Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,...   Click to listen highlighted text! Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,... Powered By DVMS co.,ltd
Kính mời quý khách like fanpage ủng hộ Vạn Sự !

Vạn Sự

Phong thủy giường nằm –

Không chỉ hướng phòng ngủ có vai trò quan trọng mà hướng nằm ngủ cũng ảnh hưởng đến sức khỏe, đời sống tình cảm và cả tài vận của bạn. 1. Hướng Bắc Nằm quay đầu về hướng Bắc sẽ giúp bạn tránh được tình trạng mất ngủ bởi đây là nơi chủ về sự yên tĩnh.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Không chỉ hướng phòng ngủ có vai trò quan trọng mà hướng nằm ngủ cũng ảnh hưởng đến sức khỏe, đời sống tình cảm và cả tài vận của bạn.

1. Hướng Bắc

Nằm quay đầu về hướng Bắc sẽ giúp bạn tránh được tình trạng mất ngủ bởi đây là nơi chủ về sự yên tĩnh. Tuy nhiên, nó có thể khiến cho cuộc sống của bạn quá tĩnh lặng, buồn tẻ.

2. Hướng Đông Bắc

Hướng này khó tạo cho bạn giấc ngủ sâu, thậm chí nó còn là nguyên nhân của những cơn ác mộng. Tốt nhất là không nên nằm quay đầu về hướng Đông Bắc.

3. Hướng Đông

Đây là hướng nằm ngủ lý tưởng, nhất là đối với người trẻ tuổi. Hướng này giúp tăng cường ý chí phấn đấu, tốt cho sự nghiệp của bạn.

4. Hướng Đông Nam

Đây cũng đuợc xem là hướng nằm ngủ tốt. Nó giúp tăng cường các mối quan hệ, thúc đẩy sự sáng tạo.

images715833_ngu

 

5. Hướng Nam

Đây là hướng mang năng lượng Hỏa rất mạnh nên không tốt cho giấc ngủ. Nó chứa đựng nguy cơ về sự bất hòa dù hướng này giúp khơi gợi hứng thú và đam mê. Chỉ nên nằm quay đầu về hướng Nam trong thời gian ngắn.

6. Hướng Tây Nam

Đây là hướng ổn định, đại diện cho sự giao lưu hòa bình nhưng nó làm bạn trở nên quá thận trọng.

7. Hướng Tây

Hướng Tây có thể mang đến cho bạn giấc ngủ ngon đầy thơ mộng. Tuy nhiên, nó lại khiến bạn trở nên thiếu năng động, thậm chí là thụ động, lười biếng. Đây là hướng thích hợp với người đã gây dựng được sự nghiệp ổn định.

8. Hướng Tây Bắc

Hướng này có thể mang đến cho bạn giấc ngủ sâu và dài. Nằm quay đầu về hướng Tây Bắc tốt cho người già và các bậc phụ huynh vì nó thể hiện sự kết hợp giữa quyền lực và tình cảm.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Phong thủy giường nằm –

Xem tuổi cất nhà 2014 –

Việc chọn năm làm nhà là một việc hệ trọng, theo quan niệm của phong thủy, khi xây dựng nhà ở cần xem tuổi của chủ nhà với năm làm nhà. Không được vi phạm vào các năm: Kim Lâu, Hoang Ốc, Tam Tai, năm Hạn, năm Xung Khắc. Việc chọn thời điểm để khởi cô

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Việc chọn năm làm nhà là một việc hệ trọng, theo quan niệm của phong thủy, khi xây dựng nhà ở cần xem tuổi của chủ nhà với năm làm nhà. Không được vi phạm vào các năm: Kim Lâu, Hoang Ốc, Tam Tai, năm Hạn, năm Xung Khắc.

Việc chọn thời điểm để khởi công xây nhà là vô cùng quan trọng. Khi bạn đã chọn được một mảnh đất đẹp, phù hợp về hướng với tuổi của mình, bố trí công năng bên trong ngôi nhà theo Phong Thủy thì đến việc xác định xem năm 2014 có xây được nhà hay không?

201438133416181

Mục đích của việc chọn tuổi đẹp xây nhà là gì?

Việc chọn thời điểm để xây dựng hay sửa chữa nhà bao gồm: Chọn năm đẹp (tuổi đẹp), chọn tháng đẹp, chọn ngày đẹp, chọn giờ đẹp, chọn hướng đẹp để động thổ công trình. Mục đích của việc này là chọn ra thời điểm tốt đẹp nhất cho việc xây dựng công trình để mọi sự được thuận lợi, suôn sẻ, cuộc sống trong nhà sau này được hưng thịnh, nhân tài lộc phát triển.

Chọn tuổi đẹp làm nhà như thế nào?

Theo như các tài liệu Phong Thủy Phương Đông thì năm mà chủ nhà định xây cất nhà mới hay sửa chữa nhà cần tránh phạm những tuổi như: Kim Lâu, Hoang Ốc, Tam Tai. Đồng thời cũng cần tránh những năm hạn, năm có hành xung với mệnh chủ nhà, năm sát mệnh chủ. Vậy để xem được năm đẹp nhất để xây nhà thì cần xem thật kỹ để tránh được 6 yếu tố nêu trên.

BẢNG TRA CỨU NHANH CHỌN TUỔI ĐẸP XÂY NHÀ NĂM 2014

xem-tuoi-dep-lam-nha-2014

 

1. Tra cứu tuổi Phạm Kim Lâu

Tính theo tuổi âm lịch, ví dụ sinh năm 1971 dương lịch, năm nay 2014 là bao nhiêu tuổi Âm Lịch, lấy 2014 – 1971 = 43 + 1 = 44 tuổi, các tuổi khác cũng tính như vậy.

Năm 2014 những tuổi sau phạm phải Kim Lâu:

Tuổi âm lịch: 21, 24, 26, 28, 30, 33, 35, 37, 39, 42, 44, 46, 48, 51, 53, 55, 57, 60, 62, 64, 66, 69, 73, 75

2. Tra cứu tuổi Phạm Hoang Ốc:

Năm 2014 những tuổi sau phạm Hoang Ốc:

Tuổi phạm Địa sát: 12,18,21,27,30,36,45,54,63,69,72,78

Tuổi phạm Thụ tử:14, 23, 29, 32, 38, 41, 47, 50,56, 65, 74.

Tuổi Phạm Hoang Ốc: 15, 24, 33, 39, 42, 48, 51, 57, 60, 66, 75 (rất xấu)

3. Tra cứu tuổi Phạm Tam Tai:

Mỗi người cứ 12 năm thì sẽ bị 3 năm Tam Tai liên tiếp nhau; trong năm 2014 Giáp Ngọ những tuổi sau sẽ phạm tuổi Tam tai:

Tuổi âm lịch: 20, 24, 28, 32, 36, 40, 44, 48, 52, 56, 60, 64, 68, 72

Lưu ý:

– Nếu phạm vào 1 trong 3 yếu tố trên như Hoang Ốc ( Địa Sát, Thụ Tử) hoặc Tam Tai thì còn có thể dùng được;

– Phạm tuổi Kim Lâu thì không nên xây nhà;

– Phạm vào 2 trong 3 yếu tố trên thì không nên tiến hành xây dựng, tu tạo nhà ở, vì sẽ xảy ra tai nạn đáng tiếc.

4. Tránh tuổi năm Hạn

Ví dụ: Người tuổi Ngọ năm hạn là năm Ngọ, Người tuổi Dần năm hạn là năm Dần …. Năm sinh mà trùng với năm định làm nhà như vậy người ta gọi là Phạm Thái Tuế.

Như vậy: trong bảng trên, chủ nhà sinh năm 1990 (Canh Ngọ) không phạm: Tam Tai, Hoang Ốc, Kim Lâu nhưng gặp phải năm hạn (phạm Thái Tuế) => nên cũng là không tốt.

5. Tránh năm xung khắc với năm của chủ nhà

Năm 2014 là năm Giáp Ngọ – Mệnh niên là: Sa Trung Kim (Vàng trong cát).

Tránh xung với Thái Tuế: Thái tuế năm 2014 là năm Ngọ, có nghĩa là những người tuổi Tý cũng không nên làm nhà vào năm Giáp Ngọ.

Như vậy tuổi Giáp Tý không phạm Tam Tai, Hoang Ốc, Kim Lâu nhưng gặp năm Giáp Ngọ (xem thêm tứ hành xung) => nên cũng không tốt.

Năm có Hành khắc với Mệnh niên chủ nhà: Chủ nhà Mệnh Mộc gặp năm Kim ( theo thuyết Ngũ hành Kim khắc Mộc) => không tốt;

CÁCH TÍNH TOÁN TUỔI XẤU VÀ Ý NGHĨA

A- Phạm phải Kim Lâu?

Theo các tài liệu mà tác giả đọc được thì đều khuyên không xây nhà năm Phạm Kim Lâu. Kim Lâu có mấy dạng sau đây:

Tuổi Kim Lâu 1 ( Kim Lâu Thân): Làm nhà vào tuổi này thì bản thân người làm nhà sẽ bị hại ( ốm đau, bệnh tật, tai nạn…có thể chết người) nên rất kỵ nếu bạn phạm phải Kim Lâu 1.

Tuổi Kim Lâu 3 ( Kim Lâu Thê): Mang đến tai họa cho vợ;

Tuổi Kim Lâu 6 ( Kim Lâu tử): Mang hại cho con;

Tuổi Kim Lâu 8 ( Kim Lâu Lục Súc): Hại cho vật nuôi, làm ăn thất bát.

Cách tính Kim lâu đó như thế nào ? Đó là việc dựa vào nguyên lý Cửu Cung theo Cửu tinh đồ. Nếu bạn không có kiến thức về Phong Thủy thì có thể làm theo cách tính đơn giản như sau:

– Sinh năm: 1984 => tuổi âm của bạn: 2014-1984+1=31 (tuổi). 3+1 = 4: =>Tuổi 31 không phạm Kim Lâu. ( Nhiều tài liệu hay dân gian nói tuổi 31 phạm Kim Lâu là không chính xác).

– Sinh năm: 1980 => tuổi âm của bạn: 2014-1980+1=35 (tuổi). 3+5 = 8: => Phạm Kim Lâu súc, sẽ có hại cho vật nuôi, kinh tế.

– Sinh năm: 1976 => tuổi âm của bạn: 2014-1976+1=39 (tuổi). 3+9 = 12 ( Khi tổng vượt quá số 9 bạn đem trừ cho: 9, vậy được số: 3: => Phạm Kim Lâu Thê, sẽ mang hại cho vợ;

B – Phạm phải Hoang Ốc ?

Hoang Ốc có nghĩa là ngôi nhà hoang. Nhà hoang là nơi ma quỷ. Nên tránh làm nhà năm phạm phải Hoang Ốc.

Cách tính phạm Hoang Ốc dựa theo nguyên tắc Âm Lục ( 6 cung) của Dịch Học. Phần này tác giả xin không trình bày vì sẽ làm bạn đọc khó hiểu hơn, nhưng việc tính ra tuổi phạm Hoang Ốc tác giả đã trình bày trong bài này rồi, các bạn nên đọc kỹ để áp dụng.

C – Phạm phải Tam Tai ?

Năm Tam Tai mà làm nhà thì dễ gặp điều không may hay gặp các tai họa không lường trước được.

Cách tính năm Tam Tai như sau:

Sinh năm Thân, Tý, Thìn sẽ phạm Tam Tai vào các năm: Dần, Mão, Thìn;

Sinh năm Tị, Dậu, Sửu sẽ phạm Tam Tai vào các năm: Hợi, Tý, Sửu;

Sinh năm Hợi, Mão Mùi sẽ phạm Tam Tai vào các năm: Tị, Ngọ, Mùi;

Sinh năm Dần, Ngọ, Tuất sẽ phạm Tam Tai vào các năm: Thân, Dậu, Tuất;

Tuổi của tôi không hợp thì có thể xây nhà được không?

Nếu do yêu cầu bắt buộc phải xây nhà trong năm nay, mà các bạn bị vi phạm những yếu tố trên cũng đừng nên lo ngại,. Bạn có thể tiến hành mượn tuổi của những người nam giới không bị phạm trong năm để nhờ xây dựng nhà cửa. Nếu được thì nên chọn những người đứng tuổi, thọ, phúc lộc dồi dào, con cháu đông là tốt nhất. Tuy nhiên cần nhớ rằng, việc mượn tuổi để xây nhà là một biện pháp thiên nhiều về tâm lý, mọi chuyện tốt xấu sẽ vẫn xảy ra với chủ nhà chứ không phải vì mượn tuổi mà xảy ra với người kia.

Hướng dẫn làm thủ tục mượn tuổi:

+ Trước khi làm nhà, gia chủ làm giấy tờ bán nhà tượng trưng cho người mượn tuổi
+ Khi Động thổ, người mượn tuổi thay gia chủ tiến hành khấn vái và động thổ.
+ Trong thời gian làm lễ, gia chủ phải lánh xa khỏi khu vực hành lễ.

+ Các công đoạn Đổ mái, người mượn tuổi vẫn tiến hành thay gia chủ làm lễ, gia chủ tiếp tục tránh mặt.

+ Khi Nhập trạch, người mượn tuổi làm nốt các thủ tục dâng hương, khấn thành, rồi bàn giao lại nhà cho gia chủ.

+ Gia chủ làm giấy tờ mua lại nhà (với giá cao hơn giá bán nhà ở trên) và khấn cầu lễ nhập trạch.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem tuổi cất nhà 2014 –

Khám phá bí ẩn phần dưới lòng đất tượng đá trên đảo Phục Sinh

Những bức tượng đá trên đảo Phục Sinh đã được giới khảo cổ phát hiện phần thân chìm bên dưới, chứa đựng nhiều bí ẩn và căn cứ quan trọng về nền văn minh trên hòn đảo này.
Khám phá bí ẩn phần dưới lòng đất tượng đá trên đảo Phục Sinh

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

887 bức tượng Moai, những tác phẩm của người Rapa Nui, cư dân đầu tiên trên đảo (định cư từ năm 300 - 400) tạc vào giữa những năm 1250 - 1500, tại địa điểm được cho là nơi vua Rapa Nui đệ nhất là Hoto-Matua lần đầu neo thuyền ở khu vực Aneka. Khu vực này hiện là một trong những bãi biển hiếm có của hòn đảo vốn gập ghềnh đá tảng.

Tượng đá Moai trên đảo Phục Sinh
Tượng đá Moai trên đảo Phục Sinh vẫn là câu hỏi đầy bí ẩn với nhân loại.

Đến tận ngày nay, khoa học vẫn đau đầu trước câu hỏi, người Rapa Nui dựng những bức tượng Moai để làm gì và họ làm thế nào để di chuyển những bức tượng khổng lồ chôn khắp hòn đảo.

Đã từ lâu nhiều người cho rằng, những tượng Moai đơn giản chỉ có phần đầu nhô lên khỏi mặt đất chứ không có gì hơn. Tuy nhiên, một phát hiện gần đây cho thấy, phần bị lấp sâu dưới đất của những tượng Moai còn nhiều hơn những gì trồi trên bề mặt.

Tượng đá Moai trên đảo Phục Sinh
Không ai ngờ phía dưới những chiếc đầu tượng Moai lại chứa đựng cả một bức tượng khổng lồ.

Theo Architecturendesign, phần lớn thân mình của các bức tượng bị chôn vùi dưới lòng đất, đồng thời được phủ với những dòng chữ được gọi là tranh khắc đá. Theo đo đạc, những bức tượng Moai có trọng lượng đến 75 tấn và chiều cao khoảng 10m, cá biệt có bức nặng 270 tấn và cao 21m. Những bí mật bấy lâu nay về tượng đảo Phục Sinh rất có thể sẽ được giải mã nhờ những bức tranh khắc đá trên thân tượng.

Ngoài ra, trên thân tượng Moai còn có chạm khắc các chi tiết cổ, những vòng xoáy tròn và hình thắt nút, được cho là biểu tượng tượng trưng cho những chiếc xuồng của người dân Polynesia địa phương, tuy nhiên đây chỉ là một giả thuyết.

Tượng đá Moai trên đảo Phục Sinh

Hình minh họa cắt lớp cho thấy phần thân dưới của tượng Moai vốn được ẩn sâu dưới lòng đất hàng thế kỷ qua.

Các học giả cũng đã phỏng đoán rằng những hình tượng này biểu thị cho tổ tiên hay các nhân vật quan trọng lãnh đạo bộ lạc Rapa Nui – bộ lạc đầu tiên đặt chân lên đảo Phục sinh. Một số giả thuyết khác lại cho rằng, đây chính là biểu tượng của mặt trời và cầu vồng.

Cuộc đào bới dưới thân tượng còn giúp các nhà khoa học phát hiện thấy xương của loài cá hồi, điều này dẫn đến một giả thuyết, những bức tượng là hiện thân cho sự cầu mong lương thực gồm cá hồi và con hàu cho cư dân ở đây.

Đảo Phục sinh (hay còn gọi là đảo Rapa Nui) là hòn đảo nằm ở ngoài khơi bờ biển phía Tây Chile vào khoảng 3.700 km. Đây là một trong những địa điểm bí ẩn nhất thế giới với sự xuất hiện của các tượng đá gọi là Moai. Đảo được nhà thám hiểm người Hà Lan, đô đốc hải quân Jacob Roggeveen phát hiện vào năm 1772 đúng ngày lễ Phục sinh. Những tượng đá trên đảo từng được cho là biểu trưng cho một nền văn minh đã bị lãng quên trong quá khứ.

Cuộc khai quật mở ra nhiều hy vọng cho loài người về bí mật trên đảo Phục Sinh.

Theo Chuyện lạ 365

 


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Khám phá bí ẩn phần dưới lòng đất tượng đá trên đảo Phục Sinh

Cách hóa giải khi nhà bị đường cái đâm thẳng cửa chính

Phong thủy học cho rằng, đường cái đâm vào cửa chính là một điều tối kỵ. Tuy nhiên, chủ nhà cũng không phải lo lắng về điều này bởi vẫn có các biện pháp hóa giải.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Đường cái đâm vào cửa chính sẽ ảnh hưởng rất lớn tới ngôi nhà. Đường cái chạy thẳng vào cửa nhà thường gọi là: “Ám tên tường hung” (nghĩa là mũi tên vô hình đâm thẳng vào ngực). Theo phong thủy, điều này không có lợi cho chủ nhà.

Trong thiết kế kiến trúc, thẩm mỹ, cửa chính là một thành phần rất quan trọng của căn nhà và chịu ảnh hưởng bởi yếu tố phong thủy (trong dương trạch, cửa chính là yếu tố quan trọng nhất). Theo đó, cửa sẽ là nơi truyền dẫn luồng khí tới ngôi nhà, sau đó luồng khí được phân tán tới từng ngóc ngách của ngôi nhà và thoát ra ngoài bằng những ô thoáng đã được nghiên cứu một cách khoa học và chặt chẽ. Cửa chính còn là sự kết hợp giữa kiến trúc (hình dáng xấu, đẹp) và phong thủy (vị trí xấu, tốt).

Cách hóa giải khi nhà bị đường cái đâm thẳng cửa chính
Khi ngôi nhà bị đường cái đâm thẳng vào cửa chính, bạn nên trồng hoa, cây có màu sắc hợp với bản mệnh phía trước cửa với hình dạng uốn lượn sẽ rất tốt (ảnh minh họa)

Một hiện tượng kiêng kỵ trong thuật phong thủy là đường cái đâm vào cửa chính. Đối với trường hợp gia đình bạn, con đường thẳng khi đâm vào chính hướng cửa thì vô tình đã mang theo luồng ác khí (sinh khí đi theo đường vòng, ác khí đi theo đường thẳng). Tuy nhiên, cũng không vì thế mà nhà bạn phải lo lắng. Phong thủy học cho rằng, vấn đề này bạn có thể hóa giải được. Nhưng để có thể áp dụng đúng nguyên tắc của khoa học phong thủy, cách tốt nhất là bạn cần có sự giúp đỡ của những người am hiểu về lĩnh vực này:

- Các cuốn sách cổ và người xưa cho rằng, gia đình bạn có thể dùng tấm bia đá (bùa) chôn sâu dưới lòng đất ngay trước cửa chính hay cũng có thể dùng lá bùa của người học phong thủy treo phía trên cửa. Bùa đá hay bia đá sẽ hóa giải được các điều xấu. Tuy nhiên, đây là việc không thể ứng dụng nhiều và không dễ thực hiện trong cuộc sống hiện đại.

- Trồng cây, hoa có màu sắc hợp với bản mệnh phía trước cửa theo hình dạng uốn lượn có thể rất tốt, có khi “biến hung thành cát” với điều kiện phải có khoảng không phía trước rộng tương đối để có thể tạo được một số hình theo quan niệm phong thủy.

- Để tạo tấm bình phong phía trước (gia chủ nên xây cao tương đối và cần có khoảng cách tới cửa chính một cách thích hợp) nhằm ngăn cản hoặc làm lệch hướng lưu chuyển của dòng khí đó.

- Gia chủ có thể chuyển đổi vị trí cửa chính sang cung vị khác để tránh hoàn toàn hướng con đường đâm tới.

- Ngoài ra, có thể biến cửa hiện tại (bị con đường chiếu tới) thành cửa giả, qua một khoảng rộng và có thể thiết kếí cửa trong khoảng chính vào nhà trong khoảng đó cũng có thể tránh được sự đâm thẳng của con đường.

- Chủ nhà có thể treo sáo trúc, chuông gió ở vị trí cửa ra vào có con đường đâm tới. Sáo trúc hay chuông gió được sử dụng và áp dụng rất rộng rãi. Chúng có công dụng báo động, đón lành tránh dữ và xua đi những luồng khí không tốt và chào mời những luồng khí trong lành dẫn đến ngôi nhà.

- Treo gương bát quái, gương cầu lồi phía trên cửa chính quay về hướng con đường đâm tới, gương bát quái, gương cầu lồi có tác dụng phản hồi những tà khí có chiều chiếu vào nó một cách mạnh mẽ.

- Chủ nhà có thể sử dụng tấm thảm hợp với cung bản mệnh để phía trong của cửa chính, tấm thảm có công dụng chọn lọc khí tốt trong thiên nhiên và tiếp thêm luồng khí lành này cho ngôi nhà của bạn.

Từ một số phương pháp mà thuật phong thủy thường sử dụng, chủ nhà có thể khéo léo kết hợp nhiều phương pháp. Đơn cử như chuyển dịch cửa, đồng thời treo chuông gió kết hợp trải tấm thảm... Với sự chỉ dẫn đúng cách của những người hiểu biết về phong thủy, gia chủ sẽ hóa giải được sự bất lợi mà con đường đem đến.

(Theo CafeLand)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Cách hóa giải khi nhà bị đường cái đâm thẳng cửa chính

Lễ Đức Thánh Trần

Lễ Đức Thánh Trần. Theo nếp xưa người Việt Nam ở khắp mọi miền đất nước hàng năm vẫn đi lễ, đi trẩy Hội ở các Đình, Đền, Miếu, Phủ vào các ngày lễ, tết, tuần tiết, sóc, vọng và ngày Hội, để tỏ lòng tôn kinh, ngưỡng mộ biết ơn các bậc Tôn thần. Tham khảo bài viết để biết văn khấn lễ Đức Thánh Trần

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


1. Ý nghĩa:

Theo tập tục văn hoá truyền thống, ở mỗi tỉnh thành, làng, xã Việt Nam đều có các Đình, Đến, Miếu, Phủ là nơi thờ tự Thần linh, Thành Hoàng, Thánh Mẫu.

Các vị thần linh, Thành Hoàng, Thánh Mẫu là các bậc tiền nhân đã có công với cộng đồng làng xã, dân tộc trong lịch sử đấu tranh giữ nước và dựng nước của người Việt Nam.

Ngày nay, theo nếp xưa người Việt Nam ở khắp mọi miền đất nước hàng năm vẫn đi lễ, đi trẩy Hội ở các Đình, Đền, Miếu, Phủ vào các ngày lễ, tết, tuần tiết, sóc, vọng và ngày Hội, để tỏ lòng tôn kinh, ngưỡng mộ biết ơn các bậc Tôn thần đã có công với đất nước.

Đình, Đền, Miếu, Phủ cùng với sự lưu truyền sự linh diệu của các thần trong nhiều trường hợp đã đi vào trang sử oai hùng của dân tộc Việt Nam góp phần không nhỏ vào việc duy trì tình cảm yêu nước. Nơi thờ tự Đình, Đền, Miếu, Phủ còn là những nơi sinh hoạt tâm linh, tín ngưỡng. Con người hy vọng rằng bằng những hành vi tín ngưỡng, có thể cầu viện đấng Thần linh phù hộ cho bản thân, cùng gia đình, cộng đồng được an khang, thành đạt và thịnh vượng, yên bình, biến hung thành cát, giải trừ tội lỗi…

2. Sắm lễ:

Theo phong tục cổ truyền khi đến Đình, Đền, Miếu, Phủ nên có lễ vật có thể to, nhỏ, nhiều, ít, sang, mọn tuỳ tâm. Mặc dù ở những nơi này thờ Thánh, Thần, Mẫu nhưng người ta vẫn có thể sắm các lễ chay như hương hoa quả, oản,… để dâng cũng được.

- Lễ Chay: Gồm hương hoa, trà, quả, phẩm oản… dùng để lễ ban Phật, Bồ Tát (nếu có).
Lễ chay cũng dùng để dâng ban Thánh Mẫu.

- Lễ Mặn: Nếu Quý vị có quan điểm phải dùng mặn thì chúng tôi khuyên mua đồ chay hình tướng gà, lợn, giò, chả.

- Lễ đồ sống: Tuyệt đối không dùng các đồ lễ sống gồm trứng, gạo, muối hoặc thịt tại các ban quan Ngũ Hổ, Bạch xà, Thanh xà đặt ở hạ ban Công Đồng Tứ phủ.

- Cỗ sơn trang: Gồm những đồ đặc sản chay Việt Nam: Không được dùng cua, ốc, lươn, ớt, chanh quả… Nếu có gạo nếp cẩm nấu xôi chè thì cũng thuộc vào lễ này.

- Lễ ban thờ cô, thờ cậu: Thường gồm oản, quả, hương hoa, gương, lược… Nghĩa là những đồ chơi mà người ta thường làm cho trẻ nhỏ. Nhưng lễ vật này cầu kỳ, nhỏ, đẹp và được bao trong những túi nhỏ xinh xắn, đẹp mắt.

- Lễ thần Thành Hoàng, Thư điền: Phải dùng chay mới có phúc và những lời cầu nguyện được linh ứng.

3. Hạ lễ

Sau khi kết thúc khấn, lễ ở các ban thờ, thì trong khi đợi hết một tuần nhang có thể viếng thăm phong cảnh nơi thừa tự, thờ tự.

Khi thắp hết một tuần nhang có thể thắp thêm một tuần nhang nữa. Thắp nhang xong, vái 3 vái trước mỗi ban thờ rồi hạ sớ đem ra nơi hoá vàng để hoá.

Hoá sớ xong mới hạ lễ dâng cúng khác. Khi hạ lễ thì hạ từ ban ngoài cùng vào đến ban chính. Riêng các đồ lễ ở bàn thờ Cô, thờ Cậu như gương, lược… thì để nguyên trên bàn thờ hoặc giả nơi đặt bàn thờ này có nơi để riêng thì nên gom vào đó mà không đem về.

4. Văn khấn:

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)

- Con kính lạy Tứ phủ Công Đồng Trần Triều

- Con kính lạy Nguyên Từ Quốc Mẫu Thiên Thành Thái Trưởng Công.

- Con kính lạy Đức Trần Triều hiển thánh Nhân vũ Hưng Đạo Đại Vương Đại Nguyên soái, Tổng quốc chính, Thái sư Hương phụ Thượng quốc công tiết chế, Lịch triều tấn tặng khai quốc an chính hồng đồ tá trị hiện linh trác vĩ, Minh đức trĩ nhân, Phong huân hiên liệt, Chí trung đại nghĩa, Dực bảo trung hưng, Thượng đẳng tôn thần, Ngọc bệ tiền.

- Con kính lạy tứ vị Thánh tử đại vương, Nhị vụ vương cô Hoàng Thánh.


- Con kính lạy Đức ông phạm điệu suý tôn thần, tả quan Nam Tào, Hữu quan Bắc Đẩu, Lục bộ thượng từ, chư vị bách quan.

Hương tử con là:.......................Ngụ tại:...................
Hôm nay ngày.... tháng..... năm........ Hương tử chúng con chấp kỳ lễ bái xin các vị phù hộ độ trì cho hương tử con cùng toàn gia quyến được luôn mạnh khỏe. Đầu năm chí giữa, nửa năm chí cuối được tai quan nạn khỏi, điều lành mang đến, điều giữ giải đi, cầu tài đắc tài, cầu lộc đắc lộc, cầu bình an đắc bình an. Xin cho con được có người có cửa, được nhân an vật thịnh đi đến nơi về đến chốn, làm ăn được thuận buồn xuôi gió, vạn sự như ý.

Hương tử con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô a di Đà Phật! (3 lần)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Lễ Đức Thánh Trần

Nằm mơ thấy ma túy là điềm gì? –

Tác hại của ma túy đối với người sử dụng và cả xã hội là rất lớn. Và ngày càng có nhiều người sa vào con đường tội lỗi này. Vậy Nằm mơ thấy ma túy là điềm gì? Giải mã giấc mơ thấy ma túy Mơ thấy thấy ma túy là điềm gì Nếu trong giấc mơ của bạn nằm mơ
Nằm mơ thấy ma túy là điềm gì? –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Nằm mơ thấy ma túy là điềm gì? –

Vì sao ưu tiên đặt phòng khách ở tầng thấp?

Trong một ngôi nhà, phòng khách là không gian mang tính hướng ngoại cần nhiều dương khí, vì vậy cần ưu tiên đặt phòng khách ở tầng thấp.
Vì sao ưu tiên đặt phòng khách ở tầng thấp?

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Chị Phạm Thanh Thủy (Bắc Giang) hỏi: Nhà tôi đặt phòng khách ở tầng 4 – tầng cao nhất. Nhiều người đến chơi cho rằng phòng khách là phòng tụ khí, nếu đặt trên cao sẽ không tốt. Xin hỏi, điều này có đúng không? Nhà tôi đặt như thế có ảnh hưởng đến phong thủy?

Theo chuyên gia phong thủy Phạm Cương, Công ty Cổ phần Nhà Xuân, trong một ngôi nhà, phòng khách là không gian mang tính hướng ngoại cần nhiều dương khí. Đối với những ngôi nhà cao tầng chỉ có thang bộ, khí ở các tầng trên sẽ kém hơn các tầng dưới. Vì vậy, nên ưu tiên đặt phòng khách ở những tầng thấp của căn nhà.

Bên cạnh đó, việc tiếp đón khách cũng sẽ bất tiện do phải leo cao và đi qua các không gian khác. Tuy nhiên, đối với những nhà sử dụng cầu thang máy, nguồn năng lượng dẫn lên từ thang máy sẽ được cung cấp đầy đủ cho các tầng thì phòng khách hoàn toàn có thể đặt trên tầng cao.

Ngoài ra, khi thiết kế nhà, cần ưu tiên phòng khách ở những khu vực thoáng đãng, đón được nhiều ánh sáng tự nhiên, màu sắc nên sử dụng những gam màu sáng, hình khối trang trí cần thêm một số họa tiết tròn tạo nhiều sinh khí cho phòng khách.

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Vì sao ưu tiên đặt phòng khách ở tầng thấp?

Đám cưới nơi cửa Phật

Bên cạnh lễ cưới truyền thống, có không ít cô dâu, chú rể chọn cách mở đầu cuộc sống lứa đôi bằng một đám cưới nơi cửa Phật với các nghi thức Phật giáo.
Đám cưới nơi cửa Phật

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Bên cạnh lễ cưới truyền thống, có không ít cô dâu, chú rể chọn cách mở đầu cuộc sống lứa đôi bằng một đám cưới tại chùa với các nghi thức Phật giáo. Đám cưới này được gọi lễ Hằng Thuận.

Diễn viên Hồng Ánh, Thúy Nga, Diệu Hương cũng đã làm lễ Hằng Thuận ở chùa để mong một hạnh phúc gia đình viên mãn.

1. Ý nghĩa lễ Hằng Thuận:

Lễ Hằng Thuận là nghi thức lễ cưới được tổ chức trang nghiêm tại chùa hoặc thiền viện. Ngoài ra, lễ Hằng Thuận cũng có thể tổ chức tại nhà thờ tổ của dòng họ. Theo tên gọi, “Hằng” là thường xuyên, luôn luôn, còn “Thuận” là hòa thuận, đồng thuận hướng về những điều cao thượng, tốt đẹp trong đời sống. Vì vậy, mục đích chính của lễ Hằng Thuận là để vợ chồng ý thức được tầm quan trọng của hôn nhân, từ đó hướng đến cuộc sống gia đình hạnh phúc, êm ấm.

2. Quy trình tổ chức lễ Hằng Thuận:

Trước khi tổ chức, cô dâu, chú rể và gia đình hai bên phải đến chùa xin ý kiến của sư thầy trụ trì, sau khi nhận được sự đồng ý mới bắt đầu bước vào công việc chuẩn bị cho buổi lễ. Nghi thức của lễ cưới được tiến hành có phần khác với lễ cưới thông thường.
Chủ hôn thường là một vị hoà thượng hay chư tăng. Nếu tổ chức tại chùa, nghi lễ này sẽ được thực hiện ở chính điện của chùa. Sẽ có một chiếc bàn dài được kê ở chính điện, các vị hoà thượng sẽ đứng sau chiếc bàn đó, gia đình cô dâu, chú rể cùng họ hàng, bạn bè đứng ở hai bên theo đúng quy cách “nam tả, nữ hữu” (nhà trai đứng bên trái, nhà gái đứng bên phải).

  • Trước khi làm lễ, vị chủ hôn sẽ hỏi xem cô dâu, chú rể đã quy y chưa, nếu chưa thì thầy sẽ làm lễ quy y cho hai vợ chồng trước, rồi mới tới nghi lễ cưới.
  • Cô dâu, chú rể sẽ quỳ trước bàn thờ để đọc lời nguyện và nhận lời ban phước cũng như lời răn dạy của vị trụ trì buổi lễ.
  • Tiếp đó là nghi lễ “Phu thê giao bái”, cô dâu, chú rể trao nhẫn cưới và cùng nhau nghe sư thầy chủ trì nói về ý nghĩa của việc trao nhẫn.
  • Cuối cùng, đại diện hai bên gia đình sẽ hứa trước tượng Phật và các vị chư tăng về việc chỉ bảo cho cô dâu chú rể nên người, xây dựng gia đình hạnh phúc.
đám cưới
Phật và các vị chư tăng sẽ chỉ bảo cho cô dâu chú rể nên người, xây dựng gia đình hạnh phúc.

Sau khi buổi lễ tại chính điện kết thúc, gia đình hai bên sẽ mời sư thầy, các vị chư tăng cùng họ hàng và bạn bè dự tiệc chay. Thông thường, bữa tiệc này sẽ được tổ chức ngay tại chùa, mâm cỗ cũng đầy đủ các món như gà luộc, nem hải sản, canh măng… Điểm khác biệt là toàn bộ các món ăn đều được chế biến từ thực vật như nấm, mộc nhĩ, khoai, đậu phụ, ngũ cốc…

3. Lợi ích của lễ Hằng Thuận:

Hiện nay, tại Việt Nam có nhiều gia đình theo đạo Phật. Vì vậy, việc tổ chức đám cưới tại chùa theo lễ Hằng Thuận sẽ giúp các cô dâu, chú rể là có thêm lòng tin vào hôn nhân, từ đó cùng nhau xây dựng cuộc sống gia đình hòa thuận, yêu thương, chung thủy, có trách nhiệm và mục đích sống.

Bên cạnh đó, việc tổ chức trong chùa cũng sẽ đem lại cho cô dâu, chú rể một lễ cưới trang trọng. Mâm cỗ với những món chay hoàn toàn, không có bia, rượu vừa giúp gia đình theo đạo Phật tránh khỏi việc sát sinh, đồng thời cũng rất có lợi cho sức khỏe của gia đình và quan khách hai bên.

đám cưới
Hiện nay, tại Việt Nam có nhiều gia đình theo đạo Phật

4. Một vài địa điểm tổ chức lễ Hằng Thuận:

Tại Hà Nội, cô dâu, chú rể có thể đến xin phép tổ chức tại thiền viện Sùng Phúc (phường Cự Khối, Long Biên), chùa Đình Quán (xã Phú Diễn, Từ Liêm), chùa Lý Triều Phúc Sư (50 Lý Quốc Sư, Hoàn Kiếm)…

Tại TP HCM, các đôi uyên ương có thể tham khảo các địa điểm tổ chức lễ Hằng Thuận tại chùa Viên Giác (quận Tân Bình), chùa Giác Ngộ (quận 10), chùa Vĩnh Nghiêm (quận 3)…


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Đám cưới nơi cửa Phật

Bạch Dương và Bạch Dương: điểm 10 cho một tình yêu

Bạch Dương – Bạch Dương là hai cá thể giống nhau và cùng nhau bùng nổ trong một mối quan hệ.
Bạch Dương và Bạch Dương: điểm 10 cho một tình yêu

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


► Cùng xem những tiết lộ thú vị về 12 cung hoàng đạo tình yêu

Bach Duong - Bach Duong diem 10 cho mot tinh yeu hinh anh
 
Hai cá tính Hỏa không bao giờ có thể dung hòa 100% nhưng điều đáng ngạc nhiên là nếu họ kết đôi thì độ hợp nhau sẽ là 10 điểm tròn. Ngạc nhiên quá đúng không? Nhưng sự thật thì Bạch Dương – Bạch Dương chính là cặp đôi kì lạ như thế.
 
Họ không có sự hòa hợp, thấu hiểu tuyệt đối, cũng không bao giờ nhường nhịn nhau nhưng có những phẩm chất rất đặc biệt để làm nên một tình yêu chất lượng.
 
Nhiệt tình là yếu tố đầu tiên khiến hai cá thể này va chạm và hấp dẫn nhau. Không thể phủ nhận, đôi bạn trẻ đặc biệt phấn khích khi cùng nhau, họ thỏa thích tham gia các hoạt động, thỏa mãn đam mê mà không bao giờ lo lắng bị đối phương cằn nhằn. Vì sao? Vì một nửa của họ cũng đang nhiệt tình không kém kia kìa. Hơn nữa, phẩm chất này giúp đôi bên cởi bỏ nút thắt ban đầu, sẵn sàng đến với nhau chỉ sau 1 giây gặp gỡ.
 
Trung thực – không màu mè, không giả dối, cả hai biết quá rõ về nhau. Bạch Dương và Bạch Dương thẳng thắn với cảm xúc và tôn trọng tình cảm của bản thân cũng như người yêu. Một tình yêu được đảm bảo tuyệt đối như thế còn gì tuyệt hơn.
 
Cởi mở - Bạch Dương có điểm chung là phóng khoáng và không bảo thủ. Họ có thể hơi cứng đầu nhưng không bao giờ khư khư quan điểm của mình mà sẵn sàng học hỏi. Đôi bên biết cách mở lòng với đối phương, cả hai đều rõ người kia muốn gì, cần gì và đang nghĩ gì.
 
Chân thành – dù nóng nảy và bồng bột nhưng tình yêu các bạn dành cho nhau thực sự xuất phát từ tấm lòng và luôn cố gắng vì nhau. Sẽ không khó khăn để nhận ra cặp đôi Bạch Dương và Bạch Dương dành cho nhau những gì tốt đẹp nhất, sự quan tâm, chu đáo, sự ngọt ngào, lãng mạn, sự tử tế, ấm áp. Khi mà điều này xuất phát từ cả hai phía thì tình yêu rất dễ nảy nở và phát triển ngày một tốt đẹp.   Ngọc Bích (Theo Horoscopecompatibility)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Bạch Dương và Bạch Dương: điểm 10 cho một tình yêu

Tính cách, sự nghiệp và tình duyên của bạn qua số hoa tay

Những ai có 10 hoa tay thường lãng mạn, cố chấp. Vẻ ngoài họ luôn tỏ ra mạnh mẽ, thực tế bên trong rất mềm yếu. Đối tượng kết hôn phù hợp là người có 1, 6, 9 hoa tay.
Tính cách, sự nghiệp và tình duyên của bạn qua số hoa tay

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Câu hỏi: Bạn có mấy hoa tay? 

tinh-cach-su-nghiep-va-tinh-duyen-cua-ban-qua-so-hoa-tay
0 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10

Maruko (theo Piaoliang)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tính cách, sự nghiệp và tình duyên của bạn qua số hoa tay

Mơ thấy tuần trăng mật: Tin vui hôn nhân và tình yêu đẹp –

Một phụ nữ 30 tuổi tâm sự: Trong mơ, tôi đã tìm về nơi trọn đời này tôi chẳng thể quên. Trong mơ, tôi cùng chồng sống lại chuỗi ngày của tuần trăng mật xa xưa, một khoảng thời gian hạnh phúc tuyệt vời. Mơ thấy tuần trăng mật, dự báo tin vui hôn nhân
Mơ thấy tuần trăng mật: Tin vui hôn nhân và tình yêu đẹp –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Mơ thấy tuần trăng mật: Tin vui hôn nhân và tình yêu đẹp –

10 điều tâm niệm khi đoán số Tử Vi

Bài viết "10 điều tâm niệm khi đoán số Tử-Vi" của GS Lê Trung Hưng trình bày những điều mà người giải đoán lá số tử vi cần phải tâm niệm, lưu ý trước khi giải đoán. Đó là những kinh nghiệm hết sức bổ ích.
10 điều tâm niệm khi đoán số Tử Vi

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

1. Tử Vi dưới nhãn quan Huyền Cơ đạo thuật

Khoa học Tử Vi theo truyền thuyết thì phát sinh từ đời nhà Tống (Trung Hoa) và do Trần Đoàn hiền triết phát huy thành hệ thống lý học, để rồi sau đó được các thế hệ nối tiếp vừa đóng góp nghiên cứu, vừa quảng bá nhân gian như một khuynh hướng tiên tri các hoạt động của mỗi con người. Xã hội Á Đông xưa trọng kẻ sĩ hơn hết thảy:

- Dân hữu tử, sĩ vi chi tiên

Mẫu người đại nhân phải hội đủ các yếu tố hơn đời và hơn người qua sự tinh thông nho, y, lý số. Trong khi đại đa số quần chúng lo sinh nhai bằng cách sinh hoạt trên căn bản nông nghiệp, thì giới sĩ phu miệt mài bằng các suy tư nhân linh của đạo học Đông Phương, lấy tĩnh trạng làm căn bản biện chứng cho các động trạng. Hai chiều hướng trái ngược:

- Đa số: Động trạng - Tĩnh trạng

- Thiểu số: Tĩnh trạng - Động trạng

Làm cho khoa lý học Tử Vi trở thành huyền học và tệ hơn nữa là thành đạo thuật mưu sinh của của những "bậc đại nhân nửa chừng xuân" vì tham vọng cho cá nhân. Nhãn quan chung của nhân gian, xưa đến nay một phần bị mê hoặc bởi các thuật sĩ, một phần chịu ảnh hưởng triết lý nhị nguyên của Tây Phương (qua cố gắng nhiệt thành của các quan Tây Phương cai trị thời pháp thuộc), nhìn môn Tử Vi như một kiến thức của óc mê tín, chỉ một vài năm gần đây, giới trí thức mới đang kiếm các phục hồi cho khoa Tử Vi bằng những nổ lực của luận lý, là đem kỹ thuật của Tây Phương giải thích sáng tỏ một phần góc cạnh "áo bí" của khoa học nhân văn này. Trong tinh thần mới ấy, khoa Tử Vi không thể chỉ nghiên cứu bằng những mẫu chuyện truyền khẩu, bằng những câu phú thực nghiệm trải qua thời gian đã bị tam sao thất bổn: mà phải vận dụng tinh thần tinh tế của lý học hiện đại đồng thời vẫn lấy căn bản "dịch lý" của Đông Phương làm nền tảng phán đoán. Nếu ai cũng biết cái tinh hoa của quan niệm "ý tại ngôn ngoại" "của "lời vô ngôn" đẻ ra cung cách của Thuật Zen (Thiền) thì cái tinh túy mềm dẻo và thích nghi của Yoga càng phải nên áp dụng vào khoa Tử Vi để linh động biện chứng những tương quan của các dữ kiện (tạm gọi là sao trên lá số Tử Vi) chi phối đời người.

2. Kỹ thuật tiêu chuẩn để nhận biết lá số Tử-Vi

Trong phạm vi bài tham luận này, bỏ ra ngoài những giai đoạn lập lá số Tử -Vi mà tạm coi như việc hoàn thành lá số có đầy đủ. Người có bản số hãy theo theo dõi các dữ kiện "sao" sau đây:

1- Dữ kiện nghị lực: Sao Thiên Mã.

2- Dữ kiện sinh tồn: các sao vòng Tràng Sinh.

3- Dữ kiện hưng thịnh: các sao vòng Lộc-Tồn.

4- Dữ kiện tính khí: các sao vòng Thái Tuế.

5- Dữ kiện thời vận: các sao Tuần và Triệt. 

6- Dữ kiện bẩm chất: các sao Thiên Không, Đào Hoa, Hồng Loan.

7- Dữ kiện hoạt động: các sao Vòng Mệnh và vòng Thân.

8- Dữ kiện thú tính: các sao Địa Không, Địa Kiếp, Đà La, Kình Dương, Hỏa-Tinh, Linh-Tinh.

9- Dữ kiện phù trợ: các sao Tả-Phù, Hữu-Bật, Lực Sĩ, Bác-Sĩ, Hóa Quyền, Hóa Khoa.

10- Dữ kiện ma thuật: Mệnh vô chính diệu.

Ngoài các dữ kiện sao vừa nói, ta hãy nói sơ lược lại nền tảng phối hợp ngũ hành, để thích nghi luận lý:

a- Tương sinh: Mộc-Hỏa-Thổ-Kim-Thủy-Mộc.

b- Tương khắc: Mộc-Thổ-Thủy-Hỏa-Kim-Mộc.

c- Bình Hòa: Thổ gặp Thổ (dù là loại Thổ gì cũng vậy)

d- Bất cập: Hỏa gặp Hỏa (dù là loại Hỏa gì cũng vậy) 

e- Thái quá: Thủy gặp Thủy (dù là loại Thủy gì cũng vậy)

f- Phát triển:Kim gặp Kim và Mộc gặp Mộc.

Có nhiều sách ghi thêm tính chất của nhiều loại Thổ, nhiều loại Hỏa để cố gắng phân tích sự tiết giảm xung đột hay tăng thêm hòa hợp; điều này có phần biện bác để an ủi cho những người gặp cảnh ngộ xấu hoặc là tâng bốc những người ưa nghe điều tốt mà thôi. Vì đã ở thế cùng hành tất phải ở tình trạng ngưng đọng hơn là ảnh hưởng với nhau (lý thuyết nhất nguyên tính trạng) Do đó, chủ ý của bài viết này là nhằm cái biến dịch của ngũ hành trên 12 cung số của bản số Tử Vi mà luận giải.

3. Sao Thiên Mã 

Người Đông Phương ưa cảm thông sự vật hơn phát biểu sự vật nên việc dùng từ ngữ chỉ có ý nghĩa tượng trưng (chứ không có tính cách mô tả chủ quan như Tây Phương) cho nên dữ kiện được gọi là "sao Thiên Mã " chỉ nên hiểu là cái nghị lực của con người trong bản số Tử Vi. Tùy theo vị trí của 4 cung: Dần, Tỵ, Thân, Hợi mà sao Thiên Mã đóng, ta hiểu như sau:

a- Thiên Mã ở cung Dần: đứng ở cung Mộc rất hợp với người mạng Mộc bạc nhược với người mạng Kim, vất vả với người mạng Thủy, làm hại người mạng Thổ, làm lợi người mạng Hỏa.

b- Thiên Mã ở cung Tỵ: đứng ở cung Hỏa rất hợp với người mạng Hỏa, làm lợi người mạng Thổ, vất vả người mạng Mộc, làm hại người mạng Kim, bạc nhược với người mạng Thủy.

c- Thiên Mã ở cung Thân: đứng ở cung Kim rất hợp với người mạng Kim, làm lợi người mạng Thủy, vất vả người mạng Thổ, làm hại người mạng Mộc, bạc nhược với người mạng Hỏa.

d- Thiên Mã ở cung Hợi: đứng ở cung Thủy rất hợp với người mạng Thủy, làm lợi cho người mạng Mộc, vất vả với người mạng Kim, làm hại người mạng Thổ.

4. Vòng Tràng Sinh

Vòng Tràng sinh có 12 sao đóng đủ trên 12 cung Tử Vi, ý nghĩa của vòng sao này ta nên coi là dữ kiện sinh tồn của đương số, do đó, khi cung an Mệnh, cung Phước đức (tiền kiếp) và cung Tật Ách (hậu kiếp) có những sao cùng hành với bản mệnh thì luận ra tính cách thọ, yểu, mạnh, khỏe, hay đau yếu:

a- Đối với saoTràng Sinh (là Thủy) Cung Mệnh sinh sao, sao sinh bản Mệnh là đắc cách. Thí dụ: Người hành Mộc, mệnh an tại Dậu (Tuổi Âm Nam, Dương Nữ) thuộc Kim có các Sao Trường Sinh là Thủy (Kim-Thủy) sao Trường sinh sinh ra hành Mộc. Cung Mệnh sinh sao, sao khắc bản mệnh là sống không khỏe mạnh. Cung Mệnh khắc sao, sao sinh bản Mệnh bất đắc kỳ tử. Cung Mệnh khắc sao, sao khắc bản mệnh: chết non.

b- Đối với sao Thai (Thổ) thì cần phải đóng ở cung Phúc Đức để chứng tỏ tiền kiếp đã kết tụ tinh anh, phát kết ra kiếp hiện tại, thì lý tự nhiên cuộc sống phải bền, để ý nghĩa của "Thai " hiện hữu như một căn bản không phản hồi được. Trường hợp này, cung Mệnh có sao Mộ, cung Quan có Trường Sinh, Cung Tài có Đế Vượng, (ngu si hưởng thái bình!?)

c- Đối với sao Đế Vượng (là Kim) cần phải tụ hội ở cung Tật ách (hậu kiếp) để minh chứng ngày ra đi sang kiếp sau được tiếp đón như một thành tích vẻ vang tuyệt đỉnh (vì trong chu kỳ sinh thái của Vòng Tràng-Sinh, thì giai đoạn Đế Vượng coi như điểm cực đại của hàm số Parabole, biểu diễn vòng luân hồi của con người). Trường hợp này là người có sao Tuyệt ở cung Mệnh (khôn ngoan ở đời)

5. Vòng Lộc Tồn 

Sống ở đời, người ta ai cũng cần có phương tiện thuận lợi tối đa để hưởng hạnh phúc (dù là hạnh phúc tạm), nên trong khoa Tử-Vi có vòng sao Lộc Tồn được coi là những dữ kiện của sự hưng thịnh. Vòng Lộc Tồn cũng có 12 sao an đủ 12 cung trên bản số. Tuy nhiên ta lưu ý 4 cung: Dần, Mão, Thân, Dậu nhiều nhất:

a- Tuổi Giáp: Lộc tồn ở Dần.

b- Tuổi Ất: Lộc tồn ở Mão

c- Tuổi Canh: Lộc tồn ở Thân.

d- Tuổi Tân: Lộc tồn ở Dậu.

Cho nên, những người sanh năm Dần-Ngọ-Tuất mà tuổi Giáp (Giáp Dần, Giáp Ngọ, Giáp Tuất) thì hưởng cái lộc này lâu dài (đúng nghĩa Lộc tồn) những người tuổi Ất Mão, Ất Hợi và Ất Mùi; Canh Thân, Canh Tý và Canh Thìn; Tân Tỵ, Tân Dậu, và Tân Sửu cũng được hưởng may mắn nói trên. Kỳ dư các tuổi khác nếu, cung Mệnh, cung Quan hoặc cung Tài mà có Lộc tồn, thì Lộc tuy có nhưng không tồn được (hưởng trong giai đoạn ngắn mà thôi!?)

6. Vòng Thái Tuế 

Có lẽ đây vòng sao hệ trọng nhất đối với người nghiên cứu khoa tử vi lý học. Bởi vòng này diễn tả cái tính khí, phẩm hạnh của đương số cũng như nó cho biết cái chu kỳ thăng trầm của cuộc đời. Cho nên ta phân 12 sao của ngũ hành là:

- Dần Ngọ Tuất: Hành Hỏa

- Tỵ Dậu Sửu: Hành Kim

- Hợi Mão Mùi: Hành Mộc

- Thân Tý Thìn: Hành Thủy

Thành ra 4 nhóm mệnh danh như sau:

a-Nhóm chánh phái: Thái tuế, Quan Phù, Bạch Hổ.

b-Nhóm tả phái: Tuế Phá, Điếu Khách, Tang Môn.

c-Nhóm thiên hữu: Long Đức, Thiếu Âm, Trực Phù.

d-Nhóm thiên tả: Thiếu dương, Tử Phù, Phúc Đức.

Cung An Mệnh thuộc nhóm nào, thì giúp ta nhìn thấy cái cá tính chung của đương số ngay, Ví dụ như:

- Những người tuổi Dần, Ngọ, Tuất, cung Mệnh, cung Quan Lộc và Tài Bạch cũng đóng ở 3 cung Dần, Ngọ, Tuất (có nhóm chánh phái đóng) thì là những người đảm lược, lương hảo, anh hùng.

- Những người tuổi Tỵ, Dậu, Sửu có 3 cung Mệnh, Quan và Tài đóng ở 3 cung Tỵ, Dậu, Sửu (có nhóm chánh phái đóng) thì hiển hách hơn người, được kính nể;

- Ta tiếp tục lý luận như trên cho các người tuổi Thân, Tý, Thìn. Mệnh, Quan và Tài cũng đóng Thân, Tý, Thìn. Những người tuổi Hợi, Mão Mùi mà 3 cung Hợi, Mão, Mùi đều là chánh phái cả. Cộng thêm các dữ liệu sao có trong bản số của đương số thì kết luận thêm cho chính xác.

Giai đoạn tuổi ở 1 trong 3 cung của nhóm: Thái Tuế-Quan Phù-Bạch Hổ, đều là thời vận tốt nhất cho người có lá số tử vi. Khi cung Mệnh của của bản số tử-vi thuộc nhóm tả phái đó là người bất mãn, lang bạt và đau khổ. Cung Mệnh thuộc nhóm thiên hữu là người bẩm chất hiền lành nhưng nhu nhược, cung Mệnh thuộc nhóm thiên tả, là người khôn vặt, lanh lợi những chuyện tầm thường.

7. Luật của sao TUẦN & TRIỆT 

Kiếp nhân sinh ví như cái xe lăn trên đường đời, Sao Triệt được coi như cái Thắng đầu của xe, còn sao Tuần coi như bộ thắng sau của xe. Thắng đầu cần mới nguyên, rất hữu hiệu trong việc cản bánh xe lăn (đôi khi còn tạo ra nguy hiểm! làm cho xe lật) nên dưới 30 tuổi ảnh hưởng của sao Triệt thật đậm đà. Sao Tuần ít bộc phát ảnh hưởng rõ rệt, nhưng lại bền vững suốt đời người (thắng của bánh xe sau tác dụng điều hòa tốc độ của xe chạy). Luật hóa giải TUẦN-TRIỆT được đặc biệt cho những ai có bản số Tử vi mà cung Mệnh bị một trong hai sao Triệt và Tuần trấn đóng, thì đi đến giai đoạn cung có sao còn lại đóng, là vận hên đã tới.

Thí dụ: Mệnh đóng tại Tỵ có sao Triệt, cung Phúc đức có sao Tuần, vậy đi đến giai đoạn cung Phúc đức thì phát huy được danh phận (dù không thuộc vòng Thái Tuế-Quan Phù-Bạch Hổ). Lý giải điều này cũng tự nhiên. Vi khi xe chạy mà người tài xế điều hành được hai bộ thắng thì tất nhiên phải an toàn bảo đảm như ý muốn.

8. Bộ ba Thiên Không, Đào Hoa và Hồng Loan

Người biết coi Tử vi, ai cũng biết:Thiên Không (Hành Hỏa), Đào Hoa (Hành Mộc) và Hồng Loan (thuộc hành Thủy). Bản chất của Hỏa Tinh là tàn phá, là gieo rắc tai ương (Thần chiến tranh): cho nên khi ba cung Mệnh, Quan và Tài của bản số tử vi có:

a- Thiên Không, Đào Hoa nghĩa là Mộc dưỡng hỏa, để Hỏa tàn phá thêm mạnh dạn, thêm khốc liệt, ý tượng trưng cho sự khôn ngoan quá quắt của đương số. Người có cách này là mẫu người muốn chiếm đọat, muốn lấn tới để ăn người.

b- Thiên Không Hồng Loan: Nghĩa là lửa đã bị Thủy trấn áp, bó tay qui hàng, nên cung Mệnh có cách này là mẫu người thoát tục, thích cảnh tịnh hơn cảnh động.

c- Thiên Không độc thủ (ở Thìn-Tuất-Sửu-Mùi có Hồng Đào chiếu) bụng dạ thất thường người Âm Nam, Âm Nữ là lửa ngầm, người Dương Nam, Dương Nữ là lửa bùng: tất cả đều thủ đoạn vặt hoặc không bộc lộ hoặc phát tiết ra ngòai.

9. Vòng Mệnh và Vòng Thân 

Căn cứ của Luật Tam hạp:

- Dần Ngọ Tuất là Hỏa.

- Thân Tý Thìn là Thủy.

- Hợi Mão Mùi là Mộc.

- Tỵ Dậu Sửu là Kim.

Thì khi cung an Mệnh đứng ở vị trí nào so với vòng Thái Tuế, ta phải nhìn thế tam hợp của cung an Mệnh như Vòng tha nhân đối với Vòng bẩm tính đương số là vòng Thái Tuế tam hợp của cung an Thân là Vòng hành động của đương số. Biện chứng qua Luật ngũ hành tiêu-trưởng, ta vạch trần được tác phong đường số một các dễ dàng.

Ví dụ: Người tuổi Tỵ (Vòng Thái Tuế là Tỵ-Dậu-Sửu: Kim), cung an Mệnh đóng ở Tuất (Vòng tha nhân là Dần-Ngọ-Tuất: Hỏa), cung an Thân ở Tý (Vòng hành động là Thân-Tý-Thìn: Thủy). Ta lý giải ngay: số người này là mẫu người ra đời bị người ta chèn ép (do Hỏa khắc Kim), chịu nhiều thua thiệt, vất vả (vì Kim sinh Thủy)

10. Nhóm hung tinh chiến lược 

Ta gọi là hung tinh chiến lược, vì các sao Địa không, Địa Kiếp, Đà La, Kình Dương, Hỏa Tinh, Linh Tinh, có những bộ mặt thú tính man dã nhưng hóa giải được khi điều hướng đúng chỗ.

a- Hai sao Địa Kiếp, Địa Không khi đứng trong nhóm tam hợp của vòng Thái Tuế, Quan Phù, Bạch Hổ, thì dù đắc địa (Tỵ, Hợi) hay hãm địa, cũng vẫn mất hiệu lực phá hại của nó, để trở nên ý nghĩa của người có tài mà không có thời. Mặt khác, nếu đương số thuộc hành Thổ thì đã làm cho tính chất Hỏa của Không Kiếp bị tiết khí: nên vẫy vùng yếu kém hẳn.

b- Hai sao Đà La đóng ở Dần Thân Tỵ Hợi và Kình Dương đóng ở tứ mộ (Thìn Tuất Sửu Mùi ) lại có Vòng Thái Tuế ở đây thì không còn là sao tác họa mà trở thành bộ "hồi chánh tinh" đới công chuộc tội, phát võ hiển vinh, vượng phu ích tử.

c- Hai sao Hỏa tinh, Linh Tinh cũng là bộ Hỏa-Linh. Nếu đứng trong vòng Thái Tuế thì tạo thành những cái thất bại anh dũng của đương số. Người có cách này, dù "khí thiêng đã về thần" cũng được người đời kính nể khâm phục. Nói cách khác: Đấy là cách của người "Sinh thọ tử bất ninh thọ nhục"

11. Bộ sao phò trợ 

Quan niệm "phù thịnh không phù suy" là ý nghĩa của các nhóm sao phù trợ: Tả Phù, Hữu Bật, Lực Sĩ, Bác Sĩ, Hóa Quyền... Nếu các vòng sao này lọt vào trong vòng Thái Tuế, thì đúng là những "lương đống công thần" giúp cho đương số thăng tiến thành đạt ở đường đời, bằng trái lại, chúng nhảy sang vòng Tuế Phá, Điếu Khách, Tang Môn (nhóm tả phái), thì chẳng khác nào thả cọp về rừng, sức tán hại càng phát triển, làm cho đương số trăm chiều vất vả (Đặc biệt nếu cung Mệnh có cách này, mà vòng Thái Tuế không tam hợp với cung Mệnh, thì rõ ràng là loại Hoàng Sào thảo khấu, ác bá côn đồ). Nhớ đây chỉ là cái chung nhất cần phải kết hợp thêm các dữ liệu sao trong bản số Tử-vi để mà diễn giải thì mới có kết luận thêm chính xác tới mức độ nào.

12. Mệnh vô chính diệu: cách số của ma thuật 

Nói chung những người có cung Mệnh vô chính diệu, thường là mẫu người sắc sảo, quyền biến có nhiều cảm ứng bén nhạy hơn người có chính diệu thủ cung Mệnh. Xem số Tử-vi những người Mệnh vô chính diệu rất khó, vỉ độ chuyển biến của các dữ kiện "sao" rất "Sensible" nghĩa là có cách số ma thuật huyền hoặc nhất. Càng nhiều hung tinh, bại tinh đắc địa tọa thủ Mệnh, càng có lợi cho đương số. Tuy nhiên vẫn cần vòng Thái Tuế tam hợp với cung an Mệnh hoặc cung an Thân để có thể hướng cái chánh nghĩa về cho nhóm ác tinh này, bằng không thì đương số sẽ trở thành những hồ ly tinh tu luyện thành người, bản tính dã thú... khó phân biệt (!?) sẽ tạo ra những nghiệp ác để rồi đền tội một cách mau chóng (chết yểu).

Nếu nắm vững mười dữ kiện căn bản nêu trên, lẽ tất nhiên khoa Tử-Vi không còn là bí truyền ân sủng cho một riêng ai; tất cả chỉ còn là toàn những tương quan ngũ hành sinh khắc hoặc chế hóa, chỉ còn là những lý giải minh bạch cho các dữ kiện được gọi là "sao" của bản số Tử vi mà nhãn quan của con người nghiên cứu luôn luôn phải khách quan một cách thành khẩn.

Khoa lý học này sẽ có một ngày cởi bỏ cái "áo bí" của nó, để trở thành một khoa nhân văn chứa đựng tính thiện ác và thái độ vô cầu của người thâm cứu.

(Trích từ Báo KHHB của GS Lê Trung Hưng)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: 10 điều tâm niệm khi đoán số Tử Vi

Phong thủy phòng ngủ cải thiện tình cảm vợ chồng

Phòng ngủ là nơi chúng ta dành 1/3 thời gian trong ngày để ở và thư giãn. Phòng ngủ không nên quá rộng so với phòng khách bên ngoài nhưng cũng không nên quá bé.
Phong thủy phòng ngủ cải thiện tình cảm vợ chồng

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Phòng ngủ là nơi chúng ta dành 1/3 thời gian trong ngày để ở và thư giãn. Phòng ngủ không nên quá rộng so với phòng khách bên ngoài nhưng cũng không nên quá bé, cũng không nên để nhiều thực vật trong phòng ngủ.

  Chính vì vậy, cần phải xem xét thật kỹ vấn đề phong thủy phòng ngủ để mọi chuyện được thuận buồm xuôi gió, vạn sự như ý.
Phong thuy phong ngu cai thien tinh cam vo chong hinh anh 2
Ảnh minh họa
Đối với nhà ở hiện đại thì phòng ngủ cần phải chú trọng từ bố cục, thiết kế, phòng ngủ nên thông thoáng và đủ ánh sáng, giường ngủ đặt đúng vị trí. Phòng ngủ rộng hay nhỏ đều có ảnh hưởng tới mối quan hệ sinh hoạt chăn gối của vợ chồng. Bởi phòng ngủ là căn phòng duy nhất mang tính riêng tư nên tốt nhất là chỉ để ngủ, nghỉ ngơi thư giãn mà không nên sử dụng vào mục đích khác.   Vị trí phòng ngủ ảnh hưởng tới vận mệnh   Vị trí phòng ngủ tốt nhất là nên nằm ở hướng Tây Nam hoặc Tây Bắc. Hai phương vị này có tác động tới ý thức và trách nhiệm của người sống trong đó, khiến cho họ nhận được sự tôn trọng trong cuộc sống và nhận được nhiều thành công trong công việc.    Phòng ngủ ở phía Bắc thì yên tĩnh, cải thiện nhiều tình trạng mất ngủ. Phòng ngủ ở hướng Tây thì tốt cho quan hệ vợ chồng, nâng cao chất lượng cuộc sống. Phòng ngủ ở hướng Đông hoặc Đông Nam thì cũng khá tốt, không chỉ trong cuộc sống mà trong cả chuyện sinh hoạt vợ chồng. Ngoài ra, đồ vật bố trí trong phòng ngủ cũng phải chú ý, phương vị đặt đồ vật sẽ có ảnh hưởng lớn tới mối quan hệ giữa những người sống trong đó.

Phong thuy phong ngu cai thien tinh cam vo chong hinh anh 2
Ảnh minh họa
  Ở những ngôi biệt thự cao cấp thì khi thiết kế nên chú ý, tránh đặt nhà vệ sinh phía dưới phòng ngủ hoặc gara phía trên phòng ngủ, ban công phía sau phòng ngủ cũng không cần. Phòng ngủ tốt nhất là không nên hẹp quá cũng không nên dài quá, nhưng vậy mới thoáng gió. Cửa phòng ngủ cũng không nên đối diện với cửa phòng bếp, càng không nên đối diện với nhà vệ sinh bởi uế khí từ nhà vệ sinh cùng sự ẩm ướt sẽ lấn át phòng phủ, phòng ngủ thì chứa những đồ vật dễ hút ẩm như nệm, chăn gối… cần sự khô ráo, sạch sẽ, không được ẩm ướt gây khó chịu. Cửa hai phòng ngủ cũng không nên đối diện nhau nếu không giữa các thành viên trong gia đình rất dễ xảy ra mâu thuẫn gay gắt.   Trong phòng ngủ, nếu muốn đặt tủ quần áo thì nên chọn loại tủ âm tường là phù hợp với nguyên tắc “ẩn giấu” trong phong thủy nhất. Cũng không nên đặt phòng vệ sinh trong phòng ngủ, cho dù nó có tiện lợi tới đâu, uế khí và hơi nước ẩm sẽ dễ dàng xâm nhập vào phòng ngủ, hơn nữa, người đi vệ sinh cũng sẽ làm ảnh hưởng tới người đang nghỉ ngơi trên giường, cảm giác không được thoải mái cho lắm. Nếu đã lỡ bố trí nhà vệ sinh trong phòng ngủ thì phải đảm bảo cửa nhà vệ sinh luôn luôn đóng.  
► ## cung cấp công cụ xem thước lỗ ban xây dựng chuẩn xác

Phương Thùy
Phong thủy đối với giường ngủ đẩy mạnh thành tích học tập của trẻ Năm đồ vật kiêng kỵ trong phòng tân hôn Infographic: 14 điều cấm kỵ trong phòng ngủ không phải ai cũng biết Mất ngủ vì đặt gương chiếu vào giường
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Phong thủy phòng ngủ cải thiện tình cảm vợ chồng

Lý do người Nhật tách biệt khu vệ sinh và nhà tắm

Cách thiết kế không gian riêng tư ở Nhật có nhiều điểm đặc biệt để chủ nhà có được cảm giác thoải mái nhất.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

1. Ảnh hưởng truyền thống

Nước Nhật có tốc độ phát triển kinh tế, hiện đại hóa rất nhanh nhưng người dân vẫn giữ nhiều nét truyền thống. Một trong số đó chính là việc tách biệt khu vệ sinh.

Cũng giống như ở Việt Nam, trước đây, người Nhật thường bố trí nhà vệ sinh xa khu nhà chính, thường là ở giữa vườn tĩnh mịch hay cuối hành lang. Nhờ đó, khu vực này luôn có cửa sổ, ánh sáng tự nhiên, thông gió giúp nhà vệ sinh thoáng đãng. Không gian này cũng yên tĩnh, kín đáo, không ảnh hưởng tới sinh hoạt của các thành viên khác.

2. Giữ gìn vệ sinh

Việc bố trí WC ngoài vườn đảm bảo sự sạch sẽ, thông thoáng nhưng gây khó khăn vào mùa đông và buổi tối. Thêm vào đó, khi diện tích nhà bị thu hẹp, người Nhật buộc phải bố trí nhà vệ sinh gần chỗ ở hơn nhưng họ vẫn cố tách biệt WC với nhà tắm.

Họ quan niệm, khu vệ sinh trong nhà tích tụ nhiều cái bẩn còn nhà tắm là nơi làm sạch cơ thể. Bởi vậy, người Nhật thấy lạ khi người Mỹ và các nước khác lại ghép chung 2 khu vực này dù nhà rộng.

Theo Life Buzz, không chỉ thế, họ luôn phân biệt dép đi trong nhà và dép đi trong khu vệ sinh. Bạn nên tránh việc đi lẫn lộn hai loại dép này khi tới chơi nhà người Nhật.

ly-do-nguoi-nhat-tach-biet-khu-ve-sinh-va-nha-tam-1

Khu vệ sinh có dép riêng với ký hiệu rõ ràng để tránh nhầm lẫn. Ảnh: Japan Talk.

3. Tiện lợi trong sinh hoạt

Nếu như người phương Tây tránh nhắc tới nhà vệ sinh thì người Nhật không thấy ngại ngần bởi họ muốn tìm mọi cách để cải tiến chúng. Nhịp sống hàng ngày của người Nhật rất gấp gáp nhưng họ có nhiều cách tận hưởng cuộc sống.

Việc tách biệt 2 loại phòng này giúp cho người trong nhà có nhiều thời gian sử dụng không gian hơn. Dù diện tích nhà tắm nhỏ nhưng người Nhật vẫn cố bố trí bồn tắm. Bởi vậy, cách bố trí riêng 2 không gian giúp những người ngâm bồn thư thái, không ảnh hưởng tới các thành viên khác trong nhà.

Lam Huyền


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Lý do người Nhật tách biệt khu vệ sinh và nhà tắm

Đặc tính Hỏa trong phong thủy –

Hỏa là: “Viêm thượng”, Viêm là nóng, nhiệt; thượng là hướng lên trên. Chính vì Hỏa có tính phát nhiệt, ấm áp, hướng thượng. Hoả có chức năng đuổi lạnh, trừ âm, tôi luyện kim loại. Hỏa sinh ra từ Mộc, tính tình nóng vội, nhưng lại khiêm cung, Hỏa chủ

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Hỏa là: “Viêm thượng”, Viêm là nóng, nhiệt; thượng là hướng lên trên. Chính vì Hỏa có tính phát nhiệt, ấm áp, hướng thượng. Hoả có chức năng đuổi lạnh, trừ âm, tôi luyện kim loại.

small_1241581898.nv[1]

Hỏa sinh ra từ Mộc, tính tình nóng vội, nhưng lại khiêm cung, Hỏa chủ là Lễ.

Trong tứ trụ người là Hỏa vượng, tinh thần mạnh mẽ, tích cực cầu tiến, coi trọng lễ nghĩa, hình thức, nhiệt tình giúp đỡ người, chân thành với bạn bè.

Trong Tứ trụ nếu là Hỏa quá vượng, mặt đỏ, nói to, tính tình vội vàng, dễ bị xúc dộng, tính hiếu thắng, dễ chuốc điều thị phi; hỏa mà suy thì người gầy, đầu nhỏ, ăn nói thị phi, gian giảo đố kỵ, không bền chí, thiếu độ tin cậy.

Hỏa chủ Lề, mang biểu hiện nóng vội, trọng lễ nghĩa, vị đắng, màu đỏ đậm. Người Hỏa thịnh, đầu nhỏ chân dài, lông mày rậm, tai nhỏ, tinh thần tỏa sáng, cung kính, chan hoà với mọi người, chất phác, vội vàng. Người thuộc Hỏa suy thì dáng gầy, da vàng, ngôn ngữ vong diên, dối trá, cay độc, làm việc không có đầu cuối.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Đặc tính Hỏa trong phong thủy –

Những chòm sao nam có mức độ háo sắc như thế nào? –

Những chòm sao nam có mức độ háo sắc như thế nào? Có phải Song Ngư mơ tưởng hão huyền về người đẹp, Kim Ngưu liếc trộm không ngớt…Những chòm sao khác như thế nào và củ thể ra sao chúng ta cùng đọc bài viết sau. Những chòm sao nam có mức độ háo sắc nh

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Những chòm sao nam có mức độ háo sắc như thế nào? Có phải Song Ngư mơ tưởng hão huyền về người đẹp, Kim Ngưu liếc trộm không ngớt…Những chòm sao khác như thế nào và củ thể ra sao chúng ta cùng đọc bài viết sau.

Nội dung

  • 1 Những chòm sao nam có mức độ háo sắc như thế nào?
    • 1.1 Bạch Dương
    • 1.2 Kim Ngưu
    • 1.3 Song Tử
    • 1.4 Cự Giải
    • 1.5 Sư Tử
    • 1.6 Xử Nữ
    • 1.7 Thiên Bình
    • 1.8 Bò Cạp
    • 1.9 Nhân Mã
    • 1.10 Ma Kết
    • 1.11 Bảo Bình
    • 1.12 Song Ngư

Những chòm sao nam có mức độ háo sắc như thế nào?

Bạch Dương

Chòm sao này khá nhiệt tình, có dũng khí và thích “nhìn thẳng” vào vấn đề. Một khi đã thấy con gái xinh xắn hợp với gout thẩm mỹ của mình là chàng ta liền chăm chú, dán mắt vào đối phương cho đến khi bạn ấy ngượng đỏ mặt mới thôi.

Kim Ngưu

Tuy bề ngoài có vẻ khá hiền lành, nhưng Kim Ngưu nam mới đích thị là chúa háo sắc đấy. Vì muốn giữ hình tượng đàng hoàng, đạo mạo của mình nên chòm sao này chỉ liếc nhìn, thậm chí là trộm nhìn mỹ nhân. Kết quả là mặt mũi người đẹp kia ra sao Kim Ngưu còn chẳng rõ.

kim-nguu-8245-1396482408

Song Tử

Vốn nổi danh là số đào hoa, hễ thấy con gái xinh đẹp là nhìn không chớp mắt dù người yêu Song Tử đang kè kè bên cạnh. Vừa đào hoa lại cộng thêm tính háo sắc, Song Tử coi chừng kẻo đối phương “không cánh mà bay” nhé.

Cự Giải

Mật độ bạn gái xinh đẹp vây xung quanh Cự Giải ngày càng dày đặc dù cho bạn có “sức đề kháng” khá cao với chuyện này. Nếu được bình chọn, Cự Giải sẽ giành giải thưởng người tình chung thủy tiêu chuẩn của năm đấy nhé!

Sư Tử

Vì quá kiêu ngạo nên Sư Tử coi việc nhìn ngắm con gái xinh đẹp sẽ làm mất hình tượng của mình. Bề ngoài thì vậy thôi, Sư Tử không ngừng nhìn trộm cô gái xinh đẹp từ đầu tới chân. Mặt mũi, dáng người cô ấy thế nào Sư Tử đều soi rất kỹ đó.

su-tu-6934-1396482408

Xử Nữ

Vốn tính đa sầu đa cảm, Xử Nữ nam sẽ than vãn nếu nhìn thấy mỹ nhân rằng: “Đẹp quá sẽ không an toàn lắm!” rồi lại tiếp tục những suy nghĩ xa vời thực tế. Nhưng một khi đã có người đẹp bên cạnh, Xử Nữ lại vô cùng quan tâm và thường không để ý đến ai khác nữa.

xu-nu-9101-1396482408

Thiên Bình

Việc ngắm nhìn girl xinh được biểu lộ rõ như ban ngày trên khuôn mặt của Thiên Bình kiểu: “Ở đâu mà nhiều mỹ nhân thế không biết!”. Vì thấy quá phấn khích nên Thiên Bình cảm giác nhìn trái nhìn phải thôi chưa đủ, phải nhìn đến mức hoa cả mắt mới được.

Bò Cạp

suc-hut-cua-12-cung-hoang-dao-3116-2644-1396482409

Hễ nhìn thấy girl xinh, như bản năng, Bò Cạp liền tận dụng lợi thế về sức hấp dẫn của mình để thu hút ánh nhìn của đối phương. Bò Cạp khá tự tin về ngoại hình cũng như tài năng của mình, nên việc tự tin chinh phục được mỹ nhân cũng là điều bình thường ở bạn.

Nhân Mã

Có thể nói Nhân Mã thường có sự nhạy bén nhất định đối với sắc đẹp nữ giới. Bạn luôn muốn được chia sẻ cùng với bạn bè. Thay vì chỉ một mình được chiêm ngưỡng vẻ đẹp hiếm có, Nhân Mã sẵn sàng gọi thêm những người bạn chí cốt để được chia sẻ mọi cảm xúc.

nhan-ma-1888-1396482409

Ma Kết

Mức độ háo sắc của Ma Kết cũng không thua kém các chòm sao khác đâu nhé. Dù bên cạnh người đẹp đang là một anh chàng bảnh bao và cường tráng, Ma Kết vẫn cứ chăm chăm hướng ánh nhìn về phía cô gái đó. Phải hết sức cẩn thận, đừng quá lộ liễu nhé Ma Kết, kẻo biết đâu có rắc rối xảy ra đó.

suc-hut-cua-12-cung-hoang-dao-3138-4489-1396482409

Bảo Bình

Mắt thì “soi” loạn xạ người đẹp, miệng thì hô lớn: “Bình thường thôi, có gì lạ đâu!” như thể sợ mọi người chỉ đúng tâm đen của bạn. Bảo Bình lại mâu thuẫn với chính mình rồi đấy nhé!

Song Ngư

Mỗi lần gặp được “tuyệt thế giai nhân” là Song Ngư lại mơ tưởng hão huyền. Đến lúc người ấy đã đi xa cả trăm dặm rồi mà bạn vẫn tưởng như đang đứng trước mặt mình. Tối lại về nghĩ ngợi vẩn vơ, thậm chí có khi lại nằm mơ thấy mỹ nhân thoáng qua ấy.

Xem thêm: 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những chòm sao nam có mức độ háo sắc như thế nào? –

Lộ Bàng Thổ - Ý nghĩa đất trên mặt đường lộ

Tìm hiểu về khái niệm nạp âm Lộ Bàng Thổ (đất trên mặt đường lộ). Lộ Bàng Thổ cần thủy đến tưới làm mịn màng, nếu lại có kim tư trợ, là tốt.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Lộ Bàng Thổ - Ý nghĩa đất trên mặt đường lộ

Lộ Bàng Thổ - Ý nghĩa đất trên mặt đường lộ

Ý nghĩa của nạp âm Lộ Bàng Thổ

Bác Vật Vựng Biên Nghệ Thuật Điển ghi: Canh Ngọ Tân Mùi, mộc trong Mùi sinh Hỏa của Ngọ. Hỏa vượng tạo hình cho Thổ, Thổ mới sinh chưa đủ sức để nuôi dưỡng vạn vật nên gọi bằng "Lộ Bàng Thổ".

Hỏa vượng, Thổ thành hình, đất cứng bởi vậy tâm chất quật cường mà quá nóng nảy, tâm tình chính trực nhưng lại không chín chắn để phân biệt cho rõ ràng thiện ác thuận lợi hay không thuận lợi.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Lộ Bàng Thổ - Ý nghĩa đất trên mặt đường lộ

Người tuổi nào dễ giàu có nhất trong 12 con giáp?

Trong số 12 con giáp thì các tuổi như Hợi, Thân, Thìn, Mùi và Dần là 5 tuổi được coi là có số mệnh giàu sang nhất. Thứ tự sắp xếp như sau:

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tuổi Hợi dễ giàu nhất

Người tuổi Hợi sở hữu trái tim nhân hậu, lạc quan. Họ biết dựa vào thực lực của mình để chinh phục mọi gian nan, thử thách. Họ có khát vọng lớn về sự giàu sang và phú quý.

Người tuổi Hợi biết tích lũy và chế ngự cảm xúc của mình, họ nỗ lực không ngừng nghỉ để có được thành công như mong đợi. Chính vì vậy, thành công đến với họ không quá khó khăn nhưng cũng không quá nhanh mà từ từ từng bước vững chắc. Số mệnh giàu sang của người tuổi Hợi có thể nói chỉ có 2 phần. 8 phần còn lại họ chủ yếu dựa vào chính sức lực và sự cố gắng của chính mình mà có được. Để trở thành tỷ phú hoặc đơn giản là có nhiều tiền với những người tuổi Hợi chỉ là vấn đề thời gian mà thôi.

 

người tuổi hợi dễ giầu nhất trong 12 con giáp

 Người tuổi Hợi là những người dễ giàu có nhất trong 12 con giáp

 

Tuổi Thân xếp thứ 2

Người tuổi Thân luôn nắm bắt và làm chủ mọi cơ hội để có được tiền tài địa vị lớn trong xã hội. Họ rất nhạy bén về vấn đề tài chính. Tuy người tuổi Thân xét về số mệnh thì không hề có số giàu sang, nhưng họ lại có thói quen tốt như tiết kiệm, chăm chỉ và rất khéo léo trong khả năng nắm bắt cơ hội. Họ là những người tinh ranh và sắc sảo nên họ gặt hái được những thành công còn hơn cả mong đợi.

 

người tuổi thân đứng thứ 2 trong 12 con giáp về sự giàu có

Người tuổi Thân đứng thứ 2 trong 12 con giáp về sự giàu có

 

Tuổi Thìn thứ 3

Những người tuổi Thìn trong mắt mọi người có vẻ như gặt hái được thành công một cách quá dễ dàng, bởi vì họ không giỏi trong việc quản lý tài chính và cũng không quá nỗ lực để thực hiện một điều gì đó. Có lẽ điều này không có gì là sai, bởi vì về số mệnh giàu sang của họ chiếm tới 8 phần. Chính vì thế, người tuổi Thìn khi sinh ra đã có số mệnh may mắn như vậy rồi. Thế nên sự cố gắng của họ chỉ cần bằng hoặc chưa bằng người khác thì cũng đã chạm tới thành công.

 

người tuổi thìn là những người giàu thứ 3 trong 12 con giáp

 Người tuổi Thìn là những người giàu thứ 3 trong 12 con giáp

 

Tuổi Mùi thứ 4

Tuổi Mùi là những người rất biết cách kiếm tiền. Họ có năng lực đặc biệt về tài chính, vô cùng nhạy bén và thông minh. Ngay cả trong những tình huống cấp bách và khó khăn, người tuổi Mùi luôn tìm thấy cơ hội tốt lành cho mình trong khi những người khác không nhìn thấy cơ hội đó. 

Về số mệnh giàu sang của người tuổi Mùi chiếm tới 6 phần. Tuy nhiên, không vì thế mà họ dễ dàng giàu sang và kiếm được nhiều tiền. Bởi phần lớn số tiền mà họ kiếm được đều dựa trên khả năng thực có của mình. Để có được thành công đỉnh cao đó thì người tuổi Mùi cũng phải trải qua bao gian nan, vất vả mới có được như thế.

 

người tuổi mùi là những người dễ giàu có thứ 4 trong 12 con giáp

 Người tuổi Mùi là những người giàu có thứ 4 trong 12 con giáp

 

Tuổi Dần thứ 5

Người tuổi Dần luôn ôm giữ mộng tưởng về sự giàu có bậc nhất bản thân. Về số mệnh giàu sang thì tuổi này chỉ có 3 phần, chính vì vậy người tuổi Dần thường khá chật vật trên con đường chinh phục sự giàu sang của mình. Thường những người tuổi Dần sẽ trở thành tỷ phú khi họ đã ở độ tuổi trung niên. Thế nên, người tuổi Dần thường có tâm lý than thân trách phận, trách ông trời không công bằng vì bắt họ phải mất quá nhiều thời gian trong cuộc đời mới có được cuộc sống giàu sang mà họ khát khao bấy lâu.

 

người tuổi dần đứng thứ 5 trong 12 con giáp về sự giàu có

 Người tuổi Dần đứng thứ 5 trong 12 con giáp về sự giàu có


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Người tuổi nào dễ giàu có nhất trong 12 con giáp?

Top 4 con giáp tài vận tốt nhất tháng 3/2016 - 12 con giáp - Xem Tử Vi

Top 4 con giáp tài vận tốt nhất tháng 3/2016, 12 con giáp, Xem Tử Vi, xem bói, xem tử vi Top 4 con giáp tài vận tốt nhất tháng 3/2016, tu vi Top 4 con giáp tài vận tốt nhất tháng 3/2016, tu vi 12 con giáp

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Top 4 con giáp tài vận tốt nhất tháng 3/2016

Sang tháng 3, top con giáp này sẽ gặp được rất nhiều may mắn, đặc biệt là đường tài lộc. Hãy xem bạn có nằm trong top con giáp may mắn này không nhé!

Tuổi Hợi

Họ vốn là người biết chờ đợi thời cơ, không bao giờ tự ti mặc cảm, luôn dũng cảm xông pha trước những khó khăn thử thách của cuộc sống.

Chính vì thế họ luôn là con giáp phúc khí tràn đầy trong tương lai. Dựa vào khả năng và bản lĩnh của mình cùng với sự nỗ lực không ngừng nghỉ họ sẽ luôn có những thành công rực rỡ.

Tháng 3 tới vận thế của họ thăng hoa, tài khí dồi dào. Các nguồn thu dồn dập tới tấp giúp họ trở thành con giáp quán quân về tài lộc dồi dào, vượng phát trong tháng 3.

Tuổi Tý

Sang tháng 3, tuổi Tý sẽ có được sự giúp đỡ của các quý nhân. Vì thế, tổng thể vận thế rất tốt. Các mối quan hệ tốt, làm việc gì cũng thuận, dễ dành được thành công, tiền tài rủng rỉnh.

Họ lại là tuýp người dám chọn những công việc mang tính thử thách. Chỉ cần muốn làm thì việc gì cũng làm được và giành được thành công.

Tuổi Mão

Tháng 3 này, tuổi Mão cũng là những người hết sức may mắn. Họ được thần tài phù trợ nên các khoản thu chính rất dồi dào. Ngoài ra, họ cũng hưởng lộc khá nhiều từ các khoản thu thêm.

Những người tuổi Mão lại có đức tính cẩn thận và khôn khéo, chính vì thế, họ đa phần rất may mắn.

Tuổi Dậu

Tài vận tháng 3 của những người tuổi Dậu có phần lạc quan. Ngoài nguồn thu chính ổn định thì họ cũng khá may mắn vì các khoản thu ngoài khác.

Tuổi Dậu là những người khá chu đáo, cẩn thận, biết nỗ lực trong công việc, chỉ cần cố gắng là mọi việc tất thành công.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Top 4 con giáp tài vận tốt nhất tháng 3/2016 - 12 con giáp - Xem Tử Vi

Mơ thấy thu dọn nhà cửa: Sự nghiệp thành công và có thu nhập kinh tế –

Tôi vốn thích dọn dẹp nhà cửa, bởi một căn nhà gọn gàng mới mang đến cảm giác ấm cúng cho mọi người. Thế nên người yêu thường hay chế nhạo tôi mắc phải chứng bệnh sạch sẽ. Đôi lúc tôi còn mơ thấy mình đang xắn quần quét dọn nhà cửa, lau chùi vật dụng
Mơ thấy thu dọn nhà cửa: Sự nghiệp thành công và có thu nhập kinh tế –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Mơ thấy thu dọn nhà cửa: Sự nghiệp thành công và có thu nhập kinh tế –

Điềm báo giấc mơ về những cánh hoa bồ công anh

Những cánh hoa bồ công anh tuy là rất mỏng manh trước gió nhưng trong giấc mơ, có thể chúng sẽ mang lại niềm vui to lớn cho bạn đó.
Điềm báo giấc mơ về những cánh hoa bồ công anh

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


► ## giải mã giấc mơ theo tâm linh chuẩn xác

Diem bao giac mo ve nhung canh hoa bo cong anh hinh anh
Ảnh minh họa

Nếu trong giấc mơ của bạn nằm mơ thấy những bông hoa bồ công anh đang bay trong gió, điều này cho thấy bạn đang có một môi trường sống rất dễ chịu và vui vẻ. Bạn cảm thấy hài lòng với cuộc sống hiện tại của mình.

Ngoài ra, giấc mơ này cũng cho thấy tiềm thức của bạn đang cố gắng đưa bạn trở về lại thời thơ ấu và những kỷ niệm trong quá khứ.
  Nằm mơ thấy mình đang thổi những cánh hoa bồ công anh, điều này ám chỉ đến những khoảnh khắc chỉ thoáng qua. Bạn đang cố gắng để lấy lại một khoảng thời gian đẹp đẽ nào đó đã trôi qua trong cuộc sống của mình.   Nếu bạn nằm mơ thấy mình đang ăn hoa bồ công anh, đây là lời nhắc nhở bạn cần phải chăm sóc tốt hơn về sức khỏe của mình.

Thấy những cây bồ công anh trong mơ, báo trước tương lai bạn sẽ đầy những niềm vui. Mơ thấy bạn đang ăn cây này, nghĩa là bạn cần chăm sóc tốt hơn sức khỏe của bản thân hoặc sẽ bị bệnh nặng.

Tổng hợp

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Điềm báo giấc mơ về những cánh hoa bồ công anh

Kinh nghiệm trồng cây theo phong thủy

Theo quan niệm của phong thủy, cây cối được trồng đôi khi với mục đích để trấn trạch cho ngôi nhà. Tuy nhiên, chọn loại cây để trồng và chọn cây như thế nào thì không phải ai cũng biết. Câu nói “trước cau sau chuối” là một kinh nghiệm trồng cây theo phong thủy cho nhà ở rất khoa học.
Kinh nghiệm trồng cây theo phong thủy

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Xét về hình thế, phần trước nhà luôn cần sự quang đãng, rộng rãi, tránh các vật che chắn làm giảm đi tầm nhìn cũng như ngăn cản sự lưu thông của sinh khí vào cửa chính. Phong thủy xưa cho rằng, nếu trước nhà có cây lá loà xoà tức là Mộc khắc Thổ. Nếu có cây to thì sẽ có rễ lớn ăn vào làm hỏng nền nhà, đi lại dễ bị va vấp.Còn nếu là loại cây lá nhiều thì sẽ dễ rụng đầy sân, bóng râm che khuất khiến nhà thiếu ánh sáng mặt trời (dương quang) từ đó khiến cho gia chủ gặp nhiều điều bất lợi.

Do đó, khi chọn mua nhà đất, gia chủ cần quan sát hướng của cây xanh so với ngôi nhà định mua. Nếu mặt trước nhà nhìn ra hướng có nhiều ánh sáng và gió thì cây trồng phải thưa, thoáng để tăng tính dương. Khi đó, cần chọn các loại cây kiểng thấp, cây trồng chậu để dễ di chuyển và thay đổi. Nếu hướng nhà ở hướng Tây và Tây Bắc thì nên chọn cây chịu nắng và làm thêm dàn leo để chắn bức xạ gay gắt. Nếu nhà hướng Bắc hoặc Đông Bắc thì nên trồng cây có lá màu sáng để phản xạ thêm ánh sáng, hoặc cây có lá dày, thân chắc để ngăn gió lạnh.

Về mặt không gian sử dụng, nếu muốn có cây trồng tạo bóng mát thì nên chọn các hướng có gió lành kết hợp cây với thảm cỏ. Nếu muốn trồng hoa cảnh thì nên bố trí chúng ở kề cận hàng hiên, hành lang, gần với cửa sổ. Nếu định trồng những cây như vạn tuế, thiên tuế, bằng phi, trường sinh, kim quít, bách tán… thì nên đặt chúng tại vị trí trang trọng như trước sảnh, trục chính của nhà, nhưng cần bố trí bồn hay chậu sao cho tránh gây va chạm hàng ngày.

Theo phong thủy, cây thuộc Dương, đón nhận ánh sáng và hút nước từ đất (Âm Thủy). Vì thế, nhờ sự liên hệ Thủy Mộc tương sinh có t hể nhìn cây xem được mạch đất tốt xấu. Cây xanh kề cận mặt nước thường là các loại cây thấp (vườn rau, vườn hoa) hoặc cây thân cao nhưng ít rụng lá (như cau, dừa nước). Khi ngôi nhà có nhiều nét thẳng vuông thì nên bố cục cây xanh, mặt nước uốn lượn mềm mại.

Không chỉ cây to, nếu trước nhà có một miệng cống, trụ điện… thì cũng gây nhiều khó chịu về thẩm mỹ và sử dụng hàng ngày. Vì thế tại các khu dân cư mới, người ta luôn bố trí gốc cây, cột điện, hố ga… tại điểm giữa hai nhà để giảm tác động xấu.

(Theo Báo Xây dựng Online)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Kinh nghiệm trồng cây theo phong thủy

Đoán hôn nhân bằng 2 đường tình duyên trong tướng bàn tay

Người có tướng bàn tay mà hai đường tình duyên trên 2 bàn tay bằng nhau có tính tình hiền lành, điềm đạm. Đoán hôn nhân qua đường tình duyên trên bàn tay
Đoán hôn nhân bằng 2 đường tình duyên trong tướng bàn tay

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

– Chủ nhân của tướng bàn tay mà hai đường tình duyên trên hai tay bằng nhau có tính tình hiền lành, điềm đạm, không dễ nổi cáu hoặc tỏ ra khó chịu trong bất cứ hoàn cảnh nào.


=> Bói tình yêu để biết nhân duyên của hai người

Xòe hai bàn tay ở trạng thái tự nhiên, sao cho hai bàn tay đặt ngang bằng nhau. Sau đó bạn quan sát xem hai đường tình duyên ở hai tay thuộc kiểu nào dưới đây, bạn sẽ biết đời sống tình cảm, hôn nhân của mình ra sao.

Xem do chenh giua 2 duong tinh duyen tren tuong ban tay de biet hon nhan hinh anh
 
Kiểu 1: Đường tình duyên ở hai tay ngang bằng nhau


Theo kết quả khảo sát ở Nhật Bản, có tới 80% số người tham gia khảo sát có bàn tay kiểu này. Chủ nhân của tướng bàn tay này tính tình hiền lành, điềm đạm, không dễ nổi cáu hoặc tỏ ra khó chịu trong bất cứ hoàn cảnh nào.

Thông thường, chủ nhân kiểu tay này có thiên hướng hướng nội, thích chăm sóc gia đình, con cái hơn là ra ngoài xã hội phấn đấu.

Chính vì hết mực quan tâm và chăm sóc gia đình, nên đời sống tinh thần phong phú, tình cảm tốt đẹp, hôn nhân êm ấm và an lành.

Xem do chenh giua 2 duong tinh duyen tren tuong ban tay de biet hon nhan hinh anh 2
 
Kiểu 2. Đường tình duyên bên tay phải cao hơn


Sở hữu tướng tay mà đường tình duyên bên tay phải cao hơn tay trái, chứng tỏ bạn được khá nhiều người lớn tuổi hơn để ý và yêu mến.

Thường thì trong các mối quan hệ yêu đương, khoảng cách về tuổi tác giữa bạn và người ấy khá lớn. Những người lớn tuổi hơn, chững chạc hơn mang lại cho bạn cảm giác an toàn, tin tưởng để nương tựa suốt cuộc đời.

Vì thế, tình cảm, hôn nhân của người này cũng khá êm đềm, không phải trải qua nhiều sóng gió nếu kết hôn với người lớn tuổi hơn mình.

Điểm khác biệt ở tướng bàn tay của người giàu sang
Người có tướng bàn tay đầy đặn, hồng nhuận thường có số mệnh giàu sang, không phải lao động vất vả hay làm công việc nặng nhọc.
Kiểu 3: Đường tình duyên bên tay trái cao hơn


Kiểu tay này cho thấy chủ nhân của nó có ý chí kiên cường, luôn cố gắng không ngừng, phấn đấu không mệt mỏi trong cuộc sống, đặc biệt là sự nghiệp.

Cuộc sống của bạn là phải chuyển động không ngừng. Bạn thích tự mình trải nghiệm nhiều cung bậc cảm xúc, thích tìm tòi, khám phá điều mới lạ, thậm chí khi chinh phục được điều đó, bạn mới có cảm giác thành công.

Trong tình yêu, bạn luôn mong muốn có được mối tình cuồng nhiệt, thà trải qua chút sóng gió để tăng hương vị tình yêu, còn hơn là lúc nào cũng bình lặng, không có bước đột phá mới.

Trong tương lai, nhiều khả năng bạn sẽ lấy chồng xa hoặc kết hôn với người nước ngoài và có đời sống hôn nhân phóng khoáng, thoải mái, tự do làm những điều mình thích.

Việt Hoàng
 

Dự đoán tương lai giàu nghèo qua những đường vân đặc biệt trong bàn tay
Trong lòng bàn tay, ngoài 3 đường chỉ tay cơ bản là đường Tâm đạo, Sinh đạo và Trí đạo, còn có những đường vân đặc biệt khác như vân đảo, vân lưới... Mỗi đườn

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Đoán hôn nhân bằng 2 đường tình duyên trong tướng bàn tay

Các lễ hội trong ngày mùng 4 tháng 8 âm lịch - Hội Đình Châm Khê

Hội Đình Châm Khê được tổ chức vào ngày mùng 4 tháng 8 âm lịch hàng năm tại huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Các lễ hội trong ngày mùng 4 tháng 8 âm lịch - Hội Đình Châm Khê

Các lễ hội trong ngày mùng 4 tháng 8 âm lịch - Hội Đình Châm Khê

Hội Đình Châm Khê

Thời gian: tổ chức từ ngày 4 tháng 8 âm lịch.

Địa điểm: Thôn Châm Khê (xưa kia có tên chữ là Bùi Xá, tên nôm là làng Bùi), nay thuộc xã Phong Khê, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.

Đối tượng suy tôn: nhằm suy tôn thánh Tam Giang là Trương Hống và Trương Hát - là những danh tướng của Triệu Quang Phục có công đánh giặc Lương ở thế kỉ 6.

Nội dung: Từ sáng ngày 28 tháng Giêng, các gia đình cùng du khách thập phương lên chùa lễ Phật. Quan họ làng Châm Khê, quan họ bạn làng Hạ Giang, Đào Xá, Yên Mẫn, Đông Yên, Bồ Sơn, quan họ từ các địa phương đến trảy hội và tham gia vào hát thờ Phật ở trong chùa, hát vui ngoài sân chùa, trên bờ đê, hát thuyền dưới ao làng hoặc sông Ngũ Huyện Khê…. Buổi tối, quan họ làng Châm Khê mời quan họ bạn về nhà chứa hát canh.

Sáng ngày 23 tháng Giêng, các liền anh, liền chị quan họ làng Châm Khê tham gia vào một tục lệ truyền thống hát quan họ dưới thuyền mang tính diễn xướng nghi lễ trong phần lễ của ngày hội và lấy nước ở giếng tại đền Mẫu trên doi đất Dương Khê giữa sông Ngũ Huyện Khê về chùa tắm Phật. Khác với diễn xướng mang tính nghi lễ của hát quan họ cầu đảo ở làng Viêm Xá, rước Dương Mai công chúa ở Đông Mơi, rước bà Đống ở Đống Cao- Hoà Đình, diễn xướng quan họ đưa nước từ đền mẫu về tắm Phật ở Châm Khê biểu hiện tính cách riêng. Từ sáng sớm, thuyền Rồng chở hai chum to của nhà chùa đã được rửa sạch sẽ ra bãi doi Dương Khê. Khi thuyền Rồng bắt đầu khởi hành, cũng là lúc từ bờ sông, thuyền nan từng đôi san sát, một thuyền nam quan họ song hành với một thuyền nữ quan họ, từng cặp thuyền quay mặt vào nhau, vừa bơi vừa hát quan họ. Họ hát những bài ca ngợi quê hương, đất nước, cầu khấn trời, Phật phụ hộ độ trì cho dân làng luôn được mạnh khoẻ, nhất nhất bình an, mùa màng bội thu, thóc chất đầy bồ. Thuyền Rồng ra đến giếng đền Mẫu, người ta khênh chum đặt lên bờ giếng. Bấy giờ trai gái quan họ dàn thành hai hàng dọc, múc nước ở giếng rồi chuyền tay nhau đổ vào chum, vừa làm vừa hát quan họ. Thuyền Rồng đã quay về, nước đã được mang lên tắm Phật, nhưng nam nữ quan họ vẫn ngồi trên thuyền nan, len lỏi qua những đám lau lách trên sông mà hát tới khuya. Các liền anh, liền chị Châm Khê từ xưa đã có tiếng hát hay, nhiều câu, nhiều giọng. Hát quan họ ở dưới thuyền như thế còn tiếp tục kéo dài tới hết ngày 27 tháng giêng mới mãn cuộc.

Trải qua nhiều thăng trầm của thời gian, quan họ làng Châm Khê vẫn giữ được nét đẹp văn hóa từ xa xưa.Tự hào về truyền thống của làng, các liền anh, liền chị nơi đây luôn có ý thức giữ gìn và phát huy bảo tồn những giá trị văn hóa truyền thông vốn có. Các nghệ nhân nhiều thế hệ chính là nòng cốt trong việc giữ gìn và lan toả quan họ của làng, truyền dạy quan họ cho lớp trẻ để quan họ không bị mai một.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Các lễ hội trong ngày mùng 4 tháng 8 âm lịch - Hội Đình Châm Khê

Luận dụng thần

Một bài viết về luận dụng thần của tác giả Hoàng Đại Lục. Mời các bạn cùng đọc.
Luận dụng thần

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tác giả: Hoàng Đại Lục

Dụng thần là gì? Học giả mệnh lý hiện đại hầu như đều nhất chí cho rằng: Dụng thần tức là mấu chốt của bát tự, là một hai loại ngũ hành co thể gây nên những tác dụng phù ức, điều hậu, thông quan trong bát tự. Hoặc có thể nói, dụng thần chính là "thần" có thể làm cân bằng ngũ hành bát tự, có ích với nhật chủ, nói gọn là dụng thần cân bằng.

Lật giở các thư tịch mệnh lý hiện đại, chúng ta sẽ phát hiện đa số tác giả đều dùng phần lớn số trang sách để luận thuật tác dụng quan trọng của dụng thần và cả phương pháp lựa chọn dụng thần. Các vị ấy còn cho rằng dụng thần không thể bị tổn thương được, dụng thần mà có lực thì mệnh chủ sẽ cát, dụng thần bị thương thì mệnh chủ sẽ hung, do đó điều cơ bản nhất, quan kiện nhất, khó khăn nhất khi xem mệnh chính là tìm đúng dụng thần. Ví dụ như cuốn "Tứ trụ bác quan" do hai vị tiên sinh Lăng Chí Hiên và Trương Chí Xuân biên soạn, trong đoạn "Tường luận dụng thần" có nói: "Hạch tâm trung khu của tứ trụ mệnh lý học là ở tìm dụng thần, muốn biết sự gập ghềnh khúc khuỷu của đường đời nhân sinh, toàn phải nhờ vào dụng thần làm tọa độ để miêu tả. Tìm không ra tọa độ dụng thần, hoặc tìm sai tọa độ dụng thần sẽ thành " Một chữ sai, toàn bàn sai hết". Có thể nói quan điểm về dụng thần của cuốn này đã đại biểu cho mệnh lý hiện hành.

Thế nhưng, muốn tìm đúng cái dụng thần cân bằng này lại là một chuyện khó khăn dị thường. Bởi vì tiền đề của tìm dụng thần đầu tiên là phải nắm bắt chuẩn xác trình độ vượng suy cường nhược của ngũ hành trong bát tự. Mà sự vượng suy cường nhược của ngũ hành trong bát tự lại tùy theo sự giới nhập của tuế vận mà biến hóa không ngừng, muốn cân đo đong đếm nó khác nào đi cân đo đong đếm con khỉ có bảy mươi hai phép thần thông biến hóa! Cho nên thường ba vị mệnh sư phân tích cùng một bát tự sẽ đưa ra hơn ba kiểu vượng suy kết luận. Thế thì cũng như không có kết luận! Lăng Chí Hiên tiên sinh cũng vì thế mà vô cùng đau đầu, ông nói trong cuốn "Tứ trụ bác quan" rằng: "Cho dù là cao thủ mệnh lý đi nữa, khi họ đối diện với một số mệnh tạo có cách cục đặc thù hoặc sự cường nhược không rõ ràng thì cũng cảm thấy bó tay... Người viết cũng từng gặp qua những trường hợp kiểu này, tụ tập bảy tám vị dịch hữu cùng thảo luận, kết quả là mỗi người nói mỗi phách, chẳng ai chịu nhường ai, ai cũng phô ra một kiểu lý luận của riêng mình, cãi lý cả một ngày cũng không giải quyết được vấn đề. Thế đấy, có phải muốn phán đoán chính xác trình độ vượng suy cường nhược của ngũ hành bát tự còn khó hơn Phật Bà phán đoán Tề Thiên thật và Tề Thiên giả không nhỉ?

Nói cách khác, cho dù có ai vào một ngày nào đó dùng tuyệt kỹ tìm dùng thần này mà xem mệnh thì tỷ lệ chuẩn xác chưa chắc đã cao. Tại sao vậy? Đầu tiên, các cách như nhất khí chuyên vượng cách, tòng cường cách, tòng Sát cách, tòng Tài cách, tỉnh lan xoa cách, v.v... vốn không cần đến sự cân bằng ngũ hành của bát tự, cái gọi là dụng thần cân bằng không có chỗ dùng trong các loại cách này. Kế tới, cho dù là mệnh cách thông thường cần ngũ hành cân bằng, chỉ cần bát tự kết cấu không thỏa đáng, phá hoại mất cách cục thì cho dù thân cường Tài vượng hay thân Sát lưỡng đình đi chăng nữa mà dùng dụng thần cân bằng cũng khó đoán chuẩn cát hung họa phúc của người ta. Cho dù là danh sư nhiều năm nghiên cứu mệnh lý cũng không ngoại lệ. Tác giả bộ "Bát tự chân quyết khởi thị lục" là Tống Anh Thành tiên sinh trong bài "Nghiên cứu hỷ dụng thần" đã cảm khái nói: "Tác dụng của dụng thần đôi khi làm người ta cảm thấy khó hiểu, đi đến vận trình của hỷ dụng thần, chẳng những không thăng quan phát tài mà còn bị hao tổn trầm trọng, cơ hàn đói rách, có phải là hỷ dụng thần mà chúng ta chọn khác hẳn với hỷ dụng thần chân chính? Nghĩ tới đây hèn gì có người nghiên cứu hết bao nhiêu kinh thư cổ tịch mà vẫn không thể đột phá."

Nghe câu trên mà thấy rầu! Trải qua chín chín tám mươi mốt tai nạn mới lấy được chân kinh, ấy thế mà "nghiên cứu hết kinh thư cổ tịch mà vẫn không thể đột phá"! Cố gắng hết sức mới chọn được dụng thần mà không xài được!

Để tìm đột phá khẩu, giải cứu dụng thần cân bằng ra khỏi tình huống khó xử, có học giả bèn không thèm chấp vào cách chỉ chọn một dụng thần nữa, mà chọn mấy loại dụng thần từ trong một mệnh, nào là đại dụng thần, tiểu dụng thần, hoặc dụng thần thứ nhất, dụng thần thứ hai, dụng thần thứ ba, hoặc dụng thần cân bằng, dụng thần điều hậu, dụng thần cách cục v.v..., muốn đem càng nhiều dụng thần hơn nữa vô để bịt những lỗ hổng xuất hiện liên tục trong khi dự đoán. Dùng dụng thần cân bằng không thể xử được, bèn dùng dụng thần điều hậu và dụng thần cách cục để xử lý. Ví dụ như nhà mệnh lý học trứ danh là Lương Tương Nhuận tiền bối trong cuốn "Tế phê chung thân tường giải" đã dùng nhiều loại dụng thần để phê mệnh. Ông đã dùng dụng thần điều hậu của Dư Xuân Đài, lại còn dùng dụng thần cách cục của Thẩm Hiếu Chiêm (nhưng không chuẩn), hãy còn dùng dụng thần cân bằng của "Kim Bất Hoán" (thực ra cũng không phải nốt), kết hợp thêm với cả tứ giác hình xung hợp hội, thần sát, nạp âm, v.v... hổ lốn các phương pháp, thậm chí còn bao gồm cả những ngón vụn vặt xác suất trúng cực thấp như "Diễn cầm phu thê - tử nữ biểu".

Cái kiểu dùng nhiều loại dụng thần để xem mệnh này tuy có thể cầm cự được khiếm khuyết do chỉ dùng một dụng thần gây ra, nhưng phương pháp này tự thân nó lại không thể giải quyết được vấn đề mới nảy sinh như sau:

1. Dụng thần đã là mấu chốt của bát tự, thế thì, tổn hại dụng thần có ý nghĩa phá vỡ sự cân bằng ngũ hành trong bát tự, từ đó khiến mệnh chủ gặp tai nạn, đây là quan điểm được tuyệt đại đa số các học giả mệnh lý đồng ý. Nếu sử dụng nhiều dụng thần để đoán mệnh sẽ đồng thời xuất hiện nhiều điểm cân bằng, nhiều điểm mấu chốt. Vấn đề là, nhiều điểm cân bằng ấy có phải quan trọng như nhau không? Giả thiết câu trả lời là khẳng định, thế thì mỗi khi tuế vận phá vỡ bất cứ một điểm cân bằng nào trong đó, cả mệnh cục sẽ mất cân bằng, thế thì các điểm cân bằng còn lại có còn được gọi là điểm cân bằng nữa không? Còn tính là mấu chốt của bát tự nữa chăng?

2. Nếu như quyền lợi của nhiều dụng thần không đồng đẳng, thì cũng như Thị trưởng, Phó Thị trưởng và Trợ lý Thị trưởng vậy, quyền lợi to nhỏ khác hẳn nhau, thế thì, quyền lợi của loại dụng thần nào mới là to nhất? Lương Tương Nhuận tiên sinh cho rằng: "Điều hậu chi dụng, vi bát tự đệ nhất yếu nghĩa". Ông cho rằng dụng thần điều hậu là quan trọng bậc nhất. Thế mà trong "Kim Điếu Thùng" thì nói: "Nếu nhập cách thì lấy quí mà đoán, phá cục thì lấy bần mà đoán, nếu như cách (và) cục bị thương tổn phá hoại sẽ không cát, dù cho có cơ hội hồi thiên chuyển trục thì cũng không thể kiến công lập nghiệp được." Kim Điếu Thùng (Durobi chú thích: Danh gia mệnh lý thời xưa, có viết quyển Lão Kim Điếu Thùng) đem thành cách phá cách xem là tối quan trọng. Thường các mệnh lý học giả cho rằng cân bằng ngũ hành trong bát tự là điều tối quan trọng, và cho điều hậu dụng thần chỉ sử dụng trong trường hợp đặc biệt,, còn cách cục thì lờ luôn, luận cũng được không luận cũng được. Trước ba cách nói như trên, kẻ hậu học biết nghe ai đây nhỉ?

3. Mỗi khi nhiều loại dụng thần xảy ra giao tranh trên cùng một mệnh cục thì phải xử lý thế nào? Ví dụ ngày Canh kim sinh tháng Ngọ, là Chính Quan cách, nếu muốn thủy điều hậu, thủy là Thực Thương, chẳng phải đã phá Chính Quan cách hay sao? Lại ví dụ Tỉnh Lan Xoa cách, ba ngày Canh Tý Canh Thìn Canh Thân, sinh vào tháng Tý, địa chi Thân Tý Thìn toàn đủ, theo lý thuyết phải dùng hỏa để điều hậu, kim thủy Thương Quan hỷ kiến Quan mà, nhưng cách này lại yêu cầu không được gặp hỏa, ca quyết nói: " Tỵ Ngọ Mùi lâm thì đắng cay, Nhâm Quí phá, Bính Đinh xung, trụ và vận không gặp sẽ hiển danh". Câu này ý gặp Tỵ Ngọ Bính Đinh hỏa thì phá cách. Điều hậu dụng thần không hề được hoan nghênh ở đây. Lúc này điều hậu dụng thần có còn là dụng thần nữa không? Nếu bị thương khắc, mệnh chủ sẽ gặp tai hay không? Còn nữa, lúc dụng thần cân bằng và dụng thần cách cục phát sinh giao chiến thì phải hy sinh ai đây? Những vấn đề này đều là những nút thắt cứng của những ai theo thuyết dùng nhiều dụng thần, không ai thể gỡ được, kể cả chính họ.

Một dụng thần không được, nhiều dụng thần cũng không xong, phải làm sao bây giờ? Có người chủ trương phương pháp sau tiết Đông Chí thì đổi trụ năm, có người đề xướng đại vận không phân biệt nam nữ đều thuận hành, Lữ Văn Nghệ tiên sinh ở Sơn Đông kiên quyết chủ trương phế trừ cổ pháp, thứ nhất không bàn vượng suy, thứ hai không bàn cách cục, thứ ba không bàn dụng thần, thứ tư không bàn thần sát, chỉ dùng chiêu sinh khắc "Lữ thị bát tự mệnh lý" là xong. Nhưng, chẳng lẽ môn đoán mệnh của Từ Tử Bình thật vô dụng vậy sao? Các vị toán mệnh tiên sinh từ xưa tới giờ đều không có công phu thực sự hay sao? Hay là chúng ta đã nhầm lẫn điểm quan trọng nào đó? Như Tống Anh Thành tiên sinh nói: "Có phải chăng hỷ dụng thần mà chúng ta đã dùng khác hẳn với hỷ dụng thần thực sự?"

Vâng, chính xác là như vậy! Người viết sau khi nghiên cứu nghiêm túc, phát hiện hỷ dụng thần của hiện đại mệnh lý và hỷ dụng thần của mệnh lý cổ điển là hai thứ hoàn toàn khác nhau! Có ba chứng cứ như sau:

Thứ nhất, trong ba bộ mệnh lý cổ điển "Uyên Hải Tử Bình", "Tam Mệnh Thông Hội" và "Thần Phong Thông Khảo", không hề tìm thấy cái mà hiện đại mệnh lý gọi là dụng thần! Lật bất cứ sách mệnh lý hiện hành nào chúng ta cũng có thể thấy những chương tiết chuyên luận thuật về dụng thần, từ khái niệm về dụng thần phương pháp chọn dụng thần đều được giới thiệu kỹ càng. Nhưng trong các mệnh lý kinh điển như "Uyên Hải Tử Bình" v.v... lại không thấy bất cứ chương tiết nào chuyên luận thuật về dụng thần, cho dù là một đoạn ngắn cũng không có! Những loại "dụng thần" có tác dụng phù ức, điều hậu, thông quan không hề tìm thấy bất cứ chứng cứ nào trong ba quyển sách mệnh lý cổ này. Trời ạ, dụng thần là thứ quan trọng không thể thiếu được như thế, vậy mà cổ nhân lại không hề có một chuyên đề nào để giới thiệu, có phải là rất kỳ quặc không nhỉ? Đối với mệnh lý hiện hành mà nói, đoán mệnh mà không nhắc tới dụng thần thì chỉ là một kẻ a ma tơ. Thế nhưng tổ tông môn Tử Bình của chúng ta là Từ Tử Bình trong cuốn "Uyên Hải Tử Bình" sao không thấy nhắc tới vấn đề dụng thần vô cùng quan trọng này? Dù có kiệm lời tới đâu thì ít ra cũng để lại một đoạn ngắn chứ? Tiếc rằng chúng ta tìm nát trong mấy cuốn sách mệnh lý cổ kia mà vẫn không thấy! Cái mà chúng ta thấy là cổ nhân dùng đến một phần ba cuốn sách để nói đến cách cục, chuyện này thì sách mệnh lý hiện hành không hề có. Điều này chứng tỏ cái gì? Chứng tỏ rằng chỉ có một khả năng, đó chính là trong sách mệnh lý cổ điển căn bản là không hề có loại dụng thần cân bằng ngũ hành bát tự, nếu như có dụng thần thì e rằng dụng thần chính là cách cục.

Thứ hai, dụng thần của mệnh lý lưu hành hiện đại và dụng thần trong sách mệnh lý cổ điển, đặc trưng của cả hai hoàn toàn không phù hợp nhau. Chủ yếu biểu hiện trong ba mặt sau:

1. Dụng thần của mệnh lý hiện hành đặc trưng chính yếu ở chỗ tính bất khả tổn hại của nó. Dùng lời của Chung Nghĩa Minh tiên sinh trong cuốn "Bát Tự Khí Số Mệnh Lý Học" rằng: "Dụng thần là linh hồn của bát tự", "Nên dụng thần không thể bị thương tổn đến, không bị khắc hại hình xung v.v...". Thế nhưng cổ nhân trong "Tứ Ngôn Độc Bộ" lại chỉ ra rằng: "Cách cách thôi tường, dĩ Sát vi trọng, chế Sát vi quyền, hà sầu tổn dụng". Ý của "Hà sầu tổn dụng" chẳng phải là không sợ tổn hại đến dụng thần hay sao? Trong "Nguyệt Đàm Phú" cũng nói: " Cách hữu khả thủ bất khả thủ, dụng hữu đương khí bất đương khí". Nói rõ có lúc cần đến là có thể vứt luôn dụng thần.

2. Dụng thần của mệnh lý hiện hành, đặc trưng thứ yếu của nó là tính thiểu lượng. Nghĩa là dụng thần đã là điểm cân bằng ngũ hành bát tự thì dụng thần sẽ không thể là ngũ hành chiếm số lượng nhiều, bởi vì tổng cộng chỉ có tám chữ, số lượng nhiều lên sẽ phá vỡ cân bằng mà trở thành bệnh trong mệnh cục, cho nên dụng thần thường chỉ chiếm một hai chữ trong mệnh cục, không thể nhiều hơn. Cũng bởi vì phân lượng dụng thần ít cho nên mới sợ bị tổn hại! Thế mà nguyên chú của chương Thể dụng trong "Tích Thiên Tủy" nói: "Nhị tam tứ ngũ dụng thần giả, đích phi diệu tạo". Có nghĩa một bát tự mà có ba bốn năm dụng thần thì không phải mệnh tốt. "Cùng Thông Bảo Giám - Tam xuân Giáp mộc luận" nói: "Phàm dụng thần quá nhiều, không nên khắc chế, tiết đi mới hay". Câu này chúng ta còn có thể tìm thấy trong "Tam Mệnh Thông Hội". Vậy đấy, dụng thần trong sách mệnh lý cổ điển hóa ra còn có lúc đạt đến bốn năm cái, mà còn tiết đi mới tốt nữa!

3. Dụng thần trong mệnh lý hiện hành đặc tính thông thường của nó là tính chỉ có ích mà không có hại. Mệnh lý hiện hành cho rằng bất kể là Tài Quan Ấn Thực hay là Sát Thương Kiêu Nhận, chỉ cần khi được chọn làm dụng thần thì chỉ có ích mà không có hại, giữa chúng không có phân biệt thiện và ác, đã là dụng thần thì không thể bị khắc. Nhưng, dụng thần của cổ nhân không như thế. Chương Luận dụng thần trong "Tử Bình Chân Thuyên" viết: "Tài Quan Ấn Thực, thử dụng thần chi thiện, nhi thuận dụng chi giả dã. Sát Thương Kiêu Nhận, thử dụng thần chi bất thiện, nhi nghịch dụng chi giả dã". Có nghĩa là Tài Quan Ấn Thực là bốn dụng thần thiện, phải bảo hộ nó mà sử dụng. Mà Sát Thương Kiêu Nhận là bốn dụng thần ác, phải chế ước nó mà sử dụng. Đấy, loại dụng thần như vầy thì mệnh lý hiện hành chắc là không có nhỉ!

Thứ ba, cách dùng của dụng thần trong mệnh lý hiện hành và dụng thần trong sách mệnh lý cổ điển không giống nhau. Mệnh lý hiện hành cho rằng sự vượng suy cường nhược và bị khắc hay không của dụng thần vừa quyết định sự phú quí bần tiện của mệnh chủ và cũng chủ tể cát hung họa phúc của mệnh chủ, tác dụng của nó không có thứ nào khác có thể so sánh được. Nhưng chương Luận tướng thần khẩn yếu trong cuốn "Tử Bình Chân Thuyên" lại chỉ rõ: "Thương dụng thậm ư thương thân, thương tướng thậm ư thương dụng". Ý là thương hại đến dụng thần còn gay go hơn thương hại đến nhật nguyên, mà thương hại đến tướng thần còn gay go hơn thương hại đến dụng thần. Có thể thấy còn có tướng thần quan trọng hơn cả dụng thần. "Ngũ Ngôn Độc Bộ" lại nói: "Có Sát chỉ luận Sát, không có Sát mới luận dụng thần". Ý gì nhỉ? Có Thất Sát chẳng lẽ có thể không cần luận dụng thần hay sao? Câu này mệnh lý hiện hành không giải thích nổi. Trong "Bảo Pháp - Quyển nhị" cũng nói: " Phàm thuật xem Tử Bình, thủ cách bất định, thì xem mười sai đến chín". Chú ý nhé, ở đây nói "Thủ cách bất định" chứ không nói "Thủ dụng bất chuẩn" nhé! Có phải cổ nhân thủ cách (chọn cách cục) rõ là hiệu nghiệm hơn chúng ta ngày nay chọn dụng thần không? Thiên mở đầu của "Tinh Vi Thiên" nói: "Phàm khán nhân mệnh, chuyên luận cách cục. Phùng Quan khán Tài, kiến Tài nhi phú quí. Phùng Sát khán Ấn, hữu Ấn dĩ vinh hoa". Ở đây chỉ cường điệu "Chuyên luận cách cục" chứ không phải chuyên luận dụng thần nhé! Mà còn nói thẳng gặp Quan xem Tài, gặp Ấn xem Quan, không như mệnh lý hiện hành ngày nay trước hết phải xem thân vượng thân nhược, thân vượng thì dụng Tài Quan, thân nhược thì dụng Ấn Tỷ. Tại sao cổ nhân không chú trọng đến tiền đề quan trọng là xem thân vượng thân nhược vậy? Tại sao không nói "Phàm thuật xem Tử Bình, thủ dụng bất chuẩn (xác), xem mười sai hết chín"? Nguyên nhân thì chỉ có một thôi, đó chính là dụng thần mà cổ nhân nói tới khác xa lắc xa lơ với dụng thần mà ngày nay chúng ta nói!

Dông dài hồi lâu, chắc độc giả cũng muốn hỏi thế dụng thần trong sách mệnh lý cổ điển là gì thế?

Kỳ thực, định nghĩa dụng thần của cổ nhân rất đơn giản, tức: Dụng thần chính là vật khả dụng của nguyệt lệnh. Hai chữ "khả dụng" này có hai tầng ý nghĩa, một là có những thứ gì có thể dùng? Hai là dùng vào việc gì?

Nguyệt lệnh có những thứ gì có thể dùng? Có sáu thứ có thể dùng, tức: Tài, Quan, Ấn, Sát, Thực, Thương. Dùng vào việc gì? Dùng để cấu thành CÁCH CỤC. Tức là, dụng thần mà cổ nhân nói tới, kỳ thực chính là VẬT mà nguyệt lệnh dùng đến để cấu thành cách cục.

"Tử Bình Chân Thuyên - Luận dụng thần" nói rằng: "Bát tự dụng thần, chuyên cầu nguyệt lệnh. Dĩ nhật can phối nguyệt lệnh địa chi, nhi sinh khắc bất đồng, cách cục phân yên". "Thần Phong Thông Khảo - Thủ cách chỉ quyết ca đoán" nói rằng: "Dĩ nhật vi chủ bản, nhi thủ đề cương vi dụng. Thứ cập niên nguyệt nhật vi thực, phùng Quan khán Tài, phùng Tài khán Sát, phùng Sát khán Ấn, phùng Ấn khán Quan". "Bảo Pháp - Quyển nhị" nói: "Tử Bình chi thuật, dĩ nhật tử vi chủ, tiên khán đề cương vi trọng, thứ dụng niên nguyệt nhật thời chi, hội thành cách cục phương khả đoán chi, giai dĩ nguyệt lệnh vi dụng, bất khả dĩ niên thủ cách". Những lời trên của cổ nhân khi nói đến dụng thần, tất cả đều nhấn mạnh tìm ở nguyệt lệnh, các sách đều coi dụng thần với cách cục làm một. Chúng ta chớ có tưởng rằng cổ nhân nói không rõ ràng, không logic (như Từ Lạc Ngô đại sư tưởng thế), nói không rõ sự tồn tại của dụng thần cân bằng nào là phù ức, điều hậu, thông quan. Thực ra trong mắt cổ nhân, dụng thần chính là vật mà nguyệt lệnh dùng để cấu thành cách cục, hoặc nói dụng thần và cách cục là một.

Chính bởi vì dụng thần chỉ là vật mà nguyệt lệnh dùng để định cách, không phải ở bất cứ vị trí nào khác dùng để cân bằng ngũ hành bát tự, cho nên cổ nhân mới gồm dụng thần và cách cục vô làm một, và đem cách cục vật khả dụng của nguyệt lệnh gọi là nội cách, mà cách cục vật không khả dụng của nguyệt lệnh gọi là ngoại cách (xin tham khảo cuốn "Tử Bình Chân Thuyên Bản Nghĩa của tác giả). Chúng ta biết rằng mệnh lý hiện hành chọn dụng thần không chú trọng đến nguyệt lệnh, cho nên cách cục không phân làm nội cách và ngoại cách, hoặc nói không rõ nguyên do sự phân chia nội cách ngoại cách.

Chính bởi vì dụng thần là vật khả dụng của nguyệt lệnh, không hề là mấu chốt của cả bát tự, cho nên có lúc xuất hiện hiện tượng "dụng thần quá nhiều", dụng thần đã quá nhiều thì mới có câu " dụng thần có cái bỏ đi có cái không thể bỏ đi" và "ngại gì mà không tổn đến dụng thần (hà sầu tổn dụng)", thế mới xuất hiện cách cục câu "Khí Ấn tựuTài", "Khí Quan tựu Thực" v.v... Nếu không thì theo lối suy nghĩ của mệnh lý hiện hành thì chẳng ai giải thích rõ được mấy câu trên.

Chính bởi vì dụng thần là vật khả dụng của nguyệt lệnh, không nhất định là thứ có ích đối với nhật chủ, cho nên dụng thần mới phân thiện và ác, với thiện dụng thần Tài, Quan, Ấn, Thực phải sử dụng với tính chất phù trợ, đối với ác dụng thần Sát, Kiêu, Thương, Nhận thì phải sử dụng có tính chế ước. Cho nên "Ngũ Ngôn Độc Bộ" mới nói " Có Sát thì trước tiên luận Sát, không có Sát mới luận dụng", là bởi vì "Các cách suy cho rõ, lấy Sát làm trọng" ấy mà. Dụng thần của mệnh lý hiện hành phải luận trước cả Sát, lại còn không được chế ước Sát nữa.

Có người phản bác: Trong "Thần Phong Thông Khảo" tuy không có chương tiết chuyên luận dụng thần, nhưng còn có "Bệnh dược thuyết" trứ danh đấy thôi? Trương Nam nói "Dược" chẳng phải là dụng thần của mệnh lý hiện hành hay nói hay sao?

Đúng, mệnh lý hiện hành hay lấy thuyết bệnh dược của Trương Nam để mượn làm dụng thần cân bằng. Nhưng nếu chúng ta đọc kỹ nguyên văn sẽ phát hiện "Dược thần" mà Trương Nam nói chẳng phải là dụng thần cái gì cả. Nguyên văn: "Như dụng Tài kiến Tỷ Kiếp vi bệnh, hỷ kiến Quan Sát vi dược dã. Như dụng Thực Thần Thương Quan, dĩ Ấn vi bệnh, hỷ Tài vi dược dã". Ở đây chẳng phải rõ ràng nói trước "Dụng Tài", sau đó mới nói "Kiến Tỷ Kiếp vi bệnh, hỷ kiến Quan Sát vi dược" hay sao? Câu sau "Như dụng Thực Thần Thương Quan", cũng chính là lấy Thực Thần Thương Quan làm dụng thần. Tài là dụng, Tỷ Kiếp là bệnh, Quan Sát là dược ; Thực Thương là dụng, Ấn là bệnh, Tài là dược, ý quá rõ rồi gì nữa? Còn lý do nào để nói dược thần của Trương Nam chính là dụng thần không?

Kỳ thực, dược thần của Trương Nam chính là "Tướng thần" mà "Tử Bình Chân Thuyên" đã nói tới, chẳng qua Trương Nam không gọi nó là tướng thần mà thôi.

Có lẽ sẽ còn có người lấy những câu bình chú của Nhậm Thiết Tiều trong "Tích Thiên Tủy" để phản bác lại, Nhậm nói: "Ví như nhật chủ vượng, đề cương là Quan là Tài hoặc Thực Thương, đều có thể làm dụng. Nhật chủ suy, đừng tìm tứ trụ can chi vật có giúp thân làm dụng...". Dụng thần mà ông nói ở đây chẳng phải dụng thần cân bằng mà mệnh lý hiện hành hay nói sao?

Đúng, sự ra đời của mệnh lý hiện đại e phải lấy Nhậm Thiết Tiều làm công đầu. Vốn nguyên văn "Tích Thiên Tủy" và các sách cổ điển như "Uyên Hải Tử Bình" là nhất mạch tương thừa, nhưng qua tay hậu nhân chú thích, đặc biệt là sau khi qua tay Nhậm lão tiên sinh chú thích, thì cuốn "Tích Thiên Tủy" đã trở thành nền móng cho mệnh lý hiện hành.

Nhậm Thiết Tiều chú thích chương Bát cách trong cuốn "Tích Thiên Tủy": "Bát cách giả, mệnh trung chính lý dã. Tiên quan nguyệt lệnh sở đắc hà chi, thứ khán thiên can thấu xuất hà thần, tái cứu tư hà lệnh dĩ định chân giả, nhiên hậu thủ dụng, dĩ phân thanh trọc, thử thực y kinh thuận lý, nhược nguyệt phùng Lộc Nhận, vô cách khả thủ, tu thẩm nhật chủ chi hỷ kỵ, lánh tầm biệt chi thấu xuất thiên can giả, tá dĩ vi dụng". (Tám cách là chính lý trong mệnh. Trước phải xem nguyệt lệnh là chi gì, sau xem thiên can thấu xuất thần gì, tiếp coi cái gì nắm lệnh để định thật giả, sau đó chọn dụng thần để phân chia sự thanh trọc, đó thực là thuận lý theo kinh sách, nếu nguyệt lệnh là Lộc Nhận thì không chọn được cách, phải xem xét hỷ kỵ của nhật chủ mà tìm chi khác thấu thiên can mượn đỡ mà dùng). Có thể thấy, phương pháp thủ dụng định cách của họ Nhậm là cơ bản thống nhất với phương pháp "Bát tự dụng thần, chuyên cầu nguyệt lệnh", "Nguyệt Kiếp vô dụng, lánh tầm ngoại cách" trong "Tử Bình Chân Thuyên". Tiếc thay, họ Nhậm không hề thông hiểu mật pháp luận cách cục truyền thống này ("Tích Thiên Tủy" luận cách không kỹ càng bằng "Tử Bình Chân Thuyên"), trong khi gặp khó khăn trong lúc luận mệnh, ông đã không kiên trì giữ vững phương pháp này nữa. Cho nên ông sau chương "Bát cách" lại nói rằng: "Từ mấy mệnh trên có thể thấy, cách cục không thể chấp nhất. Không nên câu thúc ở các cách Tài Quan Ấn..., không liên can gì đến nhật trụ, vượng thì nên ức chế, suy thì nên phù trợ, Ấn vượng tiết Quan mừng Tài tinh, Ấn suy gặp Tài mừng Tỷ Kiếp, đây là phương pháp không thay đổi được". Hèn gì, kiểu phương pháp luận mệnh khinh cách cục, trọng cân bằng này của Nhậm Thiết Tiều chính là lam bản cho mệnh lý hiện hành ngày nay.

Còn chuyện nữa càng khiến người ta tiếc rẻ, sau Nhậm Thiết Tiều là Từ Lạc Ngô đại sư, ông chú thích "Tích Thiên Tủy" mà vô cùng sai lệch nguyên chú, làm cho kẻ hậu học dễ hiểu nhầm nguyên văn, từ đó trượt luôn vào vũng lầy mệnh lý hiện hành. Ví dụ như chương "Thể dụng" của "Tích Thiên Tủy" nguyên chú thích nói rằng: "...nhi nhị tam tứ ngũ dụng thần giả, đích phi diệu tạo". Ý là khi nguyệt lệnh dụng thần số lượng đạt tới bốn hoặc năm, như vậy thì không phải là mệnh tốt nữa. Ví dụ như nguyệt lệnh là Ấn tinh, khi có hai ba Ấn tinh nếu có Tài tinh khắc Ấn, cách cục sẽ thành "Khí Ấn tựu Tài" cách. Nếu Ấn lên tới bốn năm, Tài tinh sẽ không thể nào khắc Ấn được nữa, tốt nhất là dùng Tỷ Kiếp để tiết bớt Ấn, giống như ý của "Cùng Thông Bảo Giám" nói "Hễ dụng thần quá nhiều, không nên khắc chế, cần phải tiết đi mới hay". Nhưng nếu Ấn quá nhiều, một là không có Tài khắc, hai là không có Tỷ Kiếp hóa tiết, vậy nhất định không phải mệnh tốt rồi.

Ấy thế mà do Nhậm Thiết Tiều không hoàn toàn hiểu hết được khái niệm dụng thần này, cho nên khi ông phê chú đoạn trên bèn nói: "Nguyên chú nói rằng: hai ba bốn năm dụng thần thực không phải mệnh tốt. Đấy là nói bậy! Chỉ có tám chữ mà nếu khử đi bốn năm chữ dụng thần thì trừ nhật can ra chỉ có hai chữ không dùng, làm sao thế được!". Nghe ý ông là hiểu không thể có trường hợp một mệnh tạo mà có đến bốn năm dụng thần.

Từ Lạc Ngô đại sư cũng nói đế vào phụ cho họ Nhậm, nói rằng: "Như câu trong nguyên chú hai ba bốn năm dụng thần, họ Nhậm bài xích là phải. Dụng thần làm sao có hai được nói chi đến ba bốn năm dụng thần! (Xem chương Thể dụng tinh thần trong cuốn "Tích Thiên Tủy Bổ Chú của Từ Lạc Ngô)". Ông khăng khăng dụng thần chỉ có một mà thôi, tuyệt không có hai, nói gì đến bốn năm dụng thần! Ông đâu có biết, dụng thần mà nguyên chú "Tích Thiên Tủy" nói hoàn toàn không phải loại dụng thần mà ông và Nhậm Thiết Tiều nghĩ!

Thật là "Một chữ sai, toàn bàn hỏng bét", dụng thần mà sai rồi thì phương pháp luận mệnh cũng sai theo! Không ai ngờ và nghĩ được rằng như hai vị đại sư cấp nhân vật trong làng mệnh lý là Nhậm Thiết Tiều và Từ Lạc Ngô lại nhầm lẫn khái niệm hạch tâm nhất, cơ bản nhất, quan trọng nhất của mệnh học --- DỤNG THẦN!

Con rùa bò phía trước mở đường, con rùa phía sau bò theo. Cứ thế, ngàn ngàn vạn vạn kẻ hậu học theo sau đít hai ông Nhậm, Từ, thoát li khỏi tư tưởng chính tông của Từ Tử Bình, nhắm đến vũng lầy mệnh lý hiện hành vô biên vô tế phía trước mà tiến bước......

Lão Tử nói rất hay, "Ngũ sắc khiến người ta mù". Chỉ có mấy ông thầy bói mù (manh sư) mắt không nhìn được ngũ sắc nữa mới không mù quáng đi theo Nhậm, Từ. Họ đã không thể đọc các danh trước mệnh học của hai ông, cũng không thể tham duyệt tư liệu mệnh lý hiện hành, cho nên họ không bị bất cứ ảnh hưởng nào của mệnh lý hiện đại, vẫn cứ y theo phương pháp xa xưa của Tử Bình mệnh học. Có lẽ họ luận cách tinh xác không bằng "Tử Bình Chân Thuyên", hoặc họ mỗi người có một pho ca quyết luận mệnh cho riêng mình, nhưng khái niệm dụng thần và luận mệnh phép tắc là nhất mạch tương truyền với các kinh điển mệnh lý "Uyên Hải Tử Bình", "Thần Phong Thông Khảo", "Tam Mệnh Thông Hội", "Tử Bình Chân Thuyên" và "Tứ Ngôn Độc Bộ". Người viết quen biết một vị manh sư họ Dương, công phu của ông rất tinh thâm, nổi danh một vùng. Ông có thể thuộc lòng các ca quyết cổ điển như " Tứ Ngôn Độc Bộ", "Ngũ Ngôn Độc Bộ" và "Nguyệt Đàm Phú" v.v..., nhưng ông không hề biết tý gì về cái gọi là dụng thần cân bằng như phù ức, điều hậu, thông quan. Ông cũng giống như nhiều vị manh sư khác, bình thường chỉ nói về cách cục, không nói dụng thần, bởi vì ông giải thích rằng dụng thần chính là cách cục!

Đấy chính là bộ mặt thật của dụng thần, cho dù các thầy mệnh lý hiện đại mở miệng ra là nói tới nhưng cũng không biết tới nó!

Durobi dịch

Bổ sung chuyển từ Hán Việt ra Việt ngữ đoạn này, đoạn thứ 22 từ trên xuống, lúc dịch quên béng mất...

"Tử Bình Chân Thuyên - Luận dụng thần" nói rằng: "Bát tự dụng thần, chuyên cầu nguyệt lệnh. Dĩ nhật can phối nguyệt lệnh địa chi, nhi sinh khắc bất đồng, cách cục phân yên". "Thần Phong Thông Khảo - Thủ cách chỉ quyết ca đoán" nói rằng: "Dĩ nhật vi chủ bản, nhi thủ đề cương vi dụng. Thứ cập niên nguyệt nhật vi thực, phùng Quan khán Tài, phùng Tài khán Sát, phùng Sát khán Ấn, phùng Ấn khán Quan". "Bảo Pháp - Quyển nhị" nói: "Tử Bình chi thuật, dĩ nhật tử vi chủ, tiên khán đề cương vi trọng, thứ dụng niên nguyệt nhật thời chi, hội thành cách cục phương khả đoán chi, giai dĩ nguyệt lệnh vi dụng, bất khả dĩ niên thủ cách".

Chương Luận dụng thần trong sách Tử Bình Chân Thuyên nói rằng: " Dụng thần của bát tự, nên tìm ở lệnh tháng mà thôi. Lấy nhật can phối hợp với địa chi lệnh tháng, bởi do sinh khắc không giống nhau nên phân ra các loại cách cục".

Chương Thủ cách chỉ quyết ca đoán trong sách Thần Phong Thông Khảo nói rằng: "Lấy ngày làm thân gốc, mà lấy đề cương (lệnh tháng) làm dụng. Thứ đến lấy năm tháng ngày làm quả, gặp Quan thì phải xem Tài, gặp Tài thì phải xem Sát, gặp Sát thì phải xem Ấn, gặp Ấn thì phải xem Quan".

Quyển thứ hai của sách Bảo Pháp nói rằng: " Thuật xem Tử Bình, lấy ngày làm chủ, trước hết phải xem đề cương (lệnh tháng) là điểm quan trọng, kế đến dùng chi năm tháng ngày giờ, hội thành cách cục rồi mới có thể đoán, thường các trường hợp đều lấy lệnh tháng làm dụng, không được lấy năm để chọn cách.

(Nguồn: sưu tầm)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Luận dụng thần

Các sao sinh con trong lá số Tử vi

Trong tử vi hầu hết các chính tinh đắc địa trở lên đều có nghĩa là có con. Vì vậy, dưới đây là danh sách các sao chỉ cách hiếm muộn con cái

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Khi xem lá số tử vi, các sao sinh con ảnh hưởng đến có con hoặc hiếm muộn con cái được quy định bởi các chính tinh. Với phụ tinh, có thể cho biết tướng mạo con cái thế nào, sinh nở vuông tròn hay không.

1. Cách tử tức qua các sao

a. Chính tinh: hầu hết các chính tinh đắc địa trở lên đều có nghĩa là có con. Vì vậy, dưới đây là danh sách các sao chỉ cách hiếm muộn con cái:

– Vũ Khúc

– Vũ Khúc, Thất Sát

– Vũ Khúc, Thiên Tướng

– Thất Sát ở Thìn, Tuất, Tý, Ngọ

– Thất Sát, Liêm Trinh

– Tham Lang ở Tý, Ngọ

– Phá Quân

– Phá Quân, Liêm Trinh

– Thiên Đồng ở Thìn, Tuất, Tỵ, Hợi

– Thiên Đồng, Thái Âm ở Ngọ

b. Các phụ tinh:

Thai: có sao này ở Mệnh, Thân, Tử thì khỏi lo tuyệt tự. Tuy nhiên, sao Thai chỉ khả năng có con chứ không hẳn có nghĩa là nuôi được đứa con đó.

Mộc Dục: chỉ sự thụ thai và sinh nở nhiều, ý nghĩa rõ hơn sao Thai.

Long Trì, Phượng Các – Thanh Long: chỉ có con và sinh nở được vuông tròn. Con sinh ra lại đẹp đẽ, dĩnh ngộ.

Tràng Sinh, Đế Vượng: chỉ sự phong phú con, cụ thể là có nhiều con trai.

Ngoài ra, một số sao khác có ý nghĩa tử tức một cách gián tiếp hơn, chỉ sự may mắn, sự sớm con nói chung:

Nguyệt Đức, Thiên Đức – Long Đức, Phúc Đức – Thiên Quan, Thiên Phúc – Tả Phù, Hữu Bật – Dưỡng – Thiên Hỷ, Hỷ Thần – Thiên Mã, Tràng Sinh – Thanh Long, Lưu Hà. Những sao này chỉ xác nhận thêm triển vọng sinh nở vuông tròn, suôn sẻ khi đi chung với sao tử tức kể trên.

2. Cách sinh trai, gái

a. Vấn đề trai nhiều hay gái nhiều trong số con:

Khi nào cung Tử có sao nam đẩu tọa thủ thì có con trai nhiều hơn con gái.

Có 7 sao nam đẩu: Thiên Phủ, Thiên Cơ, Thiên Tướng, Thái Dương, Thiên Lương, Thất Sát, Thiên Đồng.

Khi nào cung Tử có sao bắc đẩu tọa thủ thì có con gái nhiều hơn con trai.

Có 6 sao bắc đẩu: Cự Môn, Tham Lang, Thái Âm, Vũ Khúc, Liêm Trinh, Phá Quân.

Trong trường hợp cung Tử có cả nam, bắc đẩu đồng cung thì căn cứ vào âm dương tính của cung Tử mà xét. Nếu cung Tử ở dương cung thì trai nhiều hơn, ở âm cung thì gái nhiều hơn. Riêng sao Tử Vi vừa là nam đẩu vừa là bắc đẩu nên nếu đi chung với nam đẩu thì trai nhiều hơn, với bắc đẩu thì gái nhiều hơn.

Trong trường hợp cung Tử vô chính diệu thì căn cứ vào chính tinh xung chiếu để tính: nam đẩu là trai, bắc đẩu là gái. Nếu có cả nam, bắc đẩu đồng cung xung chiếu vào cung Tử thì tùy theo cung Tử là dương thì trai nhiều, âm là gái nhiều.

b. Vấn đề tiên đoán sinh trai, gái vào năm sinh nở:

Nếu năm sinh nở rơi nhằm cung có nam đẩu thì sinh trai, có bắc đẩu thì sinh gái. Nếu có cả nam bắc đẩu đồng cung thì căn cứ vào dương cung của năm sinh để đoán trai, âm cung để đoán gái. Nếu năm sinh rơi vào vô chính diệu thì dựa theo trường hợp vô chính diệu ở đoạn trên mà tính.

c. Tuần, Triệt và vấn đề trai gái:

Trong mọi trường hợp cung của năm sinh nở gặp Tuần hay Triệt hoặc Tuần, Triệt đồng cung thì mọi kết luận phải đảo ngược.

d. Vấn đề trai hay gái đầu lòng:

Nếu cung Tử có nam đẩu thì sinh con trai trước, nếu có bắc đẩu thì sinh con gái trước. Nếu từ cung Tử biết con đầu lòng là trai mà đến năm sinh nở lại sinh gái thì phải đoán rằng sinh gái đầu lòng khó nuôi còn sinh đúng trai thì dễ nuôi. Ngược lại, nếu cung Tử cho biết con gái đầu lòng mà vào hạn sinh nở lại gặp trai thì khó nuôi.

3. Số lượng con

a. Các sao đông con:

Sao Tràng Sinh: 8 con và sao Đế Vượng: 7 con.

Những sao hay bộ sao 5 con bao gồm:

Tử Vi ở Ngọ – Tử, Phủ đồng cung – Thiên Phủ ở Tỵ, Hợi – Thái Dương, Thái Âm sáng sủa – Thái Dương, Thái Âm đồng cung – Thái Dương, Thiên Lương ở Mão – Thiên Lương ở Tý, Ngọ – Thiên Đồng, Thái Âm ở Tý – Thiên Đồng, Thiên Lương ở Dần – Thiên Cơ, Thiên Lương đồng cung – Thiên Cơ, Thái Âm ở Thân – Cự Môn ở Hợi, Tý, Ngọ.

b. Các sao có số con trung bình

Từ 3-5 con, bao gồm: Tử Vi ở Tý – Liêm Trinh, Thiên Phủ đồng cung – Thiên Phủ ở Sửu, Mùi, Mão, Dậu – Thiên Đồng ở Mão – Cự Môn, Thái Dương ở Dần, Thân – Thiên Tướng ở Tỵ, Hợi, Sửu, Mùi – Thái Dương, Thiên Lương ở Dậu – Thái Dương hay Thái Âm hãm – Thái Âm, Thiên Cơ ở Dần – Tham Lang ở Thìn, Tuất – Thiên Lương ở Sửu, Mùi, Tỵ, Hợi – Cự Môn, Thiên Đồng đồng cung – Thất Sát ở Dần, Thân – Phá Quân ở Tý, Ngọ – Tử Vi, Thất Sát đồng cung – Quan Đới, Lâm Quan, Dưỡng – Tả Phù, Hữu Bật

c. Các sao ít con, làm giảm số con

Ít con được kể như có hai hay một người con, bao gồm các sao hay bộ sao còn lại, ngoại trừ các sao kể trong cách hiếm muộn. Trong số các sao làm giảm số con, đặc biệt có sao:

– Lộc Tồn: làm giảm đi hai con

– Tuần hay Triệt gặp chính tinh sáng sủa, sẽ làm giảm một nửa số con.

4. Cách sinh đôi

Những bộ sao có ý nghĩa sinh đôi khá chắc chắn bao gồm:

– Thai, Nhật, Nguyệt đồng cung

– Nhật, Nguyệt ở Tử giáp sao Thai

– Thai, Tả, Hữu đồng cung

Những bộ sao dưới đây không chắc chắn lắm: Thái Dương, Thiên Hỷ – Thái Âm, Thiên Phúc – Hỷ Thần, Tuyệt đồng cung – Thiên Mã, Tả, Hữu, Địa Không đồng cung.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Các sao sinh con trong lá số Tử vi

Trừ âm sát trong phòng vệ sinh giúp gia chủ thêm khỏe mạnh

Những căn hộ chung cư hoặc nhà phố hiện nay thường bố trí nhà vệ sinh kết hợp nhiều chức năng như tắm, giặt đồ... khiến bên trong nó chứa nhiều âm sát.
Trừ âm sát trong phòng vệ sinh giúp gia chủ thêm khỏe mạnh

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Nếu không tìm cách hóa giải sát khí này, sức khỏe và tài vận của gia chủ sẽ chịu ảnh hưởng xấu.


► Xem thêm: Các bố trí phong thủy phòng ngủ chuẩn tránh ma quỷ quấy nhiễu

Đối với những căn hộ khép kín, dù đặt nhà vệ sinh ở vị trí riêng hoặc để trong phòng ngủ vẫn là nơi ẩm thấp và chứa nhiều sát khí nhất. Sát khí này thuộc về âm sát, có thể gây ra bệnh tật, ốm đau và cản trở tài vận của gia chủ.
 
Theo thuyết Đông y, âm sát chủ về huyết, thường gây ra những bệnh về thận, tì, hệ tiêu hóa. Và một trong những biểu hiện ban đầu là những người bị âm sát hoành hành là mất ngủ, cơ thể mệt mỏi, suy nhược, da dẻ xỉn màu, thiếu sức sống…
 
Dưới đây là những cách đơn giản giúp hóa giải âm sát, mang lại không gian sống thoáng đãng, giúp tăng cường sức khỏe và tài lộc cho gia chủ.

1. Đảm bảo vệ sinh sạch sẽ
 
Phòng vệ sinh cần phải đảm bảo sạch sẽ, khô thoáng, thông gió và đầy đủ ánh sáng (nếu bố trí cửa sổ thì càng tốt). Như vậy sẽ giảm thiểu phần nào ảnh hưởng của âm sát.

Tru am sat trong phong ve sinh giup gia chu them khoe manh hinh anh
Ảnh minh họa

2. Vị trí đặt nhà vệ sinh

 
Không nên thiết kế nhà vệ sinh ở vị trí chính giữa căn hộ bởi đây là vị trí của ngôi thái cực, nơi hội tụ vương khí, ảnh hưởng đến toàn cục diện vận khí của gia đình. Nếu đặt vào vị trí này, âm khí sẽ chiếm ưu thế áp đảo thái cực khiến sức khỏe và tài lộc của gia chủ bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
 
Tránh đặt nhà vệ sinh tại các cung Tý, Ngọ, Mão, Dậu (thuộc tứ chính) vì sẽ khiến con cái học hành không tiến bộ, quan vận không hanh thông; Càn, Tốn, Cấn, Khôn (thuộc tứ ngung) thì con cháu ngỗ ngược, gia đạo bị phá bại; vùng quỷ môn (Đông Bắc – Tây Nam) thì trạch vận không tốt, tổn hại người phụ nữ trong gia đình.

3. Phương hướng đặt nhà vệ sinh
 
Những hướng thích hợp để đặt nhà vệ sinh là Thìn, Tỵ, Bính, Đinh, Canh, Tân, Tuất, Hợi, Nhâm, Quý, Giáp, Ất (lấy trung tâm ngôi nhà là điểm thái cực để xác định các hướng này).
 
Theo đó, nếu phòng vệ sinh của những căn hộ nằm về phía Bắc, Nam, Đông hoặc Đông Nam của tòa nhà thì cửa phòng vệ sinh nên quay ra hướng Thìn, Tỵ, Bính, Đinh, Nhâm, Quý, Giáp và Ất. Còn nếu nằm ở phía Đông Bắc, Tây Bắc, Tây hoặc Tây Nam thì phù hợp với các hướng còn lại là Canh, Tân, Tuất và Hợi.
 
ST    
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Trừ âm sát trong phòng vệ sinh giúp gia chủ thêm khỏe mạnh
Click to listen highlighted text! Powered By DVMS co.,ltd