Tướng mặt –
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
Mệnh là chỉ sinh mệnh, tức là điều kiện của một người được ra đời. vận là chỉ vận trình, tức là hành trình của một đời người. Mệnh cũng từ đó mà được sinh ra, vận là sự biến hóa do trời định, vận do mình sinh. Vì vậy, mặc dù về mặt triết học cũng tồn tại nhiêu thuyết luận tạo mệnh, nhưng vận mệnh vẫn không thể thay đổi được. Trong Liễu phàm tứ huấn chính là một ví dụ điển hình về cải tạo vận mệnh.
Ngoài ra chúng ta còn biết được mục đích của dự trắc là định hướng được sự phát triển trong tương lai đón cát tránh hung, có được cuộc sống tốt đẹp hơn. Bởi vì đón cát tránh hung thì vận mệnh cũng tự nhiên được thay đổi theo. Nếu vận mệnh thực sự do trời định thì làm thế nào có thể xoay chuyển được Càn Khôn đây?
Sức lực của con người có hạn, bạn không thể thay đổi được vận mệnh nhưng lại có thể thích ứng, thậm chí còn tạo ra ảnh hưởng tới sự biến đổi, cuối cùng là lợi dụng vận trình để cải biến cuộc sống của mình.
Cho nên nói, vận mệnh không phải là trời định, quan trọng nhất là bản thân phải nắm bắt được cuộc sống của chính mình.
Nguồn: Thiệu Vĩ Hoa, Lý Cư Minh, Quang Tuệ
Hiện tượng: Phía sau bàn thờ là phòng bếp, như vậy sẽ dẫn đến thần linh giống như bị nướng trên bếp lửa, thần linh ngồi không vững, nên gia vận cũng không vững, nghiêm trọng hơn là dẫn đến thoái thần, gia vận dần dần giảm sút.

Phương pháp hóa giải:
Giữa bàn thờ và phòng bếp nên để cách ra một khoảng không gian để hóa giải, hoặc di dời bàn thờ sang vị trí khác.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
Bạn có tin rằng, cách ký tên của một người có thể nói lên tính cách của người đó? Từ tính cách của người đó, có thể suy luận ra các mối quan hệ, thành công hoặc vấp ngã của họ trong sự nghiệp !
Một người khi cầm bút mà không biết cây bút đó có mực hay không, đặt bút xuống là ký ngay (bút của người khác) thì đó là người cả tin, nhẹ dạ, thiếu chu đáo, làm việc lớn rất khó thành công.
Một người trước khi ký tên, họ cầm thử trước vài nét xem có mực hay không, bút có bị hư không, dù đó là cây bút của chính mình vẫn dùng, thì đó là người có tính cẩn thận, làm việc chu đáo, và đương nhiên là dễ thành công
Một người khi cầm bút để ký tên mà dè rất mạnh, nét ký in hằn qua đôi ba lớp giấy, thì đó là người có tính nóng nảy, rất ưa gây gổ nếu không muốn nói là cục cằn, thô lỗ
Khi cầm bút ký tên mà người đó hạ đầu bút, đưa đi, đưa lại để ướm thử đó là người có tính đa nghi, do dự, thiếu sự chân thành, chuộng vẻ hào nhoáng bề ngoài.
Thường khi viết mà không, nhưng khi ký dựng đứng cây bút lên để ký thì đó là người ưa kiêu ngạo, có tính tự tôn và tự phụ, làm lớn thì ưa quát nạt kẻ dưới, làm nhỏ thì hay chê bai, bài xích cấp trên.
Có người khi đặt bút ký tên mà ký rất nhẹ nhàng, như sợ hư mặt giấy thì đó là người quảng đại, có lòng vị tha, hay thương người, cuộc sống nội tâm phong phú, giàu cảm xúc, rất trọng đạo hạnh tu trí.

Một người chỉ dùng một cây bút duy nhất để ký tên mình thì đó là người khó tính, nhưng rất thủy chung, người đàn ông không lo phụ nữ như vậy ăn ở hai lòng, còn phụ nữ an tâm về đàn ông như vậy, tình cảm.
Tục ngữ có câu: “nét chữ là nét người”. Văn hóa phương Đông rất coi trọng văn hay chữ đẹp. Ngay cả cách cầm bút ký tên cũng toát lên tính cách, cuộc sống, cát – hung, thịnh – suy của mỗi người.
Sưu Tầm
Bước 1: Xây dựng mô hình dự báo hay quẻ về đối tượng.
Bước này có những việc sau đây:
a. Tìm Ngoại quái và Nội quái qua 4 cấp thời gian.
b. Lập mô hình dự báo hay quẻ: đặt Ngoại quái trên Nội quái.
c. Lập đồ hình hướng không gian Trái đất (đồ hình Toàn tức lên đối tượng xem) để quan sát các bước tiếp theo về sinh khắc qua Thế, Ưng.
d. Tra bảng tìm mô hình dự báo hay quẻ để dự báo.
Khi dự báo một đối tượng, cần xem xét đối tượng đó có quan hệ gì với các hướng trong không gian mà đối tượng đó là trung tâm. Nhìn chung, tất cả mọi đối tượng, kể cả tất cả mọi người đều có liên hệ mật thiết với 8 hướng trong không gian trên Trái đất.
Tám hướng đó là:
Đông, mà Kinh Dịch gọi là Chấn;
Tây: gọi là Đoài;
Nam: gọi là Ly;
Bắc: gọi là Khảm;
Đông Nam: gọi là Tốn;
Đông Bắc: gọi là Cấn;
Tây Nam: gọi là Khôn;
Tây Bắc: gọi là Càn.
Mỗi hướng không gian Trái đất đều có một ký hiệu gồm 3 vạch (vạch liền hoặc là vạch đứt đoạn. Vạch liền:__ gọi là hào Dương, vạch đứt đoạn: _ _ gọi là hào Âm).
Khi dự báo về một đối tượng, thì đối tượng đó chỉ quan hệ qua lại với 2 hướng không gian Trái đất.
Sau đây là ký hiệu của từng hướng và trị số từng hướng không gian Trái đất:
Nhìn bảng trên: hướng Trái đất Tây có trị số là 6, Kinh Dịch gọi là Càn, ký hiệu 3 hào Dương; tương tự Bắc gọi là Khảm, trị số là 1, ký hiệu như trong bảng, có 2 hào Âm và 1 hào Dương... Như vậy từ nay trở đi, khi nói phương Tây ta chỉ cần nói là phương Đoài, phương Đông nói là Chấn, Nam nói là Ly, Tây Nam là Khôn....(nhìn trên bảng trị số trên).
Trong bảng có Trị số Vũ trụ, đây chỉ ký hiệu và phương hướng Vũ trụ đối xứng với phương hướng trên Trái đất (người Tiền sử gọi là Thiên hay trị số Tiên Thiên, còn trị số trên Trái đất gọi là Hậu Thiên).
Trị số Vũ trụ hay Tiên Thiên dùng trong dự báo bằng Kinh Dịch qua hướng xuất phát của đối tượng dự báo, như xem cho một người cho biết họ tới từ phương hay hướng nào, tiếng con gà gáy từ đâu (phương hay hướng) nào....
Trị số hướng Trái đất hay Hậu Thiên dùng cho dự báo qua thời gian khi bắt đầu xem.
Để bạn đọc có cách nhìn rõ về phương hướng trên Trái đất khi ta xem Kinh Dịch (dự báo) và đối tượng cần xem hay dự báo có liên quan thế nào với các phương đó, xin xem qua sơ đồ sau (người Tiền sử gọi sơ đồ này là Hậu Thiên Bát quái).
Chú giải: hướng không gian Trái đất có tất cả 8 hướng hay 8 phương. Mỗi hướng có 2 cách gọi, như:
* Hướng Bắc còn gọi là hướng Khảm, ngũ hành Thủy.
* Hướng Nam còn gọi là hướng Ly, ngũ hành Hỏa.
* Hướng Đông còn gọi là hướng Chấn hay Lôi, ngũ hành Mộc.
* Hướng Tây còn gọi là hướng Đoài hay Trạch, ngũ hành Kim.
* Hướng Đông Nam còn gọi là hướng Tốn hay Phong, ngũ hành Mộc.
* Hướng Đông Bắc còn gọi là hướng Cấn hay Sơn, ngũ hành Thổ.
* Hướng Tây Nam còn gọi là hướng Khôn hay Địa, ngũ hành Thổ.
* Hướng Tây Bắc còn gọi là hướng Càn hay Thiên, ngũ hành Kim.
Bạn đọc lưu ý: đây là đồ hình phương hướng Không gian Trái đất mẫu cho mọi dự báo khi tự xem Kinh Dịch. Bạn chỉ việc chép lại nguyên mẫu, sau đó đánh dấu 2 hướng (quẻ) đề lập Mô hình dự báo (hay Quẻ, một quẻ bao gồm 2 quái hay 2 hướng không gian), tìm Ngũ hành của quẻ Thể và Dụng (sẽ trình bày chi tiết ngay sau đây) khi tự xem Kinh Dịch.
Khi dự báo bằng Dịch, một đối tượng như một người, một sự việc, thì đối tượng đó luôn liên quan đến 2 hướng trong không gian, trong đó có một hướng của “phía mình” mà Kinh Dịch gọi là Nội quái; một hướng bên ngoài “phía mình” mà Kinh Dịch gọi là Ngoại quái. Nói cách khác, mỗi người với số phận, hành vi và ý đồ, luôn luôn bị chi phối bởi 2 hướng trong không gian trên Trái đất. Khi lập một quẻ hay mô hình dự báo, người ta đặt hướng Ngoại quái lên trên, Nội quái xuống dưới (Ngoại/Nội), khi gọi tên, gọi tên Ngoại quái trước, tên Nội quái sau (sẽ có bảng tên quả dưới đây, chỉ việc tra số là biết tên gọi, biết lời đoán).
Ví dụ: đối tượng xem có hướng Ngoại quái là Cấn, Nội quái là Càn, thì quẻ là: Cấn/Càn, tên quẻ: Sơn Thiên Đại Súc
Để làm rõ điều này, ta xét qua ví dụ sau đây:
Ví dụ 1: một người muốn xem xét kết quả kinh doanh một sản phẩm sẽ cho ra đời vào cuối năm 2012. Thời gian lúc bắt đầu dự báo (lúc hỏi) là: 7 giờ 40 phút tối, ngày 61712012, tức giờ Tuất, ngày 18, tháng Đinh Mùi, năm Nhâm Thìn.
a. Cách dự báo: trước tiên tìm hướng của bản thân người đó lúc này qua tìm Nội quái:
Công thức hướng bản thân - Nội quái:
(Trị số năm+Trị số tháng+Trị số ngày+Trị số giờ): 8 = X.
Kết quả phép chia này sẽ như sau:
*Nếu phép chia hết, thì Nội quái là quái Cấn (vì Cấn có trị số là 8).
*Nếu phép chia có số dư, thì số dư là trị số của hướng không gian từ đó là Nội quái. Ví dụ dư 3 thì Nội quái là Chấn, dư 9 là Ly, dư 1 là Khảm,...dư 7 là Đoài.
b. Tìm hướng không gian bên ngoài tác động đến đối tượng - Ngoại quái:
Công thức: hướng bên ngoài - Ngoại quái:
(Trị số năm+Trị số tháng+Trị số ngày): 8=x
Kết quả phép chia này sẽ như sau:
*Nếu phép chia hết, thì Ngoại quái là quái Cấn (vì Cấn có trị số là 8).
* Nếu phép chia có số dư, thì số dư là trị số của hướng không gian từ đó là Ngoại quái. Ví dụ dư 3 thì Ngoại quái là Chấn, dư 9 là Ly, dư 1 là Khảm,...dư 7 là Đoài.
c. Quẻ hay mô hình sự việc kinh doanh trong năm 2012:
Trở lại ví dụ trên: 7h40 là giờ Tuất, trị số 11, ngày hỏi: 18 của tháng 5, năm Thìn trị số là 5. Áp dụng công thức tìm nội quái, ngoại quái ta có:
Nội quái: 5+5+18+11 = 39; 39 : 8 = 4 dư 7--> Đoài
Ngoại quái: 5+5+18 = 28; 28 : 8 = 3 dư 4 --> Tốn
Vậy mô hình sự kiện kinh doanh hay quẻ là 4/7 hay: Tốn/Đoài. Tốn là Phong, Đoài là Trạch, tra bảng 64 quẻ vần Phong Trạch ta có mô hình hay quẻ đem ra dự báo là Phong Trạch Trung Phu.
Quẻ mô tả thực trạng kinh doanh năm 2012: Phong Trạch Trung Phu, quẻ số 61:
“Khi dự báo, gặp mô hình dự báo hay quẻ này cho biết: bằng tấm lòng chí thành sẽ vượt qua được sự khó khăn, cảm hóa được mọi người.”
Đồ hình thực trạng kinh doanh sản phẩm năm 2012 ở ví dụ 1:
Bước thứ hai: dự báo sơ bộ:
Căn cứ vào lời của quẻ Trung Phu, ta bình giải như sau: Trong quá trình kinh doanh, nếu có kế hoạch và mục tiêu kinh doanh, có nỗ lực thực hiện nhưng phải nghiêm túc trong làm ăn thì sẽ vượt qua được sự khó khăn, tạo được các mối quan hệ, làm ăn sẽ thành công
Nếu chi tiết hóa từng sự việc, cho biết:
Tình thế: hiện mọi việc đang an ổn. Đề phòng sự mất yên ổn vì quan hệ nam nữ.
Hy vọng: phải gắng sức mới như ý. Làm ăn có chữ tín mới thành công.
Tài lộc: sẽ có thu nhập khá nhưng chưa lớn.
Bước thứ ba: xác định Chủ thể và Khách thể (Thể và Dụng)
Chủ thể đây chính là ý đồ, ý muốn, hành động có mục đích của đối tượng đem ra dự báo. Đây là khái niệm được người Tiền sử gọi là Thể. Khách thể là cái mà Chủ thể cần tác động tối, cần hướng tới, cần thỏa mãn ý đồ của chủ thể, người Tiền sử gọi Khách thể là Dụng. Ví dụ xem kết quả đi đòi nợ: nếu người đi đòi nhờ xem có đòi được không, thì người đi đòi nợ là Chủ thể (Thể), còn phía con nợ gọi là Khách thể (Dụng).
Nhưng ngược lại: người có nợ cần xem hôm nay chủ nợ đến mình kết quả sẽ ra sao (thực tế, con nợ thường muốn giãn nợ, chưa muốn trả nếu có thời cơ); thì lúc này con nợ lại là Chủ thể (Thể), còn chủ nợ lại là Khách thể (Dụng).
Ví dụ 2: một thí sinh muốn biết kết quả thi đại học của mình (đỗ hay trượt), thì kết quả thi là Dụng, là Khách thể, bản thân thí sinh đó là Thể (Chủ thể). Nếu phụ huynh thí sinh đó đi xem, thì họ vẫn là Chủ thể hay Thể.
Đi xem bệnh tật thì: bệnh là Dụng (Khách thể), người bệnh là Chủ thể (Thề)
Tóm lại, ai tự xem Kinh Dịch cho mình, hoặc ai nhờ người khác xem cho mình về một vấn đề nào đó, thì người đó là Chủ thể, là Thể; còn phía mà người đó cần biết họ sẽ ứng xử với mình ra sao, hoặc nếu là sự thì tình trạng tiếp theo đây sẽ thế nào, đó là Khách thể hay Dụng. Xem xét Thể và Dụng cũng là điều cần biết trong dự báo bằng Kinh Dịch.
Thể và Dụng (Chủ thể và Khách thể) được biểu hiện qua quẻ Dịch, Thể và Dụng cũng quan hệ đến phương hướng Không gian Trái đất.
Muốn xác định Thể hay Dụng, ta phải tìm hào động trong quẻ. Bạn đọc hãy chú ý một điều như sau:
Hào động là hào bị biến đổi, gọi tắt là hào biến: hào Dương biến thành hào Âm, hào Âm biến thành hào Dương. Trong một quẻ, nếu quái (hướng không gian Trái đất) nào có hào động, thi quái đó là Dụng (Khách thể), quái nào không có hào động thì quái đó (hướng không gian Trái đất) là Thể (Chủ thể).
Vậy cách tìm hào biến trong quẻ Dịch như thế nào?
Công thức tìm hào biến hay động:
(Trị số Năm+Trị số Tháng+Trị số Ngày+Trị số giờ) : 6 = X
Kết quả có thể xảy ra như sau: nếu phép chia hết không dư thì hào 6 (trên cùng) của quẻ động. Nếu phép chia còn dư 1 thì hào dưới cùng của quẻ động; dư 2 thì hào 2 động, dư 3 thì hào 3 động, dư 4 thì hào 4 động; dư 5 thì hào 5 động. Ví dụ sau cho quẻ Phong Trạch Trung Phu:
Thứ tự vị trí các hào trong một quẻ có thể động.
Quẻ Trung Phu =========> Quẻ Tiểu Súc
Tiếp ví dụ 1 trên, ta tìm hào động của quẻ để tìm quẻ Thể và Dụng. Theo công thức trên ta có:
5+5+18+11= 39; đem 39: 6 = 6 dư 3. Vậy hào 3 của quẻ Trung Phu động, hào này Âm, biến thành hào Dương, như vậy ta có quẻ mới (xem quẻ trên và đồ hình dưới) là Tốn/Càn: Phong Thiên Tiểu Súc. Trong quẻ này, quẻ Thể là quái Tốn Mộc, quái Càn Kim là Dụng vì có hào động. Quẻ có Thể và Dụng cũng chính là kết quả của sự việc, ở đây là kết quả công việc kinh doanh sản phẩm mới đưa vào cuối năm 2012.
Đồ hình hướng không gian Trái đất hay Bát quái kết quả sự việc kinh doanh sản phẩm mới cuối năm 2012:
Bước thứ tư: dự báo kết quả qua Thể và Dụng
Dự báo chi tiết qua Thể và Dụng hay nói cách khác là đưa ra kết luận cuối cùng về sự việc. Phương pháp dự báo là xem mối quan hệ Ngũ hành giữa Thể và Dụng. Nhìn vào đồ hình hướng không gian Trái đất hay Bát quái trên của ví dụ 1 đang xét, ta thấy Dụng khắc Thể (Kim khắc Mộc): báo công việc kinh doanh sản phẩm này chưa theo ý muốn như đã vạch ra ban đầu. Dụng ở đây là Càn, thể là Mộc Tốn, nên cho biết thêm: trong làm ăn có sự lo lắng, sẽ mất mát về tiền của, mình chưa đối xử tốt với người giúp mình
Nguồn: Quang Tuệ
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Đoan Trang(##)
1. Mặt kim cương
![]() |
Khả năng giao tiếp tốt, làm việc hiệu quả. Tuy nhiên, nhiều khi họ thích kiểm soát và muốn làm mọi việc theo ý mình, nên mọi người khó chịu, dễ hiểu lầm.
2. Mặt tam giác
![]() |
Nỗ lực, kiên trì và thích kiểm soát, khả năng gặt hái được thành công trong cuộc sống là rất cao.
3. Mặt chữ nhật
![]() |
Tư duy tốt, xử lý vấn đề nhanh gọn, tuy nhiên ít bộc lộ cảm xúc cá nhân.
4. Mặt vuông
![]() |
Năng động, nhiệt tình, khả năng chịu áp lực tốt, được mọi người tin tưởng và giao cho những nhiệm vụ quan trọng.
5. Mặt trái xoan
![]() |
Thông minh, không khéo và biết cách chiều lòng người khác.
6. Mặt tròn
![]() |
Khuôn mặt tượng trưng cho sự phúc hậu, luôn quan tâm đến mọi người. Tuy nhiên, họ dễ thiệt thòi, hay bị lợi dụng.
7. Mặt trái tim
![]() |
Mạnh mẽ, bướng bỉnh, không thích nghe theo lời khuyên của người khác. Đôi khi tự cao thái quá về bản thân.
Dương Anh (theo cachitosdeplata)
Đương nhiên tốt hay xấu đến mức nào không phải là nói một cách chung chung mà phải căn cứ vào quan hệ sinh khắc hình xung giữa các tổ hợp của chúng để đoán cho chính xác. Nếu nắm vững được mức độ sinh khắc hình xung đó càng cao thì sự dự đoán càng chính xác. Hỉ, kỵ của mười thần đại vận lại có quan hệ đến vận khí tốt xấu của từng năm (tức lưu niên). Nắm vững được hỉ kỵ của đại vận cũng tức là nắm được mạch chính của mệnh. Chỉ có như thế mới có thể gọi là biết được mệnh và vận một cách chân chính. Chỉ trên cơ sở cảm nhận được một cách chắc chắn sự tồn tại của vận mệnh thì mới có thể nói đến hướng về cái tốt, tránh xa cái xấu.
Dưới đây sẽ đưa ra các ví dụ về nữ sinh năm âm và nam sinh năm âm, cách sắp xếp Tứ trụ, thiên can Tứ trụ lộ ra và mười thần của các can tàng trong các địa chi, cách lấy số đại vận, sắp xếp đại vận, can của các đại vận thấu ra mười thần và cách sắp xếp chúng. Đến đó thì các bước cơ bản để đoán Tứ trụ đã hoàn thành. Những dự đoán cát hung về sau đều được tính toán trên cơ sở đó (thần sát được chú thích ở một bên Tứ trụ hoặc cũng có thể chú thích riêng).
Ví dụ . Nữ sinh năm âm.
Năm 1995 tháng 2 âl ngày 4 âl 8 giờ
Kiếp tài nhật tài
At hợi mậu dần giáp ngọ mậu thìn
Mệnh : nhâm giáp giáp bính mậu đinh tị mậu ất quý
Kiêu tỉ tỉ thực tài thương tài tài kiếp ứng
Tài sát quan kiêu ấn tỉ kiếp thực
Tị canh tân nhâm quý giáp ất bính
Vận: mão thìn tị ngọ mùi thân dậu tuất
1 11 21 31 41 51 61 71
Ví dụ : Nam sinh năm âm : năm 1995 tháng 2 ngày 4 lúc 8 giờ sáng. Mười thần của Tứ trụ lộ ra và mười thần của các can tàng trong chi cũng giống như trên. Còn đại vận lấy trụ tháng mậu làm chuẩn xếp ngược, lấy số vận và cách tính đại vận đếm ngược. Mỗi đại vận 10 năm , cụ thể như sau:
thương thực kiếp tỉ ấn kiêu quan sát
đinh bính ất giáp quý nhâm tân canh
Vận: sửu tí hợi tuất dậu thân mùi ngọ
10 20 30 40 50 60 70 80
– Vì sao những con giáp dưới đây có những bức ảnh "tự sướng" ảo tung chảo đến thế? Phải chăng là vì kĩ năng tốt hay đơn giản đó là sự phản chiếu trong nét đẹp tâm hồn?
![]() |
![]() |
Ngưỡng mộ 4 con giáp dễ dàng thành công trong sự nghiệp
Bẩm sinh đã có sự nhanh nhạy và trí tuệ hơn người, 4 chòm sao thông minh dưới đây luôn khiến người khác phải trầm trồ khen ngợi, làm gì cũng đạt được kết quả vượt trội.
![]() |
![]() |
| ► Mời các bạn đọc những câu nói hay về cuộc sống và suy ngẫm |
![]() |
Yêu con gái tuổi nào càng yêu lâu càng mặn nồng? Đây vẫn là câu hỏi chưa có câu trả lời .. Nhưng tại sao nói chàng trai nào đang yêu cô gái tuổi Sửu, Thìn, Tuất… thì quả là may mắn. Để hiểu sâu sắc vấn đề này chúng ta cùng đọc bài viết sau.
Nội dung

Những cô gái tuổi Sửu vô cùng bình tĩnh, dịu dàng, cẩn thận và có tính nhẫn nại cực kỳ cao. Họ luôn xác định cho mình một mục tiêu rõ ràng. Nếu đem lòng yêu ai, họ sẽ từ từ phát triển mối quan hệ rồi toàn tâm toàn ý yêu người đó.
Trong quá trình yêu đương, cho dù gặp được một người con trai khác có điều kiện tốt hơn thì họ cũng sẽ không bao giờ thay lòng. Nhờ có sự cày bừa chăm chỉ của trâu vàng, cánh đồng tình yêu của họ sẽ ngày càng màu mỡ, phì nhiêu hơn, và cuối cùng sẽ đơm hoa kết trái.

Các cô gái tuổi Tuất tương đối truyền thống, chân thành nhưng có lúc lại hơi quái gở. Cách theo đuổi tình yêu của họ cũng tương đối hướng nội. Khi thích một chàng trai nào đó, họ sẽ dần dần thể hiện tình yêu của mình và kiên định không thay đổi. Họ tuyệt đối sẽ không hấp dẫn bởi người con trai nào khác. Mặc dù có lúc gặp phải đôi chút khó khăn, nhưng đến cuối cùng họ cũng sẽ cùng người mình yêu chung tay xây dựng tổ ấm, hạnh phúc vô biên.

Mọi người chắc hẳn còn nhớ Tiểu Long Nữ chứ? Cô ấy thuần khiết, thanh cao như ngọc, và trong tình yêu thì thà chết chứ không thay đổi. Cuối cùng, cô đã thực hiện được lý tưởng của mình và đem đến cho người xem một kết cục viên mãn bất ngờ. Những đặc điểm bên trên của Tiểu Long Nữ chính là phẩm chất cũng như thái độ của những cô gái tuổi Thìn đối với tình yêu. Thời gian càng lâu càng dài, thì tình yêu của họ sẽ càng mặn nồng, thắm thiết.

Các cô gái tuổi Hợi trung hậu, nhiệt tình, thật thà và luôn đặt kỳ vọng vào tình yêu. Khi đã yêu ai, họ sẽ chủ động tấn công, thậm chí sẽ dốc hết tâm sức, trao hết tình cảm cho đối phương mà không hề do dự. Những hành động này khiến cánh mày râu rất cảm động và bằng lòng đáp lại tình cảm của họ. Đôi bên yêu thương lẫn nhau và cùng đắm say trong chốn bồng lai tiên cảnh của chính mình.

Những cô gái tuổi Dần yêu thích và khao khát một tình yêu lãng mạn. Vì sự nhiệt tình và tính chiếm hữu vốn có, họ dễ dàng có được mọi người đàn ông mà mình thích. Hơn nữa họ cũng sẽ dần dần cảm hoá đối phương, khiến cho họ vui lòng phục tùng, tạo nên một tổ ấm tình yêu vô cùng lãng mạn.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
Theo quan niệm phong thủy, phòng ăn không bố trí gần cửa ra vào, nếu không sức khỏe và tiền bạc đến rồi lại đi, khó mà giữ lại được.
Không ít gia đình dù chật chội một chút nhưng vẫn bố trí phòng ăn tách riêng khỏi nhà bếp. Về tầm quan trọng, các nhà phong thủy xếp phòng ăn ngang với nhà bếp, tức là nó liên quan, ảnh hưởng đến sức khỏe và tình hình tài chính trong nhà.
Theo quan niệm phong thủy, phòng ăn không bố trí gần cửa ra vào, nếu không sức khỏe và tiền bạc đến rồi lại đi, khó mà giữ lại được. Trong trường hợp không thể bố trí khác được, khắc phục bằng cách treo một tấm mành thưa (bằng dải hạt chẳng hạn…) để ngăn tầm mắt của người ngoài đi vào nhưng người trong phòng ăn vẫn quan sát được bên ngoài. Cũng có thể treo một quả cầu thủy tinh có tính chất tượng trưng để thay thế cho tấm rèm trên. Gia chủ cũng nên lưu ý khi sắp xếp chỗ ngồi: người chủ gia đình phải được ngồi ở vị trí quay mặt ra cửa; nếu có khách ăn, vị trí này phải được dành cho một vị khách danh dự.
Xét thấy bữa ăn không những chỉ là sự bổ sung năng lượng cho cơ thể mà còn là một hứng thú và là những giây phút thư giãn, cùng với sự nghỉ ngơi giúp con người cân bằng lại trạng thái tâm, sinh lý, tạo hưng phấn cho công việc tiếp theo.
Vì vậy, để tạo bữa ăn ngon, giúp cho sự tiêu hóa tốt, cần có sự yên tĩnh tương đối. Bố trí phòng ăn gần cửa ra vào, trong bữa ăn dễ bị ảnh hưởng của những tác động bên ngoài gây ức chế về tâm lý và cả sinh lý, cản trở đến việc tiết dịch vị, làm cho bữa ăn trở nên căng thẳng, “mất ngon” và sự tiêu hóa cũng bị cản trở nghiêm trọng.
Việc treo tấm rèm chẳng qua là để hạn chế bớt ảnh hưởng của những tác động bên ngoài. Còn quan niệm phong thủy trong việc bố trí chỗ ngồi cũng có cơ sở khoa học nhất định. Người chủ gia đình hoặc vị khách danh dự là đối tượng quan trọng nhất trong bữa ăn cần được tôn trọng.
Ở vị trí đối diện với cửa ra vào giúp người ta quan sát được những diễn biến bên ngoài, để không bị động, “giật mình” khi có người đột ngột bước vào giữa bữa ăn.Vì vậy trong trường hợp này, quan niệm của phong thủy không phải không có “cái lý” của nó.
Nếu gia đình có phòng ăn rộng, thông thoáng thì tốt nhất. Còn nếu như phòng chật hẹp, chỉ có một cửa ra vào, không có cửa sổ nào khác thì nên treo gương cả bốn mặt tường. Gương chiếu tượng trưng cho sự tăng thêm bát đĩa cũng như của cải.
Treo gương trong phòng ngủ
Bạn có gương trong phòng ngủ ? Gương rất tốt cho việc tạo ra các chuyển động của năng lượng trong một căn phòng, nhưng nên tránh trong phòng ngủ. Chúng sẽ cản trở giấc ngủ , làm cho bạn cảm thấy bồn chồn. Tệ hơn cả, một tấm gương được đặt đối diện với giường có thể ảnh hưởng xấu tới mối quan hệ vợ chồng. Nếu bạn phải có một chiếc gương trong phòng ngủ, không đặt nó chiếu vào giường, và hãy chắc chắn che lại bằng một miếng vải vào ban đêm trước khi đi ngủ.
Để TV trong phòng ngủ
Ti vi phát ra năng lượng và giải phóng điện tích ion âm có thể khiến bạn khó ngủ. Nếu bạn phải có TV trong phòng ngủ, nên để trong tủ và đóng cửa khi đêm về. Nếu điều đó là không thể, bạn cần cân bằng năng lượng với cây và hoa.
Để đồ dưới gầm giường
Rất nhiều người hay tận dụng gầm giường trống để cất đồ. Tuy vậy, nó không tốt cho sự chuyển động của năng lượng. Mặc dù các năng lượng trong phòng ngủ khá ít nhưng nó vẫn phải lưu thông.
Để giày trước cửa và ở hành lang
Rất nhiều người bỏ giày trước cửa nhà. Đây là 1 thói quen tốt nhưng đừngng để chúng lăn lóc ở cửa hoặc lối vào. Không ai muốn chặn các nguồn năng lượng bằng đống giày bẩn thỉu. Làm như vậy thì các nguồn năng lượng sẽ bị nhiễm bẩn, ảnh hưởng đến tài vận, may mắn và sức khỏe của các thành viên trong nhà.
Không có cây cối hoặc thú cưng trong nhà
Cây cỏ, vật nuôi mang lại các nguồn năng lượng tốt và tích cực. Nếu không có một trong hai (hoặc cả hai), bạn đang bỏ lỡ một trong những cách tốt nhất và dễ dàng nhất để cải thiện phong thủy của gia đình.
Phương Vị: Nam Đẩu Tinh
Tính: Âm
Hành: Mộc
Loại: Phúc Tinh, Thọ Tinh
Tên gọi tắt thường gặp: Lương
Một trong 14 Chính Tinh. Sao thứ 6 trong 8 sao thuộc chòm sao Thiên Phủ theo thứ tự: Thiên Phủ, Thái Âm, Tham Lang, Cự Môn, Thiên Tướng, Thiên Lương, Thất Sát, Phá Quân.
Miếu địa ở các cung Ngọ, Thìn, Tuất.
Vượng địa ở các cung Tý, Mão, Dần, Thân.
Vượng địa ở các cung Sửu, Mùi.
Hãm địa ở các cung Dậu, Tỵ, Hợi.
Ý Nghĩa Thiên Lương Ở Cung Mệnh
Tướng Mạo:
Cung Mệnh có Thiên Lương tọa thủ dù đắc địa hay hãm địa thì thân hình thon và cao, da trắng, vẻ mặt thanh tú khôi ngô. Ngoài ra, Thiên Lương vốn là phúc tinh cho nên bao hàm sự phúc hậu, sự hiền hòa của tướng mạo.
Tính Tình:
Sao Thiên Lương ở cung miếu địa, vượng địa, đắc địa: tánh tình trọng hậu, nhân từ, biết xử thế, thông minh, lý luận giỏi, trực giác thâm sâu, có nhiều cơ mưu, có óc sáng tạo viết văn, luận giải trong mọi lãnh vực, có óc khảo cứu, tham mưu, cả đời phong lưu.
Sao Thiên Lương ở cung hãm địa là cung Dậu, cũng có tánh nhân hậu, không bền chí, đời lãng đãng, thiếu sự suy xét cẩn thận, tánh khí xuề xòa, dễ nhầm lẫn.
Sao Thiên Lương ở cung hãm địa là cung Tỵ, Hợi, cũng có tánh nhân hậu, nhưng nông nổi, ít chịu ngồi yên tại chỗ, hay bay nhảy nay đây mai đó, chóng chán, hay thay đổi ý định, công việc, phong lưu khoái lạc, dễ rơi vào tứ đổ tường, tánh rộng rãi, ăn xài hoang phí, khó giữ của.
Cho dù đắc địa hay hãm địa, đặc tính nổi bật nhất của Thiên Lương là sự nhân hậu, lòng từ thiện, tính khoan hòa, chiều chuộng, nhẫn nhục, sự khôn ngoan, sự mềm mỏng khi xử thế, nết khiêm cung, hiền lành.
Do đó, Thiên Lương nói lên cốt cách từ bi, nho phong đạo cốt, tâm địa bác ái, nhân từ của nhà tu, của người hiền triết, của người chất phác, của bậc chính nhân quân tử, lấy lễ đãi người, dùng sự thành thật, khiêm cung để xử thế.
Tài Lộc Phúc Thọ:
Sao Thiên Lương đắc địa: Được hưởng phú quý lâu dài, người có văn tài lỗi lạc, thường giỏi về khoa sư phạm, có uy danh lớn, người nữ thì vượng phu ích tử. Ngoài ra, vì Thiên Lương là phúc tinh, cho nên, nếu đi với bộ sao y dược thì sẽ là bác sĩ, dược sĩ có danh tiếng, trị bệnh mát tay.
Thiên Lương hãm địa: Lận đận trong nghề nghiệp, hay đổi nghề, khó kiếm tiền. Phải tha hương lập nghiệp, xa cách gia đình.
Sao Thiên Lương, Nhật đồng cung: Cách này được ví như mặt trời bình minh, ánh sáng ẩn tàng rực rỡ mà ôn hòa. Người có cách này được hưởng phú quý tột bậc, suốt đời hạnh thông.
Thiên Lương ở Tý, Nhật ở Ngọ hội Xương Lộc (hay Thiên Lương ở Tý chiếu Mệnh ở Ngọ, có Nhật gặp Xương Lộc): Rất thông minh, hiển đạt có danh tiếng lớn lao. Cách này càng tốt đối với 3 tuổi Đinh, Kỷ, Quý.
Sao Thiên Lương, Thiên Đồng ở Dần, Thân: Sự hội tụ của hai phúc tinh ở hai vị trí này rất đắc cách càng biểu lộ tính nhân hậu, từ thiện, bác ái, quân tử nói ở mục tính tình. Người có cách này sẽ không gặp tai họa nào hung hãn, được thần linh che chở, được người đời giúp đỡ. Thông thường, cách này được thêm Cơ Nguyệt hợp chiếu và là một cách phú và quý.
Sao Thiên Lương ở Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ gặp Nguyệt Linh hội chiếu: Người có nhiều tài năng, hiển đạt.
Sao Thiên Lương đắc địa gặp Văn Xương đồng cung: Người lịch duyệt khoan hòa, danh giá. Gặp Văn Khúc, ý nghĩa cũng tương tự.
Sao Thiên Lương, Hóa Lộc: Người bác ái hay đem của bố thí cho thiên hạ, hoặc dùng của vào việc thiện.
Sao Thiên Lương, Nguyệt hãm hội chiếu: Con người giang hồ, phiêu bạt, không có định sở, tha phương lập nghiệp.
Sao Thiên Lương ở Tỵ gặp nhị Hao, sát tinh: Khó tránh nạn binh đao súng đạn.
Thiên Lương ở Tỵ, Hợi gặp Thiên Mã đồng cung: hay thay đổi chí hướng, làm việc gì cũng hay bỏ dở nửa chừng, không bền chí, không cả quyết.
Ý Nghĩa Thiên Lương Ở Cung Phụ Mẫu:
Sao Thiên Lương ở 4 vị trí tốt đẹp:
Thiên Lương, Thiên Đồng ở Dần, Thân.
Thiên Lương, Nhật ở Mão.
Thiên Lương, Thiên Cơ đồng cung.
Thiên Lương ở Tý, Ngọ thì cha mẹ nhân đức, thọ và hiển.
Ở Sửu, Mùi thì bình thường. Còn ở Tỵ, Hợi thì phụ mẫu bất hòa, chia rẽ, chia ly, không đồng cư với con cái.
Ý Nghĩa Thiên Lương Ở Cung Phúc Đức:
Được hưởng phúc thọ, tránh được tai họa, có họ hàng danh giá nếu Thiên Lương ở những vị trí sau:
Thiên Lương, Thiên Đồng ở Dần, Thân.
Thiên Lương, Nhật ở Mão.
Thiên Lương, Thiên Cơ đồng cung.
Thiên Lương ở Tý, Ngọ.
Ở Sửu, Mùi thì trung bình, còn ở Tỵ, Hợi thì có nhiều tai họa, họ hàng ly tán, tha phương lập nghiệp; con trai bụi đời, con gái dâm dật, khắc chồng con.
Ý Nghĩa Thiên Lương Ở Cung Điền Trạch:
Sao Thiên Lương ở Tý, Ngọ hay đồng cung với Nhật tại Mão, với Thiên Đồng ở Dần Thân: có nhà đất, của ông bà, cha mẹ để lại, chính mình cũng tạo được thêm nhà đất.
Sao Thiên Lương ở Tỵ, Hợi: có nhà đất nhưng thường phải thay đổi nơi ăn chốn ở, phải đi làm xa, hoặc phải mua đi bán lại nhiều lần. Nếu có nhà đất của ông bà, cha mẹ để lại, sống chung đụng thì hay gặp rắc rối, tranh cạnh về chia chác, hoặc nhà đất của cha mẹ càng ngày càng kém, phải bán đi, mình cũng không ở được.
Sao Thiên Lương, Nhật ở Mão: tạo dựng nhà đất trước ít sau nhiều.
Sao Thiên Lương, Nhật ở Dậu: tuy có nhà đất nhưng cũng bán hết, hoặc không có nơi cư trú nhất định, tạo dựng nhà cửa khó khăn, phải đi xa, về già mới có nhà đất nhưng rất ít.
Ý Nghĩa Thiên Lương Ở Cung Quan Lộc:
Thiên Lương là sao văn, thiên về quan văn, thích hợp trong ngành văn. Được quý hiển về công danh, có năng tài về sư phạm hoặc chính trị, chiến lược hoặc y dược, y khoa nếu Thiên Lương ở những vị trí sau:
Thiên Lương, Thiên Đồng ở Dần, Thân (rất tốt về nhiều ngành).
Thiên Lương ở Tý, Ngọ.
Thiên Lương, Thiên Cơ đồng cung (rất tốt về tham mưu, sư phạm).
Thiên Lương, Nhật ở Mão.
Ở Sửu, Mùi thì bình thường, còn ở Tỵ, Hợi thì thất thường hay thay đổi công việc, làm việc lưu động, làm việc chóng chán, bất toại chí.
Ý Nghĩa Thiên Lương Ở Cung Thiên Di:
Được nhiều người kính nể, giúp đỡ hay gặp quý nhân, được bước chân vào chỗ quyền quý nếu Thiên Lương ở những vị trí sau:
Thiên Lương, Thiên Đồng ở Dần Thân.
Thiên Lương, Nhật ở Mão.
Thiên Lương, Thiên Cơ đồng cung.
Thiên Lương ở Tý Ngọ.
Riêng ở Sửu, Mùi thì bình thường. Còn ở Tỵ, Hợi thì lang thang và chết ở xa nhà.
Ý Nghĩa Thiên Lương Ở Cung Tật Ách:
Vì là thọ tinh, cho nên Thiên Lương không có ý nghĩa bệnh lý nào. Trái lại, đây là một sao giải bệnh rất hiệu lực, như Tử Vi, Thiên Phủ, Tuần hay Triệt khi đóng ở cung Tật. Nếu gặp bệnh, thì chóng khỏi, hoặc bệnh không nặng, hoặc được danh y mát tay cứu vớt kịp thời. Sao này tượng trưng cho Phúc Đức về sức khỏe, cho dù có hãm địa cũng không đáng lo ngại. Nếu đi cùng với các sao bệnh họa khác thì Thiên Lương có tác dụng chế giải nhiều sự bất lợi của các sao đó gây nên.
Ý Nghĩa Thiên Lương Ở Cung Tài Bạch:
Sao Thiên Lương ở Tý Ngọ: (hay đồng cung với Nhật tại Mão, với Thiên Đồng ở Dần Thân) rất giàu, dễ giàu, ngày càng giàu.
Sao Thiên Lương ở Tỵ Hợi: Dễ kiếm tiền nhưng cũng dễ tiêu tiền, khó giữ của lại phải lưu động kiếm tiền.
Sao Thiên Lương, Nhật ở Dậu: Kiếm tiền rất chật vật, sau mới khá giả.
Ý Nghĩa Thiên Lương Ở Cung Tử Tức:
Sao Thiên Lương, Thiên Đồng ở Dần Thân hay Thiên Lương ở Tý Ngọ: Đông con, có quý tử, hiếu thảo.
Sao Thiên Lương, Nhật ở Mão: Đông con, khá giả.
Sao Thiên Lương, Thiên Cơ : Đông con, khá giả, có quý tử, có con riêng.
Sao Thiên Lương ở Tỵ Hợi: Ít con, sinh nhiều nuôi ít. Con ly tán, hoang đàng, bụi đời.
Sao Thiên Lương, Nhật ở Dậu: muộn sinh, 3 con. Sớm sinh thì khó nuôi, khổ sở vì con.
Ý Nghĩa Thiên Lương Ở Cung Phu Thê:
Sao Thiên Lương, Thiên Đồng ở Dần Thân: Sớm gia đạo. Vợ chồng có họ hàng với nhau. Cả hai đều đẹp và giàu.
Sao Thiên Lương, Nhật ở Mão: Rất tốt đẹp về mọi mặt, cả về hạnh phúc gia đình lẫn tiền bạc công danh.
Sao Thiên Lương, Thiên Cơ đồng cung: Vợ chồng hiền lương, lấy nhau dễ dàng, có họ hàng với nhau. Có nhiều hạnh phúc gia đạo suốt kiếp. Có sách cho rằng Cơ Lương ở Phu Thê thì rất kén vợ, kén chồng và rất ghen tuông.
Sao Thiên Lương ở Tý Ngọ: Sớm gia đạo, dễ lập gia đình. Cả hai đều danh giá. Thường người hôn phối là con trưởng.
Sao Thiên Lương ở Tỵ Hợi: Dễ gặp nhau lại dễ xa nhau, vợ chồng chóng chán và hay thay đổi gia đạo.
Thiên Lương Khi Vào Các Hạn:
Nếu Thiên Lương ở vị trí tốt, không bị Tuần, Triệt sát tinh thì hạn tốt, hưng thịnh công danh tài lộc, ít bệnh tật, nếu có tai họa cũng được qua khỏi.
Nếu hãm địa thì bất lợi về sức khỏe, tiền bạc. Tại Tỵ, Hợi phải có thay đổi công việc.
Nếu gặp sát tinh có thể phá sản, đau nặng.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
Binh Hình Tướng ấn: cách này chỉ sự hiển đạt trong nghiệp võ, chỉ quân nhân có tài tác chiến, tài tham mưu, đồng thời cũng là quân nhân có chiến công, có cầm quân, có huy chương.
Vũ Tướng: hai sao này kết hợp cũng chỉ võ nghiệp rất đặc sắc.
Tử Phủ Vũ Tướng: cách này vừa chỉ văn, vừa chỉ võ cho nên đặc biệt có quyền uy: đó là ngành võ cầm quyền chính trị.
Tướng Quân, Thiên Mã: chỉ quân nhân có tài. Tướng Quân chỉ võ tính, sự cương cường, hiếu thắng, phách lối còn Thiên Mã chỉ tài năng. Nếu Thiên Mã đi với Thiên Tướng cũng đồng nghĩa nhưng đây là một quân nhân có kỷ luật hơn vì Thiên Tướng vốn đôn hậu, có tư cách hơn Tướng Quân.
Thiên Mã, Lực Sỹ: là cách của võ tướng có sức mạnh từ đó vũ dũng (ít có mưu lược).
Thiên Tướng-Tướng Quân hay Thiên Tướng-Phục Binh hay Tướng Quân-Phục Binh: là tướng có quân, có quyền.
Ngoài ra có thể kể một số sao trợ võ, nghĩa là đi chung với các võ tinh khác thì làm cho võ nghiệp rõ rệt hơn. Đó là Không, Kiếp, Kình, Đà, Hỏa, Linh là những sát tinh, hung tinh nói lên tính nết mạnh bạo, dám làm, tác phong của võ cách. Ví dụ, hai sao Kình, Hỏa miếu địa đồng cung là số danh tướng, hợp vớ cách Sát Phá Liêm Tham. Tướng Mã Không Kiếp đắc địa chỉ quân nhân cầm binh, vị tướng cầm quân có nhiều binh tướng dưới tay, thường lập nghiệp vẻ vang trong thời tao loạn. Sát Phá Liêm Tham gặp Kình hãm địa ở Mão và Dậu là tướng làm loạn, đảo chánh, binh biến, khát máu, giết người không gớm tay.
b. Văn học
Văn Xương, Văn Khúc: chỉ các môn về văn chương, triết lý hoặc chỉ môn học nói chung.
Thái Tuế, Thiên Hình, Cự Môn, Quan Phù: một trong bốn sao này chỉ các môn học về luật pháp.
Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phù, Hữu Bật: cả bốn sao này chỉ ngành dịch thuật. Đây là bộ sao của các thông ngôn, hành nghề dịch sách, tu thư, khảo cứu cổ ngữ, kim ngữ.
Lưu Hà, Tấu Thư, Hóa Khoa, Thái Tuế, Cự Môn, Hóa Kỵ: chỉ sự hùng biện, tài dùng ngôn ngữ, ứng dụng đắc cách vào ngành sư phạm, vào khoa hùng biện, chính trị học.
Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương: chỉ người công chức. Ngành học là hành chính, quản trị công sở.
Lộc Tồn: chỉ tài năng tổ chức, sắp xếp công việc, do đó cũng liên quan đến ngành quản trị hành chính hay công sở đặc biệt là quản trị tài chính, kế toán, ngân sách, kho bạc, ngân hàng.
c. Khoa học:
Thiên Tướng, Thiên Y: Hai sao này đi chung (đồng cung hay hội chiếu) có nghĩa là y học. Ngoài ra, nếu Thiên Y đi kèm với các sao phù trợ khác cũng có nghĩa về y học: Thiên Quan, Thiên Cơ, Thiên Đồng, Thiên Phúc, Thiên Lương, Thái Âm, Tả Phù, Hữu Bật, Thiên Giải, Địa Giải, Giải Thần ...
Thiên Y, Hóa Kỵ: có ý nghĩa bào chế thuốc men, có liên quan đến y dược học.
Thiếu Âm, Thiếu Dương, Thái Âm, Thái Dương: các sao này có nghĩa là điện, liên quan đến ngành điện học, điện tử hay nguyên tử.
Thiên Cơ: liên quan đến máy móc, ngành cơ khí, kỹ thuật. Đây có thể là sao của kỹ sư, chuyên viên kỹ thuật, kỹ nghệ gia.
d. Kinh tế học:
Vũ Khúc, Tham Lang: Vũ Khúc chỉ tài lộc, tiền bạc. Tham Lang chỉ sự đua chen tham lợi. Đây là cách chỉ nghề thương mại, kinh doanh.
Hóa Lộc, Lộc Tồn và Thiên Mã: Hai sao Lộc chỉ tiền tài. Thiên Mã chỉ tài năng, sự tháo vát, giao dịch. Hai sao này đi chung chỉ ngành thương mại, đặc biệt là ngành thương mại lưu động. Người có bộ sao Mã Lộc hay Mã Tồn là kẻ mua sỉ bán lẻ hay đại lý thương mại hay người phân phối, đóng vai luân lưu hàng hóa trong hệ thống kinh tế.
Vũ Khúc, Thiên Phủ: Thiên Phủ chỉ cái kho tàng hay kho bạc. Ngành học của Phủ có thể là ngân hàng, tín dụng, thuế khóa. Vũ Khúc có thể chỉ kinh tế học. Đây là cách chỉ ngành kinh tế, tài chính.
Vũ Khúc, Tham Lang, Kình Dương, Thất Sát: bốn sao này sáng sủa hội họp thường thiên về kỹ nghệ.
e. Nghệ thuật:
Phượng Các, Tấu Thư, Xương Khúc: Phượng Các là thính giác. Tấu Thư là sự linh mẫn, êm dịu, ngọt ngào. Xương Khúc chỉ môn học. Bốn sao này đi cùng chỉ môn âm nhạc.
Tấu Thư, Hồng Loan: Hồng Loan có nghĩa là hoa tay, từ đó chỉ ngành học liên quan đến sự khéo tay như hội họa, điêu khắc, thêu may, hay thủ công nghệ nói chung.
Đào Hoa, Tấu Thư, Thiên Hỷ, Vũ Khúc: bộ sao của ca sĩ, kịch sĩ, diễn viên màn ảnh, tài tử, minh tinh, có liên quan đến ngành học như hát, đóng kịch, đóng phi. Đào Hoa chỉ sự hâm mộ, Thiên Hỷ chỉ sự giúp vui, Vũ Khúc chỉ danh giá, sự nổi tiếng.
Thiên Trù, Tấu Thư, Hóa Lộc hay Hồng Loan: chỉ ngành nấu bếp, nấu rượu, chế tạo thức ăn thức uống hoặc gia chánh.
Đào Hoa, Hồng Loan với Mộc Dục hay Hoa Cái: chỉ môn thẩm mỹ học, chuyên về sửa sắc đẹp. Nếu đi với Thiên Hình hay Kiếp Sát chỉ môn giải phẫu thẩm mỹ.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Đoan Trang(##)
Những lời chúc tết hay nhất nơi công sở để bạn dành tặng sếp và các đồng nghiệp của mình.
Mỗi độ tết đến là văn phòng, công sở lại càng tất bật làm việc để chuẩn bị cho quyết toán cuối năm, chốt hợp đồng, chạy tiến độ dự án v.v.v Hòa với cuộc sống nhộn nhịp hằng ngày chốn văn phòng công sở không thể thiếu được những hoạt động tập thể nhằm nâng cao tinh thần cho mọi người. Tranh ảnh được bày, băng rôn được treo và không thể thiếu được những khúc ca vui, bài thơ hay và những câu chúc tết của các đồng nghiệp dành cho nhau cũng như dành tặng sếp của mình.
Sau một năm vất vả, hãy dành tặng người đồng đội của mình những lời chúc tết hay nhất, ý nghĩa nhất thể hiện tâm ý của bản thân với người chiến hữu bên cạnh bạn.
Các lời chúc tết được phân thành nhóm:
Những lời chúc năm mới đầy ý nghĩa để bạn tỏ thành ý của mình với sếp của bạn. Vừa là động lực, vừa là sự cổ vũ, vừa là tâm ý đối với công sức dẫn dắt của sếp với mọi người trong công ty.
Nam nhi thỏa chí anh hào
Một năm tài lộc lại cao chất chồng
Xuân vui Tết ấm quây quần
Xin kính chúc sếp thành công mỗi ngày.
—–
Tiền vào như nước trùng trùng
Tiền ra nhỏ giọt ngừng ngay tức thì
Tết xuân chúc sếp đôi lời
Một năm thuận lợi bại vơi thành đầy.
—–
Anh tài lại gặp vận hên
Làm ăn tiến tới phất lên bất ngờ
Chúc người cầm lái xuôi đò
Tiến con thuyền đến bến bờ thành công.
Một năm thuận lợi an nhàn.
Một năm tiến tới lộc vàng về tay.
Một năm vững trãi như cây.
Chúc sếp rủng rỉnh những ngày Tết vui!
Xuân sang lộc biếc trong ngoài.
Sức khỏe cường tráng dẻo dai mỗi ngày.
Tài cao, chí lớn thêm may.
Chúc sếp năm mới tầm tay bạc vàng!
Chúc mừng năm mới Sếp nhà ta
Có mấy chút thơ đọc gọi là
Mừng cho Sếp được hên năm mới
Rạng rỡ công danh sự nghiệp thành
Hạnh phúc tiền tài luôn tấp nập
Gia đình trẻ nhỏ tiếng cười vui
Sức khỏe dồi dào, tăng gia mạnh
Buôn bán kinh doanh, lợi nhuận nhiều.
Lo toan công việc cả năm
Tết này chúc sếp an nhàn thảnh thơi
Lộc tài, phú quý sánh đôi
Thuận buồm, xuôi gió để rồi bội thu.
Chúc người thuyền trưởng mát tay
Xuôi con thuyền lái về ngay sang giàu
Tài cao, chí lớn đương đầu
Vượt qua biển cả về mau an nhàn.
Bôn ba sóng gió bao ngày
Hôm nay gặt hái nặng tay bạc vàng
Chúc sếp thuận lợi, bình an
Chúc cho sức khỏe lan tràn mãi xuân.
Lao tâm khổ tứ bao ngày
Xuân nay lộc đã biếc đây trong ngoài
Chúc sếp sức khỏe dẻo dai
Công thành danh toại xuân hoài hoài vui!
Năm qua Tết đã đến rồi
Em xin chúc sếp với đôi câu này
Tiền tài nặng ví nặng tay
Gia đình thịnh vượng, vui vầy, ấm êm
Đối ngoại thuận dưới, thuận trên
Đánh đâu cũng thắng, cũng bền sức dai.
Vinh quang trong những nhọc nhằn
Vững tay chèo lái bao năm con thuyền
Chúc cho biển lặng gió êm
Chúc cho thắng lợi cao thêm mỗi ngày.
Ra đường vấp được chữ son
Làm ăn buôn bán vấp hòn hên hên
Thăng quan tiến chức cao thêm
Em xin chúc sếp trẻ hơn mỗi ngày.
Lộc xuân nở biếc quanh nhà
Nâng ly chúc sếp thuận hòa gió mưa
Chúc người đi sớm về trưa
Lộc tài rủng rỉnh, suốt mùa gặp hên.
Tết đến pháo nổ giòn tai
Chúc sếp phát lộc, phát tài, phát xuân
Trong ngoài thuận lợi xa gần
Hợp đồng dễ trúng, mười phân vẹn mười.
Một năm hỳ hục làm ăn
Ngẩng đầu Tết đã ùn ùn đến chân
Mừng ngày đông đã sang Xuân
Em kính chúc sếp muôn phần bội thu.
Tưng bừng pháo nổ rượu say
Tưng bừng vui với những ngày bội thu
Chúc cho chí lớn được mùa
Đầu xuân chúc sếp sớm trưa yên bình!
Trong nhà phú quý lộc cộc
Ngoài sân lộc lộc chung vui
Chúc sếp một năm sức khỏe
Làm ăn phát đạt êm xuôi.
Năm qua Tết đến
Chúc sếp an vui
Nhà cao cửa rộng
Đầu óc thảnh thơi.
Công thành danh toại. Đối ngoại thuận xuôi. Chúc sếp năm mới May mắn, An vui!
Chúc sếp năm mới, thật giàu có, thật bình an, thật hiên ngang, thật may mắn, thật khỏe khoắn, thật anh tài, thật dẻo dai, thật phú quý
Chúc sếp năm mới, đánh nhanh thắng gấp, thuế doanh nghiệp thấp, kế hoạch cực chất, làm ăn thật phất, tiếng tăm chất ngất, hạnh phúc viên mãn nhất, tiền bạc tha hồ mà cất.
Năm mới chúc sếp: Khỏe tựa siêu nhân, con đàn cháu đống như Lạc Long Quân, được lòng dân như Võ Nguyên Giáp, lộc về như thác, tài đến như sông, phú quý chất chồng, cả năm đại thắng!
Tuyển chọn những câu chúc tết lời chúc tết hay nơi công sở để bạn dành tặng người chiến hữu, bạn bè, đồng nghiệp của mình một năm mới đầy niềm vui, hạnh phúc và tiền tài dạt dào. Thể hiện tình cảm, tình anh em, đồng chí trong các dự án hay công việc hằng ngày.
Cả năm nhìn mãi mặt nhau
Nghỉ vài ngày Tết thấy lâu quá trời
Đồng nghiệp chúc bạn của tôi
Làm ăn phát đạt đổi đời sang năm.
Ai xui tớ cậu chung đò
Cùng nhau hợp tác lò dò tin vui
Xuân sang tài lộc sánh đôi
Chúc cho sự nghiệp tiến xuôi không ngừng.
Tết nay chúc cậu một năm an hòa
Công việc thuận lợi gần xa
Xuân sang nhiều lộc, giàu ra mỗi ngày.
Nhà cao thì lại thêm cao
Làm ăn thuận lợi thăng sao mỗi ngày
Một năm may mắn tràn đầy
Một năm sức khỏe, phúc dầy dầy hơn.
Một năm mưa thuận gió hòa
Tết chúc đồng nghiệp trẻ ra mỗi ngày
Làm ăn tiến tới, gặp may
Giàu sang, sung túc 360 ngày an vui!
Đầu năm sung túc thuận hòa
Cuối năm rủng rỉnh đồng ra đồng vào
Thành công mỗi lúc thêm cao
Bạc vàng núi núi lại cao chất chồng.
Đông qua thuận lợi bình an
Tết đến lộc đỏ, lộc vàng bén chân
Buôn Đông, bán Bắc đều thông
Mùng 1 lại có quý nhân xông nhà.
La đà đón ngọn gió xuân
Chúc người đồng nghiệp Tết đầm ấm vui
Phát tài, phát lộc, êm xuôi
Một năm rủng rỉnh cả đôi bạc vàng.
Cung chúc tân xuân nhiều may mắn
Con đường danh vọng mãi thênh thang
Lộc tài trọn vẹn đều như ý
Sung túc một năm với an nhàn.
Chúc anh/chị luôn mạnh khỏe
Cuộc sống đầy vui vẻ
Luôn thấy mình còn trẻ
Doanh số thừa có lẻ
Trong nhà có tiếng trẻ
Mừng năm mới vui vẻ
Tôi ông như ghế với bàn
Một đôi ăn khớp chẳng ai sánh bằng
Chúc ông năm mới phát tài
Giàu sang, như ý, xuôi ngoài, thuận trong.
Công danh gõ cửa ông kìa
Lộc tài thẽ thọt song thưa muốn vào
Dậy đi mở cửa xem nào
Tôi mang lời chúc chen vào xuân đây!
Cầu cho công việc êm xuôi
Ông, tôi đều được một đôi lộc tài
Chúc ông sức khỏe dẻo dai
Thăng quan phút chốc để ai cũng thèm.
Bỗng đâu chung một công ty
Bỗng đâu ta lại cùng đi một đò
Chúc cho công việc thuận hòa
Chúc cho tài lộc nở ra mỗi ngày
Nhờ có cậu ở cạnh bên
Mà tớ đã tiến được lên từng này
Năm mới chúc cậu gặp may
Gia đình thịnh vượng vui vầy sớm hôm.
Lộc xuân đã biếc trên cành
Gió xuân đã ấm trong lành sớm trưa
Chúc người mát mái xuôi đò
Bình an, vững lái cả kho bạc vàng.
Còng lưng cõng lộc, cõng tiền
Mỏi vai mà gánh tình duyên bất ngờ
Tay cầm xế xịn tít mù
Một tay lại có doanh thu ầm ầm
Chúc mừng năm mới đại đại thành công!
Chúc mừng năm mới, sang tựa phượng hoàng, phú quý vinh quang, bạc vàng đầy hũ, ngồi chơi cũng đủ, gia chủ phát tài, lộc trong lộc ngoài, sức khỏe dẻo dai, tương tai sáng láng.
Tiền đấy túi, Tim đầy tình, xăng đầu bình, gạo đầy lu, muối đầy hũ, vàng đầy tủ, sức khỏe đầy đủ, happy new year!
![]() |
![]() |
![]() |
| => Lịch ngày tốt cung cấp công cụ xem tử vi số mệnh của bạn nhanh, chuẩn xác |
Top 3 chàng giáp “thầu trọn gói” ngôi vị nam thần
Theo trực giác, hãy chọn ra một hình bạn thấy ấn tượng nhất và click vào hình để xem đáp án:
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
Maruko (theo Sina)
Thời gian: tổ chức vào ngày 15 tháng 9 âm lịch.
Địa điểm: vùng non Tản, Ba Vì, Hà Nội.
Đối tượng suy tôn: nhằm suy tôn thánh tản.
Nội dung: Lễ hội đả ngư (đánh cá) - lễ hội truyền thống của vùng non Tản được tổ chức vào ngày 15/9 hàng năm, bắt nguồn từ một truyền thuyết về lần Đức Thánh Tản kéo vó trên sông Tích. Chuyện kể rằng, có một hôm Thánh Tản giả dạng thành một lão nông đi dạo trên sông Tích, đến đoạn giữa Cầu Vang (thuộc xã Đường Lâm) và Mả Mang (thuộc phường Trung Hưng) thấy một ông già ngồi kéo vó. Lúc trời đứng bóng, ông già mở cơm nắm muối vừng rồi mời Ngài cùng ăn. Cảm kích trước tấm lòng của ông, Ngài hỏi thăm và muốn giúp ông việc kéo cá. Ông già than phiền vì từ sáng đến giờ chả được con nào. Ngài vui vẻ xin ông kéo thử một mẻ. Thật kỳ lạ, khi cầm vó kéo lên ông già thấy bao nhiêu là cá, cá lớn, cá nhỏ thi nhau quẫy đành đạch làm ông hoa cả mắt. Ông sung sướng vội vàng bắt cá vào giỏ. Hai người vừa bắt vừa đếm được 99 con. Thấy đáy vó còn duy nhất một con cá trê đang mang bụng chửa, ông già đã nghe lời Ngài thả nó về sông để làm phúc. Rồi vì mải vui vì được nhiều cá, khi ngoảnh lại ông già đã không thấy vị khách qua đường đâu. Nhớ lại phong độ đạo mạo và việc làm dị thường của người khách lạ, ông biết rằng mình vừa được gặp Thánh nhân nên vội về làng loan báo tin vui. Từ đấy hàng năm, dân trong vùng lại mở hội đánh cá trên trên sông Tích, chọn 99 con cá làm lễ vật dâng lên Thánh Tản để cảm tạ ân đức của Ngài. Lại nói chuyện con cá trê, sau khi được phóng sinh đã sinh nở đầy đàn. Nhớ ơn cứu mạng, khi sắp chết, cá trê nọ đã cố bơi về gần đền Và, ngoảnh đầu bái lạy. Nơi này về sau gọi là xóm Trê.
Lễ hội Rằm tháng Chín ở đền Và hiện chỉ có năm khu phố của phường Trung Hưng là: Vân Gia, Nghĩa Phủ, Thanh Trì, Mai Trai và Ái Mỗ tham gia. Từ ngày 14, dân các khu phố trên mang theo những dụng cụ đánh bắt cá ra sông Tích, đoạn từ cầu Vang đến Mả Mang, tổ chức đánh bắt cá tập thể để làm tiệc tế Thánh. Quy định: Đánh được cá trắng và là cá to thì nộp cho làng, còn cá đen hoặc cá nhỏ thì lấy. Lại quy định số cá làm tiệc tế thánh phải đủ 99 con; vì vậy, thời gian không kể lâu mau, khi nào đủ 99 con, cuộc đánh bắt mới dừng lại, những ai có cá trong số 99 con được chọn để tế thánh là người trong năm làm ăn sẽ gặp nhiều may mắn. Theo quan niệm dân gian đây là con số thiêng như là có 99 núi Voi quay đầu về đền Hùng, 99 núi Voi quay về Chùa Hương... Con số 99 ở hội đả ngư còn nhắc chuyện con cá trê mang bụng trứng được phóng sinh năm xưa. Nghĩa cử ấy hợp với việc bảo tồn nguồn thủy sản ngày nay. Tiệc cá để tế thánh bao gồm các món: luộc, nướng, nham, gỏi và được bày làm mười mâm, một mâm cúng ông Táo, còn chín mâm chia làm ba, bày trước ba ngai Tam vị đức thánh Tản. Một miếng lộc thánh bằng một gánh lộc trần, sau khi tế xong, mọi người lại cùng nhau vui vẻ thụ lộc. Đặc biệt, trong ngày này cỗ cúng ở đây không có muối và sau khi thụ lộc xong, có tục ăn trầu không có vôi, nên mới có câu: "Hội Đền Và trầu không vôi, xôi không muối".
Hội đả ngư là nét đẹp văn hóa truyền thống đặc trưng của vùng xứ Đoài bởi ngoài mục đích dựng lại tích Thánh Tản kéo vó, lễ hội đả ngư còn mang tính khuyến ngư cũng như giữ gìn môi trường sinh thái vùng sông Tích và như lời nhắn gửi đến các ngư dân rằng: khai thác, đánh bắt phải đi đôi với bảo tồn, phát triển để sông biển Việt Nam mãi mãi là nguồn lợi vô tận của nước nhà.
![]() |
![]() |
| ► ## gửi tới bạn đọc công cụ xem ngày theo Lịch vạn sự chuẩn xác và nhanh chóng |
![]() |
| (Ảnh chỉ mang tính chất minh họa) |
Trong kinh doanh, doanh nhân tuổi Hợi thường duy trì các mối quan hệ một cách hài hòa. Họ cũng sẵn sàng giúp đỡ bạn hàng khi gặp khó khăn. Đây cũng là những người biết trân trọng tình bạn, thích các cuộc vui, các buổi tiệc tùng náo nhiệt. Họ dễ tin vào lời nói và việc làm của người khác nên thường bị lợi dụng. Tuy vậy, họ lại thông minh hơn người, luôn bảo vệ được lợi ích của mình mà không làm mất lòng ai.
Người tuổi Hợi có thể hợp tác làm ăn tốt với người tuổi Hợi, Mão, Mùi. Họ cũng có thể bắt tay kinh doanh với người tuổi Tý, Sửu, Thìn, Ngọ, Tuất. Tuy nhiên người tuổi Tỵ, Dần, Thân lại không thích hợp để tạo quan hệ làm ăn với người tuổi Hợi.
(Theo Diễn Đàn Doanh Nghiệp)
Đường hôn nhân kỳ duyên:
Đường hôn nhân gần sát đường tứ đạo là cưới sớm trước tuổi 26.
Đường hôn nhân xa đường tứ đạo là gả cưới chận sau 35 tuổi thành gia thất.
Hai đường hôn nhân đi song song vừa thô vừa cạn không hiện sâu càng gả cưới chậm đi nhiều. Nếu có ba đường nằm ấp hàng nhau đường nằm gần tứ đạo nhất là đường kết hôn đầu.
Đường hôn nhân tàn gia.
Đường hôn nhân bị đường phá tâm chặt ngang nghĩa là bị người ta dùng bạo lực can thiệp vào cuộc hôn nhân đang tiến hành. Sau khi kết hôn sẽ tán gia bại sản. Hay gặp bất trắc.
Đường lương duyên bất loạn.
Đường hông nhân có hình như đuôi cây tên, tình đầu bẽ bàng, hoặc tiến đến hôn nhân bị dang dở, vì hoàn cảnh không hợp. Kết quả không bao giờ thành hôn được.
Đường hôn nhân có ba đường chỉ nhỏ nằm trong thế tam giác, trên đường chỉ lại có những đường nhỏ chắc ngang là tâm hồn lúc nào cũng bấn loạn, nên hôn nhân bất hòa.
Đường hôn nhân, đường liền nhỏ và ngắn lại, lai có đường chắn ngang, đường dưới dài ấy là cuộc hôn nhân đầu tiên thất bại nhưng cuối cùng vẫn kết quả mỹ mãn.
Đường lương duyên ngang trái.
Đuôi đường hôn nhân như rễ quạt là thất tình hay ngang trái. Nếu đường hôn nhân mà ngoằn ngoèo là vì tình mà tự sát hay gặp tai nạn chết chóc bất ngờ.
Cuối đường hôn nhân có một hình tròn như quả cầu vợ hay chồng sẽ gặp tai nạn bất ngờ. Nhưng nếu trên quả cầu tự nhiên có lông thì sẽ tốt đẹp vô cùng.
Dầu đường hôn nhân có quả cầu mà đường chỉ vòng xuống qua khỏi đường tứ đạo, lúc kết hôn gặp chuyện không mấy tốt đẹp.
Đường lương duyên ngoại tình
Đường hôn nhân nhỏ lại lấm chấm nhiều đường là yêu đương không chuyên nhất, sẽ đi tìm người mới luôn. Đường hôn nhân có đường lại cản đầu là sau khi kết hôn sẽ bất hòa tai hại.
Đường hông nhân cản trở.
Đường hôn nhân có hai đường nằm song song mà tách rời tứ đạo khá xa, và đường tứ đạo ngắn ngủi thô cạn và đường hôn nhân dài mà đi lên thì sẽ gặp người có nghệ thuật hay sang cả, cảm tình tốt đẹp và hạnh phúc lắm. Nếu đường lọt vào kẻ tay có nghĩa là trước tốt sau xấu.
Đường mạng đạo gặp đường phá tâm chặt ngang với lại đường tâm đạo và đường mạng đạo rời nhau thì có nghĩa là cuộc hôn nhân bị người ta phá hoại.
Đường lương duyên tan vỡ.
Đường hôn nhân đứt đoạn, đường này đè lên đường kia. Cuộc hôn nhân không thể tiến hành được, sẽ gặp nhiều trở ngại trong lúc tiến hành hôn lễ. Hay sau khi kết hôn xong sẽ đi đến ly dị nếu gặp đường lý tài ở bên trên nữa thì chắc chắn cuộc hôn nhân này không bao giờ thành tựu.
Đường lương duyên đa thê.
Đường hôn nhân có thêm hai đường rất rõ và đi song song với nhau lại thêm hai đường lý tài bên trên, người ấy được nhiều người yêu, cưới vợ hoặc gả chồng song vẫn có bé hay lẽ. Kết hôn sớm. Trên sự nghiệp, thích hợp trong giới chính trị và lý tài – và được nhiều người mến chuộng.
Đường lương duyên bất hòa.
Đường lương duyên cong queo là phu thê bất hòa, trong gia đình khó bề êm đẹp. Đường hôn nhân có mọc lông như đuôi tên tua tủa ra hai bên, vợ bị bịnh ngặt nghèo.
Đường hôn nhân ngược đầu lên thật cao là cưới hay gả nhằm nơi giàu có nếu đường chỉ thổ là cuộc hôn nhân khó thành. Nếu đường chỉ đi suốt kẽ tay kết hôn song sẽ bại sản phá
tài.
Đường lương duyên lang chạ.
Đường hôn nhân đứt đoạn mà nôi tiếp nhau đôi ba đường là gả hay cưới nhằm chỗ không đàng hoàng.
Đường hôn nhân ngoằn ngèo như hai con rắn quấn nhau, là vợ hay chồng đều có ngoại tình cả, và cũng là triệu chứng tiến hành cuộc hôn nhân khó khăn, hoặc bệnh và tai họa.
Đường hôn nhân dài, đi xuống tới lòng bàn tay là vợ hay chồng cực kỳ xung khắc nếu là nam thì có năm bảy vợ, gái thì có hai ba chồng. Nếu đường chỉ ấy đứt đoạn thì sẽ nhẹ hơn một nửa.
Đường lương duyên xung khắc.
Đường hôn nhân có kim tinh lại thêm lục tú là sẽ cưới hay gả nhằm người có kỹ thuật và nghệ thuật, đường chỉ càng rõ càng hiệu nghiệm.
Đuôi đường hông nhân có chữ thập là cưới hay gả nhằm chỗ giàu có được hưởng gia tài, nếu không chữ thập mà là đánh chéo thì sau khi kết hôn một trong hai người chết bất đắc kỳ tử.
Đường hôn nhân dài và đi xuống suốt đường mạng đạo là vợ chồng khắc và đi tới chỗ xa nhau.
Đường lương duyên ly dị.
Đường tâm đạo và mạng đạo rời xa nhau là vợ chồng ly dị nhưng nếu bàn tay của cả vợ lẫn chồng đều như thế thì trái lại chồng vợ sẽ thuận hòa, nhưng đến trung niên không khỏi tai nạn và bệnh hoạn, kết hôn trễ, lòng tự nhủ rất nặng, nếu có đường thấu văn nối liền thì nhẹ đi một nửa.
Đường lương duyên bội tình.
Đường bội tình nằm trên đường tâm đạo thì cả vợ lẫn chồng đều phản bội nhau. Nếu trên đường tứ đạo thì khi chưa thành hôn khó gặp được tình yêu chân chính, nếu nằm trên đường mạng đạo thì hãy coi chừng bạn hay người ở bất trung. Nhược bằng bị đường dạ xoa ngang thì đường bội thình không linh nghiệm.
Đường lương duyên háo sắc.
Đường hôn nhân mọc nhánh, trên nhánh lại mọc nữa là người háo sắc, vợ ngoại tình có con, huyết thống hỗn tạp nếu thấy đường dạ xoa, thất bại về tình, kết hôn rồi cũng phân ly, khó có hạnh phúc lắm, nếu nhánh rời là không linh nghiệm.
Đường lương duyên sát phu.
Đầu đường hôn nhân như cây chĩa ba là cực kỳ đa dâm, loạn luân, trai thì giết vợ, gái thì hai chồng, vì hôn nhân mà gặp nhiều điều bất hạnh nếu là độc thân, nghèo khổ hay đi tu thì giảm đi được một nửa.
Xem bói tình duyên trên lòng bàn tay chỉ mang tính chất tham khảo ,duyên phận còn phụ thuộc vào chính mỗi bản thân con người đấy, chúc các bạn luôn làm chủ được duyên số của mình!
Trong 3 yếu tố: thiên - địa - nhân thì "nhân" được coi là trung tâm, tức lấy con người làm chủ thể của vũ trụ. Phong thủy học là bộ môn dùng để tính toán, đo lường mức độ ảnh hưởng của 2 yếu tố "thiên" (đại biểu là gió), "địa" (đại biểu là đất) tác động vào con người và cách ứng xử của con người với chúng. Nói theo ngôn ngữ của thế kỷ 21, thì đó là bộ môn “hoàn cảnh học” và “môi trường học”.
|
Ngoài ra, hoàn cảnh xung quanh sẽ tác động đến tâm lý chúng ta. Khi bước chân lên cầu thang, chúng ta sẽ cảm thấy thuận chân hơn khi bước chân phải. Nếu là chân trái gây tâm lý không thoải mái (trừ một số người thuận chân trái). Từ đó sẽ tạo ảnh hưởng đến các hành vi của mỗi người. Hoặc khi mỗi ngày bước ra khỏi cửa, ngay lập tức chúng ta nhìn thấy cột điện có hình nhọn sắc, lâu dần nó tạo ra các phản ứng tâm lý tùy theo mỗi người. Có người thì sợ hãi, có người thì cáu kỉnh từ đó hành vi cũng trở nên bất thường.
Riêng về vấn đề tác động đến khí trường nhân thể, thì còn nhiều ý kiến khác nhau. Tuy nhiên, cũng khó phủ nhận vấn đề này, vì trong thực tiễn: khí công, yoga, châm cứu… đều là có thật.
Theo phong thủy học, mỗi người sinh ra đều hấp thụ và có trường khí chất. Khi cư trú vào vùng khí trường tự nhiên sẽ có sự tác động qua lại mà mắt thường nhìn thấy được. Nếu thích hợp sẽ giúp cơ thể có thêm sức khỏe, tâm lý thoải mái, đầu óc sáng suốt tạo ra nhiều của cải (vượng tài), sinh sản nuôi dạy con cái (vượng đinh). Trái lại, nó sẽ khiến chúng ta mệt mỏi, đầu óc kém thông minh, sức khỏe suy giảm nhanh chóng.
Nếu như cơ thể người được cấu tạo bởi các đường kinh mạch (gồm cả khí mạch theo Đông y và huyết mạch theo Tây y) cùng các cơ quan cơ thể như miệng, mũi, tai, tim… thì căn nhà chúng ta sinh sống cũng như vậy. Nó được cấu tạo nên bởi đường đi lối lại dẫn khí (năng lượng và không khí thở) cùng các cấu trúc chức năng khác như cửa, cửa sổ, bếp, phòng khách, phòng ngủ, khu vệ sinh. Tất cả hợp thành hệ thống hoàn chỉnh tương tác lẫn nhau.
Khi các cơ quan trong cơ thể mất cân bằng thì người sẽ mệt mỏi, bệnh tật ốm đau có thể tử vong. Tương tự, khi các bộ phận hợp thành ngôi nhà không có được kết cấu hợp lý và thuận tiện sẽ tạo ra sai lệch trong khí trường. Căn nhà đó cũng thiếu sức sống thậm chỉ bị coi là nhà chết (tử trạch).
Con người sinh sống không thể tách rời môi trường. Môi trường và con người có tác động qua lại. Phong thủy học chính là bộ môn nghiên cứu về mối quan hệ này.
(Theo Phongthuy)
|
ký ngày 27 tháng 4 năm 1990 của Bộ Văn hóa và Thông tin.Chùa tọa lạc ở số 53 đường Tôn Đức Thắng, phường 6, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng, Việt Nam.
Chùa Khléang (hay Kh’leang, Khleng) là một trong những ngôi chùa cổ nhất ở Sóc Trăng, nằm trong khuôn viên rộng khoảng 4.000m2. Chùa xây dựng từ năm 1533 lúc đầu còn làm bằng gỗ, sau mới được xây cất lại bằng gạch ngói.
Chùa tọa lạc trên một khoảnh đất rộng, không gian thông thoáng, chung quanh có nhiều cây xanh, tỏa bóng mát xuống khắp mặt sân, dưới mỗi gốc cây có đặt những băng ghế đá dùng để nghỉ chân. Ðặc biệt, trong khuôn viên chùa còn có nhiều cây thốt nốt, loại cây đặc trưng của người Khmer thích dùng ở khu vực mà họ sinh sống.
Cổng chùa được trang trí nhiều hoa văn, họa tiết, mầu sắc rực rỡ mang đậm phong cách Khmer. Chùa Khléang được xây cất rất cao so với mặt đất, với bậc tam cấp và ba vòng rào, tất cả đều bằng xi-măng và rực rỡ mầu sắc. Vòng rào ngoài lớn rồi nhỏ dần vào trong, khoảng cách giữa các vòng rào rất rộng, nền chùa chiếm diện tích rất lớn. Trước chùa có xây hai tháp hình bầu dục nằm ở hai bên, dùng để đựng xương cốt của các vị trụ trì.
Bên trong chính điện có 16 cột bằng gỗ, rất to, đen mượt, được thếp bằng vàng các hình ảnh nói về cuộc đời đức Phật, về sinh hoạt Phật pháp. Trên trần và chung quanh đều được trang trí bằng rất nhiều nét vẽ về hình ảnh của đức Phật, thể hiện được sự hòa hợp giữa kiến trúc và hội họa.
Nơi chính điện là tượng Phật cao 6,8 m, phần thân tượng cao 2,7 m được đúc vào năm 1916. Tượng được đặt ngồi trên tòa sen lộng lẫy với vầng hào quang bằng điện lúc ẩn, lúc hiện, tạo nên sự uy nghiêm thanh thoát và huyền ảo. Chung quanh tượng Phật lớn và tượng Phật nhỏ có nhiều tủ kính trưng bày các hiện vật gia dụng của cộng đồng người Khmer xưa như là một cách bảo tồn và phát huy nét sinh hoạt văn hóa cổ xưa của dân tộc mình.
Bộ mái chùa cũng được xây dựng theo thể thức tam cấp và mỗi cấp lại có 3 nếp. Nếp giữa lớn hơn nếp phụ ở hai bên và không có tháp nóc chùa. Chung quanh mái chùa được đắp phù điêu hình chim, thú cũng như những hình ảnh tượng trưng cho triết lý nhà Phật. Toàn bộ mái chùa là cả một công trình kiến trúc vĩ đại thể hiện quan niệm, triết lý về Phật, Trời của người Khmer.
Chùa thuộc hệ phái Phật giáo Nam tông Khmer khác, nơi đây cũng chỉ thờ duy nhất là Phật Thích Ca, trên tường là bức bích họa mô tả cuộc đời vị Phật ấy từ lúc sinh ra cho đến khi đắc đạo.
Hàng năm, Chùa Kh’leang còn là nơi diễn ra những nghi lễ quan trọng nhất trong những ngày lễ truyền thống của dân tộc Khmer như: lễ vào năm mới (Chol Chnam Thmay) còn gọi là lễ chịu tuổi; lễ cúng ông bà (lễ Dôn Ta); lễ cúng trăng vào ngày 15/10 âm lịch và tổ chức đua ghe Ngo. Ngoài các lễ hội truyền thống trên, chùa còn tổ chúc các lễ hội Phật giáo.
Chùa Kh’leang vừa mang giá trị lịch sử, nghệ thuật vừa một công trình kiến trúc thẩm mỹ hài hoà, cân xứng nhất. Đây là ngôi chính điện gắn liền với những tác phẩm nghệ thuật độc đáo, đa dạng mà hầu hết thể hiện nét đặc trưng trong nghệ thuật truyền thống của người Khmer. Đồng thời cũng có những nét thể hiện tính giao thoa của người Việt, Hoa.