Mơ thấy bé trai –
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
Vậy nên sau khi xem xét tướng mặt, tướng tay, chân thì cũng cần phải quan sát các bộ phận cổ lưng eo... Riêng với phụ nữ thì mông và nhũ hoa cũng là những "bộ vị" rất đặc trưng cho cái gọi là nữ tính.
Tướng cổ
Theo quan điểm của Á đông thì phẩn cổ là “Thiên trụ”, tức là cây cột chống đỡ toàn thể ngôi nhà, thân hình con người, cho nên phải có cổ dài cổ ngắn để phối hợp với người béo kẻ gầy, có nhỏ lớn để phối hợp với người cao, kẻ thấp. Xét một cách tổng quát thì cổ nảy nở, tròn đầy, cứng mạnh là tướng tốt, chủ về phú quý, thọ trường, cổ mảnh dẻ nghiêng lệch chủ về chết yểu. Người mập cổ không nên dài, người gầy cổ không được ngắn, nếu ngược lại với tổng tắc đó, con người sẽ gặp nhiều điều không may.
Sách có câu: "Người gầy cổ ngắn gặp tai ương/ Người mập cổ gầy tất yểu vong". Tuy nhiên, sự dài ngắn cũng phải trong giới hạn nào đó. Nếu cổ dài như cổ cò, ngắn như cổ lợn thì lại bất hợp cách.
Một điểm cần lưu ý là dù cổ lớn hay nhỏ, dài hay ngắn đều không nên lộ hầu vì lộ hầu chủ về gian truân, trì trệ. Riêng cổ của phụ nữ thì phải cao và tròn (cổ kiêu ba ngấn), phải cân xứng với thân thể. Đàn bà đại kỵ cổ thấp ngắn và lòi xương, vì cổ nhân cho rằng đó là tướng hình phu khắc tử, cô độc góa bụa.
![]() |
Người cổ có gân nổi ra là tính khí thô bạo. Xương cổ lồi lên là tính nóng nảy cộc cằn. Người gầy gân nổi bao quanh cổ là bần cùng. Người béo mà gân nổi bao quanh cổ lộ xương thì chết bất đắc kỳ tử ở quê xa xứ lạ. Cổ tròn da trắng xương cổ không lộ ra là người giàu sang, cổ tròn da dày như cổ gà, có nhiều lằn tròn là người thông minh tài trí. Vai và lưng đều khuôn phò sau cổ như nâng đỡ là tướng phát quan, cổ có nhiều lằn quấn vòng theo là nghèo nhưng rất thanh cao và sống lâu, nếu có nhiều mụn cóc nốt ruồi là hèn hạ, đói rách.
Về thế cổ, thì nếu cổ như hướng về phía trước (nhưng không được quá lộ liễu), chủ về tính nết hòa ái phong nhã, còn nếu như hướng về sau chủ về tính nhu nhược, hay gặp sóng gió bất ngờ. Cổ tròn dài như cổ hạc dễ phát nhưng chung cuộc không được an lành. Nếu cổ mập và cả đầu tương xứng như chim yến thì là tướng đại phú quí.
Tướng lưng
Tục ngữ có câu: “Tốt mặt chẳng bằng tốt mình”, với ý ngực và lưng là chủ của mình. Tướng lưng tốt (người sang giàu) phải hội đủ các điều kiện là đầy đặn, rắn chắc, cân xứng, nở nang. Có như thế thì nội tạng ổn, ít tai họa, được hưởng phúc lộc. Trái lại lưng mỏng, thế yếu, lưng cong... đều là các loại tướng xấu, nội tạng không ổn định, tinh thần suy nhược. Những người như vậy nếu Ngũ quan, tức tướng mặt, có tốt cũng khó mà phát huy ưu điểm của mình để đưa đến thành công trong thực tế. Với phụ nữ, lưng đầy đặn được coi là tướng vượng phu ích tử, tốt cho chồng con.
![]() |
Dưới cái nhìn Á đông, lưng thẳng dài, to lớn, đầy đặn là người có tài năng. Lưng rộng và gồ lên như lưng rùa là thuộc loại phúc tướng. Lưng nhô lên như lưng cá là người thành đạt về công danh. Lưng nổi như tháp 3 tầng, chủ vinh hoa, phú quý và trường thọ. Lưng dày, rộng, phẳng thì cuộc đời được hưởng phúc, nếu có họa cũng sẽ qua khỏi. Lưng vuông, dài là người thông minh, tài giỏi, gia đình hạnh phúc. Lưng tròn như cánh quạt xòe là quý tướng.
Những tướng lưng xấu: Lưng có rãnh và còng như lưng con tôm thì kém thông minh, bần tiện. Lưng lệch lẹo, nhỏ bản, cuộc đời cực khổ, chết yểu. Lưng bẹt, mỏng, lõm thì cả đời nghèo hèn. Lưng mỏng, lệch, lõm là tướng bần hàn, cô độc. Lưng co ngắn là người ít học, bần tiện. Lưng lõm như rãnh nước, cả đời nghèo khổ.
Tướng eo lưng
Tướng mạo về eo lưng cho rằng: Eo lưng của con người như núi của bụng, là vật để dựa, chỉ việc yên tĩnh và nguy hại. Phía trước của eo lưng là bụng liên quan mật thiết với nhau. Sách “Thần tướng toàn biên” nói rằng: “Eo lưng là thành quách của bụng. Mọi sự an nguy của bụng đều dựa vào eo lưng cả”. Bởi vậy trong tướng học eo lưng phải “tròn trịa, ngay, thẳng, rộng, dày”. Kẻ có eo lưng như vậy là có phúc lộc.
![]() |
Ngược lại, eo lưng hẹp, lép, mảnh mai là tướng kẻ đa thành đa bại, thân thể suy nhược. Eo lưng rộng rãi bằng phẳng tuơng ứng với mông là tướng tốt nhất, chủ về thọ. Eo lưng cong, hõm xuống, hẹp lệch không tương xứng với mông là tướng hạ cách, chủ vế tính nết nhu nhược, khó thành đạt.
Đàn ông tối kị eo thắt đáy lưng ong, đàn bà nếu eo lưng quá nhỏ và bó lại ở phần giữa, đường tử tức có rất nhiều điểm bất lợi. Viên Liễu Trang, nhà tướng học lừng danh có nói: “Đàn bà thân nhẹ, thắt đáy lưng ong, nhan sắc mĩ miều, lấy làm thiếp thì được chứ chẳng nên lấy làm vợ chính thức” vì lẽ kể trên. Như vậy, câu ca “Đàn bà thắt đáy lưng ong/ Đã khéo chiều chồng lại khéo nuôi con” có lẽ chỉ là câu của đấng mày râu nịnh khéo phụ nữ, chứ theo quan niệm tướng mệnh của cổ nhân thì lại hoàn toàn trái ngược.
Tướng rốn, mông và nhũ hoa
Sách nói rốn là nguồn gốc của gân và tạng. Do đó hình dạng tướng mạo của bụng và rốn có quan hệ đến việc sống lâu, chết yểu, hiểu biết hoặc kém thông minh. Rốn cũng là mảnh đất tập hợp của các mạch trong con người (huyệt Thần khuyết). Rốn cần phải sâu, rốn sâu là giàu có, nhất là rốn phải ngửa lên mới thật là giàu sang. Dân gian có câu: “Rốn sâu có phước có lộc, rốn cạn chịu nạn chịu nghèo”.
Rốn rộng vành lớn lỗ là danh tiếng lẫy lừng. Rốn nhỏ mà bọc hẹp là đau khổ. Rốn cần trên nhỏ dưới lớn, đại kỵ trên lớn dưới nhỏ. Nếu rốn hướng về phía dưới thì có phúc và hiểu biết; hướng về phía trên thì nghèo; thấp thì tư lự và suy nghĩ sâu xa; cao thì trí lực kém; cạn mà nhô lên thì không có tướng làm quan, làm tướng. Đàn ông lồi rốn là nghèo mà thọ. Đàn bà lồi rốn là đần và ương ngạnh. Vì vậy phụ nữ bất kỳ gầy mập, đều phải cần có mông lớn eo lớn, lỗ rốn sâu là tốt. Lỗ rốn mà có ít sợi lông, nhứt định sinh con quí tử.
![]() |
Theo quan niệm của Nhân tướng học, mông là nền tảng của đời người nên cần phải tròn trịa, đầy đặn, không cần phải to nhưng tối kỵ là cong. Đối với phụ nữ, mông lớn tròn trịa cân xứng và rắn chắc, vừa đẹp và vừa đam mê luyến ái, chí tình, hào phóng và rất độ lượng, vượng tử.
Nếu quá to là người tính nóng nảy, không chịu nhún nhường người khác. Nếu nhỏ vừa đủ nhưng chắc và cân xứng với eo, nhiều dục tính song kém phúc lộc. Người có mông nhỏ thường ưa sống nội tâm tính cách lúc nóng như lửa, lúc lại lạnh như băng, đầu óc minh mẫn, khả năng phán đoán linh hoạt và tư tưởng sắc bén. Phụ nữ thiếu mông (mông beo) thì lúc thanh xuân bạc về đường tình, mà rỗng về của cải. Khi trở về già hoặc trung niên thì chồng con chết, hoặc ly tán cô độc, mọi việc đều thất bại.
Tướng người phụ nữ nhỏ bé mà cũng không có mông thì tuy học vấn cao nhưng thành công ít, gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống. Phụ nữ mập tròn mà không có mông thì hiếm muộn về đường con cái, cuộc sống dễ trở nên cô độc, buồn nản. Về màu sắc của da mông, giữa nam và nữ cũng có sự khác biệt nhiều.
Nhũ hoa của phụ nữ là căn bản của hậu duệ, tức là cái nguồn gốc để lưu lại đời đời về sau. Sách “Quan nhân ư vi” viết: “Đôi nhũ hoa là tinh hoa của vận mạch, xem nhan sắc đen trắng, to nhỏ có thể biết con cháu nhiều ít và hiền hay ngu”. Nhũ hoa phải chắc, đầy, quả hồng và núm đen, nhiều con (Nhũ đầu hắc đại tử tôn mãn đường). Có nốt ruồi ở vú tất sinh quý tử. Nhũ đầu trắng bệch chúi xuống, nhũ đầu nhỏ và nhọn, hiếm con cái. Nhũ đầu vàng trắng, đẻ con khó nuôi. Nhũ đầu lép, y lực bất túc. Đầu nhũ hoa hướng thượng, đa tử tôn. Đầu nhũ hoa trắng bệch, tướng nô bộc.
Theo Hà Nam
Câu chuyện Pháp luật
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Ngọc Sương (##)
Theo phong tục của người Việt và một số nước khu vực Đông Á, thì Tết Trung Thu được tổ chức vào giữa mua thu, chính là ngày 15 tháng 8 âm lịch. Trong dịp này, người người , nhà nhà bày mân cỗ cúng gia tiên và bánh trái cúng mặt trăng. Nhưng háo hức nhất vẫn là các em thiếu nhi, vì ngoài ngày 1/6 là Quốc tế thiếu nhi, thì đây là ngày lễ lớn thứ 2 để các em được vui chơi, rước đèn phá cỗ.
Vào ngày Tết Trung Thu, người lớn thì uống rượu thưởng trăng, trẻ em thì được xem múa lân, rước đèn ông sao, hát các bài hát về Trung Thu, Chị Hằng, chú Cuội, và cùng nhau phá cỗ. Tuy đây là một phong tục hàng năm, nhưng nguồn gốc của ngày này do đâu mà có và có từ thời gian nào?
Theo sử sách từ Trung Quốc thì có khá nhiều sự tích kể về Chị Hằng và nguồn gốc của tết Trung Thu. Tuy nhiên, lịch sử sách nước ta, thì sử tích chú Cuội và gốc đa chắc chắn em nhỏ hay người lớn nào cũng được biết. Bởi câu chuyện này đã được đưa vào chương trình sách giáo khóa cho các em học sinh tiểu học. Theo các truyền thuyết của Trung Quốc thì Tết Trung Thu là sự tích bắt đầu từ Hằng Nga, Hậu Nghệ, vua Đường Minh Hòa được lên cung trăng.
Với truyền thuyết Hằng Nga- Hậu Nghệ thì từ thời xa xưa, trên trời xuất hiện 10 ông mặt trời, chiếu xuống trái đất làm khô cạn hết sông ngòi, mọi vật và sinh linh trên trái đất không thể sống nổi. Vì thế nên một anh hùng tên là Hậu Nghệ đã trèo lên ngọn núi Côn Lôn, dùng nỏ thần bắn rụng chín ông mặt trời. Để đáp lại chiến công của Hậu Nghệ, Vua Nghiêu đã ban tặng cho chàng một viên thuốc trường sinh bất lão và dặn phải một năm sau mới được uống. Hậu Nghệ nghe lời và làm theo, chàng ta mang về nahf và giấu trong bồ thóc. Vào một hôm chàng đi vắng, Hằng Nga vợ chàng mở bồ thóc ra thì thấy một vật tròn sáng lấp lánh. Biết được là linh dược vua ban, nàng đã uống ngay viên thuốc và bắt đầu bay về trời. Với chiếc nỏ thần trong tay, Hậu Nghệ đuổi theo vợ nhưng bị thần Gió cản lại, để cho nàng tiên nữ xinh đẹp Hằng Nga bay về cung trăng. Vì nhớ nhung vợ nên Hậu Nghệ đã xây một lâu đăì đặt tên là “Dương”, trong khi đó Hằng Nga cũng xây một lâu đài đặt tên là “Âm”. Và cứ mỗi năm một lần, vào đúng ngày rằm tháng 8 âm lịch thì mặt trăng luôn thật tròn và sáng để chàng Hậu Nghệ có thể trông thấy được vợ mình.
Truyền thuyết thứ hai về vua đường Minh Hoàng: Theo sử sách ghi rằng, vào một đêm khi cùng uống rượu thưởng nguyệt với các bá quan văn võ, vua Đường ao ước được lên cung trăng một lần. Biết ý vua nên pháp sư – Diệu Pháp đã xin vua làm phép để mang người lên cung trăng. Lên tới cung trăng, Vua được các vị tiên tiếp rước, bài tiệc đãi đằng, cho hàng trăm tiên nữ múa hát, gảy đàn, gọi là khúc Nghê- Thường vũ y.
Về sau, nhà vua lấy ngày rằm tháng 8 hàng năm để kỉ niệm ngày vua được lên cung trăng, tục ngắm trăng, xem ca mua nhạc dần dần biến thành thú vui chơi đền Trung Thu.
Tết Trung Thu diễn ra vào ngày 15 tháng 8 theo lịch âm, vào thời gian này thì người Đông Á mình đã thu hoạch xong vụ mùa và đang trong thời gian nghỉ ngơi chuản vị cho vụ thu – đông. Và món ăn đặc trưng nhất trong mùa lễ hội này là bánh trung thu với nhiều hương vị khác nhau, thường được thưởng thức cùng nước trà.
Vào đêm Trung Thu, các em thiếu nhi và người lớn cùng nhau rước đèn, múa lân. Người ngoài Bắc gọi là múa sư tử, trong Nam gọi là mua lân. Bên cạnh đó một vài nơi còn có tục rước đèn kéo quân trong dịp tết Trung Thu.
Ngoài việc giúp cho trẻ em có một ngày lễ vui vẻ và biết tới truyền thống phong tục của dân tộc thì tết trung thu còn là dịp con cháu đoàn viên bên gia đình, là dịp để con chu tỏ lòng biết ơn, hiếu thảo với ông bà tổ tiên,
Từ sau cánh mạng tháng 8, sau khi Bác Hồ gửi thư Trung Thu cho các cháu thiếu nhi cả nước thì ngày Tết Trung Thu mới thực sự là ngày tết chính thức của tất cả các trẻ em. Ngày nay, trẻ em được chăm sóc, quan tâm và giáo dục tốt hơn, bởi đây chính là tương lai của đất nước.
Xem thêm các bài văn khấn rằm tháng 7 và cách bày lễ cúng rằm tháng 7
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
![]() |
1. Tĩnh
“Im lặng là vàng”, đôi khi chúng ta cần nói ít đi, lắng nghe nhiều hơn để điều chỉnh tâm thái của chính bản thân. Vì cũng có lúc, người nói nhiều quá sẽ không hiểu hết giá trị của sự yên lặng.
Nói nhiều đôi khi chúng ta cũng không thể kiểm soát hành vi. Càng nói nhiều càng dễ bị nói hớ, dễ đi chệch hướng. Vậy nên, cần phải tĩnh tâm, suy nghĩ thấu đáo rồi mới làm, ắt tìm ra định hướng trong cuộc đời, thành công ắt tới.
2. Bình
Bình trog bình tĩnh, bình thản để cân bằng trong nội tâm. Cuộc sống hối hả, dòng đời xô bồ, tâm ai bình an, thanh thản người ấy sẽ cảm thấy vui vẻ, hạnh phúc và thành công hơn người khác.
Bình cũng là cách đối nhân xử thế khéo léo. Bởi “dục tốc bất đạt”, nóng vội sẽ đưa ra quyết định sai lầm, khó khăn chồng chất khó khăn, bế tắc vẫn hoàn bế tắc.
3. Nhẫn
Nhẫn không đồng nghĩa với việc để người khác chà đạp. Nhẫn là để tự cảnh tỉnh bản thân, không nóng giận để rồi làm những việc sai trái. Tức giận không những hại sức khỏe, tổn thương tinh thần mà còn đánh mất đi giá trị đích thực trong con người bạn.
Vậy nên mới có câu: “Nhẫn nại để thể hiện sự độ lượng, tha thứ những việc không thể thay đổi được. Có dũng khí để thay đổi những việc có thể thay đổi được. Có trí tuệ để phân biệt được hai loại sự việc trên”. Làm được những điều này, bạn đã là người thành công rồi đó.
4. Nghe
Bản thân mỗi người cần phân định rõ đúng sai, phải trái. Nhưng nếu không lắng nghe người khác, bạn khó mà xác định được.
Lắng nghe để biết lòng người ý ta, để tìm cách đối nhân xử thế, khắc phục điểm yếu, phát huy điểm mạnh, âu cũng là mang lại lợi ích cho chính mình.
5. Nhẹ
Càng xem nhẹ mọi thứ, tâm càng dễ thanh tịnh, hạnh phúc càng ngập tràn. Danh lợi, tiền bạc chỉ là vật phù du, chết rồi có mang theo được đâu.
Buồn tủi, giận hờn sớm muộn rồi cũng qua đi, chỉ còn ta với ta. Vậy sao không xem nhẹ mọi thứ, học cách buông bỏ để mọi phiền não bị thổi bay nhanh chóng.
Chỉ với 5 chữ vàng đơn giản, nhưng nếu làm được, bạn sẽ sớm vượt qua mọi khó khăn, bế tắc trong cuộc đời, tâm tưởng lúc nào cũng nhẹ tênh để tiến tới những thành công to lớn.
![]() |
| Các mũi gai nhọn của xương rồng chĩa thẳng vào người gây ốm đau, bệnh tật |
| ► Tham khảo thêm những thông tin về: Lịch vạn niên và Lịch âm dương chuẩn xác nhất |
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
Tuổi Dần: Gồm có các tuổi sinh năm: 1938 – 1950 – 1962 – 1974 – 1986 – 1998. Đối với tuổi này cần chọn treo tranh nào để hợp phong thủy và thu hút tài lộc. Chúng ta cùng đọc bài viết sau để để có câu trả lời nhé!
Nội dung

Tuổi Dần khi muốn chọn tranh phong thủy để mang lại may mắn, thì nên chọn một trong các loại tranh sau:
Các loại tranh sơn thuỷ, núi cao lớp lớp, tranh hổ.
Vượng về điền trạch, vượng nhân đinh, tăng khả năng công tác, khẳng định vị thế phía sau dựa núi, trước mở đường tài – Kim Đồng tiến bảo, bên trái chiêu tài – bên phải trừ tai, chủ yên vị khách yên tâm.
Nên treo phòng khách, sảnh đường, phía sau chủ nhân theo hướng phòng.
Đối với ngày Rằm, theo quan niệm phương Đông thì có một số điều nên tránh làm để tránh vận hạn đen đủi, điều không may mắn như sau:
Theo quan niệm tâm linh của người Việt, hành động câu cá vào ngày rằm sẽ mang lại cho người đó vận hạn đen đủi. Chính vì điều này, vào ngày rằm người ta thường không đi câu cá.
Nói bậy chửi tục chắc chắn cũng phản ánh một phần nào đó văn hóa của mỗi người. Đây cũng là điều mà rất nhiều người kiêng kỵ để không xuất hiện trong những ngày đầu tháng.
Nhiều người quan niệm nếu đầu tháng, rằm mà nói bậy chửi tục thì cả tháng sẽ gặp những chuyện thị phi.
Trong ngày Tết, mùng 1, ngày rằm, người phương Đông có quan niệm kiêng khem, tránh việc gần gũi nam nữ. Bởi lẽ, theo quan niệm cổ xưa, việc quan hệ nam nữ vào những ngày này sẽ dẫn đến những điều vận hạn đen đủi, không may mắn, thậm chí là đại hạn.
Hiện nay, quan niệm này tuy đã không còn nặng nề như trước nhưng trên thực tế, không ít cặp vợ chồng vẫn khiêng khem và đại kỵ chuyện ấy trong những thời khắc nhạy cảm.
Đã có nhiều cách lý giải khác nhau về tục kiêng kỵ này nhưng không phải lý giải nào cũng thực sự thuyết phục.
Dưới góc độ lý học Đông Phương, mỗi người sinh ra đều chịu ảnh hưởng của không gian và thời gian (tượng trưng là các chòm sao). Theo đó, Mặt Trăng tượng trưng bởi sao Thái Âm mang năng lượng âm.
Vì vậy, vào ngày rằm khi trăng tròn, Thái Âm sẽ vượng nhất, năng lượng âm đạt cực đại, con gái sinh vào ngày này sẽ là cực âm thành ra cá tính, khó dạy dỗ.
Tuy nhiên hiện nay, quan niệm này không còn mấy ai tin tưởng và thực hành theo. Vì con cái trời sinh, sinh con ra dù trai hay gái và vào ngày nào nếu khỏe mạnh cũng đều đáng quý.
* Thông tin trên chỉ mang tính chất tham khảo
Xem-boi-tinh-yeu
Xem bói tình yêu :Ngón út ngắn
Mối quan hệ xã hội và tình yêu rất dễ thay đổi. Đối với sự hiểu nhau với người yêu, vợ hoặc chồng luôn không đủ, hoặc bản thân chưa trưởng thành vẫn còn tính cách trẻ con. Bởi vậy rất dễ phát triển mối quan hệ với những người mình cảm thấy thích, duyên phận có nhiều biến đổi. Có rất nhiều mối tình.
Xem bói tình yêu: Có nhiều đường Hôn nhân chồng chéo lên nhau
Nhu cầu sinh lý mạnh, khó có thể không chế được bản thân, có nhiều mối quan hệ phức tạp với người khác giới.
Xem bói tình yêu: Nhiều vòng kim tỉnh
Thích không khí lãng mạn, thường gây ra những chuyện tai tiếng.
Xem bói tình yêu:Đường tâm đạo có nhiều nhánh ở dưới
Có tấm lòng từ bi, dễ dàng chuyển từ sự đồng cảm sang tình yêu, dễ vì tình mà gặp khó khăn. Mặc dù không muốn như vậy nhưng thường bị người khác hiểu nhầm là kẻ đa tình.
Xem bói tình yêu: Gò Kim tỉnh có tính đàn hồi, bên cạnh đường Sinh mệnh có nhiều đường Kim tinh
Nhu cầu sinh lý mạnh, thể lực khỏe. Để thỏa mãn dục vọng của bản thân họ thường nảy sinh mối quan hệ với nhiều người khác giới.
![]() |
| Ảnh minh họa |
Những câu nói hay và thấm thía của cha. Đối với những người cha con cái là tài sản quý giá nhất mà không có gì có thể đánh đổi được và trách nhiệm dạy dỗ con cái là phận sự cao cả. Trong mỗi người chúng ta sẽ không ít bạn được nghe những lời dạy của cha mà càng trải qua những khó khăn vất vả trong cuộc sống bạn mới thấy những câu nói ấy thật đúng.
Dưới đây là những câu nói hay và thấm thía của cha bạn cùng đọc và cảm nhận nhé!
Nếu có người đối xử với con không tốt, đừng thèm để tâm cho mất thời giờ. Trong cuộc đời này, không ai có bổn phận phải đối xử tốt với con cả, ngoại trừ cha và mẹ của các con.
——-
Không có người nào mà không thể thay thế được cả; không có vật gì mà nhất thiết phải sở hữu ,bám chặt lấy nó. Nếu hiểu rõ được nguyên lý này, thì sau này trong cuộc đời, lỡ người bạn đời không còn muốn cùng đi trọn cuộc đời, hay vì lý do gì con bị mất đi những gì trân quý nhất trong đời con, thì cũng nên hiểu: đó cũng không phải là chuyện trời sập.
——–
Đời người ngắn ngủi, nếu hôm nay ta để lãng phí thời gian, mai đây hiểu được thì thấy rằng quãng đời đó đã vĩnh viễn mất rồi!. Cho nên, nếu ta càng biết trân quý sinh mạng của mình càng sớm thì ta được tận hưởng cuộc đời mình càng nhiều hơn.
Trên đời này chẳng hề có chuyện yêu thương bất diệt. Ái tình chẳng qua là một cảm xúc nhất thời, cảm giác này tuyệt đối sẽ theo thời gian, hoàn cảnh mà biến thiên, thay đổi.
Tuy có nhiều người trên thế giới này thành công, nổi tiếng mà chẳng có học hành nhiều, chẳng có bằng cấp cao, nhưng điều đó cũng không có nghĩa là không cần học hành nhiều sẽ thành công.
Cha không yêu cầu các con phải phụng dưỡng cha trong nửa quãng đời còn lại của cha sau này. Ngược lại, cha cũng không thể bao bọc nửa quãng đời sau này của các con. Lúc các con đã trưởng thành, độc lập, đó cũng là lúc cha đã làm tròn thiên chức của mình.
Các con có thể yêu cầu mình phải giữ chữ TÍN, nhưng không thể bắt người khác phải giữ chữ TÍN với mình. Các con có thể yêu cầu mình phải đối xử TỐT với người khác, nhưng không thể kỳ vọng người khác phải đối xử TỐT với mình.
Trong mười mấy, hai mươi năm nay, có người tuần nào cũng mua vé số, nhưng vẫn nghèo trắng tay, điều này chứng minh: muốn phát đạt, phải siêng năng làm ăn mới khá được.
Sum họp gia đình, thân thích đều là duyên phận, bất luận trong kiếp này chúng ta sống chung với nhau được bao lâu, như thế nào, nên trân qúy khoảng thời gian chúng ta được chung sống với nhau, kiếp sau (nếu có), dù ta có thương hay không thương, cũng không có dịp gặp lại nhau đâu”.
Đời sống là vô thường, không ai biết trước mình sống được bao lâu, có những việc cần, nếu được nói ra sớm để hiểu thì hay hơn.
Cha là Cha của các con, nếu không nói ra thì chắc không ai nói rõ với các con những việc này đâu!
Những điều căn dặn để ghi nhớ này là kết quả của bao kinh nghiệm xương máu, thất bại đắng cay trong cuộc đời của chính bản thân mà Cha ghi nhận được, Nó sẽ giúp các con tránh những nhầm lẫn hoang phí trên con đường trưởng thành của các con.
Hãy để tìm hiểu những câu nói ý nghĩa về cuộc sống, về tình thương yêu của cha mẹ để bổ sung cho bản thân những kiến thức cuoc song còn thiếu hụt nhé!
Liên hệ giữa Mệnh-Thân và Hạn trong Tu Vi
Mệnh Thân và Hạn tốt – Người có cung Mệnh tốt thì chỉ xứng ý toại lòng lúc còn trẻ tuổi, đến tuổi trung niên và hậu vận thì cũng cần phải được cung Thân tốt thì mới được trọn vẹn. Nếu được Hạn tốt nữa thì ví như gấm thêm hoa.
Mệnh Thân tốt gặp Hạn xấu – Mệnh Thân tốt có thể giải trừ được một phần lớn ảnh hưởng xấu của Hạn.
Mệnh Thân xấu được Hạn tốt – Được phát ví như lúa non gặp mưa thuận gió hòa, cây khô gặp mùa Xuân, nhưng không bền.
Mệnh Thân và Hạn xấu – Rất xấu như sinh bất phùng thời.

Ảnh hưởng của Chính tinh là Nam hay Bắc Đẩu Tinh nhập hạn trong Tu Vi
Nam Đẩu Tinh nhập hạn – Ảnh hưởng mạnh mẽ vào khoảng nữa phần thời gian sau của Đại và Tiểu vận. Nếu bị Tuần Triệt thì đoán ngược lại.
Các Nam Đẩu Tinh là Thái Dương – Thiên Cơ – Thiên Đồng – Thiên Lương – Thiên Tướng và Thất Sát. Các chính tinh trên hợp với người dương nam và âm nữ, nếu được miếu vượng hay đắc địa thì càng thêm tốt đẹp.
Riêng hai chính tinh Tử Vi và Thiên Phuû là Nam Bắc Tinh
Bắc Đẩu Tinh nhập hạn – Ảnh hưởng mạnh mẽ vào khoảng nữa phần thời gian đầu của Đại và Tiểu vận.
Các Bắc Đẩu Tinh là Thái Âm – Vũ Khúc – Tham Lang – Liêm Trinh – Phá Quân và Cự Môn. Các chính tinh trên hợp với người âm nam và dương nữ, nếu được miếu vượng hay đắc địa thì càng thêm tốt đẹp.
Ảnh hưởng của Sao nhập hạn
Ảnh hưởng các Sao lưu động mỗi năm
Đại Tiểu Hạn trùng phùng
Cung gốc đại vận 10 năm với lưu niên tiểu vận đồng cung, sự việc tốt xấu hay dở của năm xem hạn tại cung trùng phùng này sẽ gia tăng.
Thí dụ: hạn năm Ngọ 32 tuổi lưu niên chữ Ngọ trùng với cung gốc của đại vận 23-32 tuổi
Yếu tố thiên thời của đại-vận (10 năm) trong Tu Vi
Mỗi đại-vận là một thiên-thời, đắc được thiên-thời gặp vận hội tốt đời sẽ lên hương, còn mất thiên-thời thì đời sẽ thấy khó-khăn để rồi đi xuống.
Lấy ngũ hành của tam hợp tuổi đem so-sánh với hành tam hợp của cung đại vận nhập hạn:
Tam hợp tuổi tương đồng hành tam hợp vận – đắc vận Thái-tuế (thiên-thời) là đại-vận tốt đẹp nhất trong đời; thêm sao tốt nhập hạn thì được như gấm thêu hoa, nếu gặp ách-nạn thì cũng sẽ được cứu-giải mà qua khỏi.
Trường-hợp bị Hung-sát-tinh phá cách như Không-Kiếp … thì vẫn được lên nhưng rồi dễ xuống, hay gặp khó-khăn và trở-ngại, vận hội tốt còn hưởng độ 50% mà thôi.
Đại-vận này cần phải được thêm tam-hợp Sinh-Vượng-Mộ hổ trợ thì mới được hưởng vận Thiên-thời một cách chính-đáng, trọn-vẹn và bền-bỉ.
Thí dụ: các người tuổi Dần-Ngọ-Tuất đại vận 10 năm đến các cung Dần-Ngọ-Tuất (đại vận hỏa đồng hành tam-hợp tuổi hỏa)
Tam-hợp-vận sinh-nhập hành tam-hợp-tuổi – được thuận-lợi và sức-khỏe tốt; tuy-nhiên vì nằm trong tam-hợp Thiên-không nên cũng hay dễ xảy ra những sự thất-bại và buồn lòng, nếu đắc Hóa-khoa có thể cứu-giải.
Thí dụ: các người tuổi Dần-Ngọ-Tuất đại vận 10 năm đến các cung Hợi-Mão-Mùi (đại vận mộc sinh hành tam-hợp tuổi hỏa)
Tam-hợp-tuổi khắc-xuất hành tam-hợp-vận – bị sa-lầy, nhiều vất-vả (Thiếu-âm), phải gắng công tranh-đấu (Phá-Hư-Mã); có thể nhờ đến phần Nhân-hòa (sao) giúp-đỡ.
Thí dụ: các người tuổi Dần-Ngọ-Tuất đại vận 10 năm đến các cung Tỵ-Dậu-Sữu (đại vận kim bị hành tam-hợp tuổi hỏa khắc)
Tam-hợp-vận khắc-nhập hành tam-hợp-tuổi – khắc ngược rất xấu, cần phải có được nhiều sao tốt để cứu giải.
Thí dụ: các người tuổi Dần-Ngọ-Tuất đại vận 10 năm đến các cung Thân-Tý-Thìn (đại vận thủy khắc hành tam-hợp tuổi hỏa)
Yếu tố địa lợi của Đại-vận (10 năm) trong Tu Vi
Địa-lợi là nơi an thân của bản mệnh tại đại vận. Nếu cung hạn tương sinh tất bản mệnh sẽ được vững chắc an lành. Phần này phải lấy ngũ hành nạp âm của mệnh so-sánh với ngũ hành của cung nhập-hạn :
Tương-Sanh – sức-khỏe dồi-dào và thường gặp may-mắn.
Thí dụ người mệnh hỏa đại vận đến hai cung Dần-Mão thuộc mộc được tương sinh.
Tương-Khắc – sức-khỏe kém, thường gặp nhiều khó-khăn và bất trắc xảy ra.
Thí duï người mệnh hỏa đại vận đến hai cung Hợi-Tý thuộc thủy bị tương khắc.
Nếu hành bản mệnh bị hành của cung đại-vận khắc rất xấu, nhưng được Chính-tinh tại cung đại-vận sinh-nhập lại mệnh (tức cung sinh sao và sao sinh lại mệnh) là cách “tuyệt xứ phùng sinh” rất tốt (ví dụ người mệnh hỏa bị hành của cung đại vận tại Hợi hay Tý thuộc thủy khắc, nhưng lại được chính tinh Thiên Cơ hoặc Thiên Lương tại Hợi-Tý thuộc mộc sinh lại bản mệnh)
Yếu tố nhân hòa của đại-vận (10 năm) trong Tu Vi
Nhân-hòa là thứ cách quan trọng sau yếu-tố Thiên-thời, nếu được Thiên-thời và Địa-lợi nhưng không được phần “Nhân-hòa” thì dù bản-thân có may-mắn đến đâu thì cũng phải bị nhiều vất-vả mới được thành-công, vì ít được sự trợ-giúp của bên ngoài.
Phần này phải xem bộ Chính tinh Đại-vận có cùng hay khác thế lưỡng-nghi với bộ Chính tinh của tam hợp Mệnh:
Nếu Chính tinh đồng bộ cùng phe phái lưỡng-nghi (như Tử-Phủ-Vũ-Tướng gặp Sát-Phá-Liêm-Tham) thì khi chuyển vận gặp nhau ít thay-đổi, thêm Trung-tinh đắc cách tam-hợp thì được hòa-thuận tốt đẹp.
Bằng như khác phe phái (như Cơ-Nguyệt-Đồng-Lương gặp Sát-Phá-Liêm-Tham) thì hẳn là có sự đụng-độ và khó-khăn, phần thiệt-hại vẫn là phần của phe yếu thế là Cơ-Nguyệt-Đồng-Lương; nếu gia thêm Sát-tinh nhập hạn thì sẽ gặp nhiều chuyện không may.
Tư-thế của bốn bộ Chính tinh (Tứ tượng) trên muốn được thêm hoàn-mỹ và thành-công thì cần phải có tối thiểu:
– Bộ T-P-V-T cần nhất là Tả-Hữu, Thai-Tọa
– Bộ S-P-L-T cần nhất là Thai-Cáo và Lục-sát-tinh
– Bộ C-N-Đ-L cần nhất là Xương-Khúc và Khôi-Việt
– Bộ C-N cần nhất là Hồng-Đào, Quang-Quý
* So-sánh hành Sao nhập hạn sinh hay khắc với hành Mệnh, bộ Sát-Phá-Liêm-Tham mỗi khi nhập hạn thường có những cuộc thăng-trầm khá quan-trọng xẩy ra.
Luận về Lưu niên đại hạn trong Tu Vi
Ngoài cách xem các đại vận 10 năm ra, nếu muốn xem đại vận một cách tường tận hơn thì phải xem cả lưu đại hạn của từng năm một.
Nếu muốn biết xem lưu đại vận từng năm một của mỗi 10 năm đại vận thì phải khởi năm thứ nhất từ con số đầu ghi ở cung gốc đại hạn muốn xem, tính tiếp sang cung xung chiếu của cung gốc hạn là năm thứ hai, sau đó:
Dương Nam – Âm Nữ : Từ năm thứ hai ở cung xung chiếu lùi lại một cung (theo chiều nghịch kim đồng hồ) là năm thứ ba, xong trở thuận lại cung xung chiếu ghi số tiếp năm thứ tư, rồi tiếp tục theo chiều thuận ghi tiếp mỗi cung một số cho các năm kế tiếp cho đến cung gốc của đại hạn sau.
Xem bảng thí dụ cách tính lưu đại vận của 10 năm đại vận từ 22 đến 31 tuổi của tuổi Dương Nam / Thủy Nhị Cục bên trái dưới đây.
Âm Nam – Dương Nữ : Từ số của năm thứ hai ở cung xung chiếu tiến lên một cung (theo chiều thuận kim đồng hồ) ghi số kế tiếp là năm thứ ba, xong trở lùi lại cung xung chiếu ghi số tiếp năm thứ tư, rồi tiếp tục theo chiều nghịch ghi tiếp mỗi cung một số cho các năm kế tiếp cho đến cung gốc của đại hạn sau.
Luận về Lưu niên tiểu vận (1 năm) trong Tu Vi
Trong lá số Tử Vi, chung quanh phần địa bàn (trung tâm của lá số) kế bên ô mỗi cung đều được ghi 1 địa chi (ví dụ Tý-Sửu-Dần-Mão …) theo chiều nam thuận nữ nghịch, đó chính là năm tiểu vận tại mỗi cung của đời người – ví dụ năm Kỷ Mão thì xem tiểu vận tại cung có ghi chữ Mão, năm Canh Thìn thì xem tiểu vận tại cung có ghi chữ Thìn …
Khi xem tiểu vận phải xem phối hợp với cung gốc của 10 năm đại vận của tiểu vận đó. Tiểu hạn (dầu tốt hay xấu) chỉ phụ giúp thêm hay làm giảm bớt 10% ảnh hưởng của Đại vận.
Mỗi tiểu hạn, chúng ta cần phải so sánh đến các tương quan giữa Can Chi của tuổi với Can Chi của năm nhập hạn vaø ngũ hành của các sao nhập hạn, sau đó phải so sánh hành bản mệnh với hành của cung tiểu vận nhập hạn theo bảng dưới đây để biết được tiểu vận đó tốt hay xấu.
So sánh hành Can của tuổi và Can năm nhập hạn (gốc, quan hệ)
So sánh hành Chi của tuổi và Chi năm nhập hạn (ngọn, thứ yếu)
So sánh hành bản mệnh và hành của năm hạn (tính theo nạp âm) để biết mức độ đắc thất.
So sánh Can của tuổi và Hành sao nhập hạn phụ thêm để quyết định.
Phụ luận :
Trong đời người từ nhỏ đến 60 tuổi có 5 lần gặp năm Thiên khắc Địa xung nhưng chỉ có 2 lần xung quan trọng là Năm 43 tuổi (hàng Can bị sinh xuất) và Năm 67 tuổi (hàng Can bị khắc nhập) vừa là giai đoạn gặp Thiên thương hay Thiên sứ.
Còn Năm 49 tuổi thường xấu vì tuy hàng Can của năm được sinh nhập (hưng vượng) nhưng hàng Chi lại nằm ở thế Phá Hư (không đắc ý) nên khiến cho từ chổ thành công mà lại đưa đến chỗ thất bại bất mãn; chẳng khác gì cây bị úng nước, rể phải hư và ngọn bị héo tàn.
Từ 49 đến 50 tuổi, 53 đến 60 tuổi và từ 67 đến 70 tuổi là ba đoạn đường đổ dốc để lượn lên các ngôi sơ thọ (50) – trung thọ (60) và thượng thọ (70) luôn luôn có Thương cung Nô và Sưù cung Ách là hai đồn canh đứng chặn giữa ba đoạn đường đại vận này để kiểm soát suôi ngược.
Người lái xe phải lành nghề (vòng Thái Tuế) vững tay lái, xe không ham chở nặng (Quyền Lộc) thì mới mong được an toàn.
Thương (thổ cung Nô) phụ tá của Thiên Sứ, gây ra tổn hại; có phần nào nhẹ tay hơn Sứ (cho người có đại vận đi xuôi gặêp Thương trước).
Sứ (thủy cung Ách) thi hành lệnh gieo tai ách
Mức độ nặng nhẹ của Thương-Sứ thi hành nhiệm vụ là tùy thuộc vào các Sát tinh nhập cuộc tại cung Nô và Ách như Văn Xương, Kình Dương (cung Tứ chính / các tuổi Giáp Mậu Canh Nhâm), Không Kiếp, Thiên Không, Tang Môn …
Ngoài ra trong 3 đại vận liên tiếp trên, ít nào cũng năm sáu lần tiểu hạn đụng đầu Đào Hồng gặp Thiên không, Lưu hà và Kiếp Sát rất dễ gây ra sức ép với tuổi già.
Trừ phi Mệnh hay Thân đắc Thọ tinh hợp hành làm nồng cốt và không bị nghiệp báo Hình Riêu, Không Kiếp lũng đoạn.
Trong đời người, cứ mỗi 12 năm thì có 3 năm liên tiếp gặp hạn tam tai, thường thì hạn năm giữa là nặng nhất. Trong các năm nhập hạn tam tai thường gặp nhiều trở ngại, rủi ro hoặc khó khăn trong công việc. Ngoài ra không nên tu tạo hay tậu mãi nhà đất trong những năm hạn này. Còn việc hôn nhân, cưới hỏi thì ít bị ảnh hưởng. Đây chỉ là những dự đoán về hạn xấu chung để mà phòng tránh thôi chứ không chắc hẳn sẽ xảy ra như vậy.
Nếu năm nhập hạn trong lá số Tử Vi tốt thì hạn xấu của năm tam tai sẽ được giảm bớt, ngược lại nếu năm hạn trong lá số xấu mà gặp thêm năm tam tai thì năm hạn xấu sẽ càng xấu thêm.
(còn tiếp)
Đền Voi Phục tọa lạc tại số 261, Đường Thụy Khuê, Tây Hồ, Hà Nội. Đền Voi Phục là một ngôi đền trong Thăng Long tứ trấn của thành Thăng Long xưa, gồm bốn ngôi đền: Đền Quán Thánh (trấn giữ phía Bắc kinh thành); Đền Kim Liên (trấn giữ phía Nam kinh thành); Đền Bạch Mã (trấn giữ phía Đông kinh thành); Đền Voi Phục (trấn giữ phía Tây kinh thành). Đây là một nét độc đáo thu hút khách thập phương tới địa danh tâm linh này.
Lịch Sử: Đền được lập từ thời Lý Thái Tông (1028-1054) ở góc phía tây nam thành Thăng Long cũ thuộc địa phận làng Thủ Lệ nay là công viên Thủ Lệ. Thờ hoàng tử Linh Lang, con của vua Lý Thái Tông, và bà phi thứ 9 Dương Thị Quang, nhưng tương truyền vốn là con của Long Quân, tên gọi là Hoàng Châu, thác sinh, là người có công trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhà Tống, và đã hi sinh trên phòng tuyến sông Cầu vào năm 1076.
Sau khi mất, được người dân Thủ lệ lập đền thờ và được nhà vua sắc phong là Linh Lang đại vương thượng đẳng phúc thần. Thần đã nhiều lần âm phù giúp nhà Trần trong cuộc chiến chống quân xâm lược Nguyên – Mông, và nhà Lê trong cuộc phục hưng. Vì trước cửa đền có đắp 2 con voi quỳ gối nên quen gọi là đền Voi Phục và vì đền ở phía tây kinh thành nên còn gọi là trấn Tây hoặc trấn Đoài (Đoài, theo bát quái thuộc phương Tây).
Kiến Trúc: Đường lên sân đền có ba lối, chính giữa có 12 bậc đá rộng, nơi chỉ để rước kiệu trong ngày lễ, bình thường đi hai lối bên. Trước mặt lối giữa là một giếng vuông mang ý nghĩa tụ thuỷ tụ phúc, nơi xưa kia lấy nước cúng (có lẽ giếng đã được sửa thành vuông trong thời gian gần đây). Ý nghĩa cầu nước và cầu no đủ còn được thể hiện ở đôi rồng mây “chạm tròn” bằng đá, một sản phẩm khoảng giữa thế kỷ XIX và đôi hổ phù gắn hai bên tường cửa chính được chạm nổi, mang nét chuẩn mực.
Đền Voi Phục có dạng chữ Công. Tiền tế 5 gian, kết cấu vì chồng rường, mái lợp ngói mũi hài cổ. Trung đường 1 gian chạy dọc vào phía trong nối với hậu cung. Dưới ngai thờ thần là tượng 2 vị tuỳ tướng quỳ chầu. Hậu cung cũng 5 gian, gian chính giữa ở vị trí sâu và cao nhất là pho tượng đức Linh Lang Đại vương với nét mặt thanh tú, cao sang. Phía trước pho tượng Ngài là một hòn đá lớn được đặt trong hộp kính. Hòn đá có vết lõm, tương truyền thần đã từng gối đầu trên hòn đá này. Hai bên hòn đá là tượng 2 vị phụ tá đứng chầu. Trong đền, ngoài các pho tượng còn có hoành phi, câu đối, nhang án, long ngai, cửa võng bát bửu cùng các đồ tế khí. đều được sơn son thếp vàng lộng lẫy.
Ngoài ra, đền Voi phục còn sở hữu 9 cây muỗm đại cổ thụ nằm ngay trước sân đền.Những cây muỗm này có tuổi khoảng 700 năm. Cả 9 cây đều được trồng cùng với việc xây dựng ngôi đền Voi Phục từ thời nhà Lý.
Lễ hội của đền là một cuộc sinh hoạt văn hoá thường niên, mang tính chất mở, với sự tham gia của thập phương, vượt ra ngoài không gian đất Thủ Lệ, ít nhất là vùng Thuỵ Khuê, Thủ Lệ, Vạn Phúc rồi vùng Thập tam trại và cả Bồng Lai (Đan Phượng – Hà Tây) – lễ hội chính của đền Voi Phục diễn ra vào ngày 9 và 10 tháng hai âm lịch., từng năm có thể kéo dài từ 3 tới 10 ngày tuỳ theo sự đóng góp của dân, đáng kể nhất là việc
Đền Voi Phục đã được trùng tu sửa chữa nhiều lần và ngôi đền hiện nay khang trang hơn so với ngôi đền cũ bị thực dân Pháp phá hủy năm 1947, được trùng tu năm 2000,2009. Đền được tách hẳn khỏi công viên thủ lệ, toạ lạc trên gò Long Thủ giữa một khu đất rộng, dưới xum xuê cành lá. Mặt tiền trông ra hồ thủ lệ mênh mông gợn sóng. Đền Voi Phục được Bộ Văn hóa xếp hạng di tích lịch sử văn hóa ngày 28/4/1962.
Trong lịch sử, đền Voi Phục như một trấn thiêng ở phía Tây của thành Thăng Long, đền không chỉ liên quan trực tiếp với Kinh đô mà nó đã hội vào bản thân rất nhiều dòng chảy của tín ngưỡng dân gian để tồn tại với thời gian, hiện nay khó ai có thể nắm bắt được hết những ý nghĩa thiêng liêng của kiến trúc mang vẻ đẹp thánh thiện này, chỉ biết rằng, đền Voi Phục, từ nay sẽ luôn được tôn tạo xứng đáng, vì đó là một điểm sáng trong tinh thần bảo tồn bản sắc văn hoá dân tộc.
Tên Họ thay đổi thì “thiên lực” mà Tên Họ ấy từng tàng chứa cũng khác “khí lực” trong cái Tên Họ mới. Tên Họ bây giờ tàng chứa những thông tin, “tiên thiên” hoàn toàn khác với các thông tin mà Tên Họ nguyên khởi tàng chứa.

Với suy biện như vậy, nên tất cả các Tên Họ khác nhau đều có “khí lực” khác nhau. “Khí lực” của một cái Tên Họ đều có 2 phần tàng chứa về “khí” và “lực”.
– Một phần là “thiên khí”, biểu hiện “thời vận” của vũ trụ.
– Một phần là “nhân lực”, biểu hiện “vận hội” của một con người (như đã nói trên). Một vĩ nhân bằng công sức, ý chí và với sự thành công đã tạo ra một triều đại mới với một Tên Họ mới. Hay một nhân vật thành đạt bằng các chiến tích, công trạng của mình có được một Tên Họ mới (Tên Họ vua ban) v.v…Một người phải thay Tên Họ phải nghĩ ra một Tên Họ mới bằng ý tưởng của mình. Trong thực tế có rất nhiều Tên Họ được thay đổi. Và khi Tên Họ thay đổi của một ai đó sẽ có những thông tin phù hợp với nó do khí và lực mới.

Nếu bố trí đúng, cây và nước sẽ mang lại may mắn cho gia chủ. Ảnh minh họa
Hiện nay, xu hướng chung là mọi người đều mong muốn được gần gũi với thiên nhiên. Ai cũng đều muốn tìm cho mình sự nhẹ nhàng, thanh thoát sau những áp lực của cuộc sống. Ðiều này tạo nên trào lưu tạo sân vườn trong khuôn viên nhà mình.
Tại các ngôi nhà hiện đại, những khu vườn nước ngày càng được ưa chuộng. Một góc vườn, tại cầu thang hay góc nhà… đều có thể được tận dụng để đem lại màu xanh, tạo không gian thư giãn tinh tế cho ngôi nhà. Ngôi nhà rộng thì gia chủ có thể có cả một khu thủy tạ, nếu nhà hẹp, gia chủ cũng chỉ cần một góc sân là đủ.
Bể cá, hồ nước hay non bộ trước nhà còn là điểm tụ thủy và các tiểu cảnh đang rất được ưa dùng trong nhà và sân vườn. Cây bonsai, non bộ thường được sắp xếp tuân thủ theo các thế truyền thống (Tam Ða, Tứ linh, Ngũ hành, Phụ Tử). Đây không chỉ đơn thuần la yếu tố giải trí mà chính là biểu tượng vũ trụ quan thu nhỏ của triết học đông phương. Nước trong non bộ nên bố trí nước động để giúp kích hoạt nguồn khí. Tùy theo đặc thù, chủ đề non bộ hay tính cách giá chủ mà nước này có thể chảy róc rách, thác đổ hay bể tràn.
Ðối với chung cư hay nhà phố, diện tích và các khoảng trống trong nhà thường không đủ để làm am nước và trồng cây lớn, hơn nữa việc đặt non bộ trong nhà còn gây ra ẩm thấp. Vì vậy, gia chủ chỉ nên dùng bể cá có cây tiểu cảnh loại nhỏ.
Quan niệm của ngũ hành là “Thủy sinh Mộc”, cây cối không thể sống và phát triển tốt nếu thiếu nguồn nước. Vì vậy, khi bố trí cây xanh cho dương trạch, cần coi mặt nước và cây xanh là hai yếu tố không thể tách rời. Hai yếu tố này bổ sung, tương hỗ cho nhau. Cây là dương, đón nhận ánh sáng gọi là dương quang và hút nước từ đất (âm thủy). Vì vậy, nhìn cây xem mạch đất chính là nhờ sự liên hệ Thủy Mộc tương sinh.
Đối với nhà ở truyền thống, bố cục cây xanh – mặt nước – công trình theo phong thủy là bố trí hồ nước hoặc ao sen nằm ở phái Nam khu đất tính từ cổng vào sân trước, tức là bố trí ở đầu hướng gió mát để đưa hơi nước lan tỏa trong sân nhà.
(Theo CafeLand)
![]() |
Trùng tang là một hiện tượng mà từ trước tới nay vẫn luôn được thêu dệt một cách huyền bí, mang màu sắc tâm linh rõ rệt và thể hiện “quyền lực” siêu nhiên không giới hạn của con người ngay cả khi đã… chết. Vậy “trùng tang” có thật hay không và nên hiểu nó như thế nào trên cả hai phương diện khoa học duy tâm và duy vật

Cách đây hơn một năm, nhiều tờ báo đưa tin về trường hợp trùng tang ở quận Tây Hồ, Hà Nội rất đáng sợ. Đó là một gia đình trong một ngày xảy ra 2 cái chết của bố chồng và nàng dâu cách nhau chưa đến 5 tiếng đồng hồ. Điều đáng nói là người con dâu đang khỏe mạnh bình thường, vẫn còn đang tất bật chuẩn bị “hậu sự” cho bố chồng thì bỗng nhiên đột tử vì cảm. Để tránh không chôn cất cùng một giờ, hơn nữa, chưa được “giờ đẹp” nên người bố “hạ huyệt” trước, sau đó người con dâu mới được khâm liệm và hạ huyệt sau.
Khỏi phải nói gia tộc đó hoảng sợ đến mức nào, nhất là người con trai cả đồng thời cũng là chồng của người vợ quá cố. Anh rất lo lắng cho đứa con trai độc nhất 15 tuổi và cả bản thân mình. Vì người ta bảo nhà anh bị “trùng tang”. Từ trước tới nay anh có biết “trùng tang” là gì đâu, hơn nữa, những chuyện như vậy chẳng khi nào anh quan tâm do không biết thực hư thế nào. Nhưng khi trong gia đình mình cùng lúc 2 cái chết của bố và vợ thì anh hoảng hồn thực sự, đến nỗi ai bảo gì anh làm nấy để gọi là tránh chuyện tương tự xảy ra.
Như gia đình trên đây, thì một gia đình ở ngay phố Ngọc Hà, quận Ba Đình cũng xảy ra những cái chết tương tự. Chỉ khác là gia đình này, trong vòng 3 năm, 2 người con trai duy nhất trong gia đình đều “đi” theo bố và “đi” một cách “bất đắc kỳ tử”. Người bố sau một thời gian bị bệnh nan y thì qua đời khi ở tuổi “thất thập cổ lai hy”. Nỗi đau của những người trong gia đình chưa qua thì chỉ sau cái lễ 100 ngày của ông ít hôm, lại đến con trai trưởng của ông mất. Cái chết của anh ở tuổi “vẫn còn đang xoan” không chỉ khiến cho người ta thương tiếc mà còn làm cho câu chuyện về “trùng tang” được tin nhiều hơn và thêu dệt nhiều hơn.
Đêm hôm trước, anh vẫn còn ngồi quán nước và nói chuyện oang oang về thế sự, không một chút biểu hiện của người đau ốm, bệnh tật. Thế mà sớm hôm sau, khi vợ gọi anh dậy để đỡ chị dọn hàng bán đồ ăn sáng như mọi khi, anh đã mãi ngủ không bao giờ dậy. Liên tiếp 2 cái chết xảy ra trong vòng hơn 3 tháng, tưởng như gia đình anh không thể gắng gượng được.
Vậy mà chưa hết, 2 năm sau, người con trai út đang phơi phới tuổi xuân bỗng dưng một chiều đi làm về kêu mệt, vào giường nằm rồi mất lúc nào cũng không ai biết. Cả gia đình nhộn nhạo, hoảng loạn. Không ai có thể giải thích được nguyên nhân vì sao chỉ trong thời gian ngắn mà cả 3 người đàn ông trong nhà đều ra đi ngoài lý do duy nhất: “Trùng tang”. Và trùng tang như thế được gọi là “trùng tang liên táng”.
Thực ra, từ trước tới nay, chưa bao giờ có một định nghĩa chính thống về “trùng tang” mà chỉ dựa trên hiện tượng rồi đúc kết thành quan niệm. Ngay cả, Phật pháp cũng không định nghĩa về hiện tượng này, mặc dù đây là “hồn cốt” của thế giới tâm linh. Theo cách hiểu dân gian “trùng tang” là trường hợp người chết “phạm” phải năm hoặc tháng hoặc giờ xấu do đó linh hồn không siêu thoát nên cứ quanh quẩn trong nhà trở thành “trùng” (có khái niệm cho rằng là “âm binh”) rồi lần lượt “bắt” theo từng người thân trong dòng tộc.
Nhưng phải trong 3 năm liền xảy ra liên tiếp những cái chết của những người trong cùng dòng tộc mới coi là “trùng tang”. Còn nếu không thì không phải. Có rất nhiều người nhầm lẫn điều này nên thấy trong gia tộc có nhiều người mất nhưng không phải trong 3 năm liên tiếp vẫn nhận là bị “trùng tang”.
Cách tính “trùng tang” theo “Phật pháp bách vấn” thì như thế này: Đối với những người tuổi thân, tý, thìn nếu mất vào một trong bất kể ngày hoặc tháng, năm, giờ tỵ thì coi là bị mất vào ngày trùng tang, còn được gọi là ngày “kiếp sát”. Tức là những tuổi đó “kỵ tỵ”. Mà đã ‘kỵ tỵ” thì những người tuổi thân, tý, thìn càng không được an táng vào ngày tỵ. Tương tự cách tính ấy, tuổi dần, tuất, ngọ kỵ hợi; tuổi tỵ, dậu, sửu kỵ dần; Hợi, mão, mùi kỵ thân. Tiện ích tính tự động trùng tang liên táng tại đây
Còn cách tính ngày trùng là chẳng hạn, ngày dần, tháng dần, năm dần, hay ngày thân, tháng thân, năm thân… cũng được gọi là ngày “trùng”. Ngày “trùng” này không tính riêng cho một tuổi nào mà bất kỳ người tuổi nào mất vào ngày “trùng” cũng “kỵ”.
Sách “Tam giáo chính hội” còn nói đến cách tính “trùng tang” cổ xưa là phải tính theo niên, nguyệt, nhật, thời (năm, tháng, ngày, giờ) thì mới biết người quá cố có “trùng tang” hay không. Theo cách tính đó thì những người mất ở tuổi (âm lịch): 10, 13, 16, 19, 22, (cứ cộng thêm 3) thì sẽ bị “trùng tang”. Hoặc những người tuổi tý, ngọ, mão, dậu nếu mất vào một trong các năm tuổi ấy, cũng coi là “trùng tang”…
Tuy nhiên, việc “trùng tang” có thật hay không hay chỉ là sự ngẫu nhiên tình cờ?
Mặc dù là thế giới tâm linh đầy huyền bí và cũng có hẳn cách tính ngày “trùng tang” nhưng Phật giáo lại quan niệm về “trùng tang” như thế này: Sống chết là chuyện thường niên, do nghiệp lực của tự thân mỗi người chi phối. Sống và chết chỉ là hai hiện tượng trong tiến trình luân hồi bất tận. Nghiệp tuy có chung và riêng song nghiệp riêng vẫn giữ vai trò chủ động, quyết định, có tính cách độc lập, không ai có thể thay thế cho ai. Vì thế Phật giáo không có quan niệm về ngày trùng tang, trùng nhật và hoàn toàn phủ nhận việc ngày giờ mất cũng như chôn cất của một người mà có thể ảnh hưởng đến sự sống chết của người khác…”.
Trên cơ sở khoa học, GS.VS Đào Vọng Đức, PGS.TS Hà Vĩnh Tân, những nhà vật lý thuộc Hội Vật lý Việt Nam cũng đã bỏ nhiều thời gian nghiên cứu về vấn đề này đã lý giải theo cách của mình.
Mà cách lý giải ấy rất giống với những kiến giải của cố GS Nguyễn Hoàng Phương - nhà vật lý học nổi tiếng - từng giải thích hiện tượng “trùng tang” theo lý thuyết sóng điện từ và trường năng lượng: “Trong mối quan hệ giữa người chết bị “trùng tang” và người bị “trùng bắt” không có sự tiếp xúc xác thịt trực tiếp nên tất yếu phải có phần sóng vô hình của đôi bên tham gia vào. Đó có thể là một hiện tượng cộng hưởng sóng mang tính chất huyết thống, dòng họ. Do tần số khác nhau nhiều nên theo lý thuyết về nhạc, loại cộng hưởng này mang tên cộng hưởng Harmonic (tần số này là bội số của tần số kia). Đó là cơ chế cộng hưởng Harmonic hình thái huyết thống”.
Còn TS Đỗ Kiên Cường, một người rất am hiểu về những khả năng tiềm ẩn của con người, về những cái gọi là “thế lực siêu nhiên”… đồng thời là tác giả của rất nhiều bài viết lý giải về vấn đề này dưới góc độ khoa học cho rằng: “Trùng tang” đơn giản chỉ là sự trùng hợp mang tính ngẫu nhiên. Trong đó, bản chất của sự trùng hợp là luật số lớn trong lý thuyết xác suất và thống kê. Định luật này đơn giản có thể hiểu là: “Với một mẫu xét đủ lớn, bất kỳ hiện tượng kỳ lạ nào cũng có thể xảy ra”.
Như vậy, với những cách giải thích trên đây, mặc dù chưa có cách giải thích nào có thể chứng minh theo kiểu “tai nghe mắt thấy” nhưng rõ ràng “trùng tang” chỉ là một quan niệm “siêu thực”, xuất phát và tồn tại trong tín ngưỡng, thế giới tâm linh của con người. Và khi đã tồn tại trong tín ngưỡng dân gian, thế giới tâm linh của con người thì nhận định như nhà văn hóa Trần Lâm Biền “cần gì phải biết đúng - sai; thực - hư mà cứ để nó như vậy. Duy chỉ có điều không được khoác lên nó, thêu dệt xung quanh nó màu sắc mê tín dị đoan”.
Còn cách “hóa giải” trùng tang như Phật giáo khuyên: “Vì là tập tục đã ăn sâu vào tâm thức mọi người nên trong tinh thần phương tiên, nhà chùa vẫn khuyên các Phật tử không an táng thân quyến vào những ngày trùng, nhằm giúp họ an tâm để chu toàn tang lễ đồng thời nỗ lực cầu nguyện, khai thị, làm phúc hồi hướng cho hương linh. Đây mới là những điều cần làm để “âm dương lưỡng lợi” theo quan điểm của Phật giáo”.
Còn để “trấn an” tinh thần của những người còn sống, dân gian có cách “giải” trùng tang là: dùng các vị thần sa, chu sa, sương luật, địa liền… cho vào một cái túi rồi đặt trong quan tài người chết. Hoặc có thể dùng bộ linh phù để gối đầu người đã khuất, dán lên ngực, hoặc lót dưới quan tài… Bộ linh phù này được biết ở chùa Hàm Long, Bắc Ninh có bộ ván in khắc phù giải đã có mấy trăm năm nay. Người dân có thể đến đây nhờ các sư thầy tư vấn mà không nên lập đàn tế lễ tốn kém, gây hoang mang cho người còn sống…
Theo Tùng An
![]() |
Ai là người sung sướng nhất?![]() |
| ► Tử vi hàng ngày, tử vi tuần mới của bạn được cập nhật liên tục, chuẩn xác tại Lichngaytot.com! |
![]() |
Pha lê trắng có thể giúp bài thải khí độc, khiến tinh thần, trí tuệ minh mẫn hơn. Hãy đặt pha lê trắng với kích thước lớn trên bàn làm việc để thu hút vận may về sự nghiệp tốt cho công việc và sự nghiệp. Tránh bài trí pha lê trắng gần đầu giường, bất lợi cho giấc ngủ.
Năng lượng của pha lê xanh giúp tăng khả năng thích nghi của con người với môi trường mới, tăng tính tích cực, sáng tạo. Điều này đặc biệt tốt cho sự nghiệp và tài vận.
Giúp tăng cường sức khỏe và sức hấp dẫn của chủ nhân trong mắt người khác giới. Cũng có thể đặt pha lê ở đầu giường, dưới gối hoặc trên bàn học. Năng lượng của pha lê hồng dịu nhẹ, dễ chịu, tốt cho tinh thần.
Năng lượng pha lê tím có thể nâng cao khả năng "tự phục hồi" của các bộ phận trong cơ thể, tăng cường sức khỏe. Pha lê tím rất thích hợp để trên bàn làm việc, giúp trí tuệ minh mẫn, tăng khả năng sáng tạo.
Còn gọi là pha lê vàng, rất quý hiếm, mang lại năng lượng mạnh nhất cho trường khí con người so với các loại pha lê có ánh sáng vàng. Nó rất thích hợp cho những người chuyên về công việc kinh doanh, đầu tư, giúp tăng cường sức khỏe, sự tự tin, tính quyết đoán, lập trường vững vàng.
(Theo 500 câu hỏi đáp phong thủy nhà ở)
Chòm sao nữ nào có máu hoạn thư? Trong ‘lĩnh vực’ này, Bò Cạp giữ ngôi vị quán quân, còn Xử Nữ và Song Ngư theo sát nút ở các vị trí tiếp theo. Củ thể thế nào chúng ta cùng đọc bài viết dưới đây để có thêm thông tin nhé!
Nội dung
Trong tình yêu, Bò Cạp nữ là nhân vật chủ động, thích kiểm soát mọi tình thế và việc nào cũng phải rõ như ban ngày, không có chuyện mập mờ gây nghi ngờ đâu nhé. Khi yêu, chòm sao này không nhất thiết phải kè kè suốt này bên đối phương, nhưng ít nhất cũng phải nắm rõ việc người ấy đang làm, nơi người ấy đang ở.

Thích kiểm soát là vậy, nên khi phát hiện dấu hiệu đáng ngờ, Bò Cạp không ngần thể hiện mức độ ghen tuông như “sư tử Hà Đông”. Nếu đối phương thực sự có điều gì che giấu, bạn sẽ truy tìm căn nguyên của vấn đề. Một khi sự việc đã rõ mười mươi, nếu lỗi ở mình, Bò Cạp sẵn sàng nhận lỗi và xin chàng ta thứ tha. Một khi lỗi là ở đối phương, tùy theo mức độ sự việc mà bạn sẽ không bỏ qua một cách dễ dàng. Đây coi như là lần đầu và lần cuối chàng ta phạm phải lỗi này đó.
Chòm sao này rất hiểu biết và tôn trọng khoảng cách cần có trong tình cảm lứa đôi. Hơn thế, Xử Nữ còn sống khá lý tính, biết cân nhắc kỹ lưỡng mọi mặt của vấn đề rồi mới đưa ra quyết định. Do vậy, Xử Nữ không ngang nhiên vô cơ ghen tuông thái quá bao giờ. Chỉ cần đối phương đưa ra lý do hợp lý chứ không phải dùng lời mật ngọt hay tức giận để nịnh nọt hoặc đe dọa, là bạn sẵn sàng cho qua mọi chuyện.

Nhưng một khi đối phương không đưa ra được những lời giải thích phù hợp, cơn ghen tuông thịnh nộ của Xử Nữ lại bốc lên ngùn ngụt. Dù người ấy có dỗ dành, hứa hẹn thế nào, bạn cũng không chịu tha thứ, trừ khi mọi chuyện phải được giải thích trắng đen rõ ràng.
Tính ghen tuông dường như đã ngấm vào máu của chòm sao này rồi. Chỉ cần nhìn thấy đối phương chuyện trò cởi mở với cô gái xinh xắn nào đó, Kim Ngưu đã “bốc hỏa” trong người, tỏ ra buồn chán ngay lập tức.

Vì yêu quá đậm sâu và luôn có cảm giác không được an toàn, Kim Ngưu mong muốn người ấy dành nhiều thời gian để quan tâm, chăm sóc cho tình cảm của hai bên hơn nữa. Có như vậy, bạn mới có được cảm giác an toàn và yên tâm để tận hưởng những phút giây lãng mạn tràn ngập yêu thương bên chàng ấy.
rất chú trọng đến không gian của phòng thờ.
Phòng thờ phải đảm bảo được màu sắc, ánh sáng và chất liệu phù hợp, bởi không gian thờ luôn luôn cần có ánh sáng hợp lý, không chói quá và cũng không thể không có ánh sáng, màu sắc cũng phải đảm bảo nhẹ nhàng, chất liệu cũng phải ấm áp và không lạnh lẽo.

Những màu sắc, ánh sáng và chất liệu nên dùng trong phòng thờ
– Nên dùng bóng điện hình quả nhót màu đỏ hồng nhè nhẹ, bởi bóng điện sợi đốt màu đỏ hay hồng sẽ không có từ trường nên không ảnh hưởng tới sóng âm. Hoặc có thể dùng đèn dầu.
– Nên dùng rèm vải có màu đỏ để che cửa sổ. Bởi phòng thờ tượng trưng cho hành Hỏa và rèm màu đỏ cũng là hành Hỏa sẽ làm vượng không gian thờ bởi hành Hỏa.
– Bát hương nên dùng bằng gỗ hương, gỗ trầm là tốt nhất.
– Bàn thờ nên dùng bằng bàn gỗ hay tủ thờ bằng gỗ để tạo không gian ấm cúng.
– Nền nhà phòng thờ nên được làm bằng ván gỗ, nếu mà đã được làm bằng gạch men thì có thể trải thảm lên trên hoặc lát gỗ bên trên.
Kiêng kị về sử dụng màu sắc, ánh sáng và chất liệu trong phòng thờ
– Không dùng bóng đèn tuýp và đèn led vì bóng đèn tuýp và đèn led có nhiều xạ khí và từ trường sẽ làm cho sóng âm không tụ lại được.
– Không để ánh nắng chiếu vào bàn thờ và phòng thờ.
– Không dùng gương hay kính trong phòng thờ, bỏi gương và kính sẽ phát sinh ra nhiều xạ khí không tốt cho sóng âm.
– Không treo rèm màu đen trong phòng thờ.
– Không lát nền phòng thờ bằng gạch đá
– Không dùng bàn thờ bằng đá.
– Không để kính dưới bàn thờ.
– Không được đặt bể cá trong phòng thờ, vì bể cá mang hành Thủy sẽ khắc hành Hỏa của phòng thờ.
Nữ mệnh hỏa:
Ngũ hành tương sinh:
Mộc sinh Hỏa: Mộc có thể dùng để đốt lửa.
Hỏa sinh Thổ: Hỏa có thể thiêu đốt vạn vật thành đất.
Ngũ hành tương khắc:
Thủy khắc Hỏa: Nước dập tắt lửa.
Hỏa khắc Kim: Lửa làm tan chảy kim loại.

Nếu bạn mệnh Hỏa thì nên xăm những tông màu đỏ, tím, da cam. Những người thuộc mệnh Hỏa thường yêu thích sự chủ động, hào hứng vì thế cuộc sống của họ cũng tích cực và sôi nổi. Màu sắc của bản mệnh này vốn là những tông màu thuộc hành Hỏa như đỏ, cam, hồng, mang đến nguồn năng lượng mới cho người thuộc Hoả. Sức mạnh của màu đỏ là sức mạnh của việc đánh thức những đam mê, giàu có. Màu đỏ là sự may mắn, hạnh phúc trong truyền thống của nhiều quốc gia, là biểu tượng của tình yêu lãng mạn trong đám cưới của người Ấn Độ, là can đảm và nhiệt huyết đối với người phương Tây.
Màu hợp nhất cho người mệnh Hỏa là các màu thuộc hành Mộc: xanh lá cây. Gỗ cháy sinh ngọn lửa, nghĩa là Mộc sinh Hỏa. Chính vì vậy, có màu xanh lá cây, xanh da trời là màu lý tưởng mà người mệnh Hỏa nên dùng.
Tuy nhiên màu sắc kỵ với người mệnh Hỏa là màu đen, xám, xanh biển sẫm, thuộc hành Thủy, khắc phá hành Hỏa của mệnh cung, xấu.
Những chủ đề hình xăm bạn nên chọn: ngựa, rắn, mặt trời, hoa mẫu đơn…
Dưới đây mời bạn tham khảo một số mẫu hình xăm hợp với nữ mệnh Hỏa:













Các học gia về xã hội đã chỉ ra rằng, mồi một con số đều hàm chứa điều thần bí tác động đến con người.
Thời cổ Hy lạp, số 1 được xem là mở đầu của vạn vật do nó sản sinh ra cả thế giới. Số 2 mang ý nghĩa về tình yêu. Số 3 hàm nghĩa ngang với số 2, Số 6 là chữ số tuyệt diệu vì nó có một đặc tính phi phàm, nó mang ý nghĩa tích của 3 1,2,3, lại là tổng hoà của cả ba số 1, 2 và 3. Số 7 có quan hệ rất lớn với cuộc sống con người, vì vậy mà bất kỳ ở đâu nó đều được yêu thích. Một tuần có 7 ngày; trên trái đất có 7 đại lục; người có 7 loại tình cảm; trong truyền thuyết thần thoại, Thiên đế có 7 người con; Ngưu Lang Chức Nữ gặp nhau vào ngày 7 tháng 7 v.v…

Trung Quốc cổ đại cũng ưa chuộng số 5 và số 8. Số 5 là đầu của ước số (lẻ 4 tính xuống lẻ 5 tính lên); về học thuyết có ‘Thuyết ngũ hành”; lương thực thường gọi là “ngũ cốc”; núi nổi tiếng gọi là “ngũ nhạc”; một đêm chia thành “5 canh”; trong cơ thể người có “ngũ tạng”, số “8” có âm đọc giống với chữ “phát”; về quẻ mệnh có “bát quái”; phân chia đất trời có “8 hướng”; khi kết nghĩa huynh đệ vái “8 vái”; bài văn thi xưa gọi là “bát cổ”.
Con số được tổ tiên của chúng ta yêu thích nhất là số 9. Số “9” có âm đọc là “cửu” là con số xếp cuối cùng trong dãy số, là đinh điểm của tất cả các sự vật, là số đơn dương lớn nhất, nó hàm chứa ý nghĩa “tối cao vô thượng, cát tường như ý”. Ví dụ như trời thì có “cửu trùng”; đất chia thành “9 tầng”; nước có “cửu uyên”; lãnh thổ quốc gia có “9 châu”; người có “cửu đẳng”; chức quan có “cửu phẩm”; chiều cao các vật thể chia ra “cửu đoạn”; Trung Hoa cùng gọi là “Cửu khúc Hoàng hà”. Kiến trúc trong hoàng gia không thể tách rời số 9, từ số lượng quần thể kiến trúc, số lượng bậc thềm, thậm chí là số lượng những hòn đá được dùng đều liên quan đến số 9.
Con số mà người Trung Quốc kị nhất là số “4”. Số “4” có âm đọc gần giống với chữ “tử (chết)”, mọi ngày sinh trong đời, người ta đều tổ chức lễ sinh nhật rất long trọng, riêng sinh nhật năm 40 tuổi là không tổ chức.
Hy Lạp cổ xem số “13” là con số đen đủi nhất, vì người Hy Lạp cổ đại dùng phương pháp thêm hàng số bằng số 12. số 12 là số của người cuối cùng trong một hàng quân, số 13 không bao giờ được dưa vào. Số 13 được xem là số nguy hiểm, không may mắn, có nhiều câu chuyện liên quan đến số 13. Mọi người ở các nước phương Tây có nền khoa học phát triển nhưng vẫn thường né tránh con số 13. Ví dụ như trong kiến trúc các khu nhà ở thành phố Luân Đôn nước Anh, người ta khó tìm thây dâu có con số 13 dùng để đánh số nhà, khi đánh số nhà hết số 12 người ta chuyển lên 14 mà bỏ qua số 13, trong rạp chiếu phim các hàng ghế, số ghế không bao giờ dùng 13 để đánh số v.v…
Ở Trưng Quốc áp dụng đơn vị tính là 10, vì vậy mà mọi người không có thiên kiến gì với số 13, đôi khi còn xem 13 là con số may mắn, ví dụ như tháp Phật có 13 tầng, con vua xếp thứ tự thành “thập tam thái bảo” v.v…
Chúng ta hãy nói về tiêu chuẩn hung, cát của các con số xem thế nào? Với số 13, trong quan niệm của người phương Tây 13 vẫn là con số không may mắn nhất, có lẽ là do sự trùng hợp ngẫu nhiên mà nhiều sự kiện liên quan đến số 13 đều mang lại không may mắn. Ví dụ như trong kế hoạch vũ trụ của Mỹ, những hạng mục liên quan đến số 13 thì tỉ lệ thất bại rất cao, tàu vũ trụ số 13 phóng không thành công, tên lửa đẩy phóng vào ngày 13 bị trục trặc, những sự việc có liên quan đến số 13 thường không diễn biến thuận lợi.
Nhưng với người Trung Quốc, 13 lại là con số đại cát đại lợi, liên quan đến số 13 còn có ý thơ luận rất hay rằng con số này đã mang lại trí tuệ, tài hoa, vinh hoa phú quý và những đức tính tốt đẹp cho con người. Đặt giả thiết nếu là người nước ngoài đến thăm Trung Quốc, nhìn thấy những sự vật có liên quan đến số 13 thì họ sẽ nghĩ thế nào? Luận về hung, cát là phải luận theo những điều kiện khác nhau về con người, về sự việc, sự vật, thời gian, không gian và địa điểm, không thể chỉ nhìn phiến diện một mặt nào đó để đánh giá.
Vì sự khác nhau về con người, thời gian, sự việc, sự vật, địa điểm có thể thao túng hoàn toàn cát hung, phúc hoạ, đó là sự thực không thể phủ nhận. Nhưng bình luận và phán đoán về phúc hoạ, cát hung là phải hoàn toàn dựa theo lập trường quan điểm riêng của bản thân, điều này không thông dụng cho tất cả mọi người, cách nhìn nhận đối với một sự việc cũng phải có quan điểm thuận nghịch thì mới có thể chọn lựa một cách đúng đắn. Hung cát ở đây tuỳ thuộc vào sự thay đổi về con người, thời gian, sự việc, sự vật, địa điểm, tuyệt đối không phải là sự ngẫu nghiên.
Cần phải chỉ ra rằng, hàm nghĩa thần bí của những con số có thể có khởi nguồn mang tính khách quan, nhưng không được tin tưởng một cách mù quáng vào sức mạnh thần bí đó. Đối với các hiện tượng loại này, biết được là thú vị, không biết được cùng chẳng hại gì (với những ai làm công tác ngoại giao hoặc buôn bán xuất khẩu hàng hoá thì cần hiểu nhiều hơn).