Những giấc mơ lành –
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Thanh Vân (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Thanh Vân (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
Tranh phong thủy phòng khách thường có chủ đề phong cảnh, con người hay động vật. Song, treo ở đâu và treo tranh gì lại là vấn đề không thể đại khái, qua loa. Tranh treo tường không chỉ là một tác phẩm nghệ thuật đẹp vì mang vẻ tự nhiên hoặc mang dấu ấn của một nghệ sĩ nào đó mà theo phong thủy, nó còn có thể mang lại hạnh phúc hay tăng cường dòng chảy năng lượng trong không gian ngôi nhà của bạn. Vì thế, để phát huy tối đa dòng chảy của năng lượng tích cực, bạn nên lưu lý khi lựa chọn tranh phong thủy phù hợp cho phòng khách vì chúng quan trọng hơn những gì bạn nghĩ
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
Theo phong thủy, việc quan sát xem một người ngủ ở vị trí nào là có thể cho thấy vận thế và tính cách người đó. Vị trí kê giường và mối quan hệ giữa hai vợ chồng cũng có mối liên quan khăng khít với nhau.
Phòng ngủ phía Tây
Phòng ngủ ở phía chính Tây, đầu giường lại hướng về phía Tây khiến gia chủ thường hay ngủ nướng, người chồng thường lơ là, lạnh nhạt với vợ. Vì vậy, cần cố gắng kê giường ngủ sát vào hướng Bắc, hoặc đầu giường quay về hướng Đông, hướng Nam hoặc chuyển phòng ngủ về vị trí trung tâm căn nhà. Phương vị này có tác dụng thúc đẩy, làm tăng nguồn năng lượng, đặc biệt với người tuổi Dậu.
Phòng ngủ phía Bắc

Tại vị trí này, trường khí trong phòng quá thịnh cho thấy vận thế tiền tài và tình yêu đều do cần cù, chịu khó, chịu khổ mà có được. Nếu để lò sưởi ở hướng chính Bắc sẽ làm suy giảm tiền tài và sự nghiệp. Người phụ nữ ở trong căn phòng hướng này đa số thường rất đôn hậu, biết giữ gìn gia đạo.
Phòng ngủ chính Đông Bắc
Nếu phòng ngủ của hai vợ chồng được đặt theo hướng này, họ sẽ thường xuyên phải chuyển nhà, hoặc người chồng thường hay thay đổi công việc, rất lãng phí về mặt tiền bạc. Vì vậy, cần giữ cho căn phòng luôn gọn gàng, sạch sẽ để có thể nâng cao tài vận và sức khỏe, hơn nữa còn có thể có được tài sản bất ngờ. Phòng ngủ ở hướng Đông Bắc thường mang lại may mắn cho những người tuổi Sửu và tuổi Dậu.
Phòng ngủ phía Đông
Chứa đựng nguồn năng lượng vô hạn, phòng ngủ phía Đông rất thích hợp với những người trẻ tuổi. Người nằm ngủ ở vị trí này sẽ có một cuộc sống vô cùng năng động, tuy nhiên họ lại thiếu kiên nhẫn và dẽ nóng giận. Phòng ngủ hướng về phía Đông thường đem lại may mắn cho người sinh năm Mão.
Phòng ngủ phía Đông Nam
Phòng ngủ phía Đông Nam cho thấy tình cảm vợ chồng luôn hòa thuận, có mối nhân duyên rất tốt đẹp. Những người tuổi Thìn, Tỵ nên chọn căn phòng ngủ có hướng Đông Nam là tốt nhất.
Phòng ngủ phía Nam
Phòng ngủ phía Nam thể hiện mối quan hệ vợ chồng luôn hòa thuận, vui vẻ. Ánh sáng trong phòng luôn tràn trề, vợ chồng sẽ hòa thuận, quan tâm lẫn nhau, nhưng rất khó gặp may mắn về tài vận, bới vậy không nên chơi chứng khoán hay mua trái phiếu. Phòng ngủ ở hướng này có thể đem đến trí tuệ và vẻ đẹp cho người tuổi Ngọ.
Phòng ngủ phía Tây Nam
Phòng ngủ phía Tây Nam thể hiện vận khí của hai vợ chồng luồn được hanh thông. Tính cách hai vợ chồng thường rất ổn định, thể hiện rõ nhất là ở người phụ nữ. Người vợ thường rất cần cù, chịu khó, ít kêu ca phàn nàn nhưng lại mau già. Phương vị này đem lại may mắn cho người tuổi Mùi, Thân.
Phòng ngủ ở giữa căn nhà
Ở vị trí này, người phụ nữ thường là mẹ hiền, vợ đảm. Ở giữa tượng trưng cho bậc đế vương, vì vậy người nằm ở vị trí này rất có thể trở thành nhân vật lớn, có quyền uy.
Bánh su sê làm bằng bột đường trắng, dừa, đậu xanh và các thứ hương ngũ vị, nặn hình tròn, bọc bằng hai khuôn hình vuông úp lại với nhau vừa khít, khuôn làm bằng lá dừa, lá cau hoặc lá dứa, vỏ để nguyên không luộc để giữ màu xanh thắm.
Sở dĩ gọi là bánh phu thê (chồng vợ) vì đó là biểu tượng của đôi vợ chồng phận đẹp duyên ưa: vuông tròn, trong trắng mềm dẻo, ngọt ngào, thơm tho, xanh thắm, đồng thời cũng là biểu tượng của đất trời (trời tròn, đất vuông) có âm dương ngũ hành: Ruột trắng, nhân vàng, hai vỏ xanh úp lại buộc bằng sợi dây hồng.
Chùa Kiến Sơ tọa lạc tại xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm, Hà Nội. Đây một ngôi chùa cổ, đây là Tổ đình của Thiền phái Vô Ngôn Thông. Chùa được xếp hạng Di tích lịch sử cấp Quốc gia ngày 21/2/1975.
Chùa Kiến Sơ được xây dựng rất sớm sau khi đạo Phật được truyền vào nước ta ở trung tâm Luy Lâu (làng Dâu – Bắc Ninh). Do Thiền sư Cảm Thành dựng trước năm 820. Đến năm 820, Thiền sư Vô Ngôn Thông từ Quảng Châu, Trung Quốc sang nước ta, được Thiền sư Cảm Thành tôn làm thầy, mời ở lại trụ trì chùa Kiến Sơ.
Từ đấy, chùa trở thành trung tâm của Thiền phái Vô Ngôn Thông. Sau này lên làm vua, Lý Thái Tổ rời đô về Thăng Long, đã cho trùng tu chùa và đền Phù Đổng cạnh đó. Vua cũng nhiều lần đến thăm chùa, và mời thiền sư Đa Bảo (là đời thứ 5 dòng thiền Vô Ngôn Thông) về Thăng Long bàn luận. Khi dòng thiền Vô Ngôn Thông suy thoái, chùa trở thành nơi thờ cả Tam giáo: Phật, Lão, Khổng.
Kiến Trúc: Quần thể kiến trúc chùa Kiến Sơ ngày nay khá bề thế. Cổng tam quan 5 gian chồng diêm 2 tầng. Chùa chính theo kiểu nội công ngoại quốc như nhiều ngôi chùa cổ thường thấy ở Bắc bộ. Bước qua cổng tam quan là hồ sen lớn, bao quanh là lối đi dẫn vào chùa chính. Trước tiền đường về phía bên trái có một chiếc khánh đá cổ có niên đại gần 400 năm.
Ấn tượng nhất đối với khách thập phương khi đến thăm chùa Kiến Sơ có lẽ là tòa Cửu Long (còn gọi là động Liên Hoàn) được tạo bằng đất thó, có tuổi thọ hơn 200 năm. Đây là tác phẩm nghệ thuật nhân tạo cổ xưa có kích thước lớn nhất Việt Nam: dài 8m, cao 3m, dày 2m. Tác phẩm chia thành 5 phần. 3 tòa chính diện có vòm mây, rồng xoắn bao quanh, ngự trên mây có rất nhiều tượng Phật, Bồ Tát, La Hán và các thần tướng nhà trời.
Khác với các tòa Cửu Long thường gặp ở các chùa Bắc bộ, chính giữa tòa Cửu Long thường tôn trí tượng Đức Phật Thích Ca sơ sinh, nhưng tòa Cửu Long ở chùa Kiến Sơ được biến thể với tượng Tổ sư Bồ Đề Đạt Ma, tay cầm một chiếc hài; bên trái là tượng Maza trinh nữ, bên phải là Quán Thế Âm ngự trên đầu rồng. Hai bên hông tòa trung tâm là động tội tái hiện huyền tích tôn giả Mục Kiền Liên chứng kiến mẹ ngài bị hành hạ khắc nghiệt dưới địa ngục và động Tây du ký diễn tả thầy trò Đường Tăng sang Tây Trúc thỉnh kinh.
Trong chùa có một hệ thống tượng khá phong phú, bao gồm tượng Phật, tượng Thiền sư Vô Ngôn Thông, tượng Lý Công Uẩn và mẹ của ông, tượng Khổng Tử, Lão Tử. Phía sau chùa có gác chuông, bên dưới có điêu khắc hệ thống hang động mô tả cảnh địa ngục. Trong chùa cũng còn một khánh đá cổ, tạc thô sơ.
Nội điện tôn trí bảy hàng tượng. Lớp trên cùng là tòa điện chính, có bàn thờ xây cao áp vào vách, bên trên tôn trí bộ Tam Thế Phật, có niên đại thế kỷ XVII. Ba pho thể hiện ba đại kiếp của Như Lai (quá khứ, hiện tại, vị lai) được tạo tác khá giống nhau, tóc xoắn ốc, mặt tròn đầy phúc hậu ngồi trong tư thế tham thiền trên ba tòa sen.
Bộ Tam thế được làm từ chất liệu đất thó, sơn son thiếp vàng. Sáu lớp thứ tự từ trên xuống dưới: hàng 1 là tượng A Di Đà, hàng 2 gồm năm pho tượng (tượng Di Lặc ở giữa), hàng thứ 3 là pho Quan Âm Nam Hải, Thích Ca niêm hoa tọa lạc ở hàng thứ tư, kế đến tượng Ngọc Hoàng, dưới cùng có tòa Cửu Long. Bên phải nội điện thờ năm vị Diêm vương.
Tượng Lý Thái Tổ tạc dáng một ông vua ngồi trên ghế, mình mặc áo long bào, đầu đội mũ miện, chân đi hài, hai tay nâng ngọc khuê (biểu tượng cho quyền lực) ngang ngực.
vào năm 1975.
![]() |
![]() |
| ► Xem ngày tốt xấu chuẩn xác để tiến hành các việc trọng đại theo Lịch vạn sự |
Việc xin quẻ Quan Âm (rút thẻ, xin xăm) ở các chùa chiền miếu mạo hoặc Đạo quán là tập tục được lưu truyền rộng rãi trong dân gian.
Trong suốt hàng trăm hàng nghìn năm nay, người ta vân tin tưởng vào sự linh nghiệm của việc này, cũng có người coi đó là việc nhất định phải làm sau khi vào chùa lễ Phật hoặc cúng thần, có thể là họ chỉ hy vọng rằng những lời lẽ huyền diệu sâu xa đó sẽ giúp họ xem xét, suy ngẫm lại về cuộc đời của con người. Hưởng phúc lo họa, trong họa cầu phúc, đó là tâm lý bình thường của con người. Sự lo lắng của con người đối với những điều chưa đến chính là căn nguyên cho sự lưu hành của tục xin thẻ.
Cho nên, bản thân việc xem bói, rút thẻ không hề huyền diệu, mà điều huyền diệu lại chính là lòng người, đó là trạng thái hiếu kỳ và lo lắng của lòng người đối với tất cả những điều chưa biết sẽ xảy ra trong thòi gian sắp tới. về mặt tâm lý, con người đều hy vọng có thể biết trước, dự đoán trước được tương lai, hy vọng có thể chế ngự những gì chưa đến. Con người không hề sợ những tai họa biến cố (bởi vì tai họa, biến cố không có lúc nào là không nảy sinh), điều mà con người lo sợ chính là bản thân mãi mãi không có cách nào xác định được tai họa biến cố sẽ nảy sinh vào thòi gian nào và ở nơi nào. Cho nên con người rất cần được chỉ bảo, rất cần có người thường xuyên cảnh báo bản thân trên chặng đường đời vô hình rằng: “Hãy cẩn thận! Hãy cẩn thận hơn nữa!”
Sự xuất hiện của bộ quẻ Quan Âm có lẽ bắt nguồn từ tâm lý này, cũng có thể được bắt nguồn từ sự tín ngưỡng của con người đối với Quan Thế Âm Bồ Tát. Trong “Diệu pháp Nghiêm hoa kinh” có nói rằng, nếu có hàng trăm vạn ức chúng sinh phải chịu khổ não, mà nghe đến Quan Thế Âm Bổ Tát, một lòng xưng tụng tôn hiệu của người, Quan Thế Âm Bổ Tát lập tức nghe thây tiếng của họ, và họ sẽ được giải thoát. Tin tưởng vào Quan Thế Am Bồ Tát, tại sao tất cả những điều khổ não đều có thế được giải thoát? Trọng điểm là cần phải tích đức và làm việc thiện. Nếu như con người có tâm lòng lương thiện, làm việc thận trọng, đương nhiên tâm sẽ được yên ổn, thân thể được thư thái, chắc chắn muôn việc sẽ được tôt lành.
Yêu cầu khi xin xăm /quẻ /thẻ Quan Âm thì không phức tạp, chỉ cần có sự thành tâm. Cụ thể như sau:
Nhưng, có một điều vẫn cần phải nói rõ là, những nội dung như giải thích bài thơ trên thẻ và giải thích thẻ đều là ý kiến cá nhân của tác giả, vì thế người đọc nên cố gắng vận dụng khả năng của mình để tìm hiểu về bản nghĩa của thẻ, chứ không nên nhất nahats nghe theo những kiến giải. Nhiều nội dung trong phần “tiên cơ” cũng không còn thích hợp với xã hội hiện đại, người đọc cũng nên kết hợp với học thức, trình độ, tâm trạng, hoàn cảnh và những nhân tố khác của bản thân, để tự mình thể nghiệm, như thế mới có thể có được những gợi ý thiết thực cho bản thân.
Ngoài ra, nếu như bạn hoàn toàn gửi gắm mệnh vận của mình vào việc suy đoán cát hung phúc họa, thì rõ ràng là không thỏa đáng, đối với những người vụ thực, càng là lợi ít hại nhiều. Vì thế, khi tác giả tiến hành giải thích lời văn trên thẻ, tuy dựa theo tập tục dân gian để nêu ra những ý nghĩa ẩn dụ trong lời văn của mỗi thẻ, nhưng lại nhân mạnh về các nguyên lý triết học và nhân sinh trong việc xử thế ẩn chứa ở trong đó, tức là chỉ coi lời văn trên thẻ như những lời mang tính khích lệ, cảnh báo, nhằm mục đích khơi dậy tiềm lực và ý chí của con người.
p/s: xăm Quan Âm hay bói Quan Âm đều là tên gọi khác nhau khi dân gian nói về việc đi xin quẻ Quan Âm mà thôi.
TRẦN VIỆT SƠN (tập hợp các kinh nghiệm cổ kim)
Trong số trước mở đầu loạt bài “Nguyên tắc giải đoán lá số tử vi”, chúng tôi đã cống hiến quý bạn những “chất liệu”, “dụng cụ” để quý bạn sử dụng trong việc giải đoán. Kỳ này chúng tôi xin nêu lên nguyên tắc đầu tiên để ước tính 1 cung Mạng hay hoặc dở, tức là 1 đời người nói chung tốt hoặc xấu.
Các nhà tướng số theo các sách cổ thường nêu lên 1 yếu tố lấy trong tử bình:
- Lấy can chi của năm, tháng, ngày, giờ sinh rồi xét Âm Dương và xét các hành- Cùng Dương hay cùng Âm là tốt (nhất là cùng Âm thì cuộc đời an lành, không vận hạn)
- Không được thế thì năm Âm, tháng Âm cũng được
- Năm tháng ngày giờ sinh đều có hành (Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ). Nếu được năm sinh tháng, tháng sinh ngày, ngày sinh giờ là tốt. Nếu khắc nhau thì giảm kém
- Muốn xác định yếu tố đó, phải xem Vạn Niên Lịch và lại phải theo tiết khí chứ không theo tử vi. Vì phải xem Vạn Niên Lịch và theo nguyên tắc Tử Bình cho nên phức tạp. Bởi thế, nhiều cao thủ tử vi bỏ yếu tố đó và chỉ xét những yếu tố khác:
Hai yếu tố đầu không xác định vào chi tiết, chỉ nêu lên sự kiện tốt hơn lên hay giảm bớt đi. Các yếu tố 3,4,5,6,7 đi vào chi tiết, cho phép xác định nhiều sự kiện trong cuộc đời về hình tướng, sức khỏe, tính tình, công danh và việc làm, thế đứng trên bậc thang xã hội
Sau khi chúng tôi trình bày yếu tố, chúng tôi sẽ ngược trở lại để xếp đặt phép giải đoán chung
YẾU TỐ 1: MỆNH & CỤC
- Mệnh có hành, Cục có hành
- Hành Mệnh sinh cho hành Cục: tốt nhiều
- Hành Cục sinh cho hành Mệnh: tốt vừa
- Hành Cục khắc hành Mệnh: xấu vừa
- Hành Mệnh khắc hành Cục: xấu
Như người mệnh Kim, cục Thủy được tốt vì sinh. Bị giảm hay được tốt có nghĩa là giảm đi hay tốt hơn so với những giải đoán trên lá số. Sự giảm đi hay tốt hơn không được chính xác là bao nhiêu. Ở đây còn tùy kinh nghiệm. Nhiều cao thủ tử vi không quá chú trọng yếu tố này
YẾU TỐ 2: VỊ TRÍ CUNG MỆNH
Người ta gọi “Mệnh Dương cư Dương vị”, “Âm cư Âm vị” là tốt. Còn Mệnh Dương cư Âm vị, Âm cư Dương vị là kém tốt
- Các tuổi Tí, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất là tuổi Dương
- Các tuổi Sửu, Mão, Tị, Mùi, Dậu, Hợi là tuổi Âm
- Tuổi Dương mà Mệnh đóng ở cung Dương trên lá số là tốt
- Tuổi Âm mà Mệnh đóng ở cung Âm (tức các cung Sửu, Mão Tị, Mùi, Dậu, Hợi) là tốt
- Trái lại, tuổi Dương mà Mệnh đóng cung Âm, tuổi Âm mà mệnh đóng cung Dương là xấu
Tốt tức là tăng độ số tốt, xấu tức là giảm độ tốt
YẾU TỐ 3: CHÍNH TINH THỦ MỆNH
Ở cung Mệnh có 1 hay 2 chính tinh thủ Mệnh chỉ về vận mạng đại cương của người (vị trí cao thấp trong xã hội), hình tướng, tính tình, có thể luôn cả sự giàu nghèo, hướng đi trong đời, nghề nghiệp…Đó là cung quan trọng nhất
Đoán Mệnh, thật ra phải kèm luôn cả các yếu tố 4,5,6,7. Nhưng chúng tôi hãy chỉ xin nêu lên các yếu tố chính tinh thủ Mệnh.
Như đã ghi trong số trước, 1 chính tinh có 1 vị trí trên lá số, vị trí đó tốt giúp cho chính tinh có tất cả các hiệu lực, hay vị trí hãm khiến mất hết hiệu lực và có thể thành xấu nữa. Tùy theo vị trí, chính tinh có thể:
Tuy nhiên, vì 1 chính tinh còn Âm Dương, phương hướng, vả lại có những kinh nghiệm thêm vào, cho nên việc ấn định vị trí miếu hay hãm lại không hẳn theo hành. Theo bảng ghi, thì Thiên Tướng miếu tại cung Dần Thân, vượng tại Thì, Tuất, Ngọ, đắc tại Sửu Mùi Tị hợi, hãm tại Mão Dậu.
Có thể làm 1 cuộc so sánh: 1 chính tinh giống như 1 ông cò trọng nhậm ở 1 địa phương: địa phương đó thuận tiên, thích hợp thì ông Cò có thực quyền (nhập miếu, đắc địa); địa phương đó xấu, gặp nhiều người to chèn ép thì ông cò sợ sệt, không có quyền (hoặc có thể kể như ông cò về hưu). Nhưng chưa phải mệnh gặp chính tinh miếu mà là được ảnh hưởng tốt, cũng không phải gặp chính tinh hảm mà là xấu. Còn phải xét Âm Dương của chính tinh nữa. Tùy theo Âm Dương mà chính tinh có thể ảnh hưởng hay không.
Nếu mình tuổi Dương mà chính tinh là Dương thì chính tinh không ảnh hưởng vào mình (không khắc, cũng không sinh dưỡng tốt, kể như chính tinh trung lập đối với mình). Nhưng nếu chính tinh là Âm thì sẽ có trọn ảnh hưởng nếu nhập Miếu, vượng địa hay đắc địa, để ảnh hưởng tốt (sinh dưỡng cho Mệnh) hay xấu (khắc Mệnh).
Cụ Hoàng Hạc giải thích sự kiện Âm Dương theo Dịch Lý, cũng tương tự như các cực của 1 thanh nam châ,: cực Dương và Dương đẩy nhau, cực Âm và Âm đẩy nhau (tức không biết đến nhau, không ảnh hưởng vào nhau). Các cực Dương và cực Âm mà gặp nhau thì hút nhau tức là có ảnh hưởng vào nhau, sinh dưỡng tốt, hoặc là khắc xấu).
Như thế, về 1 chính tinh có tốt cho mình hay không cần phải xem chính tinh có vị trí tốt hay không (miếu vượng đắc hãm), chính tinh có Âm Dương để đạt ảnh hưởng vào đương số hay không, và chính tinh có hành khắc Mệnh hay sinh phò cho mệnh.
Vậy thì 1 chính tinh miếu vượng đắc địa phải có Âm Dương khác với Âm Dương của tuổi và phải có hành sinh cho hành của mệnh mới là tốt.
Ví dụ: người tuổi Mùi, tức tuổi Âm, mạng Hỏa, chính tinh ở cung Mệnh là Vũ khúc tại Sửu (miếu). Vũ khúc là Âm Kim, đồng với tuổi Âm thì Vũ khúc không có ảnh hưởng với tuổi Mùi.
Người tuổi Mão tức tuổi Âm, mạng Hỏa, chính tinh ở cung Mệnh tại Dần là Thiên Tướng (Dương Thủy). Tại Dần Thiên Tướng miếu, thuộc Dương là có ảnh hưởng với tuổi Âm, nhưng hành Thủy lại khắc mạng Hỏa. Vậy Thiên Tướng ở đây tuy là miếu nhưng lại khắc mạng.
(Trong kỳ sau, chúng tôi sẽ xin chiếu theo các lá số để luận về ảnh hưởng của các chính tinh trước khi xét các yếu tố 4,5,6,7)
....
Để xác định 1 mệnh là tốt hay xấu và tốt xấu nghiêng về những hướng nào (tốt là giàu, có công danh, có cuộc sống ngay lành không vận hạn; xấu là nghèo, hèn, hoang tàn, hay đổi thay….), chúng ta lần lượt nhận xét các yếu tố sau này trên cung mệnh:
Ngoài nguyên tắc ấy, còn những cách nêu lên những sự giải đoán khác biệt
MỆNH TỐT
Có mệnh tốt, cuộc đời giàu sang, học hành và công danh khá giả, nếu:
Chính tinh miếu, vượng, đắc địa, có hành dưỡng cho hành mạng, không bị những hung tinh vướng vào và được thêm những bộ sao tốt sau đây (càn được nhiều càng tốt nhiều)
MỆNH XẤU
Không có chính tinh tốt và hạp mạng, mà lại gặp những bộ sao xấu thì Mệnh kém, nhiều sự rủi, nhiều vận hạn:
NHỮNG CÁCH RIÊNG BIỆT ĐỂ XÁC ĐỊNH MẠNG
Vị trí cung Mệnh Thân: phải nhìn xem vị trí cung Mệnh so với các sao trong vòng Thái Tuế. Mệnh được Thái Tuế, Quan Phù, Bạch hổ là người ngay chính, hoạt động hợp với lòng mình và dễ đạt kết quả. Mệnh ở 1 cung đối diện với 3 sao trên là thường gặp nghịch cảnh, khó đạt sở nguyện. Mệnh ở 1 cung sau cung có 1 trong 3 sao trên (theo chiều thuận thì cung đó đứng sau cung có Thái Tuế, Quan Phù, Bạch Hổ) là người kém vế, đi làm cho người khác. Cung Mệnh ở 1 cung đứng trước cung có Thái Tuế, Quan Phù, bạch hổ là người hay lấn lướt người khác nhưng phải coi chừng ăn người khác rồi cũn dẫn đến thất bại vì gặp Thiên Không tại mệnh hay tam hợp mệnh
YẾU TỐ LỘC TỒN
Phải nhìn xem đương số có được hưởng lộc tồn hay không. Như người tuổi nào thì ghi cung đó và nhìn xem cung đó hay 2 cung tam hợp có Lộc tồn hay không. Không có Lộc tồn là không được hưởng lộc trời (lộc tự nhiên và bền vững, và hạnh phúc với cuộc sống lành, không tai nạn)
Cũng có thể là cung mệnh có Lộc tồn hoặc được Lộc tồn ở tam hợp chiếu về, cũng được hưởng Lộc tồn nhưng hạn chế.
YẾU TỐ VÒNG TRƯỜNG SINH
Phải nhìn xem cung mệnh được sao gì: Được Trường Sinh, Mộc Dục, Quan Đới, Lâm Quan, Đế Vượng, Thai, Dưỡng là tốt. các sao còn lại là xấu
YẾU TỐ ĐÀO HỒNG, THIÊN KHÔNG
Phải nhìn cặp Đào hoa, hồng Loan và Thiên Không đứng với nhau tại Mệnh như thế nào:
Về chi tiết các cách, xin đón coi kỳ giai phẩm tới.
******
Về các nguyên tắc giải đoán Tử vi, chúng tôi đã kể đến sự kiện Mệnh, Cục tương sinh hay tương khắc Mạng, đó là những yếu tố rất đại cương để tăng thêm độ số hay giảm hạ độ số.
Kế đó, chúng tôi đã lần lượt kể đến các nguyên tắc đi vào chi tiết để đoán Mạng của một người:
Kỳ này, chúng tôi sẽ nêu lên những cách sao chính mà một cung Mệnh có thể gặp để thấy ngay cái tốt hay cái xấu của một vận mạng.
Ý nghĩa vòng Tràng sinh
Sao của vòng Tràng sinh gặp tại Mệnh chỉ về trạng thái, cấp bậc, trình độ sống của một người.
Vòng Tràng sinh gồm có: Tràng sinh, Mộc dục, Quan đới, Lâm quan, Đế vượng, Suy, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt, Thai, Dưỡng.
Cách an các sao trong vòng Tràng sinh dễ đúng với nguyên tắc giải đoán sau:
Giải đoán
Tùy theo cung Mệnh có sao nào của vòng Tràng sinh mà có một ý nghĩa (xin chú ý rằng đây chỉ là một yếu tố để còn phối hợp với các yếu tố khác). Thí dụ: được Đế vượng là được trạng thái sống rất tốt, rất thuận lợi, nhưng nếu các thế sao khác lại hỏng thì đương số được sự thuận lợi để đạt đến mức độ thấp kém hơn như các sao khác cho phép.
Mệnh gặp Tràng sinh (ngay tại cung Mệnh): khỏe mạnh, ít vận hạn, ra đời ở thế khác ngay.
Mệnh có Mộc dục, sinh ra ở trạng thái như tuổi dậy thì, có nhiều triển vọng để tiến.
Mệnh có Quan đới, Lâm quan, hay Đế vượng, có nhiều điều kiện dễ dàng đạt được những bằng cấp, chức vị.
Mệnh có Suy: cuộc đời sút kém, nhưng ít thôi (trạng thái vừa suy sau khi vượng tột bậc).
Mệnh có Bệnh: cuộc đời suy giảm hoặc có cản trở, có bênh làm suy giảm sinh hoạt (đại mạng như Khổng Minh, gặp Suy, cũng vẫn trở nên quan sựu vạn đại nhờ các thế sao tốt, nhưng cuộc đời bị suy giảm, gặp Bệnh cũng tương tự).
Mệnh có Tử: cuộc đời suy kém nhiều (làm nghề cao quý, cũng suy giảm).
Mệnh có Mộ: cuộc đời phẳng lặng ở chỗ tối (không chừng lại đạt hạnh phúc) vì không tham vọng và được sống yên.
Mệnh có Tuyệt: cuộc đời tầm thường, không được nhắc tới.
Mệnh có Thai: cuộc đời có những mầm hé nở để vươn lên.
Mệnh có Dưỡng: cuộc đời tốt, tu tâm dưỡng tính càng tốt.
Các thế chính tinh và trung tinh, hung tinh
Như đã nói mạng số muốn tốt, thì cung Mệnh cần phải có chính tinh miếu, vượng, đắc địa (có như vậy thì chính tinh mới sáng láng) nhưng hành của chính tinh đó cũng phải dưỡng cho Mệnh minh hay hòa thì mới tốt. Nếu chính tinh tốt mà lại khắc mình, thì xấu (còn xấu hơn cả là chính tinh hãm mà phù cho Mệnh của mình).
Vậy khi nói rằng người đó có Tham Vũ miếu tại Mùi là tốt lắm là chưa đủ, còn phải xét xem Tham Vũ đó có phù cho mình không mới được.
Chính tinh ở vào một cách nào đó, như cách Tử phủ vũ tướng, Sát phá liêm tham, Cự nhật, Cơ nguyệt đồng lương. Những cách đó không nhất thiết là tốt hay xấu, sở dĩ được nêu lên là để còn xét với những sự kiện khác, hoặc là để xét về đại vận ( như có Tử phủ, Vũ tướng, đến đại vận Sát phá liêm tham, là người có trí tuệ gặp thêm bàn tay làm việc như Cơ nguyệt đồng lương, gặp những sao nặng phá thì bị họa hại, trong khi Sát phá liêm tham lại không sợ).
Xét chính tinh, chưa đủ ấn định mạng số khá hay kém, mà còn phải xét xem các chính tinh đó được phò hay bị phá.
Nếu chính tinh tốt, mà lại gặp Tuần Triệt thì lại bị giảm kém. Nếu chính tinh hãm, gặp Tuần Triệt thì lại tốt ra.
Một chính tinh như Tử, Phủ gặp Không, Kiếp hãm thì lại bị hỏng nhưng Thiên tướng gặp Không kiếp lại không hề hấn gì. Chính tinh tốt và phò cho Mệnh là tốt, nhưng cũng phải thêm những sao như Khôi Việt, Xương Khúc, Long Phượng, Hổ Cái, Tướng ấn thì việc học hành mới giỏi, đỗ đạt cao, đường công danh tốt có chính tinh tốt mà gặp những hung tinh nặng như Không kiếp, Kình đà, Linh hỏa ở thế hại thì lại hỏng. Những hung tinh miếu vượng và nhập vào cách tốt thì lại được tốt.
Các cách thật phức tạp, kể hết ra thì đó là một cuốn tự điển giải đoán, mà có khi không thực tế bằng công trình nêu lên những nguyên tắc và các cách chính.
Bởi thế, chúng tôi sẽ chỉ nêu lên những nguyên tắc, kèm thêm một số những cách chính (như cách Hồng, Đào, Thiên không, các hung tinh, các trung tinh mạnh…) để quý bạn trông vào lá số thấy ngay những điều mình có thể giải đoán được.
Xin đón các kỳ sau các cách chính để giải đoán Mệnh.
Theo tạp chí Khoa Học Huyền Bí
Bí danh ra đời từ nửa đầu Thế kỷ 20. Người ta cần nó để ẩn danh thực (tên thật) vì những lý do “bí mật” có lẽ thế nên có tên “Bí danh”.

Nhiều trường hợp bí danh có một phần của họ tên thật. Nhưng có khi (hầu hết) bí danh lại khác hoàn toàn họ tên thật, bí danh thường dùng 2 từ như: Hồng Phương, Lĩnh Nam, Thái Phiên…
Bí danh viết tắt: N. V. C. L. N; p. V. T v.v…
Bí danh do chính cá nhân tự đặt. Nó không phải do thân tộc đặt cho. Nó không có “tiên thiên”
Bí danh mặc nhiên được giao dịch trong xã hội, trong các lĩnh vực khác nhau như: Chính trị, văn học v.v… Nó được đăng ký pháp lý. Và phần lớn nó cũng không đăng ký hợp pháp. Tính phiến diện và tùy tiện (khi dùng bí danh này lúc dùng bí danh khác)… Nó không phải “tên chính tắc” nên không dùng trong phương pháp số hóa. Trừ trường hợp lấy bí danh thay tên thật trong mọi giao dịch xã hội.
Năm mới 2016 của bạn như thế nào? Hãy xem ngay TỬ VI 2016 mới nhất nhé!
Vết bớt trên cơ thể mỗi người đều tồn tại một ý nghĩa đặc biệt riêng của nó. Có những vết bớt đem lại vận rủi cho người sở hữu, nhưng cũng có những vết bớt mang đến may mắn, tài lộc. Vậy thì, vết bớt ở vị trí nào sẽ mang đến may mắn cho chúng ta đây? Hãy cùng lịch vạn niên 365 xem thử nhé!
1. Vết bớt nằm ở mông
Nếu như khi sinh ra bạn đã có vết bớt ở mông, theo xem tướng vậy thì bạn có số mệnh phú quý, “miệng ngậm chìa khóa vàng”. Bạn luôn nhận được sự yêu quý của mọi người, làm việc gì cũng thuận lợi, là một người cả đời đều không phải lo lắng về chuyện cơm, áo, gạo, tiền.
2. Vết bớt nằm trên đường trung trực của gáy
Người có vết bớt nằm ở đường trung trực của gáy (tức đường thẳng kẻ dọc giữa gáy) chuyện tình cảm thường gặp trắc trở, dễ bị đối phương lừa dối, khổ sở. Nhưng sau nỗi đau, họ vẫn không biết sợ và lại tiếp tục mù quáng như cũ, vì thế chuyện tình cảm cứ thế vẫn mãi không thuận lợi.
3. Vết bớt nằm ở vị trí xương cụt
Theo xem bói, người có vết bớt ở vị trí này thường có học thức rộng, tài giỏi hơn người. Về nghệ thuật, cũng có tài năng thiên phú, có thể nói là "văn võ song toàn", hơn hẳn nhiều người khác. Họ hầu hết đều là người thành công, quyền cao chức trọng.
4. Vết bớt nằm ở gót chân
Người có vết bớt nằm ở gót chân, cuộc sống thường gặp nhiều trắc trở. Nếu vết bớt màu đen thì họ sẽ càng gặp vận rủi, xui xẻo liên miên.
5. Vết bớt nằm ở xương đòn
Người có vết bớt ở xương đòn thường là người ôn hòa, trong sáng, việc gì cũng lấy “dĩ hòa di quý” làm gốc, cho dù bị người khác ức hiếp, hãm hại, đều luôn duy trì thái độ “thêm một chuyện chi bằng bớt một chuyện”. Họ là một người vô cùng tốt bụng.
6. Vết bớt ở trước ngực, gần tim
Người xưa cho rằng vết bớt gần tim là vết bớt “lòng lang dạ sói”. Người có vết bớt ở vị trí này thường là người ranh ma, xảo trá, dễ dàng lật mặt, thường cho rằng bạn bè là kẻ ngốc… Nói chung, họ không phải người tốt.
7. Vết bớt nằm ở rốn
Nếu ngay giữa rốn có vết bớt thì theo nhân tướng học gọi là “vàng ẩn trong rốn”, biểu tượng cho số mệnh phú quý giàu sang. Mọi việc họ làm đều vô cùng thuận lợi, về già nhất định cũng không cần phải lo củi, gạo, dầu, muối.
>>> Năm mới 2016 AI xông đất nhà bạn? Sẽ mang lại nhiều may mắn tài lộc?
Xem ngay XEM TUỔI XÔNG ĐẤT 2016 mới nhất>>>
8. Vết bớt nằm giữa ngực và rốn
Nếu có vết bớt nằm giữa ngực và rốn, vậy thì người này thuộc dạng người có nhân duyên cực tốt: “người gặp người yêu, hoa gặp hoa nở”, bất kể đi đến đâu đều nhận được sự yêu mến và tôn trọng, đặc biệt là với người khác giới.
9. Vết bớt nằm giữa xương đòn và bả vai
Người có vết bớt ở vị trí này đối với bạn bè rất hào phóng, rộng rãi, tiêu tiền hoang phí hay nói đúng hơn là họ coi tiền như cỏ rác. Vì thế, họ không có tiền tích góp, về già dễ sa vào cảnh “nghèo rớt mồng tơi”, “không xu dính túi”. Lời khuyên chân thành dành cho những người này là cần học cách tiết kiệm, tích lũy một số tiền để phòng thân.
10. Vết bớt nằm bên trong bắp đùi
Vết bớt nằm bên trong bắp đùi biểu thị cho người có nội tâm vô cùng mạnh mẽ, kiên cường, trên phương diện công việc cũng có biểu hiện vô cùng xuất sắc. Nhưng có điều, số phận đã định phải bôn ba vất vả.
11. Vết bớt sau cánh tay
Người mà hai bên cánh tay có vết bớt, thường có quan hệ thân thích ruột rà rất kém. Họ không coi trọng tình thân, cũng không hề có chút ý niệm gì về không khí ấm áp của gia đình, thậm chí còn "vứt chồng bỏ con". Vì thế, sau này dễ rơi vào cảnh cô độc đến già, không ai chăm sóc.
12. Vết bớt ở giữa lưng
Theo tử vi trọn đời, vết bớt ở giữa lưng là vết bớt may mắn, biểu thị cho người cả đời được quý nhân giúp đỡ, gặp dữ hóa lành, về già con cháu đông vui, an nhàn hưởng phúc
>> Đã có VẬN HẠN 2016 mới nhất. Hãy xem ngay, trong năm 2016 vận mệnh bạn như thế nào nhé! >>
Thuật xem bói nốt ruồi của người xưa giúp chúng ta phát hiện ra nhiều bí ẩn của bản thân.
Người có nốt ruồi, như núi có rừng, đất có nước. Núi có tốt mới có rừng, đại diện cho điềm lành. Đất không tốt nên mọc cỏ dại, đại diện cho điều xấu.
Nhưng có người cho rằng người có nốt ruồi được ví như ngọc quý có tì vết, thường xuất hiện ở những người có số mệnh không tốt. Thuật xem bói nốt ruồi có quan điểm về nốt ruồi rất khác nhau. Người có bản tính tốt thì có nốt ruồi lạ, biếu hiện cho may mắn. Người có bản tính xấu thì chắc chắn có nốt ruồi xấu, biểu hiện cho sự bất hạnh. Người nào có nốt ruồi đen mọc ở nơi dễ thấy đa số là bất hạnh, mọc ở nơi kín đáo thì là gặp may, mọc ngay trên khuôn mặt là bất lợi.

Thuật xem bói cho rằng :
Nốt ruồi lạ là một nét đẹp của đá quý. Nốt ruồi xấu lại là tì vết.
Quan sát bằng mắt, có thể thấy được sự khác biệt về màu sắc. Cảm nhận bằng tâm, có thể biết được sự kỳ lạ của vị trí nốt ruồi. Những nốt ruồi có màu vàng đen và xanh lá cây đa số là do các tế bào sắc tố tạo thành, màu vàng đen biểu hiện trên bề mặt da, xanh lá cây nằm bên dưới da. Còn các nốt ruồi màu đỏ (còn gọi là nốt ruồi chu sa hay nốt ruồi son) được hình thành bởi sự khuếch trương của mạch máu. Sau đây là các bài ca quyết xưa nói về nốt ruồi.
1. Về tài lộc
Diện vô ác chí cổ nhân ngôn,
Nhất cú năng bình phúc họa môn,
Quả kiến tần tần sinh nhạc độc,
Bất thanh hồn xứ dã tiêu hồn.
Ý nghĩa: Những người không có nốt ruồi xấu trên khuôn mặt đa số đều có tài lộc hộ mệnh.
2. Về điềm lành
Diện như bích ngọc chí như hà,
Bích ngọc hà sinh tự bất gia,
Đắc đắc kỳ hà thành dị vật,
Chí viển diệu xứ sắc chu sa.
Ý nghĩa: Nếu khuôn mặt là một viên ngọc quý thì nốt ruồi là tì vết trên viên ngọc đó. Nhưng nếu là nốt ruồi lạ thì lại trở thành điều hiếm hoi, là điềm tốt lành. Nếu nốt ruồi này có màu sắc như chu sa, vận may đó càng tốt.
3. Về đại cát đại lợi
Chí hiềm lộ diện tối nghi tàng,
Lộ diện vô tai hữu họa ương,
Điểm điểm thân trung đa cát triệu,
Châu viễn ngọc nhuận bất tầm thường.
Ý nghĩa: Nốt ruồi tốt kín đáo là tốt. Nốt ruồi xấu hiện trên khuôn mặt là xấu. Trên thân mình có nhiều nốt ruồi thì đại cát, gặp nhiều vận may.
4. Về vận may
Chí như hắc tất tính chu hồng,
Ta tủ diện gian vận diệc thông,
Tối phạ tiêu hoàng vi bạch sắc,
Vô câu nam nữ hại kỳ trung.
Ý nghĩa: Nốt ruồi có nhiều màu sắc khác nhau. Nếu là màu đen và màu đỏ thì vận may sẽ tốt. Còn nếu là vàng đen hay trắng là bất lợi.
5. Về điều xấu
Ác chí sinh thành bất khả y,
Tung nhiên y đắc đới vi tì,
Khuyến quân quảng tích âm công hảo,
Ngọc khiết băng thanh khỉ hữu khuy.
Ý nghĩa: Nốt ruồi xấu do trời sinh nên không thể xóa đi, dù có xóa được cũng để lại tì vết. Cách tốt nhất là làm nhiều việc thiện để có được một tâm hồn thanh thản.
Phong tục thờ bánh chưng vào dịp Tết là sự thể hiện nét văn hóa truyền thống lâu đời của dân tộc Việt Nam, được nhân dân lưu truyền từ thời Hùng Vương (đời thứ Sáu) cho đến ngày nay, đồng thời giải thích ý nghĩa biểu trưng (khuôn hình) của bánh chưng, bánh giầy (bánh tét, bánh tày) (sẽ được bàn ở phần dưới). Hơn hết, phong tục này còn là sự khẳng định tầm quan trọng của cây lúa và thiên nhiên trong nền văn hóa lúa nước.
1. Biểu trưng của vũ trụ - nhân sinh quan
Những ý nghĩa biểu trưng về vũ trụ - nhân sinh quan qua bánh chưng, bánh giầy được thể hiện từ tên gọi, hình thể cho đến nguyên liệu làm nên nó. Trước hết, tìm hiểu bánh chưng với tư cách như một thuật ngữ. Ngỡ tưởng loại bánh này trong quá trình nấu chín, người ta phải luộc lên, nhưng nếu là "luộc" thì có gì đáng bàn. Song gọi là bánh chưng có thể rơi vào trường hợp: trong quá trình nấu bánh, người ta không cho nước tiếp xúc với vật liệu được luộc (tức là bánh), thì ắt có lẽ là hình thức hấp hoặc chưng (nấu cách thuỷ). Bởi vậy, giải thích cho tên gọi bánh chưng theo cách này có vẻ rất hợp lí.

Mặt khác, với quan niệm nhân sinh thì đây là một trong những tín ngưỡng phồn thực của người Việt Nam, bánh giầy tượng trưng cho sinh thực khí nam giới (Linga); bánh chưng, tựng trưng cho sinh thực khí nữ giới (Yoni). Tín ngưỡng phồn thực này, mới nghe tưởng như dung tục, nhưng xét cho cùng, nó rất phù hợp với quan niệm của người Việt thời tiền sử. Con người thời đó quá "bé nhỏ", yếu ớt trước thiên nhiên huyền bí.
Người ta thường áp hai bánh chưng, hoặc hai bánh giầy với nhau thành từng đôi một, thể hiện mong ước, quan niệm nhân sinh của con người rằng trong cuộc đời cần có đôi có cặp để sống với nhau đến đầu bạc răng long. Như vậy, chỉ qua hình thức của bánh và cách bày trí nó thôi, cũng đủ cho chúng ta thấy người Việt rất sâu sắc giàu quan niệm về vũ trụ, nhân sinh.
Còn ruột và nhân bánh có hàm ý biểu trưng gì chăng? Nhân bánh được nếp phủ xung quanh và phía ngoài lại được lá bao bọc, tượng trưng cho sự biết ơn công lao cha mẹ sinh thành đã thương yêu con cái mà đùm bọc, chở che, khác nào áo choàng lấy thân vậy!
2. Bánh chưng - niềm tự hào ẩm thực Việt
Trong những ngày Tết đến, xuân về, những hương vị và những vật phẩm đã trở thành quen thuộc trong dịp tết như: thịt mỡ, dưa hành, bày trí trong nhà một cành đào hay một cành mai, một bức câu đối được cắt làm đôi treo cân xứng hai bên xà nhà. Trên bàn thờ tổ tiên bày trí đủ các loại: mâm ngũ quả, kẹo bánh, mứt, rượu,... đặc biệt là bánh chưng. Tất cả đã tạo nên một không khí, không gian rất "Tết"!
Bánh chưng sau khi đã thờ cúng tổ tiên xong, được dọn xuống để mọi người cùng thưởng thức. Hẳn chúng ta sẽ không ngớt lời tấm tắc rằng bánh chưng đúng là một trong những loại thức ăn vừa ngon, béo, thơm và trông thật mĩ quan! Nó đã tôn lên niềm tự hào về văn hóa ẩm thực của người Việt Nam suốt chiều dài lịch sử. Đó là loại thức ăn vừa độc đáo, vừa gần gũi. Độc đáo ở chỗ: là loại bánh do chính người Việt Nam (Hoàng tử Lang Liêu - đời Hùng Vương thứ 6) sáng tạo nên (theo cách giải thích huyền sử về nguồn gốc bánh chưng). Từ xưa tới nay, bánh chưng, bánh giầy Việt Nam không lẫn, không phỏng theo bất kỳ thứ bánh nào của các quốc gia khác. Nó là loại thức ăn rất gần gũi với người Việt Nam, được làm nên từ những nguyên liệu không đến nỗi hiếm hoi trong dân gian như: gạo nếp, thịt heo, hành, tiêu, đậu xanh, lá dong rừng (hoặc lá chuối, lá tre...), lạt giang...và có khi thêm những nguyên liệu phụ như: quả chùm phù (lúc chín có màu đỏ), quả gấc... để tăng phẩm màu cho nhân bánh thêm đẹp.
Ngẫm ra, phong tục truyền thống thờ cúng và thưởng thức bánh chưng ngày Tết của người Việt Nam thật lắm điều thú vị. Nó vừa mang nét văn hóa tín ngưỡng tâm linh, vừa mang nét văn hóa ẩm thực. Cả hai cùng quyện lẫn vào nhau trong một chỉnh thể cân xứng giữa một bên là vẻ hình thức bề ngoài, một bên là những nguyên liệu bên trong của bánh chưng. Chỉnh thể cân xứng, thống nhất đó được thể hiện bằng "quy trình": gói, thờ cúng và thưởng thức bánh chưng như sự mặc định sở hữu về một trong những nét văn hóa đặc trưng của dân tộc Việt Nam.
Trong những ngày cuối cùng của tháng Chạp hàng năm, mọi người từ miền xuôi cho tới miền ngược, từ ven biển, đồng bằng cho tới vùng cao, từ nông thôn cho tới thành thị, thậm chí cả những kiều bào Việt Nam ở nước ngoài đều hòa chung bầu không khí an lành: đón Tết Nguyên đán. Mọi người lại hồ hởi bắt tay vào công việc gói bánh bánh chưng thờ Tết. Nếu những gia đình ở đô thị vì bận công việc, buôn bán, không có thì giờ để gói bánh chưng thì họ lại đặt mua. Thế là "thịt mỡ", "dưa hành", "câu đối đỏ", mai (đào), kẹo, mứt, rượu cùng bánh chưng xanh lại được bày biện lên bàn thờ của nhà nhà trên dải đất hình cong chữ S này trong một nét văn hóa, một nét phong tục truyền thống đặc trưng rất Việt Nam: đón Tết cổ truyền và thờ bánh chưng xanh.
Theo lamsao.com

![]() |
Mơ thấy kim là chìm trong biển khổ![]() |
| => Chuyên trang Tử vi - ## gửi đến bạn đọc công cụ tra cứu Tử vi hàng ngày, Tử vi trọn đời chuẩn xác nhất |
Thuộc tính âm dương ngũ hành của sao Hóa Quyền là dương mộc, hóa khí là quyền thế, chưởng quản việc sinh sát, chủ về quyền thế, tháo vát. Hóa Quyền còn có hàm nghĩa mở rộng là kiên định, hiển lộ là quan quý, có thể cụ thể hóa quyền thế.
Sao Hóa Quyền Thuộc mộc, ưa gặp Cự Môn, Vũ Khúc, chủ về hiển đạt nghiệp võ, nắm giữ binh quyền. Hóa Quyền trấn tại cung mệnh, cung thân, nếu gặp Hóa Lộc, Hóa Khoa thì sẽ làm quan to. Nếu gặp Hóa Khoa, sẽ có tài văn chương xuất chúng, nếu gặp thêm các sao Văn Xương, Văn Khúc, thi cử sẽ đỗ đạt cao.
Trong ba sao Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, chỉ có sao Hóa Quyền là không sợ bị sao Hóa Kỵ xung phạm, gặp Hóa Kị chỉ làm tăng thêm phần khó khăn vất vả, nhưng sau cùng có thể khắc phục được, nhất là khi chính tinh miếu vượng Hóa Quyền thì càng không dễ bị sao Hóa kị gây ảnh hưởng.
Nam mệnh trong vận hạn gặp ba sao Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, ắt sẽ có biểu hiện tiến bộ. Có điều nữ mệnh thì do giỏi giang tháo vát quá mức, lấn át cả đàn ông, nên ảnh hưởng tới chuyện tình cảm và đời sống hôn nhân.
Sao Hóa Quyền nhập miếu tại cung Sửu (thuần hậu và không bị sát tinh); đắc địa tại cung Mão và cung Thìn (là phúc, sợ sát tinh); miếu tại hai cung Dần, Mùi (phúc đến chậm, sợ sát tinh), bình hòa tại bốn cung Thìn, Ngọ, Tỵ, Hợi; không đắc địa tại ba cung Thân, Dậu, Tý.
Tài Thần cần được bày biện đúng cung tài khí của căn phòng, căn nhà. Về Âm Dương ngũ hành cũng cần phải được Ngũ Hành Âm Dương tương sinh, như thế mới tốt theo Phong Thuỷ. Tóm lại, phải có Phong Thuỷ sư xem xét cẩn thận chứ không thể tuỳ tiện bày biện.
Sơ lược các loại thần tài Có hai loại là Thiên Tài và Chính Tài. Thiên Tài đại biểu cho những thu nhập ngoài luồng không chính thống, thường nhờ sự đầu tư bất thường, may mắn, ngẫu nhiên không thường xuyên như trúng số, chứng khoán…Chính Tài là nguồn thu nhập ổn định lâu dài do nghề nghiệp hoặc đầu tư dài hạn mang lại như lương bổng, thu nhập từ việc kinh doanh buôn bán hàng ngày.
1. Chính Tài Thần Chính Tài Thần chia ra là Văn Tài Thần và Võ Tài Thần. Văn Tài Thần có hai loại là Phúc Lộc Thọ Tam Tinh (tức 3 vị tiên ông Phúc Tinh, Lộc Tinh và Thọ Tinh) và Tài Bạch Tinh Quân. Phúc Lộc Thọ cần được bày trí trên cao ở khu vực tài vượng sẽ gia tăng cả tiền tài lẫn công danh sự nghiệp.
Phúc Tinh tượng trưng cho phúc lộc bình an, Lộc Tinh tượng trưng cho gia nghiệp và tài vận hanh thông. Thọ Tinh tượng trưng cho sự thọ lâu dài bền vững. Thực sự thì chỉ có Lộc Tinh là vị chủ về tài vận còn hai vị Phúc Tinh và Thọ Tinh chủ sự an khang bền vững, kết hợp 3 vị quả là sự lý tưởng hoàn hảo.
Tài Bạch Tinh Quân là vị tiên chủ quản tiền bạc trong thiên hạ còn gọi là Kim Thần, hay Thượng Thiên Thái Bạch Tinh Quân. Về hình dáng thường mang sắc trắng, râu dài đen, tai trái cầm thoi vàng nguyên bảo, tai phải cầm quyển có ghi chữ “Tài Thần Tiến Bảo”. Việc bày trí tượng Kim Thần này đúng vị trí sẽ mang lại tài lộc ngoài sức tưởng tượng.
Võ Tài Thần có hai vị là Quan Công và Triệu Công Minh. Quan Công tức Quan Vân Trường, là vị võ tướng thời Tam Quốc đã hiển thánh. Quan Công có hai loại là tượng Hồng Y chuyên dùng trừ tà tinh quỷ mị, mang lại bình an cho gia trạch. Tượng Thái Y chuyên dùng trong các cửa hàng để chiêu tài.
Tượng Quan Công ngồi đọc sách rất tốt
cho cửa hàng, nơi buôn bán.
Triệu Công Minh tên thực là Triệu Huyền Đàn, là vị võ tướng chuyên phục hổ hàng ma, còn gọi là Tài Thần, chiêu tài hoá sát bảo vệ gia trạch bình an.
2. Tà Tài Thần Tà Tài Thần là các loại như tượng Phật bốn mặt xuất phát từ Bà La Môn Giáo, tượng phật Di Lặc, thoi vàng, bình vàng bạc,…dùng để chiêu tài, bày biện tại gia trạch cửa hàng để tăng thêm phúc lộc hoá sát thu tài.
Cách thức thực hiện phép vượng tài Văn Tài Thần bày biện tại nơi gần cửa ra vào. Hai bên tả hữu nên bày biện tượng hai vị Văn Tài là Tam Đa và Tài Bạch Tinh Quân đối diện nhau. Chủ tài vận hanh thông, vào nhiều nhập bất xuất, nếu quay ra ngoài cửa e phạm vào thế tiễn tài chủ tiền tài xuất ra ngoài không có lợi.
Vũ Tài Thần như Quan Công, Triệu Công Minh cần quay ra bên ngoài cửa để trấn áp tà khí kết hợp chiêu tài vào nhà, vừa mang lại bình an cho gia trạch vừa mang lại tài lộc.
Những vật khí thuộc Tà Tài Thần nên bày biện ở bên ngoài nhà, trong vườn nơi không gian thoáng đãng. Các vị Phật sẽ có công năng hoá giải hung hoạ đem lại sự bình an thịnh vượng cho gia chủ. Nên hạn chế bày nơi chật hẹp, trong phòng hoặc trong tủ như bị kìm hãm sẽ phát sinh tai hoạ.
Thần tài và ông địa - bàn thờ cúng gì hướng nào?
Bàn thờ Thần tài chỉ được lập ở những nơi góc nhà, xó nhà chứ không phải nơi sạch đẹp, trang trọng như bàn thờ Tổ Tiên hay bàn thờ Thổ Công. Bản chất Trường Khí phòng thờ (hay bàn thờ) thuộc tính Âm, không ưa sự phô trương, mang tính đối nội (ngay cả trong ngày giỗ hay Tết thì thờ cúng cũng là việc riêng của gia đình đó, người ngoài đến muốn thắp nén nhang phải xin phép gia chủ).
Về Ngũ Hành thì bàn thờ thuộc hành Hỏa và Mộc là 2 hành hướng lên cao và cần sự chăm sóc mỗi ngày. Trừ bàn thờ Ông Địa Thần Tài là tín ngưỡng dân gian mọi nhà giống nhau, đặt gần cửa để nghinh tiếp tài lộc, còn lại bàn thờ gia tiên và tôn giáo riêng của mỗi gia đình (thờ Phật, thờ Chúa…) nên mang tính hướng nội, không cần phải đặt ngay trong phòng khách. Ngoài bàn thờ gia tiên, ở Nam bộ, người ta còn có trang thờ, bàn thờ ông Táo, thờ ông Địa, ông Thần Tài. Trang thờ được bố trí ở trên cao, nơi gian giữa. Trên trang thờ có đôi chân đèn nhỏ, lư hương, bình bông, mâm dĩa trái cây, chung rượu, tách nước.
Bàn thờ ông Táo được đặt ở sau bếp. Đây cũng chính là vị “nhất gia chi chủ”, có nhiệm vụ coi sóc việc gia cư, định họa phước, trừ ma diệt quỷ.
Riêng các vị Thần Tài, Ông Địa chỉ thờ dưới đất, trong góc hẹp, được lý giải bởi một truyền thuyết sau:
Ngày xưa, có một người lái buôn tên là Âu Minh khi đi qua hồ Thanh Thảo được Thủy Thần cho một con hầu tên là Như Nguyệt. Âu Minh đem Như Nguyệt về nuôi, trong nhà làm ăn phát đạt, chỉ vài năm là giàu to. Về sau, đúng vào một hôm ngày tết, Âu Minh giận, bèn đánh Như Nguyệt. Sợ hãi, Như Nguyệt chui vào đống rác rồi biến mất. Từ đó, nhà Âu Minh sa sút dần, chẳng mấy lúc nghèo kiết.
Người ta bảo Như Nguyệt là Thần Tài và người ta lập bàn thờ Như Nguyệt. Từ đó, ngày tết ta có tục kiêng hốt rác ba ngày đầu năm vì sợ hốt mất Thần Tài ẩn trong đống rác đổ đi, sự làm ăn sẽ không phát đạt, tiến tới được.
Cũng có quan niệm cho rằng Thần Tài là một phiên bản của Thần Đất (Thổ Địa) – vị thần hộ mệnh của xóm làng, cai quản vùng trời, đất đai, phù hộ con người và gia súc trong xóm làng, mùa màng bội thu. Khi những cư dân từ miền Trung vào khai khẩn vùng đất Nam bộ, họ gặp phải rất nhiều khó khăn (thiên nhiên khắc nghiệt, thời tiết thất thường, thú dữ hoành hành…) và ý niệm trông mong vào các vị thần bắt đầu hình thành để giúp họ trấn an trên con đường mưu sinh.
Thần Đất cũng là một trong các vị thần bản địa được họ mang vào phương Nam để thờ phụng, cầu mong cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Dần dà về sau, thương nghiệp phát triển, kinh tế hàng hóa phổ biến, nhu cầu mua bán, trao đổi phát triển, người ta cần vàng và tiền bạc hơn. Lúc đó, vàng, tiền bạc là thước đo của cuộc sống sung túc và nghèo hèn nên Thần Tài xuất hiện. Thần Tài chẳng qua là một dạng thức khác của Thần Đất. Nếu Thần Đất là vị thần bảo hộ cây trái, hoa màu, thể hiện tính lý nông nghiệp thì Thần Tài là vị thần trông coi tiền tài, vàng bạc, là dấu ấn của thời kỳ kinh tế thương nghiệp.
Qua các thời kỳ, hình tượng của Thần Tài có ít nhiều thay đổi. Có lúc tượng Thần Tài đầu đội mũ cánh chuồn, hai tay để trên gối, mặc áo thụng, chân đi hài đảo sen, tay cầm túi vải để đựng tiền. Lại có lúc tượng Thần Tài ngồi với tư thế chân co, chân xếp, tay cầm bó lúa và đầu để trần. Sau này có loại tượng Thần Tài cầm xâu tiền hoặc cầm một thoi vàng xuồng.
Mặc dù Thần Tài được xem là một hình tượng khác của Thần Đất, nhưng tựu trung, cả hai vị thần vẫn có quyền uy giúp cho con người làm ăn phát đạt, tài lai lộc tấn. Vì vậy, cư dân Nam bộ hiếm khi thờ cúng Thần Tài một mình, mà thường thờ cúng chung với Thổ Địa – vị thần cai quản đất đai, nhà cửa. Người ta không chỉ cúng Thần Tài vào ngày tết, mà cúng quanh năm, nhất là những gia đình chuyên nghề buôn bán. Người ta tin rằng chỉ khi nào lo cho vị thần này chu đáo thì ông mới phù hộ. Sáng sớm, khi mở cửa bán hàng người ta thắp hương cầu khẩn Thần Tài “độ” cho họ mua may bán đắt, cúng cho Ông Địa một ly cà phê đen kèm theo một điếu thuốc để ông “độ” cho trong ấm ngoài êm.
Vào ngày tết, vai trò của Thần Tài càng được xem trọng hơn. Người ta lo trang hoàng nhà cửa, sửa soạn cho ông sạch sẽ, nếu vị thần này đã quá cũ hay bị hư thì sẽ thỉnh vị mới về. Họ tin rằng năm mới, mọi thứ đều ngăn nắp và Thần Tài có sạch sẽ thì làm ăn mới phát tài.
SẮP ĐẶT BÀN THỜ THẦN TÀI – ÔNG ĐỊA
Theo sơ đồ trên ta thấy : Trong cùng bàn thờ , dán trên vách là một tấm Bài vị như đã nói ở phần trên . Hai bên , bên trái ( từ ngoài nhìn vào ) là ông Thần tài , bên phải là Ông Địa . Ở giữa hai ông là một hũ gạo , một hũ muối và một hũ nước đầy . Ba hũ này chỉ đến cuối năm mới thay. Giữa bàn thờ là một bát nhang, bát nhang này khi bốc phải theo một số thủ tục nhất định ( sẽ nói rõ ở phần sau ) . Để tránh động bát nhang khi lau chùi bàn thờ , các bạn nên dùng keo 502 dán chết bát nhang xuống bàn thờ. Khi đang làm ăn tốt mà xê dịch bát nhang gọi là bị động bát nhang , mọi chuyện trở nên trục trặc liền.
Theo nguyên lý ” Đông Bình – Tây Quả ” , các bạn đặt lọ hoa bên tay phải , đĩa trái cây bên tay trái ( Nhìn từ ngoài vào ) . Thường nên cắm hoa hồng , hoa cúc , hoa đồng tiền . Trái cây nên xắp ngũ quả ( 5 loại trái cây ) . Thường ở ngoài nơi bán đồ thờ cúng , người ta có một cái khay xếp 5 chén nước hình chữ Nhất – , các bạn nên bỏ khay và xếp 5 chén nước thành hình chữ thập , tượng trưng cho ngũ phương , và cũng là tương trưng cho Ngũ Hành phát sinh phát triển . Ông Cóc để bên trái ( Từ ngoài nhìn vào ) , sáng quay Cóc ra , tối quay Cóc vào . Ngoài cùng trên mặt đất , các bạn nên chọn một cái tô sứ thật đẹp , nông lòng , đổ đầy nước và ngắt những bông hoa trải trên mặt nước. (Cái này làm Minh Đường Tụ Thủy – Một cách giữ tiền bạc khỏi trôi đi.
Một số người trong miền Nam , khi cúng Thần Tài – Ông Địa , thường cúng kèm theo một đĩa tỏi có 5 củ tươi nguyên đẹp đẽ hay nhiều khi là cả một bó tỏi . Họ cho rằng : ông địa thích tỏi lắm nên ta đặt trước mặt ổng là đúng cách , cho ổng có phương tiện để bài trừ ” các đạo chích vong binh ” ám muội . Người âm chớ cũng có người tốt kẻ xấu như thường , giống y người dương mình vậy . Tuy nhiên , qua nghiên cứu , chúng tôi cho rằng , họ dùng bó tỏi đó để phòng chống các Tà sư làm ác , phá hoại bàn thờ nhà người ta bằng Bùa , Ngải . Tỏi có tác dụng tránh được điều đó ( Các người luyện Bùa , Ngải thường kiêng ăn Ngũ Vị Tân : Hành , Hẹ , Tỏi ,nén , Kiệu ).
CÁCH ĐẶT BÀN THỜ :
Nguyên tắc đặt bàn thờ Thần Tài – Ông Địa là phải từ bàn thờ , ông Địa và Thần Tài phải quán được hết sự vào ra của khách . Có thể đặt theo hướng tốt của chủ nhà , có thể đặt theo cách hứng lấy dòng Khí bên ngoài khi vào nhà . Có thể dùng phương pháp Điểm Thần Sát để tính , chọn lấy các cung THIÊN LỘC ,QUÝ NHÂN để đặt vị trí bàn thờ .
HƯỚNG BÀN THỜ THEO CUNG TỐT CỦA GIA CHỦ.
1/ THIÊN LỘC : Lộc là phương Lâm quan của Tuế Can , tính của Ngũ hành , Lâm quan tới cát . Lâm quan là thời đương thịnh , đang lên phơi phới , là đúng Đạo sinh thành , gần tới Vượng mà là Lộc , bởi đã Vượng thì Thái quá .
Lộc là cách có Lộc ra chính môn . Nhà có cách này là cát khánh , rất tốt . Lộc ra chính Môn sẽ đem lại nhiều may mắn về tiền bạc , gia sản thăng tiến , điền trang vượng .Thường sinh người béo tốt , thông minh , tuấn tú lại khéo léo , tài năng Kinh doanh giỏi , làm ăn tiến phát . Tuy nhiên cũng cần phải lánh xa Sinh – Vượng Lộc , tránh không vong tử , tuyệt . Nếu Mộ , Không vong , Tử , Tuyệt thì Khí tán , không tụ , là vô dụng . Có Lộc cũng như không . Tài sản dù có như nước , rồi cũng tiêu tan hết . Đó gọi là Tuyệt Lộc . Nếu gặp Thai Khí thì mặc dù vẫn phát đạt , nhưng con trai tài hoa mà kiêu ngạo , con gái nhỏ thì khả ái nhưng ngỗ nghịch . Trong gia đình hay sinh nội loạn , cãi vã , cả ngày ồn ào khiến mọi người bất yên .Lộc cung là Cát cung , vì vậy ngoài cách đặt cửa chính ra , còn có thể đặt cửa phụ , nhà bếp , phòng khách , phòng làm việc , bàn thờ , giường ngủ . Tất cả được Lộc đều tốt . Tuy nhiênLộc phải cư đúng cung tài , là Lộc cư Lộc , mới thật là đắc cách , mới thật sự tốt đẹp .
2/ QUÝ NHÂN :
Quý Nhân Thiên Ất là vị Thần đứng đầu cát Thần , hết sức tĩnh mà có thể chế ngự được mọi chỗ động , chí tôn mà có thể trấn được phi phù .
Nhà có chính môn ra Quý là Đại cát khánh , Gia đạo bình an , hòa thuận , hỉ Khí đầy nhà , luôn gặp may mắn . Quý nhân là sao cứu trợ , là Thần giải tai ách , nên nhà ra Quý nhân là gặp việc có người giúp đỡ , gặp ách có người giải cứu , gặp hung hóa cát. Sự nghiệp hiển vinh , công danh thành đạt , dễ thăng Quan , tiến chức , học hành thi cử nhất nhất đều tốt đẹp . Quý nhân gặp sinh , Vượng , thường sinh người hiếu lễ, khôi nguyên , tướng mạo phi phàm , tính tình nhanh nhẹn , lý lẽ phân minh , không thích mẹo vặt , thẳng thắn mà ôn hòa , khôi ngô tuấn tú . Nếu ngộ Không vong , Tử , Tuyệt thì nguồn Phúc giảm đi nhiều , hoặc nếu có mắc nạn cũng khó tránh , bởi nguồn cứu giải kém hiệu lực , người và gia súc bị tổn thất , kiện cáo , thị phi . Lại hay sinh người tính tình cố chấp , bảo thủ mà suốt đời vất vả , không nên người . Quý nhân ra Thai Khí , nếu lại ngộ Đào hoa thì nam , nữ tuy thông minh , tuấn tú , nhưng nam thì hiếu sắc , nữ thì dâm đãng , làm bại hoại Gia phong , lại hay mắc bệnh tật và trong nhà dễ có người tự ải , tự vẫn vì tình .
Quý nhân là Cát Khí rất tôn quý , nên gia vào cung nào cũng rất tốt , ngoài cách đặt cửa chính ra còn có thể đặt cửa phụ , nhà bếp , phòng khách , phòng làm việc , bàn thờ , giường ngủ đều tốt . Đặc biệt bàn thờ đặt trên cung có Âm Quý nhân là đại cát khánh , như vậy sẽ được âm Linh phù trợ . Không được để phòng tắm , nhà vệ sinh vào cung Quý nhân , vì như vậy sẽ bị họa hại liên miên , nữ nhân thiếu máu , động thai , sinh con dù có đẹp đẽ nhưng cũng dấn thân vào con đường ô nhục , làm điếm , cuối cùng phải tự vẫn . Tài sản tiêu tan , yêu ma hoành hành , gia đình có người bị cướp bóc , chém giết máu me thảm khốc , bệnh tật đau khổ triền miên . Nếu để nhầm WC vào cung Âm Quý nhân thì tai họa khủng khiếp khó lường .
Nhưng muốn đặt như thế nào thì trước mặt bàn thờ phải quang đãng , sạch sẽ ( Không như nhiều người nghĩ và đặt bàn thờ vào gầm , vào chỗ tối tăm ) . Ông Địa và Thần tài tuy thờ dưới đất nhưng tính rất thích thơm tho , sạch sẽ . Thường nên để sẵn một lọ nước hoa , lâu lâu lại xịt vào bàn thờ cho thơm .
SINH TÀI VƯỢNG VỊ VÀ VIỆC ĐẶT THẦN TÀI
Hôm nay PTTN muốn bàn về vấn đề mà có lẽ từ nhà thường cho đến cơ sở kinh doanh mua bán đều quan tâm : Đó là phương Sinh Vượng và cách đặt Tài Thần.
Phương vị này còn được gọi là ” TÀI VỊ ” , nó khác với phương Chính Thần trong Huyền Không học. Có 3 thuyết nói về phương vị này khác nhau :
_ Thuyết thứ nhất là theo trường phái Huyền Không , chọn phương Chính Thần làm phương của TÀI VỊ.
_ Thuyết thứ hai là theo Phi Tinh của Huyền Không , cho rằng phương của Tam Bạch phi đến mới là phương của TÀI VỊ. Tam Bạch chính là : Nhất Bạch , Lục Bạch và Bát Bạch.
_ Thuyết thứ ba là chọn phương chéo với cửa ra vào làm phương TÀI VỊ.
Theo khoa PT thì tại phương TÀI VỊ này , người ta thường đặt các cây xanh lá to hay các tượng Tài Thần . Phương TÀI VỊ này có 1 số điều nên và không nên như sau :
1/. Các điều NÊN ở TÀI VỊ :
_ Nơi phương TÀI VỊ nên sáng sủa , quang minh , không thể để tối ám. Sáng là năng lượng Dương , thích Hợp với Dương Khí. Sinh Khí không ưa nơi tối tăm , nên phương này tuyệt đối không nên để tối , nếu thiếu ánh sáng tự nhiên thì nên lắp thêm đèn
_ Nơi phương TÀI VỊ nên có Sinh Cơ , tức là chỉ nơi đây thiết bày cây xanh là tốt , phải nhớ là trồng loại cây luôn luôn xanh tươi. Nhất là các loại cây trồng bằng đất bùn ( nê thổ ) , không thích hợp các loại cây trồng trong nước. Nên kiếm các loại cây lá to , dầy , lá xanh mãi như cây Vạn Niên Thanh chẳng hạn
_ Nơi phương TÀI VỊ tốt nhất nên đặt bàn ngồi ở đấy , để cả nhà thường xuyên ngồi ở đó , hít thở không khí của TÀI VỊ hay nói cách khác là được thấm nhuần nguồn TÀI KHÍ nơi đó , sẽ giúp ích cho Tài Vận ngườitrong nhà
_ Nơi phương TÀI VỊ nên đặt giường ngủ là rất thích hợp. Đến đây thì có lẽ chúng ta đã hiểu vì sao các sách bày bán trên thị trường luôn khuyên ” đặt giường chéo góc với cửa phòng ” , có điều họ không nói rõ ra nguyên ủy bên trong thôi. 1/3 thời gian trong ngày con người nằm ngủ nghĩ nơi đó , thường xuyên hít thở nguồn TÀI KHÍ nơi đó cũng rất tốt cho Tài Vận vậy.
_ Nơi phương TÀI VỊ nên đặt vật hay biểu tượng Cát lành. Bởi phương này là nơi Vượng Khí ngưng tụ , nếu ta đặt thêm 1 biểu tượng Cát Lành thì tốt càng thêm tốt , như gấm thêu thêm hoa vậy.
2/. Các điều KỴ của TÀI VỊ :
_ Nơi phương TÀI VỊ tối kỵ đặt các vật nặng như tủ sách , kệ sắt , máy móc nặng sẽ làm tổn hại đến Tài Vận của phòng đó
_ Nơi phương TÀI VỊ tối kỵ THỦY. Đấy cũng là lý do vì sao ở trên kia lại bảo nơi đây không thích hợp cho các loại cây trồng trong nước. Vì nơi đây là Cát Thần tọa vị , nay ta đem nước đến là Cát Thần lạc Thủy , khéo hóa ra vụng đấy !
_ Nơi phương TÀI VỊ phía sau nên có tường che chắn , không thể trổ cửa , trổ cửa sổ, có vậy mới hợp cách cục ” Tàng phong Tụ khí ” trong PT , Tài Vận mới tụ được
_ Nơi phương TÀI VỊ tối kỵ bị các vật nhọn xung xạ đến như cạnh bàn , cạnh tủ….vv..sẽ làm tổn hại Tài Khí nơi đó
_ Nơi phương TÀI VỊ là nơi Cát Thần tọa vị nên ĐẠI KỴ ô uế , dơ bẩn. Vì vậy không thể để vật ô uế , bụi bậm nơi đây
_ Nơi phương TÀI VỊ không nên để tối tăm , vì u tối thì Sinh Khí không sinh sôi được , sẽ ảnh hưởng đến Tài Vận , sinh kế.
3/. Tài Thần
Nói đến Tài Thần thì có lẽ không ai không biết đấy là vị Thần ban phước lộc , tiền tài , của cải cho mọi người. Thần Tài mà hôm nay PTTN đề cập đến không phải là Địa Chủ Tài Thần mà mọi người hay thờ. Địa Chủ Tài Thần là 1 khuôn bài vị với 2 dòng chữ ở giửa là : NGŨ PHƯƠNG NGŨ THỔ LONG THẦN TIỀN HẬU ĐỊA CHỦ TÀI THẦN mà mọi người hay thờ , 2 bên có 2 câu đối ( ” Kim chi sơ phát diệp _ Ngân thụ chánh hoa khai ” , hay là ” Thổ vượng nhân tòng vượng _ Thần an trạch tự an ” , hay là ” Thổ năng sinh Bạch ngọc _ Địa khả xuất Hoàng kim ” ). Ngày xưa người ta thường thờ Địa Chủ Tài Thần bên trong , bên ngoài thờ Môn Thần ; ngày nay do nhiều nơi không cho thờ cúng bên ngoài nên chỉ còn thờ mỗi Địa Chủ Tài Thần bên trong , coi như vị Thần này kiêm luôn việc bảo hộ cho Trạch Chủ , không cho tà ma xâm nhập.
Tài Thần mà chúng tôi đề cập ở đây là tượng Văn-Võ Tài Thần theo quan niệm người Hoa.
a/VĂN TÀI THẦN :
Chia làm 2 là Tài Bạch Tinh Quân và Tam Đa Tinh
_ Tài Bạch Tinh Quân : Ngoại hình như 1 vị trưởng giả giàu có , mắt trắng râu dài , người mặc áo gấm thắt đai ngọc , tay trái ôm 1 thỏi Kim Nguyên Bảo ( thỏi vàng mả người ta hay để chưng nơi Thần Tài , nó cũng là 1 dụng cụ hóa sát trong PT đó chứ ) , tay phải ôm tờ giấy cuốn lại có in dòng chữ ” Chiêu Tài Tiến Bảo ”
Theo truyền thuyết ông vốn là Thái Bạch Kim Tinh trên thượng giới , chức tước là ” Đô Thiên chí phú Tài Bạch Tinh Quân ” chuyên quản tiền tài vàng bạc của thiên hạ. Nên người ta hay đặt tượng ông nơi TÀI VỊ , có người còn thờ ông nữa.
(TƯỢNG DI LẶC PHẬT VƯƠNG Ảnh)
_ Tam Đa Tinh : Nghe tên thì thấy lạ , nhưng thật ra đó là Phước Lộc Thọ Tam Tinh đấy thôi.
Phúc Tinh tay ôm đứa bé tượng trưng có con thì vạn sự đủ phúc khí. Lộc Tinh mặc triều phục sặc sỡ , tay ôm Ngọc Như ý , tượng trưng thăng quan tiến chức , thêm tài tăng lộc. Thọ Tinh tay ôm quả đào thọ , mặt lộ vẻ hiền hòa , hạnh phúc tượng trưng cho an khang trường thọ. Trong 3 vị chỉ có Lộc Tinh mới là Tài Thần , nhưng do xưa nay Tam vị nhất thể đi chung không rời , nên người ta luôn làm chung tượng của 3 vị. Nếu đặt cả Tam Tinh vào TÀi VỊ thì cả nhà an vui , hạnh phúc , phúc lộc song thu.
Những người giữ chức văn , những người làm công nên đặt tượng Văn Tài Thần nơi TÀI VỊ , hay thờ Văn Tài Thần
Các tượng Văn Tài Thần nên đặt quay mặt vào.
b/ VŨ TÀI THẦN :
Cũng chia làm 2 là : Triệu Công Minh miệng đen mặt đen , và Quan Thánh Đế ( còn gọi là Quan Công ) mặt đỏ râu dài
_ Triệu Công Minh : Vị thần này nếu quý vị nào có xem qua truyện Phong Thần ắt biết tiểu sử ông. Sau khi tử trận lên bảng Phong Thần , ông được Khương Tử Nha sắc phong làm ” Chính Nhất Long Hổ Huyền Đàn chân quân ” thống lĩnh 4 vị Thần : Chiêu Bảo , Nạp Trân , Chiêu Tài , Lợi Thị.
Ông vừa giúp tăng tài , tiến lộc vừa có thể hàng ma phục yêu , nên 1 số người Hoa cũng thích thờ ông , hay đặt tượng ông nơi TÀi VỊ , vừa giúp vượng tài , vừa giúp bình an.
_ Quan Thánh Đế : Nói đến Ngài , có lẽ không cần xem truyện Tam Quốc thì ai cũng từng nghe và biết. Gần như 99% người Hoa đều có thờ Quan Thánh Đế trong nhà cả ! Ông không không chỉ tượng trưng cho Chính Khí sáng lòa , mà còn có thể giúp cho người chiêu tài , tiến bảo , làm ăn thuận lợi , tai qua nạn khỏi , trừ tà hộ thân.
Những người làm quan võ , theo nghiệp lính , những ông chủ kinh doanh nên thờ Vũ Tài Thần hoặc đặt tượng Vũ Tài Thần nơi phương TÀI VỊ.
Các tượng VŨ Tài Thần nên đặt hướng ra cửa. Trên nóc bàn thờ Thần Tài – Ông Địa , người ta thường đặt tượng của Di Lặc Phật Vương hay các câu chú Phạn tự ( tượng trưng cho cơ quan chủ quản các Thần ). Mục đích là để có sự quản lý , không cho các vị Thần làm điều sai trái.
Nguồn: tổng hợp
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Khánh Linh (##)
| ► Tham khảo thêm những thông tin về: Phong thủy nhà ở và các Vật phẩm phong thủy chuẩn xác nhất |
![]() |
Trong phong thủy hướng nhà là yếu tố vô cùng quan trọng để tạo ra một căn nhà tốt cho vận trình của gia chủ. Vậy bạn đã biết những chú ý cơ bản khi xem hướng nhà hay chưa? Cùng tìm hiểu ngay với Lịch ngày tốt nhé.
“Lấy vợ hiền hòa, làm nhà hướng Nam”, đó là câu nói mà ông cha ta đã đúc kết từ xa xưa. Nhiều người khi làm nhà nhất quyết phải chọn hướng nhà phía Nam là thế. Tuy nhiên giờ quỹ đất không còn thoải mái như trước, xây nhà cũng phải tuân theo quy định của nhà nước. Vả lại người trẻ có xu hướng mua nhà chung cư xây sẵn bởi tính thiết thực của nó, vì thế hướng nhà dần trở thành yếu tốt phong thủy bị coi nhẹ.
![]() |
|
|
|
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
Tuyển tập những Danh ngôn về Tâm hồn hay nhất. Tính cách không thể phát triển một cách dễ dàng và yên lặng. Chỉ qua trải nghiệm thử thách và gian khổ mà tâm hồn trở nên mạnh mẽ hơn, hoài bão hình thành và thành công đạt được.
Character cannot be developed in ease and quiet. Only through experience of trial and suffering can the soul be strengthened, ambition inspired, and success achieved.
Helen Keller
—-
Sự khoan dung là món quà lớn nhất của tâm hồn; nó đòi hỏi nỗi lực của bộ não cũng nhiều như khi bạn phải giữ thăng bằng khi đi xe đạp.
Toleration is the greatest gift of the mind; it requires the same effort of the brain that it takes to balance oneself on a bicycle.
Helen Keller
—-
Cứ cẩu thả trong cách ăn mặc nếu bạn muốn, nhưng hãy giữ một tâm hồn gọn gàng.
Be careless in your dress if you will, but keep a tidy soul.
Mark Twain
Ngôi nhà không phải là mái ấm trừ khi nó chứa thức ăn và lửa cho tâm hồn cũng như cơ thể.
A house is not a home unless it contains food and fire for the mind as well as the body.
Benjamin Franklin
Tự do tư tưởng là sức sống của linh hồn.
Liberty of thought is the life of the soul.
Voltaire
Con người giống như cửa sổ kính nhuộm màu. Họ bừng sáng và lấp lánh khi trời nắng và sáng sủa; nhưng khi mặt trời lặn, vẻ đẹp thực sự của họ chỉ lộ ra nếu có ánh sáng từ bên trong.
People are like stained glass windows. They glow and sparkle when it is sunny and bright; but when the sun goes down their true beauty is revealed only if there is a light from within.
Khuyết danh
Tri thức là con mắt của đam mê, và có thể trở thành hoa tiêu của tâm hồn.
Knowledge is the eye of desire and can become the pilot of the soul.
Will Durant
Hạnh phúc của con người không nằm ở vận may bên ngoài và có thể nhận biết, nhưng nằm ở sự tốt đẹp và giàu có của tâm hồn, thứ bên trong và không thể nhìn thấy.
A man’s felicity consists not in the outward and visible blessing of fortune, but in the inward and unseen perfections and riches of the mind.
Thomas Carlyle
Những tâm hồn nhỏ mọn có những mối lo nhỏ mọn, những tâm hồn lớn lao không có thời gian để lo lắng.
Little minds have little worries, big minds have no time for worries.
Ralph Waldo Emerson
Tâm hồn càng tao nhã và tinh tế, tâm hồn càng dễ tổn thương.
The more refined and subtle our minds, the more vulnerable they are.
Paul Tournier
Sự thường xuyên, kiên nhẫn và bền bỉ bất chấp mọi trở ngại, nản lòng và những điều tưởng chừng bất khả thi: Trong tất cả mọi việc, nó là sự khác biệt giữa tâm hồn mạnh mẽ và tâm hồn yếu đuối.
Permanence, perseverance and persistence in spite of all obstacles, discouragements, and impossibilities: It is this, that in all things distinguishes the strong soul from the weak.
Thomas Carlyle
Sắc đẹp là điều bạn cảm thấy ở nội tâm, và nó phản ánh trong mắt bạn. Đó không phải là thứ vật lý.
Beauty is how you feel inside, and it reflects in your eyes. It is not something physical.
Sophia Loren
Tôi nghĩ sự quyến rũ đến từ bên trong. Nó là thứ hoặc ở trong bạn hoặc không ở trong bạn, và thực sự không liên quan gì nhiều tới ngực hay đùi hay đôi môi hờn dỗi.
I think the quality of sexiness comes from within. It is something that is in you or it isn’t and it really doesn’t have much to do with breasts or thighs or the pout of your lips.
Sophia Loren
Một tâm hồn mạnh mẽ luôn luôn hy vọng, và luôn luôn có động cơ để hy vọng.
A strong mind always hopes, and has always cause to hope.
Thomas Carlyle
Cái đẹp thấy được bằng mắt chỉ là phép màu trong khoảng khắc; đôi mắt của cơ thể không nhất thiết là đôi mắt của tâm hồn.
The beauty that addresses itself to the eyes is only the spell of the moment; the eye of the body is not always that of the soul.
George Sand
Con người đặt ra mục tiêu chinh phục thế giới, nhưng trong quá trình đó lại đánh mất linh hồn.
Man has set for himself the goal of conquering the world but in the processes loses his soul.
Aleksandr Solzhenitsyn
Tâm hồn của con người tự do, nhưng lòng kiêu hãnh trói buộc anh ta bằng xiềng xích nghẹt thở trong nhà tù xây bằng những nỗi bất an.
A man’s spirit is free, but his pride binds him with chains of suffocation in a prison of his own insecurities.
Jeremy Aldana
Cùng tử vi 2016 tìm hiểu mức độ tương hợp cho mối lương duyên giữa Nam nhan Bính Dần và Nữ Nhân Canh Ngọ
1. Xét trên yêu tố xung hợp bản mệnh
Đây là yếu tố quan trọng khi xem xung hợp nam nữ. Thông thường mệnh nữ tương khắc với mệnh nam gọi là Đại hung. Do đó cần tránh Đại hung. Tốt nhất là Ngũ hành nữ tương sinh với nam, bình hòa là không tương sinh và không tương khắc với nam.
Ở đây niên mệnh Nam là Hỏa. Niên mệnh Nữ là Thổ. Vậy là : Niên mệnh nam tương sinh với niên mệnh nữ vì Hỏa sinh Thổ. Quan hệ tương sinh là sinh xuất, mệnh nam làm lợi cho mệnh nữ.
Đánh giá Ngũ hành sinh khắc: Tiểu cát
Điểm: 1.5/2 điểm
2. Xét trên yếu tố thiên can xung hợp
Thiên can được đánh số theo chu kỳ 10 năm của người Trung Hoa cổ. Trong Thiên can có các cặp tương xung (xấu) và tương hóa (tốt). Thiên can của nữ tương hóa với nam là tốt nhất, bình hòa là không tương hóa và không tương xung với nam.
Thiên can Nam ở đây là Bính. Thiên can Nữ là Canh. Vậy là Thiên can của nữ trực xung với thiên can của nam vì Canh khắc Bính.
Đánh giá Thiên can xung hợp: Hung
Điểm: 0/2 điểm
3. Xét yếu tố địa chi xung hợp
Địa chi được đánh số theo chu kỳ 12 năm, tương ứng 12 con Giáp cho các năm. Hợp xung của Địa chi bao gồm Tương hình (trong 12 Địa chi có 8 Địa chi nằm trong 3 loại chống đối nhau), Lục xung (6 cặp tương xung), Lục hại (6 cặp tương hại), Tứ hành xung, Lục hợp, Tam hợp. Địa chi của nữ tương hợp với nam là tốt nhất, bình hòa là không tương hợp và không tương xung với nam.
Địa chi Nam là Dần. Địa chi Nữ là Ngọ. vậy là: Địa chi của nữ và địa chi của nam đạt Tam Hợp (Dần – Ngọ – Tuất).
Đánh giá Địa chi xung hợp: Cát
Điểm: 1.5/2 điểm
4. Xét trên yêu tố bát trạch nhân duyên
Cung mệnh (hay còn gọi là mệnh quái, cung phi). Đây là thuật ngữ chỉ thuộc tính ngũ hành của một con người sinh ra và lớn lên chịu sự ảnh hưởng của nó. Cung mệnh được tính dựa trên giới tính và năm sinh của mỗi con người khi mới chào đời.
Nam có cung mệnh là Khôn. Nữ có cung mệnh là: Cấn.
Xét theo tám cung biến hóa thì cung Khôn kết hợp với cung Cấn tạo nên Sinh Khí, rất tốt lành => Đại cát
Điểm: 2/2 điểm
5. Đoán số theo Cao Ly Đầu Hình
Theo khoa đoán số của CAO LY ĐẦU HÌNH thì Nam dụng Can, Nữ dụng Chi. Thiên can của nam là Bính, địa chi của nữ là Ngọ, như vậy:
Thì chẳng khác gì cây gặp mùa Xuân, đâm chồi mọc rể. Sanh con cái đều đủ gái trai, nhưng số nửa chừng thì chồng chết trước.
Đánh giá Cao Ly Đầu Hình: Bình
Đánh giá: 1/2 điểm
KẾT LUẬN: Tổng điểm: 6/10 điểm
Hai tuổi này có chỉ số tương đối hợp nhau.
Điều 2: Chỉ tính riêng tại nước Việt Nam, có rất nhiều người có cùng năm, tháng, ngày, giờ sinh và giới tính nhưng số phận cuộc đời không hoàn toàn giống nhau. Có thể làm bài toán thống kê như sau: Nước Việt Nam có hơn 90 triệu dân và trung bình một năm có khoảng 1 triệu người được sinh ra. Một năm có 365 ngày và mỗi ngày có 12 canh giờ, và chỉ có 2 giới tính là bé trai hoặc bé gái vì vậy số người có cùng năm,tháng,ngày,giờ sinh giới tính sẽ là:
1 triệu / 365 ngày / 12 canh giờ / 2 giới tính = 114.15 ( làm tròn là 100 người. Tức là có khoảng 100 người trên nước Việt Nam có cùng lá số vận mệnh như bản thân ta nhưng chắc chắc là cuộc đời mỗi người không hoàn toàn giống nhau).
Tôi đã từng xem cho nhiều trường hợp có cùng năm, tháng, ngày giờ sinh, giới tính (những người này hoàn toàn xa lạ với nhau) nhưng có những giai đoạn thì người này cực kỳ thành công, người kia thì thất bại thảm hại. Sự khác biệt là do các yếu tố hậu thiên như đã nói ở điều 1.
Điều 3: Giống như khi khám sức khỏe, chỉ cần một mẫu máu của một người là biết được các chỉ số sinh lý hiển thị trên 1 tờ giấy và người bác sĩ có thể dựa vào đó để tư vấn cải thiện sức khỏe. Việc tư vấn cải thiện vận mệnh với mục đích “Biết Mệnh Cải Mệnh” cũng có thể dựa vào các thông tin năm, tháng, ngày, giờ sinh hiển thị trên lá số được in trên 1 tờ giấy. Vì vậy có thể không cần gặp mặt nhau vẫn có thể tư vấn vận mệnh qua điện thoại (cho dù khi gặp trực tiếp có thể kết hợp được với việc xem tướng).
Điều 4: Mục đích cao hơn của việc xem vận mệnh là phòng tránh hung họa, phòng bệnh hơn trị bệnh, hóa dữ cầu an. Tôi luôn muốn chia sẽ với mọi người rằng để hóa giải nghiệp chướng hoạn nạn thì thứ nhất là âm đức, phúc đức. Thứ hai là tích đức hành thiện , phóng sanh cúng dường. Thứ ba mới là vận mệnh, phong thủy. Vì vậy tôi luôn tâm huyết và đồng ý với câu nói “ Đức Năng Thắng Số”.
Điều 5: Đừng quá lo lắng, buồn rầu vì lá số vận mệnh của mình “được đánh giá là xấu”, cũng đừng quá đắc thắng, ỷ lại khi lá số vận mệnh “được đánh giá là đẹp”. Đừng rơi vào thuyết “vận mệnh” cho rằng mọi thứ đã được sắp đặt khi sinh ra, vì rằng cuối cùng chính mỗi con người quyết định số phận của bản thân và hãy luôn nhớ rằng “ Đức Năng Thắng Số” và “ Nhân Định Thắng Thiên”.
Trước đây, những lời bình luận về Tần Thủy Hoàng, không chỉ là ông vua tàn bạo, mà còn luôn muốn được trường sinh bất lão. Con người hôm nay cho rằng trường sinh bất lão không tồn tại, bởi trên thế gian căn bản không hề có tồn tại thuốc trường sinh bất lão. Thật ra, cách nói này thật sự sai lầm, bởi cái gọi là thuốc trường sinh bất lão, dùng khoa học hiện nay cũng có thể nói rõ ra được, đó chính là vật chất của không gian khác, hoặc là vật chất siêu năng lực, giảng rõ ra thì cũng đều là vô cùng đơn giản.
Như vậy tại sao Tần Thủy Hoàng lại đi tìm kiếm thuốc trường sinh bất lão? Điều này bắt nguồn từ một câu chuyện có thật. Năm đó, ở nước Đại Uyển thuộc khu vực phía Tây có rất nhiều người chết oan, xác chết nằm la liệt ngang dọc bên đường ở vùng ngoại ô. Bỗng có một đàn chim ngậm một loại cỏ đắp lên mặt của người chết, người chết đó lập tức sống lại. Quan phủ liền bẩm báo chuyện này lên Tần Thủy Hoàng, Tần Thủy Hoàng liền cử người đem loại cỏ đó đến thành Bắc thỉnh giáo Quỷ Cốc Tử.
Quỷ Cốc Tử nói loại cỏ kia chính là cỏ bất tử ở Tổ Châu trong vùng biển Đông Hải, mọc trên ruộng Quỳnh Ngọc, cũng gọi là cỏ dưỡng thần, lá giống cây chi niễng, không mọc thành bụi, một cây cỏ bất tử có thể cứu sống được hơn nghìn người. Tần Thủy Hoàng nghe xong liền cho rằng loại cỏ bất tử này nhất định có thể tìm thấy được. Thế là liền sai Từ Phúc dẫn theo đồng nam đồng nữ ba nghìn người, ngồi thuyền lầu ra biển đi tìm Tổ Châu. Tuy nhiên, Từ Phúc sau khi ra biển đã một đi không trở về, cũng không ai biết rốt cuộc là ông đã đi đâu.
Khi Thẩm Hy đắc đạo thành tiên, thủy tổ của Đạo gia là Hoàng Đế và Lão Tử đã sai Từ Phúc làm sứ giả đến nghênh tiếp Thẩm Hy lên trời. Từ Phúc lúc đó là ngồi trên xe hổ trắng, độ sứ quân Tư Mã Sinh ngồi trên xe rồng, thị lang Bạc Diên Chi ngồi trên xe nai trắng, họ cùng đến nhân gian tiếp đón Thẩm Hy. Từ đó mọi người mới biết Từ Phúc đã đắc đạo thành Tiên rồi.
Giữa những năm Khai Nguyên triều đại nhà Đường, có một chàng thư sinh mắc phải căn bệnh lạ nửa thân người khô gầy và chuyển sang màu đen, đã mời ngự y trong cung là Trương Thượng Dung đến xem mà cũng không biết là bệnh gì. Người bệnh gọi mọi người trong nhà tụ họp lại với nhau để cùng thương lượng, nói: “Tôi đã bệnh đến thế này rồi, còn có thể sống được bao lâu nữa? Tôi nghe nói trong biển cả có thần tiên cư ngụ, đã vậy thì tôi cứ dứt khoát đi tìm thuốc tiên, biết đâu có thể chữa lành bệnh của tôi thì sao?”. Người nhà không thể giữ anh ở lại, đành phải cử một người làm tùy tùng cho anh, mang theo lương thực đến bờ biển Đăng Châu ở Sơn Đông, vừa khéo nhìn thấy bên bờ biển có một chiếc thuyền trống, mọi người liền để anh lên thuyền, đồ dạc cũng bỏ vào trong thuyền cả, rồi căng buồm ra khơi.
Người này lênh đênh mười mấy ngày trên biển, cuối cùng đã đến một hòn đảo cô quạnh, thấy trên đảo có mấy trăm người, dường như đang bái lạy một người nào đó. Sau khi anh lên bờ, nhìn thấy bên bờ có một phụ nữ đang rửa thuốc, liền hỏi người phụ nữ kia rằng họ là ai?. Người phụ nữ kia liền chỉ tay về đằng xa, nói: “Anh xem ông lão đầu tóc bạc trắng đang ngồi giữa chiếc giường lớn bên kia, đó chính là Từ Phúc, mọi người đều đang bái lạy ông”. Chàng lại hỏi Từ Phúc là người thế nào. Người phụ nữ nói: “Chẳng hay anh đã từng nghe nói đến Từ Phúc ra biển cầu Tiên vào thời Tần Thủy Hoàng chăng?”. Anh nói biết. Người phụ nữ nói: “Ông ấy chính là Từ Phúc”.
Người này liền bước đến bái lạy Từ Phúc, nói rõ bệnh tình của mình, thỉnh cầu Từ Phúc hãy chữa trị cho. Từ Phúc nói: “Bệnh của cậu là bệnh phải chết, nhưng đã gặp được ta rồi, cậu có thể sống sót được vậy”. Ngày hôm sau, Từ Phúc lại đưa cho anh thư sinh mấy viên thuốc màu đen rồi bảo anh ấy uống, sau khi uống vào, vết thương liền biến thành mấy thăng nước nhão màu đen, bệnh liền khỏi hẳn. Người này xin được ở lại chỗ Từ Phúc, Từ Phúc nói: “Cậu là người có quan vị tại cõi người. Vốn không thích hợp để ở lại đây, ta sẽ để cậu ngồi thuyền xuôi theo gió đông trở về, cậu đừng sợ là đường xa quá thì không về được nhà”. Từ Phúc đưa cho anh một túi thuốc màu vàng, rồi nói: “Thuốc này có thể trị được bất kỳ bệnh gì, nếu như gặp phải người bệnh, thì có thể dùng một thìa canh, uống một chút thì bệnh sẽ khỏi hẳn”.
Chàng thư sinh sau khi về đến Đăng Châu, liền dâng thuốc này cho hoàng cung. Lúc này, Đường Huyền Tông liền đưa thuốc này cho người có bệnh uống, vừa uống xong thì hoàn toàn khỏi hẳn.
Nếu ta nhìn nhận vấn đề theo một góc độ khác, tỉ như thật sự có tồn tại không gian khác, nếu như năng lượng của họ rất lớn, thì không phải là họ cũng có thể có năng lực lớn đến như vậy sao.
Ăn đụng" hay "đánh đụng" là gì?
"Ăn đụng" hay "đánh đụng" có thể hiểu là ăn chung, vài gia đình cùng chia nhau một con lợn, hoặc một phần con bò, bê. Thường thì những gia đình anh em, họ hàng hoặc cũng có khi là những người láng giềng, những gia đình thân thiết cùng nhau "ăn đụng". Không chỉ những gia đình nghèo mới "ăn đụng" mà cả những gia đình có khas giả cũng tham gia việc này. Bởi một lẽ, chỉ trong mấy ngày Tết, một gia đình không thể ăn hết một con lợn, hay một phần con bò.
Phong tục "ăn đụng" hay "đánh đụng" ngày TếtViệc "ăn đụng" cũng được chuẩn bị từ trước. Những hộ gia đình có cùng mong muốn sẽ làm chung với nhau. Họ chọn một con lợn có cân nặng phù hợp đem làm thịt rồi chia đều tất cả các phần của con lợn cho mỗi gia đình.
Ngày xưa, cuộc sống của người dân còn khó khăn, cả năm mới có một dịp Tết để nghỉ ngơi, ăn uống và thết đãi anh em, họ hàng. Có gia đình nuôi lợn cả một năm chỉ để dành cuối năm "ăn đụng". Ngày nay, việc "ăn đụng" vẫn còn tồn tại ở một số nơi, tuy nhiên không phổ biến như trước.
Đến ngày Tết, hàng hóa nhiều, dịch vụ cũng rất thuận tiện. người dân muốn mua ăn lúc nào cũng được, ngày Tết cũng không cần phải trữ nhiều như trước nên không cần thiết phải "ăn đụng".
"Ăn đụng" dù không còn phổ biến nhưng đó vẫn là một nét văn hóa đẹp của người Việt, đặc biệt là trong những ngày chuẩn bị cho Tết Nguyên Đán. Những buổi "đánh đụng" hay "ăn đụng" làm cho không khí Tết thêm phần rộn rã, nhộn nhịp, khắp nơi đều nghe vang tiếng cười nói, tiếng dao thớt vui tai.
Thạch anh là một loại đá. Đá thạch anh rất phổ biến trong tự nhiên. Có thể bạn không tin, nhưng nếu tình cờ bạn nhặt được 1 viên sỏi, khả năng rất cao là bạn đang cầm trong tay một viên thạch anh. Sỏi này thực chất là thạch anh bị rớt xuống sông suối, bị nước bào mòn theo thời gian nên tròn nhẵn bề mặt. Còn thạch anh dạng tinh thể tự nhiên thì khó có khả năng tình cờ bắt gặp, mà phải chịu khó trèo đèo lội suối băng rừng tìm kiếm mới có. Tuy nhiên đá thạch anh có gì đặc biệt? hãy cùng chúng tôi tìm hiểu về sự kỳ lạ của đá thạch anh nhé!

Nội dung
Thạch anh (silic điôxít, SiO2) hay còn gọi là thủy ngọc là một trong số những khoáng vật phổ biến trên Trái Đất. Thạch anh được cấu tạo bởi một mạng liên tục các tứ diện silic – oxy (SiO4), trong đó mỗi oxy chia sẻ giữa hai tứ diện nên nó có công thức chung là SiO2.
Thạch anh là khoáng vật rất phổ biến trong tự nhiên và là thành phần của rất nhiều loại đá và khoáng sản quặng. Thạch anh thường gặp ở dạng thành phần chính của nhiều loại đá magma axit xâm nhập và phun trào ở dạng hạnh nhân như mã não và onix, một số đá trầm tích cơ học như cát kết thạch anh, đá biến chất từ các loại đá trên như quartzit. Trong các quá trình biến chất thạch anh hình thành do sự khử nước của các đá trầm tích chứa opal để thành tạo ngọc bích. Trong các quá trình ngoại sinh thạch anh và conxedon thành tạo do sự khử nước và tái kết tinh của keo silic. Ngoài ra còn gặp các tinh thể lớn của thạch anh trong các hỗng pegmatit cộng sinh với fenspat, muscovit, topaz, beryl, tuamalin và một số khoáng vật khác, và là khoáng vật phổ biến trong các khoáng sàng nhiệt dịch.
Từ thời xa xưa, thạch anh (quarta) đã được coi là một thứ đá màu nhiệm. Thạch anh được gọi là băng tinh, không tan thành nước, trông trong suốt như pha lê, có một đặc tính đáng chú ý: Nó bao giờ cũng mát lạnh khi ta cầm lên tay. Bởi vậy từ xưa, để kiểm tra xem là đồ thật hay đồ giả, thợ kim hoàn thường áp nó vào má xem có lạnh không.
Hồi cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX việc dùng viên đá thạch anh để bói đã trở thành “mốt” thực thụ ở nước Anh. Đối với một số người nhiệt tình, việc bói này đã mang lại kết quả mỹ mãn và do đó đã trở thành một nghề ăn nên làm ra và rất nổi tiếng. Một trong những thầy bói lừng danh như vậy ở đầu thế kỷ XX là một người Anh tên là Fon Burg. Một loạt vụ việc rắc rối mà Fon Burg khám phá ra nhờ viên đá thạch anh đã làm cho tên ông ta nổi như cồn.

Vào những năm 1940 ở Mỹ xuất hiện một nhà nữ tiên tri nổi tiếng tên là Jane Dickson (nguyên họ là Pinkert). Ngay từ lúc mới 5 tuổi, Jane đã biểu diễn cho người thân xem khả năng tiên đoán siêu phàm của mình: em đã tiên đoán những sự kiện tương lai, các món quà mà khách đem đến, cái chết của những người thân thích…
Năm lên 8 tuổi, cô bé đã nhận được một món quà có tính chất định đoạt toàn bộ số phận sau này của em. Sự kiện đáng nhớ này xảy ra trong ngôi nhà của một bà thầy bói người Digan nổi tiếng mà mẹ cô dẫn cô đến để “tư vấn”. Công việc đầu tiên của bà Digan là xem bàn tay của cô bé: “Cô con gái của bà sẽ trở thành một nhà tiên tri vĩ đại”. Sau đó bà ta đưa cho cô bé viên đá thạch anh: “Cháu nhìn thấy gì trong viên đá này?”. Jane chăm chú nhìn vào giữa viên đá và bắt đầu miêu tả một địa điểm chưa hề quen biết: một dải bờ hoang dã lởm chởm đá, sóng biển nhấp nhô… “Đấy là quê hương của ta. Ta tặng cháu viên đá này” bà thầy bói Digan nói. Viên đá thạch anh đã lọt vào đúng địa chỉ cần thiết.
Chí ít, Jane đã hai lần tư vấn cho Tổng thống Mỹ Roosevelt. Trong cuộc gặp lần thứ nhất vào tháng 11/1944, Roosevelt (bị liệt hai chân phải ngồi trong xe đẩy) hỏi: “Xin cô hãy nói thẳng cho tôi biết liệu tôi còn sống được bao lâu nữa để kết thúc công việc đã bắt đầu?”. Jane không thể né tránh câu trả lời: “Nửa năm nữa, thưa ngài tổng thống, mà có thể thậm chí còn ít hơn”. Sau cuộc gặp đó được 5 tháng, ngày 12/4/1945, đúng như điều Jane tiên đoán, Roosevelt đã từ trần.
Cuối năm 1956, Jane đã tiên đoán rằng sau chừng 7 năm nữa người kế nhiệm đương kim thủ tướng Ấn Độ Jawaharlal Nehru (1889-1964) sẽ là một người mà tên tuổi họ được bắt đầu bằng chữ “S”. Lần này viên đá thạch anh cũng bộc lộ khả năng màu nhiệm của nó: tháng 6/1964 sau khi Nehru qua đời, Lal Bahadur Shatri đã trở thành Thủ tướng Ấn Độ.
Dickson cũng có thể thông báo về số phận của một số người. Chẳng hạn bà đã tiên đoán một cách chính xác tương lai của người nghệ sĩ điện ảnh nổi tiếng Ronald Reagan mà sau này trở thành vị Tổng thống thứ 40 của Hoa Kỳ (1981-1989). Năm 1964, Dickson đã dự báo rằng người Nga sẽ là người đầu tiên đưa con tàu vũ trụ lên mặt trăng, rằng trước năm 2000 bức tường Berlin sẽ bị phá đổ, còn ở La Mã sẽ có vụ ám sát Đức giáo hoàng.
Đặc biệt, Dickson nhìn thấy rất rõ những tấm thảm kịch trong tương lai. Chẳng hạn bà đã báo trước trận động đất năm 1964 ở Aliasca, đã tiên đoán cái chết của J.F.Dales, cái chết của nữ minh tinh Marilyn Monroe, của thủ lĩnh da đen Martin Luther King, của thượng nghị sĩ Robert Kenedy. Bà cũng khuyên can nữ nghệ sĩ Lombard không nên đi máy bay, nhưng Lombard đã coi thường lời cảnh báo tận tình và đã bỏ mạng trong một tai nạn phi cơ.
Danh tiếng trên quy mô thế giới đã đến với Dickson sau vụ ám sát John Kenedy (1917-1963). Sự kiện bi thảm này đã được bà tiên đoán ngay từ năm 1956, khi mà không ai ngờ rằng 5 năm sau vị chính khách ít người biết đến đó sẽ trở thành Tổng thống Mỹ. Song Jane Dickson không chỉ miêu tả cho một nhà báo Mỹ thấy ngoại hình của vị Tổng thống Hoa Kỳ tương lai (mái tóc dày màu hạt dẻ và đôi mắt xanh) mà còn nói rằng kẻ giết ông ta là một người có cái tên bắt đầu bằng chữ “O” hoặc chữ “Q”.
Tháng 12/1966, Jane đã làm cho thế giới sửng sốt bằng một lời tiên tri mới: Bà đã báo cho vợ của người phụ trách bộ phận điều khiển các chuyến bay vũ trụ có người lái biết rằng cái chết đang đe dọa các nhà du hành vũ trụ chuẩn bị bay lên mặt trăng. Bà đã cho biết những gì mình nhìn thấy như sau: “Trên sàn quả tên lửa có một cái gì đó rất lạ – nó mỏng trông giống như lá kim loại, nếu có một dụng cụ nào đó rơi vào nó hoặc có ai đó lấy gót giày giẫm lên thì ắt sẽ xảy ra tai họa. Ở phía dưới sàn tôi nhìn thấy một cuộn dây điện rối tung. Cái chết đang đe dọa các nhà du hành vũ trụ. Tôi cảm thấy rằng linh hồn của họ đang lìa khỏi xác nóng hổi trong những cuộn khói…”
Hỡi ôi, và cả lần này lời tiên đoán cũng rất chính xác. Một tháng sau, ngày 27/1/1967 trong khi tập luyện trong con tàu vũ trụ “Apollon – 1”, 3 nhà du hành vũ trụ Mỹ đã bị thiêu sống. Đó là Virgil Prisom, Edward Wait và Roger Chaffi. Sự cố chập mạch của dây điện ở bên dưới ghế ngồi của Chaffi trong môi trường chứa ôxy nguyên chất lập tức bùng lên thành một ngọn lửa hung hãn. Lời nói cuối cùng mà các nhân viên điều hành vô tuyến điện nghe được là tiếng kêu hấp hối của Roger Chaffi, một thành viên trẻ nhất của phi hành đoàn: “Chúng tôi đang bị thiêu sống! Hãy đưa chúng tôi ra khỏi đây!”. Sau 14 giây, một đám khói bao trùm lên buồng điều khiển và con tàu “Apollon” bị nổ tung vì cháy…
Dickson đã nhiều lần nói rằng sự tiên đoán đến với bà bằng những con đường khác nhau. Đôi khi là do tiếp xúc với một đồ vật mà một người nào đó chạm vào. Đôi khi đó là do nguồn tin “từ trên cao”. Nhưng đặc biệt Jane rất coi việc nhìn vào viên đá thạch anh của mình. Bà cho rằng bằng cách khác thì khó mà có được một “bức tranh” chi tiết. Jane Dickson mất ngày 25/1/1997 và đã mang theo sang thế giới bên kia sự bí ẩn đối với các nhà khoa học.
Sự quan tâm đến những hình ảnh hiện ra trên viên đá thạch anh vào những năm gần đây lại dấy lên mạnh mẽ. Điều đó trước hết có liên quan với sự triển khai các công trình nghiên cứu về những khả năng tâm lý của con người. Một loạt thí nghiệm do các nhà khoa học và các bác sĩ tâm lý nổi tiếng của Mỹ tiến hành, cho thấy rằng những hình ảnh hiện lên trên viên đá thạch anh là có thật chứ không là phải là bịa đặt. Những sự việc và những hiện tượng mà các nhà khoa học thâu nhận được trong những cuộc thí nghiệm với những con người cụ thể càng củng cố thêm quan điểm cho rằng thạch anh hay băng tinh có một số tính năng thông tin đặc biệt mà khoa học rồi đây sẽ phải khám phá.
Phụ tinh. Một trong sao bộ đôi Tiểu Hao và Đại Hao. Gọi tắt là Song Hao. Cũng là Sao thứ 10 trong 12 sao thuộc vòng sao Bác Sĩ theo thứ tự: Bác Sĩ, Lực Sĩ, Thanh Long, Tiểu Hao, Tướng Quân, Tấu Thư, Phi Liêm, Hỷ Thần, Bệnh Phù, Đại Hao, Phục Binh, Quan Phủ.
Phân loại theo tính chất là Hao Tinh, Bại Tinh. Cũng là một trong 6 sao của bộ Lục Bại Tinh gồm các sao Tiểu Hao, Đại Hao, Tang Môn, Bạch Hổ, Thiên Khốc, Thiên Hư (gọi tắt là Song Hao Tang Hổ Khốc Hư).
Vị Trí Ở Các Cung
Theo Tuvi
Nguyên tắc đầu tiên với rèm cửa là chọn chất liệu và màu sắc phù hợp theo mùa, theo hướng cửa và mong muốn của chủ nhân trên một phương diện may mắn đặc biệt nào đó.
Nhà tọa Tây hướng Đông chọn rèm màu vàng nhạt (vàng gao rang, vàng kim nhũ, vàng chanh), xanh lơ; kiểu rèm buông rủ tự nhiên… Nhà tọa Nam hướng Bắc nên chọn rèm đỏ tía, tím than, nâu nhạt, lá cọ nhạt để giảm thủy khí quá mạnh; kiểu rèm treo có nhiều pli. Nhà tọa Bắc hướng Nam dùng rèm màu vàng đồng, trắng sữa, vàng chanh, vàng nghệ; kiểu rèm buông theo dạng khối vuông vức. Nhà tọa Đông mặt hướng phía Tây chọn rèm xanh lục đậm, xanh dương, vàng nghệ; kiểu rèm có dạng bèo hay thắt nơ.
![]() |
Vào mùa hè, nên chọn rèm cửa màu sáng, chất liệu nhẹ nhàng nhưng tránh quá buông rủ. Mùa đông nên chọn màu ấm, vải nặng, dày để mang lại sự ấm áp. Màu sắc phù hợp với rèm của mùa xuân hè là các sắc rực rỡ nhưng dịu nhẹ như xanh lá, xanh da trời. Mùa thu đông nên chọn các màu trung tính như trắng, xám hay các sắc màu cho cảm giác mộc như vàng nâu, tím, xanh thẫm.
![]() |
Rèm cửa nên mở vào buổi sáng để đón ánh nắng sớm, nguồn năng lượng dương tích cực vào nhà. Ban đêm, nên kéo rèm lại để nguồn năng lượng âm không ảnh hưởng đến gia chủ. Nếu cửa sổ/cửa chính đối diện với cửa kính của một tòa nhà cũng nên để rèm thường xuyên để tránh ánh phản chiếu (ánh gương) của nhà đối diện.
![]() |
Luôn giữ rèm cửa sạch sẽ để thu hút khí trong lành. Dù rèm có chất liệu hay màu sắc gì cũng cần có kết cấu linh động, dễ dàng đóng mở, buộc lên hay buông rủ. Phần khung chốt nên làm bằng vật liệu tự nhiên, được xếp ngũ hành như: gỗ, sứ, kim loại. Mành sáo bằng lá nhôm có tác dụng chặn xung khí. Tránh sử dụng vật liệu nhựa ở rèm cửa vì nhanh chóng bị biến chất theo thời gian.