Bài trí thuận ngũ hành, tiền sảnh cửa hàng đại cát
Tiền sảnh không chỉ là nơi đón tiếp mà còn là khoảng trống ngăn cản các xung sát tác động vào cửa hàng. Vì thế, phong thủy tiền sảnh cần phải được bố trí thích
Cửa hàng có dáng vuông vức thuộc hành Thổ thì mái tiền sảnh nên làm hình nhọn (hành Hỏa) để Hỏa sinh Thổ. Cửa hàng sơn màu xanh dương thuộc hành Thủy thì tiền sảnh bố trí màu trắng (hành Kim) để Kim sinh Thủy. Trường hợp lối vào cửa hàng bị góc nhọn, vát xéo (hành Hỏa) thì có thể đặt non bộ, gương soi (thuộc Thủy) để khắc bớt. Khi tiền sảnh dài (hành Mộc), có thể dùng các mảng gạch trang trí thô, điểm nhấn vuông (hành Thổ) để tạo hành tương khắc, giảm bớt cảm giác hun hút.Dưới đây là bảng đối chiếu màu sắc, hình dáng tiền sảnh dựa vào hướng của cửa hàng, có thể tham khảo.
Hướng tiền sảnh
Màu hung
Màu cát
Hình kỵ
Hình cát
Bắc
Đỏ, hồng
Trắng, sữa
Vuông
Làn sóng
Nam
Vàng, da cam
Đỏ, hồng
Làn sóng
Tam giác
Đông
Trắng, sữa, kim
Xanh
Tròn
Cao, thẳng
Tây
Đỏ, hồng, tím
Trắng, sữa, kim
Tam Giác
Tròn
Tây Bắc
Đỏ, hồng, tím
Trắng, sữa, kim
Tam giác
Tròn
Tây Nam
Xanh
Vàng, da cam, nâu
Thẳng đứng
Vuông
Đông Bắc
Xanh
Vàng, da cam, nâu
Thẳng đứng
Vuông
Đông Nam
Trắng, sữa, kim
Xanh
Tròn
Cao, thẳng
Theo Sách Phong thủy Cát tường Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Trúc Loan (##)
1. Cách yểu của trẻ con: a. Giờ kim sà: Phạm giờ kim sà, triển vọng của đứa trẻ rất bấp bênh. Cho dù có sống cũng hết sức khó nuôi vì đau yếu luôn luôn. Nếu Bản Mệnh đứa trẻ bị cha (hay mẹ) khắc hành, thì càng khó sống. Cách tính giờ kim sà rất phức tap:- dùng cung Tuất, kể là năm Tý, đếm theo chiều thuận đến năm sinh;- đến cung nào, kể cung đó là tháng giêng, đếm theo chiều nghịch đến tháng sinh;- đến cung nào, kể cung đó là mùng một, đếm theo chiều thuận đến ngày sinh;- đến cung nào, kể cung đó là giờ Tý, đếm theo chiều nghịch đến giờ sinh thì dừng lại ở cung này. Nếu là trai, mà cung này là cung Thìn hoặc cung Tuất thì phạm giờ kim sà. Còn nếu cung này là cung Sửu hay Mùi thì phạm vào bàng giờ.
Nếu là gái, mà cung này là cung Sửu hoặc Mùi thì phạm giờ kim sà, còn nếu rơi vào cung Thìn hay Tuất thì chỉ phạm bàng giờ.
Trong các trường hợp phạm giờ kim sà, trai hay gái, dễ yểu trước 13 tuổi. Còn nếu chỉ phạm bàng giờ thì có cơ may tồn tại, nhưng sẽ hết sức khó nuôi. Tuy nhiên, nếu Bản Mệnh đứa trẻ bị Bản Mệnh người mẹ hoặc người cha khắc thì ít hy vọng, đứa nhỏ sẽ có thể yểu, sau nhiều lần đau yếu. Tuy nhiên, trong trường hợp có hy vọng tồn tại, còn phải xem thêm các sát tinh thủ Mệnh đứa trẻ để quyết đoán cho chắc chắn. b. Giờ quan sát: Phạm giờ quan sát, trẻ con hoặc hay đau yếu, hoặc bị tai nạn bất ngờ đe dọa sinh mệnh. Cách tính chỉ dựa theo giờ, tháng sinh theo bảng dưới đây:
tháng sinh
giờ quan sát
tháng sinh
giờ quan sát
1
Tỵ
7
Hợi
2
Ngọ
8
Tý
3
Mùi
9
Sửu
4
Thân
10
Dần
5
Dậu
11
Mão
6
Tuất
12
Thìn
Cần lưu ý rằng tai nạn sơ sinh có ảnh hưởng sâu rộng đến tính nết đứa trẻ. Thông thường, tai nạn đó khiến đứa trẻ sau này rất ngỗ ngược, liều lĩnh, ngang tàng. c. Giờ tướng quân: Phạm giờ này, trẻ hay bị bệnh, đặc biệt là ghẻ lở và thần kinh không quân bình, thẻ hiện bằng tính khóc hoài không nín, khóc rất dai. Tuy nhiên, tính mạng đỡ lo, có hy vọng tồn tại nhiều hơn hai giờ kim sà và quan sát. Cách tính giờ tướng quân theo mùa và giờ sinh theo bảng dưới đây:
mùa sinh
giờ tướng quân
Xuân1-1 đến 30-3
Thìn - Tuất - Dậu
Hạ1-4 đến 30-6
Tý - Mão - Mùi
Thu
1-7 đến 30-9
Dần - Ngọ - Sửu
Đông1-10 đến 30-12
Thân - Tỵ - Hợi
d. Giờ Diêm vương: Phạm giờ này, trẻ con thường có nhiều chứng dị kỳ, như hay giật mình, hốt hoảng, trợn mắt, lè lưỡi, hầu như bị một ám ảnh nào lớn lao trong tâm trí mà đứa trẻ cơ hồ như ý thức được. Cách tính giờ Diêm vương theo tháng và giờ sinh như sau:
mùa sinh
giờ diêm vương
Xuân
Sửu - Mùi
Hạ
Thìn - Tuất
Thu
Tý - Ngọ
Đông
Mão - Dậu
e. Giờ dạ đề: Phạm giờ này, trẻ chỉ hay khóc về đêm. Cách tính cũng dựa theo tháng và giờ sinh âm lịch:
Âm lịch còn gọi là Thái âm lịch, là loại lịch lấy tuần trăng làm đơn vị tính. Đặc điểm của lịch này là sự dài ngắn của một tháng dựa theo khí tượng. Số ngày
Âm lịch còn gọi là Thái âm lịch, là loại lịch lấy tuần trăng làm đơn vị tính. Đặc điểm của lịch này là sự dài ngắn của một tháng dựa theo khí tượng. Số ngày theo tháng của âm lịch chia theo 2 loại: tháng đủ là 30 ngày, tháng thiếu là 29 ngày.
Âm lịch
Âm lịch do có tháng khởi đầu khác nhau mà được chia thành 4 loại:
Tần kiến Hợi: Nhà Tần (Trung Quốc) lấy tháng Hợi tức tháng 10 theo lịch hiện nay làm tháng khởi đầu 1 năm.
Chu kiến Tý: Nhà Chu (Trung Quốc) lấy tháng Tý tức tháng 11 theo lịch hiện nay làm tháng khởi đầu của 1 năm.
Thương kiến Sửu: Nhà Thương (Trung Quốc) lấy tháng Sửu tức tháng 12 hiện nay làm tháng khởi đầu 1 năm.
Hạ kiến Dần: Nhà Hạ (Trung Quốc) lấy tháng Dần tức tháng 1 theo lịch hiện nay làm tháng khởi đầu 1 năm.
Âm lịch chúng ta đang dùng hiện nay cũng lấy tháng Dần làm tháng khởi đầu 1 năm như lịch của nhà Hạ nên còn gọi là Hạ lịch.
Tết Trung Thu: 12 con giáp mặc đồ màu gì để khai vận phong thủy
Mùa thu Kim vượng, nhất là vào dịp Tết Trung Thu. Bản thân Dần mang ngũ hành mệnh cách thuộc Mộc, khó tránh tình trạng bị Kim khắc chế, vận thế cũng bị ảnh hưởng ít nhiều. Tận dụng sự hỗ trợ từ ngũ hành Thủy, làm giảm ảnh hưởng khắc chế từ Kim, lại dưỡng Mộc tốt, tuổi Dần nên lựa chọn những trang phục có màu xanh dương làm chủ đạo, tông màu đặc trưng của hành Thủy, trong dịp này ắt sẽ gặp nhiều may mắn.
Tuổi Tý Dịp Tết Trung Thu trong tháng 8 âm lịch, tiết trời Thu mát mẻ, nhưng đôi khi lại mang màu tẻ nhạt, ảm đạm. Tý Thủy được ngũ hành Kim sinh cho, mặc quần áo có màu trắng, bạc cũng phù hợp, nhưng có phần hơi đơn điệu.Vì thế, trong tiết Thu này, người tuổi Tý có thể phối kết hợp trang phục và phụ kiện có thêm chút sắc đỏ, mang tới sự tươi vui cũng như nhiều điều may mắn.
Tuổi Sửu
Tuổi Sửu có ngũ hành mệnh cách thuộc Thổ, trời thu lại mang ngũ hành Kim, Thổ dưỡng cho Kim, cảm giác như mẹ dành toàn bộ tâm huyết cho con, nên thân nhược khí hao. Chính vì thế, bản mệnh cần tăng cường năng lượng cá nhân bằng cách sử dụng những gam màu ấm, sáng như vàng chanh, đỏ, tím, cam… mà cách ứng dụng màu sắc tốt nhất để gia tăng vận khí bản thân chính là thông qua trang phục. Hãy bổ sung những chiếc váy, áo, giày dép mang màu sắc đó làm chủ đạo để cảm nhận mỗi ngày là một ngày vui.
Tuổi Dần
Mùa thu Kim vượng, nhất là vào dịp Tết Trung Thu. Bản thân Dần mang ngũ hành mệnh cách thuộc Mộc, khó tránh tình trạng bị Kim khắc chế, vận thế cũng bị ảnh hưởng ít nhiều.
Tận dụng sự hỗ trợ từ ngũ hành Thủy, làm giảm ảnh hưởng khắc chế từ Kim, lại dưỡng Mộc tốt, tuổi Dần nên lựa chọn những trang phục có màu xanh dương làm chủ đạo, tông màu đặc trưng của hành Thủy, trong dịp này ắt sẽ gặp nhiều may mắn. Tuổi MãoTương tự như tuổi Dần, người tuổi Mão có ngũ hành mệnh cách thuộc Mộc. Có thể sử dụng phối kết hợp giữa trang phục và phụ kiện màu xanh dương và xanh lá để mang lại nhiều may mắn, giúp vận khí chuyển biến tích cực.
Tuổi Thìn
Thìn Thổ dưỡng và sinh Kim, vận khí tự thân cũng có phần bị suy nhược. Để tăng cường vận khí ấy, người tuổi Thìn nên chọn những trang phục có hệ gam màu vàng như vàng nhạt, vàng chanh, cam, vàng cam…
Tuổi Tỵ
Tuổi Tỵ mang ngũ hành mệnh cách thuộc Hỏa. Tuy nói Hỏa khắc Kim, nhưng mùa thu Kim rất vượng, Hỏa còn bị khắc ngược lại. Vì thế, cần làm Hỏa vượng thêm để có thể chế ngự sự hoành hành của Kim.
Sử dụng những trang phục và phụ kiện có màu xanh lá, màu đặc trưng của hành Mộc, sẽ giúp Hỏa lực mạnh hơn, nâng cao vận khí của bản mệnh. Vì Mộc sinh Hỏa, giúp bản mệnh khai vận tốt đẹp trong mùa Trung Thu này.
Tuổi Ngọ
Tương tự trường hợp của Tỵ, Ngọ Hỏa cũng cần được thúc vượng vận khí bản thân để chống lại sức ảnh hưởng từ Kim vượng. Vì thế, nên mặc trang phục có màu xanh lá để khai vận dịp trăng tròn năm nay.
Tuổi MùiMùi Thổ sinh Kim, ý chỉ bản mệnh tuổi Mùi sinh cho mùa Thu, vận khí hư hao, cần được bồi đắp, tăng cường. Do đó, trong dịp Tết Trung Thu này, người tuổi Mùi nên lựa chọn những trang phục màu vàng sáng để thúc đẩy vận khí gia tăng.
Tuổi Thân
Mùa Thu mang ngũ hành Kim, kết hợp với Thân Kim, Kim khí ngày càng cường vượng. Kim quá vượng cũng khiến vận khí bản thân hư hao. Vì thế, nên tận dụng hành Hỏa (Hỏa Kim tương khắc) để chế ngự sự hoành hành ngang ngược của Kim, mang tới điều an lành, may mắn cho bản mệnh. Xem thêm: Mệnh Kim hợp màu gì?Theo đó, người tuổi Thân nên mặc những trang phục có màu đỏ, tím, cam… màu mang đặc trưng của hành Hỏa để hút vận may trong dịp Tết Trung Thu này.
Tuổi Dậu
Tương tự tuổi Thân, người tuổi Dậu nên kết hợp hài hòa trang phục và phụ kiện mang yếu tố đặc trưng của hành Hỏa như đỏ, cam, tím… để hút may mắn, đào hoa trong dịp trăng tròn này. Xem thêm: Mệnh Hỏa hợp màu gì?
Tuổi Tuất
Tuất Thổ sinh Kim, mang hàm ý bản mệnh tuổi Tuất sinh cho mùa Thu, khiến vận khí tự thân hư hao, cần được tăng cường và hỗ trợ về mặt phong thủy. Vì thế, con giáp này nên lựa chọn những trang phục màu vàng sáng để thúc đẩy vận khí gia tăng, giúp khai vận thuận lợi.
Tuổi Hợi
Bản mệnh Hợi mang ngũ hành mệnh cách thuộc Thủy. Mùa Thu lại thuộc Kim, Thủy khí vì thế được tăng cường (Kim sinh Thủy).
Nhưng nếu làm nước ấm hơn một chút, sẽ bớt cảm giác lạnh lẽo, tẻ nhạt. Người tuổi Hợi nên bổ sung vào tủ quần áo của mình trang phục có màu đỏ, hồng, cam… nhằm mang tới sự vui tươi và mang lại nhiều vận may.Việt Hoàng Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Bích Ngọc (##)
Bài trí cây xanh trong bếp sẽ mang lại cảm giác tươi mắt, nguồn không khí trong lành và nhiều sinh khí mới. Tuy nhiên, cần hết sức lưu ý về vấn đề phong thủy,
tránh rước họa vào thân. 1. Loại cây xanh nên chọn Nếu muốn bài trí cây xanh trong bếp, gia chủ có thể lựa chọn các loại cây nhỏ gọn, cành lá không rộng sẽ gây vướng. Nên chọn các loại cây có khả năng khử mùi và hấp thụ các chất độc như dương xỉ hoặc các loại cây xanh, cây hoa có màu sắc bắt mắt, tươi vui giúp tăng cảm giác thèm ăn như tía tô cảnh, đỗ quyên… Sau phòng khách, nhà bếp là nơi cũng cần bài trí cây xanh vừa có tác dụng trang trí lại mang giá trị phong thủy cao. Hơn nữa, nhiệt độ môi trường trong phòng bếp cũng không ảnh hưởng nhiều đến các loại thực vật phong thủy, nên có thể tận dụng không gian này để bài trí cây xanh.
Ảnh minh họa
2. Vị trí đặt cây xanh
Theo phong thủy phòng bếp, mỗi vị trí đặt cây xanh khác nhau mang đến những tác dụng nhất định. Căn cứ vào mong muốn hay sở thích của từng người mà lực chọn vị trí phù hợp nhất. Hướng Đông: Đây được coi là hướng đại cát đối với nhà bếp. Chủ nhà có thể đặt chậu cây xanh trên bàn hoặc các loại cây hoa có màu đỏ đặt gần tủ lạnh. Cách làm này sẽ giúp mọi người trong nhà luôn được khỏe mạnh. Hướng Tây: Bạn có thể lựa chọn các loại cây có hoa màu vàng như thủy tiên, păng-xê để đặt ở phía Tây của căn bếp. Chúng vừa có tác dụng ngăn chặn Dương khí quá mạnh của ánh nắng mặt trời vừa đem lại may mắn về tài lộc cho gia chủ. Hướng Bắc: Nếu muốn đặt chậu cây ở phía Bắc thì nên chọn các loại cây hoa màu hồng hoặc cam để tăng thêm sức sống. Hướng Nam: Đặt chậu cây xanh ở phía Nam của phòng bếp để khắc chế Dương khí quá mạnh từ ánh sáng mặt trời. Những căn bếp ở khu vực phía Nam ngôi nhà hoặc có cửa sổ ở phía Nam sẽ nhận luồng ánh sáng mặt trời chiếu mạnh, chủ nhà có xu hướng tiêu tiền hoang phí. Nếu đặt một chậu cây lá rộng (có tác dụng chiêu tài) có thể trì hoãn Dương khí quá mạnh, từ đó giúp chủ nhà chi tiêu tiết kiệm và hợp lí hơn. Lưu ý: Việc bài trí cây xanh trong bếp là cần thiết nhưng cũng không vì thế mà thay đổi hoặc cải tạo bếp một cách bừa bãi, thiếu khoa học. Đặc biệt khi trong nhà có phụ nữ sinh nở hoặc mang thai rất kị sự thay đổi, dịch chuyển trong nhà bếp như sơn lại tường, sửa chữa tủ bếp… ST Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Trúc Loan (##)
Tên là vận mệnh của mỗi con người, gắn liền với mỗi người trong suốt cuộc đời. Việc đặt tên cho con thực sự rất quan trọng để Con có được thời vận tốt.
Tên là mệnh, là vận mệnh của mỗi con người, tên gọi luôn gắn liền với mỗi người trong suốt cuộc đời. Khoa học cổ dịch đã cho thấy, nếu tên gọi đúng ngũ hành mệnh, hợp với giờ sinh của bé, sẽ mang lại cho bé nhiều may mắn, sức khỏe, thuận lợi trong cuộc sống sau này. Việc đặt tên cho con thực sự rất quan trọng để Con có được thời vận tốt. Trước khi đặt tên cho con, bố mẹ cần lưu ý một số điểm sau đây:
Tên phải có ý nghĩa hay
Cần chọn tên cho con có ý nghĩa tích cực và lịch sự vì cái tên sẽ đi theo con suốt cả cuộc đời. Đã qua rồi cái thời bố mẹ thích đặt tên con thật xấu cho... dễ nuôi và để ông Trời không bắt đi mất.
Tên phải hợp với giới tính của con
Con gái mang tên giống con trai hay con trai mang tên con gái đều dễ gây nhầm lẫn trong giao tiếp, xưng hô hay làm giấy tờ và có thể dẫn đến nhiều rắc rối khác.
Đặt tên cho con nên tuân theo luật bằng trắc
Một cái tên của trẻ nên có sự kết hợp hài hòa giữa cả thanh bằng (gồm thanh ngang và thanh huyền) và thanh trắc (gồm các thanh sắc, hỏi, ngã, nặng), tuân theo quy luật cân bằng âm dương. Đặc biệt, tránh những cái tên chỉ toàn thanh trắc vì nó dễ gợi cảm giác trúc trắc, nặng nề, không suôn sẻ.
Lưu ý vị trí của tên con khi xếp theo thứ tự bảng chữ cái
Nhiều bậc cha mẹ rút ra "kinh nghiệm xương máu" từ bản thân là không nên đặt tên con xếp ở đầu sổ hoặc cuối sổ vì rất dễ bị gọi lên bảng trả bài. Rõ ràng, những cái tên bắt đầu bằng chữ ở giữa bảng chữ cái như H, K, M, L,... sẽ không bị gọi quá sớm hoặc quá muộn trong các cuộc thi. Tuy nhiên, đặt tên con bắt đầu bằng những chữ ở đầu bảng chữ cái cũng không thể nói là bất lợi vì đây cũng là cơ hội để trẻ rèn luyện tính bình tĩnh và khả năng đương đầu với thử thách trong mọi hoàn cảnh.
Tên con có thể gồm cả họ cha lẫn họ mẹ
Đa phần người Việt đặt tên con theo họ cha. Tuy nhiên, theo xu hướng hiện đại ngày nay, rất nhiều gia đình đã bắt đầu đặt tên con gồm cả họ cha lẫn họ mẹ, chẳng hạn như Lê Vũ Bảo Hân, Phạm Nguyễn Đăng Khoa,... Đặt tên con mang cả hình bóng của cha lẫn mẹ trong đó cũng là cách đặt rất ý nghĩa mà các bậc phụ huynh có thể cân nhắc.
Có thể đặt tên con và các anh chị em trong nhà cùng tên hoặc cùng chữ lót
Bố mẹ có thể đặt cho các con tên hoặc chữ lót giống nhau. Chẳng hạn như một nhà có 3 con có thể đặt là Bảo Lan, Bảo Phúc, Bảo Ngọc hay Minh Hà, Thanh Hà, Việt Hà. Điều này tạo nên mối liên kết đặc biệt thân thương và gần gũi giữa các thành viên trong gia đình. Cách đặt này không bắt buộc nhưng cũng là một gợi ý hay để bố mẹ tham khảo.
Không nên đặt tên trùng tên tiền nhân
Văn hóa Việt thường không ủng hộ cách đặt tên người ở vai vế nhỏ hơn trùng với tên của người có vai vế lớn hơn. Để tránh rơi vào tình huống khó xử này, bố mẹ nên "khảo sát" tên của cả gia đình hai bên ít nhất 3-4 đời để tránh cho tên bé yêu bị trùng lặp với một người nào đó lớn tuổi hơn.
Để tế nhị, không nên dùng tên người yêu cũ đặt cho con
Con cái là kết quả của tình yêu giữa hai vợ chồng và chuyện tình yêu trong quá khứ cần được để yên ở quá khứ. Nếu dùng tên người cũ để đặt tên cho con, rất có thể nó sẽ châm ngòi cho một cuộc chiến dẫn đến đổ vỡ của hai vợ chồng.
Đây là quẻ Quan Âm thứ 92 được xây dựng trên điển cố: Thái Khanh báo ân hay Thái Khanh trả ân.
Quẻ thượng cát thuộc cung Dậu. Từ việc nhỏ đến việc lớn đều thuận lợi như ý, không gặp trở ngại. Những điều mong cầu sẽ có kết quả viên mãn như ý nguyện.
Thử quái tự tiều vi thương chi tượng. Phàm sự cẩn kiệm vô ưu dã.
Điển cố quẻ Quan Âm: Thái Khanh Báo Ân
Thái Khanh tức Thái Ung (133 -192) sống vào cuối thời Đông Hán, tự là Bá Giai, là người chăn ngựa ở Trần Lưu. Thái Ung rất hiếu thuận, trong thời gian ba năm mẹ của Thái Ung mắc bệnh, trừ những lúc nóng lạnh chuyển mùa, Thái Ung không bao giờ thay áo (tức là cởi áo đi ngủ), trong suốt bảy mươi ngày không có giấc ngủ ngon.
Nghe nói khi Thái Ung còn nhỏ, gia cảnh rất nghèo, nhưng cha của Thái Ung lại mong con trai có thể đạt được công danh. Vợ của Thái Ung là Triệu Ngũ Nương đành phải đi hỏi khắp anh em, vay mượn ngân lượng làm kinh phí cho Thái Ung lên kinh dự thi. Mấy tháng sau, Thái Ung thi đỗ Trạng nguyên, nhưng lại bị Ngưu Thừa tướng ép làm con rể.
Thái Ung đi bặt mười năm, không có tin tức gì. Ngũ Nương cùng với bố mẹ chồng tuổi đã cao, cuộc sống rất khố cực. May có người hàng xóm là Trương Quảng Tài giúp đỡ chăm sóc bố mẹ già. Năm đó gặp thiên tai, lúa gạo không thu hoạch được gì, Ngũ Nương nhường số lương thực dành dụm cho bố mẹ chồng, còn mình ăn rau dại, nhưng lại bị hai bố mẹ hiểu lầm. Sau khi hai ông bà hiểu rõ chân tướng sự việc thì vô cùng áy náy. Không lâu sau, hai ông bà qua đời, bỏ lại Ngũ Nương bơ vơ. Người hàng xóm Trương Quảng Tài giúp Ngũ Nương chôn cất cha mẹ, sửa sang phần mộ, đưa cho Ngũ Nương một cây đàn cầm, bảo cô đến kinh thành tìm chồng.
Ngũ Nương đi xin ăn để đến kinh thành, Ngưu Thừa tướng lại viết giấy ly hôn sai người gửi cho Ngũ Nương. Nhưng người đưa thư giữa đường ngã bệnh, đến khi người đưa thư đến được ngôi làng mà Ngũ Nương ở, thì Ngũ Nương đã trên đường đến kinh thành rồi. Ngưu Thừa tướng còn lừa gạt con gái mình là Văn Tú rằng, chuyện Thái Ung có vợ chỉ là bịa đặt. Thái Ung ngày ngày đều nhớ đến Ngũ Nương, muốn trở về quê cũ, nhưng bị Ngưu Thừa tướng ngăn cản.
Ngũ Nương giả làm ni cô, đi hỏi khắp kinh thành, cuối cùng biết được Thái Ung đã là con rể của Ngưu Thừa tướng, bèn vào trong phủ Thừa tướng, nói rõ sự tình. Ngưu Văn Tú rất nhân từ, đã khoản đẫi Ngũ Nương, lại lấy bức chân dung bố mẹ chồng có đề thơ do Triệu Ngũ Nương vẽ đưa cho Thái Ung xem. Thái Ung biết chuyện, vội vàng đi gặp Ngũ Nương, Ngũ Nương trách Thái Ung bất hiếu bất nghĩa. Thái Ung nói rõ về nỗi khố tâm của mình, bày tỏ nỗi nhớ nhung dành cho Ngũ Nương và người nhà, thề rằng dẫu phải vượt qua trăm núi nghìn sông cũng sẽ đi cùng Ngũ Nương.
Cuối cùng, vợ chồng hai người đã được đoàn tụ, Thái Ung cũng xin được về quê hương cúng tế cha mẹ. Khi đến mộ địa, vừa hay gặp Trương Quảng Tài đang thay Thái Ung quét dọn tu sửa mộ phần. Trương Quảng Tài nghiêm khắc trách mắng Thái Ung bất hiếu, Thái Ung tự biết mình sai, rất hổ thẹn. Nhờ có Triệu Ngũ Nương nói rõ sự tình, Trương Quảng Tài mới tha thứ cho Thái Ung. Thái Ung rất biết ơn sự giúp đỡ của Trương Quảng Tài trong nhiều năm qua, nên dùng lễ vật trọng hậu để báo đáp Trương Quảng Tài.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Hương Giang (##)
Tết cổ truyền hay Tết Nguyên Đán thường bắt đầu vào dịp đầu năm mới theo Âm lịch. Đây là dịp lễ quan trọng nhất và lớn nhất trong văn hóa của người Việt Nam.
Tết cổ truyền hay Tết Nguyên Đán thường bắt đầu vào dịp đầu năm mới theo Âm lịch. Đây là dịp lễ quan trọng nhất và lớn nhất trong văn hóa của người Việt Nam. Tuy nhiên, không mấy người trong số chúng ta hiểu rõ về ý nghĩa và nguồn gốc của ngày lễ này.
Tết Nguyên Đán có gốc chữ Hán: “Tết” chính là “tiết”; “Nguyên” có nghĩa là sự khởi đầu, sự bắt đầu; “Đán” có nghĩa là buổi sáng sớm, như vậy Tết Nguyên Đán là bắt đầu một năm mới. Nguồn gốc ngày Tết ở Trung Quốc
Nguồn gốc Tết Nguyên đán có từ đời Tam Hoàng Ngũ Đế và thay đổi theo từng thời kỳ. Đời Tam Vương, nhà Hạ chuộng màu đen nên chọn tháng giêng, tức tháng Dần. Nhà Thương thích màu trắng nên lấy tháng Sửu, tức tháng chạp, làm tháng đầu năm. Nhà Chu ưa sắc đỏ nên chọn tháng Tý, tức tháng mười một, làm tháng tết.
Ảnh minh họa
Đời nhà Đông Chu, Khổng Phu Tử đổi ngày Tết vào một tháng nhất định là tháng Dần. Đời nhà Tần (thế kỷ 3 TCN), Tần Thủy Hoàng lại đổi qua tháng Hợi, tức tháng mười. Cho đến khi nhà Hán, Hán Vũ Đế (140 TCN) lại đặt ngày Tết vào tháng Dần, tức tháng giêng. Từ đó về sau, trải qua bao nhiêu thời đại, không còn nhà vua nào thay đổi về tháng Tết nữa. Đến đời Đông Phương Sóc, ông cho rằng ngày tạo thiên lập địa có thêm giống gà, ngày thứ hai có thêm chó, ngày thứ ba có lợn, ngày thứ tư sinh dê, ngày thứ năm sinh trâu, ngày thứ sáu sinh ngựa, ngày thứ bảy sinh loài người và ngày thứ tám mới sinh ra ngũ cốc. Vì thế, ngày Tết thường được kể từ ngày mồng một cho đến hết ngày mồng bảy tháng giêng (8 ngày).
Phong tục thờ cúng trong ngày Tết của người Việt Thờ cúng tổ tiên đã trở thành nếp sống, phong tục, nét văn hóa tâm linh truyền thống của người Việt. Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên rất giản dị: tin rằng tổ tiênCòn nguồn gốc ngày Tết ở Việt Nam thì sao?
Theo truyền thuyết và lịch sử có ghi, họ Hồng Bàng dựng nước Văn Lang từ năm Nhâm Tuất 2879TCN, trị vì cả 2.622 năm. Kinh Dương Vương sinh ra Lạc Long Quân, sau khi nối ngôi, vị vua hiền đức này kết hôn cùng bà Âu Cơ sinh ra Hùng Vương. Con trai thứ 18 của vua Hùng Vương 6 là Lang Liêu, là người đầu tiên dâng lên vua cha bánh chưng, bánh dày – tượng trưng cho Trời và Đất. Từ thời đó, 2 thứ bánh do Tiết Liêu sáng tạo ra đã trở thành món ăn truyền thống trong dịp Tết của dân tộc Việt. Lịch sử Trung Hoa viết, từ thế kỷ thứ nhất, Nhâm Diên và Tích Quang - quan nước Tàu sang nước ta, truyền cho dân ta biết làm ruộng và các sinh hoạt văn hoá khác, trong đó có cả việc ăn Tết cổ truyền. Song thực tế đã chứng minh rằng trước khi người Trung Hoa sang đô hộ, dân tộc Việt đã có sinh hoạt văn hoá nền nếp và đặc sắc. Có thể lý giải về sự khác biệt của Tết Nguyên đán ở Việt Nam so với các nước khác như sau: Vua Hùng không giống các vị hoàng đế Trung Hoa - nhất nhất theo Khổng giáo. Ông đã có một sự khác biệt lớn đó là truyền ngôi cho con trai thứ 18 thay truyền ngôi cho con cả, ông chọn người kế vị trị vì đất nước thay mình là người hiền đức, bất luận đó là cả hay thứ. Hơn nữa, Lang Liêu là một hoàng tử, đương nhiên phải là người được tiếp thu, thấm nhuần văn hoá dân tộc và tư duy theo cách của đồng bào mình. Theo đó, thấy rằng, dân tộc Việt ta có cách nghĩ thực tế hơn so với người Hoa. Bánh chưng vuông tượng trưng cho đất. Đất ở đây không có nghĩa là trái đất, mà là những mảnh ruộng vuông vắn - nơi người dân trồng cây lúa nước nuôi sống chính mình. Bánh dày tượng trưng cho trời tròn không có nghĩa là bầu trời hình tròn, mà là hệ vòng quay 4 mùa: xuân, hạ, thu, đông liên tiếp. Người Hoa thường giải thích vạn vật qua những hệ số, bói toán trừu tượng, đôi khi như ma thuật rất xa xôi, khó hình dung.
Ảnh minh họa
Như vậy, có thể nói Tết cổ truyền của Việt Nam phải hình thành từ trước thế kỷ thứ nhất, không phải do người Hoa khai hoá hay đồng hoá. Tuy nhiên, do cùng nằm chung vùng lục địa, lại nằm kề nhau nên không thể không mang những ảnh hưởng của nhau. Sau này, khi Trung Hoa đô hộ nước ta nhiều năm liền những ảnh hưởng đó càng lớn hơn. Song về cơ bản bánh chưng, bánh dày là đặc trưng của dân tộc Việt. Trong ngày Tết cổ truyền có thể thiếu câu đối đỏ song không thể không có bánh chưng xanh để cúng lễ tổ tiên. Ngoài ra, người ta thường nói "20 Tết", "15 Tết"... đây chỉ là nói những ngày ảnh hưởng do những công việc để chuẩn bị đón Tết hay dư âm còn lại của những ngày Tết. Nguyên nghĩa của Tết chính là "tiết".Văn hóa Việt – thuộc văn minh nông nghiệp lúa nước – do nhu cầu canh tác nông nghiệp đã "phân chia" thời gian trong một năm thành 24 tiết khác nhau (và ứng với mỗi tiết này có một thời khắc "giao thời") trong đó tiết quan trọng nhất là tiết khởi đầu của một chu kỳ canh tác, gieo trồng, tức là Tiết Nguyên Đán sau này được biết đến là Tết Nguyên Đán.
► Tra cứu Lịch vạn niên 2017 đã có tại Lichngaytot.com
Sống trong cuộc đời, ai cũng đôi lần ước mơ mình được giàu sang phú quý, ngoài năng lực, sự may mắn thì số mệnh cũng quyết định sự giàu sang của một người.
► Lịch ngày tốt gửi tới độc giả công cụ xem bói theo khoa học tử vi để biết vận mệnh, công danh, tình duyên
Ảnh minh họa
Nếu may mắn được sinh ra vào tháng sinh hợp mệnh thì sự giàu sang sẽ tới nhanh chóng. Đây cũng là lý do nhiều
con giáp giàu sang phú quý là vì thế.
Mùa xuân: Hợi, Mão, Mùi
Mùa xuân là thời điểm vạn vật tái sinh, mùa đâm chồi nảy lộc. Đó cũng là ngày tháng 'tam hợp' đối với cả ba người tuổi Hợi, Mão, Mùi. Nếu 3 người tuổi này sinh ra vào mùa xuân, không những có được sức sống dồi dào mà còn thông minh, biết nắm bắt thời cơ chính xác. Là mùa khởi đầu của một năm, bao nhiêu tinh hoa tích tụ nên từ khi ra đời người sinh 3 tuổi này đã có số mạng phúc khí hơn người. Với tình cách dịu dàng hiền lành, sự nghiệp của ba người Hợi, Mão, Mùi này cứ như vậy mà tiến triển bình thường, không gặp phải nhiều bất trắc hay kẻ tiểu nhân ngáng chân cản trở.
Mùa hè: Tỵ, Dậu, Sửu
Nếu mùa xuân là mùa sinh sôi thì hè là thời điểm phát triển rực rỡ nhất của muôn loài. Ba con giáp tuổi Dậu, Tỵ, Sửu nếu sinh vào mùa hè số phận đã định trước cho họ là phú quý giàu sang. Không chỉ bản thân phát đạt còn mang lại nhiều may mắn cho gia đình và những người xung quanh. Hơn nữa mùa hè ánh nắng rực rỡ, mọi việc đều sáng tỏ nên những người tuổi Tỵ, Dậu, Sửu có khí khái khá mạnh mẽ, chính trực, luôn làm giàu chính đáng. Cũng nhờ vậy mà họ sống tự tin, thoải mái chẳng cần phải kiêng dè nhún nhường trước bất cứ ai.
Ảnh minh họa
Mùa thu: Dần, Ngọ, Tuất
Mùa thu lúa chín, là mùa của kết quả và thu hoạch. Sinh ra khi mọi vật đã có kết quả tốt đẹp, ba con giáp Dần, Ngọ, Tuất có số hưởng tài lộc, sống cả đời được vô lo vô nghĩ, không có điều gì phải băn khoăn hay hối hận. Họ cứ thoải mái sống và phấn đấu với ước mơ dự định của mình. Nhờ sinh vào mùa thu, tính cách của những người này cũng khá dịu hòa, êm ái, được lòng đồng nghiệp và cấp trên. Sự nghiệp chẳng những suôn sẻ thuận lợi mà tài vận đến không dứt, số giàu sang nhất thường là năm họ 40 tuổi, tài lộc đều đủ cả, gia đình cũng thuận hòa.
Mùa đông: Thân, Tý, Thìn
Là thời điểm mà mọi vật đều đi vào trạng thái nghỉ ngơi, ủ mình hồi sức cho mùa xuân bung ra đâm chồi nảy lộc, những người tuổi Thân, Tý hay Thìn sinh vào mùa này có một tư chất đáng quý, nhưng khá khiêm tốn và biết người, biết ta và trở thành những con giáp giàu sang phú quý. Họ trầm lắng như chính mùa đông mà họ sinh ra vậy. Những người này đều tài giỏi, tự dựa vào sức mình làm ra của cải, song lại biết sống trầm lặng, rất được lòng mọi người. Khoảng sau 30 tuổi đến 40 tuổi nhất định sẽ được hưởng thành quả ngọt ngào. ST. Lấy người tuổi này, vừa sợ vừa loGhen tị với 5 con giáp trời sinh số hưởngThuộc nhóm tuổi này, sự nghiệp lao đao tứ phen trong tháng 11 Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Đoan Trang(##)
Theo phong thủy nhà ở, tình trạng vô sinh ở các cặp vợ chồng có thể là do nguồn năng lượng tốt bị tắc nghẽn hoặc có nguồn năng lượng tiêu cực tích tụ nhiều trong nhà. Do đó, nếu muốn sớm có con, gia chủ nên biết cách cân bằng âm dương trong nhà để tăng cường sức khỏe, từ đó thúc đẩy khả năng thụ thai. 1. Xử lí dòng chảy năng lượng bị ứ đọng Nếu kết hôn lâu mà chưa có con, trong khi đó hai vợ chồng đi thăm khám sức khỏe bình thường, bạn nên nghĩ ngay đến yếu tố phong thủy trong nhà. Nên kiểm tra ngôi nhà của bạn có bị bất kì vật cản nào ảnh hưởng đến sự lưu thông năng lượng không. Bởi nếu có, nó sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe cũng như tâm lí của mọi người ngụ trong ngôi nhà. Những vật cản ở đây ý chỉ sự lộn xộn, thiếu không khí trong lành, các vật cản chắn ở cửa như cây, tủ quần áo…Đối với phong thủy phòng ngủ, không nên mắc quạt trần hoặc đèn chùm phía trên giường, tránh tạo áp lực về tinh thần. Theo đó, bạn cần sắp xếp dọn dẹp lại căn nhà của mình. Loại bỏ hết mọi rào cản khiến nguồn năng lượng trong nhà bị ứ đọng, tích tụ tà khí. Khi ngôi nhà thông thoáng, sức khỏe của bạn được cải thiện, khả năng sinh sản cũng được nâng cao.
Ảnh minh họa
2. Đặc biệt quan tâm tới phòng ngủ Trong phong thủy nhà ở, phòng ngủ là một trong những nơi trọng yếu ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe của gia chủ. Nếu sức khỏe không tốt thì tỉ lệ thụ thai sẽ giảm sút. Do đó, cần đặc biệt quan tâm tới mọi yếu tố trong phòng ngủ như giường ngủ, màu sắc trang trí, nội thất… Nên chọn loại giường không có các cạnh nhọn. Những góc cạnh nhọn đó chính là mũi tên độc ảnh hưởng đến sức khỏe của bạn. Các thiết bị điện tử cần phải đặt xa giường, tránh các tia bức xạ làm ảnh hưởng tới việc thụ thai. Bạn cũng không nên đặt gương trong phòng ngủ, gần giường ngủ. Gầm giường cũng nên giữ sạch sẽ và thoáng mát. Bạn có thể đặt cặp tượng nhỏ hình những chú voi dễ thương trong phòng ngủ bởi đây là biểu tượng của khả năng sinh sản, của sự sinh sôi nảy nở. Ngoài ra, bạn cũng có thể treo những bức tranh có hình quả lựu, biểu tượng cho sự mắn đẻ, sớm có con đàn cháu đống.Dùng những gam màu dịu nhẹ để trang trí phòng ngủ nhằm tạo cảm giác thư giãn, thúc đẩy quan hệ vợ chồng tốt đẹp, từ đó làm tăng khả năng thụ thai. Không nên dùng màu đỏ vì đây là màu nóng sẽ đẩy năng lượng tốt giúp thụ thai ra khỏi phòng nhanh chóng. Tương tự những vật có liên quan đến hình ảnh ngọn lửa cũng kiêng kị đặt trong phòng ngủ. ST Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Bích Ngọc (##)
Tầm quan trọng của hoa, cây cảnh trong phòng khách –
Phòng khách là trung tâm của ngôi nhà vì thế việc bài trí cây xanh có tác dụng rất lớn. Hóa giải các góc nhọn sắc của phòng Do việc thiết kế xây dựng nên phòng khách của những ngôi nhà hiện đại thường tồn tại các góc và các trụ. Điều này vừa làm giảm
Phòng khách là trung tâm của ngôi nhà vì thế việc bài trí cây xanh có tác dụng rất lớn.
Hóa giải các góc nhọn sắc của phòng
Do việc thiết kế xây dựng nên phòng khách của những ngôi nhà hiện đại thường tồn tại các góc và các trụ. Điều này vừa làm giảm hiệu quả thẩm mỹ vừa trở thành áp lực đối với người sinh sống trong ngôi nhà, ảnh hưởng xấu tới phong thủy của cả căn nhà. Tuy nhiên, một số cách bài trí cây xanh có thể giúp hóa giải điều xấu nói trên:
– Bài trí 1 chậu cây to lá dày và rộng ở góc phòng để hóa sát.
– Tại góc tường, đặt kệ và chậu hoa dạng cong bằng gỗ; bài trí cây lá rộng, xanh và sáng bóng cùng với những vật phẩm nhỏ hoặc đèn chiếu sáng dùng để trang trí. Như vậy, vừa có thể giảm nhẹ được áp lực do góc nhọn gây ra vừa làm cho không khí trong phòng tràn đầy sức sống, hóa hung thành cát, tạo thành một điểm sáng trong cảnh quan ngôi nhà.
Thay đổi tầm nhìn trong phòng khách
Đề làm điều này, có thể sử dụng cây cảnh kết hợp với đồ trang trí nội thất khác.
Bài trí các cây cảnh có lá dạng cánh của các loại thực vật đuôi chồn tạo cảm giác thân thiện; cây thiết hải đường với thân cứng nhiều gai thể hiện sự kính trọng nhưng xa xôi; trúc tạo hình lại thể hiện tính cách vững vàng, không lay chuyển; hoa lan lại thể hiện sự thoát tục, thanh tao.
Khí chất của các loại cây nên phối hợp hài hòa với tính cách của chủ nhà và không khí chung trong phòng.
Trước tiên, chọn lựa cẩn thận các loại cây, dáng cây có thể thay đổi cảnh quan của phòng khách. Ví dụ, sử dụng lan treo và cây leo dại có thể làm cho căn phòng quá cao trở nên thấp hơn. Đối với những căn phòng hơi thấp một chút thì nên dùng những thực vật có hình dáng ngay ngắn, thẳng tạo cho căn phòng cảm giác cao hơn. Những loại cây lá nhỏ hoặc cành dài đưa ra có thể làm cho căn phòng vốn hơi nhỏ trở nên rộng hơn so với diện tích thực của nó.
Tỷ lệ cân bằng giữa các loại cây cũng hết sức quan trọng. Trong phòng khách rộng rãi, sang trọng thì có thể dùng những loại cây lá to nhưng hình dáng nên giản đơn để thể hiện khí chất. Những loại cây hình dạng phức tạp, màu sắc đa dạng thì có thể làm cho căn phòng trở nên phong phú hơn, tạo cho phòng khách không gian rộng hơn, tạo cho con người cảm giác thoải mái.
Nếu phòng ở phía Nam không có cửa sổ, không có ánh sáng chiếu vào thì khi đó nên đặt một chậu cây cảnh ở hướng này. Hàng ngày, nên đưa cây ra ngoài cho hấp thụ ánh sáng mặt trời trong một khoảng thời gian nhất định.
Đối với những căn phòng phía Tây có cửa sổ rộng, ánh nắng mặt trời chiếu vào quá nhiều, quá gay gắt thì có thể bố trí cây xanh tại đó.
Ngày mai là ngày 30/2, một ngày vô cùng đặc biệt với không chỉ giới khoa học và còn với cả giới trẻ, những kế hoạch trọng đại của cuộc đời sẽ thành công nếu bạn thực hiện trong ngày này. ## chúc bạn thành công!
=> Xem ngày tốt xấu chuẩn xác theo Lịch vạn sự
Khánh An Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Ngọc Sương (##)
Giao thừa là thời khắc trời đất giao hòa, âm dương hòa quyện để mọi vật bừng lên sức sống mới. Đối với người Việt Nam phút giao thừa rất thiêng liêng và trang
Giao thừa là thời khắc trời đất giao hòa, âm dương hòa quyện để mọi vật bừng lên sức sống mới. Đối với người Việt Nam phút giao thừa rât thiêng liêng và trang trọng. Lễ cúng giao thừa (hay còn gọi Lễ Trừ Tịch) được tiến hành đúng vào lúc giao thừa (hết giờ Hợi ngày 30 sang giờ Tý ngày mồng 1 Tết).
Theo tục lệ của người Việt xưa, tại thời điểm giao thừa nhà nhà đều cúng lễ ngoài trời và cúng lễ trong nhà.
Lễ cúng Giao thừa
Người xưa tin rằng: mỗi năm đều có một vị hành khiển trông coi nhân gian, hết năm thì vị thần năm cũ lại bàn giao công việc cho vị thần của năm mới, nên phải cúng giao thừa ngoài trời để tiễn đưa thần năm cũ và đón rước thần năm mới.
Lễ cúng giao thừa gồm 2 mâm lễ trong nhà và ngoài trời. Lễ cúng ngoài trời và trong nhà gồm: hương, hoa, đèn nến, trầu cau, quần áo, mũ thần linh và mâm lễ mặn với thủ lợn hoặc gà trống luộc, xôi, bánh chưng...tất cả được bày biện trên ban thờ. Mâm cúng lễ giao thừa phải được chuẩn bị chu đáo, trang trọng với lòng thành kính. Vào đúng thời điểm giao thừa, người chủ gia đình thắp đèn, nến, rót rượu, rồi khấn vái trước án. Văn khấn có thể viết vào giấy để đọc, sau khi hết 3 tuần hương thì hóa tờ giấy viết văn khấn cùng vàng mã dâng cúng.
Cúng giao thừa là một nét đẹp văn hóa của người Việt trong một năm mới mà không một gia đình nào có thể bỏ qua. Cúng giao thừa để tiễn năm cũ, đón năm mới với tấm lòng thành kính của mọi thành viên trong gia đình, cầu chúc một năm mới hạnh phúc, bình an và nhiều may mắn.
Tổng hợp Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Bích Ngọc (##)
Xem tử vi theo Lục Thập Hoa Giáp ngay để biết số mệnh của mình trong tương lai sẽ như thế nào.
Lục Thập Hoa Giáp là một tổ hợp tử vi kết hợp giữa thiên can và địa chi. Dựa vào đó có thể xem tử vi, biết tương lai, đoán số phận, là phương pháp luận mệnh rất được tin tưởng.11. Đinh Dậu: tọa trường sinh, Thiên Tài, Văn Xương, chủ nhân cao quý, thông minh, kiến thức uyên thâm, được người khác khâm phục tôn kính, có tính cách nổi loạn.12. Kỷ Hợi: tọa Chính Tài Chính Quan, là Tài Quan song mĩ, chủ quý. Nữ mệnh Kỷ Hợi sẽ lấy được quý phu.13. Quý Mão: tọa trường sinh, ngày quý, thực thần thanh tú, chủ nhân thông minh, có văn tài. Nữ mệnh Quý Mão công danh thành công.14. Ất Tị: Ất Mộc hướng dương, anh hoa phát ra ngoài, chủ nhân thông minh nhưng nhụt chí, lợi cho người, bất lợi cho mình. Tọa Thương Quan, Chính Tài, Chính Quan thuận sinh, có tiền, giàu có. Nam mệnh Ất Tị kết hôn muộn, gặp hiền thê, nhưng chi hại Quan gặp Quan, quá mức kiên cường, không tuân thủ kỷ luật, võ tướng hỉ khai sát giới.15. Kỷ Dậu: tọa trường sinh, Văn Xương, chủ nhân thích văn học, thông minh, có văn tài, Thổ Kim tương sinh, chủ nhân thân thể tốt, nhưng nhụt chí, lợi hại đều có. Can chi là gì? Cách tính mệnh theo can chiCát, hung của thái tuếLý giải vận mệnh và tính tuổi xung theo Lục Thập Hoa Giáp 16. Giáp Dần: tọa lộc, thân vượng, tọa Thương Quan phát tài, chủ phú quý, nhưng Tỷ Kiên đoạt tài, văn tài kém một chút. Nữ mệnh Giáp Dần thân cường khắc phu.17. Ất Mão: tọa lộc, thân vượng, tọa Tỷ Kiên, vô tài, thanh quý không phú quý, văn tài tốt, người thanh tú, tay chân khéo léo.18. Bính Thìn: thân tọa khôi địa, chi giấu Chính Ấn, Thực Thần, Thất Sát, chủ nhân thông minh, lanh lợi, Thìn là âm Thổ, Bính là Thái Dương, ánh mặt trời chiếu khắp, vạn vật thành công, thông minh, hiếu động.19. Canh Thân: tọa lộc, thân thể tốt, chủ phú quý. Tháng Sửu Canh Thân là Thiên Nguyệt song Đức, chủ nhân cả đời thân thể tráng kiện, ít tật bệnh. Nữ mệnh Canh Thân mang Thiên Nguyệt song Đức, tất sinh quý tử, thông minh.20. Tân Dậu: tọa lộc, được trợ giúp, thông minh có văn tài, có năng lực. Giải mã vận mệnh người tuổi Bính Ngọ theo Lục Thập Hoa GiápSố mệnh đặc trưng của Lục Thập Hoa Giáp trong tử vi đẩu số (phần 5)Giải mã vận mệnh của người tuổi Đinh Tỵ theo Lục Thập Hoa GiápTrình Trình
Sinh, lão, bệnh, tử là điều mà không ai có thể tránh khỏi. Nhưng do nhiều nguyên nhân như sợ hãi, đau buồn, thương tiếc hoặc tôn trọng… mà mọi người thường tìm cách để né tránh, khi nói đến cái chết cũng cố gắng tìm những từ ngữ uyển chuyển để thay thế như không còn nữa, mất, từ trần, tạ thế, qua đời, đi rồi, hi sinh…
Trong văn hóa truyền thống Việt Nam, chữ “hiếu” có vai trò vô cùng quan trọng, được coi là cái gốc của đạo đức. Từ cổ chí kim, thái độ của con cái đối với việc nuôi dưỡng cha mẹ khi sống và chôn cất cha mẹ khi chết được coi là tiêu chuẩn của chữ hiếu. Do vậy, trong xã hội liền hình thành văn hóa chôn cất nghiêm khắc. Các vùng khác nhau mặc dù có những tập tục khác nhau, nhưng nghi thức tang lễ đa phần đều có những cấm kỵ giống nhau, phải tránh không được phạm.
1. Kỵ lúc ra đi không có người thân bên cạnh
Thời xưa con người rất xem trọng việc nối dõi tông đường, cho rằng lúc người già ra đi, nhất định phải có con cháu bầu bạn để lúc đi có người tiễn, không cảm thấy cô độc, ở dưới âm phủ cũng không phải nhớ nhung, linh hồn cũng dễ yên nghỉ.
2. Kỵ để người đã khuất cởi trần
Người phương Đông chúng ta rất kỹ tính trong những chuyện thế này. Trước khi trút bỏ hơi thở cuối cùng phải mặc quần áo đẹp cho người đó, không nên để cởi trần ra đi.
Ngày xưa, những người già khi đến một số tuổi nhất định, con cháu thường phải chuẩn bị áo liệm trước, để các cụ yên tâm.
Số lượng và chất liệu của áo liệm cũng cần phải suy xét kĩ. Số lượng cần phải là số lẽ, như năm, bảy, chín chiếc, kỵ số chẵn, vì sợ tai họa lại ập đến lần nữa. Về chất liệu, kỵ gấm và satanh, thường dùng lụa nhiều hơn, ngụ ý ban phúc cho con cháu. Hơn nữa, đồ liệm cũng không nên dùng loại làm từ da và lông, vì sợ kiếp sau sẽ hóa thành thú.
3. Những cấm kỵ khi nhập liệm
Khi nhập liệm có rất nhiều cấm kỵ:
- Khi nhập liệm kỵ nước mắt bắn vào thi thể. Khi nhập liệm, những người thân cần phải tạm thời kìm nén đau thương, kìm nén dòng nước mắt để tránh nước mắt rơi vào thi thể.
- Trước khi nhập liệm kỵ mèo, chó đến gần thi thể, bởi vì có ý kiến cho rằng chúng sẽ kiến cho người chết đột nhiên bật dậy hoặc biến thành cương thi.
- Quan tài kỵ dùng gỗ cây liễu. Chất liệu tốt nhất để làm quân tài là gỗ cây tùng hoặc cây bách. Cây liễu do không ra hạt nên sợ đời sau không có người nối dõi.
4. Cấm kỵ khi báo tang
Khi lo việc ma chay, phải treo mảnh vải trắng, tờ giấy trắng ở bên ngoài cổng để người ngoài biết trong nhà có người qua đời, đồng thời báo tang cho bạn bè, thân thích xa gần, báo tin cho những người ở nước ngoài hoặc ở xa xôi, gọi con cái về chịu tang. Trong đó, báo tang cho thông gia cần phải thận trọng.
Khi lo việc ma chay, phải treo mảnh vải trắng, tờ giấy trắng ở bên ngoài cổng để người ngoài biết trong nhà có người qua đời.
Cha mẹ mất, sau khi xác định ngày làm đám tang, con trai phải đến nhà thông gia báo tang. Khi báo tang, trước khi vào nhà cần quỳ ở ngoài hành lễ, báo cáo với thông gia tin cha mẹ mất cùng ngày tháng tổ chức tang lễ.
5. Chọn ngày tổ chức tang lễ và vị trí của mộ
Người xưa cho rằng sau khi chết, linh hồn còn chưa lập tức đi xa. Do vậy ngay từ ngày xưa, nhiều người đã rất cầu kỳ trong việc lựa chọn ngày tháng tổ chức tang lễ, để tránh những điều không may sẽ xảy ra.
Vị trí của mộ tốt hay xấu sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến bần hàn phú quý của con cháu đời sau.
Vị trí của mộ tốt hay xấu sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến bần hàn phú quý của con cháu đời sau. Về vị trí của mộ, người xưa cho rằng cần phải tránh những cấm kỵ sau:
- Không được chôn cất ở nơi có tảng đá lớn .
- Không chôn cất ở nơi có bãi cát và nước chảy xiết.
- Không chôn cất ở kênh rạch và nơi hoang vắng.
- Không chôn trên đỉnh núi cô độc.
- Không chôn xung quanh đền, chùa, miếu.
- Không chôn gần nhà tù.
- Không chôn nơi đồi núi hỗn loạn.
- Không chôn nơi phong cảnh u sầu.
- Không chôn nơi ẩm ướt hoặc địa hình không ổn định.
6. Cấm kỵ sau khi hạ huyệt
Sau khi hạ huyệt người đã khuất, người đưa tang cần đi quanh mộ ba vòng, trên đường về kỵ quay đầu nhìn lại, để tránh linh hồn người đã khuất theo người sống về nhà.
7. Trong thời gian để tang, tránh đi thăm bạn bè, họ hàng
Trong thời gian con cái đang để tang, không nên đi thăm bạn bè và họ hàng, không tụ tập, không chúc Tết, đặc biệt là không đến chúc Tết những gia đình có người bị bệnh để tránh đem điều không may đến.
8. Trong thời gian chịu tang, con cái không được mặc đồ lòe loẹt
Sau khi cha mẹ qua đời, con cái cần phải chịu tang. Thời xưa phải chịu tang 3 năm, bây giờ tuy đã rút ngắn lại, nhưng trong thời gian này vẫn nên chú ý, không được mặc quần áo lòe loẹt, trang điểm đậm, uống rượu hát hò.
Bàn tay nói lên tính cách nổi bật của mỗi con người. Việc coi bói qua bàn tay cho chúng ta biết được cuộc đời này mình được sung sướng cực khổ ra sau. Chúng ta hãy cùng Xem Tướng chấm net xem bói bàn tay của mình theo kiểu nào nhé !
1.Hình dạng tổng quát của bàn tay
- Cân xứng : được sự quân bình tổng quát.
- Dài & khô: Tính khô khan dè dặt.
- Ngắn quá: có nhiều tánh xấu, hạ tiện.
- Nhiều thịt, gân guốc: Trường thọ.
- Dài: khéo léo nhưng gian xảo.
- Dài quá: Tỷ mỷ, si mê, độc đoán.
- Tay dài đụng đầu gối (?): có ý chí, dũng mãnh, rất thông minh, muốn chinh phục thiên hạ.
- Dài và hẹp: ích kỷ, sống cô đơn.
- Bàn tay hẹp: người yếm thế, nhút nhát, nữ: sinh đẻ khó (tương tự với lòng bàn tay nhỏ) . ngược lại: sinh đẽ dễ.
- Trũng, dường như không có chỉ: kém lý trí.
- Bàn tay đẹp, ngón đều đặn: phú quí thượng lưu.
- Ngắn đối với thân hình: tính tình xấu.
- Các gò đều trũng: ngu đần.
- Các gò cao quá mức: độc đoán, kiêu căng.
- Chằn chịt: không quân bình, không trung tính. Nhiều chỉ nhỏ chằn chịt làm như bàn tay bị “nát”: hay tính toán tiền bạc ngay cả đối với chồng hay vợ, nữ: số ba đào.
- Ít chỉ: bình thản, giản dị, vô tư lự.
- Nhiều chỉ đều đặn: hạnh phúc, thích khoa học.
- Có gút "triết lý" : nhiều suy tư, giỏi toán pháp, khoa học, thông minh.
2.Màu bàn tay
- Trắng:bình tĩnh.
- Hồng hồng: tốt dạ có sức khoẻ, cả đời sung sướng phong lưu.
- Vàng: nóng nảy, hay thối chí, yếm thế.
- Đỏ: yêu đời, trung thành, nhưng cẩu thả.
- Thật đỏ: kém sức khoẻ, làm biếng.
- Đỏ bầm: thiếu sinh lực, suy nhược.
- Vàng: nóng tính, chán đời, thường là tay nghệ sĩ.
- Vàng đậm: hay sầu hận, hung tợn.
- Vàng xanh, hay xanh chanh: dữ tợn, thâm hiểm.
- Nâu đen: yếu gan, háo danh, ham chinh phục, cấp chỉ huy độc đoán, bi quan, có dục vọng thấp hèn.
3.Sắc thái bàn tay
- Ướt , mềm: ham khoái lạc, ưa hào nhoáng vật chất, dể bị cảm xúc, nhát, không chủ định, ưa an phận, mê tín, bướng bỉnh.
- Ấm: khoan dung, hòa nhã, ham nói, có thể tự kiêu nếu có dấu hiệu xấu. (nữ: chọc trời khuấy nước)
- Nóng: phòng bệnh gan.
- Lạnh: nhiều tật xấu nhưng biết giữa kín, trung thành, biết hy sinh nhưng nhẹ dạ. Dể xúc động
(vẫn tốt hơn bàn tay ướt), phòng bịnh tim.
- Cứng: thích hoạt động, gan dạ, có thể liều lĩnh, chịu được khổ hạnh, không bị chuyện ái tình làm lung lạc.
- Thật cứng: chậm hiểu, ngu đần.
- Mềm: thông minh, văn sỉ, giàu tưởng tượng, phong lưu. Có thể ưa đơn độc, ưa ái tình, dễ có nhiều may mắn về tình và tiền.
- Thật mềm: càng có nhiều mơ mộng, làm biếng.
- Đầy thịt: an nhàn, hưởng lộc.
- Mập & dầy: Nhiều dâm tính.
- Dầy: phóng túng, lười và tham lam, tính cương quyết, thành công trong buôn bán.
- Mỏng: vất vả, luôn lo lắng vì sinh kế.
- Gầy: thiếu khả năng vật chất, thiên về tinh thần. Có thể tự phụ, bủn xỉn, ghen tỵ nhưng biết kiên nhẫn, kín đáo. Nếu bàn tay gầy mà không khuyết: cũng có nhiều cơ hội đưa đến thành công.
- Khuyết: (lòng bàn tay lõm) tranh đấu suốt đời nhưng khó thành công, phòng bị quỵt nợ, nếu xuất thân từ giàu có: phá của. Nếu có nhiều chỉ xấu: nghèo khổ, phòng bệnh phổi.
4.Khổ bàn tay
- Thân nhỏ bàn tay to: ít nói kín đáo, tỉ mỉ, có thể ít kỷ, hẹp hòi.
- Thân to bàn tay nhỏ: đa cảm, vui vẽ, mau hiểu, nóng nảy, thiếu bình tĩnh, hay chê bai người.
Sa Trung Kim - Sa Trung Kim cần Lô Trung Hỏa để nấu luyện
Tìm hiểu về bản mệnh Sa Trung Kim
Mệnh Sa Trung Kim (vàng trong cát), tuổi Giáp Ngọ và Ất Mùi. Sa Trung Kim cần Lô Trung Hỏa để nấu luyện, Bính Dần vượng hỏa, Giáp Ngọ gặp nó nếu không có thổ tương sinh thì khô khan chủ bệnh và tử. Bính ngọ nạp âm là Thủy nhưng can chi Bính Ngọ đều thuộc hỏa nếu đồng thời gặp thì không hay. Gặp Tích Lịch Hỏa thì gia chủ Sang. Sa Trung Kim rất thích gặp Tuyền Trung Thủy, Giản Hạ Thủy, Thiên Hà Thủy. Trường lưu thủy và Đại hải thủy thì nước sôi không yên, gặp 2 thủy này thì xấu. Nếu như trong trụ không có hỏa, Ất mùi thích gặp Mậu Dần trong thành đầu thổ đây gọi là khai thác Kim trong trong cát sạch là quý cách. Sợ gặp Lộ bàng thổ và Đại dịch thổ
Con người ai cũng nằm mơ khi ngủ, thường trải qua 1-4 giấc mơ mỗi đêm. Mơ là hiện tượng do những gì trong tâm thức mình hướng đến. Khi ngủ bộ não sẽ ngừng hoạt động và sẽ dẫn bạn đến một thế giới, thế giới của những giấc mơ tiềm thức kể cả vô thức. Đ
Những ngày hè oi nóng càng thấy quý những khoảng xanh để trú ngụ trong ngôi nhà thân thương của mình. Để giảm nhiệt, hãy tham khảo một mẫu thiết kế căn hộ tươi mát với gam màu xanh nõn chuối của A.I.DECOR.
Gia chủ căn hộ này vốn là người rất vui vẻ, năng động và ngũ hành bản mệnh thuộc Mộc nên rất ưa thích sự tươi mát của màu xanh. Do đó, các KTS quyết định nhấn nhấ thêm một chút màu xanh vào tất cả các không gian trong căn hộ.
Phòng khách và bếp bố trí liên thông cùng với một bộ bàn ăn. Mảng tường xanh phía phòng khách trở thành điểm nhấn cho cả không gian
Hệ tủ tivi đơn giản nhưng các KTS khéo léo dùng màu trắng bật lên giữa nền xanh tạo nên sự thích thú cho mắt nhìn. Dù tạo hiệu ứng tốt nhưng không nên lạm dụng màu xanh đậm này vì sẽ gây lòe loẹt, chỉ nên nhấn nhá ở một khu vực nhất định.
Bộ sofa màu kem trong phòng khách cũng được nhấn nhá một chút màu xanh trên gối làm điểm nhấn
Các thiết kế nội thất không tập trung vào sự cầu kỳ, chi tiết mà đa phần là dùng màu sắc làm điểm dừng. Nếu gam màu xanh ở trên kết hợp với trắng bóng tạo ra sư tương phản và nổi bật, thì ở phòng bếp, màu vàng cam của vật liệu gỗ trên bàn ghế ăn sẽ là sự bổ sung hài hòa cho thiết kế tổng thể.
Đối với phòng ngủ master, màu xanh nhẹ nhàng một lần nữa được tái sử dụng, tạo hiệu ứng mát mẻ thảnh thơi vừa phải, rất phù hợp với không gian phòng ngủ. Cùng là gam màu xanh, nhưng với cấp độ đậm nó sẽ không gây cảm giác quá trẻ con, đặc biệt là khi được kết hợp với màu xanh dương, trắng và màu nâu đất.
Những màu sắc nền nã và sang trọng trong phòng ngủ chính
Màu xanh được phối rất khéo léo trong phòng của bé. Gam màu xanh non kết hợp với màu vàng cam, đây là những gam màu yêu thích của trẻ em và cũng rất tốt trong việc khơi dậy sáng tạo ở trẻ
(Theo CafeLand) Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Bích Ngọc (##)
Những dấu tích của vua Lê ở Lý Sơn (Quảng Ngãi) dù không nhiều nhưng có nhiều nét độc đáo, đặc biệt là nằm trong sự xâu chuỗi mối quan hệ với người Chăm. Câu
chuyện về kho báu bị yểm bùa của người Chăm (hay còn gọi là người Hời) vẫn còn như tươi mới trong tâm trí nhiều bậc cao niên nơi đây.
Núi Hòn Tươi - nơi được cho là cất giấu kho báu của người Chăm ở Lý Sơn
Ông Trần Hữu Hoài (năm nay 86 tuổi) cho biết: “Tôi sinh sống ở Lý Sơn này đã mấy chục năm rồi. Ngày mới ra đây, khắp nơi đều bàn tán về những người thuộc quý tộc của thời đại Chiêm Thành. Theo cha tôi kể lại thì lượng người Chăm lúc đó ra đảo Lý Sơn khoảng chừng vài ngàn người thôi. Nhưng họ mang theo rất nhiều của cải, có cả những bức tượng được đúc bằng vàng thỏi nữa. Tuy nhiên, sau khi từ đảo dần dần bỏ vào đất liền thì họ có mang theo các châu báu ở đó hay không thì không biết. Thời đoạn nhiễu nhương nên rất có thể họ vẫn còn chôn giấu ở lại nhưng vẫn chưa ai lần ra dấu tích”. Và cũng có thể, những bức tượng vàng ngụy trang bằng gốm cùng với lời nguyền trấn yểm của người Chăm đã được lập nên. Song song với đó là dấu tích của nền văn hóa Chăm-pa vẫn còn in đậm trong nhà trưng bày truyền thống cũng như các vật thể là biểu tượng ở các đảo nhỏ trên đảo Lý Sơn. Như vậy là đã rõ, người Chăm từng lưu dấu ở đây, trong đó có nhiều người thuộc dòng tộc Chiêm Thành. Ông Trần Văn Tùng, một người nắm chuyện liên quan đến văn hóa hình thành huyện đảo Lý Sơn cho biết: “Tôi đã dày công nghiên cứu nhiều năm nhưng vẫn chưa chứng minh được có bao nhiêu người trong cung cấm của triều đại Chiêm Thành lưu lạc về đây. Tuy nhiên, một địa điểm được cho là người Chăm đã cất giấu kho báu khổng lồ của mình ở đó là thuộc núi Hòn Tươi (xã An Hải). Ngọn núi này, nhiều năm trước một số người dân đến đó chơi và cũng định có mưu đồ đào bới nhưng đều bất thành. Nghe kể lại, nhìn nó thì giống hệt quả núi đất đỏ nhưng cứ phập cuốc xuống là lại tóe lửa lên, không sao đào xới nổi. Mà những người đi đào bới về đều bị đau nhức chân tay, phải mang lễ vật ra đó cầu cúng mấy ngày liền mới khỏi được”. Xác nhận thêm điều này, bà Nguyễn Thị Huệ cho biết thêm: “Cũng không ai biết người Chăm giấu gì dưới đó nhưng không ai phủ nhận được rằng họ rời đảo nhưng không mang theo châu báu. Vậy thì châu báu đó đang ở đâu? Có người mang tâm địa xấu, cứ đến chân ngọn núi đó lại bỗng dưng nghe trong đầu vang lên tiếng ong ong và đau như búa bổ, phải quay về và từ bỏ ý định ngay”. Bà Huệ cũng đồ rằng có thể chính người Chăm đã có cách yểm bùa nào đó nên không ai có thể xâm phạm được ngọn núi này. Trong các bài yểm của người Chăm mà bà Huệ nghe lỏm được từng có đoạn: hỡi thần thánh Po Glai hãy về nhận những châu báu của tín đồ gửi ngài, hãy để nó lưu cửu, hãy trường tồn cùng những việc tốt, hãy để mãi là trang sức lộng lẫy của ngài, đừng cho ai lấy đi cả. Bà Huệ còn bộc bạch cho chúng tôi biết rằng nếu những người ăn ở phúc hậu và thường xuyên đến đây nhang khói, trong lòng tuyệt nhiên không có sự phân biệt hay kỳ thị với người Chăm thì có khi bỗng nhiên nhặt được vàng giữa đường. Câu chuyện của bà Huệ chẳng biết thực hư đến đâu nhưng ông Nguyễn Dự, Chủ tịch HĐND xã An Hải cũng cho biết rằng: “Chưa chứng minh được đâu nhưng bản thân tôi cũng thấy ngọn núi của người Chăm từng sống đó có vẻ linh thiêng đấy. Và, việc người dân sau khi ra núi đó khẩn cầu và nhặt được vàng ở đường là có thật. Nhưng đây chỉ là trường hợp hy hữu và có thể cũng chỉ là một sự tình cờ mà thôi”. Xung quanh lời yểm bùa về ngọn núi này, những bậc cao niên ở đây cũng truyền tụng nhau một cách đầy huyền bí. Họ cho rằng trước khi đọc những lời yểm bùa đó, những người Chăm tiến hành thắp hương và chôn theo của cải châu báu cho một trinh nữ vừa tròn 18 tuổi chưa hề biết đến chuyện yêu đương. Hình dáng người trinh nữ đó được đặt nằm ngửa, tay trinh nữ này cầm một con dao nhỏ. Sau đó làm dấu bằng cách trồng một cây da để tăng phần linh thiêng và có sức chống chọi trước mọi sự xâm phạm. Đặc biệt, cây da này không ai có thể chặt được. Dù thời gian có trôi chảy qua bao nhiêu năm nhưng chỉ việc đo cái bóng cây vào một khung giờ đã tiên liệu rồi đào ngay vị trí đó là đúng nơi cất giấu vàng. Đem câu chuyện đầy huyền bí này hỏi ông Đạo Văn Tuấn, một người Chăm chính hiệu. Tuy nhiên, ông Tuấn cũng thừa nhận có những phong tục, nhất là các vấn đề liên quan đến tín ngưỡng của người Chăm xưa kia khác bây giờ nhiều nên lớp sau như chúng tôi cũng không nắm rõ được. Nhiều người dân trên đảo còn cho rằng, nếu ai có miệt mài tìm kiếm mà may mắn biết chỗ giấu vàng nhưng cũng không tài nào đào được. Họ truyền tai nhau rằng, nhiều người cố đốn hạ những cây da làm dấu để tìm vàng thì thấy từ vết thương của cây chảy ra máu. Còn những kẻ động tay, động chân chắc chắn sẽ bị bệnh tật hoặc chết bất đắc kỳ tử. Bà Huệ còn quả quyết rằng: “Một thời gian dài trước, thỉnh thoảng chúng tôi còn thấy người Chăm ra đảo trong vai người bán thuốc dạo. Sau khi họ về lại đất liền thì có một vài cây da bị chết khô không rõ nguyên nhân. Có thể họ ra đào lấy lại tài sản của ông cha mình, đó là nơi các cây da bị chết”. Bà Trần Thị Hậu, người từng mơ thấy vàng sống lượn quanh ngọn núi người Chăm từng ở cho biết thêm: “Có thể đó chỉ là ảo giác. Nhưng chúng tôi chạy theo mãi mà không tài nào bắt được. Đặc biệt, thứ vàng này cứ giống như ma trơi và không phải ai cũng có thể thấy được”.Nhà sử học Trần Văn Liệu cho rằng để lý giải được những điều kì bí này cần phải có sự phối hợp chặt chẽ của những nghiên cứu văn hóa Chăm từ thời đại Chiêm Thành cùng các cứ liệu và phong tục mới hiện nay. Khi mà chưa chứng minh được rõ ràng thì tất nhiên những câu chuyện huyền bí này vẫn còn gọi mở cho nhiều người sự hoài nghi. Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Thanh Vân (##)
Lỗ mũi của đàn ông không thể quá to, nếu lỗ mũi quá to thì tài vận của họ cũng không tồi nhưng lại khó giữ tiền tài, không phải là họ thích tiêu hoang hay không biết tiết kiệm mà họ thường gặp chuyện cần dùng đến tiền. Đặc biệt nếu cánh mũi quá mỏng thì tài vật thường mất nhiều hơn được, nếu không để ý cẩn thận thì rất khó bảo toàn tài sản.
1. Lỗ mũi to nhưng không hếch
Người có sống mũi cao, lỗ mũi to nhưng không hếch làm việc có trách nhiệm, biết cân nhắc việc nào nên làm việc nào không, tác phong thoải mái, không thích "nước đến chân mới nhảy". Họ nắm bắt thời cơ và hành sự quyết đoán, bởi vậy dễ thành công, làm nên nghiệp lớn, không thỏa hiệp với thất bại, có thể đứng dậy sau nỗi đau, đạt được vinh quang xứng đáng.
2. Lỗ mũi to, không hếch sống mũi thấp
Người sở hữu chiếc mũi không hếch, lỗ mũi to thường dũng cảm, bình thản đối mặt với biến cố, không dễ dàng bị hạ gục bởi khó khăn trở ngại. Tuy nhiên do sống mũi thấp nên họ dễ làm hỏng việc lớn, thất bại nhiều hơn thành công, khó bảo toàn sự nghiệp, thường hay bỏ lỡ thời cơ.
3. Lỗ mũi lớn, khuôn mặt dài
Lỗ mũi lớn là người không cứng nhắc, không câu nệ tiểu tiết, nhưng khuôn mặt dài lại là người hay suy tư, chuyện gì cũng phải lên kế hoạch cẩn thận, không có sự chuẩn bị trước thì họ sẽ không làm. Nhìn chung, những người này thuộc tuýp thận trọng nhưng cũng rất to gan.
4. Lỗ mũi lớn, khuôn mặt ngắn
Lỗ mũi lớn thường là người tiêu tiền hào phóng, cho nên họ đi đến nơi nào cũng được hoan nghênh, nhưng khuôn mặt ngắn thì khi làm việc ít suy nghĩ, dễ để tình cảm ảnh hưởng đến công việc.
Nam giới và nữ giới có khác biệt rất lớn, nếu là nam giới có lỗ mũi to thì sẽ không có ảnh hưởng quá lớn nhưng nếu là phụ nữ có lỗ mũi to sẽ ảnh hưởng đến dung mạo, nữ thì nên có mũi nhỏ một chút, vận số mới tốt. Từ góc độ của xem tướng mặt mà nói, nữ có lỗ mũi to vận số rất xấu, cần phối hợp quan sát với hình dáng môi, nếu là XX có đôi môi dày, đỏ và lỗ mũi hơi hếch lên thì lỗ mũi to cũng không mang lại nhiều trở ngại, nhưng tính cách sẽ có phần hơi "nam tính", ví dụ: hào sảng, không chi ly tính toán, rất trọng tình nghĩa.
XX có lỗ mũi to nhưng môi mỏng, khóe môi rũ xuống thường tiêu hoang không biết tính toán, coi thường người khác, họ thấy vui vẻ khi dùng tiền hạ thấp người khác. Những người này nếu không biết thay đổi thì khi về già họ có thể rơi vào hoàn cảnh cô đơn không nơi nương tựa.
Nguồn gốc và ý nghĩa của Father's Day - Ngày của Cha
Cũng như ngày của mẹ, thế giới cũng tạo ra một ngày để biết ơn tình nghĩa công lao của người đã sinh thành chúng ta, đó là Ngày của Cha – Father’s Day.
► ## gửi tới bạn đọc công cụ xem ngày theo Lịch vạn sự chuẩn xác và nhanh chóng
Ngày của Cha hay Father’s Day là một ngày lễ được dùng để người con tỏ lòng biết ơn tôn vinh những người làm cha, người đã che chở sinh thành.
“Công cha như núi Thái SơnNghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”
Nguồn gốc ngày của Cha?
Ngày của Cha thường được tổ chức vào ngày Chủ nhật thứ ba của tháng 6. Ngày của Cha được tổ chức lần đầu tiên vào năm 1910 qua câu chuyện của cô gái có tên Sonora Louise Smart Dodd. Nhưng ít ai biết, Ngày của Cha thực chất đến từ một câu chuyện đau lòng từ trước. Ngày của Cha thực chất đến từ câu chuyện thảm họa hầm mỏ ở Monongah, tây Virginia (Mỹ) vào tháng 12.1907. Vụ tai nạn đã khiến 362 người đàn ông thiệt mạng, trong đó có 250 người đã làm cha, nghĩa là khoảng 1.000 đứa trẻ đã mồ côi cha từ sự việc đau lòng này, theo tờ The Mirror ngày 19.6. Đây cũng là tai nạn khai thác mỏ tồi tệ nhất trong lịch sử nước Mỹ. Nạn nhân hầu hết là người Ý di cư. Cho đến nay, chính quyền ước tính con số nạn nhân thiệt mạng thực tế gần 500 người. Cô Grace Golden Clayton, một người con mất cha trong tai nạn này, đã tổ chức một buổi lễ tưởng nhớ đến những người cha xấu số tại nhà thờ địa phương tây Virginia. Cô Clayton đã chọn ngày chủ nhật gần nhất với ngày sinh nhật của cha cô để tổ chức lễ. Đó cũng chính là nguồn gốc của Ngày của Cha, diễn ra lần đầu vào ngày 5.7.1908. Tuy nhiên, cô Clayton khá kín tiếng và ngày lễ cũng không được tổ chức lại vào những năm sau. Khoảng 2 năm sau, cô Sonora Smart Dodd, sống ở Shokane, Washington, có người cha là ông William Jackson Smart, từng là cựu chiến binh trong cuộc nội chiến nước Mỹ. Vợ ông chẳng may qua đời khi sinh người con út. Kể từ đó, người cha một thân “gà trống” nuôi 6 đứa con đến lúc trưởng thành. Cảm phục trước sự hy sinh và tình yêu thương vô bờ của cha dành cho gia đình, cô Dodd quyết định kêu gọi thành lập một ngày để tưởng nhớ công ơn người cha. Với sự giúp đỡ của các mục sư và Hiệp hội Thanh niên Thiên chúa giáo, ngày lễ của Cha đã được tổ chức vào năm 1910.Kể từ đó, Ngày của Cha được vận động trở thành quốc lễ của Mỹ. Cho tới năm 1972, tổng thống Richard Nixon đã ký duyệt và công bố Ngày của Cha chính thức là ngày quốc lễ của nước này và được tưởng niệm vào chủ nhật thứ ba của tháng 6 mỗi năm.Ngày nay, ngày của Cha được lan truyền khắp thế giới, trong đó có cả Việt Nam, những người con đều dành tặng cho người Cha của mình những lời chúc, những tấm thiệp hay những món quà đầy ý nghĩa với mong muốn Cha mình được khỏe mạnh và hạnh phúc.Hãy dành cả tấm lòng cho người cha đáng kính, người đã dành cả tình yêu thương cho những đứa con từ khi chập chững cho tới khi trưởng thành. ST. Ngày Của Mẹ là ngày gì? Ngày của Mẹ hay Mother’s Day thường được chọn là ngày Chủ nhật thứ hai của tháng 5. Vào ngày này những người con sẽ tặng cho người Mẹ của mình những món quà vềNgày Trái Đất là gì? Ra đời cách đây hơn 40 năm, ngày Trái Đất được coi là ngày truyền cảm hứng cho nhận thức và đánh giá cao môi trường tự nhiên của Trái Đất.Vì sao 20/3 được chọn là Ngày Quốc tế Hạnh phúc? Ngày Quốc tế Hạnh phúc được lấy từ ý tưởng của Bhutan -Vương quốc bé nhỏ nằm sâu trong lục địa miền đông Himalayas, vốn được đánh giá là nước có chỉ số hạnh Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Thanh Vân (##)
Trong tử vi thì Sao Thiên đồng chủ về phúc thọ, hóa khí là phúc, có khả năng kéo dài tuổi thọ, giải ách, chế hóa; lại chủ về mệnh giỏi văn chương, âm nhạc
Trong tử vi thì Sao Thiên đồng chủ về phúc thọ, hóa khí là phúc, có khả năng kéo dài tuổi thọ, giải ách, chế hóa; lại chủ về mệnh giỏi văn chương, âm nhạc nhưng khả năng truyền đạt không tốt.
Khi thiếu niên hoặc về già chủ về muôn sự cát lợi, được cha mẹ yêu quý, che chở từ nhỏ, an hưởng tuổi già, con cái hiếu thuận, cuộc sông thoải mái.
Trong Lá số Tử vi, Thiên đồng ưa nhất gặp Thái âm ở chỗ Tý, là cách cục Thủy trừng quế ngạc, chủ về làm quan thanh liêm, có bất động, có cha mẹ mẫu mực, mệnh nữ nên làm vợ lẽ. Nếu Thiên đồng, Thái âm ở Ngọ thì mệnh nam đào hoa, mệnh nữ có cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc.
Thiên đồng ưa tọa cung Điền trạch, có tiền tài.
Thiên đồng, Thiên lương tại Thân, Dần, mệnh nữ nên làm vợ lẽ.
Mệnh nữ có Thiên đồng tọa Mệnh rất đáng yêu, được chồng yêu chiều.
Thiên đồng và Đà la đồng cung dễ phát phì.
Thiên đồng và Dương nhẫn đồng cung dễ bị thương bên ngoài.
Thiên đồng tọa cung Mệnh, cung Thân trong lá số tử vi , dù nam hay nữ đều có khuyết điểm là quá tùy tiện, không biết phân biệt chính tà phải trái.
Ngưòi có Thiên đồng tọa thủ cung Mệnh nên mập không nên gầy, mập sẽ có phúc, gầy thì mệnh khổ; cũng không thể quá mập. Mệnh nữ có tư tưởng cam chịu, phó mặc cho sô" phận.
Thiên đồng ưa tọa cung Phúc đức, chủ về hưởng phúc.
Thiên đồng tọa cung Phu thê hoặc tổ hợp sao Thiên đồng như Thiên đồng, Thiên lương; Thiên đồng, Thái âm; Thiên đồng, Cự môn tọa cung Phu thê nên kết hôn muộn.
Trong tử vi Thiên đồng không ưa đồng cung vối Cự môn, dù tọa cung nào đều không cát lợi, chủ về nội tâm đau khổ, tinh thần dày vò, u uất.
Bạch Ðức Thế Tôn, con xem ở đời phàm là con trai mang đai hia mão, ai cũng nhận ra, đấy là nam giới, những người con gái hương hoa phấn sáp, kiềng xuyến nhẫn hoa, ai cũng nhận ra, đó là nữ giới. Nay người đã chết, xương trắng một mầu, chúng con biết đâu mà phân biệt đựơc.
Này A-Nan con, về bên nam giới trong lúc bình sinh, thừơng lui tới những chốn chùa chiền, nhờ có nhân duyên nghe Kinh lễ Phật, kính mến Tăng-già, nợ trần đã qua, hồn về cõi Phật, bao nhiêu xương trắng, nhắc thấy nặng hơn là xương nam giới còn như nữ giới trong lúc bình sinh, nhiều lần sinh nở, nuôi nấng con thơ, tổn hao khí huyết, mỗi một kỳ sinh, máu đặc trong mình chảy ra sáu đấu, mỗi người con bú, tám thùng bốn đấu, sửa ở trong mình giảm bớt tinh anh, cho nên xương nhẹ và có sắc đen. Tôi nghe Phật nói thương xót vô cùng, như dao cắt ruột, nứơc mắt chứa chan, hai hàng châu lệ, mà bạch Phật rằng:
Tôi nghe thế nầy : một khi Phật ở, trong một Tinh Xá, vườn Cấp-cô- độc, cây của Kỳ-Ðà, cùng các Tăng-già, có trên hai vạn, thêm tám nghìn người , cùng chư Bồ-Tát. Bấy giờ Thế-Tôn, cùng với Ðại chúng, nhân buổi nhàn du đi về phía nam, thấy đống xương khô chất cao như núi Ðức Phật Thế Tôn liền sụp lạy ngay đống xương ấy. Tôi bạch Phật rằng : Lạy Ðức Thế Tôn, Ngài ở trên ngôi chí Tôn, chí Qúy, Thầy cả ba cõi Cha lành bốn loài thiên thựơng nhân gian thảy đều tôn kính, sao Ngài lại lễ đống xương kia.
Nầy A-Nan ơi! Ngươi tuy xuất gia theo ta tu học, trong bấy nhiêu lâu, những sự thấy nghe đã rộng rãi, đống xương khô ấy hoặc là ông bà, hay là cha mẹ, thân trứơc của ta, ngàn muôn ức kiếp, đời đã cách xa, bởi thế nay ta chí thành kính lễ. Ngươi đem xương nầy chia làm hai phần, một là đàn ông, hai là đàn bà, phân biệt cho ta.
Bạch Ðức Thế Tôn, con xem ở đời phàm là con trai mang đai hia mão, ai cũng nhận ra, đấy là nam giới, những người con gái hương hoa phấn sáp, kiềng xuyến nhẫn hoa, ai cũng nhận ra, đó là nữ giới. Nay người đã chết, xương trắng một mầu, chúng con biết đâu mà phân biệt đựơc.
ÐÂY LÀ LỜI PHẬT
Này A-Nan con, về bên nam giới trong lúc bình sinh, thừơng lui tới những chốn chùa chiền, nhờ có nhân duyên nghe Kinh lễ Phật, kính mến Tăng-già, nợ trần đã qua, hồn về cõi Phật, bao nhiêu xương trắng, nhắc thấy nặng hơn là xương nam giới còn như nữ giới trong lúc bình sinh, nhiều lần sinh nở, nuôi nấng con thơ, tổn hao khí huyết, mỗi một kỳ sinh, máu đặc trong mình chảy ra sáu đấu, mỗi người con bú, tám thùng bốn đấu, sửa ở trong mình giảm bớt tinh anh, cho nên xương nhẹ và có sắc đen.
Tôi nghe Phật nói thương xót vô cùng, như dao cắt ruột, nứơc mắt chứa chan, hai hàng châu lệ, mà bạch Phật rằng:
Lạy Ðức Thế Tôn, công ơn cha mẹ như non như bể, thăm thẳm nghìn trùng, lấy gì báo đáp, cúi xin Ðức Phật dủ lòng thương xót, dạy bảo chúng con.
Nầy A-Nan con, Về ân đức mẹ, trong vòng mười tháng đi lại nặng nề, cưu mang nhọc mệt, khổ không xiết :
Khi vừa một tháng, ở trong thai mẹ, khác gì hạt sương dính trên ngọn cỏ, sớm còn tụ đọng, trưa đã tan, khó lòng giử được.
Khi được hai tháng, ở trong thai mẹ, hình như sữa đặc, đã chắc gì đâu.
Khi được ba tháng, ở trong thai mẹ, ví như cục máu, đông đặc đỏ ngầu, vô tri vô giác.
Khi được bốn tháng, ở trong thai mẹ, mới dạng hình người.
Khi được năm tháng, ở trong thai mẹ,mới đủ năm hình, chân tay đầu tóc.
Khi được sáu tháng, ở trong thai mẹ, sáu căn mới đủ, mắt tay mũi lưỡi thân hình và ý.
Khi được bảy tháng, ở trong thai mẹ, mới sinh đầy đủ, ba trăm sáu mươi những cái đốt xương, cùng là tám vạn, bốn nghìn chân lông.
Khi được tám tháng, ở trong thai mẹ, phủ tạng mới sinh, ý chí mới đủ, chín khiếu mới thông.
Khi được chín tháng, ở trong thai mẹ, mới đủ hình người ngồi trong bụng mẹ, khát uống nguyên khí, không ăn hoa quả, cùng là ngũ cốc, sinh tạng rủ xuống, thực tạng hướng lên, có một dãy núi gồm có ba quả; một là Tu Di hai là núi Nghiệp, ba là núi máu, núi nầy đồng thời hoá ra dòng máu, rót vào trong miệng.
Ở trong thai mẹ, trong vòng mười tháng, trăm phần toàn vẹn, mới đến ngày sinh, nếu là con hiếu, chắp tay thu hình, thuận lối mà ra, không đau lòng mẹ; nếu là con bạc, dẫy giụa bải bơi khiến lòng mẹ, buốt chói từng hồi, như đâm như xỉa, như cấu như cào, như nghìn mũi dao, đâm vào gan ruột, đau đớn vô cùng, nói sao cho siết, sinh được thân nầy, mừng thay vui thay, yêu thay mến thay.
Phật bảo A-Nan : công ơn cha mẹ, gồm có mười điều, phàm kẻ làm con, phải lo báo hiếu .
Những gì là mười điều?
Nhớ ơn mẹ ta, chín tháng mười ngày, cưu mang nặng nhọc.
Nhớ ơn mẹ ta, khi sinh lúc nở, đau đớn vô cùng.
Nhớ ơn mẹ ta, khi sanh lúc nở, quên cả âu lo.
Nhớ lại công ơn, mẹ ăn miếng đắng, lại nhả miếng ngon, dành dụm cho con.
Nhớ lại công ơn, chỗ ướt mẹ nằm, chỗ ráo xê con.
Nhớ ơn mẹ ta, ba năm bú mớm, nuôi nấng thuốc thang, trong khi sài đẹn.
Nhớ ơn mẹ ta, giặt diệm hong phơi áo quần dơ dáy, ô uế tanh hôi mẹ đành cam chịu .
Nhớ ơn mẹ ta, khi đi đâu xa, vì thương nhớ con, trong lòng cầy cậy, một phút chẳng ngơi .
Nhớ công ơn mẹ, vì sanh nuôi con, mà mẹ cam lòng tạo bao nhiêu ác nghiệp.
Nhớ công ơn mẹ, lòng rất thương con, trọn đời yêu dấu, không phút nào ngơi.
ÐỆ NHẤT ÂN: CHÍN THÁNG MƯỜI NGÀY CƯU MANG NẶNG NHỌC
Bao kiếp, duyên cùng nợ;
Ngày nay, mới vào thai
Ðầy tháng, sanh ngũ tạng;
Bảy bảy, sáu tinh khai
Thân trọng, như non Thái
Ðộng tĩnh, sợ phong tai
Áo the, đành xốc-xếch,
Gương lược, biếng trang đài.
ÐỆ NHỊ ÂN: KHI GẦN SANH NỞ
Khi gần ngày sanh nở
Nặng nhọc, khổ vô cùng,
Cưu mang, trong mười tháng
Sanh nở, sắp đến ngày
Ðứng ngồi coi nặng nhọc;
Dáng vẻ, tựa ngô ngây,
Sợ hãi lo, cùng lắng;
Tử sanh giờ phút nầy!
ÐỆ TAM ÂN: SANH NỞ
Mẹ ta, khi sanh nở,
Thân thể đều mở toang!
Tâm hồn như mê mẩn,
Máu me chan hòa đầy,
Chờ nghe, thấy con khóc;
Lòng mẹ mừng rỡ thay!
Ðương mừng lại lo đến
Rầu rĩ ruột gan nầy.
Cúi xin chư Phật, soi xét kẻ phàm, phóng Ngọc hào quang, ra tay cứu vớt, làm sao báo được, ân đức mẹ cha .
ÐỆ TỨ ÂN: ĂN ÐẮNG NHẢ NGỌT
Mẹ ta lòng thành thực,
Thương con chẳng chút ngơi
Nhả ngọt nào có tiếc!
Ăn đắng nói cùng ai?
Yêu dấu như vàng ngọc.
Nâng niu tay chẳng rời
Những mong con ấm no;
Mẹ đói rách cũng vui .
ÐỆ NGŨ ÂN: XÊ CON TỰ THẤP
Tự mình nằm chỗ ướt,
Chỗ ráo để xê con,
Hai vú phòng đói khát;
Hai tay ủ gió sương.
Thâu đêm nằm chẳng ngủ;
Nâng niu tựa ngọc vàng
Những mong con vui vẻ;
Lòng mẹ mới được yên.
ÐỆ LỤC ÂN: BÚ MỚM NUÔI NẤNG
Ðức mẹ dày như đất;
Công cha thẳm tựa trời
Chở che coi bình đẳng;
Cha mẹ cũng thế thôi!
Chẳng quản, câm mù, điếc!
Chẳng hiềm, quắt tay chân!
Bởi vì con ruột thịt,
Trọn đời dạ chẳng khuây.
ÐỆ BÁT ÂN: ÐI XA LÒNG MẸ THƯƠNG NHỚ
Từ biệt, lòng khôn nhẫn;
Sanh ly dạ đáng thương;
Con đi đường xa cách
Mẹ ở chốn tha hương,
Ngày đêm thường tưởng nhớ;
Sớm tối vẩn vấn vương
Như vượn thương con đỏ
Khúc khúc đoạn can trường?
ÐỆ CỬU ÂN: VÌ SANH CON MÀ CAM LÒNG TẠO BAO ÁC NGHIỆP
Mẹ trải qua bao nhiêu gian khổ,
Công lao tựa vực trời
Bồng bế cùng nuôi nấng;
Mong sao con ăn chơi
Nhường cơm cùng xẻ áo;
Mẹ đói rách dũng vui!
Khôn lớn tìm đôi lứa
Gây dựng cho nên người
ÐỆ THẬP ÂN: MẸ TRỌN ÐỜI THƯƠNG YÊU CON
Công cha cùng đức mẹ
Cao sâu tựa vưc Trời
Mẹ già, hơn trăm tuổi,
Vẫn thương con tám mươi!
Bao giờ ân oán hết?
Tắt nghỉ cũng chẳng thôi !…
Phật bảo A-Nan: Ta xem chúng sanh, dẫu làm được người lòng còn ngu muội chẳng nghĩ mẹ cha, công đức kể ra, như non như bể, chẳng cung chẳng kính, chẳng hiếu chẳng từ, mẹ mang thai con, trong vòng mười tháng, ngồi đứng không yên, như mang gánh nặng, ăn uống chẳng ngon, như người mang bệnh, ngày tháng thoi đưa, dến khi sanh nở, chịu khổ mọi đường, phút giây hay dở, kinh sợ vô cùng, như giết trâu dê, máu me lai láng, còn nhiều khổ nữa, mới được thân nầy, ăn đắng nuốt cay, nhả bùi nhả ngọt, nâng niu dưỡng dục, giặc giũ dáy dơ, không nề gian khổ, bức bối nồng nàn, rét mướt cơ hàn, lầm than tân khổ, mẹ nằm chỗ ướt, ráo để xê con, ba năm bú mớm, bồng bế nâng niu, dạy bảo đủ điều, lễ nghi phép tắc, cho ăn đi học, tìm đủ mọi nghề, đưa đón đi về, cần lao chăm chú, chẳng kể gì công.
Trái nắng dở Trời tuần trăng cuối gió, bệnh nọ chứng kia, bông hoa sài đẹn, thang thuốc đâu đâu, một mình lo lắng, chạy ngược chạy xuôi năm canh vò võ, bệnh con có khỏi lòng mẹ mới yên, mong con lớn lên, con thảo con hiền, để mà trông cậy.
Không ngờ ngày nay, hóa con bất hiếu, mẹ già cha yếu, con chẳng đỡ đần, cãi vã song thân, nói năng cắn cẩu, giương đôi mắt chẫu, khinh rẻ mẹ cha, chú bác ông bà, cô dì chẳng nể, anh em cũng kệ, đánh lộn xẩy ra, ô nhục nước nhà, bất trung bất nghĩa, bất hiếu bất lương, phép nước coi thường, mẹ cha cũng kệ, xóm giềng chẳng nể, chửi bới nhau luôn, sớm tối ra vào, chẳng thưa chẳng gởi nói năng càn rỡ, tự ý làm bừa, cha mẹ cũng thừa, thầy trên cũng mặc!
Bé thì ai chấp, người những nâng niu, dần dần khôn lớn, gai ngạnh mọi điều, chẳng hòa chẳng thuận, thường hay sân si bỏ cả bạn lành, giao du bạn ác, tập thói xa hoa, chơi khắp gần xa, thất thường điên đảo, bị kẻ dổ dành, mất cả thân danh, bỏ làng trốn mất, trái ý mẹ cha, ly biệt quê nhà, chẳng nhìn quê quán, hoặc vì buôn bán, hoặc bởi tòng quân, tiêm nhiễm dần dần, trở nên lưu luyến, vợ nọ con kia, chẳng thiết đi về, quê hương bổn quán, ở đất nước người lại hay rong chơi bị người lưà gạt, tai vạ liên miên, pháp luật gia hình, tù loa cấm cố, cực khổ mọi điều, chẳng may yếu đau, chứng kia tật nọ, ở chốn tha hương, ai kẻ thích thân, ai người thang thuốc, mẹ cha cách biệt, thân thích biết đâu, cam chịu ưu sầu, quê người đất khách; khốn khổ gầy còm, không người trông nom, bị khinh rẻ, lang thang đường ngõ, vì thế chết đi; không người mai táng, chương phềnh thối nát, giãi bừa, chó cầy nhai xé!….
Mẹ cha thân thuộc, khi được tin buồn, luống những đau thương, ruột như dao cắt, hai hàng nước mắt, lã chã chứa chan, hoặc vì quá thương, kết thành bệnh khí, hoặc là đến chết, làm quỷ ôm thây, chẳng để cho ai khư khư giữ mãi. Hoặc là vì con, chẳng chăm học tập, chỉ mải rong chơi nay đây mai đó, cùng bạn vô loài làm điều vô ích, giao du trộm cắp, chẳng sợ lệ làng, chè rượu nghênh ngang, đánh cờ đánh bạc, gian tham tội ác, lụy đến tôn thân, nay Sở mai Tần, lên đồn xuống phủ, mẹ cha ủ rũ, khốn khổ vì con.
Nào con có biết, cha mẹ khổ đau, trăm não nghìn sầu, mùa Thu mùa Ðông, rét run bức bối chẳng nhìn sớm tối; ấp lạnh quạt nồng, chẳng viếng chẳng thăm, chẳng hầu chẳng hạ, mẹ cha già cả, hình vóc gầy còm, hổ mặt người con, dầy vò mắng nhiếc, mẹ cha hoặc góa, trơ trọi một mình, luống những buồn tanh, như người ngủ trọ, chiếc gối một phòng, năm canh vò-võ, mùa đông sương gió, rét mướt cơ hàn, trai gái các con, nào ai hỏi đến, đêm ngày thương khóc, tự thán tự thương !
Khi đem thức ăn, dâng lên cha mẹ, thì lại giữ kẽ, rằng ngượng e, sợ kẻ cười chê; ví đem quà bánh, cho vợ cho con, mặt dạn mày dầy, không hề xấu hổ, vợ con dặn bảo, phải đúng như lời cha mẹ hết hơi không hề hối cải .
Ðây là con gái khi chưa gả chồng, hãy còn ở chung, tỏ ra hiếu thảo; khi đã gã bán, về ở nhà người một ngày một lười thiết gì cha mẹ, những ngày giỗ tết, có đảo về qua, ví dù mẹ cha, có gì sơ ý, liền sinh giận dữ, tỏ vẻ oán hờn, chồng chửi nhơn nhơn, đành cam lòng chịu, khác họ khác làng, tình nghĩa keo sơn, hóa ra thâm trọng, mẹ cha máu mủ, thì lại sơ tình. Hoặc đi theo chồng, quê người đất khách, quận nọ tỉnh kia, cha mẹ xa lià. Làng không tưởng nhớ, chẳng viếng chẳng thăm, thư tín cũng không, tuyệt không tin tức, mẹ cha thương nhớ, rầu rĩ ruột gan, luống những bàng hoàng, sớm chiều mong mỏi công đức cha mẹ, vô lượng vô biên, con chẳng hiếu hiền, ở đời cũng lắm.
Khi ấy Ðại chúng, nghe Phật nói ra, công đức cha mẹ, cao tầy non Thái đều cùng đứng dậy, hoặc tự gieo mình, đập đầu lăn khóc, máu me trào trạt, lai láng cả nhà, chết ngất cả ra, hồi lâu mới tỉnh, mà nói lời nầy, khổ thay khổ thay ! đau lòng đứt ruột, lũ con ngày nay, tội ác ngập đầu, xưa có biết đâu, mờ như đêm tối ngày nay biết hối thì sự đã rồi đau đớn lòng tôi trót đà bội bạc, cúi xin chư Phật, soi xét kẻ phàm, phóng Ngọc hào quang, ra tay cứu vớt, làm sao báo được, ân đức mẹ cha .
Phật liền nói ra, đủ đầy tám giọng, bảo Ðại chúng rằng :
Ví có kẻ nào, hai vai kiệu cõng, cha mẹ đi chơi suốt cả mọi nơi trên rừng dưới biển, hai vai nặng trễ, mòn cả đến xương, máu chảy cùng đường, không hề ân hận, cũng chưa báo được công đức mẹ cha, kể trong muôn một.
Ví lại có người. Gặp khi đói kém, cắt hết thịt mình, cung nuôi cha mẹ, khỏi lúc nguy nàn, riêng mình cam chịu, thịt nát xương tan, trăm nghìn muôn kiếp, để báo thâm ân, chẳng được một phần, kể trong muôn một.
Ví lại có người trải trăm nghìn kiếp, tự tay cầm dao, khoét đôi mắt mình, luyện làm thang thuốc, chữa bịnh mẹ cha, như thế cũng là, chưa trả được ân, kể trong muôn một.
Ví lại có người trải trăm nghìn kiếp, đều tự tay mình, cầm dao khoét ruột, móc lấy tim gan, luyện thành thang thuốc, chữa bịnh mẹ cha, như thế cũng là, chưa trả được ân, kể trong muôn một.
Ví lại có người trải trăm nghìn kiếp, vì tội mẹ cha, trăm nghìn vòng dao, băm vằm thân thể, thịt nát xương tan, như thế cũng là, kể trong muôn một.
Ví lại có người trải trăm nghìn kiếp, vì báo ơn mẹ, lấy mình đốt lên, làm cây đèn thịt, cúng dàng chư Phật, như thế cũng là, chưa trả được ân, kể trong muôn một.
Ví lại có người trải trăm nghìn kiếp, vì bệnh mẹ cha, đập xương lấy tủy, để làm thang thuốc, chữa bệnh mẹ cha, như thế cũng là, chưa trả được ân, kể trong muôn một.
Ví lại có người trải trăm nghìn kiếp, vì cứu mẹ cha, trải trăm nghìn kiếp, nuốt viên sắt nóng, cháy sém cả mình, như thế cũng là, chưa trả được ân, kể trong muôn một.
Bấy giờ Ðại chúng, nghe Phật nói rồi trong dạ bồi hồi ruột đau như cắt, hai hành nước mắt, tầm tả như mưa, mà bạch Phật rằng : con muốn đền ơn, công đức mẹ cha, cúi xin Phật đà, rủ lòng chỉ bảo ?
Ðức Phật liền bảo : Cặn kẽ mọi lời này chúng sinh ơi muốn đền ân mẹ, nhất là một lẽ, nên chép Kinh nầy, kính biếu gần xa, cho nhiều người tụng. Hai vì cha mẹ, đọc tụng Kinh này, chuyên cần chớ đoạn. Ba vì cha mẹ, sám hối làm chay. Bốn vì cha mẹ, cúng dường Tam Bảo, tùy sở dùng. Năm vì cha mẹ, trong sáu ngày Trai phải nên nhớ giữ. Sáu vì cha mẹ, thường hay bố thí.
Làm được như thế, thực là con hiếu, cứu được cha mẹ, siêu thăng Cưc Lạc, phúc đẳng Hà sa.
Phật bảo A-Nan, ở trên thế gian, những người bất hiếu, sau hết duyên trần, nguyên cái xác thân, chôn vùi dưới đất : còn phần Linh giác, là cái chân thân, phải vào Ðiạ Ngục, Chính ngục A-Tỳ, vuông rộng tứ vi tám ngàn cây số, bốn mặt có tường sắt, tường đồng, lửa cháy tứ tung, toàn dây thép điện, thường có lửa bén, cháy đỏ hồng hồng, bốc cháy tứ tung, thấy mà kinh sợ; hơn như thế nữa, sấm chớp đùng đùng, chó sắt rắn đồng, phun ra khói lửa, đốt cháy tội nhân.
Lại còn nước đồng đun sôi sùng sục, rót ngay vào miệng những kẻ tội nhân, vì tội bất hiếu, cãi giả mẹ cha, cam chịu cực hình, ở trong ngục ấy, gươm dao sào gậy, đâm chém suốt ngày, như hạt mưa bay, trên không rơi xuống, trải nghìn muôn kiếp, không phút nào nguôi hết hạn ấy rồi lại vào ngục khác; Ðầu đội chậu máu, xe sắt nghiến mình, mình mẩy chân tay, dập dừ tan nát, một ngày phải chết, tới nghìn vạn lần, khổ sở gian truân, vì chứng bất hiếu. Phật lại dạy rằng : ví có Thiện nam hay là Tín nữ, thật là hiếu tử, trả nghĩa mẹ cha, in Kinh nầy ra, biếu cho người tụng, in được một quyển, được một công đức, in được mười quyển, được mười công đức, in được trăm quyển, được trăm đức Phật, in được muôn quyển, được muôn đức Phật, phù hộ độ trì, lại tiếp hồn đi về phương Cực Lạc, đây là lời Phật, chớ có coi thường, Ðiạ ngục vấn vương, khó lòng thoát khỏi !
Bâý giờ A-Nan cùng chư Ðại chúng, Trời Rồng, Thần, Quỉ, Dạ Xoa, La Sát, người cùng phi nhân, được nghe Phật nói đều phát nguyện rằng :
Chúng con tận tâm, chí thành chí kính, dù trăm nghìn kiếp, thịt nát xương tan, nhỏ như vi trần, cũng chẳng dám quên lời chư Phật dạy. Thà rằng lấy kìm, cặp lưỡi rút ra, dài trăm do tuần, cho trâu sắt cày, máu chảy chan hòa, thành sông thành suối con thề chẳng trái lời Phật dạy răn.
Chúng con thề rằng: Thà lấy trăm nghìn vòng dao giáo mác, đâm chém thân này, nhỏ như vi trần, cũng chẳng dám quên lời chư Phật dạỵ
Chúng con thề rằng: Thà lấy lưới sắt, quất chặt vào thân trăm nghìn muôn kiếp, chẳng tháo cho ra, cực khổ vô cùng, cũng chẳng dám quên lời chư Phật dạy.
Chúng con thề rằng: Thà đâm thà chém, thà mổ thà xả, thà xay thà giã, nhỏ như vi trần, đem cái xác thân nầy, làm nghìn muôn thứ, nào da nào thịt, nào gân nào xương, rơi rác ngoài đường, trong nhà, ngoài ngỏ; trải trăm nghìn kiếp, chịu khổ như thế, cũng chẳng dám quên lời chư Phật dạỵ
Khi ấy A-Nan, liền bạch Phật rằng : Lạy Ðức Thế Tôn, đây là kinh gì, lũ chúng con đây đều muốn tụng trì, có được hay chăng. Ðức Phật dạy rằng, chúng con nên biết :
Kinh nầy là Kinh Ðại Báo Phụ Mẫu Trọng Ân chi Kinh, tất cả chúng sinh thảy đều nên tụng. Khi ấy Ðại chúng nghe Phật nói rồi tin, kính phụng lành, lễ tạ mà lui.
Chấm dứt Kinh Phật Nói Kinh Ðại Báo Phụ Mẫu Trọng Ân
Kính lạy Ðại Báo Phụ Mẫu Trọng Ân kinh.
Kính lạy Ðức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính lạy chư Phật đã đền ân cha mẹ.
Kính lạy Ðức Ma Gia Ðại Thánh Mẫu.
Kính lạy Ngài Quang Mục Ðại Thánh Nữ.
Kính lạy Ngài Diệu Thiện cắt tay cứu Phụ Vương.
Kính lạy Ngài Mục Kiền Liên vào ngục cứu mẫu thân.
Mơ thấy chiếc lược chải tóc: Giải tỏa phiền muộn và lo lắng –
Tóc tượng trưng cho phiền muộn, chiếc lược chải tóc là hình ảnh giải thoát mọi phiền muộn và lo lắng. Mơ thấy mình dùng lược chải tóc nghĩa là sẽ gặp vận may, phiền muộn và lo lắng tự động tiêu tan, cơ thể khỏe mạnh, mọi việc thuận lợi. Nếu mơ thấy c
Phong thủy phòng ngủ tốt xấu ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe cũng như hôn nhân. Những đồ vật tưởng chừng vô tri vô giác dưới đây lại có khả năng tác động cực lớn tới cuộc sống sống của bạn nếu bài trí sai cách hay bị lạm dụng.
1. Ảnh cưới
Xét theo góc độ tâm lí, treo ảnh cưới không những gia tăng cảm xúc lãng mạn giữa các cặp vợ chồng mà nó còn gợi cho cả hai nhớ đến khoảnh khắc thiêng liêng và hạnh phúc nhất cuộc đời. Tuy nhiên treo ảnh cưới thế nào cho chuẩn phong thủy lại là điều mà hầu hết các cặp vợ chồng tỏ ra lóng ngóng.
Theo ý kiến các chuyên gia, không nên treo ảnh cưới ở vị trí đầu giường ngủ. Bên cạnh đó các khung ảnh khác liên quan đến tình yêu, ảnh kỉ niệm… không nên treo ở các góc chính Đông, Nam, Tây và Bắc vì nó có thể xuất hiện người thứ ba xen ngang phá hoại tình cảm.
2. Gương
Nên hạn chế treo gương trong phòng ngủ, đặc biệt cấm kị vị trí đối diện với giường hoặc cửa sổ, cửa ra vào. Ngoài ra, nếu tủ quần áo có gương, bạn cũng không nên kê chúng ở vị trí chiếu thẳng vào giường ngủ, tránh ảnh hưởng tới chất lượng giấc ngủ.
3. Tivi
Nếu bạn để ý kĩ sẽ thấy màn hình tivi hoạt động như một tấm gương. Do đó, nếu đặt tivi đối diện với giường ngủ không những gây cảm giác bất an mà còn ảnh hưởng sức khỏe vì có bức xạ không tốt cho não bộ và sức khỏe.
Bên cạnh đó, nên hạn chế những đồ điện tử như máy tính, điện thoại, dây điện lòng thòng… trong phòng ngủ nhằm tạo ra môi trường trong lành, không bị từ trường nhiễu loạn ảnh hưởng tới chất lượng giấc ngủ và đời sống vợ chồng.
4. Vị trí đầu giường
Tốt nhất nên kê đầu giường sát vào tường để tạo ra sự nâng đỡ, gián tiếp hỗ trợ tâm lí và tình cảm cho bạn. Do đó, bạn sẽ có giấc ngủ sâu và ngon lành hơn là khi nằm ngủ dưới cửa sổ nhiều ánh sáng và ồn ào. 5. Đèn chùm, quạt trần
Đèn chùm, quạt trần không được nhiều người ưa thích vì tác dụng chiếu sáng và làm mát mà nó còn là món đồ trang trí khá bắt mắt. Tuy nhiên, không nên treo chúng ngay phía trên giường ngủ sẽ tạo cảm giác bất an và nguy hiểm tới tính mạng của bạn trong trường hợp xảy ra rơi vỡ, đụng chạm.
6. Cây và hoa
Việc dùng quá nhiều các chậu cây và hoa cảnh để trang trí cho phòng ngủ sẽ không tốt cho sức khỏe. Vì ban đêm chúng sẽ hút lượng khí oxy và thải ra khí cabonic gây hại cho bạn. Tốt nhất bạn chỉ nên đặt một chậu cây nhỏ để thanh lọc không khí là đủ.
► Xem thêm: Phong thủy nhà ở chuẩn giúp phát tài phát lộc, tránh tai ương