo Quân, Thái Thượng Lão Quân), Ngũ Nhạc mà nổi lên với Đông Phương Sóc và Tây Vương Mẫu, rồi Thánh Phụ, Thánh Mẫu. Cửu Diệu Tinh Quân (Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ, Mặt Trời, Mặt Trăng, Hồ phủ, Kế đô) đồng thời trên chính điện cũng có cả tượng của Hoàng Quân giáo chủ (Ngọc Hoàng) - Có thể kể tới các quán điển hình như: Hưng Thánh Quán, Lâm Dương Quán, Hội Linh Quán, Linh Tiên Quán... đều ở Hà Tây.
Bích Câu đạo quán
Am?
Hiện được coi là một kiến trúc nhà thờ Phật. Gốc của Am được nghĩ tới từ Trung Quốc, được mô tả như ngôi nhà nhỏ, lợp lá, dùng Làm nơi ở của con cái chịu tang cha mẹ, về sau đổi kết cấu với mái tròn, lợp lá, làm nơi ở và nơi đọc sách của văn nhân. Từ đời Đường, Am là nơi tu hành và thờ Phật của ni cô đặt trong vườn tư gia. Với người Việt, Am là nơi thờ Phật (Hương Hải am tức Chùa Thầy, Thọ Am tức Chùa Đậu - Hà Tây...) cũng có khi là ngôi miếu nhỏ thờ thần linh của xóm làng - Vào thế kỷ XV (thời Lê sơ) Am còn là nơi ở tĩnh mịch để đọc sách làm thơ của văn nhân.
Như vậy, đền, miếu, đình là những công trình kiến trúc xuất phát ban đầu từ tín ngưỡng thờ cúng dân gian, nơi đây thờ các vị thánh thần theo truyền thuyết dân gian hoặc những vị anh hùng có công với đất nước, với địa phương được nhân dân tôn xưng là thánh (Đức Thánh Trần, Thánh Gióng, thành hoàng làng…). Ở mỗi đơn vị đình, miếu, đền thường chỉ thờ 1 vị thánh thần theo tín ngưỡng của địa phương (đền Kiếp Bạc thờ Trần Hưng Đạo, miếu thủy thần thờ thần nước, đình làng thờ Thành hoàng là của mỗi địa phương…).
Chùa là nơi thờ Phật, Bồ Tát cùng những nhân vật trong hệ phái Phật giáo. Do ảnh hưởng tư tưởng Tam giáo đồng nguyên (Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo) từ thời nhà Lý nên một số ngôi chùa còn thờ đồng thời cả Phật, Thái thượng Lão quân và Khổng Tử.
Việc thờ Phật ở chùa, thờ thánh thần ở đình, đền, miếu và tục thờ cúng tổ tiên của người Việt có điểm chung đó là đều xuất phát từ lòng biết ơn, thành kính hướng tới những người có công cứu rỗi cho cộng đồng, địa phương, những người có công tái tạo và dưỡng dục những thế hệ con người. Đó đều là những hoạt động tâm linh quan trọng trong đời sống văn hóa tín ngưỡng của người Việt.
Hương Hải Am (Chùa Thầy)
Như vậy, đền, miếu, đình là những công trình kiến trúc xuất phát ban đầu từ tín ngưỡng thờ cúng dân gian, nơi đây thờ các vị thánh thần theo truyền thuyết dân gian hoặc những vị anh hùng có công với đất nước, với địa phương được nhân dân tôn xưng là thánh (Đức Thánh Trần, Thánh Gióng, thành hoàng làng…). Ở mỗi đơn vị đình, miếu, đền thường chỉ thờ 1 vị thánh thần theo tín ngưỡng của địa phương (đền Kiếp Bạc thờ Trần Hưng Đạo, miếu thủy thần thờ thần nước, đình làng thờ Thành hoàng là của mỗi địa phương…).
Chùa là nơi thờ Phật, Bồ Tát cùng những nhân vật trong hệ phái Phật giáo. Do ảnh hưởng tư tưởng Tam giáo đồng nguyên (Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo) từ thời nhà Lý nên một số ngôi chùa còn thờ đồng thời cả Phật, Thái thượng Lão quân và Khổng Tử.
Việc thờ Phật ở chùa, thờ thánh thần ở đình, đền, miếu và tục thờ cúng tổ tiên của người Việt có điểm chung đó là đều xuất phát từ lòng biết ơn, thành kính hướng tới những người có công cứu rỗi cho cộng đồng, địa phương, những người có công tái tạo và dưỡng dục những thế hệ con người. Đó đều là những hoạt động tâm linh quan trọng trong đời sống văn hóa tín ngưỡng của người Việt củng thể hiện truyền thống uống nước nhớ nguồn rất nhân văn của người Việt.
>> Đã có VẬN HẠN 2016mới nhất. Hãy xem ngay, trong năm 2016 vận mệnh bạn như thế nào nhé! >>
Vai là biểu hiện của tâm tình và khí chất của con người. Khi người ta đắc ý hoặc chiến thắng, vai thường rung rung hay nhô cao lên. Nhưng khi có chuyện buồn hoặc gặp thất bại, người ta thường so vai, rụt cổ thiếu tự tin. Có thể thấy, người có vai nhô
Chúng ta có thể không phải chịu trách nhiệm trước cách nói năng sai trái nhưng nhất định sẽ không tránh khỏi trừng phạt, bởi cuộc sống còn có công bằng
Người xưa có câu rằng, quý nhân ngữ trì, tức người cao quý nói năng chậm rãi từ tốn, hiện câu nói này đã không còn ai nhắc đến, ấy vậy mà nó lại chứa đựng nội hàm rất sâu xa.
Xưa cũng nói rằng Hoàng đế có miệng vàng lời ngọc, cách nói năng thế nào thực ra không hề đơn giản. Dân gian có rất nhiều địa danh, di tích, truyền thuyết được lưu truyền cũng bởi từ một lời nói của vua. Bỏ qua những chuyện này mà chỉ nói về quyền lực nơi thế tục, một câu nói tùy tiện của vua có thể quyết định sự trầm luân sinh tử của một con người, hoặc cả một nhóm người, thậm chí đến cả phúc họa vinh nhục của một người mãi về sau. Vì những lẽ này, một người làm sao có thể tùy tiện nói lời mà không nghĩ chứ?
Theo truyền thống xưa, giới nhân sĩ hiệp khách cho rằng làm người tất phải xem trọng lời hứa, “quân tử nhất ngôn, tứ mã nan truy”, lời hứa đáng giá nghìn vàng, chữ trọng đây cũng không chỉ có nghĩa là “coi trọng”, “xem trọng” mà còn có nghĩa là “thận trọng”. Một người nếu có thể tùy tiện thề thốt hứa hẹn, sao có thể xem việc làm tròn lời hứa là điều quan trọng để dốc lòng thực hiện?
Quý nhân ngữ trì, cũng bởi vì là quý nhân có quyền cao chức trọng, nắm quyền sinh sát trong tay, một khi vô ý thốt thành lời, là có thể gây hậu quả nghiêm trọng. Đây là từ kết quả mà bàn luận. Một người tự tôn, nhất định sẽ biết cẩn trọng hành vi và lời nói, có trách nhiệm đối với lời mình đã nói. Họ nhất định sẽ không ăn nói lung tung, dùng lời nông cạn mà nhận định linh tinh; cũng không có cái kiểu cách “duy ngã độc tôn”, “thuận ta thì sống, chống ta thì chết”, dựa trên tính cách của mình mà làm ẩu làm càn. Do đó có thể thấy rằng, ‘quý’ trong ‘quý nhân’, không chỉ là ‘quý trọng’, mà càng có nghĩa ‘cao quý’ từ bên trong.
Đương nhiên, còn có vấn đề “hậu quả”, “Bệnh từ (những gì ăn) vào miệng, họa cũng từ miệng mà ra”. “Khẩu” (cái miệng) này dẫn đến “tai họa”, cũng bởi phần lớn chúng ta đều “ăn nhanh nói gấp”, lại hay “buôn chuyện linh tinh”, không biết dùng đầu não suy nghĩ. Vì thế, con người làm gì phải suy nghĩ cẩn thận rồi hãy làm, lời nói cũng phải nghĩ cho thấu đáo rồi hãy nói.
Trong quá khứ, người trong tôn giáo đều giảng về việc tu khẩu, vì điều này ảnh hưởng đến việc tu luyện của bản thân. Tuy nhiên, thời nay thì mọi chuyện được nhắc đến theo cách khác. Các bạn xem điện ảnh phương Tây sẽ thấy khi cảnh sát phát hiện ra đối tượng tình nghi, việc đầu tiên họ tuyên bố: “Anh có quyền giữ im lặng, nhưng những điều gì anh nói ra đều có thể là bằng chứng chống lại anh trước tòa”.
Có thể thấy, tầm quan trọng của cách nói năng đúng mực được bộc phát tự nhiên. Không chỉ có vậy, trên pháp luật của con người, còn có thiên lý. Một người bất luận là làm gì, nói gì đều phải chịu nhận hậu quả, đều phải có trách nhiệm. Có đôi khi, lời chúng ta nói ra không hẳn là liên quan đến pháp luật, nhưng rất có thể sẽ làm tổn hại người khác, thậm chí còn là một tổn thương nghiêm trọng. Chúng ta có thể không phải chịu trách nhiệm trước pháp luật nhưng nhất định sẽ không tránh khỏi sự trừng phạt, bởi vì cuộc sống nhân gian còn có sự chế ước của thiên lý.
“Quý nhân ngữ trì”, không phải có ý nói ‘lời của những người quan trọng dẫu đã đến cửa miệng vẫn giữ lại nửa câu’, cũng không phải có ý nói con người khư khư giữ trong bụng mà không nói ra, càng không phải có ý nói rằng lời phát ra từ miệng chứ không phải từ tâm, mà “quý nhân ngữ trì” chính là nói rằng con người phải hiểu rõ thấu đáo trách nhiệm khi nói thuyết, phải hiểu rõ lời nói của mình, chân chính có trách nhiệm trước mỗi lời mỗi hành vi của chính mình.
Tôn Quyền là hung thủ giấu mặt vụ ám sát Tiểu Bá Vương Tôn Sách?
Tôn Sách được đánh giá là thiếu niên hào kiệt, mệnh danh Giang Đông Tiểu Bá Vương. Cái chết của ông được cho là "có bàn tay" của em trai Tôn Quyền - một nhân vật đa mưu túc trí.
Trước khi hình thành cục diện "tam phân thiên hạ", hay còn gọi là thời đại Tam Quốc, thì Đông Ngô đã là một thế lực hùng mạnh nhờ công gây dựng của "mãnh hổ Giang Đông" Tôn Kiên.
Tuy nhiên, 2 nhân vật nổi trội nhất trong số những người con của Tôn Kiên là Tôn Sách - Tôn Quyền có tính cách khác nhau, thậm chí tồn tại mâu thuẫn lớn về quan điểm chiến lược.
Tôn Quyền muốn hiện thực hóa mục tiêu của bản thân thì buộc phải đoạt được quyền vị trong tay Tôn Sách.
Có quan điểm cho rằng, Quyền "có đầy đủ động cơ để mưu sát Tôn Sách".
"Tam Quốc Chí - Ngô thư - Tôn Sách truyện" đánh giá - "Sách là bậc thiếu niên hào kiệt, dũng mãnh hơn người, mưu lược toàn tài, có chí nhất thống thiên hạ".
Tôn Sách là mãnh tướng "có khí thế của Tiểu Bá Vương", nhưng tính tình nóng vội, không biết dùng người.
Trương Hoành từng khuyên Sách - "Chủ tướng là tính mệnh của ba quân, không nên khinh địch đám tiểu khấu. Xin tướng quân tự bảo trọng".
Tôn Sách đáp - "Lời tiên sinh như vàng ngọc, chỉ e nếu ta không làm gương, tướng sĩ sao có thể hết mình".
Lời nói của Tôn Sách tuy thể hiện được "bản sắc anh hùng" của cá nhân ông, song cũng bộc lộ vấn đề mâu thuẫn trong quân đội của "Tiểu Bá Vương".
Tiểu Bá Vương Tôn Sách bị "Hứa gia tam khách" ám sát.
Nghi vấn vụ ám sát Tiểu Bá Vương
Nhiều bình luận nói rằng, xuất phát từ sự không thống nhất trong nội bộ, nên Tôn Sách mới bị hành thích trọng thương khi đi săn huơu tại Đan Đồ Tây Sơn, trong lúc "chư tướng và quân sĩ vẫn chậm chạp phía sau".
Trái ngược với Tôn Bá Phù, em trai ông Tôn Quyền "biết ẩn nhãn, trọng nhân tài, nhiều mưu kế, thực dụng, là bậc tuấn kiệt anh minh.
Quyền có thể tự mình cai trị Giang Biểu, tạo dựng sự nghiệp" - Tam Quốc Chí có đoạn.
Một số nhà nghiên cứu Trung Quốc bình luận, Tôn Sách là mẫu nhân vật "nhà binh", cả năm trời thống lĩnh quân đội chinh chiến, hành tung bất định.
Vì vậy, việc Sách bị ám sát khi đi săn "có nhiều điểm nghi vấn".
Bên cạnh đó, việc chủ công xuất ngoại săn bắn vốn là "chuyện nhà", không nhiều khả năng được công bố rộng rãi trên các phương tiện truyền thông như thời hiện đại.
Do đó, "Hứa gia tam khách" gần như không có khả năng biết trước lịch trình của Tôn Sách để "ôm cây đợi thỏ", trừ khi "có thông tin tình báo về thời gian, địa điểm, nhân sự của Sách".
Xét từ vấn đề thái độ trong nội bộ Tôn gia, cái chết của Tôn Sách cũng cho thấy không ít điểm đáng ngờ.
Trong tiểu thuyết "Tam Quốc diễn nghĩa" cũng như thực tế lịch sử, Tôn Sách được ghi nhận là bị hành thích dẫn đến tử vong khi mới 25 tuổi.
Sau đó, Tôn Quyền ngồi lên "tọa trấn" Giang Đông.
Tôn Sách là mãnh tướng nhưng kém tài dùng người, trái ngược với em trai Tôn Quyền "lắm mưu nhiều kế".
Ba người em trai khác là Tôn Dực, Tôn Khuông, Tôn Lãng hầu như không được nhắc đến.
"Tam Quốc Chí - Ngô thư - Tôn Dực truyện" có nói - "Tôn Dực, tự Thúc Bật, em trai Quyền, tính cách quả liệt, giống huynh trưởng Sách".
Sử gia Bối Tùng Chi trích dẫn sách "Điển lược" có đoạn - "Sách lâm chung, đám Trương Chiêu tưởng Sách giao binh cho Dực.
Nhưng Sách gọi Quyền, giao cho ấn tín".
Như vậy, người kế vị Tôn Sách có khả năng là Tôn Quyền, cũng có thể là Tôn Dực.
Cuộc "thanh trừng gia tộc" của Tôn gia Giang Đông?
Tôn Dực chẳng những không thể tiếp quản ngôi vị của huynh trưởng, mà về sau, Dực cũng bị ám sát giống như Tôn Sách.
Thủ phạm chính là gia tướng của Dực, Biên Hồng.
Bối Tùng Chi dẫn sách "Ngô lịch" - "Dực ra vào đều mang đao, thường hay uống rượu.
Tay không tiễn khách, (Biên) Hồng từ đằng sau chém Dực, trong quận hỗn loạn.
Không ai cứu Dực. Dực bị Hồng giết, Hồng chạy trốn vào núi".
Việc thích khách là một gia tướng "thân tín" bên cạnh Tôn Dực, cộng với tình tiết "không một ai cứu Dực" cho thấy vụ ám sát Tôn Dực cũng có nhiều điểm khả nghi.
Không ít ý kiến cho rằng, cái chết của Tôn Dực "có bàn tay sắp đặt".
Kết cục không mấy tốt đẹp của huynh đệ Tôn gia là kết quả cuộc thanh trừng nội bộ của Tôn Quyền?
Tôn Sách và Tôn Dực bị ám sát, Tôn Khuông "chết không rõ ràng", Tôn Lãng "bị Tôn Quyền giam giữ đến cuối đời", là những dấu hiệu cho thấy nhiều khả năng "anh hai" Tôn Quyền đã nhúng tay thực hiện hàng loạt vụ "thanh trừng nội bộ" trong Tôn gia.
Từ Tiểu Bá Vương Tôn Sách tới Tôn Quyền, Đông Ngô trải 2 giai đoạn cao trào "hình thành nội các" văn võ đại thần.
Thứ nhất là giai đoạn Tôn Sách mượn binh khởi nghiệp cho tới lúc hùng cứ Giang Đông, hiền tài đầu quân có Chu Trị, Lữ Phạm, Trương Chiêu, Trương Hoành...
Các danh tướng Chu Du, Tưởng Khâm, Chu Thái, Trần Vũ, Thái Sử Từ... cũng gia nhập lực lượng Đông Ngô trong thời kỳ này.
Giai đoạn "tuyển dụng" thứ hai là dưới thời Tôn Quyền chinh phạt Hoàng Tổ.
Các mưu sĩ Lỗ Túc, Gia Cát Cẩn, Cố Ung, Trình Phổ, Trương Ôn, Chu Hằng... về với Đông Ngô trong giai đoạn này.
Võ tướng Lữ Mông, Lục Tốn, Từ Thịnh, Đinh Phong, Cam Ninh cũng đầu quân cho Tôn Quyền.
Căn cứ vào những nhân vật có ảnh hưởng ở Đông Ngô sau thời Tôn Sách, ngoại trừ đại đô đốc Chu Du, quyền lực triều đình hầu hết đã được "thay máu" và nằm trong tay nhóm "nội các" mới, dưới trướng chủ công Tôn Quyền.
Mơ thấy quả bong bóng: Có nguy hiểm và không có nền móng –
Bong bóng là vật thể khá nhẹ. Nó bay thẳng lên cao cho đến khi nổ tung. Trong mơ, bong bóng mang ý nghĩa của sự nguy hiểm không rõ căn cứ. Mơ thấy thả bong bóng dự báo có thể bạn sẽ gặp nguy, cần cẩn thận đề phòng. Mơ thấy thổi bong bóng với hàm ý, k
Ý nghĩa sao Hỷ Thần - Là một thiện tinh chủ về vui vẻ
Hành: Hỏa
Loại: Thiện Tinh
Đặc Tính: May mắn, vui vẻ, tăng tài lộc, cưới gả, sinh con, thi cử đỗ đạt
Là một phụ tinh. Sao thứ 8 trong 12 sao thuộc vòng sao Bác Sĩ theo thứ tự: Bác Sĩ, Lực Sĩ, Thanh Long, Tiểu Hao, Tướng Quân, Tấu Thư, Phi Liêm, Hỷ Thần, Bệnh Phù, Đại Hao, Phục Binh, Quan Phủ. Phân loại theo tính chất là Thiện Tinh.
Ý Nghĩa Hỷ Thần Ở Cung Mệnh:
Tính Tình: Người có lòng tốt, vui tính.
Ý Nghĩa sao Hỷ Thần Với Các Sao Khác:
Hỷ Thần gặp Long Trì, Phượng Các: Cả ba sao đều chỉ sự vui mừng, báo hiệu cho sự may mắn về thi cử hoặc về công danh hoặc về hôn nhân hoặc về sinh nở. Nói chung, đây là điềm lành về nhiều mặt.
Hỷ Thần gặp Đào Hoa (hay Hồng Loan): Có sự may mắn về tình duyên.
Trong tinh thần đó, sao Hỷ Thần ghép với một số sao khác sẽ làm lợi thêm cát tinh của sao đó, cụ thể như Hỷ Thần gặp Thiên Mã, Tràng Sinh hay Thiên Mã, Hóa Lộc hay gặp Phong Cáo, Quốc Ấn... có nghĩa đắc lợi về vận hội, về tiền bạc, về danh giá...
Ý Nghĩa sao Hỷ Thần Ở Cung Tật Ách:
Dễ có bệnh trĩ, ung nhọt, nếu đi chung với các sao Địa Kiếp, Điếu Khách.
Ý Nghĩa sao Hỷ Thần Ở Cung Phu Thê:
Cũng trong ý nghĩa chính là may mắn, sao Hỷ Thần đóng ở cung nào ban sự lành và lợi cho cung đó. Sao này ví như một hệ số về may mắn, bất luận hậu quả của sự may mắn đó có lợi hay hại.
Hỷ Thần đi với Đào hay Hồng thì vợ chồng xứng đôi.
Ý Nghĩa sao Hỷ Thần Ở Cung Huynh Đệ:
Hỷ Thần, Thiên Riêu: Anh chị em chơi bời, phóng túng.
Hỷ Thần Khi Vào Các Hạn:
Sao Hỷ Thần cũng báo hiệu cho hỷ sự, may mắn. Tùy theo các sao đi kèm sẽ giúp giải đoán phương diện nào được may mắn. Tuy nhiên, nếu gặp Điếu Khách, sự may mắn đó bị suy giảm hay tiêu tán đi vì Điếu Khách chế hóa được sự may mắn của Hỷ Thần.
Mơ thấy chim sẻ: Cơ thể khỏe mạnh, mùa màng bội thu –
Chim sẻ vốn không được nhiều người yêu thích, nhưng trong mơ thì hoàn toàn ngược lại, nó mang ý nghĩa của một cơ thể khỏe mạnh và mùa màng bội thu. Nếu mơ thấy chim sẻ bay vòng quanh nhà, cho thấy bệnh tình của bạn đang thuyên giảm đáng kể, chỉ cần t
Người Trung Quốc cho rằng, sự giàu có không đơn thuần là chỉ về tiền bạc, mà nó gồm từ tài chính, cho tới sức khỏe và các mối quan hệ hòa hợp trong gia đình.
Có nhiều mẹo phong thủy mà bạn có thể áp dụng trong nhà và văn phòng để tăng tài lộc.
1. Tách rời không gian nghỉ ngơi và không gian làm việc
Một trong những thủ thuật mà cần đảm bảo đầu tiên, đó là phải tách rời không gian nghỉ ngơi và không gian làm việc. Bắt buộc khu vực kinh doanh và không gian sống gia đình phải có không gian riêng, tách biệt.
2. Treo đồng xu lên cửa trước nhà
Lấy 3 đồng xu, buộc lại với nhau bằng dây ruy băng đỏ. Màu đỏ thu hút sự giàu có. Đồng tiền xu có lỗ ở giữa nên bạn rất dễ xâu chuỗi chúng lại với nhau. Dùng vật này treo lên cửa trước nhà, đó là biểu tượng phổ biến của sự giàu có.
3. Trồng chậu dương xỉ trong nhà
Bạn hãy trồng một chậu cây dương xỉ, chôn 9 đồng tiền xu dưới cây. Đặt chậu cây này ở góc trái, xa nhất của ngôi nhà. Khi cây phát triển mạnh, đồng nghĩa với việc, tài vượng đã ghé thăm ngôi nhà bạn. Ngoài dương xỉ, dặt những chậu cây lá kim cũng đem lại nhiều may mắn.
Bạn hãy trồng một chậu cây dương xỉ, chôn 9 đồng tiền xu dưới cây.
4. Nước
Nước là yếu tố luôn đi liền cùng sự giàu có. Vì vậy, đài phun nước, hồ cá, hay những thứ có liên quan tới nước đặt trong nhà không chỉ còn vai trò là làm đẹp, mà còn kích thích sự thịnh vượng.
5. Màu sắc
Về màu sắc, xanh da trời và màu đen mang ý nghĩa của sự giàu có. Thắp nến màu trắng, vàng, bạc cũng thể hiện sự mong muốn giàu có trong cuộc sống.
6. Không gian sống sạch sẽ, ngăn nắp
Những thủ thuật trên sẽ vô ích nếu căn nhà bạn là một mớ lộn xộn. Bởi sự lộn xộn sẽ chặn những dòng chảy năng lượng tích cực và cản trở sự thuận lợi. Hãy đơn giản và làm thoáng không gian, bằng cách bỏ đi những giấy tờ, vật dụng thừa thãi, sắp xếp không gian gọn gàng, hợp lý. Đây chính là cách “mời” năng lượng tích cực, tài vượng đến cư trú trong nhà.
7. Không ngồi quay lưng lại với cửa ra vào
Trong văn phòng làm việc, không ngồi quay lưng lại với cửa ra vào, cũng không đặt bàn đối diện cửa ra vào. Bởi, nếu quay lưng vào cửa, bạn sẽ dễ bị tấn công bởi những năng lượng xấu, bàn đối diện cánh cửa, bạn sẽ bị khống chế bởi năng lượng khác. Vị trí đẹp nhất, là ngồi quay lưng lại một bức tường, hoặc góc xa của cánh cửa. Những bức tranh mang biểu tượng của nước như thác nước, biển, vv… hoặc những bức tranh trừu tượng mang những sắc thái của xanh da trời, đen nên được treo trên tường góc làm việc.
8. Treo ảnh gia đình hạnh phúc
Hình ảnh gia đình, nhắc nhở bạn rằng, tại sao bạn mong muốn giàu có trong cuộc sống, nên có thể đặt trong không gian làm việc, bàn làm việc.
9. Chuông gió Bạn có thể dùng chuông gió để cải thiện không gian.
Nếu nhìn từ cửa sổ ra ngoài chật chội, hoặc không tạo cảm hứng cho bạn, thì có thể dùng chuông gió để cải thiện không gian.
Vấn đề về tình yêu đôi lứa luôn rất được mọi người quan tâm, và đặt ra nhiều câu hỏi trong đó rất nhiều người thắc mắc những đồ vật nào ảnh hưởng đến tình yêu đôi lứa? Khi bày trí căn phòng, bạn nên để ý vài chi tiết dưới đây nếu không muốn sống mãi
Vấn đề về tình yêu đôi lứa luôn rất được mọi người quan tâm, và đặt ra nhiều câu hỏi trong đó rất nhiều người thắc mắc những đồ vật nào ảnh hưởng đến tình yêu đôi lứa? Khi bày trí căn phòng, bạn nên để ý vài chi tiết dưới đây nếu không muốn sống mãi kiếp FA. Củ thể như thế nào các bạn cùng đọc bài viết sau để có thêm kiến thức và gìn giữ tình yêu của mình nhé!
Nội dung
1 Những đồ vật ảnh hưởng đến tình yêu đôi lứa
1.1 Đồ vật gợi nhớ tình cũ
1.2 Đồ vật đơn độc, không có đôi
1.3 Đồ vật quá cá tính
1.4 Đồ vật thể hiện sự trẻ con
1.5 Đồ vật tạo nên áp lực tinh thần
Những đồ vật ảnh hưởng đến tình yêu đôi lứa
Đồ vật gợi nhớ tình cũ
Việc lưu giữ đồ vật của tình cũ không những khiến bạn khó quên quá khứ mà còn nhắc bạn nhớ về người ta với những so sánh khập khiễng. Kết quả, nó ảnh hưởng đến mối tình hiện tại, nó khiến người mới nhận ra bạn vẫn chưa sẵn sàng để bước vào cánh cửa khác. Hãy nhớ, chuyện đã qua đừng bới nó lại.
Đồ vật đơn độc, không có đôi
Khi bước vào tình yêu, đồ vật đơn lẻ như ghế đơn, giường đơn hoặc những thứ gợi lên sự cô độc rất cần thay thế bằng vật dụng có đôi có cặp. Điều đó sẽ giúp bạn tiến xa và có khả năng tiến tới hôn nhân dễ dàng hơn.
Đồ vật quá cá tính
Hiện người trẻ rất thích phơi bày sự cá tính và nói lên cái tôi của bản thân qua cách bài trí căn phòng, điều đó thật sự đáng báo động. Việc bài trí quá lố, thể hiện cá tính quá mức sẽ khiến bạn trở nên cô độc, người khác khó tiếp cận và tạo khoảng cách nhất định trong tình yêu.
Đồ vật thể hiện sự trẻ con
Các bạn nữ rất thích bài trí căn phòng đầy ắp búp bê và thú nhồi bông. Những đồ vật này tuy dễ thương nhưng nếu quá nhiều sẽ khiến đối phương có cảm giác bạn chưa trưởng thành, còn trẻ con và thiếu thực tế.
Đồ vật tạo nên áp lực tinh thần
Những đồ vật có góc cạnh hoặc sắc bén nên hạn chế bài trí trong căn phòng, nó vô tình khiến chủ nhân cảm thấy nặng nề về mặt tâm lý, cũng như khiến người đang yêu cảm thấy áp lực về chuyện tình cảm.
Đây là điển cố thứ Nhất trong quẻ Quan Âm, mang tên Chung Ly Thành Đạo. Quẻ Quan Âm Chung Ly Thành Đạo có bắt nguồn như sau:
Chung Ly Quyền là một nhân vật trong Bát tiên theo truyền thuyết của Đạo giáo. Nhân vật này vốn sống vào khoảng giữa thời Tống và thời Ngũ đại, các bộ sách như “Tuyên Hòa niên phố”, “Di kiên chí”, ‘Tống sử” đều có ghi lại tiểu sử của nhân vật này, sau này bị mới bị nhầm thành “Hán Chung Ly”, và cho rằng ông là người đời Hán.
Vào lúc Chung Ly Quyền sinh ra, có một người to lớn, bước thẳng vào trong buồng nơi mẹ Chung Ly Quyền đang ở, nói rằng: “Ta là Hoàng Thần Thị thời thượng cố, nay đầu thai ở đây”, trong khoảnh khắc “thấy ánh hào quang khác thường cao mấy trượng như ngọn lửa cháy”, Chung Ly Quyền được sinh ra. Khi Chung Ly Quyền mới lọt lòng, đã có vóc dáng như một đứa trẻ ba tuổi, lại được trời cho phúc tướng: trán rộng đầu tròn, mi dài tai dầy, mũi cao mắt sâu, miệng vuông má rộng, môi đỏ mặt hồng, tay dài ngực vuông. Đặc biệt hơn nữa, Chung Ly Quyền suốt ngày đêm không nói không kêu, không khóc không ăn, cứ như thế đến ngày thứ bảy, bất ngờ nói một câu khiến cho ai nấy đều kinh động: “Thân du Tử phủ, danh thư Ngọc kinh” (dạo chơi nơi Tử Phủ, tên đề tại Ngọc Kinh). “Tử phủ” và “Ngọc kinh” tức là kinh thành nơi Ngọc Hoàng Đại Đế ở.
Sau khi Chung Ly Quyền lớn lên, thân cao tám thước, mắt sáng râu dài, không lâu sau làm quan đến chức Gián Nghị Đại phu. Lúc này Thổ Phồn xâm phạm biên cương, Chung Ly Quyền phụng chiếu của nhà vua xuất chinh. Lúc này có quyền thần là Lương Ký đố kỵ với Chung Ly Quyền, sợ ông lập được công lớn, bèn cấp cho ông đội quân đã suy yếu gồm hai vạn người. Chung Ly Quyền thống lĩnh quân đội đến tiền phương, doanh trại còn chưa cắm xong, đã bị đối phương đến cướp trại, Chung Ly Quyền thất bại, một mình cưỡi ngựa đến một sơn cốc. Sau đó, ông bị lạc đường, ban đêm đi vào rừng núi thâm u, gặp một vị Hồ tăng (nhà sư Tây Vực) mặc áo cỏ, tóc rối, trán rộng, dẫn ông đi qua mấy dặm đường, đến một thôn trang. Nhà sư nói với ông rằng: “Đây là nơi mà Đông Hoa tiên sinh đắc đạo, tướng quân có thể nghỉ ngơi!”
Chung Ly Quyền không dám làm kinh động đến người ở trong thôn trang. Một lát, bỗng nghe tiếng một ông lão nói rằng: “Cái tên Hồ tăng mắt xanh này lắm lời quá! Rồi bỗng nhìn thấy một ông lão mặc áo da hươu màu trắng, chống gậy lê màu xanh xuất hiện, ông lão lại hỏi: “Người đến đây là đại tướng quân Chung Ly Quyền của nhà Hán đúng không?” Chung Ly Quyền đáp lại: “Vâng!” ông lão lại nói: “Tại sao ngươi không đến chỗ ta để ngủ qua đêm? Chung Ly Quyền nghĩ thầm: “ông lão này làm sao mà biết được ta đã đến? Đây chắc hẳn là người khác thường’’. Lại thêm bụng đói cồn cào, mệt mỏi không chịu nối, bèn khấn cầu ông lão giúp đỡ.
Ông lão bèn truyền cho Chung Ly Quyền những phép thuật thần tiên như bí quyết trường sinh, hỏa hầu luyện kim đan và kiếm pháp Thanh Long. Sau này Chung Ly Quyền gặp được Hoa Dương chân nhân, học được đạo “Thái Ất cửu khuê Hỏa phù nội đan”, “Động hiểu huyền huyền”. Rồi lại ở núi Tứ Hạo, huyện Tử Kim thuộc dãy núi Không Động, học được bí quyết “Ngọc hạp”, cuối cùng tu thành chân tiên, Ngọc Đế phong cho ông làm Thái Cực Tả Cung chân nhân.
Từ đó về sau, Chung Ly Quyền thoắt ẩn thoắt hiện, trải qua Tào Ngụy đến đời Tấn, lại làm đại tướng nơi biên thùy. Đối tên thành “Kim Trùng Hiện”, ghép vào thành một chữ “Chung”. Diện mạo của Kim Trùng Hiện có một số nét cổ quái: “Đầu có hai búi tóc hai bên, hở bụng, tay ung dung phe phẩy quạt lá cọ, mặt đỏ, thân thể to lớn, mắt rồng râu rồng, thấy vua nhà Tấn kiêu ngạo xa hoa, bèn từ quan bỏ đi”. Đến cuối đời Đường, Chung Ly Quyền lại xuất hiện, dạy Lã Động Tân thành tiên.
Trước khi tiến hành xin xăm nên tìm hiểu qua bài viết Hướng dẫn cách xin quẻ Quan Âm để biết thêm lịch sử ra đời của bộ thẻ và nghi thức xin quẻ.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Hương Giang (##)
Phong thủy âm trạch là một trong hai khía cạnh chính của phong thủy thủy học, dựa vào âm phần mà quyết định dương phần, lấy nơi chôn cất của người đã khuất để luận về người còn sống. Dưới đây là một số hiểu biết cơ bản về phong thủy âm trạch nên biết.
Phong thủy truyền thống chia thành hai phần chính là phong thủy dương trạch và phong thủy âm trạch. Phong thủy dương trạch đề cập tới phong thủy nhà ở, phong thủy âm trạch nghiên cứu phong thủy mộ phần.Người xưa cho rằng, người đã khuất núi nhưng linh khí vẫn còn, có thể ảnh hưởng tới gia đình, con cháu nên phong thủy âm trạch tác động lớn tới gia vận. Phong thủy âm trạch cơ bản chia thành phong thủy vùng núi và phong thủy đồng bằng. Phong thủy vùng núi theo đuổi nguyên tắc “Thiên Nhân hợp nhất, Thiên Nhân cảm ứng”, tức là trời với người hòa vào làm một, tương thông với nhau. Phong thủy vùng núi yêu cầu sự phối hợp giữa các yếu tố tự nhiên tạo thành huyết mạch lưu thông: lấy huyệt làm trung tâm; lấy chủ sơn, thiếu tổ sơn, tổ sơn làm bối cảnh; lấy sông, suối, ao, hồ làm cận cảnh; lấy án sơn, triều sơn là viễn cảnh; lấy nước trên núi chảy xuống làm bình cảnh; lấy Thanh Long sơn, Bạch Hổ sơn làm hai cánh.
Dựa trên phương diện lý khí, lấy hướng của huyệt làm đích, lý luận ngũ hành sinh khắc phối hợp với mệnh quẻ của người đã mất và phương vị của dòng nước, cùng với 24 sơn bàn tọa hướng để chia kim khiến phúc trạch hậu thế, con cháu đầy đàn.
Phong thủy đồng bằng càng yêu cầu sự phối hợp của lý khí, tọa nơi thoáng đãng, hướng nơi sung túc. Phong thủy đồng bằng theo đuổi cục diện gió mạnh nước xiết thì gia vận lâu dài, con trai đầy đủ; tránh gió lánh mưa thì thật là tuyệt địa. Chú ý, hướng của tự thân mộ phần, phân kim cùng cửa sông phối hợp.Tóm lại, phong thủy âm trạch coi trọng các yếu tố: long mạch, sát sa (đụn cát), quan thủy (nước), điểm huyệt và phương vị.Phong thủy học coi trọng cát có nước bao quanh vì nước quanh mộ có thể làm cho sinh khí tụ họp mà cát bị tắc lại thì sinh khí không bị gió cuốn đi. Có hai điều kiện ấy, nhất định là huyệt cát. Bởi vậy, “Táng kinh” có viết: phương pháp phong thủy là có nước ở trên, kín gió thổi tới”.Muốn tìm nơi tốt để đặt mộ thì trước hết là tới nơi núi non uốn lượn tìm long mạch, thăm dò vùng có sinh khí rồi lấy núi ấy làm chính amchj, tới chỗ núi dừng thì sinh khí ngưng tụ, phụ cận có tình thế cát được nước bao quanh tức là cát huyệt. Nếu là cát bay nước chảy thì sinh khí không thể kết tụ, không phải nơi tốt để táng mộ. Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Thùy Dung (##)
Thuyết Cửu tinh cho rằng, hàng năm có 9 ngôi sao phi tinh (Cửu tinh) thay nhau xâm nhập vào nhà theo hướng nhà. Dựa vào tính chất lành dữ của Cửu tinh có thể
Cửu tinh gồm 4 sao Cát tinh là Nhất Bạch, Lục Bạch, bát Bạch, Tứ Lục và 5 sao Hung tinh là Ngũ Hoàng, Nhị Hắc, Tam Bích, Cửu Tử, Thất xích.Nhất Bạch thuộc Thủy, quẻ Khảm, khi đắc vận thì gia chủ thăng quan tiến chức, thành đạt, đắc lộc; khi thoái vận thì phá tài, gây bệnh, nạn đào hoa, ly hương. Nhị Hắc thuộc Thổ, quẻ Khôn, lúc tốt thì khỏe mạnh, tôn quý, bá nghiệp; khi xấu thì là sao đại hung, tan cửa nát nhà, mắc bệnh hiểm nghèo, tai họa, tử vong. Tam Bích thuộc Mộc, quẻ Chấn, khi đắc vận thì ăn nói lưu loát, nổi tiếng, đắc lộc; khi thoái vận thì cãi cọ, kiện cáo, hao tài. Tứ Lục thuộc Mộc, quẻ Tốn, khi đắc thì văn chương tài hoa, tài lộc dồi dào; khi thoái thì gặp họa tửu sắc. Ngũ Hoàng thuộc Thổ, khi tốt thì uy danh lừng lẫy, tài lộc lên; khi xấu thì tai họa, bệnh tật, nguy hiểm đến tính mạng, tan cửa nát nhà. Lục Bạch thuộc Kim, quẻ Càn, là sao chủ quản tiền của, khi đắc thì đinh tài đều vượng; khi thoái thì thất tài, khuynh gia bại sản. Thất Xích thuộc Kim, quẻ Đoài, lúc tốt thì đắc tài đắc lộc; lúc xấu thì gặp trộm cướp, kiện cáo. Bát Bạch thuộc Thổ, quẻ Cấn, phát thì vinh hoa phú quý; lụi thì thất tài, ôn dịch. Cửu Tử thuộc Hỏa, quẻ Ly; đắc vận nhân duyên tốt đẹp, xây cất thuận lợi; thoái vận thì gây nạn đào hoa, tổn đinh phá tài, bệnh tật đau ốm. Khi 3 ngôi sao tài tinh là Nhất Bạch, Lục Bạch và Bát Bạch cùng hội ở cửa gọi là “tam đai tài tinh”, tiền của tụ vào nhà khiến hưng gia nhất nhì thiên hạ. Khi phạm phải thoái vận sát tinh của Cửu tinh sẽ gây bất lợi cho ngôi nhà, hóa giải theo nguyên tắc sinh khắc của ngũ hành. Dùng vật Hỏa hóa giải Mộc Tam Bích, Mộc Tứ Lục vì Mộc sinh Hỏa. Dùng vật Mộc hóa giải được Thủy Nhất Bạch vì Thủy sinh Mộc. Dùng vật Thủy có thể hóa giải Kim Lục Bạch, Kim Thất XÍch vì Kim sinh Thủy. Dùng vật Kim hóa giải Thổ Bát Bạch, Thổ Nhị Hắc, Thổ Ngũ Hoàng vì Hỏa sinh Thổ. Dùng vật Thổ hóa giải Hỏa Cửu Tử.
ST Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Đoan Trang(##)
10 câu nói hay và nổi tiếng nhất của Tào Tháo. Tào Tháo – tên ông thường dùng để mô tả cho sự dối trá, vô liêm sỉ nhưng không thể phủ nhận tài năng của Tào Tháo. Sau đây là 10 câu nói nổi tiếng của ông vẫn còn giá trị cho đến ngày nay.
Tào Tháo sinh năm 155 và mất năm 220, tự là Mạnh Đức. Ông là nhà chính trị, nhà quân sự kiệt xuất cuối thời Đông Hán trong lịch sử Trung Quốc. Ông là người đặt cơ sở vững chắc cho thế lực quân sự cát cứ ở miền Bắc Trung Quốc, lập nên chính quyền Tào Ngụy thời Tam Quốc và trở thành đối trọng lớn nhất với nhà Thục (do Lưu Bị đứng đầu) và nhà Ngô (do Tôn Quyền đứng đầu). Trong lịch sử gần 2000 năm qua, hình tượng về Tào Tháo vẫn là một chủ đề gây tranh cãi nhiều nhất trong lịch sử Trung Quốc, hầu hết đều bị ảnh hưởng tiêu cực do tác phẩm “Tam Quốc diễn nghĩa”.
Tuy người đời thường lấy tên ông để mô tả cho sự dối trá, vô liêm sỉ, bất nhân, bất nghĩa nhưng không thể phủ nhận tài năng của con người này. Và những câu nói của ông dù đã trải qua hàng nghìn năm lịch sử vẫn được lưu truyền và để lại rất nhiều bài học cho hậu thế sau này.
Các bạn hãy cùng mình điểm lại 10 câu nói nổi tiếng nhất của Tào Tháo được lịch sử ghi chép lại dưới đây nhé.
10 câu nói hay và nổi tiếng nhất của Tào Tháo
Nghe giai thoại rằng Tào Tháo hỏi Tư Mã Ý:
“Tại sao lòng bàn chân trắng hơn mặt và tay?”
Ý nghĩ hoài không biết trả lời làm sao. Tháo lại bảo:
“vì lòng bàn chân nó biết giấu mặt.”
Lòng bàn chân ai cũng có phần lõm vào, có thể giấu được cái gì đó. Vậy nên ở đời đừng để người ta nhìn rõ hết ruột gan. Ám chỉ Tào Tháo biết Ý có lòng riêng nên cảnh cáo
Người đời đều nói ta là gian hùng nhưng không làm được gì một kẻ gian hùng như ta, các ngươi tự khoe mình là quân tử nhưng đều thua trong tay một kẻ gian hùng như ta. Nếu cái giá của việc làm quân tử là bị lăng nhục, bị giẫm đạp, bị tiêu diệt, thậm chí là bị giết thì ta làm một kẻ gian hùng có thể thực hiện được hoài bão của mình. Từ trước tới nay gian xảo như trung hiền, trá ngụy tựa chân thật, trung nghĩa và gian ác đều không thể nhìn thấy được dựa trên biểu hiện bên ngoài. Có thể trước nay các ngươi đã nhìn nhầm Tào Tháo ta bây giờ lại nhìn nhầm nhưng ta vẫn là ta. Trươc đây ta vốn không sợ người khác nhìn lầm ta.
Cuộc sống vốn sinh sinh hóa hóa, biến đổi không ngừng, Dịch Lý là một khoa môn chuyên nói về Lẽ Biến Hóa – Hóa Thành của Vạn Hữu (mọi thứ Hữu Hình lẫn Vô Hình). Mọi vấn đề tạo tác của loài người dù có muốn hay không muốn đều nằm trong Lẽ Biến Hóa của Dịch.
Cuộc sống vốn sinh sinh hóa hóa, biến đổi không ngừng, Dịch Lý là một khoa môn chuyên nói về Lẽ Biến Hóa – Hóa Thành của Vạn Hữu (mọi thứ Hữu Hình lẫn Vô Hình). Mọi vấn đề tạo tác của loài người dù có muốn hay không muốn đều nằm trong Lẽ Biến Hóa của Dịch.
Mọi sự Hóa Thành như Thành thành công, Thành thất bại, Thành chưa xong, Thành tốt, Thành Xấu, Thành giàu, Thành nghèo, Thành có học, thành thất học, Thành nhớ, Thành quên…đều chịu ảnh hưởng của hai yếu tố quan trọng là Chủ quan và Khách quan (Chủ quan là ý mình. Khách quan là ý Trời là mọi biến động ngoài ta) chúng là âm dương luôn chi phối lẫn lộn với nhau. Lý Dịch là một Nguyên Lý vô song, là một Chân Lý là sự thật của mọi sự thật, chúng bao trùm cả chủ quan và khách quan.
Từ đó khi ta khởi sự tạo tác một việc gì nếu thấy lòng đắn đo, lưỡng lự, lo ngại, không yên… gọi là “Thiên Cơ máy động trong Nhân Cơ” (Bộ máy khách quan thông giao cảm ứng với bộ máy chủ quan của ta) là lúc ta cần xử dụng Lý Dịch để hiểu biết sự Hóa Thành ra sao, nhằm có sự chuẩn bị, né tránh, giảm bớt mọi rủi ro, thành – bại trong cuộc sống.
Ngoài ra Dịch Lý có thể giúp ta nhận diện, giải quyết các vấn đề như sau:
1/ Tri thiên mệnh để tận nhân lực.
2/ Tình huống phân vân chưa biết quyết định lựa chọn nào cho tốt?
3/ Định sự chân giả.
4/ Biết ý người.
5/ Hướng giải quyết tình huống vấn đề.
6/ Chọn ngày giờ tốt để khởi sự.
……..v.v và v.v
Dịch Lý là lý của Biến Hóa – Hóa Thành của Vạn Hữu, nên mọi động tĩnh sống động của muôn loài vạn vật đều được nhận biết qua Lý Dịch. Nên người học Dịch có thể “thông dịch tiếng nói của thượng cầm hạ thú” qua Sự “Động – Tĩnh” thường ngày trong cuộc sống.
Để nhận biết sự động và tĩnh ta áp dụng quy tắc “Đồng lấy dị mà luận – Dị lấy đồng mà quy”: Khi sự giống nhau nhiều thì ta lấy điểm khác biệt mà luận – Khi sự khác nhau nhiều thì ta lấy điểm giống nhau mà chọn. Sự diễn biến thường hằng mỗi ngày như mọi ngày thì gọi là Tĩnh, và trong sự tĩnh đó bỗng nhiên có một ngày xảy ra chuyện khác thường thì ngày đó gọi là Động.
Ví như anh A mỗi ngày làm việc đều đặn bình thường, nhưng có một ngày bỗng nhiên cảm thấy lòng bất yên, khó chịu, lo lắng …thì gọi là Động
Ví như thường ngày con cái ta cũng cẩn thận ngoan ngoãn, bỗng nhiên có một ngày nó đụng cái gì cũng đổ bể thì ngày đó gọi là Động.
Ví như ta có người thân quen thường ngày ăn nói cũng tử tế bình thường bỗng nhiên có một ngày phát lên nói một câu nghe lạ tai vui vẻ khác thường thì gọi là Động.
Ví như ta có một nhân viên có tính năng động vui vẻ, bỗng nhiên có một ngày anh ta trầm lặng hẳn, không nói gì đến ai thì gọi là Động.
Ví như bầu trời thường ngày cũng bao vì sao nhấp nháy lung linh bỗng nhiên đêm nay có một vì sao băng, xẹt xuất hiện thì gọi là Động.
Ví như con Lu vật nuôi trong nhà thường ngày khi ta về nó chạy ra mừng vui vẫy đuôi quấn quýt, nhưng hôm nay ta về nó lại sủa khác thường xem ta như người xa lạ thì gọi là Động.
Ví như ta đang ngồi làm việc trong nhà bình thường như mọi ngày bỗng nhiên hôm nay có con thằng lằn rơi xuống trúng ta giật mình thì gọi là Động.
Khi có những hiện tượng Động Tĩnh như trên, dân gian còn thường gọi là điềm thì là lúc ta cần lấy Quẻ Dịch để “thông dịch tiếng nói của Tạo Hóa” đã mượn những hiện tượng Động Tĩnh trên để nhắn nhủ đến chính người đó hoặc cho tập thể nào đó một điều hung (xấu) hay cát (tốt) nhằm cho ta có sự chuẩn bị đón nhận hay né tránh…
Vậy khi muốn Ứng Dụng Dịch vào cuộc sống hằng ngày ta phải trải qua 3 bước:
“Bước 1”: Để quyết định dùng.
“Bước 2”: Để An Dịch Tượng (lập quẻ Dịch)
“Bước 3”: Để luận Dịch tượng và đưa ra quyết định sau cùng.
Hướng kê giường người sinh năm 1977 - Năm sinh dương lịch: 1977 - Năm sinh âm lịch: Đinh Tỵ - Quẻ mệnh: Khôn Thổ - Ngũ hành: Sa Trung Thổ (Đất pha cát) - Thuộc Tây Tứ Mệnh, nhà hướng Nam, thuộc Đông Tứ Trạch - Hướng tốt: Tây Bắc (Diên Niên); Đông Bắc
Lễ giao thừa ở nhà xong, người ta kéo nhau đi lễ các đình, chùa, miếu, điện để cầu phúc cầu may, xin Phật, Thần phù hộ độ trì cho bản thân và cho gia đình. Và nhân dịp này người ta thường xin quẻ đầu năm.
Khi đi lễ, người ta kén giờ và kén hướng xuất hành, đi đúng hướng đúng giờ để gặp sự may mắn quanh năm. Ngày nay, người ta đi lễ nhưng ít người kén giờ và kén hướng.
Hái lộc
Ði lễ đình, chùa, miếu, điện xong, lúc trở về người ta có tục hái một cành cây mang về ngụ ý là lấy lộc của trời đất phật thần ban cho. Trước cửa đình cửa đền, thường có những cây đa, cây đề, cây si cổ thụ, cành lá sum suê, khách đi lễ mỗi người bẻ một nhánh, gọi là cành lộc.
Cành lộc này mang về người ta cắm trước bàn thờ cho đến khi tàn khô. Với tin tưởng lộc hái về trong Ðêm giao thừa sẽ đem lại may mắn quanh năm, người Việt Nam trong buổi xuất hành đầu tiên bao giờ cũng hái lộc. Cành lộc tượng trưng cho tốt lành may mắn.
Về tục xuất hành cũng như tục hái lộc, có nhiều người không đi trong Ðêm giao thừa, mà họ kén ngày tốt giờ tố trong mấy ngày đầu năm và đi đúng theo hướng chỉ dẫn trong các cuốn lịch đầu năm để có thể có được một năm hoàn toàn may mắn.
Hướng lộc
Có nhiều người trong lúc xuất hành đi lễ, thay vì hái lộc cành cây, lại xin lộc tại các đình đền chùa miếu bằng các đốt một nắm hương hoặc một cây hương lớn, đứng khấn vái trước bàn thờ, rồi mang hương đó cắm tại bình hương bàn thờ Tổ tiên hoặc bàn thờ Thổ công ở nhà.
Ngọn lửa tượng trưng cho sự phát đạt. Lấy lửa tự các nơi thờ tự mang về, tức là xin phật thánh phù hộ cho được phát đạt tốt lộc quanh năm. Trong lúc mang nắm hương từ nơi thờ tự trở về, nhiều khi gặp gió, nắm hương bốc cháy, người ta tin đó là một điềm tốt báo trước sự may mắn quanh năm. Thường những người làm ăn buôn bán hay xin hương lộc tại các nơi thờ tự.
Khả năng giao tiếp khéo léo lại hòa đồng, thân thiện với mọi người, hơn nữa lại trời sinh "số hưởng" nên 5 con giáp có phúc khí dưới đây thường khiến người ta ghen tị.
► Lịch ngày tốt gửi đến bạn đọc công cụ xem bói tử vi chuẩn xác theo ngày tháng năm sinh
Những con giáp có phúc khí lớn, trời sinh "số hưởng":
1. Tuổi Mùi
“Ngu nhân hữu ngu phúc” luôn chịu thua thiệt với người cũng là một cái phúc của người tuổi Mùi. Bất kể chuyện gì tuổi Mùi thường không thích tranh luận, đôi co, cố gắng giữ hòa khí.Mọi người chung sống với bạn luôn cảm thấy rất nhẹ nhàng, đồng thời tràn đầy tình thương và tinh thần cống hiến, giúp đỡ và hy sinh vì người khác. Có đôi lúc cũng bị tiểu nhân bắt nạt hoặc hãm hại nhưng phần lớn bạn luôn được bình an, hạnh phúc bởi sự nhân ái của bạn.
2. Tuổi Hợi
Tính cách tương đối khảng khái, luôn chu đáo nhiệt tình với tất cả mọi người cho nên nhân duyên rất vượng, bạn bè đông.Tuy không bon chen, không vụ lợi nhưng mỗi khi gặp khó khăn bạn luôn có rất nhiều người cùng chung tay giúp đỡ bạn.
3. Tuổi Ngọ
Người tuổi Ngọ sinh ra đã phúc dày, mệnh lớn. Hơn nữa, họ cũng luôn mang tinh thần trượng nghĩa, bạn bè khó khăn chỉ cần nói một tiếng họ luôn ra tay giúp đỡ không toan tính cho dù là tiền bạc hay sức lực.Cũng có nhiều khi bạn bị bạn bè quay lưng hoặc phản lại nhưng cũng không làm thay đổi được tinh thần trượng nghĩa của bạn. Không có lý gì một người chân thành như bạn sẽ không được hưởng phúc. Chính bạn bè là người luôn mang đến cho bạn vận may trong cuộc đời. Con giáp có phúc khí này sẽ vì thế mà được hưởng sung sướng cả đời.
4. Tuổi Mão
Tuy tính đa nghi luôn theo bạn cả đời nhưng nếu như đã quyết định kết bạn với ai thì bạn luôn tin tưởng và chân thành với bạn bè không phân biệt tuổi tác, thời gian, thân phận hay địa vị xã hội. Chân thành đổi lấy chân thành chính vì thế mà bạn luôn là người “ở hiền gặp lành”.
5. Tuổi Thân
Tuổi Thân là một trong những con giáp có phúc khí trong 12 con giáp. Tuy không có được tinh thần hy sinh cống hiến cao, thậm chí có lúc làm việc tốt là vì mình chứ không phải vì người khác nhưng họ vẫn là người luôn may mắn và được hưởng phúc.Có lúc vô tình giúp ai đó mà bạn quên lãng không biết rằng chính sự giúp đỡ của bạn đã giúp họ thay đổi được cuộc đời và quay lại tìm bạn báo đáp.
ST.
Người yêu tuổi Mùi, gặp toàn chuyện vui3 con giáp đau đầu vì chuyện tình cảm trong tháng 11Bật mí lý do nên chọn cô gái tuổi Dậu làm vợ Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Thanh Vân (##)
Lễ chạm ngõ, lễ ăn hỏi, lễ cưới là những nghi lễ quan trọng khi con cái lập gia đình, Gia đình hai bên trai, gái đều phải làm lễ yết cáo Gia Thần, Gia Tiên
Các cụ ta xưa có câu ”Trai khôn dựng vợ, Gái khôn gả chồng”, từ cổ chí kim HÔN – NHÂN bao giờ cũng được xem là việc quan trọng của cả một đời người. Khi hai gia đình nhà trai, nhà gái quyết định tác hợp cho hai trẻ nên vợ nên chồng và tiến hành các thủ tục: lễ chạm ngõ, lễ ăn hỏi, lễ cưới. Vào các ngày tiến hành các nghi lễ này thì gia đình bên nhà trai và nhà gái đều phải làm lễ yết cáo Gia Thần, Gia Tiên.
1. Sắm lễ:
Ngày lễ Chạm Ngõ, gia đình nhà trai làm mâm lễ mặn xôi, gà cúng Gia Thần, Gia Tiên để trình báo việc hệ trọng của chàng trai. Lễ Chạm Ngõ nhà trai mang sang nhà gái gồm: Một cơi trầu (12 mớ trầu), cau bổ tư hoặc để cả buồng, mứt sen, trà, rượu, thuốc lá, một thiếp vàng. Cha cô dâu tương lai mang lễ này đặt lên bàn thờ Gia Thần Gia Tiên để cúng trình báo về việc hệ trọng của con gái.
Lễ ăn hỏi: Nhà gái nhận lễ ăn hỏi của nhà trai gồm: Trầu, cau, trà, rượu, thuốc lá, bánh cốm, bánh phu thê (su xê) theo yêu cầu của mình rồi đặt lên bàn thờ cúng Gia Thần, Gia Tiên. Sau lễ ăn hỏi nhà gái đem chia lễ ăn hỏi cho họ hàng, bạn bè, người thân, cơ quan… Khi chia lễ ăn hỏi người chia lễ đưa thiệp mời dự đám cưới có ngày giờ đã chọn.
Lễ cưới được tổ chức vào ngày lành tháng tốt do hai bên gia đình chọn.
2. Văn khấn:
Khi gia đình có hỷ sự: trai lấy vợ, gái gả chồng, nhà trai và nhà gái đều phải làm lễ yết cáo Gia Thần, Gia Tiên sau khi dâng lễ, thắp hương thì khấn:
Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)
Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư phật mười phương.
Con kính lạy Hoàng thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.
Con kính lạy ngài Bản cảnh Thành hoàng, ngài Bản xứ Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân cùng chư vị Tôn thần.
Con kính lạy tiên họ..... chư vị Hương linh.
Tín chủ (chúng) con là:........ Ngụ tại:…
Hôm nay là ngày..... tháng.... năm .......
Tín chủ con có con trai (con gái) tên là….. kết duyên cùng ......
Con của ông bà .......................
Ngụ tại:........................................
Nay thủ tục hôn lễ đã thành. Xin kính dâng lễ vật, gọi là theo phong tục nghi lễ thành hôn và hợp cẩn, trước linh toạ Ngũ tự Gia thần chư vị Tôn linh, truớc linh bài liệt vị gia tiên chư chân linh xin kính cẩn khấn cầu:
Phúc Tổ Di Lai,
Sinh trai có vợ (nếu là nhà trai),
Sinh gái có chồng (nếu là nhà gái)
Lễ mọn kính dâng,
Duyên lành gặp gỡ,
Giai lão trăm năm,
Vững bền hai họ,
Nghi thất nghi gia,
Có con có của.
Cầm sắt giao hòa
Trông nhờ phúc Tổ.
Chúng con lễ bạc tâm thành, xin được phù hộ độ trì.
Việc chọn bạn đời và đối tác làm ăn vô cùng quan trọng đặc biệt là người vợ, người chồng. Bởi vì người vợ, người chồng là người gắn bó mật thiết như một với bản thân mỗi người, cùng ăn ở, chung sống với mình suốt cả cuộc đời. Nếu chọn được bản mệnh v
ới những tố chất về Âm Dương, Ngũ Hành phù hợp thì hai vợ chồng sẽ được tốt lành, bản mệnh được hỗ trợ, nâng đỡ sẽ tốt hơn nhiều so với khi chưa lập gia đình.
Ngược lại, nếu những yếu tố về Âm Dương, Ngũ Hành không phù hợp sẽ làm giảm sự tốt lành của cả hai bản mệnh, hai vợ chồng sẽ vất vả, thậm chí có trường hợp không hạnh phúc đi đến đỗ vỡ về hôn nhân.
Việc chọn lựa người bạn đời với một tình yêu thực sự, hợp tính tình, và quan trọng hơn nữa là Âm Dương, Ngũ Hành phối hợp hoàn hảo thiết tưởng là một việc vô cùng cần thiết của mỗi người trước khi tiến đến hôn nhân. Để chọn lựa người vợ, người chồng cần thực hiện theo hai tiêu chí là Âm Dương và Ngũ Hành phù hợp.
Việc chọn tuổi tác bạn bè để hợp tác làm ăn, thì nên dựa bát sát này sẽ dễ hiểu hơn, ngoài ngũ hành và tương sinh. Vì đối với tuổi vợ chồng thì nên dựa vào cung sanh còn đối với bạn bè hoặc đối tác làm ăn chung thì nên dựa vào cung phi.Ví dụ : tuổi Đinh Mùi (1967), lấy vợ tuổi Nhâm Tý (1972) thì tuổi Đinh Mùi cung sanh là Đoài, tuổi Nhâm Tý cung sanh là Chấn thì sẽ cho ra Tuyệt Mạng (xấu vừa). Nhưng đối với cung phi thì lại tốt vì tuổi Đinh Mùi là Càn, Nhâm Tý là Cấn.
Tuy nhiên có nhiều trường hợp xảy ra.
Ví dụ : có 2 người hùn hạp làm ăn, nhưng cung phi 2 người không hạp thì sẽ dễ đổ vỡ, thất bại trong làm ăn. Nhưng ngược lại, nếu có người thứ 3 hùn vào thì có thể chuyển hóa từ xấu thành tốt.
Đoán tính cách và tương lai qua chiếc cằm - Xem bói - Xem Tử Vi
Đoán tính cách và tương lai qua chiếc cằm, Xem bói, Xem Tử Vi, xem bói, xem tử vi Đoán tính cách và tương lai qua chiếc cằm, tu vi Đoán tính cách và tương lai qua chiếc cằm, tu vi Xem bói
- Hàm rộng: Người sở hữu chiếc hàm rộng thường rất quyết đoán, hơi kiêu ngạo nhưng thẳng thắn và đáng tin. Họ có may mắn trở thành những người quyền lực trong tương lai. Ngoài ra, họ cũng rất cứng đầu, luôn tin tưởng vào những điều đã chọn, rất khó bị ảnh hưởng bởi những ý kiến, tác động từ xung quanh.
- Hàm ngắn: Thường là những người có tính tình trầm lắng, nhút nhát và không thích thể hiện bản thân. Họ không thích “vác tù và hàng tổng” mà chỉ muốn làm theo những gì được chỉ đạo, giữ cho bản thân tâm hồn nhẹ nhàng và thảnh thơi.
2. Cằm
- Cằm tròn: Những người này thường rất tò mò, ham học hỏi. Một khi đã thắc mắc vì điều gì, họ quyết tâm tìm hiểu cho ra mới thôi. Họ yêu thích những bằng chứng, câu trả lời xác đáng chứ không mấy tin tưởng vào những điều thuộc về tâm linh, cảm giác.
Cằm nhọn: Là người cực kỳ cá tính, thu hút, nhưng cũng thất thường và khó đoán. Họ rất độc lập và quyết tâm, luôn khao khát mạnh mẽ và theo đuổi tới cùng những gì mình đã chọn. - Cằm vuông: Người cằm vuông tính tình thẳng thắn, có gì nói nấy, không toan tính và rất được mọi người yêu quý. Trong cuộc sống họ gặp nhiều may mắn, đặc biệt là về vấn đề tiền bạc.
- Cằm nhỏ, hẹp: Những người này thường rất kín đáo, sống ích kỷ và sở hữu “cái tôi” cực kỳ cao.
- Cằm rộng: Là người vui vẻ, dễ tính, dễ gần, rất đáng yêu và thường được nhiều người yêu quý. Họ cũng gặp nhiều thành công trong cuộc sống, nhưng không phải nhờ bản thân mà nhờ may mắn và sự trợ giúp của mọi người.
- Cằm ngắn: Những người sở hữu chiếc cằm ngắn rất thông minh, có đầu óc và năng khiếu kinh doanh. Họ gặp nhiều may mắn và thành công lớn khi tham gia vào các hoạt động thương mại, đầu tư buôn bán… ngay cả khi tuổi đời còn rất trẻ.
- Cằm dài: Những người này cũng sở hữu “cái tôi” rất cao, hay tự ái, hay dỗi hờn và rất khó chiều.
- Má lúm đồng tiền: Họ có tính tình dễ thương vui vẻ, hay mơ mộng, sống không thực tế, rất đáng yêu và luôn chăm chỉ trong mọi việc.
- Cằm gẫy: Thường có tính cách yếu đuối, nhạy cảm, dễ bị tổn thương, mau nước mắt.
xem boi cam, xem boi tinh cach, xem boi tuong lai, xem boi Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Ngọc Sương (##)
30/9 âm lịch đản sinh Dược Sư Phật, Đông Phương Tịnh Lưu Ly Thế Giới Giáo chủ. Hướng tới người với lòng thành kính, tịnh tâm và hiểu về công đức vô lượng.
30/9 âm lịch đản sinh Dược Sư Phật, Đông Phương Tịnh Lưu Ly Thế Giới Giáo chủ. Hướng tới người với lòng thành kính, tịnh tâm và hiểu về công đức vô lượng.
Dược Sư Phật hay Dược Sư Như Lai, Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, đại Y Vương Phật, Y Vương Thiện Thệ, 12 nguyện vương, có ý nghĩa tiễu trừ mọi điều xấu xa gian ác cũ kĩ. Dược Sư Phật trong quá khứ, khi qua đời từng phát 12 đại nguyện, nguyện giúp chúng sinh giải trừ khó khăn, khiến ai ai cũng có cội rễ, dẫn dắt mọi người giải thoát khổ đau.Dựa vào 12 đại nguyện thành Phật, ngụ ở Tịnh Lưu Ly thế giới, quốc thổ trang nghiêm như Tây Phương Cực Nhạc Thế Giới. Dược Sư Phật hiện thân mỗi khi có nhân thân hoạn bệnh, đau ốm khổ sở, lúc người lâm chung, đêm tận số. Lúc này nên tận tâm cung dưỡng lễ bái Dược Sư Phật, đọc tụng “Dược Sư Như Lai bổn, nguyện Công Đức kinh” trong 49 ngày, đốt 49 cây nến, tạo 49 lá cờ ngũ sắc thì có thể kéo dài tính mạng, giảm bớt đớn đau. Hình tượng của Dược Sư Phật theo ghi chép của “Dược Sư Lưu Ly Quang Vương dưỡng pháp” ghi chép thì ngài tay trái nắm thuốc khí Vô Giới Châu, tay phải kết Tam Giới Ấn, một thân áo cà sa, kết ngồi xếp bằng trên đài Liên Hoa, dưới đài có 12 Thần Tướng theo hầu.
12 Thần Tướng thề nguyện bảo vệ Dược Sư pháp môn, đem 7000 quỷ sứ thân thuộc, phân tán các nơi, hộ hữu Dược Sư Phật nắm được tên gọi chúng sinh. Xung quanh Phật Dược Sư tỏa ánh sáng chói lòa của hai vị hiếp thị là Nguyệt Quang Bồ Tát và Nhật Quang Bồ Tát. Hai vị hiếp thị Bồ Tát ở Tịnh Thổ Dược Sư Phật, đôi khi có cả sự xuất hiện của Quan Âm Bồ Tát nhưng không thường xuyên. Ngoài ra còn có Văn Thù Sư Lợi, Thế Chí, Bảo Đàn Hoa, Dược Vương, Dược Thượng, Vô Tận Ý, Di Lặc, Quan Âm – 8 vị Bồ Tát theo hầu.Ngày 30/9 âm lịch là ngày Dược Sư Phật đản sinh, hãy luôn ghi nhớ đức ơn và cung dưỡng ngài, nhất là lúc ốm đau hoạn nạn, mong ngài che chở, trợ giúp, hạn chế tai ương. Ước nguyện Đức Dược Sư, đọc một lần ứng nghiệm cả trăm năm (Lichngaytot) Ngày mùng 1 tháng 5 âm lịch, chúng sinh sắm lễ hương hoa trà quả tôn kính tưởng nhớ ông bà cha mẹ. Chúng tôi xin gửi tới quý độc giả 12 lời đạiTrần Hồng Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Ngọc Sương (##)