Mơ thấy dơi: Dự báo vận mệnh bi thảm –
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Thanh Vân (##)
Hành: Thổ
Loại: Quý Tinh
Đặc Tính: Quan lộc, Công dan, Ấn tín, quyền uy, quý hiển
Tên gọi tắt thường gặp: Ấn
Phụ Tinh. Một trong 4 sao của cách Binh Hình Tướng Ấn (Phục Binh, Thiên Hình, Tướng Quân, Quốc Ấn). Quốc Ấn tượng trưng cho ấn của vua ban, bằng sắc được ân thưởng. Do đó, Quốc ấn có nghĩa công danh nhiều nhất.
Tính Tình: Quốc ấn chỉ người có phong độ trượng phu, tác phong quân tử. Đức độ này do giai cấp, quyền tước, chức vị, phẩm hàm mà có, không hẳn do bản tính, nết hạnh cơ hữu.
Công Danh Tài Lộc Phúc Thọ:
Có uy quyền, tước vị, huy chương Người có ấn ở Mệnh thường làm chính thức, có quyền vị.
Gìn giữ được uy quyền chức vị :
Đỗ đạt, có khoa bảng, bằng sắc. Học trò có ấn thì thi đỗ cao, nếu thêm cát tinh như Cáo, Khoa, Xương Khúc, Long Phượng thì có khen tặng của Hội đồng Khoa hay được phong áo mũ trong lễ phát bằng phát thưởng rỡ ràng. Chức quyền ở đây không hẳn chỉ có ý nghĩa quyền binh mà có thể có nghĩa trên địa hạt khác như văn hóa (việc gia nhập Hàn Lâm Viện cũng là một hình thái của Quốc Ấn).
Ấn tượng trưng cho giai cấp thượng lưu. Lúc chết có thể được phong thần hoặc được lưu danh, người đời cúng bái, phụng thờ. Những ý nghĩa này chỉ có khi ấn không bị Tuần, Triệt án ngữ.
Những Bộ Sao Tốt:
Ấn, Cáo: được phong chức, ban quyền, tặng huy chương, hoặc được lên chức.
Ấn, Binh, Tướng, Hình: quyền uy võ nghiệp hiển đạt, sĩ quan tham mưu xuất sắc.
Ấn, Tướng, Tam Hóa: gặp vận hội may mắn lớn về quan trường, được hiển đạt về công danh, làm chức rất to.
Ấn ngộ Tuần, Triệt: công danh trắc trở, thất bại; bị cách chức, bãi miễn sa thải; tranh cử thất bại.
Ý Nghĩa sao Quốc Ấn Ở Các Cung:
Mệnh, Quan, Phúc:
Phát quý, phát quang
Dòng dõi có khoa danh, uy thế
Hiển đạt, được giữ chính chức, có huy chương
Quốc Ấn Khi Vào Các Hạn
Đắc thời, đắc quan, đắc khoa
Có huy chương, bằng khen
– Mệnh Kim hợp màu gì nhất? Màu sắc có vai trò cân bằng, hỗ trợ và điều hòa yếu tố âm dương trong phong thủy. Tương ứng với các yếu tố ngũ hành tương sinh khác nhau lại có những màu sắc tương phối không giống nhau. Cùng ## tìm hiểu người mệnh Kim hợp màu gì nhất nhé.
![]() |
![]() |
| ► Mời bạn xem thêm: Mệnh Thổ hợp màu gì nhất? |
Sử dụng hình khối theo ngũ hành để cuộc sống muôn phần thuận lợi
Không chỉ trong ngày lễ mà cả các ngày trong năm, đông đảo nam thanh nữ tú tới chùa Hà cầu duyên vì niềm tin vào ngôi chùa và họ cùng chung duyên nợ với chữ “tình”.
![]() |
| ► Xem thêm: Ngũ hành tương sinh và những ảnh hưởng đến cuộc đời, vận mệnh |
- Năm Tý là các năm: 1936, 1948,1960, 1972, 1984, 1996, 2008, 2020...
- Năm Thân là các năm: 1920, 1932, 1944, 1956, 1968, 1980, 1992, 2004, 2016...
- Năm Thìn là các năm: 1940, 1952, 1964, 1976, 1988, 2000, 2012...
Người tuổi Thìn và người tuổi Thân
Tam hợp của người tuổi Thìn: Khi tuổi Thân và tuổi Thìn có sự phối hợp thì những quyết tâm của họ không gì có thể phá vỡ. Kế hoạch lớn lao của Thìn tìm được sự nhiệt tình trợ giúp của Thân - vốn đầy tham vọng. Khi gặp khó khăn, Thân mưu trí sẽ tìm ra giải pháp để vượt qua. Thìn thán phục sự mưu trí của Thân, trong khi Thân ngưỡng mộ sức mạnh và lòng dũng cảm của Thìn. Đây là 1 cặp không thể xem thường, nhất là với sự tương đồng trong tính cách khiến họ phối hợp với nhau rất ăn ý.
![]() |
Người tuổi Thìn và người tuổi Tý
Năng lượng sung mãn của Thìn khi được kết hợp với tài khéo léo xoay sở của Tý sẽ khiến cặp đôi này tăng cường một cách hiệu quả sức mạnh và khả năng của nhau. Tý ngưỡng mộ và bị thu hút bởi tính năng động của Thìn. Ngược lại, Thìn cũng đầy hồ hởi và nhiệt tình khi được bảo vệ cho Tý. Cả 2 đều tôn trọng lẫn nhau.
Người tuổi Thìn thường để tâm đến những việc có tầm vóc lớn lao, trong khi người tuổi Tý thông minh, tài trí lại không hề bỏ qua những chi tiết dù là vụn vặt. Tý và Thìn hợp trở nên rất đẹp đôi và đầy ấn tượng.
Tý thuộc hành Thủy, Thìn thuộc hành Thổ. Thổ khắc Thủy, nhưng cả 2 đều tạo dưỡng chất cho cỏ cây sinh sôi, phát triển. Trong mối quan hệ này, Thìn và Tý đều vui với vai trò của mình và biết đưa lại lợi ích cho nhau.
(Theo Phong thủy trong tình yêu)
Đây là điển cố thứ Nhất trong quẻ Quan Âm, mang tên Chung Ly Thành Đạo. Quẻ Quan Âm Chung Ly Thành Đạo có bắt nguồn như sau:
Chung Ly Quyền là một nhân vật trong Bát tiên theo truyền thuyết của Đạo giáo. Nhân vật này vốn sống vào khoảng giữa thời Tống và thời Ngũ đại, các bộ sách như “Tuyên Hòa niên phố”, “Di kiên chí”, ‘Tống sử” đều có ghi lại tiểu sử của nhân vật này, sau này bị mới bị nhầm thành “Hán Chung Ly”, và cho rằng ông là người đời Hán.
Vào lúc Chung Ly Quyền sinh ra, có một người to lớn, bước thẳng vào trong buồng nơi mẹ Chung Ly Quyền đang ở, nói rằng: “Ta là Hoàng Thần Thị thời thượng cố, nay đầu thai ở đây”, trong khoảnh khắc “thấy ánh hào quang khác thường cao mấy trượng như ngọn lửa cháy”, Chung Ly Quyền được sinh ra. Khi Chung Ly Quyền mới lọt lòng, đã có vóc dáng như một đứa trẻ ba tuổi, lại được trời cho phúc tướng: trán rộng đầu tròn, mi dài tai dầy, mũi cao mắt sâu, miệng vuông má rộng, môi đỏ mặt hồng, tay dài ngực vuông. Đặc biệt hơn nữa, Chung Ly Quyền suốt ngày đêm không nói không kêu, không khóc không ăn, cứ như thế đến ngày thứ bảy, bất ngờ nói một câu khiến cho ai nấy đều kinh động: “Thân du Tử phủ, danh thư Ngọc kinh” (dạo chơi nơi Tử Phủ, tên đề tại Ngọc Kinh). “Tử phủ” và “Ngọc kinh” tức là kinh thành nơi Ngọc Hoàng Đại Đế ở.
Sau khi Chung Ly Quyền lớn lên, thân cao tám thước, mắt sáng râu dài, không lâu sau làm quan đến chức Gián Nghị Đại phu. Lúc này Thổ Phồn xâm phạm biên cương, Chung Ly Quyền phụng chiếu của nhà vua xuất chinh. Lúc này có quyền thần là Lương Ký đố kỵ với Chung Ly Quyền, sợ ông lập được công lớn, bèn cấp cho ông đội quân đã suy yếu gồm hai vạn người. Chung Ly Quyền thống lĩnh quân đội đến tiền phương, doanh trại còn chưa cắm xong, đã bị đối phương đến cướp trại, Chung Ly Quyền thất bại, một mình cưỡi ngựa đến một sơn cốc. Sau đó, ông bị lạc đường, ban đêm đi vào rừng núi thâm u, gặp một vị Hồ tăng (nhà sư Tây Vực) mặc áo cỏ, tóc rối, trán rộng, dẫn ông đi qua mấy dặm đường, đến một thôn trang. Nhà sư nói với ông rằng: “Đây là nơi mà Đông Hoa tiên sinh đắc đạo, tướng quân có thể nghỉ ngơi!”
Chung Ly Quyền không dám làm kinh động đến người ở trong thôn trang. Một lát, bỗng nghe tiếng một ông lão nói rằng: “Cái tên Hồ tăng mắt xanh này lắm lời quá! Rồi bỗng nhìn thấy một ông lão mặc áo da hươu màu trắng, chống gậy lê màu xanh xuất hiện, ông lão lại hỏi: “Người đến đây là đại tướng quân Chung Ly Quyền của nhà Hán đúng không?” Chung Ly Quyền đáp lại: “Vâng!” ông lão lại nói: “Tại sao ngươi không đến chỗ ta để ngủ qua đêm? Chung Ly Quyền nghĩ thầm: “ông lão này làm sao mà biết được ta đã đến? Đây chắc hẳn là người khác thường’’. Lại thêm bụng đói cồn cào, mệt mỏi không chịu nối, bèn khấn cầu ông lão giúp đỡ.
Ông lão bèn truyền cho Chung Ly Quyền những phép thuật thần tiên như bí quyết trường sinh, hỏa hầu luyện kim đan và kiếm pháp Thanh Long. Sau này Chung Ly Quyền gặp được Hoa Dương chân nhân, học được đạo “Thái Ất cửu khuê Hỏa phù nội đan”, “Động hiểu huyền huyền”. Rồi lại ở núi Tứ Hạo, huyện Tử Kim thuộc dãy núi Không Động, học được bí quyết “Ngọc hạp”, cuối cùng tu thành chân tiên, Ngọc Đế phong cho ông làm Thái Cực Tả Cung chân nhân.
Từ đó về sau, Chung Ly Quyền thoắt ẩn thoắt hiện, trải qua Tào Ngụy đến đời Tấn, lại làm đại tướng nơi biên thùy. Đối tên thành “Kim Trùng Hiện”, ghép vào thành một chữ “Chung”. Diện mạo của Kim Trùng Hiện có một số nét cổ quái: “Đầu có hai búi tóc hai bên, hở bụng, tay ung dung phe phẩy quạt lá cọ, mặt đỏ, thân thể to lớn, mắt rồng râu rồng, thấy vua nhà Tấn kiêu ngạo xa hoa, bèn từ quan bỏ đi”. Đến cuối đời Đường, Chung Ly Quyền lại xuất hiện, dạy Lã Động Tân thành tiên.
Trước khi tiến hành xin xăm nên tìm hiểu qua bài viết Hướng dẫn cách xin quẻ Quan Âm để biết thêm lịch sử ra đời của bộ thẻ và nghi thức xin quẻ.
Người với người sinh ra đã có bề ngoài và tính cách bất đồng. Bởi sự bất đồng đó mới có xã hội đa dạng, phân biệt được giữa người này với người kia. Sự khác nhau của con người với con người ngoài yếu tố di truyền, môi trường, hoàn cảnh thì giờ sinh cũng có góp phần quan trọng. Cùng Lịch Ngày Tốt tìm hiểu về tính cách theo giờ sinh để biết thêm thông tin nhé.
![]() |
![]() |
Phong thuỷ phòng ngủ giúp gia chủ phát tài
1. Đầu giường hợp với tuổi
Theo những nguyên tắc về sắp xếp nội thất phòng ngủ hợp phong thủy, “mệnh Đông tứ” nên ngủ ở “giường Đông tứ”, còn “mệnh Tây tứ” thì nên ngủ ở “giường Tây tứ”.
Những người thuộc ngũ hành Thuỷ, Mộc, Hoả đều thuộc “mệnh Đông tứ” do đó, giường ngủ đặt ở hướng Bắc, Đông, Nam và Đông Nam sẽ tốt. Những người thuộc mệnh Kim, Thổ trong ngũ hành thuộc “mệnh Tây tứ” giường ngủ nên đặt ở hướng Đông Bắc, Tây Bắc , Tây Nam và Tây.
2. Phòng ngủ nên sáng sủa
Phòng ngủ sáng sủa không nên tối tăm: Môi trường phòng ngủ lý tưởng nhất là ban ngày thông thoáng, ánh sáng tràn ngập tránh tù túng tạo âm khí, còn ánh đèn ban đêm thì dịu mắt khiến tâm hồn thư thái, yên tĩnh. Phòng ngủ tối tăm sẽ làm cho ý chí tiêu trầm, trong trường hợp này nên kê giường ngủ tới gần cửa sổ để có nhiều ánh sáng hơn.
3. Giường ngủ êm ái
Trong phong thuỷ phòng ngủ, vật dụng không thể thiếu với không gian phòng ngủ đó là một chiếc giưòng êm ái. Giường ngủ nên được đặt giữa phòng, tránh hướng đối diện với cửa ra vào cũng như tránh kê sát một bên tường. Chăn nệm êm, thoải mái từ chất liệu thiên nhiên cũng là yếu tố thiết yếu cho một phòng ngủ lý tưỏng.
4. Không đặt gương đối diện giường ngủ
Đặt gương soi phản chiếu giường ngủ là điều tối kỵ trong sắp xếp phòng ngủ theo phong thủy. Đồng thời bạn nên hạn chế đến mức tối đa lắp đặt các thiết bị điện tử như tivi, máy vi tính trong phòng ngủ.
5. Chọn màu sơn phù hợp
Màu sơn cũng là một yếu tố quan trọng giúp bạn có được giấc ngủ sâu thư giãn. Khung màu trung tính từ trắng ngà cho đến màu sôcôla sữa đều là những màu sắc lý tưởng và bất cứ sự phối hợp màu sắc nào giữa những màu trên sẽ làm cho phòng ngủ của bạn thực sự trở thành thiên đường theo thuyết phong thủy.
6. Không đặt cây xanh trong phòng ngủ
Bạn nên nhớ là không nên đặt cây xanh trong phòng ngủ trừ khi phòng của bạn rất lớn, vì cây xanh quang hợp sẽ hút khí oxy và phá hỏng giấc ngủ thư thái của bạn.
Bài viết trích từ cuốn: "Số Tử Vi dưới mắt khoa học" của tác giả Hà Thúc Đồng
Nếu lấy số Tử Vi để ai cũng có thể lập thành một lá số trong vài phút được thì đoán một lá số là điều khó, phải suy nghĩ tường tận, cân nhắc từng sao từng cung, xem xét ngũ hành âm dương đầy đủ mới có thể đoán mà không thể sai lầm nhiều.
Ðộc giả nên nhớ có những lá số thật dễ đoán, ai xem cũng đoán được ngay và đại khái đoán như nhau, đó là số của những người bình thường, đời sống đều đều, không sôi nổi không có gì đặc biệt.
Chín mươi phần trăm các lá số ta xem đều thuộc về loại này.
Nhưng có những lá số thật khó đoán, hoặc là thật tốt hoặc là thật xấu, xem không không kỹ đoán vội vàng là dễ bị lầm lắm lắm. Những lá số lạ như vậy là của những người khác thường, có cuộc đời khác đời của số đông, người xem số mỗi khi thấy lá số như vậy cần thận trọng lắm lắm.
Lại có những lá số mới trông thì có vẻ như bình thường, nhưng trong đó có một vài điểm nghịch lại với cách cục chính, ấy là những lá số khó đoán nhất.
Thời thường các thầy số, cầm một lá số lên nhìn qua là đủ biết tính tình tư cách địa vị người xem rồi. Vì nghề nghiệp sinh sống họ thường dựa vào tính của người xem mà đoán theo chiều hướng ý thích hay sở nguyện của người đó, để khách hàng vừa ý. Do sự vừa ý đó khách hàng sẽ cho là thầy giỏi đoán hay, ca tụng làm quảng cáo cho thầy và thưởng tiền cho thầy nữa. Lối đoán ấy là lối đoán thương mại, người mới học chớ có tin những lời đoán ấy là có thật mà mất công tìm hiểu vô ích.
Ðại khái như thầy có đoán cho một bà là: Năm nay, ông nhà phải dứt khoát với bà nhỏ thì con bà mới thi đỗ, là một điều số Tử vi không có cách nào biết được.
Số đông các thầy số, hay các người học Tử vi một cách nông nổi đều hay đoán theo lối thiển cận hay là hiểu các câu phù theo nghĩa đen cho nên thường hay đưa đến sự nhầm lẫn.
Có một đôi trai gái yêu nhau, nhưng nhân duyên trắc trở, vì họ hàng dèm pha, mới rủ nhau đi xem số. Ông thầy xem số người con gái đoán rằng: “Sao Thai lại gặp đào hoa, tiền dâm hậu thú mới ra vợ chồng”. Cô gái tin là thật, hiến thân cho người tình để cho hợp với số hầu cuộc hôn nhân có thể thành tựu được. Nhưng sau đó kết quả là chàng trai lại thành vợ chồng với người khác.
Một đôi vợ chồng thuộc giới phú quý cùng đi xem số cho hai đứa con. Ðứa lớn cung phụ mẫu có: “Tử Phủ Vũ Tướng Khôi Việt” ông thầy đoán cậu này phải là con nhà sang trọng quyền quý. Cả hai vợ chồng chịu là đúng. Ðến đứa nhỏ cung Phụ, Mẫu “Ðà la Kiếp sát” toàn sao xấu ông thầy cả quyết nói là con nhà hạ tiện. Ông chồng cười nói: “Cả hai cháu đều là con tôi cả, xin thầy xem lại cho” ông thầy và cả quyết: “Nếu là con ông thì chắc là con vợ bé hay nàng hầu”. Cũng may bà vợ ngồi ngay đó, và đứa con chính là con của bà ta.
Ông chồng lại cải chính: “Không đây là con nhà tôi mà”. Ông thầy quá tin ở những cái mà ông cho là kinh nghiệm nên nói luôn: “Nếu mẹ là vợ cả thì chắc bố phải là người vi tiện…… nghĩa là loại tài xế hay bồi bếp gì đó thôi”.
Ðộc giả chắc không tin hai câu chuyện trên là vì có thật, vì nếu thật thì ông thầy số kia ngu biết bao. Sự thật là không có, nhưng thực ra có nhiều thầy đã quyết đoán nhiều câu ngu dại hơn thế nhiều. Ðưa hai thí dụ trên ra đây là cốt để độc giả nếu có tập đoán số cho mọi người để học hỏi và rút kinh nghiệm, xin nhớ là:
Phải ý niệm được việc đoán số một cách minh bạch như vậy, hãy nên xem và đoán số.
Số Tử Vi mặc dầu là hay thật, đúng thật, nhưng cái hay đó có cái đúng đó chỉ giới hạn trong một phạm vi nào mà thôi. Càng suy ngẫm càng tìm hiểu ngiên cứu kỹ về lý thuyết, càng xem và đoán nhiều lá số những người đã đứng tuổi để phối kiểm sự việc với lý thuyết hầu rút nhiều kinh nghiệm, độc giả sẽ hiểu dần phạm vi chính xác ấy được đến đâu. Dưới đây xin nhắc lại qua phương pháp đoán số để những ai chưa biết cách có một phương châm mà theo.
Cầm một lá số lên, trước hết ta phải:
A) XEM ÐẠI THỂ
1) Xem cách cục để định cho lá số đó thuộc loại nào.
Cách cục là xem: các sao đóng ở mệnh phối hợp với 3 cung chính chiếu và xung chiếu, các sao ở 2 cung giáp các sao ở cung hợp chiếu.
Xong Mệnh thì xem đến Thân cũng như vậy.
Mệnh cung là định số mạng thọ yểu sang hèn.
Thân cung là định cho cuộc đời hưởng thụ.
Phải cà 2 hợp với nhau mới thành ý nghĩa. Chớ nên đoán riêng từng cung.
2) Xem sinh khắc ngũ hành giữa cục và bản mệnh, để xem cuộc đời sẽ vững vàng hay mỏng manh…… thành bại sẽ dễ dàng hay trắc trở, kết quả sẽ lớn hay nhỏ, lâu bền hay ngắn ngủi.
3) Xem âm dương giữa bản mệnh và cung mệnh, xem có lợi hay có hại.
4) Xem chính tinh những sao nào miếu sao nào hãm, sao nào bị triệt tuần, sao nào ở vào cường cung nhàn cung để định những điểm chính yếu của tính tình mạng số của con người. Xem trợ tinh bàng tinh hung tinh ác diệu cái nào mạnh yếu ra sao, đắc vị hay lạc vị thế nào để định xem đại thể của cuộc đời.
5) Xem đại hạn đi lên hay đi xuống, có liên tục hay đứt quãng, để biết sự phù trầm thọ yểu hoạn nạn ra sao.
6) Xem các điểm đặc biệt của lá số để rồi tìm cách phối hợp vào đời và vận hạn của con người. Ðó là mấy điểm chính cần xem trước để cho ta có ý niệm đại khái về con người.
B) XEM MỆNH CUNG VÀ THÂN CUNG
Xem Mệnh và Thân cung là để định rõ các chi tiết về mọi phương diện: thọ yểu, giầu nghèo, sang hèn, vận mệnh, họa phúc, tính tình, hình dạng, hiền ngu, thiện ác và tất cả những đặc điểm để có thể biết rõ hơn về mạng số và cuộc đời của con người, hầu xác định lại ý niệm nói ở trên.
Thực ra muốn xác định một lá số ta phải xem đủ cả 12 cung nhất là Phúc đức và Tài bạch, Tật ách v.v…… những cung chính yếu phải xem kỹ, cả đại hạn tiểu hạn cũng cần phối hợp tất cả lại mới có thể đoán rõ được số mạng người. Ơû đây nói thứ tự là để người xem số xem tuần tự như vậy rồi mới đoán, chứ không phải xem đến đâu đoán đến đó ngay.
Bất cứ đoán về việc gì ta cũng phải xem trọn lá số đã, xong rồi mới có thể chuyên chú vào một điểm nào đó sau.
Một người đưa cho ta một lá số nhờ xem có lấy vợ giầu không, mà ta xem ngay cung thê rồi đoán luôn là dễ bị sai lầm lắm.
Xem Mệnh Thân và các cung là ta phải xem đến từng sao một cho thật kỹ rồi phải xem sao ấy sáng hay tối, có bị ngũ hành của cục (tức là các sao vòng Tràng sinh) của bản mệnh của các sao khác chế khắc gì không, có được sự phù trợ của những sao tốt không, có bị hung tinh ác sát xung sát ở tứ phía không, có đủ bộ không (các sao âm dương phải có đủ bộ mới có ảnh hưởng) có bị hay được bàng tinh ảnh hưởng gì không v.v……
Tất cả tinh vi đúng hay sai ở lá số là đoạn này.
Người xem phải cân nhắc nhiều phương diện cho kỹ và nhất là phải hiểu phải nhớ tính cách của từng sao mới được.
Ðấy là tài nghệ của từng người.
C) XEM 12 CUNG
Ðể đoán số, hai cung Mệnh và Thân không đủ.
Cổ nhân có nói: Xem cho đàn ông tiên khán Phúc đức, hậu khán Mệnh Thân, xem cho đàn bà thì cốt yếu lại là ở 2 cung Phu và Tử, đó là điều dĩ nhiên rồi. Có người xem số lại chỉ chuyên xem cung giải ách, vì đó là chuyện hoạ phúc của cả đời.
Dù sao, xem số cho ai thì cũng phải xem hết cường cung đã mới đủ để đoán về mệnh. Cường cung của đàn ông là: Mệnh Thân Quan lộc Tài bạch Thiên di Phúc đức.
Cường cung của đàn bà là: Mệnh Thân Phu Tử Tài Ðiền Tật.
Vì vậy cho nên xem số ta phải xem cung Mệnh cung đối cung tam hợp vì những cung này đều là cường cung cả, liên quan một cách mật thiết đến cuộc đời và mạng số của con người. Còn các cung kia như Phúc Nô Huynh Phụ ta chỉ xem các sao đóng ở trong cung đó thôi, chứ không phải xem cả đối chiếu, củng chiếu, nhị hợp như cung Mệnh, như nhiều người vẫn tưởng lầm. Lý do rất dễ hiểu là sự tương quan giữa các cung này nhiều khi không thể có được. Tỉ như cung Tử tức có con nhiều hay ít, tốt xấu không phải là do cung Nô bộc hay Ðiền trạch mà ra.
Mười hai cung được sắp xếp trong lá số theo thứ tự như ta thấy là vì sự tương quan giữa cung ấy và cung Mệnh gần hay xa, ít hay nhiều.
Cho nên xem các cung này ta phải hiểu là “ảnh hưởng” của các vị ghi trong cung đó như Cha mẹ Anh em, Bè bạn vân vân, đến người có số ra sao, chứ không phải đây là những lá số của các vị đó vậy.
Nếu trông các sao đó mà đoán số cho các người đó thì với một người có 10 con, cả 10 đứa sẽ bắt buộc phải có cung Phụ mẫu y hệt như nhau. Ðó là điều mà ai cũng biết là không thể có được, và có thể kiểm chứng được dễ dàng.
D) XEM VẬN HẠN
Xem vận hạn thì nên nhớ đại hạn 10 năm có thể coi như cung mệnh ta chuyển sang đó, nên cũng phải xem cả các cung đối chiếu giáp hợp v.v…… Tiểu hạn trái lại chỉ cần xem một cung năm đó và hai cung tam hợp thôi. Xem về hạn, xin lưu ý độc giả về hai điểm quan trọng sau này:
1) Các sao chỉ có ảnh hưởng khi đủ đôi đủ bộ thôi.
Vì vậy khi xem đại hạn cần phải tính sao thủ mệnh để phối hợp với các sao đại hạn cho đủ đôi đủ bộ.
Tỉ dụ: Mệnh ta có Cơ Nguyệt Ðồng thiếu mất Lương. Nếu cung đại hạn có Thiên lương thì ta có hợp cách Cơ Nguyệt Ðồng Lương và đoán theo cách này.
Xem Tiểu hạn cũng vậy, phải tính đến cả các sao Ðại hạn và Mệnh.
Tỉ như: Ðại hạn có Ðịa không, trong vòng 10 năm vẫn làm ăn tấn tới, đến năm tiểu hạn có Ðịa kiếp thì Không Kiếp mới đủ bộ, và năm ấy mới bị cháy nhà trộm cướp hay tai họa gì do đôi hung tinh này gây ra. Xem vận hạn cần phải biết tính của các sao về phương diện này là vì lẽ ấy. Như Tử vi có tính cách giải nguy mang điều mừng đến, Liêm trinh mang tai nạn đến v.v……
2) Trong việc xem vận hạn Tuần Triệt giữ một vài trò rất quan trọng. Sau Triệt bao giờ cuộc đời cũng như thay đổi hẳn, các cái may rủi hoạ phúc cũ sẽ như biến hết. Vào Tuần thì mọi sự trắc trở khó khăn sẽ dồn dập đến.
Nói vắn tắt về phương pháp như để gọi là hướng dẫn các bạn mới mà thôi, còn muốn có thể đoán được các bạn phải biết hết tính sao và như vậy nên đọc thêm các sách về Tử vi. Cuốn sách này vốn không lấy mục đích ấy làm chính nên không chép lại phần tính sao ấy, mặc dầu có chép lại cũng không dài là bao.
Tác giả muốn để độc giả tự làm lấy phần việc ấy bằng cách đọc những bài phú sau đây, mà tìm ra tính nết các sao, cái nào hung cái nào cát, cái nào chủ về gì cái nào hợp với cung nào, kỵ với sao gì v.v…… tất cả đều có thể tìm thấy trong mấy bài phú cả.
Cổ nhân lưu truyền lại cho ta các bài phú và các bài dạy tính sao, được chép lại trong các sách viết tay. Vì viết tay nên phần tính sao mỗi người ghi một khác, không lấy đâu làm chuẩn đích, nên không biết thế nào là đúng thế nào là sai.
Các bài phú trái lại là những bài văn bài thơ có vần có điệu, nên người ta truyền khẩu cho nhau rất dễ, ít khi có sai lầm. Vì vậy nên học số Tử vi tất cả căn bản đều chỉ là mấy bài phú. Ðó mới thật là của cổ nhân lưu truyền lại.
Còn các điều viết trong các sách không biết đâu mà tin, nhiều tác giả bịa đặt thêm bớt vào cho vui chuyện, cho dài giòng, chỉ đưa ta đến sự lầm nếu quá tin vào họ.
....
Trong đời, luôn có hai điều mà con người muốn hướng tới, hạnh phúc trong tình yêu và thỏa mãn ước mơ của mình. Tình yêu là thứ ta khao khát còn ước mơ là thứ ta theo đuổi. Đáng tiếc, không phải lúc nào cũng có thể nắm được cả hai, 12 chòm sao lựa chọn tình yêu hay ước mơ, chọn tình ái ngọt ngào hay tương lai rộng mở phía trước?
![]() |
![]() |
![]() |
Văn Khấn lễ Đại Tường (Giỗ Hết) được dùng trong ngày giỗ Hết hay còn gọi là ngày “Đại Tường”, tức là ngày Giỗ vào 2 năm 3 tháng sau ngày mất.
Giỗ Hết vẫn là Giỗ trong vòng tang. Ngày Giỗ Hết thương làm linh đình hơn, và sau Giỗ này, ngườ nhà bỏ tang phục, hay còn gọi là hết tang. Sau ngày giỗ Hết, người ta sẽ chọn ngày tháng tốt để làm lễ Cải cát, sang mộ cho người quá cố. Và từ năm thứ ba trở đi thì giỗ của người qua cố trở thành giỗ Thường hay “Cát Kỵ”
Bởi vậy, có người bảo “ngày giỗ hết là ngày giỗ quan trọng nhất trong tất cả những ngày giỗ đối với người qua đời”. Quan trong nhất vì nó đánh dấu một bước ngoặt trong cuộc đời của người còn sống cũng như đối với vong linh của người đã khuất. Với người đang sống, người ta trở lại đời sống thường nhật, có thể tham gia các tổ chức hội hè, đình đám. Theo quan niệm xưa thì chỉ sau Giỗ Hết của chồng, người vợ mới có thể đi bước nữa.
Giỗ Hết thường được tổ chức long trọng với: vàng mã, hương, hoa, phẩm oản, trái cây theo mùa, cùng mâm lễ mặn với đầy đủ các món ăn từ thịt lợn, tôm, cua, xôi, gà, …
1. Văn khấn Thổ Thần, Táo Quân, Long Mạch và các vị Thần linh trước khi Giỗ Hết
Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)
– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.
– Con kính lạy Đức Đương cảnh Thành Hoàng chư vị Đại Vương.
– Con kính lạy ngài Đông Trù Tư mệnh Táo phủ Thần Quân.
– Con kính lạy các ngài Thần linh, Thổ địa cai quản trong xứ này.
– Con kính lạy chư gia tiên Cao Tằng Tổ tiên nội ngoại họ………
Tín chủ (chúng) con là:…………… Ngụ tại:……………
Nhân ngày mai là ngày Giỗ Hết của………………
Tín chủ con cùng toàn thể gia khuyến tuân theo nghi lễ, sửa biện hương hoa lễ vật dâng cúng các vị Tôn thần.
Cúi xin các vị Bản gia, Thổ Công, Táo Phủ Thần Quân, Ngữ Phương, Long Mạch và các vị Thần linh, hiển linh chứng giám, thụ hưởng lễ vật, phù hộ cho toàn gia chúng con an ninh khang thái, vạn sự tốt lành.
Chúng con kinh thỉnh các Tiên linh, Gia tiên họ………… và những vong hồn nội tộc được thờ phụng vị cùng về hâm hưởng.
Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.
Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)
2. Văn khấn chính ngày Giỗ Hết
Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)
– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.
– Con kính lạy Đức Đương cảnh Thành hoàng chư vị Đại Vương.
– Con kính lạy ngài Đông Trù Tư mệnh Táo phủ Thần Quân.
– Con kính lạy các ngài Thần linh, Thổ địa cai quản trong xứ này.
– Con kính lạy chư gia tiên Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ Tỷ, Tổ Tiên nội ngoại họ ………
Tín chủ (chúng) con là:………
Ngụ tại:…………………………
Hôm nay là ngày …… tháng …… năm……
Chính ngày Giỗ Hết của………………………
Thiết nghĩ……………… vắng xa trần thế, không thấy âm dung. Năm qua tháng lại vừa ngày Giỗ Hết. Ơn võng cực xem bằng trời biển, nghĩa sinh thành không lúc nào quên. Càng nhớ công ơn gây cơ tạo nghiệp bao nhiêu, càng cảm thâm tình, không bề dãi tỏ. Nhân ngày chính giỗ, chúng con và toàn gia con cháu, nhất tâm sắm sửa lễ vật kính dâng, đốt nén tâm hương dãi tỏ tấc thành.
Thành khẩn kính mời………………………
Mất ngày……. tháng………năm…………
Mộ phần táng tại:……………………….
Cúi xin linh thiêng giáng về linh sàng, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, độ cho con cháu bình an, gia cảnh hưng long thịnh vượng.
Tín chủ lại mời vong linh các vị Tiền chủ, Hậu chủ trong đất này cùng tới hâm hưởng.
Tín chủ con lại xin kính mời các cụ Tổ Tiên nội ngoại, Tổ Khảo, Tổ Tỷ, Bá thúc, Huynh Đệ, Cô Di, Tỷ Muội và toàn thể các Hương linh gia tiên đồng lai hâm hưởng.
Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.
Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)
iền sản, sống trường thọ.

Trong lỗ tai mọc lông là đại thọ, vô bịnh. Có mục ruồi là thông minh quí hiển. Tai có sắc đen hoặc đỏ là nghèo khó. Tai mỏng lại vảnh ra đàng trước gọi là tai dơi, tai chuột là phá sạch sản nghiệp tổ tông, cờ bạc đến bán vợ đợ con cũng không hối hận.
Tai lật nghiêng là người không có nhà. Lỗ tai lớn rộng là thông minh tài trí, dư ăn dư để, lỗ tai hẹp nhỏ, là bần cùng ngu độn yểu mạng. Tai chuột là trộm cắp nghèo khó suốt đời, có khi chết trong lao tù.
Tai nhỏ ngắn mà lật ngược ra sau là ẩu thơ côi cút, tài tán gia vong phiêu bạt. Tai như tai cọp là giàu sang uy nghi, mà lòng dạ hung ác, thương ghét bất thường, hại người rất dễ.
Tai nở banh ra như bông bụp nở thì phá sạch của tổ tiên rồi nghèo khó đến chết. Tai lừa tai ngựa là khốn đốn suy bại, mà lại dâm đãng.
Tai rủ gần vai, tai nhô cao tới óc đều là phú quí cung cách.
Tai khỉ là bạch thô thành gia. Tai heo là lúc giàu lúc nghèo không chừng nhưng đa sắc dục, lại sanh bệnh yểu. Tai mỏng mà nghệch ra trước gọi là tai quạt gió là phá sạch của tổ tông, hay đam mê, tới già cô độc.
Tai trâu là đần, nhưng hiền và thọ.
Khí vào được tâm nhà rồi, luân chuyển khí đến các phòng, các vị trí khác trong nhà là rất tốt, thế nhưng, khí đọng lâu trong nhà mà không thoát ra ngoài được thì lại là ván đề nghiêm trong. Cũng giống như máu vào được tim rồi thì phải liên tục luân chuyển để lưu thông khí. Nếu khí nhà vào hết các phòng, khí bị tụ lại lâu sẽ trở thành tù khí (khí xấu), nếu không thoát ra được thì khí mới vào sẽ bị tù khí hòa lẫn làm cho khí trường bị ôm nhiễm tà khí.
- Điều được khí vào đến tâm nhà và luân chuyển khí đến được các phòng, vị trí trong toàn bộ ngôi nhà đã là thành công rồi, thế nhưng việc thiết kế và bố trí các cửa sổ, cửa phụ để cho tù khí (khí sau khi vào nhà một thời gian sẽ trở thành tù khí, các tia khí tốt đã được mọi người hấp thụ hết trong quá trình ăn, ngủ, ở rồi nên chỉ còn lại tà khí) được đi ra ngoài và nhanh chóng nhận lại các dòng khí tốt mới là hoàn chỉnh.

- Các phòng: phòng ngủ, phòng bếp, nhà vệ sinh, phòng thờ đều phải bố trí cửa sổ để tù khí có đường thoát ra ngoài:
+ Bố trí cửa sổ của bếp làm sao cho nắng và gió không chiếu vào mặt bếp
+ Bố trí cửa số phòng thờ làm sao cho không có nắng và gió chiếu vào phòng thờ (nên treo ràm vải tối màu tại cửa sổ của phòng thờ, chỉ mở khi c ó công việc, cỗ bàn, tức là khi đó sẽ có hương khói và cần mở để thoát bới khói, nhưng đảm bảo phòng thờ không bị nắng gió và nóng. vì nếu bị nóng, bị nắng chiếu vào, bị gió thổi mạnh vào thì sẽ làm cho vong linh gia tiên không tụ lại được)
+ Không bố trí cửa sô thẳng cửa phòng, vì khí sẽ thoát đi ngay khi vào phòng
+ Không bố trí cửa sổ sát góc tụ khí của phòng vì khi đó khí sẽ không tụ mà đi luôn theo cửa sổ ra ngoài. Nên bố trí cửa sổ cách góc tụ khí khoảng 1,5 - 2m là tốt nhất.
- Nguyên tắc là khí phải tụ được tại góc tụ khí (góc tài lộc ) rồi mới thoát đi. khi đó nó sẽ thoát đi các tù khí, tà khí chứ không phải là thoát đi các sinh khí, vượng khí.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Minh Tuyết (##)

ướng treo đồng hồ như sau:
Sinh năm chuột: 1924, 1936, 1948, 1960, 1972, 1984, 1996, 2008 đồng hồ nên treo trên tường phía Bắc góc Đông Bắc của căn phòng.
Sinh năm trâu: 1925, 1937, 1949, 1961, 1973, 1985, 1997, 2009 đồng hồ nên treo ở vị trí chính giữa bức tường phía Bắc của căn phòng.
Sinh năm hổ: 1926, 1938, 1950, 1962, 1974, 1986, 1998, 2010 đồng hồ nên treo trên tường phía Bắc góc Tây Bắc của căn phòng.
Sinh năm mèo: 1927, 1939, 1951, 1963, 1975, 1987, 1999, 2011 đồng hồ nên treo trên tường phía ,Tây góc Tây Bắc của căn phòng.
Sinh năm rồng: 1928, 1940, 1952, 1964, 1976, 1988, 2000, 2012 đồng hồ nên treo ở vị trí chính giữa bức tưòng phía Tây của căn phòng.
Sinh năm rắn: 1929, 1941, 1953, 1965, 1977, 1989, 2001, 2013 đồng hồ nên treo trên tường phía Tây góc Tây Nam của căn phòng.
Sinh năm ngựa: 1930, 1942, 1954, 1966, 1978, 1990, 2002, 2014 đồng hồ nên treo trên tường phía Nam góc Tây Nam của căn phòng.
Sinh năm dê: 1931, 1943, 1955, 1967, 1979, 1991, 2003, 2015 đồng hồ nên treo ở vị trí chính giữa bức tường phía Nam của căn phòng.
Sinh năm khỉ: 1932, 1944, 1956, 1968, 1980, 1992, 2004, 2016 đồng hồ nên treo trên tường phía Nam góc Đông Nam của căn phòng.
Sinh năm gà: 1933, 1945, 1957, 1969, 1981, 1993, 2005, 2017 đồng hồ nên treo trên tường phía Đông góc Đông Nam của căn phòng.
Sinh năm chó: 1934, 1946, 1958, 1970, 1982,1994, 2006, 2018 đồng hồ nên treo ở vị trí chính giữa bức tường phía Đông của căn phòng.
Sinh năm lợn: 1935, 1947, 1959, 1971, 1983, 1995, 2007, 2019 đồng hồ nên treo trên tường phía Đông góc Đông Bắc của căn phòng.
Còn về vị trí treo đồng hồ ở nơi không gian dùng chung trong nhà như phòng khách nên căn cứ theo năm sinh của chủ nhà, nếu vị trí đó không lý tưởng thì có thể cân nhắc vị trí treo đồng hồ của các thành viên khác xem có phù hợp hay không.
Bộ vị Tư không trên khuôn mặt xét lần lượt từ trong hướng sang phải bao gồm: Tư không, Ngạch giác, Thượng khanh, Thiếu phủ, Giao hữu, Đạo trung, Giao ngạch, Mi trọng, Sơn lâm, Thánh hiền. Trong đó, bộ vị bộ phận Ngạch giác mà khuyết hãm thì cả đời không được làm quan.
Ngạch giác, chủ chức vị công khanh.
Nếu bộ vị này khuyết hãm thì cả đời không được làm quan, xương nhô lên thì chức vị tới công khanh. Cũng còn gọi là “Ngạch trung”, sắc hồng, sắc vàng thì đại cát; sắc đen thì mệnh không bảo đảm; sắc ác thì có tai nạn; sắc hồng thì dễ bị người khác khắc hại.
Thượng khanh, chủ quản việc của quê nhà.
Xương thịt nhô lên thường xuất hiện sắc nhẵn bóng thì có thể làm quan lớn hầu cận bên cạnh hoàng đế, sắc ác thì phải rời xa quê hương.
Thiếu phủ.
Màu sắc không tốt thì dù làm quan cũng sẽ bị mất chức, có sắc vàng thì là quý nhân, có chút danh khí.
Giao hữu, chủ bạn bè.
Xương nhô lên và có màu hồng, màu vàng thì những người mà mình kết giao sẽ giúp đỡ mình hết sức; nếu có khiếm khuyết thì ít bạn bè; màu sắc không tốt thì sẽ phát sinh tranh chấp, cãi vã với bạn; màu xanh thì sẽ ngoại tình, sắc hồng thì người tình sẽ rời bỏ mình, sắc trắng thì vợ ngoại tình.
Đạo trung, hay còn gọi là “hoành thượng”, chủ việc xuất hành.
Đầu xương nhô lên thì dễ phải bôn ba bên ngoài, nếu vị trí này mà bằng phẳng thì cả đời không ra ngoài, có khiếm khuyết và sắc như gan ngựa thì có thể sẽ phải bỏ mạng bên đường.
Giao ngạch, chủ phúc lộc.
Xương thịt nhô lên, sắc tốt thì sẽ được hưởng phúc, có đức hạnh; có nốt ruồi đen thì cát lợi, màu sắc không tốt và có khiếm khuyết thì cả đời không có phúc đức.
Mi trọng, là vị trí của gan.
Xương thịt nhô lên thì phú quý hữu dũng; có khiếm khuyết, sắc không tốt là mệnh bần tiện, nhát gan.
Sơn lâm, chủ vị trí tích lũy.
Sơn lâm mà rộng dày thì có nhiều tích lũy, lại có quyền thế mạnh; Sơn lâm nông đầy thì không có quyền thế.
| ► Tra cứu Lịch âm dương, Lịch vạn niên nhanh chóng và chuẩn xác nhất theo Lichngaytot.com |
![]() |
![]() |
| Tránh để vật lớn, nặng ở hướng Tây Bắc hoặc Đông Nam kẻo sẽ tạo ra sát khí |
![]() |
| Hạn chế ăn những thực phẩm có vị cay, tránh làm tổn thương phổi |
Tiết khí Hàn Lộ, thu chuyển sang đông
| ► Đọc thêm: Những chuyện tâm linh huyền bí bốn phương có thật |
![]() |
| Ảnh minh họa |
Đặt tên cho bé trai sinh tháng 4 và 5 năm 2015 âm lịch hợp mùa sinh
Để tìm một cái tên hay hợp Phong thủy và hợp mệnh hợp tuổi bố mẹ phải trải qua rất nhiều bước. Ở bài này, BOI.VN chỉ hướng dẫn các bạn cách đặt tên cho BÉ TRAI sinh vào tháng 4 và tháng 5 âm lịch. Có 4 bước cần làm:
*Hợp tuổi (năm Ất Mùi)
*Hợp mùa sinh (sinh trong tháng 4, 5 âm lịch)
*Tên lót và tên có ngũ hành thuận sinh
*Ý nghĩa cát tường.
Dưới đây là danh sách các tên cho bé trai được sắp xếp theo thứ tự Alphabet hợp mùa sinh:
| STT |
Tên Bé trai |
| 1 | Anh Bảo |
| 2 | Chi Bảo |
| 3 | Quý Bình |
| 4 | Thái Bình |
| 5 | Minh Hảo |
| 6 | Nguyên Hảo |
| 7 | Quang Hiển |
| 8 | Quốc Hiển |
| 9 | Khánh Hoàng |
| 10 | Minh Hoàng |
| 11 | Hữu Hòa |
| 12 | Khải Hòa |
| 13 | Nguyên Huân |
| 14 | Phụng Huân |
| 15 | Sỹ Hùng |
| 16 | Thanh Hùng |
| 17 | Dĩnh Hưng |
| 18 | Gia Hưng |
| 19 | Thành Hữu |
| 20 | Tuấn Hữu |
| 21 | Phước Mẫn |
| 22 | Quốc Mẫn |
| 23 | Gia Phát |
| 24 | Ngọc Phát |
| 25 | Bảo Phi |
| 26 | Cát Phi |
| 27 | Hải Phụng |
| 28 | Sỹ Phụng |
| 29 | Hoàng Phước |
| 30 | Minh Phước |

tính cách cởi mở, tâm tình vui vẻ, thấu hiểu và biết sẻ chia, cho thấy người nằm mơ khát khao một gia đình hạnh phúc, vợ chồng thuận hòa.
Lông mày lem mí, tóc thô cứng, mặt bạnh, mũi hỉnh là cô độc, khắc sát nghèo hèn.
Mũi cong khoảng giữa, mũi có ngấn, lỗ mũi ngó trời mũi hỉnh là tướng đa dâm, hạ tiện, khốn khổ.
Trán có nhiều lằn, mắt lộ tròng trắng bệch là người gian dâm đại ác khắc chồng sát con, tán tài cơ cực.
Bụng teo ngực nẩy cũng là người có tướng nghèo hèn tham lam dâm đãng.
Tiếng nói như lửa reo hừng hực, mắt lộ gân đỏ lan tới con ngươi là tướng người hung ác thô bạo, hình phu sát tử. Môi trên như trùm xuống, môi dưới như đầy ra cũng đều là tướng người khắc sát bần bạc, ngu độn.
Hay đứng dựa cửa liếc dọc ngang, chưa nói đã cười, chưa đi đã chạy, đang làm công việc, dừng tay châu mày thở ra, hay ca hát nho nhỏ, tự nhún nhẩy một mình, tóc hoe mà thưa lợt gần như lông măng tay, đều là những hình tướng đê tiện dâm đãng.
Miệng dụm như thổi, môi thâm mồm rộng, chơn mày dựng ngược, thấy cười mỉm, mắt nhìn như diều hâu, như cú dữ, đều là tướng hèn hạ, bạc ác.
Đi như chim se sẻ, ăn liếm láp như bò dê, nét mặt xanh đen, lông mày có góc xương lộ, hay tự nói lầm thầm, nói chuyện làm việc quên đầu quên đuôi, hơi khô giọng thổ, đều là các hiện trạng hình tưởng đàn bà âm trầm bạc ác, sâu độc nghiêng ngả, ghen tương như điên dại.
Đôi gò má ửng hồng, mắt như sao chớp, mát bóng như mở, miệng ngậm không kín răng, hạ mao như cỏ khô lưa thưa vàng úa, âm hộ chỉ có da bọc xương nhô lên, chớ không đầy thịt, ngủ say hay nói một mình hoặc kinh hoảng mớ la. Ngồi tựa như đứng, đứng giống như ngồi, mừng vui giận ghét không chừng đổi, hay lắc mình nghiêng đầu, liếc dọc nhìn ngang. Ấy là biểu lộ hình trạng tà dâm bạo ác không tốt.
Xem tướng tổng quát hình tướng phụ nữ bần bạc dâm ác theo TƯỚNG PHÁP DIỄN CA
Đàn bà khắc sát chồng con
1. Bớt ở ngực và rốn
Người có vết bớt ở vị trí này thuộc dạng "người gặp người yêu, hoa gặp hoa nở", nhân duyên rất tốt. Bất luận đi đến đâu cũng được người khác chào đón và tôn trọng, tình duyên cực kỳ tốt.
2. Bớt ở vị trí xương cụt
Người có bớt ở vị trí này thì học cao, có tài năng nghệ thuật, văn võ song toàn, quyền cao chức trọng hoặc là người thành đạt.
3. Bớt ở mông
Người có bớt ở mông thường "miệng ngậm thìa vàng", cuộc sống phú quý, luôn được mọi người chào đón, làm việc gì cũng thuận lợi, sống trong nhung lụa.
![]() |
4. Bớt ở xương đòn và bắp tay
Người này đối với bạn bè rất rộng rãi, tiêu tiền hoang phí, vì vậy càng về sau tài vận càng giảm, về già dễ "không xu dính túi". Họ cần học cách tiết kiệm và lưu giữ một khoản khi về già.
5. Bớt ở ngay gần tim
Vết bớt ở gần tim còn được gọi là vết bớt "Lòng dạ lang sói", người sở hữu vết bớt này xảo quyệt ranh ma. Họ nói chung không phải người tốt bụng.
6. Bớt ở ngay đường trung trực của gáy
Người có vết bớt ở vị trí này thì tình cảm thường gặp trắc trở, trong tình yêu dễ bị đối phương dối lừa mà trái tim tan vỡ, suy sụp tinh thần. Nhưng họ vẫn không tỉnh ngộ mà tiếp tục mù quáng trong tình yêu.
7. Bớt ở đùi trong
Người này nội tâm kiên cường, bản lĩnh tự tin, ở nơi làm việc được xem là tinh anh, chỉ có điều số phận phải bôn ba vất vả.
Kunie (theo lnka)
Vật phẩm phong thủy xui xẻo nào không nên để trong nhà? Đây là điều rất nhiều người thắc mắc muốn biết để tránh. Người ta nói tiền xu dễ lôi kéo ma quỷ, quần áo cũ dễ mang tới điều chẳng lành nếu bạn thường xuyên để chúng trong nhà. Điều đó có đúng hay không, còn nữa những vật phẩm khác thì như thế nào? Củ thể ra sao các bạn hãy tham khảo bài viết dưới đây nhé!
Nội dung
Không ít người cho rằng, tiền xu là vận cát tường, mang lại nhiều phúc khi. Tuy nhiên, nó chỉ đúng khi bạn mang theo tron người. Trường hợp bày biện tiền xu trong nhà sẽ mang lại vận xui cho chủ nhân, đặc biệt là tăng âm khí, dễ lôi kéo ma quỷ.

Từ xa xưa, các thầy bói đã biết dùng tiền xu để phục vụ công việc bói toán, xem âm dương. Do đó, theo quan điểm phương Đông, tiền xu có thể tập hợp các linh hồn lại với nhau. Nếu không muốn có thêm nhiều “vị khách vô danh” tới thăm, bạn cần bỏ sở thích tích trữ và trưng bày tiền xu trong nhà nhé.
Bày biện cây xanh là cách tạo phúc khí tốt lành. Tuy nhiên, không phải loại cây nào cũng phù hợp để trang trí trong nhà.
Theo Phong thủy học cổ xưa, xương rồng là loại thực vật rất dễ sống trong mọi hoàn cảnh. Nó chỉ phát huy tác dụng trong trường hợp ngôi nhà vừa mới bị hỏa hoạn hoặc có tang. Sức sống mãnh liệt của loài cây này sẽ làm giảm âm khí, xua đuổi tà ma. Do đó, xương rồng bị liệt vào danh sách vật trưng bày xui xẻo cho ngôi nhà.
Nếu yêu thích xương rồng, bạn có thể đặt chúng ở ngoài ban công. Tốt nhất, bạn chỉ nên dùng hoa lan hoặc hoa hướng dương để tăng vận khí tốt lành nếu muốn trang hoàng nhà cửa.

Không ít gia đình thích bày biện đồ cổ, đặc biệt là quần áo cũ của người cổ xưa trong nhà. Điều đó không mang lại may mắn, thậm chí còn tạo xui xẻo cho chủ nhân. Bởi quần áo cũ chứa âm khí của người đã khuất còn vương lại.
Trở thành Nữ hoàng đầu tiên và duy nhất được sử sách công nhận, những gì Võ Tắc Thiên đã làm thực sự là một đòn đau giáng vào cái thể chế phong kiến với tư tưởng trọng nam khinh nữ cố hữu ở xứ sở hàng tỷ dân. Tuy nhiên, sự ảnh hưởng của Võ Tắc Thiên đối với Hồng Kông không chỉ là khi bà còn sống.
Nhiều người tin rằng, ngay cả khi đã chết, Võ Tắc Thiên vẫn có những ảnh hưởng rất lớn tới vận mệnh quốc gia. Chẳng nói đâu xa, nhiều người tin rằng ngay Càn Lăng – nơi Võ Tắc Thiên lựa chọn làm nơi chôn cất của mình – cũng đã hàm chứa không ít những bí mật…
Chính nhờ ngôi mộ xây ở nơi này của các Vua đời Đường, mà Võ Mị Nương có thể lên ngôi hoàng đế, và vì lẽ đó bà cũng yêu cầu hợp tác cùng chồng.
Lăng mộ của bà hàng nghìn năm sau cũng vẫn là những dấu hỏi lớn đối với hậu thế không chỉ vì nó là lăng mộ duy nhất của các hoàng đế nhà Đường chưa bị khai quật mà ngay cả những gì lộ thiên hiển hiện trước mắt người đời cũng chứa đầy bí mật.
1. Tháng 2 năm 705, Võ hậu ốm nặng không còn lo việc triều chính được nữa. Nhân cơ hội đó, tể tướng Trương Giản Tri dẫn đầu các quan văn võ trong triều, thực hiện cuộc chính biến, xông vào hậu cung, bắt giết hai anh em Trương Xương Tông – những kẻ đang được Võ hậu vô cùng sủng ái – rồi buộc Võ hậu phải hạ chiếu nhường ngôi lại cho thái tử Lý Hiển.
Lý Hiển lên ngôi một lần nữa, sử gọi là Đường Trung Tông, Võ hậu lui xuống làm thái thượng hoàng rồi qua đời vào tháng 11 năm đó.
Khi lâm chung, Võ hậu yêu cầu Lý Hiển dùng thụy hiệu cho bà là hoàng hậu chứ không phải hoàng đế, do vậy bà không có miếu hiệu như những vị hoàng đế khác. Võ hậu cũng yêu cầu chôn mình ở Càn Lăng cùng với chồng mình là Đường Cao Tông Lý Trị, đồng thời dựng trên mộ bà một tấm bia trống (gọi là Vô tự bia) với ý rằng, công tội của bà sẽ do đời sau phán xét.
Cho tới nay, người ta vẫn chưa thể lý giải vì sao một người phụ nữ đầy tham vọng như Võ Tắc Thiên – người đã dám phá bỏ cả một vương triều lừng lẫy, tự lập nên vương triều của dòng họ mình – đến phút cuối cùng lại quay về thân phận một người vợ, yêu cầu hợp táng cùng chồng là Cao Tông.
Tuy nhiên, các nhà phong thủy thì tin rằng, một trong những nguyên nhân khiến Võ Tắc Thiên lựa chọn Càn Lăng làm nơi chôn cất của mình chính là vì địa thế phong thủy cực kỳ đắc địa của khu lăng mộ này.
Càn Lăng được xây dựng trên đỉnh núi Lương Sơn, nằm cách huyện thành Thiên Càn 6km về phía Bắc.
Nơi đây cách Tây An – kinh đô thời Đường – khoảng 160 dặm, tạo thành thế hô ứng với các dãy núi Cửu Tông, Kim Túc, Ta Nga, Nghiêu Sơn… Khác với vị trí Chiêu Lăng do chính Lý Thế Dân – ông vua nổi tiếng triều Đường – tự lựa chọn, người ta nói rằng, vị trí của Càn Lăng được lựa chọn một cách cực kỳ chuyên nghiệp.
Người lựa chọn vị trí xây dựng Càn Lăng chính là thái sử lệnh Lý Thuần Phong – vị quan chịu trách nhiệm về âm dương và thiên văn của triều đại nhà Đường.
Thời nhà Đường, nhân tài rất nhiều, trong xã hội hay chốn cung đình đều không thiếu vắng những người tài năng. Lý Thuần Phong là một trong những nhân tài loại đó. Sử chép, họ Lý là một trong những nhà thiên văn và số học cổ đại có tiếng của Hồng Kông.
Ông ta cũng là người để lại không ít những tác phẩm mà ngày nay giới nghiên cứu phong thủy và thiên văn cổ đại Hồng Kông coi là sách giáo khoa gối đầu giường.
Cùng thời với Lý Thuần Phong lúc bấy giờ còn có một người khác tài danh không kém, gọi là Viên Thiên Canh. Giống như họ Lý, họ Viên là một tay cao thủ về việc âm dương bói toán.
Viên chính là người đã giúp Lý Thế Dân lựa chọn vị trí xây dựng Chiêu Lăng. Người đương thời tin rằng Viên là một “thần nhân”, bởi lẽ gần như không có việc gì Viên dự đoán mà xảy ra sai lệch.
Nói theo lối hiện đại, vào thời bấy giờ, Lý Thuần Phong và Viên Thiên Canh được coi là những đại trí thức, những nhân vật quyền uy bậc nhất về học thuật trong triều Đường.
Lý Trị vốn là con trai thứ 9 của Lý Thế Dân, do Hoàng hậu Trưởng Tôn sinh ra. Năm 649, khi Lý Thừa Càn bị phế, Lý Trị lên ngôi, trở thành Đường Cao Tông Hoàng đế. Sau khi lên ngôi không lâu, theo thông lệ cũ của nhà Đường, Lý Trị phái Lý Thuần Phong và Viên Thiên Canh thay mình đi tìm một nơi đất tốt để xây dựng mộ phần.
Theo những gì sử sách còn ghi lại thì họ Viên và họ Lý đã đi tới không ít nơi song vẫn chưa tìm được vị trí ưng ý. Mãi tới một hôm, sau khi Viên Thiên Canh tới Quan Trung, quan sát thiên tượng vào giờ Tý, mới phát hiện trên dãy núi xuất hiện một luồng khí màu tím xông thẳng lên sao Bắc Đẩu.
Khí màu tím xuất hiện trong quan niệm phong thủy chính là điềm lành. Lần theo luồng khí màu tím này, Viên Thiên Canh đã tìm được vị trí xây dựng Càn Lăng ngày nay. Lúc bấy giờ, để đánh dấu, Viên Thiên Canh đã chôn xuống dưới đất một đồng tiền bằng đồng.
Một điều trùng hợp là sau đó, Lý Thuần Phong cũng tìm tới nơi đây. Tuy nhiên, khác với Viên Thiên Canh, họ Lý lựa chọn Lương Sơn do những phân tích kỹ càng về địa thế phong thủy của ngọn núi này.
Sau khi nghiên cứu địa thế ngọn Lương Sơn, Lý Thuần Phong phát hiện ra rằng, hai đỉnh phía Đông và Tây của Lương Sơn nằm ở thế đối diện nhau, vì vậy nếu nhìn từ xa thì ngọn Lương Sơn trông giống như cặp vú của người phụ nữ.
Nếu nhìn rộng hơn nữa thì toàn bộ khu vực Lương Sơn giống như một người phụ nữ quý tộc đang say giấc nồng. Sau khi dùng các mảnh đá sắp xếp thành sơ đồ bát quái để tính toán, Lý Thuần Phong cũng xác định vị trí đặt lăng mộ ngay đúng chỗ mà Viên Thiên Canh đã lựa chọn.
Sau khi nhận được tin báo của họ Lý và họ Viên, Lý Trị lập tức cử người cậu của mình là Trưởng Tôn Vô Kỵ tới xem xét một lần nữa rồi mới đưa ra quyết định. Sử chép, khi tới nơi, Trưởng Tôn Vô Kỵ không khỏi kinh ngạc khi đầu của cây cọc sắt mà Lý Thuần Phong đóng xuống đất để đánh dấu chọc đúng vào ô vuông bên trong có đồng tiền mà Viên Thiên Canh đã chôn.
2. Do Lương Sơn – nơi xây dựng Càn Lăng – có địa thế rất giống với bộ ngực của người phụ nữ nên người dân địa phương nơi đây còn gọi núi Lương Sơn là Nãi Đầu Sơn. Ngọn núi này nhìn gần thì rất kỳ vĩ nhưng nhìn xa lại rất thấp. Viên Thiên Canh cho rằng, nơi đây âm khí nặng hơn, vì vậy nếu như không tính toán cẩn thận thì long mạch nhà họ Lý sẽ bị một người phụ nữ làm cho tổn hại.
Lý do mà Viên Thiên Canh đưa ra dường như rất hợp lý. Ngọn Lương Sơn nằm ở phía Tây của núi Cửu Tông, trong khi đó, long mạch của nhà Đường thì nằm ở phía Đông Cửu Tông. Vì vậy, Viên cho rằng, Chiêu Lăng – nơi chôn cất Lý Thế Dân – chính là phần đầu của long mạch triều Đường. Theo quan niệm truyền thống về phong thủy thì vị trí xây dựng lăng mộ cho Lý Trị phải nằm dưới phần đầu rồng này.
Như vậy, vị trí mộ lý tưởng nhất phải thuộc các dãy núi Kim Túc, Ta Nga, Nghiêu Sơn… Tuy nhiên, nay lại có một người phụ nữ ngồi ở trên đầu của những người đàn ông dòng họ Lý.
Xét về địa thế thì cả hai mặt Lương Sơn đều có nước vây quanh, là nơi tàng phong tụ khí, đích thực là một vị trí đắc địa về phong thủy. Các nhà phong thủy đương thời đều thừa nhận điều này. Người ta nói rằng, dãy Lương Sơn vốn là phần dư âm của long mạch từ thời Chu, vì vậy những người dân bình thường chọn đất này làm nơi mai táng thì có thể đảm bảo ba đời giàu sang, phú quý.
Tuy nhiên, đối với triều đại nhà Đường, ba đời e là quá ngắn ngủi. Hơn nữa, đại thế phong thủy của Lương Sơn lại không hô ứng với phong thủy của Chiêu Lăng vốn đã được Lý Thế Dân lựa chọn. Sự không hô ứng này khiến vương khí bị đứt đoạn, e là chỉ sau ba đời sẽ bị cản trở.
Trưởng Tôn Vô Kỵ và Lý Thuần Phong đều nói đây là mảnh đất tốt, ngàn năm có một, trong khi đó Viên Thiên Canh thì lại kiên quyết khẳng định rằng nơi này không thích hợp. Đứng trước hai ý kiến hoàn toàn trái ngược, Lý Trị lúc bấy giờ cũng không biết quyết định ra sao. Khi đó, Võ Tắc Thiên mới là Chiêu nghi, nghe được chuyện này mừng lắm. Viên Thiên Canh từng dự đoán rằng, triều đại nhà Đường sẽ bị một người phụ nữ họ Võ xâm phạm.
Lý Thế Dân cũng vì lý do này mà giết không ít người họ Võ. Hơn nữa, khi trước, họ Viên khi xem tướng mạo của Võ Tắc Thiên đã nói rằng: “Nếu như không phải là nữ giới thì nhất định sẽ là chủ thiên hạ”. Như vậy, địa thế phong thủy của Lương Sơn chẳng phải là ứng với những gì Viên Thiên Canh đã dự đoán hay sao? Nghĩ vậy, Võ Tắc Thiên đã tìm mọi cách khuyên Lý Trị không nên do dự, nghe theo lời của cậu là Trưởng Tôn Vô Kỵ.
Lý Trị vốn là người nhu nhược nên chẳng mấy chốc đã bị Võ Tắc Thiên thuyết phục, việc lựa chọn vị trí xây dựng Càn Lăng được quyết định. Người ta nói rằng, Viên Thiên Canh sau khi biết chuyện đã thở dài mà than rằng: “Người thay nhà Đường không ai khác chính là Võ Chiêu nghi”. Lời nói của Viên sau này quả nhiên ứng nghiệm.
Mặc dù không nghe theo lời của Viên Thiên Canh, tuy nhiên những ý kiến của một bậc đại sư như Viên cũng khiến Trưởng Tôn Vô Kỵ và Lý Trị cảm thấy lo lắng. Vì vậy, sau khi lăng mộ được xây xong, Lý Trị muốn tìm một cái tên thật cẩn thận để lấy lại cân bằng với những khuyết điểm trong địa thế phong thủy của lăng mộ.
Lúc bấy giờ, có vị đại thần kiến nghị đặt tên lăng là “Thừa Lăng”, lấy ý kế thừa long mạch của Chiêu Lăng. Tuy nhiên, Trưởng Tôn Vô Kỵ lại căn cứ theo vị trí của Lương Sơn là nằm về phía Tây Bắc, theo Dịch lý thì nó thuộc cung Càn, vì vậy kiến nghị đặt tên là Càn Lăng.
Viên Thiên Canh chẳng nói là Lương Sơn âm khí quá nặng hay sao? Như vậy, đặt tên là Càn Lăng càng hợp lý vì Càn chính là thuộc dương, ở trên, Khôn ở dưới, thuộc âm, cả hai kết hợp lại là “Âm dương tương hợp định càn khôn”. Lý Trị nghe Trưởng Tôn Vô Kỵ giải thích vô cùng xuôi tai, vì vậy quyết định đặt tên lăng là Càn Lăng.

Tuy nhiên, việc đặt một cái tên đầy dương khí cho lăng mộ cũng không giúp Lý Trị và triều đại nhà Đường thoát khỏi lời nguyền. Đúng như dự đoán, sau khi Lý Trị qua đời, Võ Tắc Thiên bắt đầu từng bước thâu tóm quyền lực trong triều đình.
Tới tháng 9 năm 690, Võ Tắc Thiên chính thức lên ngôi hoàng đế, trở thành Nữ hoàng duy nhất trong lịch sử chế độ phong kiến Hồng Kông.
Các nhà phong thủy cho rằng, chính địa thế phong thủy của Càn Lăng đã giúp Võ Tắc Thiên làm nên sự nghiệp lẫy lừng như vậy và chính vì thế nên đến cuối đời, Võ Tắc Thiên đã quyết định được chôn cất tại Càn Lăng chứ không phải vì muốn hợp táng với Đường Cao Tông Lý Trị.
Có rất nhiều bí ấn xung quanh mộ của Võ Tắc Thiên, như những bức tượng không đầu; việc NASA nhìn thấy khu lăng mộ họ Võ từ vũ trụ; bia mộ không khắc chữ cùng với những bí ẩn về vật liệu xây dưng.
Việc lăng mộ được nhìn thấy từ không gian là điều khiến cả thế giới kinh ngạc: ngày 26/7/1971, trên con tàu Apolo nhìn xuống trái đất, nhà du hành vũ trụ Mỹ – Ednin đã nhìn thấy Kim tự tháp châu Phi, Trường thành Hồng Kông và đột nhiên ông phát hiện tại Hồng Kông, ở 107.38 độ kinh đông và 34 độ vĩ bắc, có 9 đốm đen nhỏ dàn hàng ngang theo hình chữ nhất (-) đốm đen cuối cùng ở phía tây là rõ nhất, đây chính là Càn Lăng.
Bọn trộm mộ thường nhòm ngó đào bới của cải của những lăng mộ; những triều đại mới nổi lên, muốn trả thù triệt “long mạch” của triều đại cũ; các nhà khảo cổ khai quật để nghiên cứu… Thế nhưng lăng mộ của nữ hoàng đế Võ Tắc Thiên thì người ta đào không nổi.
Khi qua đời, thế hệ sau của Võ Tắc Thiên có rất nhiều nữ nhi làm khuynh đảo các triều đại, mang trong mình ý muốn làm hoàng đế như Thái Bình công chúa con gái bà, Thượng Quan Uyển Nhi, và người đàn bà đã khép lại trang sử của chế độ phong kiến Hồng Kông là Từ Hy Thái Hậu. Nhiều người cho rằng khi được chôn tại Càn Lăng, vị hoàng hậu họ Võ này vẫn tiếp tục thao túng và điều hành đất nước theo cách nào đó.
Nguồn: Phong Thủy Tổng Hợp
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
![]() |
| Ảnh minh họa |
Các nhà phong thủy học cho rằng, điểm huyệt thì phải xét tinh thô, hướng bối, can chi, chủ khách. Xung quanh thấy sa thủy phải hữu tình, thủy phải bao, thế phải tụ, sơn giao thủy hội, tiểu minh đường phân hợp rõ ràng. Nếu sai sót nhỏ thì họa mấy đời.
Mậu Hy Ung trong “Táng kinh dực” nói: “Huyệt có huyệt chân, huyệt bệnh. Huyệt bệnh giống như người tàn tật, tuy có hình cốt nhưng thần khí thương tổn, bại khuyết. Huyệt này không thể táng”.
Huyệt bệnh được phân thành những loại sau
- Huyệt quán đỉnh: đỉnh huyệt lõm, khuyết, méo, vênh…
- Huyệt triết bí: tay huyệt bị gãy, cụt…
- Huyệt phá diện: mặt huyệt nham nhở, méo mó…
- Huyệt trụy túc: chân huyệt lõm, khuyết…
- Huyệt bắng diện: mặt huyệt giống như mặt người cáu giận.
- Huyệt bão đỗ: bụng huyệt to phình, phệ…
- Huyệt lâm đầu: nước xối vào đầu huyệt do thế thấp.
- Huyệt cát cước: huyệt bị cưa chân
- Huyệt lậu tai: hai má huyệt lõm, khuyết, chảy…
- Huyệt hổ tôn: Bạch Hổ sa như con hổ ngồi rình thây mộ, vẻ hung ác.
- Huyệt long cư: gò Thanh Long như con rồng ác nhìn vào huyệt mộ (không có ý triều thuận).
- Huyệt Huyền Vũ cự thi: núi Huyền Vũ sau mộ đầu không cúi, chống lại mộ.
- Huyệt Huyền Vũ nhô đầu: nhìn vào huyệt mộ như đang rình thây ma trong đó.
- Huyệt Chu Tước đằng khứ: gò Chu Tước có hình thế như muốn bay đi.
- Huyệt Chu Tước bi khấp: nước trước mộ chảy có tiếng như than khóc.
- Huyệt tiền hoa hậu giả: mặt trước vẻ hoa hòe hoa sói, mặt sau mộ hình ác, lõm, khuyết, lở, phá…
- Huyệt tả hữu quy lạc: gò Long Hổ đều bị quỵ ngã.
Những huyệt bệnh đều có hình đầu long không rõ, gò Long Hổ lõm khuyết, núi bị phá, đất đá ngổn ngang, các núi lạ ở thế bức bách; mạch khí đứt ngang, phân mạch ngưng tụ không rõ... Minh đường chật hẹp, chúng thủy xung huyệt. Những loại hình đó đều kị, sát.
Khi đặt mộ ở loại hình trên đều bị tam hại: gió, kiến, mối và nước. Nếu an táng tại đây, chẳng những xương cốt bị mục nát mà con cháu gia chủ nghèo khó, bệnh tật thậm chí tan cửa nát nhà, mất người.
Theo Bí ẩn thời vận
|
Những kiến trúc cầu thang bất lợi cho gia chủ và cách hóa giải:

Cửa nhà hướng xuống cầu thang làm hao tiền của
Cửa chính của nhiều nhà đối diện với cầu thang là tối kỵ trong phong thủy. Nhưng trong những nhà tập thể kiểu cũ vẫn giữ kiến trúc này, mang lại nhiều bất lợi cho gia chủ.
Nếu cửa chính của phòng hay nhà đối diện với cầu thang hướng xuống dưới thì khí tốt sẽ theo đó mà thoát đi, không có lợi cho tài vận của chủ nhà. Hơn nữa, cửa quay theo hướng nào sẽ ảnh hưởng nhất định tới những người trong nhà.
– Cửa chính phía Đông đối diện với cầu thang hướng xuống thuộc quẻ Chấn, ảnh hưởng xấu nhất tới con trai lớn trong nhà.
– Cửa chính phía Đông Nam đối diện với cầu thang hướng xuống thuộc quẻ Tốn, ảnh hưởng xấu nhất tới con gái lớn trong nhà.
– Cửa chính phía Nam đối diện cầu thang hướng xuống thuộc quẻ Ly, ảnh hướng xấu nhất tới con gối thứ hai trong nhà.
– Cửa phía Tây Nam thuộc quẻ Khôn, ảnh hưởng xấu nhất tới người mẹ.
– Cửa phía Tây thuộc quẻ Đoài, ảnh hưởng xấu nhất tới con gái thứ ba.
– Cửa chính phía Tây Bắc thuộc quẻ Càn, ảnh hưởng xấu nhất tối người cha.
– Cửa phía Bắc thuộc quẻ Khảm, ảnh hưởng xấu nhất tối con trai thứ hai.
– Cửa phía Đông Bắc thuộc quẻ Cấn, ảnh hưởng xấu nhất tới con trai thứ ba.

Đặt chậu cây để hóa giải bố cục cầu thang hướng cửa
Nhiều người quan niệm nếu hướng cầu thang đối diện cửa chính thì gia chủ sẽ bị hao tán tiền của, tài lộc sẽ bị tuôn chảy hết. Song, trái lại thì những ngôi nhà có cầu thang đối diện cửa chính sẽ nhận được nhiều năng lượng.
Bố cục này giúp chủ nhà làm ăn tốt nhưng không giữ được nguồn tài lộc. Trong trường hợp bất khả kháng thì có thể đánh lệch hướng cầu thang bằng cách thay đổi một số bậc cuối cùng, hoặc đặt dưới chân cầu thang một chậu cây để ngăn cản dòng năng lượng thoát ra ngoài.
Phương pháp hóa giải đơn giản nhất là nên treo trước cửa một tấm kính lõm, vì kính lõm có thể thu khí lại, không để khí tốt thoát ra ngoài.