Tướng người trán dô –
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
![]() |
Làm thế nào để đón rước Thần Tài trong năm 2016?![]() |
| ► Xem lịch âm và giờ hoàng đạo chuẩn xác tại Lichngaytot.com |
![]() |
| Ảnh minh họa |
| ► Cách xem chỉ tay đơn giản để luận giải về cuộc đời, vận mệnh của bản thân |
Phương Vị: Nam Đẩu Tinh
Hành: Hỏa
Loại: Quý Tinh
Đặc Tính: Khoa giáp, quyền tước.
Tên gọi tắt thường gặp: Việt
Phụ Tinh. Cùng với sao Thiên Khôi thành bộ Thiên Ất Quý Nhân.
Tính Tình: Người uy nghi, mô phạm, hiền lương, thông minh, tài năng, thanh bạch, khoan hòa, là con trưởng hoặc đoạt trưởng, hoặc trong nhà, ngoài đời giữ chức vụ quan trọng, gần người quyền quý, cao thượng.
Phúc Thọ Tai Họa:
Thiên Việt có thể hóa giải được bất lợi của một số sao hãm địa như Âm Dương hãm, chính tinh hãm.
Nếu tọa thủ ở cung Phúc Đức thì được linh thần che chở luôn luôn, tai nạn được giải trừ, có hiệu lực giống Quang Quý.
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng những lợi điểm trên chỉ có nếu Thiên Việt không bị Tuần, Triệt, Hóa Kỵ, Thiên Hình và sát tinh xâm phạm.
Xương Khúc, Thiên Việt (Khôi), Quang Quý: Thi đỗ các văn bằng cao nhất.
Tọa Khôi hướng Việt (Thiên Khôi hợp chiếu): Đỗ cao lúc tuổi còn trẻ.
Thiên Việt (Khôi), Nhật Nguyệt hãm: Thiên Khôi phục hồi sức sáng cho Nhật Nguyệt hãm.
Thiên Việt (Khôi), Đà Kỵ: Kẻ sĩ ẩn dật.
Ý Nghĩa sao Thiên Việt Ở Cung Phụ Mẫu:
Cha mẹ có chức quyền, nếu không cũng là người danh giá, là con trưởng, có nghề khéo, nổi tiếng, hay giúp đỡ thân nhân.
Ý Nghĩa sao Thiên Việt Ở Cung Phúc Đức:
Được hưởng phúc, gia tăng tuổi thọ.
Có sự linh thiêng của tổ tiên gia tộc phù hộ.
Ý Nghĩa sao Thiên Việt Ở Cung Điền Trạch:
Nhà cửa khang trang.
Dễ tạo dựng nhà cửa.
Đi đâu cũng có quý nhân giúp đỡ về nơi ăn chốn ở.
Ý Nghĩa sao Thiên Việt Ở Cung Quan Lộc:
Công danh dễ thành đạt.
Có quý nhân giúp đỡ.
Chức vụ lâu dài, được tín nhiệm.
Dễ thăng chức, có tài đặc biệt.
Ý Nghĩa sao Thiên Việt Ở Cung Nô Bộc:
Được bè bạn, người giúp việc giúp đỡ.
Được người có chức quyền hoặc giàu có tiến cử mình.
Có học trò, đệ tử tài giỏi trung thành.
Ý Nghĩa sao Thiên Việt Ở Cung Thiên Di:
Ra ngoài hay gặp quý nhân, thuận lợi.
Ý Nghĩa sao Thiên Việt Ở Cung Tật Ách:
Giải trừ được tai nạn, nhưng nếu có thêm sao xấu như Thiên Hình, Thiên Riêu, Địa Không, Địa Kiếp, Kình Dương, Đà La, Hóa Kỵ thì hay có thương tích ở đầu, có sẹo, công danh muộn màng, bất mãn, chán đời, ẩn dật.
Ý Nghĩa sao Thiên Việt Ở Cung Tài Bạch:
Dễ kiếm tiền, hay có quý nhân giúp đỡ.
Ý Nghĩa sao Thiên Việt Ở Cung Tử Tức:
Con cái ngoan, có công danh, có tài, có hiếu.
Ý Nghĩa sao Thiên Việt Ở Cung Phu Thê:
Vợ hoặc chồng là con trưởng hoặc đoạt trưởng, hoặc có vai trò quan trọng trong nhà, danh giá, đoan chính, làm nên sự nghiệp.
Ý Nghĩa sao Thiên Việt Ở Cung Huynh Đệ:
Anh chị em tài ba, hòa thuận.
Thiên Việt Khi Vào Các Hạn
Hạn gặp sao Thiên Khôi, Thiên Việt, Tử Vi, là hạn mọi sự lôi thôi đều thắng lợi.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
Phụ nữ tuổi Hợi có thể đưa ra cho chồng mình những lời khuyên hay và những lời nhắc nhở đúng lúc, chẳng hạn như việc đề phòng đối phương “vong ân bội nghĩa”. Họ còn là người có tài vận tốt, hơn nữa họ đều rất giỏi việc giải quyết các mối quan hệ gia đình, đặc biệt là quan hệ mẹ chồng nàng dâu, họ có thể giúp chồng giải quyết nỗi ưu lo, vì vậy những người phụ nữ tuổi Hợi rất có thể giúp được chồng giàu sang phát đạt. 2. Tuổi Thân Những người phụ nữ tuổi Thân thì vô cùng thông minh tháo vát, bất luận lúc nào cũng đều cho chồng mình sự giúp đỡ vô điều kiện. Sự nhiệt tình, tự tin, tinh thần trách nhiệm cao của họ khiến người khác ngưỡng mộ. Những người phụ nữ tuổi Thân thông minh, sống hòa nhã với mọi người, làm việc với bất cứ ai cũng đều hòa hợp, đối xử với mọi người rất rộng rãi, hào phóng. Nói chung, trong sự nghiệp hay trong những lĩnh vực khác họ đều khiến chồng mình cảm thấy vô cùng tự hào. 3. Tuổi Sửu Những người phụ nữ tuổi Sửu rất chăm chỉ tháo vát, những công việc trong nhà họ đều làm rất chăm chỉ, cần cù chịu khó. Có những lúc sự nghiệp của chồng không được thuận lợi thì họ vẫn tin tưởng chồng mình có thể làm được, tin rằng tiền đồ của chồng sẽ có ngày khởi sắc, trước nay chưa từng oán trách điều gì. Hơn nữa, bất luận là về vật chất hay tinh thần thì những người phụ nữ tuổi Sửu đều giúp đỡ chồng mình, vì vậy họ cũng là những người giúp chồng phát đạt, thành công.
Theo Phununews
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
Bán khoán con vào chùa đồng nghĩa với việc gửi con cho Đức Phật, cho Đức Ông, cho Đức Thánh Trần hoặc Tam Tòa Thánh Mẫu để Chư Phật Thánh Gia Ân bảo hộ cho con mình, chứ không phải là gửi con cho sư thầy trụ trì chùa đó.
Nếu ngày sinh và giờ sinh của bé phạm phải giờ xấu hoặc cung mệnh của bé và cung mệnh của cha mẹ khắc nhau thì mới nên nghĩ tới việc bán khoán con vào chùa.
Sau khi đã bán khoán con vào chùa, thì tới năm con trẻ được 13-18 tuổi thì cha mẹ sẽ làm lễ để chuộc con về, điều này không ảnh hưởng gì tới công danh và sự nghiệp của con cả.
Nếu ngày giờ sinh của con trẻ không xấu, cung mệnh cũng không khắc thì tốt nhất là không nên bán khoán con vào chùa. Trẻ dưới 3 tuổi không tránh được “3 ngày béo 7 ngày gầy”, cha mẹ cần chăm sóc con cho tốt, cho dù đã bán khoán con trẻ nhưng chăm sóc không tốt thì cũng chẳng có ý nghĩa gì.
![]() |
| Ảnh minh họa |
– Khi bài trí cây cảnh phải xem đặc điểm địa chất có phù hợp hay không
– Ở những nơi rộng rãi như phòng khách, tiền sảnh hay cổng nên bày các chậu cây to hoặc hòn non bộ, ở các phòng ở thông thường thì chỉ nên bày các chậu cây cỡ nhỏ. Trên ban công hay lan can nên bày các chậu cây có thân cong hoặc cao vút. Còn trên bàn học hoặc các giá đỡ thì nên bày các chậu cây nhỏ hơn.
– Vị trí bày chậu cây phụ thuộc vào chủng loại và kiểu dáng của chúng. Hòn non bộ thích hợp bày ở những chỗ ngang tầm mắt người hoặc thấp hơn một chút để có thể làm tôn lên vẻ đẹp của những vách núi cheo leo hiểm trở cùng những dáng dấp cây độc đáo.
Nếu bày cao hơn tầm mắt một chút thì vẻ cổ kính cứng cáp của cây sẽ càng được bộc lộ rõ hơn.
– Không treo tranh, rèm cửa sổ, hay dán giấy dán tưòng sặc sỡ phía sau các bồn cây cảnh nếu không sẽ bị rối mắt và hiệu quả trang trí cũng sẽ bị giảm đi rõ rệt.
– Không trang trí quá nhiều hoa trong nhà. Phần lớn các gia đình đều thích căn nhà của mình có thật nhiều hoa, nhưng trên thực tế để quá nhiều hoa trong nhà là điều không nên. Nhiều người có sở thích hoặc thói quen đặt vài chậu cây cảnh hoặc hoa cảnh trên giá sách, trên trà kỉ, tủ lạnh, thậm chí cả trên nóc tivi hoặc treo chúng trên tường, trên cửa sổ… gây rối mắt và tạo cảm giác ức chế rất khó chịu. Thực ra, nhà đẹp không nhất thiết phải quá to, hoa thơm không nhất thiết phải nhiều. Trong một căn phòng vừa phải thì chỉ cần bày từ hai đến ba chậu cây cảnh là đủ. Như vậy căn phòng của bạn không những thoáng đãng, trang nhã mà lại rất thanh lịch.
– Tránh lôi trang trí quá đơn điệu. Bố cục sắp đặt các chậu hoa phải đồng đều hợp lí, nhưng tránh trường hợp các chậu cây cùng một màu mà kích thước khác nhau, hoặc bày tất cả các chậu trên cùng một đường thẳng nằm ngang, bởi như vậy trông chúng sẽ rất đơn điệu và thiếu tự nhiên, tạo cảm giác vô vị.
– Không bày các chậu cây vừa được bón phân. Mục đích của việc trang trí các chậu cây cảnh hoặc hoa trong nhà là để làm đẹp ngôi nhà và phục vụ nhu cầu thưởng thức, ngắm nhìn. Nếu sử dụng các chậu cây vừa được bón phân sẽ làm cho khắp ngôi nhà bị ngập trong mùi lạ khó chịu và ảnh hưởng đến bầu không khí trong lành, từ đó mất đi ý nghĩa thưởng thức. Nếu bạn muốn nhà mình lúc nào cũng có hoa tươi, có thể khắc phục bằng cách chuẩn bị khoảng tám đến mười chậu cây và luân phiên bón phân cho chúng để dùng thay đổi.
– Khi trồng hoa trong nhà cần thận trọng với những chất độc hại nào
Chăm sóc hoa trong nhà vừa có thể làm đẹp môi trường lại có thể rèn rũa tính cách con người và xóa tan mệt mỏi, làm cuộc sống tươi đẹp hơn, nhưng khoa học hiện đại cũng chứng minh rằng có một số loài hoa đẹp lại rất có hại đối với sức khỏe của con người nên không thích hợp để làm vật trang trí trong nhà. Đó là những loại hoa sau:
Ngọc đinh hương:

Màu trắng tinh khiết, hương thơm ngào ngạt, là một trong những loài hoa được ưa chuộng trong trang trí nhà cửa. Nhưng mùi hương của nó có tính kích thích rõ rệt đến hệ thần kinh của con người. Nếu tiếp xúc lâu ngày sẽ dẫn đến các chứng bệnh mang tính dị ứng hoặc kích thích như hen suyễn, ho, buồn bực khó ỏ…, gây cảm giác rất khó chịu.
Hoa trinh nữ (hoa xấu hổ):

Vẻ đẹp động lòng người, rất được yêu thích. Nhưng gốc cây của loài hoa này có chứa một độc tố mang tên bazơ trinh nữ. Nếu tiếp xúc quá nhiều sẽ bị rụng hết lông và tóc.
Uất kim hương:

Hoa đẹp, dáng hoa yêu kiều thướt tha. Nhưng ngưòi ta đã tiến hành thử nghiệm, nếu ở giữa một căn phòng ngập tràn hoa uất kim hương trong vòng hai tiếng đồng hồ sẽ xuất hiện các triệu chứng đau đầu, chóng mặt, và có thể dẫn đến tăng huyết áp hoặc tim đập nhanh, ở một số ngưòi còn có hiện tượng cảm mạo. Nguyên nhân chính của các hiện tượng này là do trong hoa có chất bazơ cực độc.
Ngoài ra, với các loài hoa như hoa lan, hoa bách hợp, nếu tiếp xúc nhiều sẽ bị buồn nôn, chóng mặt, tinh thần uỷ mị, cơ thể mệt mỏi, hen suyễn… Mai ngũ sắc hay Dương hương cầu gây hiện tượng dị ứng ở một số người. Các cây như tùng, bách khi nhiệt độ lên cao sẽ tỏa ra mùi hương thơm nồng nàn, gây cảm giác buồn bực, khó ở và làm giảm cảm giác thèm ăn. Ngoài ra, các loài hoa như nhất phẩm hồng, vạn liên thanh… nếu chẳng may ăn phải sẽ bị tử vong hoặc nhẹ nhất là bị tàn tật.
Vì thế, dù yêu hoa đến mấy thì khi chơi hoa hay thưởng thức hoa không thể không cảnh giác với các loài hoa có độc tố, để tránh mang đến sự nguy hiểm cho mình và người thân.
| ► Mời các bạn đọc những câu nói hay về cuộc sống, những lời hay ý đẹp và suy ngẫm |
![]() |
| Ảnh minh họa |
2. Móng tay hình chữ nhật
Người có móng tay hình chữ nhật thường trầm tĩnh, kiên nhẫn, tình duyên tốt. Sự nghiệp của họ rất phát triển, bởi họ dám nghĩ dám làm, là nam thì có khí phách nam tử hán, là nữ thì mạnh mẽ kiên cường.

3. Móng tay hình bách hợp
Móng tay hình bách hợp là móng tay dáng tương đối dài, bốn góc tròn, phần đầu nhọn, giống như cánh hoa bách hợp. Đây là dáng móng tay đẹp nhất, thấy nhiều ở phái nữ. Những người có dáng móng tay bách hợp thì dù là nam hay nữ tính cách cũng ôn thuận, thân thiện dễ gần, vận đào hoa tốt, được bạn bè yêu quý, sự nghiệp thuận lợi.
4. Móng tay tròn trịa
Móng tay tròn là người thông minh lanh lợi, họ không thích tranh giành quyền lợi, vật chất, chỉ muốn làm những việc bản thân yêu thích. Trong tình yêu họ rất chu đáo, tinh tế, sau khi kết hôn sẽ hết lòng vì gia đình.
5. Móng tay hình quạt
Móng tay hình quạt phần gốc hẹp hơn, đầu móng mở rộng thành vòng cung. Người sở hữu móng tay hình quạt thường có vóc dáng cơ thể rất đẹp, sức khỏe tốt. Họ là người rất kiên nhẫn, có thể chịu được khó khăn, dễ dàng thành công khi tự lập nghiệp. Họ kiên trì, đôi khi còn cố chấp. V việc họ đã xác định thì sẽ làm đến cùng, không sợ vất vả, khó khăn. Trong tình yêu cũng vậy, họ sẽ theo đuổi đối phương đến cùng.

6. Móng tay hình thang
Ngược lại với móng hình quạt, gốc hẹp hơn đầu móng. Người có móng tay hình thang thích sự giản dị, cư xử nhún nhường, trong tình yêu là người thực tế. Khi lựa chọn người yêu, họ sẽ để ý nhiều đến nhân phẩm đối phương chứ không quá chú trọng vào bề ngoài. Trong sự nghiệp họ luôn làm theo những kế hoạch tỉ mỉ, từng bước từng bước vững chãi đạt đến mục tiêu cuộc đời họ.
7. Móng tay không đồng đều
Nếu móng tay lồi lõm không đều hoặc đột nhiên không đều thì nên chú ý đến chế độ ăn uống, tăng cường sức khỏe, làm việc gì cũng phải thận trọng, chuyện lớn thì nên xem xét thật kỹ rồi hãy đưa ra quyết định.
8. Móng tay hẹp dài
Những người như vậy thường có tài năng đặc biệt, có thiên phú nghệ thuật. Trong tình yêu họ luôn theo đuổi sự hoàn mỹ, tài vận tốt.
Chủ nhà sinh năm 1982, âm lịch Nhâm Tuất, mệnh Đại hải thủy, quái Ly, Đông tứ mệnh, làm nhà nên chọn về Đông tứ trạch sao cho trạch mệnh tuơng phối, được tốt.
Theo mô tả, nhà bạn có huớng Tây Bắc phạm Tuyệt mệnh (tức sao phá quân, đồng thuộc Kim tinh, là du niên rất hung hại, đem tuyệt khí vào nhà, đặc biệt hại với người Đông tứ vì nhà Kim khắc nhà Mộc.
Sơ đồ tốt xấu của gia chủ 1982 (mệnh Ly)

Có 2 cách cơ bản cho bạn chọn lựa:
Cách 1: di chuyển cửa chính về phương Bắc (từ 337,6 độ đến 22,5 độ) sẽ đón đuợc Diên niên, là một trong hàng sao tốt, đuợc trạch mệnh tuơng phối, đuợc tốt.
Cách 2: nếu không thể áp dụng cách 1, bạn có thể dung cách sau: Theo Duơng trạch tam yếu thì “cửa chính, bếp, phòng ngủ” trong đó, cửa chính và bếp liên hệ mật thiết và có tác dụng tuơng hỗ với nhau. “Cửa là khí thần (thần quản khí), còn bếp là thực thần (thần quản việc ăn uống).
Và ta áp dụng “nguyên tắc chế phục của cửa tinh” như sau:
“Sinh khí bài ngũ quỷ
Thiên y khinh Tuyệt mệnh
Diên niên chèn Lục sát
Chế phục như đã định”
Như vậy bạn có thể chọn bếp quay về huớng Đông Nam đón Thiên y: “Thiên Y khinh Tuyệt mệnh”
Tùy thuộc vào diện tích đất nhà bạn mà có cách xử lý sao cho phù hợp.
Sau đây là những điều kiêng kỵ bạn nên biết khi đi lễ chùa.
- Trước hết, vào chùa nên đi từ cửa bên, không đi cửa chính giữa; đồng thời không dẫm lên bậu cửa khi bước vào, nếu không sẽ phạm phạm tội bất kính. Cửa chính nhà chùa từ xưa đến nay chỉ đức Phật, Ngọc đế, quốc vương một nước mới được ra vào. Vì thế, có nhiều ngôi chùa ngày thường không mở cửa chính.- Vào Phật đường, đi vòng quanh tượng Phật, khu vực tam bảo, đi từ phải sang trái, niệm tên Phật “A di đà phật”. Bởi theo quan niệm đạo Phật, bạn sẽ được hưởng 5 điều phúc đức: Hậu sinh đoan chính, đẹp; lời ăn tiếng nói rõ ràng dễ nghe; hóa sinh thăng thiên; có thể được sinh ra trong gia đình quyền quý; siêu sinh đạo Niết Bàn.
- Khi đi lễ chùa bạn nên thắp hương tại đỉnh đặt bên ngoài, hạn chế thắp hương bên trong chùa, vì có thể gây ảnh hưởng đến tượng Phật, pháp khí.
- Không đứng hoặc quỳ chính giữa Phật đường lễ Phật mà nên quỳ lễ chếch sang bên trái hoặc phải một chút.
- Lễ chùa bạn phải ăn mặc giản dị, sạch sẽ, đặc biệt không mặc váy ngắn, quần cộc, áo hở lườn hở nách… Nếu không, bạn sẽ vừa phạm giới bất kính, khẳng định công quả tiêu tán hết, quả báo vô cùng. Không để trẻ em chạy loạn tam bảo, nghịch ngợm các đồ tế khí, sờ mó tượng phật…

- Vào chùa, nếu gặp các trụ chì và tăng ni, nên bắt đầu bằng câu “A di đà Phật” . Khi ra về cũng nên dùng câu này để bái biệt, công đức mang lại vô lượng, cho cả người vãn cảnh và nhà chùa.
- Không nên chụp ảnh, quay phim tùy tiện trong chùa, khi đứng khấn vái, không nên đứng thẳng bàn thờ mà nên đứng chéo sang một bên.
- Không đặt lễ mặn ở khu vực Phật điện tức là chính điện, tức là nơi thờ tự chính của ngôi chùa. Trên hương án của chính điện chỉ được dâng đặt lễ chay, tịnh. Việc sắm sửa lễ mặn chỉ có thể được chấp nhận nếu như trong khu vực chùa có thờ tự các vị Đức Ông, Thánh, Mẫu và chỉ dâng đặt tại ban thờ hay điện thờ.
- Không nên sắm sửa vàng mã, tiền âm phủ để dâng cúng Phật tại chùa. Nếu có sửa lễ này thì thí chủ đặt ở bàn thờ thần linh, Thánh Mẫu hay ở bàn thờ Đức Ông. Tiền thật cũng không nên đặt lên hương án của chính điện, mà nên bỏ vào hòm công đức.
- Không tự ý lấy sử dụng hoặc mang bất kỳ loại đồ đạc gì của nhà chùa về làm của riêng. Theo nhiều kinh sách và quan niệm truyền thống, những hành vi như vậy gọi là “đạo dụng thập phương thường trụ” (trộm dùng đồ lễ của chúng sinh cúng dàng). Phạm giới luật này khi chết sẽ bị giam vào địa ngục, chịu khổ vô kể. Phật điển ghi rõ, “nhân nhỏ, quả lớn”, thành tâm cúng dàng, lễ dù nhỏ nhưng phúc báo lớn lao; trộm của chùa,vật tuy xơ sài nhưng quả báo không gánh hết.
- Vào Phật đường, tam bảo không nên đi giày dép, nhai trầu, hút thuốc. Tam bảo là nơi tôn nghiêm, có giới hương, định hương, chân hương, đòi hỏi phải trì giới để di dưỡng thanh tịnh, tuyệt đối không gây ồn ào, hỗn tạp. Tội náo loạn tam bảo không nhỏ.
- Trước tượng Phật nên cung kính nghiêm trang, không nhìn ngang ngó dọc, khệnh khạng trước tam bảo. Nếu muốn chiêm ngưỡng tượng Phật, nên đứng từ ngoài để quan sát.
- Không chạy qua chạy lại, nói chuyện, bình phẩm, ngồi hoặc nằm trong Phật đường. Không tùy tiện hắt hơi sổ mũi, khạc nhổ… quanh khu vực Phật điện, tam bảo.
- Sử dụng đồ của chùa, như ăn uống, thụ lộc, nên lưu công đức, dù ít dù nhiều. Không nên coi đó là của chùa, trụ trì cho thì nhận mà không bố thí chút công đức, vì sẽ phạm tội “luân đạo thực quả báo” là căn nguyên rơi vào địa ngục.
- Không nên mang theo mũ áo, khăn, túi xách, gậy gộc, bao tay… vào tam bảo bái Phật. Lỡ đặt những đồ đạc như vậy trên bàn, trên chiếu hoặc trong góc tam bảo để bái Phật thì mọi công quả tu dưỡng bấy lâu đều tiêu tán. Đi lễ chùa, tốt nhất không mang theo những đồ tùy thân khi vào tam bảo.
THIÊN TRÙ (Thổ)
1. Ý nghĩa tính tình: Thiên Trù chủ sự ăn uống, lộc ăn, khiếu ẩm thực: - thích ăn nhậu, ham ăn - ăn nhậu rất khỏe. Nếu đi với Lực Sĩ thì sức ăn càng khủng khiếp - hảo ăn, thường cùng bạn bè đối ẩm - thích ăn món ngon vật lạ, có gu về ăn nhậu sành điệu. Nếu đi với Hóa Lộc thì rất sành về ăn và nhậu. Được thêm Lực Sĩ thì là người vừa ăn khỏe, vừa tham ăn, vừa sành ăn, người sống để ăn. Đây có thể là những đầu bếp giỏi hay đầu bếp tài tử, tự mình làm lấy thức ăn cho vừa ý. Từ đó, có tính khó ăn, kén ăn. Đi với Văn Xương hay Hóa Khoa thì là tác giả các sách gia chánh dạy cách nấu ăn, chế rượu kiêm nhiệm kẻ sành ăn, háo ăn và ăn nhiều.
2. Ý nghĩa tài lộc: Tượng trưng cho lộc ăn, Thiên Trù có nghĩa gia tăng tài lộc nhưng nếu đi với Song Hao thì vì ăn mà hết tiền.
3. Ý nghĩa bệnh lý: Thật ra, Thiên Trù không có nghĩa bệnh lý, trái lại còn có nghĩa là có sức khỏe. Tuy nhiên, đi với một số sao khác, ý nghĩa bệnh lý rất dễ có, dù ở Mệnh hay ở Tật: - Thiên Trù, Nhị Hao: bệnh về bộ máy tiêu hóa (đau gan, đau bao tử, trúng thực, thổ tả ...) do bội thực, bội ẩm mà ra. - Thiên Trù, Không, Kiếp: bệnh nặng về bội thực, bội ẩm, có thể đi đến mổ xẻ, sưng gan, lở bao tử ...
4. Ý nghĩa của thiên trù và một số sao khác:
Thiên Trù, Hóa Lộc hay Tấu Thư: người có vị giác, khứu giác rất linh mẫn, tinh vi
Thiên Trù, Hồng Loan: đầu bếp nổi tiếng nhờ tài nấu nướng hay người bào chế rượu ngon.
| ► Cùng xem những tiết lộ thú vị về 12 cung hoàng đạo tình yêu |
![]() |
![]() |
-Phép mượn cung: Phép này khá thông dụng ở Đài Loan, được nhiều người xử dụng từ lâu. Thí dụ: Ông X đang ở cung Tí thì cung thê của Tí (tức cung Tuất) ứng với vợ hoặc tình nhân của ông X. Giả như ông X ngoại tình với một người đã có chồng là bà Y trong hạn này thì bà Y ứng cung thê của hạn nên ứng cung Tuất (thê của Tí). Lại nữa, vì bà X ứng cung Tuất nên chồng bà X ứng cung Thân (là cung phu của Tuất). Đại khái như thế.
-Phép “Thái Tuế nhập quái”: Phép này nhờ ông Tử Vân mà trở thành hết sức phổ biến ở Đài Loan, dù chỉ mới nổi lên trong vòng hơn hai mươi năm nay thôi. Như trường hợp ông X ngoại tình với bà Y như ở trên nếu dùng lá số của ông X để xem diễn biến ra sao thì coi cung có địa chi của bà Y ứng với bà Y, lại thêm các sao hóa theo năm sinh của bà Y vào; rồi phối hợp dữ liệu mà đoán tốt xấu. Nói chung chung nhiều lộc tụ tập thì tốt, bị kị sát tụ tập thì xấu nhưng đi vào thực tế thì có thể hết sức phức tạp.
Chú ý về cách xem nhân duyên của ông Trần Thế Hưng
Chỉ xem chính tinh tứ hóa Lộc Tồn lục cát lục sát Khốc Hư Hình Riêu Đào Hồng Hỉ. Các sao còn lại bất luận lớn (như Tuần Triệt song Hao) hoặc nhỏ (như Giải Thần, Âm Sát) đều không xem.
An Hỏa Linh thuận theo giờ cả, không phân nam nữ âm dương như VN.
Trích sách “Hôn ngoại tình thiên” (dịch nghĩa “Các lá số ngoại tình”), 1994, nxb Tiêm Đoan, Đài Bắc.
Trường hợp 11: Cô Dương, Ất Mùi 1955, âm lịch tháng 3 ngày… (3 hoặc 13, hỏa lục cục, mệnh cư Sửu vô chính diệu, phu Tử Sát cư Hợi) giờ Mão.
Nguyên tác: Trường hợp 11: Cô Dương, trang 154-171, Trần Thế Hưng, “Hôn ngoại tình thiên”, Tiêm Đoan, Đài Bắc 1994.
VDTT phỏng dịch và chú thích
Cô D làm nghề phục vụ, việc không ổn định. Năm Quý Hợi quen ông M sinh Mậu Tý (1948), năm Ất Sửu 1985 sinh đôi. Năm Tân Mùi 1991 quen ông R (Kỷ Mão 1939) đã có vợ.
Mệnh Kỷ Sửu VCD Linh độc thủ (dịch giả chú = dgc: Cách tiêu chuẩn của Đài Loan là Hỏa Linh an thuận theo giờ cả), xung có Vũ Tham Xương Khúc, tam hợp Phủ Tướng.
Mệnh: VCD, hai cung giáp cung VCD nên mệnh ở vị trí rất yếu. Khi một mình đối diện chính mình không khỏi có cảm giác cô độc lo sợ, cho nên thành tính lệ thuộc ngoại cảnh, không thích một mình. Tự tin không đủ nên không hợp các công việc khó khăn phải tự quyết định nhiều, tốt nhất là có liên hệ với người. Cô D làm nghề phục vụ vậy là thích hợp cá tính.
Linh Tinh độc thủ khó tránh nóng vội, vì VCD tính nóng vội thường khiến mình phiền lụy mệt mỏi, may không gặp Kình Đà bằng không thì như người xua nói “khó tránh hình khắc”.
Mệnh VCD, di là lốt giả, Vu Tham Xương Khúc thành nhiều cách cục Xương Tham, Khúc Tham, Linh Tham, LXĐV (trong luu niên). Cô D bản tính bất ổn, có suy nghi khác thường, khả năng học hỏi cao, cũng dễ tẩu hỏa nhập ma. Thuộc týp dễ lên dễ xuống. Làm việc sáng kiến chẳng dở, công việc nhiều biến đổi.
Người xưa nam mệnh thích Xương Khúc, như “Văn Khúc Văn Xương Thiên Khôi tú, bất độc thi thư dã khả nhân”, “Tuấn nhã Văn Xương, mi thanh mục tú; lỗi lạc Văn Khúc, khẩu tài tiện ngụy…”, “Văn Xương Văn Khúc vi nhân đa học đa năng”… (nhưng) nữ mệnh gặp Xương Khúc thì e bất cập, như “Văn Xương Văn Khúc phúc bất toàn”, “Dương phi háo sắc tam hợp Văn Xương Văn Khúc” vân vân… Thời đại ngày nay nam nữ mệnh giống nhau, ưu điểm là khả năng học tốt, ngoại hình khá; khuyết điểm là dễ chuốc phiền toái, khôn quá hóa dại; nhất là hai sao Vũ Tham rất kị Xương Khúc. Sinh giờ Mão, Dậu rất dễ gặp hai sao này cùng chỗ.
Tại sao Tham Vũ không thích gặp Khúc Xương?
1) Vũ Tham gặp Xương Khúc thành cách ác Xương Tham, thêm Linh Tinh lại thành cách LXĐV, một đời khó tránh lên xuống gập ghềnh.
2) Đại hạn luu niên dễ gặp Kị. Kỉ Tân Nhâm Quý 4 năm đều có Kị, cơ hồ thành cách “liên Kị“. Đại hạn có may tránh đuợc thì lưu niên cũng chẳng thoát qua, khiến con người bất ổn hoặc vận hạn gập ghềnh.
Theo kinh nghiệm của người viết (dgc: tức ông Trần Thế Hưng), diễn viên và quảng cáo viên nhiều người có số thế này. Bởi vì đời họ hoặc công việc của họ phù hợp với tính nhiều biến đổi, hay là vì làm các nghề ấy mà sinh ra nhiều biến đổi?
“Vũ Tham bất phát thiếu niên nhân” thời xưa có thể phù hợp bởi người Vũ Tham phải có tuổi mới ổn định, mà (xưa) cá tính ổn định mới mong có tiền đồ. Ngày nay đời sống biến đổi, cá tính bất ổn có khi hợp trào lưu; nên anh hùng xuất thiếu niên chưa chắc là việc khó, miễn là vận hạn tốt, cá tính ngoại hình không quá khó thương. Người xưa ắt nói đúng, nhưng thời đại biến đổi, theo người viết phải uyển chuyển không thể quá câu nệ; phải dựa vào các ngành nghề (phù hợp hay không) mà dụng lẽ biến thông.
Thân (thiên di): Thân cư thiên di nên rất chú ý lời bình luận của người khác, lại nữa mệnh VCD nên tình hình càng nghiêm trọng. Có lúc tỏ ra cứng cỏi vì sợ người khác biết là mình “rỗng” và bất an. Di có thể nói là mạnh nên khả năng giao tế, tiếp xúc khá, lắm bạn và nhiều loại (Tả Hữu). Cho người ta ấn tượng tốt.
Phúc: Liêm Phá trái phải có Kình Đà giáp chế, hai bên đều VCD, khó thoát cảnh tâm sự trùng trùng không khai mở được. Tinh thần thiếu chỗ nương tựa. Tương đối coi trọng tiền tài.
Phu thê: Tử Sát một thuộc thổ một thuộc Kim đều không đủ linh động, xử lý tình cảm không khỏi quá lí tính, là loại ngoài nhiệt tâm mà trong lãnh đạm, tự nhiên bất lợi cho phương diện tình cảm.
Tam phương không thấy Tả Hữu, là kết cấu “cô quân”. Lúc khởi sự có thể hứng thú, sau thành thực tế. Loại người này chẳng phải là không thích hợp kết hôn, nhưng phải tìm bạn đời có tính độc lập, ai lo chuyện người nấy, không can thiệp người kia. Sống rất thực tế thì lại có thể lâu dài. Giả như gặp người tính lãng mạn, thích gần gũi thì lại có thể chịu không nổi. Loại người này, cổ nhân liệt vào dạng “cô khắc”.
Chẳng phải là người ta không thích được yêu, chỉ là mỗi ngưòi thích được yêu một cách khác nhau, chẳng thể lấy cái nhìn của mình để xét ngưòi khác.
Tiêu chuẩn chọn đối tượng của cô Dương khá cao. Không được đóng ấn phê chuẩn thì đừng hòng làm khách vào được vòng trong.
Giải thích các đại vận
Kỷ Sửu (6 đến 15 tuổi): Vũ Lộc Tham Quyền Khúc Kỵ đều ở di cả nên lúc nhỏ ra ngoài nhiều, thích nổi; ở nhà không thuận lợi.
Mậu Dần (16 đến 25 tuổi): Tham Lộc nhưng Cơ chuyển Lộc ra Kỵ, thành thử mệnh đắc Lộc còn hạn bị song Kỵ. Hạn lại VCD bị Không Kiếp Đà thủ chiếu, là vận yếu nhất trong đời. Nhà bi phá sản, kinh tế khốn quẫn mà cô Dương tranh thủ học được đại học là tại sao? (Trần Thế Hưng chú: Xem Lộc Quyền ở đâu).
Cô Dương hạn tài, quan đều có Kỵ, khi đối diện chính mình tất khổ không thể nói được; nhưng ngoài mặt vẫn tươi cười, lại nghĩ được biện pháp kiếm tiền để tiếp tục học hành; tại sao thế, bạn có xem ra không?
Định nghĩa vài thuật ngữ:
Tiên thiên (ứng toàn bộ): Tiên thiên mệnh là cung mệnh, tiên thiên phu là cung phu v.v…
Hậu thiên, hạn (ứng đại hạn 10 năm): Hậu thiên mệnh hoặc hạn mệnh là cung đại hạn. Từ cung đại hạn lùi lại 2 cung thì được hậu thiên phu hoặc hạn phu. Thí dụ đại hạn ở cung Hợi thì gọi Hợi là hậu thiên mệnh hoặc hạn mệnh, gọi Dậu là hậu thiên phu hoặc hạn phu.
Lưu (ứng một năm): Lưu mệnh là cung chứa lưu Thái Tuế. Từ lưu mệnh lùi lại hai cung được lưu phu. Như năm xem hạn là năm Tí thì Tí là lưu mệnh, Tuất là lưu phu.
Kỷ Mão (26 đến 35 tuổi): Tứ hóa như hạn Kỷ Sửu, chỉ khác là bây giờ (Lộc Quyền Kỵ) ở hạn quan thay vì hạn di. Ba hạn liên tiếp bản mệnh đắc Lộc, hạn mệnh đắc Quyền nên trong gian khổ cô Dương vẫn đi đến trước. Hạn quan của cô Dương hình thành nhiều cách cục nên đổi việc khá nhiều lần; nhưng mặc dù công việc khác nhau vẫn có điểm chung là cơ bản dựa trên tiền thưởng, tiền hoa hồng.
Tiên thiên phu (chú: tức phu nguyên thủy) cũng ba hạn hội Lộc, cô Dương chẳng phải bỏ qua chuyện ái tình, chẳng qua hạn Mậu Dần binh hoang mã loạn, chẳng có thời giờ để bàn tính yêu đương; huống chi tiên thiên phu bị song Kị giáp chế (dịch giả chú: theo phái Tử Vân, một Kị của Âm từ Ngọ chiếu vào cung Tí VCD, Kị kia là Cơ ở Tuất hạn Mậu), nào phải dễ đâu!
Vận Kỷ Mão thì khác. Hạn thê có Lộc (Vũ) chiếu, thêm Linh thành cách Linh Tham, dễ nói chuyện yêu đương. Nhưng bị Khúc Kỵ thành cách Khúc Tham và Linh Xương Đà Vũ, sinh hoạt ái tình khó tránh trở ngại, muốn gặp đối tượng hôn nhân thích hợp có phần khó, huống chi hạn phu chính là bản mệnh là vị trí vừa bất ổn vừa yếu đuối, giả như kết hôn thì có thể sinh biến.
Người viết từng nhấn mạnh nhiều lần. Mười hai cung đều là ta cả. Cách cục đều sẽ gặp, chỉ khác là khi gặp thì hóa Lộc hoặc hóa Kỵ mà thôi. Như trường hợp cô Dương tiên thiên mệnh yếu nhược như thế, lại hình thành quá nhiều cách cục: Cơ Lương Kình Dương hội, Cự Hỏa Kình, Xương Tham, Linh Tham, Khúc Tham, Linh Xương Đà Vũ v.v… hành vận quả là khó khăn, trở ngại hơn người ta nhiều.
Kế tiếp chúng ta xét đoạn tình giữa cô Dương và ông M.
Năm Quý Hợi cô Dương 29 tuổi, lưu phu ở Dậu có lưu Lộc (Phá Quân) và Linh Tinh hội chiếu. Đại vận phu có Vũ Lộc Khúc Kỵ và Tham Kỵ xung chiếu là một kết cấu “cát xứ tàng hung” (Lộc phùng xung phá, phát động các cách xấu, đi đường dài thì gặp trở ngại.) Tiên thiên phu cũng hội chiếu song Lộc và song Kỵ. Cô Dương nội tâm không bài xích ái tình, lưu niên lại có cơ hội dẫn động, tự nhiên dễ sinh chuyên tình cảm, chỉ là vận phu kết cấu quá yếu, nên một là gặp đối tượng rồi có vấn đề, hai là cố duy trì nhưng gặp trở ngại trùng trùng.
Coi cung phu của lưu niên như cung mệnh của ông M thì Mùi là thê của ông này; lắm cách cục như thế, lại hiện đủ Lộc Kỵ xem ra mặt tình cảm của ông M phức tạp biến động nhiều. Nói cách khác, không dùng điều kiện du nhập thêm đã thấy năm này cô Dương muốn gặp đối tượng tốt thật chẳng dễ gì.
Ở đây có vấn đề trong vòng bàn cãi: Cùng lá số, vận phải giống y nhau hay sao? Cho nên người biết lô gích khoa học bài xích Tử Vi, bảo là phi lí, mê tín. Ông Liễu Vô có đề xướng rằng phải du nhập thêm dữ liệu mới mong luận mệnh, đừng hòng dùng lá số chung mà đoán cho trường hợp riêng (dgc: Liễu Vô đây là ông Liễu Vô cư sĩ, từng đề xướng nhu cầu thêm dữ liệu trong loạt sách Hiện Đại Tử Vi. Thực ra, đây là luận điểm của thầy ông Liễu Vô cư sĩ, tức ông Tử Vân, ông Liễu Vô cư sĩ chỉ làm việc tường thuật. Sau này ông Liễu Vô có một số chủ trương khác với ông Tử Vân, nhưng đó là chuyện khác). Luận điểm này xét ra hợp lý, nhưng rốt ráo thì mệnh lý thuộc triết học không phải khoa học, không thể lập lại thí nghiệm, cũng có những tính chất không giải thích bằng khoa học được. Ta không thể nói cái gì khoa học không giải thích được thì không tồn tại (bởi) chúng ta biết rằng khoa học vẫn không giải thích được hết mọi hiện tượng và sự thật.
Cùng một lá số nhất định có điểm giống nhau, nghĩa là có (một số) tiềm năng, cá tính, khuynh hướng tương tự; nhờ đó mà chúng ta có thể chỉ bằng lá số mà đoán cá tính và kể ra những đặc trưng về nhân cách, khiến người ta không thể hoài nghi về độ chuẩn xác (của lá số). Vận hạn lên xuống, chuyển ngắt vì chịu ảnh hưởng hoàn cảnh mà là phương diện có tính cá biệt hơn hết. Tuy nhiên, chỉ cần cùng lá số là phải có điểm tương tự. Chẳng hạn một người lên đỉnh cao thì không thể nào người khác xuống vực thẳm. Giá trị tuyệt đối có thể khác nhau, nhưng nội tâm cảm thấy thế nào (tâm thái) thì phải tương tự.
Du nhập điều kiện chẳng qua là tùy người, sự, vật đặc thù mà quan sát, phân tích, so sánh; hy vọng từ đó suy ra sự phát triển hỗ tương (giữa các yếu tố). Nói rộng hơn chút là hy vọng dùng lá số của mình để đoán ra trạng thái của đối phương mà thôi.
Các sao trong lá số đã định thì có thể đoán các vận tốt xấu thế nào. Người có kết cấu thế này thì dễ xảy ra diễn biến thế kia; việc này khi phát sinh thì dễ có kết cục như thế kia v.v… Bởi vậy người luận mệnh theo cách truyền thống không du nhập thêm dữ kiện mà vẫn thường đoán ra hoàn cảnh của bạn.
Về việc luận hạn không đúng, thường tùy thuộc kinh nghiệm tu dưỡng của người đoán. Như người không tiêu hóa cái cũ, không uyển chuyển biến thông thì nhất định đoán không đúng; người biết phân tích khách quan, chịu vận dụng các điều kiện được du nhập để quan sát thì có thể tăng độ chính xác; nhưng đừng nghĩ đến việc chính xác trăm phần trăm vì khi xét đại hoàn cảnh của con người thì xã hội hôm nay phức tạp hơn hẳn ngày xưa, chỉ qua một đêm đảng cộng sản giải thể (dgc: Sách này in năm 1994, nhiều đảng cộng sản Đông Âu giải thể năm 1989, có lẽ đây ám chỉ việc ấy), qua một đêm sẽ còn chuyện lớn nào xảy ra nữa? Khó mà dự liệu. Độ chính xác con người có thể đạt tới khó mà biết được.
Hóa Lộc tăng độ tự tin và khả năng phán đoán của ta. Hóa Kị khiến ta lòng động tâm biến, thậm chí tạo hành vi sai lầm. Nhìn từ một góc độ khác hóa Lộc là “động năng” có ích cho thực tế mưu danh cầu lợi, hóa Kị là “tĩnh năng” (dịch giả chú: Ở đây soạn giả dùng chữ “vị năng”, vị đây là vị trí, ý nghĩa chính xác nhưng tiếng Việt dễ bị hiểu lầm, bởi vậy dịch giả mạn phép đổi thành “tĩnh năng”, tĩnh đây phản lại nghĩa động, thiếu chính xác hơn so với “vị năng” nhưng khó hiểu lầm hơn) thích hợp cho việc tiềm ẩn tích lũy, lợi cho việc phản tỉnh, kiểm thảo, tập luyện. Hóa Lộc thì phải phát huy tinh lực, xung kích đạt mục tiêu; hóa Kị thì phải suy tư, lo nghĩ, cẩn thận trong công việc. Như thế Lộc Kị đều là đời sống con người, có gì phải sợ? Sợ chăng không biết tiến thối mà thôi!
Hệ thống giáo dục của chúng ta dạy chúng ta phải “hóa Lộc” như thế nào, nhưng ít nói đến khi “hóa Kị” phải cư thể nào cho đúng; có nói chúng ta phải cắn răng cố vượt qua khổ ải, đừng táng tâm thối chí, không thành công thì thành nhân v.v… Đời người chỉ là tranh chức quán quân hay chăng? Quán quân chỉ có một người, cũng chẳng có “thường thắng tướng quân” (ông tướng thắng hoài), vậy những người còn lại chẳng có tiền đồ hay sao? Học mệnh lý phải nhìn rộng, lòng cũng phải mở rộng, tâm phải có sự thiện, bằng không càng học càng phiền, càng không thoải mái; chẳng bằng không học biết gì về mệnh lý.
Nói lan man vậy quá đủ. Chúng ta hãy trở lại với liên hệ hỗ tương giữa cô Dương và ông M.
Ông M sinh năm Mậu Tí, thành ra Lộc (Tham) chiếu hai cung phu nguyên thủy và hậu thiên (của cô Dương), lại tam hợp lưu niên, cho nên cô Dưong dễ động lòng vì cái tình của đối phương. Từ cung Tí là cung trọng điểm của ông M mà xét thấy có Âm Hỏa Kị thành cách “thập ác”, nhưng cung Tuất lại có Lộc (Cơ) Quyền (Lương) nguyên thủy của cô Dương, ý là ông M cùng cô Dưong có tình không duyên, lâu rồi cô Dương sẽ bỏ ông, nhưng vì lưu niên dẫn động quá mạnh, đại vận phu lại có kết cấu như thế mới tạo thành mối tình lẽ ra không nên có như vậy.
Bất luân dùng lưu niên hoặc thái tuế nhập quái, cung thê của ông M đều hiển nhiên có vấn đề to. Lưu niên thê ở Mùi tựa hồ là vị trí đa tình và bất ổn; còn Tuất thì có Kị (Cơ) nguyên thủy của ông M, lại thành cách cô khắc “Cơ Lương Kình”. Ông M năm ấy 37 tuổi, có gia đình rồi mới phải, nhưng vẫn độc thân (Kình của ông M ở Ngọ cũng chiếu vào Tuất).
Năm Giáp Tí 1984 cô Dương có thai, chuẩn bị lấy ông M thì phát hiện ông M bề ngoài văn nhã mà thực ra có đi lại với băng đảng, vả tính tình bất định, ở càng lâu càng chịu không nổi, không biết thời khắc tới là vui hay giận. Trong cảnh bạn với người như bạn với hổ đó, cô quyết định bỏ đi, bạn thử đoán xem tại sao?
Lưu niên tam kỳ gia hội (Liêm Phá Vũ) tái cát hóa Hợi và Dậu; nhưng Nhật kỵ dẫn động Âm Kị xung Tí, lại khiến Mùi thành song Kị giáp Kị. Mùi đại biểu gì? Lại xung Sửu có ý nghĩa gì? Xin độc giả suy nghĩ. Chẳng phải là người viết “bán cái” mà là để quí vị tự xem mình đã luyện đến đâu.
Năm Ất Sửu Lộc Quyền ở bản mệnh tử và lưu niên tử, nhưng đại hạn tử không tốt. Cô Dương sinh hai trai, trao cho người khác nuôi nấng.
Hạn Canh Thìn (36-45 tuổi)
Đại hạn VCD có Kình Hỏa không khỏi lao khổ. Được Nhật hạn Lộc và Cơ nguyên Lộc chiếu nên (thành quả) tốt. Hai Lộc này giáp Dậu nên sự phát triển của hạn này dựa trên cái nền có sẵn của hạn Kỷ Mão (dịch giả chú: Ấy bởi vì song Lộc ứng với cái tốt của hạn Thìn lại làm lợi Dậu, mà Mão tức đại hạn trước xung Dậu, nên cái tốt của hạn này có liên hệ với hạn trước, tức là những liên hê của hạn cũ có biến chuyển tốt đẹp trong hạn này).
Hạn quan của cô Dưong 20 năm tọa Lộc là cơ hội tốt, sự nghiệp phải có một thành tựu nào đó. Nhưng hạn Kỷ Mão Lộc Kỵ cùng thủ tạo nhiều cách ác thành thử khó ổn định. Hạn Canh Thìn tốt hơn, dù có sát tinh nhưng chỉ có Lộc không gặp Kỵ trở ngại tương đối ít. Thế nhưng muốn việc suôn sẻ từ đầu đến cuối e chẳng dễ dàng; rốt ráo thì vì nguyên mệnh và hạn mệnh đều vô chính diệu khó tránh ảnh hưởng của hoàn cảnh, phải đổi thay cho phù hợp khó mà giữ được lập trường, phương hướng.
Hạn phu ở Dần VCD Đà La Địa Kiếp thủ là vị trí bất ổn. Tam phương tuy được song Lộc chiếu nhưng cũng bị song Kị ở hạn phúc chiếu (chú: Âm Kị nguyên thủy và Đồng hạn Kị); vậy là Lộc phùng xung phá, không tốt.
Nếu coi cung Dần (hạn phu) là đối tượng, thì cung thê của đối tượng ở Tí VCD lại bị Hỏa Âm (thập ác) và Kình Âm (nhân li tài tán) chiếu. Cô Dương có nhiều cơ hội được người theo đuổi, chỉ là những người ấy cảm tình có vấn đê.
Năm Tân Mùi cô Dương 37 tuổi, lưu niên ở di nguyên thủy, cách cục to, nhưng Xương lưu Kị thủ, cô Dương có xác xuất cao hành xử sai lầm.
Bản mênh phu có cách ác Xương Tham chiếu, nội tâm đối với hôn nhân có khuynh hướng làm trái lẽ thường, tuy không nhất định kết hôn nhưng có thể dính líu đến một đoạn “kỳ tình”.
Đại vận phu đắc 3 Lộc hội chiếu, tăng độ ổn định rất nhiều, nhưng cung VCD rốt ráo vẫn là VCD, có mối nguy chìm nổi bất thường.
Lưu phu có Thiên Phủ là một sao ổn định, ngưởi gặp điều kiện có lẽ chẳng dở (cung quan Dậu có hai Lộc giáp phù), cung phu Mão bị Kình Đà giáp chế (cho nên) cẩn thận trong việc hôn nhân, nhưng gặp Xương Kị (cho nên) năm ấy cảm tình, hôn nhân có vấn đề.
Ông R sinh năm Kỷ Mão 1939, hơn cô Dương 16 tuổi, mệnh Lôc (Vũ) và Kỵ (Khúc) đều ở lưu niên mệnh (Mùi) cũng là cung thân của cô Dương, lại chiếu tiên thiên phu (ở Hợi) nên năm Tân Mùi cô Dương cảm sự chiếu cố của ông R.
Mão là cung trọng điểm của ông R, hai cung giáp đều VCD. Nhật Lộc (hạn Canh) xung đến Dần, Cơ Lộc (mệnh Ất) xung đến Thìn, khiến Mão được tính ổn định của song Lộc giáp, chỉ là ảnh hưởng tương đối nhỏ (chú: vì đều do xung cả). Cô Dương ắt có ấn tượng tốt với ông R, và có một loại duyên phận khó diễn tả thành lời được.
Sửu ứng cung thê của ông R, chính là bị cách Linh Xương Đà Vũ, quan hệ giữa cô Dương và ông R. có tính “đảo điên”, lẽ ra không nên có lại có (chú: Vì cách Xương Tham, Khúc Tham là “li chính vị nhi đảo điên”). Ông R. sự nghiệp đã thành, vợ con đều đã di cư ra nước ngoài chỉ còn mình ông trong nước, mới có cơ hội trồng nhân cho đoạn tình này.
Cô Dương và ông R tương lai phát triển thế nào?
Nếu xét đại vận phu thì Tân Tị, Nhâm Ngọ hai hạn Lộc đều chiếu đến Dần (chú: Cự hóa Lộc và Lương hóa Lộc), tựa hồ tình chưa hết; nếu xét Sửu (chú: coi là cung thê của ông R sinh năm Mão) thì ba vận sau Kị đều chiếu cả, tựa hồ tình đã dứt; vậy giải thích làm sao?
Cô Dương không thể thành vợ của ông R, nhưng liên hệ giữa hai người có thể tiếp tục phát triển, chỉ là từ hạn Tân Tị trở đi thì tình cảm cô Dương dành cho ông R càng lúc càng nhạt đi. Nhanh thì năm Bính Tí (42 tuổi ta) Liêm Kị nhập Mão tình cảm phai mờ, chậm thì năm Nhâm Ngọ (48 tuổi ta) vì Vũ Kị xung kích Mão.
Các hạn về sau:
Ba hạn Tân Tỵ, Nhâm Ngọ, Quý Mùi Kỵ đều ở Mùi, phá hoại mệnh, thân và ảnh hưởng tiên thiên phu, khiến cô Dương tâm tình khó ổn định, chuyện muốn kết hôn khó xảy ra, mà nếu kết hôn thì chẳng tốt đẹp được.
Ngoài ra cô Dương hạn Canh Thìn, Tân Tị phúc đức đều hóa Kị, thành các cách ác Âm Hỏa, Linh Xương Đà Vũ v.v… ngoài cái lo mất tiền ra, trạng thái tâm lý cũng cần đề phòng, nhất là hạn Tân Tị (dịch giả chú: Vì phúc ở Mùi cách cục rất rõ nét).
Lời kết:
Cô Dương cảm tình không thuận lợi, có thể cả đời không thành hôn, nguyên nhân có thể quy về:
Một: Mệnh vô chính diệu, hai cung giáp cũng vô chính diệu, hội họp có nhiều cách ác; khiến cá tính bất an, hành sự thiếu chín chắn, phán đoán dễ sai lầm.
Hai: Tiên thiên phu sao quá cương, lại vào cách cô quân, trừ tiêu chuẩn cảm tình quá cao, xử lý tình cảm quá cương nghị, thiếu cái dịu dàng của nữ giới. (Nhưng) cũng có thể vì đó mà phù hợp với sinh hoạt cảm tình độc lập như vậy.
Ba: Các hạn trong tuổi thích hợp thành hôn cung phu đều bị Kị xâm phạm, gây trở ngại trong cảm tình, không dễ gặp đối tượng tốt, lại là cung VCD thiếu ổn định.
Hạn Mậu Dần, Tí VCD bị tiên thiên Kị xung, thành cách Âm Hỏa.
Hạn Kỉ Mão, Sửu VCD bị Khúc Kị xung, thành cách Linh Xương Đà Vũ.
Hạn Canh Thìn, Dần VCD bị song Kị (Âm nguyên Kị, Đồng hạn Kị) chiếu.
Rồi đến hạn Tân Tị lại bị Xương Kị; rõ là bị Liên Kị nên trên đường tình ái bị cảnh gập ghềnh khó đi.
Ngoài ra bốn vận Kỷ Sửu, Mậu Dần, Kỷ Mão, Canh Thìn Lộc hoặc Quyền đều ở tiên thiên di khiến cô Dương hiếu thắng, đòi tranh đấu với số mệnh.
Tóm lại, lá số như cô Dương một đời nhiều xung động biến hóa, chuyện gì sẽ xảy ra chẳng dự liệu được nhưng chẳng đáng ngạc nhiên.
Hướng kê giường phòng ngủ tuổi Đinh Dậu 1957
– Năm sinh âm lịch: Đinh Dậu
– Quẻ mệnh: Đoài Kim
– Ngũ hành: Sơn Hạ Hỏa (Lửa trên núi)
– Thuộc Tây Tứ Mệnh, nhà hướng Bắc, thuộc Đông Tứ Trạch
– Hướng tốt: Tây Bắc (Sinh Khí); Đông Bắc (Diên Niên); Tây Nam (Thiên Y); Tây (Phục Vị);
– Hướng xấu: Bắc (Hoạ Hại); Đông (Tuyệt Mệnh); Đông Nam (Lục Sát); Nam (Ngũ Quỷ);

Phòng ngủ:
Con người luôn giành 30% cuộc đời mình cho việc ngủ, nên phòng ngủ chiếm một vai trò đặc biệt quan trọng.Vị trí phòng ngủ trong nhà và vị trí giường ngủ trong phòng ngủ nên ưu tiên ở hướng tốt (các hướng Sinh Khí, Thiên Y, Diên Niên, Phục Vị)
Gia chủ mang mệnh Hỏa, Mộc sinh Hỏa, nên hướng giường nên quay về hướng thuộc Mộc, là hướng Đông; Đông Nam;
Nếu tính cho các phòng ngủ của các thành viên khác trong gia đình, thì cần tính hành ứng với mỗi thành viên.
Màu sơn trong phòng ngủ, màu sắc rèm cửa nên sử dụng màu Xanh lá, đây là màu đại diện cho hành Mộc, rất tốt cho người hành Hỏa.
Tủ quần áo nên kê tại các góc xấu trong phòng để trấn được cái xấu, là các góc Ngũ Quỷ, Hoạ Hại, Lục Sát, Tuyệt Mệnh.
Giường ngủ cần tránh kê dưới dầm, xà ngang, đầu giường tránh thẳng với hướng cửa mở vào, thẳng với hướng gương soi.
Theo phong thủy văn phòng, mỗi con giáp lại có những điểm riêng cần phải chú ý. Bạn đã biết nên ngồi ở vị trí nào, bày đồ vật gì trên bàn làm việc để sự nghiệp hanh thông chưa? Lịch ngày tốt sẽ tiết lộ cho các bạn những bí mật này nhé.
Có thể nhiều bạn không biết rằng, những người thuộc con giáp khác nhau thì lại có những chú ý riêng về phong thủy văn phòng. Mỗi con giáp có những đặc điểm riêng, ví dụ như tuổi Dần ngũ hành khuyết Kim, trên bàn làm việc nên bày quả cầu thủy tinh màu vàng hoặc đá thạch anh vàng để tăng cường trí tuệ, nâng cao sức khỏe, đề phòng tiểu nhân… từ đó gặt hái được thêm nhiều thành công trong cuộc sống.
Vậy 12 con giáp nên biết những điều gì về phong thủy văn phòng? Phải làm gì để sự nghiệp hanh thông, tài lộc vượng phát? Hãy cùng Lịch ngày tốt khám phá bí mật này nhé.
MỤC LỤC
Phong thủy văn phòng cho người tuổi Tý
Phong thủy văn phòng cho người tuổi Sửu
Phong thủy văn phòng cho người tuổi Dần
Phong thủy văn phòng cho người tuổi Mão
Phong thủy văn phòng cho người tuổi Thìn
Phong thủy văn phòng cho người tuổi Tị
Phong thủy văn phòng cho người tuổi Ngọ
Phong thủy văn phòng cho người tuổi Mùi
Phong thủy văn phòng cho người tuổi Thân
Phong thủy văn phòng cho người tuổi Dậu
Phong thủy văn phòng cho người tuổi Tuất
Phong thủy văn phòng cho người tuổi Hợi
![]() |
Nam giới sinh năm Tý bàn làm việc nên ở vị trí tọa Bắc hướng Nam, nữ giới nên ở vị trí tọa Tây hướng Đông thì đại cát đại lợi. Đặc biệt với những cô gái chưa chồng thì càng phải chú ý và cố gắng ngồi đúng vị trí này ở văn phòng.
Người tuổi Tý mệnh khuyết Kim đa phần sinh từ ngày 19 tháng 2 đến ngày 4 tháng 5 âm lịch, tức mùa xuân, bát tự Mộc vượng Kim suy. Nam giới trên bàn làm việc có thể bày tượng Khỉ bằng đồng hoặc cầu thủy tinh. Với nữ tuổi Tý mệnh khuyết Kim, nên bày tượng Gà, Rồng bằng đồng. Làm như vậy sẽ giúp tài vận tăng tiến, được lòng cấp trên, đồng nghiệp và đối tác.
Người tuổi Tý mệnh khuyết Thủy, đa phần sinh từ ngày 5 tháng 5 đến ngày 7 tháng 8, tức mùa hạ, bát tự Hỏa vượng Thủy suy. Nam giới nên đặt bàn làm việc ở vị trí tọa Bắc hướng Đông, là nữ giới thì nên ở vị trí tọa Tây hướng Đông. Ngoài ra, cũng có thể đặt ở vị trí tọa Đông Nam hướng Tây Bắc.
Trên bàn làm việc, người tuổi Tý mệnh khuyết Thủy nên đặt một bể cá nhỏ, nuôi một con cá màu đen và hai con màu trắng. Nam giới có thể nuôi hai con cá màu trắng, bày thêm tượng Thiềm Thừ bằng vàng. Đây là một trong những phương pháp để cải thiện số mệnh của lá số tử vi mệnh khuyết Thủy.
Ngoài bể cá, nữ giới nên bày một bình hoa và cắm 4 cành hoa trắng như ly, lan, loa kèn… Nam giới thì nên cắm trúc phú quý. Nhờ đó có thể tăng cường trí tuệ và tài năng cho chủ sở hữu.
Người tuổi Tý mệnh khuyết Hỏa, đa phần sinh từ ngày 8 tháng 11 đến ngày 18 tháng 2, tức mùa đông, bát tự Thủy vượng Hỏa suy. Thủy vượng mà Hỏa suy, trên bàn làm việc có thể bày tượng Long Quy. Nữ giới nên đặt thêm bình hoa màu đỏ, cắm 3 bông hoa hồng đỏ hoặc các loại hoa mang sắc đỏ khác. Nam giới có thể bày thêm quả cầu thủy tinh hoặc thạch anh đỏ để tăng thêm vận may cho mình. Vị trí thích hợp nhất để đặt bàn làm việc là tọa Nam hướng Bắc.
Người tuổi Tý mệnh khuyết Mộc, đa phần sinh từ ngày 8 tháng 8 đến ngày 7 tháng 11, tức mùa thu, bát tự Kim vượng Mộc suy. Trước tiên, ở văn phòng người này nên chọn chỗ ngồi ở tọa Đông hướng Tây, hay tọa Đông Nam hướng Tây Bắc.
Người này có thể đặt bên cạnh bàn làm việc một chậu trúc phú quý hoặc bày rổ hoa quả trên mặt bàn, tốt nhất nên chọn quả táo. Nữ giới nên bày tượng Mèo, nam giới thì đặt tượng Rồng. Mão Mộc có thể bổ khuyết Mộc, nâng cao trí tuệ, còn Thìn tượng trưng cho sự nghiệp lên cao, cũng có thể tích tài tụ lộc.
Trúc phú quý là cây phong thủy rất được ưa chuộng, đọc Những lý do theo phong thủy này bạn sẽ muốn mua trúc phú quý ngay lập tức.
![]() |
Nam giới sinh năm Sửu nên ngồi ở vị trí tọa Bắc hướng Nam, tọa tây hướng Đông hoặc tọa Tây Bắc hướng Đông Nam. Nữ giới thì nên chọn vị trí tọa Đông hướng Tây, tọa Nam hướng Bắc, trên bàn làm việc bày quả cầu thủy tinh hoặc thạch anh tím để tăng vận thế.
Để biết thêm về vận thế cuộc đời, mời bạn đọc thêm Tử vi trọn đời cho người tuổi Sửu nhé.
Nam giới nên đặt trên bàn tượng Gà đồng để chiêu Quý nhân, nhờ đó mà công danh sự nghiệp thăng tiến ầm ầm. Nữ giới cũng có thể đặt tượng Voi đồng hoặc Tỳ hưu để trí tuệ càng thêm minh mẫn.
Người tuổi Sửu mệnh khuyết Kim, đa phần sinh từ ngày 19 tháng 2 đến ngày 4 tháng 5, tức mùa xuân, bát tự Mộc vượng Kim suy. Nam giới có thể bày tượng Khỉ ôm chữ như ý, Khỉ ôm quả hồ lô, ôm Văn Xương tháp, tượng trưng cho sự nghiệp được quý nhân nâng đỡ, thăng bước lên mây. Nữ giới có thể bày quả cầu thạch anh trắng hoặc tượng Gà trống đồng.
Người tuổi Sửu mệnh khuyết Thủy, đa phần sinh từ ngày 5 tháng 5 đến ngày 7 tháng 8, tức mùa hạ, bát tự Hỏa vượng Thủy suy. Bàn làm việc nên có tượng Chuột đồng, Tý Thủy bổ sung cho mệnh khuyết, ngoài ra cũng có thể đặt thêm bể cá nhỏ để tăng yếu tố Thủy. Nữ giới thì nên đặt tượng Heo vàng tượng trưng cho Hợi Thủy. Đặc biệt, nếu có thêm bình hoa, nhất là bình gốm sứ vẽ hình sơn thủy, trong bình đựng nước hoặc cắm thêm hoa thì tài lộc như ý, thần trí minh tuệ.
Người tuổi Sửu mệnh khuyết Mộc, đa phần sinh từ ngày 8 tháng 8 đến ngày 7 tháng 11, tức mùa thu, bát tự Kim vượng Mộc suy. Nên bày tượng Mèo đồng (Mão Mộc) hoặc chậu cây nhỏ trên bàn. Để biết thêm chi tiết, mời bạn đọc bài Chỉ rõ bản chất của lá số tử vi mệnh khuyết Mộc.
Người tuổi Sửu mệnh khuyết Hỏa, đa phần sinh từ ngày 8 tháng 11 đến ngày 18 tháng 2, tức mùa đông, bát tự Thủy vượng Hỏa suy. Nam giới nên chọn chỗ ngồi tọa Nam hướng Bắc, nữ giới thì tọa Đông nam hướng Tây Bắc. Trên bàn làm việc, nam giới nên đặt tượng Hồ lô, nữ giới đặt quả cầu thạch anh tím, nhờ đó tài lộc càng thêm vượng phát, có thêm nhiều cơ hội phát huy năng lực bản thân, được cấp trên công nhận và tín nhiệm.
![]() |
Với người tuổi Dần, vị trí bàn làm việc tốt nhất là tọa Tây Bắc hướng Đông Nam. Nữ giới nên chọn tọa Đông hướng Tây hoặc tọa Nam hướng Bắc. Các cô gái trẻ chưa chồng thì đẹp nhất là ở vị trí tọa Nam hướng Bắc.
Trên bàn làm việc bày một viên đá phong thủy nhỏ để tăng thêm tài vận, tùy theo sở thích mà chọn đá Thái Sơn hoặc thạch anh, ngọc… đều được. Làm vậy sẽ có thể hóa giải họa tiểu nhân, tăng cường năng lực bản thân, sự nghiệp ngày càng thăng tiến.
Ngoài ra, tượng Ngựa phong thủy cũng là lựa chọn không tồi, đại diện cho mối quan hệ xã giao hài hòa. Tượng làm bằng nhiều chất liệu từ đồng đến thạch anh, gỗ đều tốt. Người còn độc thân lại càng nên đặt tượng này trên bàn để vận đào hoa thêm nở rộ.
Người tuổi Dần mệnh khuyết Thủy, đa phần sinh từ ngày 5 tháng 5 đến ngày 7 tháng 8, tức mùa hạ, bát tự Hỏa vượng Thủy suy. Bàn làm việc của người này nên bày đá thạch anh đen hoặc tượng Heo đồng, Heo thạch anh hoặc tượng Heo đàn có Heo mẹ Heo con thì càng tốt. Nếu có bể cá thì nên nuôi 6 con cá màu đen.
Bạn đã biết Cách bày bể cá cảnh chuẩn phong thủy 12 con giáp để thăng tiến chưa?
Người tuổi Dần mệnh khuyết Mộc, đa phần sinh từ ngày 8 tháng 8 đến ngày 7 tháng 11, tức mùa thu, bát tự Kim vượng Mộc suy. Kim vượng nên người này làm việc nhanh nhẹn dứt khoát, tính cách thẳng thắn dễ làm mất lòng người. Song về mặt tình cảm, họ lại khá yếu đuối, đặc biệt dễ mù quáng trong tình yêu.
Ở văn phòng, người này tốt nhất nên ngồi ở vị trí tọa Đông hướng Tây, bày trên bàn bình hoa nhỏ, cắm hoa hoặc 4 cành trúc phú quý hay trúc Văn Xương. Túi xách hay đồ dùng văn phòng nên chọn nhiều màu đen, màu xanh lá.
Ngoài ra, cách hóa giải tốt nhất cho phong thủy văn phòng của người tuổi Dần mệnh khuyết Mộc là bày trên bàn 4 cuốn sách để cải đổi vận thế. Sau 100 ngày, bạn sẽ thấy sự khác biệt trong vận thế của mình, cấp trên chắc chắn sẽ có lòng công nhận tài năng của bạn và giao cho bạn thêm nhiều trọng trách.
Người tuổi Dần mệnh khuyết Hỏa, đa phần sinh từ ngày 8 tháng 11 đến ngày 18 tháng 2, tức mùa đông, bát tự Thủy vượng Hỏa suy. Người này nên ngồi ở vị trí tọa Đông hướng Tây, nữ giới thì tọa Nam hướng Bắc. Bàn làm việc nên để một bình sứ phong thủy màu đỏ, cắm hoa tươi màu sắc rực rỡ để tăng thêm vận khí.
![]() |
Trong số 12 con giáp, đây là con giáp có tính cách hiền hòa nhất, cũng có giác quan thứ 6 nhạy bén nhất. Mão thuộc hành Mộc, đây cũng là con giáp duy nhất không gặp phải vận hạn gì lớn trong năm bản mệnh mà ngược lại, vận trình lại có phần tốt hơn nhiều.
Để biết thêm vận trình người tuổi Mão trong năm này, bạn hãy xem thêm Tử vi 2017 nhé.
Trong năm bản mệnh, người tuổi Mão nên chọn chỗ ngồi ở văn phòng tọa Đông Nam hướng Tây Bắc hoặc tọa Tây Bắc hướng Đông Nam. Với nữ giới, có thể chọn thêm vị trí tọa Đông hướng Tây nữa.
Người tuổi Mão mệnh khuyết Kim, đa phần sinh từ ngày 19 tháng 2 đến ngày 4 tháng 5, tức mùa xuân, bát tự Mộc vượng Kim suy. Nữ giới nên ngồi bàn làm việc tọa Tây Nam hướng Đông Bắc hoặc tọa Tây Bắc hướng Đông Nam. Bên tay trái có thể đặt một viên đá phong thủy hoặc tượng Chó phong thủy bằng đồng hoặc vải, sứ.
Nam giới tuổi này mệnh khuyết Kim bàn làm việc tọa Tây Bắc hướng Đông Nam là tốt nhất, trên bàn đặt tháp đồng hoặc hồ lô đồng nhỏ để trí óc thêm phần sáng rõ. Mời bạn đọc thêm Chỉ rõ bản chất của lá số tử vi mệnh khuyết Kim để có thể tự cải thiện số mệnh của mình nhé.
Người tuổi Mão mệnh khuyết Thủy, đa phần sinh từ ngày 5 tháng 5 đến ngày 7 tháng 8, tức mùa hạ, bát tự Hỏa vượng Thủy suy. Trên bàn làm việc của nam giới nên đặt tượng Heo đồng hoặc tượng Voi đang hút nước bằng gỗ hoặc đá. Nữ giới có thể bày trên bàn quả cầu thạch anh tím lưu ly hoặc tượng Chuột đồng, bể cá nuôi 2 con cá màu đen.
Người tuổi Mão mệnh khuyết Mộc, đa phần sinh từ ngày 8 tháng 8 đến ngày 7 tháng 11, tức mùa thu, bát tự Kim vượng Mộc suy. Bàn làm việc của người này nên có bình hoa hoặc cây nhỏ, bày thêm sách bút để tăng thêm vận khí. Chỗ ngồi nên là vị trí tọa Đông hướng Tây.
Người tuổi Mão mệnh khuyết Hỏa, đa phần sinh từ ngày 8 tháng 11 đến ngày 18 tháng 2, tức mùa đông, bát tự Thủy vượng Hỏa suy. Trên bàn làm việc, bày tượng Ngựa, Long Quy phong thủy sẽ thêm phần may mắn. Cũng có thể cắm 3 bông hoa hồng đỏ hoặc đặt chậu ớt cảnh đỏ, quả cầu thạch anh màu đỏ.
![]() |
Nam giới tuổi Thìn ở văn phòng tốt nhất ngồi ở vị trí tọa Bắc hướng Nam hoặc tọa Tây hướng Đông. Nữ giới nên chọn tọa Tây Nam hướng Đông Bắc hay tọa Đông Bắc hướng Tây Bắc.
Người tuổi Thìn mệnh khuyết Kim, đa phần sinh từ ngày 19 tháng 2 đến ngày 4 tháng 5, tức mùa xuân, bát tự Mộc vượng Kim suy. Nam giới nên bày trên bàn 2 tượng Gà đồng phong thủy. Nữ giới thì chọn tượng Khỉ như ý.
Người tuổi Thìn mệnh khuyết Thủy, đa phần sinh từ ngày 5 tháng 5 âm lịch đến ngày 7 tháng 8, tức mùa hạ, bát tự Hỏa vượng Thủy suy. Chỗ ngồi ở văn phòng của người này nên là tọa Bắc hướng Nam. Đàn ông nên bày đá thạch anh phong thủy hoặc một bình trà lớn, nhớ đừng để nước trong bình vơi để bổ khuyết cho bản mệnh.
Phụ nữ mệnh khuyết Thủy thì nuôi bình cá nhỏ có 4 con cá. Cũng có thể để bát thả hoa hoặc đá thạch anh phong thủy màu đen để trợ thêm vận khí.
Có lẽ bạn sẽ quan tâm đến Chọn địa thế tốt để việc làm ăn phất như vũ bão.
Người tuổi Thìn mệnh khuyết Mộc, đa phần sinh từ ngày 8 tháng 8 đến ngày 7 tháng 11, tức mùa thu, bát tự Kim vượng Mộc suy. Nữ giới nên chọn chỗ tọa Đông Nam hướng Tây Bắc, nam giới thì chọn tọa Đông hướng Tây là tốt nhất. Bàn làm việc nên có đĩa hoa quả hoặc chậu hoa nhỏ để vượng khí phát tài.
Người tuổi Thìn mệnh khuyết Hỏa, đa phần sinh từ ngày 8 tháng 11 đến ngày 18 tháng 2, tức mùa đông, bát tự Thủy vượng Hỏa suy. Người này ngồi tọa Nam hướng Bắc sẽ tốt cho sự nghiệp. Bàn làm việc có thể đặt tượng Long Quy hoặc cắm bình hoa hồng đỏ. Nam giới nên đặt tượng Quan Công cưỡi ngựa hoặc tượng hồ lô để phát tài phát lộc.
![]() |
Theo tử vi, Tị thuộc hành Hỏa, bàn làm việc của người này nên tọa Tây hướng Đông để đón cát khí từ hướng Đông thổi đến. Nữ giới có thể ngồi vị trí tọa Đông Nam hướng Tây Bắc.
Người tuổi Tị mệnh khuyết Kim, đa phần sinh từ ngày 19 tháng 2 đến ngày 4 tháng 5, tức mùa xuân, bát tự Mộc vượng Kim suy. Trên bàn nên bày tượng Gà, Trâu phong thủy. Nữ giới có thể bày tượng Khỉ cưỡi Voi hoặc quả cầu thạch anh màu trắng. Bình thủy tinh cắm 4 bông hồng trắng cũng là lựa chọn không tồi.
Người tuổi Tị mệnh khuyết Thủy, đa phần sinh từ ngày 5 tháng 5 đến ngày 7 tháng 8, tức mùa hạ, bát tự Hỏa vượng Thủy suy. Hỏa vượng, người tuổi này nên chọn chỗ ngồi tọa Đông Bắc hướng Tây Nam hay tọa Tây Nam hướng Đông Bắc.
Vận số năm Tị theo con giáp, bạn biết chưa nhỉ?
Bàn làm việc của nam giới mệnh này nên đặt cốc uống nước bằng inox hoặc sứ màu trắng ở bên phải, nữ giới thì đặt bên trái. Cũng có thể thường xuyên để một chai nước khoáng ở đó để bổ sung khuyết thiếu ngũ hành cho bản mệnh. Nếu không, hãy chọn quả cầu phong thủy màu trắng.
Người tuổi Tị mệnh khuyết Mộc, đa phần sinh từ ngày 8 tháng 8 đến ngày 7 tháng 11, tức mùa thu, bát tự Kim vượng Mộc suy. Cả nam hay nữ đều có thể ngồi ở vị trí tọa Đông hướng Tây, bày thêm tượng 4 con Mèo trên bàn để đại cát đại lợi.
Người tuổi Tị mệnh khuyết Hỏa, đa phần sinh từ ngày 8 tháng 11 đến ngày 18 tháng 2, tức mùa đông, bát tự Thủy vượng Hỏa suy. Thủy vượng, người này nên có bàn làm việc tọa Nam hướng Bắc. Bàn làm việc của nam giới nên bày tượng Hồng Mã, còn nữ giới thì đặt tượng Long Quy sẽ tăng thêm tài vận cho bản mệnh.
![]() |
Người sinh năm Ngựa có một tật xấu, đó là quá cầu toàn. Họ luôn không hài lòng với những việc mình đã làm, yêu cầu sự hoàn hảo tuyệt đối. Người này thường cho rằng tài năng của mình bị chôn vùi một chốn và không ngừng tìm kiếm cơ hội phát triển sự nghiệp.
Song điều nổi bật của người tuổi này trong công việc là không ngại khó ngại khổ, có điều dễ bị thay đổi mục tiêu, vì thế mà thường xuyên thay đổi công việc.
Vị trí ngồi nơi công sở có thể thay đổi vận mệnh, nam giới nên chọn chỗ tọa Đông Bắc hướng Tây Nam hoặc tọa Đông hướng Tây, nữ giới nên chọn chỗ tọa Tây Nam hướng Đông Bắc hoặc tọa Tây hướng Đông.
Đặc biệt, với nữ giới, vị trí bàn làm việc này sẽ giúp bạn không phải chịu quá nhiều vất vả trong công việc, cũng tăng thêm lòng kiên định và nâng cao vận khí.
Bạn đã biết cách Tiến lên nấc thang công danh nhờ 16 chiêu phong thủy cực độc này chưa?
Người tuổi Ngọ mệnh khuyết Kim, đa phần sinh từ ngày 19 tháng 2 đến ngày 4 tháng 5, tức mùa xuân, bát tự Mộc vượng Kim suy. Nam nữ mệnh này nên ngồi tọa Tây hướng Đông. Bàn làm việc có tượng Dê đồng, Tì hưu đồng sẽ giúp vận khí thêm tăng tiến, sự nghiệp và nhân duyên đều thêm vượng phát. Cầu thạch anh màu vàng hay tượng Như ý cũng có tác dụng tương tự. Nữ giới thì đặt đá thạch anh màu trắng cũng rất tốt.
Người tuổi Ngọ mệnh khuyết Thủy, đa phần sinh từ ngày 5 tháng 5 đến ngày 7 tháng 8, tức mùa hạ, bát tự Hỏa vượng Thủy suy. Vị trí tốt nhất ở nơi công sở của người này là tọa Tây Bắc hướng Đông Nam. Bàn làm việc của nam giới có thể đặt tượng Thiềm Thừ vàng, nữ giới thì có thể dùng đá thạch anh phong thủy để bổ sung vận khí. Tượng Rồng là vật phẩm phong thủy cho cả nam và nữ mệnh này.
Người tuổi Ngọ mệnh khuyết Mộc, đa phần sinh từ ngày 8 tháng 8 âm lịch đến ngày 7 tháng 11, tức mùa thu, bát tự Kim vượng Mộc suy. Người này nên đặt bàn làm việc ở vị trí tọa Đông hướng Tây. Riêng nữ giới, vị trí đẹp nhất là tọa Đông Nam hướng Tây Bắc. Trên bàn của nam nên bày tượng Như ý, còn nữ thì bày tượng Mèo phong thủy.
Người tuổi Ngọ mệnh khuyết Hỏa, đa phần sinh từ ngày 8 tháng 11 đến ngày 19 tháng 2, tức mùa đông, bát tự Thủy vượng Hỏa suy. Thủy vượng, trên bàn làm việc, nam giới nên chọn tượng Hồng Mã, còn nữ giới nên chọn tượng Chó phong thủy. Vị trí tốt để ngồi ở văn phòng cho nam là tọa Đông Bắc hướng Tây Nam, nữ là tọa Nam hướng Bắc.
![]() |
Nam giới tuổi Mùi nên đặt bàn làm việc tọa Nam hướng Bắc, nữ giới thì chọn vị trí tọa Tây Nam hướng Đông Bắc. Với những cô gái chưa chồng, để tăng vận đào hoa thì nên chọn chỗ tọa Đông Nam hướng Tây Bắc sẽ có kết quả tốt nhất.
Người tuổi Mùi mệnh khuyết Kim, đa phần sinh từ ngày 19 tháng 2 đến ngày 4 tháng 5, tức mùa xuân, bát tự Mộc vượng Kim suy. Bàn làm việc của người này đặt tượng Khỉ cưỡi Ngựa hoặc bày đá Thái Sơn phong thủy rất thích hợp. Treo dây 6 đồng tiền xu bằng đồng cũng sẽ thu được hiệu quả khả quan, giúp con đường sự nghiệp thuận buồm xuôi gió. Đá thạch anh màu trắng thì sẽ tăng phần tài lộc cho bản mệnh. Chỗ ngồi đẹp nhất trong văn phòng là tọa Tây Bắc hướng Đông Nam.
Người tuổi Mùi mệnh khuyết Thủy, đa phần sinh từ ngày 5 tháng 5 đến ngày 7 tháng 8, tức mùa hạ, bát tự Hỏa vượng Thủy suy. Thủy vượng, nữ mệnh chủ nên đặt bàn làm việc tọa Tây Bắc hướng Đông Nam, trên bàn cắm 4 cành trúc phú quý hoặc bình hoa tươi, cũng có thể dùng bình thủy tinh đựng đầy nước. Nam giới tốt nhất chọn vị trí tọa Bắc hướng Nam, trên bàn đặt bể cá nhỏ và bình thủy tinh đựng nước bên tay phải, mỗi sáng lại đổ thêm nước để tăng thêm vận khí.
Cầu điều gì bày cây nấy để cải thiện phong thủy văn phòng, đừng bỏ lỡ nhé.
Người tuổi Mùi mệnh khuyết Mộc, đa phần sinh từ ngày 8 tháng 8 đến ngày 7 tháng 11, tức mùa thu, bát tự Kim vượng Mộc suy. Nữ giới nên chọn chỗ ngồi tọa Đông hướng Tây, bàn làm việc bày 3 con Mèo phong thủy để trí tuệ càng thêm minh mẫn. Nam giới mệnh này bàn làm việc nên tọa Đông Bắc hướng Tây Nam. Nam hay nữ đều có thể chọn cắm 4 cành trúc phú quý trên bàn.
Người tuổi Mùi mệnh khuyết Hỏa, đa phần sinh từ ngày 8 tháng 11 đến ngày 18 tháng 2, tức mùa đông, bát tự Thủy vượng Hỏa suy. Tọa Nam hướng Bắc là vị trí thích hợp ngồi làm việc của nam giới, còn nữ giới thì nên là tọa Tây hướng Đông. Bàn của nữ nên thường xuyên cắm hoa tươi, còn nam thì bày tượng Hồng mã để Hỏa vượng thêm.
![]() |
Để có mối quan hệ xã giao hữu hảo, nam giới tuổi Thân nên đặt bàn làm việc tọa Bắc hướng Nam, nữ giới thì chọn vị trí tọa Tây hướng Đông.
Người tuổi Thân mệnh khuyết Kim, đa phần sinh từ ngày 19 tháng 2 đến ngày 4 tháng 5, tức mùa xuân, bát tự Mộc vượng Kim suy. Chỗ ngồi hợp phong thủy văn phòng cho người này là tọa Tây hướng Đông, tọa Tây Bắc hướng Đông Nam. Đặc biệt chú ý, chớ ngồi phía dưới dầm nhà hay đèn chum, cùng không ngồi đối diện với cây nước uống hoặc vòi nước, tốt nhất là chọn vị trí có thế dựa núi. Đá thạch anh phong thủy màu trắng hoặc vàng sẽ bổ sung khuyết thiếu cho bản mệnh.
Mời bạn đọc thêm: Treo tranh hợp nghề, phong thủy văn phòng tốt đẹp rực rỡ.
Người tuổi Thân mệnh khuyết Hỏa, đa phần sinh từ ngày 8 tháng 11 đến ngày 18 tháng 2, tức mùa đông, bát tự Thủy vượng Hỏa suy. Nữ giới nên chọn chỗ ngồi tọa Tây hướng Đông để nhận cát khí từ hướng Đông tới. Nam giới thì ngồi vị trí tọa Bắc hướng Nam sẽ rất vượng tài. Trên bàn nên bày bình hoa hoặc hồ lô đồng, cũng có thể đặt tượng Khỉ cưỡi Ngựa.
Người tuổi Thân mệnh khuyết Mộc, đa phần sinh từ ngày 8 tháng 8 đến ngày 7 tháng 11 âm lịch, tức mùa thu, bát tự Kim vượng Mộc suy. Nam giới mệnh này bàn làm việc tọa Đông hướng Tây, nữ giới thì tọa Tây hướng Đông là tốt nhất. Tượng Mèo phong thủy tốt cho nam, còn tượng Dê phong thủy dành cho nữ để bổ sung vận khí.
Người tuổi Thân mệnh khuyết Thủy, đa phần sinh từ ngày 5 tháng 5 đến ngày 7 tháng 8, tức mùa hạ, bát tự Hỏa vượng Thủy suy. Ở công sở, người này có chỗ ngồi tọa Bắc hướng Nam sẽ có sự nghiệp tăng tiến không ngừng. Nam giới nên đặt tượng Rồng đá hoặc đồng trên bàn. Nữ thì bày hoa tươi là tốt nhất. Nếu không muốn khoa trương, các bạn có thể chọn 2 bức tượng chuột đồng phong thủy ôm tiền nho nhỏ cũng có tác dụng tương tự.
![]() |
Chỗ ngồi thích hợp nhất trong phong thủy văn phòng cho người tuổi Dậu là tọa Đông Nam hướng Tây Bắc, tọa Đông hướng Tây hoặc tọa Đông Bắc hướng Tây Nam.
Người tuổi Dậu mệnh khuyết Kim, đa phần sinh từ ngày 19 tháng 2 đến ngày 4 tháng 5, tức mùa xuân, bát tự Mộc vượng Kim suy. Bàn làm việc của người này nhất định phải chọn vị trí tọa Tây Bắc hướng Đông Nam để có sự nghiệp hanh thông. Trên bàn bày tượng Rồng, Heo bằng đồng hoặc thạch anh. Nữ giới có thể cắm hoa tươi thường xuyên.
Người tuổi Dậu mệnh khuyết Mộc, đa phần sinh từ ngày 8 tháng 8 đến ngày 7 tháng 11, tức mùa thu, bát tự Kim vượng Mộc suy. Người này nên đặt bàn làm việc tọa Đông Nam hướng Tây Bắc hoặc tọa Tây hướng Đông. Trên bàn bày chậu cây nhỏ hoặc bình hoa tươi để bổ sung khuyết thiếu cho bản mệnh. Trúc phú quý là lựa chọn không tồi cho người này.
Chọn cây phong thủy để bàn trợ lực nghề nào phát nghề đó, đọc ngay bạn nhé.
Người tuổi Dậu mệnh khuyết Hỏa, đa phần sinh từ ngày 8 tháng 11 đến ngày 18 tháng 2, tức mùa đông, bát tự Thủy vượng Hỏa suy. Tốt nhất nên ngồi ở vị trí tọa Nam hướng Bắc. Trên bàn bày tượng Ngựa gỗ, Long Quy để tài lộc được ngày càng vượng phát.
Người tuổi Dậu mệnh khuyết Thủy, đa phần sinh từ ngày 5 tháng 5 đến ngày 7 tháng 8, tức mùa hạ, bát tự Hỏa vượng Thủy suy. Nếu ngồi ở vị trí tọa Tây Bắc hướng Đông Nam thì theo phong thủy văn phòng sẽ vô cùng thuận lợi trong sự nghiệp. Một bí mật nhỏ để tăng cường vận khí cho cả nam và nữ mệnh này là luôn đặt một bình, bát, cốc thủy tinh đựng nướctrên bàn nhé.
![]() |
Những người tuổi Tuất ở nơi làm việc nên chọn chỗ ngồi tọa Bắc hướng Nam hoặc tọa Đông Bắc hướng Tây Nam. Nữ giới thì chọn chỗ tọa Tây hướng Đông sẽ tốt hơn, đặc biệt là những cô gái chưa chồng.
Người tuổi Tuất mệnh khuyết Kim, đa phần sinh từ ngày 19 tháng 2 đến ngày 4 tháng 5, tức mùa xuân, bát tự Mộc vượng Kim suy. Vị trí bàn làm việc tọa Đông Bắc hướng Tây Nam, tọa Tây Bắc hướng Đông Nam sẽ hỗ trợ thêm cho bản mệnh trong sự nghiệp.
Nam giới mệnh khuyết Kim nên đặt đồng xu Như ý hoặc quả cầu thạch anh màu trắng, tiền xu Như ý tượng trưng cho thăng tiến trong công việc, còn quả cầu thạch anh có thể triệu hồi quý nhân. Nữ giới có thể bày tượng Phật nhỏ bằng đá thạch anh hoặc bằng đồng.
Người tuổi Tuất mệnh khuyết Mộc, đa phần sinh từ ngày 8 tháng 8 đến ngày 7 tháng 11, tức mùa thu, bát tự Kim vượng Mộc suy. Người này nên chọn chỗ ngồi tọa Đông hướng Tây. Trên bàn nam giới nên bày 4 cuốn sách, còn nữ giới bày 4 tượng Mèo phong thủy để vừa chiêu tài vừa cầu duyên.
Người tuổi Tuất mệnh khuyết Hỏa, đa phần sinh từ ngày 8 tháng 11 đến ngày 18 tháng 2, tức mùa đông, bát tự Thủy vượng Hỏa suy. Nam giới ngồi vị trí tọa Nam hướng Bắc, nữ giới thì tọa Tây hướng Đông sẽ thêm phần cát khí. Bàn làm việc của nam nên đặt tượng Heo, Ngựa phong thủy, còn nữ thì bày tượng Chó, Voi hoặc Gấu mèo.
Bạn đã biết Người tuổi Tuất hợp với tuổi gì trong tình yêu hôn nhân hay chưa?
![]() |
Người tuổi Hợi nên chọn chỗ ngồi tọa Đông hướng Tây để hợp với phong thủy văn phòng, tài lộc dồi dào, công danh thịnh vượng. Ngoài ra, nam giới có thể chọn vị trí tọa Đông Nam hướng Tây Bắc, nữ giới thì tọa Đông Bắc hướng Tây Nam, tọa Tây Nam hướng Đông Bắc để Thiên Tài vượng phát.
Người tuổi Hợi mệnh khuyết Kim, đa phần sinh từ ngày 19 tháng 2 đến ngày 4 tháng 5, tức mùa xuân, bát tự Mộc vượng Kim suy. Bàn làm việc của người này nếu ở vị trí tọa Tây Bắc hướng Đông Nam sẽ tốt nhất. Trên bàn có thể bày tháp đồng hoặc tượng Mèo phong thủy bằng đồng.
Riêng nữ giới mệnh khuyết Kim, chỗ ngồi tọa Tây hướng Bắc sẽ thích hợp hơn, cũng nên đặt tượng Dê đồng hoặc hồ lô đồng hay quả cầu thạch anh phong thủy.
Chìa khóa vàng bài trí phong thủy thịnh phát, bạn đã biết chưa?
Người tuổi Hợi mệnh khuyết Thủy, đa phần sinh từ ngày 5 tháng 5 đến ngày 7 tháng 8, tức mùa hạ, bát tự Hỏa vượng Thủy suy. Trên bàn làm việc bày tượng Chuột vàng hoặc bể cá nuôi 4 con cá màu trắng sẽ tốt cho bản mệnh. Tọa Bắc hướng Nam là vị trí chỗ ngồi lý tưởng đối với họ.
Người tuổi Hợi mệnh khuyết Mộc, đa phần sinh từ ngày 8 tháng 8 đến ngày 7 tháng 11, tức mùa thu, bát tự Kim vượng Mộc suy. Bàn làm việc tọa Đông hướng Tây sẽ hợp với phong thủy văn phòng. Nên đặt chậu cây nhỏ hoặc bình hoa tươi để bổ sung khuyết thiếu cho bản mệnh.
Người tuổi Hợi mệnh khuyết Hỏa, đa phần sinh từ ngày 8 tháng 11 đến ngày 18 tháng 2, tức mùa đông, bát tự Thủy vượng Hỏa suy. Người này nên ngồi vị trí tọa Nam hướng Bắc, bày trên bàn tượng Quan Công cưỡi ngựa, vừa triệu quý nhân vừa chiêu tài chiêu lộc, lại vượng phát nhân duyên. Đồ dùng văn phòng nên dùng màu đỏ là chủ yếu để bổ sung hành Hỏa cho bản mệnh.
An An
Áp dụng phong thủy để công việc lên như diều gặp gió Phong thủy trái cây thu hút sự thịnh vượng và may mắn như thế nào? Muốn tăng lương thăng chức chớ bỏ qua 8 bí kíp phong thủy này
![]() |
![]() |
| Ảnh minh họa |
| ► Cùng bói cung hoàng đạo để tìm những điều thú vị về bạn |
1. Răng cửa và sức khỏe
Theo nhân tướng học, răng cửa là bộ phận đại diện cho tuyến yên (tuyến này quản lí hệ thống nội tiết). Do đó, răng cửa cũng có sự ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới việc bài tiết hormon giới tính của cơ thể. Răng cửa đều, sạch và sáng phản ánh sức khỏe tốt, khí huyết lưu thông. Ngược lại sẽ cho biết khí huyết suy yếu, khả năng phòng the của đàn ông giảm.
![]() |
Thiên Phủ là chủ tinh của Hệ Nam đẩu.
Tính chất của Chủ tinh mang một đặc điểm trên mặt nào đó, cũng có tài năng lãnh đạo nhưng Tử vi khả năng sang mạnh mẽ, trong khi Thiên Phủ chỉ đắc lực khi cục diện đã xong xuôi.
Thiên Phủ dễ bị ảnh hưởng người khác, tính quyết định thấp!
Cổ nhân coi Tử Vi chủ về tước lộc và chỉ xem Thiên Phủ chủ về tiền bạc, y lộc.
Thiên Phủ đóng ở cung Bào thì anh em đông, Thiên Phủ đóng ở Mệnh thì trường thọ.
Thiên Phủ thuộc Dương thổ hóa khí là hiền năng, Thiên Phủ thủ Mệnh làm việc gì cũng chú ý cẩn thận, nhưng lại ưa chỉ tay 5 ngón hơn tự mình động thủ. Khiêm cung bề ngoài nhưng tâm ý lại khác, tính tình phong lưu!
Thiên Phủ bản chất là chất chứa, cất dấu nên gọi là Tài khố(kho tiền), bởi vậy cần có Lộc thì kho mới đầy.
Thiên Phủ sợ gặp Sát tinh, nếu bị Kình Đà, Linh Hỏa, Không Kiếp xung chiếu hay thủ cổ nhân ví như kho không có cửa(lộ khố) tương phản với bản chất Thiên Phủ ắt không tốt đẹp.
Cổ ca có câu:” Thiên Phủ hội hợp với Hỏa Linh Dương Đà là con người gian trá”, lắm thủ đoạn, ưa dùng quyền thuật!
Thiên Phủ là Chủ tinh nên cũng ưa được chầu hầu vì thế hợp với Hóa Khoa, điểm này thì hoàn toàn cùng chất với Tử Vi. Tử vi có Thiên Phủ, Thiên Tướng chiếu gọi là:Phủ Tướng triều viên hay Thiên Phủ Tử vi có Thiên Tướng chiếu gọi là: Tử Tướng triều viên, tất cả đều coi là trăm quan hướng chầu cả.
Thiên Phủ cần an định, bởi vậy sự có mặt của Thiên Khôi, Thiên Việt không quan trọng lắm, vì lẽ Khôi Việt chủ về cơ hội, đã an định đương nhiên cơ hội không được coi làm trọng, Thiên Phủ cần Tả Hữu và Xương Khúc, hoặc đứng cùng, hoặc Tam hợp chiếu, hoặc giáp mệnh.
Một khi Thiên Phủ đã có Hóa Khoa Xương Khúc Tả Hữu rồi thì dù cho không gặp Lộc hay bị vài sát tinh cũng không xem như tình trạng kho rỗng, kho không cửa. Thiên Phủ được thiên hạ tín nhiệm trên mặt tiền bạc, thêm Tả Hữu càng mạnh hơn, mặt khác là con người cũng giỏi cáng đáng trách nhiệm.
Thiên Phủ đóng ở Thìn Tuất(cùng với Liêm Trinh) có Hoá Khoa và thêm Khôi Việt giáp hay hội tụ qua Tam hợp, gặp cơ hội thi triển tài năng xứng đáng địa vị cầm đầu. Đối với Thiên Phủ cổ nhân cho rằng, Hóa Khoa tốt hơn Hóa Quyền!
Bản than Thiên Phủ chủ về Tái quyền, không gặp Hóa Lộc hay Lộc Tồn hẳn nhiên quyền lực Thiên Phủ phải kém đi, lại luôn luôn chịu ảnh hưởng Thất sát từ cung đối xung mà lại có Hóa Quyền nữa thì sức xung kích quá mạnh, Thiên Phủ khó bảo vệ tính chất an định.
Thiên Phủ, Lộc Tồn đồng cung là kho có tài lộc chính là một triệu chứng an định vững bền. Lực lượng bảo thủ đã thắng sức xung kích của Thất Sát!
Trường hợp Thiên Phủ không đứng với Lộc nhưng có Tả Hữu và không bị Sát tinh quấy nhiễu, đối cung Thất Sát lực lượng hung mạnh hơn thì Thiên Phủ mới có sức mà tự biến thành một kẻ phấn đấu không mệt mỏi mà thành công(trên mặt tiền tài thôi).
Tỷ dụ Thiên Phủ đóng ở Tỵ Hợi, xung chiếu có Tử Vi, Thất Sát, phía lực lượng xung kích còn có cả Hóa Quyền!
Có sự xung kích như thế Thiên Phủ mới từ bỏ hẳn bản chất của an định. Nếu sức xung kích chỉ vừa phải như thiếu Quyền thì cuộc phấn đấu của Thiên Phủ thường đưa đến kết qỉa nửa đường bỏ cuộc!
Một trường hợp ngoại lệ cho Thiên Phủ Tỵ và Họi là gặp Không Kiếp đồng cung thì lại biến ra con người thâm trầm khó hiểu nhưng đủ thủ đoạn để chống với sức xung kích kia mà làm nên giàu có!
Không Kiếp phải đứng ở Tỵ Hợi mới hợp cách, Không Kiếp hội tụ theo thế Tam hợp đều kể là”kho rỗng”, “kho lộ”, “kho thủng”. Không Kiếp chiếu làm cho tâm ý giảo quyệt, nghi hoặc, không thích ứng với thực tế, cuối cùng như kẻ thất bại, cô đơn!
Với Nữ Mệnh cũng áp dụng lối đoán như Nam Mệnh.
Chỉ khác một điểm Thiên Phủ đắc thế thì tranh đoạt Phu quyền, gây dựng cơ nghiệp. Thiên Phủ không đắc thế mà gặp Không Kiếp thì tình duyên đứt đoạn dở dang!
Nhất là Thiên Phủ ở Mão hay Dậu, Thiên Phủ đứng một mình ở Mão, Dậu , Sửu Mùi mà gặp Hỏa Linh Không Kiếp, Kình Đà thường là con người đầu cơ thủ sảo, gian ngoa!
Những câu phú về Thiên Phủ đáng chú ý:
“Nam Thiên Phủ giao long vãng đực”, nghĩa là, Mệnh đàn ông có Thiên Phủ tọa thủ là người làm việc thận trọng, suy nghĩ chín chắn!
“Thiên Phủ tối kỵ Không tinh nhi ngộ Thanh Long phản vi cát tường”, nghĩa là, Thiên Phủ sợ gặp Không Kiếp, nếu được Thanh Long thì tốt lắm!
“Phủ cư Địa võng nhược lâm Tuần Không Nhâm Đinh tuế, mãn thuế hoài bão nan phùng vận lộ”, nghĩa là, Thiên Phủ tại Tuất mà bị Tuần Không, tuổi Đinh Nhâm cả đời hoài bão không đạt!
“Thiên Phủ kỵ ngộ Không tinh lai nhập tài cung tán hao vô độ”, nghĩa là, Thiên Phủ không hợp với Tuần Triệt Kiếp Không án ngữ ở cung Tài bạch thì tiền bạc hao tán hoài!
“Thiên Phủ lâm Tuất cuang vô Sát tấu, giáp Kỷ nhân yêu kim hưu thả phú”, nghĩa là, Thiên Phủ đóng Tuất thủ Mệnh không bị sát tinh, người tuổi Giáp Kỷ dễ phát công danh và cũng dễ làm giàu!
“Thiên Phủ cư Ngọ Tuất Thiên Tướng lai triều giáp nhân nhất phẩm chi quý”, nghĩa là, Thiên Phủ đóng Ngọ hay Tuất có Thiên Tướng chầu, người tuổi Giáp chức lớn!
“Phủ Tướng lai triều chung than Phúc Lộc”, nghĩa là, Mệnh có phủ Tướng chầu, suốt đời có Lộc, tiền bạc dư giả, tốt nhất là ở hai cung Tài bạch, Quan lộc chiếu lên, có kèm Lộc càng hay!
“Phủ Vũ Tý cung, giáp Đinh nhân Phúc vượng, danh hương; Hung tại Tuần Kiếp danh sú nhân khi, ư Canh Nhâm tuế, tài phúc trường hành”, nghĩa là, Cung Mệnh có Thiên Phủ ở Tý, người tuổi giáp Đinh hưởng phúc, nên danh giá nếu bị Tuần Không, Địa Kiếp thì dễ mang tiếng tai, riêng tuổi Canh Nhâm không đáng ngại!
“Phủ, Vũ Khúc an bài cung Tý
Người giáp Đinh cách ấy rất hay
Gặp phải Tuần Kiếp rủi thay
Tiếng bia miệng xấu tháng ngày không yên
Nhưng gặp tuổi Canh Nhâm chế ngự
Phúc tài kia vẫn cứ hanh thông”
“Thiên Phủ, Lộc Tồn, Xương Khúc cự vạn chi tư”, nghĩa là, Mệnh Thiên Phủ cùng Tả Hữu Xương Khúc công thành danh toại!
“Thiên Phủ cư Tài bạch diệt thị đa tài, ngộ Thiên Hình tất hao tổn”, nghĩa là, Thiên Phủ đóng tài bạch thì tiền cũng nhiều nhưng bị Thiên Hình thành hao tốn!
“Phủ phùng Đà Tuế Tỵ cung
Cuồng ngôn loạn ngữ nói rông tháng ngày
“Phủ phùng Không xứ tài suy
Thủy chung nan bảo tự cơ lưu truyền”
“Phủ kỵ Không Kiếp đồng cung
Gặp Thanh Long lại biến thành vòng cát tinh”, nghĩa là, Phủ gặp Kiếp Không đồng cung, có Thanh Long lại tốt!
“Dần cung Tử Phủ khá tường
Tam hóa Kình Bật là phường văn nhân
Ấy văn cách chuyển sang võ tướng
Năm quyền uy bốn hướng phục tong
Nếu gặp Không Kiếp giao lâm
Ắt danh hư ảo có lầm được đâu !
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Mỹ Ngân (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
– Chế độ dinh dưỡng hợp lý và khoa học là một trong những yếu tố giúp bạn khỏe mạnh và gặp nhiều may mắn trong cuộc sống. Vậy tháng 4/2016 này, 12 con giáp nên ăn gì cho phù hợp?
![]() |
![]() |
![]() |
Top 3 chàng giáp “thầu trọn gói” ngôi vị nam thần
Theo thuật Phong thủy Trung Quốc, bếp là một trong ba yếu tố quan trọng nhất của ngôi nhà, nhất bếp, nhì phòng ngủ, tam bàn làm việc và két sắt…
Bếp được các nhà Phong thủy Trung Quốc nói riêng và ông cha ta nói chung xem như vai trò quyết định sự thịnh vượng của cả gia đình. Ngoài ra, dân gian ta cũng như Trung Quốc còn thờ cúng các vị Táo thần để cầu cho quanh năm gia đình được ấm no hạnh phúc… Bếp được coi như một phần nội tạng trong cơ thể chúng ta.
Ở Trung Quốc họ rất chú trọng về khu vực bếp cũng như bếp tọa. Vì nơi đây cung cấp nguồn nhiên liệu cũng như năng lượng sống cho toàn bộ gia đình. Bếp cũng chính là nguồn tài lộc, quyết định sự thịnh vượng và hạnh phúc của cả gia đình.
Ngoài phong thủy nội thất tự nhiên ra khi bố trí gian bếp gia chủ cần phải chú ý tới trạch mệnh của mỗi con người, để làm sao đặt vị trí tốt nhất nhằm tăng cường sự tài lộc cũng như sức khỏe. Nếu có tài lộc mà không có sức khỏe thì cũng chẳng có ý nghĩa gì cả. Chính vì vậy, khi thiết kế xây dựng, gia chủ phải luôn quan tâm đến trạch mệnh. Để hội đủ điều kiện cho một không gian bếp theo đúng Phong thủy, nhà bếp cần có:
– Sạch sẽ thoáng mát, rộng rãi và khoảng trống để chế biến thức ăn.

– Phải có trang thiết bị hiện đại về máy hút mùi, hút ẩm.
– Tránh xa toilet, vì gần toilet sẽ là nơi thoát mùi xú ế. Gây ảnh hưởng môi trường trong khu vực bếp ăn, luôn cả sức khỏe cho bạn và đồ ăn thức uống…
– Phải có khu vực dành riêng cho dụng cụ làm bếp như dao, kéo, búa… tránh trường hợp không để những dụng cụ này trên bàn bếp cũng như gần bếp tọa. Sẽ ảnh hưởng rất lớn về sự đoàn kết cũng như sự hạnh phúc trong mỗi thành viên trong gia đình.
– Khu vực để bình ga phải an toàn khi sử dụng, luôn có bình chữa cháy bên cạnh bếp, đề phòng hỏa hoạn xảy ra đáng tiếc.
– Không để chổi quét nhà gần khu vực bếp nấu.
– Khu vực tủ lạnh phải xa khu vực bếp lò.

– Khu vực bồn nước rửa thức ăn phải bố trí tương đối xa bếp lò và luôn thấp hơn bếp nấu. Vì hỏa kỵ thủy.
– Màu sắc luôn luôn có màu tương đối nhạt. Vì nơi đây là khu vực nấu ăn nên phát ra năng lượng rât nóng. Do đó cần màu sắc dịu lại làm khống chế độ nóng trong bếp.
– Tránh cây đà ngang trên cao, đè bên bếp tọa. Rất dể xảy ra chủ nhân bị hao tốn tiền của.
– Không được đặt bếp tọa chéo góc hoặc xéo. Tuy không hạp hướng cho gia chủ nhưng cũng phải đặt vị trí cho ngay ngắn. Nếu bạn đặt không ngay ngắn rất dể gây ra bệnh về máu huyết…
– Tránh những góc nhọn đâm thẳng vào bếp lò.

– Bếp tránh bị nhìn trực diện từ bên ngoài cổng hay cửa phòng khách hoặc đối diện nhà vệ sinh.
– Theo phong thủy, vị trí của bếp còn phải tránh gió, tránh những nơi thường đi ngang. Gian bếp lộ thì bất lợi về tài lộc cho chủ nhân.
– Tránh bị quá ẩm thấp, tối tăm, phải có cửa thông gió, khử mùi để không khí lưu thông.
– Nếu không gian khu vực bếp rộng, có thể bố trí bàn ăn cho gia đình. Phải cách bếp nấu ít nhất 1m50. Lưu ý không cho góc nhọn của bàn ăn trực xung với bếp tọa.

– Khu vực để chén dĩa, chọn cho phù hợp và có cửa che chắn, tránh dầu mỡ chiên xào khi nấu nướng phát tán vào chén dĩa… làm dơ bẩn và hoen ố. Và cũng tránh trường hợp ruồi, muỗi, rắn, rít, chuột bọ bu đậu vào, dễ gây bệnh.
– Trên tường nên treo tranh ảnh mang ý nghĩa ăn uống như chén, dĩa, trái cây… tránh treo tranh ảnh hình kỳ thú, kinh dị.
– Trường hợp phòng bếp quá nhỏ. Các bạn nên treo một cái phong linh (chuông gió) ở trên trần nhà của bếp nấu, có tác dụng làm cho khu vực bếp rộng ra. Đối diện bếp nấu nên gắn một cái gương to nhằm tăng cường hỏa vượng.
– Nếu cần thiết đặt bàn thờ Táo thần thì nên đặt vào đối diện hướng Nam hoặc đặt vào hướng hạp tuổi với gia chủ.
Sao Tử vi là đế Tài tinh, quý nhiều hơn phú, thiên về quyền thế, danh vị, có mệnh làm ông chủ, tọa cung Tài bạch thì tài vận rộng rãi ổn định, có tiền có thể chuyển đổi, tiền tài không thiếu, thường sinh ra trong gia đình phú quý. Cuộc đời không lo thiếu tiền.

Có thể có được tài sản của tổ tông hoặc tiền tài trợ giúp của người khác, thường có được tài không phải do lao động mà có được, thu nhập cao, có tư thế của kiếm tiền nhưng không thích hợp bộc phát, nên dựa vào danh vọng để sáng tạo tài phú.
Sao Tử vi thích thể diện, chú trọng trật tự, tiền kiếm nhiều nên tiêu nhiều, cần chú ý tăng thu nhập và giảm chi tiêu, không được khoa trương tiền tài quá mức để tránh tài đến tài đi, cuối cùng vẫn là bàn tay trắng.
Sao Tử vi thuộc âm Thổ, là sao đế vương tôn quý, là chủ của cung Quan lộc, có khả năng hóa giải tai họa, chế hóa, bao dung.
Sao Tử vi quý là đế tọa, không thích độc tọa, khi độc tọa thì thiếu hiền thần phù tá, giống như vua cô độc, thấy ai nói cũng có lý, thích đao to búa lớn, tự phụ không có chủ kiến nên dễ bị gian thần tiểu nhân che giấu, độc đoán chuyên quyền, nếu không biết biến báo thì khó tránh khỏi nhiều việc không thực hiện được.
Phương thức quản lý tiền tài của sao Tử vi rất rộng, có hứng thú đối với cổ phiếu, bất động sản, đất đai, vàng bạc châu báu, ngoại tệ, nhưng không quá tính toán tiền nong, rất chú ý đến thế diện, thường thích sống trong tòa nhà đẹp, đi xe đẹp, mặc đẹp và mới, cuộc sống rất giàu có.
Sao Tử vi tôn quý, bản thân yêu cầu cao, có được tiền bằng chính nghĩa, làm việc luôn đòi hỏi sự hoàn mỹ, thường được người khác công nhận và tôn trọng, trở thành có quyền uy trong lĩnh vực nào đó. Nếu có cát tinh phù tá thì thích hợp sáng nghiệp kinh doanh thương mại, có thể kinh doanh thiên về văn nghệ, hoặc buôn bán độc nhất có tính đặc sắc, có bản quyền.
Sao Tử vi thường dễ chịu ảnh hưởng của các sao đồng cung hoặc các sao khác của cung vị Tam phương Tứ chính, ưa nhất là được sự phù trợ của 6 cát tinh, đồng thời cũng thích các sao như Lộc tồn, Thiên mã, Thiên tướng, Thái âm, Thái dương, Thiên phủ. Sao Tử vi gặp sát tinh thì kiếm tiền phải bôn ba vất vả, dễ gặp trắc trở hoặc hao tổn tài.
Khi đến vận tốt, xem tướng người phát đạt thấy hào khí tỏa sáng, tinh thần hưng khởi, ngũ quan hồng hào cân đối.
Thông thường, bàn về việc giải đoán tướng mạo, người ta hễ thấy diện mạo khôi ngô tuấn tú, tiếng nói vang dội. Tam đình bình ổn. Ngũ quan cân xứng vội vã cho ngay đó là loại tướng người chắc chắn sẽ có thể phát đạt, nhưng trongđời sống thực tế không thiếu gì kẻ hội đủ các dấu hiệu trên mà không khá giả, hoặc có tướng phát đạt một thời nhưng không được hưởng phúc đến già hoặc nửa đời vinh hoa cực điểm nhưng rốt cuộc nhà tan thân diệt.
Sở dĩ có những hiện tượng đó là vì theo luận của tướng học hoặc do Ngũ hành sinh khắc (ừong cái tốt đã hàm chứa cái xấu) hoặc do tâm tính kiêu sa, độc hại không biết giữ gìn để rồi tự mình làm hại mình trước khi bị người ta làm hại (phần tâm tướng không đi đôi với phần hình tướng).
Ngược lại, ngũ quan, ngũ nhạc không nảy nở, mũi không đẫy đà, thoáng trông không có gì là tướng phát đạt theo định nghĩa thông thường mà vẫn được hưởng phúc lúc trung niên hay tuổi già. Hiện tượng này trong thực tế cũng không hiếm.
Đứng về mặt tướng học chuyên môn, loại tướng người có vẻ không phát đạt mà lại phát đạt, chính là những kẻ có tướng phát đạt đặc biệt, ví dụ như các loại tướng ngũ lộ, ngũ tiểu, ngũ hợp, bát tiểu, cầm thú tướng, nếu các điều kiện hình thức lẫn lộn nội dung của các loại tướng (vốn bị coi là tiện tướng theo nhãn quang thường tục) kể trên phải đồng thời kiêm bị.
Ta hãy lấy ví dụ về tướng ngũ lộ. Tướng ngũ lộ là:
Thoáng nhìn qua, tướng người như vậy, kẻ học tướng thông thường vội vã cho là ác tướng, nếu không kết luận là tướng người yểu thọ, bần hàn thì cũng không dám nghĩ đó là tướng người phát đạt. Thế mà, một cá nhân nếu đủ cả ngũ lộ thì lại thường là kẻ phúc thọ song toàn. Tướng “Ngũ lộ câu toàn” tuy thường là tướng phát đạt đặc biệt, nhưng không phải hầu hết là phát đạt, vì chữ câu toàn chỉ mới là hỉnh thức chứ không đủ thực chất đi kèm.
Ví dụ như ngũ lộ mà:
Lộ nhưng âm thanh rè và nhỏ thì đó lại là tướng thô trọc, chủ về khốn quẫn, chết non, vì chỉ đắc cách có phần hình thức mà không có phần thực chất nên không phải là tướng phát đạt.
Xem bói pháp có câu: Nhất lộ, nhị lộ thì quẫn bách, bần yểu, ngũ lộ thì phát đạt. Câu nói đó chỉ có tính tương đối. Ngũ lộ câu toàn có phát đạt hay không, còn tuỳ thuộc vào một số điều kiện như đã nói trên. Còn nhất lộ, nhị lộ thì quẫn bách, bần yểu, cũng không phải là điều đương nhiên phải thế. Vì cũng như ngũ lộ câu toàn nhất nhị lộ nhiều khi là tướng của kẻ bần cùng nhưng đôi khi cũng là tướng của người phát đạt. Nếu mắt lộ mà có chân quang và thu tàng thì nếu các bộ vị khác không khuyết hãm thì đến ngoài 40 tuổi sẽ có cơ hội khá giả. Mũi lộ mà khí sắc lúc nào cũng hồng nhuận, cánh mũi dầy và lỗ mũi không hếch lên (tham khảo đoạn nói về các loại mũi điển hình) thì tuy thiếu niên có bị khốn khổ nhưng nói về những vãn niên ắt phát đạt. Môi, tai, lông mày, yết hầu… cũng đều có thể suy diễn tương tự như trên để định xem “lộ” là tốt hay xấu chứ không thể vội vã võ đoán.
Ngoài tướng ngũ lộ được coi là phát đạt (nếu hội đủ cả hình lẫn chất) còn có các tướng ngũ tiểu, bát tiểu, ngũ hợp, tướng cầm thú… cũng đều là tướng phát đạt đặc biệt với điều kiện là hình và chất đi đôi với nhau.
Tóm lại, các tướng đặc biệt vừa kể, tướng pháp gọi đó là biến cách hay phi thường cách để phân biệt với loại tướng người bình thường, đều có thể phát đạt hay không tuỳ theo sự hội đủ được cả hình lẫn chất không. Những loại tướng phát đạt đặc biệt chính là căn cứ vào nguyên tắc “Trọc trung hữu thanh”, “thanh” và “trọc” tương đối dễ phân biệt, nhưng “Thanh trung hữu trọc” và “Trọc trung hữu thanh” thì lại rất khó tìm ra.
Muốn thấu hiểu phải tường tận, phải chuyên tâm nghiên cứu và có năng khiếu đặc biệt bén nhạy. Bởi lẽ trên, chúng ta sẽ không thấy gì đáng ngạc nhiên khi trong các sách nói về tướng học, người ta thường nói “Tâm lĩnh thần hội” nghĩa là những gì uyên thâm cao xa, thì có thể hiểu thấu đáo bằng lối tâm truyền chứ không thể bằng lối ngôn truyền được. Điển hình cho lề lối này là phàn hình nhi thượng của nho giáo do Khổng Tử hấp thụ được chỉ còn lưu lại qua con người của Tử Tư rồi Tử Tư chỉ truyền được đến đời Mạnh Tử là mất chân truyền.
Tuy vậy, mặc lòng sự cố gắng liên tục vẫn là điều tối thiết yếu cho bất cứ ai muốn đạt đến một mức độ thành quả nào đó, còn nằng khiếu đặc biệt về một ngành học càng huyền ảo, thì lại càng khó phát hiện nếu chưa nỗ lực tới mức tối đa. Vì vậy, độc giả không nên thấy khó mà đã vội ngã lòng khi nghiên cứu và ứng dụng nguyên lý thanh trọc trong tướng học “Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông” kia mà.
Càng có nhiều đặc điểm dưới đây thì càng chính xác. Đây là một số điểm xem tướng người luôn được mọi người kính nể, nói lời thì nghe lời, kính trọng khuôn phép.
– Lòng bàn chân bằng phẳng.
– Dưới hai lòng bàn chân có hiện ra hình bánh xe với đầy đủ các bộ phận, vành xe, trục xe và nan hoa xe.
– Gót chân thon dài.
– Ngón tay ngón chân dài.
– Tay chân mềm mại.
– Tay chân có chỉ giăng như màn lưới.
– Mắt cá chân dáng như con sò.
– Ống chân thon thả như chân hươu.
– Đứng thẳng không khom xuống, cũng có thể với bàn tay sờ chạm đầu gối.
– Ngọc hành ẩn kín trong bọc da.
– Màu da sáng ánh như vàng ròng.
– Da thật láng mịn, bụi bặm không bám.
– Mỗi lỗ chân lông mọc chỉ một sợi lông.
– Lông mọc hướng về phía trên, các lông có màu xanh đen và xoáy tròn chiều bên hữu.
– Thân hình ngay thẳng.
– Bảy chỗ là: cổ, 2 lưng bàn tay, 2 lưng bàn chân, 2 bả vai, đều no đầy.
– Bán thân trên tựa như mình sư tử.
– Lưng bằng phăng.
– Thân cân đối như cây bàng, thân cao bằng sải tay và sải tay dài bằng thân.
– Vị giác nhạy bén, tức là thần kinh lưỡi cực nhạy dễ dàng hấp thụ hưong vị thức ăn.
– Cần cổ ừòn trịa, thẳng đều.
– Cằm tròn như cằm sư tử.
– Răng bằng và đều.
– Răng mọc khít nhau.
– Bốn chiếc răng nhọn thật trắng sạch.
– Lưỡi rộng dài.
– Tiếng nói trong ấm rõ ràng như tiếng chim karavika.
– Tròng mắt đen huyền.
– Lông mi dài mịn như mi mắt con bê.
– Giữa đôi lông mày có chùm lông trắng mềm như bông.
– Đầu có nhục kế, là xương đỉnh đầu nổi vung lên.
Các dấu hiệu của sự phá bại (phá bại dùng ở đây có nghĩa rộng rãi), bao gồm:
Đứng về mặt hình tướng, tướng người phá bại được nhận ra nhờ các dấu hiệu bề ngoài sau đây:
– Trán nhỏ, nhọn, hẹp, chủ về hình khắc, công danh trắc trở, thuở thiếu niên gặp nhiều tai họa.
– Lông mày mọc thấp, lan xuống gần bờ mắt chủ về cùng khốn. Lông mày thưa thớt chủ về vất vả, nhọc nhằn trong cuộc sống, đứt đoạn chủ về công việc thành bại thất thường, ngắn cụt chủ về nghèo hèn…
– Mắt vừa ngắn vừa nhỏ chủ về tâm địa nhỏ mọn, nếu thêm mặt mập núng nính như mặt lợn thì sẽ chết không toàn thây.
– Mắt lớn, lồi và hời hợt, chủ về chét non, lộ và có hùng quang chủ về chét thảm, đồng tử vàng và lờ đờ thần chủ về khắc thê và hay bị hình phạm.
– Mũi hếch và lộ chủ về phá tán, cùng khốn. Thấp hoặc có gân, có vạch chủ về công ăn việc làm lên xuổng thất thường, chuẩn đầu má cao so với khuôn mặt và nhất là so với lưỡng quyền thì chủ về cô đơn hay phá bại, quá lớn và mỏng gọi là không phù hoặc nghiêng lệch đều chủ về cô đơn trì trệ.
– Miệng nhỏ, môi mỏng chủ về nghèo hèn, rộng mà lệch, lớn mà thường há hoác ra không khép kín lại đều chủ về cô đon, nghèo hèn. Môi chúm lại và nhô cao lên, khóe miệng trễ xuống, pháp lệnh ăn vào khoé miệng đều có ý nghĩa tưong tự. Riêng pháp lệnh ăn vào khoé miệng gọi là “Đằng xà nhập khẩu” dù các bộ vị khác có tốt nhung chung cuộc cũng chết đói hoặc chết đường chết chợ.
– Tai không có luân, quách rõ ràng minh bạch chủ về cùng khốn, mỏng nhọn chủ về nghèo túng, đen đủi, thấp, lệch chủ về hèn mọn chết non.
Đại để nhũng kẻ mà ngũ quan đều vấp phải một trong các khuyết điểm của từng Quan kể trên khả dĩ đủ để xếp vào loại tướng người phá bại.
Ngoài tướng phá bại vì ngũ quan khuyết hãm kể trên còn có một số hình cách đặc biệt sau đây cũng bị xếp loại vào tướng phá bại:
Tướng lục cực đó là người có một trong sáu dáng dấp cực đoan sau đây:
Xét về mặt tâm tướng, vô luận hình hài ra sao, nếu phạm vào một trong các khuyết điểm sau về đức hạnh cũng thuộc về tướng lục tiện:
Càng gặp nhiều sát thì mức độ hung hiểm càng gia tăng và sự giải đoán càng thêm chính xác.
Ngoài những nét tướng hình thể ở vị thế tĩnh hoặc bán tĩnh, bán động đề cập ở mục vừa kể liên quan đến phát đạt hay phá bại, ta còn phải kể đến những nét tướng về thần, khí sắc (đặc biệt là khí, sắc) ở từng bộ vị một.