Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,...   Click to listen highlighted text! Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,... Powered By DVMS co.,ltd
Kính mời quý khách like fanpage ủng hộ Vạn Sự !

Vạn Sự

Lỗi phong thủy phòng ngủ tử hình hôn nhân

Lỗi phong thủy phòng ngủ hay mắc phải là gì, cùng đi tìm hiểu nhé!
Lỗi phong thủy phòng ngủ tử hình hôn nhân

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

- Trong phong thủy, phòng ngủ được coi là nơi chứa đựng nhiều năng lượng của tình yêu nhất. Phạm những lỗi phong thủy phòng ngủ dưới đây coi như bạn đã tự tay lập sẵn “án tử hình” cho tình yêu, hôn nhân của mình.


1. Treo gương trong phòng ngủ


Gương có tác dụng phản chiếu sự vật. Đặt gương trong phòng là một trong những lỗi phong thủy thường gặp. Nó sẽ khiến tâm lí bị xáo trộn, khó có giấc ngủ ngon. Hơn thế, bạn khó gặp được may mắn và thuận lợi trong hôn nhân nếu giường ngủ đặt đối diện với gương. Cách bố trí này còn dẫn đến tình trạng có người thứ 3 xen ngang phá hoại hôn nhân, nguy cơ đổ vỡ cao.

Do đó, tốt nhất bạn không nên treo gương trong phòng ngủ. Nếu vẫn muốn duy trì sở thích này, nên treo gương ở vị trí không đối diện giường ngủ và dùng màn che nó lại.

2. Bài trí cây xanh hay suối nước trong phòng ngủ

Đài phun nước, hoa tươi hay cây xanh đều là những thứ không nên có trong phòng ngủ. Theo phong thủy, cây xanh thường sản sinh nhiều dương khí, trong khi giấc ngủ lại cần nhiều năng lượng của khí âm hơn, vậy nên nó sẽ làm nhiễu loạn giấc ngủ của bạn.

Loi phong thuy phong ngu tu hinh hon nhan hinh anh
 
3. Treo hình gia đình trong phòng ngủ


Phòng ngủ là nơi riêng tư dành cho vợ chồng. Do vậy, nên tránh đặt hoặc treo những tấm hình về gia đình, con cái, bạn bè nơi đây kẻo sẽ bị cảm giác bị làm phiền, cảm xúc vợ chồng khó thăng hoa. Đây cũng là lỗi phong thủy phòng ngủ thường gặp.

Trong trường hợp vẫn muốn treo ảnh gia đình, bạn nên chọn vị trí không nên đối diện với giường ngủ.

4. Làm việc hay tập thể dục trong phòng ngủ

Đừng bao giờ đặt bàn làm việc hay máy tính trong phòng ngủ cho dù bạn không phòng riêng chứa chúng. Nên nhớ rằng, phòng ngủ là nơi để nghỉ ngơi, thư giãn, chứa nhiều năng lượng âm còn phòng làm việc nên có nhiều dương khí.

Nếu không có nơi nào khác trong nhà có thể bố trí bàn làm việc ngoài phòng ngủ, khi sắp xếp, hãy đảm bảo đặt chúng xa giường để bạn không thể trông thấy.

Đối với các thiết bị tập luyện thể thao cũng vậy. Đừng nhét chúng dưới gầm giường vì nguồn dương khí mạnh (máy móc vận động) sẽ làm ảnh hưởng tới giấc ngủ của bạn.

Loi phong thuy phong ngu tu hinh hon nhan hinh anh 2
 
5. Treo tranh ảnh thể hiện sự cô đơn, buồn phiền


Tránh đặt những bức tranh ảnh hay các vật phẩm gợi nên nỗi buồn, sự cô đơn như bức ảnh cơn bão, hình ảnh hoa tàn, quang cảnh mùa đông hoang vắng hay một người cô đơn…

Ngoài ra, không nên có bất cứ thứ gì lạnh lẽo trong phòng ngủ cả về nghĩa bóng lẫn nghĩa đen. Ví dụ như: tủ lạnh, bình nước nóng lạnh… Nếu không tránh được điều này, hãy làm ấm không gian phòng ngủ bằng những tấm thảm đỏ, dán hình ảnh ngọn lửa cháy hay cặp đôi lãng mạn trên những thiết bị này.

6. Đặt nhiều đồ đơn lẻ, không có đôi có cặp


Phong thủy phòng ngủ kiêng kị đặt những đồ vật đơn lẻ. Ví dụ như đèn hoặc nến trang trí... Mọi thứ cần có đôi có cặp mới dễ hút vận đào hoa, tình yêu mới đơm hoa kết trái.

Loi phong thuy phong ngu tu hinh hon nhan hinh anh 3
 
7. Phòng ngủ bừa bộn


Nếu muốn tìm kiếm tình yêu đích thực hay cảm xúc thăng hoa trong hôn nhân, bạn nên bắt đầu bằng việc dọn dẹp sạch sẽ phòng ngủ, vứt bỏ tất cả các vật dụng không cần thiết.

Nếu còn độc thân, bạn nên vứt bỏ mọi thứ liên quan đến tình cũ. Như vậy bạn mới có thể toàn tâm, sẵn sàng kiếm tìm mối quan hệ mới.

“Phát sốt” với tiền lì xì cực độc dành riêng cho Tết Bính Thân
– Hàng loạt những tờ tiền lì xì độc đáo với hình con Khỉ, linh vật phong thủy hay số serie tứ quý 8... đã được bung ra thị trường nhằm phục
8. Thiếu màu sắc và các biểu tượng của tình yêu


Hồng được coi là màu sắc của sự lãng mạn, biểu trưng cho tình yêu lứa đôi. Vì vậy, bạn có thể sử dụng màu gam màu này để trang trí cho phòng ngủ của mình. Đó có thể là những hình trái tim, sơn tường, thảm trải nhà… Ngoài ra, bạn cũng có thể phối kết hợp khéo léo màu trắng và đỏ trong trang trí phòng ngủ để tình yêu được thăng hoa.

Ngoài ra, bạn có thể đặt những biểu tượng tình yêu như: tượng thần tình yêu, cặp trái tim, đôi uyên ương, bức ảnh về cặp đôi yêu nhau... Đặc biệt là những thứ có đôi có cặp như: cặp nến hồng, hai ly rượu vang, hai chiếc gối, đôi ghế ngồi...

Giang Nguyễn

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Lỗi phong thủy phòng ngủ tử hình hôn nhân

Những phòng bếp màu sắc ngay lập tức khiến bạn "phải lòng"

Đôi khi, màu sắc không chỉ dành riêng cho phòng ngủ hay phòng khách, một căn bếp rực rỡ sắc màu cực kỳ ấn tượng dễ khiến ai đặt chân đến nhà bạn cũng sẽ "yêu từ cái nhìn đầu tiên".

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Nhiều người cho rằng, bếp là nơi nấu nướng nên không nhất thiết phải bỏ ra quá nhiều công sức để trang trí mà chỉ cần đảm bảo sự sạch sẽ và tiện  ích của chúng là được. Nhưng thực tế khi được bước vào căn bếp đẹp và bắt mắt mỗi ngày, cảm giác thích thú với việc nấu ăn sẽ tăng lên nhiều đó.

mẫu bếp đẹp 
Những ô màu sặc sỡ và vui tươi trong căn bếp này có khiến bạn liên tưởng đến một
quán ăn nhỏ nào đó không? Nếu không có chúng thì hẳn căn bếp này
trông có phần hơi tẻ nhạt và buồn chán

mẫu bếp đẹp 
Nếu thuộc tuýp người đơn giản và không thích ứng được với sự màu mè ở trên thì căn bếp
theo phong cách châu Âu này sẽ hợp với bạn. Một chút thay đổi với màu tím cho bàn bếp
khiến căn bếp rất ấn tượng và vẫn hoà hợp trong tổng thế thanh lịch của căn phòng

mẫu bếp đẹp 
Căn bếp đơn giản mà vẫn "độc" và lạ nhờ sự kết hợp ấn tượng của màu xanh lá tươi tắn
và gam trắng nhẹ nhàng

mẫu bếp đẹp 
Ai nói sang trọng thì không được màu mè nào? Bộ đôi xám thanh lịch và vàng cá tính kết hợp
với nhau không thể chuẩn hơn để tạo nên một không gian hiện đại mà quyến rũ

mẫu bếp đẹp 
Sắc màu cổ điển từ khung cửa xanh dịu dàng và những món đồ màu sắc nhỏ xinh
cũng đủ khiến nơi này vô cùng hấp dẫn

mẫu bếp đẹp 
Chủ nhân căn bếp đã tạo nên "bộ ba sát thủ" vàng - hồng - xanh vô cùng lợi hại khi đặt chúng
trong tổng thể nội thất hiện đại và kết hợp với màu trắng chủ đạo khiến căn bếp trở nên
đáng yêu mà vẫn giữ được vẻ hiện đại vốn có

mẫu bếp đẹp 
Căn bếp u buồn này chắc sẽ khiến các bà nội trợ không còn muốn nấu ăn nếu như
không có sắc hồng cam tươi tắn xuất hiện trên tay nắm tủ và trên viền cửa sổ

mẫu bếp đẹp 
Yêu thích sự dễ thương, tươi trẻ? Vậy thì gian bếp với tông màu chủ đạo vàng - trắng này
sẽ vô cùng phù hợp với bạn rồi. Để tăng thêm sức hấp dẫn không thể chối từ cho nơi này,
bức tranh khổ lớn với gam màu tông xuyệt tông với căn phòng sẽ là một ý tưởng
rất hay ho mà bạn nên thử

(Theo Trí thức trẻ) 
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những phòng bếp màu sắc ngay lập tức khiến bạn "phải lòng"

Các em có hành vi trở ngại thường nằm mơ thấy gì? –

Y học cho rằng, những hành vi trở ngại như nói dối, ăn cắp, độc ác, phá hoại, chống đối thuộc về tâm lý của trẻ đang phát triển. Loại bệnh này thường có ở các em từ 5-12 tuổi. Phải theo dõi, phát hiện, kịp thời uốn nắn, giúp các em sửa chữa. Các em n

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Y học cho rằng, những hành vi trở ngại như nói dối, ăn cắp, độc ác, phá hoại, chống đối thuộc về tâm lý của trẻ đang phát triển.

Loại bệnh này thường có ở các em từ 5-12 tuổi. Phải theo dõi, phát hiện, kịp thời uốn nắn, giúp các em sửa chữa.

Các em nói dối thường nằm mơ thấy mình không muốn làm việc nhà, nói dối đến trường để học thêm, ôn tập, thực ra là đi chơi.

92bkid-22709

–    Hành vi ăn cắp: Thường các em ăn cắp đồ đạc trong nhà rồi theo bạn bè đi ăn cắp của người ngoài, thấy mình không có các thứ của người khác nên ăn cắp bằng được, khi bị trừng phạt thì cho là không công bằng, tiếp tục ăn cắp. Phương pháp điều tra là khuyên nhủ, thuyết phục để các em hình thành thói quen suy nghĩ đúng đắn. Bố mẹ không nên đánh mắng thô bạo. Giấc mơ của các em bé này cần được nói ra và người lớn cần theo dõi, ngăn chặn kịp thời những hành vi xấu.

–    Hành vi phá hoại: Bất cứ đứa trẻ nào dù nhiều hay ít cũng có hành động này. Nhưng có một số hành động phá hoại mang tính tích cực, ví dụ, một em bé muôn phá tung đồ chơi để tìm hiểu cấu tạo của nó.

Tất cả những gì không thuộc về hành vi trở ngại của các em bé đều cần được khuyên khích nhưng những hành vi phá hoại cần được uốn nắn, sửa chữa ngay.

Loại trẻ em này không phải lúc nào cũng nằm mơ, nhưng các giấc mơ đều biểu thị ý muôn phá hoại trật tự đã có. Ví dụ, làm lộn xộn các vật đã có sẵn. Đó là do tâm trạng mất thăng bằng vì chịu sự kích thích của bản thân và hoàn cảnh xã hội. cần giáo dục các em sửa chữa những hành vi phá hoại.

–   Hành vi hung hãn: Chủ yếu gặp ở các em trai. Các em nằm mơ thấy mình làm hoàng đế hoặc đại tướng, có lúc tung cả chăn đắp. Nguyên nhân dẫn đến loại hành vi này có rất nhiều:

Có thể do các em là con một, cho rằng mình có địa vị nên sinh ra kiêu ngạo.

– Cũng có thể trong giấc mơ thuần túy biểu hiện mơ ước trở thành kẻ mạnh, lúc nào cũng muốn có tư thế chỉ huy người khác, bắt người khác phục vụ mình.

Chữa bệnh mơ này cũng dùng phương pháp giáo dục và tạo thành tập quán sông cho các em.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Các em có hành vi trở ngại thường nằm mơ thấy gì? –

Hé lộ 4 con giáp yêu là cưới

khi đã yêu ai đó, tình cảm người tuổi Tỵ trước sau như một, đây cũng là một trong những con giáp yêu là cưới, chúa ghét phải trải qua bất cứ sự gián đoạn nào
Hé lộ 4 con giáp yêu là cưới

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

– Trong tiềm thức của người tuổi Sửu, yêu đương chỉ là giai đoạn “làm ấm” cho kết hôn mà thôi. Tình yêu cần có sự hài hòa với hiện thực, với các mối quan hệ trong gia đình và hễ yêu là cưới.


No4. Người tuổi Mùi

Trong mọi hoàn cảnh, người tuổi Mùi luôn có suy nghĩ kiểu như “đi với Bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy”, thời thế sinh anh hùng, biết thích nghi với hoàn cảnh mới có thể sinh tồn trong cuộc đời  này.

Suy nghĩ ấy dường như đã ăn sâu vào tâm trí con giáp này. Vì thế, trong tình yêu, tư tưởng đó cũng ảnh hưởng ít nhiều. Đã yêu là cưới, khó mà chia cắt, kết hôn là đích đến cuối cùng của tình yêu.

Để bảo vệ tình yêu ấy, người tuổi Mùi sẵn sàng chịu thiệt thòi về mình, thậm chí nhiều khi rơi vào thế bị động, nhưng lúc nào cũng tự hào rằng mình đã cố gắng hết sức để thực hiện ước mơ, đó là điều rất đáng trân trọng.

He lo 4 con giap yeu la cuoi hinh anh
 
No3. Người tuổi Tuất


Trong tình yêu, người tuổi Tuất rất chung thủy, đồng thời xác định rằng, yêu là cưới, chứ không có chuyện bàn lùi. Dù không chủ động bày tỏ tình cảm, nhưng mọi cử chỉ, ngôn từ họ làm và nói ra đều khiến đối phương si mê, khó mà từ bỏ được.

Với họ, kết hôn cũng là một trong những mục tiêu lớn lao của cuộc đời. Tất nhiên, con giáp thông minh này luôn tìm ra cách để chinh phục được mọi mục tiêu, dù khó khăn đến nhường nào.

He lo 4 con giap yeu la cuoi hinh anh 2
 
No2. Người tuổi Tỵ


Tiêu chuẩn “chọn gấu” của người tuổi Tỵ khá khắt khe. Họ kén cá chọn canh, để ý từng ly từng ý mọi hành động, biểu hiện cảm xúc của đối phương. Để lọt được vào “mắt xanh” của họ quả thực không dễ dàng đâu nhé.

Tuy nhiên, khi đã yêu ai đó, tình cảm người tuổi Tỵ trước sau như một, đồng thời có khát vọng lớn lao về một đám cưới linh đình, hạnh phúc. Thế mới nói, đây cũng là một trong những con giáp yêu là cưới, chúa ghét phải trải qua bất cứ sự gián đoạn nào về tình cảm.

He lo 4 con giap yeu la cuoi hinh anh 3
 
No1. Người tuổi Sửu


Trong tiềm thức của người tuổi Sửu, yêu đương chỉ là giai đoạn “làm ấm” cho hkết hôn mà thôi. Tình yêu cần có sự hài hòa với hiện thực, với các mối quan hệ trong gia đình.

Tuy họ không biết nói những lời đường mật, không “khua môi múa mép”, khó có thể tạo ra ấn tượng mạnh với người khác giới ngay trong lần gặp đầu tiên, nhưng khi đã tìm được nửa kia phù hợp, sự đồng điệu trong tâm hồn là thứ quyết định tất cả. Chính vì thế, hễ yêu là người tuổi Sửu sẽ cưới, không phải đắn đo quá nhiều cho mệt đầu.

=> Lịch ngày tốt cung cấp công cụ xem tử vi số mệnh của bạn nhanh, chuẩn xác

Ngân Hà

Top 3 chàng giáp “thầu trọn gói” ngôi vị nam thần
– Nam thần không chỉ xuất hiện ở trong các bộ phim, cuốn truyện, nơi nào đó xa xôi, bởi họ ở ngay bên cạnh bạn đó thôi. Nếu tinh ý, bạn sẽ

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Hé lộ 4 con giáp yêu là cưới

Tìm hiểu tính tình qua Tử Vi

Một bài viết tìm hiểu tính tình qua tử vi. Bài viết rất hay và thú vị.
Tìm hiểu tính tình qua Tử Vi

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Các nhà tử vi thường cho rằng giải đoán tướng - dạng qua tử vi chỉ đạt được một tỷ lệ chính xác rất thấp vì phải phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố địa phương, sắc tộc, vv…nhưng về phương diện nếu dùng tử vi để tìm hiểu, tôi cho rằng ít khi bị sai trật, trước hết là nhờ khía cạnh lý thuyết trên lá số, sau nữa là vì các yếu tố sắc tộc hoặc địa phương không ảnh hưởn trực tiếp mạnh mẽ đến tình tình. Do đó quý bạn muốn tìm người cộng tác hay muốn kết thân với ai không gì bằng tìm hiểu họ qua tử vi, để đỡ phần nào phiền toái cho mình về sau. Và bài này có thể coi là bài bổ túc cho bài “ Tìm hiểu phụ nữ qua tử vi” đã đăng trên tạp chí KHHB. Sau đây tôi thử đưa ra những nguyên tắc căn bản để tìm hiểu tính tình qua tử vi theo thứ tự:

- Tương quan giữa ngũ hành của mạng với chính tinh toạ thủ tại mạng, thân ( hoặc xung chiếu nếu mạng thân Vô chính diệu).

- Các chính tinh toạ thủ tại Mạng, Thân.

- Các trung tinh và bàng tinh nổi bật.

- Cung Giải ách và các cung có ảnh hưởng rõ rệt và trực tiếp.

- Đại tiểu hạn.

1. Tương quan giữa ngũ hành của mạng với chính tinh toạ thủ tại mạng, thân ( hoặc xung chiếu nếu mạng thân Vô chính diệu)

Trước khi xét đến các chính tinh, ta cần phải xem mạng của mình có chịu ảnh hưởng của các chính tinh này hay ko hoặc chịu ảnh hưởng của chính tình nào. Như vậy, phải xét đến ngũ hành mà tôi đơn giản hoá như sau:

- Nếu mạng của mình khắc chính tinh thủ mạng hoặc thân phải coi như không ảnh hưởng gì của chính tinh nữa ( đối với chính tinh xung chiếu cũng vậy).

- Nếu chính tinh thủ mạng, thân khắc với bản mạng thì trái lại vẫn ảnh hưởng, nhưng không thuận lợi. Tỷ dụ như mạng hoặc thân có Phá quân là Thuỷ, nếu gặp mạng hoả thì vẫn là người thủ đoạn, phản phúc…nhưng hế hành động đúng theo ý nghĩa đó thì hay gặp hoạ, hoặc chỉ người tuy muốn ăn ở ngay thẳng nhưng ưa gặp môi trường thúc đẩy làm bậy để trở thành bất lương ngoài ý muốn, dù sao cũng phải kết luận người này không tốt.

- Nếu chính tinh và mạng cùng một hành hoặc chính tinh sinh mạng thì ảnh hưởng mạnh mẽ nhất, xấu hoặc tốt tuỳ theo ý nghĩa của của chính tinh.

- Nếu chính tinh được bản mạng sinh thì ảnh hưởng cũng mạnh mẽ như trường hợp trên, nhưng có điểm hơi khác là người đó không có lập trường vững, cứ thay đổi tâm hồn theo hoàn cảnh môi trường. Riêng về điều này cần phải phối hợp với các cung khác (Thiên Di, Nô Bộc, hoặc Quan lộc … tuỳ theo ảnh hưởng nổi bật nhất mà tôi sẽ bàn trong mục 4 dưới đây)

Nói tóm lại quý bạn chỉ cần xét sơ lược như trên là đủ khỏi cần lý luận quá mức về ngũ hành (ví dụ như mạng Mộc lại còn phải xét thêm Mộc gì, rồi lại còn thắc mắc mạng Âm Mộc hay Dương Mộc…) dễ bị phiêu lưu vố ích.

2. Các chính tinh toạ thủ tại Mạng, Thân

Sau khi đã nhận định tương quan giữa bản mạng và chính tinh toạ thủ tại Mệnh, Thân hoặc xung chiếu nếu Mệnh, Thân vô chính diệu. ( Tôi khỏi cần phân tích vấn đề Mệnh và Thân vì quý bạn đương nhiên đều biết thời gian ảnh hưởng rồi)

- Thiên Phủ: Tính tình nổi bật của sao này là ít nói, kín đáo hay suy tư sâu xa, nhưng rất trung hậu, xử thế ra người quân tử, ăn nói lúc nào cũng chững chạc, đúng mức, không bao giờ hứa hẹn bừa bãi hoặc làm việc gì liều lĩnh, do đó dễ cho là lạnh lùng, lãnh đạm, không sốt sắng mặc dù trong thâm tâm rất vị tha. Chính vì vậy sao Phá quân không bao giờ “hân hạnh” đứng chúng với Thiên Phủ theo cách bố cục nhất định của các chính tinh? Theo tôi Thiên Phủ còn hơn Tử Vi ở chỗ là không có cung nào làm cho Thiên Phủ trở nên bất lương, trong khi Tử Vi đi với Tham Lang, hoặc Tử Vi cư Thìn Tuất lại trở thành thủ đoạn. Do đó quý bạn có thể kết thân với người có Thiên Phủ thủ mạng (bất luận nam hay nữ) mà khỏi sợ phản phúc, nhưng quý bạn nếu cần người cộng tác dám mạo hiểm thì họ hoàn toàn bất lực.

- Thiên Tướng: Cũng như Thiên Phủ, Thiên Tướng ở bất cứ vị trí nào cũng không thể mất được đặc tính quân tử, trượng phu, cao thượng, ngay cả khi đồng cung với Tử Vi ở La Võng ( Thìn Tuất) cũng mặc cho Tử vi hội cùng Phá Quân trở thành bất nhân chứ Thiên Tướng không hùa theo, vẫn giữ được lòng thanh cao. Bởi thế các sao Không - Kiếp gặp Thiên Tướng phải chịu thúc thủ, sợ hãi chứ đâu có giám qua mặt Thiên Tướng. Tuy nhiên trong giao thiệp người Thiên Tướng bao giờ cũng nên chịu “ lép” một chút thì mới thuận hào vì sao này thường chỉ thích chỉ huy, kiêu căng, nhiều tự ái.

- Thiên Cơ: Có lẽ trong các chính tinh, không có sao nào khôn ngoan hơn sao này. Thực tế tôi biết khá nhiều người Thiên Cơ (với điều kiện mạng Mộc hay Hoả ) xoay xở hoặc kinh doanh rất giỏi vì họ biết tính toán có lợi cho họ một cách công khai, do đó ta không thể cho họ là lưu manh, tàn nhẫn mặc dù chơi với học ta bị thiệt thòi chứ ít khi có lợi, kể cả trường hợp kinh doanh. Tuy nhiên, Thiên cơ nếu đồng cung với Thái Âm ( là sao thiếu thực tế, mơ mộng ) sẽ bớt tính toán, khôn ngoan mặc dầu Thái Dương hội Thái Âm vẫn là cách kinh doanh lớn nhưng với Thiên Cơ lại khác. Nếu Thiên Cơ đồng cung với Thiên Lương ( Thìn Tuất ) thì như diều gặp gió, lại càng linh động, mưu trí hơn, lúc đó ít ai qua mặt được mặc dù bề ngoài người có Cơ Lương lại tỏ ra hiền lành khờ khạo, nhưng trong thâm tâm họ có cả một kế hoạch tinh vi khéo léo để trục lợi một cách đàng hoàng và công khai.

- Tham Lang: Sao này bị nhiều nhà Tử vi chê ( trong số có cả cụ Hoàng Hạc) vì đó là biểu tượng lòng dục vô bờ bến, tính vị kỷ…Tôi cũng đã bài bác sao này trong bài “Tìm hiểu phụ nữ qua Tử vi” rồi. Nhưng riêng đối với phái nam, sao này bớt xấu đi vì sao này có quyền ăn chơi, hưởng thụ công khai nên đã có môi trường sử dụng khá nhiều khía cạnh “ bê bối” của sao Tham Lang chứ không tiềm tàng như đối với phái nữ. Ngoài ra phái nam còn trực tiếp tham gia vào cuộc sống cộng đồng, chính trị để thực hiện ý đồ, tham vọng của mình nên Tham Lang càng được hoạt động dễ dàng khiến cho tâm hồn cởi mở, đàng hoàng hơn nhất là khi có thêm các trung tinh bàng tình ( như Quan – Phúc, Khôi - Việt…). Tuy nhiên người nào hợp Tham Lang ( như người mạng Thuỷ, Mộc ) mà ăn ở trong sạch, liêm khiết thì cuộc sống sẽ thiếu thốn và phức tạp vì như thế là trái với Tham Lang ( làm chủ tại Mệnh và Thân) bởi vậy tục ngữ ta mới có câu: “ Đi với bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy” ý là nói về Tham Lang độc thủ. Còn như trường hợp Tham Lang đồng cung với Vũ Khúc hoặc Liêm Trinh thì ý nghĩa không còn như trên nữa, và trong sách tử vi cũng có nói tới tình tình của Tham – Vũ đồng hành và Liêm – Tham Tị Hợi.

Về chính tinh tôi chỉ đưa ra 3 sao điển hình vì mục đích này chỉ đưa ra một vài nguyên tắc tổng quát để tìm hiểu chứ không thể đi sâu vào chi tiết quá sẽ dài dòng, vậy mong quý bạn thông cảm. Nếu quý bạn có hỏi thêm một vài chi tiết cho cá nhân mình xin cứ viết thư lại toà soạn tôi sẽ tuỳ nghi trả lời.

3. Các trung tinh và bàng tinh nổi bật

Sau khi biết chính tinh nào ảnh hượng mạnh, chúng ta cần xét đến các trung tinh và bàng tinh để xem cho chính xác hơn nhất là trường hợp mạng lại khắc với chính tinh thì trung tinh và bàng tinh sẽ đóng vai trò quan trọng hơn nữa.

Tôi xin nêu ra một vài thí dụ:

- Nếu mạng có Vũ Sát ( Mão - Dậu ) thường thường tính tình khô khan, ít nói ít cười, nhưng lại có Song hỉ, Thanh Long hoặc Long Phượng, Quang Quý thì vẫn không thể quyết đoán đương số lạnh lùng được, trái lại vẫn bặt thiệp vui tính như thường, đó là khi mạng “ăn” được nhiều trung tinh và bàng tinh nêu trên.

- Nếu mạng có Thiên Phủ thì biết được là người đôn hậu từ tốn, khiêm nhường, mà có thêm Quan – Phúc nữa thì phải đoán người hiền đâm ra nhu nhược hoặc là quá ít ăn ít nói đâm ra lạnh lùng, khô khan. Trường hợp có thêm Lộc tồn nữa thì tính từ tốn trở nên quá dè dặt, đa nghi dó đó tâm hồn vị tha giảm đi nhiều.

- Nếu mạng có Tham lang tuy chỉ nghĩ đến mình và vụ lợi nhưng nếu có Tả, hữu, Đại tiểu hao, Thai toạ thì vẫn có thể vị tha được mặc dầu tính ích kỷ chưa thể dứt bỏ hẳn. Chỉ ngại nhất người Tham Lang gặp Cô Quả, Hoá kỵ thì không khác gì “ xi măng, cốt sắt ” nếu người đó giúp mình được một thì cũng gián tiếp hay trực tiếp lấy lại được hai, ba.

- Nếu mạng Thiên Lương (ở Ngọ) có thêm Quan – Phúc Đại tiểu hao thì đúng là người có lòng bồ tát, coi của riêng như của thiên hạ, rất vị tha, rộng rãi, từ bi, tuy không phải là bậc tu hành.

4. Cung Giải ách và các cung có ảnh hưởng rõ rệt và trực tiếp

Có nhiêu nhà tử vi khẳng định cung Giải ách chỉ xem về bệnh tật, tai nạn, chứ không thể áp dụng cho tính tình nhưng lại có một số vị cao thâm tử vi chủ trương phải xét đến cung Giải ách để đoán thên một cách chính xác tính tình. Tôi cũng đã chiêm nghiệm nhiều về khía cạnh này và nhận thấy cung Giải ách cho ta thêm nhiều yếu tố để tìm hiểu tính tình, nhưng có điểm cần là cung Giải ách tiêu biểu cho tính tình tiềm tàng, sâu kín mà chỉ có đương số nhận thức được chứ ta không thể thấy được xử kỷ tiếp vật của đương số.

Sau đây là một số thí dụ:

- Nếu Mạng có các sao dữ dằn, phách lối (Hoả, Linh, Kình, Đà, Hình, Quyền, Thất sát…) nhưng nếu cung Giải ách có Quan Phúc, Khôi Việt, tứ Đức, Đào Hồng chẳng hạn ta cũng đừng quá ngại, chẳng qua bề ngoài người đó lỗ mãng, nông nổi nhưng trong thâm tâm vẫn trung hậu, tử tế, nhận đạo. Nếu ngược lại (Mạng có sao hiền mà Giải Ách toàn sao dữ) thì đúng là người miệng nam mô Phật bụng bồ giao găm.

- Nếu Mạng có Đại tiểu hao, hội Thiên Lương mà cung Giải ách có Lộc tồn, Cô quả, Kỵ, Tham Lang thì coi chừng người đó cho tay này rồi lấy tay khác, hoặc có cho thật thì lòng cũng xót xa cay đắng lắm.

- Trường hợp mạng có Đào Hồng, song Hỉ, hội Tham Lang hoặc Thiên Đồng thì ai chẳng bảo là tâm hồn, tính tình vui vẻ, yêu đời nhưng nếu cung Giải ách có Tang Hổ, Khốc Hư, Cô Quả, Hoá kỵ thì đúng là: “ bề ngoài cười nụ, bề trong khóc thầm”.

Ngoài cung Giải ách ra, đôi khi ta phải xét đến các cung khác, nếu có những yếu tốt nổi bật để phối hợp tỷ dụ như:

- Mạng có Thiên Lương (cu Tị, Hợi) có Phục Binh đồng cung (tức là có Tướng quân xung chiếu là cách nội Binh ngoại tướng) nếu cung Thiên di có Đào Hồng, Không Kiếp, hội chiếu các sao xấu khác thì mình có thể quyết đoán là đương số thích ăn chơi, đàng điếm vì bạn bè xúi giục (Thiên Di) đồng thời đương số sẵn có tính đó (Thiên Lương cư Tị Hợi) gặp người mạng Thuỷ (tức mạng sinh sao) lại càng đúng nữa vì không có lập trường vững.

- Nếu mạng có tính thích bay nhảy di chuyển (như có Thiên mã hội Thiên Đồng…) lại được cung Phụ mẫu có Tuần Triệt và cung Thiên Di có Thân đóng ở đó thêm Phi Liêm, Thiên Giải, Thiên Không thì nhất định tính đó biểu lộ càng rõ rệt hơn.

- Nếu mạng có Đại tiểu hao, cung Tài có Không Kiếp xung phá, nhưng cung Điền rất tốt (như có Đào Hồng, Khôi Việt, Nhật Nguyệt đắc địa…) thì ta có thế đoán đương số có tính hoang phí nhưng không mù quáng mà chi hết tiền mua tậu nhà cửa. Ngoài ra ta còn biết thêm (bằng cách suy luận) là đương số thích mỹ thuật nữa vì cung Điền có Long Phượng, Đào Hồng là nhà cửa phải trang hoàng đẹp đẽ…

Qua các thí dụ trên, quý bạn có thể suy ra các cung khác ( Tử tức, Thê Thiếp, Nô Bộc vv…) tuỳ theo trường hợp nhưng điều kiện phải có vài yếu tố nổi bật mới phối hợp được.

5. Đại tiểu hạn

Vì diễn biến sự nghiệp của một cá nhân ảnh hưởng mạnh mẽ và trực tiếp đến tình tính cá nhân đó cho nên ta không thể bỏ qua đại tiểu hạn khi tìm hiểu tính tình một người. Thực tế có người đang từ cau có, bẳn gắt khó tính khi nghèo hèn đã trở thành người hiền hoà, dễ dãi, vị tha khi giàu sang, hoặc có những người đang hiền hoà trở thành thủ đoạn, lưu manh chỉ vì hoàn cảnh (tức là đại tiểu han) lôi cuốn đến nỗi phải nằm tù. Lại có người đang từ một “ hạm” loại bự lại có tâm hồn thanh khiết, tìm chốn tu hành, chùa chiền để quy y sau khi một hoàn cảnh đau đớn nào đó làm cho chán nản, sáng suốt, biết chân lý của cuộc sống. Phần này khá dễ dàng nên tôi không nêu khía cạnh tử vi ra.

Trên đây là là những nguyên tắc có tính cách bao quát, rộng rãi uyển chuyển, để giúp quý bạn tìm hiểu tính tình qua tử vi. Lẽ dĩ nhiên, nếu quý bạn “làm biếng” quý bạn có thể nhìn đơn thuần các sao tại Mệnh hoặc Thân mà vẫn tìm hiểu tính tình được, nhưng nếu muốn cho chính xác hơn quý bạn cần phối hợp các yếu tố tôi đã nêu ra.

KHHB B1 – (20/2/1974)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tìm hiểu tính tình qua Tử Vi

Infographic: 8 loại khổ trên đời ít ai tránh khỏi

Khổ là một khái niệm quan trọng của Phật giáo. Khổ là một trong ba tính chất của sự vật và được đúc kết trong câu nhận định Đời là bể khổ.
Infographic: 8 loại khổ trên đời ít ai tránh khỏi

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


► Cùng đọc những câu nói hay về cuộc sống và suy ngẫm

Infographic 8 loai kho tren doi it ai tranh khoi hinh anh
 
Không phải chỉ là những cảm thụ khó chịu mới là Khổ; Khổ dùng để chỉ tất cả mọi hiện tượng vật chất và tâm thức, xuất phát từ Ngũ uẩn, chịu dưới quy luật của sự thay đổi và biến hoại. Như thế tất cả những điều an lạc đang có cũng là khổ vì chúng sẽ hoại diệt, xét theo hình thức sự việc thì có bát khổ.

Infographic 8 loai kho tren doi it ai tranh khoi hinh anh goc
 

Infographic 8 loai kho tren doi it ai tranh khoi hinh anh goc 2
 

Infographic 8 loai kho tren doi it ai tranh khoi hinh anh goc 3
 

Infographic 8 loai kho tren doi it ai tranh khoi hinh anh goc 4
 

Infographic 8 loai kho tren doi it ai tranh khoi hinh anh goc 5
 
Infographic 8 loai kho tren doi it ai tranh khoi hinh anh goc 6
 

Infographic 8 loai kho tren doi it ai tranh khoi hinh anh goc 7
 

Infographic 8 loai kho tren doi it ai tranh khoi hinh anh goc 8
 

Infographic 8 loai kho tren doi it ai tranh khoi hinh anh goc 9
 
Kiếm Phong
 

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Infographic: 8 loại khổ trên đời ít ai tránh khỏi

Nguyên lý luận giải Lá Số

Bài viết của tác giả Long Quang Nguyen trình bày nguyên lý luận giải lá số Tử Vi. Đây là một bài viết rất hay. Mời bạn đọc cùng tham khảo!
Nguyên lý luận giải Lá Số

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tác giả: long nguyen quang – vietlyso.com

Trước tiên ta hãy tìm hiểu những đặc tính cơ bản của môn tử vi. Môn tử vi chắc chắn có nền tảng là thuyết âm dương, ngũ hành, lịch pháp và đặc biệt là Thần sát. Theo tôi Thần sát không phải là những hành tinh đang bay vèo vèo trong vũ trụ, mà xét cho cùng Thần sát cũng là sự kết tinh của nguyên lý Âm dương, Ngũ hành cùng với sự mô phỏng qui luật của tạo hóa theo quan điểm của người xưa. Như vậy môn tử vi dựa trên các nguyên lý âm dương tích hợp (Thần sát ) và các yếu tố âm dương rời rạc theo toạ độ không gian và thời gian để đoán số mệnh. Người giỏi đoán số chính là giỏi phân tích và phán đoán sự kết hợp và tương tác giữa các yếu tố trên.

Điều cần lưu ý là trong một lá số tử vi có rất nhiều bài toán chồng chéo, cần phải phân biệt rõ các bài toán đó để định hướng luận đoán!

Bây giờ tôi xin đi sâu phân tích các cung trên lá số, vì người luận giải tử vi phải hiểu rõ ngọn nguồn hình thành các cung số thì mới rộng đường luận đoán.

1/ Cung Mệnh và cung Thân

Đầu tiên phải đả phá cách nhìn nhận "Nửa đời trước ứng với Mệnh, nửa đời sau ứng với Thân"; "Mệnh tốt không bằng Thân tốt, Thân tốt không bằng Hạn tốt"... Mà chúng ta phải nhìn nhận rằng Mệnh và Thân là một cặp Thể Dụng tương hỗ với nhau. Mệnh và Thân đều phản ảnh suốt cả cuộc đời con người chứ không có sự phân chia vai trò trước sau. Mệnh là thể, Thân là Dụng. Và bài toán Mệnh Thân là Bài toán đầu tiên và cơ bản nhất. Nếu nhìn nhận và giải quyết rõ ràng, kỹ lưỡng thì chúng ta đã nắm được 80% tính chất số mệnh của con người. Có lẽ đầu tiên người sáng chế ra môn tử vi chỉ để làm bài toán này, còn chuyện vận hạn là nhu cầu phát sinh sau đó.

Do vậy khi đoán cung mệnh tức là đoán tổng quát tính chất của đương số, kết hợp cung Thân để coi cái hay của mệnh có được phát huy hay không phát huy như thế nào? Sự cộng hưởng của mệnh Thân như thế nào? Mệnh Thân chọi nhau như thế nào? Dưới quan niệm thể dụng chúng ta sẽ suy luận và tiên đoán nhiều vấn đề trong cuộc đời đương số. 

Điều đáng lưu ý là trên lá số có 6 cung dương và 6 cung âm, Mệnh thân đều hoặc là ở cung dương hoặc là ở cung âm. Đó là môi trường để Mệnh và Thân tương hổ với nhau. Trong 6 cung cùng âm hoặc cùng dương thì chia làm hai nhóm: Nhóm thân cư Mệnh, Tài, Quan và nhóm Thân cư Di, Phúc, Phối (Phu, Thê). Nhóm thứ nhất do nằm trong thế tam hợp, nếu mệnh có đủ những bộ sao như Cơ Nguyệt đồng Lương, Tử phủ vũ Tướng, Sát phá liêm tham, Cự Nhật... thì độ cộng hưởng của mệnh và thân rất cao và đương nhiên là thuận lợi, độ số thành công tăng lên rất cao, đặc biệt Thân cư Mệnh. Khi nói đến thế tam hợp cần phải nói đến bộ Thái tuế, Quan phù, Bạch hổ, nói một cách khoa học thì đây là bộ sao chỉ trạng thái năng lượng cao, gặp tổ hợp sao xấu thì hoạ càng mạnh, gặp tổ hợp sao tốt thì phúc càng nhiều! (vấn đề vòng thài tuế tôi sẽ bàn sau). Còn nhóm thứ hai thì Mệnh Thân không nằm trong thế tam hợp, đó là yếu tố bất lợi trong việc không liên kết được các bộ sao trong thế tam hợp, mệnh Thân thường đóng ở các bộ sao khác nhau, nhiều khi là chọi nhau, như vậy là bất lợi, hoạ nhiều hơn phúc!

2/ Cung Thiên Di

Như đã trình bày ở phần trên Cung mệnh và cung Thân có mối quan hệ thể và Dụng nhưng đây là mối quan hệ nội tại của Mệnh, vẫn còn một Dụng của Mệnh nữa, đó là cung Thiên Di. Thiên Di và Mệnh là mối tương hổ nội ngoại đi kèm với tính chất đối xung của địa chi. Như vậy cung Thiên Di có thể xem là cung Thân thứ hai.

Do vậy cũng nên xoá bỏ quan niệm đơn giản cung Thiên Di là chỉ sự di chuyển! Phải hiểu rằng cung Thiên Di chính là một cung tương hổ với mệnh, ở cung này cũng đem nguyên lý thể Dụng ra xem xét mà định lượng cát hung, lợi hại. Nếu Thân cư Thiên Di thì ý nghĩa chế hoá tương hổ với cung Mệnh càng tăng. Góc độ nội ngoại, chủ khách nên được đặc biệt xét đến đối với cung thiên di.

Mệnh có Chính tinh, bàng tinh sáng sủa cung thiên Di cũng vậy coi như trong ngoài đều đẹp, độ số tốt tăng cao. Mệnh vô chính Diệu, Thiên di sáng sủa chỉ là tốt bậc thứ, vì như vậy là khách lấn chủ, chủ chỉ "có tiếng mà không có miếng", như vậy thà rằng Mệnh sáng sủa tốt đẹp cung thiên di vô chính Diệu thì đương số gặp nhiều may mắn do tự thân có, ngoài xã hội ít người chống đối mà cũng ít người nâng đỡ. Nếu thân cư Thiên di thì người hướng ngoại, ảnh hưởng xã hội nhiều hơn gia đình, điều này phải quyết đoán chắc chắn. Thân cư Mệnh thì ít ảnh hưởng bởi tác động bên ngoài, chủ động về tư tưởng và hành động, nếu mệnh sáng sủa, cát tinh ứng hợp thì địa vị cao thăng, nếu thêm Cô thần, quả tú, trong mệnh nữa thì thường chuyên quyền, chủ quan. Nếu mệnh tối hảm thì trở thành người tự kỷ, thường hay cam chịu nhưng xem ra vẫn có lập trường...

Ngoài ra còn phải để ý đến thế Sao hay nhóm Sao của mệnh và Di để luận đoán. Ví dụ Mệnh có Phá quân + Tuế phá, Di có Tử vi - Thiên Tướng + Thái tuế thế là không thuận rồi, Dụng quá mạnh lấn áp Thể, cuộc đời có nhiều ức chế, khó thành công lớn, nếu làm chính trị thường hay thất bại! Chỉ nên an phận làm công nghệ, doanh thương thì tuỳ vào bàng tinh sáng sủa hay không để luận thành đạt hay thất bại.

Sự việc muôn màu muôn vẽ, nhưng cứ bám theo nguyên lý đối đãi của Thể dụng mà luận đoán thì ít khi sai lệch. Như vậy thì cung Thiên di và cung Thân chính là môi trường của Mệnh, cung Di cũng là tượng trưng cho xã hội, là sự di chuyển... Luận Mệnh,Thân, Di có thể biết tiền đồ của đương số, phùng thời hay thất thời, hoạ hay phúc tìêm ẩn trong đó, chỉ chờ vận hạn thích hợp là xảy ra. Nghiên cứu kỹ Mệnh,Thân, Di là bước cơ bản để định hướng cho luận giải vận hạn của tương lai!

3/ Cung Phúc đức

Nhiều sách thường cho rằng xem số thì đầu tiên phải xem cung phúc đức. Nhiều môn phái rất đề cao cung phúc đức, cho rằng cung phúc đức tốt xấu là độ số gia giảm tốt xấu cho lá số. Việc này đúng hay sai? Chúng ta hãy khoan triết lý sâu xa cái đã! Trước tiên chúng ta hãy giải quyết một vấn đề to bằng cái tủ đứng thường kê vào miệng các bậc cao thủ tử vi! Đó là thứ tự sắp xếp các cung! Đây là vấn đề mà tôi thấy cần phải làm rõ trước khi đi sâu vào luận giải các cung.

Gần đây trong một quyển sách của một học giả tiếng tăm đã cố gắng giải thích thứ tự các cung số bằng qui luật của vòng tràng sinh, theo tôi thì lý thuyết này chưa vững và còn nhiều gượng ép! Trước quyển sách này thì còn một vài quyển của một vài vị tiền bối cũng đã cố gắng giải thích nhưng tôi không muốn nêu ra e rằng gây những cuộc tranh cãi vô bổ! Theo tôi thứ tự các cung số có một cái lý rất hiển nhiên và giản đơn và tôi sẽ trình bày như dưới đây.

Trong lá số tử vi tôi nhận thấy có 3 nhóm người được thể hiện trên các cung số như sau:

  • Mệnh, Phụ mẫu, Phúc đức.
  • Huynh đệ, Phu - Thê, Tử tức.
  • Thiên Di, Nô bộc.

Trong tử vi thì lấy Mệnh làm chuẩn để xét các cung số khác, đó là nguyên tắc thứ nhất. Nguyên tắc thứ hai đó là áp dụng chiều thuận là chiều từ âm sang dương, trong đó mệnh làm ranh giới giữa âm và dương. (Chắc các bạn cũng có cảm nhận tương tự trong phần giải thích về cách an Tiền Kình hậu Đà mà tôi đã trình bày).

Nhóm thứ nhất là nhóm người tiền định ắt phải có trước, do đó đặt phía trước mệnh theo chiều thuận. (Trước đây tôi đã dùng giả thiết khí đi theo chiều nghịch để giải thích sự hình thành các cung từ cung phúc đức nhưng tới bây giờ thấy gượng ép và không nhất quán!) Do vậy nên, đầu tiên phải có Mệnh, tiếp theo là Phụ mẫu những người hiển nhiên phải có trước ta, tiếp theo phụ mẫu là cung phúc đức (ông bà,giòng họ, âm phần ), những người hiển nhiên có trước cha mẹ của ta. Cha mẹ, ông bà là những người mà ta không có quyền lựa chọn, do căn duyên mà ta tự tìm đến, do đó những lực lượng này ứng với phần dương.

Nhóm thứ hai là nhóm người đến sau, một người có thể không có anh em, vợ con cũng được. Những đối tượng do căn duyên giữa họ và ta mà họ tìm đến ta, cũng có thể có, cũng có thể không do đó ứng với phần âm, lần lượt ở phía sau cung mệnh. Một người từ nhỏ lớn lên phải có anh em, sau đó mới lấy vợ, chồng, sau đó mới có con cái. Do vậy sự xếp đặt các đối tượng này theo các cung số như một điều hiển nhiên cơ bản.

Nhóm thứ ba, nhóm này không đi theo qui luật của nhóm thân nhân của đương số, nhóm này tuân theo nguyên tắc nội ngoại, lấy cung Thiên di làm trung tâm. Như đã nói ở trên, cung thiên di chính là hoàn cảnh xã hội, thể hiện các hoạt động con người bên ngoài của đương số. Cung Nô đối cung huynh đệ, đó là anh em, cộng sự bên ngoài xã hội, do đó có lần tôi đã ví huynh đệ như tỷ kiên còn nô bộc như là kiếp tài trong môn tử bình. Còn cung tật ách thì sao? Cung này đối xung với cung phụ mẫu, nếu phụ mẫu là một đối tượng tích cực đối với ta thì Tật ách mang tính tiêu cực, nó không thể hiện là cha mẹ của ta ở ngoài xã hội, mà là thể hiện những yếu tố mà ta phải gánh chịu như một nghiệp quả - những yếu tố tiêu cực! Như vậy chúng ta có thứ tự sắp xếp cho các cung như sau: Lấy mệnh làm chuẩn, tiến về trước 1 cung là cung phụ mẫu, tiến về trước 1 cung nữa là cung phúc đức; Cũng lấy mệnh làm chuẩn, lùi về sau 1 cung là cung huynh đệ, lùi thêm cung nữa là cung phối (Phu Thê), lùi thêm một cung nữa là cung tử tức.

Còn các cung Điền trạch, quan lộc và tài bạch nữa nhưng để dành kỳ sau, bây giờ chúng ta quay lại chủ đề cung Phúc đức.

Ý nghĩa sâu xa của cung Phúc đức là gì? Phúc đức chính là phần âm của mệnh, cung Mệnh chính là phần dương. Cung Phúc đức và Cung Mệnh là một cặp phạm trù âm dương. Trong tướng pháp có phép xem âm chất và dương chất của một con người. Đã có dương tất có âm, âm dương hài hoà tương hổ mới tốt đẹp lâu bền. Đây là quan niệm cơ bản của các môn tướng số, dựa trên thuyết âm dương. Con người chúng ta đang hiển hiện với các hoạt động sống chính là phần dương, như vậy ắt có phần âm tương ứng phối hợp với phần dương thì sự vật mới gọi là sự sống! Vậy phần âm đó chính là cung Phúc đức của mỗi người. Do đó chúng ta cũng không lạ gì khi có người xem số thì xem cung phúc đức trước, cho rằng cung phúc đức ảnh hưởng độ số của lá số cũng không sai, nhưng cho rằng cung phúc đức quyết định sự tốt xấu của lá số là phiến diện và chưa nhận thức rõ bản chất vấn đề, bởi vì cung phúc đức chỉ thể hiện phần âm của mệnh mà thôi!

Như vậy, ngay trên 12 cung số thôi cũng đã có lắm cặp phạm trù, cặp thể dụng, xác định đúng đối tượng để mà so sánh, phân tích thì chúng ta mới hiểu và luận giải lá số trọn vẹn được.

4/ Cung Tài bạch và cung Quan lộc

Từ khi con người hình thành cuộc sống cộng đồng, rồi phát triển thành xã hội thì cái khái niệm Tài và Quan mới len lỏi hình thành theo! sự phân chia giai cấp càng mạnh mẽ thì khái niệm Tài Quan càng trở thành đối tượng rõ nét, là tiêu chuẩn đánh giá địa vị xã hội của con người! Nếu đem tử vi mà chấm cho người nguyên thuỷ thì Tài Quan có nghĩa là gì? Lúc đó người có mệnh Đế vương ắt sẽ làm Tù trưởng của một bộ lạc! Người có cung tài bạch rực rỡ chắc sẽ sở hữu nhiều cái vỏ sò! Còn cung thê Đào hoa mỹ mãn thì sao nhỉ? Lúc đó gặp đâu lấy vợ đó! Chỉ riêng cung Thê thì lúc nào cũng đúng!

Nói chơi vậy thôi! Chứ rõ ràng là môn tử vi lấy cái lý của tạo hoá mà diễn ra cái cuộc sống con người của chúng ta, vậy cái lý đó như thế nào? 

Nằm trong thế tam hợp với cung mệnh,Tài bạch và Quan lộc là hoá thân của cung Mệnh, phản ánh hai khía cạnh lớn của cuộc sống, đó là tinh thần và vật chất. Xét theo chiều thuận, cung quan ở trước cung mệnh ứng với phần dương, cung tài bạch ở sau cung mệnh ứng với phần âm. Phần dương thiên về tinh thần, do đó Phần dương ứng với cung quan lộc, phần âm thiên về vật chất do đó ứng với cung tài bạch.

hihi, chỉ đơn giản vậy thôi! Trở về với bản chất sâu xa của sự việc thì mới thấy mọi hình tướng phức tạp đều do con người tự bày vẽ ra mà thôi!

Người có thân cư tài bạch thì cuộc sống nặng về phần vật chất, thân cư quan thì cuộc sống nặng về tinh thần, sự nghiệp. Lượng định số Sao ở hai cung này, loại Sao gì để đoán định cho chuẩn. Xương Khúc, Tả Hữu, Long Phương, Khoa Quyền... tại cung quan thì cuộc sống thiên về tinh thần, đầu óc thoáng rộng, các sao này lạc vào cung tài bạch thì không hợp cách. Các Sao Lộc đóng ở cung Tài bạch thì đắc cách, tự nhiên giàu có thường thiên về kinh doanh, buôn bán, hay tính chuyện thiệt hơn, nặng về vật chất!Tuần triệt cung quan lộc thì công danh trắc trở, đời sống tinh thần có nhiều phiền muộn, âu lo! Tuần triệt cung tài bạch thì vật chất hao tổn, tài sản không nhiều, phúc về vật chất không có bao nhiêu!

Nắm rõ ý nghĩa các cung số thì quí vị tuỳ nghi rộng đường mà tán lá số cho hay!

5/ Cung Điền Trạch

Theo dòng suy luận sự hình thành các cung, chúng ta thấy Mệnh rồi đến phụ mẫu, tiếp theo là Phúc đức, tiếp theo Phúc đức là Điền trạch. Vậy Điền trạch đóng vai trò gì mà nối tiếp sau cung Phúc đức, nối tiếp ở đây có nghĩa là có trước cả cung Phúc đức?

Xin trả lời: Cung điền trạch chính là quê hương, bản xứ của đương số, là nơi phát tích của giòng họ. Nghĩa thứ hai của nó mới là nhà cửa, điền sản của đương số! Người xưa, nhất là người Tàu họ thường quan trọng đất phát tích của giòng họ, nói đến người nào đó là họ thường nói đến quê quán gốc tích, Họ nào thì thường có Quê hương của Họ đó, trong quyển Bách tính có thể hiện rất rõ điều này. Như vậy sự sắp xếp của cung điền trạch kế tiếp theo cung phúc đức là có ý nghĩa rõ ràng: Quê hương rồi mới đến giòng họ, rồi tiếp theo là cha mẹ của ta, rồi mới đến bản thân ta là cung Mệnh. Đó là một trình tự logic mang đậm tính đạo lý và văn hoá.

Tôi, trong quá trình chấm số nhận thấy người nào có cung Điền trạch bị tuần triệt là không được hưởng điền sản của tổ tiên và phải tha hương lập nghiệp. Nếu cung Thiên di bị Tuần triệt nữa thì ý nghĩa đó càng rõ ràng. Nhưng chuyện tha hương lập nghiệp ngày nay đôi khi lại là vinh dự đấy nhé!

Như vậy là trên đây tôi đã trình bày vài dòng suy luận về sự hình thành các cung trên lá số và các tính chất đặc trưng của một số cung số. Việc bàn rông hơn về ý nghĩa các cung thì quí vị có thể tham khảo ở rất nhiều sách tử vi đã xuất bản.

Tôi trình bày đôi điều về Tử vi là nhằm khơi gợi tư duy về môn học này ở một số bạn có tâm nghiên cứu. Vì như chúng ta đã biết, muốn luận giải đúng số tử vi thì phải hiểu rõ ngọn nguồn của tử vi, phải hiểu vì sao có cung Thân, cung Mệnh vì sao từ tháng sinh tính ngược theo giờ là cung Mệnh mà thuận theo giờ là cung an Thân, Vì sao tiểu hạn năm nào không coi tại cung đó mà nhảy sang cung khác để coi... Phải hiểu cho rõ thì mới linh động mà luận số chứ cứ bắt chước theo sách xưa thì cũng có ngày đoán trật!

Có thể nói rằng lý thuyết về tử vi tôi đã tinh thông và hiểu tận ngọn nguồn! Nhưng tôi chưa trình bày ngay một lúc là vì tôi e rằng đọc giả sẽ có người bội thực! Và tệ hơn nữa là "Thực bất tri kỳ vị", các bạn thử tưởng tượng có một người đầu bếp chuẩn bị những món ăn công phu, hấp dẫn nhưng người ăn chẳng biết ngon hay dở, món nào cũng như món nào, nhiều khi lại chê bai này nọ thì có uổng công người đầu bếp kia không?!

Tôi xin hứa với các bạn yêu thích tử vi tôi sẽ tìm cách trình bày cho các bạn lĩnh hội được môn tử vi dưới nhiều góc độ khác nhau, nếu các bạn thường xuyên theo dõi ắt cũng được một số tuyệt chiêu! Sở dĩ tôi hứa với các bạn là vì tôi yêu thích môn tử vi và do đó tôi cũng yêu mến các bạn- những người nghiên cứu tử vi, thế thôi!

Tuần Triệt

Chủ đề Tuần Triệt mà tôi đã hứa trình bày với các bạn là một chủ đề rất phức tạp, từ xưa đến nay các sách nói đến rất lờ mờ!

Theo tôi Tuần và triệt là hai con Xúc Xắc chơi trò sấp ngửa - đỏ đen với số mệnh của con người, Mệnh có chính tinh sáng sủa gia thêm tuần triệt thế là hỏng! Mệnh chính tinh hảm địa, vô chính diệu đóng thêm tuần triệt thế lại hay! Rồi vận hạn cũng như thế!

Vậy cơ chế của tuần và triệt là gì? Tôi đã có lần viết về chủ đề Tuần và Triệt nếu các bạn đã theo dõi chắc cũng có một vài ý niệm về" Hai con xúc xắc " này. Nhưng Tuần và triệt không đơn giản như một vài sự định nghĩa nôm na trên một số sách! Và tôi càng ngạc nhiên hơn khi thấy có những môn phái tử vi không quan trọng về Tuần Triệt!

Hiện nay có nhiều môn phái ứng dụng Tuần triệt theo những góc độ khác nhau, nổi bật lên đó là hai trường phái: Tuần Triệt cố định và Lưu Tuần Triệt. Tôi dám chắc rằng những người đang sử dụng các phương pháp này vẫn đang lúng túng trong quá trình ứng dụng vì trong thực tế thấy có khi đúng thật đúng, có khi lại sai. Vậy nguyên nhân vì sao?

Do vậy một lần nữa tôi đề nghị chúng ta hãy nắm thật rõ cơ chế của Tuần và Triệt trước khi giải đoán lá số.

Chắc có nhiều bạn thắc mắc tại sao? Tôi phải trình bày lý thuyết xong mới giải đoán số, sở dĩ như vậy là vì tôi nhận thấy rằng môn tử vi tồn tại trong một hoàn cảnh thiếu khoa học!!! Thật vậy, tôi đọc các sách từ trước đến giờ, chằng có sách nào trình bày cho ra trò về lý thuyết tử vi, giỏi lắm thì một vài quyển sách cố gắng giải thích nguồn gốc một số sao theo kiểu "lấy thịt lợn nuôi lợn", gần đây có quyển "Tử vi hoàn toàn khoa học" của Đằng Sơn, mượn lý thuyết của ông Tạ Phồn Trị để giải thích mà cũng chẳng tới đâu! Người mới học tử vi mà đọc quyển này thì "ngơ ngác như con nai vàng đạp trên lá vàng khô"! Những lý thuyết được trình bày trong quyển sách này chỉ là sự gượng ép vào những hiện tượng, chỉ thể hiện những bước cuối của một chuỗi vấn đề mà thiếu hẳn sự suy nguyên ngọn nguồn một cách nghiêm túc. Đã vậy còn luôn mồm kêu gọi mọi người biết ơn cái ông Tạ Phồn Trị xa lạ nào đó!!!

Thử hỏi dựa trên một mớ lý thuyết chưa được chứng minh rõ ràng thế kia thì việc ta đoán đúng một lá số sẽ có mấy phần lý thuyết đúng? Có mấy phần ngộ nhận? Trước đây tôi đoán số cho người ta, nhiều trường hợp thấy rất đúng thì tôi cũng chẳng mừng, có nhiều khi đoán sai thì tôi cũng chẳng buồn, đó là vì tôi thấy môn Tử vi còn thiếu một hệ thống phương pháp luận chuẩn xác nên những cái đúng sai lẫn lộn kia chỉ là những hệ quả tất nhiên! Đã vậy có những người đưa lá số của mình ra như là một câu đố để rồi đánh giá vị thầy nào hay, vị nào dở! Nhưng họ có biết đâu, chính sự thành tâm hợp tác với người đoán số mới là cách làm hay nhất để hiểu biết về số mạng của mình.

Do vậy, trong thời gian gần đây tôi cố gắng nghiên cứu và hệ thống lại lý thuyết môn tử vi. Trên diễn đàn này, tôi muốn trình bày cho các bạn một hệ thống lý thuyết về môn tử vi mà tôi đã nghiên cứu được, những phần lý thuyết này cũng được trích từ bản thảo của quyển sách mà tôi sẽ xuất bản. Tôi mong rằng khi các bạn hiểu rõ lý thuyết và phương pháp luận tử vi một cách chính xác thì chính các bạn sẽ tự chấm lá số của chính mình, chỉ có các bạn mới tự khám phá ra chính bản thân các bạn, không ai khác có thể làm điều đó cho các bạn! Qua đó môn tử vi mới được các bạn trân trọng đúng mức và có một chổ đứng vững chắc trong xã hội như những ngành khoa học khác. Đó là điều mà những người yêu thích môn tử vi như chúng ta cần phải làm!

Xác định vai trò của Mệnh và Cục

Tôi trong quá trình nghiên cứu về tử vi đã nhận thấy rằng trong môn tử vi nếu thiếu phương pháp luận về ngũ hành thì việc luận giải sẽ mất phương hướng, muốn luận ngũ hành thì việc đầu tiên phải xác định vai trò của mệnh và cục.sau đây tôi xin định nghĩa ngắn gọn về mệnh cục

1/ Thế nào là mệnh?

Ví dụ: một người sinh năm Bính tuất có mệnh là hành thổ, có nghĩa là năm Bính tuất có Bính và tuất nạp âm là hành thổ, hành khí này bao trùm suốt cả năm, do đó người sinh trong năm này bị ảnh hưởng bởi khí thổ - mệnh thổ.

2/ Thế nào là cục?

Ví dụ: Người sinh năm Bính tuất đó có lá số là thổ ngũ cục có nghĩa là vị trí mà cung mệnh đóng có nạp âm là hành thổ. Vị trí này được thể hiện là vị trí của tháng canh tí hoặc tháng tân sửu trong năm Bính tuất đó, nếu cũng là người sinh năm Bính tuất đó mà là mộc cục thì do mệnh đóng tại các tháng dần mão, tuất hợi.

Như vậy cách xác định hành khí của cục là cụ thể hơn mệnh, và hành khí của mệnh là bao trùm cục. Ta cũng có thể nói nạp âm của năm sinh là Đại Mệnh và hành của cục là Tiểu mệnh. Lúc này ta thấy rằng hành khí của một con người (theo quan niệm của tử vi) được xác định bởi Mệnh và Cục, nhưng hai vị trí hành khí đó có đặc trưng riêng và không hòa lẫn nhau được. Và điều quan trọng là hành khí của cung mệnh khác hành khí của tháng sinh. Theo tôi người ta có thể so sánh mệnh với tháng sinh để biết được mùa sinh hay không, tháng sinh có khắc mệnh hay không thì được chứ không nên so sánh sinh khắc giữa mệnh và cục vì cục là hành khí có tính chất vi mô, bằng chứng là từ cục ta xác định được các chính tinh, do đó hành khí của cục liên quan đến hành khí của chính tinh thì đúng hơn.

Vì hành khí của mệnh là bao trùm tất cả nên hành khí của mệnh liên quan đến hành khí của các sao là đương nhiên, do đó chúng ta có hai trung tâm điểm về ngũ hành khi luận sự tương tác ngũ hành của các sao, cũng như ảnh hưởng của các sao đến số mạng con người. Hai trung tâm điểm đó là mệnh và cục, độ tương hợp ngũ hành của các Sao với hành của mệnh và Cục là điều rất quan trọng ! Có thể nói nôm na là sự ảnh hưởng của các sao đối với số mạng của đương số giống như một ảnh hưởng thuận nghịch hai chiều, chiều của mệnh và chiều của cục.

Để cho dễ hiểu tôi xin lấy ví dụ: một người Thổ mệnh và Mộc cục, hạn đến các sao hành Thổ đương nhiên là ảnh hưởng đến đương số, khi hạn đến các sao thuộc Mộc, người Thổ mệnh đó có một thời gian ngắn bất ổn sau đó Mộc cục phát huy tác dụng, phản ứng thuận nghịch đổi chiều,các sao mộc vẫn giúp cho đương số thành công. Đây là một trong những trường hợp tôi đã gặp rất nhiều trong thực tế.

Qua những điều trên, tôi có thể nói rằng chuyện cục khắc mệnh không thể gọi là xấu, cục sinh mệnh chưa thể gọi là tốt mà hãy kết luận điều này phối hợp với các sao của mệnh và vận để kết luận. có như vậy mới tránh được những kết luận sai lầm gây ấn tượng xấu cho đương số!

3/ Thêm một kinh nghiệm về Mệnh và Cục

  • Dùng nạp âm của tuổi tức là Hành của mệnh (Đại mệnh) so với Lệnh tháng sinh để biết độ vượng suy của Mệnh. Từ đó so nạp âm của mệnh với nạp âm của các năm hạn, nếu thấy vượng hay suy thì tính chất của vận hạn cũng phức tạp hay đơn giản tương ứng theo. Ví dụ: Mệnh Hỏa, sinh tháng tí thế là Mệnh bị khắc, nếu gặp nạp âm của năm vận là thủy thì Mệnh càng bất lợi, nếu bộ Sao của vận xấu thì độ số xấu càng tăng, nếu gặp Sao tốt thì độ số tốt cũng giảm!
  • Dùng hành của Cục để so với lệnh tháng để biết độ ứng của số có thể hiểu nôm na là độ "ăn số" của lá số. Ví dụ: Hành của Cục bị lệnh tháng khắc thì độ ăn số giảm, có nghĩa là gặp bộ sao tốt mà thấy không tốt bao nhiêu, thấy sao xấu nhưng cũng chẳng xấu bao nhiêu!

Trên đây là các kinh nghiệm mà nhiều khi chấm số thấy hạn của đương số trên lá số tốt quá liền phán là đương số đại phát tài, thăng quan tiến chức nhưng thực tế thì chẳng được bao nhiêu! do đó mà các "Thầy" cũng nên cân nhắc trước khi "phán"!

Vòng Tràng sinh của Cục

Hôm nay tôi xin nối tiếp chủ đề Nguyên lý luận giải Lá số bằng một mục rất quan trọng là Vòng Tràng sinh của Cục. Từ trước đến nay có nhiều trường phái về cách an vòng tràng sinh, chính vì nhiều trường phái thì tranh cãi về vấn đề này cũng nhiều! Xin trình bày vắn tắt một số trường phái đó như sau:

1/ Tràng sinh chỉ khởi từ bốn vị trí Dần, Thân, Tỵ, Hợi Thuận cho Dương nam âm nữ, Nghịch cho âm nam đương nữ.

2/ Tràng sinh khởi từ dần thân tỵ hợi cho dương nam âm nữ và từ tí ngọ mão dậu cho âm nam dương nữ.

3/ Tràng sinh và đế vượng đồng cung cho trường hợp âm nam dương nữ.

Có thể là còn nhiều cách nữa nhưng chốn giang hồ mênh mông nên chưa thể biết hết được! Tuy nhiên theo tôi các cách an tràng sinh trên chưa đúng! Và tôi xin được trình bày cách an vòng tràng sinh mà bản thân tôi đã kiểm chứng nghiệm lý được như sau:

- Vòng tràng sinh cho các Cục đều khởi thuận.

- Mộc cục khởi tràng sinh từ hợi.

- Hỏa cục khởi tràng sinh từ Dần.

- Kim cục khởi tràng sinh từ tỵ.

- Thủy cục khởi tràng sinh từ Thân.

- Riêng Thổ cục không nên xét theo quan điểm một vòng tràng sinh liên tục mà chỉ xét độ vượng suy: Vượng tại tỵ ngọ, Tướng tại Thìn tuất sửu mùi, Hưu tại thân dậu, Tù tại Hợi tí, Tuyệt tại dần mão.

Sở dĩ vòng tràng sinh an theo chiều thuận là do hành khí của các Cục là hành khí nạp âm, mà hành khí nạp âm là do tổ hợp số của 4 yếu tố can chi đứng cạnh nhau cấu thành, từ số quí về hành khí, đây là loại hành khí phức tạp khi đã nhìn rõ bản chất của loại hành khí nạp âm thì không có chuyện phân âm dương cho hành khí, cụ thể là hành khí của cục số, chính vì khí nạp âm là một loại khí không thuần nên Vòng tràng sinh của hành khí đặt nặng điểm Sinh, còn mười một vị trí còn lại cứ tự nhiên nối tiếp nhau. An vòng tràng sinh như thế này rất rõ ràng, đơn thuần là xét vị trí vượng hoặc suy của ngũ hành Cục từ đó đánh giá độ số của lá số. Đây cũng là dấu hiệu sử dụng ngũ hành trong tử vi rõ ràng nhất. Tuân thủ đúng nguyên tắc vượng suy của ngũ hành chúng ta sẽ dễ dàng đánh giá sự suy vượng của mệnh và vận đồng thời cũng có phương hướng rõ ràng cho việc Lưu Cục hàng năm khi tính tiểu hạn.

Vòng tràng sinh ứng với mười hai cung số là nguyên tắc cơ bản của môn tử vi. Chỉ cần đánh giá vị trí cung mệnh đóng nằm ở vị trí nào của vòng tràng sinh và độ vượng suy hành khí của nạp âm tuổi với tháng sinh là đủ đánh giá tổng quát cuộc đời của một con người thuộc cấp bậc nào. Do vậy nhìn nhận đúng đắn về vòng tràng sinh là một điều cơ bản quan trọng của người nghiên cứu tử vi!

Đối với những người nghiên cứu tử vi chuyên nghiệp thì bước đầu tiên để luận giải lá số là phán đoán và định hướng lá số này có những tính chất gì phú, quí thọ hay bần hèn yểu...Tìm yếu tố mầm mống trong mệnh thân là những yếu tố nào, điều kiện nào sẽ trở thành hiện thực giống như đã có nhân thì cần phải có duyên rồi mới có quả được. Muốn phán đoán được thì phải tổng quan các cường cung, định tính, định lượng các Sao... Đó là phương pháp chính thống.

Nay tôi xin cung cấp cho các bạn một phép coi ngắn gọn, có thể trả lời sau 5 phút kể từ lúc nhận được thông tin ngày giờ sinh của đương số mà vẫn đảm bảo độ chính xác khả dụng.

1/ Ngựa chạy về đâu?

Thiên mã trong mệnh tượng trưng cho cái động của con người, động mà có lợi thì có thể đoán là tốt, công việc hanh thông. Động mà bất lợi thì...dĩ nhiên là thất bại, cuộc đời thua thiệt, sự nghiệp ắt có lúc ách tắc.

Thiên mã nghĩa đen là xe cộ, "you are what you drive", đoán xe cộ sang hèn cũng nói lên chuyện giàu nghèo, sang trọng.

Thiên mã gặp hung họa thì đời có tai biến, nghĩa đen gặp nạn giao thông...

Con ngựa lợi hại lắm đó! Coi số là phải tìm con ngựa ngay.

Thiên mã gặp Hóa lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, Hóa kỵ là dễ thấy nhất. Cứ trên lá số, lưu đại vận, tiểu vận thấy Mã có lợi là chuyện vui đang tới còn Mã gặp hóa kỵ là chuẩn bị mất việc, thất bại rất rõ ràng.

Cái chiêu này là tuyệt chiêu chuyên trị xem vận hạn từng năm. Nếu ai luyện kỹ thì mới thấy hết cái diệu dụng.

Sau khi đã xem ngựa hay dỡ thế nào rồi thì tiếp tục xác định đó thực sự là ngựa của ai?

Xét tổng quan, ngựa nằm bất cứ đâu trong 12 cung số thì rồi cũng có lúc mình phi ngựa thôi, đó là tới vận mượn ngựa mà chạy. Nhưng Ngựa nằm ở Mệnh Thân, Tài. Quan, Di mới là ngựa thật sự của mình.

- Ngựa ở Mệnh và Di là ngựa chạy mạnh nhất.

- Cung Quan, Tài, cung Thân có ngựa thì tính chất di chuyển yếu đi và cần phải phụ luận thêm cung Mệnh như thế nào. Tuy nhiên các cung này có Mã thì luôn thể hiện sự tài năng, sự sinh động theo ý nghĩa từng cung.

Ví dụ:

- Mã ở cung Tài thì tiền bạc lưu chuyển tốt, nói lên sự buôn bán.

- Mã ở cung Quan, công việc có tính cách lưu động, thuyên chuyển tùy sự phối hợp các Sao để đoán.

Đó là xem lá số tĩnh. Cần phải xem lá số động, tức là theo dõi đại vận và tiểu vận với Lưu Thiên mã tương ứng.

- Lưu vận, có Thiên mã gặp Thái dương là "ngựa về với chủ" tức gặp được người đở đầu, bậc đàn anh, về làm việc phò tá cho người đó.

- Lưu Thiên mã đại vận còn thấy được bóng dáng sự biến chuyển của cả đại vận.

Ví dụ: Đại vận tới cung Dần, Lưu Thiên mã đại vận tại cung Thân gặp Tả phù, Hữu Bật chiếu thì đại vận đó được quí nhân giúp đỡ, có bạn hiền phò trợ.

Ví dụ: Thiên mã gặp Thanh long là có cơ chuyển biến cuộc đời, "Ngựa mọc cánh"...

- Thiên mã gặp Hóa Kỵ mới là "ngựa cùng đường" chứ không phải là Mã ở cung Hợi đâu!

Điều quan trọng, nếu ngựa là của mình như đã nói trên thì sự chuyển biến sẽ rất mạnh mẽ và thực sự tác động đến cuộc đời đương số. Nếu các bộ cách của Thiên mã liên quan đến lục thân thì lục thân có biến chuyển. Do vậy việc phân tích Mã của ai rất quan trọng trong luận đoán. Đoán có chính xác hay không cũng tùy vào đó.

Như các phần trên đã nói về Thiên mã, phần động của lá số. Bây giờ nói đến phần tĩnh của lá số. Chú ý đây là phép phán đoán nhanh, chứ phần động và phần tĩnh của lá số không chỉ có vậy.

Sao Thái tuế chính là phần tĩnh của lá số. Thái tuế ví như Hoàng đế, phải yên vị mới tốt, Thái tuế đi với cách cục đầy đủ, vững vàng thì tốt vô cùng, còn Thái tuế gặp cách cục lỏng chỏng, hắc hảm thì báo hiệu vua lưu vong, triều đình tan nát, kết cuộc là bản thân của người có lá số đó bị vạ lây: Nếu mệnh cung sáng sủa thì độ số tốt cũng giảm, nếu mệnh cung xấu thì cầm chắc cuộc đời điêu linh!

Ví du 1: Thái tuế đóng tai ngọ, mệnh cũng đóng tại ngọ có Tử vi miếu địa thủ chiếu. Tử vi tại ngọ là chính vị sáng sủa, Thái tuế đóng tại đấy thì Thái tuế đắc chính vị, độ số may mắn của lá số lớn vô cùng! Ví dụ lá số của Lưu Bang tuổi giáp ngọ hoặc một lá số thực tế cũng tuổi giáp ngọ và Tử vi tai ngọ mà tôi biết, người nay ít học, tuổi trẻ gian khổ nhưng tay trắng lập nghiệp, hiên nay rất giàu có, là một tay chơi đồ cổ có số má...

Tính thêm thì thấy tuổi ngọ Thiên mã ở cung Thân gặp Hóa quyền, là ngựa oai phong quyền hành cho nên năng nổ tháo vát và có uy thế.

Ví dụ 2: Lá số của vua Quang Trung, tuổi nhâm thân, Thất sát tại cung thân thủ mệnh. Thiên mã tại cung di gặp Tử vi Hóa quyền nên công danh và địa vị cái thế!

Chính vì vậy xem qua lá số, coi phần tĩnh phải tĩnh, phần động phải động, cách cục sáng sủa là lá số may mắn, gặp thời, có đất dụng võ. Nếu ngược lại thì cầm chắc gian nan, trở ngại!

Đúng là Phần Tĩnh là cung Mệnh, phần Động là cung Di. Nhưng không chỉ có thế, trong là số còn nhiều yếu tố nói lên điều đó, ví dụ như Thái tuế là phầ tĩnh, Thiên mã là phần động. Nhưng tôi đang nói đến vấn đề phán đoán nhanh lá số nên đang bàn về Thiên mã và Thái tuế thôi.

Thiên mã trong mệnh là nói lên tính chất năng động của Mệnh, ở môi trường nào cũng năng động, dĩ nhiên bao gồm ý nghĩa đi xa.

Thiên mã cung di nói lên tính chất giao tiếp, đi ra bên ngoài, sự đi xa,..nhưng chưa chắc là người hoạt bát năng động!

Nên nhớ cung mệnh là gốc nói lên những thuộc tính của bản thân còn các cung còn lại là những nhân duyên của Mệnh mà thôi!

Một trao đổi ngắn với KhiemVan

Chào bạn Khiem Van thân mến!

Rất cảm ơn bạn vì những nhận xét tinh tế của bạn! Sau đây xin trích dẫn và trả lời những vấn đề bạn nêu ra.

1, Tôi thấy từ một số luận đoán thời gian gần đây của anh em (kể cả vụ Tuần châu) thì Tử vi thời hậu công nghiệp này có lẽ đi quá xa sách vở căn bản.

Cũng tại vì sách vở xưa không bày ra hết, nên người hậu học cứ phải suy luận hoài, nhiều khi luận không ra đành biến thành biết bao chiêu mới.

Ví dụ luôn: Nhiều bạn nghiên cứu sâu vào từng sao nhỏ, phụ tinh càng làm phong phú thêm; nhưng đồng thời lại trệch luôn, thành ra nâng tầm các sao này lên làm "chính", không lý giải sao người này làm vua, người kia làm tướng bằng các sao chính... lại đi tìm câu trả lời trong sao nhỏ.

Hay là sự gán gượng theo trường phái Thiên Lương, cái gì cũng áp vòng này vòng kia, để tìm cho được có "được ưu đãi", có "giấc mộng hoàng lương không"...

Cụ TL áp nhân sinh quan sinh động vào TV nhưng vận dụng ở đâu lại là một lẽ khác.

Quả là tử vi thời hậu công nghiệp này biến hóa đủ thứ mà chẳng ra sao cả! Ngay cả thứ tử vi "nâng bi" các sao nhỏ như: Thiên trù, Thiên tài, Thiên thọ, Lưu Hà, Kiếp sát, Đào hoa, Hồng Loan... thành những Siêu Sao mang đầy triết lý hơn Chính tinh thì tôi đã không chấp nhận từ lâu!

Tôi chính là một tay chế biến đủ thứ chiêu thức trong tử vi, tôi đã chế ra tới 14 cách tinh tiểu hạn và nguyệt hạn! Ngay cả vụ bà Tuần châu tôi cũng đã ứng dụng một trong 14 cách mà kết quả cũng chẳng ra sao! Nhưng cuối cùng tôi đã quay về với những kiến thức cơ bản, nhờ cuộc hành trình biến hóa va chạm đủ thứ thì lần quay về của tôi lại với một góc nhìn khác, cái nhìn đã ngộ ra nhiều điều mà sách vở chưa từng nói hoặc là đã bị dấu nghề bời các tiền bối! qua đó tôi thấy rằng, việc chế ra chiêu thức này nọ là một điều rất bổ ích và thể hiện đẳng cấp tử vi vì mỗi lần sáng chế như vậy chính là một lần chuyển mình để nhìn nhận tử vi theo nhiều góc độ, có khi nhìn sai nhưng cũng có khi phát hiện ra cái mới, chính những cái mới đó mới làm chúng ta tiến bộ trong học thuật! Và những cái sai mà cuối cùng ta phát hiện ra là ta sai lại khẳng định những kiến thức đã có để chúng ta tự tin mà phán đoán những lá số khác!

Vậy thì những cái sai hay còn gọi những thứ sáng chế không ra sao đó cũng là một thứ có ích, một thứ tất yếu phải có trong quá trình phát triển tư duy học thuật như một con sâu lột bỏ cái xác cũ để hóa thành bướm! Và những cái mới đó là đúng đắn đã được nghiệm lý kỹ càng sẽ được đưa vào sách vở cho hậu thế nghiên cứu! Chẳng hạn bây giờ tôi đã chắt lọc ra được một chiếu thức tính vận hạn rất xuất sắc, nhờ nó mà tôi đã kiểm chứng được rất nhiều dữ kiện của nhiều lá số mà chỉ bằng những kiến thức trong sách vở chúng ta không thể thấy được!

2, Nghiên cứu văn hóa Phương Đông, cần sự suy ngẫm cả lý luận và thực tế có bề dày; hãy khoan viết sách trước 40s.

Bạn hãy đi hỏi hàng trăm nông dân, thợ cày, ông đạp xích lô, bác vá xe lá số của họ...

để tìm hiểu xem Cũng từng ấy sao chính phụ, từng ấy cung, lá số của họ như thế nào. Cung tài quan của họ ra sao, chính tinh phụ tinh (Tam hóa, XK, KV, TP, vòng Thái Tuế, vòng Lộc tồn... ) của họ ở đâu? Nứơc VN, đa phần là nông dân, nghèo, và không chức vị, học hành.

Giải thích cùng một lá số lại sướng khổ khác nhau, chúng ta thường giải thích sự khác nhau về điều kiện sinh sống. Nhưng cụ thể như thế nào. Sao có người vẫn sinh ra ở vùng nghèo khó và lên đô thị học và phát triển, sao người khác cùng quê lại không? Cả một trường học, cả một làng quê nghèo thì số như thế nào?

Bạn hãy dùng cả phương pháp thông kê, và phỏng vấn cho nghiên cứu của mình... Chỉ nhớ tránh đừng hỏi cô nông dân là số cô có phải Vua đang đi ra ngoài cung/ vua của cô gặp cướp/ gặp tướng hay không, thôi.

Một vài lời nếu không phải xem như tôi chưa nói gì.

Đến giờ phút này tôi dám nói rằng tử vi là một khoa học nghiên cứu về con người hoàn chỉnh nhất, nó tự mang trong mình cả môn Triết học,tâm lý học, Nhân tướng học, xã hội học, thời sinh học, văn học...Chứ không phải đơn giản là một môn Dự đoán học đâu! Nói như vậy để nói rằng Tử vi dư sức phân biệt được những con người có lá số khác nhau và những lá số có ngày giờ sinh giống nhau, thậm chí trường hợp sinh đôi cùng trứng!

Có nhiều người hay lấy trường hợp sinh đôi cùng trứng để bắt bẻ văn vẹo môn tử vi nhưng tôi thấy tội nghiệp cho họ vì họ không hiểu được vấn đề mà họ đặt ra, tôi xin trả lời vấn đề này như sau:

- Cùng một ngày giờ sinh thì trên một đất nước có cả trăm ngàn người cùng sinh ra, vậy vai trò của tử vi là gì? Tử vi chính là Thiên cơ, người nào sinh vào thời điểm nào tức là gia nhập vào chu trình biến hóa âm dương ngũ hành vào thời điểm đó. Nhưng mỗi con người có những đặc trưng riêng: Về cấu tạo di truyền, kiểu gen, về vận khí của ông bà cha mẹ, anh em, vợ con, vận khí và phong thủy của địa phương... Mỗi con người mang cái vốn liếng khác nhau đó tương tác với thiên cơ thì dĩ nhiện vận khí của họ cũng khác nhau chứ? Ngay cả trường hợp sinh đôi cùng trứng thì quá trình phát triển của tế bào trên hai cơ thể sinh đôi này cũng đâu có giống nhau, mà chu trình phát tiển tế bào khác nhau này dẫn đến hai cơ thể đâu có giống nhau mặc dầu nhìn bằng mắt thường vẫn thấy giống nhau! Ở đây chưa nói đến chuyện Linh hồn khác nhau vì e rằng phải chứng minh thêm chuyện tồn tại của linh hồn! Thế thì hai cơ thể khác nhau thì làm sao có số phận giông nhau, nhưng những điểm giống nhau của hai cơ thể sinh đôi này cũng đưa đến những số phận tương tự nhau! Ví dụ thực tế: Tại thời điểm này có hai anh em sinh đôi người Ba lan một người làm tổng thống còn người kia làm thủ tướng, như vậy thì tử vi cũng phản ánh đúng thực tế đấy chứ!?

Vài dòng chia sẻ!


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Nguyên lý luận giải Lá Số

Nhận định về nghề nghiệp qua Tử Vi: nhà giáo đại học, nhà giáo trung học, ...

Bài viết của tác giả Phong Nguyên nhận định về nghề nhà giáo, nhà giáo dục trung học, ... Đây là bài nghiên cứu rất hay!
Nhận định về nghề nghiệp qua Tử Vi: nhà giáo đại học, nhà giáo trung học, ...

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Bài viết của tác giả Phong Nguyên

3) KHUYNH HƯỚNG GIÁO CHỨC

Thông thường coi lá số của những người đã ở trong ngành giáo chức rồi tôi không bao giờ thấy thiếu sao Thiên Tướng, Thiên Lương hay Nhật, Nguyệt (bất luận cách nào Nhật Nguyệt đồng cung Sửu, Mùi, Nhật Nguyệt chiếu hư không, chiếu bích…) hội Tả, Hữu chiếu về Mệnh, Thân, Tài, Quan. Lẽ tất nhiên còn phải thêm nhiều yếu tố khác và các sao phụ thêm vào mới có thể quyết đoán nổi, vì thiếu gì người có những sao nêu trên mà không ở trong ngành giáo chức. Những sao phụ cần thêm là Tấu Thư chủ về viết lách, sách vở, sao Tang - Hổ chủ về nghiên cứu, điềm đạm, sao Quang Quý chủ về ăn nói (nếu thêm Long Phượng lại càng lưu loát thêm, còn sao Tuế Cái hội Khốc Hư, Cự Môn là những sao chủ về tài hùng biện nhưng thường liên quan đến nghề Luật sư, thẩm phán nên không phải là yếu tố cần cho nghề giáo chức), các sao Xương, Khúc, Khôi, Việt, Hoá Khoa chủ về bằng sắc, văn hoá, thanh cao, có lý tưởng, có lập trường cao quý mà ngành mô phạm chân chính cần phải có. Ngoài ra lại còn phải chú ý đến cung Nô xem có sự ứng hợp không.

Trên đây là những tiêu chuẩn tổng quát để luận đoán khuynh hướng giáo chức, như vậy nếu muốn đi sâu thêm về chi tiết để tìm thêm xem thuộc về hàng giáo sư đại học hay trung học hay giáo viên tiểu học…quý bạn cần phải tập xem nhiều lá số của những người làm trong ngành đó rồi thì mới có thể biết chính xác sau khi cân nhắc kỹ lưỡng các bộ sao, ngũ hành sinh khắc…Trong bài này tôi thấy khó có thể đưa ra được tiêu chuẩn nào (dù rất sơ đẳng) vì rất dễ đưa quý bạn đến sai lầm nặng nề, tuy nhiên tôi cũng xin cố gắng đưa ra dưới đây một số trường hợp điển hình mà tôi đã gặp để quý bạn suy luận qua những trường hợp tương tự hoặc để quý bạn căn cứ vào đó mà tìm ra tiêu chuẩn cho mình.

Lá số của Giáo sư Đại học: Khỏi cần phải nói, trên thực tế một người đã là giáo sư Đại học thì văn hoá phải cao nhất rồi, không nói đến tư cách hay địa vị của người đó trong xã hội. Do đó về phương diện Tử vi nhất định ta phải chú trọng đến những cách chủ về văn hoá siêu đẳng. Tôi có dịp được xem khoảng 10 lá số của giáo sư Đại học và nhận thấy bao giờ các cách hội về Mệnh, Thân, Tài, Quan đều rất hợp với hành của Mệnh, ngoài các sao chủ về văn học (nhất là không mấy khi thiếu Khôi, Việt là những sao không những chủ về văn hoá mà còn chủ về lý tưởng cao siêu, tư cách trọng hậu mô phạm, còn Xương Khúc chỉ chủ nghĩa về văn chương, chữ nghĩa đơn thuần mà thôi) mà tôi đã nêu tổng quát ở trên.

Ngoài ra, cần phải chú ý một điểm không kém quan trọng là giáo sư Đại học bao giờ cũng chuyên hẳn về một khoa trong khi giáo sư Trung học vấn đề chuyên môn không được tuyệt đối vì ta thường thấy ở trường Trung học một giáo sư nhiều khi phải dạy nhiều môn. Do đó, về Tử vi ta cũng phải chú trọng những sao tạm gọi là chuyên môn, tỷ dụ như Hình, Riêu, Y hội Kình, Hỉ, Khoa, Quyền, Lộc…thì phải chủ về Y khoa, nếu thêm Long, Phượng, Thái Tuế, Vũ Khúc …thì chuyên về Dược Khoa (như tôi đã trình bày trong các bài trước trên KHHB). Còn những ngành khác xin các bạn xem ở mục bàn về Kỹ sư mà tôi sẽ nêu ra sau.

Lá số của một giáo sư Đại học lại cần phải có cung Nô thật tốt, vì tất cả các sinh viên đại học đâu phải là thấp kém. Nếu nói như thế nhiều người có thể cho là mâu thuẫn vì khi các sao tốt tập trung về Mệnh, Thân, Tài, Quan rồi thì làm sao cung Nô còn có các sao tốt được. Thực ra hồi mới nghiên cứu Tử vi tôi cũng thắc mắc như vậy, nhưng nay tôi có thể trả lời được rằng đâu phải cứ có sao tốt là quyết đoán ngày là tốt được, còn phải phụ thuộc vào ngũ hành sinh khắc, chế hoá và cách bố cục các sao đâu có phải cứ toạ thủ ngay trong cung Mệnh, Tài, Quan, Thân mới bảo là thuộc về của mình. Tôi nghiệm thấy thường thường bản mạng của một giáo sư hay sinh viên cung Nô hoặc các chính tinh toạ thủ tại cung Nô, vì có như vậy học trò mới có thể hấp thụ những điều giảng dạy của thầy (thí dụ mệnh thuộc Mộc mà cung Nô thuộc Hoả hoặc có các sao thuộc Hoả, nếu không được tương sinh thì phải được tương hoà thì mới ứng nghiệm). Còn về bố cục các sao, tôi xin nêu ra một ví dụ đơn sơ là Mệnh giáp Nhật, Nguyệt, Long, Phượng, Tả, Hữu (tạm cho là Mệnh ở Sửu, cung Nô ở Ngọ) như vậy có phải rằng các sao này đồng thời ảnh hưởng đến Mệnh lại chiếu về cung Nô (tam hợp). Trường hợp này Mệnh được ăn các sao nhiều hơn cung Nô nên không ngại vấn đề cung Nô tốt hơn cung Mệnh như tôi đã bàn trong bài « Thử tìm hiểu về cung Nô Bộc ». Xem như vậy, muốn có được một lá số giáo sư đại học đâu phải là dễ vì nó cần có quá nhiều yếu tố kết hợp chặt chẽ với nhau một cách hiếm có.

Lẽ tất nhiên cũng có những lá số không đủ các yếu tố như trên mà vẫn làm giáo sư đại học, nhưng theo kinh nghiệm thường là giảng viên đại học mà thôi. Rất tiếc tôi chưa được coi lá số nào của một vị giảng viên đại học để chiêm nghiệm một cách cụ thể, vì tôi chỉ được nghe các vị rành tử vi kể lại mà thôi.

Lá số giáo sư Trung học: Đối với một giáo sư trung học tuy không phải có văn hoá kém nhưng không cần phải tột đỉnh, do đó tôi nghiệm thấy vấn đề ngũ hành giữa các cách, các bộ sao và bản mạng không đáng ngại nữa mà chỉ cần hội nhiều sao văn học như Xương, Khúc, Hoá Khoa, Cáo, Phụ, Khôi, Việt (đôi khi không có Khôi, Việt cũng vẫn được), ngoài các sao then chốt đã nêu chung ở trên. Lẽ dĩ nhiên, nếu được sự tương hợp về ngũ hành thì sẽ là giáo sư Trung học cừ khôi (nhưng nếu cung Nô tốt như giáo sư đại học thì lại trở thành giáo sư đại học rồi!) hoặc ít bị thăng trầm, vất vả trong nghề của mình.

Đối với cung Nô trong trường hợp này chỉ cần tránh được các sao Không, Kiếp, Hoả, Linh, Kình, Đà…là những sao không « trí thức » mấy (nếu không có các sao khác chế hoá hoặc dùng được các sao này thành lĩnh vực khác) là đủ, không cần phải có nhiều sao văn hoá chiếu vì học sinh trung học chưa thể gọi là có văn hoá cao, nhất là trong xã hội hiện giờ. Tôi nghiệm thấy cung Nô của giáo sư trung học hay có cách Cơ Nguyệt Đồng Lương (Đồng Âm hay Cơ Âm toạ thủ đồng cung ở cung Nô càng ứng) hoặc Phủ Tướng triều viên…Phải chăng những người xuất thân bậc trung học chỉ làm công tư chức, hoặc buôn bán mà thôi.

Lá số của giáo viên Tiểu học: Tiêu chuẩn cần thiết cho giáo viên tiểu học về phương diện tử vi tương đối đơn giản vì không cần phải có nhiều yếu tố phối hợp. Tôi đã được xem rất nhiều lá số của các giáo viên tiểu học thì thấy rằng nhiều chỉ có Thiên Tướng hội Tả, Hữu chiếu Quan lộc với cung Nô có Đồng Âm, hoặc chỉ có Nhật Nguyệt đắc địa (như Nhật ở Mão, Nguyệt ở Hợi) hội với Tả, Hữu với cung Nô có Tướng Vũ chiếu về mà cũng làm giáo viên, nghĩa là thiếu hết các văn tinh (Xương, Khúc, Khôi, Việt, Hoá Khoa, Cáo, Phụ…) Tuy nhiên, một điều cần lưu ý là các sao phải tương hợp với bản mạng, nếu bị khắc thì rất khó làm nghề « gõ đầu trẻ ». Vì phần này đơn giản không có nhiều chi tiết nên tạm chấm dứt nơi đây.

Đến đây tôi xin nói thêm chung cho mục giáo chức là thường thường chỉ nên chú trọng các sao chiếu vào Mênh, Thân, Tài, Quan chứ không cần cân nhắc cung Thiên Di có những sao gì mặc dầu Thiên Di xung chiếu về Mệnh rất quan trọng, chỉ trừ trường hợp Mệnh Vô chính diệu (với điều kiện mạng của mình hợp với các chính tinh xung chiếu), vì cung Thiên di chủ về giới mình giao thiệp ngoài xã hội cho nên không phải là thuộc về mình vẫn biết rằng mình có thể tìm hiểu một người qua những người liên hệ tới người đó trong việc giao thiệp. Nhưng ta vẫn thường thấy có những người chỉ giao thiệp với giáo chức (khi cung Thiên di hội các sao về giáo chức) mà vẫn hành nghề khác hẳn.

Ngoài ra, ngay trong vấn đề các sao chiếu Mệnh, Thân, Tài, Quan cũng cần phân biệt khái quát những dị biệt sau:

- Nếu các sao tập trung hay toạ thủ ngay tại Mệnh thường có nghĩa là mình có khả năng, khuynh hướng về ngành đó, còn việc thực hành hay hành nghề theo khả năng của mình được hay không còn tuỳ thuộc có môi trường hay không (tức là tuỳ theo Đại hạn, tuỳ theo cung Quan Lộc, Tài bạch).

- Nếu các sao dồn về cung Quan nhiều hơn cung Mệnh (nhất là có Thân đồng tại Quan) thì gần như chắc chắn mình phải theo con đường đúng của mình, cùng nữa thì chỉ bị thăng trầm, nếu đại hạn không đều chứ ít khi xoay sang ngành khác. Tôi đã nghiệm được nhiều người suốt đời chỉ làm giáo chức vì có trường hợp này, và những người tốt nghiệp Sư phạm cũng hay có cách trên.

- Nếu cung Tài bạch tập trung các sao giáo chức thì thường thường hay có tính cách thương mại, nhất thời (nếu có Thân cư Tài thì lâu bền). Đa số những người này dùng ngành dạy học để hốt bạc hay có cách này lắm.

- Còn trường hợp các sao tập trung vào Thân (ở các cung khác như Thiên Di, Phúc Đức, Thê, Thiếp chẳng hạn) thì thường người đó phá ngang ra đi làm hoặc hành nghề nào đó, rồi cố gắng học hành lấy bằng cấp sau chuyển ra ngành giáo chức.

Tôi xin ngừng bài này nơi đây và rât tiếc chưa thể bàn thêm các cách khác (như kỹ sư, kiến trúc sư) vì tôi nghĩ rằng khuôn khổ tờ báo không cho phép đăng quá dài. Xin hẹn gặp lại quý bạn trong bài sau, cũng dưới đề: «Nhận định nghề nghiệp qua Tử Vi».

Tuy bài này chưa kết thúc nhưng tôi cần tâm sự với quý bạn đôi lời: đáng lẽ tôi đã ngưng các bài viết về Tử vi vì cảm thầy mình còn yếu kém về khoa này mà đã dám lên mặt, nhưng nhiều bạn tôi cứ khuyến khích làm tôi khó nghĩ. Kể ra sự e dè của tôi cũng hợp lý vì tôi thấy nhiều vị rất lỗi lạc về Tử vi, nhất là những vị ẩn danh, cho nên tôi cảm thất trơ trẽn mỗi khi đặt bút viết những bài « Tạp ghi về khoa Tử vi », mặc dù các bài của chỉ nhằm giúp ích phần nào các bạn mới tìm hiểu Tử vi chứ không hề có cao vọng đưa ra những điều gì độc đáo, mới lạ hoặc có tính cách trịch thượng đối với những bậc đàn anh. Do đó, nếu quý bạn muốn biết những điều vi diệu, cao siêu xin mời các vị cao thâm cống hiến. Tuy nhiên chúng ta đều nhận thấy các vị này hình như muốn giấu các bí truyền hoặc vì quá giỏi thành ra khiêm nhường cho nên chưa thấy các vị ấy truyền lại cho giới Tử vi được điều gì. Đó là một điều đáng tiếc, nhưng tôi thiết tha mong mỏi các ẩn sư đó hãy thương những người đang có thiện chí phát huy khoa Tử vi mà hướng dẫn họ đừng để họ như những « người mù sờ voi ». Tôi không chê các vị đã và đang viết Tử vi, nhưng thiết nghĩ các vị này cũng chưa phải là chân truyền (ngay như cụ Hoàng Hạc được tôn sùng về Tử vi như thế vẫn không cho là mình giỏi về khoa này).

Vì những lý do nêu trên, tôi mong quý bạn đừng kết án tôi là liều lĩnh và xin quý bạn đang tìm hiểu về Tử vi hãy dùng tạm « mấy món ăn chơi » trong khi chờ đợi các món « sơn hào hải vị » không phải do tôi nấu. Mong quý bạn luôn giữ được quan niệm như vậy đối với những bài kế tiếp của tôi, có như thế tôi mới có đủ can đảm tiếp tục mục này.

KHHB 73 A2 (Ngày 11/1/1973)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Nhận định về nghề nghiệp qua Tử Vi: nhà giáo đại học, nhà giáo trung học,...

Lee Jong Suk "hợp" với Han Hyo Joo hay Park Shin Hye

Sau bộ phim Pinocchio, Lee Jong Suk không chỉ ghi điểm nhiều hơn trong mắt người hâm mộ mà còn có thêm cô
Lee Jong Suk "hợp" với Han Hyo Joo hay Park Shin Hye

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Sau khoảng thời gian bộ phim Pinocchio đươc trình chiếu từ năm 2014, Lee Jong Suk không chỉ ghi điểm nhiều hơn trong mắt người hâm mộ mà còn có thêm cô "bạn gái tin đồn" Park Shin Hye.


► Cùng bói tình yêu theo cung hoàng đạo để biết hai bạn có hợp nhau không
  Năm 2016, anh chàng tiếp tục gây sốt với Hai Thế Giới (W) trong đúng tháng sinh của mình với mối duyên cùng người đẹp quốc dân Han Hyo Joo. Các 'fan' của W có vẻ rất nóng lòng muốn 'ship' ngay anh chàng với người đẹp này, tuy nhiên, vẫn còn các 'fan' trung thành của Pinocchio vương vấn và vẫn quyết tâm bảo vệ cặp đôi Lee Jong Suk - Park Shin Hye.

 

Lee Jong Suk - Park Shin Hye: Mối duyên lạ lùng giữa Bảo Bình và Xử Nữ


Lee Jong Suk hop voi Han Hyo Joo hay Park Shin Hye hinh anh
Với Park Shin Hye
Bảo Bình và Xử Nữ không có mấy điểm tương đồng, sống trong hai thế giới hoàn toàn tách biệt nhưng lại có sự tương tác kích thích, hấp dẫn lẫn nhau, cặp đôi này một khi đã tiếp xúc với nhau sẽ dễ gây tò mò cho cả hai bên và khó có thể rời mắt khỏi đối phương.
 
Sự hoàn hảo không tì vết của Xử Nữ sẽ đẩy độ tò mò của Bảo Bình lên tột độ vì Bảo Bình luôn tin vào lí trí, vào thực tế rằng chẳng có ai hoàn hảo. Tích cách mang chút ngang ngược và bất chấp của Bảo Bình cũng sẽ khiến Xử Nữ đào hoa trở nên hiếu kỳ và muốn thách thức tài nghệ 'thả thính' của mình.
 
Mối quan hệ giữa Lee Jong Suk và Park Shin Hye có lẽ cũng bén duyên từ điểm này. Cả hai nhanh chóng có những tin đồn hẹn hò sau khi Pinocchio đóng máy. Những bức ảnh thân thiết trên phim trường cũng như những khoảnh khắc các phóng viên bắt được cặp đôi này đang bên nhau trên phố liên tiếp được hé lộ khiến các 'fan' không khỏi nghi án về chuyện phim giả tình thật của hai người.   Tuy nhiên, rõ ràng là một 'mối duyên lạ', nên tin đồn thì nhanh chóng bị dập mà cặp đôi dường như cũng không còn bắt gặp các cảnh thân thiết nữa. Với Xử Nữ, những chiêu trò tán tỉnh sẽ tạo cảm hứng lúc đầu, nhưng nếu đối phương không đủ 'ngoan' để ngã vào vòng tay mình, các anh chàng khôn ngoan này cũng sẽ nhanh chóng rút lui bảo toàn vốn liếng. Thêm vào đó, Bảo Bình lí trí dĩ nhiên sẽ không để bất kỳ chuyện tình cảm nào ảnh hưởng tới sự nghiệp của mình. Sự thông minh của các cô nàng Bảo Bình sẽ rất nhanh đưa ra được câu trả lời cho việc chàng trai đó có xứng đáng hay không.   Vậy, điều gì sẽ giữ chân cặp đôi 'nam thần - mỹ nữ' này? Thực sự cặp đôi đã quyết định chỉ làm bạn hay đơn giản là hai công ty quản lý đã cao tay trong việc xử lý khủng hoảng truyền thông?
 

Lee Jong Suk - Han Hyo Joo: Sự kết hợp 'đối đỉnh' của Xử Nữ và Song Ngư


Lee Jong Suk hop voi Han Hyo Joo hay Park Shin Hye hinh anh
Với Han Hyo Joo
Bén duyên với đàn chị Han Hyo Joo trong phim Hai Thế Giới (W), Jong Suk đã tạo ra một hình ảnh trưởng thành hơn rất nhiều, khiến cho đàn chị Hyo Joo trông vẫn rất nhỏ bé và đáng yêu trong vòng tay của anh. 'Gái hơn hai, trai hơn một' - dĩ nhiên các 'fan', sau khi cơn sốt với người đẹp Park Shin Hye đã nguội, lại bắt đầu nuôi hi vọng về mối tình chị em sau W.   Tuy nhiên, Song Ngư và Xử Nữ ở vị trí đối đỉnh sẽ khá khó để hòa hợp với nhau về tính cách. Dù luôn cảm thấy bị hút về phía nhau do tính cách trái ngược, bù đắp cho nhau, nhưng cả hai sẽ chẳng dễ dàng gì để chấp nhận tính cách, cách sống của nhau. Đây là điểm yếu khá lớn trong mọi cặp đôi đối đỉnh.
 
Đây cũng là lý do vì sao các 'fan' có nhiệt tình 'ship' đến nhường nào, cặp đôi vẫn chỉ kiên quyết thể hiện rõ ràng tình cảm chị em trên phim trường. Sau các thước phim lãng mạn, ngọt ngào hết sức, Han Hyo Joo vẫn giữ đúng mực là một 'noona' của đàn em Jong Suk. Đôi lúc, cô còn thể hiện luôn vai trò 'chị cả' với cả dàn diễn viên trẻ còn lại của W, luôn quan tâm hỏi han mọi người sau mỗi cảnh quay vất vả.
 
Liệu có khi nào lửa gần rơm lâu ngày cũng bén? Liệu có cơ hội nào cho cặp đôi bước ra từ truyện tranh này? Câu trả lời sẽ có ngay sau đây.   Điểm đặc biệt giữa hai người đẹp này là cả hai cùng có Mặt Trăng nằm ở cung Nhân Mã, sao Kim nằm ở cung Ma Kết và sao Hỏa nằm ở cung Đất (Ma Kết và Kim Ngưu). Điều này khiến cho Park Shin Hye và Han Hyo Joo có cách thể hiện cảm xúc, cách yêu và xu hướng hành xử trong công việc khá giống nhau. Vì vậy, tương tác của hai cô nàng cũng sẽ đều tạo ra phản ứng cảm xúc khá giống nhau với anh chàng Xử Nữ Lee Jong Suk. Cũng dễ hiểu vì sao các 'fan' có cùng một cảm nhận về mối duyên giữa Jong Suk và hai người đẹp xứ Hàn này.
 
Tuy nhiên, đây cũng chính là điểm yếu khiến chuyện tình cảm của Lee Jong Suk vẫn cứ mãi là tin đồn. Sao Hỏa ở cung Xử Nữ của Jong Suk tạo góc hòa hợp với sao Hỏa của cả Shin Hye và Hyo Joo. Điều này tạo nên sự phối hợp siêu ăn ý trong cả hai bộ phim do cách làm việc hợp nhau, vô cùng dễ các 'fan' hiểu lầm và muốn 'ship'. Sao Thủy của Shin Hye và Hyo Joo cũng có tương tác khá tốt với Jong Suk khiến anh chàng nói chuyện hợp với cả hai người đẹp dù là trong phim hay ngoài đời. Đặc biệt, sao Thủy Bảo Bình của Shin Hye tạo góc hòa hợp với sao Thủy Thiên Bình của Jong Suk nên khả năng thấu hiểu lẫn nhau của hai người này sẽ được cộng điểm cao hơn chút.
 
Dù vậy, Mặt Trăng Nhân Mã của cả hai cô nàng cùng với sao Kim Ma Kết dường như mang lại tâm lý khá lý trí của cả Shin Hye và Hyo Joo khi yêu. Tâm lý phóng khoáng, không thích bị ràng buộc của Mặt Trăng Nhân Mã cùng ước nguyện 'siêu nghiêm túc' về chuyện yêu đương theo đúng 'quy trình' mà bản thân đề ra của Shin Hye và Hyo Joo có vẻ khá trái ngược với Mặt Trăng Song Ngư lãng mạn, cần được quan tâm và sao Kim Bọ Cạp luôn khát khao sở hữu của Jong Suk.
 
Cùng nhìn lại thì có lẽ Park Shin Hye đúng vẫn là lựa chọn phù hợp hơn cho 'nam thần' 8x này. Tuy nhiên, có vẻ cả hai người đẹp quốc dân này sẽ đều có xu hướng làm bạn với mỹ nam Jong Suk thôi. Vậy nên, con đường chinh phục trái tim một trong hai cô gái này của Jong Suk sẽ còn chông gai lắm! Các 'fan' cứ bình tĩnh.
ST.
Phan Anh - Chòm sao nhân hậu và hiệp nghĩa Chàng Cự Giải lãng tử, hào hoa: Tom Cruise Brangelina - Chuyện tình cổ tích buồn

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Lee Jong Suk "hợp" với Han Hyo Joo hay Park Shin Hye

Làm đẹp cho ao hồ trong vườn

Bất kỳ vật trang trí nước nào như ao hồ, đài phun nước... đặt trong vườn đều phải cân xứng với kích thước của ngôi nhà. Hồ nước quá lớn mang ý nghĩa kìm hãm và
Làm đẹp cho ao hồ trong vườn

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Kích cỡ, hình dáng

Bất kỳ vật trang trí nước nào như ao hồ, đài phun nước... đặt trong vườn đều phải cân xứng với kích thước của ngôi nhà. Hồ nước quá lớn mang ý nghĩa kìm hãm và "nhấn chìm" con đường phát triển sự nghiệp của gia chủ. Đài phun nước có tỉ lệ lớn hơn hẳn so với không gian xung quanh dễ tạo cho người sống ở nơi đó cảm giác mệt mỏi, trống trải.

 
Lý tưởng nhất là những hình không thẳng cạnh và nên mô phỏng theo tự nhiên. Hình dạng ao hồ càng bất thường thì thảo mộc và sinh vật hoang dã sẽ càng dễ dàng sinh sôi nảy nở. Ao hồ hình tròn thường có khuynh hướng dẫn khí đi quá nhanh, còn hình vuông sẽ sinh ra các “mũi tên độc”. Tuy nhiên, có thể biến thành hình dạng tự nhiên hơn bằng cách khéo trồng cây men quanh bờ hồ.
Bài trí nước

Nếu nước chảy nhẹ nhàng về phía nhà bạn được đánh giá là tốt. Nó tượng trưng cho của cải, tài lộc vào. Nước chảy róc rách từ hướng Đông sang hướng hợp với mệnh chủ nhà cũng là điều tốt. (Ví dụ từ năm 2004 - 2023, hướng tốt là hướng Tây Nam).

Nước chảy nhẹ nhàng về phía nhà được coi là tốt

Kỵ nước chảy từ vị trí cao hơn so với nhà ở vì dễ gây ngập lụt, gặp nhiều tai ương.

Bài trí đá

Để cân bằng tính âm của các ao hồ tĩnh lặng có thể bổ sung nguồn năng lượng dương từ đá. Sự kết hợp này tạo hình thế "sơn thủy hữu tình". Nó còn có thể tượng trưng cho hình thế Huyền Vũ, Thanh Long, Bạch Hổ, với Chu Tước là ao hồ phía trước.

 
Sử dụng đá bài trí trong ao hồ cần phải tuân thủ các nguyên tắc sau:

-  Số đá dùng đến phải là số lẻ.
-  Chôn sâu đá xuống đất ít nhất 1/3 chiều dài thân đá.
-  Đặt đá theo đúng chiều dựng đứng của đá (căn cứ theo vân đá).
-  Đặt hòn đá dẹt, phẳng bên cạnh hòn đá dựng đứng với mặt lõm úp xuống dưới.
-  Dùng "chân" của hòn đá đầu tiên làm chuẩn và xếp các viên đá sau đó thẳng hàng với chuẩn này.
- Không đặt đá có cạnh tròn trịa bên cạnh hòn đá bị mẻ cạnh.
-  Chọn mặt đá chịu được điều kiện khắc nghiệt của thời tiết để hướng về phía trước.
-  Áp dụng lý thuyết âm dương để quân bình trong việc sắp đặt.

(Theo Batdongsan)

 

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Làm đẹp cho ao hồ trong vườn

Thái Tuế Nhập Quái

Ông Trần Thế Hưng (Đài Loan) thuộc thế hệ 5x, là lớp nổi lên sau ông Tử Vân (Đài Loan). Theo lời tự thuật thì ông bắt đầu với khoa Tử Bình, từng theo học Tử Vi với ông Tử Vân một thời gian và có qua lại với Liễu Vô cư sĩ, nhưng sau nhờ một thầy khác mới được “mở hai mạch nhâm đốc”, mạnh dạn vừa làm thầy xem Tử Vi vừa viết sách Tử Vi dương danh thiên hạ. Các sách của ông Hưng nhắm vào những lá số người thật có cùng nét đặc biệt như “Vi hà bất hôn thiên” (vì sao không lập gia đình), “hôn ngoại tình thiên” (những kẻ ngoại tình). Bài sau đây được chọn vì có xử dụng cả hai kỹ thuật sau:
Thái Tuế Nhập Quái

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

-Phép mượn cung: Phép này khá thông dụng ở Đài Loan, được nhiều người xử dụng từ lâu. Thí dụ: Ông X đang ở cung Tí thì cung thê của Tí (tức cung Tuất) ứng với vợ hoặc tình nhân của ông X. Giả như ông X ngoại tình với một người đã có chồng là bà Y trong hạn này thì bà Y ứng cung thê của hạn nên ứng cung Tuất (thê của Tí). Lại nữa, vì bà X ứng cung Tuất nên chồng bà X ứng cung Thân (là cung phu của Tuất). Đại khái như thế.

-Phép “Thái Tuế nhập quái”: Phép này nhờ ông Tử Vân mà trở thành hết sức phổ biến ở Đài Loan, dù chỉ mới nổi lên trong vòng hơn hai mươi năm nay thôi. Như trường hợp ông X ngoại tình với bà Y như ở trên nếu dùng lá số của ông X để xem diễn biến ra sao thì coi cung có địa chi của bà Y ứng với bà Y, lại thêm các sao hóa theo năm sinh của bà Y vào; rồi phối hợp dữ liệu mà đoán tốt xấu. Nói chung chung nhiều lộc tụ tập thì tốt, bị kị sát tụ tập thì xấu nhưng đi vào thực tế thì có thể hết sức phức tạp.

Chú ý về cách xem nhân duyên của ông Trần Thế Hưng

Chỉ xem chính tinh tứ hóa Lộc Tồn lục cát lục sát Khốc Hư Hình Riêu Đào Hồng Hỉ. Các sao còn lại bất luận lớn (như Tuần Triệt song Hao) hoặc nhỏ (như Giải Thần, Âm Sát) đều không xem.
An Hỏa Linh thuận theo giờ cả, không phân nam nữ âm dương như VN.

Trích sách “Hôn ngoại tình thiên” (dịch nghĩa “Các lá số ngoại tình”), 1994, nxb Tiêm Đoan, Đài Bắc.

Trường hợp 11: Cô Dương, Ất Mùi 1955, âm lịch tháng 3 ngày… (3 hoặc 13, hỏa lục cục, mệnh cư Sửu vô chính diệu, phu Tử Sát cư Hợi) giờ Mão.

Nguyên tác: Trường hợp 11: Cô Dương, trang 154-171, Trần Thế Hưng, “Hôn ngoại tình thiên”, Tiêm Đoan, Đài Bắc 1994.

VDTT phỏng dịch và chú thích

Cô D làm nghề phục vụ, việc không ổn định. Năm Quý Hợi quen ông M sinh Mậu Tý (1948), năm Ất Sửu 1985 sinh đôi. Năm Tân Mùi 1991 quen ông R (Kỷ Mão 1939) đã có vợ.

Mệnh Kỷ Sửu VCD Linh độc thủ (dịch giả chú = dgc: Cách tiêu chuẩn của Đài Loan là Hỏa Linh an thuận theo giờ cả), xung có Vũ Tham Xương Khúc, tam hợp Phủ Tướng.

Mệnh: VCD, hai cung giáp cung VCD nên mệnh ở vị trí rất yếu. Khi một mình đối diện chính mình không khỏi có cảm giác cô độc lo sợ, cho nên thành tính lệ thuộc ngoại cảnh, không thích một mình. Tự tin không đủ nên không hợp các công việc khó khăn phải tự quyết định nhiều, tốt nhất là có liên hệ với người. Cô D làm nghề phục vụ vậy là thích hợp cá tính.

Linh Tinh độc thủ khó tránh nóng vội, vì VCD tính nóng vội thường khiến mình phiền lụy mệt mỏi, may không gặp Kình Đà bằng không thì như người xua nói “khó tránh hình khắc”.

Mệnh VCD, di là lốt giả, Vu Tham Xương Khúc thành nhiều cách cục Xương Tham, Khúc Tham, Linh Tham, LXĐV (trong luu niên). Cô D bản tính bất ổn, có suy nghi khác thường, khả năng học hỏi cao, cũng dễ tẩu hỏa nhập ma. Thuộc týp dễ lên dễ xuống. Làm việc sáng kiến chẳng dở, công việc nhiều biến đổi.

Người xưa nam mệnh thích Xương Khúc, như “Văn Khúc Văn Xương Thiên Khôi tú, bất độc thi thư dã khả nhân”, “Tuấn nhã Văn Xương, mi thanh mục tú; lỗi lạc Văn Khúc, khẩu tài tiện ngụy…”, “Văn Xương Văn Khúc vi nhân đa học đa năng”… (nhưng) nữ mệnh gặp Xương Khúc thì e bất cập, như “Văn Xương Văn Khúc phúc bất toàn”, “Dương phi háo sắc tam hợp Văn Xương Văn Khúc” vân vân… Thời đại ngày nay nam nữ mệnh giống nhau, ưu điểm là khả năng học tốt, ngoại hình khá; khuyết điểm là dễ chuốc phiền toái, khôn quá hóa dại; nhất là hai sao Vũ Tham rất kị Xương Khúc. Sinh giờ Mão, Dậu rất dễ gặp hai sao này cùng chỗ.

Tại sao Tham Vũ không thích gặp Khúc Xương?

1) Vũ Tham gặp Xương Khúc thành cách ác Xương Tham, thêm Linh Tinh lại thành cách LXĐV, một đời khó tránh lên xuống gập ghềnh.

2) Đại hạn luu niên dễ gặp Kị. Kỉ Tân Nhâm Quý 4 năm đều có Kị, cơ hồ thành cách “liên Kị“. Đại hạn có may tránh đuợc thì lưu niên cũng chẳng thoát qua, khiến con người bất ổn hoặc vận hạn gập ghềnh.

Theo kinh nghiệm của người viết (dgc: tức ông Trần Thế Hưng), diễn viên và quảng cáo viên nhiều người có số thế này. Bởi vì đời họ hoặc công việc của họ phù hợp với tính nhiều biến đổi, hay là vì làm các nghề ấy mà sinh ra nhiều biến đổi?

“Vũ Tham bất phát thiếu niên nhân” thời xưa có thể phù hợp bởi người Vũ Tham phải có tuổi mới ổn định, mà (xưa) cá tính ổn định mới mong có tiền đồ. Ngày nay đời sống biến đổi, cá tính bất ổn có khi hợp trào lưu; nên anh hùng xuất thiếu niên chưa chắc là việc khó, miễn là vận hạn tốt, cá tính ngoại hình không quá khó thương. Người xưa ắt nói đúng, nhưng thời đại biến đổi, theo người viết phải uyển chuyển không thể quá câu nệ; phải dựa vào các ngành nghề (phù hợp hay không) mà dụng lẽ biến thông.

Thân (thiên di): Thân cư thiên di nên rất chú ý lời bình luận của người khác, lại nữa mệnh VCD nên tình hình càng nghiêm trọng. Có lúc tỏ ra cứng cỏi vì sợ người khác biết là mình “rỗng” và bất an. Di có thể nói là mạnh nên khả năng giao tế, tiếp xúc khá, lắm bạn và nhiều loại (Tả Hữu). Cho người ta ấn tượng tốt.

Phúc: Liêm Phá trái phải có Kình Đà giáp chế, hai bên đều VCD, khó thoát cảnh tâm sự trùng trùng không khai mở được. Tinh thần thiếu chỗ nương tựa. Tương đối coi trọng tiền tài.

Phu thê: Tử Sát một thuộc thổ một thuộc Kim đều không đủ linh động, xử lý tình cảm không khỏi quá lí tính, là loại ngoài nhiệt tâm mà trong lãnh đạm, tự nhiên bất lợi cho phương diện tình cảm.

Tam phương không thấy Tả Hữu, là kết cấu “cô quân”. Lúc khởi sự có thể hứng thú, sau thành thực tế. Loại người này chẳng phải là không thích hợp kết hôn, nhưng phải tìm bạn đời có tính độc lập, ai lo chuyện người nấy, không can thiệp người kia. Sống rất thực tế thì lại có thể lâu dài. Giả như gặp người tính lãng mạn, thích gần gũi thì lại có thể chịu không nổi. Loại người này, cổ nhân liệt vào dạng “cô khắc”.

Chẳng phải là người ta không thích được yêu, chỉ là mỗi ngưòi thích được yêu một cách khác nhau, chẳng thể lấy cái nhìn của mình để xét ngưòi khác.

Tiêu chuẩn chọn đối tượng của cô Dương khá cao. Không được đóng ấn phê chuẩn thì đừng hòng làm khách vào được vòng trong.

Giải thích các đại vận

Kỷ Sửu (6 đến 15 tuổi): Vũ Lộc Tham Quyền Khúc Kỵ đều ở di cả nên lúc nhỏ ra ngoài nhiều, thích nổi; ở nhà không thuận lợi.

Mậu Dần (16 đến 25 tuổi): Tham Lộc nhưng Cơ chuyển Lộc ra Kỵ, thành thử mệnh đắc Lộc còn hạn bị song Kỵ. Hạn lại VCD bị Không Kiếp Đà thủ chiếu, là vận yếu nhất trong đời. Nhà bi phá sản, kinh tế khốn quẫn mà cô Dương tranh thủ học được đại học là tại sao? (Trần Thế Hưng chú: Xem Lộc Quyền ở đâu).

Cô Dương hạn tài, quan đều có Kỵ, khi đối diện chính mình tất khổ không thể nói được; nhưng ngoài mặt vẫn tươi cười, lại nghĩ được biện pháp kiếm tiền để tiếp tục học hành; tại sao thế, bạn có xem ra không?

 

Định nghĩa vài thuật ngữ:

Tiên thiên (ứng toàn bộ): Tiên thiên mệnh là cung mệnh, tiên thiên phu là cung phu v.v…

Hậu thiên, hạn (ứng đại hạn 10 năm): Hậu thiên mệnh hoặc hạn mệnh là cung đại hạn. Từ cung đại hạn lùi lại 2 cung thì được hậu thiên phu hoặc hạn phu. Thí dụ đại hạn ở cung Hợi thì gọi Hợi là hậu thiên mệnh hoặc hạn mệnh, gọi Dậu là hậu thiên phu hoặc hạn phu.

Lưu (ứng một năm): Lưu mệnh là cung chứa lưu Thái Tuế. Từ lưu mệnh lùi lại hai cung được lưu phu. Như năm xem hạn là năm Tí thì Tí là lưu mệnh, Tuất là lưu phu.

Kỷ Mão (26 đến 35 tuổi): Tứ hóa như hạn Kỷ Sửu, chỉ khác là bây giờ (Lộc Quyền Kỵ) ở hạn quan thay vì hạn di. Ba hạn liên tiếp bản mệnh đắc Lộc, hạn mệnh đắc Quyền nên trong gian khổ cô Dương vẫn đi đến trước. Hạn quan của cô Dương hình thành nhiều cách cục nên đổi việc khá nhiều lần; nhưng mặc dù công việc khác nhau vẫn có điểm chung là cơ bản dựa trên tiền thưởng, tiền hoa hồng.

Tiên thiên phu (chú: tức phu nguyên thủy) cũng ba hạn hội Lộc, cô Dương chẳng phải bỏ qua chuyện ái tình, chẳng qua hạn Mậu Dần binh hoang mã loạn, chẳng có thời giờ để bàn tính yêu đương; huống chi tiên thiên phu bị song Kị giáp chế (dịch giả chú: theo phái Tử Vân, một Kị của Âm từ Ngọ chiếu vào cung Tí VCD, Kị kia là Cơ ở Tuất hạn Mậu), nào phải dễ đâu!

Vận Kỷ Mão thì khác. Hạn thê có Lộc (Vũ) chiếu, thêm Linh thành cách Linh Tham, dễ nói chuyện yêu đương. Nhưng bị Khúc Kỵ thành cách Khúc Tham và Linh Xương Đà Vũ, sinh hoạt ái tình khó tránh trở ngại, muốn gặp đối tượng hôn nhân thích hợp có phần khó, huống chi hạn phu chính là bản mệnh là vị trí vừa bất ổn vừa yếu đuối, giả như kết hôn thì có thể sinh biến.

Người viết từng nhấn mạnh nhiều lần. Mười hai cung đều là ta cả. Cách cục đều sẽ gặp, chỉ khác là khi gặp thì hóa Lộc hoặc hóa Kỵ mà thôi. Như trường hợp cô Dương tiên thiên mệnh yếu nhược như thế, lại hình thành quá nhiều cách cục: Cơ Lương Kình Dương hội, Cự Hỏa Kình, Xương Tham, Linh Tham, Khúc Tham, Linh Xương Đà Vũ v.v… hành vận quả là khó khăn, trở ngại hơn người ta nhiều.

Kế tiếp chúng ta xét đoạn tình giữa cô Dương và ông M.

Năm Quý Hợi cô Dương 29 tuổi, lưu phu ở Dậu có lưu Lộc (Phá Quân) và Linh Tinh hội chiếu. Đại vận phu có Vũ Lộc Khúc Kỵ và Tham Kỵ xung chiếu là một kết cấu “cát xứ tàng hung” (Lộc phùng xung phá, phát động các cách xấu, đi đường dài thì gặp trở ngại.) Tiên thiên phu cũng hội chiếu song Lộc và song Kỵ. Cô Dương nội tâm không bài xích ái tình, lưu niên lại có cơ hội dẫn động, tự nhiên dễ sinh chuyên tình cảm, chỉ là vận phu kết cấu quá yếu, nên một là gặp đối tượng rồi có vấn đề, hai là cố duy trì nhưng gặp trở ngại trùng trùng.

Coi cung phu của lưu niên như cung mệnh của ông M thì Mùi là thê của ông này; lắm cách cục như thế, lại hiện đủ Lộc Kỵ xem ra mặt tình cảm của ông M phức tạp biến động nhiều. Nói cách khác, không dùng điều kiện du nhập thêm đã thấy năm này cô Dương muốn gặp đối tượng tốt thật chẳng dễ gì.

Ở đây có vấn đề trong vòng bàn cãi: Cùng lá số, vận phải giống y nhau hay sao? Cho nên người biết lô gích khoa học bài xích Tử Vi, bảo là phi lí, mê tín. Ông Liễu Vô có đề xướng rằng phải du nhập thêm dữ liệu mới mong luận mệnh, đừng hòng dùng lá số chung mà đoán cho trường hợp riêng (dgc: Liễu Vô đây là ông Liễu Vô cư sĩ, từng đề xướng nhu cầu thêm dữ liệu trong loạt sách Hiện Đại Tử Vi. Thực ra, đây là luận điểm của thầy ông Liễu Vô cư sĩ, tức ông Tử Vân, ông Liễu Vô cư sĩ chỉ làm việc tường thuật. Sau này ông Liễu Vô có một số chủ trương khác với ông Tử Vân, nhưng đó là chuyện khác). Luận điểm này xét ra hợp lý, nhưng rốt ráo thì mệnh lý thuộc triết học không phải khoa học, không thể lập lại thí nghiệm, cũng có những tính chất không giải thích bằng khoa học được. Ta không thể nói cái gì khoa học không giải thích được thì không tồn tại (bởi) chúng ta biết rằng khoa học vẫn không giải thích được hết mọi hiện tượng và sự thật.

Cùng một lá số nhất định có điểm giống nhau, nghĩa là có (một số) tiềm năng, cá tính, khuynh hướng tương tự; nhờ đó mà chúng ta có thể chỉ bằng lá số mà đoán cá tính và kể ra những đặc trưng về nhân cách, khiến người ta không thể hoài nghi về độ chuẩn xác (của lá số). Vận hạn lên xuống, chuyển ngắt vì chịu ảnh hưởng hoàn cảnh mà là phương diện có tính cá biệt hơn hết. Tuy nhiên, chỉ cần cùng lá số là phải có điểm tương tự. Chẳng hạn một người lên đỉnh cao thì không thể nào người khác xuống vực thẳm. Giá trị tuyệt đối có thể khác nhau, nhưng nội tâm cảm thấy thế nào (tâm thái) thì phải tương tự.

Du nhập điều kiện chẳng qua là tùy người, sự, vật đặc thù mà quan sát, phân tích, so sánh; hy vọng từ đó suy ra sự phát triển hỗ tương (giữa các yếu tố). Nói rộng hơn chút là hy vọng dùng lá số của mình để đoán ra trạng thái của đối phương mà thôi.

Các sao trong lá số đã định thì có thể đoán các vận tốt xấu thế nào. Người có kết cấu thế này thì dễ xảy ra diễn biến thế kia; việc này khi phát sinh thì dễ có kết cục như thế kia v.v… Bởi vậy người luận mệnh theo cách truyền thống không du nhập thêm dữ kiện mà vẫn thường đoán ra hoàn cảnh của bạn.

Về việc luận hạn không đúng, thường tùy thuộc kinh nghiệm tu dưỡng của người đoán. Như người không tiêu hóa cái cũ, không uyển chuyển biến thông thì nhất định đoán không đúng; người biết phân tích khách quan, chịu vận dụng các điều kiện được du nhập để quan sát thì có thể tăng độ chính xác; nhưng đừng nghĩ đến việc chính xác trăm phần trăm vì khi xét đại hoàn cảnh của con người thì xã hội hôm nay phức tạp hơn hẳn ngày xưa, chỉ qua một đêm đảng cộng sản giải thể (dgc: Sách này in năm 1994, nhiều đảng cộng sản Đông Âu giải thể năm 1989, có lẽ đây ám chỉ việc ấy), qua một đêm sẽ còn chuyện lớn nào xảy ra nữa? Khó mà dự liệu. Độ chính xác con người có thể đạt tới khó mà biết được.

Hóa Lộc tăng độ tự tin và khả năng phán đoán của ta. Hóa Kị khiến ta lòng động tâm biến, thậm chí tạo hành vi sai lầm. Nhìn từ một góc độ khác hóa Lộc là “động năng” có ích cho thực tế mưu danh cầu lợi, hóa Kị là “tĩnh năng” (dịch giả chú: Ở đây soạn giả dùng chữ “vị năng”, vị đây là vị trí, ý nghĩa chính xác nhưng tiếng Việt dễ bị hiểu lầm, bởi vậy dịch giả mạn phép đổi thành “tĩnh năng”, tĩnh đây phản lại nghĩa động, thiếu chính xác hơn so với “vị năng” nhưng khó hiểu lầm hơn) thích hợp cho việc tiềm ẩn tích lũy, lợi cho việc phản tỉnh, kiểm thảo, tập luyện. Hóa Lộc thì phải phát huy tinh lực, xung kích đạt mục tiêu; hóa Kị thì phải suy tư, lo nghĩ, cẩn thận trong công việc. Như thế Lộc Kị đều là đời sống con người, có gì phải sợ? Sợ chăng không biết tiến thối mà thôi!

Hệ thống giáo dục của chúng ta dạy chúng ta phải “hóa Lộc” như thế nào, nhưng ít nói đến khi “hóa Kị” phải cư thể nào cho đúng; có nói chúng ta phải cắn răng cố vượt qua khổ ải, đừng táng tâm thối chí, không thành công thì thành nhân v.v… Đời người chỉ là tranh chức quán quân hay chăng? Quán quân chỉ có một người, cũng chẳng có “thường thắng tướng quân” (ông tướng thắng hoài), vậy những người còn lại chẳng có tiền đồ hay sao? Học mệnh lý phải nhìn rộng, lòng cũng phải mở rộng, tâm phải có sự thiện, bằng không càng học càng phiền, càng không thoải mái; chẳng bằng không học biết gì về mệnh lý.

Nói lan man vậy quá đủ. Chúng ta hãy trở lại với liên hệ hỗ tương giữa cô Dương và ông M.

Ông M sinh năm Mậu Tí, thành ra Lộc (Tham) chiếu hai cung phu nguyên thủy và hậu thiên (của cô Dương), lại tam hợp lưu niên, cho nên cô Dưong dễ động lòng vì cái tình của đối phương. Từ cung Tí là cung trọng điểm của ông M mà xét thấy có Âm Hỏa Kị thành cách “thập ác”, nhưng cung Tuất lại có Lộc (Cơ) Quyền (Lương) nguyên thủy của cô Dương, ý là ông M cùng cô Dưong có tình không duyên, lâu rồi cô Dương sẽ bỏ ông, nhưng vì lưu niên dẫn động quá mạnh, đại vận phu lại có kết cấu như thế mới tạo thành mối tình lẽ ra không nên có như vậy.

Bất luân dùng lưu niên hoặc thái tuế nhập quái, cung thê của ông M đều hiển nhiên có vấn đề to. Lưu niên thê ở Mùi tựa hồ là vị trí đa tình và bất ổn; còn Tuất thì có Kị (Cơ) nguyên thủy của ông M, lại thành cách cô khắc “Cơ Lương Kình”. Ông M năm ấy 37 tuổi, có gia đình rồi mới phải, nhưng vẫn độc thân (Kình của ông M ở Ngọ cũng chiếu vào Tuất).

Năm Giáp Tí 1984 cô Dương có thai, chuẩn bị lấy ông M thì phát hiện ông M bề ngoài văn nhã mà thực ra có đi lại với băng đảng, vả tính tình bất định, ở càng lâu càng chịu không nổi, không biết thời khắc tới là vui hay giận. Trong cảnh bạn với người như bạn với hổ đó, cô quyết định bỏ đi, bạn thử đoán xem tại sao?

Lưu niên tam kỳ gia hội (Liêm Phá Vũ) tái cát hóa Hợi và Dậu; nhưng Nhật kỵ dẫn động Âm Kị xung Tí, lại khiến Mùi thành song Kị giáp Kị. Mùi đại biểu gì? Lại xung Sửu có ý nghĩa gì? Xin độc giả suy nghĩ. Chẳng phải là người viết “bán cái” mà là để quí vị tự xem mình đã luyện đến đâu.

Năm Ất Sửu Lộc Quyền ở bản mệnh tử và lưu niên tử, nhưng đại hạn tử không tốt. Cô Dương sinh hai trai, trao cho người khác nuôi nấng.

Hạn Canh Thìn (36-45 tuổi)

Đại hạn VCD có Kình Hỏa không khỏi lao khổ. Được Nhật hạn Lộc và Cơ nguyên Lộc chiếu nên (thành quả) tốt. Hai Lộc này giáp Dậu nên sự phát triển của hạn này dựa trên cái nền có sẵn của hạn Kỷ Mão (dịch giả chú: Ấy bởi vì song Lộc ứng với cái tốt của hạn Thìn lại làm lợi Dậu, mà Mão tức đại hạn trước xung Dậu, nên cái tốt của hạn này có liên hệ với hạn trước, tức là những liên hê của hạn cũ có biến chuyển tốt đẹp trong hạn này).

Hạn quan của cô Dưong 20 năm tọa Lộc là cơ hội tốt, sự nghiệp phải có một thành tựu nào đó. Nhưng hạn Kỷ Mão Lộc Kỵ cùng thủ tạo nhiều cách ác thành thử khó ổn định. Hạn Canh Thìn tốt hơn, dù có sát tinh nhưng chỉ có Lộc không gặp Kỵ trở ngại tương đối ít. Thế nhưng muốn việc suôn sẻ từ đầu đến cuối e chẳng dễ dàng; rốt ráo thì vì nguyên mệnh và hạn mệnh đều vô chính diệu khó tránh ảnh hưởng của hoàn cảnh, phải đổi thay cho phù hợp khó mà giữ được lập trường, phương hướng.

Hạn phu ở Dần VCD Đà La Địa Kiếp thủ là vị trí bất ổn. Tam phương tuy được song Lộc chiếu nhưng cũng bị song Kị ở hạn phúc chiếu (chú: Âm Kị nguyên thủy và Đồng hạn Kị); vậy là Lộc phùng xung phá, không tốt.

Nếu coi cung Dần (hạn phu) là đối tượng, thì cung thê của đối tượng ở Tí VCD lại bị Hỏa Âm (thập ác) và Kình Âm (nhân li tài tán) chiếu. Cô Dương có nhiều cơ hội được người theo đuổi, chỉ là những người ấy cảm tình có vấn đê.

Năm Tân Mùi cô Dương 37 tuổi, lưu niên ở di nguyên thủy, cách cục to, nhưng Xương lưu Kị thủ, cô Dương có xác xuất cao hành xử sai lầm.

Bản mênh phu có cách ác Xương Tham chiếu, nội tâm đối với hôn nhân có khuynh hướng làm trái lẽ thường, tuy không nhất định kết hôn nhưng có thể dính líu đến một đoạn “kỳ tình”.

Đại vận phu đắc 3 Lộc hội chiếu, tăng độ ổn định rất nhiều, nhưng cung VCD rốt ráo vẫn là VCD, có mối nguy chìm nổi bất thường.

Lưu phu có Thiên Phủ là một sao ổn định, ngưởi gặp điều kiện có lẽ chẳng dở (cung quan Dậu có hai Lộc giáp phù), cung phu Mão bị Kình Đà giáp chế (cho nên) cẩn thận trong việc hôn nhân, nhưng gặp Xương Kị (cho nên) năm ấy cảm tình, hôn nhân có vấn đề.

Ông R sinh năm Kỷ Mão 1939, hơn cô Dương 16 tuổi, mệnh Lôc (Vũ) và Kỵ (Khúc) đều ở lưu niên mệnh (Mùi) cũng là cung thân của cô Dương, lại chiếu tiên thiên phu (ở Hợi) nên năm Tân Mùi cô Dương cảm sự chiếu cố của ông R.

Mão là cung trọng điểm của ông R, hai cung giáp đều VCD. Nhật Lộc (hạn Canh) xung đến Dần, Cơ Lộc (mệnh Ất) xung đến Thìn, khiến Mão được tính ổn định của song Lộc giáp, chỉ là ảnh hưởng tương đối nhỏ (chú: vì đều do xung cả). Cô Dương ắt có ấn tượng tốt với ông R, và có một loại duyên phận khó diễn tả thành lời được.

Sửu ứng cung thê của ông R, chính là bị cách Linh Xương Đà Vũ, quan hệ giữa cô Dương và ông R. có tính “đảo điên”, lẽ ra không nên có lại có (chú: Vì cách Xương Tham, Khúc Tham là “li chính vị nhi đảo điên”). Ông R. sự nghiệp đã thành, vợ con đều đã di cư ra nước ngoài chỉ còn mình ông trong nước, mới có cơ hội trồng nhân cho đoạn tình này.

Cô Dương và ông R tương lai phát triển thế nào?

Nếu xét đại vận phu thì Tân Tị, Nhâm Ngọ hai hạn Lộc đều chiếu đến Dần (chú: Cự hóa Lộc và Lương hóa Lộc), tựa hồ tình chưa hết; nếu xét Sửu (chú: coi là cung thê của ông R sinh năm Mão) thì ba vận sau Kị đều chiếu cả, tựa hồ tình đã dứt; vậy giải thích làm sao?

Cô Dương không thể thành vợ của ông R, nhưng liên hệ giữa hai người có thể tiếp tục phát triển, chỉ là từ hạn Tân Tị trở đi thì tình cảm cô Dương dành cho ông R càng lúc càng nhạt đi. Nhanh thì năm Bính Tí (42 tuổi ta) Liêm Kị nhập Mão tình cảm phai mờ, chậm thì năm Nhâm Ngọ (48 tuổi ta) vì Vũ Kị xung kích Mão.

Các hạn về sau:

Ba hạn Tân Tỵ, Nhâm Ngọ, Quý Mùi Kỵ đều ở Mùi, phá hoại mệnh, thân và ảnh hưởng tiên thiên phu, khiến cô Dương tâm tình khó ổn định, chuyện muốn kết hôn khó xảy ra, mà nếu kết hôn thì chẳng tốt đẹp được.

Ngoài ra cô Dương hạn Canh Thìn, Tân Tị phúc đức đều hóa Kị, thành các cách ác Âm Hỏa, Linh Xương Đà Vũ v.v… ngoài cái lo mất tiền ra, trạng thái tâm lý cũng cần đề phòng, nhất là hạn Tân Tị (dịch giả chú: Vì phúc ở Mùi cách cục rất rõ nét).

Lời kết:

Cô Dương cảm tình không thuận lợi, có thể cả đời không thành hôn, nguyên nhân có thể quy về:

Một: Mệnh vô chính diệu, hai cung giáp cũng vô chính diệu, hội họp có nhiều cách ác; khiến cá tính bất an, hành sự thiếu chín chắn, phán đoán dễ sai lầm.

Hai: Tiên thiên phu sao quá cương, lại vào cách cô quân, trừ tiêu chuẩn cảm tình quá cao, xử lý tình cảm quá cương nghị, thiếu cái dịu dàng của nữ giới. (Nhưng) cũng có thể vì đó mà phù hợp với sinh hoạt cảm tình độc lập như vậy.

Ba: Các hạn trong tuổi thích hợp thành hôn cung phu đều bị Kị xâm phạm, gây trở ngại trong cảm tình, không dễ gặp đối tượng tốt, lại là cung VCD thiếu ổn định.

Hạn Mậu Dần, Tí VCD bị tiên thiên Kị xung, thành cách Âm Hỏa.

Hạn Kỉ Mão, Sửu VCD bị Khúc Kị xung, thành cách Linh Xương Đà Vũ.

Hạn Canh Thìn, Dần VCD bị song Kị (Âm nguyên Kị, Đồng hạn Kị) chiếu.

Rồi đến hạn Tân Tị lại bị Xương Kị; rõ là bị Liên Kị nên trên đường tình ái bị cảnh gập ghềnh khó đi.

Ngoài ra bốn vận Kỷ Sửu, Mậu Dần, Kỷ Mão, Canh Thìn Lộc hoặc Quyền đều ở tiên thiên di khiến cô Dương hiếu thắng, đòi tranh đấu với số mệnh.

Tóm lại, lá số như cô Dương một đời nhiều xung động biến hóa, chuyện gì sẽ xảy ra chẳng dự liệu được nhưng chẳng đáng ngạc nhiên.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Thái Tuế Nhập Quái

Sao Thiên Cơ -Thiện tinh chủ huynh đệ và phúc thọ

Sao Thiên Cơ tại mệnh dù miếu địa vượng địa hay đắc địa gặp tả, hữu, hỏa, linh, hình là người khéo tay thường chuyên về kỹ nghệ máy móc hay thủ công.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Sao Thiên Cơ -Thiện tinh chủ huynh đệ và phúc thọ

Sao Thiên Cơ -Thiện tinh chủ huynh đệ và phúc thọ

Sao Thiên Cơ thuộc Nam Đẩu tinh (thuộc tính Âm mộc).

Là một thiện tinh chủ huynh đệ, phúc thọ.

Sao Thiên Cơ miếu địa tại: Thìn, Tuất, Mão, Dậu.

Vượng địa tại: Tỵ và Thân.

Đắc địa tại: Tý, Ngọ, Sửu, Mùi.

Bình hòa tại: Mão, Dậu, Sửu. (kém sáng suốt, từ thiện).

Thiên Cơ tại mệnh dù miếu địa vượng địa hay đắc địa thì thân hình cao, xương lộ, da trắng, mặt dài nhưng đều đặn. Rất thông minh, khôn ngoan, có óc kinh doanh, có mưu trí, biết quyền biến, tính nhân hậu, từ thiện được hưởng giàu sang và sống lâu.

Thiên Cơ tại mệnh dù miếu địa vượng địa hay đắc địa gặp nhiều sao sáng sủa tốt đẹp, Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Khôi, Thiên Việt, Tả Phù, Hữu Bật, Tiểu hao, Đại Hao, Hóa Khoa, hóa quyền, hóa lộc tất được hưởng phú quý song toàn và có uy danh lừng lẫy.

Sao Thiên Cơ tại mệnh dù miếu địa vượng địa hay đắc địa gặp tả, hữu, lộc, hình, y, Quang, Qúy hội họp chắc chắn chuyên về y khoa hay dược khoa.

Sao Thiên Cơ miếu địa tại mão và dậu gặp đại hoa và tiểu hao hội họp là người đa tài được hưởng phú quý tới tột bậc, cung mệnh có cách này mà lại sinh năm Ất, Tân, Kỷ, Bính thì thật là hoàn mỹ.

Sao Thiên Cơ đắc địa gặp nhiều sao văn tinh hội họp dĩ nhiên là rất tốt và quý hiếm. Tuy nhiên nếu đương số sinh vào năm Ất, Bính, Đinh mà cung mệnh có cách này lại lập được sự nghiệp lớn lao và được hưởng giàu sang trọn đời.

Thiên Cơ tại mệnh dù miếu địa vượng địa hay đắc địa gặp tuần triệt, án ngữ, phải ly tổn bôn ba, suốt đời vất vả, chân tay thường có tật. Lại khó thoát khỏi tai nạn do xe cộ, dao súng, tuổi thọ bị triết giảm. Có cách này thật chỉ có tu hành mới được yên thân, hưởng phúc và sống lâu.

Sao Thiên Cơ hãm địa thì thân hình nở nang nhưng hơi thấp, da trắng, mặt tròn, kém thông minh, cũng có óc kinh doanh, nhưng có tính gian xảo, thường phải buôn bán ngược xuôi hay làm nghề thủ công để kiếm ăn. Tuy vậy vẫn được no ấm và sống lâu.

Sao Thiên Cơ hãm địa gặp tuần triệt, án ngữ, tuy khá giả nhưng cũng phải xa quê hương để lập nghiệp, bản quán hay mắc tai nạn về xe cộ và dao súng.

Sao Thiên Cơ hãm địa gặp nhiều sao xấu, mờ ám hội họp nhất là sát tinh, hình, kỵ tất phải có tàn tật, có bệnh khó chữa, thường phải lang thang phiêu bạt, lại hay mắc chứng tai họa khủng khiếp, nếu không cùng khổ cô đơn, chắc chắn là yểu tử.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Sao Thiên Cơ -Thiện tinh chủ huynh đệ và phúc thọ

Những chòm sao nữ nhõng nhẽo, trở mặt như trở bàn tay

Cãi nhau cũng phải có chút hợp lý, chứ như 5 chòm sao nữ nhõng nhẽo dưới đây, chẳng có lý do gì cũng bất ngờ làm mặt lạnh với người yêu thì thật khó hiểu.
Những chòm sao nữ nhõng nhẽo, trở mặt như trở bàn tay

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Người ta thường nói yêu nhau lắm cắn nhau đau, những người đang yêu thường làm đủ trò giận dỗi để đối phương dỗ dành. Nhưng cãi nhau cũng phải có chút hợp lý, chứ như 5 chòm sao nữ nhõng nhẽo dưới đây, chẳng có lý do gì cũng bất ngờ làm mặt lạnh với người yêu thì thật không biết đâu mà lường.  

Hạng 5: Sư Tử

  Tần suất nổi nóng trong tình yêu của Sư Tử quả thật quá cao, đột nhiên không vui là như sấm sét giữa trời quang, tâm tình đang yên đang lành bị đảo lộn, bộc phát ai ai cũng khiếp sợ. Mà chòm sao nóng tính có tiếng như cô nàng này đâu phải chỉ giận một chút, hờn một tẹo là xong đâu, nếu người yêu không khéo léo biết điều có khi thành chiến tranh to ấy chứ.   Mà điểm đáng bực nhất là Sư Tử không bao giờ nói nguyên nhân việc mình không vui, thậm chí nhiều khi chẳng có nguyên nhân gì, chỉ là không vui thế thôi. Vì vậy nửa kia của cô nàng này nên chuẩn bị sẵn sàng tinh thần, lúc nào cũng sẵn nước để hạ hỏa cho nàng ấy nhé.
Nhung chom sao nu nhong nheo, tro mat nhu tro ban tay hinh anh 2
 

Hạng 4: Song Ngư

  Chòm sao nữ nhõng nhẽo Song Ngư thích nhất là giận bạn trai để được cưng nựng và chiều chuộng. Họ cũng là người nhạy cảm, có thể đột nhiên khóc, đột nhiên cảm thấy buồn thương, người không biết lại tưởng cô ấy đang diễn kịch cũng nên. Những chuyện có thể khiến Ngư nhi cảm thấy tổn thương quả thực rất nhiều, chỉ vì một câu nói vô tình, một hành động vô ý thôi.   Chàng trai yêu Song Ngư thì nên nắm bắt tâm lý này, đừng thấy cô ấy mè nheo mà chán nản, nàng ấy chỉ cần một sự đảm bảo từ bạn để cảm thấy an toàn thôi ấy mà. Cũng đừng hỏi nguyên nhân tại sao cô ấy giận vì nhiều khi con gái mà, chẳng có lý do gì cả, chỉ cảm giác thế thôi.  

Hạng 3: Cự Giải

  Mẫn cảm và ôm ấp trong lòng nỗi sợ hãi, tâm hồn của Cự Giải mong manh, dễ tổn thương hơn bất kì cung hoàng đạo nào khác. Chỉ cần người yêu nói một câu không đúng ý là cua nhà ta đã rất phiền lòng rồi. Tuy không khóc mếu như Song Ngư nhưng cô ấy lại trầm lặng, buồn bã, không nói tới nửa lời, các chàng không lo lắng sao được.   Cá tính của Cự Giải là cứ gặp chuyện thì im lặng, chiến tranh lạnh đến cùng. Nửa kia chắc hẳn rất sợ hãi vẻ mặt này của bạn đấy, có gì không vui nên nói ra, kể cả là những chuyện hết sức vô lý cũng đừng giữ trong lòng vì người đó đã yêu thì sẽ chấp nhận cả những thói chẳng giống ai của bạn mà.

Hạng 2: Bạch Dương

  Một trong những điều cần nhớ khi yêu Bạch Dương là cô ấy có tính nóng như Trương Phi, cực kì trực tiếp, cái gì không vui nhất định không để trong lòng, phải nói ra cho bằng hết. Tâm trạng lộ rõ trên mặt, kể cả những chuyện nghe ra rất vô lý nhưng với Bạch Dương thì lại rất có lý nên đừng bất ngờ rằng vì chuyện nhỏ cũng có thể khiến cô ấy nổi điên.    May là cừu trắng dễ điên mà cũng nhanh hết, thoáng chốc lại thấy cô ấy nói cười vui vẻ. Thật ra chòm sao nữ nhõng nhẽo này chỉ muốn phát tiết ra ngoài cho nhẹ lòng, cũng là một cách để bạn trai phải quan tâm hơn tới mình, lắng nghe và cảm thông cho cô ấy nhé.
Nhung chom sao nu nhong nheo, tro mat nhu tro ban tay hinh anh 2
 

Hạng 1: Bảo Bình

  Bảo Bảo ơi, Bảo Bảo à, cô nàng mặt ngoài thì vô tư mà bên trong lại mang tâm sự, kì quái lắm đúng không. Thế giới nội tâm của cô ấy phong phú, bí ẩn và có nhiều điểm không giống với người thường nên nắng mưa cũng là chuyện dễ hiểu thôi. Lúc đối phương nghĩ là họ giận thì lại chẳng giận, lúc đối phương coi là chuyện chẳng đáng gì thì lại có thể khiến Bảo Bình nổi cơn tam bành, lạ thật.   Lúc nàng ấy bày ra bộ mặt ngạo mạn, không biết trời cao đất dày, bất bình, bất mãn thì tốt nhất là chàng hay nhanh nhanh chóng chóng tới mà dỗ dành đi nhé. Chòm sao nữ nhõng nhẽo này cực ít khi xuống nước trước nên thôi thì yêu nhau yêu cả đường đi, cứ nhịn một tí, nhường một tí để cô nàng vui, cô nàng cười, mọi chuyện đều thông qua ngay ấy mà.
12 chòm sao nữ mù quáng trong tình yêu đến mức nào? Bóc mẽ tính xấu của 12 chòm sao nữ khiến các ông chồng điên đầu Mỹ nhân hoàng đạo và sở thích nude nóng bỏng
Thái Vân
   
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những chòm sao nữ nhõng nhẽo, trở mặt như trở bàn tay

Top 4 con giáp cần đề phòng “tai họa” trong năm 2016

Cùng 12 con giáp điểm danh 4 con giáp trong năm 2016 cần đề phòng cẩn trọng hết sức, bởi "vô phúc liền có họa, vô hỉ liền có tai". Và theo tử vi 2016 thì đó là những con giáp phạm sao Thái Tuế
Top 4 con giáp cần đề phòng “tai họa” trong năm 2016

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Năm mới 2016 của bạn như thế nào? Hãy xem ngay TỬ VI 2016 mới nhất nhé!

Cùng 12 con giáp điểm danh 4 con giáp trong năm 2016 cần đề phòng cẩn trọng hết sức, bởi "vô phúc liền có họa, vô hỉ liền có tai". Và theo tử vi 2016 thì đó là những con giáp phạm sao Thái Tuế
 
1. Cầm tinh Dần - Hướng Thái Tuế

Dần Thân cùng hướng, Dần là con giáp phạm Thái Tuế trong năm 2016, sẽ cùng hướng Thái Tuế với năm Bính Thân. Đây là loại phạm Thái Tuế có hại nhất, phàm bị vây hại chi năm thì sẽ phát sinh những thay đổi trọng đại trong vận trình, khiến vận trình cực đoan.
Xem tử vi 2016 thấy rằng sự nghiệp, tài vận, tình cảm, sức khỏe đều gặp cản trở hoặc có tai ách xảy ra, nảy sinh việc ngoài ý muốn, và nhiều khẳ năng gặp phải thị phi, rủi ro. Những người tuổi này cần đặc biệt chú ý.

2. Cầm tinh Thân- Lâm Thái Tuế

Theo tử vi thì năm 2016 là năm mạng của người tuổi Thân, cũng là năm lâm Thái Tuế của tuổi này. Chính vì vậy phải giữ gìn cẩn thận. Bản mệnh cùng Thái Tuế ngồi chung, gần vua như gần cọp

Với người tuổi Thân tình trạng sự nghiệp, tài vận bị gặp hao tổn, tình cảm biến hóa, nhân tình thế thái nặng nề, mọi việc phiền não bất an ập tới. Bởi vậy mà sinh ra tranh chấp, mâu thuẫn, ảnh hưởng tới quan hệ xã giao, sức khỏe.
Quan trọng nhất là người tuổi Thân phải giữ vững lập tường, bình tĩnh, cân bằng tâm trạng.    

>>> Năm mới 2016 AI xông đất nhà bạn? Sẽ mang lại nhiều may mắn tài lộc?

Xem ngay XEM TUỔI XÔNG ĐẤT 2016 mới nhất>>>

3. Cầm tinh Hợi - Hại Thái Tuế

Thân Hợi cùng hại nên Hợi là con giáp phải thận trọng trong năm 2016. Chủ yếu đề phòng về tiểu nhân, người đố kỵ, ghen ghét, hãm hại mình. Cũng bởi bản tính nôn nóng, chưa tìm hiểu kĩ sự việc nên người tuổi Hợi bực bội, gây mâu thuẫn, làm suy giảm tình cảm, ảnh hưởng tới vận thế.

Người tuổi Hợi nhất định phải hòa nhã, bình tĩnh, thuận theo tự nhiên, áp dụng những biện pháp hóa giải thích hợp.
 
4. Cầm tinh Tỵ - Hình, phá Thái Tuế

Tỵ là con giáp thứ 4 phạm Thái Tuế trong năm 2016 . Năm tới, Tỵ cùng Thân hình, phá dẫn tới cảm xúc vội vàng xao động, tự tin thái quá, quá mức cấp tiến, dễ bị suy sụp, vướng phải thị phi võ mồm, kiện tụng pháp luật.

Người tuổi Tỵ chú ý tránh xa những quan hệ làm ăn, tình cảm rắc rối, phức tạp để tránh lâm vào tình thế tiến thoái lưỡng nan, gây phiền hà cho bản thân. Tốt nhất là an phận thủ thường, cẩn trọng trong mọi mối quan hệ.

Trên đây là 4 con giáp nên đề phòng cẩn thận trong năm 2016, trước mọi sự vật sự việc hãy chậm lại một chút suy xét và đưa ra quyết định, tránh để lại hậu quả khôn lường.

>>Đã có VẬN HẠN 2016 mới nhất. Hãy xem ngay, trong năm 2016 vận mệnh bạn như thế nào nhé!


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Top 4 con giáp cần đề phòng “tai họa” trong năm 2016

Giải mã năng lực chiến đấu thực của Quan Vũ

Độc giả "Tam Quốc diễn nghĩa" biết đến Quan Vũ là danh tướng lẫy lừng của Thục Hán, song sử liệu Trung Quốc cho thấy tiểu thuyết đã không thể hiện đúng năng lực thực tế của ông.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Chém Nhan Lương giữa vạn quân

Sức chiến đấu mạnh mẽ của Quan Vân Trường là điều đã được cả lịch sử và tín ngưỡng Trung Quốc ghi nhận.

Tuy vậy, năng lực thực của ông trong lịch sử có khác biệt rất lớn so với những thông tin được chuyển tải trong tiểu thuyết "Tam Quốc diễn nghĩa" của tác giả triều Minh La Quán Trung.

"Tam Quốc diễn nghĩa" hồi 25 có đoạn tả Quan Vũ chém Nhan Lương - "Quan Công nhảy lên ngựa, cầm Thanh Long Đao phi xuống núi, xông thẳng vào thế trận của địch.

Quân Hà Bắc bị rẽ đôi như sóng nước. Quan Công xông thẳng vào Nhan Lương.

Nhan Lương thấy Quan Công lao tới, đang định cất tiếng hỏi thì ngựa Xích Thố đã tới trước mắt.

Nhan Lương không kịp trở tay, bị Vân Trường vung đao đâm ngã xuống ngựa, cắt lấy thủ cấp treo lên cương ngựa.

Quan Công thu đao rút về, như vào chỗ không người".

Màn Quan Vũ trảm Nhan Lương trong "Tam Quốc diễn nghĩa" được đánh giá là giống như một trận "lôi đài tỷ võ dân gian" hơn là một trận chiến.

Các tướng chủ yếu so tài võ nghệ, đao pháp, thương pháp, thậm chí là dùng chiêu "xa luân chiến" để đánh Nhan Lương.

Phía quân Tào Tháo lần lượt cử ra Tống Hiến và Ngụy Tục - các cựu tướng của Lữ Bố. Hiến và Tục bị Lương diệt xong, lại đến Từ Hoảng.

Từ Hoảng là dũng tướng, mà cũng chỉ đánh với Nhan Lương 20 hiệp đã thua chạy.

Cuối cùng mới đến Quan Vân Trường ra trận "tỏa sáng", một đao chém bay đầu Lương.

quan vân trường chém đầu nhan lương giữa vạn quân như vào chỗ không người.

Quan Vân Trường chém đầu Nhan Lương giữa vạn quân "như vào chỗ không người".

Sức mạnh thực của Quan Vũ?

Cả trận Bạch Mã giữa hai quân Tào Tháo - Viên Thiệu trong "Tam Quốc diễn nghĩa" được mô tả thành các trận đơn đấu của chư tướng, chứ không thể hiện được sắc thái quân sự.

Trong khi đó, "Tam Quốc Chí - Thục thư - Quan Trương Mã Hoàng Triệu truyện" của sử gia Trần Thọ cũng ghi lại sự kiện Quan Công chém Nhan Lương.

"(Quan) Vũ thấy (Nhan) Lương, bèn thúc ngựa đâm Lương giữa vạn quân, chém đầu Lương.

Chư tướng của (Viên) Thiệu không thể ngăn cản, để Vũ phá vây Bạch Mã.

Tào Công (Tào Tháo) lập tức phong Vũ làm Hán Thọ Đình Hầu".

Trên thực tế, trận Bạch Mã giữa lực lượng Tào Tháo và Viên Thiệu hoàn toàn không đơn giản là mô hình đơn đả độc đấu - tướng chọi tướng - như tiểu thuyết mô tả, mà là cuộc tác chiến quân đội quy mô lớn.

Nhân vật Nhan Lương trong lịch sử không xuất hiện trong vai trò một "võ lâm cao thủ", mà là một tướng chỉ huy quân sự.

Dù sử sách Trung Quốc có ghi chép rằng Nhan Lương "kiêu dũng", song nhiệm vụ của Lương càng thiên về chỉ huy tập kích, bày binh bố trận, vây thành và công thành.

Chiến dịch Bạch Mã là một cuộc chiến theo mô hình tập kích - chi viện, cuối cùng diễn biến thành cuộc đối đầu trực diện giữa 2 phe.

Tình thế đương thời vốn không cho phép Tào Tháo năm lần bảy lượt cử các đại tướng ra thách đấu với Nhan Lương, mà bản thân Lương cũng không hao phí thời gian chỉ để... khoe khoang võ nghệ.

Về phía quân Tào, Quan Vũ là một trong những quan chỉ huy của quân chi viện, mục tiêu rõ ràng không phải tham chiến để tỷ võ cùng Nhan Lương, mà là đột phá phòng tuyến quân sự do Lương chỉ huy.

Dựa trên ghi chép của Trần Thọ trong "Tam Quốc Chí" có thể thấy, Quan Vũ đã nhìn thấy tư lệnh Nhan Lương trong cuộc hỗn chiến và quyết đoán đưa ra quyết định tấn công "sở chỉ huy" của địch.

Vì vậy mới có màn Quan Công đơn thương độc mã xông vào trận địch. Trong quá trình này, nhiệm vụ "chuyên môn" của Quan Vân Trường vô cùng phức tạp.

Dù Trần Thọ không tả kỹ tình hình lúc đó, nhưng bên cạnh việc cần vượt qua nhiều lớp phòng ngự của trọng binh, Quan Vũ còn phải tự bảo vệ bản thân trước đội cung nỏ binh của phe Viên Thiệu.

thực tế lịch sử cho thấy năng lực tác chiến quân sự và kỹ năng cá nhân của quan vũ còn đáng gờm hơn nhiều so với những gì tam quốc diễn nghĩa mô tả về ông.

Thực tế lịch sử cho thấy năng lực tác chiến quân sự và kỹ năng cá nhân của Quan Vũ còn đáng gờm hơn nhiều so với những gì "Tam Quốc diễn nghĩa" mô tả về ông.

Điểm vượt trội của Quan Công là chỉ dựa vào năng lực chiến đấu cá thể, trong điều kiện không có "hỏa pháo" yểm trợ, thậm chí không có cả quân nghi binh, ông không chỉ lọt vào tận "sở chỉ huy" địch, mà còn chém được quan chỉ huy Nhan Lương.

Ngoài ra, ngựa của Quan Vân Trường vào thời điểm đó không phải Xích Thố, bởi theo sử liệu để lại, Xích Thố đã chết từ trước đó rất lâu.

Quân đội của Nhan Lương chắc chắn cũng không yếu kém trong lĩnh vực phòng ngự. Khi Quan Vũ phát động tấn công nhằm vào họ, tiền tuyến sẽ gửi về cảnh báo cho Nhan Lương.

Như vậy, có thể thấy rõ bối cảnh cuộc đột kích của Quan Vũ: đối phương có "vạn quân", tác chiến hợp lý và luôn ở vào thế thượng phong cho tới thời điểm đó, đủ thấy màn độc diễn của Quan Công xứng đáng là "tuyệt phẩm".

Từ điểm này có thể xác định, năng lực chiến đấu thực tế của Quan Vũ trong lịch sử còn "nguy hiểm" hơn những gì tiểu thuyết mô tả.

Việc Tào Tháo lập tức phong Hầu cho Quan Vũ, do đó cũng không có gì khó hiểu.

Kỳ thực, trong lịch sử Tam Quốc, những sự kiện như trên cực hiếm xuất hiện.

Hệ thống phòng ngự của các lực lượng quân đội tất nhiên không phải để "làm cảnh", và nếu không phải là Quan Công trong tình huống đó mà là một viên tướng khác, thì chắc hẳn đã vong mạng dưới loạn tiễn ngay từ đầu.

Việc Quan Công đơn thương độc mã đột phá vòng vây chém Nhan Lương có thể coi là kỳ tích anh hùng, gần như không có khả năng tái hiện.

theo Trí Thức Trẻ


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Giải mã năng lực chiến đấu thực của Quan Vũ

10 kinh nghiệm sát thủ của Tử vi

Giáo sư Lê Trung Hưng Sách Tử vi mỗi ngày càng nhiều nhưng ý nghĩa các Sao vẫn thấy không thấy thêm ra, chỉ quanh quẩn trên nhưng câu Phú với ý nghĩa mơ hồ, nhiều khi đặt để ở một trạng thái gán ghép thành ra làm nản chí những người ham học hỏi Tử-vi không ít. Trong chiều hướng phải làm sao sáng tỏ cho ngành học lý đoán cổ truyền này, những công trình nào dù bé nhỏ tới đâu, nếu đem phổ biến một cách trung thực và nhiệt thành, thiết tưởng cũng là một nỗ lực khách quan nhất của người tri thiên mệnh để xây dựng xã hội. Học phái Thiên Lương xin lại mạn phép chư vị quân tử trình làng Tử vi “Mười Kinh nghiệm” được coi là những đòn sát thủ trên mỗi bản số Tử-vi để cùng nhau chiêm nghiệm :
10 kinh nghiệm sát thủ của Tử vi

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

1.Sinh bất phùng thời: Hạn Thái tuế vô chính diệu
2.Đồng bệnh tương lân: Hình, Riêu, Không Kiếp
3.Đời là bể khổ: cung ách
4.Công ơn tổ phụ: cung Phúc đức vô chính diệu
5.Đen như mõm chó: Cung quan lộc vô chính diệu
6.Làm thân trâu ngựa: Thế tương quan giữa cung Thân Mệnh và cung Nô bộc
7.Trắng tay sự nghiệp: Hạn Thiên không ở tứ mộ
8.Sớm đầu tối đánh: Nhận diện nhóm hung tinh chiến lược Kình, Đà, Linh, Hỏa, Không, Kiếp.
9.Được làm vua thua làm giặc: Người Tỵ, Dậu, Sửu với sao Phá toái.
10.Anh hùng tạo thời thế: Luận bốn mẫu người Tử sát, Tử tướng, Tử phủ và Tử Phá.
Bây giờ xin vào chi tiết

1- Sinh bất phùng thời :

Mỗi bản số đều được hưởng 10 năm thuận lợi, đắc ý nhất ở cung Tam hạp với Sao Thái Tuế (được gọi là vòng Thái Tuế).

Thí dụ : Người tuổi Tỵ, vậy khi đến hạn 10 năm ở một trong ba cung Tỵ, Dậu, Sửu là được hưởng vòng Thái Tuế. Nhưng có 01 điều cân nhắc cận thận về cường độ của sự thoải mãi, nghĩa là xem, đắc ý tới mực nào, thì phải xem xét cung Mệnh (và cả cung an Thân) có chính diệu tọa thủ hay không, đồng thời cung nhập hạn của vòng Thái Tuế có chính diệu hay không ?. Sự đắc thắng vẻ vang hay chiến thắng trong gian lao là tùy thuộc vào các điều kiện sau đây :
•Cung Mệnh (và cung an Thân) có Chính diệu hãm địa, hạn gặp vòng Thái Tuế ở cung Vô Chính diệu thì chỉ đắc lợi một cách tương đối.
•Cung Mệnh (và cung an Thân) có Chính diệu đắc địa, hạn gặp vòng Thái Tuế ở cung Vô Chính diệu thì chỉ đắc lợi trung bình.
•Cung Mệnh (và cung an Thân) Vô Chính diệu, hạn gặp vòng Thái Tuế ở cung Vô Chính diệu thì vẻ vang trong gian khổ, sinh bất phùng thời.
•Cung Mệnh (và cung an Thân) Vô Chính diệu, hạn gặp vòng Thái Tuế ở cung có Chính diệu tọa thủ (nhất là bộ Sát, Phá , Tham) thì chiến thắng rạng rỡ huy hoàng đắc lợi như ý muốn.
•Trường hợp Cung Mệnh trùng hợp với ngay cung của vòng Thái Tuế không tốt bằng cung an Thân trùng hợp với cung của vòng Thái Tuế (vì Thân chủ về hành động, còn Mệnh là lý thuyết và tư tưởng, nên chỉ có làm mới có hưởng, tay có làm thì hàm mới có nhai ! )

2- Đồng bệnh tương lân :
Trong những tai nạn cộng đồng, nghĩa là nhiều người vướng vào vòng hoạn nạn cùng một lúc và bởi một nguyên do (Thí dụ : tai nạn rớt máy bay làm nhiều người chết ... ) Tử vi đã trở lên nghi vấn trong cách giải thích trường hợp khó khăn và tế nhị này ? Tuy nhiên, nếu đem đối chiếu với những lá số thiệt mạng (hay chỉ mang thương tích) trong tai nạn cộng đồng, thì khi dùng phép quy nạp đã cho thấy nét tương đồng kể sau :

- Tam hợp với cung Mệnh có Thiên Hình, Thiên Riêu, Địa Không và Địa Kiếp (hay tam hợp của cung Ách )

- Cung Ách có Thất Sát, Phá Quân hay Tham Lang (Hay cung Mệnh có cách này)

- Tiểu Vận (một năm) hay Đại Hạn (10 năm) vào vòng tam hạp của Thiên Không (Thiếu Dương - Tử Phù và Phúc Đức)

Hầu hết những người có cách trên đều phải nếm qua mùi vị của " Đồng Mệnh tương lân " : Việc xảy ra nếu có người chết, kẻ chỉ bị thương, là còn do cung Phúc Đức chi phối, dù thế nào đi chăng nữa thì cũng phải cộng đồng tai ách. Chắc chắn không ai dám kiểm chứng trường hợp này, bằng cách tập hợp tất cả các cá nhân có Hình-Riêu-Không- Kiếp ở Mệnh (và Ách cung là thế Sát Phá Tham), nhưng nếu quý vị nào chịu khó sưu tập những lá số có có tiêu chuẩn vừa nói, thì sẽ thấy ngay cá nhân của bản số đều vướng phải chuyện xui xẻo này một lần trong đời của họ.

3- Đời là bể khổ : Cung Ách

Thế nhị hợp của cung Ách với hai cung Mệnh, Thân đã nói lên rõ ràng cái nghiệp mà nhà Phật chủ trương .

- Mệnh, Thân sinh phò Ách cung , là ta phải lãnh đủ mọi chuyện do ta đã làm. Cá nhân phải trực tiếp chịu ảnh hưởng cái hậu quả của việc ta đã tạo ra trong đời sống hằng ngày (gieo nhân nào, gặt quả ấy). Đây là giai đoạn tạo nghiệp mà Nguyễn Du tiền bối đã nói : "Thiện căn ở tại lòng ta"

- Ách cung sinh phò Mệnh, Thân là bản thân ta ở kiếp này phải hứng chịu nhiều những hậu quả truyền kiếp (do dòng họ tiền nhân để lại, cũng có thể là do đời sống ta kiếp trước để lại) Cho nên, trong chuyện Kiều có câu ứng :

Đã mang lấy nghiệp vào thân
Cũng đừng có trách lẫn trời gần trời xa.


- Mệnh,Thân sinh phò Ách cung là khi nào hành Tam hợp của cung Mệnh, Thân sinh ra hành của Tam hợp cung Ách (Ví dụ: Mệnh ở cung Dậu, vậy hành của Tam hợp Tỵ Dậu Sửu là Kim. Ách ở cung Thìn, vậy hành của Tam hợp Thân Tý Thìn là Thủy. Tam hợp Mệnh là Kim đã sinh phò tam hợp Ách là Thủy). Còn Ách cung sinh phò Mệnh, Thân cũng tính như cách vừa nói (Ví dụ : Ách ở cung Tỵ thuộc Tam hợp là hành Kim. Cung an Thân ở ngay cung Thân thuộc Tam hợp Thủy, do đó Ách (Kim) sinh xuất ra Thân (Thủy)

Mặt khác, đã gọi cung Tật Ách, thì chỉ được hiểu là những nghiệp xấu tích lũy tích tụ lại (còn nghiệp tốt tích tụ ở cung Phúc-Đức mới đúng nghĩa của nó) thành ra không bao giờ Đại Tiểu hạn đến cung Tật Ách mà người ta thấy thoải mái đắc ý được (sách xưa ghi đơn sơ : hạn Thiên Sứ xấu, chính là ẩn ý vậy). Đã biết cung Tật Ách xấu, và hiểu là những tai nạn cho mỗi bản số trong kiếp đang sống, thiết tưởng phải lưu ý hai bộ mặt của cung Ách :

- Ách cung thuộc cách Sát Phá Tham là hay bị ngoại thương, chủ về sự sát phạt tích cự mau lẹ.

- Ách cung thuộc cách Cơ Nguyệt Đồng Lương, Tử Phủ Vũ Tướng chủ về nội thương, các tai họa có tính cách gậm nhấm, tiêu hao dần mòn ...

4- Công ơn Tổ-Phụ :
Nếu cung Ách tiêu biểu cho nghiệp xấu, thì cung Phúc Đức tượng trưng cho nghiệp tốt. Có điều cần phải nhấn mạnh là : nghiệp tốt với những cường độ khác nhau (phước mỏng hay phước dày là thế). Đa số sách Tử-vi đều hời hợt ghi chú :”Sao Mộ ở cung Phúc Đức là cách tốt đẹp”. Tôi thấy điều này trái hẳn với ý nghĩa Tăng–Trưởng–Hủy–Diệt của vòng Tràng Sinh (phải hiểu là 12 giai đoạn của một kiếp sống , chứ không phải là 12 sao: Tràng Sinh, Mộc Dục, Quan Đới, Lâm Quan, Đế Vượng, Suy, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt, Thai và Dưỡng, được đa số nhìn như những tinh đẩu riêng biệt là một điều lầm lẫn lớn).

Cung Phúc Đức bản chất là một kho tích tụ những may mắn cho một đời người, nếu nó có sao Mộ đóng, tức là có nghĩa : giai đọan may mắn đã chìm sâu trong bóng tối một cách dễ hiểu hơn hơn là không còn hên nữa. Phúc Đức ở giai đoạn của Thai, của Dưỡng của Trường Sinh … là cách tốt đẹp khả quan nó biểu hiện cho những tiềm lực dồi dào, tài nguyên “may mắn” còn phong phú, còn tiềm tàng …

Ngoài ra, một kinh nghiệm khác về cung Phúc Đức, là khi nào cung này Vô Chính Diệu, được Thái Dương, Thái Âm (đắc địa) ở thế Tam Hợp hội nhập chiếu sáng rõ ràng một đời “Họa bất trùng lai, phước vô đơn chí”

Ví dụ : Cung Phúc Đức Vô Chính Diệu ở cung Mùi, có Thái Dương ở cung Mão, có Thái Âm ở cung Hợi chiếu sáng. Sách xưa có ghi “Nhật Nguyệt chiếu hư không chi địa” là một đời có nghĩa “ Bao nhiêu hạnh phúc ở trần gian, trời đã dành riêng để tặng … lá số “. Thiên địa hòa mình thì nhân sự thanh bình vậy.

5- Đen như mõm chó
Sống là phải tranh đấu, nhất là đối với những ai còn chủ trương : Có trung hiếu nên đứng trong trời đất, không công danh thà nát với cỏ cây (Nguyễn Công Trứ), thì cung Quan Lộc phải kể là quan trọng đối với đấng ”mày râu” (Riêng đối với phái đẹp, thì tác giả Vân Đằng Thái Thứ Lang đã bàn rõ cách Thân cư Quan Lộc có Tuần-Triệt án ngữ, xin miễn bàn nhiều !) Các cách tốt xấu của chính tinh ở Quan Lộc đã có nhiều sách giải rất chi tiết, nhưng khi cung này Vô Chính Diệu thì sao ? Xin thưa ngay rằng : Đen như mõm chó. Cổ nhân nói câu thành ngữ này là có ý diễn tả cái cảnh bấp bênh, cái tráo trở, cái bất hạnh, cái long đong … của con người. Cung Quan Lộc Vô Chính Diệu là một trạng thái bi đát, mà cụ Uy Viễn Tướng Công đã cay cú :

– Người trần thế muốn nhàn sao được ?
Nói dễ hiểu hơn : Công danh sự nghiệp, thăng trầm vật vờ như phù vân. Kể cả trường hợp được Nhật Nguyệt chiếu sáng thì cũng chỉ là cái thế của Quân Sư quạt mo, phò người để còn có mình, khí cái gốc nương nhờ sụp đổ thì ta còn gì, ngoài ý nghĩa “ký sinh nhân” ?

6- Làm thân trâu ngựa
Người biết coi số Tử-Vi đều ngán ngẫm nhóm sao tráo trở và thủ đọan là : Tả, Hữu, Không, Kiếp, Phục Binh, Kình, Đà …(được coi là nhóm hung tinh chiến lược) đóng ở cung Nô.
Trong bản số Tử-Vi thế nhị hợp của cung Thân, Mệnh và cung Nô cũng phải lưu ý nhóm sao dữ kể trên đóng ở vị trí nào :

– Nếu Tam hợp cung Thân – Mệnh có hành sinh xuất tam hợp cung Nô, mà cung Nô chứa bộ hung tinh chiến lược thì có nghĩa là làm ơn mắc óan, hữu công vô lao, bạn bè chỉ là hạng bất nhân luôn luôn tìm cách trục lợi mình, sang thì tìm đến, khó thì tìm lui. Nguyễn Bỉnh Khiêm đã tả óan :
Còn bạc còn tiền còn để tử
Hết cơm hết gạo hết ông tôi
Ví dụ : Cung Thân ở cung Hợi (thuộc Hợi Mão Mùi là Mộc), Cung Nô ở cung Dần (thuộc Dần Ngọ Tuất là Hỏa). Vậy là cái ta Mộc sinh xuất cho cái Nô Hỏa.

– Nếu tam hợp cung Thân- Mệnh được hành sinh nhập bởi tam hợp của cung Nô, mà cung Nô cũng chứa bộ hung tinh chiến lược, lại có nghĩa thâm thúy như sau : Bạn Bè, thuộc hạ của ta tuy là hạng đầu trâu mặt ngựa, đối với người khác là sự phản bội nhưng đối với ta vẫn trung thành phục vụ , đem hết sức khuyển mã để phụng sự ta.
Ví dụ : Nô Bộc ở cung Hợi (thuộc tam hợp Mộc) sinh nhập cho Thân ở cung Dần (thuộc tam hợp Hỏa). Những thầy phù thủy, thầy pháp cao tay ấn đều có cách này.

7- Trắng tay sự nghiệp
Đại, Tiểu Hạn trùng phùng, đáng sợ nhất của lá số Tử-Vi là Đại hạn 10 năm đóng tại một trong ba cung có sao : Thiếu Dương, Tử Phù, Phúc Đức (đỡ vất vả nhất) và Tiểu vận một năm cũng nằm trên một trong ba cung có sao vừa nói, (gọi là hạn Thiên Không, sẽ gặp số không ở cuối đường hầm). Cụ Thiên Lương chủ trương học Tử-Vi phải có lòng thành khẩn và can đảm mà gồng mình chịu đựng :

– Khi sao Thiên Không đóng ở Tứ Mộ (bốn cung Thìn Tuất Sửi Mùi ) nghĩa là không có trường hợp Đào Hoa, Thiên Không (xảo trá, mưu mô) và cũng không có trường hợp Hồng Loan Thiên Không (xuất tăng tầm đạo ) chỉ có một GRANĐ-ZEZÔ. Vậy khi nào hạn Thiên Không (vòng của Thiếu Dương, Tử Phù, Phúc Đức) nhập Mộ cung, thì kể như trắng tay sự nghiệp (nhất là khi Mệnh, Thân thuộc cách Cơ Nguyệt Đồng Lương, mà Đại Tiểu hạn trùng phùng là Sát Phá Tham cách) may mắn lắm bản thân mới còn, đa số đều ôm hận ngút trời, mà về cõi ta bà Âm Phủ

8- Sớm đầu tối đánh:
Sáu sao Kình Dương, Đà La, Địa Kiếp, Địa Không, Hỏa Tinh và Linh Tinh. Tuy bản chất hung dữ nhưng có nhiều nét dị biệt cần phải bám sát vào ba đặc tính kể sau để nhận diện :

– Kình Dương và Đà La thuộc loại Sát tinh hữu dõng vô mưu, tuy tác hại nhưng còn chiêu hồi được. Nói cách khác, khi nó hãm địa là những bộ mặt quỷ dạ xoa, chủ trương tiêu diệt phá phách, nhưng khi chúng đắc địa nhất là cung Sửu, Mùi thì lại là mẫu hình Chung Vô Diệm tuy xấu mặt nhưng tốt bụng, luôn luôn trung thành, cứu giải phò nguy cho cung mang ý nghĩa mà đôi sao này trấn đóng.

– Địa Kiếp và Địa Không là cặp bài trùng phản trắc chung thân (bất kể chúng đóng ở cung hãm địa hay đắc địa) cung nào mà có bộ mặt của hai sao Không, Kiếp (dù một hay cả hai) thì cục diện cung đó đã có chiều hướng lệch lạc (Thiên Tả) lình xình. Không, Kiếp đắc địa ở cung Tỵ, Hợi, chỉ làm lợi buổi đầu, nó đưa người thụ hưởng lên thật cao rồi cuối cùng vật té xuống hồ sâu (bản chất phản trắc là như thế !). Ngoài ra, một vài tiểu xảo lý thú về sự lệch lạc của Địa Không, Địa Kiếp như sau : Cung Tử Tức có Không Kiếp là thêm con hoang, dị bào, khó nuôi con … Cung Huynh Đệ có Không Kiếp là có thêm anh chị em không cùng một giòng chính thống, hay anh chị em gái có người tình duyên dang dỡ... Cung Phối có Không Kiếp là nhiều lần chắp nối, vợ này, chồng khác (nhất là gặp phải góa phụ, góa vợ..).

– Hỏa Tinh và Linh Tinh là nhóm sao chuyên chú về những thủ đoạn vụng trộm, tính toán, tiểu lợi, chỉ rình mò khi nào đương số gặp vận xấu là vùng lên đánh lén để ăn có. Cung nào chứa Hỏa Tinh, Linh Tinh (chỉ cần một cung là đủ) là hay gặp phải ý nghĩa của câu “họa vô đơn chí”, nghĩa là đường kia nỗi nọ ngổn ngang tơi bời , bởi lo chuyện này chưa xong thì tai ách khác đã tới (nhưng không đến nỗi gay cấn lắm) quan trọng và tai hại nhất là những ai tuổi Canh, Tân (và mạng Kim) gặp hạn Linh, Hỏa ở thế Sát Phá Tham là tiêu tùng sự nghiệp, bổn mạng lâm nguy (Linh Hỏa đóng ở hai cung Thủy là Hợi và Tý thì hạn nhẹ nhất).

9- Được làm vua thua làm giặc
Sao Phá Toái hoạt động riêng trong giang sơn của nó là vòng Kim (thuộc ba cung Tỵ Dậu Sửu). Ai cũng biết Phá Toái chỉ chịu quy phục sao Phá Quân (gọi là Toái Quân- Lưỡng Phá). Do đó người Mạng Kim mà Thân, Mệnh đóng ở một trong ba cung Tỵ Dậu Sửu thuộc cách Sát Phá Tham thì hay nhất, anh hùng nhất (số làm tướng, bách chiến, bách thắng). Thói thường cỡi cọp thì sẽ có ngày cọp cỡi (sinh nghề tử nghiệp) thành ra những người tuổi Tỵ Dậu Sửu thuộc cách Cơ Nguyệt Đồng Lương ở cung Thân, Mệnh, hạn gặp Phá Toái kể như lọt vào vòng kiềm tỏa và ảnh hưởng trực tiếp của hung tinh này, đau khổ là lý đương nhiên, chưa vui họp mặt đã sầu chia ly.

10.Anh hùng tạo thời thế
Tử vi là chúa tinh, đóng ở cung nào đem bóng dáng của hạnh phúc vào cung đó, đây chỉ là lý thuyết tổng quát. Còn khi đem áp dụng vào bản số Tử vi thì đã biến thiên rất nhiều ý nghĩa, lẽ dễ hiểu: Vua hiền mà không gặp được bầy tôi tài giỏi, thì làm sao mà không gặp được bầy tôi tài giỏi, thì làm sao mà nước lã quấy nên bột nên hồ? Lưu Bị không gặp được Khổng Minh, Lê Lợi không có Nguyễn Trãi, chưa chắc đã có tình trạng lịch sử đáng được ghi chép. Có bốn mẫu cung Thân Mệnh (nhất là cung an Thân, vì có hoạt động mới tạo được thành quả) cần phân tích:

-Mệnh Thân có Tử Vi và Thất sát: Vua có thực lực nhưng bề tôi là đám chủ về bạo động, nên ở tình trạng chật vật, thật vất vả mới bình trị được thiên hạn, thất bại nhiều hơn chiến thắng.

-Mệnh thân có Tử vi và Phá quân: Vua gặp phải bầy tôi gian xảo và tham vọng, thành ra yếm thế, bi quan, nhiều khi cũng phải gian tham độc ác theo để tương kế, tựu kế mà sống.

-Mệnh Thân có Tử vi và Thiên Tướng: Vua gặp được tướng giỏi (nhưng hữu dũng vô mưu) cách này là phải luôn chiến đấu (làm sao bắt Thiên Tướng làm việc liên miên, để không còn cơ hội tạo phản) do đó tình trạng phải đa đoạn công việc việc suy gẫm nhiều mưu cơ

-Mệnh Thân có Tử vi và Thiên Phủ: Vua gặp thời thạnh trị, văn thần trung nghĩa, trên dưới hòa thuận nên được hưởng nhiều thanh thản trong đời sống, vừa có tiếng, vừa có miếng.

Nói cách chung, tất cả các yếu tố gọi là sao trên bản số Tử vi, đã sinh hoạt như một cộng đồng nhân loại, có đầy đủ các yêu tính thế tục và thánh thiện vậy.

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: 10 kinh nghiệm sát thủ của Tử vi

Hiện tượng bát hương bốc cháy có điềm báo gì?

Bát hương bốc cháy được chia làm 2 loại: hoá âm (cháy âm ỷ ở dưới chân bát hương) và hoá dương (cháy ở chân nhang bên trên) được coi là có điềm báo tâm linh
Hiện tượng bát hương bốc cháy có điềm báo gì?

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Về mặt Tâm linh, bát hương được coi là "căn nhà vô hình" của tổ tiên trong gia đình, do vậy đây được coi là 1 điềm báo trước sẽ có sự kiện gì đó sắp diễn ra trong gia đình chủ nhà đó. 

Hiện nay rất nhiều gia đình thắp hương thường xuyên, và đôi khi chúng ta thấy có hiện tượng bát hương tự bốc cháy. Nếu không duy tâm thì vấn đề này được nghĩ là do không lau dọn ban thờ và nhiều chân nhang quá, hay do thời tiết hanh khô gặp gió nên dễ bắt cháy.

 
Hien tuong bat huong boc chay co diem bao gi hinh anh
 Ảnh minh họa

Hóa bát nhang (bát hương bốc cháy) được chia làm 2 loại là hoá âm (cháy âm ỷ ở dưới chân bát hương) và hoá dương (cháy đùng đùng chân nhang bên trên)   - Bát hương hóa dương: lửa cháy đùng đùng thường báo điềm tốt, lộc lá, làm ăn khấm khá.   - Bái hương hóa âm: chỉ âm ỉ chân hương, không cháy thành lửa thường báo điềm xấu: mồ mả động hoặc bị mất tiền (lai lừa, cho vay không đòi được, giao trứng cho ác...)   Có nhiều cách hóa giải hợp lý để an tâm trong nhiều tình huống để các bạn tham khảo:   - Dọn dẹp sạch sẽ xung quanh bát và ban thờ, khi thắp hương chú ý theo dõi, để ý không là dễ dẫn đến hoả hoạn
 
- Nếu hóa âm, chân nhang còn lại tỉa bớt đem hóa riêng và rải phép ít tro trước nhà, hóa dương thì ngược lại rải sau nhà.
 
- Mua hoa quả thắp lễ. Hóa âm mua đồ chẵn, và hóa dương thì đồ lẻ....   Phụ nữ đến kỳ kinh nguyệt có được đi chùa lễ Phật?5 ngôi chùa cầu được ước thấy nên đi lễ đầu nămLễ chùa mà phạm phải 7 điều thì công quả mất hết Sưu tầm
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Hiện tượng bát hương bốc cháy có điềm báo gì?

Không khó để nhận ra tướng phụ nữ dễ ly hôn

Hôn nhân là canh bạc cuộc đời của người phụ nữ. Lấy được chồng tốt thì sung sướng một đời, nhưng không may gặp phải người đàn ông tệ bạc thì cả đời nhọc nhằn
Không khó để nhận ra tướng phụ nữ dễ ly hôn

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

– lo âu. Có những nét tướng cách dưới đây, nữ giới thường gặp bất hạnh trong hôn nhân, không sớm thì muộn cũng kí vào giấy ly hôn.


► Xem nốt ruồi trên mặt đoán vận mệnh chuẩn xác

1. Lông mày rậm, thô
  Phụ nữ có tướng lông mày rậm, thô thường khá nam tính, hành sự dễ va chạm, xung đột, thiếu sự mềm mỏng, tế nhị. Trong cách đối nhân xử thế, người này không khéo léo, vợ chồng dễ căng thẳng, nảy sinh mâu thuẫn cũng chính vì lý do đó.   Nếu lông mày đã rậm, dày mà lại mọc loạn, không theo hàng lối nhất định thì chứng tỏ chủ nhân càng thiếu nét duyên dáng, nữ tính. Tính tình cố chấp, bảo thủ, chẳng nhường nhịn ai bao giờ.   Sống bên cạnh cô vợ hiếu thắng, cá tính quá mạnh như vậy thì ít ông chồng có thể chịu đựng nổi. Vì thế, hôn nhân chẳng thể bền vững. Đây chính là một trong những đặc điểm dễ nhận thấy của tướng phụ nữ dễ ly hôn.
Khong kho de nhan ra tuong phu nu de ly hon hinh anh
 
2. Môi dưới dày hơn môi trên   Nếu độ dày của môi dưới quá lớn, nhìn tương quan lực lượng thì gấp nhiều lần so với môi trên, cũng là một trong những đặc điểm của tướng phụ nữ bất hạnh trong hôn nhân, sớm hay muộn cũng kí vào giấy ly hôn.   Vì sao ư? Vì những cô nàng này thường có tính dục khá mạnh, nhu cầu “mây mưa” rất cao. Cô ấy ưa mạo hiểm, thích tự mình chinh phục phái mạnh, tính tình lại quá ư là bướng bỉnh. Vì thích tự do bay nhảy, cô ấy chúa ghét bị lệ thuộc, ràng buộc hay gắn bó quá lâu dài với một ai đó, trong một không gian chật hẹp nào đó.   Sau một thời gian kết hôn, đối phương không đáp ứng được nhu cầu gối chăn mãnh liệt hoặc xao nhãng việc chăm lo tình cảm lứa đôi, hoặc chỉ đơn giản là không còn hợp gu nữa, cô ấy sẽ sẵn sàng “giải phóng” cho cả hai.   Tướng mặt quý cô vừa giàu có lại lấy được chồng tốt Cạch mặt tướng đàn ông thích ăn cá gỗ Tướng mặt quý cô có phúc phận làm phu nhân của chính trị gia
3. Sống mũi cao nhưng bị gồ, gấp khúc
  Tướng mũi được cho là quý tướng khi có sống mũi cao, thẳng và hai cánh mũi nở đều. Nếu phụ nữ có cánh mũi mỏng, sống mũi tuy cao nhưng lại bị gồ lên, gấp khúc thì số phận vất vả, long đong lận đận về đường tình duyên.   
Khong kho de nhan ra tuong phu nu de ly hon hinh anh
 
Trong tình yêu, cô nàng này yêu hết mình, thậm chí mù quáng nên không biết tiết chế cảm xúc, đối phương được đà lấn tới, sinh ra hư đốn, cả thèm chóng chán.   Ngoài ra, người này thuộc tuýp thô bạo, hay nóng giận, quyết liệt và thiếu lòng vị tha. Mỗi khi gia đình có mâu thuẫn, họ không bao giờ đứng ra xin lỗi trước. Dù là sai rành rành ra đấy nhưng vẫn cố biện minh rằng mình đúng, khiến mâu thuẫn gia đình càng thêm gay gắt. Cánh mày râu vì khiếp vía nên sớm muộn cũng tìm cách ruồng bỏ, ly hôn cho bằng được.   4. Sơn căn thấp, ngắn   Trong Nhân tướng học, Sơn Căn là vị trí ở giữa hai phần mắt, vùng dưới Ấn Đường (khoảng cách giữa hai mắt) và là nơi cao nhất trên sống mũi.    Nữ giới có Sơn căn thấp, ngắn, cả cuộc đời vất vả lênh đênh, tuy không dám nói thuộc tuýp khắc chồng nhưng hễ họ lấy ai thì người ấy cả đời không “ngóc đầu” lên nổi. 
 
Một trong hai người dần dà qua một thời gian ngắn chung sống bên nhau, có lẽ chỉ từ 5 – 7 năm, sẽ nảy sinh mâu thuẫn bất hòa. Cuộc sống vật chất chi phối hạnh phúc gia đình rất lớn. Nếu cứ làm ăn lụn bại, đến một lúc nào đó, vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn chẳng thể cứu vãn nổi.
5. Vầng trán quá cao  
Khong kho de nhan ra tuong phu nu de ly hon hinh anh
 
Trán cao, rộng là đặc điểm của những người có tham vọng lớn. Cô nàng nào có nét tướng cách này cũng không ngoại lệ. Trong công việc cũng như trong cuộc sống riêng, bao giờ họ cũng có những tiêu chuẩn rất cao, khác hẳn với người khác.    Trong tình yêu, họ mê mẩn, chìm đắm khi bị tiếng sét ái tình chạm đến, bỏ qua mọi khuyết điểm của đối phương. Nhưng sau khi kết hôn, họ lại tìm cách soi mói, bới móc nhược điểm ấy, để rồi tan cửa nát nhà lúc nào không hay.
 
Trong trường hợp, chồng của người này thuộc tuýp đàn ông an phận thủ thường, dễ tính, xuề xòa, vô tâm thoải mái, chỉ một thời gian ngắn sau khi kết hôn, họ sẽ lại chia lìa đôi ngả mà thôi. 
Nhìn mặt biết ngay bạn tham vọng đến mức độ nào Chỉ ra tướng mặt người nghèo khó và cách thoát nghèo Đừng lơ là những dấu hiệu mất của trên tướng mặt
6. Xương cằm bạnh ra
  Trong nhân tướng học, phụ nữ có xương cằm bạnh ra thường bị liệt vào hàng nham hiểm, tâm địa đen tối. Đây chính là loại người “lưỡi không xương nhiều đường lắt léo”, giỏi ăn nói và cũng giỏi dựng chuyện, đặt điều thị phi.   Trong tình yêu, cô nàng này “đa nghi như Tào Tháo”, nếu ông xã có nghi vấn gì lập tức đổ tội ngoại tình và “giở đủ võ” để theo dõi, kiểm tra, kiểm soát mọi lúc mọi nơi.   Bởi thế cho nên, hôn nhân ngày càng ngột ngạt, khó thở, hai vợ chồng thường xuyên sống trong cảnh “cơm không lành, canh không ngọt”, chiến tranh lạnh triền miên. Nếu người chồng không đủ bao dung, hoặc chấp nhặt hoặc làm tới, ăn chơi bên ngoài thì người vợ cũng sẵn sàng “ông ăn chả thì bà ăn nem”.    Hơn thế, cặp vợ chồng này không chỉ khắc khẩu và còn đồng sàng dị mộng, ở cạnh nhau nhưng lại tơ tưởng người khác, đời sống chăn gối dần nguội lành, tìm người khác thay thế là điều đương nhiên.   Ngọc Diệp Luận bàn tướng phụ nữ dễ sinh con quý tử
Trong nhân tướng học, các đặc điểm về hình dáng bên ngoài của nữ giới cũng hé lộ phần nào khả năng sinh con trai hay gái ở họ.

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Không khó để nhận ra tướng phụ nữ dễ ly hôn

Cách hóa giải tam địa sát –

Hoả khí tụ tại phương Nam, Hoả vượng tại Ngọ nên vào năm Giáp Ngọ 2014, Hỏa khí mạnh lên, xung chiếu Thủy khí ở cung đối diện là phương Bắc. Thủy - Hoả đấu nhau, tạo ra hung sát, những ngôi nhà/căn hộ có cửa ra vào tại phương Bắc sẽ chịu tác động xấu

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Hoả khí tụ tại phương Nam, Hoả vượng tại Ngọ nên vào năm Giáp Ngọ 2014, Hỏa khí mạnh lên, xung chiếu Thủy khí ở cung đối diện là phương Bắc.

Thủy – Hoả đấu nhau, tạo ra hung sát, những ngôi nhà/căn hộ có cửa ra vào tại phương Bắc sẽ chịu tác động xấu trong năm nay. Năm 2014, phương Bắc là phương vị bị Tam sát. Tam sát là gọi tắt của Kiếp sát, Tai sát và Tuế sát. Theo phong thủy học, Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ là 5 loại khí (năng lượng). Phương Đông tụ tập Mộc khí, phương Tây tụ tập Kim khí, phương Nam tụ tập Hoả khí, phương Bắc tụ tập Thuỷ khí, trung cung tụ tập Thổ khí. Các khí ở vị trí đối nhau có tính chất tương phản, thông qua tác dụng của Thổ ở trung cung mà tương khắc, tương xung, tạo ra hung sát. Tuy nhiên, không phải lúc nào khí của các cung đối nhau cũng tạo ra hung sát, mà phải căn cứ theo năm, tháng khác nhau, khí của phương vị nào đó thịnh vượng thì mới tạo ra hung sát.  cách hóa giải tam địa sát Xét theo năm, các năm Dần, Ngọ, Tuất, hung sát xuất hiện tại phương Bắc. Bởi lẽ, Hoả khí ở phương Nam, sinh ở Dần, lại thêm Thái tuế đến Dần, sinh khí cực thịnh. Hoả vượng tại Ngọ, lại thêm Thái tuế đến Ngọ, vượng khí càng vượng. Hoả ẩn tại Tuất, lại thêm Thái tuế đến Tuất, mộ khí của Hoả cực thịnh. Dần, Ngọ, Tuất hình thành cuộc Hoả tam hợp. Ba năm này, Hoả tụ tại phương Ngọ (chính Nam), xung chiếu Thủy khí ở cung đối diện là phương Bắc. Thủy – Hoả đấu nhau, xung sát rất mạnh, cho nên các năm Dần, Ngọ, Tuất, hung sát tại phương Bắc. Mặt khác, tam hợp địa chi Dần, Ngọ, Tuất “tuyệt” (tan rã) tại Hợi, nên vị trí Hợi có hung sát, được gọi là Kiếp sát. Tam hợp địa chi Dần, Ngọ, Tuất “thai” (phôi thai) tại Tý, nên vị trí Tý có hung sát, được gọi là Tai sát. Tam hợp, địa chi Dần, Ngọ, Tuất “dưỡng” (thai trưởng) tại Sửu, nên vị trí Sửu có hung sát, được gọi là Tuế sát. Theo đó, năm 2014, Tam sát ở hướng Bắc, phương vị là Hợi, Tý, Sửu. Phạm Kiếp sát dễ gặp tai nạn, mất mát tiền của. Phạm Tai sát dễ bị ốm đau, bệnh tật. Phạm Tuế sát dễ bị thương tật, rủi ro, bất lợi trong công việc và các mối quan hệ. Cổ nhân có câu: “Cát hung sinh ra do động, nếu đã bị phạm thì nên tĩnh, không nên động, nếu động thì là hung”. Do đó, trong năm 2014, kị tu tạo phương Bắc, vì đây là phương xung với Hoả khí năm Ngọ. Đặc biệt, tránh động thổ, tu sửa nhà cửa tại vị trí Tam sát là Hợi, Tý, Sửu, tức các vị trí (theo thứ tự): từ 322,5 độ đến 337,5 độ; từ 352,5 độ đến 7,5 độ (tức từ 352,5 độ đến 360 độ và từ 0 độ đến 7,5 độ); từ 22,5 độ đến 37,5 độ. Nếu cửa chính ở phương Bắc, nhất là vị trí Hợi, Tý, Sửu, thì năm nay phạm phải Tam sát. Cửa chính là nơi ra vào thường xuyên của người trong nhà, khuấy động sát khí thì nhân khẩu trong gia đình sẽ bị ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ. Mức độ ảnh hưởng của Tam sát là mạnh nhất khi cửa chính đặt tại phương vị Tý (chính giữa phương Bắc), vì đây là vị trí chính xung trong tam hợp Dần, Ngọ, Tuất. Đáng chú ý, phương Bắc đại diện cho thứ nam, tức con trai thứ trong nhà, hoặc người nam từ 16 đến 30 tuổi, do đó, mức độ ảnh hưởng của Tam sát đến những người này sẽ nhiều hơn những người khác. Ngoài ra, không nên bố trí các vật mang tính “động” như tivi, loa đài, quạt điện… tại phương Bắc; hạn chế ngồi học, làm việc tại phương Bắc và/hoặc quay lưng về hướng Bắc (quay mặt về hướng Bắc không kị). Ngồi quay lưng về hướng Bắc, tức mặt quay về hướng Nam sẽ bị Hỏa khí phương Nam xung chiếu, nhất là đối với người tuổi Tý (xung Thái tuế năm Ngọ). Một cách cơ bản để hoá giải hạn Tam sát là sử dụng kỳ lân, một trong bốn linh vật trong tứ linh theo tín ngưỡng dân gian Á Đông. Kỳ lân trong truyền thuyết là nhân thú, tức con thú có lòng nhân từ, gặp người tốt sẽ giúp đỡ. Kỳ lân có hình thù đặc biệt, với các đặc điểm như: đầu rồng, sừng nai, mũi sư tử, thân ngựa, đuôi bò… Trong phong thủy học, kỳ lân có tác dụng tăng uy vũ, trấn trạch, chiêu tài, hoá sát, hỗ trợ tiêu tai giải nạn, thúc tài thăng quan, vượng nhân đinh… Trong trường hợp cửa nhà phạm Tam sát nêu trên, nên đặt ở hai bên cửa một đôi kỳ lân bằng ngọc, hoặc bằng đồng. Nếu vị trí không thuận tiện thì có thể đặt ba con kỳ lân liền nhau ở bên trong, chẳng hạn trên bàn, đầu hướng ra cửa. Điều kiện kinh tế chưa cho phép thì có thể treo hai bức tranh hình kỳ lân lên hai cánh cửa. Phía ngoài cửa (bên trái) có không gian rộng thì nên trồng một loại cây thân gỗ để hấp thu hung sát, ngăn ngừa khí hung phát tác.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Cách hóa giải tam địa sát –

Những điều cấm kỵ trong tang lễ

Người Việt Nam rất coi trọng chuyện lễ nghĩa, trong cả đám tang cũng cần phải tránh một số điều nếu không muốn gặp phải những điều không may mắn.
Những điều cấm kỵ trong tang lễ

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Người Việt Nam rất coi trọng chuyện lễ nghĩa, không chỉ trong đám hỷ mà trong cả đám tang cũng cần phải tránh một số điều nếu không muốn gặp phải những điều không may mắn.

  Người chết phải được mặc quần áo gọn gàng   Trong nghi thức khâm niệm, người Việt Nam thường rất kỹ tính. Người chết phải được mặc quần áo đẹp, cấm kỵ việc để trần. Người già khi cảm thấy mình tuổi đã cao hoặc sức khỏe yếu thì thường chuẩn bị sẵn quần áo và dặn dò con cháu khi mình mất thì mặc cho mình bộ quần áo đó. Áo liệm thường được chuẩn bị theo số lẻ 3, 5, 7 cái… người ta kiêng số chẵn vì quan niệm rằng nếu số chẵn thì sẽ có một người nữa trong gia đình bị chết theo.    Ngoài ra, người ta cũng kiêng mặc cho người chết áo liệm bằng da và lông thú vì cho rằng nếu như vật thì kiếp sau sẽ bị đầu thai thành động vật. Cấm kỵ việc mặc cho người chết quần áo của người còn sống thì như vậy người còn sống sẽ bị lấy đi mất một phần hồn, khiến cho người sống bị ngớ ngẩn hoặc hay quên.
 
Ngày nay, nếu không dùng hình thức hỏa thiêu thì người ta hay mặc cho người chết quần áo làm bằng chất liệu không pha hoặc chỉ pha một chút ít nilon để việc phân hủy diễn ra nhanh chóng hơn.   Kiêng để mèo nhảy qua quan tài hoặc xác người chết

Người ta thường thay nhau ngồi canh quan tài hoặc thi hài người chết để tỏ lòng thương tiếc và cũng là tránh không cho mèo nhảy qua xác người chết (đặc biệt là mèo đen), tránh hiện tượng “quỷ nhập tràng” - người chết đột nhiên ngồi bật dậy.   Kiêng để nước mắt rơi vào người chết

Trong quá trình khâm liệm, người ta thường không cho người nhà trực tiếp làm vì sợ do quá đau buồn và thương xót mà khóc lóc làm rơi nước mắt vào thân thể người chết. Điều này sẽ làm cho người đã khuất lưu luyến, không được siêu thoát, ra đi không thanh thản.   Không dùng gỗ cây liễu để đóng quan tài

Cây liễu là loài cây không có hạt nên theo quan niệm dân gian thì người ta kỵ dùng gỗ cây liễu để đóng quan tài vì sợ đời sau không có người nối dõi. Tốt nhất là nên dùng gỗ tùng hoặc bách để đóng quan tài.   Chọn giờ phát tang, giờ “ra đồng”, chọn vị trí chôn cất

Để tránh những điều không may xảy ra, người Việt nam thường rất coi trọng chuyện xem ngày, giờ phát tang, giờ đưa linh cữu người chết “ra đồng” và giờ hạ huyệt. Bên cạnh đó, vị trí chôn cất, đào huyệt hộ cũng cần phải xem kỹ để tránh việc ảnh hưởng xấu tới con cháu đời sau, hay người thân, người nhà.
Nhung dieu cam ky trong tang gia hinh anh
tang gia
Kiêng đi nhanh khi khiêng linh cữu

Khi khiêng linh cữu phải nhẹ nhàng và cẩn thận, để giữ cho thi hài người chết được nằm yên chình vì vậy người khiêng phải đi thật chậm, đây cũng là thể hiện sự lưu luyến với người mất.   Cấm kỵ sau khi hạ huyệt, không được quay đầu lại

Người thân hoặc người dự đám đang, sau khi hạ huyệt linh cữu người đã mất và ra về thì không được quay đầu trở lại bởi theo quan niệm dân gian, nếu quay đầu lại thì linh hồn người đã khuất sẽ theo người sống về nhà.
Người mới chết không được thờ chung trên bàn thờ với tổ tiên   Khi lập bàn thờ cho người mới chết phải lập riêng, không được thờ chung bát hương với tổ tiên. Việc này thuận tiện cho việc cúng bái hàng ngày cho tới khi qua thất tuần và cũng do thân thể người mới mất chưa phân hủy hết nên không được thờ chung.
 
Tránh tới nhà người khác trong thời gian để tang

Trong thời gian để tang, những người trong gia đình cần tránh tới nhà người khác như họ hàng, hàng xóm, bạn bè… vì như vậy là sẽ đem lại xui rủi cho nhà đó, đặc biệt là vào dịp Tết, và những gia đình có người bị bệnh.   Kiêng động cuốc, động thuổng vào mộ   Sau khi chôn cất được ba ngày thì người ta sẽ làm lễ mở cửa mả. Sau lễ này thì tuyệt đối không được đắp mộ hay động cuốc thuổng vào mộ. Điều này để tránh việc mồ mả bị sập, động tới người chết trong thời gian áo quan và thi hài đang phân hủy. Con cháu khi thắp mộ hương chỉ được lấy đất đắp và tuyệt đối tránh việc trèo lên mộ. 
 
Ở những gia đình mà có người già mất, chập tối phải đóng cửa   Theo tín ngưỡng dân gian, ở những gia đình mà có người già mất, chập tối phải đóng cửa, kiêng trả lời nếu chưa nhận tiếng gọi người đứng ngoài cổng. Sở dĩ như vậy là do người mất, đặc biệt là người già mới mất còn quyến luyến con cháu, tối về gọi con cháu và sẽ bắt theo những ai thưa.    Trong thời gian chịu tang, kiêng làm đám cưới   Nếu người mất trong gia đình là bố hoặc mẹ thì trong thời gian chịu tang, người con kiêng việc kết hôn nhằm tỏ lòng kính trọng, tiếc thương cha mẹ. Theo quan niệm, thời gian để tang là 3 năm nhưng ngày nay, việc kiêng cữ không còn kiêng cữ kỹ lưỡng, sau giỗ đầu thì người con có thể kết hôn.   Kiêng để ánh sáng mặt trời soi trực tiếp khi cải táng
 
Thông thường, các gia đình thường xem ngày, giờ để cải táng (sang cát). Việc cải táng luôn được thực hiện về đêm để tránh ánh sáng mặt trời vì có nhiều trường hợp thi thể sau nhiều năm vẫn còn nguyên vẹn, nếu để ánh sáng mặt trời chiếu vào, thi thể sẽ rữa ngay và teo lại.  
► Mời các bạn khám phá thế giới tâm linh huyền bí bốn phương có thật

Theo Tinchieu
 
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những điều cấm kỵ trong tang lễ

Đức, Tú quý nhân

Đức quý nhân là thần hóa giải hung, Tú quý nhân là khí thanh tú của trời đất, là thần thịnh vượng 4 mùa. Người trong mệnh có Đức, Tú quý nhân và không bị
Đức, Tú quý nhân

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

xung, phá, khắc, áp thì thông minh, tài hoa xuất chúng, tính tình ôn hòa, trung hậu. Nếu trong mệnh có Học Đường quý nhân thì là người có tài, cao sang, nếu gặp xung khắc thì sự may mắn sẽ giảm đi.

(Ảnh chỉ mang tính chất minh họa)

Cách tra Đức, Tú quý nhân là lấy tháng sinh làm chủ, nếu trong thiên can của tứ trụ ở vào một trong các trường hợp dưới đây là có Đức hoặc Tú quý nhân nhập mệnh.

- Sinh tháng Dần (tháng 1), Ngọ (tháng 5), Tuất (tháng 9) nếu trong tứ trụ có can Bính hoặc can Đinh là người này có Đức quý nhân nhập mệnh.

- Sinh tháng Tỵ (tháng 4), Dậu (tháng 8), Sửu (tháng 12) nếu trong tứ trụ thấy can Canh hoặc can Tân là có Đức quý nhân; nếu thấy can Ất hoặc can Canh là có Tú quý nhân.

- Sinh tháng Hợi (tháng 10), Mão (tháng 2), Mùi (tháng 6) nếu thấy can Giáp hoặc can Ất là người này có Đức quý nhân nhập mệnh; nếu thấy can Đinh hoặc can Nhâm là tứ trụ xuất hiện Tú quý nhân nhập mệnh.

(Theo Dự đoán theo tứ trụ)

 

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Đức, Tú quý nhân

Mơ thấy nội tạng có đáng sợ không?

Thật không may nếu bạn mơ thấy nội tạng là trái tim hay lá phổi của mình. Những giấc mơ này sẽ khiến cho tinh thần sa sút, bạn cảm thấy chán nản và mất hết hi
Mơ thấy nội tạng có đáng sợ không?

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Thật không may nếu bạn mơ thấy trái tim hay lá phổi của mình. Những giấc mơ này sẽ khiến cho tinh thần sa sút, bạn cảm thấy chán nản và mất hết hi vọng. 


► ## giải mã giấc mơ theo tâm linh chuẩn xác

Mo thay noi tang co dang so khong hinh anh
Ảnh minh họa

 
Mơ thấy nội tạng là 2 quả cật ám chỉ bạn đang cảm thấy nặng nề và có nhu cầu thanh lọc cơ thể.   Chiêm bao thấy gan là điềm báo bạn nên đi khám bệnh, có thể gan của bạn đang có vấn đề, bạn cũng cần giảm uống rượu. Bên cạnh đó, điều này cũng ám chỉ bạn đang cảm thấy bị coi thường hoặc giận dỗi ai đó.    Lá phổi trong giấc mơ là biểu tượng cho sự sáng suốt, sáng tạo và nguồn cảm hứng. Ngòai ra, chiêm bao thấy phổi cũng ám chỉ bạn đang trong trạng thái căng thẳng vì quan hệ với một số người không được tốt.   Chiêm bao thấy mình bị đau tim có thể dự báo điềm xấu sắp xuất hiện không tốt cho sức khỏe và cuộc sống của bạn. Tuy nhiên, bạn cũng đừng quá lo lắng bởi những khủng hoảng muộn phiền đấy sẽ sớm qua đi mà thôi.   Thấy tĩnh mạch của bạn trong mơ, ám chỉ rằng bạn đang bị nói xấu sau lưng, nhưng không đáng lo vì sẽ có người bảo vệ bạn.  Mơ thấy nội tạng là những tĩch mạch của bạn đang chảy máu, báo trước rằng bạn sẽ trải qua sự phiền muộn lớn khó tránh khỏi.    Chiêm bao thấy túi mật của bạn, ám chỉ rằng bạn cần giải tỏa sự tiêu cực của bản thân. Bạn cần bỏ lại những rắc rối sau lưng và tự thưởng cho mình một khoảng thời gian thư giãn, có thể là “xách ba lô lên và đi” chẳng hạn.    Mơ thấy ruột người của bạn hoặc người khác, tượng trưng cho sự đau đớn khủng khiếp, sự tuyệt vọng và một hi vọng mong manh về hạnh phúc. Mơ thấy ruột của thú hoang hay súc vật, ám chỉ sự thất bại của kẻ thù của bạn. Mơ thấy bạn xé ruột của người khác, ám chỉ rằng những ý nghĩ hung tợn của bạn gia tăng sự thú vị và lợi lộc cho cá nhân bạn.   Mơ thấy nội tạng mà là dạ dày ám chỉ cho sự khởi đầu của những đổi thay mới trong cuộc sống của bạn. Giấc mơ này có thể cho thấy bạn chấp nhận những thay đổi này một cách khó khăn. Nó cũng cho thấy bạn không chịu đựng được lâu hơn một hoàn cảnh cụ thể, một mối quan hệ hay ai đó. Dạ dày thường được xem là trung tâm của cảm xúc.

Tổng hợp
 
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Mơ thấy nội tạng có đáng sợ không?

Lời Phật dạy về lòng từ

Lời Phật được ghi nhận trong Kinh Tập được các học giả phương Tây chuyên về Kinh điển Phật giáo coi là gần gũi nhất với những lời dạy của Đức Thế Tôn.
Lời Phật dạy về lòng từ

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Có thể cho rằng đây là một lối nói văn vẻ để chỉ Kinh Từ Bi theo cách của Tăng đoàn Amaravati Shanga, một tổ chức tu tập của các học giả phương Tây hành trì Phật giáo theo truyền thống Nguyên Thủy.

Kinh Từ Bi là một đoạn kệ ngắn trong phẩm Con Rắn (Uraga Vagga) thuộc Kinh Tập (Sutta Nipata), là một bộ phận của Tiểu Bộ Kinh (Khuddaka) trong hệ thống Nikaya.

Lời Phật được ghi nhận trong Kinh Tập được các học giả phương Tây chuyên về Kinh điển Phật giáo coi là gần gũi nhất với những lời dạy nguyên thủy của Đức Thế Tôn.

Kinh Từ Bi đã được nhiều người dịch ra tiếng Anh. Bản dịch của Edward Conze dựa trên bản tiếng Sanskrit, còn những bản dịch sau này dựa trên tiếng Pali.

Về nguyên ủy của Kinh Từ Bi, có thuyết nói như sau:

Bấy giờ gần đến mùa mưa. Sau khi nhận các đề mục thiền quán từ Đức Thế Tôn, một nhóm Tỳ kheo đi tìm một nơi thích hợp để an cư tu tập. Chúng Tỳ kheo này đến được một khu rừng và ở lại đó để thực hành thiền quán.

Tuy nhiên, các vị thần trú trên cây cối trong khu rừng đó cảm thấy sự hiện diện của chúng Tỳ kheo là điều bất tiện với họ nên đã tìm cách cản trở. Đêm đến, họ thực hiện đủ những kiểu quấy rối khiến các Tỳ kheo cảm thấy bất an không thể tu tập được.

Chư Tỳ kheo liền trở về gặp Phật thưa lại tự sự. Đức Thế Tôn dạy chư Tỳ Kheo bài Kinh Từ Bi và bảo quý vị ấy hãy trở lại chỗ cũ, cùng đọc tụng bài Kinh này lúc vào rừng. Chư Tỳ kheo yên tâm nghe lời Phật dạy.

Tư tưởng từ ái của lời Kinh được chư Tỳ kheo tụng đọc đã thấm nhuần khu rừng khiến các vị thần trú trên cây cối trong rừng cảm thấy an lạc, thay vì quấy rối chư Tỳ kheo, họ đã phát tâm kính mộ và hộ trì các vị đệ tử của Phật.

Sau ba tháng an cư, chúng Tỳ kheo nói trên đều chứng đắc quả A la hán.

Bài Kinh Từ Bi này có tính cách bảo hộ, vừa là những đề mục thiền quán và là một trong những bản Kinh được phật tử theo truyền thống Nguyên thủy tụng đọc nhiều nhất.

Bản dịch Việt ngữ dưới đây căn cứ vào bản dịch tiếng Anh của Tỳ kheo Thanissaro. Ông nguyên là một học giả Hoa Kỳ chuyên về lịch sử trí tuệ châu Âu, nhưng đã từ bỏ sự nghiệp học thuật để tu tập theo truyền thống Kammathana Thái Lan.

Đây là điều nên làm bởi một người thiện xảo với ý hướng muốn đạt đến trạng thái an lạc:

Có năng lực, chính trực và công minh, dễ dạy bảo,hòa nhã và không kiêu mạn, biết đủ và dễ cung dưỡng, ít bận rộn vì nhiệm vụ, sống cuộc sống thanh thoát, có nhiều khả năng an tĩnh, biết kềm chế, khiêm tốn và không ái luyến kẻ thân thuộc.

Đừng làm bất kỳ điều gì dù nhỏ nhặt nhất mà bậc thiện trí sẽ phiền trách.

Hãy nghĩ: Nguyện cho mọi chúng sinh đều an lạc, bất kể các chúng sinh ấy thuộc loài nào, yếu hay mạnh cũng không ngoại lệ, cao to hay trung bình hoặc thấp bé, dễ nhận biết hay khó nhận biết, hữu hình hay vô hình, gần hay xa, đã sinh hay đang chờ tái sinh. Nguyện mọi chúng sinh ấy đều an lạc.

Nguyện đừng ai dối lừa người khác hay khinh miệt bất kỳ ai ở bất cứ nơi nào, hoặc vì giận dữ hay bực tức mà cầu cho người khác phải chịu đau khổ.

Như một người mẹ sẵn sàng hy sinh cuộc sống để bảo vệ đứa con duy nhất của mình, cũng vậy người mong muốn an lạc hãy trau dồi từ tâm trải đến mọi chúng sinh.

Hãy trau dồi tâm từ để trải lòng từ ái khắp vũ trụ, cả trên, dưới và bốn phương tám hướng sao cho không bị ngăn ngại, với không một chút thù hằn, ghen ghét.

Cho dù đứng hay đi, ngồi hay nằm, bao lâu còn tỉnh thức, hãy quyết tâm với chánh niệm như trên.

Đó chính là nơi an trú cao thượng nhất tại đây và ngay bây giờ.

Không chấp vào tà kiến mà nhận biết với đức hạnh viên mãn và khuất phục được ham muốn dục lạc, người như thế sẽ không còn nhập vào bào thai.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Lời Phật dạy về lòng từ

Luận về Hỏa Tinh và Linh Tinh

Trong Tử vi đẩu số, Hỏa Tinh với Linh Tinh là hai sát tinh đi cặp như Kình Đà, Không Kiếp. Cả ba cặp sao trên gọi chung bằng “lục sát”. Đôi khi gọi bằng tứ sát, bộ bốn này không có Không Kiếp. Hỏa Tinh, Linh Tinh hiện ra mang đến sự biến động, làm chuyển hẳn một hoàn cảnh khách quan.
Luận về Hỏa Tinh và Linh Tinh

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Ảnh hưởng của Hỏa Linh phải kể là nghiêm trọng. Tỉ dụ Mệnh cung VCD, Hỏa Tinh hay Linh Tinh độc thủ thì quan hệ với những người sinh thành không mấy tốt đẹp, hoặc mồi côi hoặc bố mẹ chia lìa, hoặc đi làm con nuôi, hoặc không gần gũi phải ở với ông bà nội ngoại, chú bác cô dì, hoặc như Lã Bố làm con ba họ.

Trường hợp Hỏa Linh đóng ngay vào Phụ mẫu cung, nhưng chính tinh của cung này tốt lại thấy cả Lộc Mã thì phải đoán rằng thủa nhỏ đi theo bố mẹ đến một dị vực (phương xa) tạo điều biến đổi cho cả cuộc đời về sau (tỉ dụ lần du cư tị nạn sang Mỹ)

Hỏa với Linh đều chủ về biến động, thứ biến động gay gắt khó khăn chìm nổi. Hỏa với Linh trên biến động lại mang riêng hai trạng thái khác biệt. Cổ nhân viết:”Hỏa minh, Linh ám”. Giả như hỏa Linh mang đến tai họa thì Hỏa rõ ràng khả dĩ nhìn thấy trước mà dự liệu được, nhưng Linh thì bất ngờ và âm thầm.


Hỏa như sóng dữ nổi trên mặt nước. Linh như ngọn sóng ngầm khó đề phòng. Hỏa Tinh thộc dương hỏa, sao của sát phạt chủ về các việc hung họa. Hỏa Tinh thủ Mệnh tính cứng rắn cương quyết, có quyền uy nhưng rất nóng ngẩy không chịu an hận, không thể thỏa hiệp với hiện thực ưa phiêu lưu và bôn ba.


Linh Tinh thuộc âm hỏa cũng là sao sát phạt chủ về những việc phá hoại. Linh Tinh lanh lợi và cơ mưu, cao vọng không chấp nhận hiện thực, tâm ý bất thường dễ phản phúc hay tạo những đột biến


Tỉ dụ như Hỏa Linh vào Điền Trạch đều đưa đến tai hoạ về nhà cửa: cháy nhà, bị đoạt nhà. nếu Hỏa Tinh thì cháy nhà xảy đến bằng tai nạn vô ý. nếu Linh Tinh thì xảy đến bằng có kẻ đốt nhà. Âm mưu đoạt nhà đều vì Linh Tinh chứ không phải do Hỏa Tinh


Hỏa Linh vào cung Tật Ách thì hỏa bệnh thuộc thực và rõ rệt. Linh Tinh bệnh thuộc hư và âm trầm.


Hỏa Linh đóng mệnh tuổi trẻ đã ly hương. Ở cung Phụ mẫu, tuổi nhỏ sớm phải xa cha mẹ một thời gian. Ở cung huynh đệ, anh em chia lìa. Ở Phu Thê cung vợ chồng phân tán. Để tìm hiểu cặn kẽ vẫn phải căn cứ vào nguyên tắc “Hỏa minh Linh ám” mà đoán Hỏa và Linh đều rất hợp với sao Tham Lang.

Tại sao? Vì Hỏa Linh thuộc hỏa mà Tham Lang là Dương Mộc, Mộc sinh Hỏa. Tham Lang có Hỏa hay Linh thêm Lộc Tồn, hoặc Hóa Lộc chủ về hoạnh phát tiền bạc. Nếu thấy cả Không Kiếp chen vào thì bạo phát rồi bạo bại.
Tham Linh không hay bằng Tham Hỏa. Cổ nhân nói “Tham Linh tịnh thủ tướng chi danh (Tham Lang Linh Tinh đồng cung đác địa làm tướng văn tướng võ) cho người ta cảm tưởng rằng Linh đi với Tham tốt hơn Hỏa đi với Tham.

 

Thực ra không phải vậy, Hỏa gặp Tham là minh Hỏa, Linh gặp Tham là ám hỏa. Hỏa cần phải sáng sủa, không nên tối ám. Bởi thế khi viết vào chi tiết cổ nhân mới thêm:”Hỏa Tinh mà hội hợp với Tham Lang ở vượng địa chức tới tước hầu và thượng tướng, lập công lớn nếu không bị hung sát phá, tuổi trung niên thành công”

Còn với Linh Tinh thì cổ nhân viết:”Ngộ Tham Lang tú, quan lộc diệc bất ninh nhược phùng cư vượng địa, phú quí bất khả luận”. Linh và Hỏa đứng với Tham Lang đều đi tới chổ thành đạt phú quí hơn người, nhưng riêng Linh Tinh cổ nhân phê mấy chữ “diệc bất ninh” trong khi với Hỏa tinh thì không phê mấy chữ này. Bất ninh là không yên. Tham Linh thường phải ứng phó với những hoàn cảnh khó khăn hơn Hỏa minh Linh ám càng rõ rệt khi chúng hiện vào các cung tử tức, nô bộc. Cung tử tức không chính tinh Hỏa tinh đơn thủ, nếu đối cung có chính diệu hay thì vẫn sinh con được, không sợ tuyệt tự. Nhưng nếu là Linh Tinh thì bà thứ sinh con cho chứ không phải chính thê.


Hỏa Tinh đóng nô bộc với Hình Kị thì chỉ bị bộ hạ oán ghét nhưng không mưu hại. Còn bị LinhTinh thì chẳng những căm giận mà còn âm mưu phản bội dẫn họa tới.


Hỏa Linh đi với Dương Đà lại biến ra những ý nghĩa khác. Kình Dương Đà La đều thuộc Kim. Hỏa Linh thì thuộc Hỏa. Kim có hỏa luyện mới nên thép tốt, vàng y. Kình Dương là dương kim cần dương hỏa hun đúc. Cho nên Kình Dương chỉ tốt khi gặp Hỏa Tinh


Đà La là âm kim, cần âm hỏa cho nên Đà La chỉ gặp Linh Tinh mới hay. Kết quả khác nhau ở chổ Kình hỏa thì phát mau và rạng rỡ, còn Đà Linh thì phát chậm và âm thầm. Kình gặp Hỏa có quyền đi với chức tước. Đà gặp Linh có quyền nhưng không ở chức vị cao.


Đà Linh thường là người giỏi về công an mật vụ và không thể thành võ tướng với võ công hiển hách mọi người đều biết. Đà Linh dễ gặp nguy hiểm hơn Kình Hỏa nhưng nguy hiểm qua mưu mô tranh chấp. Kình Hỏa thường nổi bật khi biến động đã hoàn tất.


Đà Linh thường là người âm thầm hoạt động để dựng nên biến động. Kình đi với Linh hay Đà đi với Hỏa đều trở thành vô dụng hoặc tác hại.


Có câu phú rằng “Kình Dương Linh Tinh vi hạ cách (Kình Dương đứng với Linh Tinh là hạ cách). Trong khi Kình Dương đứng bên Hỏa Tinh thì lại có câu phú khác “Dương Hỏa đồng cung uy quyền cuất chúng” (Kình Dương đứng bên Hỏa Tinh thì oai quyền. Dĩ nhiên phải là Kinh Dương đắc địa)


Hỏa Linh đứng thế hiệp Mệnh, nghĩa là Mệnh cung ở giữa hai phía sát bên là Hỏa Linh. Cách cục này phải kể như xấu, đưa tới hung tọa bất an, cuộc đời bôn ba nếu Mệnh cung chính tinh xấu càng nặng. Trường hợp Mệnh cung Tham Lang độc thủ nơi miếu vượng thì lại là cách hoạnh phát bạo phát. Trường hợp Hỏa Linh hiệp Kình Dương ở Mệnh thì vẫn thành công nhưng cực kỳ gian nan.


Những câu phú cổ nhân về Hỏa Linh còn thấy:

- Vũ Khúc Dương Đà kiêm hỏa tú, táng mệnh nhân tài

(Mệnh hoặc vận hạn có Vũ Khúc Kình Đà Hỏa tinh vì tiền mà tang mạng)

 

- Hỏa Linh thủ xung nữ dâm dục

(Hỏa Linh đóng Mệnh cung hoặc xung chiếu đàn bà đa dâm)


- Thất Sát LinhTinh trận vong yểu triết

(Thất Sát gặp LinhTinh số không thọ, thường hung tử)


- Linh Tinh Phá Quân bôn ba lao bác tài tinh khuynh

(Linh Tinh Phá Quân hãm cuộc đời long đong vất vả và tiền bạc phá bại)


- Linh Hỏa Dương Đà thủ Mệnh yêu đã bối khúc chi nhân

(Tại Mệnh hội tụ Kình Đà Linh Hỏa dễ bị tật như còng lưng)


- Hỏa Linh tương ngộ nhập miếu danh chấn chư bang

(Hỏa Linh ở Mệnh nơi miếu địa công danh hiển hách)


- Linh Tinh toạ Mệnh nhập miếu vũ chức cư đa

(Linh Xương Đà Vũ hạn ngộ đầu hà)


- Linh Xương Đà Vũ hạn ngộ đầu hà

(Vận hạn thấy Linh Tinh hãm gặp Đà La Vũ Khúc hãm hay Văn Xương có thể chết)


- Hỏa Linh dũ Phá đương Thân, bại điền tài ư tổ nghiệp

(Hỏa Linh đứng với Phá Quân ở Thân không phải cung Thân thường phá điền tài của tổ nghiệp)


- Linh Hỏa miếu vi nhân đại dởm

(Linh Hỏa thủ Mệnh miếu địa là người can trường to gan)


- Hỏa Linh Dương Đà vi tứ sát đơn phùng Cơ nhi hữu duyên

(Tứ Sát Hỏa Linh Dương Đà một trong bốn sát ấy gặp Thiên Cơ là người có duyên).


- Hỏa Tinh Linh Tinh chuyên tác tọa, ngộ Kiếp Không Thiên Sứ họa trùng trùng
(Hỏa Linh ưa gây họa gặp thêm Kiếp Không ở chỗ Thiên Sứ họa còn gấp bội)

- Linh phùng Sứ, Mã hội Dương Đà hữu tật tứ chi

(Cung Tật ách nơi sao Thiên Sứ đóng lại thấy cả Dương Đà chân tay có tật)

- Hỏa Linh hãm ư tử tức đáo lão vô nhị khốc

(Hỏa Linh hãm vào cung tử tức, hiếm con hoặc lúc già xa con)

 

- Linh Hỏa Hình Tang tối hiềm tử tức, hạnh ngộ Nhật Nguyệt tịnh minh lão lai tất hữu

(Linh Hỏa Hình Tang ở cung con, nếu như có Nhật Nguyệt song hữu thì khi về già cũng có người nối dõi)


- Hỏa Linh nhập Mệnh miếu, kiến chư cát, lập vũ công

(Hỏa Tinh hay Linh Tinh miếu địa đóng mệnh gặp thêm các cát tinh lập đựơc võ công)

 

- Hỏa Linh tương ngộ nhập miếu danh chấn chư bang

(Hỏa với Linh đồng cung ở đất miếu danh tiếng khắp nơi)

- Hỏa Linh hãm hội Dương Đà bảo cưỡng tai thâm.

(Hỏa Linh ở đất hãm gặp Kình Đà thì lúc nhỏ lắm bệnh tật)


- Nữ Mệnh Hỏa Tinh tâm độc, nội lang, khắc phu khắc tử

(Đàn bà Hỏa Tinh thủ mệnh giỏi tháo vát nhưng tâm độc và dữ dằn khắc chồng khắc con)


- Đà La Hỏa Linh đồng cung giới dịch chi tật

(Mệnh hay Tật Ách có Đà La Hỏa Linh dễ mắc chứng phong ngứa, sưng gan)

- Hỏa Linh ngộ hãm Thiên Cơ

Hẳn trong Mệnh ấy có tà chứ không

(Hỏa Linh hãm gặp Thiên Cơ hãm, người thật khùng như bị ma làm)


- Hỏa Linh Trì Mộc sáng soi

Lánh mình lửa cháy, nước sôi chớ gần


- Hỏa Linh ngộ Mã oán gia

Đề phòng hỏa hoạn mới là khỏi tai


- Linh Tinh Việt Hỏa đoài biên

Thạch trung hương hỏa thất kiềm sinh tai

(Linh Tinh, Hỏa Tinh, Thiên Việt ở Dậu dễ bị tai họa về nhà cửa)


- Kiếp Không da ắt đen hoàn

Hỏa Linh mặt khó sầu đăm đêm ngày

(Mệnh Hỏa Linh mặt mày ít tươi tỉnh, thường xấc sược, giận dữ)


- Đất tứ mộ Linh Tinh Tham Vũ

Có uy quyền chớ ngộ Kình Dương


- Tuất Thìn Xương Khúc Đà Linh

Sát gia Mệnh hạn gieo mình trầm vong

 

- Kình Dương Kị Hỏa một bài

Hãm mà thủ mệnh thật loài ác tinh


- Dương Linh toạ thủ Mệnh ai

Lại gặp Bạch Hổ hoạ tai đao hình


- Linh phùng Sát Phá hạn hành

Văn Vương xưa cũng giam mình ngục trung


- Phu cung Riêu Sát Kình Dương

Hội giao Linh Hỏa gái toan giết chồng


- Cự Môn Linh Hỏa tương phùng

Ba lần mối lái chẳng xong mối sầu

(Linh Hỏa đây đóng vào cung Phu thê)


- Linh Tinh hà tiện bao nhiêu

Phá Quân kia lại tiêu liều tiêu vung

(Linh Tinh ở cung Phu thê có vợ hay chồng hà tiện)

- Kiếp Không Linh Hỏa xấu xa

Sinh con lại gặp những lại gặp những tà ác tinh

(Kiếp Không Linh Hỏa vào tử tức hiếm con, con bất hiếu, bất mục)


- Bóng tà vẫn kém hào con

Bởi chưng Linh Hỏa Thái Âm hãm nhàn


- Hỏa Linh Dương Nhẫn lâm vào

Có sinh con cũng liệt vào tật thương


- Thiên Hình giữ của tốt sao

Linh Tinh hà tiện nên giàu đáng khen

(Linh Tinh đây ở cung Tài Bạch)


- Thiên Lương ngộ Hỏa chớ lầm

Hại người tổn vật mấy lần họa sinh.


Hỏa Tinh ở Dần Ngọ Tuất là miếu địa. Hỏa Tinh tại Tỵ Dậu Sửu là đắc địa. Hỏa Tinh vào Hợi Mão Mùi là lợi địa. Hỏa Tinh đứng Thân Tí Thìn là hãm địa.

Linh Tinh đóng Dần Ngọ Tuất, Thìn, Tỵ, Mùi là miếu địa. Linh Tinh hãm ở Tý Hợi Dậu Sửu.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Luận về Hỏa Tinh và Linh Tinh

Thăng quan tiến chức nhờ chuẩn phong thủy bàn làm việc

Bài trí phong thủy bàn làm việc là một trong những yếu tố giúp bạn thăng tiến nhanh chóng trong sự nghiệp.
Thăng quan tiến chức nhờ chuẩn phong thủy bàn làm việc

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Chỉ mất một chút thời gian và công sức, nhưng đổi lại, bạn lại "gặt hái" được nhiều thành công trong sự nghiệp.

1. Chọn nội thất góc tròn, tránh hướng ‘mũi tên độc’ vào mình

Mục đích của bài trí phong thủy bàn làm việc là giảm thiểu căng thẳng, tránh các vấn đề gây tổn thương đến tinh thần và cơ thể của bạn. Việc sử dụng nội thất góc nhọn hoặc sắc lẹm dễ hướng “mũi tên độc” vào chính bạn nếu bị va đập phải.

Thang quan tien chuc nho chuan phong thuy ban lam viec hinh anh
Các "mũi tên độc" nơi làm việc ảnh hưởng đến sự nghiệp của bạn


2. Chiếc ghế tốt giúp bạn tận hưởng quyền lực như Hoàng đế


Một chiếc ghế ngồi sang trọng, với chất liệu êm ái, có thể tùy chỉnh độ cao và độ ngả sẽ giúp bạn hoàn toàn thư thái khi làm việc. Cảm nhận về quyền lực và sự thoải mái sẽ khơi nguồn cảm hứng vô tận và tinh thần làm việc hăng say của chủ nhân chiếc ghế.

3. Vị trí ngồi đắc địa, thâu tóm mọi quyền lực

 

Phân tích văn phòng của những CEO thành công, chúng ta thấy vị trí ngồi của họ đều vô cùng đắc địa và có thể “thâu tóm” mọi quyền lực. Thông thường, họ sẽ chọn nơi nhìn rõ cửa ra vào, nhận được ánh sáng vừa đủ từ cửa sổ và sau lưng là một bức tường vững chắc. Điều đó giúp bạn nhận được sự hậu thuẫn vững vàng từ phía sau và có tầm nhìn xa cho tương lai phía trước. Từ đó không ngừng thăng tiến trong sự nghiệp.  
Thang quan tien chuc nho chuan phong thuy ban lam viec hinh anh 2
Vị trí đắc địa nhất là nhìn bao quát và có tường tựa phía sau

4. Không ngừng ‘thanh lọc’ chỗ làm việc

 
Hóa đơn cũ, danh sách công việc đã làm, đồ ăn vương vãi, sơn móng tay và bất cứ thứ gì không thuộc về bàn làm việc của bạn đều nên bỏ đi. Đồng thời, dọn dẹp thường xuyên chỗ làm việc của mình sẽ tạo cảm giác mát mắt, thông thoáng, tạo hứng thú trong công việc.
 
5. Một chút tâm linh
 
Nhằm mục đích thanh tẩy và thu hút nhiều năng lượng tốt đến với không gian làm việc, bạn có thể thắp một ngọn  nến, đốt tinh dầu hoặc bật một bản nhạc không lời nhẹ nhàng khi làm việc. Khi đó, nơi làm việc của bạn tràn đầy năng lượng tích cực, xua đi cảm giác mệt mỏi và gặt hái được nhiều thành công hơn nữa.
 
Thang quan tien chuc nho chuan phong thuy ban lam viec hinh anh 3
Thắp nến trên bàn làm việc để thu hút năng lượng tích cực

ST
 
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Thăng quan tiến chức nhờ chuẩn phong thủy bàn làm việc

Phong thủy phòng ngủ cho người mệnh Thổ –

Màu hồng là màu phái sinh khác của màu đỏ, cũng rất tốt cho phòng ngủ của người mệnh Thổ vì màu hồng là màu của tình yêu, đam mê, lãng mạn. Nó kích thích tình yêu, hôn nhân của gia chủ luôn nồng nàn, dồi dào năng lượng. Màu hồng đem lại nguồn năng lư

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Màu hồng là màu phái sinh khác của màu đỏ, cũng rất tốt cho phòng ngủ của người mệnh Thổ vì màu hồng là màu của tình yêu, đam mê, lãng mạn.

Nó kích thích tình yêu, hôn nhân của gia chủ luôn nồng nàn, dồi dào năng lượng. Màu hồng đem lại nguồn năng lượng yêu thương rất dồi dào. Không gian hành Thổ là không gian của các gam màu trầm tối gần với màu của đất, mang ý nghĩa trường tồn, màu của thời gian. Người mệnh thổ nên chọn giấy dán tường tông trầm ấm nếu muốn có cảm giác được che chở.

Tuy nhiên, quá nhiều màu tối sẽ khiến không gian trở nên nặng nề, đặc biệt không thích hợp với người năng động, tính cách hướng ngoại. Bởi vì, không phải tất cả người mệnh thổ đều trầm ngâm, hoài cổ. Ở trong không gian màu sắc của hành thổ tăng cường sự tập trung tư tưởng, ý chí, sự bền bỉ..

mau-son-cho-menh-tho-1venusland

Chất liệu tạo nên phòng ngủ tốt cho người mệnh Thổ nên bắt nguồn từ đất như gạch, gốm, sứ, đất nung… Người mệnh Thổ nên chọn giường làm bằng kim loại, kim loại bắt nguồn từ đất, lại rất thời thượng. Người mệnh Thổ không nên nằm ngủ giường gỗ do gỗ thuộc Mộc, dễ gây tổn hại về sức khỏe.

Theo quan niệm phong thủy dựa trên ngũ hành và màu sắc, hành Thổ có màu vàng. Vì thế, những người mệnh Thổ nên lựa chọn màu vàng. Một số nền văn hóa cổ xưa tôn sùng màu vàng. Màu vàng là màu của sức mạnh, quyền năng, duy trì sự sống, trường thọ và huyền bí, tỏa ra niềm vui nên khi trang trí phòng màu vàng sẽ toát ra niềm lạc quan, yêu đời.

Cả màu vàng và màu đỏ đều là màu kích thích sự thành tựu. Màu vàng góp phần tích cực vào trạng thái tinh thần giúp người mệnh Thổ dễ dàng tạo ra thành công, những điều tốt lành trong cuộc sống. Màu cam là sự phối hợp giữa màu đỏ và màu vàng mang lại điềm lành, hưởng cuộc sống yên vui, nhiều quyền hành cho người mệnh Thổ. Trong phòng ngủ sử dụng những màu hợp với hành Thổ, cuộc sống và sự nghiệp của người mệnh Thổ sẽ thuận lợi và phát triển về lâu dài.

Màu cam còn được gọi là ‘màu xã hội’ bởi nó tạo năng lượng thúc đẩy các mối quan hệ xã hội. Màu cam nên sử dụng cho nhà hoặc căn phòng hướng Nam để đem lại sự nổi tiếng và danh vọng, còn đối với hướng Đông Nam sẽ có tác dụng tương trợ về tình yêu và hôn nhân. Tuy nhiên, màu đỏ và màu cam chỉ nên dùng ở mức vừa phải trong phòng ngủ bởi tông màu này mang nhiều tính âm.

Màu nâu tượng trưng cho rừng thẳm tạo cảm giác có phần nặng nề, phù hợp với người mệnh Thổ muốn tăng cường sự kiên định, không dễ thay đổi. Màu nâu thường dành cho người cao tuổi, toát nên vẻ thanh nhã, lịch sự.

Màu xám đối với người mệnh Thổ là biểu hiện của sự khởi đầu, nhiều niềm tin, hy vọng vào cuộc sống tốt đẹp.

Sự kết hợp của màu vàng và nâu đem lại cảm giác an toàn, được bao bọc, che chở. Hai màu này kết hợp với nhau thúc đẩy những mối quan hệ phát triển lành mạnh.

ợng yêu thương rất dồi dào. Không gian hành Thổ là không gian của các gam màu trầm tối gần với màu của đất, mang ý nghĩa trường tồn, màu của thời gian. Người mệnh thổ nên chọn giấy dán tường tông trầm ấm nếu muốn có cảm giác được che chở.

Tuy nhiên, quá nhiều màu tối sẽ khiến không gian trở nên nặng nề, đặc biệt không thích hợp với người năng động, tính cách hướng ngoại. Bởi vì, không phải tất cả người mệnh thổ đều trầm ngâm, hoài cổ. Ở trong không gian màu sắc của hành thổ tăng cường sự tập trung tư tưởng, ý chí, sự bền bỉ..

Chất liệu tạo nên phòng ngủ tốt cho người mệnh Thổ nên bắt nguồn từ đất như gạch, gốm, sứ, đất nung… Người mệnh Thổ nên chọn giường làm bằng kim loại, kim loại bắt nguồn từ đất, lại rất thời thượng. Người mệnh Thổ không nên nằm ngủ giường gỗ do gỗ thuộc Mộc, dễ gây tổn hại về sức khỏe.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Phong thủy phòng ngủ cho người mệnh Thổ –

Thái Tuế Nhập Quái

Ông Trần Thế Hưng (Đài Loan) thuộc thế hệ 5x, là lớp nổi lên sau ông Tử Vân (Đài Loan). Theo lời tự thuật thì ông bắt đầu với khoa Tử Bình, từng theo học Tử Vi với ông Tử Vân một thời gian và có qua lại với Liễu Vô cư sĩ, nhưng sau nhờ một thầy khác mới được “mở hai mạch nhâm đốc”, mạnh dạn vừa làm thầy xem Tử Vi vừa viết sách Tử Vi dương danh thiên hạ. Các sách của ông Hưng nhắm vào những lá số người thật có cùng nét đặc biệt như “Vi hà bất hôn thiên” (vì sao không lập gia đình), “hôn ngoại tình thiên” (những kẻ ngoại tình). Bài sau đây được chọn vì có xử dụng cả hai kỹ thuật sau:
Thái Tuế Nhập Quái

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


-Phép mượn cung: Phép này khá thông dụng ở Đài Loan, được nhiều người xử dụng từ lâu. Thí dụ: Ông X đang ở cung Tí thì cung thê của Tí (tức cung Tuất) ứng với vợ hoặc tình nhân của ông X. Giả như ông X ngoại tình với một người đã có chồng là bà Y trong hạn này thì bà Y ứng cung thê của hạn nên ứng cung Tuất (thê của Tí). Lại nữa, vì bà X ứng cung Tuất nên chồng bà X ứng cung Thân (là cung phu của Tuất). Đại khái như thế.

-Phép “Thái Tuế nhập quái”: Phép này nhờ ông Tử Vân mà trở thành hết sức phổ biến ở Đài Loan, dù chỉ mới nổi lên trong vòng hơn hai mươi năm nay thôi. Như trường hợp ông X ngoại tình với bà Y như ở trên nếu dùng lá số của ông X để xem diễn biến ra sao thì coi cung có địa chi của bà Y ứng với bà Y, lại thêm các sao hóa theo năm sinh của bà Y vào; rồi phối hợp dữ liệu mà đoán tốt xấu. Nói chung chung nhiều lộc tụ tập thì tốt, bị kị sát tụ tập thì xấu nhưng đi vào thực tế thì có thể hết sức phức tạp.

Chú ý về cách xem nhân duyên của ông Trần Thế Hưng

Chỉ xem chính tinh tứ hóa Lộc Tồn lục cát lục sát Khốc Hư Hình Riêu Đào Hồng Hỉ. Các sao còn lại bất luận lớn (như Tuần Triệt song Hao) hoặc nhỏ (như Giải Thần, Âm Sát) đều không xem.
An Hỏa Linh thuận theo giờ cả, không phân nam nữ âm dương như VN.

Trích sách “Hôn ngoại tình thiên” (dịch nghĩa “Các lá số ngoại tình”), 1994, nxb Tiêm Đoan, Đài Bắc.

Trường hợp 11: Cô Dương, Ất Mùi 1955, âm lịch tháng 3 ngày… (3 hoặc 13, hỏa lục cục, mệnh cư Sửu vô chính diệu, phu Tử Sát cư Hợi) giờ Mão.

Nguyên tác: Trường hợp 11: Cô Dương, trang 154-171, Trần Thế Hưng, “Hôn ngoại tình thiên”, Tiêm Đoan, Đài Bắc 1994.

VDTT phỏng dịch và chú thích

Cô D làm nghề phục vụ, việc không ổn định. Năm Quý Hợi quen ông M sinh Mậu Tý (1948), năm Ất Sửu 1985 sinh đôi. Năm Tân Mùi 1991 quen ông R (Kỷ Mão 1939) đã có vợ.

Mệnh Kỷ Sửu VCD Linh độc thủ (dịch giả chú = dgc: Cách tiêu chuẩn của Đài Loan là Hỏa Linh an thuận theo giờ cả), xung có Vũ Tham Xương Khúc, tam hợp Phủ Tướng.

Mệnh: VCD, hai cung giáp cung VCD nên mệnh ở vị trí rất yếu. Khi một mình đối diện chính mình không khỏi có cảm giác cô độc lo sợ, cho nên thành tính lệ thuộc ngoại cảnh, không thích một mình. Tự tin không đủ nên không hợp các công việc khó khăn phải tự quyết định nhiều, tốt nhất là có liên hệ với người. Cô D làm nghề phục vụ vậy là thích hợp cá tính.

Linh Tinh độc thủ khó tránh nóng vội, vì VCD tính nóng vội thường khiến mình phiền lụy mệt mỏi, may không gặp Kình Đà bằng không thì như người xua nói “khó tránh hình khắc”.

Mệnh VCD, di là lốt giả, Vu Tham Xương Khúc thành nhiều cách cục Xương Tham, Khúc Tham, Linh Tham, LXĐV (trong luu niên). Cô D bản tính bất ổn, có suy nghi khác thường, khả năng học hỏi cao, cũng dễ tẩu hỏa nhập ma. Thuộc týp dễ lên dễ xuống. Làm việc sáng kiến chẳng dở, công việc nhiều biến đổi.

Người xưa nam mệnh thích Xương Khúc, như “Văn Khúc Văn Xương Thiên Khôi tú, bất độc thi thư dã khả nhân”, “Tuấn nhã Văn Xương, mi thanh mục tú; lỗi lạc Văn Khúc, khẩu tài tiện ngụy…”, “Văn Xương Văn Khúc vi nhân đa học đa năng”… (nhưng) nữ mệnh gặp Xương Khúc thì e bất cập, như “Văn Xương Văn Khúc phúc bất toàn”, “Dương phi háo sắc tam hợp Văn Xương Văn Khúc” vân vân… Thời đại ngày nay nam nữ mệnh giống nhau, ưu điểm là khả năng học tốt, ngoại hình khá; khuyết điểm là dễ chuốc phiền toái, khôn quá hóa dại; nhất là hai sao Vũ Tham rất kị Xương Khúc. Sinh giờ Mão, Dậu rất dễ gặp hai sao này cùng chỗ.

Tại sao Tham Vũ không thích gặp Khúc Xương?

1) Vũ Tham gặp Xương Khúc thành cách ác Xương Tham, thêm Linh Tinh lại thành cách LXĐV, một đời khó tránh lên xuống gập ghềnh.

2) Đại hạn luu niên dễ gặp Kị. Kỉ Tân Nhâm Quý 4 năm đều có Kị, cơ hồ thành cách “liên Kị“. Đại hạn có may tránh đuợc thì lưu niên cũng chẳng thoát qua, khiến con người bất ổn hoặc vận hạn gập ghềnh.

Theo kinh nghiệm của người viết (dgc: tức ông Trần Thế Hưng), diễn viên và quảng cáo viên nhiều người có số thế này. Bởi vì đời họ hoặc công việc của họ phù hợp với tính nhiều biến đổi, hay là vì làm các nghề ấy mà sinh ra nhiều biến đổi?

“Vũ Tham bất phát thiếu niên nhân” thời xưa có thể phù hợp bởi người Vũ Tham phải có tuổi mới ổn định, mà (xưa) cá tính ổn định mới mong có tiền đồ. Ngày nay đời sống biến đổi, cá tính bất ổn có khi hợp trào lưu; nên anh hùng xuất thiếu niên chưa chắc là việc khó, miễn là vận hạn tốt, cá tính ngoại hình không quá khó thương. Người xưa ắt nói đúng, nhưng thời đại biến đổi, theo người viết phải uyển chuyển không thể quá câu nệ; phải dựa vào các ngành nghề (phù hợp hay không) mà dụng lẽ biến thông.

Thân (thiên di): Thân cư thiên di nên rất chú ý lời bình luận của người khác, lại nữa mệnh VCD nên tình hình càng nghiêm trọng. Có lúc tỏ ra cứng cỏi vì sợ người khác biết là mình “rỗng” và bất an. Di có thể nói là mạnh nên khả năng giao tế, tiếp xúc khá, lắm bạn và nhiều loại (Tả Hữu). Cho người ta ấn tượng tốt.

Phúc: Liêm Phá trái phải có Kình Đà giáp chế, hai bên đều VCD, khó thoát cảnh tâm sự trùng trùng không khai mở được. Tinh thần thiếu chỗ nương tựa. Tương đối coi trọng tiền tài.

Phu thê: Tử Sát một thuộc thổ một thuộc Kim đều không đủ linh động, xử lý tình cảm không khỏi quá lí tính, là loại ngoài nhiệt tâm mà trong lãnh đạm, tự nhiên bất lợi cho phương diện tình cảm.

Tam phương không thấy Tả Hữu, là kết cấu “cô quân”. Lúc khởi sự có thể hứng thú, sau thành thực tế. Loại người này chẳng phải là không thích hợp kết hôn, nhưng phải tìm bạn đời có tính độc lập, ai lo chuyện người nấy, không can thiệp người kia. Sống rất thực tế thì lại có thể lâu dài. Giả như gặp người tính lãng mạn, thích gần gũi thì lại có thể chịu không nổi. Loại người này, cổ nhân liệt vào dạng “cô khắc”.

Chẳng phải là người ta không thích được yêu, chỉ là mỗi ngưòi thích được yêu một cách khác nhau, chẳng thể lấy cái nhìn của mình để xét ngưòi khác.

Tiêu chuẩn chọn đối tượng của cô Dương khá cao. Không được đóng ấn phê chuẩn thì đừng hòng làm khách vào được vòng trong.

Giải thích các đại vận

Kỷ Sửu (6 đến 15 tuổi): Vũ Lộc Tham Quyền Khúc Kỵ đều ở di cả nên lúc nhỏ ra ngoài nhiều, thích nổi; ở nhà không thuận lợi.

Mậu Dần (16 đến 25 tuổi): Tham Lộc nhưng Cơ chuyển Lộc ra Kỵ, thành thử mệnh đắc Lộc còn hạn bị song Kỵ. Hạn lại VCD bị Không Kiếp Đà thủ chiếu, là vận yếu nhất trong đời. Nhà bi phá sản, kinh tế khốn quẫn mà cô Dương tranh thủ học được đại học là tại sao? (Trần Thế Hưng chú: Xem Lộc Quyền ở đâu).

Cô Dương hạn tài, quan đều có Kỵ, khi đối diện chính mình tất khổ không thể nói được; nhưng ngoài mặt vẫn tươi cười, lại nghĩ được biện pháp kiếm tiền để tiếp tục học hành; tại sao thế, bạn có xem ra không?

 

Định nghĩa vài thuật ngữ:

Tiên thiên (ứng toàn bộ): Tiên thiên mệnh là cung mệnh, tiên thiên phu là cung phu v.v…

Hậu thiên, hạn (ứng đại hạn 10 năm): Hậu thiên mệnh hoặc hạn mệnh là cung đại hạn. Từ cung đại hạn lùi lại 2 cung thì được hậu thiên phu hoặc hạn phu. Thí dụ đại hạn ở cung Hợi thì gọi Hợi là hậu thiên mệnh hoặc hạn mệnh, gọi Dậu là hậu thiên phu hoặc hạn phu.

Lưu (ứng một năm): Lưu mệnh là cung chứa lưu Thái Tuế. Từ lưu mệnh lùi lại hai cung được lưu phu. Như năm xem hạn là năm Tí thì Tí là lưu mệnh, Tuất là lưu phu.

Kỷ Mão (26 đến 35 tuổi): Tứ hóa như hạn Kỷ Sửu, chỉ khác là bây giờ (Lộc Quyền Kỵ) ở hạn quan thay vì hạn di. Ba hạn liên tiếp bản mệnh đắc Lộc, hạn mệnh đắc Quyền nên trong gian khổ cô Dương vẫn đi đến trước. Hạn quan của cô Dương hình thành nhiều cách cục nên đổi việc khá nhiều lần; nhưng mặc dù công việc khác nhau vẫn có điểm chung là cơ bản dựa trên tiền thưởng, tiền hoa hồng.

Tiên thiên phu (chú: tức phu nguyên thủy) cũng ba hạn hội Lộc, cô Dương chẳng phải bỏ qua chuyện ái tình, chẳng qua hạn Mậu Dần binh hoang mã loạn, chẳng có thời giờ để bàn tính yêu đương; huống chi tiên thiên phu bị song Kị giáp chế (dịch giả chú: theo phái Tử Vân, một Kị của Âm từ Ngọ chiếu vào cung Tí VCD, Kị kia là Cơ ở Tuất hạn Mậu), nào phải dễ đâu!

Vận Kỷ Mão thì khác. Hạn thê có Lộc (Vũ) chiếu, thêm Linh thành cách Linh Tham, dễ nói chuyện yêu đương. Nhưng bị Khúc Kỵ thành cách Khúc Tham và Linh Xương Đà Vũ, sinh hoạt ái tình khó tránh trở ngại, muốn gặp đối tượng hôn nhân thích hợp có phần khó, huống chi hạn phu chính là bản mệnh là vị trí vừa bất ổn vừa yếu đuối, giả như kết hôn thì có thể sinh biến.

Người viết từng nhấn mạnh nhiều lần. Mười hai cung đều là ta cả. Cách cục đều sẽ gặp, chỉ khác là khi gặp thì hóa Lộc hoặc hóa Kỵ mà thôi. Như trường hợp cô Dương tiên thiên mệnh yếu nhược như thế, lại hình thành quá nhiều cách cục: Cơ Lương Kình Dương hội, Cự Hỏa Kình, Xương Tham, Linh Tham, Khúc Tham, Linh Xương Đà Vũ v.v… hành vận quả là khó khăn, trở ngại hơn người ta nhiều.

Kế tiếp chúng ta xét đoạn tình giữa cô Dương và ông M.

Năm Quý Hợi cô Dương 29 tuổi, lưu phu ở Dậu có lưu Lộc (Phá Quân) và Linh Tinh hội chiếu. Đại vận phu có Vũ Lộc Khúc Kỵ và Tham Kỵ xung chiếu là một kết cấu “cát xứ tàng hung” (Lộc phùng xung phá, phát động các cách xấu, đi đường dài thì gặp trở ngại.) Tiên thiên phu cũng hội chiếu song Lộc và song Kỵ. Cô Dương nội tâm không bài xích ái tình, lưu niên lại có cơ hội dẫn động, tự nhiên dễ sinh chuyên tình cảm, chỉ là vận phu kết cấu quá yếu, nên một là gặp đối tượng rồi có vấn đề, hai là cố duy trì nhưng gặp trở ngại trùng trùng.

Coi cung phu của lưu niên như cung mệnh của ông M thì Mùi là thê của ông này; lắm cách cục như thế, lại hiện đủ Lộc Kỵ xem ra mặt tình cảm của ông M phức tạp biến động nhiều. Nói cách khác, không dùng điều kiện du nhập thêm đã thấy năm này cô Dương muốn gặp đối tượng tốt thật chẳng dễ gì.

Ở đây có vấn đề trong vòng bàn cãi: Cùng lá số, vận phải giống y nhau hay sao? Cho nên người biết lô gích khoa học bài xích Tử Vi, bảo là phi lí, mê tín. Ông Liễu Vô có đề xướng rằng phải du nhập thêm dữ liệu mới mong luận mệnh, đừng hòng dùng lá số chung mà đoán cho trường hợp riêng (dgc: Liễu Vô đây là ông Liễu Vô cư sĩ, từng đề xướng nhu cầu thêm dữ liệu trong loạt sách Hiện Đại Tử Vi. Thực ra, đây là luận điểm của thầy ông Liễu Vô cư sĩ, tức ông Tử Vân, ông Liễu Vô cư sĩ chỉ làm việc tường thuật. Sau này ông Liễu Vô có một số chủ trương khác với ông Tử Vân, nhưng đó là chuyện khác). Luận điểm này xét ra hợp lý, nhưng rốt ráo thì mệnh lý thuộc triết học không phải khoa học, không thể lập lại thí nghiệm, cũng có những tính chất không giải thích bằng khoa học được. Ta không thể nói cái gì khoa học không giải thích được thì không tồn tại (bởi) chúng ta biết rằng khoa học vẫn không giải thích được hết mọi hiện tượng và sự thật.

Cùng một lá số nhất định có điểm giống nhau, nghĩa là có (một số) tiềm năng, cá tính, khuynh hướng tương tự; nhờ đó mà chúng ta có thể chỉ bằng lá số mà đoán cá tính và kể ra những đặc trưng về nhân cách, khiến người ta không thể hoài nghi về độ chuẩn xác (của lá số). Vận hạn lên xuống, chuyển ngắt vì chịu ảnh hưởng hoàn cảnh mà là phương diện có tính cá biệt hơn hết. Tuy nhiên, chỉ cần cùng lá số là phải có điểm tương tự. Chẳng hạn một người lên đỉnh cao thì không thể nào người khác xuống vực thẳm. Giá trị tuyệt đối có thể khác nhau, nhưng nội tâm cảm thấy thế nào (tâm thái) thì phải tương tự.

Du nhập điều kiện chẳng qua là tùy người, sự, vật đặc thù mà quan sát, phân tích, so sánh; hy vọng từ đó suy ra sự phát triển hỗ tương (giữa các yếu tố). Nói rộng hơn chút là hy vọng dùng lá số của mình để đoán ra trạng thái của đối phương mà thôi.

Các sao trong lá số đã định thì có thể đoán các vận tốt xấu thế nào. Người có kết cấu thế này thì dễ xảy ra diễn biến thế kia; việc này khi phát sinh thì dễ có kết cục như thế kia v.v… Bởi vậy người luận mệnh theo cách truyền thống không du nhập thêm dữ kiện mà vẫn thường đoán ra hoàn cảnh của bạn.

Về việc luận hạn không đúng, thường tùy thuộc kinh nghiệm tu dưỡng của người đoán. Như người không tiêu hóa cái cũ, không uyển chuyển biến thông thì nhất định đoán không đúng; người biết phân tích khách quan, chịu vận dụng các điều kiện được du nhập để quan sát thì có thể tăng độ chính xác; nhưng đừng nghĩ đến việc chính xác trăm phần trăm vì khi xét đại hoàn cảnh của con người thì xã hội hôm nay phức tạp hơn hẳn ngày xưa, chỉ qua một đêm đảng cộng sản giải thể (dgc: Sách này in năm 1994, nhiều đảng cộng sản Đông Âu giải thể năm 1989, có lẽ đây ám chỉ việc ấy), qua một đêm sẽ còn chuyện lớn nào xảy ra nữa? Khó mà dự liệu. Độ chính xác con người có thể đạt tới khó mà biết được.

Hóa Lộc tăng độ tự tin và khả năng phán đoán của ta. Hóa Kị khiến ta lòng động tâm biến, thậm chí tạo hành vi sai lầm. Nhìn từ một góc độ khác hóa Lộc là “động năng” có ích cho thực tế mưu danh cầu lợi, hóa Kị là “tĩnh năng” (dịch giả chú: Ở đây soạn giả dùng chữ “vị năng”, vị đây là vị trí, ý nghĩa chính xác nhưng tiếng Việt dễ bị hiểu lầm, bởi vậy dịch giả mạn phép đổi thành “tĩnh năng”, tĩnh đây phản lại nghĩa động, thiếu chính xác hơn so với “vị năng” nhưng khó hiểu lầm hơn) thích hợp cho việc tiềm ẩn tích lũy, lợi cho việc phản tỉnh, kiểm thảo, tập luyện. Hóa Lộc thì phải phát huy tinh lực, xung kích đạt mục tiêu; hóa Kị thì phải suy tư, lo nghĩ, cẩn thận trong công việc. Như thế Lộc Kị đều là đời sống con người, có gì phải sợ? Sợ chăng không biết tiến thối mà thôi!

Hệ thống giáo dục của chúng ta dạy chúng ta phải “hóa Lộc” như thế nào, nhưng ít nói đến khi “hóa Kị” phải cư thể nào cho đúng; có nói chúng ta phải cắn răng cố vượt qua khổ ải, đừng táng tâm thối chí, không thành công thì thành nhân v.v… Đời người chỉ là tranh chức quán quân hay chăng? Quán quân chỉ có một người, cũng chẳng có “thường thắng tướng quân” (ông tướng thắng hoài), vậy những người còn lại chẳng có tiền đồ hay sao? Học mệnh lý phải nhìn rộng, lòng cũng phải mở rộng, tâm phải có sự thiện, bằng không càng học càng phiền, càng không thoải mái; chẳng bằng không học biết gì về mệnh lý.

Nói lan man vậy quá đủ. Chúng ta hãy trở lại với liên hệ hỗ tương giữa cô Dương và ông M.

Ông M sinh năm Mậu Tí, thành ra Lộc (Tham) chiếu hai cung phu nguyên thủy và hậu thiên (của cô Dương), lại tam hợp lưu niên, cho nên cô Dưong dễ động lòng vì cái tình của đối phương. Từ cung Tí là cung trọng điểm của ông M mà xét thấy có Âm Hỏa Kị thành cách “thập ác”, nhưng cung Tuất lại có Lộc (Cơ) Quyền (Lương) nguyên thủy của cô Dương, ý là ông M cùng cô Dưong có tình không duyên, lâu rồi cô Dương sẽ bỏ ông, nhưng vì lưu niên dẫn động quá mạnh, đại vận phu lại có kết cấu như thế mới tạo thành mối tình lẽ ra không nên có như vậy.

Bất luân dùng lưu niên hoặc thái tuế nhập quái, cung thê của ông M đều hiển nhiên có vấn đề to. Lưu niên thê ở Mùi tựa hồ là vị trí đa tình và bất ổn; còn Tuất thì có Kị (Cơ) nguyên thủy của ông M, lại thành cách cô khắc “Cơ Lương Kình”. Ông M năm ấy 37 tuổi, có gia đình rồi mới phải, nhưng vẫn độc thân (Kình của ông M ở Ngọ cũng chiếu vào Tuất).

Năm Giáp Tí 1984 cô Dương có thai, chuẩn bị lấy ông M thì phát hiện ông M bề ngoài văn nhã mà thực ra có đi lại với băng đảng, vả tính tình bất định, ở càng lâu càng chịu không nổi, không biết thời khắc tới là vui hay giận. Trong cảnh bạn với người như bạn với hổ đó, cô quyết định bỏ đi, bạn thử đoán xem tại sao?

Lưu niên tam kỳ gia hội (Liêm Phá Vũ) tái cát hóa Hợi và Dậu; nhưng Nhật kỵ dẫn động Âm Kị xung Tí, lại khiến Mùi thành song Kị giáp Kị. Mùi đại biểu gì? Lại xung Sửu có ý nghĩa gì? Xin độc giả suy nghĩ. Chẳng phải là người viết “bán cái” mà là để quí vị tự xem mình đã luyện đến đâu.

Năm Ất Sửu Lộc Quyền ở bản mệnh tử và lưu niên tử, nhưng đại hạn tử không tốt. Cô Dương sinh hai trai, trao cho người khác nuôi nấng.

Hạn Canh Thìn (36-45 tuổi)

Đại hạn VCD có Kình Hỏa không khỏi lao khổ. Được Nhật hạn Lộc và Cơ nguyên Lộc chiếu nên (thành quả) tốt. Hai Lộc này giáp Dậu nên sự phát triển của hạn này dựa trên cái nền có sẵn của hạn Kỷ Mão (dịch giả chú: Ấy bởi vì song Lộc ứng với cái tốt của hạn Thìn lại làm lợi Dậu, mà Mão tức đại hạn trước xung Dậu, nên cái tốt của hạn này có liên hệ với hạn trước, tức là những liên hê của hạn cũ có biến chuyển tốt đẹp trong hạn này).

Hạn quan của cô Dưong 20 năm tọa Lộc là cơ hội tốt, sự nghiệp phải có một thành tựu nào đó. Nhưng hạn Kỷ Mão Lộc Kỵ cùng thủ tạo nhiều cách ác thành thử khó ổn định. Hạn Canh Thìn tốt hơn, dù có sát tinh nhưng chỉ có Lộc không gặp Kỵ trở ngại tương đối ít. Thế nhưng muốn việc suôn sẻ từ đầu đến cuối e chẳng dễ dàng; rốt ráo thì vì nguyên mệnh và hạn mệnh đều vô chính diệu khó tránh ảnh hưởng của hoàn cảnh, phải đổi thay cho phù hợp khó mà giữ được lập trường, phương hướng.

Hạn phu ở Dần VCD Đà La Địa Kiếp thủ là vị trí bất ổn. Tam phương tuy được song Lộc chiếu nhưng cũng bị song Kị ở hạn phúc chiếu (chú: Âm Kị nguyên thủy và Đồng hạn Kị); vậy là Lộc phùng xung phá, không tốt.

Nếu coi cung Dần (hạn phu) là đối tượng, thì cung thê của đối tượng ở Tí VCD lại bị Hỏa Âm (thập ác) và Kình Âm (nhân li tài tán) chiếu. Cô Dương có nhiều cơ hội được người theo đuổi, chỉ là những người ấy cảm tình có vấn đê.

Năm Tân Mùi cô Dương 37 tuổi, lưu niên ở di nguyên thủy, cách cục to, nhưng Xương lưu Kị thủ, cô Dương có xác xuất cao hành xử sai lầm.

Bản mênh phu có cách ác Xương Tham chiếu, nội tâm đối với hôn nhân có khuynh hướng làm trái lẽ thường, tuy không nhất định kết hôn nhưng có thể dính líu đến một đoạn “kỳ tình”.

Đại vận phu đắc 3 Lộc hội chiếu, tăng độ ổn định rất nhiều, nhưng cung VCD rốt ráo vẫn là VCD, có mối nguy chìm nổi bất thường.

Lưu phu có Thiên Phủ là một sao ổn định, ngưởi gặp điều kiện có lẽ chẳng dở (cung quan Dậu có hai Lộc giáp phù), cung phu Mão bị Kình Đà giáp chế (cho nên) cẩn thận trong việc hôn nhân, nhưng gặp Xương Kị (cho nên) năm ấy cảm tình, hôn nhân có vấn đề.

Ông R sinh năm Kỷ Mão 1939, hơn cô Dương 16 tuổi, mệnh Lôc (Vũ) và Kỵ (Khúc) đều ở lưu niên mệnh (Mùi) cũng là cung thân của cô Dương, lại chiếu tiên thiên phu (ở Hợi) nên năm Tân Mùi cô Dương cảm sự chiếu cố của ông R.

Mão là cung trọng điểm của ông R, hai cung giáp đều VCD. Nhật Lộc (hạn Canh) xung đến Dần, Cơ Lộc (mệnh Ất) xung đến Thìn, khiến Mão được tính ổn định của song Lộc giáp, chỉ là ảnh hưởng tương đối nhỏ (chú: vì đều do xung cả). Cô Dương ắt có ấn tượng tốt với ông R, và có một loại duyên phận khó diễn tả thành lời được.

Sửu ứng cung thê của ông R, chính là bị cách Linh Xương Đà Vũ, quan hệ giữa cô Dương và ông R. có tính “đảo điên”, lẽ ra không nên có lại có (chú: Vì cách Xương Tham, Khúc Tham là “li chính vị nhi đảo điên”). Ông R. sự nghiệp đã thành, vợ con đều đã di cư ra nước ngoài chỉ còn mình ông trong nước, mới có cơ hội trồng nhân cho đoạn tình này.

Cô Dương và ông R tương lai phát triển thế nào?

Nếu xét đại vận phu thì Tân Tị, Nhâm Ngọ hai hạn Lộc đều chiếu đến Dần (chú: Cự hóa Lộc và Lương hóa Lộc), tựa hồ tình chưa hết; nếu xét Sửu (chú: coi là cung thê của ông R sinh năm Mão) thì ba vận sau Kị đều chiếu cả, tựa hồ tình đã dứt; vậy giải thích làm sao?

Cô Dương không thể thành vợ của ông R, nhưng liên hệ giữa hai người có thể tiếp tục phát triển, chỉ là từ hạn Tân Tị trở đi thì tình cảm cô Dương dành cho ông R càng lúc càng nhạt đi. Nhanh thì năm Bính Tí (42 tuổi ta) Liêm Kị nhập Mão tình cảm phai mờ, chậm thì năm Nhâm Ngọ (48 tuổi ta) vì Vũ Kị xung kích Mão.

Các hạn về sau:

Ba hạn Tân Tỵ, Nhâm Ngọ, Quý Mùi Kỵ đều ở Mùi, phá hoại mệnh, thân và ảnh hưởng tiên thiên phu, khiến cô Dương tâm tình khó ổn định, chuyện muốn kết hôn khó xảy ra, mà nếu kết hôn thì chẳng tốt đẹp được.

Ngoài ra cô Dương hạn Canh Thìn, Tân Tị phúc đức đều hóa Kị, thành các cách ác Âm Hỏa, Linh Xương Đà Vũ v.v… ngoài cái lo mất tiền ra, trạng thái tâm lý cũng cần đề phòng, nhất là hạn Tân Tị (dịch giả chú: Vì phúc ở Mùi cách cục rất rõ nét).

Lời kết:

Cô Dương cảm tình không thuận lợi, có thể cả đời không thành hôn, nguyên nhân có thể quy về:

Một: Mệnh vô chính diệu, hai cung giáp cũng vô chính diệu, hội họp có nhiều cách ác; khiến cá tính bất an, hành sự thiếu chín chắn, phán đoán dễ sai lầm.

Hai: Tiên thiên phu sao quá cương, lại vào cách cô quân, trừ tiêu chuẩn cảm tình quá cao, xử lý tình cảm quá cương nghị, thiếu cái dịu dàng của nữ giới. (Nhưng) cũng có thể vì đó mà phù hợp với sinh hoạt cảm tình độc lập như vậy.

Ba: Các hạn trong tuổi thích hợp thành hôn cung phu đều bị Kị xâm phạm, gây trở ngại trong cảm tình, không dễ gặp đối tượng tốt, lại là cung VCD thiếu ổn định.

Hạn Mậu Dần, Tí VCD bị tiên thiên Kị xung, thành cách Âm Hỏa.

Hạn Kỉ Mão, Sửu VCD bị Khúc Kị xung, thành cách Linh Xương Đà Vũ.

Hạn Canh Thìn, Dần VCD bị song Kị (Âm nguyên Kị, Đồng hạn Kị) chiếu.

Rồi đến hạn Tân Tị lại bị Xương Kị; rõ là bị Liên Kị nên trên đường tình ái bị cảnh gập ghềnh khó đi.

Ngoài ra bốn vận Kỷ Sửu, Mậu Dần, Kỷ Mão, Canh Thìn Lộc hoặc Quyền đều ở tiên thiên di khiến cô Dương hiếu thắng, đòi tranh đấu với số mệnh.

Tóm lại, lá số như cô Dương một đời nhiều xung động biến hóa, chuyện gì sẽ xảy ra chẳng dự liệu được nhưng chẳng đáng ngạc nhiên.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Thái Tuế Nhập Quái
Click to listen highlighted text! Powered By DVMS co.,ltd