Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,...   Click to listen highlighted text! Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,... Powered By DVMS co.,ltd
Kính mời quý khách like fanpage ủng hộ Vạn Sự !

Vạn Sự

Nghề nghiệp theo 12 con giáp giúp có tiền tài, danh vọng

Hãy chọn con giáp đại diện cho năm sinh âm lịch của bạn!
Nghề nghiệp theo 12 con giáp giúp có tiền tài, danh vọng

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

nghe-nghiep-theo-12-con-giap-giup-co-tien-tai-danh-vong
Tuổi Tý
nghe-nghiep-theo-12-con-giap-giup-co-tien-tai-danh-vong-1
Tuổi Mão
nghe-nghiep-theo-12-con-giap-giup-co-tien-tai-danh-vong-2
Tuổi Ngọ
nghe-nghiep-theo-12-con-giap-giup-co-tien-tai-danh-vong-3
Tuổi Dậu
nghe-nghiep-theo-12-con-giap-giup-co-tien-tai-danh-vong-4
Tuổi Sửu
nghe-nghiep-theo-12-con-giap-giup-co-tien-tai-danh-vong-5
Tuổi Thìn
nghe-nghiep-theo-12-con-giap-giup-co-tien-tai-danh-vong-6
Tuổi Mùi
nghe-nghiep-theo-12-con-giap-giup-co-tien-tai-danh-vong-7
Tuổi Tuất
nghe-nghiep-theo-12-con-giap-giup-co-tien-tai-danh-vong-8
Tuổi Dần
nghe-nghiep-theo-12-con-giap-giup-co-tien-tai-danh-vong-9
Tuổi Tỵ
nghe-nghiep-theo-12-con-giap-giup-co-tien-tai-danh-vong-10
Tuổi Thân
nghe-nghiep-theo-12-con-giap-giup-co-tien-tai-danh-vong-11
Tuổi Hợi
Ngoisao

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Nghề nghiệp theo 12 con giáp giúp có tiền tài, danh vọng

Những con giáp dứt khoát và tuyệt tình khi chia tay –

Rất nhiều con giáp khi xa nhau, có người mãi vương vấn không dứt, mong sau này có thể làm lại từ đầu, có người lại sở hữu trái tim sắt đá, một khi chia tay sẽ rất tuyệt tình. Vậy con giáp nào khi chia tay sẽ dứt khoát và tuyệt tình? Củ thể chúng ta h

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Rất nhiều con giáp khi xa nhau, có người mãi vương vấn không dứt, mong sau này có thể làm lại từ đầu, có người lại sở hữu trái tim sắt đá, một khi chia tay sẽ rất tuyệt tình. Vậy con giáp nào khi chia tay sẽ dứt khoát và tuyệt tình? Củ thể chúng ta hãy đọc bài viết sau nhé!

Nội dung

  • 1 Những con giáp dứt khoát và tuyệt tình khi chia tay
    • 1.1 Thứ 1. Tuổi Dậu
    • 1.2 Thứ 2. Tuổi Tỵ
    • 1.3 Thứ 3. Tuổi Dần

Những con giáp dứt khoát và tuyệt tình khi chia tay

Thứ 1. Tuổi Dậu

1-2688-1411381613

Người tuổi Dậu nhân duyên rất tốt, bên cạnh họ có nhiều bạn bè, có kỳ vọng lớn vào tình yêu. Đối với mỗi cuộc tình, nếu không phải người mà mình thích, trái tim họ sẽ lập tức rời xa đối phương và dần trở nên xa lánh. Chỉ cần họ không còn yêu ai nữa, thì họ sẽ phủ nhận mọi thứ của người ấy. Dù người ấy có cố gắng dùng mọi cách để xoay chuyển tình thế thì cũng vô ích. Bởi một khi trái tim họ đã quyết, thì không điều gì có thể thay đổi được người tuổi Dậu. Thậm chí, dù sau khi chia tay không tìm được một nửa thực sự của mình, họ vẫn không bao giờ có ý định quay trở lại với người cũ. Nên nếu nửa kia của bạn là tuổi Dậu thì bạn phải đối xử với họ thật tốt. Bất cứ lúc nào bạn cũng nên làm cho họ vui cười, nếu không cứ yêu trong mờ nhạt sẽ khiến cho họ dễ rời xa bạn.

Thứ 2. Tuổi Tỵ

2-8658-1411381613

Người tuổi Tỵ rất bình tĩnh và lý trí, cư xử trong chuyện tình cảm đều xuất phát từ trái tim. Nếu trong thời gian yêu nhau, phát hiện lý tưởng của hai bên cách xa nhau quá, họ sẽ không suy nghĩ mà lập tức đưa ra lời chia tay. Số họ rất đào hoa, nhưng tuyệt tối không vì thế mà sống buông thả. Họ biết điều gì nên làm, điều gì không nên, biết bản thân mình thực sự muốn gì. Cho nên một khi chia tay, họ sẽ không hề do dự. Bạn chỉ có thể “ngoan ngoãn” chấp nhận và không có cơ hội để níu giữ tình cảm đó.

Thứ 3. Tuổi Dần

Dan-5550-1411775709

Người tuổi Dần được xem là người chia tay phũ phàng và vô tình, sau khi chia tay họ tuyệt đối không vương vấn tình cũ. Họ thấy đã chia tay rồi thì hai bên không cần phải vướng víu nữa, thậm chí không nên làm bạn hay có bất cứ mối liên hệ nào nữa.

Họ là người rất thẳng thắn, cho dù họ có bị đối phương “đá”, họ cũng vui lòng chấp nhận mà không chút quấy rầy, níu kéo. Đối phương đã không yêu nữa thì hà tất phải níu kéo để làm gì? Chỉ khiến cho bản thân trở nên không còn chút giá trị gì nữa. Đối với chuyện tình cảm họ thực sự rất lý trí.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những con giáp dứt khoát và tuyệt tình khi chia tay –

5 lời phán khủng khiếp của nhà tiên tri Vanga khiến thế giới sợ hãi

Nhà tiên tri lừng danh Vanga sinh ngày 31/1/1911, mất ngày 11/8/1996. Bà sống ẩn dật cả đời mình ở vùng làng quê hẻo lánh Kozhuth thuộc Petrich, Bungary. Năm lên 12 tuổi, bà Vanga mất đi thị lực sau khi bị cuốn bởi một cơn lốc lớn. Người ta tìm thấy cô gái nhỏ vẫn còn thoi thóp hơi thở nằm vùi lấp giữa bụi và đá, hai hốc mắt chứa đầy cát.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Vanga làm bạn với bóng tối từ đó và đưa ra lời tiên tri đầu tiên vào năm bà 16 tuổi để tìm lại bầy cừu bị mất trộm bằng cách mô tả chính xác về cái sân nơi bọn trộm cất giấu đàn gia súc.   Không có nhiều người tin vào tiên đoán của những nhà tiên tri. Tuy nhiên, người ta không thể làm ngơ khi những tiên đoán đó thành hiện thực tới 70%. Trong đó, có 5 tiên đoán nổi tiếng gắn liền với tên tuổi của bà.   1. Tàu ngầm Krusk   Đúng 20 năm trước khi thảm kịch xảy ra, vào năm 1980, Vanga đã tiên tri rằng: "Cuối thế kỷ này, vào tháng 8/1999 hoặc 2000, Kursk sẽ chìm dưới nước, và cả thế giới sẽ than khóc vì nó." Ngày đó, không một ai quan tâm đến lời tiên tri buồn cười này. Nhưng rồi người ta mới biết rằng Kursk bà nói không phải là về thành phố mang tên Kursk. Con tàu ngầm nguyên tử của Nga được đặt tên theo thành phố này đã gặp sự cố  khủng khiếp và mãi mãi chìm dưới đáy đại dương. Cả thế giới đều luyến tiếc và rơi lệ cho những nạn nhân mắc kẹt trong tai nạn này.   2. Sự bùng nổ của chiến tranh   Nhà tiên tri dự đoán trong năm 2008, sẽ diễn ra nhiều cuộc xung đột trong tiểu lục địa Ấn Độ (gồm Ấn Độ, Afghanistan, Pakistan, Trung Quốc, Tây Tạng), trong thế giới của những người Hindu. Sau đó cuộc mưu sát 4 nhà lãnh đạo chính phủ cố gắng vào bốn người đứng đầu chính phủ sẽ trở thành một trong những nguyên nhân bùng nổ Thế chiến III vào năm 2010.   3. Tiên đoán về vụ khủng bố tháp đôi ngày 11/9/2001   Lời tiên đoán năm 1989: “Đáng sợ! Đáng sợ! Những anh em sinh đôi của Mỹ sẽ ngã xuống sau khi bị những con chim sắt tấn công. Những con sói sẽ gầm rú trong lùm cây và máu của những người vô tội sẽ chảy”  dường như đã được ứng nghiệm với sự kiện tòa tháp đôi của Trung tâm Thương mại Thế giới (New York) đổ sập bởi vụ tấn công khủng bố ngày 11/9/2001.   Tháp đôi cũng có nghĩa khác là “sinh đôi” (Twins) hay còn gọi là anh em. Những kẻ khủng bố đã khống chế toàn bộ hành khách trên máy bay - “những con chim sắt” - và lao vào tòa tháp. Lùm cây trong tiếng Anh có nghĩa là “bush” nên ở đây có thể cũng ám chỉ đến tên của vị Tổng thống đương nhiệm của G. Bush.   4. Sự hồi sinh của nước Nga   Năm 1988 khi tiên tri về nước Nga, bà Vanga vẽ một vòng tròn lớn trong lòng bàn tay và nói: "Nga sẽ một lần nữa trở thành đế chế vĩ đại, chỗ dựa tinh thần cho toàn thế giới. Tuy nhiên phải đợi rất lâu khi con số 8 xuất hiện và có những ký kết về Trái Đất." Và trên thực tế, nếu nước Nga trở thàn cường quốc lớn mạnh và tham gia nhóm G7 để biến nó thành G8 thì họ sẽ có tác động tới tiến trình chiến tranh và hòa bình thế giới.   5 Đại dịch Ebola năm 2014   Nhà tiên tri Vanga đã dự đoán năm 2014,phần lớn loài người sẽ bị mắc chứng bệnh mưng mủ, ung thư da và các loại bệnh khác về da do hậu quả cuộc chiến tranh hóa học.   Và 2015 mặc dù không có cuộc chiến hóa học xảy ra nhưng đại dịch Ebola khiến thế giới kinh hãi.     Các lời tiên đoán về nhân loại trong hàng ngàn năm sau của nhà tiên tri Vanga     Năm 2016 - Châu Âu gần như không có người sinh sống.   Năm 2018 - Trung Quốc sẽ trở thành cường quốc thế giới mới. Những nước phát triển sẽ trở thành kẻ bóc lột các nước khác từ việc khai thác các nguồn tài nguyên khoáng sản.   Năm 2023 - Quỹ đạo Trái đất thay đổi.    Năm 2025 - Xuất hiện một bộ phận nhỏ người di cư đến Châu Âu.   Năm 2028 - Loài người sẽ tạo ra một nguồn năng lượng mới, kiểm soát được các phản ứng nhiệt hạch và nạn đói dần dần được khắc phục. Cũng trong thời gian này, con tàu vũ trụ có người lái lần đầu tiên sẽ đổ bộ lên sao Kim.   Năm 2033 - Băng ở các vùng cực sẽ tan chảy. Mực nước ở Thái Bình Dương sẽ dâng cao.     Năm 2043 - Nền Kinh tế thế giới phát triển rất phồn thịnh. Người Hồi giáo sẽ cai trị toàn bộ lãnh thổ Châu Âu.   Năm 2046 - Bất kỳ cơ quan nào trong cơ thể người điều có thể được tiến hành cấy ghép. Việc thay thế các cơ quan trong cơ thể sẽ trở thành một trong những phương pháp chữa bệnh hữu hiệu nhất.   Năm 2066 - Trong lúc tấn công thành Roma của người hồi giáo, Mỹ sẽ lợi dụng một loại hình vũ khí mới - vũ khí thời tiết. Trong thời gian này, trời trở lạnh đột ngột.   Năm 2076 - Xã hội không giai cấp hay còn gọi là Chủ nghĩa Cộng sản hình thành.   Năm 2084 - Loài người Sẽ khôi phục lại thiên nhiên.   Năm 2088 - Xuất hiện một căn bệnh lạ “lão hóa chỉ trong vài giây"     Năm 2097 - Căn bệnh lão hóa khủng khiếp này sẽ lan tràn trên toàn cầu.       Năm 2100 - Loài người sẽ tạo ra những mặt trời nhân tạo chiếu sáng phần tối của quả đất.   Năm 2111 - Con người sẽ trở nên kiệt sức.   Năm 2123 - sẽ xảy ra các cuộc chiến tranh giữa những nước nhỏ.   Năm 2125 - Tại Hung-ga-ri, người ta sẽ nhận được những tín hiệu lạ từ vũ trụ. Cùng thời gian này, loài người lại một lần nữa tưởng nhớ về nữ tiên tri Vanga.   Năm 2130 - Nhiều vùng đất sẽ bị ngập trong nước.   Năm 2164 - Con người sẽ biến thành một loài động vật kinh dị (nửa người, nửa thú)   Năm 2167 - Xuất hiện tôn giáo mới.   Năm 2170 - Xảy ra một đợt hạn hán kéo dài trên Trái đất.     Năm 2187 - Hai miệng núi lửa lớn nhất thế giới sẽ ngừng quá trình phun trào nham thạch.   Năm 2195 - Những quốc gia dọc bờ biển sẽ trở nên khá giả cả về năng lượng lẫn lương thực.    Năm 2196 - Người Châu Á và Châu Âu sẽ sinh sống trà trộn nhau   Xem thêm Lời nói đùa định mệnh của hành khách MH17 Một hành khách người Hà Lan đã đăng hình ảnh về MH17 trước khi máy bay cất cánh kèm theo câu nói đùa mà nay trở thành định mệnh. Năm 2201 - Quá trình phản ứng nhiệt hạch trên Mặt trời sẽ chấm dứt và bắt đầu thời kỳ nguội lạnh.   Năm 2221 - Trong quá trình tìm kiếm sự sống ngoài Trái đất, loài người sẽ có cuộc chạm trán rùng rợn.   Năm 2256 - Tàu vũ trụ mang một căn bệnh khủng khiếp về Trái đất.   Năm 2262 - Quỹ đạo của các hành tinh dần bị thay đổi. Cũng thời gian này, sao Chổi sẽ đe dọa đến sự sống còn của sao Hỏa.   Năm 2271 - Các hằng số vật lý lại một lần nữa bị thay đổi.    Năm 2273 - Xảy ra sự xáo trộn giữa các chủng tộc da màu: da vàng, da trắng và da đen. Tiếp đó sẽ xuất hiện các chủng tộc mới.    Năm 2279 - Loài người sẽ lấy năng lượng từ khoảng chân không hoặc từ những lỗ đen.     Năm 2288 - Xuất hiện những cuộc va chạm với người ngoài hành tinh.   Năm 2291 - Mặt trời trở nên nguội lạnh và sau đó lại bùng cháy trở lại.    Năm 2296 - Mặt trời hoạt động mạnh hơn, lực hút vũ trụ bị thay đổi làm cho các trạm vũ trụ và vệ tinh rơi vào tình trạng hỗn loạn, mất phương hướng.   Năm 2299 - Tại Pháp xuất hiện một Đảng mới chống lại người theo Đạo hồi.   Năm 2302 - Phát hiện quy luật và bí mật mới của vũ trụ.   Năm 2304 - Khám phá bí mật Mặt trăng   Năm 2341 - Xuất hiện một thiên thể vô cùng nguy hiểm tiến gần Trái đất.   Năm 2354 - Một trong những mặt trời nhân tạo bị hỏng, kết quả dẫn tới đợt hạn hán kéo dài.   Năm 2371 - Xảy ra nạn đói lớn.   Năm 2378 - Các bộ tộc mới nhanh chóng được hình thành.   Năm 2480 - Hai mặt trời nhân tạo va vào nhau, Trái đất bị rơi vào tình trạng hỗn loạn.   Năm 3005 - Xuất hiện các “cuộc chiến” mới trên sao Hỏa, quỹ đạo của các hành tinh bị rối loạn.   Năm 3010 - Sao chổi sẽ va vào Mặt trăng, quanh Trái đất lúc này xuất hiện một vành đai toàn đá và bụi.   Năm 3797 - Đây là thời kỳ kết thúc sự sống trên Trái đất. Thời gian này cũng là cơ sở để loài người bắt đầu cuộc sống mới trên một “hệ Mặt trời” khác. Cuối cùng cũng kết thúc.   Nguồn Ngày Nay




Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: 5 lời phán khủng khiếp của nhà tiên tri Vanga khiến thế giới sợ hãi

Vận mệnh người tuổi Đinh Dậu theo Lục Thập Hoa Giáp

Lục Thập Hoa Giáp của Đinh Dậu cho biết đây là người có tính cách năng động, xử lý linh hoạt, diện mạo thanh tú, bản tính đôn hậu, cẩn thận làm việc, biết giữ
Vận mệnh người tuổi Đinh Dậu theo Lục Thập Hoa Giáp

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

lời hứa, có chí khí cao. 


Giai ma van menh nguoi tuoi Dinh Dau theo Luc Thap Hoa Giap hinh anh
 
Sơn hạ Hỏa là lửa rực rỡ trong cây cỏ, ánh sáng nơi rừng lạnh. Nếu sinh vào mùa thu là được quý cách, có thể làm quan lớn. Mệnh này là Hỏa ưa Thủy, như gặp Địa chi Hợi, Tý hoặc nạp âm Thủy. Nếu ở vào các tháng Thân, Dậu được gọi là Trúc Hỏa chiếu Thủy cách.
 
Lục Thập Hoa Giáp của Đinh Dậu là Hỏa thế mạnh, cần có Mộc tương trợ, khiến cho bản khí được sinh sôi. Ngoài thì nhu hòa mà bên trong lại cứng cỏi. Nếu hợp cách thưòng có đức hạnh tự nhiên của người quân tử.
 
Hỏa này thường thích gặp Thủy, có Mộc tương trợ càng khiến cho độ sáng được tăng lên, như Mậu Thìn, Kỷ Tỵ Đại lâm Mộc; Quý Sửu Tang đố Mộc; Canh Dần, Tân Mão Tùng bách Mộc; Mậu Tuất, Kỷ Hợi Bình địa Mộc, chủ về một đời vinh hoa. Nhưng không nên có quá nhiều Mộc, khiến cho khí tản mát, trở thành không tốt, yểu thọ.
 
Mệnh này ưa gặp Giáp Thân Tịnh tuyền Thủy, Bính Tý, Đinh Sửu Giản hạ Thủy, có Mộc tương trợ chủ về giàu sang vô cùng.
 
Không nên gặp Nhâm Tuất, Quý Hợi Đại hải Thủy. Gặp được Giáp Dần Đại khê Thủy là tốt nhất. Nếu gặp Ất Mão Đại khê Thủy có gió lại không được quý cách.
 
Lục Thập Hoa Giáp của Đinh Dậu: Mệnh này không nên gặp Bính Ngọ, Đinh Mùi Thiên hà Thủy, là tụ mưa.
 
Hỏa này kỵ Mậu Ngọ, Kỷ Mùi Thiên thượng Hỏa; Mậu Tý, Kỷ Sửu Tích lịch Hỏa, chủ đoản thọ.
 
Đinh lộc tại Ngọ. Nếu Địa chi khác có Ngọ chủ về giàu có.
 
Địa chi khác không nên có Dậu. Dậu Dậu tự hình, chủ về làm việc thường không có đầu cuối, ít có duyên với cuộc sống gia đình.
 
Dậu mã tại Hợi. Các Địa chi khác không nên gặp Tỵ, Hợi, chủ về mã phạm hình, không nên kinh doanh, có thể mất ở nơi đất khách quê người.
 
Đinh Dậu Không vong tại Thìn, Tỵ. Địa chi khác không nên có Thìn, Tỵ.
 
Nhật trụ có Dần, phạm Phá trạch sát.
 
Địa chi khác có Tuất, là người hiểm ác, không bao dung với người khác.
 
Người sinh năm Đinh Dậu nên nói ít làm nhiều.
 
Vào các năm Dậu, Mão, trong nhà thường không yên ổn. Tuy bản thân không gặp thương tổn nhưng có thể phương hại tới người khác.
 
Đinh Dậu chọn bạn đời không nên lấy người sinh năm Nhâm, Quý. Nên tìm người sinh năm Canh, Tân.
► ## giúp bạn tra cứu lá số tử vi và luận giải số mệnh bản thân chuẩn xác

Theo Tử vi toàn tập

 

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Vận mệnh người tuổi Đinh Dậu theo Lục Thập Hoa Giáp

Sự tích Đức Quan Thế Âm Bồ Tát

Quán Âm Bồ Tát hay còn được gọi bằng những danh hiệu như: Quan Âm Phật, Quan Âm Như Lai, Quan Thế Âm, Quan Âm Nam Hải, Phổ Đà Phật Tổ

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Quán Thế Âm Bồ Tát là danh hiệu của một vị Phật đáng lẽ đã chứng quả Phật, nhưng còn nguyện lẫn lộn ở cõi ta bà để cứu độ chúng sinh. Người ta cũng gọi Ngài là Quan Âm Phật, Quan Âm Bồ Tát, Quan Âm Như Lai, Quan Thế Âm, Quan Âm Nam Hải, Phổ Đà Phật Tổ, v.v...

 Quyền pháp năng lực của Ngài cao siêu.

 Quyển kinh nói về Ngài, mà hiện nay phái Bắc Tôn (Trung Hoa, Cao Ly, Nhật Bổn, Việt Nam) còn truyền tụng là quyển “Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Quan Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm”. Theo lời kinh Phổ Môn bất cứ là hạng nào trong chúng sanh, bất cứ là ở vào tình cảnh nào, lúc nào, hễ cầu đến Ngài, niệm danh hiệu Ngài thì đặng cứu ngay. Ngài dùng huyền diệu cứu vớt chúng sanh không biết muôn ức nào mà kể. 

Nếu cầu Ngài với danh hiệu thuộc về một phân thân nào của Ngài thì Ngài xuất hiện y theo phân thân ấy để cứu độ. Kinh Phổ môn có biên rành 12 điều đại nguyện của Ngài.

 Theo kinh truyện để lại, Ngài phân thân giáng trần 33 kiếp, khi thì mượn xác nam nhi, khi thì làm thiếu nữ, khi thì ở vào cảnh quyền quý cao sang, khi thì vào hàng bần cùng cơ khổ, khi thì sanh làm đạo sĩ, khi thì làm tỳ khưu, v.v...

 Hiện nay đời còn truyền tụng hai kiếp giáng trần làm phụ nhơn của Ngài là: kiếp thứ mười làm bà Thị Kính, kiếp chót làm bà Diệu Thiện. Sau khi thoát kiếp chót này Ngài được chứng quả Phật Tổ tại Phổ Đà Sơn (Nam Hải).

Truyện 1: Quan Âm Thị Kính

Trước kia Đức Quan Âm Bồ Tát tu đã đặng tám kiếp rồi. Qua tới kiếp thứ chín Ngài phân thân nam nhi đi tu chứng bực tỳ khưu. Khi kiếp thứ chín của Ngài gần mãn thì Đức Thích Ca giáng xuống thử lòng. Đấng Thế Tôn hiện ra một người con gái tới lần khân ép nài vị tỳ khưu kia kết duyên với mình. Vị này mới thốt rằng: “Có chăng họa may là kiếp sau, chớ kiếp này vì lời thề nguyện tu trì thì không thể nào đặng”. Vì lời hứa ấy mà sau khi mãn kiếp thứ chín rồi vị tỳ khưu kia phải giáng trần đầu thai làm thiếu nữ, suốt đời phải chịu trăm điều cay đắng về vấn đề tình duyên để thử lòng Ngài coi ra sao.

 Vâng lệnh của Đức Phật Tổ chơn linh vị Bồ Tát kia bèn giáng trần đầu thai làm con gái nhà họ Sùng là Sùng Ông, một nhà giàu có ở xứ Cao Ly lại là nhà từ tâm chưởng đức. Hai ông bà tuổi đã cao mà không con nên đi cầu tự và sanh ra nàng Thị Kính, dung nghi đẹp đẽ, tướng mạo đoan trang. Hai ông bà mừng được chút gái để có người hôm sớm trong lúc tuổi già. Khi nàng đã đúng tuần cập kê thì gần đó có chàng Thiện Sĩ, con nhà quyền quý trâm anh cậy mai đến nói. Vợ chồng Sùng Ông thấy phải đôi vừa lứa bèn chịu gả con gái mình.

 Đến ngày nạp thái vu quy nàng Thị Kính buồn tủi muôn phần! Buồn là vì thấy mình là con một, một khi đã xuất giá rồi thì bề nhà sau trước quạnh hiu, lấy ai mà thần tỉnh mộ khang thế cho mình! Tủi là lỡ sanh làm con gái thì đúng tuổi phải xuất giá tòng phu rủi may phải chịu và ơn sanh thành không sao trả đặng! Cha mẹ nghe nàng than thở làm vậy bèn kiếm lời khuyên giải và nói rằng: "Cha mẹ sanh con là gái, thì khôn lớn có nơi có chốn làm đẹp mặt nở mày mẹ cha đó là đủ rồi". Con chẳng nên lo điều chi khác nữa! Vả lại nhà bên chồng con cũng gần đây thì sự thăm viếng cũng thuận tiện. Nghe vậy nàng mới an lòng chiều ý muốn của cha mẹ. Từ khi về nhà chồng, nàng giữ một mực tôn kính, phụng sự nhà chồng, trong êm ngoài ấm, ai nấy đều khen.

 Một ngày kia nàng đương ngồi may, chàng Thiện Sĩ sau khi đọc sách mỏi mệt mới ra gần chổ nàng may mà nằm nghỉ, luôn dịp ngủ quên. Từ khi về nhà chồng đến giờ nàng chưa có dịp nhìn chàng cho chính đính. Nay có cơ hội đưa đến nàng, nhơn lúc chàng ngon giấc mà nhìn kỹ mặt đức lang quân. Chợt thấy dưới cầm chàng có mọc một sợi râu và biết coi tướng ít nhiều, nàng thấy quả là sợi râu bất lợi! Nhơn cầm sẵn cái kéo trong tay nàng mới đưa kéo ra cắt lấy. Đương lúc ấy, chàng Thiện Sĩ giựt mình thức dậy, thấy vợ cầm kéo đưa ngay cổ mình, vụt la hoảng lên rằng: “Vợ tôi muốn giết tôi.” Trong nhà vỡ lở, cha mẹ gia tướng chạy đến gạn hỏi. Nàng tình thật cứ nói ngay, không ngờ cha mẹ chồng quá ư nghiêm khắc bắt tội nàng có ngoại tình và mưu giết chồng. Nhơn cớ ấy cha mẹ chồng buộc chàng Thiện Sĩ làm tờ để vợ và mời vợ chồng Sùng Ông đến lãnh con về. Vợ chồng Sùng Ông hơ hãi tới nơi mới tường tự sự. Hai ông bà kêu con ra hỏi, rầy la than trách một hồi rồi lãnh con về.

 Lúc ấy Thiện Sĩ lòng như dao cắt, tưởng là việc đáng bỏ qua không dè đến nỗi rẽ thúy chia loan thì chàng ăn năn vô ngần, châu rơi lã chã. Khi nàng Thị Kính lạy từ công cô và chàng ra về, vì sợ uy cha mẹ chàng chẳng dám hở môi nói bào chữa nàng một lời nào.

 Về nhà, nàng Thị Kính buồn bã muôn phần. Một là buồn cho số phận long đong, tình duyên trắc trở; hai là buồn cho cha mẹ phải mang điều phiền não trong lòng.

 Vì nàng là một người đàn bà chân chính may rủi một chồng mà thôi, nàng khăng khăng không chịu “ôm cầm thuyền ai”. Nàng than rằng nếu có anh em đông thì nàng cũng đành nhắm mắt cho rồi để khỏi mang tiếng nhơ. Nhưng vì nàng là con một, nàng không nỡ hủy mình, sợ e thất hiếu, mà ở như vậy thật rất khổ tâm cho nên nàng quyết chí xuất gia, noi gương Phật Tổ, tu hành cho đắc đạo rồi trở về độ lại mẹ cha.

 Một hôm, nàng lén cải trang nam tử, rồi bỏ nhà trốn đi. Hay tin cha mẹ nghi nàng vì buồn tình xưa mà sanh nhẹ dạ theo người và sai người đi kiếm cùng nơi mà không gặp.

 Từ khi nàng lìa gia đình ra đi thì nàng có ý tìm một cảnh chùa để gởi thân. Đến ngôi chùa được chọn nàng gặp giờ sư cụ đang thuyết pháp. Nàng trộm xem tướng mạo thì thấy rõ đó là một bậc chơn tu, đạo pháp khá lớn. Nàng bèn xin thọ pháp quy y. Sư cụ ban đầu rất nghi ngờ nàng, bèn ngọn hỏi ngành tra vì sợ e trang thiếu niên kia sau này bán đồ nhi phế mà đắc tội với Phật Trời. Nàng thì một mực nói mình là một thư sanh, con nhà quyền quý, lòng chán công danh nên vào nương nhờ cửa Phật để gột rửa lòng phàm.

quan thế âm bồ tát

 Thấy chí quả quyết của vị thiếu niên, sư ông mới vui nhận cho làm đệ tử và ban pháp danh là Kính Tâm.

 Vì sãi Kính Tâm là nữ trá hình cho nên dung mạo khôi ngô kiều mị, làm cho hàng tín nữ trầm trồ, nhất là nàng Thị Mầu, con của một vị phú ông trưởng giả vùng ấy. Mượn cớ ra vô trong chùa, nàng Thị Mầu lắm khi đưa tình trêu ghẹo sãi Kính Tâm, nhưng nàng vẫn trơ trơ như không hay không biết. Thất vọng, Thị Mầu mới quay lại tư tình với đứa ở của nàng. Khi thai đã gần già, khí sắc nàng đổi, làng xã thấy thế mới đòi phú ông và nàng ra hỏi.

 Chịu đòn không kham, Thị Mầu túng phải cung xưng. Trong khẩu cung Thị Mầu quả quyết rằng mình có tư tình với sãi Kính Tâm nên mới ra cớ đỗi và xin làng rộng lượng cho sãi Kính Tâm hoàn tục kết duyên với mình.

 Trống mõ inh ỏi, cửa thiền xưa nay êm lặng phút chốc trở nên huyên náo, sóng dậy ba đào. Người nhà làng đến chùa đòi sư ông và sãi Kính Tâm ra nghe dạy việc.

 Thầy trò cùng dắt nhau đi. Đến nơi mới hay tự sự! Tá hỏa tâm thần, thầy hỏi trò có sao nói thiệt. Trò một mực kêu oan chớ không nói điều chi thêm nữa. Hương đảng đông đủ tra hỏi sãi nhỏ đủ điều, khi dọa, khi khuyên nhủ rằng: Nếu nói thật thì làng cũng chứng cho để lập gia thất. Kẻ thì mai mỉa: Sãi kia tu có trót đời không? Rốt cuộc vì không chịu xưng tội tình và một mực kêu oan cho nên sãi Kính Tâm phải bị đem ra tra tấn.

 Đứng trước cảnh thịt nát máu rơi và thấy trò bất tỉnh, sư ông mới động mối từ tâm đứng ra xin bảo lãnh cho trò để sau này về nhà khuyên nhủ dạy răn.

 Thấy thế hương đảng cũng niệm tình ưng thuận cho sư tiểu cùng về. Đến chùa, Sư ông dạy tiểu ra ở ngoài tam quan để tránh tiếng không tốt cho chùa.

 Thời gian qua, Thị Mầu đến ngày mãn nguyệt khai hoa, hạ sanh đặng một mụn con trai. Nàng bèn bồng hài nhi đến cửa tam quan bỏ đó rồi về, nói rằng: “Con của ngươi, đem trả cho ngươi.” Sãi Kính Tâm đương tụng kinh nghe đứa nhỏ bị bỏ dưới đất giãy giụa khóc la, động mối từ tâm người bèn ra ẵm đứa bé vào, mướn vú nuôi bên tự. Mẹ vò nuôi con nhện lắt lẻo qua ngày.

 Hết thời trì kinh thì sãi Kính Tâm lại phải giữ gìn bồng bế đứa trẻ. Nghe vậy, sư cụ mới vời sãi Kính Tâm vào mà trách rằng: “Trước kia con nói rằng con bị hàm oan, mà nay như thế thì chính thầy đây cũng phải nghi ngờ nữa là ai?”

 Sãi Kính Tâm bèn bạch rằng: “Bạch sư phụ, khi xưa sư phụ có dạy đệ tử  rằng cứu đặng một người, phước đức hà sa. Đệ tử vâng lời thầy mới cứu mạng đứa trẻ này, chớ kỳ trung con không có ý chi hết.”

 Tuy vậy sãi Kính Tâm cũng không đặng phép vô ra trong chùa để tránh tiếng cho chùa.

 Đứa trẻ khi đặng hai, ba tuổi đã có vẻ thông minh và giống sãi Kính Tâm như hệt. Khi hài nhi đúng ba tuổi thì sãi Kính Tâm đến ngày phải theo Phật. Biết trước giờ phân ly, sãi Kính Tâm mới viết hai bức thơ gởi lại, một kính gởi cho sư cụ, còn một bức thì gởi cho cha mẹ ruột. Khi sãi Kính Tâm tắt hơi thì đứa nhỏ y như lời cha dặn đem bức thơ vào dâng cho sư cụ.

 Xem thơ xong, sư ông rất ngậm ngùi, bèn phái vài vị ni cô ra coi tẩm liệm. Khám xét xong thì mới hay sãi Kính Tâm là nhi nữ trá hình.

 Tin ấy truyền ra hương lân nhóm lại đòi cha con Thị Mầu đến buộc tội cáo gian và phạt phải chịu tổn phí về các cuộc tống táng và làm ma chay cho sãi Kính Tâm. Bằng chứng sờ sờ phú ông phải chịu, Thị Mầu xấu hổ muôn phần bèn quyên sinh để trốn khổ nhục.

Đến ngày an táng sãi Kính Tâm thì thiên hạ đồng thấy Phật hiện trên mây rước hồn sãi Kính Tâm là nàng Thị Kính. Hai vợ chồng Sùng Ông và Thiện Sĩ đặng thơ và hay tin đau đớn này đồng có đến dự. Sau cuộc tống táng vợ xưa Thiện Sĩ ăn năn lỗi trước bèn phát nguyện tu hành.

 Tục truyền rằng Thiện Sĩ sau đắc quả thành con chim ngậm xâu chuỗi bồ đề, đậu một bên Đức Phật Quan Âm, Đức Phật Quan Âm cũng độ luôn con của Thị Mầu đắc quả hầu gần bên Ngài.

Ngày nay, người xứ ta và người Tàu khi họa tượng Phật Quan Âm thì thường họa một bà đội mũ ni xanh hoặc đen, ngồi trên tòa sen hoặc thạch bàn, bên tay mặt có một con chim mỏ ngậm xâu chuỗi bồ đề, dưới có đứa trẻ bận khôi giáp chắp tay hầu. Ấy là con của Thị Mầu.

Truyện 2: Quan Âm Nam Hải

 Theo sự khảo cứu của nhà bác học Hòa Lan tên là De Groot thì trong kiếp chót của Đức Phật Quan Âm, Ngài hạ phàm làm một vị công chúa Ấn Độ, con vua Linh Ưu, niên hiệu Diệu Trang.

 Vào năm 2587 trước Chúa giáng sanh thuộc vào thời đại kim thiên (ciel d’or) bên Ấn Độ bên phương Tây có một tiểu quốc kêu là Hưng Lâm. Nhà vua trị vì nước ấy tên Linh Ưu (Spirituel Excellent) lấy niên hiệu là Diệu Trang (Miao Tchoang). Tứ vi xứ Hưng Lâm là như vầy: Phía Tây giáp ranh Thiên Trúc Quốc (Inde), Phía Bắc giáp ranh Xiêm La, phía Đông giáp ranh Phật Chai Quốc (Sumatra), phía Nam giáp ranh Thiên Chơn Quốc (Tiên Tchan). Trong nước Hưng Lâm cảnh tượng thái hòa là nhờ có vua hiền, tôi giỏi, bá tánh chuyên lo cày cấy, nông trang.

 Chánh thê của nhà vua là bà hoàng hậu Bửu Đức. Từ ngày nhà vua tức vị đến nay đã 40 năm rồi mà bà hoàng hậu chưa hạ sanh đặng vị hoàng tử nào. Thấy thế bà lấy làm buồn và xin nhà vua đi cùng bà lên núi Huê Sơn cầu tự. Núi Huê Sơn ở về hướng Tây. Trên núi ấy có một vị thần rất linh thiêng. Ai cầu chi thì đặng nấy. Vua nghe theo, một ngày kia quân gia rần rộ, xa giá nhắm Huê Sơn trực chỉ. Cầu tự xong về triều thì một ít lâu bà có thai và đến ngày sanh đặng một vị công chúa đặt tên là Diệu Thanh (Miao Tsing). Cách một ít lâu hoàng hậu lại hạ sanh một nàng công chúa tên là Diệu Âm (Miao Yin) và sau rốt sanh ra nàng công chúa Diệu Thiện (Miao Chen). Vị công chúa thứ ba này ngày sau tu hành đắc đạo lấy hiệu là Quan Âm (Quan Yin).

 Vì nhà vua không có con trai nên vua nhứt định truyền ngai vàng lại cho một trong ba vị phò mã (rể vua). Hai công chúa đầu là Diệu Thanh và Diệu Âm thì nhà vua đã đính hôn cho hai vị quan to thinh danh nhứt trong triều. Trái lại nàng công chúa thứ ba là Diệu Thiện thì cương quyết không chịu lấy chồng và nhứt định phế trần đi tu để thành chánh quả. Nghe con quyết định như thế nhà vua nổi cơn thịnh nộ và buộc nàng Diệu Thiện phải tuân lịnh xuất giá. Thấy thế nàng mới xin vua cha nếu ý định nhà vua như vậy thì ít nữa xin cho nàng kết hôn với một thầy thuốc và thưa rằng: “Ý con là muốn cứu chữa hàng quan lại bất tài và ngu xuẩn, những tai nạn do sự nắng lửa mưa dầu, tuyết giá mà ra, những tính xấu xa ích kỷ về nhục dục, các tật nguyền, bịnh hoạn do sự già nua cằn cỗi mà ra, sự phân chia giai cấp, sự khinh rẻ kẻ nghèo và sự tư lợi”.

Nàng lại nói to lên rằng: “Chỉ có Đức Phật là được chứng quả bồ đề, minh tâm kiến tánh”. Nghe vậy nhà Vua lại càng tức giận thêm bèn hạ lệnh lột hết áo quần của công chúa và nhốt nàng vào huê viên để bị đói lạnh mà chết. Công chúa không sờn lòng. Trái lại nàng cảm ơn vua cha đã phạt nàng như thế và chỉ vui tươi mà chịu khổ hình. Các bà mệnh phụ được lệnh ra khuyến dụ nàng hồi tâm tuân ý thánh chỉ. Nàng khư khư một mực và nhứt định vào chùa Bạch Tước ẩn tu, nhập thất tham thiền. Chùa Bạch Tước thuộc quận Long Thọ (Loung Chou), tỉnh Nhữ Châu (Ju Tcheou). Hay tin ấy nhà vua không cấm cản chi, đinh ninh rằng ra nơi ấy một ít lâu công chúa chịu không nổi với những nỗi khổ cực, sẽ chán nản mà về triều.

 Nơi Bạch Tước Tự có mật lệnh của nhà vua phải buộc nàng làm những công việc đê tiện, hèn hạ và mệt nhọc nhứt. Nàng vẫn cúi đầu vâng chịu, không một tiếng than, là vì khi nàng làm phận sự có những hùm beo, chim chóc và thần thánh giúp sức. Biết được thế cho nên bà sư cụ chùa Bạch Tước mới cụ sớ về triều tâu vua mọi sự. Vua cha bèn nghĩ ra một chước cốt làm nàng kinh khủng bỏ chùa mà về đền. Một bữa kia quân lính đến bao vây và phóng lửa thiêu chùa bốn mặt. Sư cụ và tất cả ni cô kinh tâm tán đởm chạy ngược chạy xuôi tầm phương tẩu thoát. Tiếng kêu trời kêu đất inh ỏi! Nàng Diệu Thiện điềm tĩnh như thường. Nàng chỉ lâm râm cầu Đức Phật mà nàng nguyện theo gương và xin Ngài đến cứu nàng. Nàng bèn rút trâm cài đầu đâm vào họng và phun máu tươi lên không trung, tức thì mây kéo mịt mù, thiên hôn địa ám, mưa xuống như cầm chĩnh mà đổ. Bị đám mưa to các ngọn lửa đỏ ngất trời kia lần lần êm dịu rồi tắt. Thấy vậy quân chạy về phi báo. Nhà vua liền hạ lệnh bắt nàng và đưa về đền. 

 Khi điệu nàng về tới, nhà vua dạy mở yến tiệc ca xang, bày một cuộc lễ hội thật lớn cốt để đem nàng trở lại quãng đời phong lưu khoái lạc. Nhưng các cuộc bài trí ấy cũng không hiệu quả gì và cho đến những điều hăm dọa ghép nàng vào tử hình cũng không thấm vào đâu. Cùng thế nhà vua mới hạ lệnh trảm quyết nàng và dạy ba quân điệu nàng khỏi đền mới hành hình. Thần hoàng bổn cảnh liền tâu sự ấy lên cho Ngọc Đế rõ. Đức Ngọc Đế hạ lệnh cho thần hoàng bổn cảnh giữ gìn hồn nàng đừng cho nhập địa phủ. Giờ hành hình đến, giám sát vừa giơ gươm lên thì gươm gãy làm hai. Giám sát bỏ gươm rút giáo toan đâm thì giáo lại tét làm hai. Giám sát chỉ còn một nước là xử giảo nàng (thắt cổ). Đến giờ hành hình thì có một trận cuồng phong thổi tới, làm cho trời đất tối tăm mà chung quanh mình nàng thì hào quang hiện ra sáng rỡ. Thần bổn cảnh liền hóa ra một con hổ, từ trong rừng xanh nhảy ra và cõng thây nàng chạy thẳng vô núi. Những kẻ đi xem hoảng chạy tứ tung. Quan quân và giám sát ảo não muôn phần, lật đật về triều tâu vua mọi sự. Nhà vua không nao núng và lại cho rằng cọp tha thây là một sự trừng phạt nặng nề, gán thêm vào sự trừng phạt của nhà vua để phạt nàng về tội bất hiếu và tội bất tuân lệnh vua cha.

 Nhờ huyền diệu ấy mà nàng DIệu Thiện tuy chết nhưng xác vẫn còn nguyên. Lúc ấy nàng mơ màng như thấy một giấc chiêm bao, cơ hồ như nàng đã lướt gió tung mây... Khi tỉnh lại nàng lấy làm lạ mà thấy mình ở vào một thế giới không nhật nguyệt, tinh tú, không núi non, không người, không loài vật.

 Bỗng chốc nàng thấy hiện ra trước mắt một vị thanh niên mặc áo màu xanh dương, hào quang chói rạng. Vị ấy đến trước mặt nàng, tay cầm một tờ giấy dài và nói rằng: Mình vưng lệnh Diêm Chúa (Yama) mời nàng xuống viếng Diêm Cung để thấy rõ ràng cảnh khốn khổ và những hình phạt mà kẻ có tội phải chịu sau khi chết.

quan âm bồ tát

 Nơi Diêm Cung mỗi khi nàng đi đến đâu nhờ sức thần thông và đức từ bi thuyết kinh của nàng các hồn bị giam cầm đều đặng cứu rỗi và thoát khỏi ngục môn hầu tái kiếp trở lại trần gian. Thập Điện Minh Vương cũng ao ước đặng nghe nàng thuyết pháp. Chiều ý Mười Vua, nhưng nàng xin rằng sau cuộc ấy các hồn tội nhân đều đặng phóng thích. Sau khi khoản ấy đã đặng các vua ưng thuận thì nàng mới dùng hết phép thần thông của nàng mà thuyết pháp. Trong nháy mắt chốn U Minh biến thành lạc cảnh và các âm hồn đều đặng trở lại cõi trần. Thấy mười cõi U đồ đã trống trơn, Thập Điện Minh Vương mới lật đật phán rằng: “Mười điện chúng ta không quyền giam cầm vong hồn nàng Diệu Thiện”. Và tức khắc dạy đưa nàng trở lại dương gian.

 Khi tỉnh dậy nàng Diệu Thiện lấy làm bối rối chưa biết phải đi phương nào. Lúc ấy Đức Phật Thế Tôn hiện ra trên mây dạy nàng phải ra ở núi Phổ Đà, giữa Nam Hải thuộc cù lao Hương Đảo để tu thêm. Muốn đến đó phải trải qua ba ngàn dặm đường. Bởi thế, Đức Phật Thế Tôn mới ban cho nàng một trái bàn đào vườn Tây Vương Mẫu để nàng đỡ đói khát trong một năm và nhơn có đặng trường sanh. Nàng sắm sửa thượng trình. Thấy nàng sức yếu mà đường lại xa Đức Trường Canh Thái Bạch mới truyền cho thần bổn cảnh hóa ra con hổ, cõng đưa nàng ra nơi ấy. Thần bổn cảnh tuân y và trong giây phút nàng đã đến Phổ Đà Sơn.

 Khi nàng tu đặng chín năm thì có một vị Phật Tiếp Dẫn đến cho các vị thần trấn Phổ Đà Sơn hay rằng nàng Diệu Thiện tu hành đạo pháp hiện nay cực kỳ cao siêu mà từ trước đến giờ chưa vị nào đạt được. Nàng đã đứng trên tất cả chư vị Bồ Tát và cai quản các đấng ấy. Hôm nay, ngày 19 tháng 02 chúng ta phải yêu cầu vị ấy nhận một địa vị cao thượng hơn để cứu rỗi và ban hạnh phúc cho quần sanh. Sơn thần Phổ Đà Sơn bèn triệu tập tất cả các thần tiên, thánh phật vùng ấy đến chầu và xưng tụng công đức của vị Bồ Tát mới vừa chứng quả và từ nay người thường gọi là Quan Âm Như Lai, Quan Âm Nam Hải, Phật Tổ Phổ Đà Sơn. Tân Bồ Tát ngự trên tòa sen và tiếp kiến các đấng thiêng liêng đến bái kiến và khánh chúc. Lúc ấy chư thánh tiên mới định lựa một vị đồng tử để hầu Ngài. May đâu lúc ấy có một vị trẻ tuổi xưng là Hoàn Thiện Tài (Hoan Chen Tsai) nghĩa là người chỉ có đọc kinh mà đặng đức lành phép lạ. Thiện Tài đồng tử thú nhận rằng vì mồ côi cha mẹ chàng mới phát nguyện tu hành quy y Phật pháp nhưng chưa chứng quả. Nay nghe tin Nam Hải Phổ Đà Sơn có Bồ Tát ngự nên quyết chí vượt qua mấy muôn dặm đến đây để hầu Ngài và xin làm đệ tử. Trước khi ưng chuẩn lời nguyện ấy, Đức Bồ Tát muốn thử tâm chí coi ra sao, Ngài bèn truyền cho sơn thần, thổ địa hóa làm ăn cướp đến vây đánh Phổ Đà Sơn. Riêng về phần Ngài thì Ngài giả dạng sợ sệt, kêu la cầu cứu và giả té xuống hố sâu. Thấy vậy Thiện Tài đồng tử chạy theo cứu thầy và nhảy luôn xuống hố. Vì quyền năng pháp lực chưa đặng cao cho nên đồng tử phải thiệt mạng. Bồ Tát liền dùng thần thông cứu tử. Khi đồng tử tỉnh dậy thì thấy một cái xác bên mình, Bồ Tát cho biết đó là xác phàm của đồng tử và hiện nay đồng tử đã bỏ xác phàm và nhập vào cõi thánh. Từ đó Thiện Tài đồng tử một lòng phụng sự Bồ Tát trong sự cứu độ chúng sanh.

 Sau lại Đức Bồ Tát có thâu làm đệ tử nữ vị cháu gái của vua Nam Hải Long Vương tên là Long Nữ. Việc đã xảy ra như vầy. Ngày kia đệ tam thái tử con vua Long Vương hóa làm con cá, dạo chơi trên mặt biển, chẳng may vướng phải lưới của ông chài. Ông chài bắt cá ấy đem bán ngoài chợ. Ngự trên liên đài Bồ Tát biết rõ việc ấy, bèn sai Thiện Tài Đồng tử giả dạng thường nhơn đến mua cá ấy đem ra biển phía Nam thả. Nam Hải Long Vương nhớ ơn cứu tử con mình mới định dưng cho Bồ Tát một cục ngọc ban đêm chiếu sáng để giúp Ngài đọc sách không cần đèn, và dạy Long Nữ là con gái của đệ tam thái tử phải bổn thân đem ngọc đến dưng. Đến nơi dưng ngọc xong, Long Nữ rất cảm phục huyền năng và đức độ của Bồ Tát và cầu xin Ngài cho theo hầu Ngài cùng quy thuận Phật pháp. Bồ Tát ưng cho. Từ ấy Long Nữ đặng thâu làm đệ tử hiệp cùng với đồng tử Thiện Tài mà phụng sự Ngài.

 Từ khi Diệu Trang Vương dùng chước độc mà hại nàng Diệu Thiện thì nhà vua phải một chứng bệnh hết sức khổ sở.

 Thân thể nhà vua phải thúi tha đầy ung thư ghẻ chốc làm cho nhà vua nhức nhối đau đớn vô hồi. Đức Bồ Tát phóng đại quang minh biết rõ mọi sự. Nhà Vua lúc ấy hạ lệnh đăng bảng cầu danh y, Bồ Tát bèn giả dạng một nhà sư già đến xin chữa bịnh.

 Khi đến trước mặt vua thì nhà sư bèn tâu phải kiếm cho đặng đôi mắt và một đôi cánh tay của thân nhân nhà vua mới trị đặng bịnh, nhưng mà phải ra núi Phổ Đà mới kiếm đặng hai món ấy. Vua liền phái hai vị quan cấp tốc đến Phổ Đà Sơn để tìm hai món vừa nói. Thấy vậy hai vị phò mã rất bất bình và âm mưu định giết nhà sư và sau đó thí vua mà soán ngôi.

 Bồ Tát rõ sự việc ấy và đã sai Thiện Tài đồng tử giả làm tên thị vệ hầu bên cạnh vua. Khi một tên quân của hai vị phò mã dưng cho vua một chén thuốc độc nói dối là của nhà sư dạy đem cho vua ngự thì tên thị vệ kia tiếp bưng chén ấy và sẵn tay làm đổ ngay xuống đất. Đang lúc ấy một người lẻn vào phòng nhà sư để thích khách. Bồ Tát bèn dùng thần thông làm cho tên ấy tê liệt không còn hoạt động nữa và bị bắt trói. Cơ mưu bại lộ, hai vị phò mã vì sợ bị khổ hình nên đã uống độc dược tự tử. Hai vị công chúa phải tội liên can đều bị biếm vào lãnh cung đời đời cấm cố. Hai nàng mới ăn năn, noi gương em mình là Diệu Thiện lo tu hành. Khi hai nàng đã tấn hóa nhiều về con đường tu niệm thì Bồ Tát và Thiện Tài đồng tử hóa ra hai thớt tượng bạch mà đưa hai vị công chúa đến cảnh Phật Đài để tránh xa mùi tục lụy.

 Từ ngày hai vị sứ giả phụng mệnh nhà vua, tuôn mây lướt sóng trải biết bao khổ cực mới đến Phổ Đà Sơn, Thiện Tài đồng tử phụng lịnh Bồ Tát hiện ra tiếp rước. Hai sứ giả trình bày mọi sự rồi được đến yết kiến Bồ Tát. Bồ Tát Diệu Thiện ngồi trên liên đài bèn trao cho hai vị sứ giả con mắt bên tả và cánh tay bên tả của mình. Việc xong sứ giả cáo tạ rồi hồi trào, và dưng lên cho vua và hoàng hậu hai món đã kiếm đặng. Hoàng hậu nhìn lên cánh tay tả thấy có nốt ruồi và sau khi nghe sứ giả tả dung mạo người đã cho nhà vua hai vật ấy thì quả quyết đó là con mình và đau đớn không ngần.

 Nhà sư bèn trộn hai món ấy với ít vị thảo dược rồi đem tất cả đắp lên nửa thân bên trái của nhà vua thì nhà vua tức khắc khỏi đau phía bên mặt. Thấy thế nhà sư bèn tâu vua xin sứ giả ra Phổ Đà Sơn tìm cho đặng con mắt phía tay mặt và cánh tay mặt. Sứ giả vâng lệnh ra đi, không bao lâu đem về dưng đủ hai món. Nhà sư cũng làm y như trước thì nửa thân bên phải của nhà vua khỏi ngay. Từ ấy vua Diệu Trang hoàn toàn lành bịnh. Trong triều, ngoài quận ai ai cũng đồng biết rằng nhờ con chí hiếu là Diệu Thiện mà nhà vua mới khỏi bệnh ngặt nghèo.

 Sau khi khỏi chết vua cùng hoàng hậu cám ơn cứu tử, định ra Phổ Đà Sơn một chuyến để tạ ơn. Xa giá đăng trình gặp không biết bao là nguy nan, nhưng đều nhờ Bồ Tát dùng phép thần thông mà cứu khỏi.

 Đến nơi vua cùng hoàng hậu thấy Bồ Tát tọa thoàn trên liên đài mất cả hai mắt và hai tay. Nhìn biết là con mình nhà vua ăn năn xúc động vô cùng bèn quỳ xuống cầu nguyện cho con đặng sống và đặng huờn y hai con mắt và hai tay. Khẩn nguyện xong thì nhà vua và hoàng hậu thấy con mình hiện trước mắt, tay mắt đủ, hình dạng mạnh khỏe như xưa.

 Thấy phép thần thông vô biên của Bồ Tát, vua cùng hoàng hậu nhất định lìa nơi điện ngọc đền vàng, lánh mình trần tục tìm đàng thiên thai.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Sự tích Đức Quan Thế Âm Bồ Tát

Giấc mơ của một em bé đau dạ dày –

Có em bé sau khi khám bệnh đã kể một giấc mơ mà em thấy như sau. "Em mơ thấy mình là một đứa bé chăn bò ở miền Tây nước Mỹ nhưng họ lại đưa em sang Mê-hi-cô. Em tìm cách mở đường máu trôn về nước Mỹ. Có một người Mê-hi-cô muốn ngăn cản em, em đã cho

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Có em bé sau khi khám bệnh đã kể một giấc mơ mà em thấy như sau. “Em mơ thấy mình là một đứa bé chăn bò ở miền Tây nước Mỹ nhưng họ lại đưa em sang Mê-hi-cô. Em tìm cách mở đường máu trôn về nước Mỹ. Có một người Mê-hi-cô muốn ngăn cản em, em đã cho hắn một cú vào giữa bụng”.

Giấc mơ của một em bé

Đây là giấc mơ của một người mắc bệnh viêm dạ dày điển hình: Bệnh dạ dày là bệnh người lớn hay mắc phải,

trẻ con ít thấy.

Biểu hiện của đau dạ dày là: Nôn, không muốn ăn, mặt tái xanh, dạ dày đau, bụng chướng.

Tại sao em bé người Mỹ này lại nằm mơ thấy những điều lạ lùng như thế?

Nguyên lý y học phương Đông cổ đại được các nhà nghiên cứu áp dụng để phân tích giấc mơ này như sau:

Người Mê-hi-cô là hình ảnh ngăn cản sự trở về Mỹ của em. Nên nhớ rằng, trong giấc mơ em bé tượng trưng cho thức ăn chứ không phải sinh mệnh. Trong giấc mơ, người Mê-hi-cô ngăn cản em bé điều đó thuyết minh rằng em bé không có cách nào tốt hơn để ăn thức ăn vào dạ dày do dạ dày bị viêm. Em đá một cú vào bụng người Mê-hi-cô nói lên rằng dạ dày em đang bị thương.

Nhưng các nhà y học phương Tây phân tích: Em bé nằm mơ thấy mình là “trẻ chăn bò” vì muôn tỏ ra dũng cảm, anh hùng. Vì ở Mỹ, trẻ chăn bò tự xưng là Cowboy (cao bồi), được coi như những người anh hùng. Em bé cho rằng đá vào bụng người khác là một cử chỉ anh hùng.

Qua điều tra thực tế thì được biết em bé này lúc còn nhỏ dạ dày đã không tốt, từ 1-3 tuổi em hay bị nôn. Hiện nay tuy ăn uống đã bình thường nhưng em vẫn lo lắng cho dạ dày của mình.

Bác sĩ Tây y cho rằng mỗi người hoặc nhiều hoặc ít đều tự ti. Do hoàn cảnh sống khác nhau, mỗi người tìm cách giải quyết mọi sự việc trong cuộc đời khác nhau. Giấc mơ của em bé thỏa mãn được dục vọng của em.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Giấc mơ của một em bé đau dạ dày –

SAO THÁI DƯƠNG TRONG TỬ VI

Thái dương Nam đẩu tinh . dương . hỏa 1. Vị trí ở các cung: - Miếu địa: Tỵ, Ngọ ...
SAO THÁI DƯƠNG TRONG TỬ VI

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Thái dương Nam đẩu tinh . dương . hỏa 



1. Vị trí ở các cung:
            - Miếu địa:                   Tỵ, Ngọ             - Vượng địa:                Dần, Mão, Thìn             - Đắc địa:                    Sửu, Mùi             - Hãm địa:                   Thân, Dậu, Tuất, Hợi, Tý
Thái Dương đóng ở các cung ban ngày (từ Dần đến Ngọ) thì rất hợp vị, có môi trường để phát huy ánh sáng. Đóng ở cung ban đêm (từ Thân đến Tý) thì u tối, cần có Tuần, Triệt, Thiên Không, Thiên Tài mới sáng.
Riêng tại hai cung Sửu, Mùi cần có Tuần Triệt hay Hóa Kỵ mới thêm rực rỡ (ở Sửu tốt hơn ở Mùi). Nhật chính vị ở các cung Dương, phù hợp với các tuổi Dương. Nhật càng phù trợ mạnh hơn cho những người sinh ban ngày, thích hợp cho những người mệnh Hỏa, mệnh Thổ và mệnh Mộc, hợp với trai hơn gái.

2. Ý nghĩa cơ thể:
Nhật, Nguyệt là cặp mắt. Nhật chỉ mắt trái, Nguyệt chỉ mắt phải. Độ sáng của Nhật, Nguyệt quyết định độ sáng của mắt.
Ngoài ra, Thái Dương tượng trưng cho trí tuệ, bộ óc, mức độ thông minh, đồng thời cũng chỉ thần kinh hệ. Càng sáng, Thái Dương biểu hiện cho thần kinh bén nhạy linh mẫn, với những hậu quả hay, dở của nó.
Thái Dương còn chỉ thận của nam phái, phần dương tính của đàn ông.

3. Ý nghĩa bệnh lý:
a. Thái Dương đắc địa trở lên: Chỉ riêng bộ thần kinh bị ảnh hưởng vì ánh sáng mạnh của sao gây căng thẳng tinh thần, biểu lộ qua các trạng thái:             - sự ưu tư, lo âu quá mức             - tính nhạy cảm quá mức             - sự mất ngủ và các hậu quả             - sự tăng áp huyết vì thần kinh Đi với các sao Hỏa (Hỏa, Linh) hay đóng ở cung hỏa vượng (Thìn, Ngọ), có thể bị loạn thần kinh đi đến loạn trí. Những bệnh trạng này cũng xảy ra nếu Nhật hãm địa bị Tuần Triệt án ngữ.
b. Thái Dương hãm địa: Không bị sát tinh xâm phạm, Thái Dương hãm địa chỉ trí tuệ kém linh mẫn, mắt kém. Nếu bị sát tinh, bệnh trạng sẽ nặng hơn. Nhật Kình (Đà) Kỵ: đau mắt, tật mắt (cận thị, viễn thị, loạn thị) có thể mù, kém thông minh. Nếu có thêm  Hình, Kiếp Sát: có thể bị mổ mắt

4. Ý nghĩa tướng mạo:
a. Thái Dương đắc, vượng và miếu địa: người này "thân hình đẫy đà, cao vừa tầm, da hồng hào, mặt vuông vắn đầy đặn, có vẻ uy nghi, mắt sáng, dáng điệu đường hoàng bệ vệ, đẹp nói chung."
b. Thái Dương hãm đĩa: người này "thân hình nhỏ nhắn, hơi gầy, cao vừa tầm, da xanh xám, mặt choắt, có vẻ buồn tẻ, má hóp, mắt lộ, thần sắc kém."

5. Ý nghĩa tính tình:
a. Nếu Thái Dương đắc, vượng và miếu địa:             - rất thông minh             - thẳng thắn, cương trực; phụ nữ thì đoan chính, có tác dụng chế giải tính chất lả lơi hoa nguyệt của Đào, Hồng, Riêu, Thai và có giá trị như Tử, Phủ, Quang, Quý, Hình. Nếu được thêm các sao này hỗ trợ, mức độ ngay thẳng càng nhiều: đó là đàn bà đức hạnh, trung trinh, khí tiết, hiền lương.             - hơi nóng nảy, háo quyền, chuyên quyền             - nhân hậu, từ thiện, hướng thượng, thích triết, đạo lý Hai đức tính nổi trội hơn hết là sự thông minh và đoan chính.
b. Nếu Thái Dương hãm địa:             - kém thông minh             - nhân hậu, từ thiện             - ương gàn, khắc nghiệt             - không cương nghị, không bền chí, chóng chán, nhất là ở hai cung Thân và Mùi (mặt trời sắp lặn)             - riêng phái nữ thì đa sầu, đa cảm             - thích đua chen, ganh tị

6. Ý nghĩa công danh, tài lộc:
a. Nếu Thái Dương đắc địa: Tùy theo mức độ cao thấp và tùy sự hội tụ với Thái Âm cùng các cát tinh khác, người có Thái Dương sáng sẽ có:             - uy quyền, địa vị lớn trong xã hội (quý)             - có khoa bảng cao, hay ít ra rất lịch lãm, biết nhiều             - có tài lộc vượng, giàu sang (phú) Vì vậy, Thái Dương đóng ở cung Quan là tốt nhất. Đó là biểu tượng của quyền hành, uy tín, hậu thuẫn nhờ ở tài năng.
b. Nếu Thái Dương hãm địa:             - công danh trắc trở             - khoa bảng dở dang             - bất đắc chí             - khó kiếm tiền             - giảm thọ Nếu Thái Dương hãm ở các cung dương (Thân, Tuất, Tý) thì không đến nỗi xấu xa, vẫn được no ấm, chỉ phải không giàu, không hiển đạt. Tuy nhiên, dù hãm địa mà Thái Dương được nhiều trung tinh hội tụ sáng sủa thì cũng được gia tăng tài, quan. Trường hợp Thái Dương ở Sửu Mùi gặp Tuần, Triệt án ngữ thì người này có phú quý như cách Thái Dương vượng hay miếu địa. Nếu thêm Hóa Kỵ đồng cung thì càng rực rỡ hơn nữa.

7. Ý nghĩa phúc thọ, tai họa:
Bệnh tật, tai họa chỉ có khi:             -Thái Dương hãm địa             - Thái Dương bị sát tinh (Kình Đà Không Kiếp Riêu Hình Kỵ) xâm phạm dù là miếu địa.
Ngoài ra, có thể bị:             - tật về mắt hay chân tay hay lên máu             - mắc tai họa khủng khiếp             - yểu tử             - phải bỏ làng tha phương mới sống lâu được
Riêng phái nữ, còn chịu thêm bất hạnh về gia đạo như: muộn lập gia đình, lấy lẽ, lấy kế, cô đơn, khắc chồng hại con.

8. Ý nghĩa của thái dương và một số sao khác:
a. Những bộ sao tốt: Nhật Đào Hồng Hỷ (tam minh): hiển đạt.
Nhật Khoa Quyền Lộc (tam hóa): rất quý hiển, vừa có khoa giáp, vừa giàu có, vừa có quyền tước
Nhật sáng Xương Khúc: lịch duyệt, bác học.
Nhật sáng Hóa Kỵ: làm tốt thêm.
Nhật Cự ở Dần: giàu sang hiển vinh ba đời
Nhật (hay Nguyệt) Tam Hóa, Tả Hữu, Hồng, Khôi: lập được kỳ công trong thời loạn
Nhật, Tứ linh (không bị sát tinh): hiển hách trong thời bình.
b. Những bộ sao xấu: Nhật hãm sát tinh: trai trộm cướp, gái giang hồ, suốt đời lao khổ, bôn ba, nay đây mai đó.
- Nhật Riêu Đà Kỵ (tam ám): bất hiển công danh
Nhật hãm gặp Tam Không: phú quý nhưng không bền
c. Thái Dương và Thái Âm: Nhật Nguyệt bao giờ cũng liên hệ nhau mật thiết vì thường ở vị trí phối chiếu hoặc đồng cung ở Sửu Mùi. Hai sao này tượng trưng cho hai ảnh hưởng (của cha, của mẹ), hai tình thương (cha, mẹ), hai nhân vật (cha mẹ hoặc chồng vợ), hai dòng họ (nội, ngoại).

9. Ý nghĩa của thái dương ở các cung:
a. ở Mệnh: Cung Mệnh có Nhật sáng sủa tọa thủ rất tốt nhưng còn kém hơn cung Mệnh được Nhật sáng sủa hội chiếu với Nguyệt. Nếu giáp Nhật, Nguyệt sáng cũng phú hay quý.
+ Các cách tốt của Nhật, Nguyệt: Nhật ở Ngọ, Tỵ, Thìn, Mão (biểu tượng của Sấm Sét): đều tốt về nhiều phương diện. Mệnh ở Sửu được Nhật ở Tỵ, Nguyệt ở Dậu chiếu: phú quý tột bậc, phúc thọ song toàn, phò tá nguyên thủ. Mệnh ở Mùi được Nhật ở Mão, Nguyệt ở Hợi chiếu: ý nghĩa như trên Mệnh vô chính diệu được Nhật Nguyệt sáng sủa hội chiếu: người rất thông minh, học 1 biết 10, nếu có Tuần Triệt thủ mệnh thì càng rực rỡ hơn nữa. Mệnh ở Thìn có Nhật gặp Nguyệt ở Tuất xung chiếu hay ngược lại: suốt đời quý hiển, duy trì địa vị và tiền tài lâu dài. Mệnh ở Sửu hay Mùi Ngọ Nhật Nguyệt Triệt hay Tuần: cũng rất rạng rỡ tài, danh, phúc thọ.

+ Các cách trung bình của Nhật Nguyệt: - Mệnh ở Sửu Mùi gặp Nhật Nguyệt đồng cung: no cơm ấm áo nhưng không hiển đạt lắm. - Mệnh có Nhật ở Hợi gặp Cự ở Tỵ xung chiếu: công danh tiền bạc trắc trở buổi đầu, về già mới khá giả.
+ Các cách xấu của Nhật, Nguyệt: Nhật Nguyệt hãm địa Nhật ở Mùi Thân: không bền chí, siêng năng buổi đầu về sau lười biếng, trễ nải, dở dang Nhật ở Tý: người tài giỏi nhưng bất đắc chí (trừ ngoại lệ đối với tuổi Bính Đinh thì giàu sang tín nghĩa) Nhật Tuất Nguyệt Thìn: rất mờ ám. Cần gặp Tuần Triệt án ngữ hay Thiên Không đồng cung mới sáng sủa lại. Nhật Nguyệt hãm gặp sát tinh: trộm cướp, dâm đãng, lao khổ, bôn ba.
b. ở Phu Thê: Nhật, Đồng, Quang, Mã, Nguyệt Đức: có nhiều vợ hiền thục Nhật, Nguyệt miếu địa: sớm có nhân duyên Nhật Xương Khúc: chồng làm quan văn Nguyệt Xương Khúc: vợ học giỏi và giàu
c. ở Tử: Nhật ở Tý: con cái xung khắc với cha mẹ Nhật, Nguyệt, Thai: có con sinh đôi
d. ở Tài: Nhật Nguyệt Tả Hữu Vượng: triệu phú Nhật Nguyệt sáng sủa chiếu: rất giàu có
e. ở Tật: Nhật Nguyệt hãm gặp Đà Kỵ: mù mắt, què chân, khản tiếng. - xem mục bệnh lý
f. ở Di: Nhật Nguyệt Tam Hóa: phú quý quyền uy, người ngoài hậu thuẫn kính nể, giúp đỡ, trọng dụng Nhật Nguyệt sáng gặp Tả Hữu Đồng Tướng: được quý nhân trọng dụng, tín nhiệm
g. ở Nô: - Nhật Nguyệt sáng: người dưới, tôi tớ lạm quyền - Nhật, Nguyệt hãm: tôi tớ ra vào luôn, không ai ở
i. ở Phụ: - Nhật Nguyệt gặp Tuần Triệt: cha mẹ mất sớm Nhật Nguyệt đều sáng sủa: cha mẹ thọ Nhật sáng, Nguyệt mờ: mẹ mất trước cha Nhật mờ, Nguyệt sáng: cha mất trước mẹ Nhật Nguyệt cùng sáng: sinh ban ngày - mẹ mất trước, sinh ban đêm - cha mất trước Nhật Nguyệt cùng mờ: sinh ban ngày - cha mất trước, sinh ban đêm - mẹ mất trước Nhật Nguyệt đồng cung ở Sửu Mùi: không gặp Tuần, Triệt án ngữ: sinh ngày - mẹ mất trước, sinh đêm - cha mất trước; gặp Tuần, Triệt án ngữ: sinh ngày - cha mất trước, sinh đêm - mẹ mất trước.
k. ở Hạn: - Nhật sáng: hoạnh phát danh vọng, tài lộc Nhật mờ: đau yếu ở 3 bộ phận của Thái Dương, hao tài, sức khỏe của cha/chồng suy kém. Nếu gặp thêm Tang, Đà, Kỵ nhất định là cha hay chồng chết. Nhật Long Trì: đau mắt Nhật Riêu Đà Kỵ: đau mắt nặng, ngoài ra còn có thể bị hao tài, mất chức. Nhật Kình Đà Linh Hỏa: mọi việc đều trắc trở, sức khỏe của cha/chồng rất kém, đau mắt nặng, tiêu sản Nhật Kỵ Hình ở Tý Hợi: mù, cha chết, đau mắt nặng. - Nhật Cự: thăng chức Nhật Nguyệt Không Kiếp chiếu mà Mệnh có Kình Đà: mù hai mắt


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: SAO THÁI DƯƠNG TRONG TỬ VI

Đo mức độ toan tính của 12 con giáp - Tử vi - Xem Tử Vi

Đo mức độ toan tính của 12 con giáp, Tử vi, Xem Tử Vi, xem bói, xem tử vi Đo mức độ toan tính của 12 con giáp, tu vi Đo mức độ toan tính của 12 con giáp, tu vi Tử vi

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Đo mức độ toan tính của 12 con giáp

1. Tuổi Tý

Người tuổi Tý đa phần có tính cách hòa đồng và không dễ gì làm mất lòng người khác. Con giáp này còn nhiệt tình giúp đỡ mọi người, luôn biết đặt mình vào hoàn cảnh của người khác để suy xét vấn đề, không gây áp lực hay sự khó khăn cho ai bao giờ.

Có thể nói, người tuổi này có lối sống khá thoáng, chỉ số toan tính chỉ là 5% vì họ cũng cần cân nhắc trước khi đưa ra quyết định trợ giúp của mình.

2. Tuổi Sửu

Theo khoa tu vi, con giáp này có tác phong làm việc chậm rãi tuân theo rất nhiều quy tắc của bản thân. Đồng thời, họ còn rất kiên định và nghiêm khắc, không dễ bị người khác thao túng.

Nói về “khoản” tính toán, ky bo, vì đề ra quá nhiều quy tắc, nên người tuổi Sửu phải tính toán chi ly từng tý một để tránh những rủi ro không đáng có. Vậy nên, chỉ số toan tính của họ đạt tới mức 70%.

 3. Tuổi Dần

 Hổ là biểu tượng của sức mạnh và quyền lực. Dần là con giáp vạch rõ kế hoạch và hành động cụ thể cho bất cứ việc gì. Khi làm việc, người tuổi này thường giữ thái độ điềm tĩnh, suy nghĩ kỹ lưỡng, tính toán thiệt hơn rõ ràng và vô cùng sát thực nên họ thường đạt được nhiều thành công lớn.Nếu không hiểu được tính cách này của họ, mọi người sẽ cho rằng họ là người tính toán và khá chặt chẽ trong vấn đề tiền bạc.

 4. Tuổi Mão

 Người tuổi Mão sở hữu khả năng quan sát, phân tích vấn đề và năng lực tưởng tượng vô cùng phong phú. Ngoài ra, họ khá tỉ mỉ, cố chấp và hoài nghi mọi sự việc.

 Sở dĩ chỉ số toan tính của con giáp này đạt mức đỉnh điểm chính là do tâm lý hoài nghi. Có thể nói, đối tương mà họ tin tưởng duy chỉ có bản thân mình mà thôi. Họ thường không yên tâm nếu nhờ vả hoặc giao việc cho người khác vì nghi ngờ năng lực hay sự cẩn trọng của họ.

 5. Tuổi Thìn

 Người tuổi Thìn có năng lực lãnh đạo thiên bẩm và có sự ảnh hưởng lớn tới mọi người xung quanh. Vốn dĩ tính tình lạc quan, vui vẻ và tự tin vào bản thân, người tuổi này không mấy toan tính cho lợi ích của mình. Điều họ cần tính toán thiệt hơn chính là làm sao để giữ được hình tượng lãnh đạo tốt trong lòng mọi người.

6. Tuổi Tỵ

 Ngoài tính cách cố chấp và bướng bỉnh, người tuổi Tỵ còn rất hiệp nghĩa, sẵn sàng xuất đầu lộ diện để giúp đỡ hoặc bảo vệ bạn bè của mình, dù biết rằng sẽ gặp nguy hiểm.

 Mức độ toan tính của tuổi Tỵ là 90%. Nhưng họ toan tính không chỉ vì bản thân mình đâu nhé, mà phần lớn là để giúp đỡ mọi người mà thôi. Tinh thần đó của người tuổi Tỵ cần phát huy hơn nữa nhé.

 7. Tuổi Ngọ

 Con giáp này tôn sùng chủ nghĩa anh hùng, sẵn sàng ra tay giúp đỡ người khác khi gặp khó khăn hoặc chuyện bất bình. Cũng có khi họ tỏ ra đăm chiêu như đang tính toán chuyện gì đó quan trọng, nhưng trên thực tế họ không có nhiều thời gian để nghĩ. Mức độ toan tính của người tuổi Ngọ là 50%.

 8. Tuổi Mùi

 Người tuổi Mùi có năng lực phân tích và tổng hợp vấn đề một cách nhanh nhạy. Đồng thời, họ biết tôn trọng ý kiến của người khác, phân tích kỹ càng mọi chuyện trước khi đưa ra quyết định cuối cùng. Vậy nên, họ ít khi phải toan tính quá nhiều về một sự việc, chỉ cần sử dụng năng lực phân tích nhạy bén của mình, họ sẽ tìm ngay ra cách xử lý vấn đề.

 9. Tuổi Thân

 Con giáp này hành sự cẩn thận, luôn “chừa” cho mình một lối thoát riêng. Do vậy, họ khá thành công trong những lĩnh vực có tính rủi ro cao như đầu tư, kinh doanh…

 Mặc dù họ chỉ dùng 20% sự toan tính của mình, nhưng kết quả mang lại vô cùng mỹ mãm. Bởi sự tính toán ấy rất khoa học và cẩn trọng, nó thường xuất phát từ lợi ích của cả hai phía, đó là bản thân và mọi người xung quanh.

 10. Tuổi Dậu

 Khi làm bất cứ việc gì, người tuổi Dậu đều tỏ ra vô cùng tự tin, thậm chí là bốc đồng và làm quá sự việc. Vì không suy nghĩ thấu đáo mà đưa ra quyết định vội vàng, thiếu tính khả thi nên họ ít đạt được điều gì như ý muốn.

 Cách duy nhất có thể giúp người tuổi Dậu thay đổi được vận mệnh của mình đó chính là học cách tiết chế sự bốc đồng của bản thân.

 11. Tuổi Tuất

 Người tuổi Tuất thường coi trọng bản thân, cho rằng thực lực là yếu tố quyết định vận mệnh của mỗi người. Vậy nên họ không thích việc mở rộng mối quan hệ xã giao, nghĩ rằng bản thân mình sẽ làm nên tất cả. Sự toan tính của họ chủ yếu tập trung vào năng lực bản thân, để làm sao có thể nâng cao tầm ảnh hưởng của nó.

 12. Tuổi Hợi

 Tính cách hòa đồng và lạc quan của người tuổi Hợi mang lại cảm giác vui vẻ cho mọi người xung quanh. Nếu có điểm nào phải tính toán, có lẽ đó là làm sao không “lôi kéo” người khác thích ăn uống, tiệc tùng và nhác việc như họ


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Đo mức độ toan tính của 12 con giáp - Tử vi - Xem Tử Vi

Phòng tắm hiện đại và những lưu ý về phong thủy

Nên bố trí phòng tắm ở hướng dữ, tránh đặt đè lên hướng lành (làm ảnh hưởng không tốt đến các sao lành, vận may của đất ở)...

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tuy không nằm ở vị trí chủ đạo của ngôi nhà, phòng tắm giữ vai trò rất quan trọng đối với sức khỏe và tinh thần bạn. Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu về phong thủy phòng tắm hiện đại để cùng làm đẹp thêm “góc không thể thiếu trong mỗi căn nhà”, bạn nhé !



7 điểm quan trọng cho phòng tắm:

- Trần: Nếu trần nhà bị ảnh hưởng bởi hơi nước quá nhiều sẽ dễ bong tróc. Do đó, bạn nên lựa chọn vật liệu trần có tính năng chống thấm, chống ẩm, chịu nhiệt tốt. Phần đỉnh của phòng tắm rửa, vệ sinh cần phải chú ý ngăn ngừa ẩm ướt và đảm bảo độ kín đáo.

- Vách: Cần lựa chọn những vật liệu có tính chống thấm, chống mục và chống biến chất cao. Các loại gạch men dễ lau chùi, nhiều màu sắc đẹp mắt, mau khô là vật liệu ốp tường vệ sinh lý tưởng để bạn lựa chọn. Nên chọn gạch ốp tường có màu tương đồng với gạch nền để tạo ra sự thống nhất cho phòng vệ sinh.

- Sàn: Sàn của phòng tắm, vệ sinh không được tích nước, không trơn trượt để đảm bảo an toàn khi sử dụng. Tốt nhất, bạn nên chọn các loại gạch nền có hoa văn nổi.

- Lỗ thoát nước: Mặt sàn của nhà vệ sinh cần có lỗ thoát nước mạnh và có độ nghiêng nhất định để tránh nước ứ đọng gây trơn trượt, ẩm ướt và tạo ra khí xấu cho nhà bạn.

- Bài trí: Bạn nên trang bị đầy đủ những vật dụng cần thiết cho việc vệ sinh, tắm rửa như bồn tắm, bồn rửa mặt, bồn cầu… Ngoài ra, gương trang điểm, giá treo khăn, tay vịn cho bồn tắm cũng rất cần thiết.

Nên chọn bồn tắm dạng tròn hoặc chữ nhật. Ngoài ra, bồn tắm hình ngũ giác hay hình lục giác cũng rất phù hợp. Không nên chọn bồn tắm hình tam giác hay hình dạng bất quy tắc.

- Cửa: Cửa phòng vệ sinh nên làm bằng chất liệu có tính năng ngăn thấm nước, chồng gỉ, mục. Tránh dùng cửa gỗ. Nên có thanh chắn ở cửa để đề phòng nước thoát ra ngoài.

- Thiết bị điện: Nên chọn loại ổ cắm điện có nắp đậy ngăn nước. Không nên lắp đặt để lộ dây điện ra ngoài. Nước đồng nghĩa với sự giàu sang, phú quý cho nên vị trí của phòng tắm luôn được khoa phong thủy coi trọng.

Quan điểm chung cho phòng tắm:

Nên bố trí phòng tắm ở hướng dữ, tránh đặt đè lên hướng lành (làm ảnh hưởng không tốt đến các sao lành, vận may của đất ở). Ngoài ra, phòng tắm nên đặt chỗ kín, cách xa cửa ra vào chính. Cũng không nên đặt không gian này gần nhà bếp vì bất lợi cho vấn đề sức khỏe.

Bạn nên tách phòng tắm khỏi nhà vệ sinh hoặc bảo đảm khu vực phòng tắm nằm trong phòng ngủ phải có hệ thống thông khí hoạt động tốt.

Màu sắc dùng trang trí phòng tắm sẽ ảnh hưởng đến cảm giác của người dùng. Xu hướng phòng tắm hiện nay đang hướng tới việc lựa chọn những gam màu “organic” gần với thiên nhiên như xanh dương, xanh lá cây… Dù chọn màu gì, bạn vẫn có thể tạo một không gian thư giãn với những bản ballad nhẹ nhàng cùng mùi hương quyến rũ của tinh dầu.

(Theo Mẹ yêu bé)

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Phòng tắm hiện đại và những lưu ý về phong thủy

Nguồn gốc của Âm lịch và Tử vi

Hầu như dân ở các nước Việt, Hàn, Nhật, và Trungquốc nơi khai sinh ra khoa lịch số, đều biết nhiều hay nghe nói về Âm lịch, dù có đang dùng Dương lịch như một tiêu chuẩn chung cho cả thế giới hiện nay. Thích hay không thì ít nhất đa số cũng đều chấp nhận chuyện ăn mừng tết Nguyên Ðán theo truyền thống dựa vào Âm lịch. Bởi vậy nên phần đông các cuốn lịch in ra trong các nước nói trên đều có phần ghi chú thêm ngày "Ta" đi kèm. Riêng đối với người Việt thì hình như nhà nào cũng thích có cuốn lịch thuộc loại tam tông miếu để treo tường, ngay cả trong những gia đình sống ở hải ngọai. Mục đích chính không phải vì thích coi theo ngày ta, mà nguyên nhân có lẽ là do từ tôn giáo và tín ngưỡng, biết ngày nào rằm hay mùng một để ăn chay (theo Phật gíao).

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Chỉ có một thiểu số ít hơn là dùng âm lịch thường xuyên để nghiên cứu hay áp dụng vào các bộ môn khoa học huyền bí, như lấy số tử vi hay coi ngày lành tháng tốt cho chuyện làm đám cưới hỏi, khai trương công việc làm ăn v.v. 

Hiện nay nghề làm lịch số của Trung Quốc không còn giữ được bí mật theo kiểu cha truyền con nối như xưa, vì nhờ vào phương tiện in ấn dồi dào từ sách vở ghi chép còn sót lại để nghiên cứu. Hơn nữa, Âm lịch cũng không còn thực dụng, vì hầu như tất cả các quốc gia trên thế giới đang chính thức dùng Dương lịch. Dù vậy, hậu quả của việc bảo vệ bí mật trong mấy ngàn năm trướcđây, cũng đã vô tình đánh mất đi cơ hội dành cho những thế hệ về sau này của Trung Quốc, nghiên cứu và tìm ra vận hành của Thái dương hệ, trước Âu châu ít nhất là vài trăm năm!

Nếu tình cờ mỗi năm một lần, chúng ta thấy xuất hiện một từ quen thuộc gọi theo tên âm lịch của năm đó, như năm nay 2002 là Nhâm-Ngọ, 2003 là Quý-Mùi, hay năm tới 2004 Giáp-Thân, thì dám chắc ai cũng đã ít nhất một lần thắc mắc, bằng cách nào và dựa vào đâu, các nhà lịch số Trung hoa phát minh ra những từ ngữ trên? Nói rõ hơn là mười (10) Thiên Can và mười hai (12) Ðịa Chi. Xin nhắc lại ở đây, 10 Can gồm: Giáp, Ất, Bính, Ðinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý.

Bài viết này sẽ dựa trên một vài dữ kiện kiểm chứng được của khoa học, để truy tìm lại phương pháp làm lịch mà các Chiêm tinh gia Trung hoa thời xưa có thể đã xử dụng. Bằng với tinh thần tôn trọng sự thật và học hỏi, người viết xin minh xác là những gì được trìnhbày sau đây có thể chưa được chính xác đúng hoàn tòan như đã xảy ra. Nhưng hy vọng sẽ là những ý tưởng khởi đầu, hay nếu có thể được, coi như là một đề nghị nghiên cứu thêm cho những vị có nhiều năng khiếu tự nhiên giỏi về các bộ môn Tử vi Lý số, để cùng làm sáng tỏ những gì đã bị hiểu nhầm là khoa học huyền bí. 

Nội dung chính của bài viết này sẽ trình bày và giải thích tại sao, chỉ bằng mắt thường quan sát với phương tiện ghi chép còn thô sơ, các chiêm tinh gia Trung hoa đã tính được ra Thiên can, Ðịa chi và LụcTuần Hoa Gíap, hay khái niệm về vận hành 60 năm trong âm lịch. Phần cuối của bài viết sẽ giải thích một vài điều thắc mắc về những bí ẩn của khoa Tử vi Ðẩu số.

Nguồn gốc Lịch số

Âm lịch (lunar calendar) hay việc soạn thảo lịch số dựa vào vận hành của mặt trăng không phải bắt đầu từ Trung hoa như nhiều người lầm tưởng. Theo dữ kiện cóđược từ các nhà khảo cổ với bằng chứng rõ rệt, thì nền văn minh Sumerian, phát triển bên cạnh con sông Tigris cách đây hơn 6000 năm (khoảng từ năm 5000-4000 BC, để sau này thành trung tâm của xứ ngàn lẻ một đêm, hay ngày nay còn gọi là Baghdad, thủ đô của Iraq) đã biết làm lịch dựa vào vận hành của mặt trăng. Ðế quốc La mã ngay trong thời trước Julius Cesar ( 40 BC ) cũng dùng loại Âm lịch này. Chọn mặt trăng để làm lịch có thể bởi hai lý do: Dễ nhìn vì ánh trăng ban đêm không nóng gay gắt và khó nhìn như mặt trời ban ngày. Thay đổi hình dạng thường xuyên từ khuyết tới tròn dễ thấy hơn là mặt trời hầu như ít khi thay đổi. Tuy nhiên, còn một lý do khá quan trọng khác ít người nghĩ đến, là do yếu tố thiên nhiên. Xứ Ai cập (Egypt) nằm ngay trên đường Phân cực Hoàng đạo (Tropic of Cancer, khoảng 23°27 từ xích đạo) nên đa số nhiều người đã thấy được hiện tượng mặt trời chiếu thẳng trên đỉnh đầu. Nghĩa là trong khoảng từ 20 tháng 3 đến 20 tháng 9, nếu cắm một cái cọc thật thẳng đứng, sẽ thấy bóng của cây cọc nhập trùng ngay dưới gốc của nó vào lúc 12 giờ trưa, ít nhất là trong vài ngày (Chỉ những nước nằm giữa đường xíchđạo và Bắc bán cầu trong khoảng Vĩ tuyến từ 0 - 23°27 mới thấy được hiện tượng trên. Ngược lại, trong vùng Nam Bán cầu thì khoảng từ 20 tháng 9 đến 20 tháng 3). Nhờ quan sát hiện tượng đó, dân Ai cập cách đây khoảng hơn 4000 năm đã tính ra gần đúng số ngày trong năm (365 thay vì 355 như Âm lịch), và cũng chính là lý do họ chọn làm lịch theo mặt trời, lưu truyền Dương lịch cho đến bây giờ! 

Các thủ đô của Trung hoa như Trường An hay Bắc kinh, vì nằm trong vùng ôn đới cách xa trên đường Phân cực (Tropic of Cancer) nên không thấy được hiện tượng nói trên, cũng như khôngcó ấn tượng nhiều về mặt trời, và cũng là lý do dể hiểu tại sao họ đã dùng mặt trăng để làm lịch. 

Theo đúng như trong sử Trung hoa ghi lại thì khoa Lịch số đã có từ thời Hoàng Ðế, cách đây hơn 4000 năm, do các chiêm tinh gia soạn ra (nghĩa nguyên thuỷ là nhà thiên văn hay chuyên gia coi sao trên trời, không phải bị biến nghĩa ra thành "thầy bói toán" như về sau này!) chiêm tinh gia biên soạn lịch số để định chuẩn thời gian cho việc hành chánh và cai trị của triều đình Vua quan, nhưng đồng thời cũng giúp rất nhiều cho nghề nông trongviệc tiên đóan thời iết hay thu hoạch mùa màng. Chắc chắn trong giai đoạn đầu khi mới có cho đến khoảng sau thời Hán Cao tổ, âm lịch cũng không tránh khỏi nhiều sai lầm, nhất là rất đơn sơ và chưa có Thiên can hay Ðịa chi như sau này. Bằng chứng là trong thời kỳ phát triển của Chu Dịch (1150 - 500 BC) cũng chưa nghe nói đến. Phải đến thời "Tam Quốc" của Khổng Minh (Gia cát Lượng) vào khoảng 200-300 AD thì mới có văn tự rõ rệt nói về các Thiên Can, đồng thời xuất hiện các khoa lý số như Kỳ Môn Ðộn Giáp, Thái ất Thần toán, hay Lục Nhâm Ðại Ðộn v.v. Hầu hết các sử gia Trung quốc đều công nhận là chỉ vào thời kỳ của Nhà Hán, sau mấy trăm năm chiến tranh liên miên từ thời Ðông chu Liệt quốc, nền văn minh Trung hoa mới thật sự khởi sắc và đi lên trong Thiên niên kỷ đầu tiên (0 -1000 AD). 

Theo chínhsử ghi lại, những nghiên cứu và phát minh của Trung hoa thật sự đã bắt đầu từ thời Tần thủy Hoàng, khi vị Hoàng đế tài giỏi nhưng tàn bạo này, có thể động viên hay chiêu dụ được nhiều đạo sĩ (coi như là khoa học gia theo tiêu chuẩn thời đó), trong việc thám hiểm, đi tìm kiếm các kỳ hoa dược thảo để luyện thuốc trường sinh bất tử cho ông. Dưới nhận xét bình thường thì cho rằng đó là việclàm xa xỉ, hoang tưởng và mê muội. Nhưng trong lãnh vực nghiên cứu khoa học ngày nay, Tần Thủy Hoàng rất xứng đáng được coi như đã có công sáng lập một cơ cấu kiểu Hàn lâm Viện khoa học đầu tiên cho nhân lọai! Những chi phí trong việc chiêu đãi hay thưởng công cho các đạo sĩ thời đó, dưới cái nhìn thiếu hiểu biết cho là phung phí, nhưng so với tỷ lệ ngân sách dành riêng cho khảo cứu khoa học ngày nay thì chẳng có nghĩa lý gìcả, dù là của một nước đang phát triển! Chính nhờ làm việc và sống chung tập thể với nhau đó, đã vô tình tạo ra môi trường tốt đẹp cho những sáng kiến mới, thi đua học hỏi, trao đổi kiến thức giữa các đạo sĩ với nhà vua, và có thể đã là cơ sở đóng góp cho nhiều phá minh quan trọng về khoa học và kỹ thuật sau này của Trung quốc. Hoá chất Lưu huỳnh dùng để làm thuốc súng, than đá, thủy ngân, chì, nam châm có từ tính, cách luyện thép, bàn ính (abacus), v.v. có thể đã được bắt đầu nghiên cứu hay tìm ra trong thờ kỳ này. Thí dụ về những huyền thoại phù phép mà Khổng Minh xử dụng, là do những phản ứng đặc biệt từ các hoá chất độc hại như lưu huỳnh, thuỷ ngân hay các loài dược thảo trộn chung với nhau khi bị đốt cháy. Kết qủa là làm cho đối phương bị gây mê, mất trí hay mạng vong trong những vùng gọi là bát qúai trận đồ. Nhưng một trong những thành quả tốt đẹp hơn hết chính là bộ môn xem thiên văn khí tượng bắt đầu xuất hiện được nhiều người biết đến. Nhờ vậy mà khoa lịch số đã được hiệu chỉnh, thay đổi đúng hơn cho tới bây giờ! 

Phương pháp soạn Âm lịch

Có thể chia ra làm hai giai đọan phát triển chính cho việc soạn thảo âm lịch.

Giai đoạn I: Kéo dài khoảng gần 2000 năm từ thời Hoàng đế cho đến thời Khổng tử. Trong giai đoạn này chỉ có ngày, tháng và năm. Chưa có chia ra giờ cũng như chưacó thiên can và địa chi. Công việc soạn lịch vào thời sơ khai này rất là dễ hiểu, không có gì phức tạp như nhiều người thường lầm tưởng. Những chiêm tinh gia thời đó chỉ dựa vào khoảng cách giữa hai tuần trăng tròn để tính số ngày cho một tháng. Khoảng cách của một năm thì được định bằng thời điểm vào lúc Trăng tròn nhất, khoảng ngày rằm tháng 8 (sau này thành ra tết Trungthu), và một phần dựa vào thời tiết thay đổi của 4 mùa. 

Khó khăn duy nhất lúc ban đầu là cứ cách khoảng chừng hai năm thì tháng có trăng tròn nhất bị kéo dài thêm một tháng. Ðó là những tháng nhuận, và cách giả iquyết thực tế đơn giản lúcbấy giờ là thêm nguyên một tháng vào những năm nhuận. Còn làm sao họ biết được năm nào nhuận là do phỏngchừng và dựa vào kinh nghiệm riêng của những đời trước theo kiểu cha truyền con nối. Chính cách làm theo lối thuận tiện như trên, nên âm lịch thường bị thành kiến cho là thiếu chính xác! Có thể trong thời kỳ này, tháng nhuận chỉ được thêm vào trong tháng trước tháng có trăng tròn nhất là tết Trung thu(?) Chỉ sau này khi bắt đầu ăn mừng ngày tết Nguyên đán và để không bị sai ngày quá xa, nên những nhà soạn lịch phải chia ra cho đều, thêm tháng nhuận vào các tháng khác. 

Ngoài ra có vài chi tiết cần được để ý là hệ thống Âm lịch dựa vào thiên can và địa chi chỉ có phân biệt tối đa là 60 năm, nên nếu muốn viết lịchsử, họ thường dùng năm cai trị của Vua hay triều đại làm chuẩn. Thí dụ như trong sách thường viết là năm thứ mấy đời Vua nào đó gặp thiên tai bão lụt v.v. Lâu dần trở thành thói quen dùng luôn cho đến khi bị ảnh hưởng của nền văn minh Tây phương thay đổi.

Về giờ giấc, lịch số ở thời kỳ đầu cũng chưa chia ra 12 giờ như sau này. Ðể định giờ, họ dùng cách nói phỏng phừng theo vị trí của mặt trời, mà mãi cho đến bây giờ, nông dân ít học ở các vùng quê vẫncòn dùng, như khi nói mặt trời vừa lên quá ngọncây (khoảng 8 đến 9 giờ sáng mùa hạ), hay mặt trời đứng bóng giữa trưa khoảng 12 giờ v.v. 

Những gì vừa trình bày có thể kiểm chứng bằng bộ sách Chu dịch đã được soạn ra khoảng từ thời nhà Chu (1150 BC) cho đến thời Khổng tử (550 BC). Cụ thể là việc lập quẻ Dịch. Trong bộ Chu Dịch chính bản chỉ ghi cách lập quẻ duy nhất là dùng cỏ Thi, còn gọi là phép bói cỏ Thi, mà không dùng đến giờ nào như Khổng Minh dùng để bấm độn sau này. Các lời bàn của 64 quẻ trong bộ Chu Dịch nguyên thuỷ hoàn toàn không có nói rõ về giờ giấc.

Giai Ðoạn II: Từ thời Khổngtử cho tới nhà Ðường khoảng chừng 1000 năm. Thời kỳ này văn minh Trung Hoa bắt đầu khởi sắc đi lên. Các Ðạo sĩ hay Chiêm tinh gia làm việc có phương pháp và khoa học hơn. Nhờ vậy, họ đã tìm ra hay khám phá được chu kỳ vận chuyển của các hành tinh trong Thái Dương hệ, và từ đó âm lịch mới được thay đổi để thêm vào Thiên can, Ðịa chi, Lục tuần Hoa giáp (hay chu kỳ 60 năm). Trướckhi đi sâu vào chi tiết, và để quý đọc giả dễ theo dõi vấn đề hơn, người viết xin nhắc lại một vài dữ kiện căn bản như sau:

Trong những đêm tốt trời không mây, nếu dùng mắt thường chúng ta có thể đếm được cả vài trăm ngôi sao là chuyện thường. Tuy nhiên, tất cả đều thấy gần như cố định không thay đổi theo năm tháng, vì không phụ thuộc vào một hệ thống vệ tinh như Thái dương hệ, hoặ cgiả có chu kỳ di chuyển quá lớn đến cả ngàn vạn năm. Còn lại, trừ trường hợp đặc biệt như sao chổi (Comet) và sao băng (Asteroid), chúng ta chỉ thấy được những hành tinh thuộc Thái dương hệ dic huyển mà thôi. Trong tám (8) hành tinh chính, trừ mặt trời và mặt trăng, mắt thường của chúng ta chỉ thấy được có năm(5) hành tinh. Ðó là Thủy tinh(Mercury), Kim tinh(Venus), Hỏa tinh(Mars), Mộc tinh(Jupiter), và chót là Thổ tinh(Saturn). Ba(3) hành tinh không thấy được bằng mắt thường là Diêm vương tinh (Uranus), Hải vương tinh (Neptune) và Thiên vương tinh(Pluto). Không biết có phải là trùng hợp ngẫu nhiên của tạo hóa, hay sắp đặt khéo léo của con người, trong 8 quái (Bát quái hay 8 hành?) của Dịch lý, các "Khoa học gia" thời đó chỉ thấy được có 5 quái: Ðịa, Sơn, Thủy, Lôi, và Hỏa, nên phát minh ra Ngũ hành (Ngườ viết đã trình bày trong bài "Những khám phá mới về Dịch lý và Ngũ hành" cách đây hơn hai năm.) .

Ðể tìm hiểu về 5 hành tinh thấy được chuyển động như thế nào, các Chiêm tinh gia thời đó đã dùng một phương pháp đơn giản nhưng rất khoa học, là ghi chép lại vị trí của các hành tinh sau một thời khoảng nhất định. Thời điểm tốt nhất để xem thiên văn là mỗi tháng một lần vào cuối hay đầu tháng, lúc trăng hoàn toàn bị che mất (đêm 29, 30 hay 1). Muốn định rõ vị trí của cácsao, có lẽ họ cũng biết dùng theo phương pháp chấm tọa độ, nhưng kém chính xác rất nhiều. Dùng sao Bắc đẩu làm chuẩn và theo đồ hình Bát quái, họ có thể định phương vị (hay khẩu độ) của một sao, và kế đến là cũng theo lối ước chừng độ cao của mặt trời để định khoảng cách từ đường chân trời. Thí dụ như để định vị ngôi sao ở 220 độ từ hướng Bắc (theo chiều kim đồng hồ) và 25 độ cách chân trời nằm ngang, họ có thể nói là nằm ở giữa cung Khôn (hướng Tây-Nam) cách chân trời khoảng một gang tay chẳng hạn. Về sau để được chính xác hơn, có thể các chiêm tinh gia đã dùng đến các tên của quẻ dịch để phân chia thành 64 cung trên vòng tròn. Ðó chính là lý do tạisao các nhà nghiên cứu về sau cóthể hiểu lầm vì bị nạn "tam sao thất bổn", nên tưởng là môn lịch số có nguồn gốc từ Dịch lý mà ra. 

Dù bằng cách nào thì cũng nhờ khái niệm tuần hoàn và chu kỳ âm dương của Dịch lý, chiêm tinh gia thời đó có thể tin chắc là các vì sao đều chuyển động theo một chu kỳ nhất định nào đó. Nếu không thì có lẽ họ không bỏ thì giờ quá lâu cho cả một đời người để tìm ra gần đúng chu kỳ của 5 hành tinh trong Thái dương hệ, trước Âu châu cả hơn ngàn năm!

Kết quả công trình nghiên cứu và ghi chép vị trí sao của các Chiêm tinh gia Trung hoa nói trên cho thấy là cứ mỗi 60 năm thì cả 5 hành tinh đều quay trở về lại gần vị trí cũ! Ðặc biệt hơn hết, là vào khoảng cuối năm Quý Hợi và đầu năm GiápTý thì cả 5 hành tinh đều hội tụ lại, và nằm sát với nhau chung một hướng. Xin nhắc lại đây để tránh hiểu nhầm, nhờ tìnhcờ ngẫu nhiên quan sát thấy hiện tượng 5 sao tụ hội về một chỗ trước khi phân tán ra, nên có thể các nhà lịch số cho rằng đó là khởi điểm đầu tiên cho chu kỳ 60 năm, và họ đặt tên cho năm có hiện tượng đó là GiápTý, đứng đầu trong bảng lục tuần hoa giáp. 

Sau đây là bảng tóm lược số vòng chu kỳ quay quanh mặt trời của 5 hành tinh, dựa theo thời gian một (1) năm của trái đất làm chuẩn:


Dựa vào bảng tính toán chu kỳ ở trên cho thấy có một vài chi tiết cần chú ý: Sau khoảng chừng 20 năm thì các sao tụ về tại một vị trí khác, và phải sau gần 60 năm của trái đất, thì cả bốn(4) sao Thủy tinh, Hỏa tinh, Mộc tinh, và Thổ tinh mới quay về gần đúng vị trí đầu tiên hay xê xích một chút. Khoảng cách sai số sau 60 năm là từ 10 đến 30 cung độ (arc), do các số lẻ thứ nhất của số chu kỳ trong 60 năm đều nằm trong giới hạn của 0 - 0.1 hay 0.9 - 1.0 theo vòng tròn (360 độ) của mặt trời. Ðối với người quan sát các hành tinh đứng từ vị trí trên trái đất và ở một gốc độ chéo, thì chắc sẽ nhìn thấy khoảng cách hay độ xê xích nhỏ hơn rất nhiều, hoặc có thể không thấy được độ sai biệt bằng mắt thường! Riêng trường hợp của Kim tinh (Venus) tuy nằm gần như đối diện với vị trí cũ (số lẻ 0.54), nhưng chu kỳ quay chung quanh mặt trời chỉ có chừng hơn 7 tháng, nên chỉ cần thêm khoảng 4 tháng (cũng còn trong 1 năm của trái đất) là quay vòng trở lại để hội tụ cùng các sao. 

Như vậy, với một vài bằng chứng ở trên có thể tạm kết luận rằng: Chuyện các chiêm tinh gia Trung hoa cách đây hơn 1000 năm đã tìm ra chu kỳ gần đúng của 5 hành tinh là sự thật hiển nhiên rất dễ hiểu theo khoa học. Hình vẽ thứ hai sau đây cũng để minh chứng cụ thể cho thấy vị trí của 5 hành tinh vào tháng 2 năm 1984 (dương lịch, âm lịch là 30 tháng Chạp năm Quý Hợi, gần tết Nguyên đán) theo cách tính đúng qũy đạo chính xác của khoa học ngày nay. 

Tuy nhiên cũng xin lưu ý và nhấn mạnh một lần nữa là do sự trùng hợp ngẫu nhiên đưa đến, không phải cứ 60 năm là các sao phải tụ về ở cùng một phương vị giống như vậy. Lý do là vì các sai số khoảng 0.06 cho Mộc tinh và 0.037 cho Thổ tinh như đã nói, nên phương vị của các sao tụ hội lại cũng thay đổi xê xích mộtchút sau khoảng 60 năm. Muốn các sao tụ hội về cùng phương vị gần giống như cũ phải mất khoảng 1600 năm, hay gần 27 lần của chu kỳ 60 năm! Nhưng dù vậy cũng chỉ gần đúng mà thôi. Nghĩa là trong thực tế không hề có sự trùng nhập lại giống y hệt như cũ được!

(Chú thích: Mercury bị che bởi Venus và Mars nên không thấy trong hình)

Nhân đây cũng nên nhắc đến một sự kiện lịch sử có ảnh hưởng rất nhiều đến vận mệnh của cả nước Việt nam. Do bởi các vua chúa Trung hoa thời bấy giờ vì quá tin vào lập thuyết của các chiêm tinh gia, cho rằng một khi các tinh tú đều chầu về một phương nào thì nơi đó tụ hội được nhiều linh khí, nghĩa là có "Thánh nhân" hay bậc đế vương sinh ra đời! Bởi vậy nên tính ra trong khoảng 400 năm ( 400 - 800 AD) vào thời nhà Ðường, các Sao đều chầu về phương Nam (gần giống như hình vẽ trên), làm cho họ phải lo sợ. Từ nguyên nhân đó, mới có việc sai phái đạo sĩ Cao Biền làm Thái thú để tìm cách trấn yểm phương Nam. Ngoài ra sau này họ cũng thường gởi các "Gián điệp" giả dạng đội lốt tu sĩ hay thầy Ðịa lý và thầy thuốc bắc để dò tìm nhân tài của Việ nam. Một khi phát hiện được nơi nào có "thần đồng" hay thiếu niên giỏi chữ là họ tìm đến để thử tài và tìm hiểu. Nếu đúng thì bằng nhiều cách như dụ dỗ, mua chuộc nếu cha mẹ nghèo, xin cho làm con nuôi để "dạy dỗ và huấn luyện chữ nghĩa v.v. Ðó là lý do tại sao trong những câu chuyện kể về các vị thần đồng Nho học của Việt nam thời xưa, thường nói tới việc có những người "khách lạ" tìm đến để ra câu đối và thử tài thông minh!

Nếu những gì nói trên đúng theo thuyết của các chiêm tinh gia Trung hoa, thì trong số những đứa trẻ sinh năm 1984-85 ở Việt nam sẽ cho ra nhiều thiên tài xuấtchúng ngoại hạng trong tương lai (!?) Ðúng hay sai thì chưa biết, nhưng ứng nghiệm vào các quốc gia thuộc vùng Ðông nam A¨ thịnh vượng giầu có hơn trong vòng 20 năm qua, và dĩ nhiên kết qủa là sẽ cho ra nhiều trẻ em thần đồng nhờ được nuôi dưỡng huấn luyện và giáo dục trong môi trường tốt hơn! 

Nói chung với cách tính phỏng chừng và đơn giản dựa vào ba sao là: Hỏa tinh (Mars) có chu kỳ gần 2 năm, Mộc tinh (Jupiter) có chu kỳ khoảng 12 năm, và Thổ tinh có chu kỳ gần 30 năm, các nhà làm Lịch số đã tìm ra mẫu số chung gần đúng là 60 năm để cả ba sao tụ hội lại gần nhau, và có cùng chung một cung, hay cùng phương vị theo bát quái (mỗi cung khoảng 45°.) 

Ðiều cần biết thêm ở đây chính là chu kỳ gần 2 năm của sao Hỏa (Mars), nghĩa là cách khoảng một năm thì các chiêm tinh gia thấy sao Hỏa nằm ở vị trí hướng đối ngược lại. Do hiện tượng trên trùng hợp với lý thuyết về Dịch hay luật âm dương, nên có thể các nhà lịch số tin rằng thời gian cũng giống như vậy là cứ một năm Dương một năm Âm thay đổi đều nhau! 

Mộc tinh (Jupiter) là sao quan trọng nhất có chu kỳ gần đúng 12 năm. Quan trọng theo các nhà Lịch số thời bấy giờ có thể từ hai lý do. Thứ nhất, đó là sao duy nhất để phân biệt và chuẩn định sự khác biệt của các năm. Thổ tinh (Saturn) vì xa và khó thấy hơn, nhất là chu kỳ đầu tiên quá lâu và có tới gần 30 năm không chính xác bằng Mộc tinh. Riêng Hỏa tinh thì lại càng không chính xác vì chu kỳ quá ngắn chỉ có khoảng gần 2 năm. Thứ hai, dựa vào kinh nghiệm tích lũy từ quan sát và thực nghịêm của các chiêm tinh gia theo lối cha truyền con nối có thể đã kéo dài trong vài trăm năm, sau Mặt trời và Mặt trăng, Mộc tinh có ảnhh ưởng nhiều nhất đối với con người và Trái đất (sẽ giải thích thêm ở mục Tử Vi). Chính vì vậy, họ đã dùng chu kỳ 12 năm của Mộc tinh để đặt tên cho 12 năm, còn gọi là Thập nhị Ðịa chi. Dám chắc mới đầu chỉ có tên bằng con số 1, 2, 3, 4,...12. (Nếu để ý thì thấy các số lẻ 1, 3, 5...thuộc số Dương, số chẳn 2, 4, 6... là số Âm, phù hợp với Dịch lý đã nói ở trên). Còn tại sao sau này lại có tên của 12 con vật là Tý, Sửu, Dần...v.v, thì lại thuộc một vài lý do khác không nằm trong phạm vi bài viết này, nên xin miễn bàn ở đây. Nói chung, yếu tố quan trọng là nhờ vào quan sát thực nghịêm, một phương pháp thông dụng trong nghiên cứu khoa học.

Sau cùng, có lẽ các chiêm tinh gia cũng chỉ thấy có sao Thổ tinh là có chu kỳ lâu nhất trong 5 hành tinh, nên theo trình độ hiểu biết thời bấy giờ, họ cho rằng đó là vị thần chính của nhà Trời ảnh hưởng đến mọi sự sắp đặt và thay đổi của "Thượng đế", nên gọi là Thiên Can (?). Nhưng tại sao là 10 mà không là 5, vì 5 nhân 12 mới bằng 60? Hỏi vậy là xem thường khả năng về Toán của chiêm tinh gia! Nếu chỉ dùng 5 số Thiên can ghép với 12 Ðịa chi sẽ bị trở ngại ngay, nhất là không giải quyết được nguyên tắc Âm Dương, một năm Dương và một năm Âm đi liền với nhau như đã giải thích về chu kỳ của sao Hỏa ở trên. Ðể giải tỏa vấn nạn đó, các chiêm tinh gia buộc phải dùng gấp đôi con số 5 lên thành 10, tuy vẫn duy trì 5 đặc tính Ngũ hành của Thiên can. Bởi vậy cho nên bây giờ chúng ta mới có hai Can đi liền với nhau có cùng chung một Hành (theo thuyết Ngũ hành), và có một Dương và một Âm. Thí dụ như Giáp với Ất (hành Mộc), Bính với Ðinh (Hỏa), Mậu với Kỷ (Thổ), Canh với Tân (Kim) và Nhâm với Quý (Thủy). 

Ngoài ra, do ảnh hưởng của thuyết Ngũ hành, việc đặt hay gọi tên 5 hành tinh theo Ngũ hành là hoàn tòan dựa vào màu sắc khi nhìn bằng mắt thường, và không có liên hệ gì với đặc tính vật lý. Theo lý thuyết của Ngũ hành về màu sắc, gọi là Mộc tinh vì có sắc xanh. Hỏa tinh vì có sắc đỏ như lửa. Thổ tinh vì có sắc vàng, Kim tinh (Venus) vì có sắc trắng do có độ sáng mạnh, và Thủy tinh (Mercury) có sắc đen vì quá gần mặt trời nên không thấy được sáng lắm!

Tóm lại hệ thống Âm lịch dựa vào các hành tinh chính sau: Mặt trời để định Giờ và Ngày, Mặt trăng dùng cho Tháng, Mộc tinh (Jupiter) dùng cho Năm hay 12 Ðịa chi, và sau cùng Thổ tinh (Saturn) và Hoả tinh (Mars) dùng để định Thiên can (Âm hoặc Dương) và Ðại Chu kỳ 60 năm hay LụcTuần Hoa Giáp. Ghi nhận thêm ở đây là theo âm lịch, mỗi tháng chia ra làm 3 tuần, có khoảng từ 9 đến 10 ngày, gồm: Thượng, Trung, và Hạ tuần. Về sau này thì các nhà soạn lịch tính và thêm vào các ngày đặc biệt như Ðại hàn, Tiểu hàn, Lập Đông, Hạ chí v.v 

Những Bí ẩn của khoa Tử vi 

Trong suốt hơn một ngàn năm, bộ môn Tử vi được coi như là khoa học huyền bí bởi tất cả các yếu tố an sao và giải đóan đều dựa theo một vài công thức định trước, mà không có sự giải thích hay chứng minh lý do tại sao. Dù tin hay không tin, thực tế cho thấy khoa tử vi cũng đã được lưu truyền trong dân chúng khá lâu, và ít nhất cũng đã có một số người chấp nhận, nghĩ rằng có thể dùng để đoán được phần nào vận mệnh tương lai của con người! Ðiều đáng ngạc nhiên là nếu đúng theo dữ kiện cho thấy, khoa Tử vi hiện tại này chỉ còn có Việt nam là đất dụng võ, dù có nguồn gốc từ Trung hoa. Ngay cả các sách viết về Tử vi ở TrungHoa cũng có nhiều, nhưng họ không thích xài Tử vi mà lại chọn các môn khác thông dụng hơn như Tử Bình (gọi tắt là Bát tự có 8 chữ, lấy số theo hàng Can và Chi của Năm, Tháng, Ngày và Giờ). Một lý do có thể giải thích là vì sau này họ đã khám phá và thấy được rằng, vận hành của các sao không được chính xác như đã tin tưởng lúc ban đầu!

Những gì được người viết phát hiện và trình bày sau đây cho thấy vài đặc tính khoa học của bộ môn Tử vi. Trần Ðoàn (được coi như ôngTổ sángchế ra Tử vi) hay các vị thầy tiền bối của ông vào khoảng thời nhà Ðường, có thể đã tiến xa hơn và biết khá nhiều về vận hành của các hành tinh. Nhưng tiếc rằng vì các điều kiện thực tế chủ quan về văn hóa xã hội thời bấygiờ, nên họ đã dấu kín và giữ kín bí mật tối đa, nhất là không muốn giải thích hay viết sách để lại lưu truyền cho hậu thế. 

Cung An mệnh. Theo quan niệm về triết lý nhân sinh của Khổng giáo chịu ảnh hưởng ít nhiều đạo Lão, mỗi người sinh ra đều có một số phận được an bài trước gọi là thiên mệnh. Các nhà lý số hay tử vi gia Trung hoa dựa vào lý thuyết trên nên tin rằng, khi một đứa bé vừa sinh ra đời là chịu ảnh hưởng định đoạt cho số phận bởi các tinh tú hiện diện trên trời ngay thời điểm đó. Câu văn nổi tiếng thường nghe là "...sinh ra đời dưới một ngô isao..." phản ánh niềm tin trên. Nói cách khác, khi một đứa trẻ sinh ra đời tại một địa điểm nào trên trái đất, sẽ chịu ảnh hưởng của tất cả các tinh tú chiếu vào ngay tại thời điểm đó, và định đoạt số mệnh luôn cả đời cho đứa bé vừa sinh!

Không phải tự nhiên mà các Tử vi gia (TVG) bày đặt ra cách an mệnh trong Tử vi như sau: Khởi từ cung Dần (hay tháng Giêng) đếm theo chiều thuận (kim đồng hồ) đến tháng sinh, rồi từ đó lại đếm ngược cho tới giờ sinh để an cung mệnh. Dựa vào triết lý số phận cùng cách an cung mệnh cho thấy, các TVG thời đó đã khám phá ra được hai đặ ttính vận hành của trái đất và mặt trời, một đúng và một sai! 

Thứ nhất, đúng là họ đã biết trái đất tự xoay vòng quanh lấy chính nó theo chiều ngược với kim đồng hồ! Trò chơi lồng đèn xoay (còn gọi là đèn kéo quân hay đèn cù) rất thịnh hành vào thời nhà Ðường, cho thấy các TVG lúc bấy giờ có thể đã có khái niệm về trái đất tròn và xoay. Nhưng như đã viết ở trên, họ đã giữ làm bí mật gia truyền, và nhất là sợ nguy hiểm cho chính bản thân và gia đình do quan niệm "Thiên cơ bất khả lậu" hoặc vì những người cầm quyền như Vua Chúa không tin (giống như trường hợp của Gallileo). Một lý do khác là ngay chính các TVG cũng không hiểu và không giải thích được hiện tượng tại sao con người không bị rơi ra ngoài nếu trái đất xoay tròn! Thêm vào, các hiện tượng thiên nhiên như nhật thực hay nguyệt thực, đã tạo cơ hội để các TVG hiểu ánh sáng từ mặt trăng là do từ ánh sáng mặt trời chiếu vào và thỉnh thoảng lại bị trái đất che (cho trường hợp nguyệt thực). Có thể với cách suy luận tầm thường và đơn giản theo lối chứng minh "phản đề" là: Nếu Trái đất nằm yên không xoay, thì dựa vào quan sát hàng ngày cho thấy mặt trời, mặt trăng, năm (5) hành tinh và đa số các tinh tú thấy được, phải "chạy" xung quanh trái đất mỗi ngày một lần! Ðiều này cho thấy hoàn tòan vô lý vì nhờ các hiện tượng nhật thực và nguyệt thực. Cụ thể như nhờ có hiện tượng nhật thực toàn phần giữa ban ngày, các TVG đã thấy được các ngôi sao và các hành tinh hiện ra, dù trong chốclát. Nghĩa là không phải vào ban ngày, các tinh tú chạy xuống dưới đất rồi đến tối mới hiện lên! 

Thứ hai, các TVG đã hiểu sai khi khám phá ra và tin rằng mặt trời quay chung quanh trái đất mỗi năm một lần theo chiều thuận kim đồng hồ! Nhưng thật là may mắn cho khoa Tử vi, cái sai về lý thuyết lại trở thành đúng trên thựctế! Lý do là nhờ luật tương đối về chuyển động. Nghĩa là nếu các TVG đang đứng trên trái đất nhìn mặt trời, trong khi trá iđất di chuyển xung quanh mặt trời theo chiều ngược kim đồng hồ, thì cũng giống như các TVG đứng trên trái đất nằm yên, và nhìn mặt trời di chuyển xung quanh trái đất theo chiều thuận kim đồng hồ!.

Những bằng chứng trên cho thấy khi an cung mệnh, các TVG đã theo gần đúng nguyên tắc vận hành của trái đất và mặt trời, xác định vị trí tương đối lúc đứa bé sinh ra đời trong thái dương hệ. Tuy nhiên, xin được nhấn mạnh và giải thích rõ ở đây thêm một chút để tránh sự hiểu lầm. Ðúng ra, phần nào là do ảnh hưởng thể xác của người mẹ, do tính di truyền hay phù hợp với môi trường vào thời điểm đó, nên "chuyển bụng" mà sinh ra đứa bé, hơn là do cơ thể đứa bé sinh ra chịu ảnh hưởng của các hành tinh! 

Vòng Tử vi và Thiên Phủ: Coi như quan trọng nhất cho lá số tử vi nên dựa vào tất cả bốn yếu tố là Năm, Tháng, Ngày và Giờ sinh. Nghĩa là chịu ảnh hưởng của Mặt trời, Mặt trăng và năm hành tinh. Theo nhận xét của người viết thì có thể sau khi định vị trí của đứa rẻ khi mới sinh ra đời dựa vào tháng và giờ, các TVG còn dựa vào hai yếu tố sau cùng là vị trí của các hành tinh hay thiên can, và vị trí của Mặt trăng hay ngày sinh. Nhưng làm sao họ biết sao Tử vi phải được an ở đâu dựa vào ngày sinh (?), và đây vẫn còn là một bí ẩn cần được nghiên cứu thêm. Câu trả lời tạm thời là có thể các TVG đã dựa vào quan sát thực nghiệm hình ạng và khuôn mặt của hàng trăm (hay vài ngàn) đứa trẻ trong một thời gian kéo dài cả mấy trăm năm. KhoaTướng số cũng cóthể nhờ đó mà phát sinh ra. Nên nhớ là ngày nay các nhà coi Tử vi chuyên nghiệp cũng cần phải dựa vào hình dạng hay tướng mạo để "điều chỉnh" và kiểm chứng lại trước khi bàn tới lá số của người nào.

Vòng Thái tuế: Trong số những người Việt nổi tiếng một thời nghiên cứu về khoa Tử vi, có thể TVG Thiên lương (bút hiệu) là người đã khám phá ra những yếu tố quan trọng đặc biệt nhất về vòng an sao Thái tuế. Vòng Thái tuế theo quan niệm của nhóm nghiên cứu TVG Thiên Lương, có ảnh hưởng nhiều đến thái độ sống và cách ứng xử của con người đối với xã hội. Tại sao vòng Thái tuế lại đóng một vai trò chính trong khoa Tử vi? Câu trả lời là vì đã dựa vào sao Mộc tinh (Jupiter). Các chiêm tinh gia từ xưa đã quan sát và biết chu kỳ đặc biệt duy nhất gần 12 năm của Mộc tinh trong Thái dương hệ. Nhưng yếu tố chính quan trọng ở đây là họ đã cảm nhận được ảnh hưởng của Mộc tinh đối với các sinh vật đang sống trên trái đất, nhất là con người theo từng năm (bởi vậy nên SaoThái tuế bao giờ cũng an theo năm sinh, nghĩa là sinh năm nào thì an Thái tuế ở ngay cung đó). 

Theo dữ kiện khoa học tìm thấy được, Mộc tinh (Jupiter) hay saoThái tuế có hai đặc tính nổi bật nhất trong Thái dương hệ. Thứ nhất là Hành tinh lớn thứ hai chỉ nhỏ hơn Mặt trời, với đường bán kính trung bình khoảng chừng 70 ngàn cây số (km), gấp 11.2 lần Trái đất. Do đó, lực hấp dẫn (gravity) của Mộc tinh lên Trái đất rất là đáng kể (chỉ sau Mặt trăng quá gần với Trái đất). Thứ hai, và đây mới chính là điều đáng nói, ảnh hưởng từ trường của Mộc tinh mạnh nhiều hơn khoảng 10 lần của Trái đất. Yếu tố sóng từ trường như các phát hiện gần đây cho thấy, ảnh hưởng rất nhiều trên não bộ của con người nhất là cho các trẻ em! Thí dụ cụ thể là cách đây mấy năm, đã xảy ra hiện tượng một số các trẻ em Nhật bị ói mửa và bất tỉnh vì coi một chương trình truyền hình! Hay giới y học càng ngày càng có khuynh hướng tin và công nhận các loại sóng từ trường, từ các dụng cụ điện tử hay các đường dây điện cao thế, có thể gây nguy hại cho não bộ con người nếu hấp thu quá nhiều!

Trở lại chuyện tử vi, theo lý giải của phái TVG Thiên lương nếu người nào an mệnh tại cung có sao Tuế phá, xung chiếu với cung thiên di có sao Thái tuế, thì người đó thường hay bất mãn chống đối, sinh bất phùng thời, v.v. Ðể kiểm chứng hiện tượng trên, người viết chọn một lá số thí dụ để cho cung mệnh có được sao tuế phá: Người tuổi Canh-Thìn (1940), sinh tháng 9, giờ Tý, mệnh an ở cung tuất. Sauđó, dùng cách định vị trí của các hành tinh vào thời điểm nói trên, thì thấy rằng vị trí trên mặt đất vào giờ đó đối diện thẳng với sao Mộctinh, và ở vị trí gần nhất, theo hình vẽ sau: 


Dựa vào hình vẽ trên cho thấy người sinh tháng 9 giờ Tý và người sinh tháng ba giờ Ngọ đều an mệnh tại cung Thìn và có cùng sao Tuế phá tại mệnh. Khác biệt duy nhất của hai trường hợp trên là chỉ có người sinh tháng 9 mới chịu ảnh hưởng hoàn toàn của Tuế phá, trong khi người sinh tháng 3 thì ngược lại không ảnh hưởng tí nào vì nhờ mặt trời che hoàn tòan! Một yếu tố có thể là do ảnh hưởng của sóng từ trường quá nhiều từ mộc tinh, nên não bộ của đứa bé lớn lên sẽ có khuynh hướng phát triển nhiều, thuộc loại thông minh hơn người, và thường đưa đến trường hợp chống đối những chuyện chướng tai gai mắt, nên dễ đưa đến bất mãn vì không hùa theo với người được (trường hợp của Cao Bá Quát trong lịch sử). Mặt khác có thể do thiếu giáo dục và hướng dẫn, dễ kết bè đảng với kẻ xấu (Kiếp, Không, Sát Phá Tham hãm địa) thành tay đạo tặc gian hùng v.v. Nên nhớ là những tay đạo tặc gian hùng có tiếng tăm phần đông đều thuộc loại thông minh hơn người rất nhiều !

Hai hành tinh gần mặt trời nhất cũng có thể làm cơ sở để an một số sao trong Tử vi. Kimtinh (Venus) có chu kỳ 0.61 và quay trở lại vị trí cũ (khoảng chừng 5 vòng) cho mỗi 3 năm tròn của trái đất, nên có một số sao trong Tử vi chỉ an theo ba (3) nhóm gồm: Thìn Tuất Sửu Mùi (Tứ mộ), hay Dần Thân Tỵ Hợi và Tý Ngọ Mão Dậu.

Ðặc biệt Thủy tinh (Mercury) quay quanh mặt trời quá mau, cứ mỗi ba tháng làm 1 vòng, trong khi trái đất cứ ba tháng lại di chuyển một phần tư (1/4) vòng chung quanh mặt trời, nên theo vị trí tương đối của người đứng quan sát từ mặt đất sẽ thấy như Thủy tinh chỉ di chuyển trong 4 vị trí chia đều trên vòng tròn (vì tầm nhìn quan sát bị gián đoạn không liên tục, do vị trí của Thủy tinh quá gần mặt trời). Phải chăng vì vậy mà sao Thiên Mã và một số sao khác chỉ an trong 4 cung thuộc trong 3 nhóm trên (?)

Những gì vừa được trình bày cho thấy mặc dù khoa Tử vi đẩu số không được hoàn hảo và còn nhiều nghi vấn theo tiêu chuẩn khoa học hiện đại, nhưng dám chắc rằng đó chính là biểutượng cho tinh hoa của nền văn minh Ðông phương, một thời rạng rỡ đã qua trong thiên niên kỷ đầu tiên của nhân loại, và hy vọng sẽ có ngày trở lại trong vinh quang của thiên niên kỷ thứ ba này. 

Nguyễn Cường

Sacto 1/ 2003


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Nguồn gốc của Âm lịch và Tử vi

Đeo vòng tay bên trái hay phải để hóa giải điềm dữ và đón nhận điềm lành?

Đeo vòng tay đúng bên sẽ giúp cải thiện vận số đáng kể nhưng không nhiều người biết điều này.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Vòng tay là một vật trang sức khá quen thuộc với nữ giới, đó không chỉ là một vật trang trí mà thông qua vòng tay còn thể hiện cá tính đặc sắc của chủ nhân. Tuy nhiên, chúng ta thường coi vòng tay là vật trang trí thông thường và luôn đeo tùy tiện miễn hợp mắt mình, nhưng không biết rằng việc chọn đeo vòng tay bên nào cũng ảnh hưởng rất nhiề đến vận mệnh của mình. 
Một số lời khuyên từ các nhà phong thủy trong việc đeo vòng tay sẽ giúp bạn cải thiện vận số tốt hơn. 
Bạn nên đeo vòng vào tay trái trong những trường hợp sau để gặp may mắn, thuận lợi
vong-tay-1
(ảnh: Internet)
1. Đeo vòng vào tay trái để được may mắn khi đi đến những điểm như phòng thi, trung tâm xổ số, các buổi rút thăm trúng thưởng... sẽ khiến vận may được sinh sôi dồi dào.

2. Trong những buổi họp, hội thảo quan trọng mà cần nắm phần thắng thì cũng nên đeo vòng vào tay trái để tăng sức mạnh nội lực,tỏa ra nguồn năng lượng vô tận khiến công việc suôn sẻ hơn. 
3. Khi cần giao dịch các vấn đề liên quan đến tiền bạc như vào ngân hàng, công ty chứng khoán... đeo vòng tay trái sẽ khiến đường tài lộc thông hanh, vận tiền tài trôi chảy.
4. Khi thăm viếng người cao tuổi, gia đình sếp của bạn, các giáo viên, thầy cô cũ, học giả hay người quan trọng cũng nên đeo vòng vào tay trái để ăn nói được suôn sẻ, tránh gây mất lòng.
5. Nên đeo vòng vào tay trái khi tham dự các buổi lễ quan trọng, khi thăm viếng nơi linh thiêng, lễ khánh thành, khai trương...
Bạn nên đeo vòng vào tay phải đối với những trường hợp sau 
vong-tay-2
(ảnh: Internet)
1. Đi đến những nơi âm thịnh dương suy như đám tang, viếng mộ, bệnh viện, những ngôi nhà hoang cũ hoặc rừng rậm thâm sâu
2. Đeo vòng vào tay phải khi phải đi ngang những nơi có giết chóc như lò mổ, tòa án, bệnh viện, đoạn đường nhiều tai nạn giao thông 
3. Những nơi có mùi ô uế như nhà tù, bãi rác, nhà vệ sinh công cộng và những nơi ô nhiễm, bẩn thiểu khác
4. Khi phải vào nơi có thể tiếp xúc với người nghiện hút, tù tội...
Theo các chuyên gia phong thủy, đeo vòng tay đúng hướng trong từng trường hợp sẽ giúp hóa dữ thành lành, tránh vận điều xấu vào thân và gặp được nhiều may mắn hơn.

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Đeo vòng tay bên trái hay phải để hóa giải điềm dữ và đón nhận điềm lành?

Sinh năm 1992 mệnh gì –

Người sinh 1992, Nhâm Thân, có Ngũ hành năm sinh là Kiếm Phong Kim, nhưng Mệnh Cung của Nam và Nữ khác nhau: 1. Nam Cung CẤN, hành THỔ, hướng Đông Bắc, quái số 8, sao Bát Bạch, Tây tứ mệnh (Hướng nhà tốt: Đông bắc, Tây, Tây Bắc, Tây Nam). Đeo đá màu
Sinh năm 1992 mệnh gì –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Sinh năm 1992 mệnh gì –

Chùa Tảo Sách - Hà Nội

Chùa Tảo Sách còn được gọi là Tào Sách hay Linh Sơn tự. Đây là ngôi chùa cổ thuộc xã Nhật Tân, tổng Thượng, huyện Hoàn Long, tỉnh Hà Đông cũ nay là Hà Nội
Chùa Tảo Sách - Hà Nội

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Chùa Tảo Sách còn được gọi là Tào Sách hay Linh Sơn tự. Đây là ngôi chùa cổ thuộc xã Nhật Tân, tổng Thượng, huyện Hoàn Long, tỉnh Hà Đông (cũ), nay thuộc phường Nhật Tân, tỉnh Hà Nội, từ lâu đã được công nhận là di tích lịch sử văn hóa. Chùa thuộc phái Tào Động, khởi nguồn từ Thiền sư Thủy Nguyệt, Trưởng môn phái Tào Động truyền thụ đệ tử trụ trì các chùa quanh Hồ Tây.

Theo sử sách ghi chép lại, chùa có từ thời tiền Lê. Chùa nằm ngay sát Hồ Tây thơ mộng, có quy mô rộng lớn, cổ kính trang nghiêm, non xanh nước biếc, cảnh sắc tươi đẹp. Đặc biệt chùa còn lưu giữ được rất nhiều tư liệu Hán Nôm có giá trị.

Chùa có 42 câu đối (39 câu đối chữ Hán, 3 câu đối chữ Nôm), 23 bức đại tự, 2 quả chuông trong đó 1 quả đúc năm Minh Mệnh tam niên (1822), 24 văn bia, trong đó có đến 12 bia được lập vào năm Tân Tị niên hiệu Bảo Đại (1941).

Về nội dung văn bia: chủ yếu là bia hậu ghi tên những người công đức tiền của giúp chùa xây dựng Phật đường và sửa sang phạn vũ, ngoài ra còn có những văn bia có giá trị khác như:

  • Linh Sơn tự kỉ niệm bi kí (Bia ghi về kỉ niệm của chùa Linh Sơn) của Hòa thượng Phan Trung Thứ lập vào năm Tân Tị niên hiệu Bảo Đại (1941);
  • Cựu Tào Sách Hoa Nghiêm hội bi kí (bia ghi về hội Hoa Nghiêm của chùa Tào Sách cũ) và
  • Linh Sơn tự Hoa Nghiêm hội bi kí (bia ghi về hội Hoa Nghiêm chùa Linh Sơn) của Cúc Hương Hoàng Thúc Hội.

Cả 2 tấm bia do Cúc Hương Hoàng Thúc Hội soạn đều được lập vào năm Bảo Đại thứ 8 (1933). Tấm bia thứ nhất nói về hoạt động của hội Hoa Nghiêm, lấy kinh Hoa Nghiêm làm tông chỉ, mục đích là siêu độ cho thân nhân của những người trong hội, cùng những quy ước của bản hội. Tấm bia thứ 2 ghi về việc Cúc Hương Hoàng Thúc Hội mang phả điệp của những người trong hội khắc lên đá cho tiếng thơm mãi lưu truyền.

Bia Linh Sơn tự kỉ niệm bi kí là một trong những tấm bia tiêu biểu trong chùa, được bảo quản khá tốt trong nhà bia, các nét chữ đều rất rõ ràng, bia có 1 mặt, kích thước: 0,82×1,45m, trán bia có hình lưỡng long chầu nguyệt, xung quanh diềm bia có hoa văn hoa lá, bia được lập vào năm Tân Tị niên hiệu Bảo Đại (1941).

Năm 1993, chùa Tảo Sách được Nhà nước công nhận là di tích lịch sử văn hoá cấp quốc gia.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Chùa Tảo Sách - Hà Nội

Vật phẩm phong thủy hồ ly –

Sử dụng Hồ Ly tốt nhất nên chọn Hồ Ly đen, vì nó là màu của Cửu vĩ Hồ. Chất liệu tốt nhất của linh vật phong thuỷ là đá tự nhiên. Trong truyền thuyết Trung Quốc, Hồ Ly là tên gọi của cáo đã tu luyện thành tinh. Và trong các loài vật, thì loài Cáo là

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Sử dụng Hồ Ly tốt nhất nên chọn Hồ Ly đen, vì nó là màu của Cửu vĩ Hồ. Chất liệu tốt nhất của linh vật phong thuỷ là đá tự nhiên.

Trong truyền thuyết Trung Quốc, Hồ Ly là tên gọi của cáo đã tu luyện thành tinh. Và trong các loài vật, thì loài Cáo là loài thông minh nhất sau con người.

vật phẩm phong thủy hồ ly

– Theo truyền thuyết, Hồ Ly có thể tu hành luyện đạo; tu một trăm năm thì ba cái đuôi sẽ mọc ra và được gọi là “Yêu Hồ”, tu luyện đến một nghìn năm thì chuyển sang loài “Lục vĩ ma hồ” (Cáo ma 6 đuôi), và cứ như vậy; khi đến được cảnh giới là chín đuôi (Cửu vĩ thiên hồ) thì thế gian đích thị vô thượng cảnh giới; không ai rõ đích xác phải bao năm mới đạt được đến cảnh giới. Mỗi chiếc đuôi là một mạng của Hồ Ly. Muốn giết chết một Hồ ly thì phải chặt hết các đuôi trước.

– Tất cả các Hồ Ly thường là Cáo cái, các Hồ ly con sinh ra được là do Hồ ly mẹ đã uống thuốc tiên ngàn năm. Hồ ly cái khi hoá thành người thường vô cùng xinh đẹp, thông minh, có sức quyến rũ kì lạ. Các Hồ ly cái thường sử dụng ưu điểm đó để hớp hồn đàn ông và thực hiện các mục đích đã được vạch ra trước.

– Hồ Ly vốn là Cáo nên cũng có nhiều đặc tính giống Cáo, đó là rất thích ăn thịt gà. Tuy nhiên màu lông của Hồ ly thì khác hẳn so với cáo thường. Tuỳ theo số năm tu luyện mà chúng đổi màu theo đó. Tương truyền, lông của Cửu vĩ hồ thường đen tuyền. Hồ Ly thường sống trong các hang động lạnh vì chúng ưa lạnh. Mỗi khi ra khỏi hang động đều thay đổi hình dạng. Chỉ khi chết Hồ Ly mới trở lại y nguyên hình dạng của một con Cáo. Các lão Hồ Ly (Hồ Ly già, thường là đã sống được khoảng ngàn năm tuổi) có khả năng tiên đoán rất chính xác. Hồ Ly cũng có tổ chức bầy đàn. Thủ lĩnh tối cao nhất của Hồ Ly thường được gọi là “Hồ cung chủ”. Chức vị đó được truyền từ đời này sang đời khác, thường là truyền cho đứa con mà “Hồ cung chủ” đó yêu thương nhất hoặc tài giỏi nhất.

– Có tương truyền rằng Đắc Kỷ- mỹ nữ thời Trụ Vương là một “Hồ cung chủ” của Hồ Ly thời đó. Rất nhiều thành ngữ có yếu tố nói về sắc đẹp của Đắc Kỷ hoặc sắc đẹp hồ ly để nói về những nữ nhân có sắc đẹp làm mê muội những nam nhân có quyền lực.

– Và theo quan niệm trong dân gian Tung Quốc từ xưa đến nay, nếu sở hữu mặt đeo Hồ Ly hoặc tượng Hồ Ly, nhất là đối với phụ nữ, thì sẽ mang lại sự may mắn vượt bậc về đường tình duyên, hôn nhân, giữ gìn hạnh phúc lứa đôi. Và Hồ Ly rất thích số Tám ( Bát- Phát) nên người sở hữu nó sẽ gặp thêm nhiều may mắn về đường tài lộc, sự tiến triển trong sự nghiệp.

– Khi sử dụng Hồ Ly tốt nhất nên chọn Hồ Ly thạch anh hồng, hồ ly đá mắt hổ vàng, hồ ly đá mã não đen, quý hơn nữa là Hồ Ly thạch anh đen vì nó là màu của Cửu vĩ ( Hồ Ly chín đuôi ) cảnh giới cao nhất của Hồ Ly.
– Chất liệu tốt nhất là đá tự nhiên như đá thạch anh, đá mắt hổ, đá mã não…

– Không nên sử dụng Hồ Ly làm bằng đồng hoặc chất liệu nhân tạo, vì như vậy sẽ mang nhiều “sát khí” hơn là “cát khí”, không sử dụng Hồ Ly nếu không biết rõ nguồn gốc xuất xứ, chất liệu hình thành để tránh trường hợp bị tác dụng ngược.

– Nếu sử dụng tượng Hồ Ly nên trưng ở phòng ngủ hoặc để ở nơi làm việc ( trong góc khuất), nên chọn hướng, ngày giờ tốt và hợp tuổi để an vị. Và nhờ sự tư vấn của cửa hàng phong thuỷ nơi bạn đến.

– Khi sử dụng mặt dây chuyền đeo cổ mặt Hồ Ly thì nên tẩy uế trước khi sử dụng bằng cách dùng rượu trắng lau qua. Khác với Tỳ Hưu, Thiềm Thừ…, Hồ Ly vẫn có thể đeo bên mình khi làm chuyện phòng the, vợ chồng.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Vật phẩm phong thủy hồ ly –

Giờ Dậu là mấy giờ? Giờ Dậu từ mấy giờ tới mấy giờ?

Chắc hẳn nhiều người sẽ thắc mắc không rõ giờ dậu là mấy giờ, giờ dần là mấy giờ? Mình sinh giờ dậu, vậy mình sinh vào khoảng thời gian nào trong ngày?....Để tìm hiểu cách tính giờ theo 12 con giáp mà ông cha ta từ xưa vẫn sử dụng, chúng ta hãy cùng tìm hiểu sau đây:

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Do ngày xưa các cụ ta tính giờ theo 12 con giáp, vì vậy khi về nhà bạn thử hỏi ông bà mình xem “con, cháu được sinh ra vào giờ nào?” Chắc hẳn câu trả lời sẽ là giờ hợi, tý, dậu, thìn, tỵ...thay vì chính xác giờ nào. Trong bài ngày hôm nay chúng ta hãy cùng tìm hiểu xem giờ dậu là mấy giờ, chính xác là vào khoảng thời gian nào trong ngày nhé.

Giờ Dậu là mấy giờ? Giờ Dậu từ mấy giờ tới mấy giờ?

Xem thêm những bài viết liên quan khác:

+ Giờ Hợi là mấy giờ?

+ Giờ Mão là mấy giờ?

Giờ dậu là mấy giờ?

Chắc hẳn nhiều người sẽ thắc mắc không rõ giờ dậu là mấy giờ, giờ dần là mấy giờ? Mình sinh giờ dậu, vậy mình sinh vào khoảng thời gian nào trong ngày?....

Để tìm hiểu cách tính giờ theo 12 con giáp mà ông cha ta từ xưa vẫn sử dụng, chúng ta hãy cùng tìm hiểu sau đây:

 

Giờ

Thời Gian

Giờ

Thời Gian

Tý - con chuột

Từ 23 giờ đêm đến 1 giờ sáng

Ngọ - con ngựa

Từ 11 giờ đến 13 giờ trưa

Sửu - con trâu

Từ 1 giờ sáng đến 3 giờ sáng

Mùi - con dê

Từ 13 giờ đến15 giờ xế trưa

Dần - con hổ

Từ 3 giờ đến 5 giờ sáng

Thân - con khỉ

Từ 15 giờ đến 17 giờ chiều

Mão - con mèo

Từ 5 giờ đến 7 giờ sáng

Dậu - con gà

Từ 17 giờ đến 19 giờ tối

Thìn - con rồng

Từ 7 giờ đến 9 giờ sáng

Tuất - con chó

Từ 19 giờ đến 21 giờ tối

Tỵ - con rắn

Từ 9 giờ đến 11 giờ sáng

Hợi - con heo

Từ 21 giờ đến 23 giờ khuya

 

Nhìn vào bảng trên bạn sẽ dễ dàng nhận thấy, giờ dậu nằm trong khoảng thời gian từ 17 giờ chiều đến 19 giờ tối. Không chỉ trả lời được câu hỏi giờ dậu là mấy giờ mà bạn còn trả lời được 11 câu hỏi tương tự khác ứng với 11 con giáp còn lại. Được biết, niên lịch cổ truyền Á Đông trên đã xuất hiện từ đời Hoàng Đế bên Tàu, 2637 trước Thiên Chúa năm 61.

Người sinh giờ dậu có gì đặc biệt?

Hầu như tất cả mọi người đặc biệt là các bạn trẻ đều rất hay đi xem tử vi mục đích là muốn biết số phận bản thân ra sao, sang hay hèn, may mắn hay là không.

Khi đi xem tử vi chắc chắn bạn sẽ phải khai về ngày tháng năm sinh, giờ sinh. Giờ sinh của một người ảnh hưởng rất lớn đến số phận của người đó. Để xem người sinh giờ dậu ra sao, bạn hãy nhớ kỹ 4 câu thơ sau đây. Chắc hẳn không phải 10 người sinh giờ dậu đều giống nhau, mỗi người có một số phận khác nhau, nhưng chúng ta hãy cùng thử tìm hiểu, tham khảo xem cuộc đời mình có từng như vậy hay không nhé.

1. Người sinh đầu giờ dậu, tức trong khoảng 17 giờ - 18 giờ

Bạn nào sinh đầu giờ DẬU:

Sinh ra còn cả mẹ cha

Thông minh lại gặp bạn bè hiền lương

Anh em thân thích cậy trông

Giàu sang hạnh phúc, cháu con sum vầy

2. Chính dậu, tức sinh vào đúng 18 giờ.

Bạn nào sinh giữa giờ DẬU:

Giữa giờ thuận mẹ khắc cha

Tánh tình nóng nảy cũng hay giận hờn

Trước thì khắc cả mẹ con

Sau này cũng đặng có ngày dựng nên

3. Cuối giờ dậu, 19 giờ.

Bạn nào sinh cuối giờ DẬU:

Số sinh khắc mẹ lẫn cha

Tha phương lập nghiệp mới nên cửa nhà

Tiền vận vất vả gian truân


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Giờ Dậu là mấy giờ? Giờ Dậu từ mấy giờ tới mấy giờ?

Những kiểu ban công “tụ” tài lộc và sức khoẻ

Trong kiến trúc hiện đại, có một thành tố không thể thiếu góp phần cấu thành căn hộ đó là ban công và lô gia.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Ban công và lô gia góp phần tạo nên hiệu quả thẩm mỹ của mặt đứng công trình, đồng thời góp phần cung cấp thêm khoảng không gian mở, tạo điều kiện để con người tiếp xúc với thiên nhiên. Xét dưới góc nhìn phong thuỷ, nếu như nói phần diện tích trong nhà mang tính động thì lô gia và ban công như phần tĩnh giúp cân bằng âm dương trong tổng thể của căn nhà.

 nhung kieu ban cong “tu” tai loc va suc khoe - 1

Ban công đẹp nhưng nên tạo gờ để duy trì và lưu giữ dòng năng lượng trong căn hộ.

Giải phóng dòng năng lượng đã qua sử dụng

Xã hội hiện đại phát triển nhanh cùng lúc kéo theo việc hình thành các khu chung cư cao tầng. Trong các khu nhà này cửa nhà chính thường có xu hướng quay vào trong phần hành lang chung, trong khi chỉ có ban công mới được tiếp xúc trực tiếp với ngoại cảnh tự nhiên, tức là các yếu tố nắng, mưa, không khí, ánh sáng.

Bởi vậy trong ứng dụng phong thuỷ, có ai đó đặt vấn đề là nên dùng hướng ban công làm hướng chính để luận đoán phong thuỷ ngôi nhà vì có lẽ khí (trong Phong Thuỷ) ở đây được hiểu theo hướng là không khí, là ánh sáng. Phần cửa sổ thu nhận nhiều khí hơn cửa chính nên coi đó là yếu tố chính để luận đoán.

Quan điểm này nghe qua có vẻ đúng, nhưng nếu đặt vấn đề là thử bịt cửa chính của căn hộ đó thay vào đó chỉ dùng cửa sổ thì câu hỏi là liệu con người đó có sống nổi không, trong khi nếu chúng ta có chẳng may sống ở một căn hộ nào đó mà thiếu ban công, cửa sổ thì tất nhiên là cũng vẫn sinh hoạt được.

 nhung kieu ban cong “tu” tai loc va suc khoe - 2

Ban công đơn giản, kín đáo, tỷ lệ đẹp dễ tạo và lưu giữ nguồn năng lượng tích cực.

 nhung kieu ban cong “tu” tai loc va suc khoe - 3

Ban công bán nguyệt là một dạng thức tốt theo phong thuỷ.

Do vậy khi ứng dụng phong thuỷ thì yếu tố đại môn - tức là cửa ra vào - chính là hướng dùng để luận phong thuỷ. Tất nhiên là về lâu về dài thì thì một căn nhà chỉ có cửa mà không có ban công cũng sẽ không tốt, do hiện tượng bế khí theo phong thuỷ, còn nói theo khoa học thì là không có sự thông thoáng.

Chúng ta nên hiểu yếu tố khí được sinh ra là do tương tác, sự vận hành của dòng người đem năng lượng dương cho ngôi nhà. Nếu coi cửa chính như nơi nạp năng lượng cho căn hộ thì ban công hay cửa sổ góp phần điều tiết và làm giải phóng dòng năng lượng đã qua sử dụng tức là giải quyết vấn đề bế khí, nói theo ngôn ngữ Phong thuỷ.

Lưu trữ dòng năng lượng tốt, cân bằng cho ngôi nhà

 nhung kieu ban cong “tu” tai loc va suc khoe - 4

Hình thức Ban công đan chữ X.

 nhung kieu ban cong “tu” tai loc va suc khoe - 5

Các hình thức phô trương kết cấu nếu thiết kế không khéo sẽ tạo nên hình tượng xấu trong phong thuỷ - Tượng “lộ cốt”

Chính vì thế, khi chọn vị trí của ban công trong tổng thể ngôi nhà cũng nên quán xét vị trí của ban công và hướng cửa chính.

Không nên bố trí ban công hay cửa sổ thẳng hướng với cửa chính ra vào. Điều này có thể gây nên hiện tượng gió xuyên phòng đột ngột, gây bất lợi đối với sức khoẻ con người. Mà nhất là trong các chung cư cao tầng, càng lên cao gió thổi càng mạnh, lại càng bất lợi. Ngoài ra, bố trí theo kiểu này thì lượng không khí trao đổi với bên ngoài không nhiều dễ hình thành các khu vực khí bị tù túng, tạo điều kiện phát sinh các loại vi khuẩn yếm khí, về lâu dài không lợi cho gia chủ.

 nhung kieu ban cong “tu” tai loc va suc khoe - 6

Điểm tĩnh tại giúp duy trì sự cân bằng năng lượng cho ngôi nhà. Ảnh:TL

 nhung kieu ban cong “tu” tai loc va suc khoe - 7

Ban công có hình thức cac thanh nan sắt uốn lượn hữu tình ôm lấy ban công. Ảnh:TL

Trong thiết kế ban công nên lưu ý không nên chạy theo hình thức mà thiết kế quá cầu kì, tạo nên các hình thù phức tạp gây nên các dòng năng lượng tạp loạn không tốt.

Ngoài việc chú trọng về cân đối kích thước sao cho phù hợp với nhân trắc học cũng nên chú ý thiết kế các hình thức nhất quán về cấu trúc, thẩm mỹ và chất liệu sẽ dễ tạo môi trường tốt phát sinh những dòng năng lượng tích cực.

Trong phong thuỷ, tính hình tượng rất được chú trọng, do đó không nên tạo những hình tượng xấu cho ban công ví dụ như các hình tượng mang tính lộ kết cấu, hay các hình thức các thanh vắt chéo chữ X cũng không lợi về Phong thuỷ, biểu tượng này thường không đem lại may mắn cho gia chủ.

 nhung kieu ban cong “tu” tai loc va suc khoe - 8

Ban công giúp cân bằng âm dương trong tổng thể căn nhà. Ảnh:TL

 nhung kieu ban cong “tu” tai loc va suc khoe - 9

Hình thức phức tạp dễ tạo thành các loại năng lượng xấu. Ảnh:TL

Nên tìm các hình thức hoặc là kín đáo, hoặc là dáng ôm vòng, những hình thức này vừa dễ đẹp vừa góp phần giúp lưu giữ những dòng năng lượng tích cực trong căn nhà bạn, tránh dòng năng lượng thất thoát  một cách đột ngột.

Khu vực ban công mang yếu tố tĩnh (âm) có thể càng tuyệt vời hơn nếu biến nó thành một khu vườn treo, giúp ta lấy lại cân bằng trong cuộc sống vốn đầy sôi động mang yếu tố dương. Tuy nhiên, việc bố trí trồng cây nên có sự tính toán sao cho hài hoà với cảnh quan và không gian sinh hoạt, không nên trồng  thái quá thì lại tạo thành nơi tích tụ nhiều năng lượng âm không tốt.

Một điểm đáng lưu ý khác là nên tạo cho ban công có gờ bao quanh, đấy chính là một yếu tố nhỏ, nhưng nó giúp lưu trữ dòng năng lượng lâu dài, giúp duy trì sự thịnh vượng và sức khoẻ cho căn nhà của bạn.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những kiểu ban công “tụ” tài lộc và sức khoẻ

Chọn vị trí làm việc chuẩn phong thủy với 3 gợi ý hay ho

Những lưu ý khi chọn vị trí làm việc dưới đây sẽ giúp bạn có thêm kiến thức để chọn cho mình vị trí tốt nhất.
Chọn vị trí làm việc chuẩn phong thủy với 3 gợi ý hay ho

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Phong thủy phòng làm việc tốt sẽ góp phần cải thiện sự nghiệp một cách hiệu quả nhưng có một yếu tố cực kì quan trọng mà không nhiều người chú ý, đó là vị trí làm việc.

Chon vi tri lam viec chuan phong thuy voi 3 goi y hay ho
 

1. Những lưu ý khi chọn vị trí làm việc

  Không nên ngồi dưới xà ngang bởi đây là vị trí cấm kị trong phong thủy. Xà ngang áp đỉnh tạo ra áp lực rất lớn đối với người ngồi bên dưới khiến công việc nặng nề, cuộc sống ngột ngạt, giảm hiệu quả làm việc. Đồng thời ngồi lâu ở vị trí này sẽ ảnh hưởng tới tâm lý và sức khỏe của chủ nhân.   Vị trí ngồi không nên nhìn thẳng ra cửa bởi cửa là nơi toàn bộ năng lượng của văn phòng lưu thông, ra vào; ngồi ở đây rất dễ vị các nguồn năng lượng có tốt có xấu xông tới khiến chủ nhân bị ảnh hưởng. Điều này kích thích tiềm thức, hệ thần kinh, tạo thành tính khí hỏa bạo, vừa dễ sinh bệnh lại dễ mắc sai lầm trong công việc.    Nếu không thể thay đổi vị trí ngồi thì hãy sử dụng bình phong hoặc cây xanh để hóa giải sát khí, ngăn ngừa những điềm xui rủi/   Vị trí làm việc không nên đối diện nhà vệ sinh bởi nơi đây tụ tập uế khí. Ngồi gần, đặc biệt là ngồi đối diện cửa nhà vệ sinh sẽ vì hút quá nhiều uế khí mà sinh bệnh, cảm giác khó chịu, mệt mỏi.    Nếu không thể tránh được thì hãy bày một bức bình phong hoặc cây xanh lá rộng ở trước cửa nhà vệ sinh để chặn đứng uế khí đồng thời đóng cửa nhà vệ sinh khi không sử dụng để giảm bớt hung hiểm.   Chỗ ngồi cần có chỗ dựa vững chãi, có thể dựa vào tường hoặc vào tủ lớn. Phía sau đầu người là khu vực sóng não phóng xa, cũng là vị trí mẫn cảm nhất có thể cảm ứng khí lực nên tốt nhất là phải có chỗ dựa phía sau cố định để tạo cảm giác an toàn.    Nếu đằng sau không có chỗ dựa hoặc chỗ dựa và vách kính, thường xuyên có người đi lại thì tinh thần không tập trung, giảm chú ý khiến hiệu suất công việc kém đi. Về lâu về dài sẽ tiêu hao năng lượng, ảnh hưởng tới sức khỏe. Nếu ngồi ở nơi trống trải thì hãy chọn một chiếc ghế có lưng tựa cao và vững, thay cho chỗ dựa.
Xem thêm bài viết Vị trí làm việc hứng tài lộc của 12 con giáp
 
Vị trí ngồi không nên đối diện gương, dễ ảnh hưởng tới thần kinh giao cảm khiến tư duy thiếu tập trung, không liền mạch và khó có hiệu quả cao nhất trong công việc. Gương còn có âm khí, dễ nảy sinh âm tà, bất lợi đối với vận trình của chủ nhân.   Nếu không may mắn bị bố trí ngồi ở địa điểm kém phong thủy như vậy thì nên có những biện pháp để cải thiện, giảm bớt hung tai. Dễ dàng nhất là đặt bồn thực vật xanh ở trên bàn làm việc sao cho che khuất tầm mắt, không nhìn trực diện thấy gương thì sẽ bớt bị ảnh hưởng.    Phía trước chỗ ngồi làm việc không thể kề sát vách tường, tầm mắt bị che chắn khiến tầm nhìn hạn hẹp, không nắm bắt được những thông tin xung quanh, tạo thành tiềm thức bất an, ảnh hưởng tới sự ổn định của hệ thống thần kinh. Đồng thời chủ nhân của vị trí này cũng không thể nhìn xa trông rộng, làm ăn tiến tới được.  

2. Hướng ngồi tốt cho lãnh đạo


Chon huong ngoi lam viec
 
Vị trí tọa Tây Bắc hướng Đông Nam: hướng Đông tượng trưng cho sự nghiệp phát triển không ngừng, hướng Nam tượng trưng cho sự nghiệp có sự phát triển đột phá. Ngồi ở vị trí hướng ra Đông Nam tượng trưng cho sự tự tin trong công việc. Như vậy thì tọa Tây Bắc hướng Đông Nam là nơi đặt bàn làm việc khá tốt. Lãnh đạo công ty lớn, công ty có truyền thống nên ngồi ở đây.    Vị trí tọa Bắc hướng Nam: hướng Nam đại biểu cho sự nhiệt tình, có thể khắc phục khó khăn, quyết tâm cao độ trong công việc. Hướng này thích hợp với lãnh đạo của những công ty  làm trong lĩnh vực quan hệ công chúng, tiêu thụ, thời trang, kinh doanh dịch vụ.    Vị trí tọa Đông hướng Tây: những lãnh đạo đang kề cận thời gian nghỉ hưu, từ chức, lãnh đạo của công ty tiêu thụ, công ty đầu tư nên ngồi ở hướng này. Vị trí này cho thấy thực lực kinh tế và tiền đồ các hạng mục đầu tư của công ty rất triển vọng, càng ngày càng tươi sáng.   Vị trí tọa Nam hướng Bắc: hướng này đại diện cho quan hệ xã giao, am hiểu giao thiệp đồng thời nâng cao nhân duyên, thích hợp với lãnh đạo của những bộ ban ban ngành, người làm hành chính công vụ.    Vị trí tọa Tây Nam hướng Đông Bắc: hướng này đại biểu cho sự cạnh tranh, đầu tư sáng suốt và dám vượt thoát khỏi khó khăn trong công việc. Vị trí phù hợp với lãnh đạo của công ty khai thác quặng, ngành cơ khí chế tạo.
Xem thêm bài viết 5 tip phong thủy bàn làm việc dễ làm, dễ tăng tài
 
Vị trí tọa Đông hướng Đông Nam: hướng này thích hợp với người trẻ tuổi, thích hợp với những lãnh đạo trẻ, lãnh đạo của công ty mới, công ty quảng cáo, truyền thông đang muốn mở rộng quy mô.   Vị trí tọa Đông Bắc hướng Tây Nam: phù hợp với lãnh đạo công ty hoạt động trong lĩnh vực thị trường, tiếp thị, marketing.   Vị trí tọa Tây Bắc: phù hợp với công ty muốn phát triển ổn định, có kế hoach lâu dài, đặc biệt là những lãnh đạo công ty con muốn giữ gìn mối quan hệ với cấp trên.   Vị trí tọa Tây hướng Đông: hướng Đông biểu thị sự khởi đầu tốt đẹp và phát triển nhanh chóng, thích hợp với lãnh đạo của những công ty đang khai phá thị trường, công ty phần mềm, công ty công nghệ.  

3. Vị trí ngồi làm việc tương ứng với hướng văn phòng


huong ngoi tot
 
Chọn hướng ngồi làm việc không những phải chọn hướng tốt mà còn phải chọn hướng phù hợp với tổng thể chung của văn phòng. Hướng tòa nhà đẹp, hướng văn phòng đẹp, hướng ngồi đẹp mới tổng hòa thành phong thủy đắc cách, mang tới may mắn hanh thông trong sự nghiệp và tài vận.   Văn phòng hướng chính Đông và hướng Tây Nam nên chọn vị trí gồi làm việc tọa Tây Nam hướng Đông Bắc.   Văn phòng hướng Tây, Tây Bắc hoặc chính Bắc nên chọn vị trí ngồi làm việc tọa Tây Bắc hướng Đông Nam. Văn phòng hướng Đông Nam, Tây Nam nên chọn vị trí ngồi làm việc tọa Đông Nam hướng Tây Bắc.   Văn phòng hướng chính Bắc và Tây Nam nên chọn vị trí ngồi làm việc tọa Bắc hướng Nam. Lưng dựa vào phương Bắc, mặt nhìn về phương Nam là hướng vô cùng cát lợi.
Xem thêm bài viết 10 đại kị phong thủy thư phòng nên biết để tránh
 
Văn phòng hướng chính Nam và Đông Bắc nên chọn vị trí ngồi làm việc tọa Nam hướng Bắc.   Văn phòng hướng Tây Bắc và chính Đông nên chọn vị trí ngồi làm việc tọa Đông hướng Tây.   Văn phòng hướng chính Nam và Đông Nam nên chọn vị trí ngồi làm việc tọa Tây hướng Đông.    Văn phòng hướng Đông Bắc và Tây Bắc nên chọn vị trí làm việc tọa Đông Bắc hướng Tây Nam.   Lãnh đạo công ty là bộ não, người dẫn đầu và bộ mặt của công ty, nhất định phải ngồi ở vị trí vượng khí phát tài thì mới có thể phát huy năng lực thống lĩnh, dẫn dắt những người phía sau cùng phát triển tiến về phía trước.  
Phong thủy văn phòng vượng tài vượng lộc nhờ treo tranh đúng cách 22 hình thái cơ bản trong bố cục phong thủy phòng làm việc (phần 2) 22 hình thái cơ bản trong bố cục phong thủy phòng làm việc (phần 1)
Thái Vân
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Chọn vị trí làm việc chuẩn phong thủy với 3 gợi ý hay ho

Nghệ thuật xem tướng TAY, CHÂN

Tay chân là tướng hình tứ chi của thân thể, tứ chi là nhành rễ còn lông râu tóc là hoa lá. Tay chân ảnh hưởng với thân thể khiến cho sự phát lộ của tứ chi làm tiêu biểu, để đoán định sự giàu nghèo sang hèn khá đúng.
Nghệ thuật xem tướng TAY, CHÂN

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Xem tay

Tay dài quá gối là đại trí anh hùng, tay ngắn và dày thô là tham bỉ biển lận, tay dài mà nhỏ là thường giúp đỡ mọi người. Thân hình nhỏ bàn tay lớn có phước lộc.

Thân hình lớn tay nhỏ là người thanh cao: Tuy nghèo mà vẫn đầy đủ tư cách, tay thơm có hơi ẩm là người hào hoa, tình tứ. Tay hôi âm ĩ lạnh là ô trược, thô bỉ, háo dâm. Ngón tay thon nhỏ dài thiếu quyết đoán, nhưng khôn ngoan mưu trí.

Ngón tay ngắn cứng là cộc cằn nóng nảy, làm liều, làm sai, ngu xuẩn mà ngoan cố. Ngón tay sè ra kín đáo là tài cầm của. Ngón tay khô thưa sè ra có kẻ hở lớn là phá hại của cải không giữ lâu bền.

Đầu ngón tay nở lớn là người có phước lộc: tay mỏng ngón gầy khô như tre rừng là bần tiện nghèo hèn, vô tài bất trí. Tay nhuyễn là giàu sang.

Tay cứng cũng như móng bò là ngu si bần tiện, bàn tay dài, thân bàn tay và ngón tay đều, dài là người sang quí đài các, mỏng ngắn là bần hàn, dùi đục là thô bỉ cộc cằn.

Chung quanh thịt cao, lòng bàn tay sâu lỏm là người giàu có. Chung quanh thật thấp giữa lòng bàn tay no đầy là hao tài tán tài không có dư, bàn tay tươi mịn là phú quí, khô cằn là nghèo khổ.

Bàn tay sắc đỏ như son là giàu sang, dầu có nghèo cũng sạch, cũng sung sướng. Bàn tay màu vàng nghệ hay xanh xám là cùng khốn, nghèo hèn. Bàn tay trắng bệch là nghèo khổ bệnh tật.

Tóm lại bàn tay và ngón tay quí là no đủ đầy đặn, và dài kín ấm thơm và sắc hồng nhuận là thật tốt.

Xem chân

Chân là cột trụ chống đỡ thân mình. Chân cần thon, có dáng vóc vuông dài, thanh lịch mềm mại là người phú quí, nếu chân nhỏ cụt, mỏng và dáng thô và cứng ngắc, đó là người bần tiện.

Gót chân nứt nẻ là hạ tiện, dày mà rộng lớn bề ngang quá cũng nghèo khổ chớ không sang. Dưới gót có lằng như cái xoáy là có danh vọng lớn. Lòng bàn chân bằng như miếng gỗ là nghèo hèn cực khổ tới già.

Lòng bàn chân khuyết như chiếc thuyền úp, hay mặt trăng lưỡi liềm nằm giữa là người phú quí.

Ngón chơn dài, hơi thon nhọn là người trung nghĩa thuần hậu. Dưới bàn chân có nút ruồi là có uy quyền. Chân mà dẹp mỏng là hèn, chân thon nhỏ mà dầy cao là sang quí.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Nghệ thuật xem tướng TAY, CHÂN

Làm gì trong ngày lễ Vu Lan để cầu an, báo hiếu

Vu Lan báo hiếu, nhưng chính xác thì chúng ta nên làm gì trong ngày lễ Vu Lan để cầu an báo hiếu, hãy thử tham khảo những điều sau đây nhé.
Làm gì trong ngày lễ Vu Lan để cầu an, báo hiếu

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Vu Lan báo hiếu, đó có lẽ là điều mà không người con đất Việt nào còn xa lạ. Nhưng chính xác thì chúng ta nên làm gì trong ngày lễ Vu Lan để cầu an báo hiếu, hãy thử tham khảo những điều sau đây nhé.   Tháng 7 âm lịch không chỉ là tháng cô hồn mà còn là tháng báo hiếu với ngày lễ Vu Lan với truyền thống uống nước nhớ nguồn của dân tộc Việt Nam. Cứ mỗi đợt Thu về, trong lòng mỗi con đất Việt lại dào dạt tình cảm nhớ nhà, thương cha mẹ và biết ơn ông bà tổ tiên.


nen lam gi trong ngay le Vu Lan
 
  Lễ Vu Lan diễn ra vào ngày rằm tháng 7 âm lịch, là dịp để báo hiếu với mẹ cha, tìm về với nguồn cội, tưởng nhớ về những người đã khuất. Vậy trong ngày Vu Lan, nên làm gì để báo hiếu cầu an? Lịch ngày tốt xin chia sẻ với các bạn độc giả những việc nên làm trong ngày này.  

1. Chuẩn bị lễ cúng cho ngày lễ Vu Lan

  Thông thường, lễ Vu Lan ở Việt Nam được tổ chức vào ngày 14 và 15 tháng 7 âm lịch, hay còn gọi là ngày rằm tháng 7. Theo tục lệ các cụ xưa truyền lại, vào ngày này, các gia đình nên chuẩn bị một mâm cỗ cúng tạ ơn các thần linh cũng như làm mâm cơm tưởng nhớ tới ông bà tổ tiên, cầu cho người đã khuất được an yên nơi chín suối và phù hộ độ trì cho con cháu đời sau được an cư lạc nghiệp.


chuan bi mam com cung
 
  Lễ cúng rằm tháng 7, cúng ngày Vu Lan có thể thực hiện tại nhà hoặc nhờ thầy chùa làm giúp. Tổng cộng có 4 lễ cúng: cúng Phật, cúng thần linh, cúng gia tiên và cúng thí thực cô hồn. Bạn có thể tham khảo thêm Thứ tự chuẩn bị 4 lễ cúng ngày Rằm tháng 7 để hóa giải mọi tai ương cho tâm linh an ổn.  

2. Ăn chay hành thiện tích đức

  Nên làm gì trong ngày lễ Vu Lan? Ăn chay niệm Phật, không sát sinh mà hành thiện tích đức, đó là một hành động đẹp, cũng là cách để con người ta thanh tịnh từ tâm hồn, bản ngã của mình. Ăn chay thể hiện sự thành tâm hướng Phật, để yêu thương con người và loài vật, giảm bớt tội nghiệt sát sinh.


an chay
 
  Tùy theo điều kiện và khả năng, có người ăn chay trường, có người ăn chay vào ngày rằm và mùng 1 hàng tháng. Tới rằm tháng 7, nhiều người cũng có thói quen ăn chay. Nếu có thể, bạn hãy dành một ngày để ăn chay, cầu cho cha mẹ được an lành, cầu cho tổ tiên được mát mẻ nơi chín suối, bày tỏ lòng thành muốn tích đức hành thiện.  

3. Đi chùa cầu an cho cha mẹ và gia đình

  Trong ngày Vu Lan, các bạn nên dành thời gian đi chùa thắp hương, cầu Phật che chở cho cha mẹ và gia đình mình được an lành. Những ai không may mắn chẳng còn cha mẹ ở bên thì cũng hãy mang tấm lòng thành để cầu xin đức Phật chỉ đường dẫn lối cho cha mẹ hướng theo ánh sáng Phật pháp để được siêu thoát, an nghỉ nơi suối vàng.   Nếu không có điều kiện, bạn vẫn có thể thành tâm hướng Phật bất cứ lúc nào. Có câu “Phật tại tâm”, bạn thành tâm thành ý cầu chúc cho cha mẹ được khỏe mạnh bình an, chắc chắn đức Phật cũng sẽ nghe thấy lời kêu cầu của bạn. Còn khi có thời gian, hãy dành thời gian Tụng kinh Vu Lan để trọn phận làm con, trọn đạo làm người.


4. Bày tỏ tình cảm với cha mẹ

  Người Việt Nam vốn giữ đạo hiếu làm đầu, nhưng chúng ta ít có thói quen bày tỏ tình cảm với những người thân thiết nhất của mình. Lễ Vu Lan là dịp để mỗi người con hướng về với đấng sinh thành, bạn có thể nhân dịp này để thể hiện tình cảm yêu thương của mình với mẹ cha.   Nên làm gì trong ngày lễ Vu Lan? Những lời nói tình cảm, những cái ôm nhẹ nhàng hay những món quà nho nhỏ, những bữa cơm bạn chăm chút với cả trái tim mình… tất cả đều là những món quà vô cùng lớn lao đối với mẹ cha. Cha mẹ chẳng cần con cái phải báo hiếu gì nhiều, chỉ cần con khôn lớn, khỏe mạnh thành người, có lẽ đã là điều mà cha mẹ cảm thấy hạnh phúc nhất.   Nếu lỡ như cha mẹ không có phúc được ở bên cạnh bạn thì hãy cố gắng sống thật tốt, sống thật ý nghĩa và hạnh phúc mỗi ngày để cha mẹ không còn lo lắng mà an tâm vì con mình có thể tự lo cho bản thân, có thể sống vui vẻ. Biết bạn như vậy, dù cha mẹ ở xa vẫn thấy an tâm, người đã khuất cũng có thể ngậm cười nơi chín suối.   Thiên Thiên

Rằm Tháng 7 kể chuyện Lễ Vu Lan của Phật giáo Chớ nhầm lẫn giữa lễ Vu Lan và lễ cúng Cô hồn Câu chuyện cảm động phía sau ngày lễ Vu Lan
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Làm gì trong ngày lễ Vu Lan để cầu an, báo hiếu

Lễ nạp tài – phong tục cưới hỏi người việt

Lễ nạp tài là một nghi lễ được tiến hành cùng với lễ ăn hỏi. Vào ngày ăn hỏi nhà trai sẽ chuẩn bị những nghi lễ và các tráp lễ vật đưa để hỏi cưới cô dâu.
Lễ nạp tài – phong tục cưới hỏi người việt

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Phong tục cưới hỏi của người Việt bao gồm nghiều thủ tục và lễ nghi khác nhau, cho đến nay thì những thủ tục đó vẫn được phát huy và lưu giữ. Lễ cưới người Việt bao gồm các phong tục cưới hỏi sau: Lễ dạm ngõ, lễ ăn hỏi và lễ nạp tài, lễ thành hôn. Khi tổ chức một tiệc cưới thì hai bên gia đình nhà trai va nhà gái đều phải thực hiện đầy đủ các phong tục và lễ nghi đó.

Vậy để giúp cô dâu và chú rể cũng như phụ huynh của hai bên gia đình hiểu được rõ hơn về những thủ tục ấy. Xin chia sẻ cùng bạn tìm hiểu vể lễ nạp tài trong cưới hỏi người Viêt.

Lễ nạp tài là một nghi lễ được tiến hành đồng thời với nghi lễ ăn hỏi. Vào ngày ăn hỏi gia đình nhà trai sẽ chuẩn bị những nghi lễ cũng như các tráp lễ vật đưa tới nhà gái để hỏi cưới cô dâu. Tùy theo phong tục tập quán của mỗi vùng miền mà tráp lễ vật được chuẩn bị khác nhau, và số lượng tráp cũng khác nhau.

Nhưng thông thường trong lễ ăn hỏi phải có các thứ lễ vật sau:

  • trầu cau
  • rượu trà
  • hoa quả
  • bánh nếp
  • thịt lợn và đồ nữ trang cho cô dâu.
  • Và trong lễ vật đó không thể thiếu khoản tiền nạp tài mà nhà trai đưa sang nhà gái.

Có rất nhiều ý kiến cho rằng khoản tiền nạp tài đó là khoản tiền ,à nhà gái thách cưới nhà trai. Nhưng có ý kiến lại cho rằng khoản tiền đó là nhà trai mang sang để cảm ơn công sinh thành, nuôi dưỡng của nhà gái đối với con dâu mà họ sắp rước về. Và có ý kiến lại cho rằng khoản tiền đó là nhà trai dành tặng cho cô dâu để làm của hồi môn sau ngày cưới.

Số tiền nạp tài đó sẽ được nhà trai trình bày trong một mâm tráp riêng hoặc kèm theo mâm tráp đồ nữ trang cho cô dâu. Thông thường só tiền nạp tài là số tiền lẻ nhằm mang lại sự may mắn và hạnh phúc cho cô dâu và chú rể.

Lễ nạp tài mang một ý nghĩa tót đẹp, nhưng cũng động chạm tới vấn đề nhạy cảm giữa hai bên gia đình do vậy cô dâu và chú rể có vai trò trong việc bàn bạc và thống nhất giữa hai bên gia đình. Không đặt nặng vấn để tiến bạc mà phải coi trọng hạnh phúc của cô dâu và chú rể là trên hết và một tình thông gia bền chặt.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Lễ nạp tài – phong tục cưới hỏi người việt

Hiện tượng thường thấy về ô nhiễm không khí nhà ở –

Ô nhiễm do hoàn thiện nhà là một trong những nguồn gốc chủ yếu dẫn đến ô nhiễm trong nhà ở. Trong những vật liệu dùng để hoàn thiện nhà ở như sơn, vật liệu sơn, tấm gỗ dán, nilon dán tường, đá lát... đều có chứa các chất có hại như Formaldehvde (Meta

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Ô nhiễm do hoàn thiện nhà là một trong những nguồn gốc chủ yếu dẫn đến ô nhiễm trong nhà ở. Trong những vật liệu dùng để hoàn thiện nhà ở như sơn, vật liệu sơn, tấm gỗ dán, nilon dán tường, đá lát… đều có chứa các chất có hại như Formaldehvde (Metal), benzen. Radon. Những chất độc hại này chính là “sát thủ vô hình” tiềm ẩn trong không khí, có mùi làm cay mũi, cay mắt, có mùi dẫn đến đau đầu, tức ngực, thậm chí trúng độc mãn tính.

p33382

Là một người dân bình thường, ô nhiễm không khí nhà ở của mình có vượt quá chỉ tiêu hay không chúng ta cũng khó biết chính xác, nhưng chúng ta có thể thông qua một số hiện tượng thường thấv để bước đầu phán đoán có phải không khí trong nhà mình đã ô nhiễm hay không. Những hiện tượng thường gặp này được chia thành:

Vào mỗi buổi sáng sớm, sau khi thức dậy bạn cảm thấy ngột ngạt khó chịu, buồn nôn, thậm chí hoa mắt chóng mặt.

Sau khi mới chuyển nhà, bỗng nhiên con vật cưng bị chét.Tất cả mọi người trong nhà đều mắc chứng một căn bệnh, nhưng sau khi rời khỏi môi trường đó, triệu chứng bệnh tật sẽ có chuyển biến rõ rệt và tốt lên.

Người trong nhà thường có triệu chứng dị ứng trên da, hơn nữa dị ứng còn có tính phát tán rộng theo từng cụm.

Tuy không hút thuốc lá, cũng rất ít khi tiếp xúc với môi trường có khói thuốc, nhưng lại thường xuyên cảm thấy khó chịu nơi cổ họng, cảm giác có dị vật trong họng, hô hấp không thông suốt.

Vợ chồng mới cưới sống với nhau thời gian khá dài mà vẫn chưa có con, hơn nửa tìm không ra nguyên nhân, hoặc phụ nữ mang thai trong tình trạng mang thai bình thường nhưng lại phát hiện ra thai nhi dị hình.

Trồng cây trong nhà không dễ sóng, lá dễ bị vàng, khô héo, đặc biệt là một số loài thực vật có sức sống rất mạnh cũng khó sinh trường bình thường.

Người trong nhà đặc biệt là trẻ nhỏ rất dễ bị cảm mạo, ho, hăt hơi, khả năng miễn dịch kém, trẻ con không chịu về nhà.

Vật nuôi trong nhà như chó, mèo, thậm chí là loài cá nhiệt đới cũng chết một cách vô lý.

Nhà mới xây hoặc vật dụng mới mua có dị mùi gây khó chịu cho mũi, hơn nữa sau hơn một năm mà những mùi đó vẫn không bay hết.

Dương nhiên, nếu muốn đưa ra đánh giá chính xác xem không khí môi trường trong nhà mình ô nhiễm vượt quá chỉ tiêu hay không thì cần phải thông qua cơ quan kiểm định môi trường do kiểm định mới có thể biết được.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Hiện tượng thường thấy về ô nhiễm không khí nhà ở –

Mơ thấy răng, nên mừng hay lo?

Mơ thấy răng là một trong những giấc mơ phổ biến nhất của con người. Trong mơ, bạn có thể thấy mình bị rụng răng, bị gãy răng, bị mất một vài chiếc răng...
Mơ thấy răng, nên mừng hay lo?

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Mơ thấy răng là một trong những giấc mơ phổ biến nhất của con người. Trong giấc mơ, bạn có thể thấy mình bị rụng răng, bị gãy răng, bị mất một vài chiếc răng hoặc mọc thêm răng mới… Mỗi loại giấc mơ như vậy lại mang đến những điềm báo riêng.    

Mơ thấy răng bị rụng

  Giấc mơ về răng, trong đó có trường hợp bị rụng răng là biểu hiện của sự lo lắng, bất lực và thiếu kiểm soát của con người. Họ hay chán nản, có bản ngã thấp, ít hài lòng với cuộc sống của mình.   Ngoài ra, nó còn báo hiệu sự rạn nứt về tình cảm gia đình như phải xa bố mẹ hoặc tranh cãi với người thân và có thể mang dấu hiệu về sự đau ốm, bệnh tật của một thành viên trong gia đình. Nếu mơ thấy toàn bộ răng bị rụng hết, sẽ xuất hiện sự thay đổi về thân phận của bạn.    Mặt khác, mơ thấy mình bị rụng răng còn có thể ám chỉ rằng đây là quá trình bắt đầu một điều mới mẻ như một dự án, một mối quan hệ mới hoặc thay đổi thói quen cả nam và nữ.   Đối với phụ nữ, mơ về việc rụng răng có liên quan đến sinh đẻ. Tham khảo Mơ thấy bị rụng răng là điềm gì? để biết thêm chi tiết.

Mo thay rang, nen mung hay lo hinh anh 2
 

Mơ răng bị vỡ

  Răng bị vỡ trong giấc mơ là biểu hiện cho những thách thức, căng thẳng, ẩn chứa những cảm giác tiêu cực phá vỡ sự cân bằng, niềm vui, hạnh phúc trong cuộc sống của bạn.   Đây còn là cảnh báo về một thỏa hiệp tốn kém mà bạn đang thực hiện và kết quả đạt được cũng không mấy khả quan.   Một chiếc răng bị vỡ trong giấc mơ cho thấy đang diễn ra những điều không đáng tin cậy trong cuộc sống của bạn, chẳng hạn như việc lo lắng về sức khoẻ và sự lão hóa của cơ thể hay cảm giác sợ hãi vì bị tổn thương về mặt tình cảm hoặc gây ra tổn thương cho người khác.   Đồng thời, giấc mơ này cũng là một sự nhắc nhở để bạn xem xét lại con đường đã chọn. Kiểm tra xem nhu cầu thực sự của bạn là gì để đi đúng hướng và đạt được hiệu quả tốt nhất.
Mo thay rang, nen mung hay lo hinh anh 2
 

Mơ bị mất hoặc thiếu một vài chiếc răng

  Mất răng là biểu tượng mạnh mẽ của mối quan tâm về hình ảnh cơ thể. Vì răng là một phần quan trọng trên tổng thể khuôn mặt, nên chúng là đối tượng của rất nhiều sự chú ý. Nếu bạn đang bị mất hoặc thiếu một vài chiếc răng trong một giấc mơ, nó chỉ ra mối quan tâm đặc biệt của bạn về ngoại hình, sức khoẻ cũng như sự lão hoá.   Đồng thời, khi có giấc mơ này, bạn nên chú ý đến cảm giác mất mát bạn có thể gặp phải do sự thay đổi đột ngột trong cuộc sống. Nó có thể liên quan đến tình hình công việc, gia đình, mối quan hệ cá nhân của bạn.   Giấc mơ về việc mất hoặc thiếu một vài chiếc răng là một lời kêu gọi để bạn ý thức hơn về những gì đang diễn ra và đối phó với nó một cách cởi mở hơn, ý thức hơn.
Mo thay rang, nen mung hay lo hinh anh 2
 

Mơ răng mọc dài ra hoặc mọc thêm răng mới

  Nếu bạn nằm mơ răng của mình mọc dài ra có nghĩa là bạn đang phải đối mặt với những thay đổi cơ bản trong cuộc sống. Những thay đổi đó có thể là sự đau khổ về cảm xúc, đối mặt với mất mát, thách thức và những cảm xúc phiền não.   Nếu bạn là phụ nữ thì giấc mơ này tượng trưng cho sự sinh sản, hoặc nảy sinh một dự án mới trong tương lai.   Bên cạnh đó, giấc mơ này cũng chỉ ra rằng bạn đang ý thức hơn về mặt cảm xúc, biết tiết chế bản thân, đồng thời muốn trải nghiệm để tự khám phá bản thân.   Ngoài ra, có ý kiến cho rằng, mơ thấy mình mọc răng là điềm báo mọi sự tốt lành và thuận lợi sẽ đến với bạn.   Bên cạnh đó, khi đang ốm hoặc cơ thể đang phải điều trị bệnh nào đó mà mơ thấy hiện tượng mọc răng thì mọi bệnh tật sẽ nhanh chóng biến mất và báo hiệu rằng bạn sẽ sống rất thọ.

Có câu "cái răng cái tóc là góc con người", không chỉ có răng mới thường xuyên xuất hiện trong giấc mơ, tóc cũng không ngoại lệ. Vì vậy, có thể bạn quan tâm Những lời cảnh báo về ngoại hình khi mơ thấy tóc.

Thủy Nguyễn
Mơ thấy cắt tóc có ý nghĩa gì? Mơ thấy chó chạy vào nhà, may túi đựng tiền là vừa 5 giấc mơ cảnh báo bạn cần chuyển nhà ngay lập tức

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Mơ thấy răng, nên mừng hay lo?

Những con giáp hạnh phúc trong tình yêu hôn nhân

Ai quan niệm “Hôn nhân là nấm mồ của tình yêu” thì không rõ, nhưng những con giáp hạnh phúc trong tình yêu hôn nhân dưới đây, điều đó không hề đúng.
Những con giáp hạnh phúc trong tình yêu hôn nhân

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

– Ai quan niệm “Hôn nhân là nấm mồ của tình yêu” thì không rõ, nhưng với những con giáp hạnh phúc dưới đây, điều đó không hề đúng, trái lại, càng kết hôn lâu càng viên mãn.

 
3 con giáp luân phiên đóng vai ông Tơ bà Nguyệt cực duyên Sinh vào ngày đen tối này 12 con giáp nữ sẽ khổ muôn đời Điều 12 con giáp cần làm để bình an vượt qua tháng cô hồn

1. Cô nàng tuổi Tuất

  Trong danh sách con giáp hạnh phúc, hôn nhân càng kéo dài càng viên mãn chắc chắn có tên người tuổi Tuất. Tình yêu đến với cô nàng tuổi Tuất trong 12 con giáp không hề dễ dàng. Họ phải trải qua không ít mối tình sóng gió mới có thể tiến tới hôn nhân hạnh phúc. Hơn ai hết, họ trân trọng điều đó, tìm mọi cách để vun đắp cho tổ ấm gia đình ngày càng rực rỡ.    Vốn thuộc tuýp hướng nội, các nàng tuổi Tuất không thích khoa trương, chọn cho mình lối sống đơn giản, quan tâm nhiều hơn tới mọi người xung quanh, bỏ ngoài tai những lời đàm tiếu, tập trung chăm chút gia đình. Chính vì thế, cuộc sống hôn nhân của tuổi Tuất ngày càng viên mãn theo thời gian. 

Nhung con giap hanh phuc trong tinh yeu hon nhan hinh anh 2
 
 

2. Cô nàng tuổi Hợi

  Mang trong mình tâm hồn trong sáng, lối tư duy tích cực và nhạy bén, cô nàng tuổi Hợi dễ được mọi người yêu mến. Khi đã yêu anh chàng nào đó, họ quyết tâm sẽ “về chung một nhà” ngay từ những ngày đầu mới yêu. Bằng tình yêu chân thành, sự quyết tâm cao độ, họ luôn đạt được điều mình mong muốn.   Tương tự tuổi Tuất, hôn nhân đến với tuổi Hợi cũng không hề dễ dàng gì. Họ dành rất nhiều thời gian để kén chọn, tìm bằng được người có sự đồng điệu về tâm hồn. Nhưng khi đã xác định xây dựng gia đình, sự do dự bỗng biến thành quyết đoán, nỗ lực bảo vệ tổ ấm bé nhỏ của mình. Thế mới nói đây là một trong những con giáp hạnh phúc trong hôn nhân.

12 con giáp nam muốn yêu là phải “xài chiêu” Nhập hội cùng những con giáp quá coi trọng “nước sơn”

Nhung con giap hanh phuc trong tinh yeu hon nhan hinh anh 2
 

3. Cô nàng tuổi Dần

  Trông bề ngoài cô nàng tuổi Dần có vẻ dữ dằn thế thôi, nhưng thực chất bên trong con giáp này lại là cả một thế giới nội tâm yếu đuối, không ngừng kiếm tìm tình yêu lãng mạn.    Tuy vậy, sự lãng mạn của họ không hề xa rời thực tế, trái lại, đó là thứ gia vị để giữ lửa cho tình yêu luôn gắn kết bền chặt, trường tồn theo thời gian.    Kết hôn càng lâu, tuổi Dần càng cảm thấy thỏa mãn với cuộc hôn nhân của mình. Bởi họ đã sống và cống hiến hết mình, không phải hối tiếc vì bất cứ điều gì. Họ cho đi mà không mong ngày được báo đáp, cứ vô tư thế nên cuộc sống càng an yên do đó mà họ chính là con giáp hạnh phúc nhất trong tình yêu.  
► Cùng bói tình yêu theo ngày tháng năm sinh để biết hai bạn có hợp nhau không

Nam Anh
 
Những con giáp có vận thế mạnh và yếu nhất tháng 8 năm 2016
Đứng đầu con giáp có vận thế mạnh nhất trong tháng 8 không ai khác chính là tuổi Tý, nhưng chia buồn với người tuổi Dần khi xếp ở vị trí “độn sổ”.

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những con giáp hạnh phúc trong tình yêu hôn nhân

Dự đoán về Con cái (2)

Sao con ở đất duy, bệnh, tử , mộ thì nhất đinh con ít, cô đơn và nghèo hèn. Trụ giờ có thương quan là hào con cái khó khăn. Trong Tứ trụ thương, thực nhiều có con. Tứ trụ có kiêu, ấn, thương là cháu khắc bà nội. Tứ trụ có thương quan gặp quan là hào con cái khó khăn. Ấn thụ, kiêu thần là khó có con.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Cung con cái ở hưu, tù, tử, tuyệt, bệnh là có con cũng như không.

Trong Tứ trụ có quan sát , khi hành đến vận thương, thực thì sẽ làm tổn thương con cái, qua vận đó mới bình thường.

Trong trụ cung con cái gặp mộ thì con cái không bệnh tật nhiều cũng bị lao ngục, hoặc tàn phế khó nuôi.

Mệnh nữ không có quan tinh mà thân vượng, ấn lại nhiều thì chắc chắn tổn thương con cái.

Tứ trụ của con tài nhiều thì sẽ khắc cha mẹ, hoặc đó là đứa con nuôi.

Trong Tứ trụ có thiên tài, thiên quan, thiên ấn thì dó là con nuôi, nếu không thì cũng là con thứ 3, thứ tư về cuối.

Vận hành đến đất thương quan thì sẽ khắc con cái.

Thương quan làm hại con cái, không có phúc về sau.

Trong trụ có sát lẫn với tam hình là có đẻ không nuôi.

Trong trụ mẹ sáng, cha mờ phần nhiều là con đẻ trộm ( con hoang)

Nguyệt lệnh gặp xung là con xa rời tổ nghiệp.

Thân không có nương tựa là con nuôi.

Mệnh nữ phạm thương quan, thiên ấn thì con chết, hại chồng.

Ngày giờ tương xung nhau thì không lợi cho con cái.

Quan gặp tử tuyệt là khó có con.

Trụ năm làm thương tổn can ngày là cha và con không thân nhau.

Thực gặp kiêu ấn là khắc con.

Tuy thân mạnh nhưng bị sát hoặc xì hơi, hoặc thân nhược là con cái ít và không phát đạt.

Thìn, tuất của ngày giờ tương xung nhau thì tuy có con nhưng con học hành không đỗ đạt.

Trong trụ có kiêu, thực lại còn có thương quan là con chết, chồng chết.

Trong trụ gặp cả thực lẫn kiêu là không có lợi cho con cái, nếu không tuyệt tú thì đứa con cũng thấp bé, gầy yếu.

Mệnh nữ trụ giờ gặp hoa cái, gặp không vong là suốt đời không sinh đẻ.

Hoa cái nếu ở trụ giờ và thai là con nuôi.

Người có vong thần, thất sát là khắc con, hình phạt chồng.

Trong trụ thai bị hình phạt, lại còn có cách góc, nhiều sát, tam hình, không vong,ngũ hành không có khí thì phần nhiều sinh con hưn hỏng.

Trong trụ thực nhiều là thương quan tức ít con cái.

Trẻ em thân nhược lại gặp sát vượng thì không chết cũng tàn phế.

Trong trụ thần nhiều, kiêu thần quá vượng là mẹ không có sữa.

Thực gặp kiêu là trẻ con gặp phải thì đói sữa, người lớn gặp phải thì thiếu ăn.

Mệnh nữ quan tinh ở tử địa lại xì hơi thái quá là khắc con hoặc không có con.

Tài quan tử tuyệt là có con nuôi.

Trong ấn nhiều thì mãi đến già vẫn không có con.

Mệnh nữ phạm mão, dậu là phần nhiều sẩy thai khắc con.

Tứ trụ thuần dương, thuần âm thì khó có con.

Mệnh nữ trong trụ có đủ thìn, tuất, sửu, mùi thì vừa khắc chồng lại không sinh con.

Trong trụ có thìn, tuất, sửu mùi là khắc cha mẹ, thìn tuất khắc cha, sửu mùi khắc mẹ.

Người trong trụ tị, ngọ nhiều thì trước năm 18, 19 tuổi phải đề phòng khắc cha me.

Năm tháng tương xung nhau nếu không phải là con nuôi thì cũng là con đỡ đầu.

Giờ sinh ở thìn, tuất , sửu mùi phần nhiều là con nuôi.

Trụ ngày có tài, trụ giờ có kiếp thì cha mẹ hưng thình, con suy bại.

Mệnh nữ gặp mộc dục nếu là con đầu thì phải đề phòng dễ chết.

Trụ ngày lâm phá, hình, xung, hoặc gặp kình dương là chủ khắc con cái.

Người trong trụ có tam hợp, tam kỳ thì người đẹp mà béo, nếu không là con nuôi thì cũng là con riêng của mẹ.

Năm, tháng thương quan, kiếp tài là đứa con sinh ra ở nhà nghèo, hoặc con nuôi.

Quan, ấn gặp thiên quan là con nuôi.

Ngày giờ tương hình nhau thì tuổi trẻ chưa có con, nếu trụ giờ được quý nhân của trụ ngày phù trợ thì về già vẫn có thêm con.

Trong trụ có quả tú, cô thần là có con cái nhu nhược.

Quan hưu còn gặp thương là khó có con trai.

Thương quan vượng quá thì nuôi con của chị em ruột.

Trong trụ thất sát ở hai đầu là đến già vẫn không có con.

Cả bốn chi đều có thương quan thì thường khóc lóc vì con.

Kiêu gặp trường sinh lại gặp thực thần là đến già vẫn không có con.

Thực phá dụng thần là con làm bại gia.

Thương thực nhập mộ là khắc con cái.

Trụ ngày vượng, thực, thương , quan, sát rơi vào tuần không là không có con.

Thương quan bị chế ngự là cháu họ thừa tự.

Tài tinh của trụ năm, trụ tháng khắc ấn của trụ giờ thì con không chết cũng tàn taatn.

Trong trụ hàm trì nhiều là đứa con không được cha mẹ nuôi nấng.

Trụ giờ phạm tuần không , vong là khắc cha mẹ, người trụ ngày lâm tử tuyệt là trước 7 tuổi bệnh nhiều, sau 7 tuổi mới đỡ.

Giờ sinh gặp tang môn thì mẹ khó đẻ hoặc lúc có thai bị nhiều bệnh.

Trụ giờ quan tinh không có khí thì sinh con nhưng khó nuôi.

Trụ giờ gặp thương quan thì có con nhưng học hành dốt nát.

Trụ giờ đóng ở thiên ấn thì con cái tính hung dữ.

Tỉ kiếp đóng ở trụ giờ thì con cái nhiều nhưng gia đình suy sụp ; thất sát đóng ở trụ giờ thì con cái tính hung bạo, không nghe lời.

Kình dương đóng ở trụ giờ thì con cái ngỗ ngược bất hiếu.

Trụ giờ có hình hại thì không có lợi cho con, hoặc con nhiều bệnh . Trụ giờ gặp kình dương hoặc thương quan là làm tổn hại con cái.

Trụ giờ ở tuyệt địa thì phải đề phòng không có người thừa tự.

Giờ khắc can ngày là con không kính trọng cha.

Chi giờ là thương thực, là cô thần hoặc quả tú là không có con.

Trụ giờ gặp hoa cái là người thân cô, có con nhưng cuối đời bị thương mà chết.

Trong trụ có kim thuỷ thì đứa con chậm nói, có mộc là sớm biết nói.

Thổ vượng mà táo là không có con.

Trong trụ có đào hoa lẫn với hợp là có con lang thang.

Trong trụ thất sát nhiều lại không bị chế ngự là không có con.

Thê tài ở tuyệt địa bị khắc thì khó có con.

Trong trụ sát ở ngôi tý thì con ngỗ ngược.

Thiên ấn đóng ở trụ ngày là vợ nhiều mà đẻ ít.

Trụ ngày có sát, kiêu là vợ nhiều đẻ ít.

Tử tinh rơi vào suy, tuỵệt, tử, mộ là hỏng thai không có con.

Trụ tháng có tài thì tuy đứa con giàu có nhưng là con nuôi.

Trụ ngày gặp tài, trụ giờ gặp kiếp thì cha hưng con nhược.

Giờ sinh của trẻ em trong bảng nạp âm không được khắc năm , nếu phạm điều đó thì phải đề phòng chết yểu lúc chưa đầy tháng.

Can giờ khắc can năm hoặc can năm gặp thực thần, nếu sinh con trai thì không thuận.

Thương quan vượng quá là nuôi con chị em gái.

Trụ giờ gặp thai, hoặc mộ, tuần không , tuyệt nếu không phải là sinh đôi tức do mẹ mình sinh ra, thì là con nuôi.

Trụ giờ bính đinh nhiều bị khắc xung phá thì đầu gáo chân hương, chết yểu.

Mão dậu đóng ở trụ giờ thì mắt to hoặc là mắt hiếng, bình thường hay lêu lỏng chơi bời, thích xa rời cha mẹ. Nếu trong trụ có hình khắc thì có thể chột mắt.

Sinh vào các giờ : thìn, tuất, sửu, mùi lại không vong thì đó là con nuôi.

Giờ sinh gặp quan phù là cha đang có kiện, hoặc mẹ có việc lo sợ.

Tài mệnh có khí lại gặp kiêu thần , là khóc vì con.

Chi ngày gặp lục xung lại không có cứu trợ thì tuổi trung niên dễ chết non.

Tứ trụ tài tinh nhiều là khó có con.

Trẻ em trong trụ tài nhiều là lúc đẻ khó.


Người phụ nữ này năm nay 56 tuổi đã ly hôn một lần lại nhiều bệnh, nên sinh con mà không nuôi được . Ðiều đó chính ứng với câu : " Nữ gặp thìn tuất sửu mùi là người vừa khắc chồng lại khó nuôi con".



Tứ trụ này sinh năm 1964. Vì trong trụ giáp mộc thất sát nhiều mà vượng, thân lại nhược . Gặp trường hợp như thế không chết thì cũng tàn phế. Nhưng vì người ta không hiểu được dự đoán của Tứ trụ nên không biết đề phòng, do đó khi chưa đầy một tuổi đã sinh bệnh dẫn đến một chân bị tàn tật. Ðiều này ứng với câu: " thân nhược sát vượng thì không chết cũng tàn tật".



Tứ trụ này là con thông minh tuấn tú, lúc lên 3 vì sốt cao mà câm, thật đáng thương. nếu biết được dự đoán, gửi đứa con đến phương nam thì có thể tránh khỏi. Ðứa con bị câm là vì : trong Tứ trụ có " năm, tháng gặp tài, khắc ân của giờ thì con không chết cũng tàn phế.



Thất sát nhiều mà vượng lại không bị chế ngự cho nên cả cuộc đời không sinh lần nào.



Người này đẻ 2 trai, 2 gái. Vì cung con ở trên giờ tương xung với trụ tháng, lại mộ ở nhật kiến cho nên 1 con trai bị thành tật. Tứ trụ này ứng với câu: " Cung con cái gặp mộ thì con cái nhiều bệnh, hoặc bị tù, hoặc tàn phế".



Người đàn bà này sinh 4 lần đều chết yểu. Năm 1981 sinh lần thứ nhất, vừa sinh đã chết ; năm 1983 sinh lần thứ hai được 3 ngày thì con chết ; năm 1987 sinh lần thứ ba con cũng chết ngay; năm 1988 sinh lần thứ tư được 47 này con lại cũng mất. Ðúng là sinh nhiều mà không nuôi được , ai nghe cũng đau lòng.

Tháng 7 năm 1989 hai vợ chồng ông ta qua dò hỏi nhiều lần cuối cùng tìm đến tôi , nước mắt giọt ngắn, giọt dài khẩn thiết nhờ tôi giải hạn cho bà vợ. Tôi sắp xếp Tứ trụ của hai vợ chồng, thấy cung con cái của họ và sao con đều gặp tuyệt địa lại còn bị lệnh tháng hình xung khắc hại. Ví dụ Tứ trụ của bà cung con cái giáp dần bị trụ tháng thiên khắc địa xung, sao con cái lại tập trung ở dần. Thân kim vượng, dần mộc ở tuyệt địa bị hình xung khắc phá , nên chỉ sinh mà không sống nổi.

Vì hai vợ chồng rất thành tâm đã làm theo cách hóa giải tôi bày cho một cách cẩn thận chu đáo, kết quả tháng giêng năm 1991 sinh được một cháu gái. Sau khi hai ông bà thấy con sống được hơn 40 ngày bình an vô sự, mạnh khỏe , hoạt bát, nên họ đã tặng cho tôi một bức trướng thêu rất công phu các chữ " Trắc thiên, trắc địa càn khôn" để tỏ lòng cảm ơn. Nay cháu bé đó đã hơn 1 tuổi, thông minh khỏe mạnh, tất nhiên họ coi như có được hòn ngọc quý trong tay.

Con cái đời sau bệnh nhiều, tàn tật hoặc khó nuôi, thứ nhất là tổ hợp Tứ trụ của cha mẹ không tốt tạo thành, còn một nguyên nhân khác cũng rất then chốt là Tứ trụ của người đó và vận khí không hòa hợp nhau, một điểm nữa là phần mộ của tổ tiên hoặc phong thuỷ của nhà ở không tốt tạo nên. Ngày xưa có câu : " nhất mộ, nhì phòng, ba Tứ trụ". Tức là nói âm phúc của tổ tiên , phong thủy của nhà ở và tổ hợp Tứ trụ phải tốt. Do đó xây nhà, cất mộ, phong thuỷ âm dương không thể không chú ý đến.

Tháng 8 năm 1987 có một chuyên gia người Mỹ con trai đã hơn 10 tuổi nhưng tứ chi hoạt động rất khó khăn. Vị chuyên gia này không tiếc tiền đi nhiều nước trên thế giới để tìm thầy chữa. Nhưng không có hiệu quả. Về sau, qua một vị lãnh đạo nào đó giới thiệu đến với tôi. Tôi nói, với ông ta: Phần mộ của nhà ông trên đó có 1 cái hốc, nước chảy qua đó tưới thẳng vào mộ, nên nhanh về sửa sang lại. Nghe xong ông ta vô cùng kinh ngạc nói: đúng, năm ngoái tôi nhận được thư nhà từ Ðài Loan gửi đến nói : "Mộ tổ có một cái hang, yêu cầu tôi trở về Ðài Loan để sửa".

Tháng 5 năm 1991 khi tôi trên đường về nước nghỉ lại ở Hồng Kông để đoán cho một người bạn, phát hiện thấy mộ nhà ông ấy, ở bên cạnh một rãnh nước, nước chảy thẳng vào mộ. Sau khi nghe tôi nói việc ấy, ông ta hỏi: như thế thì có hại gì? Tôi nói : điều đó không có lợi cho đời sau. Ông ta liền hoảng hốt kêu to : Ðúng ! chẳng trách gì con tôi bị bệnh, nằm trên giường nhiều năm mà không khỏi.

Về việc con cái không vượng, hoặc bị khắc, hoặc không lợi cho con cái trửơng thành, thành đạt, chỉ cần đoán để biết trước rồi sau đó mới có thai, hoặc sau khi sinh con lập tức dự đoán ngay thì có một số em bé trong Tứ trụ ngũ hành không đầy đủ hoặc có quan sát hành nào đó mạnh quá, sau khi dự đoán biết được , khi đặt tên có thể thêm vào tên những chữ mang hành con thiếu để bù đắp. Ví dụ trong Tứ trụ thiếu hoả thì trong tên con cho thêm chữ "hỏa", hoặc những chữ bên cạnh có chữ "hỏa" ; thiếu hành kim thì thêm chữ kim, nếu chờ khi đã lớn tuổi mới đổi tên thì rất phiền phức. Những hành cho thêm không những có thể giúp vượt tránh được tai hoạ mà còn có lợi cho cả cuộc đời. Cho nên không phải cứ hễ thấy trong Tứ trụ có tai hoạ, tổ hợp không tốt thì sợ hãi và lo không có cách gì tránh được, như thế là không nên.

"Dự đóan theo Tứ Trụ" của Thiệu Vĩ Hoa
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Dự đoán về Con cái (2)

Ý nghĩa sao Đà La - Là một kỵ tinh, hung tinh

Cung Mệnh có sao Đà La, thì có thân hình cao dài, hơi gầy, da xám, lông tóc rậm rạp, mặt thô, răng xấu, mắt kém, chân tay dài, trong mình thường có tỳ vết.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Ý nghĩa sao Đà La - Là một kỵ tinh, hung tinh

Ý nghĩa sao Đà La - Là một kỵ tinh, hung tinh

Hành: Kim

Loại: Sát Tinh

Tên gọi tắt thường gặp: Đà

Phụ tinh. Thuộc bộ sao đôi Kình Dương và Đà La. Gọi tắt là bộ Kình Đà. 

- Phân loại theo tính chất là Kỵ Tinh, Hung Tinh. 

- Cũng là một trong 6 sao của bộ Lục Sát Tinh gồm các sao Kình Dương, Đà La, Địa Không, Địa Kiếp, Linh Tinh, Hỏa Tinh (gọi tắt là Kình Đà Không Kiếp Linh Hỏa). 

- Nếu sao Đà La tọa thủ trong cung Vô Chính Diệu (như trường hợp Cung Mệnh Vô Chính Diệu và Cung Phụ Mẫu Vô Chính Diệu của lá số mẫu) được gọi là cách Hung Tinh độc thủ hoặc Đà La độc thủ.

Vị Trí Ở Các Cung của sao Đà La:

Đắc Địa: Thìn, Tuất, Sửu, Mùi.

Hãm Địa: Tý, Dần, Mão, Tỵ, Ngọ, Thân, Dậu, Hợi.

Ý Nghĩa sao Đà La Ở Cung Mệnh:

Tướng Mạo: Cung Mệnh có sao Đà La, thì có thân hình cao dài, hơi gầy, da xám, lông tóc rậm rạp, mặt thô, răng xấu, mắt kém, chân tay dài, trong mình thường có tỳ vết và thẹo.

Tính Tình: Đà La đắc địa: Can đảm, dũng mãnh, thăng trầm, có cơ mưu thủ đoạn, gian hiểm.

Đà La hãm địa: Hung bạo, gian hiểm, độc ác, dâm dật.

Những Bộ Sao Tốt khi đi cùng sao Đà La:

Sao Đà La gặp Lực, Quyền ở Dần, Thân, Tỵ, Hợi là người có quyền hành, được nhiều người kính phục.

Những Bộ Sao Xấu khi đi cùng sao Đà La:

Sao Đà La gặp Thiên Hình, Địa Không, Địa Kiếp, Thất Sát, Hóa Kỵ: Đạo tặc, gian phi, giết người, cướp của.

Sao Đà La, Thiên Riêu, Hóa Kỵ ở liền cung thì bị họa vô đơn chí.

Sao Đà La gặp Hỏa, Linh, Không, Kiếp, Kỵ, Hình là người có số ăn mày, yểu, gian phi, vào tù ra khám.

Ý Nghĩa sao Đà La Ở Cung Phụ Mẫu

Cha mẹ và con cái đều không hợp tính nhau.

Đà La, Thất Sát, không được ở gần cha mẹ.

Đà La, Tham Lang, cha mẹ hoang đàng, chơi bời, hoặc cha mẹ làm nghề cao lâu tửu quán, thủ công mỹ nghệ. - Đà La, Liêm Trinh, gia đình túng thiếu hoặc làm nghề vất vả, hay mắc tai nạn về kiện tụng hoặc có nhiều bệnh tật.

Ý Nghĩa sao Đà La Ở Cung Phúc Đức

Sao Đà La ở Dần, Thân vô chính diệu: Phúc thọ, gặp may suốt đời, họ hàng quý hiển cả văn lẫn võ.

Nếu Đà La thêm Tuần, Triệt: Trở thành xấu. 

Ý Nghĩa sao Đà La Ở Cung Điền Trạch

Dù có tổ nghiệp của cha mẹ để lại cũng không được thừa hưởng, nội bộ gia đình hay có chuyện phiền muộn, lục đục, phải đi xa mới có.

Đà La, Kình Dương, Đại Hao, Tiểu Hao, vô điền sản.

Ý Nghĩa sao Đà La Ở Cung Quan Lộc

Sao Đà La, Thiên Mã: Bôn ba, quân nhân.

Sao Đà La, Tả Phù, Hữu Bật, Hóa Lộc, Hóa Quyền ở Dần, Thân, Tỵ, Hợi: Rất hiển đạt về võ nghiệp.

Sao Đà La, Kình Dương, Liêm Trinh, công danh hay gặp sự không may, lôi thôi bận lòng.

Ý Nghĩa sao Đà La Ở Cung Nô Bộc

Nếu có sao chính tinh tốt thì bạn bè, người làm, người giúp việc đắc lực, nếu có sao chính tinh xấu, hãm địa, thì hay bị làm ơn nên oán.

Ý Nghĩ saoa Đà La Ở Cung Thiên Di

Ra ngoài hay gặp tai nạn, chết ở xa nhà, luôn luôn gặp sự phiền lòng, tiền bạc dễ bị rủi ro. 

Ý Nghĩa sao Đà La Ở Cung Tật Ách

Trong người hay có tì vết, bị bệnh kín, đau mắt, ruột, gan, dạ dày, bệnh trĩ.

Sao Đà La gặp Nhật, Nguyệt, Kỵ: Đau mắt nặng, có thể lòa.

Sao Đà La, Phượng Các: Cứng tai, điếc tai.

Ý Nghĩa sao Đà La Ở Cung Tài Bạch

Kiếm tiền trong lúc náo loạn, cạnh tranh một cách dễ dàng nhanh chóng. Nhưng nếu Đà La gặp thêm sao Địa Không, Địa Kiếp, Linh Tinh, Hỏa Tinh, Hóa Kỵ, có bao nhiêu cũng hết, dễ có tai nạn vì tiền, phá tán.

Ý Nghĩa sao Đà La Ở Cung Tử Đức

Sao Đà La gặp Không, Kiếp, Hỏa (Linh): Con ngổ ngược, du đãng, yểu tử, có tật, ngớ ngẫn.

Sao Đà La gặp Hóa Kỵ: Muộn con trai.

Ý Nghĩa sao Đà La Ở Cung Phu Thê

Vợ chồng bất hòa, xung khắc, hay gây gỗ, cãi cọ lôi thôi.

Sao Đà La gặp Thiên Riêu, Thất Sát, Hỏa, Linh: Đàn bà giết chồng.

Sao Đà La, Khốc Hư (hay Linh Hỏa): Vợ chồng xung khắc.

Sao Đà La, Thái Tuế: Sai ngoa, khắc khẩu, ngồi lê đôi mách.

Ý Nghĩa sao Đà La Ở Cung Huynh Đệ

Anh chị em không hợp tính nhau hoặc hai giòng.

Anh chị em có người tàn tật, phiêu bạt, chết non.

Đà La Khi Vào Các Hạn

Sao Đà La, Thiên Hình hay Đà La ở Thìn, Tuất: Có ngục hình.

Sao Đà La, Không, Kiếp: Tổn tài, bệnh tật, bị lừa gạt.

Sao Đà La, Thái Tuế, Hóa Kỵ: Bị tai tiếng, kiện tụng, cãi vã.

Sao Đà La, Thiên Mã: Thay đổi, bôn ba, quân nhân thì phải đánh Nam dẹp Bắc, chinh chiến lâu ngày.

Sao Đà La, Lưu Đà: Tai họa khủng khiếp, nhất là khi gặp thêm Thất Sát đồng cung.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Ý nghĩa sao Đà La - Là một kỵ tinh, hung tinh

Nốt ruồi ở vùng kín nói lên điều gì? –

Trên cơ thể của con người, nốt ruồi có thể mọc ở bất cứ đâu, từ đầu tóc đến chân, thậm chí là lòng bàn chân hay ở chỗ vùng kín... Mỗi nốt ruồi trong nhân tướng học đều có ý nghĩa nhất định và có thể gắn với những câu chuyện riêng khó lòng lý giải. Bê
Nốt ruồi ở vùng kín nói lên điều gì? –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Nốt ruồi ở vùng kín nói lên điều gì? –

Giải pháp chống thấm khi mùa mưa đến

Thấm, dột được dân thi công xây dựng ví như là “căn bệnh ung thư” vô cùng khó chữa với ngôi nhà của bạn, căn bệnh này đặc biệt phát tác vào mùa mưa. Dưới đây là những tư vấn của một số chuyên gia về vấn đề đang được rất nhiều người quan tâm: Làm sao để việc chống thấm dột đạt hiệu quả?

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Giới thi công xây dựng cho biết, chống thấm là một trong những khâu rất quan trọng trong quá trình xây một căn nhà. Vậy nhưng đây lại là khâu hay bị đơn vị thi công và cả gia chủ dễ bỏ qua nhất. Theo KTS Lê Thị Ánh Nguyệt, GĐ Công ty kiến trúc Bách Việt, một khi công trình đã bị thấm thì sự cố này không chỉ xảy ra ở điểm A mà còn có thể đi đến điểm X, Y, Z nữa, rất khó để có thể trị dứt điểm. Nếu trong quá trình thi công, việc chống thấm không được thực hiện tốt thì sau đó, gia chủ sẽ phải chịu nỗi phiền toái triền miên, còn phía đơn vị thi công cũng đau đầu không kém để tìm ra nguyên nhân gây thấm dột.

chống thấm
Công nhân đang thi công chống thấm cho sân thượng

Nhìn chung cần lưu ý, mỗi kiểu thấm dột lại phải có một cách xử lý khác nhau:

Nếu thấm do lớp chống thấm ban đầu không đạt chất lượng: Trước hết, cần phải đục bỏ hết lớp hồ nằm bên trên lớp chống thấm. Sau đó mới tiến hành làm vệ sinh thật sạch lớp chống thấm cũ, và cuối cùng mớii phủ lớp chống thấm mới lên trên.

Nếu thấm do vết nứt của bê tông: Trường hợp thấm do bị nứt kết cấu thì cần phải xử lý các vết nứt trước bằng cách dùng keo chuyên dụng bơm đầy vào vết nứt rồi phủ một lớp chống thấm có gốc xi măng kháng nước lên trên bề mặt, cuối cùng phủ lớp vữa bảo vệ lên trên.

Trường hợp thấm quanh phễu thu nước thải: Nên dùng keo chuyên dụng - tốt nhất nên chọn loại “ăn” chặt cả bê tông và nhựa, hoặc inox trám xung quanh chỗ tiếp giáp giữa phễu với bê tông. Sau đó mới tô một lớp chống thấm có gốc xi măng kháng nước rồi tiếp tục tô tường làm đẹp lại bằng sơn nước.

Trường hợp thấm do nứt tường: Với những vết nứt lớn (từ khoảng 2 mm trở lên) thì cần trám vữa xi măng vào chỗ bị nứt rồi mới tô lớp chống thấm chuyên dụng lên trên, cuối cùng tô tường làm đẹp lại bằng sơn nước.

Trường hợp thấm tường từ bên ngoài: Nếu phía bên ngoài tường có một khoảng không gian trống thì có thể chống thấm bằng cách tô một lớp chống thấm chuyên dụng trực tiếp lên bề mặt tường. Nên chọn loại chất liệu không làm ảnh hưởng nhiều đến màu sơn vốn có của tường sau khi tô lớp chống thấm. Nếu phía ngoài tường có tiếp giáp với công trình nhà khác thì phải thực hiện chống thấm ngược - tức chống thấm từ bên trong bằng cách cạo bỏ hết lớp matic cũ sau đó phủ lên một lớp chống thấm, cuối cùng phủ lớp vữa nữa rồi sơn lại cho đẹp nhà.

Những quan điểm sai lầm khi mua sản phẩm chống thấm

- Xem nhẹ chất lượng của sản phẩm chống thấm, vì cho rằng đây là khâu không quá quan trọng nên đầu tư chi phí cho sản phẩm này rất ít, từ đó mua những sản phẩm không đạt chất lượng để chống thấm trong quá trình thi công công trình. Hậu quả là sau khi xây nhà lại phải mất công chống thấm mà vẫn không thể xong, trong khi đó, phần chi phí cho việc chống thấm sau khi công trình đã được đưa vào sử dụng thực ra tốn kém hơn rất nhiều lần so với chống thấm trong quá trình thi công.

- Nhiều người tưởng rằng sản phẩm đắt tiền nhất thì chất lượng tốt nhất. Thực tế cho thấy, không ít sản phẩm chống thấm tuy được nhập từ châu Âu với  giá bán cao gấp nhiều lần sản phẩm trong nước nhưng lại không phù hợp với điều kiện môi trường, khí hậu của Việt Nam khiến hiệu quả chống thấm không cao.


(Theo Thanh Niên Online)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Giải pháp chống thấm khi mùa mưa đến
Click to listen highlighted text! Powered By DVMS co.,ltd