Mơ thấy liệt sĩ: Tinh thần anh hùng khí phách –
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
Cặp thứ ba trong Lục sát tinh là Hỏa-Linh (Hỏa tinh và Linh tinh). Lối an sao khiến cho tuổi nào cũng có thể gặp Linh Hỏa (cũng có tuổi không gặp). Có khi Linh-Hỏa đủ bộ, có khi Linh-Hỏa không đủ bộ và chỉ cần có một Linh hay một Hỏa tại Mạng hoặc tại cung Đại Vận. Những Linh và Hỏa cùng mạnh đến độ chỉ gặp một Linh hay một Hỏa cũng đã đủ ảnh hưởng.
Những tuổi gặp Hỏa Linh
Hai sao Hỏa và Linh thuộc Hỏa, rất kị các tuổi Canh, Tân (hàng Can) và Thân (hàng Chi), và những người Mệnh Kim.
Gặp Linh, hoặc gặp Hỏa (1 trong 2 sao) tại Mệnh hay tại Đại-Vận, thì những người tuổi Canh, Tân, Thân hay mạng Kim, là phải coi chừng.
Gặp tại Đại Vận, hay gặp những rắc rối, những khó khăn.

Gặp tại cung Mệnh, cuộc đời khó khăn, vất vả, phải cố gắng rất nhiều mới thành đạt, hoặc có khi khá lên mà rồi lại hỏng.
Sao nào mới trị được Hỏa Linh
Tuy nhiên, Hỏa Linh không phải hoàn toàn xấu. Chúng là một sức mạnh, để tự nhiên không người hướng dẫn thì sức mạnh đó tác hại, nhưng nếu có sự hướng dẫn thì sức mạnh đó lại hướng vào những cái tốt đẹp, phù giúp cho đương số. Điều này cũng y như cặp Không-Kiếp phải được gặp Phá Quân mới tốt, và cặp Kình-Đà phải được gặp Thất Sát.
Các sát tinh đó cũng như những đạo quân hùng mạnh, những đạo quân đó phải có chỉ huy giỏi và mạnh thì mới được việc hay. Nếu không có chỉ huy mạnh và sáng suốt, sức hung hãn của các đạo quân sẽ đáng sợ.
Hỏa và Linh phải gặp Tham Lang mới tốt.
Tham Lang mới vận dụng được sức lực, mới cai trị và chỉ huy được Hỏa và Linh.
Nhưng nên chú ý ở chỗ Tham Lang gặp Hỏa hay gặp Linh, mỗi đàng có một nét riêng biệt.
Tham Lang gặp Hỏa, thì được phú hơn là quý. Ví dụ : Ở Mệnh có Tham Lang và Hỏa-tinh là tốt, đương số được giàu có (hơn là được công danh). Mệnh có Tham Lang gặp Linh- tinh, thì đương số có chức phận lớn, có công danh (hơn là được giầu có, tức là phần tiền bạc bị kém)
Như trên đã nói, Hỏa-Linh tại Mệnh hay Hỏa Linh tại Đại Vận đều có ảnh hưởng lớn (cho bốc lên hay phá tán). Tuổi Canh, Tân, tuổi Thân, hay người Mệnh Kim gặp Linh, Hỏa thì bị nặng như đã nói . Ngoài ra, người có Mệnh Cơ-Lương, gặp Linh-Hỏa cũng bị nặng.
Phải Sát, Phá, Tham mới chỉ huy được Linh-Hỏa. Như thế, Linh-Hỏa ở Đại Vận gặp Sát, Phá, Tham thì tốt, mà người Mệnh Sát, Phá, Tham đến cung Đại Vận có Hỏa, Linh cung không sao.
Mệnh Tử Phủ, gặp Hỏa-Linh (tại Mạng hay tại Đại Vận), cũng bị ngăn trở đụng thêm Không Kiếp, càng hỏng.
Mệnh Vũ-Khúc, Thiên Lương gặp Hỏa-Linh thì không sao.
Thiên Tướng không sợ Hỏa, Linh, Không, Kiếp. Như thế, Mệnh Thiên Tướng gặp các sao đó chẳng sao. Người ở Mệnh có Thiên Tướng, đến Đại Vận gặp 4 sao xấu đó, không sao. Thiên Tướng chỉ sợ có Hình, Kình, Đà (nên nhớ là Đà La ở Thìn Thuất, vì ở Thìn Tuất, Đà La mới có ảnh hưởng là lưới trời ngăn cản công việc, công danh, tiền tài … của đương số).
Đạo quân
Theo lời cụ Thiên Lương:
-Không Kiếp như đạo quân nhảy dù
– Kình, Đà như đạo quân của Thủy Quân Lục Chiến
– Linh Hỏa như một đạo quân riêng biệt.
Ở một mình, không có chỉ huy mạnh và giỏi (hãm địa), chúng có sức tác hại mạnh mẽ, sai lạc. Nhưng gặp được chỉ huy giỏi có đất dụng võ hay, chúng lại có sức mạnh lớn, giúp ích cho đương số rất nhiều.
– Không Kiếp phải được Phá Quân
– Kình Đà phải được Thất Sát
– Linh Hỏa phải được Tham Lang
Có Tướng hay thì quân phải giỏi, phải giúp cho đương số lên mạnh.
trích KHHB
Bạn có thể bán nhà với bí quyết phong thủy rất dễ áp dụng như sau để bạn có thể tiết kiệm thời gian và tiền bạc một cách hiệu quả. Khi bạn áp dụng các mẹo phong thủy là lúc bạn đang tạo ra năng lượng tốt nhất để thu hút những người cần mua tìm tới. Chỉ với những mẹo nhỏ sau sẽ giúp bạn tiết kiệm thời gian, tiền bạc và không mất quá nhiều công sức một cách vô ích. Vì vậy, nếu bạn có kế hoạch để bán nhà hoặc đã cố gắng để bán nhà nhưng không thành công thì sau đây là cách để bạn thay đổi năng lượng trong nhà, thu hút người mua.
![]() |
![]() |
Thời gian: tổ chức vào tối ngày 14 và ngày 15 tháng 10 âm lịch.
Địa điểm: nghi thức lễ được thực hiện tại sân nhà chùa. Hội đua ghe ngo tại sông Maspéro (thị xã sóc trăng).
Tối tượng tôn vinh: nhằm tôn vinh thần Mặt Trăng.
Nội dung: Lễ cúng trăng: lễ cúng trăng vào tối ngày 14 tháng 10 (âm lịch), thời gian hành lễ trước khi mặt trăng lên đến đỉnh đầu. Vị trí hành lễ đặt tại sân của từng nhà, sân chùa hay nơi rộng rãi không bị che khuất ánh trăng. Tại đây người ta chôn hai cây tre (hoặc tầm vông) làm trụ. Phía trên buộc một cây xà ngang dài chừng 3m, trang trí hoa lá (giống như một cổng chào). Phía dưới kê bàn đặt lễ vật. Lễ vật gồm có cốm nếp; các loại sản vật nông nghiệp có tinh bột (khoai lang, khoai môn, sắn); hoa trái (dừa, chuối, bưởi, cam...), bánh kẹo. Với lòng thành kính, mọi người ngồi chắp tay trước ban thờ, mặt hướng lên mặt trăng, một cụ già làm chủ lễ đọc lời khấn Thần Mặt Trăng, sự biết ơn của con người đối với thần, xin thần tiếp nhận lễ vật và ban phước lành cho họ.
Sau khi cháy hết tuần hương, người già gọi trẻ con đến ngồi xếp bằng trước ban thờ. Cũng động tác chắp tay thành kính trước ban thờ Mặt Trăng, sau đó một cụ già dùng tay nhúm một ít cốm và lễ vật khác, đút vào mồm từng đứa trẻ, tay kia vỗ lưng và hỏi ước muốn của chúng năm nay là gì? Năm nào câu trả lời của các em suôn sẻ, lễ độ, rành rọt thì người lớn tin rằng năm đó mọi điều tốt lành sẽ đến với họ. Cuối cùng mọi người hạ cỗ cùng nhau hưởng lễ vật; trẻ nhỏ nô đùa, múa hát dưới trăng. Nếu có khách đến vào ngày này thì họ sẽ có quà bằng cốm dẹp.
Tại các ngôi chùa Khmer đêm 14 tháng 10 còn có tục thả đèn nước trên sông và thả đèn gió bay lên trời. Theo quan niệm của người Khmer, tục thả đèn nước sẽ xua tan bóng tối, sự ô uế và buồn bã, giữ lại sự bình yên trong phum, sóc. Nhiều hoạt động sân khấu truyền thống Khmer như đoàn Dù kê, Rô băm biểu diễn phục vụ khách hành hương chảy hội vào tối 14 này.
Theo phong tục cổ truyền của người Khmer, ngày hôm sau lễ cúng trăng (15/10) là tục đua ghe ngo. Trước khi đi dự thi, cộng đồng thường làm lễ tạ thần và tổ chức chiêu đãi những người tham gia cuộc thi. Đội đua gồm những trai tráng khoẻ mạnh, có kinh nghiệm, được lựa chọn rất kỹ từ trước. Mỗi đội có trang phục đẹp, mũ cùng màu.
Tham gia cuộc đua có hàng chục chiếc ghe đại diện cho các chùa hay cộng đồng ở nhiều địa phương. Ban tổ chức chia các đội ghe tham dự thành hai nhóm A và B. Thông thường nhóm A là các ghe đã được xếp hạng trong mùa giải trước. Nhóm B là tất cả các ghe ngo còn lại.
Nhạc ngũ âm, tiếng trống, tiếng cồng và tiếng hò - hụi của các đội đua đang khởi động làm sôi động cả khúc sông. Trong đua ghe ngo, việc cầm lái, giữ lái để chiếc ghe đi đúng hướng, nhịp bơi của những mái dầm phải thật nhịp nhàng là những yếu tố quyết định đến tốc độ của chiếc ghe.
Hội đua ghe ngo được tổ chức hàng năm ở thành phố Sóc Trăng, những năm gần đây có nhiều địa phương đến tham gia như Cần Thơ, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang, thậm trí còn có đội ghe ngo đến từ nước bạn Căm Pu Chia. Điều này chứng tỏ lễ hội gắn liền với môn thể thao truyền thống này đang phát triển mạnh mẽ, trở thành sự kiện văn hoá truyền thống lớn ở Việt Nam.
![]() |
![]() |
| ► Cùng đọc: Danh ngôn cuộc sống và suy ngẫm |
Thời gian: được tổ chức từ ngày 6 tới ngày 9 tháng 4 âm lịch (chính hội là ngày 9 tháng 4).
Địa điểm: xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm, thành Phố Hà Nội.
Đối tượng suy tôn: nhằm suy tôn Thánh Gióng (một trong bốn vị Thánh bất tử trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam - "Phù Đổng thiên vương").
Nội dung: Lễ hội Gióng được cử hành trong một không gian rộng lớn dài khoảng 3km gồm đền thượng, đền Mẫu (thờ mẹ Gióng) và chùa Kiến Sơ... Trong ba ngày hội đầu, dân làng tổ chức lễ rước cờ tới đền mẫu, rước cơm chay lên đền Thượng.
Ngày chính hội là ngày mùng 9 tháng 4 có lễ rước kiệu võng từ đền Mẫu lên đền Thượng và tổ chức hội trận (diễn lại trận phá giặc Ân).
Ngày mồng 10 làm lễ duyệt quân tạ ơn Gióng. Ngày 11 lễ rửa khí giới. Ngày 12 lễ rước cờ báo tin thắng trận với trời đất. Cuối cùng là lễ khao quân, đến đêm có hát chèo mừng thắng trận.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Thanh Vân (##)
Ngược lại, Ngũ quan, Ngũ nhạc không nẩy nở, mũi không đẫy đà, thoáng trông không có gì là tướng phát đạt theo định nghĩa thông thường mà vẫn được hưởng phúc lúc trung niên hay tuổi già. Hiện tượng này trong thực tế cũng không hiếm. Đứng về mặt tướng học chuyên môn, loại tướng người có vẻ không phát đạt mà lại phát đạt, chính là những kẻ có tướng phát đạt đặc biệt, tỷ như các loại tướng ngũ lộ, ngũ tiểu, ngũ hợp, bát tiểu, cầm thú tướng, nếu các điều kiện hình thức lẫn lộn nội dung của các loại tướng ( vốn bị coi là tiện tướng theo nhãn quang thường tục ) kể trên phải đồng thời kiêm bị.
Ta hãy lấy ví dụ về tướng ngũ lộ. Tướng ngũ lộ là :
- Mắt lồi ( vốn là tướng chết yểu )- Tai phản ( Luân Quách đảo ngược vốn là tướng người ngu độn )- Lỗ mũi hếch lên ( tướng của người chết thảm )- Môi cong lên ( Tướng của người chết thảm ) - Lộ hầu ( cùng ý nghĩa như môi cong )
Thoáng nhìn qua, tướng người như vậy, kẻ học tướng thông thường vội vã cho là ác tướng, nếu không kết luận là tướng người yểu thọ, bần hàn thì cũng không dám nghĩ đó là tướng người phát đạt. Thế mà, một cá nhân nếu đủ cả ngũ lộ thì lại thường là kẻ phúc thọ song toàn. Tướng “ Ngũ lộ câu toàn “ tuy thường là tướng phát đạt đặc biệt, nhưng không phải hầu hết là phát đạt, vì chữ câu toàn *chỉ mới là hình thức chứ không không đủ thực chất đi kèm. Ví dụ như ngũ lộ mà :
- Mắt lộ nhưng không có thần quang - Tai lộ mà không có vành tai ngoài hoàn mỹ - Mũi lộ mà chuẩn đầu trơ xương hoặc quặp xuống như mỏ chim ưng - Môi hếch mà răng sún hoặc khểnh - Lộ nhưng âm thanh rè và nhỏ thì đó lại là tướng thô trọc, chủ về khốn quẫn, chết non, vì chỉ đắc cách có phần hình thức mà không có phần thực chất nên không phải là tướng phát đạt .
Tướng pháp có câu : Nhất lộ, nhi lô thì quẩn bách, bần yểu, ngũ lộ thì phát đạt.Câu nói đó chỉ có tính cách tương đối. Ngũ lộ câu toàn có phát đạt hay không, còn tuỳ thuộc vào một số điều kiện như đã nói trên. Còn nhất lộ, nhị lộ thì quẫn bách, bần yểu, cũng không phải là điều đương nhiên phải thế. Vì cũng như ngũ lộ câu tòan nhất nhị lộ nhiều khi là tướng của kẻ bần cùng nhưng đôi khi cũng là tướng của người phát đạt. Nếu mắt lộ mà có chân quang và thu tàng thì nếu các bộ vị khác không khuyết hãm thì đến ngoài 40 tuổi sẽ có cơ hội khá giả, mũi lộ ** mà khí sắc lúc nào cũng hồng nhuận, cánh mũi dầy và lỗ mũi không hếch lên ( tham khảo đoạn nói về các loại mũi điển hình ) thì tuy thiếu niên có bị khốn khổ nhưng nói về những vãn niên ắt phát đạt. Môi, tai, lông mày, yết hầu …cũng đều có thể suy diễn tương tự như trên để định xem “ lộ “ là tốt hay xấu chớ không thể vội vã võ đoán.
Ngoài tướng ngũ lộ được coi là phát đạt (nếu hội đủ cả hình lẫn chất) còn có các tướng ngũ tiểu, bát tiểu, ngũ hợp, tướng cầm thú …cũng đều là tướng phát đạt đặc biệt với điều kiện là hình và chất đi đôi với nhau .
Tóm lại, các tướng đặc biệt vừa kể, tướng pháp gọi đó là biến cách hay phi thường cách để phân biệt với loại tướng người bình thường, đều có thể phát đạt hay không tuỳ theo sự hội đủ được cả hình lẫn chất không. Hình thì như đã miêu tả trong quyển I, còn chất thì đó là những điểm độc đáo về nội dung đã nói ở chương nguyên lý về thanh trọc. Những loại tướng phát đạt đặc biệt chính là căn cứ vào nguyên tắc “Trọc trung hữu thanh", Thanh và trọc tương đối dễ phân biệt, nhưng “thanh trung hữu trọc và trọc trung hữu thanh" thì lại rất khó tìm ra. Trong chương nói về thanh trọc, soạn giả đã cố gắng tổng hợp các điều liên quan đến thanh trọc tản mát trong các sách vở về tướng, nhưng thực tế không phải chỉ có bấy nhiêu. Muốn thấu hiểu phải tường tận, phải chuyên tâm nghiên cứu và có năng khiếu đặc biệt bén nhạy. Bởi lẽ trên, chúng ta sẽ không thấy gì đáng ngạc nhiên khi trong các sách nói về tướng học, người ta thường nói “Tâm lĩnh thần hội”, nghĩa là những gì uyên thâm cao xa, thì có thể hiểu thấu đáo bằng lối tâm truyền chứ không thể bằng lối ngôn truyền được. Điển hình cho lề lối này là phần hình nhi thượng của nho giáo do Khổng Tử hấp thụ được chỉ còn lưu lại qua con người của Tử Tư rồi Tử Tư chỉ truyền được đến đời Mạnh Tử là mất chân truyền.
Tuy vậy, mặc lòng sự cố gắng liên tục vẫn là điều tối thiết yếu cho bất cứ ai muốn đạt đến một mức độ thành quả nào đó, còn năng khiếu đặc biệt về một ngành học càng huyền ảo, thì lại càng khó phát hiện nếu chưa nỗ lực tới mức tối đa. Vì vậy độc giả không nên thấy khó mà đã vội ngã lòng khi nghiên cứu và ứng dụng nguyên lý thanh trọc trong tướng học “đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông” kia mà.
1) Nhân tướng học & tiên liệu vận mạng
2) Ứng dụng Nhân tướng học vào việc xử thế
3) Tướng Phát Đạt
4) Tướng Phá Bại
5) Thọ, Yểu qua tướng người
6) Đoán tướng tiểu nhi
7) Phu Luân về tướng Phụ nữ
8) 36 tướng hình khắc
9) Những tướng cách phụ nữ
10) Nguyên lý Âm Dương Ngũ hành
11) Ứng dụng của Âm Dương trong Tướng Học
12) Tương quan giữa Sắc và con người
13) Ý niệm Sắc trong tướng học Á Đông
14) Bàn tay và tính tình
15) Quan điểm của Phật giáo về vấn đề xem Tử Vi - Bói Toán
(Trích Lược Tử Vi : Tuổi Mùi, năm nay số mệnh ra sao? 12 Con Giáp và những đặc tính)
Chỉ có một thiểu số ít hơn là dùng âm lịch thường xuyên để nghiên cứu hay áp dụng vào các bộ môn khoa học huyền bí, như lấy số tử vi hay coi ngày lành tháng tốt cho chuyện làm đám cưới hỏi, khai trương công việc làm ăn v.v.
Hiện nay nghề làm lịch số của Trung Quốc không còn giữ được bí mật theo kiểu cha truyền con nối như xưa, vì nhờ vào phương tiện in ấn dồi dào từ sách vở ghi chép còn sót lại để nghiên cứu. Hơn nữa, Âm lịch cũng không còn thực dụng, vì hầu như tất cả các quốc gia trên thế giới đang chính thức dùng Dương lịch. Dù vậy, hậu quả của việc bảo vệ bí mật trong mấy ngàn năm trướcđây, cũng đã vô tình đánh mất đi cơ hội dành cho những thế hệ về sau này của Trung Quốc, nghiên cứu và tìm ra vận hành của Thái dương hệ, trước Âu châu ít nhất là vài trăm năm!
Nếu tình cờ mỗi năm một lần, chúng ta thấy xuất hiện một từ quen thuộc gọi theo tên âm lịch của năm đó, như năm nay 2002 là Nhâm-Ngọ, 2003 là Quý-Mùi, hay năm tới 2004 Giáp-Thân, thì dám chắc ai cũng đã ít nhất một lần thắc mắc, bằng cách nào và dựa vào đâu, các nhà lịch số Trung hoa phát minh ra những từ ngữ trên? Nói rõ hơn là mười (10) Thiên Can và mười hai (12) Ðịa Chi. Xin nhắc lại ở đây, 10 Can gồm: Giáp, Ất, Bính, Ðinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý.
Bài viết này sẽ dựa trên một vài dữ kiện kiểm chứng được của khoa học, để truy tìm lại phương pháp làm lịch mà các Chiêm tinh gia Trung hoa thời xưa có thể đã xử dụng. Bằng với tinh thần tôn trọng sự thật và học hỏi, người viết xin minh xác là những gì được trìnhbày sau đây có thể chưa được chính xác đúng hoàn tòan như đã xảy ra. Nhưng hy vọng sẽ là những ý tưởng khởi đầu, hay nếu có thể được, coi như là một đề nghị nghiên cứu thêm cho những vị có nhiều năng khiếu tự nhiên giỏi về các bộ môn Tử vi Lý số, để cùng làm sáng tỏ những gì đã bị hiểu nhầm là khoa học huyền bí.
Nội dung chính của bài viết này sẽ trình bày và giải thích tại sao, chỉ bằng mắt thường quan sát với phương tiện ghi chép còn thô sơ, các chiêm tinh gia Trung hoa đã tính được ra Thiên can, Ðịa chi và LụcTuần Hoa Gíap, hay khái niệm về vận hành 60 năm trong âm lịch. Phần cuối của bài viết sẽ giải thích một vài điều thắc mắc về những bí ẩn của khoa Tử vi Ðẩu số.
Nguồn gốc Lịch số
Âm lịch (lunar calendar) hay việc soạn thảo lịch số dựa vào vận hành của mặt trăng không phải bắt đầu từ Trung hoa như nhiều người lầm tưởng. Theo dữ kiện cóđược từ các nhà khảo cổ với bằng chứng rõ rệt, thì nền văn minh Sumerian, phát triển bên cạnh con sông Tigris cách đây hơn 6000 năm (khoảng từ năm 5000-4000 BC, để sau này thành trung tâm của xứ ngàn lẻ một đêm, hay ngày nay còn gọi là Baghdad, thủ đô của Iraq) đã biết làm lịch dựa vào vận hành của mặt trăng. Ðế quốc La mã ngay trong thời trước Julius Cesar ( 40 BC ) cũng dùng loại Âm lịch này. Chọn mặt trăng để làm lịch có thể bởi hai lý do: Dễ nhìn vì ánh trăng ban đêm không nóng gay gắt và khó nhìn như mặt trời ban ngày. Thay đổi hình dạng thường xuyên từ khuyết tới tròn dễ thấy hơn là mặt trời hầu như ít khi thay đổi. Tuy nhiên, còn một lý do khá quan trọng khác ít người nghĩ đến, là do yếu tố thiên nhiên. Xứ Ai cập (Egypt) nằm ngay trên đường Phân cực Hoàng đạo (Tropic of Cancer, khoảng 23°27 từ xích đạo) nên đa số nhiều người đã thấy được hiện tượng mặt trời chiếu thẳng trên đỉnh đầu. Nghĩa là trong khoảng từ 20 tháng 3 đến 20 tháng 9, nếu cắm một cái cọc thật thẳng đứng, sẽ thấy bóng của cây cọc nhập trùng ngay dưới gốc của nó vào lúc 12 giờ trưa, ít nhất là trong vài ngày (Chỉ những nước nằm giữa đường xíchđạo và Bắc bán cầu trong khoảng Vĩ tuyến từ 0 - 23°27 mới thấy được hiện tượng trên. Ngược lại, trong vùng Nam Bán cầu thì khoảng từ 20 tháng 9 đến 20 tháng 3). Nhờ quan sát hiện tượng đó, dân Ai cập cách đây khoảng hơn 4000 năm đã tính ra gần đúng số ngày trong năm (365 thay vì 355 như Âm lịch), và cũng chính là lý do họ chọn làm lịch theo mặt trời, lưu truyền Dương lịch cho đến bây giờ!
Các thủ đô của Trung hoa như Trường An hay Bắc kinh, vì nằm trong vùng ôn đới cách xa trên đường Phân cực (Tropic of Cancer) nên không thấy được hiện tượng nói trên, cũng như khôngcó ấn tượng nhiều về mặt trời, và cũng là lý do dể hiểu tại sao họ đã dùng mặt trăng để làm lịch.
Theo đúng như trong sử Trung hoa ghi lại thì khoa Lịch số đã có từ thời Hoàng Ðế, cách đây hơn 4000 năm, do các chiêm tinh gia soạn ra (nghĩa nguyên thuỷ là nhà thiên văn hay chuyên gia coi sao trên trời, không phải bị biến nghĩa ra thành "thầy bói toán" như về sau này!) chiêm tinh gia biên soạn lịch số để định chuẩn thời gian cho việc hành chánh và cai trị của triều đình Vua quan, nhưng đồng thời cũng giúp rất nhiều cho nghề nông trongviệc tiên đóan thời iết hay thu hoạch mùa màng. Chắc chắn trong giai đoạn đầu khi mới có cho đến khoảng sau thời Hán Cao tổ, âm lịch cũng không tránh khỏi nhiều sai lầm, nhất là rất đơn sơ và chưa có Thiên can hay Ðịa chi như sau này. Bằng chứng là trong thời kỳ phát triển của Chu Dịch (1150 - 500 BC) cũng chưa nghe nói đến. Phải đến thời "Tam Quốc" của Khổng Minh (Gia cát Lượng) vào khoảng 200-300 AD thì mới có văn tự rõ rệt nói về các Thiên Can, đồng thời xuất hiện các khoa lý số như Kỳ Môn Ðộn Giáp, Thái ất Thần toán, hay Lục Nhâm Ðại Ðộn v.v. Hầu hết các sử gia Trung quốc đều công nhận là chỉ vào thời kỳ của Nhà Hán, sau mấy trăm năm chiến tranh liên miên từ thời Ðông chu Liệt quốc, nền văn minh Trung hoa mới thật sự khởi sắc và đi lên trong Thiên niên kỷ đầu tiên (0 -1000 AD).
Theo chínhsử ghi lại, những nghiên cứu và phát minh của Trung hoa thật sự đã bắt đầu từ thời Tần thủy Hoàng, khi vị Hoàng đế tài giỏi nhưng tàn bạo này, có thể động viên hay chiêu dụ được nhiều đạo sĩ (coi như là khoa học gia theo tiêu chuẩn thời đó), trong việc thám hiểm, đi tìm kiếm các kỳ hoa dược thảo để luyện thuốc trường sinh bất tử cho ông. Dưới nhận xét bình thường thì cho rằng đó là việclàm xa xỉ, hoang tưởng và mê muội. Nhưng trong lãnh vực nghiên cứu khoa học ngày nay, Tần Thủy Hoàng rất xứng đáng được coi như đã có công sáng lập một cơ cấu kiểu Hàn lâm Viện khoa học đầu tiên cho nhân lọai! Những chi phí trong việc chiêu đãi hay thưởng công cho các đạo sĩ thời đó, dưới cái nhìn thiếu hiểu biết cho là phung phí, nhưng so với tỷ lệ ngân sách dành riêng cho khảo cứu khoa học ngày nay thì chẳng có nghĩa lý gìcả, dù là của một nước đang phát triển! Chính nhờ làm việc và sống chung tập thể với nhau đó, đã vô tình tạo ra môi trường tốt đẹp cho những sáng kiến mới, thi đua học hỏi, trao đổi kiến thức giữa các đạo sĩ với nhà vua, và có thể đã là cơ sở đóng góp cho nhiều phá minh quan trọng về khoa học và kỹ thuật sau này của Trung quốc. Hoá chất Lưu huỳnh dùng để làm thuốc súng, than đá, thủy ngân, chì, nam châm có từ tính, cách luyện thép, bàn ính (abacus), v.v. có thể đã được bắt đầu nghiên cứu hay tìm ra trong thờ kỳ này. Thí dụ về những huyền thoại phù phép mà Khổng Minh xử dụng, là do những phản ứng đặc biệt từ các hoá chất độc hại như lưu huỳnh, thuỷ ngân hay các loài dược thảo trộn chung với nhau khi bị đốt cháy. Kết qủa là làm cho đối phương bị gây mê, mất trí hay mạng vong trong những vùng gọi là bát qúai trận đồ. Nhưng một trong những thành quả tốt đẹp hơn hết chính là bộ môn xem thiên văn khí tượng bắt đầu xuất hiện được nhiều người biết đến. Nhờ vậy mà khoa lịch số đã được hiệu chỉnh, thay đổi đúng hơn cho tới bây giờ!
Phương pháp soạn Âm lịch
Có thể chia ra làm hai giai đọan phát triển chính cho việc soạn thảo âm lịch.
Giai đoạn I: Kéo dài khoảng gần 2000 năm từ thời Hoàng đế cho đến thời Khổng tử. Trong giai đoạn này chỉ có ngày, tháng và năm. Chưa có chia ra giờ cũng như chưacó thiên can và địa chi. Công việc soạn lịch vào thời sơ khai này rất là dễ hiểu, không có gì phức tạp như nhiều người thường lầm tưởng. Những chiêm tinh gia thời đó chỉ dựa vào khoảng cách giữa hai tuần trăng tròn để tính số ngày cho một tháng. Khoảng cách của một năm thì được định bằng thời điểm vào lúc Trăng tròn nhất, khoảng ngày rằm tháng 8 (sau này thành ra tết Trungthu), và một phần dựa vào thời tiết thay đổi của 4 mùa.
Khó khăn duy nhất lúc ban đầu là cứ cách khoảng chừng hai năm thì tháng có trăng tròn nhất bị kéo dài thêm một tháng. Ðó là những tháng nhuận, và cách giả iquyết thực tế đơn giản lúcbấy giờ là thêm nguyên một tháng vào những năm nhuận. Còn làm sao họ biết được năm nào nhuận là do phỏngchừng và dựa vào kinh nghiệm riêng của những đời trước theo kiểu cha truyền con nối. Chính cách làm theo lối thuận tiện như trên, nên âm lịch thường bị thành kiến cho là thiếu chính xác! Có thể trong thời kỳ này, tháng nhuận chỉ được thêm vào trong tháng trước tháng có trăng tròn nhất là tết Trung thu(?) Chỉ sau này khi bắt đầu ăn mừng ngày tết Nguyên đán và để không bị sai ngày quá xa, nên những nhà soạn lịch phải chia ra cho đều, thêm tháng nhuận vào các tháng khác.
Ngoài ra có vài chi tiết cần được để ý là hệ thống Âm lịch dựa vào thiên can và địa chi chỉ có phân biệt tối đa là 60 năm, nên nếu muốn viết lịchsử, họ thường dùng năm cai trị của Vua hay triều đại làm chuẩn. Thí dụ như trong sách thường viết là năm thứ mấy đời Vua nào đó gặp thiên tai bão lụt v.v. Lâu dần trở thành thói quen dùng luôn cho đến khi bị ảnh hưởng của nền văn minh Tây phương thay đổi.
Về giờ giấc, lịch số ở thời kỳ đầu cũng chưa chia ra 12 giờ như sau này. Ðể định giờ, họ dùng cách nói phỏng phừng theo vị trí của mặt trời, mà mãi cho đến bây giờ, nông dân ít học ở các vùng quê vẫncòn dùng, như khi nói mặt trời vừa lên quá ngọncây (khoảng 8 đến 9 giờ sáng mùa hạ), hay mặt trời đứng bóng giữa trưa khoảng 12 giờ v.v.
Những gì vừa trình bày có thể kiểm chứng bằng bộ sách Chu dịch đã được soạn ra khoảng từ thời nhà Chu (1150 BC) cho đến thời Khổng tử (550 BC). Cụ thể là việc lập quẻ Dịch. Trong bộ Chu Dịch chính bản chỉ ghi cách lập quẻ duy nhất là dùng cỏ Thi, còn gọi là phép bói cỏ Thi, mà không dùng đến giờ nào như Khổng Minh dùng để bấm độn sau này. Các lời bàn của 64 quẻ trong bộ Chu Dịch nguyên thuỷ hoàn toàn không có nói rõ về giờ giấc.
Giai Ðoạn II: Từ thời Khổngtử cho tới nhà Ðường khoảng chừng 1000 năm. Thời kỳ này văn minh Trung Hoa bắt đầu khởi sắc đi lên. Các Ðạo sĩ hay Chiêm tinh gia làm việc có phương pháp và khoa học hơn. Nhờ vậy, họ đã tìm ra hay khám phá được chu kỳ vận chuyển của các hành tinh trong Thái Dương hệ, và từ đó âm lịch mới được thay đổi để thêm vào Thiên can, Ðịa chi, Lục tuần Hoa giáp (hay chu kỳ 60 năm). Trướckhi đi sâu vào chi tiết, và để quý đọc giả dễ theo dõi vấn đề hơn, người viết xin nhắc lại một vài dữ kiện căn bản như sau:
Trong những đêm tốt trời không mây, nếu dùng mắt thường chúng ta có thể đếm được cả vài trăm ngôi sao là chuyện thường. Tuy nhiên, tất cả đều thấy gần như cố định không thay đổi theo năm tháng, vì không phụ thuộc vào một hệ thống vệ tinh như Thái dương hệ, hoặ cgiả có chu kỳ di chuyển quá lớn đến cả ngàn vạn năm. Còn lại, trừ trường hợp đặc biệt như sao chổi (Comet) và sao băng (Asteroid), chúng ta chỉ thấy được những hành tinh thuộc Thái dương hệ dic huyển mà thôi. Trong tám (8) hành tinh chính, trừ mặt trời và mặt trăng, mắt thường của chúng ta chỉ thấy được có năm(5) hành tinh. Ðó là Thủy tinh(Mercury), Kim tinh(Venus), Hỏa tinh(Mars), Mộc tinh(Jupiter), và chót là Thổ tinh(Saturn). Ba(3) hành tinh không thấy được bằng mắt thường là Diêm vương tinh (Uranus), Hải vương tinh (Neptune) và Thiên vương tinh(Pluto). Không biết có phải là trùng hợp ngẫu nhiên của tạo hóa, hay sắp đặt khéo léo của con người, trong 8 quái (Bát quái hay 8 hành?) của Dịch lý, các "Khoa học gia" thời đó chỉ thấy được có 5 quái: Ðịa, Sơn, Thủy, Lôi, và Hỏa, nên phát minh ra Ngũ hành (Ngườ viết đã trình bày trong bài "Những khám phá mới về Dịch lý và Ngũ hành" cách đây hơn hai năm.) .
Ðể tìm hiểu về 5 hành tinh thấy được chuyển động như thế nào, các Chiêm tinh gia thời đó đã dùng một phương pháp đơn giản nhưng rất khoa học, là ghi chép lại vị trí của các hành tinh sau một thời khoảng nhất định. Thời điểm tốt nhất để xem thiên văn là mỗi tháng một lần vào cuối hay đầu tháng, lúc trăng hoàn toàn bị che mất (đêm 29, 30 hay 1). Muốn định rõ vị trí của cácsao, có lẽ họ cũng biết dùng theo phương pháp chấm tọa độ, nhưng kém chính xác rất nhiều. Dùng sao Bắc đẩu làm chuẩn và theo đồ hình Bát quái, họ có thể định phương vị (hay khẩu độ) của một sao, và kế đến là cũng theo lối ước chừng độ cao của mặt trời để định khoảng cách từ đường chân trời. Thí dụ như để định vị ngôi sao ở 220 độ từ hướng Bắc (theo chiều kim đồng hồ) và 25 độ cách chân trời nằm ngang, họ có thể nói là nằm ở giữa cung Khôn (hướng Tây-Nam) cách chân trời khoảng một gang tay chẳng hạn. Về sau để được chính xác hơn, có thể các chiêm tinh gia đã dùng đến các tên của quẻ dịch để phân chia thành 64 cung trên vòng tròn. Ðó chính là lý do tạisao các nhà nghiên cứu về sau cóthể hiểu lầm vì bị nạn "tam sao thất bổn", nên tưởng là môn lịch số có nguồn gốc từ Dịch lý mà ra.
Dù bằng cách nào thì cũng nhờ khái niệm tuần hoàn và chu kỳ âm dương của Dịch lý, chiêm tinh gia thời đó có thể tin chắc là các vì sao đều chuyển động theo một chu kỳ nhất định nào đó. Nếu không thì có lẽ họ không bỏ thì giờ quá lâu cho cả một đời người để tìm ra gần đúng chu kỳ của 5 hành tinh trong Thái dương hệ, trước Âu châu cả hơn ngàn năm!
Kết quả công trình nghiên cứu và ghi chép vị trí sao của các Chiêm tinh gia Trung hoa nói trên cho thấy là cứ mỗi 60 năm thì cả 5 hành tinh đều quay trở về lại gần vị trí cũ! Ðặc biệt hơn hết, là vào khoảng cuối năm Quý Hợi và đầu năm GiápTý thì cả 5 hành tinh đều hội tụ lại, và nằm sát với nhau chung một hướng. Xin nhắc lại đây để tránh hiểu nhầm, nhờ tìnhcờ ngẫu nhiên quan sát thấy hiện tượng 5 sao tụ hội về một chỗ trước khi phân tán ra, nên có thể các nhà lịch số cho rằng đó là khởi điểm đầu tiên cho chu kỳ 60 năm, và họ đặt tên cho năm có hiện tượng đó là GiápTý, đứng đầu trong bảng lục tuần hoa giáp.
Sau đây là bảng tóm lược số vòng chu kỳ quay quanh mặt trời của 5 hành tinh, dựa theo thời gian một (1) năm của trái đất làm chuẩn:

Dựa vào bảng tính toán chu kỳ ở trên cho thấy có một vài chi tiết cần chú ý: Sau khoảng chừng 20 năm thì các sao tụ về tại một vị trí khác, và phải sau gần 60 năm của trái đất, thì cả bốn(4) sao Thủy tinh, Hỏa tinh, Mộc tinh, và Thổ tinh mới quay về gần đúng vị trí đầu tiên hay xê xích một chút. Khoảng cách sai số sau 60 năm là từ 10 đến 30 cung độ (arc), do các số lẻ thứ nhất của số chu kỳ trong 60 năm đều nằm trong giới hạn của 0 - 0.1 hay 0.9 - 1.0 theo vòng tròn (360 độ) của mặt trời. Ðối với người quan sát các hành tinh đứng từ vị trí trên trái đất và ở một gốc độ chéo, thì chắc sẽ nhìn thấy khoảng cách hay độ xê xích nhỏ hơn rất nhiều, hoặc có thể không thấy được độ sai biệt bằng mắt thường! Riêng trường hợp của Kim tinh (Venus) tuy nằm gần như đối diện với vị trí cũ (số lẻ 0.54), nhưng chu kỳ quay chung quanh mặt trời chỉ có chừng hơn 7 tháng, nên chỉ cần thêm khoảng 4 tháng (cũng còn trong 1 năm của trái đất) là quay vòng trở lại để hội tụ cùng các sao.
Như vậy, với một vài bằng chứng ở trên có thể tạm kết luận rằng: Chuyện các chiêm tinh gia Trung hoa cách đây hơn 1000 năm đã tìm ra chu kỳ gần đúng của 5 hành tinh là sự thật hiển nhiên rất dễ hiểu theo khoa học. Hình vẽ thứ hai sau đây cũng để minh chứng cụ thể cho thấy vị trí của 5 hành tinh vào tháng 2 năm 1984 (dương lịch, âm lịch là 30 tháng Chạp năm Quý Hợi, gần tết Nguyên đán) theo cách tính đúng qũy đạo chính xác của khoa học ngày nay.
Tuy nhiên cũng xin lưu ý và nhấn mạnh một lần nữa là do sự trùng hợp ngẫu nhiên đưa đến, không phải cứ 60 năm là các sao phải tụ về ở cùng một phương vị giống như vậy. Lý do là vì các sai số khoảng 0.06 cho Mộc tinh và 0.037 cho Thổ tinh như đã nói, nên phương vị của các sao tụ hội lại cũng thay đổi xê xích mộtchút sau khoảng 60 năm. Muốn các sao tụ hội về cùng phương vị gần giống như cũ phải mất khoảng 1600 năm, hay gần 27 lần của chu kỳ 60 năm! Nhưng dù vậy cũng chỉ gần đúng mà thôi. Nghĩa là trong thực tế không hề có sự trùng nhập lại giống y hệt như cũ được!
(Chú thích: Mercury bị che bởi Venus và Mars nên không thấy trong hình)
Nhân đây cũng nên nhắc đến một sự kiện lịch sử có ảnh hưởng rất nhiều đến vận mệnh của cả nước Việt nam. Do bởi các vua chúa Trung hoa thời bấy giờ vì quá tin vào lập thuyết của các chiêm tinh gia, cho rằng một khi các tinh tú đều chầu về một phương nào thì nơi đó tụ hội được nhiều linh khí, nghĩa là có "Thánh nhân" hay bậc đế vương sinh ra đời! Bởi vậy nên tính ra trong khoảng 400 năm ( 400 - 800 AD) vào thời nhà Ðường, các Sao đều chầu về phương Nam (gần giống như hình vẽ trên), làm cho họ phải lo sợ. Từ nguyên nhân đó, mới có việc sai phái đạo sĩ Cao Biền làm Thái thú để tìm cách trấn yểm phương Nam. Ngoài ra sau này họ cũng thường gởi các "Gián điệp" giả dạng đội lốt tu sĩ hay thầy Ðịa lý và thầy thuốc bắc để dò tìm nhân tài của Việ nam. Một khi phát hiện được nơi nào có "thần đồng" hay thiếu niên giỏi chữ là họ tìm đến để thử tài và tìm hiểu. Nếu đúng thì bằng nhiều cách như dụ dỗ, mua chuộc nếu cha mẹ nghèo, xin cho làm con nuôi để "dạy dỗ và huấn luyện chữ nghĩa v.v. Ðó là lý do tại sao trong những câu chuyện kể về các vị thần đồng Nho học của Việt nam thời xưa, thường nói tới việc có những người "khách lạ" tìm đến để ra câu đối và thử tài thông minh!
Nếu những gì nói trên đúng theo thuyết của các chiêm tinh gia Trung hoa, thì trong số những đứa trẻ sinh năm 1984-85 ở Việt nam sẽ cho ra nhiều thiên tài xuấtchúng ngoại hạng trong tương lai (!?) Ðúng hay sai thì chưa biết, nhưng ứng nghiệm vào các quốc gia thuộc vùng Ðông nam A¨ thịnh vượng giầu có hơn trong vòng 20 năm qua, và dĩ nhiên kết qủa là sẽ cho ra nhiều trẻ em thần đồng nhờ được nuôi dưỡng huấn luyện và giáo dục trong môi trường tốt hơn!
Nói chung với cách tính phỏng chừng và đơn giản dựa vào ba sao là: Hỏa tinh (Mars) có chu kỳ gần 2 năm, Mộc tinh (Jupiter) có chu kỳ khoảng 12 năm, và Thổ tinh có chu kỳ gần 30 năm, các nhà làm Lịch số đã tìm ra mẫu số chung gần đúng là 60 năm để cả ba sao tụ hội lại gần nhau, và có cùng chung một cung, hay cùng phương vị theo bát quái (mỗi cung khoảng 45°.)
Ðiều cần biết thêm ở đây chính là chu kỳ gần 2 năm của sao Hỏa (Mars), nghĩa là cách khoảng một năm thì các chiêm tinh gia thấy sao Hỏa nằm ở vị trí hướng đối ngược lại. Do hiện tượng trên trùng hợp với lý thuyết về Dịch hay luật âm dương, nên có thể các nhà lịch số tin rằng thời gian cũng giống như vậy là cứ một năm Dương một năm Âm thay đổi đều nhau!
Mộc tinh (Jupiter) là sao quan trọng nhất có chu kỳ gần đúng 12 năm. Quan trọng theo các nhà Lịch số thời bấy giờ có thể từ hai lý do. Thứ nhất, đó là sao duy nhất để phân biệt và chuẩn định sự khác biệt của các năm. Thổ tinh (Saturn) vì xa và khó thấy hơn, nhất là chu kỳ đầu tiên quá lâu và có tới gần 30 năm không chính xác bằng Mộc tinh. Riêng Hỏa tinh thì lại càng không chính xác vì chu kỳ quá ngắn chỉ có khoảng gần 2 năm. Thứ hai, dựa vào kinh nghiệm tích lũy từ quan sát và thực nghịêm của các chiêm tinh gia theo lối cha truyền con nối có thể đã kéo dài trong vài trăm năm, sau Mặt trời và Mặt trăng, Mộc tinh có ảnhh ưởng nhiều nhất đối với con người và Trái đất (sẽ giải thích thêm ở mục Tử Vi). Chính vì vậy, họ đã dùng chu kỳ 12 năm của Mộc tinh để đặt tên cho 12 năm, còn gọi là Thập nhị Ðịa chi. Dám chắc mới đầu chỉ có tên bằng con số 1, 2, 3, 4,...12. (Nếu để ý thì thấy các số lẻ 1, 3, 5...thuộc số Dương, số chẳn 2, 4, 6... là số Âm, phù hợp với Dịch lý đã nói ở trên). Còn tại sao sau này lại có tên của 12 con vật là Tý, Sửu, Dần...v.v, thì lại thuộc một vài lý do khác không nằm trong phạm vi bài viết này, nên xin miễn bàn ở đây. Nói chung, yếu tố quan trọng là nhờ vào quan sát thực nghịêm, một phương pháp thông dụng trong nghiên cứu khoa học.
Sau cùng, có lẽ các chiêm tinh gia cũng chỉ thấy có sao Thổ tinh là có chu kỳ lâu nhất trong 5 hành tinh, nên theo trình độ hiểu biết thời bấy giờ, họ cho rằng đó là vị thần chính của nhà Trời ảnh hưởng đến mọi sự sắp đặt và thay đổi của "Thượng đế", nên gọi là Thiên Can (?). Nhưng tại sao là 10 mà không là 5, vì 5 nhân 12 mới bằng 60? Hỏi vậy là xem thường khả năng về Toán của chiêm tinh gia! Nếu chỉ dùng 5 số Thiên can ghép với 12 Ðịa chi sẽ bị trở ngại ngay, nhất là không giải quyết được nguyên tắc Âm Dương, một năm Dương và một năm Âm đi liền với nhau như đã giải thích về chu kỳ của sao Hỏa ở trên. Ðể giải tỏa vấn nạn đó, các chiêm tinh gia buộc phải dùng gấp đôi con số 5 lên thành 10, tuy vẫn duy trì 5 đặc tính Ngũ hành của Thiên can. Bởi vậy cho nên bây giờ chúng ta mới có hai Can đi liền với nhau có cùng chung một Hành (theo thuyết Ngũ hành), và có một Dương và một Âm. Thí dụ như Giáp với Ất (hành Mộc), Bính với Ðinh (Hỏa), Mậu với Kỷ (Thổ), Canh với Tân (Kim) và Nhâm với Quý (Thủy).
Ngoài ra, do ảnh hưởng của thuyết Ngũ hành, việc đặt hay gọi tên 5 hành tinh theo Ngũ hành là hoàn tòan dựa vào màu sắc khi nhìn bằng mắt thường, và không có liên hệ gì với đặc tính vật lý. Theo lý thuyết của Ngũ hành về màu sắc, gọi là Mộc tinh vì có sắc xanh. Hỏa tinh vì có sắc đỏ như lửa. Thổ tinh vì có sắc vàng, Kim tinh (Venus) vì có sắc trắng do có độ sáng mạnh, và Thủy tinh (Mercury) có sắc đen vì quá gần mặt trời nên không thấy được sáng lắm!
Tóm lại hệ thống Âm lịch dựa vào các hành tinh chính sau: Mặt trời để định Giờ và Ngày, Mặt trăng dùng cho Tháng, Mộc tinh (Jupiter) dùng cho Năm hay 12 Ðịa chi, và sau cùng Thổ tinh (Saturn) và Hoả tinh (Mars) dùng để định Thiên can (Âm hoặc Dương) và Ðại Chu kỳ 60 năm hay LụcTuần Hoa Giáp. Ghi nhận thêm ở đây là theo âm lịch, mỗi tháng chia ra làm 3 tuần, có khoảng từ 9 đến 10 ngày, gồm: Thượng, Trung, và Hạ tuần. Về sau này thì các nhà soạn lịch tính và thêm vào các ngày đặc biệt như Ðại hàn, Tiểu hàn, Lập Đông, Hạ chí v.v
Những Bí ẩn của khoa Tử vi
Trong suốt hơn một ngàn năm, bộ môn Tử vi được coi như là khoa học huyền bí bởi tất cả các yếu tố an sao và giải đóan đều dựa theo một vài công thức định trước, mà không có sự giải thích hay chứng minh lý do tại sao. Dù tin hay không tin, thực tế cho thấy khoa tử vi cũng đã được lưu truyền trong dân chúng khá lâu, và ít nhất cũng đã có một số người chấp nhận, nghĩ rằng có thể dùng để đoán được phần nào vận mệnh tương lai của con người! Ðiều đáng ngạc nhiên là nếu đúng theo dữ kiện cho thấy, khoa Tử vi hiện tại này chỉ còn có Việt nam là đất dụng võ, dù có nguồn gốc từ Trung hoa. Ngay cả các sách viết về Tử vi ở TrungHoa cũng có nhiều, nhưng họ không thích xài Tử vi mà lại chọn các môn khác thông dụng hơn như Tử Bình (gọi tắt là Bát tự có 8 chữ, lấy số theo hàng Can và Chi của Năm, Tháng, Ngày và Giờ). Một lý do có thể giải thích là vì sau này họ đã khám phá và thấy được rằng, vận hành của các sao không được chính xác như đã tin tưởng lúc ban đầu!
Những gì được người viết phát hiện và trình bày sau đây cho thấy vài đặc tính khoa học của bộ môn Tử vi. Trần Ðoàn (được coi như ôngTổ sángchế ra Tử vi) hay các vị thầy tiền bối của ông vào khoảng thời nhà Ðường, có thể đã tiến xa hơn và biết khá nhiều về vận hành của các hành tinh. Nhưng tiếc rằng vì các điều kiện thực tế chủ quan về văn hóa xã hội thời bấygiờ, nên họ đã dấu kín và giữ kín bí mật tối đa, nhất là không muốn giải thích hay viết sách để lại lưu truyền cho hậu thế.
Cung An mệnh. Theo quan niệm về triết lý nhân sinh của Khổng giáo chịu ảnh hưởng ít nhiều đạo Lão, mỗi người sinh ra đều có một số phận được an bài trước gọi là thiên mệnh. Các nhà lý số hay tử vi gia Trung hoa dựa vào lý thuyết trên nên tin rằng, khi một đứa bé vừa sinh ra đời là chịu ảnh hưởng định đoạt cho số phận bởi các tinh tú hiện diện trên trời ngay thời điểm đó. Câu văn nổi tiếng thường nghe là "...sinh ra đời dưới một ngô isao..." phản ánh niềm tin trên. Nói cách khác, khi một đứa trẻ sinh ra đời tại một địa điểm nào trên trái đất, sẽ chịu ảnh hưởng của tất cả các tinh tú chiếu vào ngay tại thời điểm đó, và định đoạt số mệnh luôn cả đời cho đứa bé vừa sinh!
Không phải tự nhiên mà các Tử vi gia (TVG) bày đặt ra cách an mệnh trong Tử vi như sau: Khởi từ cung Dần (hay tháng Giêng) đếm theo chiều thuận (kim đồng hồ) đến tháng sinh, rồi từ đó lại đếm ngược cho tới giờ sinh để an cung mệnh. Dựa vào triết lý số phận cùng cách an cung mệnh cho thấy, các TVG thời đó đã khám phá ra được hai đặ ttính vận hành của trái đất và mặt trời, một đúng và một sai!
Thứ nhất, đúng là họ đã biết trái đất tự xoay vòng quanh lấy chính nó theo chiều ngược với kim đồng hồ! Trò chơi lồng đèn xoay (còn gọi là đèn kéo quân hay đèn cù) rất thịnh hành vào thời nhà Ðường, cho thấy các TVG lúc bấy giờ có thể đã có khái niệm về trái đất tròn và xoay. Nhưng như đã viết ở trên, họ đã giữ làm bí mật gia truyền, và nhất là sợ nguy hiểm cho chính bản thân và gia đình do quan niệm "Thiên cơ bất khả lậu" hoặc vì những người cầm quyền như Vua Chúa không tin (giống như trường hợp của Gallileo). Một lý do khác là ngay chính các TVG cũng không hiểu và không giải thích được hiện tượng tại sao con người không bị rơi ra ngoài nếu trái đất xoay tròn! Thêm vào, các hiện tượng thiên nhiên như nhật thực hay nguyệt thực, đã tạo cơ hội để các TVG hiểu ánh sáng từ mặt trăng là do từ ánh sáng mặt trời chiếu vào và thỉnh thoảng lại bị trái đất che (cho trường hợp nguyệt thực). Có thể với cách suy luận tầm thường và đơn giản theo lối chứng minh "phản đề" là: Nếu Trái đất nằm yên không xoay, thì dựa vào quan sát hàng ngày cho thấy mặt trời, mặt trăng, năm (5) hành tinh và đa số các tinh tú thấy được, phải "chạy" xung quanh trái đất mỗi ngày một lần! Ðiều này cho thấy hoàn tòan vô lý vì nhờ các hiện tượng nhật thực và nguyệt thực. Cụ thể như nhờ có hiện tượng nhật thực toàn phần giữa ban ngày, các TVG đã thấy được các ngôi sao và các hành tinh hiện ra, dù trong chốclát. Nghĩa là không phải vào ban ngày, các tinh tú chạy xuống dưới đất rồi đến tối mới hiện lên!
Thứ hai, các TVG đã hiểu sai khi khám phá ra và tin rằng mặt trời quay chung quanh trái đất mỗi năm một lần theo chiều thuận kim đồng hồ! Nhưng thật là may mắn cho khoa Tử vi, cái sai về lý thuyết lại trở thành đúng trên thựctế! Lý do là nhờ luật tương đối về chuyển động. Nghĩa là nếu các TVG đang đứng trên trái đất nhìn mặt trời, trong khi trá iđất di chuyển xung quanh mặt trời theo chiều ngược kim đồng hồ, thì cũng giống như các TVG đứng trên trái đất nằm yên, và nhìn mặt trời di chuyển xung quanh trái đất theo chiều thuận kim đồng hồ!.
Những bằng chứng trên cho thấy khi an cung mệnh, các TVG đã theo gần đúng nguyên tắc vận hành của trái đất và mặt trời, xác định vị trí tương đối lúc đứa bé sinh ra đời trong thái dương hệ. Tuy nhiên, xin được nhấn mạnh và giải thích rõ ở đây thêm một chút để tránh sự hiểu lầm. Ðúng ra, phần nào là do ảnh hưởng thể xác của người mẹ, do tính di truyền hay phù hợp với môi trường vào thời điểm đó, nên "chuyển bụng" mà sinh ra đứa bé, hơn là do cơ thể đứa bé sinh ra chịu ảnh hưởng của các hành tinh!
Vòng Tử vi và Thiên Phủ: Coi như quan trọng nhất cho lá số tử vi nên dựa vào tất cả bốn yếu tố là Năm, Tháng, Ngày và Giờ sinh. Nghĩa là chịu ảnh hưởng của Mặt trời, Mặt trăng và năm hành tinh. Theo nhận xét của người viết thì có thể sau khi định vị trí của đứa rẻ khi mới sinh ra đời dựa vào tháng và giờ, các TVG còn dựa vào hai yếu tố sau cùng là vị trí của các hành tinh hay thiên can, và vị trí của Mặt trăng hay ngày sinh. Nhưng làm sao họ biết sao Tử vi phải được an ở đâu dựa vào ngày sinh (?), và đây vẫn còn là một bí ẩn cần được nghiên cứu thêm. Câu trả lời tạm thời là có thể các TVG đã dựa vào quan sát thực nghiệm hình ạng và khuôn mặt của hàng trăm (hay vài ngàn) đứa trẻ trong một thời gian kéo dài cả mấy trăm năm. KhoaTướng số cũng cóthể nhờ đó mà phát sinh ra. Nên nhớ là ngày nay các nhà coi Tử vi chuyên nghiệp cũng cần phải dựa vào hình dạng hay tướng mạo để "điều chỉnh" và kiểm chứng lại trước khi bàn tới lá số của người nào.
Vòng Thái tuế: Trong số những người Việt nổi tiếng một thời nghiên cứu về khoa Tử vi, có thể TVG Thiên lương (bút hiệu) là người đã khám phá ra những yếu tố quan trọng đặc biệt nhất về vòng an sao Thái tuế. Vòng Thái tuế theo quan niệm của nhóm nghiên cứu TVG Thiên Lương, có ảnh hưởng nhiều đến thái độ sống và cách ứng xử của con người đối với xã hội. Tại sao vòng Thái tuế lại đóng một vai trò chính trong khoa Tử vi? Câu trả lời là vì đã dựa vào sao Mộc tinh (Jupiter). Các chiêm tinh gia từ xưa đã quan sát và biết chu kỳ đặc biệt duy nhất gần 12 năm của Mộc tinh trong Thái dương hệ. Nhưng yếu tố chính quan trọng ở đây là họ đã cảm nhận được ảnh hưởng của Mộc tinh đối với các sinh vật đang sống trên trái đất, nhất là con người theo từng năm (bởi vậy nên SaoThái tuế bao giờ cũng an theo năm sinh, nghĩa là sinh năm nào thì an Thái tuế ở ngay cung đó).
Theo dữ kiện khoa học tìm thấy được, Mộc tinh (Jupiter) hay saoThái tuế có hai đặc tính nổi bật nhất trong Thái dương hệ. Thứ nhất là Hành tinh lớn thứ hai chỉ nhỏ hơn Mặt trời, với đường bán kính trung bình khoảng chừng 70 ngàn cây số (km), gấp 11.2 lần Trái đất. Do đó, lực hấp dẫn (gravity) của Mộc tinh lên Trái đất rất là đáng kể (chỉ sau Mặt trăng quá gần với Trái đất). Thứ hai, và đây mới chính là điều đáng nói, ảnh hưởng từ trường của Mộc tinh mạnh nhiều hơn khoảng 10 lần của Trái đất. Yếu tố sóng từ trường như các phát hiện gần đây cho thấy, ảnh hưởng rất nhiều trên não bộ của con người nhất là cho các trẻ em! Thí dụ cụ thể là cách đây mấy năm, đã xảy ra hiện tượng một số các trẻ em Nhật bị ói mửa và bất tỉnh vì coi một chương trình truyền hình! Hay giới y học càng ngày càng có khuynh hướng tin và công nhận các loại sóng từ trường, từ các dụng cụ điện tử hay các đường dây điện cao thế, có thể gây nguy hại cho não bộ con người nếu hấp thu quá nhiều!
Trở lại chuyện tử vi, theo lý giải của phái TVG Thiên lương nếu người nào an mệnh tại cung có sao Tuế phá, xung chiếu với cung thiên di có sao Thái tuế, thì người đó thường hay bất mãn chống đối, sinh bất phùng thời, v.v. Ðể kiểm chứng hiện tượng trên, người viết chọn một lá số thí dụ để cho cung mệnh có được sao tuế phá: Người tuổi Canh-Thìn (1940), sinh tháng 9, giờ Tý, mệnh an ở cung tuất. Sauđó, dùng cách định vị trí của các hành tinh vào thời điểm nói trên, thì thấy rằng vị trí trên mặt đất vào giờ đó đối diện thẳng với sao Mộctinh, và ở vị trí gần nhất, theo hình vẽ sau:

Dựa vào hình vẽ trên cho thấy người sinh tháng 9 giờ Tý và người sinh tháng ba giờ Ngọ đều an mệnh tại cung Thìn và có cùng sao Tuế phá tại mệnh. Khác biệt duy nhất của hai trường hợp trên là chỉ có người sinh tháng 9 mới chịu ảnh hưởng hoàn toàn của Tuế phá, trong khi người sinh tháng 3 thì ngược lại không ảnh hưởng tí nào vì nhờ mặt trời che hoàn tòan! Một yếu tố có thể là do ảnh hưởng của sóng từ trường quá nhiều từ mộc tinh, nên não bộ của đứa bé lớn lên sẽ có khuynh hướng phát triển nhiều, thuộc loại thông minh hơn người, và thường đưa đến trường hợp chống đối những chuyện chướng tai gai mắt, nên dễ đưa đến bất mãn vì không hùa theo với người được (trường hợp của Cao Bá Quát trong lịch sử). Mặt khác có thể do thiếu giáo dục và hướng dẫn, dễ kết bè đảng với kẻ xấu (Kiếp, Không, Sát Phá Tham hãm địa) thành tay đạo tặc gian hùng v.v. Nên nhớ là những tay đạo tặc gian hùng có tiếng tăm phần đông đều thuộc loại thông minh hơn người rất nhiều !
Hai hành tinh gần mặt trời nhất cũng có thể làm cơ sở để an một số sao trong Tử vi. Kimtinh (Venus) có chu kỳ 0.61 và quay trở lại vị trí cũ (khoảng chừng 5 vòng) cho mỗi 3 năm tròn của trái đất, nên có một số sao trong Tử vi chỉ an theo ba (3) nhóm gồm: Thìn Tuất Sửu Mùi (Tứ mộ), hay Dần Thân Tỵ Hợi và Tý Ngọ Mão Dậu.
Ðặc biệt Thủy tinh (Mercury) quay quanh mặt trời quá mau, cứ mỗi ba tháng làm 1 vòng, trong khi trái đất cứ ba tháng lại di chuyển một phần tư (1/4) vòng chung quanh mặt trời, nên theo vị trí tương đối của người đứng quan sát từ mặt đất sẽ thấy như Thủy tinh chỉ di chuyển trong 4 vị trí chia đều trên vòng tròn (vì tầm nhìn quan sát bị gián đoạn không liên tục, do vị trí của Thủy tinh quá gần mặt trời). Phải chăng vì vậy mà sao Thiên Mã và một số sao khác chỉ an trong 4 cung thuộc trong 3 nhóm trên (?)
Những gì vừa được trình bày cho thấy mặc dù khoa Tử vi đẩu số không được hoàn hảo và còn nhiều nghi vấn theo tiêu chuẩn khoa học hiện đại, nhưng dám chắc rằng đó chính là biểutượng cho tinh hoa của nền văn minh Ðông phương, một thời rạng rỡ đã qua trong thiên niên kỷ đầu tiên của nhân loại, và hy vọng sẽ có ngày trở lại trong vinh quang của thiên niên kỷ thứ ba này.
Nguyễn Cường
Sacto 1/ 2003
Quy tắc bói bài:
1. Nhắm mắt, giữ trạng thái tĩnh trong 30 giây.
2. Tự hỏi thầm bản thân "Hiện tại mình mong muốn có một cuộc sống như thế nào".
3. Chọn một lá bài theo trực giác và click vào hình xem đáp án.
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
Maruko (theo lnka)
Theo phong thủy, vị trí đặt tủ lạnh tốt nhất trong ngôi nhà là tại phòng bếp. Tủ lạnh vốn thuộc kim, phòng bếp lại là nơi hỏa vượng, mà theo quan hệ ngũ hành tương sinh thì hỏa khắc kim. Do đó, để tủ lạnh trong bếp sẽ có tác dụng làm cân bằng tính hỏa.
Tuy nhiên, gia chủ cần chú ý, không nên kê tủ lạnh đối diện hoặc gần bếp vì hơi lạnh từ tủ lạnh và khí nóng từ bếp xung khắc với nhau sẽ gây ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe của gia chủ.
Với người thuộc mệnh thủy, nếu sự nghiệp không thuận lợi thì nên kê tủ lạnh ở nơi làm việc. Trong đó có thể để bia, nước, nước đá để sự nghiệp được thăng tiến và giúp tài vận hanh thông. Để hỗ trợ cho mệnh của mình, người mệnh thủy cũng có thể kê thêm một chiếc tủ lạnh khác trong phòng khách.
Những người mệnh mộc thì không nên kê tủ lạnh ở gần mà nên kê tủ lạnh ở góc khuất trong ngôi nhà. Trong các quán bar, người ta thường bố trí tủ lạnh trong tủ gỗ. Đối với những người không hợp với kim, đây là một cách rất tốt để hóa giải ảnh hưởng xấu từ tủ lạnh.
Ngoài ra, bạn nên đặt tủ lạnh ở hướng Bắc là thích hợp nhất. Không nên đặt tủ lạnh đối diện với cửa bởi có thể khiến tài lộc của gia chủ không ổn định, thậm chí có thể dẫn đến nguy cơ thất bát.
Tủ lạnh là một trong những đồ dùng không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày, nhưng đối với một số người, nó lại kị về mệnh. Để bố trí tủ lạnh hợp phong thủy, chọn màu tủ lạnh hợp với mệnh của gia chủ thì nên chọn màu sắc tủ lạnh phù hợp. Một mặt có thể hóa giải tác dụng không mong muốn đối với người xung khắc kim, đồng thời lại có tác dụng hỗ trợ với người hợp mệnh kim.
Theo thuyết ngũ hành tương sinh, kim tương ứng với màu trắng, mộc tương ứng với màu xanh lá cây, hỏa tương ứng với màu đỏ và tím, thủy tương ứng với màu đen và xanh lam, thổ tương ứng với màu vàng và nâu. Những người kị với kim có thể chọn tủ lạnh có màu đỏ, tím hoặc xanh lá cây để hạn chế tính kim của tủ lạnh. Những người hợp với kim thì nên chọn tủ lạnh màu vàng, trắng, nâu để tăng thêm vận may.
Tủ lạnh có liên quan với thức ăn của người sử dụng. Thức ăn trong tủ lạnh dồi dào ngụ ý rằng chủ nhân không phải lo lắng về cơm ăn áo mặc. Ngược lại, tủ lạnh nếu bị bỏ trống thì có nghĩa là tình hình kinh tế không khả quan, bởi vậy, tủ lạnh nên để đầy đủ thức ăn.
Tủ lạnh có sự liên quan mật thiết với tài vận của gia chủ, do vậy, chủ nhân cần thường xuyên lau chùi tủ lạnh sạch sẽ. Như vậy mới khiến tài lộc sinh sôi.
Để tiết kiệm không gian, có người đã đặt lò vi sóng, lò nướng hay máy xay sinh tố lên trên nóc tủ lạnh. Chưa nói về vấn đề phong thủy, về khoa học, sóng điện từ do các thiết bị điện này phát ra đã ảnh hưởng không tốt cho sức khỏe người sử dụng.
Ngoài ra cũng không nên để đồ vật lên trên tủ lạnh. Nhiều người có thói quen tiện tay để các đồ vật lên tủ lạnh, lâu ngày nóc tủ lạnh sẽ trở thành nơi chứa đồ. Việc này tưởng chừng như vô thưởng vô phạt, nhưng thực chất nó lại ảnh hưởng đến sự tụ tài. Vì vậy, tốt nhất nên lau chùi tủ lạnh sạch sẽ, cả bên trong lẫn bên ngoài.
(Theo Báo Xây dựng Online) 1. Lông mày ngắt quãng
Lông mày đứt đoạn là người phụ nữ khá nhạy cảm trong chuyện yêu đương, nội tâm yếu ớt, đa sầu đa cảm, tinh thần có chút không ổn. Những người này thường có tính cảnh giác cao, lúc nào cũng có cảm giác mất an toàn, tính cách vui buồn thất thường, thường xuyên bị cảm xúc chi phối. Người phụ nữ này, tâm tư thật không tốt, lại thêm ánh mắt gian xảo, chỉ nghĩ cho lợi ích của bản thân, chính vì vậy, nếu không muốn gặp rắc rối thì hãy tránh xa mẫu phụ nữ này. 2. Mũi nhọn và nhỏ, lại đeo kính
Nếu một người phụ nữ sở hữu chiếc mũi nhọn thì năng lực phân tích khá tốt, có khả năng đoán được tâm tư của người khác, giỏi ứng biến và nhiều mưu lược. Khi nghe nàng nói thì người ta sẽ không còn biết gì nữa, như là bị thôi miên, nhất nhất đều nghe theo nàng. Mẫu phụ nữ này thích hợp với các công việc quản lý, đặc biệt là quản lý nhân sự. Thế nhưng, suy nghĩ và lời nói không đồng nhất nên đàn ông cần phải cảnh giác, tốt nhất là giữ khoảng cách, hạn chế giao tiếp để đảm bảo an toàn cho bản thân.
![]() |
Một bức tranh giúp thay đổi không gian phòng khách của bạn. Nhưng để đảm bảo hạnh phúc và may mắn, hãy chọn một bức tranh đúng theo lời khuyên của các chuyên gia phong thủy dưới đây:
- Chọn tranh theo năng lượng mà bạn cần. Ví dụ nhẹ nhàng và gợi cảm trong phòng ngủ, sôi động và tích cực trong phòng khách hoặc văn phòng.
- Giữ cân bằng giữa tác phẩm nghệ thuật với không gian trống của phòng.
- Bức tường phía Bắc của nhà tương ứng với sự nghiệp và thành đạt nên hãy chọn tranh có yếu tố Thủy để cải thiện hai vấn đề này. Các bức tranh có thể về biển, đài phun nước, thác nước hay cá.
- Bức tường phía Tây tương ứng với sự sáng tạo. Với người yêu nghệ thuật, hãy treo tranh lập thể, trừu tượng là cách phá bỏ ranh giới của những điều bình thường để giải phóng sức sáng tạo vô biên của nghệ thuật.
.
Các bức ảnh của gia đình treo ở bức tường phía Đông của ngôi nhà để giúp cuộc sống luôn sinh động và tràn trề niềm vui.
- Bức tường phía Đông tương ứng với sức khỏe và cuộc sống nên nó dành cho các bức tranh gia đình để phản ánh niềm vui, hạnh phúc hoặc những cặp vợ chồng mới cưới có thể treo ảnh cưới của mình ở bức tường này.
- Bức tường đối diện với giường của bạn cần phải có những bức tranh truyền cảm hứng như những câu danh ngôn, những hình ảnh hoặc biểu tượng khiến bạn thấy tự tin hơn vào khả năng của mình.
- Những bức tranh tối màu hoặc có hình ảnh liên quan đến sự lo lắng, buồn bã hay tuyệt vọng.
- 'Rác' theo định nghĩa trong phong thủy là những đồ vật bạn không dùng trong một thời gian dài hoặc bạn không thật sự cần đến chúng. Ngay cả khi bạn sắp xếp những vật này một cách ngăn nắp thì năng lượng tạo ra bởi những thứ này sẽ cản trở dòng chảy của năng lượng phong thủy. Vì thế thay vì treo nhiều mảng rời rạc của nhiều bức tranh cũ kỹ, hãy treo một tác phẩm nghệ thuật có kích thước lớn
![]()
Tranh treo tường phải có sự hài hòa của các yếu tố Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ.
- Sau một ngày làm việc, phòng ngủ là nơi để thư giãn. Vì vậy, tránh tuyệt đối các bức tranh liên quan đến bạo lực, máu, chiến tranh... cảm giác bạo lực sẽ làm suy yếu thậm chí tiêu diệt toàn bộ năng lượng phong thủy cần thiết để bạn nghỉ ngơi.
- Bức tường phía Đông của phòng ngủ tương ứng với sức khỏe và gia đình. Bức tường này không nên để trống vì một sức khỏe yếu và mối quan hệ rời rạc trong gia đình sẽ tác động đến tất cả các mặt khác trong đời sống của bạn.
- Tốt nhất nên hạn chế các yếu tố 'Thủy' trong phòng ngủ bằng cách tránh đưa gương vào phòng, tránh các vật trang trí màu xanh nước biển là đại diện mạnh mẽ của nước.
- Các tác phẩm nghệ thuật không nên tùy tiện lựa chọn mà phải hài hòa giữa năm yếu tố Kim, Mộc, Thủy, Hỏa và Thổ để cân bằng nguồn năng lượng trong nhà của bạn.
- Với người đã có gia đình: Tranh phong thủy mà hai vợ chồng nên chọn, quan trọng nhất, là phản ánh được cá tính của hai người, cùng với vài nguyên tắc phong thủy để tạo nên không gian riêng tư, thư giãn, thân mật và tình cảm. Đó nên là những bức tranh, khung ảnh về chủ đề hôn nhân, tình yêu, sự gần gũi, niềm đam mê.

Những tác phẩm nghệ thuật về người khác giới có thể treo trong phòng ngủ của người độc thân để thu hút tình yêu.
- Với người độc thân: Trong khi có nhiều các lời khuyên dành cho cặp đôi thì gần như không có mấy thông tin về phong thủy dành cho người độc thân. Nếu bạn chưa lập gia đình, bạn nên tìm kiếm các bức tranh thúc đẩy hạnh phúc, sở thích cá nhân, sự yên tĩnh và ý muốn thu hút tình yêu và niềm đam mê trong cuộc sống. Hãy treo các bức tranh về tình yêu hay các hình ảnh về người khác giới phía Tây Bắc của phòng ngủ và loại những vật kỷ niệm liên quan đến người yêu cũ ra khỏi phòng.
- Với trẻ nhỏ: Trẻ nhỏ rất dễ thích nghi với môi trường xung quanh vì vậy cần cẩn thận khi lựa chọn tranh treo hoặc tranh vẽ tường cho phòng ngủ của trẻ. Đặc biệt, trẻ hoạt động rất nhiều trong phòng ngủ nên hãy tạo ra một không gian cần thiết cho chúng ngủ, mơ mộng, thư giãn, vui chơi, tưởng tượng và học tập. Thích hợp nhất là những hình ảnh mang đến cảm giác tươi sáng, hạnh phúc, màu sắc phong phú, tự nhiên như ảnh về gia đình, bạn bè, ảnh liên quan đến giáo dục như sách, địa cầu hay những bức tranh theo sở thích của trẻ.
Hữu Nguyên Ảnh: Sưu tầm
Chùa Đồng nằm ở đỉnh Bạch Vân Sơn thuộc khu di tích danh lam Yên Tử (Đông Triều – Quảng Ninh) với độ cao 1.068m, được đúc hoàn toàn bằng đồng với tổng trọng lượng gần 70 tấn. Chùa có tên chữ là “Thiên Trúc Tự” – mang tên đất nước của Phật Tổ Như Lai. Tương truyền rằng, Đỉnh Yên Sơn trước kia được gọi là “núi thiêng” – nơi có thể cầu mưa, hô phong hoán vũ. Yên Tử linh thiêng là thế và cũng hấp dẫn mọi người vì thế.
Lịch sử ghi lại, Xưa nơi đây là một ngôi chùa bằng Đồng có quy mô nhỏ. Trong chùa thờ tượng Quan Thế Âm Bồ Tát, chuông và đồ thờ đều bằng đồng sau thất lạc.
Vào thời Lê – Trịnh, Chùa được dựng lại mái lợp bằng đồng. Chùa xưa không còn, dấu tích còn lại là những lỗ chân cột đục sâu vào nền đá. Đây là ngôi chùa Đồng thứ tư được xây dựng trên đỉnh núi Yên Tử. Ngôi chùa Đồng đầu tiên được xây dựng từ thời Vua Cảnh Hưng (hậu Lê, năm 1780). Ngôi chùa Đồng đầu tiên này bị thiên nhiên làm hư hại, sau đó bị kẻ gian lấy cắp.
Ngôi chùa thứ hai bằng bê tông cốt đồng được dựng năm 1930, do bà Bùi Thị Mỹ (chùa Long Hoa) thiết kế. Ngôi chùa thứ ba được dựng năm 1993 từ đóng góp hảo tâm của ông Nguyễn Sơn Nam (Việt kiều Mỹ). Chùa Đồng giá trị không chỉ ở chất liệu đồng. Đồng ở đây còn phải được hiểu là chữ “đồng” trong quan niệm người Việt – đồng lòng, đồng nhất, đồng chí, đồng tâm hiệp lực. Trong thời đại mới, chữ “đồng” với ý nghĩa “đại đoàn kết” vẫn luôn là bài học của cả dân tộc. Với ý nghĩa to lớn như vậy, chắc chắn ngôi chùa Đồng lần này sẽ trường tồn cùng dân tộc.
Năm 2006, Đại Đức Thích Thanh Quyết và Ban Quản lý Dự án chùa Đồng, bằng công đức thập phương trong và ngoài nước đã khởi lễ đúc chùa Đồng. Chùa được khánh thành vào ngày 30 tháng 01 năm 2007, tọa lạc trên đỉnh non thiêng ở vị trí giữa hai ngôi chùa được xây dựng trước đây.
Chùa Đồng là một công trình độc đáo nhất Đông Nam Á, trọng lượng 70 tấn, chiều dài 4,6m, chiều rộng 3,6m, cao 3,35m. Chùa mang vóc dáng một đài sen nở. Trong chùa thờ Phật Thích Ca Mâu Ni và Tam Tổ Trúc Lâm Yên Tử.
Chùa có chuông mây, chuông gió, chuông mưa. Mỗi lần thỉnh chuông là mây, mưa, gió kéo về Yên Sơn rất linh nghiệm. Cạnh chùa có giếng tiên (giếng nhỏ chỉ bằng một cái đấu nằm trên đỉnh núi mà không bao giờ cạn). Đến chùa Đồng lễ Phật, uống nước giếng tiên là niềm ao ước của khách thập phương mỗi lần về Yên Tử.
Chùa Đồng – nơi ngự vì của Phật Tổ Việt Nam. Nơi thờ vong Phật Tổ Như Lai nước Thiên Trúc – tiền kiếp của Phật Tổ Thích Ca Mâu Ni, nơi tôn vinh ý nghĩa của chữ “Đồng”. Lên đỉnh Yên Sơn, đi trong mây không phân biệt đâu là trời, đâu là đất, đâu là người ở nơi hòa đồng giữa trời đất và người (thiên, địa, nhân). Từ đỉnh Yên Sơn nhìn về 4 hướng là cả vùng Đông Bắc như dải lụa xanh thẳm, cảnh đẹp lạ thường.
Năm 2008, Chùa Đồng Yên Tử là một trong những địa danh của Việt Nam được chọn là những thắng tích phật giáo cho các đại biểu tham dự đại lễ phật đản thế giới lần đầu tiên tại Việt Nam đến thăm quan, chiêm bái.
Du khách thập phương cũng như Phật tử đến Yên Tử sẽ được chiêm ngưỡng một “bông sen vàng” độc nhất vô nhị trên đỉnh trời. Những câu chuyện ly kỳ, huyền bí về chùa Đồng sẽ tiếp tục được truyền tụng bởi giờ đây, chùa Đồng đã trở thành “ngôi chùa của những kỷ lục”…
Chiếc khánh và quả chuông ở chùa Đồng là hai vật được các con nhang phật tử xoa, sờ nhiều nhất. Mọi người bảo, trong quả chuông và khánh tại chùa Đồng có rất nhiều… vàng ròng. Có những người đã thả vào mẻ đúc cả chục kilôgam vàng bốn số chín. Nhiều người đeo vòng, lắc hoặc nhẫn vàng cũng thi nhau công đức trực tiếp vào chuông, khánh. Cách công đức độc đáo này khiến nhiều người nghĩ rằng, phúc đức sẽ được truyền lại cho muôn đời con cháu.
Để ngôi chùa Đồng có thể toạ lạc một cách vững chãi trên đỉnh núi cao nhất dãy Yên Tử, công việc tạo mặt bằng không hề đơn giản. Từ khoảnh đất chỉ rộng có 2m2 những người công nhân xây dựng đã tạo được một mặt bằng rộng 19m2 để làm móng đỡ chùa. Nền đá cứng bị phong hoá lâu năm khiến cho việc đập, khoan vào lòng núi trở thành một thử thách cam go. Máy khoan vượt núi phục vụ làm việc rất hạn chế nên đập đá bằng tay phổ biến và thông dụng hơn.
Chùa Đồng – Yên Tử là nơi con người có thể cầu viện được “sinh lực của vũ trụ” cho mọi mặt của cuộc đời. Dòng sinh lực vũ trụ này như mọi nguồn hạnh phúc chảy xuống mặt đất làm nảy nở sự sống. Chùa Đồng, nơi mà tín đồ, phật tử đặt niềm tin vào sự linh ứng mỗi lần đến thăm viếng để được nhập vào nguồn sinh khí vô biên đó.
Nữ Kỷ Mão sinh năm 1999, tuổi con Mèo, cung Cấn thuộc Tây Tứ mệnh, mạng Thành đầu Thổ ( đất trên tường)
Nữ mệnh Thổ thì hợp với màu sắc:
Màu sắc hợp: màu đỏ, hồng, cam thuộc hành Hỏa (Hỏa sinh Thổ)
Màu sắc tương sinh: Màu nâu, vàng đất thuộc mệnh Thổ
Màu sắc kị: trắng, xám, ghi thuộc hành Kim (mệnh cung bị sinh xuất, làm giảm năng lượng)
.jpg)
Tuổi Kỷ Mão được sống một đời có phần sung túc về tiền bạc, tình cảm dồi dào, có đủ khả năng tự tạo dựng được một cuộc sống hoàn toàn êm đẹp cho cuộc đời. Cuộc sống không đến nỗi phải có nhiều cực khổ về thể xác, có thể còn lên cao về đường tài lộc nữa, vào khoảng 34 tuổi trở đi thì đường tài lộc có cơ hội phát triển mạnh mẽ.
Tóm lại: Tuổi Kỷ Mão được sung sướng về phần thể xác, cuộc đời có đủ khả năng tạo ra tiền bạc để đảm bảo sự sống.
Vấn đề tình duyên cũng có nhiều đổ vỡ buổi đầu, nhưng sao được tươi vui hạnh phúc. Về tình duyên tuổi Kỷ Mão sẽ có 3 giai đoạn như sau:
Nếu bạn sinh vào những tháng sao đây thì cuộc đời của bạn có 3 lần thay đổi tình duyên và hạnh phúc, đó là khi bạn sinh vào những tháng 4 và 9 âm lịch. Nếu bạn sinh vào những tháng 1, 2, 5, 8, 10 và 12 âm lịch thì cuộc đời bạn sẽ có 2 lần thay đổi tình duyên và hạnh phúc. Còn nếu bạn sinh vào những tháng 3, 6, 7 và 11 âm lịch thì cuộc đời của bạn sẽ được hưởng hoàn toàn hạnh phúc, cuộc đời chỉ có một làn thay đổi tình duyên. Trên đây là những diễn biến về tình duyên và hạnh phúc của bạn.
Phần gia đạo công danh lúc đầu có nhiều bê bối, những vào trung vận và hậu vận thì được êm ấm vẹn toàn. Công danh nếu có cũng chỉ vào mức trung bình chứ không lên cao được.
Phần sự nghiệp có cơ hội được tạo nên nhanh chóng và phải qua 30 tuổi thì mới vững chắc được. Tiền bạc có khá dư giả và khoagr 34 tuổi trở lên thì được lên cao.
Trong việc xây dựng hôn nhân và gia đình hạnh phúc thì bạn nên lựa chọn những tuổi hợp với mình để kết hôn, tạo cho cuộc sống thêm phần hạnh phúc, sung túc về tài lộc, có cơ hội tạo cho cuộc đời sang giàu. Những tuổi hợp với tuổi Kỷ Mão là: Tân Tị (2001), Nhâm Ngọ (2002), Giáp Thân (2004), Đinh Hợi (2007), Mậu Dần (1998).
Nếu bạn kết hôn với tuổi Tân Tị và Nhâm Ngọ thì cuộc đời có thể tạo dựng được cuộc sống giàu sang.
Nếu bạn kết hôn với tuổi Giáp Thân và Đinh Hợi thì có phần thuận lợi về đường công danh lẫn đường tài lộc.
Nếu tuổi Kỷ Mão kết hôn với tuổi Mậu Dần thì rất tốt đẹp về đường tình duyên và có cơ hội là giàu mau lẹ, vì những tuổi trên hợp với đường tình duyên và hợp với cả đường tài lộc.
Những năm mà tuổi Kỷ Mão không nên kết hôn đó là những tuổi 16, 17, 23, 28, 28, 29, 35 và 40 tuổi. Nếu kết hôn vào những năm bạn ở độ tuổi này thì việc hôn nhân sẽ không thành, nếu thành thì sẽ gặp cảnh xa vắng triền mien hay ít ra cũng có nhiều việc lo buồn về chồng con.
Nếu sinh vào những tháng 1, 2, 4, và 5 âm lịch thì cuộc đời của bạn có thể sẽ thay đổi về lương duyên hoặc có nhiều đời chồng.
Từ năm 18 đến 25 tuổi:
Năm 18 tuổi, có nhiều trở ngại trong sự làm ăn, nhất là tháng thứ 6 trở đi, tháng 10 kỵ đi xa. Năm 19 tuổi, năm này là năm tốt cho tuổi, tài lộc điều hòa, việc làm ăn phát triển mạnh, tháng 4 và tháng 5 nên đi xa, làm ăn thì đại lợi. Năm 20 tuổi, năm này khó thoát qua việc hoa tài tốn của, nên cẩn thận xe cộ vào tháng 9. Những tháng khác bình thường.
Vào năm 21 tuổi, nhiều trở ngại và có thể gặp nhiệu sự khó khăn trong việc làm ăn, nên đừng có quá vội vàng mà thất bại. Năm 22 tuổi, cuộc sống tốt đẹp năm nay tạo được nhiều cơ hội để phát triển nghề nghiệp và việc làm ăn. Năm 23 tuổi thì kị vào những tháng 3, 6, 9 vào ba tháng này hao tài hay bệnh hoạn. Năm 24 tuổi thì việc làm ăn gặp nhiều may mắn và thâu đoạt nhiều kết quả về tài lộc khả quan. Năm 25 tuổi đầy nhựa sống, làm ăn phát triển mạnh mẽ, có thể tạo lập sự nghiệp vào năm này.
Từ năm 26 đến năm 30 tuổi:
Năm 26 tuổi thì nữ mệnh Kỷ Mão thành công hoàn toàn về mặt tình cảm tài lộc, có thể xuất phát tiền bạc thu nhiều lợi lộc. Năm 27 tuổi, cuộc sống khá tốt đẹp, gia đình hạnh phúc yên vui, có thể tạo lấy nhiều tài lộc. Năm 28 tuổi, công danh hay việc làm ăn đều phát triển lên cao, cuộc sống sung túc và vui tươi hoàn toàn. Vào năm 29 và 30 tuổi, gặp được nhiều điều may mắn, vào năm 29 tuổi gặp vận may, năm 30 tuổi có đủ cơ hội tạo nên sự nghiệp lớn.
Từ năm 31 đến năm 35 tuổi.
Năm 31 tuổi, năm nay là năm xấu, việc làm ăn bị ngưng trệ, có hao tài tốn của vào những tháng cuối năm, nên đề phòng mất cắp hay trộm đạo. Năm 32 tuổi, năm này trung bình, toàn năm không có việc gì quan trọng xảy ra trong cuộc đời. Năm 33 tuổi, năm này xấu vào những tháng 1, 4, 7, 10 trong những tháng trên không nên phung phí tiền bạc hay hùn hạp làm ăn bất lợi. Vào năm 34 tuổi thì gặp nhiều điều may mắn cho cả sự nghiệp lẫn tài lộc, năm nay làm việc gì cũng thắng lợi. Năm 35 tuổi, năm này trọn vẹn, việc làm ăn hay trong gia đình đều có nhiều sự tốt đẹp cho bạn, có thể gặp đại kỵ vào tháng 8 nên cẩn thận.
Từ 36 đến 40 tuổi:
Vào năm 36 tuổi, cuộc sống khá tốt, nên đi xa, xuất hành hay góp vốn làm ăn. Năm 37 tuổi thì đẹp đẽ cho vấn đề tình cảm gia đình. Năm 38 tuổi gia đình đầy đủ, con cái thuận hòa, tình cảm tốt đẹp. 39 tuổi, cuộc sống được vẹn toàn. NNawm 40 tuổi, là năm an nhàn nhất của cuộc đời bạn, năm nay có nhiều thắng lợi vẻ vang.
Từ năm 41 đến năm 45 tuổi:
Vào năm 41 tuổi có hao tài, bệnh hoạn. Năm 42 tuổi, tình cảm gia đình vượng phát. Năm 43 tuổi, không được tốt đẹp lắm cho cuộc sống, nên cẩn thận đề phòng ốm đau, bệnh tật trong gia đình. Năm 44 tuổi, sẽ có nhiều điều tốt về tình cảm và cả tài lộc. Năm 45 tuổi, có cơ hội phát triển mạnh mẽ về cuộc sống.
Từ năm 45 đến năm 50 tuổi:
Năm 46 tuổi không được tốt đẹp cho lắm. Vào năm 47 tuồi thì tài lộc khá sôn sẻ, cuộc sống ổn định hơn. Năm 48 tuổi, năm này không nên có những giao dịch lớn về tiền bạc lẫn tình cảm. Năm 49 tuổi là năm xấu, gặp vào tháng 10 và tháng 11 là đại kỵ. Năm 50 tuổi thì năm này đáng lo, bổn mạng suy yếu, có thể gặp cảnh buồn bực trong năm.
Xem thêm: Tử vi của nữ mệnh sinh năm 2000 tuổi gì? Mệnh gì?
Chú : Vì xem xét lục hào, chủ yếu là xem xét mối quan hệ Thế – Ứng, nếu như Thế rơi vào dụng thần, thì phải xem nguyệt kiến sinh vượng thế nào. Nguyệt kiến mà rơi vào đất Vượng tức là Thế sẽ lấn át Ứng, nên mới nói là KIẾP (cướp giật, uy hiếp), nếu Nguyệt kiến mà Suy thì tức là Thế sẽ không đủ mạnh để uy hiếp Ứng, nên sẽ Sinh cho Ứng. (Thế là mình, Ứng là người).
2. Lấy mức độ sinh vượng của hào lục thân trong quẻ để định cái sự hưng suy cát hung của lục thân.
Chú : 6 hào trong quẻ vốn có quan hệ lục thân với nhau, trong đó có hào Thế, có hào dụng thần, có hào ứng v.v… cho nên xem xét quan hệ của lục thận suy vượng là rất quan trọng trong việc đoán định.
NHỊ – Khởi đại vận :
Lấy hào Thế để khởi đại vận, dượng nam – âm nữ khởi thuận, Âm nam – Dương nữ khởi nghịch, mỗi hào 5 năm.
Chú : Để xem xét quả chung cuộc nhân sinh, dựa vào Ngày – giờ sinh để mà lập quẻ. Sau đó khởi đại vận, bắt đầu từ hào Thế tính là từ 0-5 tuổi, sau đó nếu Dương Nam, Âm nữ (Âm dương tính theo năm sinh). Thì thuận hành, tức là đếm theo thứ tự tăng của các hào, còn Âm nam, Dương nữ thì ngược lại. VD : Nếu hào Thế là hào 3, khởi đại vận cho Dương nam, thì hào 3 là 0-5 tuổi, hào 4 là 6-10 tuổi, hào 5 là 11-15 tuổi, hào 6 là 16-20 tuổi, trở về hào 1 là 21-25 tuổi, hào 2 cứ tiếp tục thế …
TAM – lục hào chiêm nghiệm :
1. Luận phụ mẫu :
Luận phụ mẫu thì chú ý : Lấy hào dương ứng với CHA, hào âm ứng với MẸ.
Thê tài trì thế nếu thấy quẻ chủ (quẻ gốc, khác với quẻ biến) trùng hai lần thê tài (2 hào thê tài) là thủa nhỏ khắc cha mẹ
Quẻ chủ không có Thê tài, mà hào Phụ mẫu là nhập mộ của Nhật thần, nguyệt kiến. Quẻ biến thì lại có hào Thê tài vượng, tướng thì khắc cha mẹ lâu dài.
Hào phụ mẫu rơi vào không vong lại lâm bạch hổ. Nếu là quẻ chung thân thì sớm mồ côi, hoặc làm con nuôi, nếu xem quẻ sự việc, quẻ thời vận, thì tức là có đại tang.
Hào Tử tôn là Tý-Dần-Thìn, Ngọ-Thân-Tuất là ứng với con trai, nếu là Sửu-Mão-Tỵ, Mùi-Dậu-Hợi là ứng với con gái.
Hào Tử tôn rơi vào Bạch hổ, không vong, tất hư thai hoặc trụy thai.
Hào Tử tôn rơi vào Bạch hổ, mà lại bị Nguyệt kiến xung, thì phần nhiều là thai lưu, hoặc đẻ non.
Luận tài vận :
Thê tài trì thế mà biến thành Huynh đệ thì một đời khó có thể giầu có lớn được (khó kiếm tiền, về già mới có thể có chút dư giả).
Quẻ chủ khắc quẻ biến khó có thể xếp vào hàng phú quý được.
Huynh đệ trì thế thì một đời tiền tài khó tụ, thích tiêu xài hoang phí.
Xem quẻ mà thấy Phụ mẫu động, Huynh đệ động tất là điềm phá tài, Một đời tiền tài gian tân.
Thái tuế mà xung với hào Thế thì phá tài.
Thái tuế mà hợp Huynh đệ, không bị Kiếp tài thì chủ về một năm tiền tài sung túc. (Kiếp tài : Thập thần cùng ngũ hành với Nhật chủ, nhưng khác tính chất âm dương)
Thái tuế rơi vào Huynh đệ, mà hợp với Thê tài thì một năm ấy không có tiền.
Thái tuế rời vào Thê tài, xung với hào Huynh đệ mà không động, thì chủ về một năm tài lợi phong phú.
Thái tuế hợp hào Thế, Thái tuế lâm hào Thê tài, Thái tuế sinh cho hào Thế, Tam hợp, Tam hội, Tam hình mà được vượng thế thì năm đó chủ về đắc tài đắc lộc.
Tử tôn trì Thế, mà lại tháy Thái tuế rơi vào huynh đệ, thì là một năm hao tổn tiền tài.
Trong quẻ có hào Huynh đệ động, mà Thái tuế đóng ở hào Quan quỷ thì cả năm tiến tài
Trong quẻ thấy hào Huynh đệ hóa Huynh đệ, mà Thái tuế cũng trú ở Huynh đệ thì mất tiền.
Trong quẻ mà thấy hào Huynh đệ hóa hào Tài mà Thái tuế lại đóng ở hào Huynh đệ thì có tiền.
Trong quẻ mà thấy hào Thê tài quay đầu lại sinh cho hào sinh ra Thái tuế thì chủ về một năm tiến tài, nếu như ngược lại – quay lại xung với hào sinh ra Thái tuế thì năm đó phá tài.
Thái Tuế mà hợp với Huynh đệ sinh cho Huynh đệ thì phá tài, hợp Huynh đệ mà sinh cho hào Thế thì lại đắc tài.
Phụ mẫu mà hóa Thê tài thì cầu tài rất gian khó. Huynh đệ mà hóa Thê tài thì “tiên tán hậu đắc” (trước mất sau được).Thê tài hóa Thê tài, hoặc Tử tôn hóa Thê tài thì cầu tài thuận lợi toại ý.
Quan quỷ hóa Quan quỷ, Huynh đệ hóa Huynh đệ, Huynh đệ hóa Quan quỷ, Quan quỷ hóa Huynh đệ. Là những trường hợp dễ thấy thương tật.
Quẻ Quải, quẻ Hàm, quẻ Phong, quẻ Tiểu quá, quẻ Minh di, là những quẻ chủ về thương tật, khi luận cần chú ý.
Hào quan quỷ rơi vào Câu trần, mà lại ở sơ hào, lại trì thế thì có thể quyết xác là bị thương nặng đến gẫy chân.
Trong quẻ mà thấy Quan quỷ hóa Quan quỷ, rơi vào Câu Trần là phát động thì phải xác quyết là chủ về tai nạn xe cộ.
Hào thế ở chi Thân, bị Tam Dần (3 năm dần) xung, hoặc hào Thế ở chi Dần bị Tam Thân (3 năm Thân) xung, ắt là sẽ bị tại nạn xe cộ.
Câu trần trì thế ở hào Quan quỷ mà lại hóa Tử tôn, bị gặp Tam Hình. Chủ về bị thương tàn.
Hạn năm rơi vào Bạch hổ mà Mệnh thuộc Tứ mộ, thì năm đó lục thân trong nhà có thương tật.
Quan quỷ trì thế, rơi vào Bạch hổ, lại quay lại khắc chính hào Quan quỷ này, kiểm tra trong quẻ, nếu thấy Huynh đệ lại Hóa Huynh đệ thì phần nhiều là đoán sẽ bị liệt nửa người dưới.
Quẻ Khốn, quẻ Cách, quẻ Tráng, quẻ Giải, quẻ Phệ hạp, quẻ Vô vọng, quẻ Khảm, quẻ Tụng chủ về lúc tuổi trẻ hay gặp kiện tụng. Bói về thời vận mà gặp những quẻ này, thì thời điểm đó, sự việc đó cũng rất dễ xả ra quan ngục, kiện tụng, thị phi, tranh chấp.
Quan quỷ hóa Tử tôn, Tử tôn hóa Quan quỷ, Quan quỷ trì thế mà Tử tôn lại phát động, Tử tôn trì thế mà quan quỷ lại phát động, Quan quỷ trì thế mà Ứng là Tử tôn, Quan quỷ là Ứng mà Tử tôn trì Thế. Đều là những trường hợp có dấu hiệu liên quan đến lao ngục, kiện tụng, thị phi, tranh chấp.
Tử tôn trì thế mà thấy Nhật, Nguyệt hay Mộ quay lại khắc thì là biểu hiện của lao ngục. kiện tụng, quan sự, tranh chấp, thị phi.
Huynh đệ trì thế tuy cực vượng mà Quan quỷ lại là Phục thần vô khí, vận năm đi đến hào Quan quỷ (quan quỷ xuất hiện) ắt là sẽ có lao ngục, kiện tụng, thị phi, quan sự, tranh chấp.
Câu Trần thuộc thổ phát động, mà lại khắc hào Thế thuộc thủy alf chủ về kiện tụng quan phi.
Hào huynh đệ bạc nhược (suy) mà lại Trì thế, hóa ra Quan quỷ. Nếu vận năm đi đến hào Quan quỷ thì tất có quan sự kiện tụng.
Hào Thế rất vượng mà gặp đủ Tam Hình thì cũng có biểu hiện quan phi kiện tụng.
Vận năm tập hợp đủ 2 bộ Tam hình (Dần-Tỵ-Thân, Sửu-Tuất-Mùi) thì khó trành được quan phi kiện tụng.
Huynh đệ trì Thế rơi vào Bạch hổ thì một đời nhiều tai kiếp, chuyện quan phi kiện tụng là khó tránh khỏi.
Trong quẻ mà Quan quỷ suy hoặc phục vô khí nhưng Tử tôn lại cực vượng, vận năm đến hào Quan quỷ thì ắt là sẽ dính kiện cáo quan tụng.
Trong quẻ mà Tử tôn suy hoặc Phục vô khí mà Quan quỷ lại cực vượng, vận năm đi đến hào Tử tôn thì ắt là sẽ dính quan phi kiện tụng.
Quan quỷ trì Thế mà nhập Mộ thì khó tránh được quan sự.
Một câu chuyện có thật về Phong Thủy trong kinh doanh được chia sẻ bởi thành viên trên diễn đàn lý số.
"Tôi có người anh họ ở Nam Định, lên Hà Nội mở quán Hải Sản, một lần tôi rủ mấy người bạn đến đó nhậu, ngạc nhiên thấy nét mặt ông chủ quán - anh họ tôi rất ỉu xìu."Quán nhậu này từ lúc mở tại đây đã hơn 1 năm đều đông khách và thu về rất nhiều. Cách đây chừng 3 tháng, có một quán Hải Sản khác chuyển đến đúng căn nhà đối diện bên kia quán và cướp kết khách của anh" - anh tôi tâm sự. Ngoài ra anh còn nói rằng không thể tin nổi vì sao lại bị mất khách vì giá thành của 2 bên gần như nhau trong khi đồ ăn thức uống bên đó có phần kém mình. Mấy tháng nay quán vắng như chùa bà đanh, có chăng cũng chỉ vài người khách quen. Anh đứng ra ngoài chỉ trỏ, " đấy, em nhìn bên kia, khách nó lườm lượp đúng như quán anh mấy tháng trước thôi", rồi thở dài buồn rười rượi muốn chuyển quán ăn đến khu vực khác. Khi nhìn sang quán đó, tôi nhận ra 1 điều, đây là 2 quán hải sản duy nhất của Khu phố mà vị trí đối diện nhau chan chát, con phố thì hẹp, 2 quán ăn có chiều rộng gần bằng nhau và đều là 2 tầng. Trên quán đối diện treo một tấm biển to và bên dưới đỡ bằng 1 hàng thép khoảng D16 neo chặt vào tường, cái đặc biệt ở chỗ là hàng thép gồm nhiều thanh thép xếp song song, một đầu được cán nhọn hoắt như đầu mũi kim nhọn hướng thẳng về phía đối diện.

Tôi chợt hiểu ra đây giống cách thức dùng lưỡi cày mà chôn trước cửa nhà người ta để mong hại cả nhà người ta đây mà. Kéo anh vào trong nhà trong, tôi thủ thỉ bày anh cách hóa giải cái hại này. Anh tôi là thành phần vô thần, ko mê tín dị đoan chỉ biết làm ăn chân chất, có lẽ nghe tôi nói một hồi không hiểu lắm, anh bèn bắt tôi ghi cụ thể ra giấy để làm theo, vì sợ nghe mà chưa hiểu hết chưa nhớ được sẽ làm sai. Tôi nói sao viết vậy cho anh như sau: " Đây là một trò của bọn làm ăn, dùng phong thủy để cạnh tranh với người đối diện. Nó dùng mũi sắt để phá quán nhà anh. Bây giờ anh phải thay biển cửa hàng, nó dùng kim khí phá mình thì mình phải dùng hỏa khắc lại, biển cửa hàng anh phải làm bằng kích thước biển nhà nó, đặt thấp hơn, 3/4 diện tích phía trên biển sơn màu đỏ đậm đối diện với mũi sắt chĩa sang, chính giữa phần này ghi tên quán ăn, 1/4 diện tích phía dưới sơn màu đen tuyền, phần này ghi địa chỉ quán ăn. Vì màu đỏ hành hỏa, hỏa khắc kim, làm chảy kim, khi mũi sắt hướng sang bị kim khắc sẽ biến thành thủy, thủy chảy xuống dưới nên để 1/4 diện tích dưới là màu đen tuyền (đen là thủy), phần này ghi địa chỉ chính là làm vượng cho quán ăn. Đồng thời biển cửa hàng nhà anh phải dùng vật liệu sáng bóng, phản chiếu để phản chiếu toàn bộ mũi nhọn ngược trở lại. Như thế, biến cái khắc của nó thành cái vượng của mình đồng thời đem cái khắc của nó cho nó hưởng một ít."
Thực ra tôi bày cho anh cũng chỉ là cảm hứng nhất thời và không nghĩ anh sẽ làm theo, khoảng 5 tháng sau, anh gọi cho tôi cảm ơn và mời tôi đến quán nhậu 1 bữa. Tôi rất ngạc nhiên khi đến nơi mọi thứ đã thay đổi hẳn, anh treo biển rất cẩn thận theo đúng như lời khuyên. Anh kể rằng, từ khi thay biển mới khoảng chừng 1 tháng, khách hàng lại đông dần lên và quán làm ăn được trở lại. Bên kia thì khách hàng đã thưa dần tuy nhiên vẫn không đến mức hiếm hoi như quán anh trước đây. Anh nói nhờ tôi mà anh không phải chuyển cửa hàng. Tôi cũng mừng thầm và nghĩ rằng có lẽ cái thâm thúy của Ngũ hành thực ra đơn giản vậy."
Bởi vậy, khi bắt tay vào kinh doanh bạn phải làm dày thêm vốn hiểu biết về phong thủy, như chọn ngày lành tháng tốt, chọn đối tác, xem hướng, hiểu ngũ hành,...như vậy mọi việc sẽ trở nên suôn sẻ hơn rất nhiều. Chúc các bạn thành công.
Theo Phong Thủy Đời Sống
![]() |
| Ảnh minh họa |
Bán khoán con vào cửa Thánh theo tâm linh người Việt
Từ tài liệu quyển thượng Số Tử vi kinh nghiệm của Quản Xuân Thịnh
1- Thân chủ
2- Mệnh chủ
Ví dụ: Người tuổi Hợi, mệnh chủ CỰ MÔN và Thân chủ THIÊN CƠ. Tìm sao CỰ MÔN và THIÊN CƠ đóng đâu, biên chữ Mệnh chủ và Thân chủ vào (ngày nay, các nhà Tử vi thường ghi vào giữa cung trung tâm của lá số đê dễ theo dõi). Hai sao này can hệ ảnh hưởng rất lớn đối với cuộc đời mình
Và ở 1 bài viết khác trên mạng, ngoài phần chỉ cách an, họ có nói ý nghĩa trong việc luận giải.
Khi Thân / Mệnh chủ đồng cư một Cung thì coi như Tâm hồn (tinh thần) và thể lực của mình đều đặt trọng tâm vào Cung đó, Cung này biến thành Cung có thể nói là tối quan trọng trong việc truy cầu suốt đời mình (có truy cầu được hay không là chuyện khác, là do Cát Hung của Cung này ra sao và Thân / Mệnh chủ có ngộ Sát tinh, Không – Kiếp … Không vong … gì hay không).
Nếu cung đó là Mệnh / Thân cung thì lúc này Thân / Mệnh chủ có thể trực tiếp đứng ra quản trị lá số (Trên quyền lực của cả Chính tinh), nhưng điều này chỉ là lý thuyết, chưa được kiểm chứng rộng rãi.
Đối với Chính tinh Thì kết hợp với TC/ MC để xét đoán về Tư tưởng / Hình dáng / Tính tình..
Đối với TRUNG/ TIỂU TINH thì xét đoán theo Tổ hợp (Bộ sao / Công thức).
Ví dụ: Mệnh cư Tý có Riêu – Kỵ hợp chiếu, MC là Cự môn (Mệnh cung không có Chính tinh là Cự môn), thì thưở nhỏ có lần (hoặc 2,3 lần) bị té sông, té biển gần chết. Vì đã vô tình hình thành cách Riêu Cự Kỵ = bị Thủy nạn, nếu hội tại cung Sửu thì có thể té xuống chỗ nước có bùn, đá, hay ao hồ hoang vu (Sửu cung = vu đàm, chỗ đất bùn, lầy lội).
3- Mệnh cung thiên can
MỆNH CUNG có Địa chi và Thiên Can, xưa nay chúng ta thường sử dụng Địa chi để luận đoán mà nhiều khi quên mất Tính cách của Thiên can. Nay xin phụ bổ một ít Tính chất của Thiên Can của Mệnh cung (MC).
Như vậy, chỉ cần biết MC Thiên can của một người là ta có thể đoán sơ được vài cá tình căn bản của họ mà chưa cần phải nhìn vào lá số.
Làm thế nào để biết Mệnh cung Thiên can là gì?
Dùng Lịch của Năm sinh mà truy, ví dụ sinh năm 1980, Mệnh cung tại THÌN thì Mệnh Can (Mệnh cung Thiên Can) là CANH.
Can Chi của Mệnh cung như vậy là Canh Thìn, Canh Thìn có Nạp Âm là KIM, và Kim ở đây chính là CỤC số.
Nếu không thì dùng Ngủ Hồ độn:
Mệnh Can còn có những đặc tính sau:
MỆNH CUNG là
*** TAM TÀI phối với MC THIÊN CAN
Các Lý Thuyết về TAM TÀI lâu nay bị bưng bít, một vài Trưởng lão thủ đắc được chiêu Tam Tài cứ lâu lâu đem ra HÙ 1 tiếng làm bọn hậu bối giựt mình, chơi như vậy là không công bằng, nên hôm nay tui xin được công bố, vì thế Quý vị không nên xem thường Chiêu này, nếu không có chỗ dùng tại sao người ta lại dấu kỹ như vậy???
Thiên Địa Nhân
QUÝ là chỗ Vị trí không dựa vào thế lực của THIÊN / ĐỊA / NHÂN (TAM TÀI).
Ví dụ muốn biết GIÁP là gì, ta thấy theo chiều NGANG thì GIÁP = Thiên.
Từ chữ GIÁP nhìn theo chiều DỌC xuống dưới cùng ta thấy chữ Thiên.
Như vậy GIÁP = Thiên chi Thiên.
KỶ, theo chiều Ngang = Địa / theo chiều Dọc = Nhân.
Vậy:
Cứ dựa theo ý của 3 chữ trên mà diễn đạt.
HÀNG NGANG LÀ CẤP SỐ.
HÀNG DỌC LÀ BẢN VỊ
* HÀNG DỌC = BẢN VI:
GIÁP ĐINH CANH nắm được THIÊN THỜI vì có BẢN VỊ là chữ THIÊN.
ẤT MẬU TÂN nắm được ĐỊA LỢI vì BẢN VỊ là chữ ĐỊA.
BÍNH KỶ NHÂM nắm được NHÂN HÒA vì BẢN VI là chữ NHÂN.
* HÀNG NGANG = CẤP SỐ.
Chữ THIÊN/ ĐỊA / NHÂN theo hàng NGANG có thể hiểu là THƯỢNG / TRUNG / HẠ, VÌĐỂ CHỈ CẤP SỐ.
*** ĐIỂM CHÍNH YẾU LÀ HÀNG DỌC / HÀNG NGANG CHỈ LÀ CẤP SỐ.
Như chữ ĐINH, Bản vị là THIÊN cho nên nắm được THIÊN THỜI, và có Cấp số là ĐỊA (TRUNG) Nên gọi là ĐỊA chi THIÊN = Có được Thiên thời, nhưng chỉ ở mức TRUNG ĐẲNG. Chưa phải là Cao nhất vì cao nhất là Thiên chi Thiên.
Như chữ TÂN = ĐỊA LỢI,
Nhưng Địa lợi ở CẤP ĐỘ nào thì xem HÀNG NGANG = NHÂN (HẠ ĐẲNG).
Ví dụ MC TC có NHÂM = Nhân,
Có nghĩa là người này nắm được, sở hữu được tính Nhân hòa, tức là được lòng người chung quanh (Bà con, hàng xóm.. tuy rằng ở Mức độ không cao vì chỉ cóCấp số là NHÂN (HẠ đẳng).
Nếu QUAN có chữ NHÂM = Được cấp trên đề bạt / đồng nghiệp giúp đỡ..v.v
TÀI có chữ NHÂM = Tiền bạc làm ra là nhờ yếu tố nhân sự, nhân hòa, chẳng hạn như mở Quán Phở, tài nghệ nấu nướng thì dưới trung bình,quán lại ở trong hẻm nhưng vẫn sống được vì cả xóm đa số đều ủng hộ.
Như vậy khi MC TC = NHÂM, tức đương sự nắm được yếu tồ Nhân hòa.
NHÂN chi THIÊN = Nắm được THIÊN THỜI, nhưng ở Mức THẤP NHẤT (chữ NHÂN).
TAM TÀI ỨNG DỤNG TRONG ĐẠI/ TIỂU HẠN:
Ví dụ:
LƯU ĐẠI HẠN QUAN có TC = ĐINH, Tức L.QUAN được hưởng Thiên thời, nhưng nếuTiểu Hạn là các năm NHÂM / QUÝ thì Thủy sẽ khắc Hỏa của ĐINH làm cho GIẢM /hoặc MẤT Thiên thời.
Như LƯU ĐẠI HẠN TÀI có TC = ẤT, tức L.TÀI hưởng được Địa lợi, nếu Tiểu hạn là năm TÂN, Kim khắc Mộc, làm giảm mất phần Địa lợi trong Cung Tài.
Cũng vậy, Tiểu Hạn tại Cung Dần có chữ BÍNH, tức được Nhân Hòa, nhưng nếu đó là năm 1992 = Nhâm Thân, thì Nhâm sẽ khắc Bính làm mất đi lợi thế Nhân hòa. (Phải an Thiên Can theo Năm sinh, bắt đầu từ Cung Dần chạy Thuận vòng cho đến cung Sửu)
Ngược lại, những năm nào SINH cho Tam Tài thì Tốt, cứ theo lý Ngũ Hành sinh khắc mà suy.
NGUỒN GỐC CỦA TAM TÀI
Tý Sửu Dần 3 Cung là nơi khai thủy của Tam Tài, Tử vi là môn nghiên cứu về Nhân sự, mà Dần là cung khởi thủy của Nhân, do đó lấy Dần làm Chính cung để định Thân/ Mệnh.
CHỖ SỞ CƯ CỦA TAM TÀI
Do vậy, cứ theo Đia chi mà nói thì nói thì cứ mỗi TAM HỢP đều có đủ Tam Tài.
ỨNG DỤNG CỦA TAM TÀI
MC Tam Tài dùng xem xét số phận 1 người được hưởng Thiên thời / Địa lợi /Nhân hòa như thế nào, cao thấp ra sao, nhằm giúp quyết đoán Cách cục của 1lá số.
Tại Vận trình (Đại / Tiểu Hạn) Tam Tài dùng để xem xét Thời Thế như thế nào, có nên lộ mặt ra (làm ăn, hoạt động..) hay không hay nên ẩn nhẫn, nên làm gì trong Đại/ Tiểu Hạn này, mức độ thành công cao thấp như thế nào.v.v
Tác giả: Ma Y Cung
Nguồn: tuvilyso.net
Tuổi Thìn
Con gái tuổi Thìn đặc biệt thu hút người khác giới ở vẻ thanh tú, nhẹ nhàng cho dù ngoại hình của họ không thuộc nhóm mỹ nữ nghiêng nước nghiêng thành. Sở dĩ họ lôi cuốn là nhờ tài ăn nói và cách đối nhân xử thế rất khéo léo. Người ta còn truyền tụng về tài năng của cô nàng cầm tinh con rồng là khi họ đã ứng khẩu, không gì có thể cưỡng lại được.
![]() |
Hơn nữa, những cô gái tuổi Thìn lại có gu ăn mặc đẹp, bắt kịp xu hướng rất nhanh. Họ không tiếc tiền để thỏa mãn đam mê đó. Một người tiêu tiền cực kỳ phóng khoáng, tự tin vào bản thân không thể thiếu tham vọng sẽ kết hôn với anh chàng giàu có để hỗ trợ họ rủng rỉnh tài chính quanh năm.
Tuổi Dậu
Không chỉ có đặc điểm chung là khéo ăn nói như người tuổi Thìn, cô gái tuổi Dậu còn luôn thể hiện lòng ham mê vật chất, sẵn sàng xả thân để kiếm từng đồng nhỏ với mong muốn tích trữ thành gia sản lớn. Họ hiểu rõ phải vất vả thế nào mới có được sự vững chắc về tài chính, nên rất cẩn trọng khi chi tiêu.
![]() |
Ngoài ra, ngay từ lúc chọn “gấu”, cô gái tuổi Dậu đặc biệt lưu tâm về vấn đề tài chính của đối phương. Họ không muốn vất vả thêm nữa và lúc nào cũng có cảm giác bận rộn mà quên đi người yêu. Cô nàng cầm tinh con gà khẳng định chắc nịch rằng “gà bông” khá giả sẽ mang lại cho họ sự an toàn tuyệt đối. Vậy nên, tham vọng lấy chồng giàu của họ là điều dễ hiểu nhất.
Tuổi Ngọ
Không chỉ có gu thời trang sắc sảo, bắt mắt, người tuổi Ngọ còn thể hiện sự thông minh, quyết đoán trong từng hành động. Họ chưa bao giờ chứng tỏ mình yếu đuối, cần bờ vai che chở vì con giáp này suy nghĩ tự lập là điều tất yếu để tồn tại. Vậy nên cô gái cầm tinh con ngựa không muốn gửi gắm cuộc đời mình cho anh chàng kém cỏi, bất tài.
![]() |
Tiêu chí chọn chồng của họ chắc chắn phải có sự nghiệp thành công, mạnh mẽ và giàu sang. Thậm chí, nếu không có “sắc”, người ấy khó lòng tiếp cận được người tuổi Ngọ. Mặt khác, con giáp này yêu rất say đắm, sẵn sàng cống hiến tất cả để hỗ trợ phu quân.
Mr.Bull (theo HCS)
![]() |
Nhận diện tướng mạo chàng trai chung tình |
Hiện tượng: Bếp ga nằm ở chỗ thẳng cửa vào, có thể làm cho hỏa khí trong nhà xông thẳng vào phòng bếp, làm đảo loạn sự cân bằng âm đương khí trường trong nhà.

Phương pháp hóa giải: Phương pháp hóa giải tốt nhất là điều chỉnh vị trí bếp ga. Nếu tạm thời không thể thay đổi vị trí bếp ga được thì trên cửa phòng bếp có thể treo một chuỗi đồng tiền Ngũ Đế và treo thêm một tấm rèm vải để giảm bớt ánh hưởng của sát khí đối với khí trường trong nhà.
![]() |
Có những thói quen dù nhỏ nhưng cũng ảnh hưởng rất lớn đến tài lộc của bạn, khiến tiền bạc thất thoát mà không rõ nguyên nhân. Nếu bạn có những thói xấu này, hãy bỏ ngay để đón Thần Tài nhé. Trong cuộc sống hàng ngày, có thể bạn có những thói quen nhỏ nhưng vô tình khiến tiền bạc thất thoát, tán tài tán lộc. Nếu không sớm sửa đổi thì dù bạn có vất vả cả đời, Thần Tài vẫn mãi tránh xa bạn.
![]() |
![]() |
![]() |
Trong 12 địa chi, có những cặp đôi con giáp hợp tuổi và kị tuổi nhau. Theo quan niệm dân gian, việc xem tuổi trước khi kết hôn vô cùng quan trọng. Bởi vợ chồng hợp tuổi thì hôn nhân êm đềm, hạnh phúc, sự nghiệp hanh thông, tài lộc dồi dào. Còn nếu xung khắc rất dễ dẫn tới chia ly, đổ vỡ, làm ăn lụn bại.
Vậy trong 12 địa chi, những cặp đôi con giáp hợp tuổi nhau gồm những tuổi nào?
Mục lục (Click vào mục lục để chọn phần muốn xem nhanh nhất)
Nữ tuổi Tý hợp nam tuổi nào?
Nam tuổi Tý hợp nữ tuổi nào?
Nữ tuổi Sửu hợp nam tuổi nào?
Nam tuổi Sửu hợp nữ tuổi nào?
Nữ tuổi Dần hợp nam tuổi nào?
Nam tuổi Dần hợp nữ tuổi nào?
Nữ tuổi Mão hợp nam tuổi nào?
Nam tuổi Mão hợp nữ tuổi nào?
Nữ tuổi Thìn hợp nam tuổi nào?
Nam tuổi Thìn hợp nữ tuổi nào?
Nữ tuổi Tị hợp nam tuổi nào?
Nam tuổi Tị hợp nữ tuổi nào?
Nữ tuổi Ngọ hợp nam tuổi nào?
Nam tuổi Ngọ hợp nữ tuổi nào?
Nữ tuổi Mùi hợp nam tuổi nào?
Nam tuổi Mùi hợp nữ tuổi nào?
Nữ tuổi Thân hợp nam tuổi nào?
Nam tuổi Thân hợp nữ tuổi nào?
Nữ tuổi Dậu hợp nam tuổi nào?
Nam tuổi Dậu hợp nữ tuổi nào?
Nữ tuổi Tuất hợp nam tuổi nào?
Nam tuổi Tuất hợp nữ tuổi nào?
Nữ tuổi Hợi hợp nam tuổi nào?
Nam tuổi Hợi hợp nữ tuổi nào?
![]() |
Trong các cặp đôi con giáp hợp tuổi nhau, bạn có biết tuổi Tý hợp với tuổi nào hay không? Mối quan hệ tương hợp ấy dựa trên cơ sở nào? Hãy cùng ## tìm hiểu kỹ vấn đề này.
Nữ tuổi Tý + Nam tuổi Sửu = Lục hợp
Tuy tính cách có chút khác biệt, song cặp đôi này lại vô cùng hòa hợp.
Nữ tuổi Tý + Nam tuổi Thìn = Tam hợp
Cặp đôi này có thể bù trừ cho nhau về tính cách, cả hai đều giỏi tích lũy, đầu tư tài chính. Hai con giáp này kết đôi sẽ có cuộc sống hôn nhân hạnh phúc và nền tảng kinh tế vững chắc.
Nữ tuổi Tý + Nam tuổi Thân = Tam hợp
Đây là cặp đôi có chung quan điểm về gia đình. Cuộc sống hôn nhân hài hòa, hạnh phúc sẽ giúp cả hai phát huy được khả năng của mình ở mức tốt nhất, kinh tế sung túc, giàu sang.
Nam tuổi Tý + Nữ tuổi Sửu = Lục hợp
Nam tuổi Tý với nữ tuổi Sửu, đây là sự lựa chọn tuyệt vời cho đàn ông tuổi Tý. Hai người sẽ tạo thành một đôi hoàn hảo.
Nam tuổi Tý + Nữ tuổi Thìn = Tam hợp
Tính cách hai người đều thẳng thắn dứt khoát, giỏi giang tài cán. Bản thân mỗi người đều rất giỏi giang và tự tin, họ sẵn sàng tin tưởng lẫn nhau, cũng biết để cho đối phương có không gian riêng.
Nam tuổi Tý + Nữ tuổi Thân = Tam hợp
Cả hai cùng coi trọng sự nghiệp, có ý chí kiên cường, lại biết thấu hiểu và thông cảm cho khó khăn, khuyết điểm của đối phương.
Trên đây chỉ là đôi nét tóm lược về đối tượng phù hợp để kết hôn với người tuổi Tý. Để biết thêm chi tiết, mời các bạn xem Tuổi Tý hợp với tuổi nào trong tình yêu, hôn nhân.
Nữ tuổi Sửu + Nam tuổi Tý = Lục hợp
Theo luận giải tử vi, nữ tuổi Sửu và nam tuổi Tý có thể gọi là một cặp đôi hoàn hảo. Cả hai đều dũng cảm gách vác trách nhiệm gia đình, luôn muốn chia sẻ buồn vui với đối phương.
Nữ tuổi Sửu + Nam tuổi Tỵ = Tam hợp
Hai người này có chung mục tiêu trong cuộc sống, tính cách cũng tương đồng, tâm đầu ý hợp. Nếu kết đôi, hai con giáp này có thể nương tựa lẫn nhau, đồng cam cộng khổ, vượt mọi khó khăn.
Nữ tuổi Sửu + Nam tuổi Dậu = Tam hợp
Cặp đôi này quả thực khiến cho người người ngưỡng mộ, họ là hình mẫu vợ chồng ân ái, yêu thương nhau hết mực.
Nam tuổi Sửu + Nữ tuổi Tý = Lục hợp
Hai con giáp này có thể bù trừ và hỗ trợ nhau rất nhiều trong cuộc sống. Cả hai đều rất hài lòng với cuộc hôn nhân, gia đình hòa thuận, hạnh phúc.
Nam tuổi Sửu + Nữ tuổi Dậu = Tam hợp
Không còn nghi ngờ gì nữa, sự kết hợp của 2 con giáp này sẽ tạo nên cuộc hôn nhân hạnh phúc mỹ mãn.
Nam tuổi Sửu + Nữ tuổi Tỵ = Tam hợp
Tuổi sửu hợp với tuổi nào, nam tuổi Sửu và nữ tuổi Tỵ là cặp đôi hoàn hảo, có cuộc sống hạnh phúc viên mãn.
Xem chi tiết: TẠI ĐÂY!
![]() |
Nữ tuổi Dần + Nam tuổi Hợi = Lục hợp
Cặp đôi này rất biết cách thu hút đối phương, hiểu rõ làm thế nào để tạo được niềm vui cho một nửa của mình.
Nữ tuổi Dần + Nam tuổi Tuất = Tam hợp
Đây quả đúng là cặp đôi trời sinh. Họ đều là những người bẩm sinh theo chủ nghĩa hoàn hảo, luôn nhiệt tình, lạc quan, có trái tim lương thiện, sẵn sàng giúp đỡ mọi người.
Nữ tuổi Dần + Nam tuổi Ngọ = Tam hợp
Hai con giáp này có rất nhiều điểm chung, có thể hỗ trợ nhau về nhiều mặt trong cuộc sống.
Nam tuổi Dần + Nữ tuổi Hợi = Lục hợp
Cặp đôi này luôn động viên, khích lệ nhau trong cuộc sống, sẵn sàng hy sinh vì đối phương.
Nam tuổi Dần + Nữ tuổi Tuất = Tam hợp
Đây là cặp đôi cực kì tình cảm, luôn sẵn sàng thể hiện tình yêu thương với đối phương. Họ đều có tính cách thân thiện, nhẹ nhàng, lại vô cùng quyến rũ.
Nam tuổi Dần + Nữ tuổi Ngọ = Tam hợp
Hai con giáp này cùng có tính cách sôi nổi, hoạt bát, cũng rất hòa nhã, thân thiện.
Xem chi tiết nội dung này TẠI ĐÂY!
Nữ tuổi Mão + Nam tuổi Tuất = Lục hợp
Hai con giáp này đều là những người yêu cuộc sống, biết tận hưởng và có những mục tiêu theo đuổi tương tự nhau.
Nữ tuổi Mão + Nam tuổi Mùi = Tam hợp
Họ luôn ngưỡng mộ lẫn nhau, tạo cho đối phương niềm vui trong cuộc sống, biết cách quan tâm và chăm sóc bạn đời.
Nữ tuổi Mão + Nam tuổi Hợi = Tam hợp
Hai con giáp này rất ưng ý về đối phương, cả hai đều có tinh thần cống hiến vô tư, có thể bao dung và bỏ qua cho nhau những khiếm khuyết nhỏ, cũng sẵn sàng hy sinh vì hạnh phúc của người kia.
Nam tuổi Mão + Nữ tuổi Tuất = Lục hợp
Hai con giáp này là một cặp đôi giàu trí tuệ. Cả hai đều là người hiểu biết và thấu hiểu người khác, luôn hỗ trợ cho đối phương trong tất cả mọi chuyện, cũng nguyện dốc hết sức mình để thỏa mãn đối phương.
Nam tuổi Mão + Nữ tuổi Hợi = Tam hợp
Hai người này nếu kết đôi thì sẽ gặp rất nhiều thuận lợi trong cuộc sống sau này.
Nam tuổi Mão + Nữ tuổi Mùi = Tam hợp
Đây là cặp đôi hòa hợp với nhau về mọi mặt. Đôi bên đều là người lãng mạn, có tính cách thân thiện, dễ gần, biết cách xóa tan những cảm xúc tiêu cực của đối phương.
Xem chi tiết nội dung này TẠI ĐÂY!
![]() |
Nữ tuổi Thìn + Nam tuổi Dậu = Lục hợp
Hai con giáp này đều là những người tài giỏi, gặt hái nhiều thành công và được mọi người khen ngợi, ngưỡng mộ.
Nữ tuổi Thìn + Nam tuổi Tý = Tam hợp
Cặp đôi này vô cùng ăn ý trong mọi việc, tâm đầu ý hợp, tâm ý tương thông.
Nữ tuổi Thìn + Nam tuổi Thân = Tam hợp
Đây là cặp đôi trời sinh, không gì có thể chia rẽ nổi.
Nam tuổi Thìn + Nữ tuổi Dậu = Lục hợp
Hai con giáp này đều theo đuổi cuộc sống hòa hợp, hạnh phúc, yêu cầu sự thông cảm và thấu hiểu của đối phương.
Nam tuổi Thìn + Nữ tuổi Tý = Tam hợp
Đây là cặp đôi có khả năng quản lý tài chính xuất chúng, có thể cùng gây dựng gia đình hạnh phúc, tài lộc dồi dào.
Nam tuổi Thìn + Nữ tuổi Thân = Tam hợp
Cặp đôi này sẽ có hôn nhân hoàn hảo, hạnh phúc viên mãn. Cả hai cùng rất lý trí nhưng cũng không thiếu phần lãng mạn.
Xem chi tiết nội dung này TẠI ĐÂY!
Nữ tuổi Tị + Nam tuổi Thân = Lục hợp
Hai người là một cặp trời sinh. Cả hai luôn yêu thương và ngưỡng mộ, kính trọng lẫn nhau, hết lòng vun đắp cho tổ ấm gia đình.
Nữ tuổi Tị + Nam tuổi Sửu = Tam hợp
Sự kết hợp giữa 2 con giáp này sẽ tạo ra 1 gia đình hạnh phúc trăm năm.
Nữ tuổi Tị + Nam tuổi Dậu = Tam hợp
Hai người đều có cá tính riêng, khi ở cạnh nhau, người này lại có thể bù đắp khuyết điểm, nâng cao ưu điểm cho người kia.
Nam tuổi Tị + Nữ tuổi Thân = Lục hợp
Chẳng những tính cách tương đồng mà còn rất thấu hiểu, tin tưởng lẫn nhau, vì thế mà cuộc sống hôn nhân của 2 con giáp này được rất nhiều người ngưỡng mộ.
Nam tuổi Tị + Nữ tuổi Sửu = Tam hợp
Hai người này nếu thành đôi sẽ luôn yêu thương, nương tựa lẫn nhau, cùng đồng cam cộng khổ để có được cuộc sống hạnh phúc ấm no.
Nam tuổi Tị + Nữ tuổi Dậu = Tam hợp
Hai người đều thông minh, giỏi tính toán, dám nghĩ dám làm.
Xem chi tiết nội dung này TẠI ĐÂY!
![]() |
Nữ tuổi Ngọ + Nam tuổi Mùi = Lục hợp
Đây là 1 cặp đôi trời sinh. Hai người này đều có mong muốn gây dựng cuộc sống gia đình hạnh phúc ấm no, tính cách tuy có phần trái ngược nhưng lại có thể bổ sung, hỗ trợ cho nhau. Đời sống hôn nhân của 2 con giáp này vô cùng hòa hợp, giàu sang phú quý.
Nữ tuổi Ngọ + Nam tuổi Dần = Tam hợp
Hai con giáp này rất hợp nhau về tính cách, họ đều là người hướng ngoại, vui vẻ và phóng khoáng.
Nữ tuổi Ngọ + Nam tuổi Tuất = Tam hợp
Tuổi Ngọ hợp với tuổi nào? Cô gái tuổi Ngọ nên chọn bạn đời là người tuổi Tuất, sẽ có được cuộc sống ổn định và hài hòa.
Nam tuổi Ngọ + Nữ tuổi Mùi = Lục hợp
Hai người này có rất nhiều điểm chung, có thể phối hợp ăn ý với nhau trong mọi chuyện.
Nam tuổi Ngọ + Nữ tuổi Tuất = Tam hợp
Tính cách hai người bổ trợ cho nhau, họ không ngần ngại chỉ cho người kia điểm còn thiếu sót, đồng thời không ngừng động viên, hỗ trợ cho đối phương hoàn thiện bản thân.
Nam tuổi Ngọ + Nữ tuổi Dần = Tam hợp
Hai con giáp này nếu kết đôi sẽ hạnh phúc dài lâu, bách niên giai lão, phúc lộc mãn đường.
Xem chi tiết nội dung này TẠI ĐÂY!
Nữ tuổi Mùi + Nam tuổi Ngọ = Lục hợp
Tính cách 2 người rất hợp với nhau, tuy có khác biệt nhưng có thể bù đắp cho nhau những khiếm khuyết riêng.
Nữ tuổi Mùi + Nam tuổi Hợi = Tam hợp
Điểm tuyệt vời trong mối quan hệ của 2 con giáp này là sự nhường nhịn, nuông chiều đối phương, sẵn sàng tha thứ để luôn có nhau trong đời.
Nữ tuổi Mùi + Nam tuổi Mão = Tam hợp
Hai con giáp này luôn muốn có gia đình hạnh phúc và ổn định. Họ cũng có chung 1 lý tưởng và quyết tâm phấn đấu vì tổ ấm gia đình.
Nam tuổi Mùi + Nữ tuổi Ngọ = Lục hợp
Hai người này tâm ý tương thông, là cặp đôi sẵn lòng nắm tay cùng nhau đi khắp thế gian.
Nam tuổi Mùi + Nữ tuổi Hợi = Tam hợp
Họ không bao giờ tranh cãi, mỗi người đều giảm bớt cái tôi của mình và mong muốn làm hài lòng người kia.
Nam tuổi Mùi + Nữ tuổi Mão = Tam hợp
Hai con giáp này tạo nên 1 cặp đôi khiến bao người thầm mơ ước.
Xem chi tiết nội dung này TẠI ĐÂY!
![]() |
Nữ tuổi Thân + Nam tuổi Tị = Lục hợp
Hai người này có cá tính khác biệt, sở thích cũng không giống nhau nên cũng có phần khắc khẩu. Tuy nhiên, đó dường như chỉ là chút gia vị cho tình yêu của họ.
Nữ tuổi Thân + Nam tuổi Tý = Tam hợp
Hai con giáp nếu kết đôi sẽ có cuộc sống tình cảm khá viên mãn.
Nữ tuổi Thân + Nam tuổi Thìn = Tam hợp
Cuộc sống hôn nhân của 2 con giáp này luôn tràn ngập tiếng cười, niềm vui và lạc quan của cả 2 khiến cho hạnh phúc lan tỏa trong mọi ngóc ngách của căn nhà.
Nam tuổi Thân + Nữ tuổi Tị = Lục hợp
Hai con người cùng thông minh nhưng cũng rất cẩn trọng mà muốn ở bên nhau thì phải dám vứt bỏ mọi lớp áo giáp, dẹp bỏ hết những phòng ngự với đối phương.
Nam tuổi Thân + Nữ tuổi Tý = Tam hợp
Đây là cặp đôi của thành công. Hai người đều có sức chiến đấu cực kì lớn, cuộc sống hôn nhân hạnh phúc chỉ khiến họ càng có thêm động lực để không ngừng phấn đấu và phát huy hết những khả năng tiềm tàng bên trong mình.
Nam tuổi Thân + Nữ tuổi Thìn = Tam hợp
Hai con giáp này nếu kết hôn sẽ là 1 cặp xứng đôi vừa lứa. Hai người đều có khát khao, có lý tưởng, có tinh thần cầu tiến và đầu óc tư duy.
Xem chi tiết nội dung này TẠI ĐÂY!
Nữ tuổi Dậu + Nam tuổi Thìn = Lục hợp
Đây là cặp đôi có chung quan điểm về gia đình. Cuộc sống hôn nhân hài hòa, hạnh phúc sẽ giúp cả hai phát huy được khả năng của mình ở mức tốt nhất, kinh tế sung túc, giàu sang.
Nữ tuổi Dậu + Nam tuổi Tị = Tam hợp
Hai người này có quan điểm khá tương đồng về tình cảm, họ theo đuổi hạnh phúc giống nhau nên có nhiều đồng cảm.
Nữ tuổi Dậu + Nam tuổi Sửu = Tam hợp
Cặp đôi này tin tưởng và hỗ trợ nhau, tình yêu giữa họ không bao giờ tắt.
Nam tuổi Dậu + Nữ tuổi Thìn = Lục hợp
Hai người này có thể có được một cuộc hôn nhân mỹ mãn mà nhiều người mơ ước.
Nam tuổi Dậu + Nữ tuổi Tị = Tam hợp
Hai con người cùng tài năng nhưng lại biết hỗ trợ, bù đắp những khuyết điểm của người kia.
Nam tuổi Dậu + Nữ tuổi Sửu = Tam hợp
Hai con giáp này nếu kết đôi sẽ có hạnh phúc bền vững lâu dài.
Xem chi tiết nội dung này TẠI ĐÂY!
Nữ tuổi Tuất + Nam tuổi Mão = Lục hợp
Cô gái tuổi Tuất và chàng trai tuổi Mão nếu đến với nhau thì sẽ tạo thành một cặp đôi tình cảm nồng nàn, gắn bó không rời.
Nữ tuổi Tuất + Nam tuổi Dần = Tam hợp
Cả hai người đều rất coi trọng gia đình, trung thành với tình yêu. Trong suy nghĩ của họ, tình yêu là nền tảng của gia đình, và gia đình là cơ sở để có cuộc sống hạnh phúc ngập tràn.
Nữ tuổi Tuất + Nam tuổi Ngọ = Tam hợp
Cặp đôi này tính cách không quá tương đồng song khi ở bên nhau lại rất xứng đôi vừa lứa.
Nam tuổi Tuất + Nữ tuổi Mão = Lục hợp
Hai con giáp này có thể thỏa mãn tuyệt đối nhu cầu tình cảm của đối phương, dành cho nhau tình yêu thương vô bờ bến.
Nam tuổi Tuất + Nữ tuổi Dần = Tam hợp
Mức độ tương hợp của cặp đôi này rất cao, nếu ở bên nhau thì họ nhất định sẽ có cuộc sống êm ấm, hạnh phúc bền lâu.
Nam tuổi Tuất + Nữ tuổi Ngọ = Tam hợp
Ở bên nhau, họ cảm nhận được sự thư thái và nguồn lực động viên vô điều kiện, thoải mái phát huy năng lực của bản thân.
Xem chi tiết nội dung này TẠI ĐÂY!
Nữ tuổi Hợi + Nam tuổi Dần = Lục hợp
Đây là cặp đôi cực kì hòa hợp với nhau, là mối duyên lành khó cưỡng.
Nữ tuổi Hợi + Nam tuổi Mão = Tam hợp
Họ luôn vì nhau cố gắng và giữ gìn tình cảm lâu bền. Cuộc sống hôn nhân của họ là hình mẫu của sự hòa hợp, ăn ý và vui tươi.
Nữ tuổi Hợi + Nam tuổi Mùi = Tam hợp
Đây là cặp đôi thích hợp để tiến tới chuyện hôn nhân gia đình.
Nam tuổi Hợi + Nữ tuổi Dần = Lục hợp
Trong tình cảm, hai con giáp này đều khá tinh tế, biết cách làm vui lòng đối phương, cũng rất yêu thương trân trọng lẫn nhau, giúp đỡ nhau nhiều trên con đường công danh sự nghiệp.
Nam tuổi Hợi + Nữ tuổi Mão = Tam hợp
Đây là cặp đôi tâm đầu ý hợp được nhiều người ngưỡng mộ.
Nam tuổi Hợi + Nữ tuổi Mùi = Tam hợp
Hôn nhân của cặp đôi này sẽ cực kì viên mãn, quấn quýt nhau không phút rời xa.
Xem nội dung chi tiết TẠI ĐÂY!
Lichngaytot.com
4 con giáp hậu vận cực tốt, càng già càng giàu nứt đố đổ vách
| ► Xem thêm: Mệnh thổ hợp màu gì để chọn màu xe may mắn nhất. |
![]() |
![]() |
1. Cha mẹ tuổi Tuất
- Con tuổi Dần, Mão, Tỵ, Thân, Tuất, Hợi: Nhìn chung, gia đình yên ấm, con cái nghe lời cha mẹ, cha mẹ hết lòng yêu thương, nuôi dạy con nên người, quan tâm, chăm sóc cho con từ những chuyện nhỏ nhất.
- Con tuổi Tý, Sửu, Thìn, Ngọ, Dậu: Gia đình khó hòa thuận, con cái thường có xu hướng tự lập, ít quan tâm đến cha mẹ khiến họ phiền lòng. Cha mẹ cũng ít có thời gian hỏi han, chăm sóc cho con cái. Cuộc sống gia đình buồn chán, lặng lẽ.
2. Cha mẹ tuổi Hợi
|
| Cha mẹ tuổi Hợi hợp với con cái tuổi Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi |
- Con tuổi Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi: Gia đình êm ấm, hạnh phúc, sum vầy. Cuộc sống tràn ngập niềm vui và tiếng cười. Cha mẹ yêu thương, chăm sóc con cái; ngược lại, con cái cũng hết lòng vì cha mẹ, luôn mong cha mẹ được an nhàn. Họ trở thành những người con tài giỏi, thông minh và hiếu thuận.
- Con tuổi Tỵ, Ngọ: Con cái hay làm cha mẹ phiền lòng, thường có xu hướng thoát ly sớm để tách khỏi cha mẹ. Tuy hiểu được nỗi niềm của cha mẹ nhưng người con vẫn làm theo ý kiến của riêng mình. Thậm chí cái tôi của con quá cao khiến cha mẹ phải phiền lòng.
(Theo Đời người qua 12 con giáp)
|
Tác giả: Tử Vân
Người dịch Việt ngữ: Durobi
Nguyên văn tiếng Hoa: 紫雲: 斗數論命 。時報出版, 民國1978 初版 (1989) (PDF)
Ngày 25 tháng Chạp năm Mậu Thìn (al), trước lúc tan sở làm thì cậu Trần gọi điện tới bảo muốn mời tôi ăn cơm tối, ăn xong thì đi uống trà. Tôi còn đang kiếm cớ thoái thác thì cậu Trần đã bảo đúng sáu giờ rưỡi sẽ đợi tôi ở quán ăn Đài Loan ngay hẻm sau của khách sạn Long Phổ, nói xong bèn cúp máy. Mời người ta ăn cơm mà chơi kiểu bá đạo như vầy thì khổ quá, cơm cũng đâu có ăn được ngon, trà cũng đâu có được uống cho đàng hoàng, bởi vì đó chỉ là cái cớ của cậu ta, chắc cũng là mấy vấn đề mới cần thảo luận đây mà.
Cậu Trần có nghề nghiệp ngon lành, tuy còn trẻ nhưng rất đâu ra đấy, hiện đang sở hữu một công ty tự làm chủ lấy, nghiệp vụ mỗi năm đều tăng trưởng đều đều.
Mấy năm nay cậu ấy mê mệnh lý, ban đầu thì học Tử Bình, sau đó chuyển sang tới Tử Vi. Do bạn bè giới thiệu mà biết tôi, kể từ đó hay kiếm lý do mời ăn uống để gặp tôi, nghiên cứu mấy lá số lạ lạ và những vấn đề thắc mắc trong mệnh lý. Thực ra tôi cũng chẳng phải cái gì cũng biết hết, chẳng qua là tôi chịu khó đưa ra những ý kiến cá nhân cho mọi người tham khảo mà thôi, chứ không giống như mấy cao nhân cấp bậc đại sư khác giữ miệng kín kẽ không muốn tiết lộ bất cứ những yếu quyết nào và giữ rịt lấy bí kíp ấy cho riêng mình. Mệnh lý Trung Hoa sở dĩ không thể tiến bộ bởi chăng cũng vì lẽ ấy.
Đang lúc ăn uống với cậu Trần thì gặp một cổ đông chủ quán là cô Lâm, cô ấy tới hỏi han xong và cho tôi hay hiện có vị khách hàng quen hiện đang ở đây là cô Thái, hồi chiều lúc đi xe taxi thì để quên trên xe cái ví da, bên trong có cả tiền mặt và nữ trang, tổng trị giá khoảng trăm nghìn Đài tệ, không biết có thể lấy lại được hay chăng? Muốn nhờ tôi dùng mệnh lý xem giúp cho cô ấy.
Vốn là hồi chiều cô Thái đi ăn đám cưới cho nên có đeo mấy thứ nữ trang đắt tiền, tàn tiệc xong thì tháo ra cất trong ví da, không dè lúc đi taxi về lúc xuống xe thì bỏ quên mất cái ví trên xe.
Cậu Trần bèn hỏi cô Thái ngày tháng năm sinh và lập ngay lá số, tôi căn cứ trên những tích tượng của lá số mà suy đoán một hồi, nói với cô Thái, giả thiết thời gian cô mất đồ là khoảng giờ Mùi, thì ví tiền của cô có thể tìm lại được; còn nếu như giờ Thân thì hy vọng mong manh lắm. Có tìm được hay không thì đến tối sẽ có tin tức.
Cô Thái cũng bỏ đồng hồ vào ví cho nên thời gian mất đồ ước chừng khoảng giữa giờ Mùi và giờ Thân, chứ chính xác giờ nào thì chịu.
Bất kể có tìm được hay không, tôi nói với cô Thái hãy gọi thử cho bên đài phát thanh giao thông xem sao, nhờ nhà đài lưu ý giùm xem có tài xế taxi có lòng tốt gửi lại hoặc họ gọi cho nhà đài tìm người thất lạc đồ vật hay không. Đài phát thanh giao thông đã từng có nhiều trường hợp tìm ra đồ vật tương tự như vậy rồi.
Sự việc này sau khi nói xong thì tôi cũng quên luôn. Bởi vì những chuyện tình cờ gặp phải như thế này cũng là thường tình, nói xong là thôi, chứ không lưu tâm để ý kết quả như thế nào.
Cho mãi đến lúc nghỉ Tết năm Kỷ Tị, một hôm nọ cậu Trần gọi điện tới nói rằng tới chúc Tết tôi và sẵn dịp mời ăn cơm luôn. Lúc ấy tôi lại nghĩ chắc cậu này lại tìm lý do để thảo luận mệnh lý đây mà. Ngẫm nghĩ mấy ngày nghỉ Tết rỗi rãi ở nhà mãi chán, ra ngoài một chuyến cũng được, thế là đúng hẹn đi ăn cơm với cậu Trần, xong thì ghé trà nghệ quán uống Lão Nhân Trà.
Uống một xong một ấm trà thì cậu Trần lấy một lá số ra, tôi đã nghĩ đời nào có bữa cơm miễn phí, quả thật y chang, chỉ có điều không biết cái gì mới đây, nhưng đã ăn uống của người ta xong thì khó mà từ chối cho được.
Cậu Trần nói lá số này là lá số của cô Thái để quên cái ví trên xe taxi. Ngay đêm hôm ấy, quả nhiên có người tài xế taxi tốt bụng nhặt được cái ví, căn cứ theo địa chỉ trên giấy tờ của cô Thái mà tới đưa tận nhà, đưa trả ví xong là lên xe đi luôn. Thời buổi bây giờ mà được những người không tham của bất nghĩa như vậy thật là hiếm có, tài xế taxi tuy lao động vất vả mới có tiền thế mà không tham lam chiếm hữu tài vật không phải của mình, nhặt được đồ rơi còn trả lại thì quý hóa quá chừng!
Cậu Trần hỏi tôi sao anh coi hay thế, vừa nhìn lá số đã đoán ra chính xác, cứ nằng nặc bảo tôi nói rõ phương pháp suy đoán.
Tôi nói, đại khái rằng cô Trần may mắn đấy, gặp được bác tài xế tốt bụng, tôi cũng chỉ là mèo mù vớ phải chuột chết, may mắn đoán trúng thôi chứ có gì thần kỳ đâu chứ. Những việc như vầy nếu không lấy lại được tức là mất đi, cơ hội là 50-50, để bất cứ ai đoán đều có khả năng đoán trúng, cậu đừng có tâng bốc tôi làm gì.
Cậu Trần một hai nhấn mạnh, hãy còn những thứ trùng hợp nữa chứ không phải may mắn đoán bừa mà được đâu, nhất định yêu cầu tôi phải nói rõ phương pháp suy đoán lúc ấy. Haizzz, ăn cơm của người ta rồi thì có im cũng không được, đành phải nói kỹ hơn cách xemcủa tôi cho cậu ta tham khảo, trong bụng nhủ thầm lần sau đừng có mà dễ dàng đáp ứng lời mời ăn uống để khỏi bị phiền như này.
Thật ra sự suy đoán của tôi lúc ấy cũng chẳng có gì thần kỳ, chỉ theo lý mà suy luận rồi đem những tích tượng trên lá số liệt kê ra, chỉ vậy thôi. Mất mát đồ vật, phải phân ra ở trong nhà bị ăn trộm lấy mất, hoặc ở bên ngoài làm mất. Trường hợp thứ nhất thì cung vị trọng điểm ở cung Điền Trạch, trường hợp sau cung vị trọng điểm là cung Phúc Đức. hai cung vị này hễ có Kị Sát(tinh) giao xâm thì sẽ có nguy cơ bị trộm hoặc làm thất lạc đồ vật.
Ví dụ như, xe hơi để ở nơi gần nhà, buổi tối bị trộm mất và xe hơi đang lái ở ngoài bị trộm mất, thì trường hợp trước phải luận cung Điền Trạch, trường hợp sau luận cung Phúc Đức. Bởi vì địa điểm bị trộm không giống nhau, cho nên cung vị trọng điểm cũng thay đổi theo.
Thiên can tháng Chạp năm 1988 là Ất, Thái Âm hóa Kị ngay lưu nguyệt bản cung, cho nên cung Phúc của lưu nguyệt ở Tị. Cung Tị ngoài Đinh Tị đại hạn tự hóa Kị ra, lưu niên Mậu Thìn, Thiên Cơ hóa Kị từ Sửu chiếu nhập cung Tị. Nếu thêm vào Lộc Tồn của năm Mậu tại Tị, lưu Kình tại Ngọ, lưu Đà tại Thìn thì chẳng phải là năm Mậu Thìn cung Tị đã trở thành cung vị có hung tượng [Kình Đà giáp Kị] hay sao!
Thái Âm lưu nguyệt tự hóa Kị và cung Phúc của tháng ở Tị, hung tượng của 2 cung cùng dẫn động lẫn nhau, thì sẽ xảy ra khả năng đi ra ngoài bị mất đồ như trên đã nói.
Can chi của ngày 25 al là Nhâm Thìn, lưu nhật Đẩu Quân đi ngay vào Thái Âm hóa Kị cung Mão. Ngày Tý thiên can Nhâm, Thiên Lương hóa Lộc, Vũ Khúc hóa Kị, hai cái này là hóa tinh đại biểu cho cát hung, tuy rằng không tiến nhập vào tam phương tứ chính của cung Mão, nhưng không phải là không có liên quan đến việc mất đồ.
Bởi vì theo như cô Thái nói ngày hôm ấy, cô đi taxi lúc xuống xe thì khoảng giữa giờ Mùi và giờ Thân. Giả dụ là giờ Mùi, cung Tuất Vũ Khúc hóa Kị đã gây ra tác dụng không tốt rồi.
Giả dụ cô xuống xe lúc giờ Mùi, vậy thì lưu cung giờ Mùi ngay cung Tuất, ngày 25 tiến nhập cung vị Đẩu Quân của tháng hóa Kị (cung Mão), tức là tạo thành tháng-ngày-giờ đều có Hóa Kị.
Cậu Trần lại hỏi tiếp, thế thì giờ Thân cũng không tốt hay sao? Nếu không tại sao lúc ấy anh từng nói nếu giờ Thân thì khó kiếm lại …?
Giờ Thân lưu cung tiến nhập cung Hợi, là cung hội xung với cung trọng điểm Mão và Tị. Nếu căn cứ vào sự kiện này thì cung Hợi tự tọa tam sát Địa Không Địa Kiếp và Đà La, cung Mão hội Thái Âm hóa Kị và Hỏa tinh, cung Tị là cung vị Kình Đà giáp Kị, 2 cung vị Mão Tị này quả thực không hay chút nào, cho nên cũng có giá trị để tham khảo về thời gian xảy ra vụ việc. Dùng Đẩu Số để suy luận, đương nhiên phải căn cứ vào lý để suy diễn, chứ không thể phát ngôn quyền uy kiểu thiết khẩu trực đoán như đoán câu đố chẳng hạn.
-“Vậy thì làm sao suy luận ra vật đã mất có thể tìm được, hoặc là không thể tìm được?”
Câu hỏi này có dính đến nhiều khía cạnh, vấn đề cần được phải tính tới hơi bị nhiều. Cách xem của tôi là vầy:
Xem từ tháng, can Ất tuy khiến Thái Âm hóa Kị, làm cho cung Mão biến thành [Thập Ác] – Thái Âm hóa Kị gia Hỏa Tinh. Nhưng Thiên Cơ hóa Lộc hội nhập cung Tị, khiến cho cung Phúc của tháng này cũng có cát tinh hội.
Ngày 25 nhật can chi là Nhâm Thìn, can Nhâm Thiên Lương hóa Lộc hội cung Mão, Lộc Tồn của lưu nhật can Nhâm tại Hợi, khiến cung Tị được Lộc Tồn của lưu nhật từ Hợi hội chiếu cát.
Giả dụ từ tháng và ngày để xem sự kiện này, về phương diện cát tượng dẫn động, cũng có những hiện tượng rõ rệt; cho nên mất rồi, thì chưa chắc đã tìm lại được. (*Tử Vân nói câu này hơi tối nghĩa, người dịch để nguyên)
Với kiểu hiện tượng cát hung tại tháng và ngày, có lẽ có ý nghĩa rằng, vật dù đã mất, nhưng còn có thể tìm lại được.
-“Tại sao anh nói, nếu vào giờ Mùi thì vật đã mất có thể tìm lại được, giờ Thân thì không thể, cái này có liên quan mật thiết với thời gian vậy sao?” cậu Trần hỏi.
Tôi nói, trước hết phải nói rõ một nguyên lý, giả như cô Thái bắt taxi vào thời gian khác, có thể gặp tài xế lái những chiếc xe khác nhau. Những chiếc xe này chạy đầy ngoài phố, khi cô Thái xuống xe, chiếc xe ấy sớm muộn gì cũng có người khách khác lên xe. Cùng một lý lẽ ấy, ở thời gian khác nhau, sẽ có những người khách khác khác nhau bắt chiếc xe taxi này.
Cái ví da mà cô Thái làm mất trên xe taxi, có thể được tài xế trông thấy, cũng có thể bị người khách lên sau bắt gặp; nhiều người khác nhau, bắt gặp cái ví có tài sản lớn, đương nhiên sẽ có những thái độ phản ứng khác nhau, sẽ có những phương thức xử lý khác biệt, chả có gì đảm bảo ai đó sẽ trả lại ví.
Còn về chuyện giờ Mùi và giờ Thân, trên những tích tượng của chuyện này lại có sự phân biệt rõ rệt cát và hung. Cho nên tôi mới nói nếu giờ Mùi mất đồ thì còn khả năng tìm lại được chứ giờ Thân thì khó.
Cậu Trần hỏi, giờ Mùi lưu cung ở Tuất, lại trùng với nhật can Vũ Khúc hóa Kị, hung như vậy tại sao lại luận có thể tìm lại được?
Hung tượng của Vũ Khúc hóa Kị làm cho cô ấy mất ví; nhưng có thể tìm lại hay không thì còn phải xét, chứ không thể nói vật đã mất là mất luôn không thể tìm lại.
Can chi ngày Nhâm Tuất (*ở phía trên sách ghi Nhâm Thìn, dịch giả để nguyên), nếu dùng ngũ thử độn để suy diễn thì can chi giờ Mùi ắt phải là Đinh Mùi. Đinh khiến Thái Âm hóa Lộc, tức cũng làm cho ngày 25 lưu cung tại Thái Âm chuyển thành Hóa Lộc, giờ Đinh Lộc Tồn tại Ngọ, Ngọ với Tuất hợp. Tại giờ này thì cung Phúc ở Tý, có Phá Quân và Lộc Tồn, và hội hợp tại cung Thìn Tham Lang hóa Lộc của năm và Lộc Tồn của lưu nhật. Có những cát tượng như vầy cho nên mất đồ ở giờ này thì không thể kết luận là hung.
-“Vậy thì, can Đinh của giờ Mùi cũng làm Cự Môn hóa Kị, làm cho cung trọng điểm hóa hung, cho nên không bị ảnh hưởng mà hung theo sao được?”
Con Cự hóa Kị này có lẽ có những ảnh hưởng không hay, cho nên lúc cô Thái xuống xe thì tài xế cũng chưa phát hiện ra cô ấy để quên chiếc ví để đưa lại ngay lúc ấy. Hơn nữa lưu cung Phúc của giờ ở cung Tý còn có Tham Lang hóa Kị và lưu niên Kình Dương ở Ngọ; hai cung vị này, sau khi lưu nhật Vũ Khúc hóa Kị dẫn động sẽ khiến hai cách cục xấu [Khúc –Tham] ở Thìn và [Hình Tù giáp Ấn] ở Ngọ xung kích cung Tý. Cho nên khi cô Thái xuống xe lúc giờ Mùi, cả cô và tài xế đều không phát hiện ra quên ví trên xe và xe cứ thế chạy đi mất.
-“Vậy thế thì hung tượng ở giờ Thân thì sao?”
Giờ Thân tiến nhập cung Hợi, can chi của giờ là Mậu Thân, can Mậu khiến Tham Lang hóa Lộc, con Hóa Lộc này có vẻ không liên quan đến ngày và tháng, mà cũng chẳng liên quan đến cung Hợi mà giờ Thân đang lưu tại đó. Nhưng can Mậu lưu Lộc tại Tị, Thiên Cơ hóa Kị lại xung (chiếu?)cung Tị, đối với cung Tị trọng điểm mà nói thì đã tạo thành hung tượng Kị Lộc xung. Ngoài ra, lưu cung Phúc của giờ Thân tại cung Sửu, can Mậu khiến Thiên Cơ hóa Kị. Cung Mệnh của lưu thời tại Hợi, như đã nói từ lúc đầu, cung Hợi cũng là cung vị có hung tượng. Hai cung Hợi Sửu đều hung cho nên nếu mà làm mất đồ vào giờ Thân thì hung tượng tương đối lơn, cơ hội tìm lại được tương ứng sẽ nhỏ hơn.
- “Cung Sửu cũng có Nhâm can của ngày Nhâm Thìn khiến Thiên Lương hóa Lộc chiếu hội, ngoài ra cung Hợi cũng có Lộc Tồn của lưu thời chiếu hội, đồng thời cũng có nhật can Thiên Lương hóa Lộc ở Mùi chiếu nhập cơ mà? Tại sao nói là có hung tượng khá lớn được?”
Cát hung là một vấn đề có tính so sánh, phải xem bên nào lực đạo lớn hơn thì bên đó trình hiện tích tượng ra nhiều hơn. Với kiểu hiện tượng cát hung giao thoa như vầy thì lúc phán đoán đương nhiên dễ bị nhầm lẫn, nhưng nếu xẻ nhỏ từng chi tiết mà suy xét cân nhắc thì vẫn có thể đánh giá được bên nào nặng bên nào nhẹ.
Cung Hợi đương nhiên tồn tại nhiều cát tượng, nhưng tự tọa Không Kiếp, có Lộc Tồn chiếu hội hay tự tọa thì thành ra [Lộc phùng xung phá], có dư âm của [Cát xứ tàng hung]. Hơn nữa cung Mão còn có hung cách [Thập Ác], cung Tị cũng là cung vị cát hung giao gia, đều chủ về hung tượng khởi tác dụng.
Cung Sửu không chỉ là lưu niên Thiên Cơ hóa Kị, lưu thời can Mậu cũng khiến Cơ hóa Kị. Cơ - Kình cũng là hung cách “Tảo chủ hình khắc vãn kiến cô”(Trẻ gặp thì hình khắc, già gặp thì cô đơn), tuy sách cổ cho rằng cách này áp dụng xem lục thân nhưng thực ra tổ hợp này ở bất cứ cung vị nào xuất hiện cũng luận hung. Ở trường hợp này đương nhiên cũng không ngoại lệ. So sách lực đạo của cát và hung, phải lấy cách cục thành cách làm trọng tâm, cũng tức là cách cục thành cách chính là yếu tố-điều kiện tiên quyết để luận đoán. Trên cơ sở và lý do này cho nên cát hung ở cung Sửu thì phải luận lực đạo của hung mạnh hơn lực đạo cát.
-“Chẳng phải anh đã bảo cung Ngọ do Vũ Khúc hóa Kị dẫn động mà thành hung cách [Hình Tù giáp Ấn], cung Thìn cũng thành hung cách [Khúc Tham] xung chiếu cung Tuất và cung Tý làm cho hai cung vị này cũng biến thành hung? Nếu thành hung cách thì phải luận hung chứ? Thế tại sao lưu cung Tý và Tuất của giờ Mùi lại không trở thành hung tượng lớn?”
Sở dĩ cách cục hung này không trở nên quá hung bởi vì giờ Đinh Mùi thì Lộc Tồn của Đinh tại Ngọ, cung Thìn do năm Mậu nên có Tham hóa Lộc. hai con Lộc Tồn và Hóa Lộc này đều có tác dụng giải nguy chế tai ách, cho nên không luận Ngọ và Thìn quá hung.
Theo như cậu Trần kể, cô Thái hôm đó về đến nhà thì vào khoảng tầm hơn 10h tối rồi, còn bác tài xế thì đã ghé nhà cô gửi lại cái ví cho người nhà lúc hơn 9h tối. Cô ấy vui mừng và có gọi điện thoại lại cho bên đài phát thanh giao thông mới biết người xế cũng có gọi điện liên lạc với đài phát thanh, nói rằng khoảng buổi chiều 2h30’ thì có người khách lên xe phát hiện ghế sau có cái ví da cầm tay ai đó bỏ quên, do có địa chỉ ở trong ví nên bác tài sẽ tự ghé nhà trả ví. Việc này chứng thực một điều là lúc cô Thái xuống xe thì vào khoảng giờ Mùi không sai.
-“Vậy có thể xem ra tại sao bác tài lại ghé nhà trả cái ví muộn vậy, có thể thấy điều ấy trên mệnh bàn chăng?”
Có lẽ bác tài sau lúc ấy thì chở khách đi đường dài, hoặc nhà cô Thái ở khá xa, lại gặp lúc buổi chiều nhiều người bắt taxi cho nên chưa tiện ghé nhà cô Thái trả ví. Đối với tài xế taxi mà nói, thời gian là tiền bạc, những khả năng kể trên có thể là nguyên nhân khiến bác tài ghé trả ví khá muộn.
Nếu nhất định muốn tìm nguyên nhân trên lá số thì lúc hôn 9h tối đã thuộc giờ Hợi, can chi giờ Hợi là Tân Hợi. Can Tân Cự Môn hóa Lộc, lưu Lộc Tồn ở Dậu. Điều này khiến cho cung Tị có Cự hóa Lộc hội Lộc Tồn của lưu thời chiếu. Cung vị của giờ Hợi tiến nhập tại cung Dần,lúc này thì Phúc của Dần tại Thìn có song Lộc giáp (Thái Âm hóa Lộc tại giờ Đinh Mùi và Cự Môn hóa Lộc của giờ Tân Hợi). Cung Thìn tam hợp hội với cung Tý là Phúc của giờ Mùi, cung Dần của giờ Hợi cũng tam hợp hội với cung Tuất lưu cung Mệnh của giờ Mùi là lúc cô Thái xuống xe taxi và bỏ quên cái ví và Tuất là cung vị duyên khởi. Nhưng do Giờ Tân Hợi Văn Xương hóa Kị cũng tại Tuất, khiến cho cô Thái không thể gặp lại bác tài tốt bụng kia (duyên diệt), có phải thật trùng hợp không nào?
-“ Vậy thì can Tân của giờ Hợi khiến Văn Xương hóa Kị điều này có hung tượng thế nào?”
Văn Xương hóa Kị ngay tại cung Tuất là lưu cung của giờ Mùi lúc mất ví, nếu cứ phải xem tác dụng thế nào thì chỉ có thể nói là khi bác tài ghé nhà cô Thái trả ví thì cô Thái vẫn chưa về nhà, xem như không có cái duyên gặp mặt, làm cho cô không có cơ hội thù lao cho bác và nói lời cảm ơn chân thành, đại khái chỉ có ý nghĩa vậy thôi!
Cậu Trần xuýt xoa mãi, khen rằng luận hay quá, riêng tôi thì cho rằng có lẽ cô Thái hên thôi, đồ vật trong ví trị giá hơn trăm nghìn Đài tệ bị thất lạc mà còn tìm lại được thì hiếm gặp. Còn tôi thì cũng “hên xui” đoán bừa mà trúng, chỉ thế thôi chứ có thần kỳ gì đâu.
----------
Tử Vân dẫn nhập:
Bắt xe taxi, lúc xuống xe thì bỏ quên cái ví da trên xe, có thể tìm lại được không? Dùng Đẩu Số có thể suy luận ra không? Suy luận mệnh lý không thể chỉ luận đúng mà thôi, mà phải nói rõ ràng phương pháp và lý do, nếu không thì nếu chỉ đoán suông cũng có cơ may đoán đúng, thế thì không phải mệnh lý nữa mà là trò đoán câu đố. Ví dụ mệnh lý thực tế này cung cấp một lá số để tham khảo. Lý luận và phương pháp hay không thì độc giả có khi cũng nên cân nhắc mà nhận định.
Đương số Mrs. Thái
Sinh ngày al X tháng Giêng năm Quý Tị (1953) giờ Tý
Người dịch chú: Do tác giả cung cấp lá số để trống ngày sinh, mệnh bàn đồ hình Tử Phủ cư Dần Thủy Nhị Cục có 4 ngày là ngày 2,3,26 và 27, tùy chọn ngẫu nhiên ngày 3 al để an sao và dán lá số.