Xem tướng đặc điểm của người trường thọ –
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Yến Nhi (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Yến Nhi (##)
Trước khi hình thành cục diện "tam phân thiên hạ", hay còn gọi là thời đại Tam Quốc, thì Đông Ngô đã là một thế lực hùng mạnh nhờ công gây dựng của "mãnh hổ Giang Đông" Tôn Kiên.
Tuy nhiên, 2 nhân vật nổi trội nhất trong số những người con của Tôn Kiên là Tôn Sách - Tôn Quyền có tính cách khác nhau, thậm chí tồn tại mâu thuẫn lớn về quan điểm chiến lược.
Tôn Quyền muốn hiện thực hóa mục tiêu của bản thân thì buộc phải đoạt được quyền vị trong tay Tôn Sách.
Có quan điểm cho rằng, Quyền "có đầy đủ động cơ để mưu sát Tôn Sách".
"Tam Quốc Chí - Ngô thư - Tôn Sách truyện" đánh giá - "Sách là bậc thiếu niên hào kiệt, dũng mãnh hơn người, mưu lược toàn tài, có chí nhất thống thiên hạ".
Tôn Sách là mãnh tướng "có khí thế của Tiểu Bá Vương", nhưng tính tình nóng vội, không biết dùng người.
Trương Hoành từng khuyên Sách - "Chủ tướng là tính mệnh của ba quân, không nên khinh địch đám tiểu khấu. Xin tướng quân tự bảo trọng".
Tôn Sách đáp - "Lời tiên sinh như vàng ngọc, chỉ e nếu ta không làm gương, tướng sĩ sao có thể hết mình".
Lời nói của Tôn Sách tuy thể hiện được "bản sắc anh hùng" của cá nhân ông, song cũng bộc lộ vấn đề mâu thuẫn trong quân đội của "Tiểu Bá Vương".
Tiểu Bá Vương Tôn Sách bị "Hứa gia tam khách" ám sát.
Nghi vấn vụ ám sát Tiểu Bá Vương
Nhiều bình luận nói rằng, xuất phát từ sự không thống nhất trong nội bộ, nên Tôn Sách mới bị hành thích trọng thương khi đi săn huơu tại Đan Đồ Tây Sơn, trong lúc "chư tướng và quân sĩ vẫn chậm chạp phía sau".
Trái ngược với Tôn Bá Phù, em trai ông Tôn Quyền "biết ẩn nhãn, trọng nhân tài, nhiều mưu kế, thực dụng, là bậc tuấn kiệt anh minh.
Quyền có thể tự mình cai trị Giang Biểu, tạo dựng sự nghiệp" - Tam Quốc Chí có đoạn.
Một số nhà nghiên cứu Trung Quốc bình luận, Tôn Sách là mẫu nhân vật "nhà binh", cả năm trời thống lĩnh quân đội chinh chiến, hành tung bất định.
Vì vậy, việc Sách bị ám sát khi đi săn "có nhiều điểm nghi vấn".
Bên cạnh đó, việc chủ công xuất ngoại săn bắn vốn là "chuyện nhà", không nhiều khả năng được công bố rộng rãi trên các phương tiện truyền thông như thời hiện đại.
Do đó, "Hứa gia tam khách" gần như không có khả năng biết trước lịch trình của Tôn Sách để "ôm cây đợi thỏ", trừ khi "có thông tin tình báo về thời gian, địa điểm, nhân sự của Sách".
Xét từ vấn đề thái độ trong nội bộ Tôn gia, cái chết của Tôn Sách cũng cho thấy không ít điểm đáng ngờ.
Trong tiểu thuyết "Tam Quốc diễn nghĩa" cũng như thực tế lịch sử, Tôn Sách được ghi nhận là bị hành thích dẫn đến tử vong khi mới 25 tuổi.
Sau đó, Tôn Quyền ngồi lên "tọa trấn" Giang Đông.
Tôn Sách là mãnh tướng nhưng kém tài dùng người, trái ngược với em trai Tôn Quyền "lắm mưu nhiều kế".
Ba người em trai khác là Tôn Dực, Tôn Khuông, Tôn Lãng hầu như không được nhắc đến.
"Tam Quốc Chí - Ngô thư - Tôn Dực truyện" có nói - "Tôn Dực, tự Thúc Bật, em trai Quyền, tính cách quả liệt, giống huynh trưởng Sách".
Sử gia Bối Tùng Chi trích dẫn sách "Điển lược" có đoạn - "Sách lâm chung, đám Trương Chiêu tưởng Sách giao binh cho Dực.
Nhưng Sách gọi Quyền, giao cho ấn tín".
Như vậy, người kế vị Tôn Sách có khả năng là Tôn Quyền, cũng có thể là Tôn Dực.
Cuộc "thanh trừng gia tộc" của Tôn gia Giang Đông?
Tôn Dực chẳng những không thể tiếp quản ngôi vị của huynh trưởng, mà về sau, Dực cũng bị ám sát giống như Tôn Sách.
Thủ phạm chính là gia tướng của Dực, Biên Hồng.
Bối Tùng Chi dẫn sách "Ngô lịch" - "Dực ra vào đều mang đao, thường hay uống rượu.
Tay không tiễn khách, (Biên) Hồng từ đằng sau chém Dực, trong quận hỗn loạn.
Không ai cứu Dực. Dực bị Hồng giết, Hồng chạy trốn vào núi".
Việc thích khách là một gia tướng "thân tín" bên cạnh Tôn Dực, cộng với tình tiết "không một ai cứu Dực" cho thấy vụ ám sát Tôn Dực cũng có nhiều điểm khả nghi.
Không ít ý kiến cho rằng, cái chết của Tôn Dực "có bàn tay sắp đặt".
Kết cục không mấy tốt đẹp của huynh đệ Tôn gia là kết quả cuộc thanh trừng nội bộ của Tôn Quyền?
Tôn Sách và Tôn Dực bị ám sát, Tôn Khuông "chết không rõ ràng", Tôn Lãng "bị Tôn Quyền giam giữ đến cuối đời", là những dấu hiệu cho thấy nhiều khả năng "anh hai" Tôn Quyền đã nhúng tay thực hiện hàng loạt vụ "thanh trừng nội bộ" trong Tôn gia.
Từ Tiểu Bá Vương Tôn Sách tới Tôn Quyền, Đông Ngô trải 2 giai đoạn cao trào "hình thành nội các" văn võ đại thần.
Thứ nhất là giai đoạn Tôn Sách mượn binh khởi nghiệp cho tới lúc hùng cứ Giang Đông, hiền tài đầu quân có Chu Trị, Lữ Phạm, Trương Chiêu, Trương Hoành...
Các danh tướng Chu Du, Tưởng Khâm, Chu Thái, Trần Vũ, Thái Sử Từ... cũng gia nhập lực lượng Đông Ngô trong thời kỳ này.
Giai đoạn "tuyển dụng" thứ hai là dưới thời Tôn Quyền chinh phạt Hoàng Tổ.
Các mưu sĩ Lỗ Túc, Gia Cát Cẩn, Cố Ung, Trình Phổ, Trương Ôn, Chu Hằng... về với Đông Ngô trong giai đoạn này.
Võ tướng Lữ Mông, Lục Tốn, Từ Thịnh, Đinh Phong, Cam Ninh cũng đầu quân cho Tôn Quyền.
Căn cứ vào những nhân vật có ảnh hưởng ở Đông Ngô sau thời Tôn Sách, ngoại trừ đại đô đốc Chu Du, quyền lực triều đình hầu hết đã được "thay máu" và nằm trong tay nhóm "nội các" mới, dưới trướng chủ công Tôn Quyền.
Theo Trí Thức Trẻ
Nắm bắt được điều này, bạn có thể lựa chọn được màu sắc hợp với ngũ hành của mình, giúp bản thân và gia đình thêm hưng vượng.
Nghĩa là nếu bạn thuộc mệnh Mộc trong ngũ hành, thì phòng ngủ nên sơn màu xanh (màu lục nhạt) là chính, vì màu xanh là bản sắc của Mộc. Còn nếu bạn thuộc mệnh Hỏa trong ngũ hành, phòng ngủ nên là màu hồng (màu hồng nhạt) là chính vì màu hồng là bản sắc của Hoả…
![]() |
| Người mệnh Mộc hợp với màu xanh |
Do đó, màu trong phòng ngủ phải được phối một cách hài hòa, tương sinh, tương hợp với môi trường xung quanh, tâm lý tình cảm và quan trọng là phải hợp với trạch mệnh của chủ nhân căn phòng đó.Theo các quy tắc trong phong thủy, mỗi một mệnh trong ngũ hành đều có màu sắc tiêu biểu độc đáo khác nhau. Màu xanh tượng trưng mộc, đỏ tượng trưng cho hỏa, vàng tượng trưng cho thổ, trắng tượng trưng cho kim và màu đen tượng trưng cho thủy.
Không chỉ liên quan đến mệnh trong ngũ hành, màu sắc và phương vị phòng ngủ cũng nên phù hợp với nhau theo cách sau: Phòng ngủ hướng Đông, Đông Nam nên chọn màu xanh lục, xanh lam là chính; hướng Nam nên chọn màu vàng; hướng Tây chọn màu trắng, hồng phấn, vàng nhạt, hướng Bắc chọn màu vàng nhạt, hồng phấn, đỏ nhạt; hướng Tây Bắc chọn màu trắng, vàng, xanh lá cọ; hướng Đông Bắc chọn màu vàng nhạt, màu nâu đỏ và hướng Tây Nam chọn màu vàng, màu lá cọ…
Ngoài việc lựa chọn phù hợp với cung mệnh, màu sắc của phòng ngủ cũng cần được điều hòa để giảm bớt sắc độ, tránh quá sặc sỡ hay u ám.
![]() |
| Phòng ngủ hướng Tây Bắc thì nên chọn màu vàng |
Theo thuật phong thủy, phòng ngủ sơn màu sắc sặc sỡ như đỏ đậm, da cam, nõn chuối hay phối quá nhiều màu với nhau… sẽ khiến tinh thần người ở trong phòng luôn bị kích động, căng thẳng. Về lâu dài, người này sẽ bị suy sụp tinh thần, sinh ra tâm lý bực dọc, nóng nảy. Ngược lại, nếu phòng ngủ có màu sắc u ám, nặng nề sẽ khiến tinh thần chủ nhân căn phòng trầm cảm, u uất…
Do đó, khi thiết kế phòng ngủ, các màu như đỏ tươi, cam, màu quá kích thích mắt hay các màu đen, tro xám quá nặng nề… cần phải tránh dùng. Một số màu thường được mọi người lựa chọn cho phòng ngủ như phớt hồng, vàng chanh, màu lục nhạt, lam nhạt, màu vàng marông…
Theo Kiến thức Ecohome
Xem tướng của một người tốt hay xấu theo trình tự
1. Coi vẻ uy nghi
Uy nghi ở đây toát lên từ đôi mắt, lưỡng quyền và thần sắc. Bề ngoài oai vệ, nghiêm trang, chỉnh tề, không có vẻ dữ tợn là tướng tốt.
2. Coi dáng đi, dáng đứng, dáng ngồi và cả dáng nằm ngủ
Xem tử vi 2015 thấy, dáng đi phải thẳng, linh hoạt, khi đi thân hình không lay động. Ngồi lâu không mê muội, càng ngồi lâu tinh thần càng sảng khoái. Ánh mắt trong sáng, có hồn, nhìn lâu không mờ.
3. Xem tướng đầu và tướng trán vì đầu là chủ toàn thân, nguồn gốc của tứ chi
Đầu vuông, đỉnh đầu nhô cao là người có địa vị cao trong xã hội. Đầu tròn là tướng giàu có và trường thọ. Trán rộng thì vừa sang vừa quý. Đầu lệch từ nhỏ thì cuộc đời vất vả, nhiều sóng gió. Trán thấp là người khá bướng bỉnh.
4. Coi ngũ nhạc, tam đình
Ngũ nhạc: Lưỡng quyền (hai gò má hay còn gọi là Đông nhạc và Tây nhạc) cần ngay ngắn, đầy đặn, không nhọn, không lệch, lẹm. Trán (Nam nhạc) cần ngay ngắn, không vát, không lõm, không thấp. Mũi (Trung nhạc) cũng cần ngay ngắn, sống mũi thẳng, không được vẹo, nhọn, gẫy khúc. Cằm (Bắc nhạc) cần cân đối, hài hòa với khuôn mặt.
Tam đình: Trán, đầu và cằm cần dài ngắn cân xứng, hài hòa.
5. Coi ngũ quan, lục phủ
Ngũ quan: Lông mày (bảo thọ quan) nên cong, dài, cách mắt hai phân là tốt. Đuôi mày nên chếch lên phía thái dương. Người nào có bộ lông mày thô đậm, áp xuống mắt thì thuộc tướng xấu.
Mắt (giám sát quan) phải sáng, tròng đen, tròng trắng rõ ràng.
Tai (thám thính quan) không căn cứ to nhỏ, chỉ cần luân quách (vành tai ngoài và vành tai trong) rõ ràng, phân minh. Tai trắng hơn da mặt thì cực tốt. Tai cao hơn lông mày, màu sắc tai hồng nhuận, lỗ tai nhỏ là loại tai tướng tốt.
Mũi (thẩm biện quan) nên đầy đặn, cao, sống mũi thẳng, không vẹo, không thô, không nhỏ quá.
Miệng (xuất nạp quan) có đôi môi hồng, răng trắng, nhân trung sâu dài là tướng tốt.
Lục phủ: Ngoài việc là khái niệm dùng để chỉ 6 bộ phận trong cơ thể người, lục phủ còn được dùng để chỉ ba cặp xương ở hai bên mặt. Trong phép quan sát lục phủ, phải lấy xương làm điểm chủ yếu, xương thịt phải chắc, cân xứng, hài hòa với nhau, thịt không lấn át xương, xương không quá nhiều so với thịt, thần sắc tươi tỉnh là tướng tốt.
6. Coi lưng, bụng
Ngực bằng, đầy, eo tròn, lưng đầy và bụng dưới to hơn bụng trên, da dẻ mịn màng là tốt. Kỵ lưng thành hố sâu, lưng mỏng, vai lệch. Mông cần nở nang, đầy đặn, không nên lớn thô.
7. Coi chân, tay
Tay phải dài, bàn chân phải có bụng chân, chớ có nổi gân chằng chịt; màu sắc hồng nhuận, da thịt mềm mại.
8. Coi tiếng nói và tâm trạng
Muốn nhìn sự việc trong tâm thì coi đôi mắt. Mắt hiền, mắt ác cho biết tâm hiền hay ác. Vui buồn hay sướng khổ cũng đều biểu hiện qua đôi mắt.
Giọng nói nghe tròn, ấm, vang, rõ ràng, dứt khoát, nhanh chậm có trật tự, to thì vang như chuông mà nhẹ thì nghe thì nghe như tiếng ngọc va vào nhau.
Xem bói: Đoán biết bạn tốt xấu qua nhân tướng

1. Loại bạn hiệp nghĩa
Loại tướng bạn bè có tính hiệp nghĩa biểu lộ ra ngoài bằng các đặc điểm sau đây:
Cặp lông mày trông có vẻ thô nhưng nhìn kỹ thấy thanh tú và oai vệ ánh mắt sáng nhưng không lộ, nhìn người hay vật đều nhìn thẳng mục tiêu, mũi và lưỡng quyền cao thấp tương xứng với nhau, tiếng nói rõ ràng mạnh mẽ. Thấy việc phải dám làm dám nói, không sợ quyền uy, không ham tiền bạc.
2. Loại bạn khẳng khái
Ðặc điểm của loại bạn bè có tính chất khảng khái bao gồm:
Mày đẹp trán rộng, ánh mắt có vẻ cương cường nhưng không lạnh lẻo, mũi ngay thẳng và cao, phối hợp đúng cách với lưỡng quyền, tính tình độ lượng thấy việc đạo nghĩa dám bất chấp mọi nguy hiểm, về tiền bạc dám dốc hết túi giúp đỡ một cách tự nhiên mà không hối tiếc.
3. Loại bạn trung hậu
Về mặt hình thức, loại bạn bè trung hậu thường có các đặt điểm:
Lông mày dài và thanh tú phối hợp với cặp mắt không bị khuyết hãm về hình thể, mục quang ôn hòa nhưng không kinh khiếp. về mặt nội hàm, kẻ đó biết rõ bạn bè có lòng tham hay biển lận mà không tổn hại trực tiếp đến mình thì sẽ làm thinh, không vạch trần thói xấu của bạn bè cho người khác biết, không cưỡng cầu không hại người để lợi cho bản thàn, xem tuong thấy đối với bạn bè gặp lỗi nhỏ thì bỏ qua, gặp lỗi lớn thì thẳng tay phản kháng.
4. Loại bạn gian xảo, âm hiểm
Ngoại biểu của hạng bạn bè kể trên là cặp lông máy thô và đậm quá mức bình thường, lòng trắng có nhiều tia màu hồng hoặc đỏ, mũi gẫy lệch chuẩn, đầu méo mó. ánh mắt thường liếc xéo không nhìn trực diện kẻ đối thoại, thích trói buộc người khác, thich nói xấu sau lưng người hoặc tọc mạch những chuyện kín của người không có liên quan tới mình.
5. Loại bạn an phận thủ thường
Loại này có vẻ bề ngoài dễ nhận thấy là mũi nhỏ nhưng ngay thẵng. lưỡng quyền hẹp và thấp, nhãn cầu nhỏ không sáng, ánh mất không dao động và ít biến thông. Miệng nhỏ, môi mỏng. Về cá tính kẻ đó không dám mạo hiểm bất kể việc gì dù lớn nhỏ.
6. Loại bạn vô tình hoặc bạc tình
Loại này gần như toàn thể khuôn mặt đều mỏng manh. Mày thưa thớt và nhỏ; da mặt mỏng; mũi gầy, dài và gần như không có thịt; mang tai bạnh ra rất rõ(nhìn từ sau vẫn còn thấy). Về mặt tâm tướng, kẻ đó làm bất cứ điều gì chỉ biết có mình mà không biết tới người khác. Hơn người chút đỉnh thì hớn hở còn thua sút thì bực dọc thịnh nộ.
7. Loại bạn tính nết hồ đồ
Loại bằng hữu có tính hồ đồ là kẻ không am tường việc đời, không có chủ kiến, dể bị người thuyết phục. Bề ngoài của tướng người như trên là lông mày mịn nhỏ, mọc lan xuống bờ mắt; xương lưỡng quyền nhỏ. thấp, lòng đen, lòng trắng không rõ ràng. ánh mắt không có thần quang; giọng nói thiếu âm lượng. bước chân thiếu ổn định. Ðó là loại người không biết phân biệt xấu tốt rõ ràng.
Sưu tầm
1. Đầu to và cổ mảnh mai
![]() |
Phái nữ có tướng này thường trông bơ phờ, không thích trò chuyện và rất hướng nội. Họ gặp khó khăn trong việc thể hiện và kiểm soát tình cảm của bản thân. Dù trải qua nhiều đau đớn trong tình yêu, họ vẫn không dễ dàng bỏ cuộc và cứ như vậy đắm chìm từ nỗi thất vọng này sang nỗi thất vọng khác.
2. Trán cao
![]() |
Phái nữ trán cao thông minh, thường là con người của sự nghiệp. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa rằng họ không cần hạnh phúc. Vẻ ngoài của họ lạnh lùng, nhưng trái tim họ luôn ấm áp và chứa chan những xúc cảm mãnh liệt. Họ không cần một nửa còn lại quá tài giỏi, chỉ cần tính cách hai người hợp nhau là đủ.
Dù vậy, đối phương sẽ thấy mình kém cỏi trước những người này, do đó quan hệ tình yêu dễ gặp trục trặc. Phái nữ tướng này thường mạnh mẽ hơn, nhưng dù gì họ vẫn là phái yếu, và họ cũng dễ chán nản, thất vọng khi bị tổn thương trong tình yêu.
3. Mắt ướt và lông mày mỏng
![]() |
Người có lông mày mỏng thường không quyết đoán, không có khả năng xoay xở khi gặp khó khăn và dễ hoảng sợ. Kèm theo đôi mắt ướt, phái nữ tướng này thường nhạy cảm, sống theo cảm xúc và trung thành. Họ nhất quyết theo đuổi tình yêu đến cùng, dù có bị đối phương đối xử tệ bạc.
Họ không đủ quyết đoán để tự chọn hướng đi cho mình trong chuyện tình cảm và rất dễ khóc. Phái nữ có tướng này thường dễ thất vọng chuyện tình cảm, tuy nhiên họ sẵn sàng chấp nhận tổn thương để ở bên người họ yêu.
Hạnh Yunnie
Quan niệm Ngũ Hành trong y lý
Chữa bệnh có y lý (lý luận đông y) không chỉ đang còn thịnh hành ở Trung Quốc mà hầu hết các Lương y, ngay cả một số bác sỹ (tây y) ở nhiều nước trên thế giới cũng đều coi hai thuyết này là cơ sở nhận thức bệnh học hữu ích. Nó soi sáng phần nào mọi khía cạnh của bệnh lý của con người; làm cơ sở cho phương thuốc điều trị.

Quan niệm Ngũ Hành trong y mệnh.
Để phòng chữa họa tai, người ta có y mệnh. Đó là sự tìm đến các môn dự báo, dự đoán như: dự báo khí tượng, dự đoán vận hạn đất nước, xã hội, con người trong các thời vận bằng dự đoán học mà hai thuyết Âm Dương và Ngũ Hành đều có mặt trong Dịch, Lý, số v.v… Tất cả các môn đó nhằm phần nào biết trước vận hạn: lành, dữ để phòng tránh hay khắc trừ đem lại sự an bình cho con người.
Quy tắc Ngũ Hành tương sinh tương khắc đã chế hóa vạn vật trong nguyên lý Âm Dương biến hóa, đối lập mà thống nhất. Các môn dự đoán đều dựa trên hiện tượng và thực thể cụ thể cho trước, có trước rồi trên cơ sở của nguyên lý Âm Dương và quy tắc của Ngũ Hành mà suy luận dự đoán cho điều sắp xảy tới. Việc giải một “phương trình” để tìm ẩn số “mệnh” ở đây không khác gì giải phương trình để tìm ẩn số trong toán học. Cũng có những dữ kiện đã cho, đã có, đã biết mà đi tìm kết quả nhờ quan hệ giữa chúng. Nhưng để mang tính khoa học thì kết quả của các môn thuật số chỉ là dự đoán. Dự đoán y mệnh càng có cơ sở vững chắc ngoài nguyên lý Âm Dương còn phải cần đến quy tắc của Ngũ Hành. Vì vậy quy tắc Ngũ Hành được thịnh hành là thế.
Chùa Thiên Niên tọa lạc sát bờ hồ Tây, thuộc làng Trích Sài, phường Bưởi, giáp ranh với phường Xuân La, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội.
Chùa Thiên Niên có tên gọi khác là Thiên Niên Cổ Tự hay còn được gọi chùa Trích Sài. Chùa cách Hồ Gươm chừng 9 km về hướng Tây – Bắc; các tuyến xe bus 25, 33, 55 dừng ngay trước cổng tam quan. Chùa có ít nhất từ đầu thế kỷ 18; mới đây đã được xếp hạng di tích cấp quốc gia.
Lịch Sử: Chùa Trích Sải toạ lạc ven bờ tây Hồ Tây, nơi làng Trích Sài giáp làng Xuân La, cả hai đều là những làng cổ của Kẻ Bưởi, ngày nay thuộc phường Bưởi, quận Tây Hồ, Hà Nội. Đời Hồng Đức (1470–1497) một cung nữ do vua Lê Thánh Tông mang về từ phương nam là Phạm Thị Ngọc Đô đã cùng 24 thị tỳ ra ở ven Hồ Tây. Vua ban cho họ 80 mẫu đất thôn Trích Sài để lập trang Thiên Niên, ý muốn được bền vững lâu dài. Tương truyền các bà đã dựng chùa và miếu ở đây, lại truyền nghề dệt lĩnh và dạy cách trồng dâu, nuôi tằm cho dân.
Đến đời Minh Mạng (1820–1841) ngôi chùa tại trang Thiên Niên được xây lại và mang tên Thiên Niên cổ tự. Từ năm 1893 trở đi chính thức có sư trụ trì. Trong chùa hiện còn một tấm bia đá ghi niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ năm (1709) là minh chứng xưa nhất cho thấy chùa đã tồn tại qua hơn ba thế kỷ từ thời Lê trung hưng đến bây giờ.
Kiến Trúc: Quang cảnh chùa rộng rãi và đẹp đẽ vì chỉ cách mặt nước mênh mông hơn chục bước chân. Cổng tam quan xây khá đồ sộ và mở về hướng tây ra vỉa hè của đường Lạc Long Quân thoáng đãng, thuận tiện cho du khách tới thăm. Qua cổng ta bước vào một sân dài chạy thẳng về hướng đông, bên trái là khu vườn thứ hai. Bên phải cổng có phủ thờ Mẫu mới xây, gồm hai toà nhà 5 gian 2 dĩ nằm song song với nhau thành hình chữ “Nhị”. Trước mặt phủ là một sân rộng áp vào hậu cung sâu 3 gian của toà Tam Bảo.
Chùa chính cũng rộng 5 gian 2 dĩ, kết cấu theo hình chuôi vồ như cũ nhưng đã xây lại và xoay sang hướng đông. Mặt trước toà Tam Bảo nhìn qua một sân nhỏ và vườn cây thẳng ra Hồ Tây. Bên trái tiền đường là một sân nhỏ khác và nhà Tổ 5 gian, vẫn quay mặt về hướng nam như cũ. Sau lưng nhà Tổ có một vườn với 8 tháp mộ của các sư Tổ (trùng hợp với tên Bát Tháp). Các tháp trước kia lô nhô khác nhau và quét vôi trắng, nay dịch chuyển về phía hồ và xây lại to cao hơn nhưng giống nhau, để gạch trần màu đỏ.
Chùa hiện lưu giữ 34 pho tượng tròn, ghi niên đại từ thế kỷ 18 đến TK 20. Lại có một nguồn tư liệu quý bao gồm 7 bia đá, tấm cổ nhất được dựng vào năm 1709. Một tấm bia do nhà sư Phan Văn Tựu soạn khắc vào năm 1901 cho biết vào cuối đời Lê, có quan Thái bảo Đà Quốc công Mạc Ngọc Liễn đã giúp tu sửa lại chùa và cúng ruộng hậu; trong nhà Tổ, ở ban thờ bên trái có tượng của ông.
Cứ tới ngày mùng 5 tháng Giêng hàng năm dân làng Trích Sài lại tổ chức tế lễ tưởng niệm bà Tổ nghề dệt lĩnh Phạm Thị Ngọc Đô, dù như không còn ai nối nghề dệt tay. Trang ấp nay đã thành phố xá nhưng bóng chùa Thiên Niên vẫn nhắc nhở chúng ta nhớ về truyền thống văn hoá phong phú xưa kia của một vùng ven Hồ Tây.
hay không?
![]() |
![]() |
![]() |
| Ảnh minh họa |
![]() |
| Ảnh minh họa |
| ► Lịch ngày tốt cung cấp công cụ xem tử vi đoán vận mệnh chuẩn xác |
Tác giả: Lương Trâm
- Thứ nhất là khác nhau về hình thức, bói dịch dùng thi thơ để giảng còn Chu dịch dùng văn xuôi để giảng.
- Thứ hai là bói dịch có nhiều lọai gồm :
8 Quẻ ba hào như Liên Sơn dịch đời Hạ có quẻ đầu là Cấn, Qui tàng dịch đời Thương có quẻ đầu là Khôn.
32 Quẻ năm hào như “Tam Bửu Hiệp nhứt” người Việt hay thường sử dụng
64 Quẻ sáu hào “ Bói dịch cổ truyền” người Việt hay thường sử dụng
Khác với bói dịch, Chu dịch chỉ có một lọai là 64 quẻ sáu hào, được ghi chép có hệ thống dạng kinh điển , còn dùng để nghiên cứu, không như những sách bói “diệc” chỉ dùng cho việc chiêm bói được lưu hành trong dân chúng.
Trước hết xin nói về cách trình bày của các lọai bói dịch người Việt hay xử dụng
Quẻ năm hào:
Ví dụ: quẻ Giá sắc
Nội dung: Dịch nghĩa:
Thả thủ quân tử phận. Quân tử nên giữ phận
Vật dụng tiểu nhân ngôn. Chớ nghe lời tiểu nhân
Phàm sự giai đương cẩn Mỗi việc nên cẩn thận
Tác phước bảo an nhiên Làm lành vậy mới yên
Quẻ sáu hào:
Ví dụ: Phong Sơn Tiệm ( Hồng nhạn phi cao)
Ý nghĩa: Chim Hồng nhạn được sổ lồng bay xa.
Tiến từ từ bay lên mây trong sự thông đạt thong dong.
Không có gì cản trở.
Nhưng không thể bay vụt từ trong lồng lên mây ngay được.
Giải đoán: Vận khí thịnh đạt dần dần. Công việc mỗi ngày đều phát triển đều đặn. Không gặp trở ngại. Thành quả rất to lớn so với lúc khởi sự.
Lời khuyên: Giữ tiết hạnh thanh cao. Ung dung không vội vả.
Phụ chú : Giải trừ mọi tai ương. Tuy tiến chậm nhưng rất yên ổn.
Hào 1 : trung bình, tiến hơi chậm
Hào 2 : rất tốt
Hào 3 : trung bình
Hào 4 : tốt
Hào 5 : tốt
Hào 6 : rất tốt, đại cát
Ứng hạp : Tuổi Bính : Thìn, Ngọ, Thân
Tuổi Tân : Mão, Tỵ, Mùi
Tháng 1
Hành thổ
Lời giảng của của quẻ này viết theo văn xuôi nhưng được ngắt ra 4 đọan, có lẽ vào đời Tần bị cấm thi thơ, các lọai sách đều phải chép lại bằng văn xuôi.
Tiếp đến là cách trình bày quẻ trong Kinh Dịch : Quẻ Phong Sơn tiệm ( xin không trích giảng hào từ)
Thóan từ: Tiệm, nữ qui cát, lợi trinh.
Dịch: Tiến lần lần, như con gái về nhà chồng, tốt; giữ đạo chính thì lợi.
Giảng: Quẻ này là Tốn ( cây), dưới là Cấn( núi). Trên núi có cây, có cái tượng dưới thấp lần lần lên cao, nên đặt là Tiệm.
Tiến mà lần lần, không nóng nảy, vẫn tỉnh như nội quái cấn, vẫn hòa thuận như ngọai quái Tốn thì không bị vấp váp, không bị khốn cùng.
Hào từ:
- Sơ lục: Hồng tiệm vu can, tiểu nhân lệ, hữu ngôn vô cửu.
Dịch: Hào âm 1, con chim Hồng tiến đến bờ nước, nhỏ dại cho là nguy, than thở nhưng không có lỗi.
- Lục nhị: Hồng tiệm vu bàn, ẩm thực khản khản, cát.
Dịch: Hào 2 âm, chim hồng tiến đến phiến đá lớn, ăn uống thảnh thơi, tốt
- Cửu tam: Hồng tiệm vu lục, phu chinh bất phục, phụ dựng bất dục, hung lợi ngự khẩu.
Dịch: Hào 3 dương, chim hồng tiến tới đất bằng, chồng đi xa không về, vợ có mang không nuôi, xấu, đuổi cướp thì có lợi.
- Lục tứ: Hồng tiệm vu mộc, hoặc đắ kỳ giốc, vô cửu.
Dịch: Hào 4 âm, chim hồng nhảy lên cây, may tìm được cành thẳng mà đậu, không có lỗi.
- Cửu ngũ: Hồng tiệm vu lăng, phụ tam tuế bất dụng, chung mạc chi thắng, cát.
Dịch: Hào năm dương, chim hồng lên gò cao, vợ ba năm không sinh đẻ, nhưng cuối cùng không có gì thắng nổi điều chính, tốt.
- Thượng cửu: Hồng tiệm vu qui, kỳ vũ khả dụng vi nghi, cát.
Dịch: Hào trên cùng dương, chim hồng bay bổng ở đường mây. Lông nó có thể dùng làm đồ trang sức, tốt.
Hai loại dịch trên mặc dù có khác nhau về hình thức, nhưng nhìn chung tất cả đều có đặc điểm là có hào âm,hào dương. Âm dương được hình thành do sự vận động của vũ trụ. Sự vận động này thuận theo chiều hướng sinh của ngũ hành hình thành bát quái. Đó là học thuyết Âm dương- Ngũ hành của người xưa.
1/ Thuyết Âm dương - Ngũ hành:
a - Sự hình thành Âm dương:
Thái cực vận động sinh ra lưỡng nghi, tức là hai khí : Âm và Dương. Phần dương thì động, nóng, sáng, trong, nhẹ, nổi lên trên sinh ra khí dương và nơi tích lũy nhiều khí dương là bầu trời được ký hiệu là ( ). Dương được sinh ra từ cực Bắc và bên trái chủ dương.
Phần âm thì tỉnh, lạnh, tối, đục, nặng, chìm xuống dưới sinh ra khí âm và nơi tích lũy nhiều khí âm là đất được ký hiệu là ( ) . Âm được sinh ra từ cực Nam và bên phải chủ âm.
Cực Nam
Cực Bắc
Hình lưỡng nghi
Âm dương có sự liên hệ thần bí, đó là sự hấp dẫn lưỡng tính thần kỳ. Theo Lôi Đạc, trong tác phẩm Mỗi ngày 10 phút với Chu Dịch, nhà ảo thuật Trung quốc nổi tiếng là Tàng quốc Chân đã phát hiện điều này khi đem hai con thạch sùng đực, cái ném mạnh xuống đất. Khi đuôi của hai con thạch sùng bị đứt, chúng nhảy nhót trên mặt đất, rồi hai chiếc đuôi ngày càng gần lại với nhau, dựa sát vảo nhau sau đó bám chặt lấy nhau thành hình “bánh quấn thừng: Thế nhưng dùng hai con thạch sùng cùng giống thì không thấy có hiệu ứng này. Một thử nghiệm khác nữa là bắt vài con thạch sùng có bốn chân, phân biệt đực – cái, chặt đuôi và lột da chúng ra, sau khi đốt cháy nghiền thành bột, đổ vào hai cây nến rỗng ruột, đặt trên bàn cách nhau 30 cm, châm lửa trên hai cây nến đó. Điều kỳ dị đã xuất hiện, hai ngọn lửa hấp dẫn nhau, dần dần dựa sát vào nhau, cuối cùng dính lại tạo thành một tuyến lửa nằm ngang như chiếc cầu vồng được đặt tên là “cầu lửa”.
Qua phát hiện đó có thể thấy được tuy âm dương là hai yếu tố tương phản nhau nhưng trong mọi vật hai yếu tố âm dương luôn dung hòa lẫn nhau, tương giao cùng nhau, bổ túc cho nhau, liên kết với nhau rất mật thiết. Cả hai đều đóng vai trò quan trọng trong sự sinh thành của muôn vật, tất cả sự biến hóa trong vũ trụ đều có thể giải thích bằng hiện tượng chuyển biến của âm dương. Âm trưởng thì dương sẽ tiêu, dương trưởng thì âm sẽ tiêu, âm tăng đến chỗ cực thịnh thì dương sẽ phát sinh và âm sẽ phải thóai dần, khi dương tăng đến chỗ cực thịnh thì âm sẽ phát sinh và dương sẽ thóai dần, đó là lẽ tuần hòan của âm dương trong trời đất như : Mùa đông âm khí nhiều khí hậu lạnh. Cuối đông âm khí thịnh, dương khí bắt đầu phát sinh. Qua xuân dương khí mới phát sinh còn non, khí hậu ấm áp dần dần. Đến mùa hạ dương khí tăng trưởng, khí hậu nóng. Cuối hạ dương khí cực thịnh khí hậu nóng bức và âm khí sẽ phát sinh. Qua mùa thu âm khí mới phát sinh còn non khí hậu mát, âm khí dần dần tăng trưởng lại bước qua đông.... cứ như thế mà tiếp diễn ; hoặc cũng như chuyển biến âm dương trong ngày đêm : từ nửa đêm – sáng sớm – giữa trưa – buổi chiều – lại nửa đêm. Sự âm tiêu dương trưởng và dương tiêu âm trưởng tiếp diễn nhau rất cần thiết để điều hòa sự tuần hòan của trời đất, nếu dương cực thịnh mãi mà âm khí không phát sinh hoặc ngược lại thì trời đất bất hòa và sự sinh hóa của của muôn vật sẽ rối lọan như : chỉ có đêm mà không có ngày hay ngược lại, thời tiết nóng mãi hoặc lạnh mãi đều bất lợi cho sự sinh trưởng của vạn vật. Mặt khác, trong sự chuyển hóa để tương giao với nhau, dương khí có khuynh hướng thăng cao lên tức ly tâm, âm khí có khuynh hướng giáng xuống thức hướng tâm. Đó là dương thăng, âm giáng.
Ví dụ: không khí nóng có khuynh hướng bay lên cao, không khí lạnh có khuynh hướng hạ xuống thấp. Sự kiện không khí vùng lạnh thay thế vùng nóng sẽ sinh ra gió.
Sự vận động của âm dương sẽ sinh ra 4 khí gọi là tứ tượng : Thái âm – Thiếu dương – Thái dương – Thiếu âm

Hình tứ tượng
Từ bốn khí này giao hòa thăng giáng với nhau, tạo ra sự đối kháng, chuyển dịch. Đây chính là động lực phát triển cũa sự vật, hiện tượng, con người. Động lực ấy thể hiện ra 8 dạng thức trong không gian, đó là bát quái. Bát quái với 5 thuộc tính ngũ hành đã tạo ra vũ trụ, vạn vật, trong đó có con người với hành vi của họ.
Bát quái với tính chất gắn liền với bầu trời xin được tạm gọi là “Thiên Bát Quái”
Bát quái có tính chất gắn liền với trái đất xin được tạm gọi là “ Địa Bát Quái”
b- Ngũ hành:
Ngũ hành được cho là 5 dạng vật chất gồm :
- Hành Thủy tượng trưng cho nước
- Hành Mộc tượng trưng cho cây cối
- Hành Hỏa tượng trưng cho lửa
- Hành Thổ tượng trưng cho đất
- Hành kim tượng trưng cho kim lọai.
Căn cứ vào tính chất các hành trên có sự sinh, khắc với nhau
Ngũ hành tương sinh :
Thủy sinh Mộc
- Mộc sinh Hỏa
- Hỏa sinh Thổ
- Thổ sinh Kim
- Kim sinh Thủy
Ngũ hành tương khắc :
- Thủy khắc Hỏa
- Hỏa khắc Kim
- Kim khắc Mộc
- Mộc khắc Thổ
- Thổ khắc Thủy
Năm hành trên được xếp thành các phương vị trên Hà Đồ, Lạc Thư.
c/ Thuyết Thiên Địa Nhân:
Thuyết Thiên Địa nhân nói lên sự chi phối của trời đất đối với con người.
- Thiên: Thiên can là tọa độ không gian được thể hiện ở 10 vị trí: Giáp , Ất , Bính , Đinh , Mậu , Kỷ , Canh , Tân , Nhâm , Quí. Thiên là khỏang không gian bao la, trong Thiên có ba yếu tố hợp thành là Nhật ( mặt trời) ; Nguyệt ( mặt trăng) ; Tinh ( các vì tinh tú). Vạn vật con người chuyển dịch trong không gian theo 10 thiên can, được Nhật, Nguyệt, Tinh chiếu vào tác động ảnh hưởng suốt cả cuộc đời, do vậy yếu tố năm, tháng, ngày, giờ sinh được người xưa cho là có thể quyết định được vận mệnh của từng người.
- Địa: Địa chi là tọa độ thời gian được thể hiện ở 12 vị trí thời gian trong năm , tháng, ngày, giờ gồm : Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Địa được cấu thành bởi 3 yếu tố thủy , hỏa , phong. Từ yếu tố địa , người xưa hình thành nên môn địa lý phong thủy dùng để xem xét sự vận động hài hòa của thủy hỏa phong, nếu mất cân bằng trong vận động của ba yếu tố này ở một địa điểm mà một người đang sinh sống thì người đó sẽ gặp trở ngại và tai họa.
Tóm lại, nói Thiên Địa Nhân là nói con người luôn luôn bị chi phối bởi Thiên và Địa, ba yếu tố này tương tác lẫn nhau, con người muốn tồn tại, sinh sống bình thường phải có sự cân bằng giữa bản thân với thiên địa. Không gian Dịch là không gian Thiên Địa Nhân, là thế giới của âm dương giao hòa, chuyển hóa cho nhau, thế giới giữa hai mặt đối lập tồn tại và bổ xung cho nhau nên khi nắm bắt được chuyển động đó người xưa đã lập ra mô hình trạng thái không gian gọi là âm, dương ( lưỡng nghi). Âm, dương vận động sinh ra bốn khí gọi là tứ tượng, lại tiếp tục vận động thành ra bát quái
2/ Hà đồ – Lạc thư:
Hà đồ – Lạc thư đã được người Trung hoa xem như nguồn gốc của bát quái có nghĩa là sự hình thành của bát quái phải được gợi ý của Hà đồ – Lạc thư, thánh nhân mới dựa vào đó mà phỏng theo. Hình dạng của Hà đồ – Lạc thư ra sao không ai biết được , chỉ nghe nói đến từ cháu của Không Tử là Khổng An Quốc nhưng mãi đến đời Tống hai đồ hình đó mới thấy phổ biến.
Căn cứ vào “ Dịch học Tượng số luận” của Hòang Tông Nghi thì Trần Đòan đã truyền cho Chủng Phóng, Chủng Phóng truyền cho Lý Khái, Lý Khái truyền cho Hứa Kiên, Hứa Kiên truyền cho Phạm Ngọc Xương, Ngọc Xương truyền cho lưu Mục. Lưu Mục căn cứ vào Hà đồ-Lạc Thư trước tác ra “ Dịch số câu ẩn đồ”, bức đồ của ông mới được đông đảo người biết đến. Cho đến nay người ta cũng chưa hiểu được, vào đời Tống, vị đạo sĩ ở Hoa Sơn là Trần Đòan đã lấy ở đâu ra được những hình Hà đồ-Lạc Thư ấy.
Sau khi Hà đồ-Lạc Thư ra đời, một bộ phận trong học phái này chia rẽ. Một số người không tin vào những thứ này, nhà Đại văn học Âu Dương Tu cho rằng : “đầu độc sai lầm vào những người học giả, gây tác hại đâu có nhỏ”. Cuộc tranh luận này kéo dài tới cuối đời Thanh, Dân quốc, thậm chí đến sau ngày giải phóng.
a - Hà đồ: Theo ghi chép của người Trung Hoa, Hà đồ là vật mà Hòang Đế được trời ban cho từ sông Hòang Hà, trên lưng con long mã, đồ hình có 5 cặp số được sắp xếp như sau: 1 với 6 ở dưới là số sinh thành của thủy ở phía Bắc
2 với 7 ở trên là số sinh thành của hỏa ở phía Nam.
3 với 8 ở bên trái là số sinh thành của mộc ở phương Đông
4 với 9 ở bên phải là số sinh thành của kim ở phương Tây
5 với 10 là số sinh thành của thổ ở trung ương.
Hà đồ là bức đồ đầu tiên của kinh dịch, sự vận hành của nó theo chiều hướng sinh của ngũ hành. Bắt đầu từ thủy sinh mộc = đông sang xuân; mộc sinh hỏa = xuân sang hạ; hỏa sinh thổ - vào trung tâm, thổ sinh kim = hạ sang thu; kim sinh thủy = thu sang đông.

Hình Hà đồ
b - Lạc thư: Theo truyền thuyết Lạc thư do thần qui mang trên lưng nên có tượng con rùa đầu đội 9, đuôi mang 1, bên trái mai mang 3, bên phải mai mang 7, vai bên trái mang 4, vai bên phải mang 2, chân trái mang 8, chân phải mang 6, giữa lưng mang 5

Hình Lạc thư
Theo các nhà nghiên cứu thì Lạc thư là một dạng Cửu tinh Đồ, là Cửu trù Hồng Phạm, nếu đọc theo chiều nghịch kim đồng hồ là biểu đồ phương vị ngũ hành được vận hành theo hướng khắc.
Do vậy, theo thiển nghĩ, bát quái phải được dựa vào Hà đồ để thiết lập vì ngũ hành có tương sinh thì muôn vật mới được sinh hóa, nói lên sự sinh sinh nối tiếp nhau không ngừng của đạo dịch.
Thử vẽ Bát quái:
1/ Thiên Bát quái: ( biểu đồ tiết khí)

Bốn mùa
Từ 4 mùa âm dương lại biến đổi thành 8 tiết khí dựa trên cơ sở 2 cụm tứ tượng, bắt đầu từ điểm cực âm. Theo lẽ tự nhiên, cực âm sẽ sinh dương, cụm tứ tượng bên trái sẽ được sinh dương, khi dương thịnh đến điểm cực dương cụm tứ tượng bên phải sẽ được sinh âm, từ đó có được hệ thống bát quái gắn liền với trời như thời tiết, gió mưa, là biểu đồ bát tiết.
Xem xét biểu đồ trên, có thể thấy các tiết khí chuyển biến theo hướng sinh, bắt đầu từ điểm cực âm theo chiều thuận kim đồng hồ: Bắt đầu từ thủy sinh mộc = đông sang xuân; mộc sinh hỏa = xuân sang hạ ; hỏa sinh thổ - vào trung tâm, thổ sinh kim = hạ sang thu; kim sinh thủy = thu sang đông. Hướng sinh trên thuận theo lẽ tự nhiên thành ra tám tiết khí:
![]() |
|
- Khôn : cực âm ( ) tiết đông chí - dương thủy- vị trí số 1
- Chấn : bắt đầu sinh dương ( ) tiết lập xuân - âm mộc- vi trí số 8
- Ly : âm tiêu dương trưởng ( ) tiết xuân phân - dương mộc - vị trí số 3
- Đòai : dương thịnh ( ) tiết lập hạ - âm hỏa - vị trí số 2
- Kiền : cực dương ( ) tiết hạ chí - dương hỏa - vị trí số 7
- Tốn : bắt đầu sinh âm ( ) tiết lập thu - âm kim - vị trí số 4
- Khảm : dương tiêu âm trưởng ( ) tiết thu phân-dương kim-vị trí số 9
- Cấn : âm thịnh ( ) tiết lập đông - âm thủy - vị trí số 6
Thứ tự của bát quái trên thuận theo hướng sinh là : Khôn, Chấn, Ly , Đòai , Kiền , Tốn , Khảm , Cấn, được hiểu như một hệ thống bát quái có tính chất gắn liền với trời như: thời tiết, khí tượng , gió mưa.... Hệ thống này được Trung Hoa gọi là Tiên Thiên Bát Quái. Tuy vậy , người Trung hoa không dùng Tiên thiên bát quái để giải thích thời tiết mà dùng để giải thích về địa lý, phương hướng như sau:
- Khôn : là đất nên ở phương Bắc, vì phương bắc giá lạnh nên thuộc thủy
- Chấn : ở Đông bắc vì gió từ Tây nam thổi qua đông bắc gây tiếng động, hoặc sáng (ly) tối (khảm) cọ sát nhau sinh ra sấm.
- Ly : là mặt trời nên ở phương đông,vì mặt trời mọc ở phương đông
- Đòai : ở Đông nam vì phía Đông nam Trung hoa nhiều đầm hồ
- Kiền : là trời nên ở phương nam, phương nam nóng thuộc hỏa
- Tốn : ở Tây nam là nơi nóng (nam) và lạnh (tây) xô xát sinh ra gió
- Khảm : là mặt trăng nên ở phương Tây, vì mặt trăng hiện ra ở phương tây
- Cấn : ở Tây bắc vì tây bắc Trung hoa có nhiều đồi núi.
2/ Địa bát quái: (biểu đồ địa lý phương hướng)
Về Địa bát quái, hiện nay chưa rõ được kết cấu như thế nào nhưng cũng xin đề xuất đồ hình để tham khảo

Ví dụ: Địa Bát Quái

Hậu Thiên bát quái
Địa Bát quái, được hiểu như hệ thống bát quái có tính chất gắn liền với trái đất như : địa lý, phương hướng , được sắp xếp một cách hợp lý như sau :
- Cấn , hành thổ mượn vị trí số 1, có ba hào : âm+âm+dương= dương thổ
- Chấn ở vị trí số 8 thuộc mộc, có ba hào : dương+dương+âm= dương mộc
- Tốn ở vị trí số 3 thuộc mộc, có ba hào : dương+dương+âm = âm mộc
- Ly ở vị trí số 2 thuộc hỏa, có ba hào : dương+âm=dương = âm hỏa
- Khôn hành thổ mượn vị trí số 7, có ba hào : âm+âm+âm = âm thổ
- Đòai ở vị trí số 4 thuộc kim, có ba hào : dương+dương+âm = âm kim
- Kiền ở vị trí số 9 thuộc kim, có ba hào : dương+dương+dương = dương kim
- Khảm ở vị trí số 6 thuộc thủy, có ba hào : dương+âm+dương = dương thủy
So sánh với Hậu thiên bát quái của Văn Vương:
- Cấn mượn vị trí số 8 thuôc thổ
- Chấn ở vị trí số 3 thuộc mộc
- Tốn ở vị trí số 2 thuộc hỏa
- Ly ở vị trí số 7 thuộc hỏa
- Khôn mượn vị trí số 4 thuộc thổ
- Đòai ở vị trí số 9 thuộc kim
- Kiền ở vị trí số 6 thuộc thủy
- Khảm ở vị trí số 1 thuộc thủy
Xét theo bát quái phong thủy thì Tốn phải thuộc mộc và Kiền phải thuộc kim, như vậy Hậu thiên bát quái xem ra có vấn đề. Hệ thống này chỉ đúng khi đứng ngòai Hà đồ, tuy nhiên âm dương ngũ hành khi tách rời nhau sẽ không còn ý nghĩa, do vậy suy cho cùng vẫn là sai. Một điểm sai nữa là người Trung hoa không dùng hệ thống bát quái này để giải thích về địa lý mà gọi đó là Bát tiết bát quái :
- Cấn: Tiết lập xuân,
- Chấn: Tiết xuân phân
- Tốn: Tiết lập hạ
- Ly: tiết hạ chí
- Khôn: tiết lập thu.
- Đòai: tiết thu phân
- Kiền: tiết lập đông
- Khảm: tiết đông chí
Có lẽ để thuyết minh cho vấn đề sai lệch về các hành của hệ thống này, thuyết quái truyện viết: “ Đế xuất hồ Chấn. Tề hồ Tốn. Tương kiến hồ Ly. Trí dịch hồ Khôn. Thuyết ngôn hồ Đòai. Chiến hồ Càn. Lao hồ Khảm. Thành ngôn hồ Cấn."
Thuyết quái truyện cũng có lời giải thích cho đọan văn khó hiểu trên: “Vạn vật xuất ở Chấn , Chấn thuộc phương đông. Gọn gàng ở Tốn, Tốn thuộc đông nam, gọn gàng là muốn nói muôn vật đều sạch sẽ. Ly là sáng, vạn vật cùng thấy nhau, là quẻ ở phương Nam, đấng thánh nhân quay về phương nam mà nghe thiên hạ, hướng vào nơi ánh sáng mà trị là tượng ở đấy. Khôn là đất, muôn vật đều được nuôi dưỡng ở đó, cho nên nói là làm việc ở Khôn. Đòai là chính thu, vạn vật đều vui vẻ, nên nói vui vẻ là nói ở Đòai. Đánh nhau ở Kiền, Kiền là quẻ ở tây bắc, đó là nói về âm dương xô xát vậy. Khảm là nước, là quẻ ở chính Bắc, là quẻ khó nhọc, muôn vật đều ở đó nên nói khó nhọc ở Khảm. Cấn là quẻ đông bắc, nơi muôn vật thành ở lúc cuối và lúc đầu, nên nói thành là nói Cấn”.
Lời giải thích trên khi đọc xong lại càng thấy khó hiểu, nên xin được đề xuất lời giải thích khác như sau:
- Đế xuất hồ Chấn: là mặt trời mọc ở phương đông.
Vấn đề chính là đây. Theo tôi, vị trí mặt trời mọc là vị trí bước qua số 1 của Hà Đồ, là qua cực Bắc đã sinh dương, về thời khắc thì vào giờ Dậu nên Chấn phải ở vị trí số 8 thuộc mộc. Đối với người tạo ra Hậu thiên bát quái thì Chấn phải ở vị trí số 3 thuộc mộc là nơi mặt trời ló dạng, về thời khắc thì vào giờ Mẹo.
- Tề hồ Tốn : do mang Chấn đặt vào vị trí số 3 , là chỗ của Tốn, nên phải sắp xếp lại vị trí của Tốn.
- Tương kiến hồ Ly : Tốn bị bỏ ra phải vào vị trí số 2 thuộc hỏa, là vị trí của Ly, nên nói là gặp nhau ở cung Ly.
- Trí dịch hồ Khôn : dể Ly có chỗ phải suy tính dời Khôn đi.
- Thuyết (duyệt) ngôn hồ Đòai : Khôn được dời vào vị trí số 4 thì Đòai phải vào vị trí của Càn ở số 9 thuộc kim, đến Đòai thì thuyết phục được.
- Chiến hồ Càn : tranh cãi ở Càn. Khi Đòai vào vị trí của Càn thì Càn phải dời vào chỗ của Khảm số 6 thuộc thủy mà Càn thì thuộc kim.
- Lao hồ Khảm : mặc dù Càn thuộc kim nhưng vì muốn thực hiện việc chỉnh sửa trên nên phải ép Càn vào ở vị trí của Khảm nên nói là lao hồ Khảm
- Thành ngôn hồ Cấn : đến cung Cấn thì kết luận, đã quyết định xong.
Đọan văn khó hiểu trên có lẽ ghi lại sự tranh cãi giữa Hoa tộc và người đại diện cho Hoa Hạ là Cộng công. Cộng công được biết như là một chức quan trông coi về khoa học kỹ thuật ở thời ấy. Theo ghi chép của Trung Hoa, giữa cháu nội Hòang đế là Chuyên Húc và Cộng Công vào thời ấy đã có sự bất đồng ý kiến về khoa học kỹ thuật qua truyện kể về Cộng Công húc đầu vào núi Bát Chu như sau:
Cộng Công là người có công lao rất lớn trong phát triển nông nghiệp của Trung hoa được dân chúng tôn là Thủy sư tức thần nước. Con của ông là Hậu thổ cũng có năng lực trong nghề nông được dân chúng tôn là Xã thần tức thần đất, là các thần quản về thủy lợi. Sau khi nghiên cứu kỹ lưỡng tình hình đất ở 9 châu họ đã thống nhất là phải sửa bằng đất đai, tuy nhiên ý đồ này không được Chuyên Húc đồng ý. Cộng công vì giận mà húc đầu vào núi Bát Chu.
Bát Chu là núi Côn Lôn, ngọn núi có những quái thạch nhọn hoắt, cao chạm tầng mây. Sau cú húc mạnh của Cộng Công, quả núi này lập tức gảy gập ngay, đất đá lở xuống ầm ầm, cây cối ngã nghiêng, trời đất mù mịt, tưởng như xảy ra động đất, bầu trời nghiêng ngã. Thì ra theo lời đồn đại, núi này chính là cây cột chống trời, cột trời sụp thì dây chằng đất đứt rời từng khúc, do đó phía Đông nam sụp xuống lấp bằng chỗ trũng khiến cho sông ngòi đều theo dòng chảy về phía đông rồi đổ vào biển đông. Bầu trời khi đó nghiêng về phía Tây Bắc cho nên các vì tinh tú , mặt trời, mặt trăng ngày ngày đều mọc ở phía Đông và lặn ở phía Tây....
Phân tích câu truyện trên có thể suy ra : núi ( Cấn) Bát Chu sụp xuống làm dây chằng đất (Khôn) đứt rời, có nghĩa trục Khôn-Cấn trở lại là trục thẳng ; phía Đông nam (Tốn) sụp xuống , bầu trời nghiêng về phía Tây Bắc (Càn), có nghĩa là trục Tốn Càn trở lại là trục ngang, các vị trí đó là Càn-Khôn-Cấn-Tốn trong tư nam thời Xuân thu chiến quốc. Cuối cùng là mặt trời lại mọc ở phương Đông là vị trí số 8 trên Hà đồ.
Nhưng tại sao Cộng Công lại phải húc đầu vào núi Bát Chu?
Bởi vì núi là tượng Cấn. Liên Sơn Dịch của Hoa hạ lấy quẻ đầu là Cấn. Nói là Cộng Công húc đầu vào núi Bát Chu có nghĩa là muốn sửa bái quái của tộc Chu cho đúng với vị trí ban đầu. Sự bất đồng này có lẽ cũng nghiêm trọng, vì sau đó những người tộc Hạ sống trên đất Tề thường lo sợ về chuyện bị “trời sập”.
Tư Mã Thiên cho rằng Hậu Thiên bát quái là sản phẩm của Văn Vương có lẽ do trong các quẻ bói mà người Việt đang dùng có một số quẻ đã đề cập đến những vấn đề liên quan đếnVăn Vương như:
Quẻ “Vị thủy phong hiền” còn gọi là Sơn Lôi di :
Khương Tử Nha là bậc đại hiền.
Ngồi câu cá chờ thời bên bờ sông Vị thủy.
Vua Văn Vương nghe tiếng đích thân đến tận nơi thỉnh ra giúp nước.
Rước về tôn làm thường phụ.
Quẻ “ Phượng minh Kỳ sơn”- Thiên trạch lý :
Phượng hòang bất thần xuất hiện ở núi Kỳ sơn cất tiếng gáy.
Báo hiệu điềm lành.
Vua Văn Vương ra đời.
Tạo dựng một thời đại thái bình thạnh trị.
Quẻ “Trảm tướng phong thần” - Thủy trạch tiết :
Đời nhà Thương có vua trụ bạo ngược.
Khương Tử Nha vì đại nghĩa diệt được Trụ vương.
Muốn cho óan khí của quân thù tiêu tán để quốc thái dân an.
Nên đã lên “Vạn phong Sơn” cầu siêu, phong thần cho tướng sĩ tử trận.
Về nguồn gốc Kinh dịch, một số nhà nghiên cứu cho rằng Kinh dịch không thực sự là của Trung quốc. Ông Hondanariyouki nhận xét “ Ở Chu dịch, các từ thóan tượng đều lấy tên từ các lọai muông thú phương nam (chim hồng). Thêm vào đó, ở Chu dịch có “phi long”; “tiềm long” càng khiến cho người ta cảm thấy Chu dịch là trước tác của người nước Sở viết ra, và ra đời sau khi Trung quốc đã mở đường giao thông về phía nam Kinh Sở”.
Nói về các tộc người đã từng sinh sống trên đất Trung Hoa, Theo ##/img/www.uglychinese.org thì trên đất Trung Hoa thời xa xưa đã có họ Suiren (Tọai Nhân), sau đó họ You Chao (Hữu sào) đã thay thế họ Tọai nhân, tiếp nữa là họ Fuxi ( Phục Hy) và Nuwa (Nữ Oa) đã thay thế họ Hữu sào, sau cùng là họ Shennong (Thần nông) đã thay thế họ Phục Hy.
Theo truyền thuyết cũng như thuyết quái truyện của kinh dịch thì họ Tọai nhân đã phát minh ra “lửa” ; họ Phục Hy đã phát minh ra “cái lưới” và chữ viết dưới dạng “thắt nút kết thằng” (chữ Khoa Đẩu?) để ghi việc, đã biết trồng trọt chăn nuôi; họ Thần Nông phát minh ra “cái cày”, mở chợ lập làng, tìm ra cây thuốc. Đó chính là Tam Hòang. Ngòai ra không thấy đề cập đến Hữu Sào đã phát minh ra những gì.
Gần đây khảo cổ học đã khai quật được một dụng cụ làm ra lửa ở Chiết Giang có niên đại cách đây hơn 8000 năm, cho thấy rằng họ Tọai Nhân là người Hòa Bình ở di chỉ Hemudu ở bờ nam sông Trường Giang có lẽ đã di cư lên phía Bắc đến di chỉ Dawenkou ở Sơn Đông khỏang 4300 tr.cn khi vùng này bị ngập mặn do nước biển dâng. Họ Tọai Nhân đã bị họ Hữu Sào, tổ tiên của người Hàn Quốc đến thay thế vào khỏang 3898 tr.cn. Họ Hữu sào lại bị họ Fuxi, có lẽ là tổ tiên của tộc Khương cũng được gọi là Viêm Đế từ phía Tây đến thay thế. Khảo sát kỹ có thể thấy được ngòai họ Khương ra Tộc Khương còn có họ Phù, những cái tên có liên quan như Phù sai (Fu chai), Phù nam......v.v . Phục Hy và Nữ Oa được cho là hai anh em do đó có thể Tộc Khương sau khi đến Trung Hoa đã kết lại với nhóm tiền Đông Nam Á để phát triển nông nghiệp. Ở Việt Nam có câu ví: bà Nữ Oa bằng ba mẫu ruộng.
Ở Trung Hoa vào thời Phục Hy, người xưa có lẽ đã hiểu được qui luật âm dương và sự vận động của nó, đã thuận theo những qui luật ấy để phát triển nông nghiệp. Trong kinh dịch cũng có đề cập đến Phục Hy đã trông trời, trông đất, trông vạn vật mà vẽ quái, thời diểm này có thể là họ Phục Hy không chỉ vẽ quái mà ít nhất đã biết đến tứ tượng tức là bốn mùa để theo đó mà trồng trọt. Khi Thần Nông đến thì Phục Hy bị thay thế vì họ Thần Nông đã phát minh ra cái cày và phương thức tát nước vào ruộng để cải tiến và phát triển nền nông nghiệp của Phục Hy và Nữ Oa. Họ Thần Nông đã từng vượt biển nên ắt phải có kiến thức về thiên văn khí tượng và địa lý phương hướng, ắt họ phải là chủ nhân của Hà đồ.
Với các chi tiết đã trình bày trên, tôi cho rằng học thuyết Âm dương ngũ hành và thuyết Thiên Địa Nhân có nhiều hy vọng là của người tiền Việt nam. Nó được ra đời không nhằm mục đích chiêm bói mà trước tiên để tiên đóan thời tiết và xác định phương hướng nhằm phục vụ cho nghề đi biển và nghề nông , các vì sao được quan tâm trước tiên là sao Bắc Cực và sao Bắc đẩu.
“Bói diệc” là lọai sách bói được phổ biến trong dân gian tương tự như nông lịch đã được giải thích sẵn, ai xem cũng hiểu. Kinh dịch của người Trung quốc, được dựa vào quẻ bói diệc, được kết hợp với những ghi chép của các ẩn sĩ ở Giang nam thời ấy để sọan thảo ra dưới hình thức một lọai sách triết , trong bộ kinh dịch này yếu tố tương quan giữa con người với trời đất không được thể hiện đầy đủ như trong các sách bói cổ truyền người Việt thường sử dụng.
Một điều rõ ràng là việc sáng tạo ra học thuyết Âm dương Ngũ hành, Thiên Địa Nhân không phải từ trí tuệ của một người mà là trí tuệ của nhiều người được tích lũy từ thời đại này sang thời đại khác do đó trong những ghi chép của người xưa cũng không thấy khẳng định ai là chủ nhân của học thuyết này. Việc cho rằng 64 quẻ dịch là do Văn Vương sáng tạo ra và Khổng Tử biên sọan thực chất là một sự gán ghép có lựa chọn. Khổng Tử là một người đã từng nghiên cứu kinh dịch, những tài liệu ấy Khổng tử lấy từ đâu ra thì không nghe nói đến, chỉ biết rằng trước kia Khổng Tử chưa thực sự nghiên cứu bói dịch cho đến khi ông bói được quẻ “Lữ” và mời một người họ Thương Cù trong dân gian để giải quẻ cho ông. Thương Cù thị nói: “Tiểu hanh, cố bào thánh trí, nan đắc thánh vị” ý nghĩa là ôm ấp có hùng tâm xây dựng sửa sang đất nước nhưng không giành được quyền vị. Tức thì Khổng Tử rớt nước mắt, ngộ cảm thấy rằng đường đạo của mình khó được thi hành, từ đó mới bắt đầu nghiên cứu dịch. Tuy nhiên việc bắt đầu nghiên cứu dịch và việc hòan thành bộ Kinh dịch là hai việc hòan tòan khác nhau. Theo tôi, những phát minh ở đất Trung hoa đều đã có từ xa xưa nhưng việc người thời sau tiếp thu những tinh hoa của nền văn minh trước chỉ ở chừng mực nào đó. Ví dụ như lịch pháp nhà Hạ lấy tháng Dần làm tháng mở đầu cho một năm, khi nhà Ân Thương lên thay, lấy tháng Sửu làm tháng mở đầu cho một năm, đời Chu lấy tháng Tý làm tháng đầu năm, nhà Tần lấy tháng Hợi làm tháng đầu năm. Đến thời Hán các biến cố như nhật thực , nguyệt thực, hạn hán lũ lụt đều xảy ra khác với thời điểm được ghi trong lịch. Đúng vào lúc Tư mã Thiên đến Giang nam tìm sử liệu được một cụ già ở đất Thương ngô tặng cho bộ sách trúc giản vớt được trên sông Tương. Đó chính là bộ “nhật thư” bí truyền của người Hạ . Hán vũ đế đã theo lời tấu của Tư mã Thiên, truyền chiêu mộ ẩn sĩ ở miền Giang nam để điều chỉnh lịch theo phương pháp của nhà Hạ, sau khi hoàn thành đặt tên là lịch Thái sơ.
Để giải thích, Chu Hy viết: “Về cách tính thời gian nên theo nhà Hạ, nghĩa là nên lấy kiến Dần chi nguyệt làm tháng mở đầu cho bốn mùa. Hàng năm lấy thời kỳ vạn vật sinh sôi nảy nở phồn thịnh làm kỳ mở đầu cho bốn mùa. Cách tính của nhà Hạ giản tiện hơn cả vì thế nên theo… trời mở đầu cung Tý, đất mở đầu cung Sửu, người mở đầu cung Dần. Tam đại lần lượt thay đổi mà noi theo. Nhà Hạ coi cung Dần là nhân chính phù hợp với người nên lấy kiến dần chi nguyệt làm chính nguyệt. Nhà Ân coi cung Sửu là Địa chính phù hợp với đất nên lấy kiến Sửu chi nguyệt làm chính nguyệt. Nhà Chu coi cung Tý là Thiên chính phù hợp với trời nên lấy kiến Tý chi nguyệt làm chính nguyệt. Tính tháng năm dịnh bốn mùa cốt để cho dân tiện làm ăn sinh sống, tiện hoàn thành mọi việc. Vì vậy khi tính năm tháng, định bốn mùa nên lấy sự phù hợp với người làm đầu mối. Chính vì vậy mà nhà Hạ lấy kiến Dần chi nguyệt làm tháng mở đầu của một năm”
Ngoài ra không thấy Chu Hy giải thích vì sao nhà Tần lại lấy kiến Hợi chi nguyệt làm chính nguyệt.
Như vậy đã thấy rằng việc tiếp thu tinh hoa của tộc Hạ chỉ bắt đầu vào thời Hán.Thời điểm ấy tinh hoa của Trung hoa phát ra ào ạt nhờ vào chủ trương chiêu hiền đãi sĩ của Hán Cao tổ. Vào thời này, những nhân tài Việt trên đất Hoa ban đầu sống như những ẩn sĩ. Sĩ là một từ để chỉ tầng lớp tri thức ở Trung quốc. Ẩn sĩ là những người có tri thức, hoàn toàn vượt ra ngoài vòng chính trị, có thái độ bất hợp tác và phản kháng chính quyền đương thời, họ là những nhân sĩ tinh anh sáng tạo văn hóa, giáo hóa quần chúng. Thấy được tác dụng tiềm ẩn trong lớp nhân sĩ, Hán Cao tổ Lưu Bang khi lên ngôi được 11 năm đã có chiếu viết :
“Các bậc đế vương nổi tiếng chưa ai cao hơn Văn vương, những bậc bá chủ chưa ai cao hơn Tề Hoàn đều chiêu hiền đãi sĩ mà thành danh. Kẻ hiền gỉả, bậc trí nhân trong thiên hạ ngày nay có ai được như người xưa… nay ta lấy sự linh thiêng cùa trời đất, cùng với hiền sĩ đại phu trở thành người một nhà, định đọat thiên hạ. Muốn tông miếu tổ tiên trường tồn mà không bị diệt vong, hiền nhân đã cùng ta sao ta có thể hưởng lợi một mình. Hiền sĩ đại phu có khả năng làm việc cùng ta, ta có thể tôn hiển họ”.
Như vậy đã có một số người Việt vì muốn cho tông miếu tổ tiên được trường tồn, không bị diệt vong đã ở lại trên đất của ông cha mình nay gọi là nước Trung quốc. Một điểm đặc biệt là trong nhóm dân tộc thiểu số ở Trung hoa không có tên dân tộc Việt. Nếu ai đó hỏi rằng :
- Vậy thì dân tộc Việt đã biến đi đâu ?
- Họ không biến đi đâu cả, họ đã trở thành người Hán.
- Họ đã trở thành người Hán, như vậy có phải tinh hoa của dân tộc họ cũng đã trở thành tinh hoa của Trung quốc?
- Đúng vậy!
Nguồn: www.e-cadao.com
Xét về thời gian, nghiệp có chia ra làm ba thứ:
a) Hiện báo: Quả báo hiện tiền, như mình đánh người, bị người đánh ngay; hay ăn cơm thì no, uống nước liền đỡ khát.
b) Sanh báo: Đời nay tạo nhân, qua đời sau mới thọ quả báo, như làm một tội ác gì, ngay khi ấy không ai biết mà bắt, đến lâu sau việc ấy mới tiết lộ và người làm ác mới đền tội.
c) Hậu báo: Đời nay tạo nhân, mà cách mấy đời sau mới chịu quả báo, Như ngài Ngộ-Đạt quốc sư, đời trước làm quan tên là Viên-Án, vì giết Triệu-Thố, mà đến 10 đời sau mới chịu quả báo.
Vậy nếu có người trong đời hiện tại làm việc hung ác, mà được an lành không gặp vận hạn là do kiếp trước họ tạo nhân hiền từ. Còn cái nhân hung ác mới tạo trong đời hiện tại, thì trong tương lai hay qua đời sau, họ sẽ chịu quả báo. Cũng như người năm nay ăn chơi, không làm gì hết mà vẫn no đủ là nhờ năm rồi họ có làm, có tiền của để dành vậy. Cái nhân ăn chơi, không làm năm nay, thì sang năm họ sẽ chịu quả đói rách.

Quả báo thường đến chậm nên con người ta có ý xem thường!
Còn người đời nay hiền từ, làm các điều phước thiện mà vẫn gặp tai nạn, khổ sở là do đời trước, họ tạo những nhân không tốt. Cái nhân hiền từ đời nay, qua đời sau họ sẽ hưỡng quả vui. Cũng như có người tuy năm nay siêng năng làm ruộng, mà vẫn thiếu hụt là vì nhân ăn chơi năm vừa rồi. Cái nhân siêng năng năm nay sang năm họ sẽ hưỡng quả sung túc.
Do đó, cổ nhân có nói: “ Thiện ác đáo đầu chung hữu báo,
Chỉ tranh lai tảo dữ lai trì”. (nghĩa là: Việc lành hay việc dữ đều có quả báo, chỉ khác nhau đến sớm hay muộn mà thôi).
Tăng doanh thu bằng ba đồng tiền may mắn

Đồng tiên xưa của Trung Quốc, đặc biệt là tiền thời vua Càn Long nhà Thanh, đem lại rất nhiều công dụng trong việc thực Hành phong thuỷ. Tuy nhiên, những đồng tiền này rất hiếm, vì vậy bạn có thể sử dụng những đồng xu khác để vận dụng Phong thuỷ trong việc mang lại tài lộc và sự may mắn cho bản thân. Trước khi sử dụng, bạn nên rửa sạch những đồng xu này bằng Nước muối, để loại bỏ năng lượng âm còn sót lại.
Cách tốt nhất để sử dụng những đồng xu là xâu lại thành một Đường thẳng, mặt dương hướng lên trên, sau đó dán chúng lên hộp đựng tiền, để thu hút tiền bạc. Ngoài ra, bạn có thể dán ba đồng xu vào bên trong máy thu tiền hoặc trên bìa sổ ghi hoá đơn. Theo phong thuỷ, đây là cách hữu hiệu nhất để tăng doanh thu trong kinh doanh, buôn bán.
Tăng doanh thu bằng tiếng chuông ngân
Theo quan niệm trước đây, chuông ngân mang ý nghĩa báo hiệu tin mừng. Vì thế, tiếng chuông ngân được xem là biểu tượng mang lại may mắn và tài lộc. Đối với những người buôn bán treo dãy chuông nhỏ bằng kim loại trong cửa hàng sẽ tạo ra năng lượng luân chuyển năng động. Và mỗi khi có khách bước vào, chuông sẽ ngân vang như chào đón người mang đến vận may nhằm tăng doanh thu của cửa hàng. Phương pháp này rất có hiệu quả đối với những cửa hàng bán đồ dùng Cá nhân như nữ trang, quần áo và Trang phục phụ nữ …
Chuông có thể làm bằng bất cứ loại kim loại nào, đồng thời có thể buộc bằng dây ruy-băng để kích hoạt năng lượng dương nâng cao hiệu quả. Trong phong thuỷ, treo sáu hoặc bảy cái chuông là lý tưởng nhất. 
Có hai phương pháp treo chuông ở cửa như sau:
- Treo chuông vào tay nắm cửa ở phía ngoài của cửa hàng.
- Treo chuông ở phía trên cửa sao cho mỗi khi mở cửa, chuông sẽ ngân lên.
Bạn có thể treo chuông có kích cỡ nhỏ ở bên trong cửa hàng, dọc theo tường phía Tây, Tây Bắc hoặc đối diện trực tiếp với cửa vào, hay treo cao lên trần nhà để thu hút khí thịnh vượng vào cửa hàng. Bạn không cần quá chú ý đến kiểu dáng của những cái chuông, điều quan trọng là sự hiện hữu của nó thông qua tiếng chuông ngân lên thánh thót trong không gian để kích hoạt năng lượng tốt vào trong công việc buôn bán.
Gương: biểu tượng tăng gấp đôi
Những thương nhân Trung Quốc trước đây rất thích lắp những tấm gương lớn ở bên trong cửa hàng. Trong phong thuỷ, điều này không những đem lại ý nghĩa làm tăng gấp đôi các sản phẩm và tượng trưng cho sự buôn bán phát đạt của cửa hàng, mà còn tạo ra một khối lượng năng lượng dương rất lớn. Bởi vì, nó làm tăng gấp đôi các hành động của cửa hàng. Ngoài ra, họ còn gắn gương để phản chiếu máy thu ngân với mong muốn tăng doanh thu lên gấp đôi.
Khuyếch đại năng lượng chủ về kinh doanh phát đạt 
Dùng gương là cách tốt nhất để khuyếch đại tất cả năng lượng tích cực trong kinh doanh. Bạn có thể dùng gương bọc các cột và tủ, lắp đặt gương trên tất cả các bức tường quanh cửa hàng, ngoại trừ bức tường đối diện với cửa ra vào. Bằng cách này, tất cả sản phẩm trưng bày trong cửa hàng và khách hàng đều được phản chiếu nhân đôi, cũng có nghĩa là tăng gấp đôi doanh thu.
(Sưu tầm)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Ngọc Sương (##)
![]() |
| ► ## giải mã giấc mơ theo tâm linh chuẩn xác |
Nhà thờ St. Peter ở Vatican được coi là Nhà thờ mẹ của Cơ đốc giáo La Mã, có quy mô lớn nhất trong các nhà thờ đẹp mắt trên thế giới với sức chứa lên tới 50.000 người. Lối kiến trúc Phục Hưng hoa mĩ tạo nên vẻ đẹp đầy nghệ thuật cho nơi đây.
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
Xem độ chênh giữa 2 đường tình duyên để đoán biết hôn nhân| => ## tổng hợp những kiến thức phong thủy đời sống hữu ích |
Coi nét tướng chân của người lắm tiền nhiều của
Trước cửa nhà luôn sạch sẽ, sáng sủa
Cửa ra vào của ngôi nhà cần giữ sạch sẽ thì mới có thể vượng vận. Ngược lại, nếu để đồ đạc linh tinh ngay cạnh cửa nhà, tạp vật, giày dép, thậm chí rác thải ở cửa nhà thì có thể sẽ khiến cho vận thế ngôi nhà xảy ra vấn đề, dễ bị phá tài.
Quanh cửa chính của ngôi nhà không nên bố trí quá nhiều vật dụng, đặc biệt không được để thùng rác hay những túi rác ở trước cửa nhà vì những "uế khí" này sẽ xua đuổi vận may của bạn. Nếu cửa chính của nhà có thể đón ánh nắng mặt trời sẽ càng tốt cho việc tích tụ dương khí, giúp chiêu rước tài lộc vào nhà.
Trong nhà đèn đóm sáng sủa
Ngôi nhà tuyệt đối không được để u ám. Đèn cần được thắp sáng để năng lượng tích cực tràn vào, làm thịnh vượng cho ngôi nhà. Ngược lại, nếu nhà cửa ẩm thấp và u tối thì tiền tài sẽ chậm đến. Nếu ánh đèn mờ ảo thì tiền tài cũng khó vào và vận thế của gia chủ không phất lên được.
Phòng khách không được “hao” tài
Muốn vận thế tốt thì cần quan tâm đến phòng khách của ngôi nhà. Phòng khách khi thiết kế cần chú ý không được ở thế thoát tài, ví dụ như cửa sổ đối lưu nhau, cửa trước và cửa sau thông thẳng nhau, điều này sẽ khiến tài khí đi xuyên qua hết.
Chú trọng chỗ ngồi vững chãi
Đời người ai cũng cần có quý nhân phù trợ. Vậy quý nhân đến từ đâu? Các nhà phong thủy cho rằng, chỗ ngồi ở văn phòng hoặc phía sau ghế làm việc tại nhà không được dựa vào cửa sổ, phía sau và trước mặt không được có hành lang hay kính. Tốt nhất là sau lưng phải có “núi tựa” vững chãi để vận thế thịnh vượng và tài lộc dồi dào.
Vị trí đặt ghế ngồi làm việc tốt nhất là phía sau có tường vững chãi, người ngồi sẽ cảm thấy yên định, tinh thần tập trung, không bị quấy nhiễu bởi những nguồn từ trường xấu.
Không để xà ngang áp đỉnh đẩu
Trong môi trường nhà ở không được để xà ngang áp đỉnh phía trên đầu. Nếu không sẽ khiến gia chủ rơi vào khó khăn, mỏi mệt, vận thế không tăng lên được.
Luôn khép cửa phòng vệ sinh
Chúng ta luôn biết rằng, nước là đại diện cho sự thịnh vượng mà nước thì cũng phát sinh trong nhà tắm. Tiền tài sẽ quay trở lại nếu phòng vệ sinh khô ráo. Tuy nhiên, để an toàn, bạn hãy đặt nắp bệ xí xuống, không để nước rò rỉ và luôn khép cửa phòng vệ sinh lại.
Tổng hợp
Mỗi người đều có năm tháng ngày giờ sinh khác nhau, mỗi Doanh nghiệp đều có khởi sự khác nhau, năm tháng ngày giờ khác nhau. Cái tên bổ sung, hỗ trợ cho bản mệnh là điều vô cùng quan trọng giúp sự nghiệp vững vàng, công việc phát triển
Một cái tên đẹp không chỉ dễ gọi, dễ nhớ, ấn tượng mà còn phải phù hợp với từng người, từng đối tượng.
TẠI SAO CẦN ĐẶT TÊN CHO CON HAY DOANH NGHIỆP
Không ai sinh ra mà có ngay Năm Tháng Ngày Giờ hoàn hảo cả. Bát tự của bạn có thể thừa, thiếu, khuyết, nhược một ngũ hành nào đó, điều đó làm công việc, sự nghiệp, tình duyên, tiền bạc, gia đạo, việc học hành... sau này có thể nhiều khó khăn trắc trở.
Việc nghiên cứu Tứ trụ (năm tháng ngày giờ sinh) của thân chủ để đặt 01 cái tên phù hợp với bản mệnh:
• Bổ sung vào ngũ hành bản mệnh giúp cuộc sống cân bằng.
• Tên dễ nhớ, dễ gọi, không nhầm lẫn.
• Cuộc sống.
.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Ngọc Sương (##)
Đa số người tuổi Thìn đều rất khoan dung, độ lượng, luôn tràn đầy sức sống và tinh thần lạc quan. Tuy có một số tật xấu như coi mình là trung tâm, phiến diện, phán đoán thiếu căn cứ hoặc thường suy nghĩ ngược lại với người khác, đưa ra những yêu cầu quá cao,... nhưng họ vẫn được nhiều người ngưỡng mộ. Là người khá hiếu thắng, họ biết xác định lý tưởng cho mình từ rất sớm.
![]() |
Với tính cách quá tự tin và thường bị mê hoặc bởi những ảo tưởng nên tuy đã cảnh giác với các mưu mô ở xung quanh nhưng khi chúng ập đến, người tuổi Thìn vẫn không thể tìm được một đối sách kịp thời. Họ rất ngạo mạn và thường từ chối sự giúp đỡ của người khác. Người cầm tinh con rồng cũng thường dũng cảm tiến lên phía trước đến nỗi quên cả việc phải bảo vệ bản thân.
Người tuổi Thìn thích tiêu xài hoang phí và sẽ không bao giờ tỏ ra keo kiệt. Họ thuộc tuýp người tích cực, không chịu nổi sự trầm lặng kéo dài và luôn thoát ra khỏi hoàn cảnh đó nhanh hơn những người khác. Họ luôn chú ý để giữ cho tinh thần được vui vẻ, thoải mái.
Vì tính cách quá cứng rắn nên người tuổi Thìn có khả năng bùng nổ rất lớn. Với những việc cần thiết, họ sẽ tự bắt tay vào làm. Họ có mặt ở đâu là sẽ thu được sự chú ý của mọi người ở đó và mọi việc sẽ được tiến hành theo ý họ. Họ có thể kích thích được sự nhiệt tình của tất cảm mọi người trong khi tiếp xúc. Tuy nhiên, họ không cần đến bất kỳ một sự kích thích nào từ phía người khác vì bản thân họ đã luôn tràn đầy năng lượng.
Họ ít khi bị dao động vì bất kỳ chuyện gì mà luôn cố gắng hết sức để hoàn thành công việc. Ngoài ra, vì rất có tinh thần khám phá nên họ cũng thích làm việc gì là sẽ có được thành công ngay lập tức.
Người tuổi Thìn thường rất thông minh, lanh lợi, phản ứng nhanh và có khả năng quan sát tốt. Họ thường không khó để thể hiện được khả năng của mình trong lĩnh vực quản lý kinh tế.
(Theo 12 con giáp về sự nghiệp và cuộc đời)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
í đó có không khí lưu thông. Ví dụ, một căn nhà toạ Canh hướng Giáp, có hai ngôi sao Bát Bạch tinh cùng bay đến hướng Đông, tức là song tinh cùng đến. Nếu hướng Đông có mở cửa sổ, Bát Bạch tinh sẽ được thúc vượng. Hàng ngày, chúng ta hãy cố gắng mở cửa sổ ra thì cũng có thể tăng vượng Bát Bạch tinh. Nếu vị trí đó nhìn thấy đường đi, bể nước, cầu thì càng thêm vượng.

Khi bước vào một căn nhà, chúng ta phải tìm ra vấn đề lớn nhất mà căn nhà đó gặp phải là gì. Vị trí then chốt khi đó là cửa chính, vì nó là cửa ngõ cho khí lưu thông. Cửa chính là vị trí quan trọng nhất của cả nhà. Dùng Phi Tinh của vị trí cửa chính để suy đoán cát hung của cả nhà thì ứng nghiệm nhất. Ngoài cửa chính, cửa sổ có chức năng nhập khí thì máy điều hoà cũng có chức năng tương tự vì nó hút không khí từ bên ngoài thổi vào trong nhà, tự nhiên sẽ thúc vượng khí trường tại vị trí đó.
Tóm lại, bất cứ vị trí nào trong nhà có gió thì sẽ thúc vượng Phi Tinh chỗ đó. Cho nên khi xem phong thuỷ căn nhà, điều đầu tiên là quan sát nơi nạp khí.
“Long huyệt lạc tam cát chi phụ” là chỉ ba cát tinh Nhất Bạch, Lục Bạch và Bát Bạch. Long huyệt chỉ ngôi nhà hoặc ngôi mộ. Long huyệt tam cát có ý chỉ khi xem phong thuỷ phải tìm ra vị trí ba ngôi sao may mắn ấy bay đến đâu. Chúng ta vừa ví dụ với căn nhà Canh sơn Giáp hướng, ba ngôi sao đó cùng bay đến vị trí Thuỷ (hướng Đông). Điều này có lợi để ta tiến hành bố trí phong thuỷ, tránh hoạ chiêu lợi.
Tuổi Sửu
Tài vận của người tuổi Sửu tháng 12 cũng rất hanh thông. Công việc có nhiều đột phá. Vận đào hoa cực vượng. Những nam, nữ còn độc thân dễ gặp được ý trung nhân. Người đã kết hôn nên cẩn thận trong quan hệ tình cảm. Tháng này, bạn nên tránh xa tửu sắc, kẻo phá tài hại thân.
Tuổi Dần
Tháng này, vận thế của người tuổi Dần thuận lợi, suôn sẻ. Bạn làm việc gì cũng hanh thông, kết quả đạt được khá mĩ mãn, sự nghiệp phát triển. Vì vậy, hãy nắm bắt thời cơ ngàn vàng này để thúc đẩy sự nghiệp của mình. Vận tình cảm của tuổi Dần tháng 12 cũng tương đối sáng sủa. Mâu thuẫn ắt sẽ được hóa giải. Tuy nhiên, tháng này, bạn nên chú ý hơn tới sức khỏe của người thân trong gia đình, đặc biệt là phụ nữ đã cao tuổi.
Tuổi Mão
Vận thế của tuổi Mão tháng 12 có phần sa sút. Tuy nhiên, sự nghiệp vẫn có những bước tiến nhất định. Nếu muốn tiến hành chuyện đại sự, bạn nên đề cao các tiêu chí: “bình tĩnh, chắc chắn, tuần tự”, thành công ắt sẽ đến với mình. Tuy nhiên, tháng này, tuổi Mão nên chú ý cải thiện quan hệ xã hội, chớ hành xử thiếu chín chắn mà đắc tội với người hoặc vướng vào thị phi, rắc rối.
Tuổi Thìn
Tháng này, tuổi Thìn làm việc gì cũng có quý nhân phù trợ nên khá thuận lợi, suôn sẻ. Tài vận của bạn cũng rất khả quan. Vì vậy, hãy nắm bắt thời cơ này để gặt hái những thành tích đáng nể trong tháng cuối năm. Trong tháng, quan hệ xã hội của người tuổi Thìn được cải thiện rõ rệt. Bạn và mọi người hòa làm một và đồng lòng đồng sức giải quyết mọi việc. Về phương diện tình cảm, hỉ sự nhiều không kể xiết.
Tuổi Tỵ
Tháng này, vận thế của tuổi Tỵ rất ảm đạm. Công việc có phần trì trệ, khó phát triển vượt bậc, thậm chí dễ nảy sinh tranh chấp, mâu thuẫn. Vì vậy, phàm làm việc gì, tuổi Tỵ cũng nên đề cao tiêu chí: “cẩn trọng, ổn định, bình tĩnh”. Tài vận của bạn trong tháng 12 chỉ ở mức trung bình. Về phương diện sức khỏe, bạn nên chú ý hơn tới bản thân, kẻo gặp tai họa bất ngờ.
Tuổi Ngọ
Vận thế của tuổi Ngọ trong tháng 12 có phần biến động, lên xuống thất thường. Công việc của bạn kém ổn định. Tháng này, tuổi Ngọ dễ có sự di chuyển, thậm chí chuyển nhà, điều động trong công việc hoặc thường xuyên đi công tác, nhưng chính nhờ biến động mà tài vận lại sáng sủa.
Tuổi Mùi
Vận thế của tuổi Mùi tháng này sa sút rõ rệt. Bạn dễ bị tiểu nhân ngáng đường hãm hại. Vì vậy, nên tránh quan phi khẩu thiệt, cẩn thận kẻo phá tài tổn lợi. Trong công việc, bạn gặp nhiều áp lực, khó khăn chồng chất khó khăn. Tài vận cũng chỉ ở mức trung bình, thậm chí phải chi nhiều khoản lớn. Vận tình cảm của những nam, nữ tuổi Mùi đã kết hôn không mấy tốt đẹp. Tình cảm phu thê dễ trục trặc vì có kẻ thứ ba chen vào. Cũng vì mệt mỏi trong chuyện tình cảm, bạn dễ suy sụp về sức khỏe.
Tuổi Thân
Tháng này, sự nghiệp của tuổi Thân tiến triển vượt bậc. Cơ hội tốt sẽ đến với bạn, vì vậy, hãy nắm bắt thời cơ này để thăng tiến trong công việc. Tháng 12 cũng là tháng thăng quan thăng tài của người tuổi Thân. Tài vận của bạn cực hanh thông, vì vậy, nếu đang có ý định đầu tư bạn nên mạnh dạn dốc tiền. Về phương diện tình cảm, tuổi Thân dễ có vận đào hoa. Người còn độc thân có duyên phận sáng sủa.
Tuổi Dậu
Vận thế của người tuổi Dậu trong tháng 12 rất tốt. Sự nghiệp của bạn phát triển rực rỡ, vì vậy hãy tiếp tục cố gắng dựa trên nền tảng ổn định, vững chắc. Tài vận tháng này cũng vô cùng sáng sủa. Nếu có ý định đầu tư, hãy mạnh dạn quyết đoán, ắt sẽ thu được lợi nhuận. Những nam, nữ tuổi Dậu còn ở độ tuổi học sinh sẽ văn chương xuất chúng, học hành tiến bộ, thành tích đạt được rất mĩ mãn.
Tuổi Tuất
Tháng 12 của người tuổi Tuất là tháng vượng tài. Phải làm việc gì, bạn cũng nên tích cực chủ động, ắt sẽ thành công. Tuy nhiên, trong công việc, tuổi Tuất chớ nên tự kiêu tự mãn, hấp tấp vội vàng, hãy hành sự cẩn trọng, bình tĩnh. Tài vận tháng này rất khởi sắc, bởi vậy, đây là thời điểm thích hợp để bạn khởi nghiệp hoặc dốc tiền đầu tư. Tuy nhiên, bạn nên cẩn thận, kẻo hao tài mất của vì những sự cố ngoài ý muốn. Về phương diện tình cảm, vận đào hoa của người tuổi Tuất tháng này tương đối vượng. Nam, nữ còn độc thân dễ có cơ hội tìm thấy ý trung nhân.
Tuổi Hợi
Vận thế của người tuổi Hợi trong tháng 12 có phần cải thiện, tuy nhiên, công việc vẫn gặp trắc trở, sự nghiệp không phát triển nhanh. Nhưng nếu tích cực cố gắng, năng động sáng tạo, thành công ắt sẽ đến với bạn. Tháng này, tuổi Hợi nên cẩn trọng trong chuyện tiền bạc, hợp tác đầu tư.
Theo Hương Ngàn (Khám Phá)
Sao Tham Lang trong lá số Tử Vi chính là hóa thân của Đắc Kỷ – một người đàn bà xinh đẹp nhưng dâm đãng, lẳng lơ bên cạnh Trụ Vương. Chính vì vậy, sao Tham Lang tượng trưng cho mẫu người nhiều dục vọng, có khả năng nghệ thuật, ưa chơi bời, đa dục, tửu sắc. Tuy nhiên còn phải xét thêm về vị trí và các trung tinh đi kèm Thang Lang trong một lá số.
Đặc điểm sao Tham Lang.Tuvikhoahoc.com
– – Phương Vị: Bắc Đẩu Tinh
– – Tính: Âm
– – Hành: Thủy
– – Loại: Hung Tinh, Dâm Tinh
– – Chủ về: Họa phúc, uy quyền
– – Tên gọi tắt: Tham

Vị trí Tham Lang ở các Cung
– – Miếu địa ở các cung Sửu, Mùi.
– – Vượng địa ở các cung Thìn, Tuất.
– – Đắc địa ở các cung Dần, Thân.
– – Hãm địa ở các cung Tỵ, Hợi, Tý, Ngọ, Mão, Dậu.
Tham Lang là Sao thứ 3 thuộc chòm Thiên Phủ và cũng là sao chính trong 14 chính tinh. Chòm Thiên Phủ hợp cùng Chòm Tử vi sẽ tạo thành 14 chính tinh. Chòm Thiên Phủ bao gồm các sao an theo Thiên Phủ: Thiên Phủ, Thái Âm, Tham Lang, Cự Môn, Thiên Tướng, Thiên Lương, Thất Sát, Phá Quân.
Tham Lang ở cung Mệnh
Ý nghĩa ngoại hình, tướng mạo, tính cách:
+ Cung Mệnh có Tham Lang miếu, vượng hay đắc địa tọa thủ, nên thân hình cao lớn, đẫy đà, da trắng, mặt đầy đặn, lông tóc, râu rậm rạp, có ẩn tinh, (Miếu địa: có nốt ruồi kín) khá thông minh, tính trung hậu, nhưng hiếu thắng và tự đắc, ưa hoạt động, có óc kinh doanh, có tài tổ chức, lòng tham dục không bờ bến, hay, mưu tính những việc to lớn, làm việc gì cũng muốn chóng xong, nhưng chỉ chuyên cần siêng năng buổi đầu, rồi về sau sinh lười biếng, chán nản và bỏ dỡ, lại thích lui tới những chỗ đông người ồn ào thích ăn ngon mặc đẹp, choi bời cho thỏa chí.
+ Tham hãm địa, nên thân hình cao vừa tầm, hơi gầy da thô xấu, mặt dài, không được đầy đặn, tiếng nói to, kém thông minh.
+ Tham hãm địa, Tý, Ngọ, Tỵ, Hợi là người gian hiểm, tham lam, có nhiều dục vọng, cũng có kinh doanh nhưng không quả quyết, không bền chí, lại thêm tính dâm dật, chơi bời hoang đãng.
– Nam mệnh
+ Tham miếu, vượng hay đắc địa thủ Mệnh, gặp nhiều sao sáng sủa tốt đẹp hội hợp, là người tài giỏi thao lược, thường hiển đạt về võ nghiệp, tất được hưởng phú qúy đến tột bậc, có uy danh lừng lẫy và phúc thọ song toàn.
+ Tham hãm địa gặp nhiều sao mờ ám xấu xa hội hợp, thật là chung thân cùng khốn cô đơn,
phải lang thang phiêu bạt, có nhiều bệnh tật khó chữa, hoặc ở mắt, hoặc ở bộ tiêu hóa, hoặc ở bộ
sinh dục, thường mắc những tai nạn khủng khiếp, chân tay thường bị vướng vào xích xiềng và dĩ
nhiên là yểu tử.
– Nữ mệnh
+ Tham miếu, vượng hay đắc địa tọa thủ Mệnh, là người tài giỏi, đảm đang, gan góc, bạo tợn, hay ghen tuông, nhưng hưởng giàu sang và sống lâu. Nếu Tham gặp nhiều sao sáng sủa tốt đẹp hội hợp, tất được hưởng phú qúy đến tột bậc, phúc thọ song toàn.
+ Tham hãm địa, phải muộn lập gia đình, hay lấy kế lấy lẽ mới tránh được mấy độ buồn thương.
+ Tham hãm địa, Tý, Ngọ, Tỵ, Hợi là người gian tham hiểm độc, dâm dật, hay lăng loàn, suốt đời vất vả, có nhiều bệnh tật, thường mắc những tai nạn đáng lo ngại, nếu không sớm ly tổ, tất không thể sống lâu được.
+ Tham hãm địa gặp nhiều sao sáng sủa tốt đẹp hội hợp, thật là chung thân cùng khốn cô đơn, khắc chồng hại con, phải lang thang phiêu bạt, lại có nhiều bệnh tật khó chữa, hoặc ở mắt, hoặc ở bộ tiêu hóa, hoặc ở bộ sinh dục, thường hay mắc những tai nạn khủng khiếp và dĩ nhiên là yểu tử.
Ý nghĩa công danh tài lộc
+ Sao Tham Lang ở cung đắc địa trở lên thì giàu sang. Nhưng vì Tham Lang là sao Bắc Đẩu nên càng về già càng thịnh vượng, an nhàn, sung sướng. Nếu có thêm cát tinh, thì mức tài lộc, công danh càng tăng. Nếu đồng cung với Kỵ thì buôn bán giàu có.
+ Tham miếu, vượng hay đắc địa, tất được hưởng giàu sang và sống lâu.
+ Tham miếu địa, lúc thiếu thời vất vả, chẳng mấy khi được xứng ý toại lòng. Nhưng từ ngoài 30 tuổi trở đi, thật là phú qúy song toàn và càng về già lại càng sung sướng an nhàn.
+ Tham miếu, vượng hay đắc địa gặp nhiều sao sáng sủa tốt đẹp hội hợp, nhất là Tả, Hữu, Khoa, Quyền, Lộc hay Hỏa Linh đắc địa, chắc chắn là được hưởng phú qúy đến tột bậc, có uy quyền hiển hách, danh tiếng lừng lẫy và sống lâu.
+ Tham vượng địa, gặp Kỵ hoặc đồng cung hoặc xung chiếu, tất buôn bán, kinh doanh mà nên giàu có.
+ Tham Lang hãm địa Tý, Ngọ, Hợi thường là người đi theo nghề kỹ nghệ, thủ công, hay đi buôn nhưng suốt đời lao khổ, hay bị phá ngang bỏ dở nửa chừng, nửa đời sau mới có chút danh phận, sự nghiệp.
Ý nghĩa phúc thọ tai họa
+ Tham hãm địa Mão Dậu là người yếm thế, làm việc gì cũng thất bại, và hay gặp những sự chẳng lành. Chỉ có tu hành mới mong được yên thân và hưởng phúc thọ.
+ Tham hãm địa gặp nhiều sao mờ ám xấu xa hội hợp, nhất là Sát tinh, Kỵ, Hình thật là chung thân cùng khốn cô đơn, phải lang thang phiêu bạt, có nhiều bệnh tật khó chữa, hoặc ở mắt, giọng ở bộ tiêu hóa, hoặc ở bộ sinh dục, thường mắc những tai nạn khủng khiếp, chân tay thường bị vướng vào xích xiềng, và dĩ nhiên là yểu tử.
+ Tham, dù miếu, vượng, đắc hay hãm địa, hoặc gặp Kỵ đồng cung, hoặc gặp Riêu đồng cung, tất hay bị bắt bớ giam cầm, nếu không, thật là khó tránh thoát được tai nạn sông nước.
Những Bộ Sao Tốt
Tham Lang, Hỏa Tinh đồng cung miếu địa hay Tham Lang, Linh Tinh đồng cung miếu địa: phú quí tột bậc, danh tiếng lừng lẫy. Rất hiển đạt về võ nghiệp. Rất tốt cho hai tuổi Mậu Kỷ vì ứng hợp với cách này.
Tham Lang, Trường Sinh ở Dần Thân: Sống rất lâu.
Tham Lang, Vũ Khúc đồng cung ở Tứ mộ: thì ngoài 30 tuổi công danh, sự nghiệp mới có sự tiến triển tốt đẹp, làm nên sự nghiệp nhưng phải có thêm cát tinh nhiều ở Mệnh. Nếu thêm cả Hỏa Linh thì rất quí hiển. Nhưng nếu cung Thân ở Tứ mộ có Tham Vũ thì lại là hạ cách, không quí hiển được, nhất là thiếu cát tinh.
Các cách trên nếu có thêm sao tốt như Khoa, Quyền, Lộc, Xương, Khúc, Tả, Hữu thì rất tốt cả về công danh, tài lộc, phúc thọ, tâm tính.
Những Bộ Sao Xấu
Tham Lang, Vũ Khúc đồng cung gặp Phá Quân: Lụy thân vì sa đọa tửu, sắc.
Tham Lang, Liêm Trinh đồng cung ở Tỵ, Hợi: Con trai đàng điếm, du đãng, con gái dâm dật đĩ thõa, giang hồ. Chỉ có sao Hóa Kỵ hay Tuần Triệt mới hóa giải được bất lợi này.
Tham Lang, Liêm Trinh ở Dần Thân gặp Văn Xương đồng cung: Phải có phen bị tù hình khổ sở (nếu thiếu sao giải).
Tham Lang, Liêm, Tuyệt, Linh đồng cung: Suốt đời cùng khổ, hoặc chết non, bệnh chết hụt, vợ chồng lấn lướt, bất hòa (phong).
Tham Lang, Liêm, Kình, Kiếp Không, Hư Mã: Suốt đời cùng khổ, hoặc chết non, bệnh chết hụt, vợ chồng lấn lướt, bất hòa (phong).
Tham Lang, Kình (hay Đà đồng cung) ở Tý Hợi: Giang hồ, lãng tử, chơi bời lang thang hay hoang đàng. Nếu ở Dần thì còn bị đánh đập vì chơi bời.
Tham Lang, Thất Sát: Trai trộm cướp, gái giang hồ; nếu thêm hung tinh thì nguy hiểm càng tăng.
Tham Lang, Thất Sát, Tang Môn, Bạch Hổ ở Dần, Ngọ: Bị sét đánh, thú cắn.
Tham Lang, Không Kiếp ở Mão Dậu: Đi tu phá giới.
Tham Lang Đào, Tham Lang Hồng hay Tham Lang Liêm: Dâm đãng, lăng loàn. (Nếu gặp Tuần Triệt thì đoan chính).
Tham Lang ở Cung Phụ Mẫu
– Bất cứ tại vị trí nào cũng sớm khắc một trong hai thân. Nếu không, cũng phải xa cách hai thân.
– Đơn thủ tại Thìn, Tuất: cha mẹ giàu có, nhưng con không được thừa hưởng. Trong nhà thiếu hòa khí.
– Đơn thủ tại Dần, Thân: hai thân túng thiếu, bất hòa, hay xa cách nhau, cha mẹ không hợp tính con.
– Đơn thủ tại Tý, Ngọ: cha mẹ bình thường. Trong nhà thiếu hòa khí. Nên làm con nuôi họ khác.
– Tử đồng cung: cha mẹ bình thường. Nên làm con nuôi họ khác. Nếu không, tất sớm xa cách một trong hai thân.
– Liêm đồng cung: cha mẹ khốn cùng hay mắc tai ương và xa cách nhau. Sớm lìa bỏ hai thân.
– Vũ đồng cung: cha mẹ giàu, nhưng con không hợp tính cha mẹ. Trong nhà thiếu hòa khí.
Tham Lang ở Cung Phúc Đức
– Âm phần: Tham Lang: mộ tổ xa đời (thường là sáu hay bảy đời). đất nổi cao như hình con chó ngồi, sắc đen như bùn có nhiều cây cỏ mọc rậm rạр.
– Đơn thủ tại Thìn, Tuất: được hưởng phúc. Về già rất sung sướng. Trong họ nhiều người giàu có, nhưng thường lập nghiệp ở nơi thật xa quê hương.
– Đơn thủ tại Dần, Thân: Không được hưởng phúc dồi dào, nhưng cũng sống lâu. Họ hàng bình thường, có nhiều người lập thân bằng võ nghiệp.
– Đơn thủ tại Tý, Ngọ: bạc phúc nên giảm thọ. Phải lập nghiệp ở xa quê hương, phải sớm xa gia đình mới mong được yên thân. Họ hàng ly tán, càng ngày càng sa sút, lại có nhiều người rất dâm đãng.
– Tử đồng cung: suốt đời chẳng được xứng ý toại lòng, giảm thọ vì bạc phúc. Họ hàng ly tán, người nào khá giả lại chết sớm.
– Liêm đồng cung: giảm thọ, khó tránh được tai ương, họa hại. Trong họ có nhiều người bần hàn hay mắc tù tội, thường phải bạt quán xiêu cư.
– Vũ đồng cung: được hưởng phúc sống lâu. Về già, lại càng xứng ý toại lòng. Trong họ thường có người giàu sang hay hiển đạt về võ nghiệp.
Tham Lang ở Cung Điền Trạch
– Đơn thủ tại Thìn, Tuất: phá tán tổ nghiệp, hay phải lìa bỏ tổ nghiệp. Nhưng về sau mua tậu khá nhiều nhà đất.
– Đơn thủ tại Dần, Thân, Tý, Ngọ: nếu có nhà đất của tổ nghiệp để lại, rồi cũng phá tán hết hay là phải lìa bỏ mà không được thừa hưởng. Gây dựng cơ nghiệp rất vất vả, chật vật may mắn lắm về già mới có nhà ở chắc chắn.
– Tử đồng cung: không gìn giữ được tổ nghiệp, về sau sa sút
– Liêm đồng cung: nhà đất của tổ nghiệp để lại khá nhiều, nhưng không được thừa hưởng. Về già cũng không có nơi an chốn ở chắc chắn.
– Vũ đồng cung: có nhà đất của có nghiệp để lại nhưng rất ít, không đáng kể. Tự tay lập nghiệp. Tuy vậy, phải ngoài ba mươi tuổi, mới có nhà đất chắc chắn.
Tham Lang tại cung Quan Lộc
– Đơn thủ tại Thìn, Tuất: võ nghiệp hiển đạt. Nếu buôn bán kinh doanh, cũng được xứng ý toại lòng.
– Đơn thủ tại Dần, Thần: có chức vị quân sự nhưng nhỏ thấp. Suốt đời không được toại nguyện. Công danh trắc trở nhưng nếu buôn bán lại phát đạt.
– Đơn thủ tại Tý, Ngọ: chức vị nhỏ thấp, thăng giáng thất thường, là hạng tham quan ô lại
– Tử đồng cung: bình thường. Nếu công danh rực rỡ, tất sinh tai họa.
– Liêm đồng cung: có võ chức, nhưng nhỏ thấp. Trên đường công danh thường gặp nhiều trở ngại, tai ương, nhất là hình ngục. Chỉ có lánh mình ra khỏi chỗ lợi danh, mới được an toàn.
– Vũ đồng cung: giàu có và thành công trong việc kinh doanh, buôn bán. Nếu có danh chức, cũng chỉ sau một thời gian ngắn lại trở về thương trường. Lúc thiếu thời mọi sự chẳng được hành thông, từ 30 tuổi trở đi, mới được xứng ý toại lòng.
Tham Lang ở Cung Thiên Di
– Đơn thủ tại Thìn, Tuất: dễ kiếm tiền, hay gặp qúy nhân.
– Đơn thủ tại Tý, Ngọ: ra ngoài rất bất lợi, hay gặp những sự phiền lòng, sau này chết ở xa nhà.
– Đơn thủ tại Dần, Thân: hay mắc tai nạn, xa nhà rất bất lợi.
– Tử đồng cung: rời khỏi nhà hay gặp những sự phiền lòng, may ít rủi nhiều, thường có kẻ tiểu nhân theo dõi quấy rối. Sau này chết ở xa nhà.
– Vũ đồng cung: buôn bán phát tài, trước khó sau dễ, hay gặp sự cạnh tranh ráo riết.
– Liêm đồng cung: ra ngoài tất bít lợi, hay gặp những tai ương bất kỳ, nhất là về hình ngục hay kiện tụng. Qúy nhân ít gặp, còn tiểu nhân, ác nhân, lúc nào cũng sẵn sàng làm hại.
Tham Lang ở Cung Tật Ách
– Đơn thủ tại Dần, Thân: bệnh ở chân
– Đà đồng cung tại Dần, Thân: mắc tai nạn xe cộ hay bị súc vật cắn đá, nếu không, cũng vì ăn uống mà sinh bệnh khó chữa.
– Đơn thủ tại Thìn, Tuất: thú dữ cắn đá, nếu không, cũng mác tai nạn xe cộ rất nguy hiểm.
– Hổ đồng cung tại Tuất: thú dữ cắn chết
– Đơn thủ tại Tý, Ngọ: chơi bời mà mắc bệnh.
– Kỵ đồng cung: tai nạn sòng nước.
– Lương, Kỵ: mác kiện cáo tù tội.
– Riêu đồng cung: mắc tai nạn sông nước, hay mang bệnh phong tình.
Tham Lang ở Cung Tài Bạch
– Đơn thủ tai Thìn, Tuất: hoạnh phái tiền tài, kiếm tiền nhanh chóng và dễ dàng, càng về già càng giàu có.
– Đơn thủ tại Tý, Ngọ: hoang phí, chơi bời nên hao tán, suốt đời túng thiếu.
– Đơn thủ tại Dần, Thân: tiền vào tay này sang tay kia.
– Tử đồng cung: bình thường, được hưởng của hương hỏa để lại, nhưng về sau cũng suy kém.
– Liêm đồng cung: túng thiếu, suốt đời khổ sở vì tiền. Hay mắc tai họa vì tiền, nhất là kiện tụng và hình ngục.
– Vũ đồng cung: từ ngoài 30 trở đi, mới giàu.
Tham Lang ở Cung Tử Tức
– Đơn thủ tại Thìn, Tuất: sinh nhiều nuôi ít. May mắn lắm mới có ba con. Con bất hiếu, bất mục, xung khắc với cha mẹ.
– Đơn thủ tại Dần, Thân: nhiều nhứt là hai con. Sau con cũng hiển đạt, nhưng không hợp tính với cha mẹ.
– Đơn thủ lại Tý, Ngọ: sinh nhiều nuôi ít. May mắn lắm mới có một con. Nhưng con chơi bời hư hỏng, lúc bé khó nuôi, lớn lên lại khó dạy.
– Coi Tử Vi (Tham đồng cung) – Liêm Trinh (Tham đồng cung) – Vũ Khúc (Tham đồng cung).
Tham Lang ở Cung Phu Thê
– Đơn thủ tại Thìn, Tuất: trai lấy được vợ giàu, tài giỏi nhưng hay ghen, gái lấy được chồng sang nhưng hay chơi bời. Nên muộn lập gia đình để tránh những hình khắc hay chia ly.
– Đơn thủ tại Dần, Thân: trai lấy phải vợ hay ghen và dâm đãng. Gái lấy phải chồng nghèo hay hoang đãng lưu manh. Nên muộn đường hôn phối, vì dễ gặp nhau để rồi lại dễ xa nhau, hay hình khắc nhau.
– Đơn thủ tại Tý, Ngọ: nhận xét như trên nhưng vợ nên là con gái trưởng.
– Tử đồng cung: muộn lập gia đình mới mong được bách niên giai lao. Nhưng dù sao chăng nữa, trong nhà cũng hay có sự bất hòa vì một trong hai người hay ghen tuông.
– Liêm đồng cung: vợ chồng ở với nhau hay sinh tai họa, dễ gặp nhau lại dễ bỏ nhau, nếu không cũng sớm khắc.
– Vũ đồng cung: nên muộn lập gia đình, vợ chồng phải chênh lệch nhau nhiều tuổi. Cả hai đều tài giỏi đảm đang nhưng nếu sớm đường hôn phối tất bị hình khắc.
Tham Lang ở Cung Huynh Đệ
– Đơn thủ tại Thìn, Tuất: hai người.
– Đơn thủ tại Dần, Thân: một người
– Đơn thủ tại Tý, Ngọ: may mắn lắm mời có một người, nhưng hay chơi bời, suốt đời lang thang đây đó. Đôi khi lại có thêm nhiều anh chị em dị bào rất khá giả.
– Tử đồng cung: nhiều nhất là ba người, thường ly tán và vất vả trên đường đời.
– Liêm đồng cung: may mắn lắm mới có hai người nhưng ly tán, cùng khổ. Trong nhà thiếu hòa khí. Anh chị em oán hận lẫn nhau, đôi khi lại còn cãi nhau.
– Vũ Tham đồng cung: nhiều nhất là ba người, sau đều giàu có nhưng sớm xa nhau.
Tham Lang ở Hạn
– Sáng sủa tốt đẹp: mọi sự hành thông, có công danh, có hoạnh tài, nếu nhập Hạn tại Tứ Mộ hợp với tuổi Thìn, Tuất, Sửu, Mùi nên lại càng phát đạt hiển hách. Trong trường hợp này, nếu may mắn gặp thêm Hỏa, Linh phải quyết đoán là hoạnh phát danh tài.
– Mờ ám xấu xa: hao tán tiền tài, chơi bời phóng đãng đến nỗi mang tai họa, mọi sự đều bế tắc, nếu có công danh chắc chắn là bị truất giáng.
– Vũ, Lộc, Mã: có danh chức và tài lộc.
– Hồng, Đào: thành gia thất (lấy vợ lấy chồng)
– Lương, Kỵ: vật bằng gỗ, đá rơi xuống người gây nên thương tích.
– Riêu, Kỵ: tai nạn về sông nước, mắc khẩu thiệt, hay kiện tụng, có sự lo buồn.
– Không, Kiếp: mọi sự đều bế tắc, hao tổn tiền tài, nếu có công danh tất bị truất giáng.
– Hổ: súc vật hay ác thú cắn đá (đáng lo ngại nhất là Tham nhập Hạn tại Dần, Tuất) nếu không, tất mắc tai nạn xe cộ.
Ngày Tam nương trong phong thủy phương Đông
Từ ngày xưa, mọi người thường hay nhắc đến ngày rất xấu là ngày Tam nương. Do đó, những khởi sự quan trọng như khai trương, xuất hành, cưới hỏi, động thổ,...phải tránh ngày Tam nương để khỏi gặp vấn đề xui xẻo. Vậy ngày Tam nương là gì?
Tam nương có nghĩa là 'ba người đàn bà'. Theo dân gian Trung Quốc, tam nương gồm ba nàng Muội Hỉ, Đát Kỉ và Bao Tự - những giai nhân tuyệt sắc làm sụp đổ ba triều Hạ, Thương, Tây Chu trước Công Nguyên. Trong suốt thời đại của mình, họ được coi là 'hồng nhan họa thủy' mang lại sự xui xẻo cho mọi người liên quan.
Muội Hỉ mê hoặc vua Kiệt làm sụp đổ đế chế 500 năm của nhà Hạ (khoảng 2100 TCN - 1600 TCN).
Đát Kỷ quyến rũ vua Trụ làm nhà Thương sụp đổ (khoảng 1600 TCN - 1066 TCN). Đời sau mọi người khắc họa Đát Kỷ là một con hồ ly tinh biến thành.
Bao Tự làm vua U ngu mê dẫn đến làm sụp đổ nhà Tây Chu (khoảng 1066 TCN - 771 TCN).
Ngày Tam nương là những ngày mùng 3, mùng 7, 13, 18, 22 và 27 trong mỗi tháng âm lịch. Dân gian truyền miệng rằng những ngày này là ngày sinh và ngày mất của ba nàng.
Ngày Nguyệt kì trong tử vi phương Tây
Tuy có nhiều điểm khác biệt về cung hoàng đạo, chòm sao,...nhưng đáng ngạc nhiên là ngày Tam nương của phương Đông và ngày Nguyệt kì của phương Tây lại trùng nhau. Nguyệt kì là lịch tuần trăng để biểu hiện ngày trăng tròn, trăng khuyết trong tháng.
Trong tử vi phương Tây có 12 cung hoàng đạo. Khi trái đất tự quay quanh mình và mặt trăng quay quanh trái đất, cứ khoảng 2 ngày rưỡi, mặt trăng sẽ di chuyển qua một “vùng trời” mới. Lúc này, khi chuyển sang một cung hoàng đạo mới sẽ tạo thành một dòng năng lượng mới (theo từng cung) ảnh hưởng tới toàn bộ sự sống trên trái đất.
Trong một tháng, trăng non là thời điểm năng lượng trong vũ trụ tràn đầy nhất để mọi người khởi sự những việc trọng đại như làm ăn, kí kết hợp đồng. Trăng non sẽ di chuyển qua trăng lưỡi liềm khoảng ngày mùng 3 âm lịch và trăng thượng huyền vào ngày 7 âm lịch . Hai ngày này là thời điểm giao thời - nửa tối nửa sáng, nên làm việc hay bị lỡ dở.
Thời kì trăng khuyết diễn ra từ ngày 8-13 âm lịch. Đây là lúc cần tập trung hành động để giải quyết vấn đề. Ngày 13 đen đủi là giai đoạn chuyển từ bán nguyệt sang trăng tròn. Trăng tròn (14 - 18 âm lịch) là những ngày tốt để gặt hái thành quả sau một thời gian dài. Thời điểm chuyển giao vào ngày 18 từ trăng tròn sang trăng khuyết là lúc năng lượng bấp bênh gây nên xung động lớn cho vạn vật. Ngày 22 là lúc năng lượng suy yếu dần khi chuyển giao sang một cung hoàng đạo mới. Trăng tàn diễn ra từ ngày 27 là lúc các “phù thủy” khoái nhất vì đây là lúc con người có giác quan thứ 6 mạnh nhất, thích hợp để cúng tế.
Dù trong tử vi phương Đông hay phương Tây thì luôn có những ngày xấu mà những nguồn năng lượng không ổn định. Dù chỉ là quan niệm dân gian nhưng nhiều gia đình vẫn nghe theo khi làm chuyện đại sự vì 'có thờ có thiêng, có kiêng có lành'.
Chùa Duyên Ninh còn có tên gọi dân gian khác là chùa Thủ. Chùa thuộc vùng bảo vệ đặc biệt của khu di tích Cố đô Hoa Lư (Ninh Bình). Chùa được xem là một trong những ngôi chùa cầu duyên nổi tiếng ở Việt Nam. Chùa nằm rất gần đền Vua Đinh Tiên Hoàng và giữa 2 điểm du lịch là chùa Bái Đính và khu du lịch sinh thái Tràng An. Chùa quay hướng đông bắc, gồm có chính điện, nhà tổ, phòng khách, nhà ăn, tháp…
Lịch sử: Chùa Duyên Ninh là ngôi chùa cổ, được xây dựng từ thế kỷ X dưới thời vua Đinh Tiên Hoàng. Chùa Duyên Ninh cùng với chùa Kim Ngân nằm ở vị trí thành Tây của kinh đô xưa. Cũng như chùa Nhất Trụ, chùa Duyên Ninh là nơi thờ phật và các nhà sư thế kỷ 10 như Pháp Thuận, Khuông Việt và Vạn Hạnh.
Chùa nằm rất gần đền Vua Đinh Tiên Hoàng và giữa 2 điểm du lịch là chùa Bái Đính và khu du lịch sinh thái Tràng An. Chùa quay hướng đông bắc, gồm có chính điện, nhà tổ, phòng khách, nhà ăn, tháp…
Theo lịch sử ghi chép lại, Chùa Duyên Ninh là nơi các công chúa thời Đinh-Lê thường qua lại. Tại đây, công chúa Lê Thị Phất Ngân và tướng công Lý Công Uẩn đã thề hẹn ở đó mà sinh ra Lý Phật Mã (sau là vua Lý Thái Tông) vào năm 1000. Sau này khi Lý Thái Tông trở về đây dẹp loạn Khai Quốc Vương đã đổi tên chùa thành chùa Duyên Ninh. Cuối đời, Hoàng hậu Phất Ngân đã về đây tu hành và trông coi mộ phần thân phụ là Hoàng đế Lê Đại Hành. Tại đây, Hoàng hậu đã tác hợp cho nhiều đôi lứa thành đôi và từ đó Duyên Ninh trở thành ngôi chùa cầu duyên ở cố đô Hoa Lư.
Lý Thái Tông sinh ngày 26 tháng 6 âm lịch năm Canh Tý niên hiệu Ứng Thiên thứ 7 thời Tiền Lê ở ngôi sau này là chùa Duyên Ninh trong kinh đô Hoa Lư (Ninh Bình ngày nay). Theo Đại Việt sử ký toàn thư, khi vua mới sinh, ở phủ Trường Yên có con trâu của nhà dân tự nhiên thay sừng khác, người có trâu ấy cho là điềm không lành, lấy làm lo ngại. Có người giỏi chiêm nghiệm đi qua nhà người ấy cười mà nói rằng: “Đó là điềm đổi mới thôi, can dự gì đến nhà anh” thì người ấy mới hết lo. Tương truyền thuở nhỏ ông đã có 7 nốt ruồi sau gáy như chòm sao thất tinh (sao Bắc Đẩu). Sau này ông trở thành vị Hoàng đế thứ hai của Nhà Lý.
Kiến trúc: Hiện tai, Chùa Duyên Ninh là một chùa cổ kính, nằm nép mình bên các dãy núi xưa là kinh thành của Hoa Lư. Trên địa bàn xã Trường Yên hiện còn 6 chùa gồm: chùa Nhất Trụ, chùa Am Tiên, chùa Kim Ngân, chùa Cổ Am, chùa Bà Ngô và chùa Duyên Ninh. Tương truyền, Mỗi chùa gắn với một sự tích khác nhau như cầu phúc thì đến chùa Cổ Am, cầu lộc vào chùa Kim Ngân, cầu danh vào chùa Nhất Trụ, cầu thọ vào chùa Bà Ngô, cầu tài vào chùa Am Tiên còn cầu duyên thì vào chùa Duyên Ninh…
Chùa Duyên Ninh là một trong những ngôi chùa cầu duyên linh thiêng nhất Việt Nam. Du khách và phật tử không chỉ được thưởng thức cảnh đẹp từ thiên nhiên mà còn có thể cầu nguyện năm mới nhiều may mắn.
i sự thay đổi và mỹ quan, từ đó đã thiết kế ra các loại hình dạng nhà khác nhau, ngoại trừ nhà hình chữ nhật, hình vuông ra còn có các loại nhà hình răng cửa, hình uốn khúc, hình hẹp dài, hình tam giác.
Có những nhà được thiết kế với hình dáng lập dị, kỳ quái, đối với nhà ở hình dạng không theo quy tắc, có người chấp nhận, có người lo lắng phải chịu ảnh hưởng không tốt. Dưới đây, từ góc độ phong thuỷ học chúng tôi đưa ra một số vấn đề lợi hại của hình dạng nhà để mọi người cùng thảo luận.

1. Nhà hình vuông – Tứ bình bát ổn, âm dương cân bằng.
Nhà hình vuông là chỉ những ngôi nhà có chiều rộng và chiều dài cơ bản bằng nhau. Từ xưa đến nay, nhà ở hình vuông đường như đã trở thành một “định thức”, không ai muôn thay đối nó.Mọi người cho rằng, nhà ở vuông vắn, tứ bình bát ổn, âm dương cân bằng mang khí thế ngay thẳng, không thiên không lệch phù hợp với quan niệm “trời tròn đất vuông, là loại hình dạng không thể thay thế. Nhưng hiện nay một số nhà thiết kế không đồng tình với quan điếm này, cho rằng hình dạng nhà quá vuông vắn thể hiện sự khô cứng. Nhận thức này quá thiên về mỹ quan. Trên thực tế, dù nhìn từ góc độ phong thuỷ học hay góc độ thực dụng, thì hình dạng nhà loại này không có gì có thể bắt bẻ được.
2. Nhà hình chữ nhật – Đầy đủ khí ngũ hành.
Nhà ở hình chữ nhật là chỉ kiểu nhà có kích thước dài rộng không bằng nhau, có người cho rằng tỉ lệ chiều dài và chiều rộng phải được tính toán thật tỉ mỉ, có vậy mới là hình dạng tiêu chuẩn. Nhà ở hình chữ nhật loại này hiện nay rất thường gặp, cũng giống với nhà ở hình vuông, nhà ở hình chữ nhật có ngụ ý mang lại nhiều may mắn tốt lành, không gian hình chữ nhật “hướng bát quái hoàn chính, khí ngũ hành đầy đủ”, là kiểu nhà lý tưởng nên ưu tiên chọn đầu tiên, về phương diện thiết kế nội thất, nhà ở hình chữ nhật dễ phân chia thành các không gian nhỏ hợp lý làm cho nhà có bố cục tăng phong tụ khí, mỗi thành viên trong nhà đều có thể tìm cho mình một không gian thích hợp.
3. Nhà hình hẹp dài – Âm dương không cân bằng.
Nếu là nhà ở hình chữ nhật cố nhiên là tốt, nhưng nhà ở hình hẹp dài là nhà có tỉ lệ giữa chiều dài và chiều rộng chênh lệch nhau quá lớn. Hình hẹp dài nói ở đây là muốn nói kích thước chiều dài lớn hơn rất nhiều lần chiều rộng. Loại nhà này hiện nay không phải là ít gặp trong những kiến trúc hiện đại, nhất là các khu biệt thự, rất nhiều nhà được thiết kế thành hình hẹp dài. Nhà ở loại này dù dài theo chiều Nam Bắc, ngắn theo chiều Đông Tây hay dài theo chiều Đồng Tây, ngắn theo chiều Nam Bắc đều biểu hiện không cân bằng âm dương.
Nói một cách tương đối thì nhà dài theo chiều Nam Bắc, ngắn theo chiều Đông Tây tốt hơn đôi chút. Nếu như diện tích kiến trúc nhà ở vượt quá 200m2, hình nhà loại này khá dễ thiết kế, có thể phân chia không gian trong nhà tương đối tốt. Nếu diện tích nhà ở dưới 150m2, thì rất khó bảo đảm các không gian bên trong nhà đều vuông vắn, thường là có sự méo mó. Cho nên, khi chọn nhà ở phải thận trọng xem xét đến hình dạng của nhà.
Hành: ThổLoại: Phúc TinhĐặc Tính: May mắn, tốt lành, gặp quý nhân giúp đỡ.Tên gọi tắt thường gặp: Quý
Phụ tinh. Một trong sao bộ đôi Ân Quang và Thiên Quý. Gọi tắt là bộ Quang Quý.
Ý Nghĩa Thiên Quý Ở Cung Mệnh
Tính Tình
Thiên Quý thủ hay chiếu mệnh:
Bí quyết phong thủy phòng ngủ thu hút tiền bạc được nêu sau đây rất dễ áp dụng và rất hiệu quả, ảnh hưởng tích cực tới cuộc sống thường ngày của bạn.
Sau 8 tiếng làm việc nơi công sở bạn sẽ trở về nhà để ăn tối, chơi với con thì thời gian còn lại chủ yếu là để ngủ. Vì thế, phòng ngủ là nơi bạn dành chủ yếu thời gian của mình khi trở về nhà nên nó ảnh hưởng rất lớn tới nhiều mặt, nhiều vấn đề khác nhau trong cuộc sống của bạn.
Để áp dụng đúng các nguyên tắc phong thủy phòng ngủ thu hút tiền bạc, thăng tiến sự nghiệp, khỏe mạnh, tình duyên được suôn sẻ..., bạn cần làm theo một số hướng dẫn cơ bản được chỉ dẫn trong bài viết sau.
Phòng ngủ là nơi giúp cho bao mỏi mệt trong cuộc sống của bạn dường như được tan biến đi vì nhiều lý do: Nó mang lại cho bạn sự thoải mái, ấm áp và thân quen khi trở về nhà sau ngày dài đối mặt với công việc đầy mệt mỏi đến kiệt sức.
Khi nằm trên giường, vùi vào trong chăn, bạn cảm thấy như được an ủi, cơ thể khỏe mạnh hơn vì trong thực tế, khi ngủ là lúc năng lượng cơ thể được hồi phục, năng lượng bạn như được tái sinh.
Điều gì tuyệt vời hơn khi trong phòng toàn là những đồ nội thất mà bạn yêu thích. Đấy là chưa kể nếu đồ có vị trí, màu sắc phù hợp còn mang lại cho bạn cuộc sống với kết quả hoàn toàn khác biệt. Có thể nói, phong thủy trong phòng ngủ mang lại may mắn cho những người biết áp dụng nó trong cuộc sống hàng ngày.
![]() |
Phong thủy trong phòng ngủ có thể mang lại sự hài hòa mới và những điều bất ngờ trong cuộc sống của bạn, từ chuyện tiền bạc đến chuyện tình cảm. Nhiều khi áp dụng phong thủy phòng ngủ không phải là điều gì đó quá cao siêu, những thay đổi cơ bản và nho nhỏ cũng tạo nên sự khác biệt lớn ảnh hưởng tích cực tới sự nghiệp, tiền bạc và sức khỏe của bạn.
Kê giường để ngủ ngon, không lo tiêu tán tiền của hoặc ít nhất nếu không biết thì giường cũng phải xa các cửa và từ giường có thể nhìn thấy cửa phòng. Vị trí này làm tăng dòng chảy tự nhiên của năng lượng, do đó mang lại cảm giác an yên, giấc ngủ sâu cho người ngủ trên giường. Và đó là những yếu tố hỗ trợ cho tinh thần để bạn thành công hơn trong cuộc sống.
Bạn có thể treo hình ảnh những người quan trọng nhất đối với mình trong phòng ngủ. Tuy nhiên hạn chế treo những hình ảnh dạng người thân hay bạn khắp phòng vì bạn sẽ cảm thấy như bạn đang bị theo dõi và bị lấn át. Nếu muốn treo, chỉ treo một bức ảnh của hai vợ chồng để tăng cường mối quan hệ vợ chồng.
Giường nên đặt ở vị trí cân bằng không gian ở hai bên giường. Bạn tránh để tất cả các đồ vật về một bên phòng và để trống một bên vì như vậy sẽ tạo sự bất cân xứng trong căn phòng quan trọng nhất trong nhà của bạn. Giường ngủ cần kê tại vị trí có khoảng trống để khi tỉnh giấc ngồi dậy có thể bước xuống bên trái, bên phải hoặc phía trước. Việc kê như vậy giúp khí lưu thông tốt hơn người ngủ sẽ thấy dễ chịu, khoan khoái.
Ngoài ra, nên đi ngủ sớm, dậy sớm để tận hưởng ánh nắng mặt trời. Tận hưởng ánh sáng tự nhiên là cách lý tưởng để bắt đầu một ngày mới một cách hoàn hỏa, không chỉ bởi vì nó khiến năng lượng tích cực lan tỏa khắp cơ thể bạn, mà còn vì nó làm tăng nồng độ serotonin khiến tinh thần phấn chấn hơn, làm việc hiệu quả hơn.
![]() |
Không được để đồ lộn xộn hoặc để những đồ vật liên quan tới công việc trong phòng ngủ, đặc biệt là lưu ý không nên để lộn xộn dưới gầm giường. Bất kỳ đồ vật linh tinh nào đó đều tạo ra năng lượng tiêu cực riêng có thể làm phiền tới cuộc sống của bạn, từ giấc ngủ cho tới sức khỏe.
Không đặt bàn trong phòng ngủ. Nếu không còn cách nào khác, thì trên bàn không nên để các giấy tờ liên quan tới thủ tục, hóa đơn, giấy tờ liên quan tới tiền bạc… Nếu vẫn phải để những thứ này trong phòng ngủ, hãy dùng vải hoặc vật gì đó để ngăn, tách khu vực này với phần còn lại của phòng ngủ – nơi mà bạn phải hoàn toàn được nghỉ ngơi.
Không nên đặt giường ở vị trí 1 góc tường nhô ra, hoặc 1 góc nhọn của đồ nội thất "chĩa" thẳng vào giường ngủ. Nếu không thể di chuyển, bạn cố gắng làm mềm các góc nhọn và năng lượng hung hãn bằng cách phủ vải bên ngoài.
Giường ngủ kê sát vào cửa sổ thì khi nắng ánh mặt trời chiếu thẳng vào đầu giường hoặc khi mưa nước mưa hắt qua cửa sổ sẽ ảnh hưởng đến giấc ngủ của chủ nhà. Để đảm bảo sức khỏe và gia cư an toàn, không nên kê đầu giường vào sát cửa sổ.
Không nên lắp điều hòa nhiệt độ ngay trên đầu giường, không khí lạnh sẽ thổi trực tiếp lên cơ thể bạn. Đặc biệt trong lúc ngủ, lỗ chân lông có xu hướng hơi mở ra nên rất dễ bị các bệnh như cảm lạnh, cứng cơ và đau đầu.
Không nên để “lộ không” nơi đầu giường. Lộ không có nghĩa là đầu giường để chơi vơi, không có chỗ dựa, không có chỗ che chở. Việc kê như vậy sẽ dẫn đến hung nhiều cát ít. Nếu đầu giường không thể kê sát vào tường được thì cuối giường nên kê sát vào tường.
Chúng ta cần hết sức lưu ý phong thủy cho từng loại phòng ngủ để hạnh phúc luôn viên mãn bạn nhé!
![]() |
Những lời khuyên liên quan tới thiết kế sẽ ảnh hưởng tích cực với sự nghiệp lâu dài của bạn, và những yếu tố có thể kể đến như:
Hướng tốt nhất cho giường ngủ là hướng Nam Bắc. Nếu theo quan niệm khoa học, hướng Nam Bắc thuận theo lực hấp dẫn của từ trường trái đất, nằm ngủ quay đầu hướng Bắc hoặc Nam giúp máu tuần hoàn tốt mang lại giấc ngủ êm ái nhất. Đầu giường không thể quay về phía Tây, bởi trái đất quay từ Đông sang Tây, nếu đầu hướng về phía Tây thì máu sẽ đẩy ngược lên đầu khiến não phải hoạt động nhiều, giấc ngủ không được trọn vẹn. Nếu quay đầu về hướng Đông thì cảm giác bất an sẽ không còn.
Trong phong thủy, nước là yếu tố có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển sự nghiệp của bạn. Năng lượng kép mà nó tạo ra rất cần thiết cho một con đường sự nghiệp thuận lợi và thành công. Mặc dù vậy, sự hiện diện của nó trong phòng ngủ thường không được khuyến khích vì nó tạo ra quá nhiều năng lượng âm.
Vì thế, đặt hòn non bộ hoặc tiểu cảnh ở phòng để làm việc trong nhà hoặc khu vực phía Bắc của ngôi nhà trông rất nghệ thuật và tốt cho sự nghiệp nhưng trong phòng ngủ thì tuyệt đối không được để những đồ vật này.
Treo gương có lợi phong thủy và cho công việc của bạn. Tuy nhiên, chúng không nên treo đối diện với giường ngủ vì như thế khiến năng lượng của bạn bị tiêu hao. Gương cũng có liên quan đến yếu tố nước, nên cũng không được đặt trong phòng ngủ.
Cũng như các yếu tố ảnh hưởng tới sự nghiệp, một số yếu tố cụ thể khuyến khích sự thịnh vượng về tài chính và sự giàu có liên quan tới màu sắc: Màu sắc như đỏ, tím và vàng được mọi người liên tưởng đến sự giàu có.
Tuy nhiên, những màu sắc bắt mắt và đậm như thế này không nên sử dụng quá nhiều. Thay vào đó, hãy sử dụng chúng một cách tinh tế để tạo nên màu sắc nhẹ nhàng trong phòng ngủ. Có thể chọn chụp đèn, nến và nữ trang nhỏ là những món đồ trang trí phù hợp có màu sắc rực rỡ thu hút may mắn tiền bạc.
Ngoài ra, bạn có thể tìm hiểu để áp dụng màu sắc trong phong thủy để có cuộc sống như mơ.
Trong khi các yếu tố thẩm mỹ là những điều đầu tiên thường thấy trong một phòng ngủ, tính năng quan trọng nhất là vị trí của giường ngủ ở đâu trong phòng. Chìa khóa để thành công trong cả tài chính và sự nghiệp là tăng lượng năng lượng tích cực trong phòng ngủ của bạn. Vì thế, phong thủy phòng ngủ thu hút tiền bạc chỉ có thể được thực hiện nếu giường của bạn ổn định và đầu giường có điểm tựa để bảo vệ toàn bộ cơ thể bạn khi bạn ngủ.
HaTra