Nằm mơ thấy người khác mang bầu là điềm gì? –
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Thanh Vân (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Thanh Vân (##)
Sau đây là một số lỗi phong thủy trong nhà ở bạn cần chú ý và khắc phục sớm để cuộc sống an yên và hạnh phúc như mong đợi.
Chúng ta áp dụng phong thủy với mục đích ngôi nhà sẽ là nơi bình yên và chỉ có năng lượng tích cực. Tuy nhiên, trong mải làm theo những lý thuyết về phong thủy mà chúng ta dễ phạm một số sai lầm ảnh hưởng tới kết quả chung. Chỉ khi nhận diện ra sai lầm về lỗi phong thủy thường gặp trong suốt thời gian qua bạn mới có cách để thay đổi từng bước để thu hút năng lượng tốt cho căn nhà của bạn.
![]() |
10 lỗi phong thủy thường gặp do sơ suất nhỏ ảnh hưởng kết quả chung |
![]() |
![]() |
Coi tuổi mạng và năm sinh

1-(1941, 2001, 2061) Tuổi Tân Tỵ, cung Tốn, mạng Bạch Lạp Kim (chân đèn bằng vàng), xương con cọp, tướng tinh con thuồng luồng, khắc Phúc Ðăng Hoả, con nhà Bạch Ðế-Trường mạng
2-(1940, 2000, 2060) Tuổi Canh Thìn, cung Chấn, mạng Bạch Lạp Kim(chân đèn bằng vàng), xương con rồng, tướng tinh con quạ, khắc Phúc Ðăng Hoả, con nhà Bạch Ðế-Trường mạng.
3-(1939, 1999) Tuổi Kỹ Mẹo, cung Khôn, mạng Thành Ðầu Thổ ( đất trên thành), xương con thỏ, tướng tinh con rồng, khắc Thiên Thượng Thuỷ, con nhà Huỳnh Ðế-Phú quí.
4-(1938, 1998) Tuổi Mậu Dần, cung Khảm, mạng Thành Ðầu Thổ (đất trên thành), xương con cọp, tướng tinh con thuồng luồng, khắc Thiên Thượng Thuỷ, con nhà Huỳnh Ðế-Phú quí.
5-(1937, 1997) Tuổi Ðinh Sửu, cung Ly, mạng Giáng Hạ Thuỷ( nước mù sương), xương con trâu, tướng tinh con trùn, khắc Thiên Thượng Hoả, con nhà Hắc Ðế- Cô bần
6-(1936, 1996,2056) Tuổi Bính Tý, cung Cấn, mạng Giáng Hạ Thuỷ(nước mù sương), xương con chuột, tướng tinh con rắn, khắc Thiên Thượng Hoả, con nhà Hắc Ðế-Cô bần.
7-(1935, 1995) Tuổi Ất Hợi, cung Ðoài, mạng Sơn Ðầu Hoả (lửa trên núi), xương con heo, tướng tinh con hưu, khắc Sa Trung Kim, con nhà Xích Ðế-Cô bần.
8-(1934, 1994) Tuổi Giáp Tuất, cung Càn, mạng Sơn Ðầu Hoả (lửa trên núi), xương con chó, tướng tinh con ngựa, khắc Sa Trung Kim, con nhà Xích Ðế-Cô bần.
9-(1933, 1993) Tuổi Quí Dậu, cung Chấn, mạng Kiếm Phong Kim (kiếm bằng vàng), xương con gà, tướng tinh con đười ươi, khắc Phúc Ðăng Hoả, con nhà Bạch Ðế- Phú quí.
10-(1932, 1992) Tuổi Nhâm Thân, cung Khôn, mạng Kiếm Phong Kim, xương con khỉ, tướng tinh con dê, khắc Phúc Ðăng Hoả, con nhà Bạch Ðế-Phú quí.
11-(1931, 1991) Tuổi Tân Mùi, cung Khảm, mạng Lộ Bàng Thổ (đất đường đi), xương con dê, tướng tinh con gấu, khắc Tuyền Trung Thuỷ, con nhà Huỳnh Ðế-Bần cùng.
12-(1930, 1990) Tuổi Canh Ngọ, cung Ly, mạng Lộ Bàng Thổ, xương con ngựa, tướng tinh con vượn, khắc Tuyền Trung Thuỷ, con nhà Huỳnh Ðế-Bần cùng.
13-(1929, 1989) Tuổi Kỹ Tỵ, cung Cấn, mạng Ðại Lâm Mộc(cây lớn trong rừng), xương con rắn, tướng tinh con khỉ, khắc Ðại Trạch Thổ, con nhà Thanh Ðế- Trường mạng.
14-(1928, 1988) Tuổi Mậu Thìn, cung Ðoài, mạng Ðại Lâm Mộc, xương con rồng, tướng tinh con quạ, khắc Ðại Trạch Thổ, con nhà Thanh Ðế-Trường mạng.
15-(1927, 1987) Tuổi Ðinh Mẹo, cung Càn , mạng Lư Trung Hoả(lửa trong lư), xương con thỏ, tướng tinh con gà, khắc Kiếm Phong Kim, con nhà Xích Ðế-cô bần
16-(1926, 1986) Tuổi Bính Dần, cung Khảm, mạng Lư Trung Hoả, xương con cọp, tướng tinh con chim trĩ, khắc Kiếm Phong Kim, con nhà Xích Ðế-cô bần
17-(1925, 1985) Tuổi Ất Sửu, cung Tốn, mạng Hải Trung Kim(vàng dưới biển), xương con trâu, tướng tinh con chó, khắc Bình Ðịa Mộc, con nhà Bạch Ðế-Phú quí.
18-(1924, 1984) Tuổi Giáp Tý, cung Chấn, mạng Hải Trung Kim, xương con chuột, tướng tinh con chó sói, khắc Bình Ðịa Mộc, con nhà Bạch Ðế-Phú quí.
19-(1923, 1983) Tuổi Quí Hợi, cung Cấn, mạng Ðại Hải Thuỷ(nước biển lớn), xương con heo, tướng tinh con gà, khắc Thiên Thượng hoả, con nhà Hắc Ðế-Quan lộc, tân khổ.
20-(1922, 1982) Tuổi Nhâm Tuất, cung Ðoài, mạng Ðại Hải Thủy, xương con chó, tướng tinh con chim trĩ, khắc Thiên Thượng hoả, con nhà Hắc Ðế-Quan lộc, tân khổ.
21-(1921, 1981) Tuổi Tân Dậu, cung Càn, mạng Thạch Lựu Mộc (cây lựu đá), xương con gà, tướng tinh con chó, khắc Bích Thượng Thổ, con nhà Thanh Ðế-Cô bần.
22-(1920, 1980) Tuổi Canh Thân, cung Khôn, mạng Thạch Lựu Mộc, xương con khỉ, tướng tinh con cho sói, khắc Bích Thượng Thổ, con nhà Thanh Ðế-Cô bần.
23-(1919, 1979) Tuổi Kỹ Mùi, cung Tốn, mạng Thiên Thượng Hoả (lửa trên trời), xương con dê, tướng tinh con rùa, khắc Sa Trung Kim, con nhà Xích Ðế-Cô bần.
24-(1918, 1978) Tuổi Mậu Ngọ, cung Chấn, mạng Thiên Thượng Hoả, xương con ngựa, tướng tinh con heo, khắc Sa Trung Kim, con nhà Xích Ðế-Cô bần.
25-(1917, 1977) Tuổi Ðinh Tỵ, cung Khôn, mạng Sa Trung Thổ (đất trong cát), xương con rắn, tướng tinh con cú, khắc Dương Liễu Mộc, con nhà Huỳnh Ðế-Phú quí.
26-(1916, 1976) Tuổi Bính Thìn, cung Khảm, mạng Sa Trung Thổ, xương con rồng, tướng tinh con chuột, khắc Dương Liễu Mộc, con nhà Huỳnh Ðế-Phú quí.
27-(1915, 1975) Tuổi Ất Mẹo, cung Ly, mạng Ðại Khê Thuỷ( nước khe lớn), xương con mèo, tướng tinh con dơi, khắc Sơn Hạ Hoả, con nhà Hắc Ðế-Phú quí.
28-(1914, 1974) Tuổi Giáp Dần, cung Cấn, mạng Ðại Khê Thuỷ, xương con cọp, tướng tinh con trâu, khắc Sơn Hạ Hoả, con nhà Hắc Ðế-Phú quí.
29-(1913, 1973) Tuổi Quí Sửu, cung Tốn, mạng Tang Ðố Mộc (cây dâu), xương con trâu, tướng tinh con cua biển, khắc Ốc Thượng Thổ, con nhà Thanh Ðế- Quan lộc, tân khổ.
30-(1912, 1972) Tuổi Nhâm Tý, cung Chấn, mạng Tang Ðố Mộc, xương con chuột, tướng tinh con heo, khắc Ốc Thượng Thổ, con nhà Thanh Ðế-Quan lộc, tân khổ.
31-(1911, 1971) Tuổi Tân Hợi, cung Khôn, mạng Xoa Kim Xuyến (xuyến bằng vàng), xương con heo, tướng tinh con cọp, khắc Ðại Lâm Mộc, con nhà Bạch Ðế-Phú quí.
32-(1910, 1970) Tuổi Canh Tuất, cung Khảm, mạng Xoa Kim Xuyến, xương con chó, tướng tinh con cáo, khắc Ðại Lâm Mộc, con nhà Bạch Ðế-Phú quí.
33-(1909, 1969) Tuổi Kỹ Dậu, cung Ly, mạng Ðại Trạch Thổ (đất nền nhà), xương con gà, tướng tinh con thỏ, khắc Thiên Thượng Thuỷ, con nhà Huỳnh Ðế-Quan lộc.
34-(1908, 1968) Tuổi Mậu Thân, cung Cấn, mạng Ðại Trạch Thổ, xương con khỉ, tướng tinh con lạc đà, khắc Thiên Thượng Thuỷ, con nhà Huỳnh Ðế-Quan lộc.
35-(1907, 1967) Tuổi Ðinh Mùi, cung Ðoài, mạng Thiên Hà Thuỷ (nước sông Thiên Hà), xương con dê, tướng tinh con rồng, khắc Thiên Thượng Hoả, con nhà Hắc Ðế- tân khổ.
36-(1906, 1966) Tuổi Bính Ngọ, cung Càn, mạng Thiên Hà Thuỷ, xương con ngựa, tướng tinh con thuồng luồng,khắc Thiên Thượng Hoả, con nhà Hắc Ðế- tân khổ.
37-(1905, 1965) Tuổi Ất Tỵ, cung Ðoài, mạng Phúc Ðăng Hoả ( lửa đèn nhỏ), xương con rắn, tướng tinh con trùn, khắc Xoa Xuyến Kim, con nhà Xích Ðế-Tân khổ.
38-(1904, 1964) Tuổi Giáp Thìn, cung Tốn, mạng Phúc Ðăng Hoả, xương con rồng, tướng tinh con rắn,khắc Xoa Xuyến Kim, con nhà Xích Ðế-Tân khổ.
39-(1903, 1963) Tuổi Quí Mẹo, cung Ly, mạng Kim Bạch Kim (vàng trắng), xương con thỏ, tướng tinh con hưu, khắc Lư Trung Hoả, con nhà Bạch Ðế-Phú quí.
40-(1902, 1962) Tuổi Nhâm Dần, cung Cấn, mạng Kim Bạch Kim, xương con cọp, tướng tinh con ngựa, khắc Lư Trung Hoả, con nhà Bạch Ðế-Phú quí.
41-(1901, 1961) Tuổi Tân Sửu, cung Ðoài, mạng Bích Thượng Thổ ( đất trên vách), xương con trâu, tướng tinh con đười ươi, khắc Thiên Thượng Thuỷ, con nhà Huỳnh Ðế-Quna lộc, bần cùng.
42-(1900, 1960) Tuổi Canh Tý, cung Càn, mạng Bích Thượng Thổ, xương con chuột, tướng tinh con dê, khắc Thiên Thượng Thuỷ, con nhà Huỳnh Ðế-Quna lộc, bần cùng.
43-(1899, 1959) Tuổi Kỷ Hợi, cung Cấn, mạng Bình Ðịa Mộc(cây trên đất bằng), xương con heo, tướng tinh con gấu, khắc Sa Trung Kim, con nhà Thanh Ðế-Phú quí.
44-(1958, 2018) Tuổi Mậu Tuất, cung Tốn, mạng Bình địa mộc (cây trên đất bằng), xương con chó tướng tính con vượn, khắc Sa Trung Kim, con nhà Thanh Ðế-Phú quí.
45-(1957, 2017) Tuổi Ðinh Dậu, cung Chấn, mạng Sơn Hạ Hoả (lửa dưới núi), xương con gà, tướng tinh con khỉ, khắc Thích Lịch Hoả, con nhà Xích Ðế-Cô bần
46-(1956, 2016) Tuổi Bính Thân, cung Khôn, mạng Sơn Hạ Hỏa, xương con khỉ, tướng tinh con quạ, khắc Thích Lịch Hoả, con nhà Xích Ðế-Cô bần
47-(1955, 2015) TuổiẤt Mùi, cung Khảm, mạng Sa Trung Kim (vàng trong cát), xương con dê, tướng tinh con gà, khắc Thạch Lựu mộc ,con nhà Bạch Ðế- An mạng phú quí
48-(1954, 2014) Tuổi Giáp Ngọ, cung Ly, mạng Sa Trung Kim, xương con ngựa, tướng tinh con chim trĩ, khắc Thạch Lựu mộc ,con nhà Bạch Ðế- An mạng phú quí
49-(1953, 2013) Tuổi Quí Tỵ, cung Khôn, mạng Trường Lưu Thuỷ(nước chảy dài), xương con rắn, tướng tinh con chó, khắc Thiên Thượng Hoả , con nhà Hắc Ðế- Trương mạng
50-(1952, 2012) Tuổi Nhâm Thìn, cung Khảm, mạng Trường Lưu Thuỷ, xương con rồng, tướng tinh con chó sói, khắc Thiên Thượng Hoả , con nhà Hắc Ðế- Trương mạng
51-(1951, 2011) Tuổi Ất Mẹo, cung Ly, mạng Tòng Bá mộc ( cây Tòng và cây Bá), xương con thỏ, tướng tinh con rái, khắc Lộ Bàng thổ , con nhà Thanh Ðế-Trường mạng
52-(1950, 2010) Tuổi Canh Dần, cung Cấn, mạng Tòng Bá mộc, xương con cọp, tướng tinh con heo, khắc Lộ Bàng thổ , con nhà Thanh Ðế-Trường mạng
53-(1949, 2009) Tuổi Kỹ Sửu, cung Ðoài, mạng Thích Lịch Hoả ( lửa sấm sét), xương con trâu, tướng tinh con heo, khắc Thiên Thượng Thuỷ , con nhà Xích Ðế-Phú quí.
54-(1948, 2008) Tuổi Mậu Tý, cung Càn, mạng Thích Lịch Hoả, xương con chuột, tướng tinh con chó sói,khắc Thiên Thượng Thuỷ , con nhà Xích Ðế-Phú quí.
55-(1947, 2007) Tuổi Ðinh Hợi, cung Cấn, mạng Ốc Thượng Thổ ( đất ổ vò vỏ), xương con heo, tướng tinh con dơi, khắc Thiên Thượng Hoả, con nhà Huỳnh Ðế- Phú quí.
56-(1946, 2006) Tuổi Bính Tuất, cung Tốn,mạng Ốc Thượng Thổ, xương con chó, tướng tinh con trâu, khắc Thiên Thượng Hoả, con nhà Huỳnh Ðế-Phú quí.
57-(1945, 2005) Tuổi Ất Dậu, cung Chấn, mạng Tuyền Trung Thuỷ (nước trong giếng), xương con gà, tướng tinh con cua, khắc Thiên Thượng Hoả, con nhà Hắc Ðế-Từ tánh, phú quí.
58-(1944, 2004) Tuổi Giáp Thân, cung Khôn , mạng Tuyền Trung Thuỷ, xương con khỉ, tướng tinh con heo, khắc Thiên Thượng Hoả, con nhà Hắc Ðế-Từ tánh, phú quí.
59-(1943, 2003) Tuổi Quí Mùi, cung Càn, mạng Dương Liễu mộc ( cây dương liễu), xương con dê, tướng tinh con cọp, khắc Lộ Bàng Thổ, con nhà Thanh Ðế-trường mạng.
60-(1942, 2002) Tuổi Nhâm Ngọ, cung Ly, mạng Dương Liễu mộc, xương con ngựa, tướng tinh con rắn, khắc Lộ Bàng Thổ, con nhà Thanh Ðế-trường mạng.
Đặt tên cho con theo tiếng Trung hay, ý nghĩa nhất giúp mang lại nhiều điều tốt đẹp cho cuộc sống của bé sau nay mà các bậc phụ huynh nên tham khảo. Cách đặt tên tiếng Trung hay cho con luôn ẩn chứa rất nhiều ẩn ý, cũng như gửi gắm những giấc mơ mong con cái được sống sung túc, thành tài về sau. Chính vì vậy nhiều bậc phụ huynh ngày nay muốn lựa chọn những tên hán việt hay ý nghĩa để đặt cho con yêu của mình. Những cái tên tiếng Trung hay cho trẻ phải có ý nghĩa, đọc lên nghe thuận tai, chữ viết cân đối hài hòa,….vì nó ảnh hưởng chung đến vận mệnh của bé sau này.
Bên cạnh đó như chúng ta cũng biết Việt Nam chịu ảnh hưởng của nền văn hóa Trung Hoa khá nhiều, nhiều họ ở Việt Nam cũng có nguồn gốc từ Trung Quốc, và nhiều cái tên cũng vậy. Cho nên đặt tên cho con theo tiếng Trung cũng không có gì xa lạ và ngược lại rất phổ biến và có ý nghĩa với nhiều ẩn nghĩa sâu sắc.
Việc đặt tên cho con có nhiều cách thức, từ đặt tên theo phong thủy, theo ngũ hành, Tứ trụ, nhưng tựu chung lại tên đặt vẫn phải có vần điệu và ý nghĩa, nên chứa thêm những tâm tưởng, ước vọng, niềm tin của cha mẹ và truyền thống của gia đình đối với con cái.
Để tìm hiểu chính xác cách đặt tên tiếng Trung cho con, mời các bạn cùng tham khảo thông tin trong bài viết dưới đây nhé.

Nội dung
Theo quan điểm của người Trung quốc, một cái tên hay cần hội tụ các yếu tố sau đây:
Cái tên phải có ý nghĩa. Thường thì cái tên truyền tải những mong muốn, kỳ vọng của những bậc sinh thành với đứa con của mình.
Khi đọc lên nghe phải thuận tai. Ngôn ngữ Trung Quốc cũng có những âm cao thấp, tuy không nhiều bằng Việt Nam, do đó họ cũng tránh những cái tên đọc lên nghe nhàm chán hoặc gây khó chịu cho người nghe.
Chữ viết phải cân đối hài hòa. Đây là đặc trưng của ngôn ngữ tượng hình. Những ngôn ngữ la-tinh đòi hỏi yếu tố này thấp hơn.
Phải gắn với sự kiện lịch sử hoặc văn hóa nào đó. Thường thì họ sẽ liên hệ với những sự kiện trong năm hoặc sự kiện đặc biệt nào gần đó để sau này có thể kể lại cho con cháu mình.
Được tạo bởi những chữ (bộ thủ) đơn giản, dễ hiểu.
tên hay cho bé gái thường thì phải thể hiện sự dịu dàng, thanh thoát, xinh đẹp và cao quý. Ngoài ra còn có những ẩn ý về sự hạnh phúc, đức, tài…
AN: Bình an và yên ổn.
Gợi ý tên hay cho bé gái là: Thanh An – Bình An – Diệp An – Hoài An – Ngọc An – Mỹ An – Khánh An – Hà An – Thùy An – Thúy An – Như An- Kim An – Thu An – Thiên An.
ANH: Thông minh, sáng sủa.
Gợi ý tên hay cho bé gái là: Diệp Anh – Quế Anh – Thùy Anh – Mỹ Anh – Bảo Anh – Quỳnh Anh – Lan Anh – Ngọc Anh – Huyền Anh – Vân Anh – Phương Anh – Tú Anh – Diệu Anh – Minh Anh.
BÍCH: Màu xanh quý tuyệt đẹp.
Gợi ý tên hay cho bé gái: Ngọc Bích – Lệ Bích – Lam Bích – Hồng Bích – Hoài Bích
Châu: Quý như châu ngọc.
Gợi ý tên hay cho bé gái: Bảo Châu – Minh Châu – Diệu Châu – Ngọc Châu – Diễm Châu – Quỳnh Châu – Thủy Châu – Trân Châu.
Chi: Dịu dàng, tràn đầy sức sống như nhành cây.
Gợi ý tên hay cho bé gái: Diệp Chi – Mai Chi – Quế Chi – Phương Chi – Thảo Chi – Cẩm Chi – Diệu Chi – Thùy Chi.
DIỆP: Tươi tắn, tràn đầy sức sống như lá cây.
Gợi ý tên hay cho bé gái: Bích Diệp – Quỳnh Diệp – Khánh Diệp – Ngọc Diệp – Mộc Diệp – Thảo Diệp.
DUNG: Diện mạo xinh đẹp.
Gợi ý tên hay cho bé gái:Hạnh Dung – Kiều Dung – Phương Dung – Thanh Dung – Ngọc Dung – Hoàng Dung – Mỹ Dung.
ĐAN: Viên thuốc quý, màu đỏ.
Gợi ý tên hay cho bé gái: Linh Đan – Tâm Đan – Ngọc Đan – Mỹ Đan – Hoài Đan – Khánh Đan – Nhã Đan – Phương Đan.
GIANG: Dòng sông.
Gợi ý tên hay cho bé gái: Phương Giang – Khánh Giang – Lệ Giang – Hương Giang – Quỳnh Giang – Thúy Giang – Lam Giang – Hà Giang – Trà Giang.
HÀ: Dòng sông.
Gợi ý tên hay cho bé gái: Bảo Hà – Thu Hà – Ngọc Hà – Khánh Hà – Thủy Hà – Bích Hà – Vân Hà – Ngân Hà – Thanh Hà – Cẩm Hà.
HÂN: Niềm vui, tính cách dịu hiền.
Gợi ý tên hay cho bé gái:Gia Hân – Bảo Hân – Ngọc Hân – Thục Hân – Khả Hân – Tường Hân – Mỹ Hân.
HẠNH: Đức hạnh, hạnh phúc.
Gợi ý tên hay cho bé gái: Hồng Hạnh, Ngân Hạnh, Thúy Hạnh, Bích Hạnh, Diễm Hạnh, Nguyên Hạnh.
HOA: Rạng rỡ, xinh đẹp như hoa.
Gợi ý tên hay cho bé gái:Ngọc Hoa – Kim Hoa – Phương Hoa – Quỳnh Hoa – Như Hoa – Mỹ Hoa – Diệu Hoa – Mai Hoa.
HƯƠNG: Hương thơm của hoa.
Gợi ý tên hay cho bé gái:Mai Hương – Quế Hương – Khánh Hương – Ngọc Hương- Thảo Hương – Quỳnh Hương – Lan Hương – Minh Hương – Thiên Hương.
KHÁNH – tiếng chuông, niềm vui.
Gợi ý tên hay cho bé gái: Ngân Khánh – Bảo Khánh – Vân Khánh – Mỹ Khánh – Kim Khánh – Ngọc Khánh.
KHUÊ: Ngôi sao khuê (tượng trưng cho tri thức), tiểu thư, khuê các.
Gợi ý tên hay cho bé gái: Diễm Khuê – Ngọc Khuê – Minh Khuê – Diệu Khuê – Mai Khuê – Anh Khuê – Hà Khuê – Vân Khuê.
LAN: Loài hoa quý và đẹp.
Gợi ý tên hay cho bé gái: Phong Lan – Tuyết Lan – Bảo Lan – Chi Lan – Bích Lan – Diệp Lan – Ngọc Lan – Mai Lan – Quỳnh Lan – Ý Lan – Xuân Lan – Hoàng Lan – Phương Lan – Trúc Lan – Thanh Lan – Nhật Lan.
LOAN: Một loài chim quý.
Gợi ý tên hay cho bé gái: Thúy Loan – Thanh Loan – Bích Loan – Tuyết Loan – Kim Loan – Quỳnh Loan – Ngọc Loan – Hồng Loan – Tố Loan – Phương Loan.
LINH: Cái chuông nhỏ, linh lợi, hoạt bát.
Gợi ý tên hay cho bé gái: Trúc Linh – Mỹ Linh – Thùy Linh – Diệu Linh – Phương Linh _ Gia Linh – Khánh Linh – Quế Linh – Bảo Linh – Khả Linh _ Hạnh Linh – Mai Linh – Nhật Linh – Cẩm Linh – Hà Linh.
MAI: Loài hoa tinh tế, thanh cao, nở vào mùa xuân.
Gợi ý tên hay cho bé gái: Thanh Mai – Trúc Mai – Diễm Mai – Phương Mai – Xuân Mai – Quỳnh Mai – Tuyết Mai – Chi Mai – Nhật Mai – Hoàng Mai – Ban Mai – Ngọc Mai – Hồng Mai – Khánh Mai – Diệp Mai – Thu Mai.
VÂN: Đám mây trời.
Gợi ý tên hay cho bé gái: Thùy Vân – Mỹ Vân – Thanh Vân – Ngọc Vân – Thụy Vân – Thúy Vân – Diệu Vân – Hải Vân – Trúc Vân – Tuyết Vân – Khánh Vân – Thảo Vân – Bích Vân – Cẩm Vân – Bảo Vân – Diệp Vân.
MY: Loài chim hót hay, đáng yêu.
Gợi ý tên hay cho bé gái: Hạnh My – Hà My – Thảo My – Diễm My – Khánh My – Ngọc My – Trà My – Giáng My.
MINH: sáng sủa, tươi tắn.
Gợi ý tên hay cho bé gái: Thu Minh – Ngọc Minh – Nguyệt Minh – Tuệ Minh – Khả Minh – Thảo Minh – Thùy Minh – Thúy Minh.
NGA: cô gái xinh đẹp.
Gợi ý tên hay cho bé gái: Phương Nga – Bảo Nga – Thanh Nga – Bích Nga – Diệu Nga – Quỳnh Nga – Thúy Nga – Tố Nga.
NGÂN: Thanh âm vui vẻ, vang vọng.
Gợi ý tên hay cho bé gái: Thanh Ngân – Khánh Ngân – Bích Ngân – Diễm Ngân – Khả Ngân – Trúc Ngân – Quỳnh Ngân – Hạnh Ngân.
NGỌC: Bảo vật quý hiếm.
Gợi ý tên hay cho bé gái: Bảo Ngọc – Thanh Ngọc – Bích Ngọc – Khánh Ngọc – Minh Nhọc – Như Ngọc – Lan Ngọc – Vân Ngọc.
NHI: Đoan trang, biết giữ lễ nghĩa.
Gợi ý tên hay cho bé gái: Thục Nhi – Hân Nhi – Đông Nhi – Ngọc Nhi – Quỳnh Nhi – Diễm Nhi – Vân Nhi – Thảo Nhi.
VY: Nhỏ nhắn, loài hoa hồng leo đẹp, tràn đầy sức sống.
Gợi ý tên hay cho bé gái: Tường Vy – Ngọc Vy – Thảo Vy – Hạ Vy – Diễm Vy – Diệu Vy – Thúy Vy – Lan Vy – Mai Vy – Khánh Vy – Hải Vy – Bảo Vy – Diệp Vy – Trúc Vy.
NHIÊN – Ung dung tự tại.
Gợi ý tên hay cho bé gái: An Nhiên – Hân Nhiên – Khả Nhiên – Hạ Nhiên – Thùy Nhiên – Quỳnh Nhiên – Thảo Nhiên – Ý Nhiên.
NHUNG: Mượt mà, êm ái như nhung.
Gợi ý tên hay cho bé gái: Hồng Nhung – Thảo Nhung – Quỳnh Nhung – Tuyết Nhung – Phi Nhung – Kim Nhung – Phương Nhung – Bích Nhung.
QUYÊN: Dung mạo xinh đẹp.
Gợi ý tên hay cho bé gái: Thục Quyên – Lệ Quyên – Ngọc Quyên – Bích Quyên – Bảo Quyên – Thảo Quyên – Tố Quyên – Tú Quyên.
QUỲNH: Hoa quỳnh, một thứ ngọc đẹp.
Gợi ý tên hay cho bé gái: Diễm Quỳnh – Ngọc Quỳnh – Ngân Quỳnh – Hạnh Quỳnh – Mai Quỳnh – Phương Quỳnh – Thanh Quỳnh – Cảm Quỳnh.
TÂM: Tấm lòng nhân ái.
Gợi ý tên hay cho bé gái: Băng Tâm – Minh Tâm – Thanh Tâm – Hồng Tâm – Mỹ Tâm – Đan Tâm – Khánh Tâm – Phương Tâm.
THẢO: Loài cỏ nhỏ nhắn nhưng mạnh mẽ, tràn đầy sức sống.
Gợi ý tên hay cho bé gái: Bích Thảo – Phương Thảo – Thu Thảo – Ngọc Thảo – Hương Thảo – Như Thảo – Thạch Thảo – Thanh Thảo – Diễm Thảo – Dạ Thảo – Nguyên Thảo – Anh Thảo – Kim Thảo – Xuân Thảo.
THU: Mùa thu dịu dàng.
Gợi ý tên hay cho bé gái: Mai Thu – Bích Thu – Hoài Thu – Cẩm Thu – Ngọc Thu – Quế Thu – Kiều Thu – Hồng Thu – Hương Thu – Hạnh Thu – Bảo Thu – Phương Thu – Diệp Thu – Lệ Thu.
THƯ: Thông minh, tài giỏi.
Gợi ý tên hay cho bé gái: Anh Thư – Uyên Thư – Minh Thư – Ngọc Thư – Quỳnh THư – Diễm Thư – Bích Thư – Bảo Thư.
THỦY: sâu lắng, mạnh mẽ như làn nước.
Gợi ý tên hay cho bé gái: Ngọc Thủy – Bích Thủy – Phương Thủy – Lệ Thủy – Xuân Thủy – Mai Thủy – Hương Thủy – Khánh Thủy.
TRANG: Nghiêm chỉnh, đoan trang.
Gợi ý tên hay cho bé gái: Đoang Trang – Thu Trang – Quỳnh Trang – Hạnh Trang – Thùy Trang – Thục Trang – Linh Trang – Hạnh Trang – Ngân Trang – Thùy Trang – Ngọc Trang – DIễm Trang – Thảo Trang – Thiên Trang – Kiều Trang – Vân Trang – Bảo Trang – Yến Trang.
TRÀ: Loài cây xanh tươi, hoa thơm và quý.
Gợi ý tên hay cho bé gái: Thanh Trà – Ngọc Trà – Bích Trà – Sơn Trà – Thu Trà – Diệp Trà – Xuân Trà.
YẾN: Loài chim quý, vừa đẹp, vừa hót hay.
Gợi ý tên hay cho bé gái: Hoàng Yến – Ngọc Yến – Minh Yến – Hồng Yến – Cẩm Yến – Nhã Yến – Hải Yến – Kim Yến.
Hoài An: Cuộc sống của con sẽ mãi bình an
Huyền Anh: Tinh anh, huyền diệu
Thùy Anh: Con sẽ thùy mị, tinh anh.
Trung Anh: Trung thực, anh minh
Tú Anh: Xinh đẹp, tinh anh
Vàng Anh: Tên một loài chim
Hạ Băng: Tuyết giữa ngày hè
Lệ Băng: Một khối băng đẹp
Tuyết Băng: Băng giá
Yên Bằng: Con sẽ luôn bình an
Ngọc Bích: Viên ngọc quý màu xanh
Bảo Bình: Bức bình phong quý
Khải Ca: Khúc hát khải hoàn
Sơn Ca: Con chim hót hay
Nguyệt Cát: Kỷ niệm về ngày mồng một của tháng
Bảo Châu: Hạt ngọc quý
Ly Châu: Viên ngọc quý
Minh Châu: Viên ngọc sáng
Hương Chi: Cành thơm
Lan Chi: Cỏ lan, cỏ chi, hoa lau
Liên Chi: Cành sen
Linh Chi: Thảo dược quý hiếm
Mai Chi: Cành mai
Phương Chi: Cành hoa thơm
Quỳnh Chi: Cành hoa quỳnh
Hiền Chung: Hiền hậu, chung thủy
Hạc Cúc: Tên một loài hoa
Nhật Dạ: Ngày đêm
Quỳnh Dao: Cây quỳnh, cành dao
Huyền Diệu: Điều kỳ lạ
Kỳ Diệu: Điều kỳ diệu
Vinh Diệu: Vinh dự
Thụy Du: Đi trong mơ
Vân Du: Rong chơi trong mây
Hạnh Dung: Xinh đẹp, đức hạnh
Kiều Dung: Vẻ đẹp yêu kiều
Từ Dung: Dung mạo hiền từ
Thiên Duyên: Duyên trời
Hải Dương: Đại dương mênh mông
Hướng Dương: Hướng về ánh mặt trời
Thùy Dương: Cây thùy dương
Kim Đan: Thuốc để tu luyện thành tiên
Minh Đan: Màu đỏ lấp lánh
Yên Đan: Màu đỏ xinh đẹp
Trúc Đào: Tên một loài hoa
Hồng Đăng: Ngọn đèn ánh đỏ
Hạ Giang: Sông ở hạ lưu
Hồng Giang: Dòng sông đỏ
Hương Giang: Dòng sông Hương
Khánh Giang: Dòng sông vui vẻ
Lam Giang: Sông xanh hiền hòa
Lệ Giang: Dòng sông xinh đẹp
Bảo Hà: Sông lớn, hoa sen quý
Hoàng Hà: Sông vàng
Linh Hà: Dòng sông linh thiêng
Ngân Hà: Dải ngân hà
Ngọc Hà: Dòng sông ngọc
Vân Hà: Mây trắng, ráng đỏ
Việt Hà: Sông nước Việt Nam
An Hạ: Mùa hè bình yên
Mai Hạ: Hoa mai nở mùa hạ
Nhật Hạ: Ánh nắng mùa hạ
Đức Hạnh: Người sống đức hạnh
Tâm Hằng: Luôn giữ được lòng mình
Thanh Hằng: Trăng xanh
Thu Hằng: Ánh trăng mùa thu
Diệu Hiền: Hiền thục, nết na
Mai Hiền: Đoá mai dịu dàng
Ánh Hoa: Sắc màu của hoa
Kim Hoa: Hoa bằng vàng
Hiền Hòa: Hiền dịu, hòa đồng
Mỹ Hoàn: Vẻ đẹp hoàn mỹ
Ánh Hồng: Ánh sáng hồng
Diệu Huyền: Điều tốt đẹp, diệu kỳ
Ngọc Huyền: Viên ngọc đen
Đinh Hương: Một loài hoa thơm
Quỳnh Hương: Một loài hoa thơm
Thanh Hương: Hương thơm trong sạch
Liên Hương: Sen thơm
Giao Hưởng: Bản hòa tấu
Uyển Khanh: Một cái tên xinh xinh
An Khê: Địa danh ở miền Trung
Song Kê: Hai dòng suối
Mai Khôi: Ngọc tốt
Ngọc Khuê: Danh gia vọng tộc
Thục Khuê: Tên một loại ngọc
Kim Khuyên: Cái vòng bằng vàng
Vành Khuyên: Tên loài chim
Bạch Kim: Vàng trắng
Hoàng Kim: Sáng chói, rạng rỡ
Thiên Kim: Nghìn lạng vàng
Bích Lam: Viên ngọc màu lam
Hiểu Lam: Màu chàm hoặc ngôi chùa buổi sớm
Quỳnh Lam: Loại ngọc màu xanh sẫm
Song Lam: Màu xanh sóng đôi
Thiên Lam: Màu lam của trời
Vy Lam: Ngôi chùa nhỏ
Bảo Lan: Hoa lan quý
Hoàng Lan: Hoa lan vàng
Linh Lan: Tên một loài hoa
Mai Lan: Hoa mai và hoa lan
Ngọc Lan: Hoa ngọc lan
Phong Lan: Hoa phong lan
Tuyết Lan: Lan trên tuyết
Ấu Lăng: Cỏ ấu dưới nước
Trúc Lâm: Rừng trúc
Tuệ Lâm: Rừng trí tuệ
Tùng Lâm: Rừng tùng
Tuyền Lâm: Tên hồ nước ở Đà Lạt
Nhật Lệ: Tên một dòng sông
Bạch Liên: Sen trắng
Hồng Liên: Sen hồng
Ái Linh: Tình yêu nhiệm màu
Gia Linh: Sự linh thiêng của gia đình
Thảo Linh: Sự linh thiêng của cây cỏ
Thủy Linh: Sự linh thiêng của nước
Trúc Linh: Cây trúc linh thiêng
Tùng Linh: Cây tùng linh thiêng
Hương Ly: Hương thơm quyến rũ
Lưu Ly: Một loài hoa đẹp
Tú Ly: Khả ái
Bạch Mai: Hoa mai trắng
Ban Mai: Bình minh
Chi Mai: Cành mai
Hồng Mai: Hoa mai đỏ
Ngọc Mai: Hoa mai bằng ngọc
Nhật Mai: Hoa mai ban ngày
Thanh Mai: Quả mơ xanh
Yên Mai: Hoa mai đẹp
Thanh Mẫn: Sự sáng suốt của trí tuệ
Hoạ Mi: Chim họa mi
Hải Miên: Giấc ngủ của biển
Thụy Miên: Giấc ngủ dài và sâu
Bình Minh: Buổi sáng sớm
Tiểu My: Bé nhỏ, đáng yêu
Trà My: Một loài hoa đẹp
Duy Mỹ: Chú trọng vào cái đẹp
Thiên Mỹ: Sắc đẹp của trời
Thiện Mỹ: Xinh đẹp và nhân ái
Hằng Nga: Chị Hằng
Thiên Nga: Chim thiên nga
Tố Nga: Người con gái đẹp
Bích Ngân: Dòng sông màu xanh
Kim Ngân: Vàng bạc
Đông Nghi: Dung mạo uy nghiêm
Phương Nghi: Dáng điệu đẹp, thơm tho
Thảo Nghi: Phong cách của cỏ
Bảo Ngọc: Ngọc quý
Bích Ngọc: Ngọc xanh
Khánh Ngọc: Viên ngọc đẹp
Kim Ngọc: Ngọc và vàng
Minh Ngọc: Ngọc sáng
Thi Ngôn: Lời thơ đẹp
Hoàng Nguyên: Rạng rỡ, tinh khôi
Thảo Nguyên: Đồng cỏ xanh
Ánh Nguyệt: Ánh sáng của trăng
Dạ Nguyệt: Ánh trăng
Minh Nguyệt: Trăng sáng
Thủy Nguyệt: Trăng soi đáy nước
An Nhàn: Cuộc sống nhàn hạ
Hồng Nhạn: Tin tốt lành từ phương xa
Phi Nhạn: Cánh nhạn bay
Mỹ Nhân: Người đẹp
Gia Nhi: Bé cưng của gia đình
Hiền Nhi: Bé ngoan của gia đình
Thảo Nhi: Người con hiếu thảo
Tuệ Nhi: Cô gái thông tuệ
Uyên Nhi: Xé xinh đẹp
Yên Nhi: Ngọn khói nhỏ
Ý Nhi: Nhỏ bé, đáng yêu
Di Nhiên: Cái tự nhiên còn để lại
An Nhiên: Thư thái, không ưu phiền
Thu Nhiên: Mùa thu thư thái
Hạnh Nhơn: Đức hạnh
Hoàng Oanh: Chim oanh vàng
Kim Oanh: Chim oanh vàng
Lâm Oanh: Chim oanh của rừng
Song Oanh: Hai con chim oanh
Vân Phi: Mây bay
Thu Phong: Gió mùa thu
Hải Phương: Hương thơm của biển
Hoài Phương: Nhớ về phương xa
Minh Phương: Thơm tho, sáng sủa
Phương Phương: Vừa xinh vừa thơm
Thanh Phương: Vừa thơm tho, vừa trong sạch
Vân Phương: Vẻ đẹp của mây
Nhật Phương: Hoa của mặt trời
Trúc Quân: Nữ hoàng của cây trúc
Nguyệt Quế: Một loài hoa
Kim Quyên: Chim quyên vàng
Lệ Quyên: Chim quyên đẹp
Tố Quyên: Loài chim quyên trắng
Lê Quỳnh: Đóa hoa thơm
Diễm Quỳnh: Đoá hoa quỳnh
Khánh Quỳnh: Nụ quỳnh
Đan Quỳnh: Đóa quỳnh màu đỏ
Ngọc Quỳnh: Đóa quỳnh màu ngọc
Tiểu Quỳnh: Đóa quỳnh xinh xắn
Trúc Quỳnh: Tên loài hoa
Tên hay cho con gái theo vần S
Hoàng Sa: Cát vàng
Linh San: Tên một loại hoa
Băng Tâm: Tâm hồn trong sáng, tinh khiết
Đan Tâm: Tấm lòng son sắt
Khải Tâm: Tâm hồn khai sáng
Minh Tâm: Tâm hồn luôn trong sáng
Phương Tâm: Tấm lòng đức hạnh
Thục Tâm: Một trái tim dịu dàng, nhân hậu
Tố Tâm: Người có tâm hồn đẹp, thanh cao
Tuyết Tâm: Tâm hồn trong trắng
Đan Thanh: Nét vẽ đẹp
Đoan Thanh: Người con gái đoan trang, hiền thục
Giang Thanh: Dòng sông xanh
Hà Thanh: Trong như nước sông
Thiên Thanh: Trời xanh
Anh Thảo: Tên một loài hoa
Cam Thảo: Cỏ ngọt
Diễm Thảo: Loài cỏ hoang, rất đẹp
Hồng Bạch Thảo: Tên một loài cỏ
Nguyên Thảo: Cỏ dại mọc khắp cánh đồng
Như Thảo: Tấm lòng tốt, thảo hiền
Phương Thảo: Cỏ thơm
Thanh Thảo: Cỏ xanh
Ngọc Thi: Vần thơ ngọc
Giang Thiên: Dòng sông trên trời
Hoa Thiên: Bông hoa của trời
Thanh Thiên: Trời xanh
Bảo Thoa: Cây trâm quý
Bích Thoa: Cây trâm màu ngọc bích
Huyền Thoại: Như một huyền thoại
Kim Thông: Cây thông vàng
Lệ Thu: Mùa thu đẹp
Đan Thu: Sắc thu đan nhau
Hồng Thu: Mùa thu có sắc đỏ
Quế Thu: Thu thơm
Thanh Thu: Mùa thu xanh
Đơn Thuần: Đơn giản
Đoan Trang: Đoan trang, hiền dịu
Phương Thùy: Thùy mị, nết na
Khánh Thủy: Đầu nguồn
Thanh Thủy: Trong xanh như nước của hồ
Thu Thủy: Nước mùa thu
Xuân Thủy: Nước mùa xuân
Hải Thụy: Giấc ngủ bao la của biển
Diễm Thư: Cô tiểu thư xinh đẹp
Hoàng Thư: Quyển sách vàng
Thiên Thư: Sách trời
Minh Thương: Biểu hiện của tình yêu trong sáng
Nhất Thương: Bố mẹ yêu thương con nhất trên đời
Vân Thường: Áo đẹp như mây
Cát Tiên: May mắn
Thảo Tiên: Vị tiên của loài cỏ
Thủy Tiên: Hoa thuỷ tiên
Đài Trang: Cô gái có vẻ đẹp đài cát, kiêu sa
Hạnh Trang: Người con gái đoan trang, tiết hạnh
Huyền Trang: Người con gái nghiêm trang, huyền diệu
Phương Trang: Trang nghiêm, thơm tho
Vân Trang: Dáng dấp như mây
Yến Trang: Dáng dấp như chim én
Hoa Tranh: Hoa cỏ tranh
Đông Trà: Hoa trà mùa đông
Khuê Trung: Phòng thơm của con gái
Bảo Trâm: Cây trâm quý
Mỹ Trâm: Cây trâm đẹp
Quỳnh Trâm: Tên của một loài hoa tuyệt đẹp
Yến Trâm: Một loài chim yến rất quý giá
Bảo Trân: Vật quý
Lan Trúc: Tên loài hoa
Tinh Tú: Sáng chói
Đông Tuyền: Dòng suối lặng lẽ trong mùa đông
Lam Tuyền: Dòng suối xanh
Kim Tuyến: Sợi chỉ bằng vàng
Cát Tường: Luôn luôn may mắn
Bạch Tuyết: Tuyết trắng
Kim Tuyết: Tuyết màu vàng
Lâm Uyên: Nơi sâu thăm thẳm trong khu rừng
Phương Uyên: Điểm hẹn của tình yêu.
Lộc Uyển: Vườn nai
Nguyệt Uyển: Trăng trong vườn thượng uyển
Bạch Vân: Đám mây trắng tinh khiết trên bầu trời
Thùy Vân: Đám mây phiêu bồng
Thu Vọng: Tiếng vọng mùa thu
Anh Vũ: Tên một loài chim rất đẹp
Bảo Vy: Vi diệu quý hóa
Đông Vy: Hoa mùa đông
Tường Vy: Hoa hồng dại
Tuyết Vy: Sự kỳ diệu của băng tuyết
Diên Vỹ: Hoa diên vỹ
Hoài Vỹ: Sự vĩ đại của niềm mong nhớ
Xuân xanh: Mùa xuân trẻ
Hoàng Xuân: Xuân vàng
Nghi Xuân: Một huyện của Nghệ An
Thanh Xuân: Giữ mãi tuổi thanh xuân bằng cái tên của bé
Thi Xuân: Bài thơ tình lãng mạn mùa xuân
Thường Xuân: Tên gọi một loài cây
Bình Yên: Nơi chốn bình yên.
Mỹ Yến: Con chim yến xinh đẹp
Ngọc Yến: Loài chim quý
Đặt tên cho con trai thường mang ngữ nghĩa nam tính, phẩm đức, có sắc thái mạnh mẽ, ý chí, có nhân, có nghĩa, có hiếu, có trung, có hoài bão và chí hướng. Tên con trai thường được được đặt dựa trên:
Phẩm đức nam giới về nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, trung, hiếu, văn, tuệ như: Trí Dũng, Chiến Thắng, Quang Vinh, Kiến Quốc, Vĩ Hùng…
Tính phú quý, tốt đẹp: phúc lành (Hoàng Phúc, Đăng Phúc); an khang (Bảo Khang, Hữu Khang); cát lành (Quý Hiển, Phước Vinh)…
Truyền thống gia đình, tổ tiên: Chí Đức, Hữu Tài, Tiến Đạt, Duy Khoa, Trọng Kiên, Minh Triết
Kỳ vọng của cha mẹ với con cái như thành đạt, thông thái, bình an, hạnh phúc: Chí Đạt, Anh Tài, Minh Trí, Duy Nhất, Tùng Thọ…
Đặt tên cho con gái thì cần mang nhiều nghĩa thiên nữ tính, nữ đức, có sắc thái thể hiện sự hiền dịu, đằm thắm, đoan trang và tinh khiết. Tên con gái thường được đặt dựa trên:
Phẩm đức nữ giới về tài, đức, thục, hiền, dịu dàng, đoan trang, mỹ hạnh: Thục Hiền, Uyển Trinh, Tố Anh, Diệu Huyền…
Tên loài hoa: hoa lan (Ngọc Lan, Phương Lan), hoa huệ (Thu Huệ, Tố Huệ), hoa cúc (Hương Cúc, Thảo Cúc)…
Tên loài chim: chim Quyên (Ngọc Quyên, Ánh Quyên), chim Yến (Hải Yến, Cẩm Yến)…
Tên màu sắc: màu hồng (Lệ Hồng, Diệu Hồng), màu xanh (Mai Thanh, Ngân Thanh)…
Sự vật hiện tượng đẹp đẽ: Phong Nguyệt, Minh Hằng, Ánh Linh, Hoàng Ngân…
Bảo Huỳnh
Bảo Khánh
Bảo Lâm
Bảo Long
Bảo Pháp
Bảo Quốc
Bảo Sơn
Bảo Thạch
Bảo Thái
Bảo Tín
Bảo Toàn
Bích Nhã
Bình An
Bình Dân
Bình Đạt
Bịnh Định
Bình Dương
Bình Hoà
Bình Minh
Bình Nguyên
Bình Quân
Bình Thuận
Bình Yên
Bửu Chưởng
Bửu Diệp
Bửu Toại
Cảnh Tuấn
Cao Kỳ
Cao Minh
Cao Nghiệp
Cao Nguyên
Cao Nhân
Cao Phong
Cao Sĩ
Cao Sơn
Cao Sỹ
Cao Thọ
Cao Tiến Cát Tường
Cát Uy
Chấn Hùng
Chấn Hưng
Chấn Phong
Chánh Việt
CHế Phương
Chí Anh
Chí Bảo
Chí Công
Chí Dũng
Chí Hiếu
Chí Khang
Đắc Di
Đắc Lộ
Đắc Lực
Đắc Thái
Đắc Thành
Đắc Trọng
Đại Dương
Đại Hành
Đại Ngọc
Đại Thống
Dân Hiệp
Dân Khánh
Đan Quế
Đan Tâm
Đăng An
Đăng Đạt
Đăng Khánh
Đăng Khoa
Đăng Khương
Đăng Minh
Đăng Quang
Danh Nhân
Danh Sơn
Danh Thành
Danh Văn
Đạt Dũng
Đạt Hoà
Đình Chiểu
Đình CHương
Đình Cường
Đình Diệu
Đình Đôn
Đình Dương
Đình Hảo
Đình Hợp
Đình Kim
Đinh Lộc
Đình Lộc
Đình Luận
Định Lực
Định Nam
Đỉnh Ngân
Đỉnh Nguyên
Đỉnh Nhân
Đỉnh Phú
Đỉnh Phúc
Đình Quảng
Đình Sang
Định Siêu
Đình Thiện
ĐÌnh Toàn
Đức Tường
Dũng Trí
Dũng Việt
Dương Anh
Dương KHánh
Duy An
Duy Bảo
Duy Cẩn
Duy Cường
Duy Hải
Duy Hiền
Duy Hiếu
Duy Hoàng
Duy Hùng
Duy Khang
Duy Khánh
Duy Khiêm
Duy Kính
Duy Luận
Duy Mạnh
Duy Minh
Duy Ngôn
DUy Nhượng
Duy Quang
Duy Tâm
Duy Tân
Duy Thạch
Duy Thắng
Duy Thanh
Duy Thành
Duy Thông
Duy Tiếp
Duy Tuyền
Gia Ân
Gia Anh
Gia Bạch
Gia Bảo
Gia Bình
Gia Cẩn
Gia Giần
Sau đây là những điều kiêng kỵ bạn nên biết khi đi lễ chùa.
- Trước hết, vào chùa nên đi từ cửa bên, không đi cửa chính giữa; đồng thời không dẫm lên bậu cửa khi bước vào, nếu không sẽ phạm phạm tội bất kính. Cửa chính nhà chùa từ xưa đến nay chỉ đức Phật, Ngọc đế, quốc vương một nước mới được ra vào. Vì thế, có nhiều ngôi chùa ngày thường không mở cửa chính.- Vào Phật đường, đi vòng quanh tượng Phật, khu vực tam bảo, đi từ phải sang trái, niệm tên Phật “A di đà phật”. Bởi theo quan niệm đạo Phật, bạn sẽ được hưởng 5 điều phúc đức: Hậu sinh đoan chính, đẹp; lời ăn tiếng nói rõ ràng dễ nghe; hóa sinh thăng thiên; có thể được sinh ra trong gia đình quyền quý; siêu sinh đạo Niết Bàn.
- Khi đi lễ chùa bạn nên thắp hương tại đỉnh đặt bên ngoài, hạn chế thắp hương bên trong chùa, vì có thể gây ảnh hưởng đến tượng Phật, pháp khí.
- Không đứng hoặc quỳ chính giữa Phật đường lễ Phật mà nên quỳ lễ chếch sang bên trái hoặc phải một chút.
- Lễ chùa bạn phải ăn mặc giản dị, sạch sẽ, đặc biệt không mặc váy ngắn, quần cộc, áo hở lườn hở nách… Nếu không, bạn sẽ vừa phạm giới bất kính, khẳng định công quả tiêu tán hết, quả báo vô cùng. Không để trẻ em chạy loạn tam bảo, nghịch ngợm các đồ tế khí, sờ mó tượng phật…

- Vào chùa, nếu gặp các trụ chì và tăng ni, nên bắt đầu bằng câu “A di đà Phật” . Khi ra về cũng nên dùng câu này để bái biệt, công đức mang lại vô lượng, cho cả người vãn cảnh và nhà chùa.
- Không nên chụp ảnh, quay phim tùy tiện trong chùa, khi đứng khấn vái, không nên đứng thẳng bàn thờ mà nên đứng chéo sang một bên.
- Không đặt lễ mặn ở khu vực Phật điện tức là chính điện, tức là nơi thờ tự chính của ngôi chùa. Trên hương án của chính điện chỉ được dâng đặt lễ chay, tịnh. Việc sắm sửa lễ mặn chỉ có thể được chấp nhận nếu như trong khu vực chùa có thờ tự các vị Đức Ông, Thánh, Mẫu và chỉ dâng đặt tại ban thờ hay điện thờ.
- Không nên sắm sửa vàng mã, tiền âm phủ để dâng cúng Phật tại chùa. Nếu có sửa lễ này thì thí chủ đặt ở bàn thờ thần linh, Thánh Mẫu hay ở bàn thờ Đức Ông. Tiền thật cũng không nên đặt lên hương án của chính điện, mà nên bỏ vào hòm công đức.
- Không tự ý lấy sử dụng hoặc mang bất kỳ loại đồ đạc gì của nhà chùa về làm của riêng. Theo nhiều kinh sách và quan niệm truyền thống, những hành vi như vậy gọi là “đạo dụng thập phương thường trụ” (trộm dùng đồ lễ của chúng sinh cúng dàng). Phạm giới luật này khi chết sẽ bị giam vào địa ngục, chịu khổ vô kể. Phật điển ghi rõ, “nhân nhỏ, quả lớn”, thành tâm cúng dàng, lễ dù nhỏ nhưng phúc báo lớn lao; trộm của chùa,vật tuy xơ sài nhưng quả báo không gánh hết.
- Vào Phật đường, tam bảo không nên đi giày dép, nhai trầu, hút thuốc. Tam bảo là nơi tôn nghiêm, có giới hương, định hương, chân hương, đòi hỏi phải trì giới để di dưỡng thanh tịnh, tuyệt đối không gây ồn ào, hỗn tạp. Tội náo loạn tam bảo không nhỏ.
- Trước tượng Phật nên cung kính nghiêm trang, không nhìn ngang ngó dọc, khệnh khạng trước tam bảo. Nếu muốn chiêm ngưỡng tượng Phật, nên đứng từ ngoài để quan sát.
- Không chạy qua chạy lại, nói chuyện, bình phẩm, ngồi hoặc nằm trong Phật đường. Không tùy tiện hắt hơi sổ mũi, khạc nhổ… quanh khu vực Phật điện, tam bảo.
- Sử dụng đồ của chùa, như ăn uống, thụ lộc, nên lưu công đức, dù ít dù nhiều. Không nên coi đó là của chùa, trụ trì cho thì nhận mà không bố thí chút công đức, vì sẽ phạm tội “luân đạo thực quả báo” là căn nguyên rơi vào địa ngục.
- Không nên mang theo mũ áo, khăn, túi xách, gậy gộc, bao tay… vào tam bảo bái Phật. Lỡ đặt những đồ đạc như vậy trên bàn, trên chiếu hoặc trong góc tam bảo để bái Phật thì mọi công quả tu dưỡng bấy lâu đều tiêu tán. Đi lễ chùa, tốt nhất không mang theo những đồ tùy thân khi vào tam bảo.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
Phòng ngủ ngọt ngào với màu hồng đào.
Phòng ngủ với màu vàng rực rỡ và màu xanh tràn sức sống giúp gia chủ thư giãn sau ngày làm việc căng thẳng.
Dẫn đầu trong danh sách màu sắc “trung tính” được ưa dùng, với một căn phòng màu xám bạn có thể biến tấu nó thành không gian ấm áp hoặc mát mẻ tùy theo cách kết hợp.
Màu xanh không chỉ dùng cho những căn phòng của bé trai, những điểm nhấn màu xanh đậm ở đây tạo nên sự yên ả, kết hợp với màu hồng nhạt tạo ra điểm nhấn nhẹ nhàng cho căn phòng.
Bạn cũng có thể chọn gam màu xám tối cho căn phòng, để tạo nên sự cân bằng, nên kết hợp nó với một màu tươi sáng, ví dụ như màu cam ở đây.
Căn phòng với điểm nhấn màu xanh lá vui mắt.
Phòng ngủ màu trắng sang trọng, tinh tế với sắc trắng làm chủ đạo. Điểm nhấn ở đây là những họa tiết hoa lá trên giấy dán tường.
Theo Hiền Thương/Cafeland
![]() |
| Ảnh minh họa |
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Đoan Trang(##)
Từ trước đến nay, trong phong thuy khi nói đến vấn đề chọn hướng nhà, người ta đều dựa vào phương pháp phân chia nhà và tuổi thành 2 nhóm ĐÔNG - TÂY như sau:
Những người có năm sinh thuộc các quẻ CHẤN, TỐN, KHẢM, LY là thuộc ĐÔNG TỨ MỆNH, và chỉ có thể chọn những nhà có phương tọa thuộc các hướng ĐÔNG, ĐÔNG NAM, BẮC và NAM, tức những nhà thuộc ĐÔNG TỨ TRẠCH thì mọi sự mới được tốt đẹp.
Những người có năm sinh thuộc các quẻ CÀN, KHÔN, CẤN, ĐOÀI là thuộc TÂY TỨ MỆNH, nên chỉ có thể chọn những nhà có tọa thuộc các hướng TÂY BẮC, TÂY NAM, ĐÔNG BẮC và TÂY, tức những nhà thuộc TÂY TỨ TRẠCH.

Nếu người mệnh ĐÔNG mà ở TÂY trạch, hay người mệnh TÂY ở ĐÔNG trạch thì thường là làm ăn thất bại, dễ mắc đủ mọi tai họa, bệnh tật, chết chóc.
- Thí dụ: chủ nhà là nam, sinh năm 1960 (CANH TÝ) mệnh TỐN, tức thuộc Đông tứ mệnh, nên chỉ có thể chọn những nhà có phương tọa thuộc các hướng BẮC, NAM, ĐÔNG và ĐÔNG NAM.
Tuy nhiên, có nhiều người dù đã được “đúng hướng hợp với bản mệnh”, nhưng sau khi vào ở vẫn bị nhiều tai nạn, khốn khó, yểu tử như những trường hợp dưới đây:
- Trường hợp 1: Một gia đình nọ, cả 2 vợ, chồng đều sinh năm 1926 (BÍNH DẦN), nên chồng mệnh KHÔN, vợ mệnh TỐN. Vào năm 1965, họ dọn vào 1 căn nhà hướng TÂY NAM (210 độ), tọa ĐÔNG BẮC, nên tọa - hướng đều hợp với tuổi của chồng, nhưng khắc tuổi người vợ. Không những thế, bếp còn nằm ở khu vực TÂY BẮC, miệng bếp nhìn về hướng TÂY NAM. Nhưng sau khi vào ở thì gia đình càng ngày càng lụn bại, lại hay bị bệnh tật, tai họa liên miên. Sau khi ở đó được hơn 8 năm, người chồng bị đứt mạch máu và bại liệt nửa người, rồi chỉ hơn 1 năm sau thì ông qua đời.
- Trường hợp 2: Một người nữ, sinh năm 1950 (vì sinh trong tháng 1 nên vẫn thuộc năm KỶ SỬU), mệnh LY. Vào năm 1995, người này dọn vào ở trong căn nhà tọa BẮC hướng NAM (hay tọa TÝ hướng NGỌ). Bếp nằm tại khu vực phía TÂY BẮC, hướng bếp (tức hướng lưng người đứng nấu) nhìn về phía NAM. Khi mới vào ở mọi sự bình thường, nhưng đến năm 2003 thì bị thất nghiệp, rồi sang năm 2004 lại phát hiện bị bệnh ung thư. Sau mấy năm trời đau đớn chịu đựng thì qua đời vào đầu năm 2008.
- Trường hợp 3: Một gia đình nọ, chồng sinh năm 1958 (MẬU TUẤT), mệnh CÀN, vợ sinh năm 1961 (TÂN SỬU), mệnh CHẤN, mua nhà tọa BẮC hướng NAM từ cuối năm 2003. Bếp nằm trong khu vực phía BẮC và nhìn về hướng BẮC. Tuy nhà này “hợp” với tuổi của người vợ, còn “khắc hại” tuổi của người chồng, nhưng sau khi vào ở chưa vừa 3 năm thì người vợ bị đủ thứ tai họa, mất việc, kiện tụng, bệnh hoạn, thần kinh suy nhược trong khi người chồng thì tương đối ổn định, tuy có nóng nảy hơn lúc trước.
Qua những trường hợp trên, cũng như rất nhiều trường hợp thực tế khác, có thể thấy phương pháp dùng tuổi để chọn hướng nhà là hoàn toàn sai lầm, và đôi khi còn mang tới nhiều kết quả tai hại.
Nhưng nếu nói như thế thì sẽ không có phương pháp nào để chọn hướng nhà? Và những người muốn mua nhà, xây nhà đều chỉ có thể chọn đại rồi phó mặc cho số phận? Thật ra, Phong thủy cũng có 2 phương pháp chọn hướng nhà: thứ nhất là tìm vận khí của căn nhà theo Phi tinh; thứ 2 là dựa vào sự cân bằng ngũ hành của tất cả năm, tháng, ngày, giờ sinh, tức lựa chọn hướng nhà theo phương vị của dụng thần trong Tứ trụ (hoặc Bát tự), chứ không thể chỉ theo mệnh quái của năm sinh được. Dưới đây xin được trình bày sơ qua 2 vấn đề đó để bạn đọc có thể nắm được như sau:
1/ Dựa theo vận khí của căn nhà: tức là phải dùng phương pháp lập trạch vận theo Huyền Không Phi Tinh, để xem nhà có nhận được vượng khí hay không trước khi tuyển chọn. Vấn đề này rất dài dòng, vì đòi hỏi phải học và nắm vững những lý thuyết về Huyền không mới có thể làm được.
Vì lúc đó đang trong vận 6 (1964 - 1984), mà phía trước nhà có Sơn tinh số 6, còn phía sau có Hướng tinh 6, nên nhà này bị “Thượng Sơn Hạ Thủy”. Đã thế, phía sau nhà không có cửa để đón vượng khí của Hướng tinh 6, còn phía trước gặp phải Tử khí (Hướng tinh 9). Chưa kể khu vực phía TÂY nhà còn có cửa hông, gặp phải sát khí Ngũ Hoàng (số 5) nên mới bị lắm tai họa, bệnh tật và mất người như thế, cho dù hướng nhà có hoàn toàn “hợp” với tuổi của gia chủ đi nữa.
Một điều cần chú ý là nếu phía sau nhà này (tức khu vực phía ĐÔNG BẮC) có cửa hoặc ao, hồ thì vận khí của căn nhà sẽ thay đổi và tốt đẹp hơn. Vì vậy, ngoài việc lập Phi tinh của trạch vận, còn phải biết kết hợp nó với thiết kế và địa hình trong, ngoài mới có thể luận đoán chính xác vận khí của từng căn nhà.
2/ Dựa vào sự cân bằng của Ngũ hành trong Tứ trụ: tức là phải xét hết mọi yếu tố của năm, tháng, ngày, giờ sinh để tìm ra dụng thần và kỵ thần, rồi từ đó mới có thể chọn được hướng nhà thích hợp cho từng người hoặc gia chủ.
Ngày sinh CANH (Kim) là mệnh, tuy được THÂN (cũng thuộc hành Kim) trợ giúp, nhưng sinh vào tháng SỬU là mệnh CANH gặp Mộ địa, lại còn bị BÍNH - ĐINH ở 2 bên đều là Hỏa khắc mệnh, cho nên mệnh này nhược (yếu) mà còn bị khắc. Vì vậy, cần lấy KỶ (Thổ) để điều tiết Hỏa mà sinh cho mệnh làm dụng thần, QÚY (Thủy) tàng ẩn trong SỬU để khắc chế bớt Hỏa làm hỷ thần, còn BÍNH - ĐINH Hỏa đều là kỵ thần. Vào thời gian từ 53 đến 62 tuổi, người này nhập đại vận QUÝ MÙI, Thiên khắc - Địa xung với cả năm và tháng sinh, khiến cho dụng thần và hỷ thần KỶ - QUÝ đều bị xung mất, chỉ còn có BÍNH Hỏa khắc mệnh. Vì Kim bị Hỏa khắc là có bệnh ở ngực hoặc phổi, cho nên mới bị ung thư vú. Đã vậy lại còn ở nhà hướng NAM (thuộc cung LY - Hỏa), hàng ngày ra, vào là đều đi về phía của kỵ thần và hung thần Hỏa nên mệnh càng bị khắc nặng. Khi vừa qua năm MẬU TÝ là năm Hỏa vượng, tháng 1 âm lịch là tháng GIÁP DẦN, tức Mộc vượng sinh Hỏa, mệnh bị khắc không còn đường cứu chữa nên phải lìa đời.
Cho nên, nếu dựa theo Tứ trụ thì người này không thể ở nhà hướng NAM hoặc ĐÔNG, mà nên chọn những nhà thuộc các hướng ĐÔNG BẮC, TÂY NAM (thuộc Thổ), hoặc BẮC (Thủy), hay TÂY và TÂY BẮC (Kim). Vì vậy nếu dọn đi nơi khác thì đã có thể thoát hiểm, nhưng rất tiếc là đã không chịu làm gì cả.
Do đó, có thể thấy ngay cả những người sinh cùng năm, tháng, ngày, giờ với người này, nhưng nếu phương hướng nhà ở khác biệt thì vận số của mỗi người cũng sẽ khác biệt, chứ không phải ai sinh cùng năm, tháng, ngày, giờ đó đều sẽ bị ung thư và qua đời vào đầu năm 2008. Đó chính là những trường hợp “đức năng thắng số” mà cổ nhân thường nhắc tới.
Trường hợp này cũng cho thấy là không phải tất cả mọi người cùng 1 tuổi đều có thể (hay không thể) ở cùng 1 hướng nhà, mà còn tùy theo phương hướng của dụng, hỷ thần hay kỵ thần. Vì vậy, có những người cùng tuổi KỶ SỬU, mệnh LY mà ở nhà hướng NAM thì lại tốt, nhưng có người ở lại bình thường hoặc rất xấu.
Ngoài ra, dưới đây là trường hợp tòa Bạch Ốc, chỗ ở và làm việc của các TT Hoa Kỳ, cùng với tuổi và mệnh quái của các TT từ Abraham Lincoln cho tới George W. Bush hiện giờ.
Tòa nhà này tọa chính BẮC (0 độ), hướng chính NAM (180 độ), nên thuộc ĐÔNG trạch, nên đúng ra phải tốt và phù hợp với những TT thuộc ĐÔNG TỨ MỆNH. Nhưng nhìn vào bảng trên, ta thấy chẳng những tòa Bạch Ốc lại “thu hút” nhiều TT thuộc TÂY TỨ MỆNH, mà hầu hết những TT nổi tiếng tài ba và đi vào lịch sử như Lincoln, T. Roosevelt, F.D. Roosevelt, Truman, Eisenhower, Kennedy, Reagan cũng đều thuộc TÂY TỨ MỆNH. Còn hầu hết những TT thuộc ĐÔNG TỨ MỆNH lại thất bại và bị lịch sử chê trách, ngoại trừ W. Wilson là được ca ngợi mà thôi. Riêng W. (Bill) Clinton tuy cai trị thành công, nhưng lại bị qúa nhiều tai tiếng, nên chỉ được đánh giá bình thường hay tương đối khá mà thôi. Vì vậy, vấn đề được đặt ra là 1 người có mệnh quái “phù hợp” với hướng nhà cũng chưa chắc đã được thuận lợi và mọi sự tốt đẹp, trong khi 1 người có mệnh quái khác biệt với hướng nhà cũng chưa chắc đã hoàn toàn thất bại và bị “vùi xuống đất đen” như người ta thường nghĩ.
Chùa Liên Phái là một di tích văn hóa lịch sử quan trọng nằm tại phố Bạch Mai, quận Hai Bà Trưng, thủ đô Hà Nội. Nơi đây là tổ đình của Thiền phái Liên Tông. Liên Phái là tên của chùa từ năm 1840, trước đó chùa có tên là Liên Hoa rồi Liên Tông.
Chùa Liên Hoa được dựng lên sau khi Trịnh Thập (có tài liệu ghi là Trịnh Hợp) (1696 – 1733) – là cháu nội Chúa Trịnh Căn và là con rể vua Lê Hy Tông (Trịnh Thập lấy người công chúa thứ 4) phát hiện một ngó sen sau khi đào đất ở gò cao sau phủ (phường Hồng Mai, sau đổi tên thành Bạch Mai) để xây bể cạn. Trịnh Thập cho rằng đây là dấu hiệu của Phật và tin rằng mình có duyên với đạo. Vì vậy, Trịnh Thập quyết định chuyển phủ của mình thành chùa Liên Hoa, đồng thời theo đạo Phật, trở thành Lân Giác Thượng Sỹ trụ trì trong chính ngôi chùa này.
Theo tấm bia đá khắc năm Tự Đức thứ 10 (1857) hiện còn ở chùa, chùa được xây dựng vào năm Bảo Thái thứ 7 (tức 1726). Năm 1733, Trịnh Thập (lúc đó mới 37 tuổi) mất và được chôn cất trong Tháp Cứu Sinh xây ở chính nơi tìm thấy ngó sen. Sau đó, chùa được đổi tên thành chùa Liên Tông. Đến năm 1840, chùa được đổi tên thành Liên Phái như hiện nay vì kiêng huý vua Thiệu Trị.
Chùa đã được tu sửa nhiều lần, đợt sửa chữa lớn nhất vào năm Ất Mão (1855) sửa nhà tổ, nhà tăng, hành lang, tả hữu, tô tượng Phật, phải mất 6 năm liền mới hoàn thành. Đến năm Kỉ Tị (1869) Thiền sư Thanh Minh – Hiệu Lạc Sơn đã chủ trì việc trùng tu “xây thêm gác chuông, phía trước có tháp Cửu Phẩm, có nhà bia, phía sau có đồi vườn tháp xây tường bốn bên – Trước sau cõi Phật trang nghiêm rực rỡ”.
Trước cổng chùa là ngôi tháp Diệu Quang cao 10 tầng có hình lục lǎng. Có hai hồ rộng ở hai bên cổng chùa. Trong chùa, có một sân rộng, nhà bái đường và khu tam bảo là nơi thờ Phật. Nhà tổ cách khu tam bảo một sân nhỏ. Ngoài ra, chùa còn có nhà bia với 34 tấm bia ghi sự tích và lịch sử của chùa cũng như tên những người đóng góp công đức.
Phía sau chùa là khu vườn tháp với 9 ngôi tháp xây thành 3 hàng trên một gò đất cao lần lượt có 2, 5 và 2 ngôi tháp. Ở hàng giữa có tháp Cửu Sinh xây bằng đá – đây là ngôi tháp cổ nhất trong nội thành Hà Nội. Khoảng năm 1890, người ta còn xây dựng một ngọn tháp cao 9 tầng có kiến trúc rất đẹp trong chùa.
Chùa Liên Phái và tháp Cửu Sinh đã trên 250 tuổi. Đây là ngôi tháp cổ nhất trong khu vực nội thành Hà Nội. Quy mô hiện nay của chùa không khác mấy so với lần sửa chữa giữa thế kỷ thứ 19.
Chùa Liên Phái Hà Nội đã được xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia vào ngày 28-4-1962.
![]() |
Những đứa trẻ khóc Dạ Đề ban ngày rất ngoan, ăn uống tốt, nhưng cứ đêm xuống là khóc to và không ngủ, cũng có những bé cả ngày hay khóc và rất khó nuôi, thậm chí lên cơn co giật. Hiện tượng trẻ khóc đêm xảy ra ở những bé mới sinh cho đến tận 2 tuổi. Và khi trẻ khóc đêm nhiều sẽ làm ảnh hưởng đến sức khỏe của bé cũng như mọi người trong gia đình.
Trẻ mắc chứng khóc Dạ Đề khi sinh phạm giờ Dạ Đề như sau:
Mùa Đông sinh vào giờ Mão (từ 5h – 7h sáng)
Sinh giờ Tý (23-1h): Là người phong lưu, ham vui chơi, thích thay đổi công việc.
![]() |
Sinh giờ Dần (3-5h): Là người nóng tính, dễ thay đổi, thiếu kiên nhẫn nên khó có được thành công trong sự nghiệp.
Sinh giờ Mão (5-7h): Người sinh giờ này có tài cao, được trọng dụng, nổi danh trong thiên hạ.
Sinh giờ Thìn (7-9h): Cuộc sống gặp nhiều khó khăn, tuy nhiên, nếu quyết chí có ngày cũng làm nên nghiệp lớn.
Sinh giờ Tỵ (9-11h): Giờ này có sao Dịch Mã chiếu mệnh nên số phải cô đơn, bôn ba khắp nơi để cầu danh lợi.
Sinh giờ Ngọ (11-13h): Người sinh giờ này có gia đình yên vui, vợ chồng hòa hợp, lâm nguy vô sự.
Sinh giờ Mùi (13-15h): Gặp vận số tam hợp Mão - Mùi - Hợi nên là người thông minh xuất chúng, có tài năng nhưng phải đề phòng tai bay vạ gió.
Sinh giờ Thân (15-17h): Người sinh giờ này cuộc sống bình thường, cần đề phòng bệnh tật.
Sinh giờ Dậu (17-19h): Dậu mệnh Kim khắc Mão mệnh Mộc nên sinh vào giờ này thường gian nan, vất vả, sự nghiệp khó khăn, cuộc sống gia đình bất ổn.
Sinh giờ Tuất (19-21h): Người sinh vào giờ này thường có chí hành động, gặp hung hóa cát.
Sinh giờ Hợi (21-23h): Gặp vận tam hợp nhưng lại bị sao Bạch Hổ chiếu mệnh nên cuộc đời gặp nhiều vất vả, khó khăn. Nên thận trọng trong mọi việc
(Theo Nhân duyên & tướng cách đàn bà)
![]() |
![]() |
![]() |
| ► Tham khảo thêm các thông tin về: Mười hai con giáp và Tử vi trọn đời của bạn |
Vén màn bí mật những cô nàng “vịt hóa thiên nga” trong 12 con giáp
| ► Mời các bạn: Xem bói theo khoa học tử vi để biết tình yêu, hôn nhân, vận mệnh, sự nghiệp của mình |
![]() |
| Ảnh minh họa |
![]() |
| Ảnh minh họa |
![]() |
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Hương Giang (##)
Những lô đất được cho là “nở hậu” thì được ví von là “túi vàng” tích trữ tài sản tốt cho gia chủ. Điều đó cũng đồng nghĩa giúp gia chủ an tâm, vững tài, phát lộc. Thuyết phong thủy không mới, nhưng người tin vào phong thủy cũng đang tăng dần bởi không chỉ “có kiêng có lành” mà “có tin cũng có an” - an bình, an tâm, an phúc.
Thế “An sinh”
Trong phong thủy nơi nào có nước là nơi đó sinh tài, phát lộc.
1. Trái ngắn phải dài, trước rộng sau hẹp: cát trạch. Mảnh đất bên trái ngắn, bên phải dài sẽ rất tốt, vì loại địa hình này mặt sau hẹp mặt trước rộng, xây nhà ở đông thì toàn gia cát tường, con cháu đông đảo, chăn nuôi trồng trọt đều thành tựu.
2. Nơi ở có đầy đủ tứ thần là cát trạch. Đây là loại địa hình có đầy đủ tứ thần Chu Tước, Huyền Vũ, Thanh Long, Bạch Hổ. Tức là nhà ở bên trái có dòng nước chảy, bên phải có đường lớn, trước mặt có hồ nước, sau lưng có núi cao. Nếu chọn được địa hình này làm nơi ở thì nam giàu có, nữ tài giỏi. Quan tước lợi lộc không cần tìm kiếm cũng tự nhiên đến, con cháu đời sau có thể hưởng phúc trạch lâu dài.
3. Dòng nước chảy theo hướng tây nam – đông bắc là cát trạch. Đây là nơi có thể tìm kiếm để an cư lập nghiệp vì nó có dòng nước theo hướng tây nam – đông bắc chảy qua. Tuy lấy nhiều thê thiếp nhưng không có những tai họa khác, trong nhà sinh người quyền cao chức trọng.
4. Địa hình xung quanh đều cao là cát trạch. Loại địa hình giữa, chính diện, bốn phía đều cao, nếu xây dựng nhà cửa ở nơi này thì phúc đức có dư, gia súc đông đúc, gia đạo hưng vượng, con cháu nhiều anh hùng hào kiệt.
![]() |
| Đất có hình chữ nhật là một trong những ngoại hình nhà ở tốt lành theo phong thủy. |
5. Trước có đồi, sau có núi, phía tây có nước là cát trạch. Trước nhà có đồi, sau nhà có núi, hai bên có dòng nước uốn lượn từ hướng đông dần thấp xuống, từ từ chảy qua một phần khu đất, đây chính là nơi bảo địa.
6. Trái có thanh long, phải có bạch hổ là cát trạch. Loại địa hình hướng đông có dòng nước chảy mạnh mẽ hùng hậu, hướng tây lại có đường lớn thông suốt. Nếu chọn nơi này làm chỗ ở thì sẽ giàu sang phú quý. Đây chính là loại địa hình trái có thanh long, phải có bạch hổ.
7. Trước nhà hai bên đều có rừng cây, hướng Càn có đồi, hướng Cấn có núi là cát trạch. Trước mặt nhà có rừng cây phân ra hai bên, hướng Càn (tây bắc) có gò đồi, hướng Cấn (đông bắc) có dãy núi. Nếu ở được vào nơi này thì nhất định giàu sang phú quý, con cháu đời sau danh vọng vinh hiển.
Thế “Phú Quý”
8. Phía đông bắc có khuyết thiếu: đại cát, tích tụ tiền tài, công danh hiển hách.
9. Phía đông nam có chỗ khuyết thiếu: cát trạch, gia thế hiển hách, giàu sang, phú quý, con cháu hưng vượng, gia sản đầy đủ.
10. Địa hình cao ở giữa: cát trạch, nhân khẩu đông đúc, gia tài sung túc, con cháu vinh hiển.
11. Chính bắc có gò mả là cát trạch. Loại thế nhà này có phía bắc có gò mả, người thầy phong thủy giỏi chọn thế đất này là có nguyên do. Người quân tử ở đây thì thăng quan tiến chức, kẻ bình thường ở đây thì gia đạo phồn vinh.
12. Trước sau có đồi núi: cát trạch. Nơi ở trước sau đều có đồi núi, lựa chọn nơi này để ở là không sai lầm, thường sẽ có trang viên rộng rãi, phú quý phát tài, hỷ sự liên tiếp, là ao ước của rất nhiều người.
13. Địa hình trước hẹp sau rộng: cát trạch. Xây nhà ở nơi có địa hình trước hẹp sau rộng, tất yên ổn, giàu sang, con cháu phát đạt, cơm áo dư giả, sức khỏe dồi dào, của cải sung túc.
14. Phía tây bắc có đồi núi: cát trạch. Khu đất hướng Càn (tây bắc) phía sau có đồi núi, nếu xây nhà cửa, trang viên ở đây thì gia đạo sẽ hưng vượng, con gái nhập cung sẽ có thể làm cung phí, hoàng hậu, con cháu có con đường hoạn lộ thanh vân rực rỡ, làm quan đến chức khanh tướng.
15. Phía tây nam có gò mả: cát trạch. Địa hình phía tây nam có gò mả, nếu xây nhà hoặc đặt trang trại thì nhất định luôn hưng vượng, con cháu đời đời vinh hiển, tận hưởng vinh hoa phú quý.
16. Tây cao đông thấp: cát trạch. Phía tây cao phía đông thấp, xoay lưng lại với đỉnh núi cao, loại địa hình này thích nghi xây dựng nhà cửa trang trại, con cháu đời sau có thể hưởng vinh hoa phú quý, giàu có như đại phú gia Thạch Sùng, con cháu đầy nhà, gia súc đông đúc.
17. Phía sau có núi, bắc cao nam thấp: cát trạch. Loại địa hình phía sau có ngọn núi, phía bắc cao phía nam thấp được xem là “phong thủy bảo địa”, nếu chọn được vùng đất này thì con cháu hưng vượng, chăn nuôi thành tựu, của cải dư thừa.
18. Địa hình khuyết thiếu nhưng chỉnh tể: cát trạch. Loại địa hình bên phải ngắn bên trái dài, hoặc nếu bên phải dài bên trái ngắn thì cũng không có trở ngại gì. Vì nếu phía sau tròn trịa và chỉnh tề thì càng cát lợi, chọn được đất này để ở thì nhà dân thường cũng sinh người tài giỏi.
19. Trước sau có núi, trái phải có nước: cát trạch. Địa hình trước sau đều có núi cao tương hợp với nhau, hai bên trái phải lại có cồn cát, ao hồ, nếu ở đây nhất định gia thế sẽ vinh hoa, sống thọ.
20. Trái phải đều có kênh nước, cát trạch. Là nơi hai bên trái phải đều có kênh nước chảy qua, ở lâu dài con cháu sẽ giàu sang, phú quý, của cải tiền tài sung mãn, con cháu đời sau thông minh tuấn tú hơn người.
21. Sau lưng có núi: cát trạch. Loại địa hình sau lưng có núi, là nơi thích hợp xây dựng trang viên, người ở sẽ có của cải sung túc, sức khỏe dồi dào. Nếu xây nhà ở thì nhân khẩu đông đúc, con cháu đời đời của cải dư thừa.
![]() |
| Chọn được thế đất có đầy đủ tứ thần thì đại cát, đại lợi |
22. Phía đông bắc có gò mả: cát trạch. Loại địa hình phía đông bắc có gò mả, nếu thành gia lập nghiệp thì không có trở ngại gì. Xây dựng trang trại thì vô cùng cát lợi, vinh hoa phú quý, đời đời phồn vinh.
Các mảnh đất theo hình
23. Mảnh đất hình bình hành: Mảnh đất này được coi là một mảnh đất tốt. Trong trường hợp này, hãy xây nhà tại trung tâm mảnh đấy hay là phần phía trước sẽ giúp cho sự nghiệp phát đạt mau chóng. Nếu nhà nằm vào phần đất phía sau thì nghề nghiệp của người cư ngụ sẽ chắc chắn phát triển chậm.
24. Mảnh đất hình bán nguyệt: Mảnh đất hình dạng này là rất tốt. Trong mảnh đất này, tốt nhất là xây nhà ở giữa mảnh đất nhái theo hình dạng nửa đồng tiền cổ để đem lại tiền của dồi dào.
25. Đất có hình chữ nhật: đại cát, trong nhà xuất hiện hiền tài, con cháu có địa vị cao, tổ tông rạng rỡ.
26. Địa hình hình tròn: cát trạch. Đây là loại địa hình có hình tròn, bốn mặt hoàn chỉnh, căn cứ vào việc quan sát địa lý, loại địa hình này rất thích hợp xây dựng nhà ở. Nếu được ở vào khu đất này thì gia đình sẽ phú quý, hiển vinh, nhân khẩu hưng vượng.
Theo: Khỏe & Đẹp
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
![]() |
![]() |
7 điều kiện tiên quyết để có trạch vận đại cát
Đau mắt đỏ là bệnh truyền nhiễm, lây lan.
Có một phụ nữ công tác tại đài truyền hình bị đau mắt đỏ đã kể lại giấc mơ của mình như sau: Cô nằm mơ thấy không biết từ đâu đến những em bé cầm quân cờ trong suốt trên tay. Các em làm ầm ĩ quanh cô, mấy em bướng bỉnh còn cướp mấy viên bi màu đỏ trong tay cô rồi chạy, nhưng cô vẫn cười bảo các em trả lại bi cho cô.

Sau khi nghe câu chuyện của người phụ nữ, mọi người đều không quan tâm. Nhưng trong số người nghe có một người là bác sĩ y khoa, ông ghi lại giấc mơ của cô gái.
Mấy hôm sau, vị bác sĩ nọ tiếp nhận một bệnh nhân đau mắt đỏ ở vùng lây bệnh là đài truyền hình. Bác sĩ đã hỏi thêm người bệnh này để bổ sung. Qua nghiên cứu tài liệu, bác sĩ đi đến kết luận: “Nằm mơ thấy những viên pha lê màu đỏ sẽ mắc bệnh đau mắt đỏ”.
Những viên bi pha lê mà cô gái thấy trong giấc mơ là nhãn cầu của mình. Tất cả mọi người đều cho nhãn cầu là vật quý giá, trẻ em chơi các viên bi là vì không nhận thức được điều đó. Các em bé cướp bi chạy có nghĩa là đem bệnh truyền đi nhiều nơi.
Trưa hè giữa tháng 8, trở lại vùng đất Đồng Tháp Mười, người dân nơi đây vẫn chưa nguôi ngoai vụ án mạng đau lòng mà kẻ giết người gây ra chỉ cho rằng có thể luyện được thuật tà “Thiên Linh cái”. Một gã đàn ông xuất hiện trên chiếc ghe rồi gieo rắc những cái chết kinh hoàng trên cù lao 3 xã Tân Bình, Tân Quới và Tân Huề. Ông ta đã phải đền mạng trước hàng ngàn cặp mắt của người dân như chính tội ác ghê tởm của một tên sát nhân ghê tởm.
Người đàn ông bí ẩn phiêu bạt trên chiếc ghe
Thoạt đầu, nói đến thuật tà “Thiên Linh cái” nghe có vẻ rùng rợn. Chẳng biết ở xứ ta có mấy ai luyện được thành công, nhưng những kẻ gieo rắc những cái chết chóc để luyện thuật tà và gây ra tội ác đều bị pháp luật trừng trị. Nghe kể lại, hơn 15 năm trước đây, ở cù lao xã Tân Bình (huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp), xuất hiện một người đàn ông tên Phạm Văn Tân (54 tuổi) tự xưng hành nghề thầy thuốc. Ông ta sống phiêu bạt trên một chiếc ghe và lênh đênh trên con rạch Mã Trường thuộc ấp Hạ (xã Tân Bình). Từ hồi ghe của ông cập bến, thi thoảng chỉ có vài người đến chạy chữa thuốc thang của ông. Bốc thuốc được thời gian, người dân biết đến ông ta với một danh xưng là thầy Hai Tưng. Ông nhanh chóng chiếm được tình cảm của bà con bởi thường xuyên chữa bệnh nhưng chẳng lấy tiền. Ở vùng quê nghèo, có được những thang thuốc quý mà không mất một xu khiến tiếng tăm của thầy Hai Tưng càng nhanh chóng đồn xa.
Nhiều người nhìn nhận trông thầy Hai Tưng có tượng mạo hiền từ. Cách ông nói chuyện nhẹ nhàng, khéo léo, có tích, có tuồng nên càng khiến mọi người bị cuốn hút. Đa phần, đàn bà phụ nữ và những cô gái trẻ tuổi thường hay lui tới chiếc ghe của ông để bốc thuốc. Mà ở xứ miệt vườn, chỉ cần chiếm lấy tình cảm của một người, tiếng lành mau chóng đồn xa. Một đồn thổi 10 người, 10 người cho 100 người biết. Chẳng mấy chốc danh tiếng của thầy Hai Tưng phủ lấy cả cù lao 3 xã. Ông ta nhanh chóng thoát khỏi cuộc sống lênh đênh nhờ bà con thương tình cho mượn tạm mảnh đất nhỏ để cất căn chòi mé kênh. Từ khi hòa nhập với cuộc sống mới, thầy Hai Tưng vẫn ngày đêm bốc thuốc chữa chạy cho mọi người. Ông sống khá lập dị. Suốt ngày căn nhà của thầy Hai Tưng cứ đóng im ỉm, chỉ có người vợ Trần Thị Thể (42 tuổi) thỉnh thoảng ra vào tiếp tế thức ăn cho ông. Thấy lạ, nhiều người dân thắc mắc, bà vợ này cho biết, thầy Hai đang Luyện thuật tà… “Thiên Linh cái””.
Những câu chuyện dẫn dụ về “Thiên Linh cái” nghe có vẻ huyền bí. Họ giết người lấy đầu để điều khiển âm binh thiên tướng và sai khiến người khác. Hay cũng có những chuyện làm hoang đường làm rung động người nghe. Đại loại khi nhắc đến thuật tà, người nghe càng bị mụ mị vào những mê hồn của sự hư thực. Ông Bảy Ruốc chẳng thể nào quên được những truyền thuyết về thầy Hai Tưng từng kể. Luyện “Thiên Linh cái” được phân thành nhiều trường phái. Có trường phái được luyện theo nhau thai em bé khi còn trong bụng mẹ. Hồi đó, thầy Hai Tưng bảo rằng, “Thiên” được cắt nghĩa từ sự “thiên biến vạn hóa”. Chữ “Linh” được hiểu theo sự “linh ứng” trong những thuật tà. Ở bất kỳ một pháp thuật nào, đều phải có một kết quả ứng nghiệm khi tu luyện. Còn riêng chữ “cái”, www.xuangiao.com nó có nhiều nghĩa để phân loại thành nhiều trường phái chính đạo hay tà đạo. Nếu nói về thuật luyện công của thầy Hai, ông ta mụ mị người dân bằng cách hành nghề bốc thuốc cứu chữa giúp người đời để cho giấu tội ác kinh tởm. Thầy Hai Tưng tự nhận, ông ấy luyện “Thiên Linh cái” theo phương pháp lấy nhau thai của bé gái để sai khiến âm binh. Những người ác độc hơn sẽ luyện bằng thi thể của những bé gái nhỏ còn trinh. Tất cả đều là chuyện siêu hình, siêu nhiên trong bao la của vũ trụ thiên biến vạn hóa. Thầy Hai Tưng từng thề thốt với mọi người rằng, ông chuyên ăn chay trường, không làm chuyện thất đức để tu thân và giúp người đời. Nhưng vụ việc giết người hàng loạt của kẻ tàn độc đến hồi bị lột trần. Người dân cảm thấy kinh tởm sau những hành động giết người vô nhân tính của người đàn ông khả kính đạo mạo ấy. Những việc thiện của thầy Hai Tưng và những lời nói dường như có “cánh” không che lấp được tội ác kinh hoàng được phơi bày.
Thầy Tưng hay tư hào khoe với bà con có thể giúp chị em “dụ” được đức lang quân về sau những ngày bị ruồng bỏ chán chê. Những cô bác nào chồng có biểu hiện “ăn phở” thì đến thầy bốc thuốc tuyệt đối sẽ thấy sự linh nghiệm tức thời. Sau khi dùng phải bùa của thầy Hai, lập tức những ông chồng ngoan ngoãn về nhà và như có cảm giác mê các bà vợ già ở nhà? Cũng có nhiều trường hợp, nếu quý cô muốn chồng chê và xa lánh, thầy sẽ cho bùa về “yểm” để bỗng dưng ông chồng xa lánh, chán nản và tự bỏ các cô? Cách nói chuyện hấp dẫn về những bài thuốc, những tấm bùa như rót mật vào tai bà con miệt vườn. Cái tính cả tin, thật thà của người dân Nam bộ như bị cuốn hút vào một thế giới siêu nhiên huyền bí. Nhiều phụ nữ thường xuyên lui tới để tìm đến thầy Tưng xin bùa và bốc thuốc thật.
Thầy Hai Tưng chỉ có yêu cầu nhỏ nhoi, muốn đến nhà thầy bốc thuốc thì phải đi một mình và đến gõ cửa nhà thầy vào giờ “âm”. Do “Thiên Linh cái” chỉ hiệu nghiệm vào ban đêm, những âm binh thiên tướng mới nghe lời thầy sai khiến và linh ứng với lá bùa thầy ban. Thế là từ đó, đêm đến, nhà thầy Hai Tưng xuất hiện những vị khách là những quý bà, quý cô đang khao khát giữ chồng hay muốn chồng ruồng bỏ ghé qua. Kể cũng lạ, ai muốn vào nhà thầy xin bùa phải bò mọp dưới đất để chui qua tường rào. Xung quanh căn nhà thầy xin bùa. Xung quanh căn nhà thầy Tưng không lớn lắm, chỉ độ khoảng 10 mét vuông được rào chắn phía bên dưới cẩn thận. Sau khi chui qua rào, người khách sẽ lần mò và “độn thổ” lên phía trên sàn nhà. Đêm đến, trên cù lao 3 xã thời điểm đó, chưa một nhà nào có được ánh đèn điện. Căn nhà thầy Hai Tưng biệt lập giữa khu đồng không mông quạnh và chỉ lòe loẹt ánh đèn dầu lúc tỏ lúc mờ như tăng thêm vẻ huyền bí. Ông Tư ở gần nhà thầy Hai kể lại, nhiều lúc đi đắp bờ bao ruộng quá khuya, đánh xuồng theo con rạch chạy dọc gần mé nhà thầy Tưng bỗng nhiên ông có cảm giác sởn da gà. Vậy mà nhiều bà hay các cô thập thò trước nhà thầy Hai Tưng mà thấy đáng nể. Không ít bà qua xin bùa thầy Tưng đều khen ngợi ông thầy có “phép thuật” tà rất hay. Họ không ngớt lời ca thán thầy Tưng mặc dù có nhiều người chưa từng đến đó để xin bùa mà chỉ nghe nói lại.
Sự mất tích đột ngột của những cô gái
Trở lại vùng đất thầy Hai Tưng từng sinh sống, khung cảnh ghê rợn dần hiện lên trong những lời kể của người dân. Họ như muốn tố cáo tội ác của ông thầy pháp từng khuấy đảo vùng quê nghèo yên bình. Cảnh cũ vẫn còn hiển hiện trong tâm thức của bà con. Anh Sang, hành nghề xe ôm ở cù lao gần 20 năm chở chúng tôi trên chiếc Wave cũ rích, vừa đi anh vừa hướng dẫn tận tình những nơi thầy bùa từng sinh sống như tố cáo tội ác của gã. Dòng kênh Mã Trường hiền hòa cặp theo mé lộ dần hiện ra. Trước đây, Thầy Tưng từng xuôi ngược để sinh sống trên dòng kênh này. Con kênh cứ chạy uốn lượn cặp theo mé lộ với những mảng lục bình trôi lững lờ. Chiếc xe gắn máy nhiều lúc cứ nhảy chồm lên phía trước và cuốn theo những lời kể kinh dị của anh Sang. Bỗng chốc, chiếc xe thắng vội và dừng lại trước một cánh đồng trồng kín mít toàn ngô. Nhẩm đếm theo cây cột điện, anh Sang chỉ vào đám ngô sát mé lộ và khẳng định, vị trí trước đây thầy Hai Tưng được người dân cho mượn đất để dựng chòi, thoát khỏi kiếp lênh đênh trên chiếc xuồng ghe máy. Từ hồi vụ việc của ông thầy chuyên bốc thuốc “khuyến mãi” người dân bị bại lộ, mọi người căm phẫn, đến dỡ nhà và đốt sạch tất cả. Bà con cho rằng, căn nhà là cái tiền đồ cho thầy Hai gây tội ác thì cũng phải được phá bỏ để như hất đổ và loại bỏ gã thầy thuốc mất nhân tính đi vậy.
Ông thầy Hai sống che đậy hành tung rất khéo. Những lần đi đám trong vùng, ông thầy cứ khoát trên người chiếc áo bà ba trắng, râu tóc dài và ngồi vào bàn góp vui cùng gia chủ. Bà con trân trọng thầy lắm, tham dự đám tiệc nào thầy Tưng cũng được ngồi ở những mâm cao cỗ đầy. Thịt thà, rượu chè bày ra ê hề trên bàn nhưng tuyệt đối, thầy Hai chỉ xin ít cơm trắng với chén nước tương chung vui với bà con. Lý giải sự kỳ quặc cho bản thân, thầy Hai Tưng thường hay cười xòa rồi lẩm bẩm trong miệng: “Kiếp tu luyện của thầy chỉ quen với những vị chay trường và chuyên làm việc tích đức”?
Những dịp cúng tế, thầy Hai thường chạy sang nhà người dân gần đó để bắt vài con gà, con vịt. Tiện thể thầy không quên mượn cái nồi thật to về để hầm. Chẳng ai mảy may nghi ngờ hành tung của ông. Thậm chí người dân còn tin thầy Tưng thường cúng cho vong hồn âm binh thiên tướng như ông ấy nói. Đôi ba lần, thầy có mượn cái nồi không rất to, thầy chỉ cho biết mang về để hầm… đầu heo. Những vật cúng tế thầy Hai cho bà con hết. Tự dưng, mọi người không dám đụng đũa đến những thứ lễ vật thầy mang biếu. Chẳng biết vì sao, nhưng người ta có cảm giác mùi tanh tưởi bốc lên đến lợm giọng. Để rồi sau khi sự việc được phát hiện về hành tung giết người tàn độc của ông Tưng, người dân mới ngơ ra một điều, những lầm cho mượn nồi hầm đồ cúng chỉ là cái cớ. Ông thầy bất nhân lấy nồi để nấu đầu nạn nhân rục chín và thu sọ rồi luyện “Thiên Linh cái”.
Đêm cuối tháng 5-2000, một cô gái trẻ đến nhà thầy Hai Tưng để xin bùa trị ông chồng. Nguyên cớ xuất phát từ việc cô đi làm ăn xa nhà, người chồng hay gọi điện thoại bắt cô gái phải về vì cứ nhớ nhung hoài. Ở Sài Gòn nhiều năm, cô gái có nước da rám phèn bỗng chốc trở nên trắng trẻo, hồng hào. Những lần về thăm nhà, cô mang về tiền bạc rủng rỉnh trong túi càng làm cho người chồng trở nên sinh lòng ghen tuông. Nhưng với cô ta, người chồng như quấy rầy và cảm thấy khó chịu. Vậy là, cô gái ấy nhất định tìm cách cho người chồng quên hẳn mình đi để yên thân làm ăn xa quê. Một lần về nhà, tình cờ nghe mọi người đồn đại về ông thầy Hai Tưng, dù chưa biết hay dở thế nào, cô đánh liều đến nhà thầy Tưng để xin bùa.
Cô gái ấy có tên Trần Thị Phương, thời điểm đó cô chỉ mới 25 tuổi. Phương sinh ra ở xã Tân Huề, nhà giáp ranh của xã thầy Hai Tưng trú ngụ và cùng chung trên cù lao. Hoàn cảnh quá khó khăn, lấy chồng được vài năm, cô đến TP. HCM để tìm việc làm và gửi tiền về quê phụ giúp gia đình. Nghe lời nhiều người mách bảo, đợi đến khi bóng đêm phủ xuống vùng Đồng Tháp Mười tối như mực, Phương chèo ghe tìm nhà thầy Hai Tưng. Trước khi đến nhà thầy Tưng xin bùa, cô chỉ kịp vội nói úp mở với gia đình vài câu rồi đi. Từ đó, Phương mất tăm và mãi mãi không trở về. Đã gần 2 tháng, gia đình thấy cô gái đi quá lâu nhưng chẳng có tin tức và mọi người đổ xô chia làm nhiều hướng để đi tìm.
Được người dân dẫn dắt đến nhà ông thầy Hai Tưng, bà con phát hoảng khi thấy phía sau nhà, mé bờ kinh Cả Gừa (ấp Hạ, xã Tân Bình) có một đám đất nhú lên bốc mùi hôi thối. Khu đất trên chỉ cách nhà thầy Tưng khoảng chừng 500 mét. Sinh nghi, người dân tổ chức đào bới thì phát hiện một thi thể mất đầu nhú lên. Mọi người kinh hãi và trính báo sự việc lên công an địa phương. Lâu nay vùng đất cù lao 3 xã nổi tiếng thanh bình, nay bỗng dưng sự việc xảy ra làm chấn động vùng quê yên tĩnh. Mọi hoài nghi đều được đổ dồn lên hành tung bí ẩn của ông thầy bùa Hai Tưng.
Ngay trong chiều cùng ngày, lực lượng trinh sát bủa vây và ém quân trước nhà thầy bùa Tưng. Cơ quan chức năng yêu cầu kiểm tra hành chính ngôi nhà đóng cửa một cách đầy bí ẩn quanh năm suốt tháng. Cánh cửa mở toang, công an địa phương phát hiện 3 cái sọ người đặt trên bàn thờ. Cạnh đó, một hũ keo chứa những chùm lông đen ngòm được đậy kỹ. Ông thầy Hai Tưng lúc này mặt tái mét, miệng lắp bắp trước những câu hỏi của cơ quan chức năng. Tiến sâu vào trong căn nhà, Công an huyện Thanh Bình thu hồi được nhiều dao lam và dao Thái Lan còn vương lại vết máu. Một số chứng minh thư, nhiều vật dụng, dây chuyền, đồng hồ đeo tay, vòng mã não của các nạn nhân cũng được tìm thấy. Nhìn những kỷ vật của chị Phương, gia đình nạn nhân vật vã, òa khóc, họ gần như tin rằng đứa con gái của họ đã bị thầy Tưng sát hại. Nhận định các nạn nhân của thầy Hai Tưng ngoài chị Phương còn có một số người khác, Công an huyện Thanh Bình tổ chức công tác truy xét và tìm kiếm những thi thể còn lại.
Khai thác nhanh đối tượng, thầy Tưng chỉ xuống phía dưới sàn nhà và thú nhận bên dưới còn 2 thi thể bị vùi lấp. Con nước ngày đầu tháng 7 âm lịch dâng cao, vượt quá hàng rào quanh nhà thầy Tưng. Ngay trong đêm, người dân địa phương nỗ lực hỗ trợ cơ quan chức nào đào đất lấp bờ bao vây lấy căn nhà. Chỉ cách khu vực nhà thầy Hai khoảng gần 1 cây số, người dân hiếu kỳ ở các vùng lân cận hay tin đổ xô về xem rất đông. Cơ quan chức năng phải chỉ huy lực lượng chốt chặn ở các ngả để phong tỏa hiện trường phục vụ công tác điều tra. Người dân địa phương được huy động mang máy bơm rút cạn nước bên trong và tiến hành đào ở vị trí thầy bùa chỉ. Chỉ vài nhát xẻng, lần lượt hai thi thể của những nạn nhân còn lại được tìm thấy. Tất cả nạn nhân của ông thầy quái đản ra tay sát hại là nữ giới. Đau lòng hơn, không một thi thể nào còn nguyên vẹn và đều bị mất đầu. Tên Nguyễn Văn Tân (tức thầy Hai Tưng) được dẫn giải về Trụ sở Công an huyện ngay trong đêm để lấy lời khai. Hắn kịp lấy lại vẻ mặt bình thản và chẳng chút sợ sệt khi bị dẫn giải đi.
Hành tung của thầy Tưng được làm rõ. Ban đêm, mỗi khi nạn nhân của thầy Hai Tưng đến chữa bệnh, ông ta cắt cớ bắt phải chui qua hàng rào để dơ đồ và sau đó hắn ta có cơ hội để giở trò đê tiện. Nạn nhân Phương tìm thầy Tưng phải cố bò qua dãy hàng rào trong một đêm tối trời, hắn liền bảo cô gái cởi áo dơ đang mặc trên người và thay áo thun đỏ sạch để được thầy làm…phép. Vừa cởi áo trên người, thầy bùa nổi máu dê và nhào tới từ phía sau. Hắn ta hiện nguyên hình là một gã đàn ông đồi bại. Bịt miệng nạn nhân, thầy Hai Tưng lấy tay bóp cổ nạn nhân đến chết. Trở về lấy dao lam, hắn ta cạo sạch lông ở vùng kín của cô gái bỏ vào hũ keo…để dành. Các bà các cô đến xin bùa về để trị chồng cũng thường bị hắn tỉa sạch…
Hắn lấy nhúm lông bỏ vào hũ keo như làm trò tiêu khiển của bùa pháp bệnh hoạn. Ông ta quan niệm, gom càng nhiều “của quý” từ nữ giới sẽ giúp hắn ta mau chóng luyện thành công “Thiên Linh cái”. Rồi sau đó, gã thầy bùa đê hèn thực hiện hành vi cưỡng hiếp thi thể nạn nhân. Mọi việc xong xuôi, hắn ta mang xác nạn nhân ra sau vườn và đào hố chôn nhằm che giấu tội ác. Có được đầu của nạn nhân, thầy Hai Tưng chạy sang nhà hàng xóm mượn cái nồi thật to để mang hầm. 3 thi thể không đầu được tìm thấy ứng với 3 sọ trong nhà cũng chính của các nạn nhân. Sau này mọi chuyện vỡ lở, các đấng ông chồng trong xóm không ngớt ghen tuông các bà vợ từng đi chữa bệnh thầy Hai. Một số gia đình tan cửa nát nhà. Một số chị em còn lại giải thích, đi khám phụ khoa ở bệnh viện huyện, bác sĩ bảo phải cạo như vậy.
Trong quá trình bị cơ quan chức năng tạm giam điều tra, thầy Hai Tưng vẫn tin hắn đã luyện được thuật tà… “Thiên Linh cái”. Sau nhiều lần xét xử, thầy Hai bị tuyên án tử hình. Ngày thi hành án, y bắn tin ra ngoài sẽ dùng phép độn thổ trước mặt bà con để chứng minh được phép thuật kỳ diệu của “Thiên Linh cái”. Trước hôm mang gã thầy bùa ác nhân thi hành án, người dân các tỉnh vùng ven kéo về xã Tân Quới rất đông. Chỉ độ chập choạng chiều, một số người dân hiếu kỳ mang theo lều chõng cắm trại ngay tại đình Tân Quới để xí chỗ. Từ nửa đêm, hàng ngàn người chen chân đứng vây kín sân đình. Người ta tò mò muốn tận mục sở thị thầy Hai Tưng dùng phép thuật biến trước mặt bà con.
Trời dần rạng sáng, ước tính hàng ngàn người dân đã vay kín pháp trường. Mặt trời lên cao, thầy Hai Tưng được dẫn giải ra đình Tân Quới. Mọi cặp mắt đều đổ dồn về thầy bùa kỳ bí. Vụ án sát hại người dã man của y gây chấn động cả một vùng miền Tây sông nước. Gã thầy bùa đã làm người dân kinh tởm bởi hành động giết người vô nhân tính và mong mỏi được pháp luật trừng trị thích đáng. Rồi thời khắc ấy cũng đã đến. Thầy Hai Tưng bị xử tử và người dân thực sự được chứng kiến ông ta đền mạng cho hành động reo rắc tội ác kinh hoàng. Quả thực, thuật tà “Thiên Linh cái” chỉ có trong tưởng tượng của ông thầy bệnh hoạn. Thầy Tưng chẳng thể độn thổ như những gì ông ta ảo tưởng. Hơn 10 năm sau, vùng đất cù lao xưa kia đã đổi thay từng ngày. Trình độ dân trí ba con dần nâng lên cao. Người ta chẳng còn tin đến một thứ thuật tà hay bùa phép. Tội ác của thầy Hai Tưng chỉ con là một ký ức buồn lùi dần vào quá khứ.
![]() |
![]() |
| ► ## cung cấp công cụ Xem ngày cưới chuẩn xác theo Lịch vạn sự |
Cửa ra vào là cầu nối giữa người trong nhà với thế giới bên ngoài, do vậy nên sơn màu sắc sao cho khi nhìn có cảm giác tươi tắn nhưng sạch sẽ, sáng sủa. Có rất nhiều cách để căn cứ khi sơn màu cửa như sau:
– Căn cứ ưào tính chất của màu sắc
+ Màu đỏ là màu tượng trưng cho sự vui mừng, đồng thời cũng là màu biểu hiện sự sợ hãi, hung dữ, dễ tạo cho người ta cảm giác hưng phấn, choáng ngợp. Nhà ở là nơi mọi người cần có sự yên tĩnh, an bình, vì vậy không nên sơn màu này vào cửa, cổng lớn.
+ Màu xanh và màu đen tượng trưng cho sự u ám, gây cho người ta cảm giác u uất nặng nề, vì vậy không nên sơn màu này vào cửa, cổng lớn.
+ Màu nâu là gam màu ảm đạm, tử khí, vậy nên sơn cửa tối kỵ màu này.
Vì vậy, khi sơn cửa nên lấy màu trắng sữa, trắng ngà, nhũ bạc, vàng tươi hoặc màu gỗ tự nhiên làm chủ đạo sẽ mang lại cảm giác sáng sủa, nhẹ nhõm.

– Căn cứ vào hướng cửa
+ Cửa hướng Đông (phương Chấn), cửa hướng Đông
Nam (phương Tốn): hai phương này đều thuộc Mộc, tương sinh với Thủy, tương trợ với Mộc, tương khắc với Kim, hao tổn với Hỏa, ảnh hưởng của Thổ không lớn, nên sơn cửa bằng các màu xanh lục, đen, xanh lam hoặc màu vàng, màu cà phê, tránh sơn các màu vàng kim, trắng, đỏ, tím, vàng chanh.
+ Cửa hướng Nam (phương Ly): thuộc hỏa, tương sinh với Mộc, tương trợ với Hoả, tương khắc với Thuỷ, hao tổn với Thổ, ảnh hưởng của Kim không lớn nên sơn cửa bằng các màu xanh lục, đỏ, tím, vàng chanh hoặc vàng kim, trắng, tránh sơn các màu đen, xanh lam, vàng, màu cà phê.
+ Cửa hướng Tây Nam (phương Khôn), cửa Đông Bắc (phương Cấn): hai phương này đều thuộc Thổ, tương sinh với Hoả, tương trợ với Thổ, tương khắc với Mộc, hao tổn với Kim, ảnh hưởng của Thuỷ không lớn nên sơn cửa bằng các màu đỏ, tím, vàng chanh, vàng, màu cà phê, hoặc màu đen, xanh lam, tránh sơn các màu xanh lục, vàng kim, trắng.
+ Cửa hướng Tây (phương Đoài), cửa hướng Tây Bắc (phương Càn): hai phương này đều thuộc Kim, tương sinh với Thổ, tương trợ với Kim, tương khắc với Hoả, hao tổn với Thuỷ, ảnh hưởng của Mộc không lớn nên sơn cửa bằng các màu vàng, màu cà phê, vàng kim, trắng hoặc màu xanh lục, tránh sơn các màu đen, đỏ, tím, vàng chanh, xanh lam.
+ Cửa phía Bắc (phương Khảm): thuộc Thuỷ, tương sinh với Kim, tương trợ với Thuỷ, tương khắc với Thổ, hao tổn với Mộc, ảnh hưởng của Hoả không lớn nên sơn cửa bằng các màu vàng kim, trắng, đen, xanh lam hoặc màu đỏ, tím, vàng chanh, tránh sơn các màu vàng, màu cà phê, xanh lục.
– Căn cứ theo mệnh
+ Chủ nhà mệnh Kim nên sơn cửa màu: trắng, vàng, bạc, xanh da trời, xanh lục, hạt dẻ.
+ Chủ nhà mênh Môc nên sơn cửa màu: xanh da trời, xanh lục, vàng, xám, màu cà phê, hạt dẻ, xanh lam.
+ Chủ nhà mệnh Thuỷ nên sơn cửa màu: xám, lam, đỏ, cam, trắng, vàng, bạc.
+ Chủ nhà mệnh Hoả nên sơn cửa màu: đỏ, cam, trắng, vàng, bạc, xanh da trời, xanh lục.
+ Chủ nhà mệnh Thổ nên sơn cửa màu: vàng, nâu, hạt dẻ, xám, lam, hồng, cam, tím.
Văn Khấn trong tang lễ – Lễ Chung Thất và Tốt Khốc được dùng trong lễ Chung Thất là lễ 49 ngày và lễ Tốt Khốc là lễ 100 ngày.
Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư phật mười phương.
Hôm nay là ngày….tháng….năm…..âm lịch tức ngày…..tháng….năm dương lịch.
Tại (địa chỉ):…………………
Con trai trưởng (hoặc cháu đích tôn) là………
Vâng theo lệnh của mẫu thân (nếu là mẹ hoặc phụ mẫu nếu là cha), các chú bác, cùng anh rể, chị gái, các em trai gái dâu rể, con cháu nội ngoại kính lạy.
Nay nhân ngày lễ Chung Thất (lễ Tốt Khốc) theo nghi lễ cổ truyền, có kính cẩn sắm các thứ lễ vật gồm:…………………………..
Kính dâng lễ mọn biểu lộ lòng thành.
Trước linh vị của Hiển:………… chân linh
Xin kính cẩn trình thưa rằng:
Núi Hỗ sao mờ, nhà Thung bóng xế (Nếu là cha)/ Núi Dĩ sao mờ, nhà Huyên bóng xế (nếu là mẹ)
Tình nghĩa cha sinh mẹ dưỡng, biết là bao;
Công ơn biển rộng, trời cao khôn xiết kể.
Mấy lâu nay: Thở than trầm mộng mơ màng;
Tưởng nhớ âm dương vắng vẻ.
Sống thời lai lai láng láng, hớn hở chừng nào!
Thác thời kể tháng kể ngày, buồn tênh mọi lẽ!
Ngày qua tháng lại, tính đến nay Chung Thất (hoặc Tốt Khốc) tới tuần;
Lễ bạc tâm thành gọi là có nén nhang kính tế.
Xin mời: Hiển…………………
Hiển……………………………
Hiển……………………………
Cùng các bị Tiên linh, Tổ Bá, Tổ Thúc, Tổ Cô và các vong linh phụ thờ theo Tiên Tổ cùng về hâm hưởng.
Kính cáo: Liệt vị Tôn thần: Táo Quân, Thổ Công, Thánh sư, Tiên sư, Ngũ tự Gia thần cùng chứng giám và phù hộ cho toàn gia được mọi sự yên lành tốt đẹp.
Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Thanh Vân (##)
Bát trạch chính là chỉ căn nhà của tám loại quẻ hào phương vị khác nhau là Càn, Khôn, Cấn, Đoài, Khảm, Li, Chấn, Tốn.
Phong thủy học dùng chu kỳ Tam nguyên Giáp Tý 180 để đoán thuộc tính bát quái của con người, can, chi mỗi năm. Trong đó Càn, Khôn, Cấn, Đoài gọi là Tây Tứ mệnh. Khảm, Li, Chấn, Tốn gọi là Đông Tứ mệnh. Người có Tây Tứ mệnh chỉ hợp sống trong căn nhà Tây Tứ trạch Càn, Khôn, Cấn, Đoài. Người có Đông Tứ mệnh hợp sống trong căn nhà Đông Tứ trạch Khảm, Li, Chấn, Tốn. Nếu sai sống trong căn nhà sai khác mệnh sẽ gặp họa hung ngay.

Trong cuốn “Dương Trạch thập thư – Luận phúc nguyên” có viết: “Cái quyết sơ thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái. Thuyết nhân sinh phản ra lưỡng nghi là Đông vị, Tây vị. Tứ tượng là Đông Tứ vị, Tây Tứ vị. Bát quái là Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Li, Khôn, Đoài…Tất cả những điều trên là chỉ tạo hoá tự nhiên của trời đất. Nếu Phúc nguyên (tức là thuộc tính sinh niên bát quái) sai thì Đông tứ sửa Tây, Tây Tứ sửa Đông, cát tinh biến thành hung tinh, tuy ngoại hình và nội hình là cát nhưng không thể dùng được, quan hệ rất lớn”. Như vậy, những người có cung mệnh khác nhau sẽ ở trong những ngôi nhà không giống nhau. Tiếp đó cũng phải nghiên cứu đến vị trí toạ hướng, hướng cửa, đường đi, giếng nước, nhà bếp, chuồng nuôi, lối thoát nước…Nếu dùng lung tung sẽ không tốt.