Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,...   Click to listen highlighted text! Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,... Powered By DVMS co.,ltd
Kính mời quý khách like fanpage ủng hộ Vạn Sự !

Vạn Sự

Số lượng cá nuôi trong bể cá

1. Loại cá nên nuôi - Nên nuôi 1 loại hay chỉ 2 loại. - Không nên nuôi 3 loại cá trong cùng một bể cá
Số lượng cá nuôi trong bể cá

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


2. Màu sắc 
- Màu vàng kim, màu trắng ( hành kim)
- Màu đem ( hành thủy)
- Màu xanh ( hành mộc)
- Màu đỏ (hành hỏa)
- Màu Vàng (hành thổ)

3. Số lượng cá nuôi trong bể cá
Số lượng cá nuôi trong bể phải căn cứ vào vị trí đặt bể cá tại cung vị nào trong 8 cung khí trường của ngôi nhà hoặc công ty
- Đặt tại phía Bắc thì nuôi 1 con cá Đen ( trắng hoặc vàng kim), hoặc 1 cá đen và 6 cá vàng kim
- Đặt tại phí đông băc thì nuôi 8 con cá vàng
- Đặt tại phía đông thì nuôi 3 con có đen hoặc xanh
- Đặt tại phí đông nam thì nuôi 3 con cá đen hoặc xanh
- Đặt tại phía nam thì nuôi 9 con cá màu đỏ hoặc 2 cá xanh và 7 cá đỏ
- Đặt tại phía tây nam thì nuôi 8 con cá vàng
- Đặt tại phía tây thì muôi 6 con cá trắng hoặc vàng kim
- Đặt tại phía tây bắc thì nuôi 6 con cá trằng hoặc vàng kim

 Chú ý: Nên thiết kế bể cá cảnh có số đo đẹp theo phong thủy để đón vận may.

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Số lượng cá nuôi trong bể cá

Cấm kị bày gương, TV, laptop,...phá rối giấc ngủ

Phong thủy trong phòng ngủ rất quan trọng đối với sức khỏe và mối quan hệ của các cặp vợ chồng. Chuyên gia phong thủy Kenny Hồ sẽ cho các bạn một số lời khuyên khi bài trí phòng ngủ.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Về mặt tâm lý, treo ảnh cưới giúp gia tăng sự lãng mạn giữa hai vợ chồng khi luôn nhắc nhở về giây phút thiêng liêng và hạnh phúc nhất của tình yêu đôi lứa. Khi treo ảnh cưới trong phòng, tránh vị trí đầu giường mà nên để ở phía trước. Ngoài ra, các khung ảnh khác cũng liên quan đến tình yêu như hoa cỏ, ảnh kỉ niệm,...không nên tren ở các góc chính Đông, Tây, Nam và Bắc vì chúng có thể kéo đến người thứ ba phá vỡ mối quan hệ của hai vợ chồng.

- Đầu giường nên vững chắc và có tường nâng đỡ phía sau. Một bức tường vững vàng đóng vai trò hỗ trợ và nhờ đó tâm lý của bạn luôn ổn định, có giấc ngủ sâu hơn so với nằm ngủ dưới cửa sổ.

- Không nên đặt bàn thờ ở trong phòng ngủ. Chúng sẽ gây ra giấc ngủ mộng mị, qua đó ảnh hưởng sức khỏe. Thêm vào đó, đặt bàn thờ trong phòng ngủ là bất kính với thần linh, tổ tiên nếu xét theo vấn đề tâm linh.

 Cấm kị bày gương, TV, laptop,...phá rối giấc ngủ - 1

- Hạn chế bày gương trong phòng ngủ, đặc biệt tránh vị trí đối diện giường ngủ và cửa ra vào. Nếu đặt gương đối diện cửa sổ, chúng có thể hấp thụ năng lượng tiêu cực từ bên ngoài vào. Nếu có gương ở mặt trong của tủ quần áo thì chúng cũng không nên chiếu vào giường khi mở ra.

- Màn hình TV hoạt động như một tấm gương. Vì vậy, TV không đặt đối mặt trực tiếp với giường ngủ. Thêm vào đó, nên hạn chế các đồ điện tử trong phòng vì sẽ tạo ra các bức xạ không tốt cho não bộ và sức khỏe mọi người trong gia đình.

 Cấm kị bày gương, TV, laptop,...phá rối giấc ngủ - 2

- Không sơn phòng màu đỏ, hồng, nâu hoặc màu vàng - những đại diện cho yếu tố lửa và đất. Chúng kích thích thần kinh khiến con người khó rơi vào trạng trái buồn ngủ.

- Nếu cửa phòng tắm đối diện phòng ngủ, gia đình phải đóng kín cả hai cửa suốt cả ngày. Không xét về mặt phong thủy nhưng trong kiến trúc nhà cửa sẽ giúp vi khuẩn, độ ẩm trong phòng vệ sinh không ám sang phòng ngủ.

- Không lắp quạt trần, đèn chùm phía trên giường ngủ.

- Hạn chế bày cây trong phòng ngủ, nếu có chỉ cần một chậu cây nhỏ để thanh lọc không khí. Nếu bày quá nhiều cây hoặc cây quá to, vào ban đêm chúng sẽ hút bớt lượng oxy và thải ra khí các-bo-nic không tốt cho sức khỏe con người.

Theo Đông Đông (Fengshui) (Khám phá)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Cấm kị bày gương, TV, laptop,...phá rối giấc ngủ

Mơ thấy nữ tiếp viên: Dục vọng giảm sút –

Nữ tiếp viên có nhiệm chăm sóc phục vụ khách hàng. Hình ảnh nữ tiếp viên trong mơ thường liên quan đến quan hệ nam nữ, có đặc điểm của “mục đích giới tính”.   Vì thế, nếu nam giới mơ thấy nữ tiếp viên, cho thấy dục vọng bị hạ thấp, ý nghĩa tượng
Mơ thấy nữ tiếp viên: Dục vọng giảm sút –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Mơ thấy nữ tiếp viên: Dục vọng giảm sút –

Làm sao để đặt tên con theo tuổi, hợp mệnh

Ngoài ý nghĩa tên theo vần, bạn có thể xem tuổi và bản mệnh của con để đặt tên cho phù hợp. Tên hay và hợp tuổi, mệnh sẽ đem lại nhiều điều tốt đẹp cho con

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Ngoài ý nghĩa tên theo vần, bạn có thể xem tuổi và bản mệnh của con để đặt tên cho phù hợp. Một cái tên hay và hợp tuổi, mệnh sẽ đem lại nhiều điều tốt đẹp cho con bạn trong suốt đường đời. Bạn có thể tham khảo cách đặt tên con theo tuổi, theo bản mệnh.

dat-ten-con-theo-tuoi,-hop-menh

Đặt tên cho con theo tuổi

Để đặt tên theo tuổi, bạn cần xem xét tuổi Tam Hợp với con bạn. Những con giáp hợp với nhau như sau:

Thân – Tí – Thìn
Tỵ – Dậu – Sửu
Hợi – Mão – Mùi
Dần – Ngọ – Tuất
Dựa trên những con giáp phù hợp bạn có thể chọn tên có ý nghĩa đẹp và gắn với con giáp Tam Hợp.

Ngoài ra cần phải tránh Tứ Hành Xung:

Tí – Dậu – Mão – Ngọ
Thìn – Tuất – Sửu – Mùi
Dần – Thân – Tỵ – Hợi

Đặt tên cho con theo bản mệnh

Bản mệnh được xem xét dựa theo lá số tử vi và theo năm sinh, tùy theo bản mệnh của con bạn có thể đặt tên phù hợp theo nguyên tắc Ngũ Hành tương sinh tương khắc. Dựa theo Tử Vi, các tuổi tương ứng sẽ như sau:

Thìn, Tuất, Sửu, Mùi cung Thổ
Dần, Mão cung Mộc
Tỵ, Ngọ cung Hỏa
Thân, Dậu cung Kim
Tí, Hợi cung Thủy

Bạn có thể kết hợp theo từng năm sinh để lựa chọn tên theo bản mệnh phù hợp nhất, ví dụ:

Canh Dần (2010), Tân Mão (2011): Tòng Bá Mộc (cây tòng, cây bá)

Nhâm Thìn (2012), Quý Tỵ (2013): Trường Lưu Thủy (nước chảy dài)

Giáp Ngọ (2014), Ất Mùi (2015): Sa Trung Kim (vàng trong cát)

Bính Thân (2016), Đinh Dậu (2017): Sơn Hạ Hỏa (lửa dưới núi)

Mậu Tuất (2018), Kỷ Hợi (2019): Bình Địa Mộc (cây mọc đất bằng)

Như vậy, nếu con bạn mệnh Mộc thì bạn có thể chọn tên liên quan tới Thủy (nước), Mộc (cây) hay Hỏa (lửa) để đặt tên cho con bởi Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa… Các tuổi khác cũng tương tự, dựa vào Ngũ Hành tương sinh, tránh tương khắc sẽ giúp mọi sự hạnh thông, vạn sự như ý.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Làm sao để đặt tên con theo tuổi, hợp mệnh

Những kiến thức cơ bản về địa chi trong tử vi (phần 2)

Địa chi có ứng dụng nhiều trong xem tử vi, đặc biệt là tử vi đời sống. ## xin cung cấp tới bạn đọc những kiến thức cơ bản về địa chi để tham khảo.
Những kiến thức cơ bản về địa chi trong tử vi (phần 2)

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Địa chi có ứng dụng nhiều trong xem tử vi, đặc biệt là kiến thức tử vi đời sống. Nhưng, nhiều người chưa hiểu đầy đủ, dẫn tới trường hợp xem xét phiến diện, thiếu sót. ## xin cung cấp tới bạn đọc những kiến thức cơ bản về địa chi để tham khảo.


Nhung kien thuc co ban ve dia chi trong tu vi phan 2 hinh anh
 
  9. Địa chi Lục xung: Tý Ngọ xung một thân bất an, Sửu Mùi , Dần Thân xung thích xen vào việc của người khác, đa tình, Mão Dậu xung bội ước bội tín, Thìn Tuất xung khắc con cái, Tỵ Hợi xung giúp kẻ tiểu nhân, Sửu Mùi xung vất vả trắc trở.   Chi năm và chi ngày xung thì bất hòa với người thân. Chi ngày và chi giờ xung thì khắc vợ, chi ngày và chi tháng xung thì xúc phạm cha mẹ hoặc anh chị em.    Tý Ngọ Mão Dậu là xung về đất đai, nhà cửa hay thay đổi, Thìn Tuất Sửu Mùi là xung về sự nghiệp, công tác hay thay đổi, Dần Thân Tỵ Hơi là xung về đất đai và sự nghiệp, nơi ở và công việc hay thay đổi.   Chi năm và chi giờ giống nhau mà xung chi tháng và chi năm giống nhau; hoặc chi tháng và chi ngàu giống nhai mà xung chi năm và chi giờ diống nhau thì nhất định đoản thọ hoặc thanh niên gặp họa lớn.   Thập can tọa chi và hành vận tốt xấu Bảng hợp, xung, hình, hại của các địa chi Thiên can tương vận và địa chi tương liên
10. Địa chi tương hình: Dần Tỵ Thân, Sửu Tuất Mùi, Thìn Tuất Mùi tam hình, Thìn Ngọ Dậu Hợi tứ hình, Sửu Tuất, Tý Mão, Dần Tỵ hỗ hình, Thìn Thìn, Ngọ Ngọ, Dậu Dậu, Hợi Hợi tự hình.
  11. Địa chi tàng can: Tý tàng Quý, Sửu tàng Kỷ, Quý, Tân, Dần tàng Giáp, Bính, Mậu, Mão tàng Ất, Thìn tàng Mậu, ất, Quý, Tỵ tàng Bính, Mậu, Canh, Ngọ tàng Đinh, Kỷ, Mùi tàng Kỷ, Đinh, Ất, Thân tàng Canh, Nhâm, Mậu, Dậu tàng Tân, Tuất tàng Mậu, Tân, Đinh, Hợi tàng Nhâm, Giáp.   12. Địa chi ứng với các bộ phận trên cơ thể: Tý – tam tiêu (thượng tiêu là lưỡi, thực quản, tim phổi; trung tiêu là dạ dày; hạ tiêu là ruột non, ruột già, thận và bàng quang), Sửu – dạ dày, lá lách, Dần – tay, mật, Mão – gan, ngón tay, Thìn – bả vai, ngực, dạ dày, Tỵ - mặt, cổ họng, răng, tim, Ngọ - mắt, ruột non, Mùi – lưng, lá lách, Thân – đại tràng, Dậu – máu huyết, phổi, Tuất – hậu môn, dạ dày, chân, Hợi – đầu, thận, tim.
Hi vọng rằng những kiến thức cơ bản về địa chi ở trên sẽ giúp bạn đọc có cái nhìn toàn diện hơn, đầy đủ hơn về phương diện này và ứng dụng tốt vào tử vi trong đời sống hàng ngày.
 
Xem về hình xung hóa hợp của can chi (P3) Cát, hung của thái tuế
Thái Vân

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những kiến thức cơ bản về địa chi trong tử vi (phần 2)

Tiết khí Hàn Lộ, thu chuyển sang đông

Hàn Lộ, tiết khí thứ 17 trong 24 tiết khí hàng năm, bắt đầu từ ngày 8 hoặc 9 tháng 10 đến ngày 23 hoặc 24 tháng 11. Bắt đầu từ đây, không khí trở nên lạnh lẽo.
Tiết khí Hàn Lộ, thu chuyển sang đông

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Hàn Lộ, tiết khí thứ 17 trong 24 tiết khí hàng năm, bắt đầu từ ngày 8 hoặc 9 tháng 10 đến ngày 23 hoặc 24 tháng 11. Bắt đầu từ đây, không khí trở nên lạnh lẽo, nhiệt độ thấp, chuyển sang mùa đông.


► Tra cứu: Lịch âm, Lịch vạn niên 2016 chuẩn xác tại Lichngaytot.com

Tiet khi Han Lo, thu chuyen sang dong hinh anh
 
Tiết Hàn Lộ là thời điểm Mặt Trời ở kinh tuyến 195 độ. Thời tiết lạnh, sương đọng nhiều, kết trắng trên mặt đất, hàn khí thịnh vượng. Hàn Lộ có ý nghĩa là nhiệt độ còn thấp hơn tiết Bạch Lộ, hơi nước đã sắp két thành sương. Nếu như Bạch Lộ là tiết khí chuyển từ nóng bức sang mát mẻ, khí nóng chưa hoàn toàn tiêu tán thì Hàn Lộ lại là tiết khí chuyển từ mát sang lạnh. Dân gian có câu "Hàn lộ hàn lộ, khắp nơi lạnh lộ" chính là vì như vậy.   Tiết Hàn Lộ, Mặt Trời rời xích đạo, đi từ vĩ tuyến 5°57′  Nam đến vĩ tuyến 11°32′ Nam, lúc này ở Bắc bán cầu, biên độ Mặt Trời từ lớn biến thành nhỏ, mặt đất tiếp thu nhiệt lượng ít hơn hẳn so với mùa hè, nhiệt độ giảm xuống, khí hậu dùng từ lạnh giá để miêu tả.   Bước vào tiết Hàn Lộ, mùa mưa kết thúc, khí trời thường là ngày ấm đêm lạnh, bầu trời trong trẻo, cảnh tượng cuối thu hết sức đẹp đẽ và lãng mạn. Bởi khí trời dần lạnh, cây cối hoa cỏ sắp héo tàn, người xưa gọi đây là thời điểm “từ thanh”, tức là giã biệt cây cỏ. 
Tiet khi Han Lo, thu chuyen sang dong hinh anh
 
Hàn Lộ và Tết Trùng Cửu 9/9 âm lịch gần nhau, có năm là cùng một lúc, hoa cúc nở rộ, để trừ khô háo, nóng trong, táo bón, nên uống trà hoa cúc hoặc rượu hoa cúc để thanh lọc cơ thể, mát gan, giải độc. Đồng thời, đây cũng là tập tục truyền thống trong Tết Trùng Cửu. 
 
Rượu hoa cúc làm từ hoa cúc, gạo nếp, men rượu, ủ, còn gọi là rượu trường thọ, có vị mát, dưỡng gan, sáng mắt, kiện não, tăng cường trí nhớ.   Hàn Lộ là thời điểm bắt đầu mùa đông, âm dương chuyển biến, dương khí dần lui nhường chỗ cho âm khí, hoạt động sinh lý của thân thể cũng cần thích ứng với sự biến hóa tự nhiên này. Dưỡng sinh trong tiết Hàn Lộ lấy cân bằng âm dương làm chủ, đúng theo nguyên tắc “xuân hạ nuôi dương, thu đông dưỡng âm”.    Vì thế, bước vào Hàn Lộ, hãy thu dương khí trong thân thể lại, nuôi dưỡng âm tinh, bảo vệ và thông phổi. Tăng cường ăn vừng, gạo nếp, gạo tẻ, mật ong, sữa, cá, tôm, thịt vịt, thịt bò,…. Hạn chế đồ ăn cay nóng như tiêu, gừng, hành, tỏi,…
Món ăn dưỡng sinh trong 24 tiết khí (phần 1) Món ăn dưỡng sinh trong 24 tiết khí (phần 2) Món ăn dưỡng sinh trong 24 tiết khí (phần 3) Trần Hồng
 

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tiết khí Hàn Lộ, thu chuyển sang đông

Cách hóa giải nhà ở ngã ba –

Áp dụng một vài giải pháp phong thủy đơn giản có thể thay đổi năng lượng của một ngôi nhà nằm ở vị trí ngã ba đường. Nếu ngôi nhà của bạn nằm tại vị trí ngã ba đường, bạn có thể từng nghe thấy rằng đây là điều không tốt theo phong thủy. Mặc dù, nó là

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Áp dụng một vài giải pháp phong thủy đơn giản có thể thay đổi năng lượng của một ngôi nhà nằm ở vị trí ngã ba đường.

Nếu ngôi nhà của bạn nằm tại vị trí ngã ba đường, bạn có thể từng nghe thấy rằng đây là điều không tốt theo phong thủy. Mặc dù, nó là một trường hợp rất chung chung vì mỗi ngôi nhà là duy nhất. Có một vài lý do tại sao thậm chí những ngôi nhà có dòng chảy năng lượng, hoặc thiết kế phong thủy nội thất tốt vẫn khó có thể thu hút nguồn khí vì nằm tại vị trí ngã ba.

Đơn giản mà nói, những vấn đề sau chỉ ra lý do vì sao một ngôi nhà tại vị trí ngã ba cần sự giúp đỡ trong việc cải thiện phong thủy của nó:

– Một ngã ba tạo nên sự tái chế, hoặc qua lại liên tục của cùng một năng lượng giữa ba ngôi nhà hoặc nhiều hơn.

– Chất lượng của năng lượng tại vị trí ngã ba thường là hỗn loạn và không ngưng nghỉ, hoặc thấp và trì trệ, tùy thuộc vào các chi tiết cụ thể của ngã ba và phong thủy ngoại thất của ngôi nhà được xây dựng tại đó.

– Lượng năng lượng thường là sẽ cần thiết, hoặc cần có cho một ngôi nhà thì giờ đây phải chia sẻ cho nhiều ngôi nhà. Nói cách khác, những ngôi nhà tại vị trí ngã ba đang phải đấu tranh để có nhiều khí hoặc năng lượng phong thủy hơn.

nhangaba1

Khám phá những giải pháp phong thủy chính cho một ngôi nhà ở vị trí ngã ba: 

– Phong thủy cảnh quan thông minh luôn luôn được khuyến khích để thu hút cũng như giữ lại một năng lượng có chất lượng tốt hơn. Ví dụ, một ngôi nhà có sự ủng hộ tốt, mạnh mẽ sẽ luôn luôn thu hút và lưu giữ nhiều năng lượng hơn một ngôi nhà không hề có sự ủng hộ.

Một hàng cây cao phía sau nhà có thể là một giải pháp đơn giản. Ý tưởng phong thủy cảnh quan tương tự áp dụng cho phía trước của ngôi nhà, nhưng theo một cách khác biệt. Nếu bạn cố gắng tạo ra một đường cong sinh động tới cửa chính với sự kết hợp của màu xanh lá cây tươi tốt và những hòn đá đẹp mắt thì nó sẽ thu hút một năng lượng có chất lượng tốt hơn nhiều so với một đường thẳng đơn điệu.

nhangaba2

– Một tính năng nước bên ngoài (tốt nhất là nước có chuyển động) được khuyến khích trong phong thủy để làm mới và nâng cao năng lượng của một ngã ba. Một đài phun nước phong thủy ngoài trời dù tinh vi hay đơn giản, nó đủ khả năng để bạn quyết định điều gì sẽ tốt nhất cho ngôi nhà và túi tiền của bạn. Có một số yếu tố để cân nhắc khi làm việc với một tính năng nước theo phong thủy, chẳng hạn như đối diện với hướng nhà cũng như hướng của dòng nước chảy.

– Một yếu tố trang trí vườn chuyển động, ví dụ như một chiếc chong chóng, hoặc tác phẩm điêu khắc… đều là giải pháp phong thủy tuyệt vời để làm mới và nâng cao năng lượng. Làm việc với các yếu tố phong thủy này cần quan tâm đến hướng của ngôi nhà.

Ví dụ, một tác phẩm điêu khắc bằng kim loại là rất tuyệt vời cho các khu vực ở hướng Tây, Tây Bắc và Bắc. Trong khi đó, cần tránh xa các hướng Đông, Đông Nam và Tây Nam.

nhangaba3

– Cửa chính của một ngôi nhà ở vị trí ngã ba cần có cả sự bảo vệ và tăng cường. Bạn luôn luôn có thể tăng cường cửa chính bằng màu sắc phong thủy phù hợp. Ví dụ, với một cánh cửa chính hướng Nam, bạn chắc chắn có thể sử dụng màu đỏ rực rỡ để tạo ra năng lượng tốt đẹp.

Như bất kỳ khuyến khích phong thủy tổng quát nào, tốt nhất nên ghi nhớ rằng mỗi ngôi nhà là duy nhất. Do đó, để nói rằng một ngôi nhà tại vị trí ngã ba có phong thủy xấu không hoàn toàn chính xác. Hàng loạt các yếu tố xung quanh khác nhau như độ dài của con đường tới vị trí ngã ba, ngôi nhà nằm tại vị trí nào của ngã ba cũng như mối quan hệ giữa những ngôi nhà tại vị trí ngã ba phải được xem xét đến.

Một khu vườn phong thủy hình tròn nhỏ hoặc một tính năng nước đặt ở vị trí trung tâm của ngã ba sẽ tạo ra năng lượng tốt hơn rất nhiều.

nhangaba4

Một ngôi nhà tại vị trí ngã ba cần được quan tâm chăm sóc cẩn thận hơn, nhưng không cần quá lo lắng về việc phong thủy của nó là xấu vì luôn luôn có các biện pháp để cải thiện tình trạng này.

 


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Cách hóa giải nhà ở ngã ba –

Bố cục căn nhà tọa Mão hướng Dậu và tọa Ất hướng Tân –

Bố cục tọa Mão hướng Dậu và toạ Ất hướng Tân: Căn nhà này có hai ngôi sao vượng bay đến. Đây là bố cục đại cát, nhưng cửa ra vào lại mở sai vị trí. Tài vận: Quay đầu ra hướng Tây là hướng hai ngôi sao vượng bay đến. Nếu trên bệ cửa sổ phòng ngủ

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Bố cục tọa Mão hướng Dậu và toạ Ất hướng Tân: Căn nhà này có hai ngôi sao vượng bay đến. Đây là bố cục đại cát, nhưng cửa ra vào lại mở sai vị trí.

p39

Tài vận: Quay đầu ra hướng Tây là hướng hai ngôi sao vượng bay đến. Nếu trên bệ cửa sổ phòng ngủ ở hướng Tây đặt một số đồ vật khai vận chiêu tài như kỳ lân thì có tác dụng ổn định thu nhập, tụ tập tài khí.

Sức khoẻ nhân đinh: Nhà bếp không có bất cứ vật cát tường nào. Nên đặt nồi cơm điện tại vị trí gần cửa nhà bếp để tăng cường vận sức khoẻ.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Bố cục căn nhà tọa Mão hướng Dậu và tọa Ất hướng Tân –

Luận dụng thần

Một bài viết về luận dụng thần của tác giả Hoàng Đại Lục. Mời các bạn cùng đọc.
Luận dụng thần

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tác giả: Hoàng Đại Lục

Dụng thần là gì? Học giả mệnh lý hiện đại hầu như đều nhất chí cho rằng: Dụng thần tức là mấu chốt của bát tự, là một hai loại ngũ hành co thể gây nên những tác dụng phù ức, điều hậu, thông quan trong bát tự. Hoặc có thể nói, dụng thần chính là "thần" có thể làm cân bằng ngũ hành bát tự, có ích với nhật chủ, nói gọn là dụng thần cân bằng.

Lật giở các thư tịch mệnh lý hiện đại, chúng ta sẽ phát hiện đa số tác giả đều dùng phần lớn số trang sách để luận thuật tác dụng quan trọng của dụng thần và cả phương pháp lựa chọn dụng thần. Các vị ấy còn cho rằng dụng thần không thể bị tổn thương được, dụng thần mà có lực thì mệnh chủ sẽ cát, dụng thần bị thương thì mệnh chủ sẽ hung, do đó điều cơ bản nhất, quan kiện nhất, khó khăn nhất khi xem mệnh chính là tìm đúng dụng thần. Ví dụ như cuốn "Tứ trụ bác quan" do hai vị tiên sinh Lăng Chí Hiên và Trương Chí Xuân biên soạn, trong đoạn "Tường luận dụng thần" có nói: "Hạch tâm trung khu của tứ trụ mệnh lý học là ở tìm dụng thần, muốn biết sự gập ghềnh khúc khuỷu của đường đời nhân sinh, toàn phải nhờ vào dụng thần làm tọa độ để miêu tả. Tìm không ra tọa độ dụng thần, hoặc tìm sai tọa độ dụng thần sẽ thành " Một chữ sai, toàn bàn sai hết". Có thể nói quan điểm về dụng thần của cuốn này đã đại biểu cho mệnh lý hiện hành.

Thế nhưng, muốn tìm đúng cái dụng thần cân bằng này lại là một chuyện khó khăn dị thường. Bởi vì tiền đề của tìm dụng thần đầu tiên là phải nắm bắt chuẩn xác trình độ vượng suy cường nhược của ngũ hành trong bát tự. Mà sự vượng suy cường nhược của ngũ hành trong bát tự lại tùy theo sự giới nhập của tuế vận mà biến hóa không ngừng, muốn cân đo đong đếm nó khác nào đi cân đo đong đếm con khỉ có bảy mươi hai phép thần thông biến hóa! Cho nên thường ba vị mệnh sư phân tích cùng một bát tự sẽ đưa ra hơn ba kiểu vượng suy kết luận. Thế thì cũng như không có kết luận! Lăng Chí Hiên tiên sinh cũng vì thế mà vô cùng đau đầu, ông nói trong cuốn "Tứ trụ bác quan" rằng: "Cho dù là cao thủ mệnh lý đi nữa, khi họ đối diện với một số mệnh tạo có cách cục đặc thù hoặc sự cường nhược không rõ ràng thì cũng cảm thấy bó tay... Người viết cũng từng gặp qua những trường hợp kiểu này, tụ tập bảy tám vị dịch hữu cùng thảo luận, kết quả là mỗi người nói mỗi phách, chẳng ai chịu nhường ai, ai cũng phô ra một kiểu lý luận của riêng mình, cãi lý cả một ngày cũng không giải quyết được vấn đề. Thế đấy, có phải muốn phán đoán chính xác trình độ vượng suy cường nhược của ngũ hành bát tự còn khó hơn Phật Bà phán đoán Tề Thiên thật và Tề Thiên giả không nhỉ?

Nói cách khác, cho dù có ai vào một ngày nào đó dùng tuyệt kỹ tìm dùng thần này mà xem mệnh thì tỷ lệ chuẩn xác chưa chắc đã cao. Tại sao vậy? Đầu tiên, các cách như nhất khí chuyên vượng cách, tòng cường cách, tòng Sát cách, tòng Tài cách, tỉnh lan xoa cách, v.v... vốn không cần đến sự cân bằng ngũ hành của bát tự, cái gọi là dụng thần cân bằng không có chỗ dùng trong các loại cách này. Kế tới, cho dù là mệnh cách thông thường cần ngũ hành cân bằng, chỉ cần bát tự kết cấu không thỏa đáng, phá hoại mất cách cục thì cho dù thân cường Tài vượng hay thân Sát lưỡng đình đi chăng nữa mà dùng dụng thần cân bằng cũng khó đoán chuẩn cát hung họa phúc của người ta. Cho dù là danh sư nhiều năm nghiên cứu mệnh lý cũng không ngoại lệ. Tác giả bộ "Bát tự chân quyết khởi thị lục" là Tống Anh Thành tiên sinh trong bài "Nghiên cứu hỷ dụng thần" đã cảm khái nói: "Tác dụng của dụng thần đôi khi làm người ta cảm thấy khó hiểu, đi đến vận trình của hỷ dụng thần, chẳng những không thăng quan phát tài mà còn bị hao tổn trầm trọng, cơ hàn đói rách, có phải là hỷ dụng thần mà chúng ta chọn khác hẳn với hỷ dụng thần chân chính? Nghĩ tới đây hèn gì có người nghiên cứu hết bao nhiêu kinh thư cổ tịch mà vẫn không thể đột phá."

Nghe câu trên mà thấy rầu! Trải qua chín chín tám mươi mốt tai nạn mới lấy được chân kinh, ấy thế mà "nghiên cứu hết kinh thư cổ tịch mà vẫn không thể đột phá"! Cố gắng hết sức mới chọn được dụng thần mà không xài được!

Để tìm đột phá khẩu, giải cứu dụng thần cân bằng ra khỏi tình huống khó xử, có học giả bèn không thèm chấp vào cách chỉ chọn một dụng thần nữa, mà chọn mấy loại dụng thần từ trong một mệnh, nào là đại dụng thần, tiểu dụng thần, hoặc dụng thần thứ nhất, dụng thần thứ hai, dụng thần thứ ba, hoặc dụng thần cân bằng, dụng thần điều hậu, dụng thần cách cục v.v..., muốn đem càng nhiều dụng thần hơn nữa vô để bịt những lỗ hổng xuất hiện liên tục trong khi dự đoán. Dùng dụng thần cân bằng không thể xử được, bèn dùng dụng thần điều hậu và dụng thần cách cục để xử lý. Ví dụ như nhà mệnh lý học trứ danh là Lương Tương Nhuận tiền bối trong cuốn "Tế phê chung thân tường giải" đã dùng nhiều loại dụng thần để phê mệnh. Ông đã dùng dụng thần điều hậu của Dư Xuân Đài, lại còn dùng dụng thần cách cục của Thẩm Hiếu Chiêm (nhưng không chuẩn), hãy còn dùng dụng thần cân bằng của "Kim Bất Hoán" (thực ra cũng không phải nốt), kết hợp thêm với cả tứ giác hình xung hợp hội, thần sát, nạp âm, v.v... hổ lốn các phương pháp, thậm chí còn bao gồm cả những ngón vụn vặt xác suất trúng cực thấp như "Diễn cầm phu thê - tử nữ biểu".

Cái kiểu dùng nhiều loại dụng thần để xem mệnh này tuy có thể cầm cự được khiếm khuyết do chỉ dùng một dụng thần gây ra, nhưng phương pháp này tự thân nó lại không thể giải quyết được vấn đề mới nảy sinh như sau:

1. Dụng thần đã là mấu chốt của bát tự, thế thì, tổn hại dụng thần có ý nghĩa phá vỡ sự cân bằng ngũ hành trong bát tự, từ đó khiến mệnh chủ gặp tai nạn, đây là quan điểm được tuyệt đại đa số các học giả mệnh lý đồng ý. Nếu sử dụng nhiều dụng thần để đoán mệnh sẽ đồng thời xuất hiện nhiều điểm cân bằng, nhiều điểm mấu chốt. Vấn đề là, nhiều điểm cân bằng ấy có phải quan trọng như nhau không? Giả thiết câu trả lời là khẳng định, thế thì mỗi khi tuế vận phá vỡ bất cứ một điểm cân bằng nào trong đó, cả mệnh cục sẽ mất cân bằng, thế thì các điểm cân bằng còn lại có còn được gọi là điểm cân bằng nữa không? Còn tính là mấu chốt của bát tự nữa chăng?

2. Nếu như quyền lợi của nhiều dụng thần không đồng đẳng, thì cũng như Thị trưởng, Phó Thị trưởng và Trợ lý Thị trưởng vậy, quyền lợi to nhỏ khác hẳn nhau, thế thì, quyền lợi của loại dụng thần nào mới là to nhất? Lương Tương Nhuận tiên sinh cho rằng: "Điều hậu chi dụng, vi bát tự đệ nhất yếu nghĩa". Ông cho rằng dụng thần điều hậu là quan trọng bậc nhất. Thế mà trong "Kim Điếu Thùng" thì nói: "Nếu nhập cách thì lấy quí mà đoán, phá cục thì lấy bần mà đoán, nếu như cách (và) cục bị thương tổn phá hoại sẽ không cát, dù cho có cơ hội hồi thiên chuyển trục thì cũng không thể kiến công lập nghiệp được." Kim Điếu Thùng (Durobi chú thích: Danh gia mệnh lý thời xưa, có viết quyển Lão Kim Điếu Thùng) đem thành cách phá cách xem là tối quan trọng. Thường các mệnh lý học giả cho rằng cân bằng ngũ hành trong bát tự là điều tối quan trọng, và cho điều hậu dụng thần chỉ sử dụng trong trường hợp đặc biệt,, còn cách cục thì lờ luôn, luận cũng được không luận cũng được. Trước ba cách nói như trên, kẻ hậu học biết nghe ai đây nhỉ?

3. Mỗi khi nhiều loại dụng thần xảy ra giao tranh trên cùng một mệnh cục thì phải xử lý thế nào? Ví dụ ngày Canh kim sinh tháng Ngọ, là Chính Quan cách, nếu muốn thủy điều hậu, thủy là Thực Thương, chẳng phải đã phá Chính Quan cách hay sao? Lại ví dụ Tỉnh Lan Xoa cách, ba ngày Canh Tý Canh Thìn Canh Thân, sinh vào tháng Tý, địa chi Thân Tý Thìn toàn đủ, theo lý thuyết phải dùng hỏa để điều hậu, kim thủy Thương Quan hỷ kiến Quan mà, nhưng cách này lại yêu cầu không được gặp hỏa, ca quyết nói: " Tỵ Ngọ Mùi lâm thì đắng cay, Nhâm Quí phá, Bính Đinh xung, trụ và vận không gặp sẽ hiển danh". Câu này ý gặp Tỵ Ngọ Bính Đinh hỏa thì phá cách. Điều hậu dụng thần không hề được hoan nghênh ở đây. Lúc này điều hậu dụng thần có còn là dụng thần nữa không? Nếu bị thương khắc, mệnh chủ sẽ gặp tai hay không? Còn nữa, lúc dụng thần cân bằng và dụng thần cách cục phát sinh giao chiến thì phải hy sinh ai đây? Những vấn đề này đều là những nút thắt cứng của những ai theo thuyết dùng nhiều dụng thần, không ai thể gỡ được, kể cả chính họ.

Một dụng thần không được, nhiều dụng thần cũng không xong, phải làm sao bây giờ? Có người chủ trương phương pháp sau tiết Đông Chí thì đổi trụ năm, có người đề xướng đại vận không phân biệt nam nữ đều thuận hành, Lữ Văn Nghệ tiên sinh ở Sơn Đông kiên quyết chủ trương phế trừ cổ pháp, thứ nhất không bàn vượng suy, thứ hai không bàn cách cục, thứ ba không bàn dụng thần, thứ tư không bàn thần sát, chỉ dùng chiêu sinh khắc "Lữ thị bát tự mệnh lý" là xong. Nhưng, chẳng lẽ môn đoán mệnh của Từ Tử Bình thật vô dụng vậy sao? Các vị toán mệnh tiên sinh từ xưa tới giờ đều không có công phu thực sự hay sao? Hay là chúng ta đã nhầm lẫn điểm quan trọng nào đó? Như Tống Anh Thành tiên sinh nói: "Có phải chăng hỷ dụng thần mà chúng ta đã dùng khác hẳn với hỷ dụng thần thực sự?"

Vâng, chính xác là như vậy! Người viết sau khi nghiên cứu nghiêm túc, phát hiện hỷ dụng thần của hiện đại mệnh lý và hỷ dụng thần của mệnh lý cổ điển là hai thứ hoàn toàn khác nhau! Có ba chứng cứ như sau:

Thứ nhất, trong ba bộ mệnh lý cổ điển "Uyên Hải Tử Bình", "Tam Mệnh Thông Hội" và "Thần Phong Thông Khảo", không hề tìm thấy cái mà hiện đại mệnh lý gọi là dụng thần! Lật bất cứ sách mệnh lý hiện hành nào chúng ta cũng có thể thấy những chương tiết chuyên luận thuật về dụng thần, từ khái niệm về dụng thần phương pháp chọn dụng thần đều được giới thiệu kỹ càng. Nhưng trong các mệnh lý kinh điển như "Uyên Hải Tử Bình" v.v... lại không thấy bất cứ chương tiết nào chuyên luận thuật về dụng thần, cho dù là một đoạn ngắn cũng không có! Những loại "dụng thần" có tác dụng phù ức, điều hậu, thông quan không hề tìm thấy bất cứ chứng cứ nào trong ba quyển sách mệnh lý cổ này. Trời ạ, dụng thần là thứ quan trọng không thể thiếu được như thế, vậy mà cổ nhân lại không hề có một chuyên đề nào để giới thiệu, có phải là rất kỳ quặc không nhỉ? Đối với mệnh lý hiện hành mà nói, đoán mệnh mà không nhắc tới dụng thần thì chỉ là một kẻ a ma tơ. Thế nhưng tổ tông môn Tử Bình của chúng ta là Từ Tử Bình trong cuốn "Uyên Hải Tử Bình" sao không thấy nhắc tới vấn đề dụng thần vô cùng quan trọng này? Dù có kiệm lời tới đâu thì ít ra cũng để lại một đoạn ngắn chứ? Tiếc rằng chúng ta tìm nát trong mấy cuốn sách mệnh lý cổ kia mà vẫn không thấy! Cái mà chúng ta thấy là cổ nhân dùng đến một phần ba cuốn sách để nói đến cách cục, chuyện này thì sách mệnh lý hiện hành không hề có. Điều này chứng tỏ cái gì? Chứng tỏ rằng chỉ có một khả năng, đó chính là trong sách mệnh lý cổ điển căn bản là không hề có loại dụng thần cân bằng ngũ hành bát tự, nếu như có dụng thần thì e rằng dụng thần chính là cách cục.

Thứ hai, dụng thần của mệnh lý lưu hành hiện đại và dụng thần trong sách mệnh lý cổ điển, đặc trưng của cả hai hoàn toàn không phù hợp nhau. Chủ yếu biểu hiện trong ba mặt sau:

1. Dụng thần của mệnh lý hiện hành đặc trưng chính yếu ở chỗ tính bất khả tổn hại của nó. Dùng lời của Chung Nghĩa Minh tiên sinh trong cuốn "Bát Tự Khí Số Mệnh Lý Học" rằng: "Dụng thần là linh hồn của bát tự", "Nên dụng thần không thể bị thương tổn đến, không bị khắc hại hình xung v.v...". Thế nhưng cổ nhân trong "Tứ Ngôn Độc Bộ" lại chỉ ra rằng: "Cách cách thôi tường, dĩ Sát vi trọng, chế Sát vi quyền, hà sầu tổn dụng". Ý của "Hà sầu tổn dụng" chẳng phải là không sợ tổn hại đến dụng thần hay sao? Trong "Nguyệt Đàm Phú" cũng nói: " Cách hữu khả thủ bất khả thủ, dụng hữu đương khí bất đương khí". Nói rõ có lúc cần đến là có thể vứt luôn dụng thần.

2. Dụng thần của mệnh lý hiện hành, đặc trưng thứ yếu của nó là tính thiểu lượng. Nghĩa là dụng thần đã là điểm cân bằng ngũ hành bát tự thì dụng thần sẽ không thể là ngũ hành chiếm số lượng nhiều, bởi vì tổng cộng chỉ có tám chữ, số lượng nhiều lên sẽ phá vỡ cân bằng mà trở thành bệnh trong mệnh cục, cho nên dụng thần thường chỉ chiếm một hai chữ trong mệnh cục, không thể nhiều hơn. Cũng bởi vì phân lượng dụng thần ít cho nên mới sợ bị tổn hại! Thế mà nguyên chú của chương Thể dụng trong "Tích Thiên Tủy" nói: "Nhị tam tứ ngũ dụng thần giả, đích phi diệu tạo". Có nghĩa một bát tự mà có ba bốn năm dụng thần thì không phải mệnh tốt. "Cùng Thông Bảo Giám - Tam xuân Giáp mộc luận" nói: "Phàm dụng thần quá nhiều, không nên khắc chế, tiết đi mới hay". Câu này chúng ta còn có thể tìm thấy trong "Tam Mệnh Thông Hội". Vậy đấy, dụng thần trong sách mệnh lý cổ điển hóa ra còn có lúc đạt đến bốn năm cái, mà còn tiết đi mới tốt nữa!

3. Dụng thần trong mệnh lý hiện hành đặc tính thông thường của nó là tính chỉ có ích mà không có hại. Mệnh lý hiện hành cho rằng bất kể là Tài Quan Ấn Thực hay là Sát Thương Kiêu Nhận, chỉ cần khi được chọn làm dụng thần thì chỉ có ích mà không có hại, giữa chúng không có phân biệt thiện và ác, đã là dụng thần thì không thể bị khắc. Nhưng, dụng thần của cổ nhân không như thế. Chương Luận dụng thần trong "Tử Bình Chân Thuyên" viết: "Tài Quan Ấn Thực, thử dụng thần chi thiện, nhi thuận dụng chi giả dã. Sát Thương Kiêu Nhận, thử dụng thần chi bất thiện, nhi nghịch dụng chi giả dã". Có nghĩa là Tài Quan Ấn Thực là bốn dụng thần thiện, phải bảo hộ nó mà sử dụng. Mà Sát Thương Kiêu Nhận là bốn dụng thần ác, phải chế ước nó mà sử dụng. Đấy, loại dụng thần như vầy thì mệnh lý hiện hành chắc là không có nhỉ!

Thứ ba, cách dùng của dụng thần trong mệnh lý hiện hành và dụng thần trong sách mệnh lý cổ điển không giống nhau. Mệnh lý hiện hành cho rằng sự vượng suy cường nhược và bị khắc hay không của dụng thần vừa quyết định sự phú quí bần tiện của mệnh chủ và cũng chủ tể cát hung họa phúc của mệnh chủ, tác dụng của nó không có thứ nào khác có thể so sánh được. Nhưng chương Luận tướng thần khẩn yếu trong cuốn "Tử Bình Chân Thuyên" lại chỉ rõ: "Thương dụng thậm ư thương thân, thương tướng thậm ư thương dụng". Ý là thương hại đến dụng thần còn gay go hơn thương hại đến nhật nguyên, mà thương hại đến tướng thần còn gay go hơn thương hại đến dụng thần. Có thể thấy còn có tướng thần quan trọng hơn cả dụng thần. "Ngũ Ngôn Độc Bộ" lại nói: "Có Sát chỉ luận Sát, không có Sát mới luận dụng thần". Ý gì nhỉ? Có Thất Sát chẳng lẽ có thể không cần luận dụng thần hay sao? Câu này mệnh lý hiện hành không giải thích nổi. Trong "Bảo Pháp - Quyển nhị" cũng nói: " Phàm thuật xem Tử Bình, thủ cách bất định, thì xem mười sai đến chín". Chú ý nhé, ở đây nói "Thủ cách bất định" chứ không nói "Thủ dụng bất chuẩn" nhé! Có phải cổ nhân thủ cách (chọn cách cục) rõ là hiệu nghiệm hơn chúng ta ngày nay chọn dụng thần không? Thiên mở đầu của "Tinh Vi Thiên" nói: "Phàm khán nhân mệnh, chuyên luận cách cục. Phùng Quan khán Tài, kiến Tài nhi phú quí. Phùng Sát khán Ấn, hữu Ấn dĩ vinh hoa". Ở đây chỉ cường điệu "Chuyên luận cách cục" chứ không phải chuyên luận dụng thần nhé! Mà còn nói thẳng gặp Quan xem Tài, gặp Ấn xem Quan, không như mệnh lý hiện hành ngày nay trước hết phải xem thân vượng thân nhược, thân vượng thì dụng Tài Quan, thân nhược thì dụng Ấn Tỷ. Tại sao cổ nhân không chú trọng đến tiền đề quan trọng là xem thân vượng thân nhược vậy? Tại sao không nói "Phàm thuật xem Tử Bình, thủ dụng bất chuẩn (xác), xem mười sai hết chín"? Nguyên nhân thì chỉ có một thôi, đó chính là dụng thần mà cổ nhân nói tới khác xa lắc xa lơ với dụng thần mà ngày nay chúng ta nói!

Dông dài hồi lâu, chắc độc giả cũng muốn hỏi thế dụng thần trong sách mệnh lý cổ điển là gì thế?

Kỳ thực, định nghĩa dụng thần của cổ nhân rất đơn giản, tức: Dụng thần chính là vật khả dụng của nguyệt lệnh. Hai chữ "khả dụng" này có hai tầng ý nghĩa, một là có những thứ gì có thể dùng? Hai là dùng vào việc gì?

Nguyệt lệnh có những thứ gì có thể dùng? Có sáu thứ có thể dùng, tức: Tài, Quan, Ấn, Sát, Thực, Thương. Dùng vào việc gì? Dùng để cấu thành CÁCH CỤC. Tức là, dụng thần mà cổ nhân nói tới, kỳ thực chính là VẬT mà nguyệt lệnh dùng đến để cấu thành cách cục.

"Tử Bình Chân Thuyên - Luận dụng thần" nói rằng: "Bát tự dụng thần, chuyên cầu nguyệt lệnh. Dĩ nhật can phối nguyệt lệnh địa chi, nhi sinh khắc bất đồng, cách cục phân yên". "Thần Phong Thông Khảo - Thủ cách chỉ quyết ca đoán" nói rằng: "Dĩ nhật vi chủ bản, nhi thủ đề cương vi dụng. Thứ cập niên nguyệt nhật vi thực, phùng Quan khán Tài, phùng Tài khán Sát, phùng Sát khán Ấn, phùng Ấn khán Quan". "Bảo Pháp - Quyển nhị" nói: "Tử Bình chi thuật, dĩ nhật tử vi chủ, tiên khán đề cương vi trọng, thứ dụng niên nguyệt nhật thời chi, hội thành cách cục phương khả đoán chi, giai dĩ nguyệt lệnh vi dụng, bất khả dĩ niên thủ cách". Những lời trên của cổ nhân khi nói đến dụng thần, tất cả đều nhấn mạnh tìm ở nguyệt lệnh, các sách đều coi dụng thần với cách cục làm một. Chúng ta chớ có tưởng rằng cổ nhân nói không rõ ràng, không logic (như Từ Lạc Ngô đại sư tưởng thế), nói không rõ sự tồn tại của dụng thần cân bằng nào là phù ức, điều hậu, thông quan. Thực ra trong mắt cổ nhân, dụng thần chính là vật mà nguyệt lệnh dùng để cấu thành cách cục, hoặc nói dụng thần và cách cục là một.

Chính bởi vì dụng thần chỉ là vật mà nguyệt lệnh dùng để định cách, không phải ở bất cứ vị trí nào khác dùng để cân bằng ngũ hành bát tự, cho nên cổ nhân mới gồm dụng thần và cách cục vô làm một, và đem cách cục vật khả dụng của nguyệt lệnh gọi là nội cách, mà cách cục vật không khả dụng của nguyệt lệnh gọi là ngoại cách (xin tham khảo cuốn "Tử Bình Chân Thuyên Bản Nghĩa của tác giả). Chúng ta biết rằng mệnh lý hiện hành chọn dụng thần không chú trọng đến nguyệt lệnh, cho nên cách cục không phân làm nội cách và ngoại cách, hoặc nói không rõ nguyên do sự phân chia nội cách ngoại cách.

Chính bởi vì dụng thần là vật khả dụng của nguyệt lệnh, không hề là mấu chốt của cả bát tự, cho nên có lúc xuất hiện hiện tượng "dụng thần quá nhiều", dụng thần đã quá nhiều thì mới có câu " dụng thần có cái bỏ đi có cái không thể bỏ đi" và "ngại gì mà không tổn đến dụng thần (hà sầu tổn dụng)", thế mới xuất hiện cách cục câu "Khí Ấn tựuTài", "Khí Quan tựu Thực" v.v... Nếu không thì theo lối suy nghĩ của mệnh lý hiện hành thì chẳng ai giải thích rõ được mấy câu trên.

Chính bởi vì dụng thần là vật khả dụng của nguyệt lệnh, không nhất định là thứ có ích đối với nhật chủ, cho nên dụng thần mới phân thiện và ác, với thiện dụng thần Tài, Quan, Ấn, Thực phải sử dụng với tính chất phù trợ, đối với ác dụng thần Sát, Kiêu, Thương, Nhận thì phải sử dụng có tính chế ước. Cho nên "Ngũ Ngôn Độc Bộ" mới nói " Có Sát thì trước tiên luận Sát, không có Sát mới luận dụng", là bởi vì "Các cách suy cho rõ, lấy Sát làm trọng" ấy mà. Dụng thần của mệnh lý hiện hành phải luận trước cả Sát, lại còn không được chế ước Sát nữa.

Có người phản bác: Trong "Thần Phong Thông Khảo" tuy không có chương tiết chuyên luận dụng thần, nhưng còn có "Bệnh dược thuyết" trứ danh đấy thôi? Trương Nam nói "Dược" chẳng phải là dụng thần của mệnh lý hiện hành hay nói hay sao?

Đúng, mệnh lý hiện hành hay lấy thuyết bệnh dược của Trương Nam để mượn làm dụng thần cân bằng. Nhưng nếu chúng ta đọc kỹ nguyên văn sẽ phát hiện "Dược thần" mà Trương Nam nói chẳng phải là dụng thần cái gì cả. Nguyên văn: "Như dụng Tài kiến Tỷ Kiếp vi bệnh, hỷ kiến Quan Sát vi dược dã. Như dụng Thực Thần Thương Quan, dĩ Ấn vi bệnh, hỷ Tài vi dược dã". Ở đây chẳng phải rõ ràng nói trước "Dụng Tài", sau đó mới nói "Kiến Tỷ Kiếp vi bệnh, hỷ kiến Quan Sát vi dược" hay sao? Câu sau "Như dụng Thực Thần Thương Quan", cũng chính là lấy Thực Thần Thương Quan làm dụng thần. Tài là dụng, Tỷ Kiếp là bệnh, Quan Sát là dược ; Thực Thương là dụng, Ấn là bệnh, Tài là dược, ý quá rõ rồi gì nữa? Còn lý do nào để nói dược thần của Trương Nam chính là dụng thần không?

Kỳ thực, dược thần của Trương Nam chính là "Tướng thần" mà "Tử Bình Chân Thuyên" đã nói tới, chẳng qua Trương Nam không gọi nó là tướng thần mà thôi.

Có lẽ sẽ còn có người lấy những câu bình chú của Nhậm Thiết Tiều trong "Tích Thiên Tủy" để phản bác lại, Nhậm nói: "Ví như nhật chủ vượng, đề cương là Quan là Tài hoặc Thực Thương, đều có thể làm dụng. Nhật chủ suy, đừng tìm tứ trụ can chi vật có giúp thân làm dụng...". Dụng thần mà ông nói ở đây chẳng phải dụng thần cân bằng mà mệnh lý hiện hành hay nói sao?

Đúng, sự ra đời của mệnh lý hiện đại e phải lấy Nhậm Thiết Tiều làm công đầu. Vốn nguyên văn "Tích Thiên Tủy" và các sách cổ điển như "Uyên Hải Tử Bình" là nhất mạch tương thừa, nhưng qua tay hậu nhân chú thích, đặc biệt là sau khi qua tay Nhậm lão tiên sinh chú thích, thì cuốn "Tích Thiên Tủy" đã trở thành nền móng cho mệnh lý hiện hành.

Nhậm Thiết Tiều chú thích chương Bát cách trong cuốn "Tích Thiên Tủy": "Bát cách giả, mệnh trung chính lý dã. Tiên quan nguyệt lệnh sở đắc hà chi, thứ khán thiên can thấu xuất hà thần, tái cứu tư hà lệnh dĩ định chân giả, nhiên hậu thủ dụng, dĩ phân thanh trọc, thử thực y kinh thuận lý, nhược nguyệt phùng Lộc Nhận, vô cách khả thủ, tu thẩm nhật chủ chi hỷ kỵ, lánh tầm biệt chi thấu xuất thiên can giả, tá dĩ vi dụng". (Tám cách là chính lý trong mệnh. Trước phải xem nguyệt lệnh là chi gì, sau xem thiên can thấu xuất thần gì, tiếp coi cái gì nắm lệnh để định thật giả, sau đó chọn dụng thần để phân chia sự thanh trọc, đó thực là thuận lý theo kinh sách, nếu nguyệt lệnh là Lộc Nhận thì không chọn được cách, phải xem xét hỷ kỵ của nhật chủ mà tìm chi khác thấu thiên can mượn đỡ mà dùng). Có thể thấy, phương pháp thủ dụng định cách của họ Nhậm là cơ bản thống nhất với phương pháp "Bát tự dụng thần, chuyên cầu nguyệt lệnh", "Nguyệt Kiếp vô dụng, lánh tầm ngoại cách" trong "Tử Bình Chân Thuyên". Tiếc thay, họ Nhậm không hề thông hiểu mật pháp luận cách cục truyền thống này ("Tích Thiên Tủy" luận cách không kỹ càng bằng "Tử Bình Chân Thuyên"), trong khi gặp khó khăn trong lúc luận mệnh, ông đã không kiên trì giữ vững phương pháp này nữa. Cho nên ông sau chương "Bát cách" lại nói rằng: "Từ mấy mệnh trên có thể thấy, cách cục không thể chấp nhất. Không nên câu thúc ở các cách Tài Quan Ấn..., không liên can gì đến nhật trụ, vượng thì nên ức chế, suy thì nên phù trợ, Ấn vượng tiết Quan mừng Tài tinh, Ấn suy gặp Tài mừng Tỷ Kiếp, đây là phương pháp không thay đổi được". Hèn gì, kiểu phương pháp luận mệnh khinh cách cục, trọng cân bằng này của Nhậm Thiết Tiều chính là lam bản cho mệnh lý hiện hành ngày nay.

Còn chuyện nữa càng khiến người ta tiếc rẻ, sau Nhậm Thiết Tiều là Từ Lạc Ngô đại sư, ông chú thích "Tích Thiên Tủy" mà vô cùng sai lệch nguyên chú, làm cho kẻ hậu học dễ hiểu nhầm nguyên văn, từ đó trượt luôn vào vũng lầy mệnh lý hiện hành. Ví dụ như chương "Thể dụng" của "Tích Thiên Tủy" nguyên chú thích nói rằng: "...nhi nhị tam tứ ngũ dụng thần giả, đích phi diệu tạo". Ý là khi nguyệt lệnh dụng thần số lượng đạt tới bốn hoặc năm, như vậy thì không phải là mệnh tốt nữa. Ví dụ như nguyệt lệnh là Ấn tinh, khi có hai ba Ấn tinh nếu có Tài tinh khắc Ấn, cách cục sẽ thành "Khí Ấn tựu Tài" cách. Nếu Ấn lên tới bốn năm, Tài tinh sẽ không thể nào khắc Ấn được nữa, tốt nhất là dùng Tỷ Kiếp để tiết bớt Ấn, giống như ý của "Cùng Thông Bảo Giám" nói "Hễ dụng thần quá nhiều, không nên khắc chế, cần phải tiết đi mới hay". Nhưng nếu Ấn quá nhiều, một là không có Tài khắc, hai là không có Tỷ Kiếp hóa tiết, vậy nhất định không phải mệnh tốt rồi.

Ấy thế mà do Nhậm Thiết Tiều không hoàn toàn hiểu hết được khái niệm dụng thần này, cho nên khi ông phê chú đoạn trên bèn nói: "Nguyên chú nói rằng: hai ba bốn năm dụng thần thực không phải mệnh tốt. Đấy là nói bậy! Chỉ có tám chữ mà nếu khử đi bốn năm chữ dụng thần thì trừ nhật can ra chỉ có hai chữ không dùng, làm sao thế được!". Nghe ý ông là hiểu không thể có trường hợp một mệnh tạo mà có đến bốn năm dụng thần.

Từ Lạc Ngô đại sư cũng nói đế vào phụ cho họ Nhậm, nói rằng: "Như câu trong nguyên chú hai ba bốn năm dụng thần, họ Nhậm bài xích là phải. Dụng thần làm sao có hai được nói chi đến ba bốn năm dụng thần! (Xem chương Thể dụng tinh thần trong cuốn "Tích Thiên Tủy Bổ Chú của Từ Lạc Ngô)". Ông khăng khăng dụng thần chỉ có một mà thôi, tuyệt không có hai, nói gì đến bốn năm dụng thần! Ông đâu có biết, dụng thần mà nguyên chú "Tích Thiên Tủy" nói hoàn toàn không phải loại dụng thần mà ông và Nhậm Thiết Tiều nghĩ!

Thật là "Một chữ sai, toàn bàn hỏng bét", dụng thần mà sai rồi thì phương pháp luận mệnh cũng sai theo! Không ai ngờ và nghĩ được rằng như hai vị đại sư cấp nhân vật trong làng mệnh lý là Nhậm Thiết Tiều và Từ Lạc Ngô lại nhầm lẫn khái niệm hạch tâm nhất, cơ bản nhất, quan trọng nhất của mệnh học --- DỤNG THẦN!

Con rùa bò phía trước mở đường, con rùa phía sau bò theo. Cứ thế, ngàn ngàn vạn vạn kẻ hậu học theo sau đít hai ông Nhậm, Từ, thoát li khỏi tư tưởng chính tông của Từ Tử Bình, nhắm đến vũng lầy mệnh lý hiện hành vô biên vô tế phía trước mà tiến bước......

Lão Tử nói rất hay, "Ngũ sắc khiến người ta mù". Chỉ có mấy ông thầy bói mù (manh sư) mắt không nhìn được ngũ sắc nữa mới không mù quáng đi theo Nhậm, Từ. Họ đã không thể đọc các danh trước mệnh học của hai ông, cũng không thể tham duyệt tư liệu mệnh lý hiện hành, cho nên họ không bị bất cứ ảnh hưởng nào của mệnh lý hiện đại, vẫn cứ y theo phương pháp xa xưa của Tử Bình mệnh học. Có lẽ họ luận cách tinh xác không bằng "Tử Bình Chân Thuyên", hoặc họ mỗi người có một pho ca quyết luận mệnh cho riêng mình, nhưng khái niệm dụng thần và luận mệnh phép tắc là nhất mạch tương truyền với các kinh điển mệnh lý "Uyên Hải Tử Bình", "Thần Phong Thông Khảo", "Tam Mệnh Thông Hội", "Tử Bình Chân Thuyên" và "Tứ Ngôn Độc Bộ". Người viết quen biết một vị manh sư họ Dương, công phu của ông rất tinh thâm, nổi danh một vùng. Ông có thể thuộc lòng các ca quyết cổ điển như " Tứ Ngôn Độc Bộ", "Ngũ Ngôn Độc Bộ" và "Nguyệt Đàm Phú" v.v..., nhưng ông không hề biết tý gì về cái gọi là dụng thần cân bằng như phù ức, điều hậu, thông quan. Ông cũng giống như nhiều vị manh sư khác, bình thường chỉ nói về cách cục, không nói dụng thần, bởi vì ông giải thích rằng dụng thần chính là cách cục!

Đấy chính là bộ mặt thật của dụng thần, cho dù các thầy mệnh lý hiện đại mở miệng ra là nói tới nhưng cũng không biết tới nó!

Durobi dịch

Bổ sung chuyển từ Hán Việt ra Việt ngữ đoạn này, đoạn thứ 22 từ trên xuống, lúc dịch quên béng mất...

"Tử Bình Chân Thuyên - Luận dụng thần" nói rằng: "Bát tự dụng thần, chuyên cầu nguyệt lệnh. Dĩ nhật can phối nguyệt lệnh địa chi, nhi sinh khắc bất đồng, cách cục phân yên". "Thần Phong Thông Khảo - Thủ cách chỉ quyết ca đoán" nói rằng: "Dĩ nhật vi chủ bản, nhi thủ đề cương vi dụng. Thứ cập niên nguyệt nhật vi thực, phùng Quan khán Tài, phùng Tài khán Sát, phùng Sát khán Ấn, phùng Ấn khán Quan". "Bảo Pháp - Quyển nhị" nói: "Tử Bình chi thuật, dĩ nhật tử vi chủ, tiên khán đề cương vi trọng, thứ dụng niên nguyệt nhật thời chi, hội thành cách cục phương khả đoán chi, giai dĩ nguyệt lệnh vi dụng, bất khả dĩ niên thủ cách".

Chương Luận dụng thần trong sách Tử Bình Chân Thuyên nói rằng: " Dụng thần của bát tự, nên tìm ở lệnh tháng mà thôi. Lấy nhật can phối hợp với địa chi lệnh tháng, bởi do sinh khắc không giống nhau nên phân ra các loại cách cục".

Chương Thủ cách chỉ quyết ca đoán trong sách Thần Phong Thông Khảo nói rằng: "Lấy ngày làm thân gốc, mà lấy đề cương (lệnh tháng) làm dụng. Thứ đến lấy năm tháng ngày làm quả, gặp Quan thì phải xem Tài, gặp Tài thì phải xem Sát, gặp Sát thì phải xem Ấn, gặp Ấn thì phải xem Quan".

Quyển thứ hai của sách Bảo Pháp nói rằng: " Thuật xem Tử Bình, lấy ngày làm chủ, trước hết phải xem đề cương (lệnh tháng) là điểm quan trọng, kế đến dùng chi năm tháng ngày giờ, hội thành cách cục rồi mới có thể đoán, thường các trường hợp đều lấy lệnh tháng làm dụng, không được lấy năm để chọn cách.

(Nguồn: sưu tầm)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Luận dụng thần

Văn khấn Gia tiên khi cưới hỏi

Lễ chạm ngõ, lễ ăn hỏi, lễ cưới là những nghi lễ quan trọng khi con cái lập gia đình, Gia đình hai bên trai, gái đều phải làm lễ yết cáo Gia Thần, Gia Tiên

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Các cụ ta xưa có câu ”Trai khôn dựng vợ, Gái khôn gả chồng”, từ cổ chí kim HÔN – NHÂN bao giờ cũng được xem là việc quan trọng của cả một đời người. Khi hai gia đình nhà trai, nhà gái quyết định tác hợp cho hai trẻ nên vợ nên chồng và tiến hành các thủ tục: lễ chạm ngõ, lễ ăn hỏi, lễ cưới. Vào các ngày tiến hành các nghi lễ này thì gia đình bên nhà trai và nhà gái đều phải làm lễ yết cáo Gia Thần, Gia Tiên.

van-khan-gia-tien-ngay-cuoi

1. Sắm lễ:

Ngày lễ Chạm Ngõ, gia đình nhà trai làm mâm lễ mặn xôi, gà cúng Gia Thần, Gia Tiên để trình báo việc hệ trọng của chàng trai. Lễ Chạm Ngõ nhà trai mang sang nhà gái gồm: Một cơi trầu (12 mớ trầu), cau bổ tư hoặc để cả buồng, mứt sen, trà, rượu, thuốc lá, một thiếp vàng. Cha cô dâu tương lai mang lễ này đặt lên bàn thờ Gia Thần Gia Tiên để cúng trình báo về việc hệ trọng của con gái.

Lễ ăn hỏi: Nhà gái nhận lễ ăn hỏi của nhà trai gồm: Trầu, cau, trà, rượu, thuốc lá, bánh cốm, bánh phu thê (su xê) theo yêu cầu của mình rồi đặt lên bàn thờ cúng Gia Thần, Gia Tiên. Sau lễ ăn hỏi nhà gái đem chia lễ ăn hỏi cho họ hàng, bạn bè, người thân, cơ quan… Khi chia lễ ăn hỏi người chia lễ đưa thiệp mời dự đám cưới có ngày giờ đã chọn.

Lễ cưới được tổ chức vào ngày lành tháng tốt do hai bên gia đình chọn.

2. Văn khấn:

Khi gia đình có hỷ sự: trai lấy vợ, gái gả chồng, nhà trai và nhà gái đều phải làm lễ yết cáo Gia Thần, Gia Tiên sau khi dâng lễ, thắp hương thì khấn:

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)

Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư phật mười phương.

Con kính lạy Hoàng thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.

Con kính lạy ngài Bản cảnh Thành hoàng, ngài Bản xứ Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân cùng chư vị Tôn thần.

Con kính lạy tiên họ..... chư vị Hương linh.

Tín chủ (chúng) con là:........ Ngụ tại:…

Hôm nay là ngày..... tháng.... năm .......

Tín chủ con có con trai (con gái) tên là….. kết duyên cùng ......

Con của ông bà .......................

Ngụ tại:........................................

Nay thủ tục hôn lễ đã thành. Xin kính dâng lễ vật, gọi là theo phong tục nghi lễ thành hôn và hợp cẩn, trước linh toạ Ngũ tự Gia thần chư vị Tôn linh, truớc linh bài liệt vị gia tiên chư chân linh xin kính cẩn khấn cầu:

Phúc Tổ Di Lai,

Sinh trai có vợ (nếu là nhà trai),

Sinh gái có chồng (nếu là nhà gái)

Lễ mọn kính dâng,

Duyên lành gặp gỡ,

Giai lão trăm năm,

Vững bền hai họ,

Nghi thất nghi gia,

Có con có của.

Cầm sắt giao hòa

Trông nhờ phúc Tổ.

Chúng con lễ bạc tâm thành, xin được phù hộ độ trì.

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Văn khấn Gia tiên khi cưới hỏi

Luận về Thai Phục Vượng Tướng

Trong khoa Tử Vi Đẩu Số, “Thai Phục Vượng Tướng” chỉ là một bộ sao nhỏ, gồm các sao: Thai, Phục Binh, Đế Vượng, Tướng Quân hay Thiên Tướng. Trong cơ thể, sao Thai chỉ bộ phận sinh sản của đàn bà, cũng có nghĩa là bào thai, là sự sinh đẻ, là vấn đề sinh lý, tình dục, một cấu tạo mới hay sự thay đổi mới. Phục Binh chỉ sự lừa gạt, dối trá, âm mưu, gài bẫy, hãm hại. Đế Vượng có nghĩa là cái lưng, là số nhiều, là sự hưng thịnh, phát đạt. Đế Vượng còn chỉ sự sinh sôi nảy nở, sự canh cải mới mẻ. Thiên Tướng/Tướng Quân trong cách này hàm ý nghĩa là người đàn ông.
Luận về Thai Phục Vượng Tướng

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Bộ Thai Phục Vượng Tướng (TPVT) không có ý nghĩa gì nhiều về công danh, sự nghiệp hay giàu sang phú quý, và cũng không có gì đáng nói với nam giới. Đối với nữ giới, bộ sao này rất là quan trọng. TPVT cũng phần nào giống như bộ Cự Kỵ, hay Tham Kỵ, nói lên bản tánh, những biến cố, cũng như những khúc quanh quan trọng về mặt tình cảm, hay khuynh hướng tình dục trong cuộc đời của một người, đặc biệt là phụ nữ. Vì vậy chúng ta phải rất thận trọng và cân nhắc khi thấy một lá số nữ mệnh có cách TPVT. Bởi vì lời giải đoán là sự đánh giá về danh tiết và phẩm hạnh của đương số. Điều đó đối với một người đàn bà tối ư quan trọng.

Trường hợp nữ mệnh có TPVT nằm trong các cường cung như Mệnh, Tài, Quan, Phúc, Di, Thê mà chính cung có những sao chủ sự đoan chính, hay những sao có khả năng khắc chế tính lãng mạn, dâm đãng, lẳng lơ, sự buông thả trong vấn đề tình dục, thì lá số đó sẽ có 2 trường hợp:

1. “Tiền Dâm Hậu Thú” có nghĩa là ăn ở với nhau trước rồi mới cưới hỏi sau. Với nhịp sống của một xã hội tân tiến hôm nay thì vấn đề này trở nên hết sức bình thường. Nhưng nếu ngược thời gian trở về một thế kỷ trước đây thì qủa là một điều khó có thể chấp nhận được. Điều lý thú là khoa Tử Vi có thể nói lên những điều thầm kín ấy một cách khá chính xác.

2. Sao Thai, Phục Binh nói lên sự hư thai, Đế Vượng ý nói nhiều lần. Đương số có thể gặp cả hai trường hợp nêu trên.

Cũng cách TPVT nhưng Mệnh và các cung chính lại không có những sao khắc chế, ngược lại có thêm những dâm tinh khác như Tham Lang, Đào Hoa, Thiên Riêu, Mộc Dục…đồng thủ hay hợp chiếu thì đương số sẽ thất trinh, thất tiết với người khác khi lấy chồng, hoặc sống với nhau theo kiểu già nhân ngãi, non vợ chồng, chứ không có cưới hỏi gì.

Trường hợp nữ Mệnh gặp cách TPVT mà cung Mệnh và những cung chính bị nhiều sát tinh như Địa Không, Địa Kiếp đồng cung hay hợp chiếu thì sự thất tiết có thể là do hoàn cảnh hay tai nạn ngoài ý muốn. Không hẳn đương số là hạng đàn bà lẳng lơ mất nết. Trường hợp có sao Thai thủ Mệnh, nhưng không đủ 4 sao mà Thai lại gặp Đào Hoa hay Hồng Loan tọa thủ đồng cung hoặc hợp chiếu thì ý nghĩa ở đây không những chỉ đơn thuần vấn đề ăn ở với nhau trước khi cưới hỏi mà còn chỉ bản tánh lẳng lơ, mất nết, thích chuyện ngoại tình, cho nên phú Tử Vi mới có câu:

“Đào Hồng mà ngộ sao Thai Tiền dâm hậu thú mới ra vợ chồng.” hay “Đồng Hồng mà ngộ sao Thai Chồng vừa khỏi cửa đón trai vào nhà”.

Trường hợp nữ mệnh có TPVT mà sao Thai cùng với những dâm tinh khác tọa thủ tại Mệnh, mà đương số đã có gia đình thì sẽ có thai do ngoại tình. Nếu Thai gặp Song Hao thì dễ bị hư thai, gặp Lưu Hà hay Hóa Kỵ thì dùng thuốc mà phá thai, hặp Thiên Hình hay Kiếp Sát thì nạo thai, hay khi sanh phải bị mổ xẻ.

Nếu Thai tọa thủ tại Mệnh có Thiên Riêu đồng cung hay hợp chiếu thì đây cũng là mẫu đàn bà có cuộc sống rất buông thả. Nếu Thai Riêu gặp thêm Đào Hoa nữa thì phải chịu một kiếp phong trần, và nếu không được những sao khắc chế bớt sẽ dễ trở thành gái giang hồ, đàn bà lăng loàn, xem thường luân thường đạo lý.

Cũng cách TPVT mà có Phục Binh thủ Mệnh hoặc xung chiếu từ Thiên Di thì sự thất trinh của đương số thường là bị dụ dỗ, cưỡng bức, hay gài bẫy. Nếu có thêm sát tinh Không Kiếp đồng cung hay hợp chiếu thì càng chắc chắn hơn.

Trường hợp nữ Mệnh không thuộc cách TPVT nhưng trong lá số bộ sao này nằm ở một cung nào đó thì chúng ta cũng nên cân nhắc 2 trường hợp sau đây:

1. Mệnh của đương số là người đoan chính, đến hạn gặp TPVT thì vấn đề sinh con đến trong hạn này.

2. Nếu Mệnh là người đa tình, lãng mạn mà hạn gặp TPVT (phải đủ 4 sao) thì phải nên thận trọng trong vấn đề giao lưu tình cảm. Trong hạn này (thường ứng nghiệm vào tiểu hạn 1 năm) cuộc đời sẽ có nhiều thay đổi, những khúc quanh trong vấn đề tình cảm, và có thể khúc quanh này sẽ thay đổi cả cuộc sống hiện tại của đương số.. Và một điều đáng lưu ý là sự việc không chỉ đơn thuần trên vấn đề tình cảm mà TPVT còn có ý nghĩa sâu đậm trên vấn đề xác thịt.Đối với nam giới thì cách TPVT chỉ rõ bản tính đặt nặng vấn đề vật chất hơn tình cảm. Trong tình yêu, họ cho rằng trái tim và tâm hồn của người yêu chưa đủ, mà phải chiếm đoạt cho được cả thân xác. Nếu hội thêm những sao như Tham Lang, Phá Quân hãm địa, Không Kiếp, Quan Phù, Quan Phủ…thì đương số chắc chắn là bà con của họ Sở.

Tóm lại, trong cách TPVT, đặc biệt đối với phụ nữ thì nói lên sự chủ ý hay tự nguyện của đương số nặng hơn là vì hoàn cảnh, hay tai nạn như cách Cự Kỵ. Nhìn chung, mẫu người TPVT có thể bao gồm mọi thành phần, mọi giai cấp trong xã hội, từ một người đàn bà tầm thường cho đến một mệnh phụ phu nhân, vì đây chỉ là lãnh vực tình cảm hay khuynh hướng tình dục, là vấn đề phẩm hạnh của con người. 


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Luận về Thai Phục Vượng Tướng

Khắc chế hóa giải tính độc đoán của Vũ Khúc trong tử vi

Sao Vũ Khúc cứng rắn, chủ về tiền tài, có chút độc đoán, nhưng hoàn toàn có thể hóa giải khi gặp các sao khác.
Khắc chế hóa giải tính độc đoán của Vũ Khúc trong tử vi

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Khac che hoa giai tinh doc doan cua Vu Khuc trong tu vi hinh anh
 
Trước tiên phải kể đến Văn Xương, Văn Khúc. Các sao này nếu thành đôi mà bay vào cung độ Vũ Khúc tọa thủ (đặc biệt là cung Vũ Khúc độc tọa), sẽ khiến Vũ Khúc trở nên khá nhu hòa, nhưng đồng thời cũng sẽ khiến Vũ Khúc biến thành do dự, thiếu quyết đoán.
 
Kế đến là Thiên Phủ có thể hóa giải Vũ Khúc cứng rắn. Thiên Phủ có tính "kho chứa", lại thuộc dương thổ, do đó có thể thu liễm tính cứng rắn của Vũ Khúc, đồng thời giảm thiểu tính "cô độc và hình khắc" của Vũ Khúc. Cho nên các cung viên lục thần, trong các tinh hệ Vũ Khúc, rất ưa "Vũ Khúc, Thiên Phù". Cổ nhân thậm chí đã nói: "Vũ Khúc, Thiên Phủ đồng cung ở Tí hay Ngọ, chủ về sống thọ", tức là lí lẽ này.
 
Tiếp đến nữa, có thể điều hòa tính cứng rắn và "hình khắc" của Vũ Khúc là Lộc Tồn hoặc Hóa Lộc. Vũ Khúc rất ưa Vũ Khúc Hóa Lộc, kế đến là Tham Lang Hóa Lộc và Liêm Trinh Hóa Lộc, sau đó là Phá Quân Hóa Lộc. Vũ Khúc Hóa Lộc là có nhiều cơ duyên phát đạt; hai sao Tham Lang và Liêm Trinh mà Hóa Lộc thì chủ về có tiền mà chẳng hao tổn tinh thần quá nhiều; Phá Quân Hóa Lộc thì lao tâm lao lực.
 
Về phương diện tổ hợp tinh hệ, Vũ Khúc tổ hợp thành tinh hệ đồng độ với năm sao Thiên Phủ, Tham Lang, Thiên Tướng, Thất Sát, Phá Quân; trong đó "Vũ Khúc, Thiên Phủ" ắt sẽ đối cung với Thất Sát; Vũ Khúc, Thất Sát" ắt sẽ đối cung với Thiên Phủ; "Vũ Khúc, Thiên Tướng" ắt sẽ đối cung với Phá Quân; "Vũ Khúc, Phá Quân" ắt sẽ đối cung với Thiên Tướng; "Vũ Khúc, Tham Lang" đối cung sẽ không có chính diệu, nhưng khi Vũ Khúc độc tọa, ắt sẽ đối nhau với Tham Lang.
 
Do đó có thể nói, "Vũ Khúc, Thiên Phủ, Thất Sát" ở các cung Tí Ngọ, Mão, Dậu là một hệ thống; "Vũ Khúc, Phá Quân, Thiên Tướng" ở các cung Dần, Thân, Tị, Hợi cũng là một hệ thống; "Vũ Khúc Tham Lang" ở các cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi thành một hệ thống.
 
Trong ba hệ thống, hệ thống "Vũ Khúc, Phá Quân, Thiên Tướng" mang tính "cứng rắn, cô độc và hình khắc" nhất; bởi vì Vũ Khúc không ưa Phá Quân, gặp Phá Quân càng biến tính cứng rắn của Vũ Khúc thành "nóng nảy, quyết đoán", thường dễ vì thiếu suy nghĩ hoặc không có kế hoạch dài lâu, hay vì xung động nhất thời mà dẫn đến thất bại. Cổ nhân nói: "Vũ Khúc, Phá Quân khó quý hiển " tức là nói lí lẽ này.
 
Vũ Khúc ưa hội hợp với Lộc Tồn, không ưa Lộc Tồn đồng độ. Bởi vì khi Lộc Tồn đồng độ, ắt sẽ có Kình Dương, Đà La đến giáp cung. Ở cung mệnh, chủ về tự tư tự lợi, chỉ nghĩ đến bản thân ở cung tài bạch và cung sự nghiệp thì chủ về bị trở ngại; ở cung độ lục thân thì chủ về duyên phận mong manh.
 
Vũ Khúc ưa Hóa Lộc, chủ về có thể phát giàu có; cũng ưa Hóa Quyền, chủ về có tiền bạc để sử dụng, hoặc chủ về một mình phụ trách công việc; Hóa Khoa thì hơi kém, bất quá chỉ chủ về có tiếng tăm mà thôi. Hóa Kị thì "cô độc và hình khắc", túng thiếu gây trở ngại, phá tán, thất bại.
 
Lúc luận đoán đại hạn và lưu niên, tứ hóa của Vũ Khúc thường ảnh hưởng rất lớn đến toàn cục, nhất là Hóa Kị. Cần phải quan sát kĩ xem cung nào bị Hóa Kị đến để làm trọng điểm cho việc luận đoán.
► Lấy lá số tử vi và xem vận mệnh cuộc đời, công danh, tình duyên của bạn

Theo Tử Vi kiến giải

 

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Khắc chế hóa giải tính độc đoán của Vũ Khúc trong tử vi

Đi tìm một nửa của Song Tử nữ ưng ý nhất (P2)

Cô nàng Song Tử hài hước, thông minh năng động nhưng cũng
Đi tìm một nửa của Song Tử nữ ưng ý nhất (P2)

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

"sớm nắng chiều mưa", liệu anh chàng nào có thể làm một nửa của Song Tử để "chiều chuộng" được cô nàng đa tính cách này?


► Cùng bói tình yêu theo cung hoàng đạo để biết hai bạn có hợp nhau không

7. Thiên Bình
 

Mối quan hệ giữa nữ Song Tử và nam Thiên Bình nhìn chung là yên bình và hòa hợp.
 
Điểm mạnh của mối quan hệ là cả hai bạn đều cố gắng xây dựng và củng cố mối quan hệ lâu dài. Thiên Bình mang đến tình yêu ngọt ngào, lãng mạn còn Song Ngư thêm vào đó tiếng cười và niềm vui. Thiên Bình chính là một nửa của Song Tử thích hợp nhất.
 
Điểm yếu của mối quan hệ là Thiên Bình quá cầu toàn, luôn luôn cảm thấy thiếu thốn trong đời sống tình cảm.
 
Biện pháp cho mối quan hệ tốt đẹp là Thiên Bình cần trân trọng những gì mình đang có.

Di tim mot nua cua Song Tu nu ung y nhat P2 hinh anh
Ảnh minh họa

8. Bọ Cạp
 

Mối quan hệ giữa nữ Song Tử và nam Bọ Cạp đầy hứa hẹn.
 
Điểm mạnh của mối quan hệ là Bọ Cạp có thể động viên, khuyến khích sự sáng tạo của Song Tử. Cô gái Song Tử thì luôn tràn đầy sức sống và cuốn hút khiến Bọ Cạp say mê.
 
Điểm yếu của mối quan hệ là rong khi Song Tử hướng ngoại, thích tham gia các hoạt động xã hội, thì Bọ Cạp lại hơi thích giấu mình ở nhà hơn. Bản chất hay nghi ngờ của Bọ Cạp liên tục bùng phát, và dễ rơi vào trạng thái hỗn loạn do thái độ có vẻ hững hờ, thiếu trách nhiệm của Song Tử.
 
Biện pháp để mối quan hệ thoải mái là Bọ Cạp nên khen ngợi và khuyến khích Song Ngư nhiều thay vì chỉ trích và nghi ngờ.  

9. Nhân Mã
 

Mối quan hệ giữa nữ Song Tử và nam Nhân Mã khá nóng bỏng.
 
Điểm mạnh của mối quan hệ là cả hai bạn thu hút lẫn nhau như hai thỏi nam châm trái dấu. Song Tử và Nhân Mã có thể cùng nhau trò chuyện về thế giới và những điều mình quan tâm cả ngày mà không chán.
 
Điểm yếu của mối quan hệ là cả hai đều tự do chỉ thích làm theo ý mình. Đôi khi hai bạn đều hiếu chiến sẵn sàng nhảy vào đối phương tranh cãi nảy nửa.
 
Biện pháp để mối quan hệ tốt đẹp là Song Tử không nên ghen tuông với Nhân Mã. Nhân Mã không nên đối đấu vào Song Tử trong các cuộc tranh luận.
 

10. Ma Kết
 

Mối quan hệ giữa nữ Song Tử và nam Ma Kết yêu cầu nhiều sự thấu hiểu.
 
Điểm mạnh của mối quan hệ là sự chân thành của Ma Kết sẽ khiến Song Tử cảm động, an tâm. Ngược lại Song Tử khiến cho Ma Kết cảm thấy cuộc đời vui vẻ và phóng khoáng hơn.
 
Điểm yếu của mối quan hệ là sự đối lập giữa tính cách yêu tự do, không có định hướng của Song Tử với lối sống theo khuôn khổ, nguyên tắc của Ma Kết.
 
Biện pháp cho mối quan hệ này là Ma Kết không nên quá nguyên tắc đối với Song Tử. Đôi khi bạn có thể tham gia cùng Song Tử trong những trò vui có vẻ ngu ngốc nhưng thực ra lại rất thú vị của nàng.   Cô nàng Song Tử thích bay nhảy khó có thể kết hợp lâu bền cùng nam Ma Kết thích ràng buộc

 

11. Bảo Bình
 

Mối quan hệ giữa nữ Song Tử và nam Bảo Bình hứa hẹn những chuyến phiêu lưu đầy màu sắc.
 
Điểm mạnh của mối quan hệ là cả hai bạn đều là người quảng giao, giỏi giao tiếp, thích phiêu lưu. Song Tử và Bảo Bình dễ dàng chia sẻ cùng nhau các sở thích chung, hòa hợp tự nhiên.
 
Điểm yếu của mối quan hệ là cả hai bạn đều tự do và thích bay nhảy nên mối quan hệ sẽ thiếu đi sự vững chắc, ràng buộc cần thiết.
 
Biện pháp cho mối quan hệ là hai bạn cần có trách nhiệm với đối phương, không nên quá ham vui mà quên đi nghĩa vụ của mình.
 

12. Song Ngư
 

Mối quan hệ giữa nữ Song Tử và nam Song Ngư rắc rối.
 
Điểm mạnh của mối quan hệ là Song Ngư bị thu hút bởi vẻ duyên dáng, hấp dẫn của cô gái Song Tử. Chàng Song Ngư đem đến cho cuộc sống thường nhật của Song Tử những nét mộng mơ, lãng mạn mà nàng từng mơ ước.
 
Điểm yếu của mối quan hệ là Song Ngư quá tình cảm, sướt mướt, cần ổn định trong khi Song Tử lại lý trí, ham vui và vô lo vô nghĩ. Song Tử có thể vô tình làm tổn thương Song Ngư rất nhiều lần.
 
Biện pháp duy trì mối quan hệ là Song Ngư cần cho Song Tử một không gian tự do để nàng bay nhảy. Bạn không thể nhốt một chú chim vào một chiếc lồng được.
 
Chúc các bạn sớm tìm được một nửa của Song Tử thích hợp với mình nha!

ST.

Đi tìm một nửa ăn ý cho cô nàng Song Tử (P1) Thực phẩm dưỡng sinh cho 12 cung hoàng đạo trong tiết Tiểu Hàn Họa mi Mỹ Tâm: Cô nàng Ma Kết tài có thừa, tâm cũng chẳng thiếu

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Đi tìm một nửa của Song Tử nữ ưng ý nhất (P2)

Cậu bé khôn ngoan

Một cậubé tiến đền gần tiệm thuốc tây và dùng một thùng các – tông cứng (loại để đựngcác lon soda) đặt ngay bên dưới chân máy điện thoại công cộng. Rồi cậu ta leolên đứng trên thùng các - tông để có thể bấm những nút trên điệnthoại. Cậu nhấn vào bảy con số.
Cậu bé khôn ngoan

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Người chủ tiệm thuốc tây quan sát và lắng nghe cuộc đàm thoại.

Cậu bé hỏi:

– Thưa bà, bà có thể dành cho tôi công việc cắt cỏ cho thảm cỏ của bà không?

Người phụ nữ trả lời:

– Tôi đã có người cắt cỏ cho thảm cỏ của mình rồi.

Cậu bé nói:

– Thưa bà, tôi sẽ cắt thảm cỏ của bà với giá bằng phân nửa giá của người đang cắt cỏ cho bà bây giờ.

Người phụ nữ đáp lại:

– Tôi rất hài lòng với người đang cắt cỏ cho thảm cỏ của mình.

Cậu bé tỏ ra kiên nhẫn hơn và nói:

– Thưa bà, thậm chí tôi sẽ quét dọn lề đường và lối đi bộ cho bà, và những việc khác nữa. Vào chủ nhật bà sẽ có một thảm cỏ đẹp nhất trong tất cả các thảm cỏ của bãi biển North Palm ở Florida này.

Và người phụ nữ vẫn từ chối.

Cậu bé nở nụ cười rạng rỡ trên khuôn mặt và gác máy điện thoại.

Người chủ tiệm thuốc nãy giờ lắng nghe tất cả nội dung cuộc đàm thoại, đi đến bên cậu bé và nói:

– Này cháu, chú thích thái độ của cháu, chú thích tinh thần lạc quan đó và muốn dành cho cháu một công việc.

Cậu bé đáp lại:

– Cảm ơn chú, nhưng cháu chỉ là đang kiểm tra lại khả năng làm việc của mình và chất lượng công việc mà cháu đang làm mà thôi. Cháu chính là người đang làm việc cho người phụ nữ mà cháu đã nói chuyện lúc nãy.

Life Story


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Cậu bé khôn ngoan

Quẻ Quan Âm: Kim Tinh Thí Đậu Nhi

Quẻ Quan Âm thứ 67 Kim Tinh Thí Đậu Nhi đoán rằng người có tính tình ngay thẳng, tâm thái hài hòa thì cuộc sống sẽ luôn tươi sáng, bình yên.
Quẻ Quan Âm: Kim Tinh Thí Đậu Nhi

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Đây là quẻ Quan Âm thứ 67 được xây dựng trên điển cố: Kim Tinh thí Đậu Nhi hay Kim Tinh thử Đậu Nhi.

Quẻ thượng cát thuộc cung Mão. Tính tình ngay thẳng, tâm thái hòa, tự nhiên cuộc sống sẽ luôn tươi sáng và bình yên. Nếu như mỗi người đều giữ được mình như vậy ắt cuộc đời này chẳng phải thái bình thịnh vượng hay sao?

Tâm binh chính trực, đáo để thanh binh, chỉ y bản phận, thiên hạ thái binh.

Điển cố quẻ Quan Âm: Kim Tinh Thí Đậu Nhi

Đậu Nhi tức Đậu Nghị, con trưởng của Đậu Yên Sơn, sống vào triều Hậu Tấn trong thời Ngũ Đại.

Đậu Yên Sơn sinh ra trong một gia đình giàu có, nhưng tương truyền ông vốn là người bất hảo, cậy thế áp bức người nghèo. Khi có người nghèo khổ đến vay lương thực, ông cho vay bằng cái đấu nhỏ, nhưng thu về bằng cái đấu lớn; cho vay bằng cái cân nhỏ, nhưng thu về bằng cái cân lớn, lừa bịp dối gian, làm việc mờ ám. Do làm việc thất đức, cho nên đến ba mươi tuổi vẫn không có con cái. Một tối nọ, ông nằm mơ thấy người cha đã chết nói với mình rằng: “Con lòng dạ không tốt, phẩm hạnh không đứng đắn, tiếng ác lan truyền, nếu như không chịu sửa đổi những sai trái trước kia, làm một con người khác, không chỉ suốt đời không có con, mà còn bị đoản mệnh mà mất mạng. Con nên sửa lỗi lầm mà theo điều thiện, tích lũy âm đức, như thế mới có thể cứu vãn được mệnh trời, thay đổi vận số!”

Từ đó, Đậu Yên Sơn lập tức sửa đổi những sai trái khi trước, không làm những việc thất đức nữa. ông mờ lớp học tư thục, mời thầy giỏi đến dạy. Con cái của người nghèo muốn đến học, ông bèn chủ động đón đứa trẻ đến, miễn tiền học phí. Có một người đầy tớ đã ăn trộm tiền, lo sợ sự việc bại lộ liền bỏ trốn, nhưng để lại một mẩu giấy viết rằng, bán đứa con gái mười hai tuổi của mình cho nhà họ Đậu để bồi thường số tiền đã lấy trộm. Đậu Yên Sơn thấy bé gái đáng thương, bèn nhận làm con gái nuôi. Sau khi trường thành, còn chọn cho cô con gái nuôi chàng rể tốt, rồi gả chông cho.

Đậu Yên Sơn dường như đã thay đổi hoàn toàn thành một con người khác, cứu tế người bần hàn, làm lợi cho người, dốc lòng tích đức.

Sau đó, vợ của Đậu Yên Sơn liên tục sính được năm người con trai. Ông hết lòng nuôi dạy, khiến cho các con vừa có thể lực khỏe mạnh, lại có được phẩm đức cao thượng. Vì thế danh thơm của Đậu Yên Sơn và năm người con được mọi người hết lời ca tụng. Ngọc Đế trên trời nghe được, có phần không tin, liền sai một vị tiên là Kim Tỉnh xuống trần kiểm nghiệm xem năm người con của nhà họ Đậu thực sự có phẩm hạnh đoan chính như mọi người nói hay không.

Kim Tinh thấy Đậu Nghị không hề dao động trước nhan sắc của mình, bèn nói rằng sẽ nhảy xuống nước để uy hiếp, nhưng Đậu Nghị vẫn không dao động. Kim Tinh không nản lòng, vẫn khôn ngừng quấy rầy ngoài cửa, tin rằng Đậu Nghị sẽ mử cửa cho mình vào. Cuối cùng Đậu Nghị nghĩ rằng có lẽ đó chính là yêu quái đến quấy rầy, bèn mở cửa, rút kiếm truy sát, thì thấy người con gái đó biến thành một luồng hào quang, chui xuống đất chạy mất.

Sau đó Đậu Nghị và em trai là Đậu Nghiễm lên kinh dự thi, được chọn là Song khôi Trạng nguyên. Đậu Nghị được làm Hàn Lâm Học sĩ, giữ chức Thượng thư bộ Lễ; Đậu Nghiễm cũng được làm Hàn Lâm Học sĩ, giữ chức Thị lang bộ Lễ. Sau đó, ba người con trai khác của Đậu Yên Sơn cũng đều thi đỗ, trở thành Tam nguyên.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Quẻ Quan Âm: Kim Tinh Thí Đậu Nhi

Những điều kiêng kị và nên làm trong tháng 7 âm lịch

Tháng 7 âm lịch được gọi là "tháng cô hồn”, là một tín ngưỡng dân gian quan trọng của người Việt. Nếu bạn quan niệm “có thờ có thiêng, có kiêng có lành”, thì hãy ghi nhớ những điều nên và không nên làm trong tháng 7 âm lịch này.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Điều nên làm trong “tháng cô hồn"

Theo quan niệm dân gian được truyền tụng, một số điều sau mọi người nên làm trong "tháng cô hồn":

1. Nên đi chùa chiền thắp nhang cầu siêu, cầu sức khỏe… Bạn có thể cúng cô hồn bất kỳ ngày nào trong tháng, nếu vào ngày mùng 2 hoặc 16 âm lịch thì càng tốt để tỏ lòng thành của gia đình mình.

2. Nên làm nhiều việc thiện trong tháng này.

3. Nên đi thăm mộ của người thân trong gia đình ở ngoài nghĩa địa hay vãng sanh đường trong chùa chiền lưu giữ các hài cốt. Vì trong tháng cô hồn còn gọi là Tết của những người Âm.

4. Trước khi dọn đồ ra cúng cô hồn, bạn chưa kịp thắp nhang khấn vái mà có những người tranh nhau giật các đồ cúng từ trên tay bạn thì ngay lập tức nên buông thả đồ cúng ra khỏi tay bạn. Nếu bạn giật lại thì hậu quả nhận được là những điều tệ hại. Nếu khi bạn chưa làm lễ cúng mà đã có người chầu chực để giật có nghĩa là tín hiệu tốt.

5. Nên hạn chế sát sinh các con vật.

6. Nên cúng xe ô tô dù có kinh doanh hay không kinh doanh.

7. Nên ăn chay để tránh điềm dữ.

8. Nếu biết tụng kinh thì nên trì tụng (Chú Đại bi, chuẩn đề, vu lan báo hiếu, Địa tạng)

9. Nên ăn nói nhã nhặn vui vẻ trong gia đình hay trong bạn bè đối tác.

10. Nên tránh xa các cuộc xung đột.

11. Nên cứu người khi gặp nguy cấp.

12. Khi cúng cô hồn xong thì 1 ngày sau đó hoặc cuối tháng 7 nên dùng bột trừ tà ma tiêu khử, tránh trường hợp các âm hương linh phảng phất vào nhà mình tụ ở lại và đồng thời vào đầu tháng 8 âm lịch thì nên dùng bột tẩy uế mà tẩy hoàn toàn trong căn nhà mình để có tác dụng cân bằng sinh khí trong ngôi nhà mình ở.

13. Nên để đèn sáng nếu nằm trong phòng bệnh viện khi ngủ.

14. Trong tháng 7 âm lịch nếu đi đâu thì bạn nên đi về sớm.

15. Nên mặc áo màu. Tuyệt đối không được mặc đồ trắng và không mặc quần áo có in hình thù quỷ quái ghê sợ.

16. Nên đi nhẹ, nói khẽ trong tháng cô hồn

17. Nếu đi đâu về muộn bạn nên đi nhanh và không nhìn lại phía sau

18. Khi đi dự đám tang về nên hơ người bằng lửa ấm, thay quần áo và hạn chế tiếp xúc với trẻ nhỏ.

19. Nếu trước nay chưa cúng cô hồn bao giờ do không có điều kiện thì không cúng luôn, chớ nên cúng rồi lại bỏ.

 nhung dieu kieng ki va nen lam trong thang 7 am lich - 1

Vào tháng 7 âm lịch, bạn nên đến chùa cầu siêu, thành tâm khán vái cầu xin sức khỏe, tài lộc...

Điều kiêng kị, không nên làm trong tháng “cô hồn”

Bên cạnh những việc nên làm kể trên, nhiều người còn truyền nhau những điều phải kiêng kỵ để tránh gặp tai họa, xui xẻo trong “tháng cô hồn” như sau:

1. Vào tháng này, người ta đều kiêng không làm những việc đại sự như làm nhà, cưới hỏi, chuyển nhà, nhập trạch…vì cho rằng cuộc sống sau này dễ gặp nhiều tai ương. Ngoài ra, bạn cũng nên hạn chế ký kết hợp đồng, nếu cần cho việc đại sự thì nên xem ngày cho kỹ.

2. Không thề thốt nói bậy trong buổi chính trưa, cuối chiều và rạng sáng. Nguy hiểm nhất thề thốt nói bậy ngay giờ trưa từ 11 giờ đến 12 giờ 45 phút hoặc từ 18 giờ chiều cho đến rạng sáng.

3. Không được nhổ lông chân vào ngày này, vì dân gian cho rằng “một sợi lông chân quản ba con quỷ”, người càng có nhiều lông chân thì ma quỷ càng ít dám đến gần.

4. Không treo chuông gió ở đầu giường vì tiếng chuông sẽ thu hút sự chú ý của ma quỷ, khi ngủ sẽ dễ bị chúng xâm nhập quấy phá.

5. Không đi về quá khuya.

6. Không tụ tập lượn lách đua xe.

7. Không mài dao kéo trong tháng này.

8. Không chở đồ cồng kềnh và chở nhiều người trên một chiếc xe.

9. Không nên và hạn chế mua xe trong tháng này. Nếu bất đắc dĩ vì một lý do nào đó mà cần phải mua xe thì nên tham khảo quý thầy chùa, sư, thầy phong thủy.

10. Không nên mua xe những ngày sát chủ, ngày kỵ thiên can - địa chi tương khắc.

11. Không nhặt tiền bạc rơi vãi trên đường, vì có thể đó là tiền người ta cúng mua chuộc bọn quỷ đầu trâu mặt ngựa, nếu người nào phạm kỵ, sẽ gặp tai hoạ không chừng.

12. Không nên tự ý chặt cây có gốc to.

13. Không nên may quần áo trắng trong tháng này.

14. Không nên thả tiền thật.

15. Không được tắt đèn nếu nằm trong phòng bệnh viện khi ngủ.

16. Tuyệt đối không được cúng những đồ ăn mặn. Nếu cúng mặn có nghĩa là khơi dậy “tham, sân, si” có thể làm cho âm phần dữ tợn hơn nữa.

17. Không tùy tiện đốt giấy, vàng mã vì như vậy sẽ khiến ma quỷ bu đến.

18. Không được núp mưa dưới gốc cây.

19. Không mặc quần áo có in hình thù quỷ quái ghê sợ.

20. Không chụp ảnh vào ban đêm, bởi ma quỷ luôn lảng vảng chung quanh đó sẽ “vô hình” vào ảnh chung với người sống, đó là điều không tốt.

Có thể thấy, những điều nên làm và cần kiêng trị trong tháng cô hồn đều là những tín ngưỡng dân gian mà không ai hay một ngành khoa học nào có thể kiểm chứng đúng sai. Tuy nhiên, việc kiêng kỵ này cũng chỉ mang tính chất tương đối. Nếu tin vào những điều không căn cứ, dựa trên sự hiểu biết của chính mình thì rất dễ rơi vào niềm mê tín tiêu cực.

Nguồn gốc tháng cô hồn

Ở Trung Quốc, nguồn gốc của tháng cô hồn bắt nguồn từ việc Diêm Vương cho mở cửa Quỷ môn quan vào ngày 2/7 âm lịch hàng năm để quỷ đói được trở lại trần gian rồi đến rằm lại quay về. Chính vì thế mà theo tục lệ dân gian, người trần gian phải cúng cháo, gạo, muối cho quỷ đói để chúng không quấy nhiễu cuộc sống thường ngày. Có những nơi, người ta gọi quỷ đói là “anh em tốt”, “thần cửa sau” để lấy lòng những linh hồn quỷ đói này. Hàng năm, người dân Trung Quốc tiến hành cúng cô hồn vào ngày 14/7 Âm lịch.

Ở Việt Nam, cúng cô hồn là một tín ngưỡng tâm linh truyền thống của người Việt, được truyền từ đời này sang đời khác. Người Việt cho rằng, con người bao gồm hai phần là hồn và xác. Khi con người mất đi nhưng phần hồn vẫn tồn tại, có người thì được đầu thai khiếp khác hay có người thì bị đầy xuống địa ngục, làm quỷ đói quấy nhiễu dương gian.

Hàng năm, người Việt cúng cô hồn kéo dài một tháng, tùy thuộc vào từng gia đình, từng vùng miền khác nhau chứ không ấn định riêng một ngày nào. Người dân cũng quan niệm rằng, tháng cô hồn là tháng ma quỷ, không đem lại may mắn nên hầu hết các công việc cưới hỏi, khởi công xây dựng, chuyển nhà, xuất hành, mua sắm, … đều tránh tháng 7.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những điều kiêng kị và nên làm trong tháng 7 âm lịch

Xem tướng bàn tay người yêu đơn phương

Xem bói tướng bàn tay người yêu đơn phương: Nếu bàn tay có những đặc điểm dưới đây, e rằng tình đơn phương là luôn là
Xem tướng bàn tay người yêu đơn phương

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Xem tướng bàn tay người yêu đơn phương: Nếu bàn tay có những đặc điểm dưới đây, e rằng tình đơn phương là luôn là "bạn đồng hành" cùng bạn. 


1. Ngón tay trỏ ngắn


Trong thuật nhân tướng học cho rằng, đa phần chủ nhân của ngón tay trỏ ngắn thường tự ti, dễ chùn bước trước khó khăn, thậm chí có thể bỏ cuộc giữa chừng nến như bản thân cảm thấy quá áp lực.

Trong tình cảm, người này không biết cách thể hiện cảm xúc, sợ phải đối mặt với người mình thích mà chỉ đứng từ xa để quan sát. Chính vì thế, họ luôn trong tình trạng yêu đơn phương ai đó, không dám thổ lộ với bất cứ ai, kể cả là bạn bè thân thiết. Đây chính là một trong những đặc điểm tướng bàn tay của người yêu đơn phương.

Ban tay cua nguoi luon bi tinh don phuong deo dang hinh anh

Bàn tay của người luôn bị tình đơn phương đeo đẳng


2. Đường Hôn nhân ngắn


Người có tướng bàn tay mà đường Hôn nhân ngắn thường có suy nghĩ nông cạn, hay thụ động trong tình yêu. Họ lại khá nhạy cảm, dễ bị yếu tố ngoại cảnh tác động đến tâm lí. Chính vì thế, nếu mối tình nào đó thành công, chắc chắn rằng là do đối phương chủ động ngỏ lời chứ không thể là người này.

Tuy nhiên, đối với những người có cùng chí hướng trong công việc, sự nghiệp với mình, họ sẽ là một “trợ thủ đắc lực”, giúp cả hai có thể gặt hái được thành công lớn. 

Có thể bạn quan tâm: Nhận diện số mệnh lấy chồng giàu có qua đường hôn nhân

3. Bàn tay có quá nhiều đường trở ngại


Chủ nhân của tướng tay này thường có yêu cầu về đối phương quá cao, đầu óc nặng về ưu tư suy nghĩ, có thể vì những suy nghĩ gàn dở mà bạn làm mất đi tình yêu đẹp của chính mình. Ngoài ra, bạn dễ nảy sinh sự tự ti, suy nghĩ tiêu cực bởi không được mọi người ghi nhận những cố gắng, nỗ lực của mình.

Những đường trở ngại này là những vân chồng chéo lên nhau, cắt những đường chỉ tay chính của lòng bàn tay và không theo một quy luật nhất định nào.

4. Đường Trí đạo dài và cong lên gò Nguyệt


Những người có đường Trí đạo dài và cong thường sở hữu tính trực giác cao, trí tưởng tượng phong phú nhưng khả năng phán đoán vấn đề lại tương đối yếu. Hơn thế, họ luôn đề cao bản thân quá mức, không biết lắng nghe ý kiến của mọi người xung quanh. Người như vậy khó tìm được đối tượng tâm đầu ý hợp nên luôn bị tình đơn phương đeo đẳng. Xem thêm bài viết: Xem bói đường Trí Đạo trong lòng bàn tay

5.  Đường Tâm đạo có vân đảo


Chủ nhân của tướng tay này dễ thay đổi cảm xúc, bị yếu tố ngoại cảnh tác động, có thể thay lòng đổi dạ khi tình yêu gặp trở ngại. Người này tính tình trẻ con, cả thèm chóng chán, hôm nay họ có thể yêu đơn phương người này nhưng ngày mai lại chuyển sang đối tượng khác. Chính vì thế tình đơn phương mãi mãi chỉ là ở phía họ mà thôi.

Lichngaytot

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem tướng bàn tay người yêu đơn phương

Vận mệnh người tuổi Canh Ngọ theo Lục Thập Hoa Giáp

Lục Thập Hoa Giáp của Canh Ngọ là con ngựa truy phong, dũng mãnh, dám nghĩ dám làm, từ tâm công minh, kết giao rộng rãi, ghét kẻ tiểu nhân.
Vận mệnh người tuổi Canh Ngọ theo Lục Thập Hoa Giáp

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


► ## giúp bạn tra cứu lá số tử vi trọn đời chuẩn xác

Giai ma van menh nguoi tuoi Canh Ngo theo Luc Thap Hoa Giap hinh anh
 
Người tuổi Canh Ngọ sinh vào mùa xuân, không được nhờ cậy người thân, sinh vào ban ngày phú quý dài lâu.
 
Lộ bàng Thổ là Thổ bên đường, bằng phẳng rộng vạn mẫu, hoa màu sinh trưởng, cỏ cây tươi tốt. Đây chính là Thổ ấm áp, nuôi dưỡng vạn vật. Do đó trước tiên là cần gặp Thủy đến tưới tắm thấm nhuần, lại được Kim đến tương trợ thì hoa màu trĩu hạt, bội thu.
 
Lục Thập hoa Giáp của Canh Ngọ gặp Giáp Thân, có lộc thêm quý, tuổi trẻ ra làm quan, còn chủ tượng hồ mực chảy ra suối vàng, văn chương cái thế.
 
Tuổi Canh Ngọ ưa gặp Đinh Mùi Thiên hà Thủy; Đinh Sửu Giản hạ Thủy; không ưa Nhâm Thìn, Quý Tỵ Trường lưu Thủy, Nhâm Tuất, Quý Hợi Đại hải Thủy, vì Thủy này không thể tưới tắm được Thổ này, chủ về hung họa yểu mệnh.
 
Ưa gặp Kỷ Sửu Tích lịch Hỏa, chủ cát lợi. Không ưa gặp Mậu Ngọ Thiên thượng Hỏa, quá khô nóng lại phạm hình, chủ đoản thọ. Bính Dần, Đinh Mão Lư trung Hỏa cũng khô, gặp phải chủ yểu mệnh.
 
Là Thổ mới sinh ra, Mộc không thể khắc, duy kỵ Thủy nhiều làm tổn thương nguyên khí của nó, Mộc nhiều có nơi quy về, Thổ dày có đức, hòa khí dung hợp, phúc lộc đầy đủ. Nếu hợp cách có thể làm quan tốt, có lòng bác ái thương dân.
 
Trong tử vi người sinh năm Canh Ngọ, Thiên tướng hóa kỵ, không thể ngụy tạo văn chương, mạo danh hoặc làm giả con dấu người khác... 
 
Người sinh năm Canh Ngọ, Canh lộc tại Thân, Ngọ mã cũng tại Thân, lộc mã đồng cung, nên sớm thoát ly, sau này trở về báo đáp quê hương, rạng danh tổ tiên.
 
Mã tại Thân, chủ về sợ độ cao, đi máy bay đề phòng gặp tai nạn, ;hông nên làm phi công, tiếp viên hàng không.
 
Chi khác không thể có Dần, chủ trong cát có hung, là do lộc gặp phá, mã gặp hình, không nên làm kinh doanh, không được đánh bạc, thường vì kinh tế túng thiếu mà dẫn đến khủng hoảng.
 
Thổ này ưa nhất gặp Canh Dần Tùng bách Mộc, trong sách cổ gọi là Cưòng trí kiên Mộc cách, sẽ là người nổi bật, nói cách khác là ngưòi nổi tiếng trong lĩnh vực học thuật nào đó. 
 
Chi khác không nên có Ngọ, Ngọ phạm hình, là ngưòi cố chấp thiên kiến, làm việc có đầu không có cuối, vợ chồng duyên mỏng. Chi khác có Tý, con cái duyên mỏng.
 
Nhật chi không nên có Hợi, phạm Phá trạch sát. Canh Ngọ Không vong tại Hợi, mua bất động sản không nên đứng tên mình, còn chủ khắc bạn đời.
 
Nếu là Tân Hợi Thoa xuyến Kim là cát lợi. Do Thổ Kim tương sinh, nếu là Kỷ Hợi Bình địa Mộc là hung họa do Mộc khắc Thổ.
 
Nhật chi có Tuất, khắc bạn đời. Thời chi có Tuất, nên nương nhờ cửa Phật.
 
Can khác có Bính, phạm Ngũ quỷ, không được làm những việc tổn hại đến danh dự. Nếu can khác có Bính thì càng không được có Mậu, e rằng cuối đời chán nản bi thương.
 
Lục Thập Hoa Giáp của Canh Ngọ: Người sinh năm Canh Ngọ mỗi khi gặp năm Ngọ, Tý, trong nhà không yên ổn, không hại đến bản thân cũng hại đến người nhà.
 
Bạn đời chớ nên gặp người sinh năm Bính, Đinh. Nên tìm người sinh năm Giáp, Ất.
Theo Tử vi toàn tập
 

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Vận mệnh người tuổi Canh Ngọ theo Lục Thập Hoa Giáp

Nhị, xui xẻo kết hôn đích tổ hợp

1. phu thê cung vị hữu dụng, lại bị hình, xung,phá, hại, hoặc lục hợp, ám hợp hắn tinh( Phối ngẫu tinh lấy ngoạiđích tinh), hoặc tạp thấu, nhiều hiện. Này đó đều là hôn nhân khôngtốt lắm đích tổ hợp. Bất hảo tới trình độ nào, có thể không lyhôn, nhưng lại muốn xem phu thê cung phá hư tới trình độ nào. Như pháhư giác nhẹ, thì hôn nhân bất hảo, không nhất định ly hôn; như phá hưquá nặng, thì nhất định nên ly dị.
Nhị, xui xẻo kết hôn đích tổ hợp

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

2. phu thê cung vốn là bát tự trung vô dụng chi thần, làm kị thần không có chế, hoặc tác dụng thần lại bị phá hư, tỏ vẻ phối ngẫu không thể trợ giúp chính mình, hoặc cảm tình rất kém cỏi.

3. bát tự trung không thích tỉ kiếp tranh phu, hoặc tỉ kiếp tranh thê, như ngộ tranh người, nhẹ người có người thứ ba vấn đề, trọng người nhất định ly hôn.

Càn: Mậu kỷ ất đinh

Tuất mùi tị hợi

Này tạo ất mộc nhật chủ sinh vu mùa hè, được hợi thủy cùng mùi thổ cây, vi sống mộc, sống mộc hỉ dụng thủy, hỏa thổ đều vi kị. Tị hỏa trung ngậm mậu thổ thê tinh, vì vậy làm vợ tinh được chính vị, cục trung hỏa thổ có xu thế, xung khứ dụng thần hợi thủy. Thê làm kị thần, nói rõ phu thê cảm tình bất hảo, thê không được lực. Phu thê cảm tình cả đời bất hảo, thê còn phải đường nước tiểu bệnh, hàng năm cũng hoa không ít tiền. Ngồi xuống thương quan, bị thê trông nom.

Nhàn chú: Sống mộc nhất định phải dụng! Ất mộc thấy hợi cùng mùi vi sống mộc, nhất định phải dụng hợi! Tị xung phá hủy hợi, hôn xui xẻo!

Khôn: Tân quý mậu ất

Mão tị ngọ mão

Này tạo phu cung vi ngọ hỏa ấn tinh, có phu tinh mão mộc sinh phu cung, vốn xác nhận hảo hôn nhân, nhưng phu tinh cùng phu cung trong lúc đó tướng phá, cũng nên tỏ vẻ phu thê không cùng rồi. Phu thê trong lúc đó thường ồn ào, nhưng không có ly hôn. Ngọ vốn là nhà, vừa vỡ biểu không muốn về nhà, một hồi khứ nhân tiện ầm ĩ, nguyên nhân vốn là50 niên đại người, mùi cách, như thế hiện đại nói, khẳng định cách. Lưỡng mão phá ngọ, vốn là nhiều hôn tổ hợp.

Khôn: Giáp mậu kỷ canh

Thìn thìn dậu ngọ

Này tạo niên thượng giáp mộc vi phu tinh, ngồi chi thìn dậu hợp, phu tinh hợp đến phu cung, vốn là hảo hôn nhân. Nhưng cục trung tỉ kiếp Lâm lập, phu tinh ngồi xuống vừa là tỉ kiếp, vi tỉ kiếp tranh phu chi tượng, cho nên phu không thương nàng, cùng bên ngoài phụ nữ thân mật. Nhưng thìn dậu chi hợp mùi phá hư, không có ly hôn.( Quan sát vừa người, nhưng tỉ kiên nhiều hiện tranh phu, tranh đích rất lợi hại, phu bên ngoài phụ nữ nhiều lắm, tỉ kiên chỉ cần cùng phu tinh có liên quan hệ là được, không nhất định phải cùng phu cung có liên quan hệ, giáp ngồi thìn rồi, bây giờ cũng không ly hôn, nguyên nhân nhật trụ cùng niên trụ thiên địa hợp bán rồi, cung vị hợp rất chặt, nhưng hôn nhân rất kém cỏi.)

Tỉ kiên tranh phu đích vài loại có thể:

1, tìm đích lão công vốn là cách qua hôn đích.

2, lão công có gặp ở ngoài.

3, chính mình làm tiểu đích hoặc bị bao.

4, ly hôn.

5, từng đích đối tượng. Này tạo vốn là lão công có gặp ở ngoài ý.

Nhàn chú: Giáp vi phu tinh, nhưng nguyệt lệnh mậu ở chính giữa, phu có gặp ở ngoài, nhưng nguyên nhân giáp thìn cùng kỷ dậu thiên địa hợp, phu cung không phá hư, không có ly hôn!

Khôn: Mậu giáp kỷ tân

Thân dần mùi mùi

Giáp kỷ, giáp vi phu, mậu vi kiếp, ngồi xuống thân dần vọt, cố lão công nhất định là cách qua hôn đích, sau đó sẽ tìm nữa đích nàng. Nếu như giáp dần, mậu thân thay đổi vị trí, thì nhất định là tranh đích ý tứ rồi. Này tạo hôn sau khi lão công không có gặp ở ngoài. Dần thân xung, cũng đại biểu sửu mùi xung, cho nên vốn là hảo hôn nhân. Nhàn chú: Dần nhập mùi khố, thân dần một xung chẳng khác đem dần vọt tới mùi trong rồi, mùi khai khố rồi! Mậu thân mang tượng, thân vọt dần, chính là mậu đồng dần ra đi, cho nên, nói mậu vốn là giáp đích tiền thê, không phải đào hoa! Lão công nhập tới rồi cung, nhị hôn hảo, không thành vấn đề!

Càn: Đinh nhâm giáp ất      

Dậu tử tử hợi     

tân canh kỷ mậu đinh bính

hợi thú dậu thân mùi ngọ

Này tạo giáp mộc sinh vu mùa đông, có gốc, muốn hỏa đến ấm áp, có thể thấy được ngồi chi thê cung đích tử thủy vi bát tự viện kị. Nhâm thủy cũng là phu thê cung, biểu có hôn nhân. Thê cung vi kị thần người hôn nhân một bực như nhau bất hảo, gia tăng chi bát tự không có tài, lấy đinh hỏa thương quan làm vợ tinh, bị khắc không có khí, lão bà hình như có như không có, hôn nhân bất hảo. Nhưng nguyên nhân phu thê cung không có bị phá phá hư, cho nên đến bây giờ không có ly hôn.( Ngồi xuống đích đều là tật xấu, tử không sinh mộc, phản phiêu mộc, nhưng giáp còn có cây, thương quan làm thê, thê tuy có nhưng nhược, có chẳng khác không có, hôn nhân bất hảo, nhưng mùi cách, nguyên nhân nhân tiện [một người/cái] thê tinh, mà không có phá hư thê cung gì đó, biểu tái không người nào thích hắn, cố mùi cách, thê cung vốn là kị thần.)

Nhàn chú:57 năm đích đến phía sau hôn tốt chút, tẩu hỏa mà! Đinh vi dụng tại niên thượng, quá yếu, phỏng chừng không ở nhà ở đây, phát huy không được nhiều tốt đẹp tác dụng!

Càn: Ất canh đinh quý

Dậu thìn mùi mão

Này tạo thê cung mùi trong đất ngậm ất mộc, ất canh hợp, thê cung viện hợp canh kim tài tinh làm thê tinh xem. Mão thìn hại, mão dậu xung, tài tinh cùng chủ vị quan hệ không cùng, nói rõ thê tử rất có cá tính, khó có thể khống chế, mão vốn là thê cung đích kéo dài, tính phó cung, nhưng không nhắc tới bên ngoài có [một người/cái]. Hai người thường nháo không cùng. Nhưng thê cung cùng thê tinh cũng rất an tĩnh, cả đời sẽ không ly hôn. Như thế đinh mão nhật thê cung gặp hại, thì nhất định cách. Bây giờ đích tình huống vốn là hại trật, cho nên chỉ là quan hệ không cùng mà thôi. Chưa vào thìn mộ, biểu lão bà rất lợi hại, lão bà trông nom hắn, khống chế hắn.

Đổi thành càn: Ất canh đinh quý

Dậu thìn mão mùi 

cái này nên cách.

Nhàn chú: Nơi này thê cung phá hủy, như vậy nên cách rồi!

Càn: Nhâm kỷ đinh kỷ

Dần dậu sửu dậu

Một cung lưỡng tinh, [hai người/cái] lão bà. Này tạo thê cung sửu thổ, có lưỡng dậu tài tinh nhập mộ, song thê chi mệnh. Lưỡng dậu không phải một người, biểu ngoài có tình nhân. Nguyệt thượng biểu thê, thời thượng vẻ mặt người, có trước sau đích thời gian trình tự. Sẽ không công khai, ngoại nhân đều biết nói, lão bà không biết. Nhưng thê cung an tĩnh, vẫn chưa phá hư, nếu như là đang cổ đại, nhất định là một thê một thiếp, hiện đại xã hội pháp luật cấm trọng hôn, cho nên hắn trừ thê tử ở ngoài, còn có tình nhân thân mật. Nhàn chú: Nơi này thê cung không phá hư, một cung lưỡng tinh, một thê một thiếp!

Khôn: Quý đinh quý quý

Mão tị sửu hợi

Này này đây tiền nói đích bán trang phục đích, này tạo phu cung vốn là sửu thổ sát tinh, được chính vị vốn là chính phu. Nguyệt thượng tị hỏa tài tinh( Trung ngậm mậu bính vốn là đào hoa) trung ngậm mậu thổ chính quan, tại lệch vị, củng nhập của nàng phu cung, vi lệch phu( Ngồi thẳng vị chính là chính phu, lệch vị chính là lệch phu, không lấy tinh đích chính lệch định). Thực tế nữ tử này trừ trượng phu ở ngoài, bên ngoài còn có tình nhân; sửu thổ lân kiếp tài, lão công bên ngoài cũng có tình nhân, hai người phân chiếm đa số năm, nhưng nguyên nhân phu cung mùi phá hư, hai người không có ly hôn. Mão mộc sinh tị hỏa, biểu trang phục sinh ý, âm mộc sinh hỏa chi tượng. Bính vốn là đào hoa, đổi lại tượng đinh cũng là đào hoa, nàng bản thân đích đào hoa nhiều, lão công cũng có đào hoa, sửu trung ngậm quý, tỉ kiếp tranh phu rồi( Chú: Xung hợp đào hoa đích đều là đào hoa đích lão bà). Tị mặc dù cùng phu cung hợp, nhưng ngồi trật, cho nên vốn là đào hoa.

Nhàn chú: Sửu vi phu, tị hợp nhập phu cung, bên trong mậu vi đào hoa, bính= mậu cũng là đào hoa, lấy sửu thổ phu vi Thái Cực điểm xem: Sửu trung ngậm tỉ kiếp, lão công cũng có tình nhân, nhưng cung không phá hư, cách không được!

Càn tạo: Quý đinh đinh bính

Mão tị tị ngọ

bát tự không có tài, lấy cung xem thê, tạp rồi, mà tị phục ngâm, hai lần hôn!

Càn tạo: Quý đinh đinh ất

Mão tị tị tị

cái này hôn sẽ không cách, nguyên nhân cung tuy nhiều, nhưng không tạp!

Càn tạo: Ất kỷ quý tân

Mùi mão dậu dậu

Một thê một thiếp, hai người vốn là biểu tỷ muội, lão Đại không sinh, lão Nhị sinh một nữ một nhân, đồng cư một thất! Nơi này mão mộc không vào mộ, không xung thì nhập mộ! Đỉnh lên chức ví dụ

Thứ hai lễ, nhiều hôn đích mệnh lý

Nhiều hôn đích mệnh lý tổ hợp là đang xui xẻo hôn nhân đích trụ cột thượng càng tiến thêm một bước, phu thê trong lúc đó đích mâu thuẫn không thể điều hòa, tất nhiên làm cho ly hôn đích kết quả. Chúng ta nơi này đem ly hôn đích vài loại tình huống nhóm đi ra, dễ dàng cho mọi người học tập.

1. phu thê cung gặp hại, phu thê cung mặc phu thê tinh đích cái kia chữ, nhất định ly hôn, hoặc phối ngẫu tử vong.( Có thể xung)

2. phu thê cung nhiều hiện, tạp hiện thời, như có phu thê tinh vừa nhiều hiện, thì đa số hội ly hôn.

3. phu thê cung rơi phu thê tinh thời, không thích hắn hợp, kể cả lục hợp, ám hợp, hợp lại nhân tiện dễ dàng hợp đi, ly hôn người chiếm đa số.

4. bát tự trung như ngộ tỉ kiếp tranh phu, hoặc tỉ kiếp tranh thê, phối ngẫu sẽ có người thứ ba vấn đề, tái ngộ phối ngẫu cung bị phá hư, tất nhiên ly hôn.

5. ngồi chi phu thê cung đích phu thê tinh được vị thời xem lệch chính, nam mệnh chính tài vi chính tinh, thiên tài vi lệch tinh, nữ mệnh chính quan vi chính tinh, thất sát vi lệch tinh. Lệch tinh có thể chế, chính tinh không thể chế. Chính tinh bị quản chế, hôn nhân dễ xuất vấn đề.

6. nguyên nhân phu thê cung bị phá hư mà ly hôn người, xem phá hư nó gì đó, [có mấy người/cái] chính là mấy lần hôn nhân; nguyên nhân phu thê tinh nhiều hiện mà ly hôn người, [có mấy người/cái] phu thê tinh mấy lần hôn nhân.

Khẩu quyết: Nam mệnh thực thương vi đào hoa.

Nhâm

Tị thân thân

Hợp lại thì có hai lần hôn nhân

Nhâm

Thân dậu

Không sợ cung nhiều, nhưng tinh thêm xuất hiện rồi, nhân tiện nhiều hôn.

Kỷ bính

Hợi dần

Chính tinh được chính vị, hợp lại sẽ cách.

Khôn: Canh

Hợi dần

Chế đích ý tứ. Lệch tinh có thể chế. Xem tình huống.

Bính tý, kỷ hợi (Nam nữ), đinh hợi, mậu tý. Thuần túy, dường như khủng hoảng, vừa động nhân tiện chịu không được.

Càn: Nhâm canh nhâm quý

Dần tuất thìn mão

Phu thê cung ngồi khố, hỉ hình xung. Không phải nhiều nữ nhân. Mão vốn là đào hoa. Một hại, sẽ không có đào hoa. Không chịu sinh.

Càn: Kỷ bính canh kỷ

Hợi dần thìn mão

Hại mão, không có đào hoa. Hợi hợp dần nhập thìn vốn là lão bà. Vốn là hảo hôn nhân. Nhàn chú: Mão vi đào hoa, hại điệu bên ngoài, không có đào hoa!

Chu: Mậu nhâm kỷ kỷ

Thìn tuất mùi mão

Khố hỉ hình xung, hảo hôn nhân. Nhàn chú: Thổ vi tài, ngồi khố hỉ hình xung!

Càn: Ất bính giáp giáp

Mùi tuất tử tuất

Hại khứ kị thần, hảo hôn nhân. Bính vốn là đào hoa. Có thể có đào hoa. Nhàn chú: Tử vi kị chế rồi, không rời hồn, nhưng là không thế nào hảo! Mùi vi lão bà, mặc thê cung! Thực thương vi đào hoa, làm quan đích! Chế ấn được quyền, thính cấp cán bộ !

Nhạc Phi: Quý ất giáp kỷ

Mùi mão tử tị

Mùi làm một thê, kỷ vi nhị thê; một hưu rồi, nhị lão bà xinh đẹp!

Khôn: Tân Giáp Ất Bính (Diana)

Sửu Ngọ Mùi Tuất         

Ất Bính Đinh Mậu Kỷ

Mùi Thân Dậu Tuất Hợi

Này tạo vốn là anh Vương phi Diana tạo, đầu tiên xem niên thượng tân sửu vi phu tinh, phu cung mùi xung sửu, vốn là phu cung chế khứ phu tinh đích tổ hợp. Ất mộc thấy hỏa vi xinh đẹp, bính tân hợp, phu luyến ngoài mạo mà tìm nàng. Lại nhìn nguyệt thấu giáp mộc tỉ kiếp, tân nên hợp quá khứ thời đầu tiên nên gặp phải giáp đến tranh phu, tân kim phu tinh bị giáp mộc viện đoạt, cho thấy Tra Nhĩ Tư vương tử có khác viện hoan. Giáp mộc cao thấu, nói rõ vương tử đích ngoài giá thú tình mọi người đều biết. Xem có thể không ly hôn, muốn xem phu thê cung ổn không yên rồi, nguyên nhân phu cung phá hủy. Cố nhất định cách. Phu cung mùi thổ bị tuất thổ hình phá hư, đại vận sẽ đi tuất vận, cho nên cuối cùng ly dị, vốn mùi muốn dồn sửu, nhưng tam hình phá hủy, cố mùi không thể chế sửu, nguyên nhân chế không được rồi, cố cách. Không lâu chính mình tai nạn xe bỏ mình (Đinh sửu năm). (Sửu tuất vốn là hình mở, hỏa vượng sẽ không bị diệt.)

Cái này tổ hợp vốn là đoản thọ đích tổ hợp, đây là tử mộc sợ đốt, hỏa vượng sau lúc sẽ chết rồi, nhân tiện tượng lưu tinh giống nhau, dễ dàng nổi danh, cũng đoản thọ. Loại này tổ hợp tử đích phần lớn vốn là ngôi sao, như tam mao, trương quốc quang vinh, Mai tươi đẹp phương chờ. Mộc nhật chủ đích người, hỏa nhật chủ đích người, đều có loại này tượng, phải chú ý xem. Đinh sửu vi ứng kì, là bởi vì nguyên cục trung đích một điểm âm khí xuất hiện bị chế rồi, mà hình vượng rồi hỏa, tuất tại thời thượng chủ xe, mùi tuất hình, tuất trung tân vi gặp ở ngoài đích đào hoa, nhưng tuất trung tân nhỏ hơn tân sửu, cố là nhỏ nhân vật, thật vi của nàng huấn mã sư, nguyên nhân hình khai sau khi bính tân tự hợp rồi, cố cũng bị bạo quang, bính vi ảnh thị, tin tức chờ. Tuất vi ca múa thính, cố nàng cùng phu là đang vũ hội thượng nhận thức đích, bính chủ hai tròng mắt đại.

Nhàn chú: Mùi vọt sửu vốn cát, nhưng thú hình phá hủy mùi, cung phá hủy ! Còn nữa ất mùi một trụ không thể bị phá hư; tử mộc ngộ hỏa vượng sớm tử ! Thú vận hỏa vượng lấy dương chế âm, một điểm âm khí không có, cũng sẽ tử! Đinh sửu ứng kì! Giáp vi đại, lão bà, tạp Minna.

Trương Quốc Vinh:

Bính Ất Bính

Thân Mão Tuất

Càn: Quý Đinh Đinh bính

Mão Tị Tị ngọ

Bát tự không có tài, cung vị xem lão bà. Nhưng [hai người/cái] tị sẽ không dụng cách, tị ngọ chính lệch thê cung hỗn tạp, hai lần hôn nhân. Nếu như vốn là ất giờ Tỵ, cũng là một lần hôn nhân.

Khôn: Bính Tân Tân quý

Ngọ Sửu Mão Tị

Này tạo phu tinh vi niên trụ bính ngọ, nguyệt can thấu tân hợp phu tinh, vi tỉ kiên tranh phu, trượng phu nhất định sẽ có gặp ở ngoài. Chúng ta lại nhìn phu cung, phu cung mùi phá hư, có thể phu cung cùng phu tinh đích quan hệ xuất hiện rồi vấn đề. Cung mão phá ngọ, đây là thứ nhất; còn có lại càng không tốt vốn là sửu ngọ chi hại, phu tinh bị hại ngã, phu cung mão mộc càng không thể sinh ngọ phát hỏa, cho nên nhất định ly hôn. Lần thứ hai hôn nhân nhìn lên chi tị hỏa, có mão mộc tương sinh mà không có thương khắc, cho nên lần thứ hai hôn nhân mới có thể qua được hảo. Thực tế nữ tử này cùng phu sớm đã phân chiếm đa số năm, sau khi vu ất dậu năm ly dị, giáp thân năm nhận thức một vị tân đích bạn trai, hai người quan hệ tốt lắm.(Mặc dù mão ngọ phá, nhưng mão sinh tị, tị vi bính, cố bính vi phu, bính tân hợp, tỉ kiếp tranh phu, phu có gặp ở ngoài, nhưng nguyên nhân tân sửu ngay cả thể rồi, ngọ sửu hại, mão ngọ phá, cố nhất định cách. Mão sinh rồi tị, tị vi người thứ hai trượng phu. Tị cùng bính vốn là hai người, nguyên nhân bính ngồi ngọ rồi, như bính ngồi thìn, thì nguyên nhân bính hư thấu rồi chích biểu vi bạn trai, không nhắc tới phu. Nguyên nhân mão sinh rồi tị, cố người thứ hai phu hảo, mà cùng thực thần tự hợp, biểu có thể chơi thân, cổ võ ngoài ly hôn. Ất dậu năm [đóng/tắt] tài cánh cửa, ly hôn, giáp thân năm nhận thức tân đích bạn trai.)

Ất Dậu Năm, Ất Canh ợp, Tuất Dậu hại, cách rồi. Bính Tuất năm thứ ba (???) một trượng phu xuất hiện.

Khôn: Kỷ Canh Giáp Mậu

Dậu Ngọ Tuất Thìn

Này tạo vốn là phu cung tuất thổ hại phu tinh dậu kim, vốn là điển hình đích nhiều hôn chi mệnh. Dậu vi người thứ nhất trượng phu, đã ly hôn (Dậu tuất mặc dù hại, nhưng giáp kỷ hợp, cố nhất định là kết rồi sau lúc tài cách đích, 99 năm cách); ngọ vốn là phó cung, cố người thứ hai trượng phu vốn là nguyệt can canh kim, canh cùng nhật chủ giáp mộc tướng xung, thêm hư rồi, cũng qua không lâu. Người thứ hai quý mùi năm kết đích hôn, trước mắt người thứ hai đã phân cư, ất dậu năm chạy đến nước ngoài rồi, không bóng dáng rồi, rất nhanh sẽ ly dị, phỏng chừng năm nay (Bính tuất năm) sẽ cách, nguyên nhân bính canh vọt. Người thứ ba trượng phu vốn là ngồi chi tuất thổ, được vị có thể tố công, ngồi xuống tuất khố hỉ hình xung, thìn tuất vọt, cố thứ ba cho dù trượng phu hảo, vốn là nàng chính thức đích trượng phu, hội trắng đầu đến già. Tuất khố mở, cố vốn là phát tài đích bát tự, nội thực (Thương), tố xí nghiệp đích, vừa tố mặt tiền, thêm tố xí nghiệp, người cũng xinh đẹp, hiền tuệ, có tiền, vốn là một người đứng đắn, không có đào hoa. Nhàn chú: Phu thê cung mặc phu thê tinh, khắc phu rồi! Phụ nữ năng lực cường, có tiền có mạo cố gắng thủ phụ nói đích, chính mình làm cho xí nghiệp ! Giáp kỷ hợp, dậu vi đệ nhất lão công; canh ngọ một trụ ngọ thú bán hợp hoặc ngọ vi phu cung dẫn ra tới, cho nên, canh vi thứ hai phu! Giáp canh một xung, nhị phu vi hải ngoại người Hoa, ất dậu tuổi già công đi, bính thú năm cách rồi, lúc này đoản; dự trắc: Bính thú năm thú vi người thứ ba lão công, lão Tam được chính vị, yên ổn rồi ! Vọt thìn, tại môn hộ thượng xác nhận mặt tiền đến tiền, thêm nội thực thần, thêm vi xí nghiệp !

Khôn: Bính Bính Tân Canh

Ngọ Thân Dậu Dần

Ất Giáp Quý Nhâm Tân Canh

Mùi Ngọ Tị Thìn Mão Dần

Này tạo tất nhiên ủy chuyên thành viên chi nữ, có tiền, có quyền, có xu thế, nguyên nhân tỉ kiếp tranh phu, phu có gặp ở ngoài, bính can vượng, hợp đến nhật chủ, chủ phu. Phu cung thấy lộc, phu tinh niên thượng bính ngọ, nguyệt lệnh thấy kiếp tài thân, thân thượng thêm cái bính, nói rõ chính mình đích lão công bị người khác đoạt, mà phu cung thấy lộc thêm tỏ vẻ bây giờ một người qua. Chờ người thứ hai lão công dần mộc xuất hiện, thời gian nhân tiện dường như chậm. Thực tế vốn là quý tị vận ất hợi năm ly hôn( Đại hạn tạp ở, phải tại35 tuổi tiền cách, vốn tị vận tốt lắm, tị hợi một xung nhân tiện cách rồi), hợp đến kiếp tài rồi là nam nhân theo nữ nhân khác chạy, bây giờ độc thân qua, nguyên nhân hợp rồi lộc rồi, thìn dậu hợp, ấn hợp lộc, cùng lão mẹ cùng nhau qua. Lộc ấn tướng tùy theo có phúc khí. Không ai có thể tiến vào, qua thìn vận mới được, nguyên nhân có dần trung bính, cố lần thứ hai hôn nhân là có đích, lộc cũng làm tài xem, tài vận tốt lắm. Canh ngồi dần vi tuyệt địa, sẽ tìm đi một lần hôn đích. Nhàn chú: Bính bính ngọ ngay cả thể, tỏ vẻ một người! Lão đầu công! Chính phu cung vi dậu vi tỉ kiếp, tránh phu! Thân vi phó phu cung, trên đầu đỉnh lão công, thân vi kiếp vốn là nàng người! Lão công đích đào hoa! Phu có gặp ở ngoài, chính mình không có đào hoa! Ấn lý ứng tại nhâm vận cách đích, nguyên nhân nhâm đến thân đến! Nhâm bính một xung nhân tiện cách rồi! Nhưng tại tị vận đích ất hợi năm nhân tiện cách rồi, đại hạn định tại nguyệt trụ cách, không có biện pháp! Nhâm thìn vận vi thương quan vận, tìm không được lão công đích, tìm cũng sẽ cách! Này đoạn thời nhật xác nhận độc thân! Phu cung thấy lộc cũng là một người qua, lộc hợp ấn, lộc ấn tướng tùy theo, hưởng thụ! Cũng là theo lão mẹ cùng nhau qua tượng! Nhâm thìn vận, thìn hợp dậu tài( Lộc cũng vi tài), rất có tiền bát tự! Ngoài phụ cũng vi mà ủy thư ký! Qua thìn vận, ứng có thứ hai hôn đích! Dần trung chi bính, canh ngồi dần vi tuyệt địa, tử lão bà đích? Dần trung có bính mang nam hài đích?

Khôn: Quý Tân Mậu Đinh

Sửu Dậu Ngọ Tị

Nhâm Quý Giáp Ất Bính Đinh Mậu

Tuất Hợi Tử Sửu Dần Mão Thìn

Này tạo không có quan sát tinh, có thể tài tinh quý thủy vi phu tinh, vì sao ? Nguyên nhân quý hợp nhật chủ, tướng hợp có thể tỏ vẻ kết thân. Nhưng phu cung ngọ nhưng lại hại ngã phu tinh, nói rõ lần đầu tiên hôn nhân nên thất bại. Kết quả 2000 năm canh thìn năm ly hôn, 2002 năm nhâm ngọ năm lần thứ hai hôn nhân. (Nhật can thiên can ngũ hợp, nhưng địa chi hại, sớm hôn nhất định cách. Này tạo hợp rồi niên thượng đích quý, quý vi phu, 20 tuổi tiền nhân tiện kết rồi, nhưng nguyên nhân sửu ngọ mặc, cố 99 năm cách ??. Nguyên nhân tẩu đích đều là quan sát vận, cố rất nhanh thêm kết rồi, bất hảo. Bát tự không có phu thê tinh, nhưng đại vận có, kêu lên vận phu thê. Biểu vận qua nhân tiện xong hết rồi. Giáp tý vận, tử sửu hợp, tử ngọ xung, tỉ kiếp tranh phu, tử vận 2000 năm canh thìn năm thêm kết ??, sửu vận khẳng định cách, nguyên nhân mặc ngọ rồi. Hai lần sau lúc sẽ không kết rồi, quý cùng sửu trung quý, hai lần hôn nhân, tị dậu củng sửu, vốn là đào hoa (Chú: Là chỉ sửu vi đào hoa ?), sửu vận củng tị, lén lút đích, lấy sau khi đều là đào hoa, lộc bán đào hoa rồi, sửu trung có kỷ, phu khẳng định vốn là đã kết hôn đích. Nhàn chú: Bát tự không có quan, lấy tài quan sát chi nguyên thần tài vi phu ! Mậu quý hợp, quý tài vi đệ nhất phu, thêm đinh = ngọ, tị dậu sửu hợp, cho nên, sửu vi thứ hai hôn! Sửu trung có kỷ, phu khẳng định vốn là đã kết hôn đích đệ nhất hôn, tại niên thượng rất sớm hôn, nhưng phu thê cung mặc phu thê tinh quý thủy, cho nên, đệ nhất hôn nhất định cách! Canh thìn năm thìn đến quý đến, vốn là năm ly hôn ! Nhâm ngọ năm tử nước trôi rồi ngọ hỏa, giải rồi hại, vốn là năm thêm kết hôn! Có thể đoán được, tại sửu vận khẳng định hội cách ! Nguyên nhân mặc phu thê tinh! Tị vi lộc vi phụ nữ thân thể, tị dậu sửu hợp, dậu vi thương quan, sửu vi tỉ kiếp mà trung ngậm tài, vốn là phụ nữ đích đào hoa, nguyên nhân lấy sau khi tái khó có bình thường hôn nhân!

Khôn: Đinh Nhâm Bính Kỷ

Tị Tử Ngọ Hợi

Lưỡng cung lưỡng tinh. Này tạo phu cung ngồi nhận, phu tinh nhâm tử bị chúng tỉ tranh. Tử ngọ tướng xung, ban đầu hôn nhất định cách. Kết quả người nam nhân đệ nhất đồng cư rồi thật nhiều năm, kết hôn theo cũng vỗ, cũng không kết thành, cuối cùng chia tay rồi. Còn có [một người/cái] nữ mệnh cùng này mệnh hết sức tương tự, đinh mùi năm, nhâm tử nguyệt, bính ngọ nhật, kỷ hợi thời, cũng là lần đầu tiên hôn nhân ly dị. Nhàn chú: Tỉ kiếp tránh phu, cung tinh nhiều hiện, nhất định nhiều hôn! Ngọ vi chính cung, tị vi phó cung, lưỡng cung; nhâm tử một trụ làm một tinh, hợi vi một khác tinh, lưỡng tinh lưỡng cung! Gia tăng chi, tỉ kiếp đông đảo, nhiều kết hôn cấu! HongKong nữ đích.

Khôn: Kỷ mậu nhâm quý

Dậu Thìn Thân Mão

Kỷ Canh Tân Nhâm Quý Giáp Ất

Tị Ngọ Mùi Thân Dậu Thú Hợi

Này tạo phu cung vi thân kim, thêm xuất hiện dậu kim, phu cung nhiều hiện. Lại nhìn phu tinh mậu kỷ thổ cũng nhiều hiện, thuộc về phu cung cùng phu tinh nhiều hiện đích tình huống, cho nên phải có nhiều lần hôn nhân. Bây giờ lần thứ hai hôn nhân cũng ly dị rồi. Người thứ nhất bị đỉnh rồi, người thứ hai bị hợp rồi. Người thứ nhất vốn là đánh cuộc đồ, người thứ hai làm cho hắn dưỡng. [hai người/cái] lão công cũng hoa hắn đích tiền. Nhàn chú: Thân dậu lưỡng cung, kỷ mậu lưỡng tinh! Kỷ dậu quý mão mang tượng, mão vi tài, quý cũng vi tài, kỷ vi đệ nhất thua cuộc100 vạn; mậu vi lão Nhị, gì sự tình mặc kệ, ăn của nàng còn muốn đánh chửi nàng! Tẩu thân vận tìm người thứ ba, thân trung có mậu thổ, cứ việc bên trong đích mậu ngậm đích ít, ứng cũng không tệ lắm! Mặt trời lên cao thân ấn vi phòng ở, mão vi tài, thân mão hợp, vi mướn cánh cửa mặt! Mão vi thương quan, nhưng rơi không, cùng nữ nhi, quan hệ hảo!( Không không bị sinh, không bị khắc!)

Khôn: Bính nhâm giáp giáp

Thân Thìn Thìn Tuất

Tân Canh Kỷ Mậu Đinh Bính

Mão Dần Sửu Tử Hợi Thú

Này tạo lấy thìn thổ vi phu cung, thân kim vi phu tinh, hai người tướng củng hợp, vốn chúc hảo hôn nhân. Nhưng chúng ta chứng kiến mệnh trung có lưỡng thìn, vốn là phu cung lưỡng hiện; trừ thân kim ngoại tuất trung còn có một tân kim, phu tinh cũng lưỡng hiện, cho nên nhất định là nhiều hôn mệnh. Thực tế lần đầu tiên hôn nhân ly dị, lần thứ hai hôn nhân qua rất khá. Nhàn chú: Lưỡng cung thìn, lưỡng tinh thân và thú trung tân, thú vọt thìn mở khố, nhị hôn tốt lắm!

Hai lần hôn nhân khẩu quyết: Lưỡng phu cung, một phu tinh hợp( Tam hợp, lục hợp, ám hợp đều là), nam mệnh cũng đồng xem.

Khôn: Kỷ mậu giáp quý

Dậu thìn thìn dậu 

Nhàn chú: Này bát tự không vi tư liệu thượng bát tự, sắp xếp bàn có lầm, ứng vi phía dưới địa bàn

Khôn tạo: Kỷ đinh giáp quý

Dậu mão thìn dậu không vong( Dần mão)

Đại vận: Mậu thìn kỷ tị canh ngọ tân mùi nhâm thân quý dậu giáp tuất ất hợi

Mới vu:1971 1981 1991 2001 2011 2021 2031 2041

Tam đến bốn lần hôn nhân, cách đích ứng kì vi xung, hôm nay năm bính tuất năm thìn tuất xung, canh thìn năm kết đích hôn, nguyên nhân thìn tới rồi, hiện đã phân cư. Nàng vốn là đạo du. Nhàn chú: Đây là một cung lưỡng tinh, tỉ kiếp mão mặc phu cung, khẳng định có nữ nhân tới xuyên vào đủ! Nhiều hôn chi tượng.

Khôn: Nhâm quý nhâm tân

Tử sửu dần hợi

Này tạo lấy sửu thổ quan tinh vi phu, dần sửu ám hợp, vốn là phu tinh hợp đến phu cung, vốn chúc hảo hôn nhân. Nhưng thấy năm tháng tỉ kiếp đông đảo, vi tỉ kiếp tranh phu tượng, phu bên ngoài nhiều nữ nhân. Năm tháng tử sửu tướng hợp, ngoài lực lượng lớn hơn dần sửu chi hợp, cố ngoài hôn nhất định cách. Quả nhiên vu đinh sửu năm ly hôn, có một hài tử, có tiên thiên tính chất bệnh tim, thủy đem hỏa khắc rồi, dần thực chủ hài tử, không vong rồi, phản chém làm nam hài. Sau khi thêm vu nhâm ngọ năm khác giá. Tượng này tạo nếu như vãn hôn, tránh được miễn ly hôn, dần hợi hợp tỏ vẻ lần thứ hai, mà lần thứ hai hôn nhân hảo. Nàng bản thân dễ được can úc chi bệnh, dễ trường ngật đáp. Nguyên nhân dần hợi hợp, đem ẩm ướt khí hợp tới rồi can trung. Sửu vốn là người thứ nhất, tân hợi vốn là người thứ hai. Nhàn chú: Sửu quan vi đệ nhất phu, tân ấn vi thứ hai phu! Nguyên nhân tân hợi mang tượng, hợi dần hợp rồi! Dần vi thực vi nữ, thấy không vi nhân, dần trung bính hỏa diệt, nhân cố tình bẩn bệnh! Nhị hôn hảo! Một hôn tỉ kiếp tránh phu, đinh sửu năm ly hôn, nhị hôn vốn là online nhận thức đích, thời thượng vi phương xa, người này nghiễm đông đích, nhâm ngọ năm xa giá Thượng Hải!

Càn: Đinh nhâm tân đinh

Mùi dần sửu dậu

Này tạo thê cung sửu thổ, mà thê tinh vốn là dần mộc, dần sửu ám hợp, vốn là hảo hôn nhân đích tổ hợp. Nhiên dần mộc nhưng lại nhập mộ vu mùi, sửu mùi thêm xung, như vậy dần sửu ám hợp chi cục đã được phá hủy, biểu thê đi, cho nên ly hôn thành tất nhiên. Thực tế nhâm ngọ năm ngọ mùi hợp, sửu ngọ hại, ly hôn rồi. Nếu như không có dần sửu hợp, thì không có chuyện, sửu mùi xung phản tỏ vẻ thê nên nhập thê cung. Bây giờ còn lại là phản rồi.

Càn: Giáp bính kỷ canh 

Thìn dần hợi ngọ  

Đinh mậu kỷ canh tân nhâm quý

Mão thìn tị ngọ mùi thân dậu

Này tạo ngồi xuống hợi thủy thê tinh được chính vị, không thích nguyệt thượng dần mộc đem thê tinh hợp đi, vốn là điển hình đích nhị hôn chi tượng. Hành kỷ tị vận, tị cây đuốc thê tinh hợi nước trôi tẩu, ly hôn rồi. Canh ngọ vận ngọ hợi ám hợp đến thê cung, vốn là người thứ hai lão bà. Ngọ hỏa vốn là kỷ thổ lộc thêm sinh kỷ thổ, cho nên người thứ hai lão bà đối với hắn hảo. Ngọ vốn là chính mình, cố lần thứ hai nhân tiện ổn định ở. Hắn ở trên tiểu học13 tuổi thời, cùng hắn đích sư phụ xảy ra quan hệ (So với hắn lớn hơn). Hác đoạn hắn là thiếu niên thành thân không được hôn. Nhàn chú: Chính tinh được chính vị sợ hợp, tẩu tị vận cách rồi, lão bà theo người chạy! Tị hợi xung thê tẩu, tị dần hại, công việc đã đánh mất! Thứ hai hợi ngọ ám hợp, kỷ= ngọ, lộc ý, hợp lưu lại rồi, ổn định! Giáp = dần, dần hợi hợp lại, giáp quan trung bao hàm phụ nữ (Có hay không vốn là thìn trung tài?) thiếu niên hư thân (14 tuổi) không được nhà (Mão mặc thìn, chích biểu hư thân, không nhắc tới lập gia đình?), niên thượng quan tinh vi trưởng bối.  (Vi sư phụ ? Quan cũng vi sư phụ).

Càn: Ất canh tân nhâm

Tị thìn mão thìn

Niên thượng tài đi ra sớm, mà ất vốn là mão thấu tới rồi niên thượng,16 tuổi thời, tìm một 20 tuổi hơn đích phụ nữ. Ất tị, thê cung mão sinh đích quan (Tị), tỏ vẻ có liên quan hệ, nhưng ất canh hợp, biểu không phải hắn đích lão bà, phải gả cho người khác nguyên nhân mão thìn mặc, nhâm vốn là thìn trung lộ ra tới, nhâm vốn là thương quan, (Chú: Con gái cung ngồi khắc con gái tinh gì đó), thêm mão thìn hại, lão bà sẽ không sinh hài tử, muốn mượn phúc sinh tử. Hác đoạn: Tự lưu mà trong ngươi không loại, tập thể mà trong ngươi hạt loại. Nhàn chú: Này mệnh lệ vi tư liệu ngoại đích. Mão= ất, ất tị mang tượng, tị sinh rồi mão cùng thê cung có liên quan liên rồi, là có tính chất quan hệ rồi! Ất vi phụ nữ, tại niên thượng vi đại, trước hợp rồi canh, nói rõ đầu tiên là người khác đích lão bà, thêm thìn mão hại, người này giá không được chính mình! Mão vi lão bà, mặc con gái cung thìn, lão bà không sinh dưỡng ! Nam mệnh quan sát vi con gái, con gái cung ngồi thương thực và thương thực khố, cũng là khắc con gái đích! Tị tại niên thượng, do ất mộc viện sinh, cho nên, mượn phúc sinh tử !

Càn: Kỷ Đinh Nhâm Quý   

Dậu Mão Ngọ Mão   

Đại vận: Bính dần ất sửu giáp tý quý hợi nhâm tuất tân dậu canh thân kỷ mùi

mới vu: 1969 1979 1989 1999 2009 2019 2029 2039

Này tạo thê cung ngồi thẳng tài, nhật chủ thêm hợp nguyệt can chính tài, bởi vì đinh ngồi xuống mão mộc cùng ngọ hỏa tướng phá, nói rõ đinh mão một trụ cùng ngọ không thể kiêm sắc mặt, như vậy đinh mão vốn là một người, ngọ vừa là một người. Mệnh trung hai lần hôn nhân chi tượng. Thực tế kỷ mão năm kết hôn, tìm chính là đồng sự, canh thìn năm ly hôn. Nhàn chú: Ngọ trung đinh vi chính tài ngồi thê cung, vi chính tinh được vị. Đinh mão tương sinh, mão ngọ phá, cho nên, cứ việc đinh= ngọ nhưng này không nhắc tới cùng người, ứng vi hai người! [hai người/cái] thê tinh, đinh vi trước, tại nguyệt lệnh vi đồng sự, giáp tý vận kỷ mão năm kết ứng đã tới đinh đến, mão đến ứng nguyệt lệnh mão đến, vốn là năm kết hôn! Canh thìn năm thìn mặc mão cũng chính là phá hủy đinh ! Ly hôn!

Càn: Giáp bính tân giáp 

Thìn tử mão ngọ 

đại vận: Đinh sửu mậu dần kỷ mão canh thìn tân tị nhâm ngọ quý mùi giáp thân

mới vu:1974 1984 1994 2004 2014 2024 2034 2044

Này tạo mão mộc làm vợ tinh được chính vị, thiên can lộ ra giáp mộc, cũng là thê tinh, giáp mộc ngồi chi thìn thổ nhưng lại cùng thê cung mão tướng hại, giáp cùng mão vốn là bất đồng đích phụ nữ, cố vốn là một nhiều hôn đích mệnh, niên thượng giáp vốn là lần đầu tiên, ngắn ngủi, mão vốn là lần thứ hai, thời gian trường, cũng bất hảo, thời thượng giáp vi lần thứ ba, cả đời hôn nhân sẽ không hảo. Tẩu mậu dần vận kỷ tị năm, giáp kỷ hợp, dần tị hại, giáp mộc bị kỷ thổ hợp khứ, này tuổi già bà chạy theo người khác.

Nhàn chú: Mão thiên tài vi lệch tinh ngồi thẳng vị, giáp ất mộc cộng cây, đằng la hệ giáp, giáp mộc cũng làm vợ tinh, mão thìn mặc, mão ngọ cũng phá, cho nên, nơi này giáp cùng mão không phải cùng người! Khác năm thời thượng đích lưỡng giáp nguyên nhân cung vị xui xẻo đích quá xa cũng không phải một người. Niên thượng giáp vi lão Đại, mão vi lão Nhị, thời thượng giáp vi lão Tam; tị năm mặc dần, cũng chính là mặc giáp, lão bà theo người chạy! Nhị hôn tử mão phá, ngọ mão phá, cũng sẽ không tốt! Nhưng cách không được, phu thê cảm tình bất hảo!( Đoạn sư: Cách không được, chẳng lẽ nơi này lưỡng giáp cùng người? Không có lần thứ ba hôn?) tòng đại vận xem: Thìn vận thêm hại thê cung, sợ là hôn thêm bất hảo! Tam hôn có khả năng đích!

Càn: Ất canh nhâm canh

Mùi thìn tử tuất

Này tạo không có minh đích tài tinh, lấy thương thực làm vợ tinh, cho nên niên thượng thương quan ất mộc làm vợ. Ất canh hợp, bị canh kim khắc hợp; ất chi cây mùi nhưng lại nhập thìn mộ, mùi bị thê cung tử thủy hại ngã, lần đầu tiên hôn nhân nhất định là không tới đầu đích. Nhập mộ biểu có hôn nhân quan hệ, cũng biểu tử vong. Thê tinh có khắc mộ lưỡng thương, tỏ vẻ tử vong ý. Thực tế đệ nhất đảm nhận thê tử bệnh tử, nhâm ngọ năm lấy thứ hai cho dù thê tử. Ngọ trung tòng tuất trung dẫn ra tới. Tử vi chính cung, thìn vi phó cung. Nếu như không có thìn, ất mùi không phải thê tử. Nhàn chú: Bát tự không có tài lấy thực thương làm vợ tinh, nơi này ất ngồi mùi, mùi trung đích đinh cũng có thể biểu thê tượng, ất ngồi mộ, không cát, biểu lão bà sẽ chết khứ! Tử vi chính thê cung, thìn vi phó thê cung nguyên nhân thìn tử bán hợp; chính cung lâu dài, phó cung ngắn ngủi! Chưa vào rồi thìn khố, cu
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Nhị, xui xẻo kết hôn đích tổ hợp

Giải mã giấc mơ được tặng quà –

Bạn vẫn cảm thấy vui khi nhớ lại giấc mơ tối qua. Bạn mơ thấy được nhận quà, bạn đang vui điều đó. Tuy nhiên liệu ý nghĩa giấc mơ được nhận quà có được đẹp như trong giấc mơ không? hay đang dự báo những điều không may mắn sẽ đến với bạn. Hãy cùng chú
Giải mã giấc mơ được tặng quà –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Giải mã giấc mơ được tặng quà –

Xem tướng lông mày để biết anh hào hay tiểu nhân

Người có tướng lông mày hình chữ bát thì cuộc sống đầy đủ nhưng hôn nhân nhiều biến cố. Lông ngày ngắn và dày thì tiền bạc đầy đủ, gia đình hạnh phúc.
Xem tướng lông mày để biết anh hào hay tiểu nhân

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Các đặc điểm điển hình trên khuôn mặt là khởi nguồn quan trọng trong thuật Nhân Tướng. Những nhận xét tướng diện dựa trên kinh nghiệm và được lồng trong khung cảnh kinh tế xã hội Việt qua nhiều thế hệ. Dưới đây, Lichngaytot.com xin được tổng kết những kiến thức trong tập Ma Y Thần Tướng được lưu truyền lâu nay trong nhân gian. 


Xem tướng lông mày của một người cũng có thể dự đoán tương lai cuộc đời của người ấy.


Xem tuong long may de biet anh hao hay tieu nhan hinh anh
Xem tuong long may de biet anh hao hay tieu nhan hinh anh 2
 
Xem tuong long may de biet anh hao hay tieu nhan hinh anh 3
Xem tuong long may de biet anh hao hay tieu nhan hinh anh 4
Xem tuong long may de biet anh hao hay tieu nhan hinh anh 4
Xem tuong long may de biet anh hao hay tieu nhan hinh anh 4
Xem tuong long may de biet anh hao hay tieu nhan hinh anh 7
Xem tuong long may de biet anh hao hay tieu nhan hinh anh 8
Xem tuong long may de biet anh hao hay tieu nhan hinh anh 9
Xem tuong long may de biet anh hao hay tieu nhan hinh anh 10
Xem tuong long may de biet anh hao hay tieu nhan hinh anh 11
 
► Lịch ngày tốt gửi tới bạn đọc công cụ xem bói tử vi để biết tính cách, số mệnh của mình

(còn nữa)

Lichngaytot.com
Nhất định phải tránh xa người có tướng mắt nào? Nhìn thấu tâm can con người qua 5 kiểu đuôi mắt 3 giây để nhận ra tướng mặt người được phúc đức bao bọc suốt đời
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem tướng lông mày để biết anh hào hay tiểu nhân

Đền Tống Trân - Hưng Yên

Đền Tống Trân thuộc địa phậnxóm Kiều Lê, thôn An Cầu, Xã Tống Trân, huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên. Dọc theo triền đê từ thành phố Hưng Yên xuôi về phía đông
Đền Tống Trân - Hưng Yên

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Đền Tống Trân thuộc địa phận xóm Kiều Lê, thôn An Cầu, Xã Tống Trân, huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên. Dọc theo triền đê từ thành phố Hưng Yên xuôi về phía đông, qua những lũy tre xanh, đầm sen thơm ngát, bãi ngô, bãi dâu xanh biếc. Từ xa, có dễ dàng nhận ra giữa cánh đồng mênh mông lúa, một vùng cây cối xanh mát bao quanh lấy ngôi đền đó là nơi thờ “Thượng đẳng tối linh phụ quốc Tống Trân đại vương” – đền Tống Trân.

Trải qua bao năm tháng của bom lửa chiến tranh tàn phá, ngôi đền ngày nay được xây dựng lại tại thôn An Cầu, xã Tống Trân, huyện Phù Cừ. Đền gồm 5 gian tiền tế, ba gian trung từ và một gian hậu cung, và các bộ được kết cấu kiểu giá chiêng chồng rường.

Hiện nay, di tích còn lưu giữ được 11 sắc phong, 1 thần phả, 1 thần tích và nhiều đồ tế tự. Các câu đối ca ngợi vị Lưỡng quốc Trạng nguyên và mảnh đất địa linh đã sinh ra nhân kiệt cho quên hương, đất nước.

Hàng năm, lễ hội đền Tống Trân được tổ chức từ ngày 10 đến ngày 15 tháng 4 (âm lịch). Du khách sẽ được hòa mình vào những sinh hoạt văn hóa phong phú: hát trống quân, hát chèo, tuồng… và những trò chơi dân gian như cờ người, múa lân, múa rồng, chọi gà….

Ngược dòng lịch sử, về với di tích lịch sử văn hóa quốc gia đền Tống Trân, du khách dường như được tách biệt ra khỏi trần tục của đời thường để đắm mình vào truyền thuyết về mối tình nàng Cúc Hoa và chàng thư sinh nghèo Tống Trân, cũng như được tìm hiểu về cuộc đời của vị Lưỡng quốc Trạng nguyên. Câu chuyện sẽ còn được lưu truyền muôn đời về ân tình, nhân nghĩa của người Hưng Yên nói riêng và người Việt Nam nói chung.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Đền Tống Trân - Hưng Yên

Chọn quần áo, trang sức may mắn đầu năm Quý Tỵ

Nếu bạn tuổi Tý, mùng Một Tết năm nay nên mặc trang phục màu đen, mùng Hai màu đỏ, mùng 3 màu tím. Bạn tuổi Sửu, lần lượt những ngày này chọn quần áo màu tím, trắng, sẫm.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Màu sắc khác nhau sẽ có năng lượng khác nhau, khi kết hợp tương ứng với thời gian và không gian, sức mạnh này sẽ gia tăng đáng kể.

Trong phong thủy, âm dương ngũ hành của các vật thể đều chịu ảnh hưởng bởi tiềm thức vũ trụ. Sự tồn tại của hình dạng, màu sắc cũng là sự tồn tại của năng lượng.

Dưới đây là màu sắc trang phục và trang sức may mắn cho 12 con giáp những ngày đầu xuân Quý Tỵ, có thể giúp cho mọi chuyện thuận lợi hơn.

Mùng 1 Tết (10/2 dương lịch, chủ nhật):

Mùng 2 Tết (11/2 dương lịch, thứ 2) 

Mùng 3 Tết (12/2 dương lịch, thứ 3):

Cũng có thể thống kê lại 3 ngày trên theo bảng dưới đây để tiện theo dõi:

ThS Nguyễn Mạnh Linh

Ban Phong thủy - Viện Phong thủy Thế giới
Ban Phong thủy - Viện Tiềm năng con người

(Vnexpress.net)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Chọn quần áo, trang sức may mắn đầu năm Quý Tỵ

Chọn đất đúng phong thủy giúp giàu sang phú quý, tích tụ tiền tài

Nếu mua một mảnh đất tốt, chuẩn phong thủy nó sẽ thu hút tiền bạc và thành công trong sự nghiệp cho người cư ngụ.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Những lô đất được cho là “nở hậu” thì được ví von là “túi vàng” tích trữ tài sản tốt cho gia chủ. Điều đó cũng đồng nghĩa giúp gia chủ an tâm, vững tài, phát lộc. Thuyết phong thủy không mới, nhưng người tin vào phong thủy cũng đang tăng dần bởi không chỉ “có kiêng có lành” mà “có tin cũng có an” - an bình, an tâm, an phúc.

Thế “An sinh”

Trong phong thủy nơi nào có nước là nơi đó sinh tài, phát lộc. 

1. Trái ngắn phải dài, trước rộng sau hẹp: cát trạch. Mảnh đất bên trái ngắn, bên phải dài sẽ rất tốt, vì loại địa hình này mặt sau hẹp mặt trước rộng, xây nhà ở đông thì toàn gia cát tường, con cháu đông đảo, chăn nuôi trồng trọt đều thành tựu.

2. Nơi ở có đầy đủ tứ thần là cát trạch. Đây là loại địa hình có đầy đủ tứ thần Chu Tước, Huyền Vũ, Thanh Long, Bạch Hổ. Tức là nhà ở bên trái có dòng nước chảy, bên phải có đường lớn, trước mặt có hồ nước, sau lưng có núi cao. Nếu chọn được địa hình này làm nơi ở thì nam giàu có, nữ tài giỏi. Quan tước lợi lộc không cần tìm kiếm cũng tự nhiên đến, con cháu đời sau có thể hưởng phúc trạch lâu dài.

3. Dòng nước chảy theo hướng tây nam – đông bắc là cát trạch. Đây là nơi có thể tìm kiếm để an cư lập nghiệp vì nó có dòng nước theo hướng tây nam – đông bắc chảy qua. Tuy lấy nhiều thê thiếp nhưng không có những tai họa khác, trong nhà sinh người quyền cao chức trọng.

4. Địa hình xung quanh đều cao là cát trạch. Loại địa hình giữa, chính diện, bốn phía đều cao, nếu xây dựng nhà cửa ở nơi này thì phúc đức có dư, gia súc đông đúc, gia đạo hưng vượng, con cháu nhiều anh hùng hào kiệt.

Đất có hình chữ nhật là một trong những ngoại hình nhà ở tốt lành theo phong thủy.

5. Trước có đồi, sau có núi, phía tây có nước là cát trạch. Trước nhà có đồi, sau nhà có núi, hai bên có dòng nước uốn lượn từ hướng đông dần thấp xuống, từ từ chảy qua một phần khu đất, đây chính là nơi bảo địa.

6. Trái có thanh long, phải có bạch hổ là cát trạch. Loại địa hình hướng đông có dòng nước chảy mạnh mẽ hùng hậu, hướng tây lại có đường lớn thông suốt. Nếu chọn nơi này làm chỗ ở thì sẽ giàu sang phú quý. Đây chính là loại địa hình trái có thanh long, phải có bạch hổ.

7. Trước nhà hai bên đều có rừng cây, hướng Càn có đồi, hướng Cấn có núi là cát trạch. Trước mặt nhà có rừng cây phân ra hai bên, hướng Càn (tây bắc) có gò đồi, hướng Cấn (đông bắc) có dãy núi. Nếu ở được vào nơi này thì nhất định giàu sang phú quý, con cháu đời sau danh vọng vinh hiển.

Thế “Phú Quý”

8. Phía đông bắc có khuyết thiếu: đại cát, tích tụ tiền tài, công danh hiển hách.

9. Phía đông nam có chỗ khuyết thiếu: cát trạch, gia thế hiển hách, giàu sang, phú quý, con cháu hưng vượng, gia sản đầy đủ.

10. Địa hình cao ở giữa: cát trạch, nhân khẩu đông đúc, gia tài sung túc, con cháu vinh hiển.

11. Chính bắc có gò mả là cát trạch. Loại thế nhà này có phía bắc có gò mả, người thầy phong thủy giỏi chọn thế đất này là có nguyên do. Người quân tử ở đây thì thăng quan tiến chức, kẻ bình thường ở đây thì gia đạo phồn vinh.

12. Trước sau có đồi núi: cát trạch. Nơi ở trước sau đều có đồi núi, lựa chọn nơi này để ở là không sai lầm, thường sẽ có trang viên rộng rãi, phú quý phát tài, hỷ sự liên tiếp, là ao ước của rất nhiều người.

13. Địa hình trước hẹp sau rộng: cát trạch. Xây nhà ở nơi có địa hình trước hẹp sau rộng, tất yên ổn, giàu sang, con cháu phát đạt, cơm áo dư giả, sức khỏe dồi dào, của cải sung túc.

14. Phía tây bắc có đồi núi: cát trạch. Khu đất hướng Càn (tây bắc) phía sau có đồi núi, nếu xây nhà cửa, trang viên ở đây thì gia đạo sẽ hưng vượng, con gái nhập cung sẽ có thể làm cung phí, hoàng hậu, con cháu có con đường hoạn lộ thanh vân rực rỡ, làm quan đến chức khanh tướng.

15. Phía tây nam có gò mả: cát trạch. Địa hình phía tây nam có gò mả, nếu xây nhà hoặc đặt trang trại thì nhất định luôn hưng vượng, con cháu đời đời vinh hiển, tận hưởng vinh hoa phú quý.

16. Tây cao đông thấp: cát trạch. Phía tây cao phía đông thấp, xoay lưng lại với đỉnh núi cao, loại địa hình này thích nghi xây dựng nhà cửa trang trại, con cháu đời sau có thể hưởng vinh hoa phú quý, giàu có như đại phú gia Thạch Sùng, con cháu đầy nhà, gia súc đông đúc.
17. Phía sau có núi, bắc cao nam thấp: cát trạch. Loại địa hình phía sau có ngọn núi, phía bắc cao phía nam thấp được xem là “phong thủy bảo địa”, nếu chọn được vùng đất này thì con cháu hưng vượng, chăn nuôi thành tựu, của cải dư thừa.

18. Địa hình khuyết thiếu nhưng chỉnh tể: cát trạch. Loại địa hình bên phải ngắn bên trái dài, hoặc nếu bên phải dài bên trái ngắn thì cũng không có trở ngại gì. Vì nếu phía sau tròn trịa và chỉnh tề thì càng cát lợi, chọn được đất này để ở thì nhà dân thường cũng sinh người tài giỏi.

19. Trước sau có núi, trái phải có nước: cát trạch. Địa hình trước sau đều có núi cao tương hợp với nhau, hai bên trái phải lại có cồn cát, ao hồ, nếu ở đây nhất định gia thế sẽ vinh hoa, sống thọ.

20. Trái phải đều có kênh nước, cát trạch. Là nơi hai bên trái phải đều có kênh nước chảy qua, ở lâu dài con cháu sẽ giàu sang, phú quý, của cải tiền tài sung mãn, con cháu đời sau thông minh tuấn tú hơn người.

21. Sau lưng có núi: cát trạch. Loại địa hình sau lưng có núi, là nơi thích hợp xây dựng trang viên, người ở sẽ có của cải sung túc, sức khỏe dồi dào. Nếu xây nhà ở thì nhân khẩu đông đúc, con cháu đời đời của cải dư thừa.

Chọn được thế đất có đầy đủ tứ thần thì đại cát, đại lợi

22. Phía đông bắc có gò mả: cát trạch. Loại địa hình phía đông bắc có gò mả, nếu thành gia lập nghiệp thì không có trở ngại gì. Xây dựng trang trại thì vô cùng cát lợi, vinh hoa phú quý, đời đời phồn vinh.

Các mảnh đất theo hình

23. Mảnh đất hình bình hành: Mảnh đất này được coi là một mảnh đất tốt. Trong trường hợp này, hãy xây nhà tại trung tâm mảnh đấy hay là phần phía trước sẽ giúp cho sự nghiệp phát đạt mau chóng. Nếu nhà nằm vào phần đất phía sau thì nghề nghiệp của người cư ngụ sẽ chắc chắn phát triển chậm.

24. Mảnh đất hình bán nguyệt: Mảnh đất hình dạng này là rất tốt. Trong mảnh đất này, tốt nhất là xây nhà ở giữa mảnh đất nhái theo hình dạng nửa đồng tiền cổ để đem lại tiền của dồi dào.

25. Đất có hình chữ nhật: đại cát, trong nhà xuất hiện hiền tài, con cháu có địa vị cao, tổ tông rạng rỡ.

26. Địa hình hình tròn: cát trạch. Đây là loại địa hình có hình tròn, bốn mặt hoàn chỉnh, căn cứ vào việc quan sát địa lý, loại địa hình này rất thích hợp xây dựng nhà ở. Nếu được ở vào khu đất này thì gia đình sẽ phú quý, hiển vinh, nhân khẩu hưng vượng.

Theo: Khỏe & Đẹp


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Chọn đất đúng phong thủy giúp giàu sang phú quý, tích tụ tiền tài

Hình dáng vòng 3 'tố cáo' gì về bạn?

Sở hữu vòng 3 quá lớn, bạn lười và chậm chạp. Vòng 3 lép, bạn gặp khó khăn trong sinh nở.
Hình dáng vòng 3

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

1. Mông nhỏ

Mông nhỏ, hẹp hơn so với vai? Bạn là cô gái đẹp và duyên dáng. Tuy nhiên, cuộc sống của bạn không gặp nhiều may mắn cho lắm bởi vòng 3 đại diện cho sự ổn định. Bạn đủ mạnh mẽ để vượt qua mọi khó khăn, tuy nhiên khó giữ tiền của được lâu bền.

2. Kích thước vòng 3 vừa phải

Kích thước mông rộng tương đương vai được xem là vừa phải. Nhìn từ phía sau, cặp mông đầy đặn và linh hoạt được gọi là “tiêu chuẩn”. Sở hữu vòng 3 này, bạn khá “mắn đẻ”, giỏi kiếm tiền cũng như tiết kiệm tiền.

3. Vòng 3 quá lớn

Bạn có dáng người hơi “đậm”, khá lười và chậm chạp. Chuyện tình yêu của bạn không hoàn mỹ. Tuy nhiên, đời sống hôn nhân của bạn lại tốt.

vong-3-b-2205-1411725857.jpg

4. Vòng 3 võng

Mông của bạn võng, xệ xuống? Bạn làm ít hưởng nhiều. Cuộc sống của bạn thiên về tận hưởng nhiều hơn là làm việc chăm chỉ ^^.

5. Vòng 3 lép

Mông đại diện cho sự ổn đinh. Mông quá lép, bạn sẽ gặp khó khăn trong việc sinh nở, làm giàu cũng như sự nghiệp của bạn khó thành công hơn những người khác. 

6. Vòng 3 hếch

Bạn lãng mạn, đa tình, có xu hướng coi tình yêu như trò chơi. Bạn có khả năng kiếm tiền, nhưng lại khó có thể giữ tiền lâu dài.

7. Vòng 3 căng tròn

Bạn khéo léo, có khả năng kiếm tiền tốt nhưng không giỏi trong việc kiểm soát chi tiêu. Bạn có thể kết hôn với người chồng tốt và sinh được những đứa trẻ kháu khỉnh.

Hạnh Yunnie (theo MPSG)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Hình dáng vòng 3 'tố cáo' gì về bạn?

Lựa chọn tên vần A như thế nào để được may mắn?

Khéo đặt tên bạn sẽ có được cái tên vừa hay vừa may mắn cho con mình!
Lựa chọn tên vần A như thế nào để được may mắn?

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Á: Công chính, liêm minh, đa tài, trung niên thành công hưng vượng, nếu là nữ thì vất vả, bất hạnh.

Ai: Đa tài, xuất chúng, phúc lộc song hành, được quý nhân phù trợ, trung niên cát tường, cuối đời hưng vượng.

Ái: Đa tài, nhanh nhẹn, xuất ngoại được lộc, trung niên vất vả, cuối đời thanh nhàn. 

An: Tính tình trung thực, cuộc đời thanh nhàn, bình dị, mau mồm miệng, con cháu ăn nên làm ra, khắc cha mẹ.


Lua chon ten van A nhu the nao de duoc may man hinh anh
Đặt tên chữ A mang lại may mắn
Án: Trên dưới hòa thuận, sống thành thật với mọi người, đa tài, trung niên thành công, cuối đời hưng vượng.

Ấn: Cuộc đời thanh nhàn, phú quý, trung niên thành công, phát tài phát lộc, thuở nhỏ và cuối đời vất vả.

Ẩn: Trí dũng song toàn, trung niên thành công, hưng vượng, học thức uyên thâm, có số xuất ngoại.

Anh: Khéo léo, nên cẩn thận tình duyên, trung niên vất vả, cuối đời hưởng phúc, gia cảnh tốt.

Ảnh: Nghĩa lợi phân minh, thanh nhàn, đa tài, trung niên cát tường, cuối đời thành công, phú quý.

Anh: Thanh nhàn, phú quý, trí dũng song toàn, dễ thành công, hưng vượng, gia cảnh tốt.

 

 

Ảnh: Nghĩa lợi phân minh, thanh nhàn, đa tài, trung niên cát tường, cuối đời thành công, phú quý.

 

Áo: Đa tài, trung niên nhiều may mắn, có 2 con thì cát tường, về già nhiều lo lắng.

Ấp: Cuộc đời thanh nhàn, tính tình ôn hòa, cuộc đời nhiều may mắn.

Áp: Ưu tư, vất vả hay đau ốm, đoản thọ, đề phòng có họa lao tù, cả đời khó được hạnh phúc.

Theo Tên hay thời vận tốt

 

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Lựa chọn tên vần A như thế nào để được may mắn?

Tình yêu nở rộ nhờ đặt bình hoa ở vị trí tốt nhất trong nhà

Vị trí đặt bình hoa tốt nhất: Vậy vị trí đặt bình hoa tốt nhất trong nhà là ở đâu? Chúng ta cùng đi tìm hiểu để ứng dụng vào cuộc sống.
Tình yêu nở rộ nhờ đặt bình hoa ở vị trí tốt nhất trong nhà

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Vậy vị trí đặt bình hoa tốt nhất trong nhà là ở đâu? Chúng ta cùng đi tìm hiểu để ứng dụng vào cuộc sống, thúc đẩy nhân duyên vượng, tình yêu nở rộ.


1. Ưu tiên đặt bình hoa ở Đào hoa vị


Đào hoa vị còn gọi là vị trí đào hoa. Trong phong thủy, đào hoa vị là một huyệt đạo, nếu nó được tác động sẽ có tác dụng làm tăng vận khí đào hoa của chủ nhân ngôi nhà đó. Do đó, việc đặt bình hoa ở đúng vị trí đào hoa của mỗi người sẽ rất tốt cho chuyện tình cảm.

Tinh yeu no ro nho dat binh hoa o vi tri tot nhat trong nha hinh anh 2
 
Đào hoa vị phân bố theo tuổi như sau:

- Tuổi Hợi, Mão, Mùi: vị trí đào hoa ở hướng chính Bắc, nên trưng bình hoa ở hướng chính Bắc.

- Tuổi Dần, Ngọ, Tuất: vị trí đào hoa ở hướng chính Đông, do đó nên đặt bình hoa ở hướng chính Đông.

- Tuổi Thân, Tý, Thìn: nên bài trí bình hoa ở hướng chính Tây vì đây chính là vị trí đào hoa.

- Tuổi Tỵ, Dậu, Sửu: nên đặt bình hoa ở hướng chính Nam vì đó là hướng của Đào hoa vị.

Tinh yeu no ro nho dat binh hoa o vi tri tot nhat trong nha hinh anh 2
 
Ngoài ra, nếu đặt bình hoa ở Đào hoa vị theo màu sắc, bạn cần xác định những màu chủ đạo của bình hoa và bài trí như sau:

- Đào hoa ở hướng Bắc: Nên đặt bình hoa màu đen, xám.

- Đào hoa ở hướng chính Đông: Có thể trưng bình hoa màu xanh lục.

- Đào hoa ở hướng Tây: Bài trí bình hoa màu vàng kim (vàng óng), màu trắng.

- Đào hoa ở hướng Nam: Nên đặt bình hoa màu đỏ, tím, cam.

2. Căn cứ vào chất liệu và hình dáng để chọn bình hoa

Theo góc độ phong thủy, chất liệu bình hoa trưng trong nhà tốt nhất là gốm hoặc sứ. Bình hoa bằng sứ nên đặt ở hướng Tây Nam hoặc Đông Bắc. Nếu là bình hoa thủy tinh, nên đặt ở phía Bắc trong phòng hay ngôi nhà.

Hình dáng bình hoa cũng rất quan trọng, bình hoa có hình dáng khác nhau nên đặt ở các hướng khác nhau. Các loại bình hoa hình cầu nên đặt ở hướng Bắc hoặc Tây Bắc, hình nón nên đặt ở phía Nam...

► Tham khảo thêm: Những vật phẩm phong thủy giúp phát tài, phát lộc

Theo Giadinh&Xh

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tình yêu nở rộ nhờ đặt bình hoa ở vị trí tốt nhất trong nhà
Click to listen highlighted text! Powered By DVMS co.,ltd