Tướng phụ nữ khổ –
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)

Nội dung
Ngày xưa, người ta đã khai thác petridot trên đảo Zeberget thuộc Ai Cập cổ đại. Hòn đảo này tràn ngập các loài rắn độc làm cho việc thai thác peridot trở thành một nghề hết sức nguy hiểm. Cuối cùng một Pharaon đã xua được lũ rắn ra biển, bảo đảm được sự cung cấp đá quý.
Người La Mã gọi peridot là “emerald hoàng hôn” vì màu lục của chúng không tối vào ban đêm và vẫn thấy được dưới ánh đèn.
Peridot đến được Châu Âu có lẽ là do các chiến binh viễn chinh mang về, chúng được dùng để trang trí các nhà thờ cổ. Hai trăm carat đá peridot được dùng để trang trí Lăng mộ Ba vua ở nhà thờ Cologne, Đức.
Người ta cho rằng peridot giúp tăng thêm sức mạnh cho bất kỳ loại thuốc nào.
Mặc dù ở Hawaii, peridot được coi là báu vật vì người dân ví chúng là nước mắt của nữ thần Pele, nhưng hầu hết peridot bày bán ở Hawaii ngày nay đều từ Arizona.
Peridot là đá mừng sinh nhật trong tháng tám ở Mỹ.
Tương truyền, thuật ngữ “peridot” được hình thành từ Hy Lạp “peridona” có nghĩa là: đem lại sự sung túc. Peridot được tạo thành bởi magma trong tinh thể núi lửa và trong cả thiên thạch rơi xuống trái đất. Nó thường có màu olive hoặc vàng xanh (lục phớt vàng) nên nhiều người gọi nó nó là “ Ngọc lục bảo chiều tà”.

Đá Peridot tập trung phần lớn tợi bang Arizona Mỹ và Trung Quốc. Ngoài ra còn có thể tìm thấy tại Myanmar, phía tây Himalaya thuộc Pakistan.
Tại Việt Nam cũng có các mỏ đá chứa Peridot nhưng trữ lượng không nhiều, chúng phân bố chính tại vùng đất đỏ bazan thuộc Gia Lai và Lâm Đồng.
Do đặc điểm cấu trúc đặc biệt nên đá Peridot chỉ có màu lục và biến đổi từ vàng nhạt tới lục.
Peridot tinh thể hoàn chỉnh cực kì hiếm và chúng tồn tại ở dạng cột ngắn hoặc tấm. Trong cấu trúc của Peridot có nhiều bao thể là cromspinen, cromdiopsit hay phlogopit và anhydrit dạng lá, tấm. Còn Peridot Việt Nam thì bao thể sẽ dạng 8 mặt cromit và phlogopit.
Thường thì các viên đá Peridot giá trị nhất sẽ có màu lục tươi pha ít sắc vàng không có màu ánh nâu.
Trong dòng đá Peridot thì loại quý nhất có màu xanh lá cây tươi. Phần lớn đá có kích thước nhỏ còn cỡ lớn thì giá thành rất cao và rất hiếm. Đá thường mài thành hình ovan và cũng có hình khác nhưng ít hơn.

Nhiều quan điểm cho là bột đá Peridot còn để trang điểm và chữa bệnh hen suyễn.
Một số nhà nghiên cứu lại dùng đá Peridot để làm thuốc súng.
Cách thực hiện
Cho tiền xu Trung Quốc vào trong bát nước muối và đặt ở những nơi có năng lượng không tốt. Bằng cách hấp thụ năng lượng tiêu cực, nước muối cải thiện sự thịnh vượng của ngôi nhà và 1 số lĩnh vực của cuộc sống. Tiền xu bằng đồng sẽ tương tác với nước và muối tạo ra những ion âm, từ đó ảnh hưởng tích cực đến sức khỏe và sự thịnh vượng.
|
- Cho muối vào trong bát hoặc ly thủy tinh, chiếm ¾ bát.
- Đặt 6 đồng xu xếp theo hình vòng tròn vào bát. Nhớ đặt mặt dương (mặt dương có kí tự khác) của xu ngửa lên trên.
- Cho nước vào và đặt bát lên 1 miếng vải lót. Bởi muối và nước khi kết tinh có thể sẽ phá hủy bề mặt bát.
- Không che miệng bát. Để yên bát nước ở cùng 1 vị trí trong 1 năm, tránh xê dịch hay động chạm đến. Nếu dịch chuyển, sự tích tụ năng lượng tiêu cực vào bát nước có thể sẽ bị phá vỡ.
Sau 1 năm, khi đã hoàn thành mục đích hấp thu năng lượng tiêu cực trong nhà vào bát nước, bạn hãy bỏ chiếc bát đó đi.
Vị trí đặt nước muối để thu hút sự thịnh vượng và cải thiện sức khỏe
Không có ý kiến thống nhất cho vị trí đặt nước muối. Những người ủng hộ phương pháp Phi tinh thì cho rằng, nên đặt nước muối ở vị trí sao Tam Bích và sao Ngũ Hoàng.
Những người khác thì lại cho rằng nên đặt bát nước muối thay đổi tùy theo từng năm. Tuy nhiên, cần tính đến hiệu quả của việc đặt bát nước muối. Tốt nhất là hãy đặt nó ở cung Tài lộc (Đông Nam) nếu muốn giàu có, hoặc đặt nó ở cung Gia đạo (hướng Đông) nếu muốn cải thiện sức khỏe.
Chú ý: Cần tuân thủ đúng những hướng dẫn làm bát nước muối phong thủy để đạt hiệu quả tốt. Đồng thời đặt nó ở các cung Bát quái thích hợp và không được sử dụng quá 1 năm.
(Theo Suite101)
|
a được coi là quan trọng nhất, là trung tâm của ngôi nhà. Những việc quan trọng như: thờ phụng, tiếp khách, sinh hoạt… đều diễn ra ở gian này. Gian giữa lại luôn có cửa lớn ra vào, mở cửa là nhìn thấy trời đất lưu thông, âm dương hòa đồng.

Bàn thờ là nơi thể hiện lòng thành kính của con cháu đối với tổ tiên nên bàn thờ thường được lập ở chính giữa gian giữa ngôi nhà. Bởi vậy gia chủ không được kê giường ngủ đối diện với bàn thờ.
Bàn thờ có được thiết kế như thế nào thì nhất thiết nó luôn ở vị trí trang trọng, có độ cao thích hợp để khi cúng mọi người tỏ đựợc sự ngưỡng vọng thành kính của mình với tổ tiên. Kiến trúc nhà ở nông thôn ít biến đổi, nên kiểu bàn thờ của truyền thống vẫn giữ được những đặc trưng và đặt ở vị trí theo đúng phong thủy trong ngôi nhà.
Nhưng với những ngôi nhà có kiến trúc hiện đại, nội thất hiện đại ở thành phố thì hiện nay cách bố trí và các đồ thờ cũng có nhiều biến đổi để phù hợp với hoàn cảnh của ngôi nhà mà vẫn giữ được tính tôn nghiêm nơi thờ cúng.
Bàn thờ có được thiết kế như thế nào thì nhất thiết nó luôn ở vị trí trang trọng, có độ cao thích hợp để khi cúng mọi người tỏ đựợc sự ngưỡng vọng thành kính của mình với tổ tiên.
Trong ngôi nhà hiện đại xếp đặt gian thờ cũng phải tuân thủ chặt chẽ và vận dụng linh hoạt các nguyên tắc truyền thống nêu trên, đó là: Tại vị trí cao, phía trên bàn thờ là nóc nhà và bầu trời, không có các phòng ốc khác đè lên, phía trước bàn thờ là các gian trang trọng, phía sau là cầu thang và không gian phụ như sân phơi, kho. Như vậy phòng thờ đặt tại lầu trên cùng sẽ đạt được các tiêu chí này.
Nhà phố thường bị vây chặt bởi các nhà chung quanh, nếu đặt bàn thờ dưới tầng trệt ngay trong phòng khách bước vào sẽ khó thông thoáng, thắp nhang nhiều sẽ làm ố vàng cả trần nhà. Bên cạnh đó cần tránh trên đầu của bàn thờ là phòng vệ sinh, phòng trẻ em chơi đùa….bởi nó sẽ làm giảm tính tôn nghiêm của không gian trang trọng này. Và một lẽ nữa không nên để mọi người từ ngoài cửa nhìn thấy hết bàn thờ, bài vị, hình ảnh tổ tiên.
Hãy để ý trong ngôi nhà truyền thống bộ bàn ghế tiếp khách được đặt ngay trước bàn thờ, nhưng trước khi vào chỗ này khách phải đi qua sân, rồi bậc thềm, hàng hiên rồi mới đến không gian trong nhà, nhìn từ ngoài vào hầu như không thấy bàn thờ. Đó là do khuôn viên ngôi nhà xưa rộng, bố cục thường là 5 đối, xem lẫn cỏ cây xung quanh. Ngôi nhà hiện đại, nhà phố căn hộ không thể giống vậy được.
Bản chất trường khí phòng thờ (hay bàn thờ) thuộc tính âm mang tính chất hướng nội, không ưa sự phô trương. Ngay cả trong ngày giỗ hay tết thì thờ cúng cũng là việc riêng của gia đình đó, người ngoài muốn đến thắp nén nhang phải xin phép gia chủ. Về ngũ hành thì bàn thờ thuộc hành Hỏa và Mộc là hai hành hướng lên cao và cần sự chăm sóc mỗi ngày.
Trừ bàn thờ ông địa thần tài là tín ngưỡng dân gian mọi nhà giống nhau, đặt gần cửa để nghênh tiếp tài lộc, còn lại bàn thờ gia tiên và tôn giáo riêng của mỗi gia đình (thờ phật, thờ chúa…) nên mang tính hướng nội, không cần phải đặt ngay trong phòng khách. Tu tại tâm, đó là điều cha ông vẫn thường khuyên con cháu. Như vậy là theo phong thủy tốt nhất là đặt phòng thờ ở tầng áp mái.
Để phù hợp với phong thủy bàn thờ nên đặt ở hướng Tây Bắc của ngôi nhà hoặc của văn phòng. Bởi vì, đây là hướng tượng trưng cho trời.
Bàn thờ phải luôn sạch sẽ và thường xuyên thắp nhang. Điều này đặc biệt quan trọng nếu bàn thờ hướng trực tiếp ra cửa chính. Tượng thần thánh hoặc vật thể thiêng liêng phải đặt trên bàn kệ cao. Đèn “thờ” trên bàn thờ (đặt ở giửa bàn thờ), luôn bật sáng để thu hút năng lượng dương.
| ► Mời các bạn đọc thêm: Chuyện tâm linh huyền bí bốn phương có thật |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
Bài của ÂN QUANG
1- Lúng túng vì quan niệm sai lầm về “cách áp dụng” Tử-vi
Mệnh cư Ngọ, Phá Quân nhập miếu thủ Mệnh, Người tuổi Tân Mùi Âm Nam, thì Mệnh lại có Song Hao, Song Hỷ, Khôi Việt.
Dở sách Tử vi ra để đoán tướng người thì thấy:
- Phá Quân nhập miếu: Thân hình đẫy đà, lưng dày, mi thưa v..v….
- Song Hao hãm: thân hình nhỏ nhắn, bộ máy tiêu hóa không được lành mạnh v.v…
Vậy thì thế nào? Đẫy đà hay nhỏ nhắn? Bộ phận nào gia tăng, cơ quan nào giảm thiểu? Lấy cái đẫy đà cộng với nhỏ nhắn, chia hai ra trung bình hay sao?
Lại còn trường hợp Mệnh cư Tý, Thiên Đồng Thái Âm thủ Mệnh. Người tuổi Nhâm Tuất, Dương Nam, thì Mệnh lại có Kình Dương hãm địa.
Dở sách Tử-Vi ra để đoán tướng người này thì lại thấy:
- “Đồng Âm cư Tý, dung nhan mỹ ái”, nào là my thanh mục tú, nào là da trắng má nhuận v..v..
- Kình Dương hãm thì hình mạo phá tướng, dáng dấp lệch lạc,… nào là thân hình cao và thô, da xám, mặt choắt v.v….
Vậy thì thế nào? Thanh tú hay là lệch lạc? Da trắng hay da xám. Lấy cái đẹp và cái xấu cộng lại, chia hai, ra cái trung bình?
Một giáo sư Trung học Đệ Nhị Cấp, ở Nha Trang, nghiên cứu Tử-Vi vài năm năy, tìm tôi để hỏi về trường hợp hai lá số có các cách như trên. Có người luận là Tuổi Tân Mùi, mạng Thổ không ăn nhiều vào sao Phá Quân (thuộc Thủy) và tuổi Nhâm Tuất thuộc Thủy ăn vào sao Đồng-Âm nhiều hơn. Nhưng vị giáo sư ấy thấy rằng cũng không đúng lắm.
Vì một vài lý so riêng không tiện ghi rõ ngày giờ sinh, tôi xin chỉ ghi nét tiêu biểu để viết bài này giúp quí bạn mới nghiên cứu đỡ lúng túng khi áp dụng sách Tử-Vi.
Nếu không quan niệm rõ về công dụng của Tử-Vi, nếu chỉ dở sách Tử-Vi ra để áp dụng các “công thức” đoán tướng người một cách máy móc thì quí bạn sẽ hoang mang quay cuồng trước những độ số gia tăng, độ số giảm thiểu,sẽ có ngày hình dung được một quái thai hay một ác quỷ Dracula!
Có Đồng Âm thì “dung nhan mỹ ái”.
Có Tuế Kình thì ‘răng vẩu răng hô”.
Có Nhật Nguyệt gặp Kình Đà thì “mắt to mắt nhỏ” (Thái Âm cư Tý gặp Kình, Thái Dương cư Dần gặp Đà chiếu).
Có Hỏa Linh thì “nhăn nhó”
Có Đồng Âm “da trắng” lại có Kiếp Không, “da đen” v.v…
Tử Vi không phải là cái máy hay là cái khuôn đúc. Tạo hóa lại không có sự kỳ thị chủng tộc.
Một người da vàng, mắt đen, mũi thấp, dòng dõi nhỏ thó…. Một người da trắng, tóc hoe, mắt xanh, mũi cao, thuộc giống dân cao lớn…. và một người da đen, tóc xoăn, môi dầy…vẫn bình đẳng trước Tạo hóa, vẫn được quyền ra đời vào cùng một ngày giờ giống nhau, gặp hoàn cảnh vẫn có thể ra đời tại cùng một quốc gia.
Đem ngày giờ sinh ấy mà bịt mắt thầy Tử Vi nhờ đoán tướng người thì quả là làm một trò khôi hài chua chát!
Nhìn vào cung Thê (trong lá số người chồng) để đoán tướng người vợ, may mà găp trường hợp có nhiều truyền tinh, đoán đúng tướng dạng người vợ thì thật là “Phúc chủ Lộc Thầy” vui vẻ cả làng. Lỡ gặp người vợ không có lá số truyền tình, thì rất dễ gặp sự sai lầm ngớ ngẩn.
Tử Vi là Lý Học Tương Quan. Đặt sang một bên những trường hợp quá sai biệt vì lý do chủng tộc thông thường thì dùng Tử Vi để đoán tướng người là đoán tương đối:
- Cơ Nguyệt Đồng Lương thì dáng dấp có phần (xin lưu ý là có phần) hiền hậu, ôn hòa v..v…
- Tử Phủ Vũ Tướng thì có phần bệ vệ v..v…
Kiếp Không thì đen tái, mà đắc địa thì đen bóng…
Các sao khác cũng chỉ là luận tương đối mà thôi. Đó chỉ mới là làm một phần công việc chủ quan, phóng cái nhìn từ lá số trở ra. Gặp nhiều trường hợp đúng thì liền vội vã tin tưởng cực đoan, cho rằng Tử Vi là cái máy, cái khuôn đúc, không xét đến công dụng, giá trị thực của Tử Vi.
Tử Vi và Lý Học Tương Quan.
Sau khi làm một phần công việc chủ quan, tương đối, phải nhận định thêm một cách khách quan.
Đó là: “Phải xét hình tướng, rồi sẽ tìm sao trong cung Mệnh, xem nó liên hệ cùng sao nào mà ấn định” ( KHHB K1, trang 26 bài của cụ Đông Nam Á)
Xưa nay có rất nhiều người trùng ngày giờ sinh. Có hằng tá người tướng dạng, cuộc đời, vận hạn khác nhau. Dù tính theo Diễn Cẩm Tam Thế, dù áp dụng Khoa Bát Tự, dù tính theo Tử Vi, tăng số sao từ 108 vị lên đến 216 vị, thì quanh quẩn vẫn chỉ dựa vào mấy yếu tố hạn chế là: Nam, Nữ, Năm Tháng Ngày Giờ sinh, và chỉ lập được đến mức tối đa là trên năm trăm ngàn lá số như tôi đã từng chứng minh.
Tử Vi quyết không phải là cái máy. Mỗi lá số Tử Vi không phải là nhãn hiệu độc quyền của một người. Phương pháp Tử Vi không phải là chỉ luận chủ quan một chiều đi thẳng một đường từ cái Chủ Để là lá số, mà luôn luôn phải luận kèm với các yếu tố tương quan, để đạt đến đáp số là Tổng hợp đề.
Nhìn vào lá số để luận tương đối về tướng dạng. Và cũng phải xét hình tướng, rồi sẽ tìm (các vị) sao trong cung Mệnh xem nó ( đương số ) liên hệ cùng sao nào mà ấn định.
Việc làm này rất cần thiết vì khi luận về vận hạn, luôn luôn phải xét xem các bộ sao ở Mệnh Viên và ở cung Đại Hạn kết hợp với nhau ra sao thành những bộ cát hung nào.
Thầy Tử Vi kén rể, gặp anh chàng có ngày giờ sinh giống như Triệu Khuông Dẫn (vua Thái Tổ nhà Tống) thế mà rồi anh chàng ấy cũng chẳng ra quái gì. Chỉ vì tướng của hắn ta “ăn” vào sao Kình Dương hãm. Câu chuyện này cụ Đông Nam Á đã kể trong tuần báo Số Mạng. Tôi tiếc là không nhớ rõ chi tiết câu chuyện và báo số mấy.
Nếu có người cho rằng Cụ viết như vậy để đề cao ngành Tướng Số của Cụ, nếu chỉ vì Cụ viết nhiều về Tướng Số, viết ít về Tử-Vi, mà rồi những tài liệu đứng đắn của Cụ về “Cách Áp Dụng” Tử-Vi, chưa lôi cuốn được nhiều sự chú ý, thì đó quả là một điều đáng tiếc lớn lao.
Tôi không viết để quảng cáo cho Cụ Đông-Nam-Á. Từ lúc viết bài trong tuần báo S.M. Cho đến khi viết bài trong Giai Phẩm KHHB, tôi luôn luôn bận rộn với công việc ở Nha Trang, chưa có dịp về Sài gòn trao đổi ý kiến với Cụ. Tôi chỉ muốn góp nhặt tài liệu để làm sáng tỏ rằng Tử-Vi không phải là cái khuôn đúc, mà là Lý-Học Tương –Quan.
Vai trò của mỗi lá số Tử Vi không phải là một cái phù hiệu độc quyền, gắn chặt vào trái tim, vào bộ sương sống, hoặc là đứng ngay trong lòng một người nào. Vai trò của lá số Tử-Vi là một phép tính xác xuất, một bài toán Tương-Quan đứng bên ngoài, đứng khoảng giữa con người và vũ trụ vạn vật xung quanh. Luận về nghề nghiệp sinh hoạt, sự nghiệp… thì cũng phải xét đến các tương quan xã hội, có khi cũng cần xét đến tương quan gia tộc (cùng là lá số về thủ công nghệ con ông thợ may, con ông thợ thêu có thể tiếp tục nghề thêu…)
Có một vị xem Tử Vi chủ trương rằng mỗi lá số Tử Vi là một cái máy, một cái khuôn đúc, đóng khung chặt chẽ từng tiểu tiết nghề nghiệp. Trớ trêu thay, chính cuộc đời vị ấy đã trải qua không biết bao nhiêu nghề, có khi cùng một lúc làm hai nghề khác nhau, nghề phụ lại có lộc nhiều hơn nghề chính thức ghi trên giấy tờ.
Tôi có trình bày chi tiết hơn trong bài “Tử Vi đúng được bao nhiêu phần trăm”. Bài ấy có hơi dài, đăng trong giai phẩm KHHB thì bất tiện, vì vậy tôi đã gửi về để đăng trong Lịch Sách Tử Vi- Văn Nghệ Tiền Phong 1974 Giáp Dần.
Ở đây tôi chỉ xin tóm lược để quý bạn mới nhập môn Tử vi lưu ý không nên coi thường việc tìm hiểu giá trị thực và những “Cách Áp Dụng” đứng đắn của Khoa Tử vi, trước khi bắt tay vào việc nghiên cứu chi tiết. Nếu không bỏ ra chút ít thì giờ suy ngẫm về giá trị thực, về công dụng cũng như những “Cách Áp Dụng” đứng đắn của khoa Tư ci, nếu cứ hiểu lầm rằng Tử vi là cái máy, là cái khuôn đúc hoặc chỉ theo ý thích riêng, theo tin tưởng cực đoan, hoặc vội vã theo trào lưu, hấp tấp đi vào chi tiết thì sẽ vấp phải nhiều mâu thuẫn, nhiều lúng túng khi nghiên cứu một lá số.
2- Vô tình tạo thêm sự rắc rối vì không chú ý đến các vòng Sao
Trước một lá số chằng chịt những trên một trăm vị Sao, người mới nhập môn không khỏi thấy hoa mắt.
Để có một cái nhìn bình tĩnh mạch lạc trước khu rừng trên một trăm vị Sao, người nghiên cứu cần ghi nhận đặc tính của ba vòng “Sao”. Vòng Lộc Tồn- Vòng Tràng Sinh – Vòng Thái Tuế.
Mỗi vòng có 12 ngôi luân lưu theo một thứ tự không thay dổi. Do đó một ngôi chính, luôn luôn có một ngôi đối xứng và hai ngôi tam hợp không thay đổi.
Nhìn vào cung chính, thấy Lộc Tồn, nếu đã nhớ quen thứ tự vòng “ Sao” thì biết ngay là có Tướng Quân và Bệnh phù hợp chiếu, có Phi Liêm đối chiếu. Đó là một trật tự tất nhiên, không bao giờ thay đổi. Nếu luận rằng: “có Lộc Tồn lại được Tướng Quân hợp chiếu…” thì đó chỉ là luận thừa, tự mình rối mắt nhìn quanh, chẳng khác nào người chóng mặt nhìn thấy hai ba cái bóng của chính mình. Nếu luận rằng đã có “Lộc Tồn lại có Phi Liêm Bệnh Phù xung và hợp chiếu” thì chẳng khác nào luận rằng “ Đã có cái đầu lại có hai cái tay…” Lộc Tồn bao giờ chẳng có Phi Liêm Bệnh Phù chiếu? Nếu luận là đã có Lộc Tồn thì có Lộc, gặp Phi Liêm chiếu thì coi chừng khẩu thiệt, gặp Bệnh Phù thì coi chừng đau ốm, mà ngẫu nhiên có đúng thì cũng chỉ là chuyện gặp may, chứ chẳng phải là một cái nhìn mạch lạc, chẳng có giá trị Lý Học, Khoa Học nào trong đó cả.
Trong những trường hợp có thêm trợ tinh khác thì mới lưu ý thêm đến cung Tam hợp. Thí dụ: cung chính có Thiên Tướng, Lộc Tồn. Lộc Tồn đương nhiên có Tướng Quân chiếu. Nhưng ở đây Tướng Quân đã gặp Thiên Tướng để thành bộ lưỡng tướng, lúc ấy mới nên xét thêm đến ngôi Tướng Quân. Chẳng khác nào “ Đã có cái đầu, lại có hai tay” nhưng trong trường hợp sau này thì cái tay được võ trang, trang bị thêm, đây mới là trường hợp đáng cứu xét.
Cũng như cung chính đã có Phi Liêm, thì đương nhiên đối cung phải là Lộc Tồn, tam hợp phải là Thanh Long, Phục binh.
Nếu luận rằng đã có Phi Liêm lại gặp Phục Binh, thì chỉ là do cái nhìn rối mắt mà ra. Bao giờ nó chẳng gặp nhau. Nếu Phục Binh có gặp Đẩu quân thành bộ Phục Đẩu thì mới đáng để ý, còn không thì thôi.
Nhìn vào cung chính thấy có Phi Liêm thì coi chừng khẩu thiệt. Lại nói “may được Lộc Tồn cứu giải” thì là luận thừa. Phi Liêm bao giờ chẳng có Lộc Tồn đối chiếu. Nếu có gặp Hóa Lộc thành bộ Song Lộc thì mới đáng kể. (Song Lộc cũng cứu giải).
Khi có nhận định, ghi nhớ, thứ tự của 12 ngôi trong mỗi vòng thì mới tránh được trường hợp vì hoa mắt mà “thả mồi, bắt bóng”.
Thấy có Bệnh phù ở cung chính thì nhớ mang máng là chủ đau ốm, bệnh hoạn, v..v.. không xét đến “Ý nghĩa” Lý Học của ngôi Bệnh Phù trong vòng Lộc Tồn, hoặc là không ưa nghe cái tên Bệnh Phù mơ hồ xấu xí, hoặc là lại dối lòng, cho rằng đó là “ Sao Nhỏ” bỏ đi, gắn cái nhìn của mình vào Thanh Long ở đối cung chiếu vì cái tên Thanh Long nghe hấp dẫn hơn, dễ hiểu hơn.
Vòng Thái Tuế cũng vậy, cũng có những thứ tự cố định của các ngôi. Người nghiên cứu cần thuộc lòng thứ tự các ngôi của ba vòng Lộc Tồn- Tràng Sinh-Thái Tuế, để đỡ hoa mắt luận thừa, mệt trí mà không đem lại cái nhìn sáng suốt hơn. Thí dụ như thấy có Thái Tuế ở cung chính, liếc mắt thấy Tuế Phá ở đối cung liền giật mình, bảo là có Lưỡng Tuế thì hại lắm. Lại hoảng hốt thêm khi thấy có Quan Phủ, Bạch Hổ hợp chiếu. Đó chỉ là do rối mắt, hoa mắt mà ra. Thái Tuế bao giờ chẳng có Tuế Phá, Quan Phù, Bạch Hổ xung hợp chiếu. Đó là trật tự tất nhiên của 12 ngôi trong vòng Thái Tuế. Trừ phi ngôi Quan Phù hoặc Bạch Hổ có gặp thêm sao khác, hợp thành bộ khác ( như Diêu Hổ chẳng hạn) lúc ấy mới cần xét thêm sau….
Vòng Tràng Sinh cũng vậy. Cứ tìm hiểu ý nghĩa của ngôi Tràng Sinh tại Mệnh viên là đủ. Nói rằng Mệnh có Sinh Vượng chỉ là một cách phát biểu thiên lệch, đề cao cái tốt theo thiện cảm của mình, làm cho ý nghĩ bị lệch lạc. Thích người ta thì nói rằng “Mệnh có Sinh Vượng” Không thích người ta, thì sẽ nói rằng Mệnh có “ Sinh Bệnh” hay sao? Đến khi ghét người ta thì sẽ nói là Mệnh có “ Sinh Mộ”, rồi đến khi trù ẻo người ta, thì sẽ nói là Mệnh có “Sinh Mộ” và bị Tuyệt nhị hợp hay sao? Vì không nhớ rõ 12 ngôi trật tự trong một vòng, cho nên dễ bị hoa mắt, đến khi có ác cảm với một lá số thì lại nói là “Mệnh đã có Mộc Dục lại còn bị sao Tử Tuyệt chiếu”!.
Ghi nhớ trật tự tất nhiên của 12 ngôi trong mỗi vòng, người nghiên cứu sẽ đỡ hoa mắt, đỡ luận thừa
3- Góp ý kiến với ông Cao Trung về vòng Tràng Sinh
Kể đến giai phẩm KHHB – EI, thì loạt bài của ông Cao Trung và quan niệm của tôi về vòng Tràng Sinh không có gì trái ngược nhau, tuy nhiên, tôi cũng xin được góp thêm một vài điều nhận xét.
Cùng một Ông Tổ là Dịch lý mà cái học về Tử Vi và Bốc Dịch là cái học về Phần Động, về phần Tương Quan, còn cái học về Địa Lý là cái học về phần Tĩnh. Các thế đất đã cố định, không di động, không thể đem khu đất ở Sài gòn để ráp với khu đất ở Huế. Trong khi đó hai người cùng ngày giờ sinh vẫn có những người hôn phối khác tuổi nhau. Luận về một Quẻ Dịch cũng phải xét đến các yếu tố Tương Quan.
Tuy cùng một Ông Tổ là Dịch lý nhưng Tử Vi và Địa Lý đã đi vào hai “chi” khác nhau và phải có một số nguyên tắc khác nhau. Cũng như từ một thân mình mọc ra, mà chân thì để đi đứng, còn tay thì để làm việc. Tuy rằng chân và tay có một số trường hợp giúp ích cho nhau, nhưng nguyên tắc hoạt động của chân và của tay phải khác nhau.
Không thể đem Vòng Tràng Sinh của Địa Lý để gán ghép cho Tử Vi.
Trong cái học về Tĩnh, lấy Mộ hướng làm chuẩn để dịch các hướng khác, thì trong cái học về Động, về Tương Quan, lại lấy Sinh làm gốc để khởi các hướng khác.
Vì vậy trong Quẻ Dịch, dù Dụng Thần là Hào Âm hay Hào Dương cũng vẫn tính Tràng Sinh ở Dần, Thân, Tỵ, Hợi.
Tử Vi và Bốc Dịch đã có liên hệ khăng khít như tay phải và tay trái.
Học giả Huỳnh Kim đã để lại một bài phú bồi đắp quan trọng cho Khoa Tử Vi.
Những câu:
- Khốc Hư Tý Ngọc, tiền bần hậu phú.
- Mã ngộ Tràng Sinh, thanh vân đắc lộ.
- Lương phùng Hao Sát tại Tỵ cung đao nghiệp hình thương v..v..v
Và còn rất nhiều câu khác, đặt thành vần, thành vế đối, đều là của Huỳnh Kim. Tiếc rằng, các nhà soạn sách Tử Vi sau này đã tách rời các câu trong bài phú ấy, để đặt thành hệ thống có vẻ Khoa Học Tây Phương, hoặc là vì thành kiến, đã dẹp cái tên Huỳnh Kinh đi, để suy tôn Trần Đoàn lên ngôi độc đáo mà vô tình các nhà nghiên cứu sau này, không mấy ai nhận ra được câu nào là của Trần Đoàn, câu phú nào là của Huỳnh Kim. Có khi đọc xong một câu phú Huỳnh Kim lại rung đùi ca tụng … Trần Đoàn! Chính vì thế mà trước những tài liệu Tử Vi bằng chữ Hán (hoặc chữ Nho viết tay) dù là từ Đài Loan, từ Hồng Kông, tại Việt nam, hay dù được giới thiệu rằng đó đó là tài liệu chân truyền, bí truyền từ nhiều đời trước tôi vẫn thận trọng tra cứu, so sánh và thấy có xen lẫn lắm cái “ngớ ngẩn” như tôi đã trình bày trong KHHB E1.
Một bài phú quan trọng cho Quẻ Dịch, và một bài phú bồi đắp lớn lao cho Tử Vi, đều cùng do một học giải để lại, thì chúng ta có thể tin rằng hai khoa này phải có liên hệ mật thiết về Lý Thuyết, không có cái gì mâu thuẫn giữa hai khoa này.
Tử Vi và Bốc Dịch đều cùng có lý thuyết “ Tuyệt xứ phùng sinh” mà dù là cách áp dụng có hơi khác nhau. Tôi đã theo lời dẫn của các cụ, đem câu “ Sinh Vượng..không rõ Mộ Tuyệt- Mộ Tuyệt … (chở) Sinh Vượng phá một tắc khai v.v…
“Áp dụng” vào Tử Vi thì thấy cũng đúng. Có lẽ vì người xưa phần nhiều học truyền khẩu, đinh ninh rằng người đi sau đều hiểu được quan điểm của người đi trước, cho nên đã không đặt thành vấn đề ghi chép tỷ mỉ vào trong sách vở Tử Vi.
Vòng Tràng Sinh trong Tử Vi là vòng Cục, vòng Nhập Cuộc, vòng Nhân Sự. Vòng này không phải là các “Sao Nhỏ” mà nên chiêm nghiệm toàn vòng, mỗi ngôi là một phương diện, một hướng của cái “vòng” Nhất Thế ấy”. Vòng này quan trọng đến nỗi, trong tất cả các lá số xưa mà tôi sưu tầm được (tôi lại vừa may mắn gặp được thêm một lá số lập thành cách đây 67 năm) cổ nhân đều viết riêng bằng chữ to, chứ không viết lẫn lộn với các sao khác.
Muốn chiêm nghiệm về các Ngôi trong vòng Cuộc, thì chiêm nghiệm theo cái “ý Nghĩa” của toàn vòng, chứ không nên tách rời thành từng “Ông Sao Nhỏ” như thấy sao Thai ngộ Đào Hoa, sao Mộc Dục gặp Hoa Cái, sao Dưỡng v.v… trong một số trường hợp ngẫu nhiên … rồi hoang mang không nhận định được ý nghĩa của vòng Cuộc.
Mệnh dù là danh nhân, lá số dù đứng vào thượng cách, mà lại ở vào phương Tuyệt của vòng cuộc (không nên tách ra coi riêng một ông Sao Tuyệt) thì về phương diện Nhân Sự, khi lao mình nhập cuộc sẽ có lắm điều trái lòng, thất vọng, thêm hung tinh trợ lực nữa thì có khi là tuyệt vọng, (ở trong phạm vi của danh nhân, của thượng cách).
Tuyệt đài sinh (chờ sinh). Chờ đến đại hạn ở Sinh hướng (Tràng Sinh) thì phần nhập cuộc có triển vọng thỏai mái hơn. Tôi xin nói là có triển vọng, vì vòng cuộc mới chỉ là một trong ba nhóm sao, biểu tượng của Thiên – Nhân – Địa và cũng còn thêm ảnh hưởng trợ lực của các “Sao tổng quát khác (không có sao nào là “Sao Nhỏ’ cả). Nếu nó nhỏ và ảnh hưởng không đáng kể thì cổ nhân đã mất công tìm tòi khám phá làm gì?
Trong Địa Lý thì căn cứ vào “Thủy Tả đảo Hữu, hoặc Thủy Hữu đảo Tả” mà định Âm, Dương cho cuộc đất. Đây là phần Tĩnh, lấy Mộ hướng làm chuẩn.
Trong Tư Vi và Bốc Dịch thì vòng Cục đã có một ý nghĩa khác, để xem về Tương Quan, về phần Động, về Nhân sự, Nhập Cuộc v..v…
Tuy cùng một ông Tổ là Dịch Lý nhưng Tử Vi và Địa Lý đã đi vào hai “chi” khác nhau. Ở gốc thì là một, nhưng ở ngọn thì là hai. Không thể vì quá thích thú, say mê Địa Lý mà đem cái Âm Cục, Dương Cục của Đại Lý vào trong Tử - Vi. Vả lại, khoa Địa Lý không phải là một khoa duy nhất đã phát sinh ra vòng Tràng Sinh “cho” Lý Học Đông Phương.
Như trên đã trình bày, cùng một học giả Huỳnh Kim đã xây dựng quan trọng cho Quẻ Dịch, đã bồi đắp lớn lao cho Tử Vi thì quan niệm về vòng Tràng Sinh của Tử - Vi và của Bốc Dịch phải gần nhau mật thiết hơn.
Vòng Tràng sinh trong Tử vi cũng rất quan trọng và người xưa đã viết riêng, viết bằng chữ to, chứ không để lẫn lộn với các sao khác. Muốn chiêm nghiệm vòng này thì nên chiêm nghiệm theo cái “Ý nghĩa” của toàn vòng, chứ không phải cắt ra từng “Ông Sao” nhỏ như Tử, Tuyệt, Mộc Dục, Thai v…v… Cái việc Thai ngộ Đào Hoa, Mộc phùng Hoa Cái v,v… chỉ là sự kết hợp phụ của vòng Cục với một vài sao khác. Đó không phải là ảnh hưởng chính yếu của vòng Cục, một trong ba vòng quan trọng của Tử vi.
Tôi xin mạo muội góp thêm một vài nhận xét với ông Cao Trung về vòng Tràng Sinh.
Bài này đã khá dài, tôi xin hẹn lại kỳ tới, sẽ bàn về Mệnh Chủ, Thân Chủ, Thiên Trù, Lưu Niên Văn Tinh.
Theo Tạp Chí Khoa Học Huyền Bí
Tuổi Dậu
Những người tuổi Dậu rất giỏi vượt qua thử thách trong cuộc sống, cách cư xử khéo léo. Họ hiểu rõ khả năng của mình, nói chuyện tuy nhanh nhưng đều là khẩu xà tâm phật, bụng dạ không xấu; làm việc nên cẩn trọng hơn, của cải không ít, lợi nhuận thu được nhiều hơn những gì bỏ ra. Ba đến năm năm tới là thời kỳ đỉnh cao trong sự nghiệp của những người tuổi Dậu, nữ tuổi Dậu rất mạnh mẽ, nếu có thể nắm được ngày Tam hợp trong số mệnh thì nhất định tương lai sẽ tươi sáng. Hai năm sau những người tuổi Dậu sẽ có chuyện vui trong gia đình, không phải chuyện cưới hỏi thì là chuyện con cái. Hạnh phúc trong cuộc sống cũng chỉ cần như vậy mà thôi.

Tuổi Tỵ
Trong vòng 3 năm tới, những ai cầm tinh con Rắn có thể yên tâm vui sống, vô sầu vô ưu, trút được gánh nặng về tiền bạc hay chức tước đè nén trên đôi vai bấy lâu.
Thần Tài sẽ gõ cửa nhà bạn bất cứ lúc nào, hãy chuẩn bị tâm lí sẵn sàng đón nhận những niềm vui tột cùng trong cuộc sống. Mọi ước muốn của bạn đều có cơ hội trở thành hiện thực khi thiên thời, địa lợi và bản thân nỗ lực không ngừng.
Nếu nói người tuổi Tỵ không thăng quan tiến chức cũng phát tài phát lộctrong vòng 3 năm tới cũng không hề quá phô trương.
Tuổi Mùi
Người tuổi Mùi rất biết cách kiếm tiền. Trong lĩnh vực tài chính, họ có năng lực đặc biệt, vô cùng nhạy bén, thông minh. Họ có thể tìm thấy cơ hội tốt lành cho mình ngay cả trong tình huống cấp bách, đầy khó khăn. Người khác có thể không nhìn thấy cơ hội ngàn vàng đó, nhưng với người tuổi Mùi thì không gì không thể.
Số mệnh giàu sang của người tuổi Mùi có tới 6 phần. Tuy nhiên, không vì thế mà họ dễ dàng kiếm được món tiền khổng lồ đâu nhé. Bởi phần lớn số tiền họ kiếm được đều dựa trên khả năng thực có của mình. Họ cũng phải trải qua bao gian nan, vất vả mới có được thành công đỉnh cao đó.
3 năm trước mắt là khoảng thời gian người tuổi Mùi phát triển vô cùng mạnh mẽ, tiền bạc sẽ đổ về như nước.
Tuổi Hợi
Những người tuổi Hợi là những người giàu sang phú quý, hơn ai hết họ biết nắm bắt số phận của mình trong tay. Một điều đáng ngạc nhiêu là 80% sự giàu có của người tuổi Hợi không phải do số phận mà do những lỗ lực của họ đạt được.
Những người tuổi Hợi sinh ra là để chinh phục thử thách và họ bị cuốn hút bởi những khát vọng lớn mà họ đặt ra.
Đối với họ, giàu có chỉ là vấn đề thời gian.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
các công trình phụ. Các hoá phẩm dùng để tẩy rửa, lau chùi đồ dùng trong bếp và nhà tắm chia làm hai loại: loại có bột nhám và loại không có bột nhám (bột nhám thường là cát mịn), thạch cao tán nhỏ, phấn, bột đá bọt.

Hoá phẩm tẩy rửa có bột nhám ngoài bột giặt là thành phần chủ yếu, còn có thêm sôđa, chất khử trùng và chất thơm. Hoá phẩm có bột nhám dạng kem ngoài các chất có hoạt tính bề mặt còn cho thêm glycerin, etylenglyco, có tác dụng giúp kem không bị khô và bảo vệ da tay.
Hoá phẩm tẩy rửa có bột nhám giúp việc lau chùi các vết bẩn mau sạch, song hay để lại các vết xước nhỏ, do vậy không nên dùng loại này thường xuyên, mà chỉ dùng để đánh sạch các vết dơ bám lâu ngày. Đối với các đồ dùng như nhôm bóng, ly, chén, đồ pha lê, thuỷ tinh không nên dùng chất tẩy rửa có bột nhám.
Hoá phẩm tẩy rửa không có bột nhám có thể ở dạng kem hoặc lỏng. Hoạt chất chủ yếu trong thành phần là các chất hoạt tính bề mặt, sôđa, chất thơm. Ngoài ra, dạng kem và lỏng còn có dung môi hữu cơ, cồn etylic và một ố chất phụ gia khác, đôi khi còn thêm chất tẩy trùng.
Nếu hệ thống các công trình phụ lâu ngày không được tẩy rửa, thì rất khó lau sạch các vết bẩn. Trong trường hợp này phải sử dụng phương tiện tẩy rửa có bột nhám. Cách làm rất đơn giản: dùng miếng xốp mềm hoặc giẻ ướt có tẩm bột hoặc kem tẩy rửa lau đều trên bề mặt lavabô, bồn tắm, gạch lát nền, bồn cầu để 15 phút rồi dùng giẻ thấm nước sạch lau hai lần và rửa lại bằng nước, sau đó lau khô.
Trong một tháng, bồn tắm, lavabô cần được rửa và khử trùng bằng dung dịch cloramin hai lần. Cách làm như sau: Hoà tan cloramin và nước theo tỉ lệ 1/10 rồi dùng giẻ ngâm vào dung dịch cloramin và lau trên hết các bề mặt bồn tắm lavabô, gạch lát nền.
Sau 15 phút rửa sạch bằng nước (nên làm 2 lần).
Tường ốp gạch đá hoa nếu bị bẩn nên rửa bằng xà bông và nước ấm.
Hoá phẩm chuyên dùng cho bồn cầu không nên dùng cho lavabô, bồn tắm, bởi có axit mạnh, dễ làm hư lớp men mỏng của bồn tắm, lavabô.
Do hơi nước và cả oxy đường cống hoặc các chi tiết sản xuất từ gang bị oxy hoá tạo ra lớp gỉ sét. Các màng gỉ sét theo nước trôi vào bồn tắm, lavabô tạo thành vết rỉ màu nâu nhạt. Để tẩy sạch các vết rỉ nâu vàng trên bề mặt men trắng, nên dùng axit osatic và axít nitric. Các axit này tác động với ôxit sắt tạo ra muối không màu hoà tan trong nước.
Cần lưu ý, một tháng chỉ nên tẩy lớp gỉ sét bám trên men hai lần, vì nếu làm nhiều lần, axit sẽ làm tan dần lớp men.
Trên bề mặt bồn cầu thường có cặn lắng do nước tiểu, muôi, gỉ sét và cặn hữu cơ. Các loại cặn này không thể tẩy sạch bằng xà bông hay bột giặt bình thường, mà cần đến chất tẩy rửa chuyên dụng cho bồn cầu, ngoài tác dụng tẩy sạch cặn bám kể trên, còn có chất khử trùng.
Chất tẩy rửa chuyên dùng loại này thường có axit sulphamin, axit asalic và một vài axit khác, ngoài ra còn có thêm bột nhám, các chất hoạt động bề mặt… Cách làm như sau: Nhúng giẻ vào nước có pha bột hoặc kem, hay nước rửa chuyên dùng rồi đánh đều lên bề mặt bồn cầu. Để 15 phút cho dung dịch ngấm rồi dùng bàn chải vừa đánh vừa dội sạch.
Đốì với các đường Ống dẫn nước và tiêu nước thường bị tắc do rác và các chất thải vón cục. Thông thường người ta hay dùng các biện pháp cơ học như dùng que sắt, bơm nén, hoặc tháo gỡ đoạn đường ống ra để xử lý.
Để thay cách làm vất vả như trên, có thể sử dụng hoá phẩm chuyên dùng khử các vật làm tắc đường ống.
1. Trán đầy đặn
Chàng trai có trán đầy đặn, cân xứng, sáng bóng thường tràn trề tinh lực, tư duy hoạt bát, con đường làm quan rộng mở. Nếu kết hợp với cằm vuông vắn nữa thì phú quý song hành, đường phát tài rõ ràng, sự nghiệp tươi sáng, tham vọng cao, vận may liên tiếp.
2. Mắt sáng
Ánh mắt là cửa sổ tâm hồn, ánh mắt trong suốt, có thần thì tinh thần hăng hái, làm việc có chủ kiến, có ý chí. Chàng ít nói, nhưng mỗi lời nói đều âm vang có lực, biểu đạt trực tiếp suy nghĩ, hành động chuẩn xác, nhanh gọn, gặp khó khăn không hoảng loạn. Sự nghiệp và gia đình của chàng tương đối thành công.
![]() |
| Ảnh minh hoạ. |
3. Đôi tai ép sát vào đầu
Đôi tai đầy đặn, hồng hào, dái tai như ngọc, tai ép sát vào đầu được xem là tướng tai tốt, thường có thành tựu cao, tâm hồn lương thiện, đáng tin cậy, đáng để cưới làm chồng.
4. Mũi dầy đầy đặn
Mũi được xem là tài vận. Mũi không đầy đặn, 2 cánh mũi không nâng lên thì nguồn tài vận sẽ thiếu hụt. Sống mũi cao, cánh mũi có thịt, lông mũi không lộ ra ngoài thì tài vận sẽ dồi dào, chàng trai có tướng mũi như vậy thì sự nghiệp nhất định có thành tựu, thậm chí còn là người chồng tốt của gia đình.
5. Miệng như thác chảy
Miệng vuông vắn, môi dày, góc cạnh rõ ràng, hồng hào như ngọc, chàng làm việc có nguyên tắc, nổi trội ở nhiều lĩnh vực, đặc biệt là cương vị lãnh đạo. Chàng có thể biểu hiện tốt trước đám đông, nhận được sự ngưỡng mộ, lời khen ngợi của mọi người. Chàng coi trọng tình cảm, là kiểu đàn ông tốt khó tìm.
6. Cằm vuông tròn
Cằm tròn mượt, dày có thịt, vuông nhưng không góc, tròn nhưng không trĩu, không nếp gấp, được xem là tướng cằm lý tưởng. Chàng trai có cằm dài coi trọng gia đình, thích cảm giác quây quần bên gia đình, có ý thức trách nhiệm. Chàng trai có cằm đầy đặn, tròn trịa hồng hào, biểu thị sự tùy hứng, nhân hậu, phát đạt, khỏe mạnh, là kiểu đàn ông tốt của gia đình hạnh phúc, hoàn mỹ.
Chocopie (theo QQ)
1. Thay đổi luân phiên tốc độ quạt trần
Để luồng không khí được lưu thông nhanh, đều hơn và tạo ra gió mát trong nhà, việc thay đổi tốc độ nhanh hay chậm của quạt là điều đơn giản nhất bạn có thể làm được. Trong trường hợp nhà bạn chỉ có quạt cây, hãy bật nó sang chế độ xoay để khí nóng được thổi bớt ra bên ngoài.

Chỉ cần thay đổi tốc độ nhanh hay chậm của quạt trần là không khí trong
nhà đã có thể lưu thông tốt hơn
2. Tránh ánh sáng lọt vào nhà
Để ánh sáng chói loá của những ngày hè không "thiêu đốt" các thành viên trong nhà, bạn nên đóng cửa sổ hoặc kéo kín rèm che. Trông đơn giản vậy thôi nhưng với phương pháp này, bạn có thể giúp ngôi nhà giảm nhiệt độ bên trong xuống gần 10 độ so với thông thường.
3. Chế quạt phun sương "made by bạn"
Nếu chưa thể mua một chiếc quạt phun sương, không sao, bạn có thể đặt ngay một chậu đá ngay phía trước chiếc quạt cây thông thường. Điểm lưu ý duy nhất là nên đặt chậu đá nghiêng để gió từ quạt có thể thổi trực tiếp vào đá lạnh. Khi đá băng và gió có sự va chạm với nhau, hơi nước mát sẽ được tạo ra và hạ nhiệt ngay tức khắc cho căn phòng.

Quạt phun sương tự chế, hiệu quả mà vô cùng tiết kiệm
4. Mở cửa phòng
Khi nhiệt độ bên ngoài hạ xuống, đừng tiếp tục nhốt mình trong 4 bức tường chật chội mà hãy mở thông mọi cửa trong nhà để luồng gió bên ngoài có thể thông suốt giữa các phòng. Không khí trong nhà sẽ đỡ bí bách và khó chịu hơn rất nhiều.
5. Ngủ một mình
Điều này có thể khiến đối tác của bạn không vui nhưng ôm ấp vào thời tiết oi bức như thế này thật sự là dễ toát mồ hôi lắm!
6. Chuẩn bị chiếc giường mát
Thay vì đệm bông, bạn chỉ cần trải chiếu điều hoà hoặc chiếu mát và phun nước mát hoặc lau khăn lạnh lên mặt chiếu trước lúc đi ngủ là có thể yên tâm sẽ có một đêm ngon giấc rồi.
7. Hạn chế dùng các đồ điện
Đơn giả, vì chúng sẽ toả nhiệt trong quá trình sử dụng. Vào những ngày nhiệt độ lên tới 40 độ, bạn nên hạn chế sử dụng lò vi sóng, tắt hết các loại đèn khi không thật sự cần thiết...bởi điều này chỉ khiến nhiệt độ nhà bạn tăng cao hơn mà thôi. Bên cạnh đó, nếu sử CFL cũng không ngốn nhiều tiền điện của gia đình bạn như chiếc bóng đèn sợi đốt quen thuộc.

Bật nhiều điện vào ngày hè chỉ khiến căn phòng của bạn tăng nhiệt thêm
8. Ngủ trên sàn nhà
Nếu nằm gần sàn nhà, bạn sẽ tránh được kha khá lượng không khí nóng vì chúng sẽ bốc hơi lên trần cao. Nếu nhà có trẻ con, bạn có thể mắc một chiếc võng gần sát với sàn nhà để có thể lưu thông không khí trong lúc đang ngủ cả trên lẫn dưới.

Những chiếc võng sẽ đưa vào giấc ngủ một cách dễ dàng hơn trong những đêm hè oi bức
Văn phòng tại gia còn phải chú ý một điều là ngành nghề và hướng ngồi cũng có quan hệ nhất định, ở đây chúng tôi xin nêu ra một số trường hợp để tham khảo.

– Ngành nghề thuộc Kim của Ngũ hành
Ngành trang sức, tiền vàng bạc, xe hơi, ngân hàng tiền tệ, cơ giới đào lấp, ký kết khai thác, luật sư, giám đốc, thể dục thể thao… nên ngồi Tây hướng Đông, ngồi Đông hướng Tây Bắc, ngồi Đông hướng Tây Bắc hướng Đông Nam.
– Ngành nghề thuộc Mộc của Ngũ hành
Văn hoá xuất bản, tạp chí báo giới, văn học nghệ thuật, biểu điễn, dụng phẩm văn thể, phụ đạo giáo dục, trồng hoa cây cảnh, rau xanh, vật liệu từ gỗ, đồ y tế, nhân viên y tế, nhân sỹ, tôn giáo, may đo, thiết kế thời trang, kế toán… nên ngồi Tây hướng Đông, ngồi Tây Bắc hướng Đông Nam, ngồi Đông Bắc hướng Tây Nam, ngồi Tây Nam hướng Đông Bắc.
Trong cuốn “Khổng Tử gia ngữ – Ngũ đế” có viết: “Trời có ngũ hành, Thủy, Hỏa, Kim, Mộc, Thổ. Chia thời hóa dục, để thành vạn vật”. Ngũ hành là từ để chỉ năm loại nguyên tố vật chất, tức Thủy (nước), Hỏa (lửa), Mộc (cây), Kim (kim loại), Thổ (đất). Các nhà âm dương theo chủ nghĩa duy vật chất phác (giản đơn) cổ đại Trung Quốc cho rằng, năm loại vật chất này là khởi nguồn và căn cứ để tạo nên vạn vật.

Thời kỳ Chiến Quốc, học thuyết ngũ hành tương sinh tương khắc (còn gọi là tương sinh tương thắng, ngũ hành sinh thũng) rất thịnh hành. Chủ nghĩa duy vật đơn giản cho rằng, một vật có tác dụng thúc đẩy một vật khác hoặc thúc đẩy lẫn nhau gọi là “tương sinh”, còn một vật có tác dụng ức chế một vật khác hoặc bài xích lẫn nhau gọi là “tương khắc” (cũng gọi là tương thắng).
Ngũ hành tương sinh có: Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc.
Ngũ hành tương khắc có: Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim, Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy.
Cuốn “Thuyết văn – Bộ Ngũ” của Đoàn Ngọc Tài có phê chú: “Thủy Hỏa Kim Mộc Thổ, tương sinh tương khắc, âm dương giao ngọ dã”. Lý luận ngũ hành tương sinh tương khắc bao hàm các nhân tố của chủ nghĩa duy vật chất phác và phép biện chứng, có tác dụng rất lớn đối với sự phát triển của thiên văn, lịch sử, y học Trung Quốc.
Đến nay, y học Trung Quốc vẫn lấy học thuyết ngũ hành để nói về thuộc tính của các tạng phủ và quan hệ tương hỗ của chúng. Ví dụ, Trung y cho rằng gan thuộc Mộc, tim thuộc Hỏa, tỳ thuộc Thổ, phổi thuộc Kim, thận thuộc Thủy…Ngoài ra, Trung y vẫn lấy lý luận ngũ hành tương sinh tương khắc trong lâm sàng để giải thích mối quan hệ hỗ trợ sinh trưởng và khắc chế nhau giữa các nội tạng. Ví dụ như gan có thể khắc chế tỳ, gọi là Mộc khắc Thổ; Tỳ có thể dưỡng phổi vì Thổ sinh Kim…Về phương diện điều trị, như bệnh gan phạm tỳ, thì áp dụng phương pháp điều trị ức chế gan, hỗ trợ tỳ, gọi là ức Mộc phù Thổ.
Tư tưởng của con người là sản phẩm của xã hội. Hình thái ý thức của xã hội không lúc nào ngừng khắc dấu ấn vào trong não người. Mà tư tưởng con người có quan hệ mật thiết với nhận thức về tự nhiên, xã hội. Sự thịnh hành của học thuyết âm dương ngũ hành khiến cho người ta ràng buộc vinh nhục, phúc họa trong cuộc đời vào ngũ hành sinh khắc.
Cho nên, khi đặt tên, đều hết sức mong cầu được âm dương điều hòa, cương nhu tương tế. Họ cho rằng như thế trong cuộc sống có thể gặp hung hóa cát, thuận buồm xuôi gió. Đây có lẽ là nguyên do mà mấy ngàn năm nay, mọi người vẫn luôn lấy lý luận ngũ hành làm căn cứ để đặt tên.
Đặt tên theo lý luận ngũ hành có lẽ bắt đầu từ thời Tần Hán. Khi đó, người ta chủ yếu đem phép đặt tên theo can chi từ thời Thương Ân lồng ghép với quan điểm ngũ hành để đặt tên. Ở thời đại Chu Tần, người ta ngoài cái “Tên” còn đặt thêm “Tự”. Do đó, chủ yếu phối hợp thiên can với ngũ hành, đặt ra “Tên” và “Tự”. Như công tử nước Sở tên là Nhâm Phu, tự là Tử Thiên Tân, tức là lấy Thủy phối hợp với Kim, tức là lấy Thủy sinh Kim, cương nhu tương trợ cho nhau.
Đến đời Tống, phép đặt tên theo ngũ hành càng trở nên thịnh hành. Tuy nhiên, thời đó có khiếm khuyết là không coi trọng bát tự, chỉ lấy ý nghĩa của ngũ hành tương sinh để đặt tên.
– Mộc sinh Hỏa: Tên cha thuộc Mộc thì tên con phải thuộc Hỏa.
– Hỏa sinh Thổ: Tên cha thuộc Hỏa thì tên con phải thuộc Thổ.
– Thổ sinh Kim: Tên cha thuộc Thổ thì tên con phải thuộc Kim.
– Kim sinh Thủy: Tên cha thuộc Kim thì tên con phải thuộc Thủy.
– Thủy sinh Mộc: Tên cha thuộc Thủy thì tên con phải thuộc Mộc.
Đến nay, trải qua ngàn năm ứng dụng, phương pháp đặt tên theo ngũ hành đã được hoàn thiện rất nhiều, phối hợp chặt chẽ với 81 linh số và giờ ngày tháng năm sinh…để đạt hiệu quả đặt tên ở mức cao nhất.
Lựa chọn tên cho con theo Ngũ Hành tương sinh như thế nào
Ngoài ý nghĩa lựa chọn tên theo ngũ hành, bạn có thể xem tuổi và bản mệnh của con để đặt tên cho phù hợp. Một cái tên hay và hợp tuổi, mệnh sẽ đem lại nhiều điều tốt đẹp cho con bạn trong suốt đường đời.

Đặt tên theo tuổi
Để đặt tên theo tuổi, bạn cần xem xét tuổi Tam Hợp với con bạn. Những con giáp hợp với nhau như sau:
* Thân – Tí – Thìn
* Tỵ – Dậu – Sửu
* Hợi – Mão – Mùi
* Dần – Ngọ – Tuất
Dựa trên những con giáp phù hợp bạn có thể chọn tên có ý nghĩa đẹp và gắn với con giáp Tam Hợp. Ngoài ra cần phải tránh Tứ Hành Xung:
* Tí – Dậu – Mão – Ngọ
* Thìn – Tuất – Sửu – Mùi
* Dần – Thân – Tỵ – Hợi
Đặt tên theo bản mệnh
Bản mệnh được xem xét dựa theo lá số tử vi và theo năm sinh, tùy theo bản mệnh của con bạn có thể đặt tên phù hợp theo nguyên tắc Ngũ Hành tương sinh tương khắc:
Dựa theo Tử Vi, các tuổi tương ứng sẽ như sau:
* Thìn, Tuất, Sửu, Mùi cung Thổ
* Dần, Mão cung Mộc
* Tỵ, Ngọ cung Hỏa
* Thân, Dậu cung Kim
* Tí, Hợi cung Thủy
Bạn có thể kết hợp theo từng năm sinh để lựa chọn tên theo bản mệnh phù hợp nhất, ví dụ:
* Canh Dần (2010), Tân Mão (2011): Tòng Bá Mộc (cây tòng, cây bá)
* Nhâm Thìn (2012), Quý Tỵ (2013): Trường Lưu Thủy (nước chảy dài)
* Giáp Ngọ (2014), Ất Mùi (2015): Sa Trung Kim (vàng trong cát)
* Bính Thân (2016), Đinh Dậu (2017): Sơn Hạ Hỏa (lửa dưới núi)
* Mậu Tuất (2018), Kỷ Hợi (2019): Bình Địa Mộc (cây mọc đất bằng)
Như vậy, nếu con bạn mệnh Mộc thì bạn có thể chọn tên liên quan tới Thủy (nước), Mộc (cây) hay Hỏa (lửa) để đặt tên cho con bởi Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa… Các tuổi khác cũng tương tự, dựa vào Ngũ Hành tương sinh, tránh tương khắc sẽ giúp mọi sự hạnh thông, vạn sự như ý.
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
Mộc Trà (theo Quizz)
![]() |
![]() |
Quan sát tướng mặt của người khó thành công, dễ thất bại
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
| => Chuyên trang Tử vi - ## gửi đến bạn đọc công cụ tra cứu Tử vi hàng ngày, Tử vi trọn đời chuẩn xác nhất |
Hiện tượng: Lưng ghế sôpha không có chỗ dựa, khí trường vô cùng không ổn định, rất dễ dẫn đến tinh thần bất an, công tác, học hành không chuyên tâm.

Phương pháp hóa giải:Phương thức hóa giải triệt để nhất là điều chỉnh vị trí ghê sôpha chỉnh sao cho lưng ghế dựa vào tường. Nếu trong trường hợp không thể dịch chuyển vị trí thì sau lưng ghế có thể đặt 36 đồng tiền cổ để tạo thành một tường khí giúp ổn định khí trường.
Cửa chính ngược với hành Kim
Hướng Tây và Tây Bắc thuộc hành Kim, là hướng không tốt cho người thuộc Đông tứ mệnh. Ngũ hành của Đông tứ mệnh lần lượt thuộc các hành Mộc, Thủy và Hỏa.
Nếu là hành Hỏa, do Hỏa khắc Kim nên ta có thể trực tiếp sử dụng màu sắc của hành Hỏa để khắc chế Kim. Màu sắc chủ yếu của hành Hỏa là đỏ, cam đậm... Những màu sắc này tương đối nóng, do vậy, tốt nhất là sơn ở giữa cửa màu đỏ hoặc cam, xung quanh thì sơn màu khác nhạt hơn.
|
|
| (Ảnh minh họa) |
Cửa chính ở hướng ngược với hành Mộc
Hướng Đông và Đông Nam thuộc hành Mộc nên kỵ với người Tây tứ mệnh. Ngũ hành của Tây tứ mệnh lần lượt là hành Kim và hành Thổ. Người thuộc hành Kim thì cửa chính nên đặt ở hướng của hành Mộc. Do Kim khắc Mộc nên có thể sử dụng màu sắc của hành Kim để trừ tà, đó là màu trắng, màu hạt dẻ.
Nếu chủ nhà thuộc hành Thổ, do Mộc khắc Thổ nên có thể dùng màu sắc của hành Kim để trang trí. Cửa chính ở hướng ngược với hành Thổ Tây Nam và Đông Bắc thuộc hành Thổ, cũng là hướng bất lợi cho Đông tứ mệnh thuộc hành Mộc. Do Mộc khắc Thổ nên có thể dùng màu sắc thuộc hành Mộc để sơn cửa, chủ yếu là màu xanh lá cây.Cửa chính ở hướng ngược với hành Thủy
Hướng Bắc là hành Thủy, cũng là hướng kỵ với Tây tứ mệnh. Kim sinh Thủy nên người thuộc hành Kim không nên dùng màu của hành này.
Thổ khắc Thủy, nên người thuộc hành Kim hay Thổ có thể dùng màu sắc của hành Thổ để khắc chế hành Thủy. Trong trường hợp này, có thể dùng màu vàng hoặc màu cọ.
Cửa chính ở hướng ngược với hành Hỏa
Hướng Nam thuộc hành Hỏa, cũng là hướng kỵ với Tây tứ mệnh. Hỏa khắc Kim, người thuộc hành Kim không thể dùng màu của hành Kim để khắc chế Hỏa. Nhưng do Hỏa sinh Thổ nên có thể dùng màu của hành Thổ để hóa giải tà khí.
Người thuộc hành Kim cũng có thể dùng hành Thổ để làm cho ngũ hành của mình hưng vượng. Nếu khó thay đổi màu sắc cho cửa, bạn có thể gắn lên cửa những bức tranh hoặc đặt tấm thảm màu sắc đặc biệt nhằm giảm bớt khí xấu.
(Theo Khai vận cho ngôi nhà theo phong thủy)
Phúc Đăng, Lư Trung dữ Sơn Đầu
Tam Hỏa nguyên lai phách Thủy lưu
Thiên Thượng, Tích , Sơn hạ Hỏa
Thủy trung nhất ngô cân vương hâu.
Sách Bác Vật Vựng Biên ghi: Giáp Thìn, Ất Tỵ, Tỵ là độ gốc lúc mặt trời lên đến đỉnh và sắp lẫn về Tây. Ánh chiều tà còn tung ra chiếu sáng vạn vật. Đồng thời cũng là lúc thiên hạ sửa soạn lên đèn. Phúc Đăng Hỏa là ánh lửa ban đêm khả dĩ chiếu sáng những nơi mà mặt trời mặt trăng không chiếu tới được, gọi khác đi bằng “Địa minh chi hỏa”.
Giữa ban ngày, ánh lửa đèn không thể thi triển quang huy. Bởi vậy, người mang nạp âm Phúc Đăng Hỏa hay “dạ minh chi hỏa” thường thích bóng tối không thích xuất đầu lộ diện, nhưng lại rất tài hoa, lúc cần đến thật được việc. Lúc bình thường, lúc chưa đắc thế sống âm thầm ẩn nặc. Khi gặp thời cơ như ánh đèn soi vào bóng tối.
Giáp Thìn thì Thìn thuộc Thổ, Hỏa sinh Thổ tính chất cương mãnh hơn, trong khi Ất Tỵ thì Tỵ là Hỏa đồng tính với Hỏa, sức mạnh không bằng Giáp Thìn. Sức mạnh ở đây nói về khí chất tinh thần để ứng phó với hung vận
Phong thủy Việt cũng xác định con người sống trong mối quan hệ đại vũ trụ - tiểu vũ trụ tương hòa, cho nên màu sắc, kích cỡ của đồ nội thất cần hài hòa với tổng thể ngôi nhà. Nguyên tắc chung là hướng đến các mối quan hệ tương sinh và tuyệt đối tránh tương khắc.
Nguyên tắc chung là hướng đến các mối quan hệ tương sinh và tuyệt đối tránh tương khắc.
ong thị trường tự chọn, hàng hoá đa số đều bày trước mắt khách hàng, khách hàng tiếp xúc với hàng hoá càng tự do, hơn nữa, khách hàng không nhất thiết phải thông qua sự giúp đỡ của nhân viên bán hàng mà có thể tự mình cầm xem hàng hoá.

Thực tế đã chứng minh rằng: Có thể để khách hàng tự do tiếp xúc với hàng hoá, có thể để khách hàng theo ý nguyện tự do của bản thân mà chọn hay bỏ hàng hoá thì có thể nâng cao doanh số của cửa hàng.
1. Hay nhổ nước bọt
Hay nhổ nước bọt lung tung chắc chắn là một thói quen xấu. Không chỉ mất vệ sinh mà nó còn ảnh hưởng đến sức khỏe. Những người hay nhổ nước bọt sẽ dễ mắc bệnh hơn bình thường.
2. Thường xuyên thay đổi kiểu tóc
Người hay thay đổi kiểu tóc thường nóng tính, tâm tính bất định, dễ kích động. Khi giao tiếp họ rất thẳng thắng, dễ vô tình làm ảnh hưởng tới người khác, không nhận được nhiều thiện cảm từ mọi người.
![]() |
3. Liên tục thay đổi trang sức
Nhiều người cho rằng đây không phải vấn đề gì to lớn, thích đeo cái gì liền đeo cái đó. Thật ra những món đồ trang sức mang theo sức mạnh tâm linh có ảnh hưởng đến vận khí của người mang nó. Nếu liên tục thay đổi trang sức có thể dễ bị phản vận khí, tiền tài cũng không ổn định, dễ xảy ra mất mát.
4. Liên tục thay đổi phòng ngủ
Phòng ngủ là nơi chúng ta nghỉ ngơi để phục hồi năng lượng sau một ngày dài, nếu cứ liên tục thay đổi phòng ngủ dễ khiến cảm xúc bị ảnh hưởng. Đặc biệt là về mặt tình cảm hôn nhân, bởi vì khí không ổn định cho nên sẽ ảnh hưởng đến sự giao tiếp thấu hiểu giữa hai người.
5. Liên tục di chuyển quầy thu ngân
Đối với người làm kinh doanh thì quầy thu ngân là một vật dụng quan trọng. Muốn xem phong thủy của một cửa hàng là tốt hay xấu thì ngoài hướng cửa ra thì còn phải chú ý đến phương vị của quầy thu ngân. Nếu quầy thu ngân bị động nhiều thì sẽ dễ loạn khí, ảnh hưởng đến tài vận.
![]() |
6. Liên tục dịch chuyển bể cá
Bể cá thuộc tính thủy, tác dụng của nước trong phong thủy nếu không phải đại cát sẽ là đại hung, bởi vậy nó rất quan trọng. Hơn nữa nước trong bể cá lại có tính lưu động, dễ gây ra đại hung.
Ngoài những thói quen trên, còn nhiều thói xấu khác cũng ảnh hưởng đến vận khí của chúng ta, bởi vậy nếu tật xấu nào có thể sửa đổi thì nên sửa đổi.
Kunie (theo astro)
| ► Xem bói ngày sinh để biết tình yêu, hôn nhân, vận mệnh, sự nghiệp của mình |
![]() |
| Ảnh minh họa |
![]() |
| Ảnh minh họa |
![]() |
![]() |
![]() |
Đây là quẻ Quan Âm thứ 76 được xây dựng trên điển cố: Chu Nguyên Chương khán ngưu hay Chu Nguyên Chương chăn trâu.
Quẻ trung bình thuộc cung Ngọ. Dù có được căn cơ tốt đẹp nhưng phải tĩnh lại để mà chời đợi thời cơ. Mưu tính và hành động phải căn cứ vào hoàn cảnh thực tế, nhất thiết không được liều lĩnh cố chấp nhất nhất theo ý chủ quan của mình.
Thử quái ngư long vị biến chi tượng. Phàm sự đãi thời chí khả dã.
“Hồng Vũ” là niên hiệu của Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương (1328 – 1398), ờ đây chỉ Chu Nguyên Chương.
Quê hương của Chu Nguyên Chương là huyện Cú Dung tỉnh Giang Tô, tổ tiên của Chu Nguyên Chương đời đời làm nghề cày cấy. ông nội của Chu Nguyên Chương là Chu Sơ Nhất, vì không chịu được sự bóc lột của địa chủ và triều đình, đã đưa gia đình trốn đến Tứ Châu bên bờ sông Hoài để khai hoang canh tác. Sau khi Chu Sơ Nhất qua đời, gia đình rất nghèo khó, cha của Chu Nguyên Chương là Chu Ngũ Tứ phải chuyển nhà hết nơi này đến nơi khác, sau cùng mới định cư ở làng Đông, huyện Chung Ly của Hào Châu, Chu Nguyên Chương ra đời ở đây.
Khi Chu Nguyên Chương mười tuổi, người cha vì trốn chạy thuế má lao dịch nặng nề, lại một lần nữa chuyển nhà, đến Cô Trang ờ làng Thái Bình làm ruộng cho địa chủ Lưu Đức, Chu Nguyên Chương chăn trâu cho nhà Lưu Đức.
Năm 1343, Hào Châu xảy ra nạn hạn hán. Mùa xuân năm sau, lại xảy ra nạn châu chấu rất nghiêm trọng, lúa của trang trại bị châu chấu ăn hết sạch. Họa vô đơn chí, tiếp đó lại xuất hiện dịch bệnh. Trong một thời gian ngắn, nhà nào cũng có người chết, trong một thôn, một ngày chết đến mười mấy người. Không lâu sau, gia đình Chu Nguyên Chương cũng bị nhiễm bệnh dịch. Chưa đầy nửa tháng, cha, anh trai và mẹ là Trần thị của Chu Nguyên Chương đều lần lượt qua đời. Chu Nguyên Chương và người anh thứ hai tận mắt chứng kiến từng người thân ra đi, không những không có tiền mua quan tài, thậm chí đến miếng đất để chôn cất người thân cũng không có, hai người khóc lóc thảm thiết, làm kinh động đến người hàng xóm là Lưu Kế Tố, người hàng xóm bèn cho anh em họ một mảnh đất.
Để sinh sống, Chu Nguyên Chương cùng anh trai, chị dâu và cháu buộc phải phân ly, mỗi người tự đi tìm đường sống. Chu Nguyên Chương lúc này chẳng có đường nào mà đi, chợt nhớ đến ngôi chùa Hoàng Giác mà từ nhỏ đã phát nguyện đi tu, vì thế liền vào chùa cạo đầu làm hòa thượng, được làm hành đồng (*), hàng ngày làm những việc quét dọn,
(*) Hành đồng: Còn gọi là đồng hành, đạo giả, đồng thị, tăng đổng, chỉ những chú tiểu làm việc lặt vặt trong chùa: thắp hương, đánh chuông đánh trống, nấu cơm, giặt quần áo ở trong chùa.
Nhưng không lâu sau, lương thực trong chùa cũng không đủ cho các hòa thượng nữa, trong chùa cũng không nhận được bố thí, trụ trì chùa là pháp sư Cao Bân chỉ còn cách giải tán các sư tăng, cho các hòa thượng đi khắp nơi hóa duyên. Chu Nguyên Chương mới làm hành đồng được năm mươi ngày, không còn cách nào khác, đành phải rời chùa đi lang thang xin ăn. Lúc này Chu Nguyên Chương được mười bảy tuổi.
Cuộc sống lang thang gian khổ đã hình thành nên tính cách kiên định và quả cảm của Chu Nguyên Chương, nhưng cũng khiến cho ông trở nên tàn nhẫn và đầy nghi kỵ.
Sau đó Chu Nguyên Chương gia nhập đội quân Hồng Cân của Quách Tử Hưng, tham gia khởi nghĩa nông dân. Sau khi ông thay thế Quách Tử Hưng, đi chinh phạt khắp nơi, đánh bại thế lực Trần Hữu Lượng mạnh hơn mình, tiêu diệt Trương Sĩ Thành ở Triết Giang, dìm chết Hàn Lâm Nhi, tiến về phía bắc đánh Trung Nguyên, cuối cùng, vào tháng giêng năm 1368, ông xưng đế ở ứng Thiên, đặt tên nước là Đại Minh, lập niên hiệu là Hồng Vũ, chọn ứng Thiên làm kinh đô.
![]() |
![]() |
Hành: HỏaLoại: Ác TinhĐặc Tính: Hình thương, tai nguy, hung họa, mổ xẻ
Nếu sao Kiếp Sát có sao Thất Sát đồng cung thì được gọi là cách Lưỡng Sát Trùng Phùng. Trường hợp này chỉ có thể xuất hiện một trong 4 cung Dần, Thân, Tỵ, Hợi.
Nếu sao Kiếp Sát có sao Lưu Hà đồng cung, hoặc ở cung xung chiếu hay hợp chiếu, được gọi là cách Hà Sát đồng cung, hoặc xung chiếu hay hợp chiếu.
Nếu một trong 8 cung Tý, Ngọ, Mão, Dậu, Thìn, Tuất, Sửu, Mùi đứng giữa 2 cung, mỗi cung một bên, trong mỗi cung này lần lượt cùng lúc có sao Lưu Hà và Kiếp Sát đóng riêng từng cung, một trong 8 cung trên có cách giáp Hà Sát.
Trường hợp lá số mẫu Cung Phụ Mẫu tại Mão có Lưu Hà tại Phúc Đức, Kiếp Sát tại Mệnh, thì Cung Phụ Mẫu ở giữa có cách giáp Hà Sát.
Ý Nghĩa Kiếp Sát Ở Cung Mệnh
Tính Tình
Sao Kiếp Sát ở Mệnh là người tính nóng nảy, hay làm sự bất bình, nếu gặp sao tốt thì giảm mất tốt đi, gặp sao xấu thì xấu lắm.
Công Danh Tài Lộc
Giống như sao Thiên Hình, Kiếp Sát chỉ sự mổ xẻ, châm chích. Do đó, nếu đi với bộ sao y sĩ (Tướng, Y) thì là bác sỹ châm cứu hay giải phẫu, thường trị liệu rất táo bạo.
Ý Nghĩa Kiếp Sát Và Một Số Sao Khác
Đi với sao hung, Kiếp Sát tác họa rất mạnh và nhanh chóng.