Giải mã giấc mơ thấy mất xe đạp –
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Cát Phượng (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Cát Phượng (##)
Ví tiền là một kho báu nho nhỏ của mỗi người, cũng như nhiều đồ vật khác, ví tiền nếu dùng đúng cách sẽ mang lại nhiều tài lộc hơn cho gia chủ, và một vài típ sau sẽ cải thiện phong thủy để giúp tiền vô bóp bạn nhiều hơn.
1. Dùng bóp tiền thẳng
Chúng ta thường có thói quen sử dụng bóp gấp để tiết kiệm chỗ và dễ đút vào túi mang theo bên mình. Nhưng việc này lại vô tình khiến tờ tiền bị gấp gãy kém thoải mái, từ đó cản trở việc thu hút tiền tài vào cho gia chủ. Vì thế, hãy đổi sang sử dụng bóp thẳng để mở đường tài vận đến bóp hơn bạn nhé.
2. Đặt tiền vào tất cả các ngăn![]()
(Ảnh: Internet)
Đặt tiền vào tất cả các ngăn sẽ giúp cho chiếc ví của bạn luôn trong tình trạng đầy đủ, không rỗng ruột. Đừng chỉ đặt tiền vào 1 ngăn duy nhất và bỏ trống các ngăn còn lại, vì khi hết tiền đột ngột bạn chẳng còn ngăn nào của ngân khố để bù đắp đâu.
3. Tuyệt đối không để hóa đơn trong bóp
Theo quan niệm về phong thủy, giữ một vật tượng trưng cho khoản tài lộc đã mất đi chẳng khác nào kích thêm sự “hao tài”. Chính vì thế đừng bỏ hóa đơn vào bóp nếu muốn chặn đường tài lộc của mình bạn nhé.
4. Chọn màu ví phù hợp với mệnh![]()
(Ảnh: Internet)
Hãy chọn màu ví bổ trợ theo thuyết ngũ hành kim-mộc-thủy-hỏa-thổ phù hợp với vận mệnh của chính mình để tăng thêm may mắn, hút kim tiền. Ngược lại, nếu màu ví khắc với cung mạng thì sẽ đem lại điềm vận không hay.
Cách chọn màu sắc bóp/ví hợp với mệnh để tiền luôn sinh sôi nảy nở:
Người mệnh Kim (kim loại): mệnh Kim nên sử dụng bóp/ví có tông màu sáng và những sắc ánh kim vì màu trắng là màu sở hữu của bản mệnh. Ngoài ra kết hợp với các tông màu nâu, màu vàng vì đây là những màu sắc sinh vượng (Hoàng Thổ sinh Kim). Những màu này luôn đem lại niềm vui, sự may mắn cho người sử dụng. Và tránh những màu sắc kiêng kỵ như màu hồng, màu đỏ, màu tím (Hồng Hoả khắc Kim).
Người mệnh Mộc (cây cỏ): nên sử dụng bóp/ví tông màu xanh ngoài ra kết hợp với tông màu đen, màu xanh biển sẫm (nước đen sinh Mộc). Bên cạnh đó, nên tránh dùng những tông màu trắng và sắc ánh kim (Màu trắng bạch kim khắc Mộc).
Người mệnh Thuỷ (nước): nên sử dụng bóp/ví tông màu đen, màu xanh biển sẫm, ngoài ra kết hợp với các tông màu trắng và những sắc ánh kim (Màu trắng bạch kim sinh Thuỷ). Tránh dùng những màu sắc kiêng kỵ như màu vàng đất, màu nâu (Hoàng thổ khắc Thuỷ).
Người mệnh Hoả (lửa): nên sử dụng bóp/ví tông màu đỏ, màu hồng, màu tím ngoài ra kết hợp với các màu xanh (Thanh mộc sinh Hoả). Tránh dùng những tông màu đen, màu xanh biển sẫm (nước đen khắc Hoả).
Người mệnh Thổ (đất): nên sử dụng bóp/ví tông màu vàng đất, màu nâu, ngoài ra có thể kết hợp với màu hồng, màu đỏ, màu tím (Hồng hoả sinh Thổ). Màu xanh là màu sắc kiêng kỵ mà bạn nên tránh dùng (Thanh mộc khắc Thổ).
Một số lưu ý khác để làm giàu cho ví tiền:
- Không nên ôm đồm tất cả mọi thứ để vào ví tiền như điện thoại, móc khóa... bạn nên đầu tư 1 chiếc bóp nhỏ khác để các vật linh tinh này tránh cản tài lộc vào ví
- Giữ vệ sinh ví sạch sẽ, loại bỏ các giấy tờ đã cũ, không cần thiết ra khỏi ví để ví được thông thoáng hơn.
- Nếu mua ví làm quà tặng thì bạn nên để kèm thêm 1 vài tờ tiền mệnh giá nhỏ với mong muốn người nhận ví có nhiều may mắn, tài lộc với chiếc ví bạn tặng.
(Tổng hợp)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
Bài kinh thể hiện quan điểm của Đức Phật về “sân khấu” và “kịch trường” dưới đây là Kinh Puta, chương tám, Tương ưng thôn trưởng, Kinh Tương ưng bộ tập II (số thứ tự 15) bản dịch của Hòa thượng Thích Minh Châu, II. Puta (S.iv,306)
1) Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), tại Trúc Lâm, chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
2) Rồi Talaputa, nhà vũ kịch sư (natagàmani), đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
3) Ngồi một bên, vũ kịch sư Talaputa bạch Thế Tôn:
– Con được nghe, bạch Thế Tôn, các vị Đạo sư, Tổ sư thuở xưa nói về các nhà vũ kịch, nói rằng: “Ai là nhà vũ kịch, trên sân khấu giữa kịch trường, với các điệu bộ giả sự thật, làm quần chúng vui cười, thích thú; người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh cộng trú với chư Thiên hay cười (pahàsadeve)“. Ở đây, Thế Tôn nói như thế nào?
– Thôi vừa rồi, này Thôn trưởng. Hãy dừng ở đây. Chớ có hỏi Ta về điều này.
4) Lần thứ hai, vũ kịch sư Talaputa bạch Thế Tôn:
– Bạch Thế Tôn, con có nghe các vị Đạo sư, Tổ sư thuở xưa nói về các nhà vũ kịch, nói rằng: “Ai là nhà vũ kịch, trên sân khấu hay giữa kịch trường, với các điệu bộ giả sự thật, làm quần chúng vui cười, thích thú; người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh cộng trú với chư Thiên hay cười”. Ở đây, Thế Tôn nói như thế nào
– Thôi vừa rồi, này Thôn trưởng. Hãy dừng ở đây. Chớ có hỏi Ta về điều này.
5) Lần thứ ba, vũ kịch sư Talaputa bạch Thế Tôn:
– Bạch Thế Tôn, con có nghe các vị Đạo sư, các vị Tổ sư thuở xưa nói về các nhà vũ kịch, nói rằng: “Ai là nhà vũ kịch, trên sân khấu hay giữa kịch trường, với các điệu bộ giả sự thật, làm quần chúng vui cười, thích thú; người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh cộng trú với chư Thiên hay cười”. Ở đây, Thế Tôn nói như thế nào?
– Thật sự, Ta đã không chấp nhận và nói rằng: “Thôi vừa rồi, này Thôn trưởng. Hãy dừng ở đây. Chớ có hỏi Ta về điều này”. Tuy vậy, Ta sẽ trả lời cho Ông.
6) Này Thôn trưởng, đối với những loài hữu tình thuở trước chưa đoạn trừ lòng tham, còn bị lòng tham trói buộc, nếu nhà vũ kịch trên sân khấu hay trong kịch trường, tập trung những pháp hấp dẫn, thời khiến lòng tham của họ càng tăng thịnh. Này Thôn trưởng, đối với những loại hữu tình thuở trước chưa đoạn trừ lòng sân, còn bị lòng sân trói buộc, nếu nhà vũ kịch trên sân khấu hay trong kịch trường tập trung những pháp liên hệ đến sân, thời khiến cho lòng sân của họ càng tăng thịnh. Này Thôn trưởng, đối với loài hữu tình thuở trước chưa đoạn trừ lòng sân si, còn bị lòng sân si trói buộc, nếu nhà vũ kịch trên sân khấu hay trong kịch trường tập trung những pháp liên hệ đến sân si, thời khiến cho lòng sân si của họ càng tăng thịnh.
7) Người ấy tự mình đắm say, phóng dật, làm người khác đắm say và phóng dật, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh trong địa ngục Hý tiếu (Pahàso). Nếu người ấy có (tà) kiến như sau: “Người vũ kịch nào, trên sân khấu hay giữa kịch trường, với các điệu bộ giả sự thật, làm quần chúng vui cười, thích thú; người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh cộng trú với chư Thiên hay cười”. Như vậy là tà kiến. Ai rơi vào tà kiến, này Thôn trưởng, Ta nói rằng người ấy chỉ có một trong hai sanh thú: một là địa ngục, hai là súc sanh.
8) Khi được nói vậy, vũ kịch sư Talaputa phát khóc và rơi nước mắt.
– Chính vì vậy, này Thôn trưởng, Ta đã không chấp nhận và nói: “Thôi vừa rồi, này Thôn trưởng. Hãy dừng ở đây. Chớ có hỏi Ta về điều này”.
– Bạch Thế Tôn, con khóc không phải vì Thế Tôn đã nói như vậy. Nhưng, bạch Thế Tôn, vì con đã bị các Đạo sư, các Tổ sư vũ kịch thời trước đã lâu ngày lừa dối con, dối trá con, dắt dẫn lầm lạc con rằng: “Người vũ kịch nào trên sân khấu hay giữa kịch trường, với các điệu bộ giả sự thật, làm quần chúng vui cười, thích thú; người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cộng trú với chư Thiên hay cười”
9) Thật là vi diệu, bạch Thế Tôn! Thật là vi diệu, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Bạch Thế Tôn, con nay xin quy y Phật, Pháp và chúng Tăng. Mong Thế Tôn cho con được xuất gia với Thế Tôn, được thọ đại giới!
10) Vũ kịch sư Talaputa được xuất gia với Thế Tôn, được thọ đại giới.
11) Thọ đại giới không bao lâu, Tôn giả Talaputa… trở thành một vị A-la-hán nữa.
Tranh phong thủy phòng khách thường có chủ đề phong cảnh, con người hay động vật. Song, treo ở đâu và treo tranh gì lại là vấn đề không thể đại khái, qua loa. Tranh treo tường không chỉ là một tác phẩm nghệ thuật đẹp vì mang vẻ tự nhiên hoặc mang dấu ấn của một nghệ sĩ nào đó mà theo phong thủy, nó còn có thể mang lại hạnh phúc hay tăng cường dòng chảy năng lượng trong không gian ngôi nhà của bạn. Vì thế, để phát huy tối đa dòng chảy của năng lượng tích cực, bạn nên lưu lý khi lựa chọn tranh phong thủy phù hợp cho phòng khách vì chúng quan trọng hơn những gì bạn nghĩ
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
Loại: Ám tinh
Đặc Tính: Sự trắc trở, dai dẳng, xoay trở bao giờ cũng chậm chạp.
Là một Phụ Tinh. Tên gọi đầy đủ là Tuần Trung Không Vong. Một trong 4 sao của bộ Tứ Không là Thiên Không, Địa Không, Tuần Không, Triệt Không.
Tuổi trẻ lận đận, nghèo, cực, bôn ba, đau ốm.
Có thể mồ côi sớm hay sớm ra đời để lập nghiệp.
Sinh bất phùng thời.
Nếu vô chính diệu có Tứ hay Tam Không thì làm nên danh phận nhưng không bền, tuổi niên thiếu vất vả.
Ý Nghĩa sao Tuần Ở Cung Phụ Mẫu:
Cha mất sớm, nhất là nếu Nhật, Nguyệt lạc hãm hay bị Không Kiếp chiếu. Cần cân nhắc với hai sao Nhật, Nguyệt và cung Phụ mẫu có Tuần, Triệt.
Ý Nghĩa sao Tuần Ở Cung Phúc Đức:
Phúc đức bị trục trặc trên phương diện nào đó.
Triệt, Dương: Dòng họ thất tự, phải lập con nuôi.
Ý Nghĩa sao Tuần Ở Cung Quan Lộc:
Công danh lận đận, khó nhọc mới làm nên.
Phải chịu vất vả trong một thời gian.
Thiên Tướng, Triệt, Tuần: Có thể bị bãi chức, hay bị tai nạn trong công vụ.
Ý Nghĩa Tuần Ở Cung Nô Bộc:
Tuần ở cung này có nghĩa tôi tớ thay đổi, ra vào luôn, không ai ở lâu dài.
Ý Nghĩa sao Tuần Ở Cung Tật Ách:
Rất cần có sao Tuần, Triệt tại cung Tật Ách vì nhờ hai sao này mà bệnh, tật và họa sẽ tiêu tán hay giảm thiểu đi rất nhiều. Sức khỏe và may mắn sẽ được bảo đảm nhiều hơn.
Ý Nghĩa sao Tuần Ở Cung Điền Trạch, Tài Bạch:
Sao Tuần ở hai cung Điền Trạch, Tài Bạch có thể có nhiều nghĩa:
Không có tài sản, hoặc chỉ có trong một giai đoạn nào đó.
Làm ra của nhưng phải chật vật.
Không được hưởng di sản tổ phụ.
Không có của để lại cho con.
Ý Nghĩa Tuần Ở Cung Tử Tức:
Sát con, nhất là con đầu lòng.
Sinh con đầu lòng khó khăn, khó nuôi.
Ý Nghĩa Tuần Ở Cung Phu Thê:
Sao Tuần ở cung này tiên quyết nói lên sự trắc trở hôn nhân, nhất là sự thất bại của mối tình đầu.
Lấy người khác làng, khác tỉnh mới tốt, nhưng nhân duyên phải gặp khó khăn.
Tuần gặp Mã: Vợ chồng bỏ nhau rất dễ dàng.
Ý Nghĩa Tuần Ở Cung Huynh Đệ:
Anh chị em xung khắc hoặc ít anh chị em.
Anh cả, chị cả mất sớm.
Sao Tuần Khi Vào Các Hạn
Nếu gặp sao sáng sủa thì hạn lại mờ ám, mưu sự trắc trở, thất bại.
Nếu gặp sao xấu xa thì hạn được sáng sủa, dù có gặp trắc trở ban đầu.
Đặc biệt cung Hạn gặp Tuần rất đáng lưu ý vì sao này có hiệu lực mạnh ở các đại, tiểu hạn.
Tóm lại, Sao Tuần là sao hết sức quan trọng, chi phối các cung, các sao, biến tốt thành tương đối xấu, biến xấu thành tương đối tốt, Hiệu lực nghịch đảo đó có thể làm lạc hướng luận đoán nếu sự cân nhắc không tinh vị.
![]() |
![]() |
![]() |
| Thích Ca Mâu Ni Phật là người sáng lập ra Phật giáo, công đức cao dày, trải dài chúng sinh |
![]() |
| 8 tháng 2 âm lịch được gọi là ngày Phật xuất gia hay ngày Phật thành |
![]() |
| Thêm một người tín Phật là thêm một người hiền đức, thêm một người theo Phật là thêm một người chân tâm |
![]() |
| Ðức Phật giáng sinh ở xứ trung Ấn Ðộ, bây giờ là nước Nêpal, một nước ở ven sườn dãy núi Hy Mã Lạp Sơn, là một dãy núi cao nhất thế giới |
![]() |
| Thời niên thiếu, Đức Phật sống một cuộc đời hoan lạc. Ngài lập gia đình và có một người con trai tên là La Hầu La |
![]() |
| Vào năm hai mươi chín tuổi, Đức Phật từ bỏ cuộc sống gia đình và di sản hoàng tộc của mình, trở thành một người tầm đạo lang thang hành khất |
![]() |
| Để vượt qua nỗi khổ, Đức Phật muốn hiểu rõ bản chất của sinh, lão, bệnh, tử, tái sinh, buồn phiền và vô minh |
![]() |
| Đức Phật đã nhận định rõ ràng nỗi khổ thật sự mà mọi người phải trải qua và phương cách khả dĩ để thoát khổ |
![]() |
| Ðức Thích Ca đã ngồi nhập định 49 ngày đêm dưới gốc Bồ Ðề. Trong 49 ngày ấy Ngài đã chiến đấu với bọn giặc phiền não ở nội tâm như tham, sân, si, nghi, mạn... |
![]() |
| Sau nhiều công phu hành thiền, Đức Phật đã hoàn toàn giác ngộ lúc ngài ba mươi lăm tuổi |
![]() |
| Trên cơ sở kinh nghiệm giác ngộ của mình, Phật Thích Ca đã giảng Tứ diệu đế, Bát chính đạo, Vô ngã, Vô thường, Luân hồi, Duyên khởi,quy luật Nhân quả (Nghiệp) và nhiều bài pháp khác |
|
| (Ảnh minh họa) |
Dám nghĩ dám làm là điểm nổi bật trong tính cách của người tuổi Dần mệnh Kim. Họ cũng luôn nhiệt tình giúp đỡ người thân, bạn bè. Những con người ngay thẳng và chính trực này thường khá linh hoạt, biết tùy cơ ứng biến trong mọi hoàn cảnh.
Tuy nhiên, họ giống người tuổi Dần mệnh Hỏa ở tính cách nóng vội. Đây là điều mà cả 2 nên học tập người tuổi Dần mệnh Thủy. Nếu khắc phục được nhược điểm này, thành công sẽ đến với họ dễ dàng hơn.
Đa số người tuổi Dần mệnh Kim có hiểu biết rộng, có khả năng giải quyết công việc một cách hiệu quả và biết cách quản lý tài chính. Nếu được sao tốt tương trợ thì mọi việc với họ đều trở nên thuận lợi. Họ luôn ngay thẳng, chính trực, có đối sách kịp thời trước mọi nguy cơ, biết tùy cơ ứng biến. Tuy khó tạo dựng được sự nghiệp lớn nhưng họ cũng không phải lo lắng về tiền tài, việc kinh doanh sẽ thu được nhiều lợi nhuận.
Nếu không được sao tốt tương trợ trong cung mệnh thì họ thường vì theo đuổi thiếu những thiếu thực tế mà không đạt được kết quả gì. Hơn nữa, họ cũng thường xuyên vướng vào những chuyện thị phi, ảnh hưởng sự nghiệp. Đôi khi, vì chạy theo sự tư lợi mà họ không thể sống an phận, thậm chí còn tự chuốc lấy nhiều rắc rối, thất bại.
(Theo 12 con giáp về sự nghiệp và cuộc đời)
1– Bào thai
Bào thai dù là người sống, nhưng chưa sinh. Vì chưa sinh nên chưa có cuộc sống ngoài thế gian, nhất là chưa thể biết được nam hay nữ, chưa có ngày, tháng, giờ, năm sinh để lấy lá số. Khoa Tử-Vi không nghiên cứu bào thai. Sau này chưa có ai thử làm công việc này. Có người cho rằng có thể lấy ngày thụ thai làm ngày sinh cho bào thai, căn cứ vào đó mà lấy lá số cho bào thai để tìm hiểu vận kiếp của bào thai suốt thời gian 9 tháng trong bụng mẹ.
Tuy nhiên, sự nới rộng phạm vi nghiên cứu con người từ lúc chưa sinh gặp nhiều khó khăn và nghịch thế. Khó khăn vì khó biết được giờ thụ thai chính xác. Lúc đậu thai không có triệu chứng gì báo hiệu thời điểm tinh trùng vào quả trứng. Nghịch thế là, vì dù có lấy lá số cho bào thai được đi nữa, người giải đoán làm cách nào để gạn lọc các sao áp dụng cho bào thai, các sao không áp dụng cho bào thai ? Các sao trong lá số bao hàm các biến cố và cá tính của người đã sinh chớ không phải của người chưa sinh.
2- Người chết
Phật lý cho rằng người chết còn có một kiếp sống ở thế giới khác để chờ luân hồi đầu thai lại trên một người mới. Nhưng, khoa Tử-Vi không chấp nhận phật lý luân hồi. Người nào chết là hết kiếp sống trần gian. Khoa Tử-Vi không dùng ngày giờ chết để lấy số cho một âm hồn. Lý do là vì khoa Tử-Vi không phải là khoa học huyền bí, không khảo sát cõi âm, không cho rằng con người còn có kiếp sống nào khác hơn trần thế. Khoa Tử-Vi không có kỹ thuật nào truy tầm linh hồn kẻ quá vãng để biết nó phiêu bạt nơi đâu. Vì vậy, thuật cầu cơ rất trái ngược với quan niệm thế tục của Tử-Vi. Tuy khoa này có chịu ít nhiều ảnh hưởng của khoa địa lý Trung Hoa, nhưng vẫn không cảm nhận ảnh hưởng nào của người đã chết trên cuộc đời người còn sống. Tử-Vi học chỉ vay mượn nơi khoa điạ lý vài ý niệm để xét âm phần (địa thế, hình sắc và thế đất) để giải đoán về mồ mả tổ tiên, nhưng lại không cho điều đó có một hiệu lực gì đáng kể trên con người và đời người. Có quan điểm nhân bản gạt bỏ hẳn phần giải đoán mồ mả tổ tiên trong giải đoán Tử-Vi, vì nó không bổ ích gì mà còn làm cho khoa này trở nên thần bí.
Tóm lại, theo chủ thuyết sinh của Khổng học, khoa Tử-Vi chỉ nghiên cứu người còn sống. Kẻ chết là một ngoại lệ, ngòai phạm vi khảo sát.
3.– Những người ái nam, ái nữ
Đó là những người mà ta thường gọi là lại cái.
Tuy họ có một ngày sinh, có một kiếp sống hẳn hòi, nhưng họ không có phái nhất định: có thể xem họ là nam, cũng thể cho là nữ. Duy vì kỹ thuật lấy số đòi hỏi tính chất nam hay nữ cho rõ rệt để có thể an sao, cho nên gặp trường hợp ái nam ái nữ, không có thể lấy số được.
Kỹ thuật y học giải phẫu ngày nay có thể giúp xác định phái của người ái nam ái nữ. Có lẽ kể từ ngày được xác định, lá số có thể lấy được, dựa vào ngày sinh. Nhưng, vì trường hợp này quá ư hiếm hoi và quá ư đặc biệt cho nên... chưa có ai rút tỉa kinh nghiệm trong việc tìm tòi điểm đó.
4.– Những tu sĩ, cư sĩ và thuật sĩ
Ba loại người này tự ý đặt mình và ra ngoài vòng tục lụy, không màng đến phú quý vinh hoa, không sợ chết, sợ khổ, lấy sự tiết chế tình dục làm phương châm sinh hoạt.
Tu sĩ và cư sĩ đã chọn một ý thức hệ vọng đạo chớ không theo đời, thoát tục chớ không vướng tục, xem nhân thế như tạm bợ, xem niết bàn như cứu cánh. Nhãn quan phi thế tục của họ khiến họ trở thành người ngoại lệ của đối tượng Tử-Vi.
Thuật sĩ là người chống lại bản năng, cố ý tìm sự khổ nhục thể xác để tập sự cho linh hồn chịu đựng giỏi hơn, cũng không mang đến vinh hoa phú quý. Ý thức hệ của họ khác với nhân sinh quan của đại chúng.
Đó là nói về các tu sĩ, cư sĩ tu Phật hay tu tiên chân chính, không cần biết đến số kiếp, vận mạng. Còn đối với vài lối tu theo Tin Lành, tu mà còn sống với đời để sửa đời, còn làm bóng xã hội, còn có vợ con (Tin Lành) thì vẫn còn áp dụng được lá số Tử-Vi.
Đối với thuật sĩ cơ hội hay tài tử, chỉ tập khổ nhục để biểu diễn, kỳ dư vẫn sống như phàm nhân thì vẫn là đối tượng của Tử-Vi.
5. – Tập thể
Có người cho rằng Tử-Vi có thể áp dụng để xem vận mệnh ch một tập thể nào đó, dùng ngày thành lập làm ngày sinh để lấy số, dùng lối suy luận tương tự để đoán số. Ví dụ như đối với một hiệp hội hoặc một nội các thì lấy ngày giờ ra mắt chính thức làm thời điểm lấy số. Rồi tùy theo các sao quý, phú, bệnh, họa mà suy luận về sự thịnh, suy, nguy, diệt cho hiệp hội hoặc nội các.
Cũng theo quan điểm này, cũng có thể xem vận mệnh cho một quốc gia bằng Tử-Vi, cũng lấy ngày sinh cho lá số quốc gia.
Đây là một quan điểm mới mẻ và táo bạo, cho đến nay chưa thấy ai áp dụng hay thí nghiệm. Duy pải công nhận rằng việc áp dụng Tử-Vi cho tập thể bao hàm nhiều cách, hoặc dựa vào ngày giờ cho phép lập hội, ngày giờ ký Sắc lệnh lập Nội các, hoặc dựa vào ngày giờ hội hoặc nội các ra mắt quốc dân. Còn đối với quốc gia, ngày sinh sẽ phức tạp hơn nhiều. Ví dụ như đối với Việt Nam, có thể chọn ngày Giỗ Tổ Hùng Vương hay ngày Quốc Khánh cũng hữu lý cả. Vì vậy, việc suy đoán vận mệnh dễ sai lầm. Hơn nữa, đời sống của một tập thể, của quốc gia không giống đời sống của một cá nhân. Trên một lá số nào đó, có thể đoán ngày chết của cá nhân, nhưng không ai dám quả quyết rằng tập thể hay quốc gia trúng số sẽ bị tiêu diệt cùng lúc.
Vì vậy, có thể nói rằng Tử-Vi không áp dụng cho tập thể và càng không áp dụng được cho quốc gia.
Lược trích cuốn "Tử vi tổng hợp" của Nguyễn Phát Lộc
| ► Lịch ngày tốt gửi tới bạn đọc công cụ xem tướng và xem bói tử vi để biết tính cách, số mệnh của mình |
![]() |
| Ảnh minh họa |
Khuôn mặt lấy mũi làm đường trung tâm, dựa theo thứ tự từ trên xuống dưới mà chia ra tổng cộng có 13 bộ vị. Hai bên trái phải của mỗi bộ vị đều có một bộ vị tương ứng, lại thêm các bộ vị như thế tổng cộng sẽ có 146 bộ vị. Mười ba (13) bộ vị là chỉ các bộ vị quan trọng nhất theo thứ tự từ trên xuống dưới ở trên mặt. Bao gồm: Thiên trung, Thiên đình, Tư không, Trung chính, Ấn đường, Sơn căn, Niên thượng, Thọ thượng, Chuẩn đầu, Nhân trung, Thủy tinh, Thừa tương, Địa các.
Bộ vị thứ nhất là Thiên trung,
Dựa theo thứ tự lần lượt từ trong hướng sang phải bao gồm: Thiên trung, Thiên nhạc, Tả sương, Nội phủ, Cao quảng, Xích dương, Vũ khố”, Quân môn, Phù giác, Biên địa.
Bộ vị thứ hai là Thiên đình,
Dựa theo thứ tự lần lượt từ trong hướng sang phải bao gồm: Thiên đình, Nhật giác, Long giác, Thiên phủ, Phòng tâm, Thượng mộ, Tứ sát, Chiến đường, Dịch mã, Điếu đình.
Bộ vị thứ ba là Tư không,
Dựa theo thứ tự lần lượt từ trong hướng sang phải bao gồm: Tư không, Ngạch giác, Thượng khanh, Thiếu phủ, Giao hữu, Đạo trung, Giao ngạch, Mi trọng, Sơn lâm, Thánh hiền.
Bộ vị thứ tư là Trung chính,
Dựa theo thứ tự lần lượt từ trong hướng sang phải bao gồm: Trung chính, Ngạch giác, Hổ giác, Ngưu giác, Phù cốt, Nguyên giác, Phủ chiến, Hoa cái, Phúc đường, Thái hà, Giao ngoại.
Bộ vị thứ năm là Ấn đường,
Dựa theo thứ tự lần lượt từ trong hướng sang phải bao gồm: Ấn đường, Giao tỏa, Tả nhật, Tâm thất, Lâm trung, Tửu tôn, Tinh xá, Tần môn, Kiếp lộ, Cảng lộ, Thanh lộ.
Bộ vị thứ sáu là Sơn căn,
Dựa theo thứ tự lần lượt từ trong hướng sang phải bao gồm: Sơn căn, Thái dương, Trung dương, Thiếu dương, Ngoại dương, Ngư vỹ, Gian môn, Thần quang, Thiên tỉnh, Thiên môn, Huyền vũ.
Bộ vị thứ bảy là Niên thượng,
Dựa theo thứ tự lần lượt từ trong hướng sang phải bao gồm: Niên thượng, Phù tọa, Trưởng Trung nam, Thiếu nam, Kim quỹ, Cấm phòng, Tặc thiên, Du quân, Thư thượng, Ngọc đường.
Bộ vị thứ tám là Thọ thượng,
Dựa theo thứ tự lần lượt từ trong - hướng sang phải bao gồm: Thọ thượng, Giáp quỹ, Quy lai, Đường thượng, Chính diện, Cô di, Tỉ muội, Huynh đệ, Ngoại sanh, Mệnh môn, Học đường.
Bộ vị thứ chín là Chuẩn đầu,
Dựa theo thứ tự lần lượt từ trong hướng sang phải bao gồm: Chuẩn đầu, Lan đài, Pháp lệnh, Táo thượng, Cung thất, Điển ngự, Viên thương, Hậu các, Thủ môn, Binh tốt, Ấn thụ.
Bộ vị thứ mười là Nhân trung,
Dựa theo thứ tự lần lượt từ trong hướng sang phải bao gồm: Nhân trung, Tỉnh bộ, Trướng hạ, Tế trù, “Nội các, Tiểu sứ, Bộc tùng, Kĩ đường, Anh môn, Bác sĩ, Bích lộ.
Bộ vị thứ mười một là Thủy tinh,
Dựa theo thứ tự lần lượt từ trong hướng sang phải bao gồm: Thủy tinh, Các môn, Bắc lân, ủy cảng, Thông cù, Khách xá, Binh lan, Gia khố, Thương lữ, Sinh môn, Sơn đầu.
Bộ vị thứ mười hai là Thừa tương,
Dựa theo thứ tự lần lượt từ trong hướng sang phải bao gồm: Thừa tương, Tổ trạch, Tôn trạch, Ngoại viện, Lâm uyển, Hạ mộ, Trang điền, Tửu trì, Giao quách, Hoang cân, Đạo lộ.
Bộ vị thứ mười ba là Địa các,
Dựa theo thứ tự lần lượt từ trong hướng sang phải bao gồm: Địa các, Hạ xá, Nô bộc, Suy ma, Khanh trụ, Địa khố, Bì trì, Nga áp, Đại hải, Chu xa.
Ngũ hành tương sinh chia thành 5 loại:
1. Kim sinh thuỷ
2. Thuỷ sinh mộc
3. Mộc sinh hoả
4. Hoả sinh thổ
5. Thổ sinh kim
Ngũ hành thương khắc cũng chia thành 5 loại:
1. Kim khắc mộc
2. Mộc khắc thổ
3. Thổ khắc thuỷ
4. Thuỷ khắc hoả
5. Hoả khắc kim
Lý luận ngũ hành tương sinh:
Trong nguyên lý khoa học ngũ hành sinh khắc, nói kim có thể sinh thuỷ vì kim loại sau khi nóng chảy biến thành thể lỏng. Trong ngũ hành thì thể lỏng thuộc nước cho nên nói được kim sinh thuỷ. Còn thuỷ có thể sinh mộc vì rằng cây cối phải dựa vào nước để duy trì sự sống. Mộc có thể sinh hoả, trước đây người ta làm bếp củi nấu ăn, lấy cành cây làm củi đốt lửa, cành cây là một phần của cây vì vậy nói được mộc sinh hoả. Hoả có thể sinh thổ vì rằng sau khi dùng lửa để thiêu đốt thì vật chất sẽ biến thành tro bụi, tro bụi rơi vào đất vô hình trung làm cho đất dày lên. Thổ có thể sinh kim càng dễ lý giải, kim loại được lấy từ trong đất để luyện nên.
Lý luận ngũ hành tương khắc:
Kim có thể khắc mộc, lưỡi rìu có thể chặt được cây, điều này ai cũng biết không cần phải giải thích thêm, mộc có thể khắc thổ, rễ cây không ngừng vươn rộng trong lòng đất, điều này cho thấy mộc khắc thổ. Thổ có thể khắc thuỷ, mọi người đều biết lính có tướng chỉ huy, còn nước dùng đất để ngăn chặn. Nước nhiều có thể dùng đê đập để ngăn chặn, vì vậy nói thổ khắc thuỷ. Thuỷ có thể khắc hoả, vì nước dập tắt được lửa. Hoả có thể khắc kim vì lửa có thể làm nóng chảy kim loại.
+ Hành Kim
Ứng dụng của hành Kim trong Phong thuỷ là rất mạnh mẽ. Nó đại diện cho sao Lục Bạhc , Thất Xích được dùng để hoá giải các ngôi sao mang nhiều sát khí thuộc Thổ khí như: Ngũ Hoàng, Nghị Hắc.
Một số đặc điểm:
Hướng: Tây và Tây Bắc
Địa Chi: Thân, Dậu
Màu sắc: Trắng, bạc, đồng, bằng đồng và vàng
Tính chất: Thành công, thông minh, sự công bằng
Nghành, nghề: Kỹ thuật, máy móc, máy tính, ngân hàng, vàng bạc, chăm sóc da, nha khoa
Mùa: Mùa thu
Bát quái: Càn, Đoài
Thân thể: Phổi, hô hấp, ruột, da, răng
+ Hành Mộc
Trong phong thuỷ nó đại diện cho sao Tam Bích, Tứ Lục dùng tăng cường cho sao Cửu Tử cũng như các cung thuộc hành mộc và hoá giải sát khí do Thuỷ khí gây ra.
Một số đặc điểm:
Hướng: Đông và Đông Nam
Địa Chi: Dần, Mão
Màu sắc: Xanh lá cây, Lục
Tính chất: Sáng tạo, đổi mới và sự độ lượng
Nghành, nghề: Gỗ, nội thất, thợ mộc, thợ cắt tóc, ấn phẩm, thiết kế, sản phẩm giấy, trồng trọt, gia vị, dệt may, thời trang vv
Mùa: Mùa Xuân
Bát quái: Chấn, Tốn
Thân thể: Gan, mật, chân, tóc, lông mày
+ Hành Thuỷ
Đại diện hành thuỷ là sao Nhất bạch, nó dùng tăng cường và kết hợp với Tứ Lục để tăng về học hành, tình duyên. Ngoài ra, hành thuỷ còn được ứng dụng hoá giải ác tính của Thất Xích.
Một số đặc điểm:
Hướng: Bắc
Địa Chi: Tý, Hợi
Màu sắc: Màu xanh da trời, đen và xám
Tính chất: Khôn ngoan, tình báo, hài hước
Nghành, nghề: Vận chuyển, vận tải, du lịch, thủy sản, đồ chơi, thể thao, y tế, dọn dẹp, điều dưỡng, kỹ thuật âm thanh, thiết bị lướt sóng, ảo thuật, làm xiếc, điều tra viên, thiết bị chống cháy, báo cáo.
Mùa: Mùa đông
Bát quái: Khảm
Thân thể: Thận, bàng quang, bộ phận sinh dục, xương, tai.
+ Hành Hoả
Sao Cửu Tử đại diện cho hành Hoả. Hành Hoả được dùng ở những phương vị mà hành Mộc là tử khí, sát khí. Ngoài ra, người ta thường dùng Hoả khí để tăng cường cát khi của sao Bát Bạch trong phong thuỷ.
Một số đặc điểm:
Hướng: Nam
Địa Chi: Tỵ, Ngọ
Màu sắc: Màu đỏ, hồng.
Tính chất: Năng lượng, sự nhiệt tình, sự can đảm, nhanh nhẹn và lịch sự.
Nghành, nghề: Điện tử, năng lượng, truyền thông, đèn, giải trí, rượu, thực phẩm, xuất bản, văn phòng phẩm, văn học, photocopy.
Mùa: Mùa hè.
Bát quái: Ly.
Thân thể: Mắt, tim, ruột non, máu, môi.
+ Hành Thổ
Ba sao Nhị Hắc, Ngũ Hoàng và Bát Bạch đại diện cho hành này. Hành thổ được dùng tăng cường cho sao Lục Bạch và Thất Xích khi đang vượng khí. Và dùng hoá giải sao Cửu Tử khi nó suy khí.
Một số đặc điểm:
Hướng: Tây Nam và Đông Bắc và Trung tâm
Địa Chi: Sửu, Thìn, Tuất, Mùi
Màu sắc: Màu vàng và màu nâu
Tính chất: Kiên nhẫn, trung thực, sự khôn ngoan, sự ổn định.
Nghành, nghề: Bất động sản, xây dựng, khai khoáng, hoá chất, bảo hiểm, âm nhạc, tư vấn.
Mùa: tất cả bốn mùa
Bát quái: Khôn, Cấn
Thân thể: Dạ dày, cơ quan tiêu hóa, cơ bắp, lá lách, xương hàm, mũi.
Sưu tầm
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Đoan Trang(##)
Bộ vị Tư không trên khuôn mặt xét lần lượt từ trong hướng sang phải bao gồm: Tư không, Ngạch giác, Thượng khanh, Thiếu phủ, Giao hữu, Đạo trung, Giao ngạch, Mi trọng, Sơn lâm, Thánh hiền. Trong đó, bộ vị bộ phận Ngạch giác mà khuyết hãm thì cả đời không được làm quan.
Ngạch giác, chủ chức vị công khanh.
Nếu bộ vị này khuyết hãm thì cả đời không được làm quan, xương nhô lên thì chức vị tới công khanh. Cũng còn gọi là “Ngạch trung”, sắc hồng, sắc vàng thì đại cát; sắc đen thì mệnh không bảo đảm; sắc ác thì có tai nạn; sắc hồng thì dễ bị người khác khắc hại.
Thượng khanh, chủ quản việc của quê nhà.
Xương thịt nhô lên thường xuất hiện sắc nhẵn bóng thì có thể làm quan lớn hầu cận bên cạnh hoàng đế, sắc ác thì phải rời xa quê hương.
Thiếu phủ.
Màu sắc không tốt thì dù làm quan cũng sẽ bị mất chức, có sắc vàng thì là quý nhân, có chút danh khí.
Giao hữu, chủ bạn bè.
Xương nhô lên và có màu hồng, màu vàng thì những người mà mình kết giao sẽ giúp đỡ mình hết sức; nếu có khiếm khuyết thì ít bạn bè; màu sắc không tốt thì sẽ phát sinh tranh chấp, cãi vã với bạn; màu xanh thì sẽ ngoại tình, sắc hồng thì người tình sẽ rời bỏ mình, sắc trắng thì vợ ngoại tình.
Đạo trung, hay còn gọi là “hoành thượng”, chủ việc xuất hành.
Đầu xương nhô lên thì dễ phải bôn ba bên ngoài, nếu vị trí này mà bằng phẳng thì cả đời không ra ngoài, có khiếm khuyết và sắc như gan ngựa thì có thể sẽ phải bỏ mạng bên đường.
Giao ngạch, chủ phúc lộc.
Xương thịt nhô lên, sắc tốt thì sẽ được hưởng phúc, có đức hạnh; có nốt ruồi đen thì cát lợi, màu sắc không tốt và có khiếm khuyết thì cả đời không có phúc đức.
Mi trọng, là vị trí của gan.
Xương thịt nhô lên thì phú quý hữu dũng; có khiếm khuyết, sắc không tốt là mệnh bần tiện, nhát gan.
Sơn lâm, chủ vị trí tích lũy.
Sơn lâm mà rộng dày thì có nhiều tích lũy, lại có quyền thế mạnh; Sơn lâm nông đầy thì không có quyền thế.
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
| => Theo dõi: Tử vi hàng ngày của 12 con giáp được cập nhật nhanh chóng, chính xác |

Theo quan niệm phong thủy, bể cá cảnh có yếu tố của Thủy nên có tác dụng rất lớn trong việc điều hòa âm dương, tăng cường sinh khí và có thể làm mạnh thêm luồng khí cát hoặc thậm chí cả khí hung ở hướng đó.
Hướng tốt nhất để đặt bể cá là hướng Bắc hoặc Đông Nam. Hướng Bắc thuộc cung Quan Lộc, tượng trưng cho sự may mắn, tài lộc. Hướng Đông Nam thuộc cung Phú Quý, tượng trưng cho sự giàu có. Đặt bể cá theo hai hướng này được xem là sẽ mang may mắn tới cho gia chủ.
Dù mang ý nghĩa tốt nhưng bể cá tuyệt đối không nên để ở vị trí giữa cửa ra vào, ngăn cản luồng sinh khí vào nhà, đồng thời gây cản trở cho giao thông đi lại trong nhà. Bể cá nên đặt ở vị trí dễ nhìn trong phòng khách, tuyệt đối không nên đặt trong phòng ngủ vì phòng ngủ mang tính âm trong khi đó bể cá mang tính dương, rất kỵ nhau.
Ngoài ra, bể cá cảnh cũng không nên bố trí ở quá gần bếp nấu – khiến thủy khí của bể cá và hỏa khí của bếp nấu xung khắc. Phòng vệ sinh hay những nơi tối tăm ẩm thấp cũng không phải là vị trí thích hợp để đặt bể cá cảnh. Nếu phạm phải điều này, sức khỏe của các thành viên trong gia đình sẽ bị ảnh hưởng rất nghiêm trọng và thường xuyên bị đau ốm, bệnh tật.
Một điều đặc biệt quan trọng trong phong thủy mà bạn nên “khắc cốt ghi tâm” đó là việc tuyệt đối tránh đặt tượng của thần Tài hai ba ông tam đa Phúc – Lộc - Thọ phía trên bể cá cảnh. Theo quan niệm phong thủy, cách bố trí này sẽ phạm phải cách cục “chính thần hạ thuỷ”, khiến gia chủ làm ăn thất bại, khuynh gia bại sản.
Khi lựa chọn loài cá để nuôi, bạn cũng nên chú ý mua những loại cá như Long Thổ Châu, Huyết Anh Vũ, cá Rồng, cá La Hán… giúp kích thích sự phát triển của tiền tài, danh vọng cho các thành viên trong gia đình.
Tùy theo mệnh của chủ nhà mà bạn chọn màu sắc của bể cá cho phù hợp. Tuyệt đối tránh những màu khắc mệnh, sẽ khiến bạn hao tốn tiền của và dễ thất thoát khi làm ăn. Với những người mệnh Hỏa thì phong thủy khuyên không nên đặt bể cá cảnh trong nhà.
Theo đó, nếu chủ nhà mệnh Mộc, nên chọn bể cá màu xanh lá cây; mệnh Thổ nên chọn màu xanh dương, mệnh Kim nên chọn màu trắng, mệnh Thủy chọn màu trắng hoặc xanh lá cây.
(Theo Xzone)
1. Sao Ly Sàng: kỵ giá thú
Ngày xuất hiện trong tháng (âm lịch):
Tháng 1, 2, 3: ngày Dậu; tháng 4, 5, 6: ngày Dần, Ngọ; tháng 7, 8, 9: ngày Tuất; tháng 10, 11, 12: ngày Tỵ.
![]() |
| Tranh cát tường |
2. Sao Tứ Thời Cô Quả: kỵ giá thú
Ngày xuất hiện trong tháng (âm lịch):
Tháng 1, 2, 3: ngày Sửu; tháng 4, 5, 6: ngày Thìn; tháng 7, 8, 9: ngày Mùi; tháng 10, 11, 12: ngày Tuất.
3. Sao Không Phòng: kỵ giá thú
Ngày xuất hiện trong tháng (âm lịch):
Tháng 1: ngày Thìn; tháng 2: ngày Tỵ; tháng 3: ngày Tý; tháng 4: ngày Tuất; tháng 5: ngày Hợi; tháng 6: ngày Mùi; tháng 7: ngày Dần; tháng 8: ngày Mão; tháng 9: ngày Ngọ; tháng 10: ngày Thân; tháng 11: ngày Dậu; tháng 12: ngày Sửu.
Theo Bàn về lịch vạn niên
![]() |
| Ảnh minh họa |
![]() |
| Ảnh minh họa |
Hạc là loài đứng đầu trong họ lông vũ, được gọi là ‘nhất phẩm điểu’ có tính cách của một người quân tử. Nếu đặt hạc trong vườn nhà, nó sẽ mang tới cho gia đình bạn sự êm ấm và hạnh phúc.
Thời xưa, các vương hầu muốn cống tiến vật phẩm cho hoàng đế để lấy lòng tin thường sử dụng biểu tượng chim hạc, được gọi là “nhất phẩm điểu” hay là “nhất phẩm đương triều”. Hình dáng con hạc đứng trên phiến đá trước sóng triều ngụ ý tới phẩm chất cao quý, mạnh mẽ đối đầu với khó khăn, mang lại may mắn và ấm êm.
Sách cổ ghi lại rất nhiều điều liên quan tới đức tính của hạc, nhìn một cách tổng quát, hạc giống như một người quân tử, không dâm, không dục, trong sạch thuần khiết, tiếng kêu thánh thót, sánh với nhân tài.

Thời xưa hạc còn được dùng để ví với những người ưu tú nên sắc lệnh chiêu mộ hiền sỹ còn được gọi là “hạc bản”, những thứ trên “hạc bản” được gọi là “hạc thư” hoặc “hạc đầu thư”, những người tu hành và có tiếng tăm tốt được gọi là “hạc minh chi sĩ”. Liên hệ điều này, có thể thấy các bức tranh có vẽ hạc mang ý nghĩa thanh liêm, không tham lam, sa đọa.
Truyền thuyết nói rằng hạc là chim tiên sống rất thọ, trong cuốn “Tướng hạc kinh” đã gọi hạc là ” thọ bất khả lượng” (sống lâu không thể tính) hay “hạc thọ thiên tuế” (hạc sống nghìn năm). Vì thế người đời sau dùng hạc để chúc phúc trường thọ.
Có người còn đặt tên có chữ “hạc” để may mắn và trường thọ như: Hạc Thọ, Hạc Linh… và hình ảnh hạc được đưa vào tranh chúc thọ, bình phong chúc thọ, câu đối và đồ chạm khắc khác.
Ngoài ra mỗi hình dáng và vị trí đặt hạc còn tượng trưng cho một ý nghĩa riêng:
– Một chú hạc đang bay vút lên lên trời tượng trưng cho một thế giới bên kia tốt đẹp, phiêu du, bởi vì khi ai đó chết đi, linh hồn của người ấy sẽ ngồi trên lưng hạc và được hạc chở lên thiên đường. Cũng bởi lý do đó, trong đám tang của người Hoa, con hạc thường được đặt ở giữa nắp áo quan.
– Hình ảnh một chú hạc thấp thoáng giữa những đám mây lại tượng trưng cho tuổi thọ, sự uyên bác, sáng suốt và cuộc sống vương giả. Hình ảnh ấy còn hàm ý chủ nhân đang vươn tới một vị trí cao, đầy quyền lực.
– Hình ảnh hạc đang nô đùa xung quanh những cây thông tượng trưng cho sức chịu đựng dẻo dai, kiên cường của gia chủ để có được một cuộc sống danh tiếng, giàu sang.
– Một trong những món quà mừng tặng cho cha mẹ có thể là một tác phẩm nghệ thuật có hình hai chú hạc trắng nép mình vào nhau giữa nhánh cây thông. Hình ảnh thi vị đó như ước nguyện về một cuộc sống gia đình trong ấm ngoài êm, tượng trưng cho sự tiếp nối truyền thống các bậc tiền bối bảo vệ hạnh phúc gia đình.
hac4.jpg
– Con hạc trắng có lông đỏ trên đỉnh đầu được người Hoa cho là sẽ đem tới một sự hài hòa tuyệt vời cho gia đình và giúp cho mối quan hệ giữa các thành viên luôn bền vững.
– Tốt nhất là đặt con hạc ở hướng Nam, vì nó sẽ đem lại nhiều cơ hội tốt.
– Hướng Tây sẽ đem lại sự may mắn cho con cái của bạn, trong khi hướng Tây Bắc là hướng nên chọn nếu gia đình bạn là tộc trưởng.
– Đặt hạc ở hướng Đông sẽ có lợi cho con trai và cháu trai.
– Những tấm bình phong với hoa văn có thêu hình con hạc là một vật trấn phong thủy khá tốt, giúp bạn chặn đứng những điều không may có thể lọt vào nhà.
– Những khu vực không nên trưng hạc là phòng bếp, phòng tắm và nhà vệ sinh. Bạn cũng có thể bày hạc ở phòng ngủ, phòng ăn và phòng khách.
Yêu thương một người thì dễ gì buông tay, lý trí tinh tường nhưng trái tim thì mù mờ. Vì thế, 3 chòm sao nữ ngốc nghếch dưới đây, dù phát hiện ra người yêu là sở khanh, đểu cáng thì cũng chấp nhận cho hắn cơ hội, đến khi đau đớn thập phần mới đủ can đảm dứt ra.
![]() |
![]() |
Sự nghiệp và những cơ hội mới của bạn có vào được đến nhà hay không đều thông qua cửa chính. Chính bởi vậy, nếu để cửa phòng tắm thẳng trực diện cửa chính ra vào, cơ hội của bạn cũng vì thế mà trôi đi mất.
![]() |
| Phòng tắm thông thoáng và nhiều ánh sáng là hợp phong thủy |
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Cát Phượng (##)
![]() |
| ► ## cung cấp công cụ Xem ngày tốt xấu chuẩn xác theo Lịch vạn sự |
Bài trình bày kinh nghiệm của cụ Thiên Lương
Xin quý vị chú ý tới đại vận Thiên Không của con em thiếu nhi
Từ ngày tìm hiểu Tử Vi, nhất là trên hai năm nay thường được tiếp xúc với quý vị phụ huynh hay than phiền về các con em. Thấy số rất đẹp mà thành ra hỏng như chiếc bình cổ xưa quý giá, bỗng rớt bể tan nát không hi vọng hàn gắn. Quý vị không hiểu sao lại thế, mà so giờ sanh thì thấy là giữa giờ, chứ không phải là đầu hay cuối, có thể lầm là giờ trên hay giờ dưới. Có một số quý vị thấy Mệnh số đóng ở Tuế Phá, Tang Môn, Điều khách đến hỏi có phải là tại đời bất mãn nên khiến ra như vậy. Cũng có một số quý vị thấy mệnh số đóng ngay Thái Tuế, Quan phù, Bạch hổ cũng thấy con em hư thân mất nết, cuộc đời kể như không cơ cứu vãn, vá víu vào đâu để trở thành người dân lành lương thiện, chứ không giám mong mộng anh hùng công hầu, khanh tướng.
Trong cảnh tượng đáng phàn nàn đáng thương hại đó, phải chăng là sự đau sót con em của tình phụ huynh trong gia đình không đành lòng buông xuôi cho chúng cuốn theo chiều nước. Ngoài ra lại còn có những vị nghiêm sư cũng thông hiểu lý số, đem những lá số của môn sinh tràn trề hi vọng ở tương lai, nay thấy học trò quá ư hư hỏng đến xin góp ý kiến để biết nguyên do. Nay nhân tiện xin trình bày để trả lời chung quý vị hãy thận trọng trông chừng đám con em, đầu xanh mới trên 10 tuổi, tùy theo cục của số như:
Thủy nhị cục là 12, Mộc tam cục là 13, Kim tứ cục 14, Thổ ngũ cục 15 và Hỏa lục cục 16.
Chúng nào đã biết gì và còn lắm khờ dại.
Xin nhắc lại vấn đề Âm, Dương, vì có phân Âm Dương mới rõ các trường hợp. Người Dương nam khi đến vận trên 10 tuổi tức là Đại vận thứ 2 xếp sau Đại vận thứ nhất ở Mệnh, nếu thấy Mệnh đẹp đóng ngay trong tam hợp Thái tuế, Quan Phù, Bạch hổ, thì đại vận thứ 2 này ở Phụ mẫu gặp ngay trúng Thiên Không:
1) Như tuổi Giáp Ngọ, mệnh đóng ở Ngọ có bộ sao Dương thủ đắc tức là Sát Phá Liêm Tham Tử Phủ Vũ Tướng, tức là được Khoa, Quyền, Lộc và Lộc tồn thì hiển nhiên phải là đẹp. Hỡi ơi, đại vận kế đó tức là trên 10 tuổi phải sang cung Mùi (Phụ Mẫu) gặp ngay Thiên Không. Như vậy dầu mệnh đóng ở Dần hay ở Tuất cũng thế, cung đại vận trên 10 tuổi vẫn có Thiên không chiếm ngự ở trong tam hợp.
2) Còn như số xấu như trường hợp Mệnh đóng ở Tuế phá, Tang môn, Điếu khách phải là người Âm nam mới có trường hợp Đại vận trên 10 tuổi gặp vận Thiên Không ở cung Bào. Như tuổi Kỷ Mão Mệnh đóng ở Dậu có bộ sao Âm làm nòng cốt là Cơ Nguyệt Đồng Lương Cự Nhật tức là Quyền Lộc ra ngoài cả Lộc tồn. Đại vận thứ 2 sang cung Bào gặp ngay Thiên không ở trong tam hợp Thân Tí Thìn, có nghĩa là dầu Mệnh đóng ở Tuế Phá, hay Tang môn, hay Điếu khách. Đại vận thứ 2 sang cung Bào là phải có Thiên không. Mặc dầu thủ đắc Hóa khoa ở Mệnh Đại vận thứ 2 là 14 tuổi có Thiên không vẫn khổ vồ vỏ chuối, vồ ếch miên man ở chống trường học. Rồi sau đó gặp vận thứ 3 là 24 tuổi tức là Thái Tuế, Quan Phủ, Bạch hổ mới mở mặt mở mày, mão cao bào tía của vị Tân khoa vinh quy bái tổ.
Nói đến Thiên không, dầu ở vị trí nào cũng nên tránh né, là một biến cố suy sụp quan trọng đáng sợ nhất của đời người. Bốn vị trí Dần Thân Tỵ Hợi đối với Thiên Không có thể nó là nới tay nhất vì còn tùy thuộc ở Hồng Loan, vẫn còn ý nghĩa là sắc sắc không. Tự mình tỉnh giấc mộng vàng thì còn dở như đức Phật từ bỏ ngai vàng, vợ đẹp con ngoan, chịu cam phận kham khổ dưới gốc bồ đề. Xin trình quý vị nào ở vào vị trí này là đã tạo được phước lớn ở những kiếp trước xa xưa, nên coi như là hạnh phúc cho mình ở kiếp này.
Bốn cung Tí Ngọ Mão Dậu, Thiên không bị sô đẩy lôi kéo bởi chủ quyền Đào hoa. Biết bao khêu gợi thèm muốn, biết bao thúc bách động lòng tham sân si, tưởng phải là người có trí kiên trì, thân hồn phải làm chủ được thân xác, mới mong thoát được luật bù trừ, rồi ra vẫn là hai bàn tay trắng, nếu không phải đeo thêm cái tiếng thủ đoạn quỷ quyệt mà vẫn là trắng tay.
Còn bốn cung Thìn Tuất Sửu Mùi uy quyền của Thiên không là vô bờ bến, biết bao anh hùng chinh Đông phạt Bắc tiếng tăm lừng lẫy cũng phải treo cổ dưới mũi gươm khắc nghiệt của Thiên không như Hạng Võ, một đời danh vọng tuyệt đích cao sang như Tổng thống Ngô Đình Diệm, đáo hạn Thiên không cũng đưa thân thế co quắp nằm trong hầm xe thiết giáp, nhà tỉ phú chủ nhân nhà trọc trời đường Võ Tánh, cũng trơ mắt ếch ngó sản nghiệp chạy vào túi áo người khác mà rồi hồn phải lìa xác vì uất hận.
Tóm lại hạn Thiên không là hạn phá sản mà người đời càng luyến tiếc bao nhiêu, cố níu kéo cái gì đã ở trong tay mình, thì Mệnh mình cũng bị lôi kéo luôn với gì cố cầm giữ. Không phải chỉ trên hai năm nay mới có những lời than phiền về các con em bị sa lầy trong đám bùn nhơ hầu như không còn phương cứu chữa, thưa rằng trước kia cũng có. Nhưng nó xẩy dến bằng nhiều hình thức để cản trở, hành hạ, điêu luyện đám đầu xanh trên bước tiến đường đời như: Người bỗng nhiên mất trí thành điên cuồng, kẻ mắc bệnh trầm kha phải lâu ngày cứu chữa.
Đối với ba hạng người Tuế phá (Tang môn, Điếu khách) Thiếu Dương (Tử phù, Phúc đức) Thiếu Âm (Trực phù, Long Đức) người thì gặp hoàn cảnh bất mãn, kẻ quá hóm hỉnh muốn lấn lướt quơ vét vào mình, còn người tin tưởng ai cũng như mình thành khờ dại, đồng gặp hoàn cảnh điêu linh, vất vả, sản nghiệp như thủy triều đã đành. Còn như người Thái tuế, Quan phù, Bạch hổ, đường đường phương diện quốc gia thường được hài lòng với hành động luôn luôn chánh nghĩa, tại sao trong khoảng thời gian quý báu nhất để trau dồi học thức của tuổi vị thành niên cũng bị bôi sóa gạt bỏ thì còn gì hi vọng.
Đấng anh hùng cứu quốc, nhà tài phiệt kinh doanh trên thương trường nào mấy ai sanh ra được trọng đãi từ ngay lúc nhập thế cuộc, cũng phải trải qua hai ba chục năm gặp bước gian truân tôi luyện mới trở nên hữu dụng, thư là ngoài 40 tuổi, là cái tuổi có thể dã dầy kinh nghiệm cuộc đời, biết rõ đâu là chánh, đâu là tà nên dễ trở nên vỹ nhân hào hiệp (Mệnh đóng tam hợp Thái tuế gặp vận tam hợp Thái tuế)
Hạn Thiên Không không chừa một ai, không kể thời gian nào, từ ông già bà cả đến trẻ đầu xanh vị thành niên, mỗi khi gặp là cơ nguy phá sản đã đến làm tình tội hay điêu luyện con người tùy theo nhân quả của cá nhân, ngày sau được danh thơm muôn thuở, hay lưu sử vạn niên tùy theo vị trí ngự trị của Mệnh đóng trên vòng Thái tuế.
Vậy xin mời quý phụ huynh và ân sư của đám con em nhỏ tuổi nên tìm cách đưa mình vào địa vị Thiên không mà răn trừng chúng dìu dắt bằng cách này hay cash khác, nhất là phương diện tài chính không thể để cho chúng được rộng rãi vung tay qua trán, nên hiểu chúng là kiếp người đang đi vào giai đoạn phá sản, nỗi túng thiếu phải triền miên. Lòng thương con em không để lộ liễu để chúng lợi dụng ỷ thế trở thành bụi đời. Đó là trách nhiệm của các bực cha anh trong hoàn cảnh khó khăn chăn dắt con em phải thận trọng tùy trường hợp mà quyết định (bệnh hoạn hay phóng túng).
Theo tạp chí Khoa Học Huyền Bí
|
|
|
|
||||
| Tý | Sửu | Dần | Mão | ||||
|
|
|
|
||||
| Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi | ||||
|
|
|
|
||||
| Thân | Dậu | Tuất | Hợi |
Tuệ Anh (theo Diyixz)
Tiết Thanh Minh sắc trời sáng sủa, không khí tươi mát tinh khiết, thời tiết dần chuyển ấm, cây cỏ sum sê tươi tốt. Theo dương lịch, ngày 5 tháng 4 đánh dấu cho sự bắt đầu của tiết Thanh Minh, hay chính xác hơn là 105 ngày sau tiết Đông Chí, 15 ngày sau tiết Xuân Phân. Cái tên Thanh Minh bắt nguồn từ cụm “Thanh Minh phong”, tức là làn gió nhẹ nhàng trong vắt. Lúc này, vạn vật khởi sinh, từ âm chuyển dương, bỏ cũ lấy mới, báo hiệu đông qua xuân đến, dào dạt dương khí, bừng bừng sức sống.
Nguồn gốc của tiết Thanh Minh đã có hơn 2000 năm lịch sử, là một trong 8 lễ tiết dân gian quan trọng nhất trong năm, bao gồm: Thượng Nguyên, Thanh Minh, Lập Hạ, Đoan Ngọ, Trung Nguyên, Trung Thu, Đông Chí, Trừ Tịch.
Tiết Thanh Minh truyền thống gắn liền với tục lệ tảo mộ tế tổ, trở thành hoạt động tâm linh và văn hóa có giá trị lâu đời, ý nghĩa sâu sắc, không ai không biết đến. Bắt nguồn từ tục lập đàn tế bái tổ tiên của vua chúa, cầu mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an, tục này đã lan truyền trong dân gian, ăn sâu bám rễ và trở thành tục tảo mộ chung của toàn dân tộc.
![]() |
Nhắc đến người tuổi Tị, người ta hay nghĩ đến những con người rất thông minh nhưng có chút thâm trầm và bí ẩn. Vậy nếu có sự ảnh hưởng của nhóm máu, liệu tính cách người tuổi Tị có gì thay đổi không? Hãy cùng tìm hiểu về tính cách và vận mệnh của người tuổi Tị nhóm máu B nhé.
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |