Mơ thấy lãnh đạo: Có tài cán và năng lực –
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
![]() |
| Ảnh minh họa |
![]() |
| Ảnh minh họa |
![]() |
| Ảnh minh họa |
![]() |
| Ảnh minh họa |
| ► Lịch ngày tốt gửi đến bạn đọc công cụ xem bói tử vi chuẩn xác theo ngày tháng năm sinh |
Cự Môn sở dĩ thành ám vì khả năng cản ngăn che khuất của nó. Vậy thì tính chất căn bản của Cự Môn là một vật gây chướng ngại. Đã gây chướng ngại tại sao nó đứng với Thái Dương ở cung Dần lại thành tốt? Trong vũ trụ duy chỉ có vầng Thái Dương không vật gì có thể che khuất bởi vậy Thái Dương đắc địa không sợ Cự Môn.
Cự Môn đứng bên cạnh Thái Dương biến thành một vật gây phản chiếu cho Thái Dương, đồng thời Thái Dương đã chuyển Cự Môn từ ám thành minh. Ảnh hưởng cản ngăn che khuất của Cự Môn gây khó khăn nhiều nhất là quan hệ giao tế.
Đẩu số toàn thư viết: “Tính chất Cự Môn ngoài mặt thì thế mà trong lòng thì khác, đối với người thân ít hợp, giao du với người mới thì trước yêu sau ghét”. Mấy chữ “Cô độc chi số, khắc bạc chi thần” là nói về giao tế.
Cự Môn là sao của thị phi vậy thì Cự Môn “thị” hay “phi”? Vốn là ám diệu như mầu đen chìm dưới đáy biển khó mà biết được thị hay phi.
Trong lối sắp xếp bốn sao Hóa cổ nhân đã đặt để sao Cự Môn không bao giờ đứng cùng Hóa Khoa, nó chỉ đứng bên Hóa Lộc, Hóa Quyền, và Hóa Kị thôi. Cự đi cùng Hóa Kị lực lượng chướng ngại tăng cao hẳn, bởi vậy Mệnh mà gặp Cự Kị dễ rơi vào khẩu thiệt thị phi, tình cảm khôn khó, hoặc cò bót kiện tụng, ngoài ra còn dễ lên bàn giải phẫu.
Cự Môn đứng cùng Hóa Lộc thì lời ăn tiếng nói hoạt bát, tranh biện hay, khả dĩ nói ra tiền vào nghề thầy kiện, vào ngành truyền thông hợp cách. Nhưng bản tính thì không thực, nói cười thân mật mà thiếu tình cảm chân thành.
Cự Môn đứng với Hóa Quyền sách bảo rằng đó là hung mà ra triệu chứng tốt (hung vi cát triệu). Nhờ chướng ngại tạo ra phấn đấu mà nên công nên nghiệp, do chướng ngại mà thành công. Tỉ dụ xã hội biến động bị đẩy vào bước đường cùng, từ cùng sinh biến mà hóa thông. Càng vượt nhiều khó khăn càng thành công lớn. Những người làm chính trị, những người có số hoạnh phát thường thấy Mệnh Cự Môn Hóa Quyền. Cự Môn không cần Hóa Khoa, nhưng gặp Hóa Khoa Cự Môn sẽ tan biến đi tính chất thị phi cố hữu của Cự Môn.
Cự Môn đứng một mình ở các cung Tí, Ngọ, Thìn, Tuất và Tỵ Hợi. Cự Môn đứng cùng Thiên Cơ ở Mão và Dậu. Đứng cùng Thiên Đồng ở Mùi, Sửu. Đứng cùng Thái Dương ở Dần Thân.
Trước nói về Cự Môn Thiên Cơ. Thiên Cơ vốn đã động, Cự Môn lại đa biến. Hai sao này thủ Mệnh cuộc đời biến động nhiều và có tài xoay sở, tuy nhiên chỉ thành công nếu như giữ được sự an định, nếu cứ mặc sức biến động thì càng lún sâu vào những khó khăn. Cự Cơ trên nguyên tắc là cách làm giàu với điều kiện phải có Hóa Quyền, Hóa Lộc hoặc Song Hao (Đại Tiểu Hao), đã Lộc thì không nên Hao.
Cự Môn Thái Dương ở Dần tốt hơn ở Thân. Vì Dần cung Thái Dương quang huy còn mạnh trong khi ở Thân Thái Dương đã về chiều sức không đủ. Câu phú “Cự Nhật Dần Thân quan phong hầu bá” không hẳn là vậy.
Cự Môn Thiên Đồng gây phiền nhất cả trên tình cảm lẫn danh phận. Cự Đồng thủ Mệnh số trai khó lập công danh cơ nghiệp, số gái lận đận duyên tình.
Nói về Cự Môn đóng hai cung Tí và Ngọ mà ta thường gọi bằng cách “Thạch trung ẩn ngọc” (ngọc còn ẩn trong đá). Cự Môn Tí Ngọ nếu được Khoa Quyền Lộc thủ chiếu là hợp cách ẩn ngọc, tuy không quyền uy lớn nhưng ắt giàu sang. Cự Môn ở Tí tốt hơn Ngọ. Vì lẽ đóng ở Tí mới được Thái Dương Thìn đắc địa, đóng Ngọ thì Thái Dương ở Tuất đã mất nhiều quang huy. Cự Môn Tí hay Ngọ thì Hóa Lộc tạo nhiều sức mạnh hơn Lộc Tồn.
Các sao của Tử Vi Khoa bao giờ cũng mang hai bộ mặt cát và hung. Cự Môn Hóa Kị bị coi làm hung thần, nhưng lúc biểu hiện cũng vẫn có hai mặt tốt xấu. Hãy đọc câu phú sau: “Cự Môn Thìn cung Hóa Kị, Tân nhân Mệnh ngộ phản vi kỳ” (nghĩa là Cự Môn thủ Mệnh tại cung Thìn có Hóa Kị, người tuổi Tân lại biến ra kỳ cách)
Cự Môn Hóa Kị đi cặp rất xấu, nhưng ở trường hợp này lại chuyển thành tốt. Vì nó được cả bốn Hóa, Hóa Quyền đứng bên Thái Dương chiếu lên, Hóa Khoa đứng Tuất với Văn Khúc chiếu qua, và Hóa Lộc đứng cùng Cự Môn thành ra kỳ cách “Tứ Hóa toàn phùng”
Cách này thường gây sôi nổi thị phi nhưng cuối cùng lập thành sự nghiệp to lớn. Cự Môn Hóa Kị ở cách này là con người đi ngược thời thượng không a dua mà đặt định một lề lối riêng biệt tiến bộ. Nó đi vào mọi lãnh vực chính trị, quân sự, văn học, âm nhạc đến hội họa, y học….
Nếu như Cự Môn ở Thìn không Hóa Kị, Hóa Khoa chỉ có Quyền với Lộc thôi thì công danh lại thường do người đề bạt mà nên phú quí thiếu sức công phá của Hóa Kị nên không thành ra người sáng tạo sự nghiệp.
Sao Cự Môn rất hợp với những người tuổi Tân. Vì tuổi Tân sự an bài tứ hoá theo thứ tự Cự Nhật Khúc Xương, đương nhiên nếu Cự Môn thủ Mệnh mà tuổi Tân thì đã chắc chắn có Lộc Quyền. Ngay cả đến cách Cự Đồng vào Mệnh là xấu nhưng với tuổi Tân cái xấu giảm hẳn đi. Bởi vậy mới có câu phú rằng: “Cự Môn Thìn Tuất hãm địa Tân nhân hóa cát lộc tranh vinh” (Cự Môn ở hai cung Thìn Tuất là đất hãm nhưng nếu tuổi Tân thì lại vinh hiển)
Cự Môn đóng ở Thìn là cung Thiên La (lưới trời) hoặc cung Tuất là cung Địa Võng (lưới đất) kể như hãm. Thế hãm này chỉ phá ra được nếu Cự Môn có Địa Không, Địa Kiếp đi bên hoặc đứng với Kình Dương hay Linh Tinh. Cuộc đời trải qua nhiều bôn ba thăng trầm vượt lên mà thành công. Nhắc lại đã Kình thì thôi Linh, đã có Linh thì đừng nên Kình thêm nữa.
Cự Môn có liên hệ nhiều với Thái Dương. Sách Đẩu Số Toàn Thư viết: “Cự Nhật Dần lập Mệnh Thân tiên khu danh nhi thực lộc, Cự Nhật Thân lập Mệnh Dần trì danh thực lộc” nghĩa là Mệnh lập tại Thân Cự Nhật Dần xung chiếu hoặc Mệnh lập tại Dần Cự Nhật xung chiếu cả hai đều danh vị đi trước Lộc tới sau.
Hai cách trên đều có tiền qua chức vị, chức lớn tiền nhiều, chức nhỏ quyền ít không thể do kinh thương mà làm giàu. Rồi một câu khác: “Cự tại Hợi cung, Nhật Mệnh Tỵ thực lộc trì danh, Cự tại Tỵ Nhật Mệnh Hợi phản vi bất giai” nghĩa là Cự đóng Hợi Thái Dương thủ Mệnh Tỵ có tiền rồi có danh, nếu như Cự đóng Tỵ Thái Dương thủ Mệnh tại Hợi thì xấu khó màng đến danh lộc. Cự Hợi xung chiếu Mệnh khả dĩ kinh thương làm giàu, lớn nhỏ còn tùy các phụ tinh khác.
Còn một cách khác về liên hệ giữa Cự Môn với Thái Dương: “Cự Tuất, Nhật Ngọ Mệnh viên diệc vi kỳ” An Mệnh tại cung Dần, Cự Môn đóng Tuất, Thái Dương từ Ngọ chiếu xuống, không bị Tuần Triệt làm ngăn trở Thái Dương cách này công danh tài lộc dễ dàng.
Cự Môn vào Mệnh thường là người ăn nói, lý luận vững vàng, mà cũng dễ vạ miệng nếu như nó đứng cùng các sao xấu. Văn Khúc cũng có khả năng ăn nói, nhưng Văn Khúc biết lựa chiều nên ra tiền và làm đẹp lòng người. Còn Cự Môn nói để lập luận, phân tích, đả kích mà tạo quyền uy. Nếu có Hóa Quyền thì đạt ý muốn, nếu bị các hung sát phá, kết quả gây thù chuốc oán phiền não.
Tài ăn nói của Văn Khúc mang ý hướng đào hoa, thuyết phục. Tài ăn nói của Cự Môn đầy quyền lực, có khuynh hướng áp đặt. Cự Môn đứng với Thiên Đồng ăn nói thường gàn gàn khó nghe.
Cự Môn tuyệt đối không hợp với Linh Tinh, Hỏa Tinh. Cự Môn ngại thấy Kình Dương Đà La. Có những câu cổ quyết ghi trong Đẩu Số Toàn Thư: “Cự Hỏa Linh Tinh phùng ác hạn tử ư ngoại đạo” (Mệnh Cự Hỏa Linh Tinh hay hạn gặp Cự Hỏa Linh Tinh rất hung nguy)
Cự Môn Dương Đà ư Thân Mệnh, tật bệnh doanh hoàng (Cự Môn gặp Dương Đà ở Thân hay Mệnh bệnh tật triền miên)
Những cách trên nếu như gặp Hóa Khoa, hay bộ tam minh Đào hồng Hỉ có thể hóa giải, thêm cả Hỉ Thần càng tốt. Ngoài ra Cự Môn còn có một cách nữa qua câu quyết: Cự Lương Thân Mệnh, bại luân loạn tục (Cự Môn và Thiên Lương một ở Thân, một ở Mệnh thường có khuynh hướng loạn luân)
Cách này chỉ xuất hiện khi nào Cự Môn đóng Mệnh cung mà Thân lại ở Phúc Đức thôi. Trường hợp Thiên Lương Mệnh thì Cự Môn bắt buộc phải đóng Thê cung, không ăn nhập gì đến câu quyết trên.
Qua kinh nghiệm thì chuyện bại luân loạn tục chỉ xảy ra nếu như Mệnh hay PHúc Đức còn có thêm những sao Đào hoa, Thiên Riêu, Mộc Dục, Không Kiếp.
Những câu phú khác về sao Cự Môn cần biết:
- Cự Nhật Dần Thân thiên môn nhật lãng, kị ngộ Lộc Tồn ái giao Quyền Phượng
(Cự Nhật thủ Mệnh cung Dần không nên gặp Lộc Tồn mà cần gặp Hóa Quyền, Phượng Các).
Câu này mâu thuẫn với câu phú: “Cự Môn Dần Thân, tới chi Giáp Canh sinh” nghĩa là Cự Môn đóng ở Dần hay Thân rất tốt cho tuổi Canh và Giáp, hai tuổi này Lộc Tồn ở ngay Thân hay Dần (Trên nguyên tắc thì Cự Môn cần Hóa Lộc, Hóa Quyền hơn Lộc Tồn). Một điểm sai khác trong câu này: Cự Môn tại Dần không thể gọi là “Nhật lãng Thiên Môn”.
- Cự Nhật Mệnh viên, hạn đáo Sát Hình Kiếp Kị tu phồng tâm phế, kiêm Thiên Mã hãm tật tứ chi, duy hạn Song Hao khả giải.
(Cự Nhật ở Mệnh, vận hạn đến Sát Hình Kiếp Kị phải lo bệnh nơi tim phổi, nếu thấy cả Thiên Mã Tuần Triệt thì phải đề phòng thương tích tay chân)
- Cự Cơ Dậu thượng hóa cát giả, túng hữu tài quan đã bất chung
(Cự Cơ thủ Mệnh tại Dậu, nếu giàu sang lớn thì không bền hay không thọ)
- Tây Nương Tử áp đảo Ngộ tiền do hữu Cự Cơ Song Hao Quyền Ấn Đào Hồng phu cung
(Nàng Tây Thi làm mưa làm gió dưới triều đại Ngô Vương bởi vì phu cung có Cự Cơ Song Hao, Quyền Ấn Đào Hồng. Cách này tất Mệnh cung Thiên Lương thủ, đàn bà bạt nhưng Phu cung tuyệt bậc giàu sang, cũng là cách làm đĩ nên bà)
- Mão Dậu Cự Cơ Tân nữ ích tử vượng phu bất kiến Triệt Tuần đa tài thao lược
(Mệnh Cơ Cự thủ ở Mão Dậu, người nữ tuổi Tân vượng phu ích tử, nếu không bị Tuần Triệt là người đàn bà đảm đang quán xuyến)
- Cự Cơ nhi ngộ Lộc Tồn ngữ bất chính ngôn
(Mệnh Cự Cơ đồng cung với Lộc Tồn thì hay ăn nói hồ đồ thiếu thận trọng)
- Cự Cơ chính hướng hạnh ngộ Song Hao uy quyền quán thế
(Cự Cơ thủ Mệnh gặp Song Hao giàu sang hơn người)
- Tân nhân tối ái Cự Môn nhược lâm tứ Mộ phùng Tả Hữu cứu Mệnh chi tinh
(người tuổi Tân hợp với sao Cự Môn, nếu vào đất tứ Mộ Thìn Tuất Sửu Mùi mà gặp Tả Hữu tránh đươc nhiều hung hiểm trong đời)
- A Man xuất thế do hữu Cự Kị Khốc Hình Thìn Tuất
(Tào Tháo lừng lẫy do Mệnh có Cự Kị Khốc Hình ở Thìn Tuất)
- Cự Đồng nhi phùng La Võng, ngộ Khoa Tinh thoại thuyết Lịch Sinh
(Cự hay Đồng thủ Mệnh ở Thìn Tuất, có Hóa Khoa thì làm du thuyết như Lịch Sinh thời xưa)
- Cự Môn Tị Hợi kị ngộ Lộc Tồn nhi phùng Quyền Lộc kiếm sạ Đẩu Ngưu.
(Cự Môn an Mệnh ở Tỵ hay Hợi không nên gặp Lộc Tồn. Lộc Hóa Quyền thì ví như cầm kiếm mà chém sao Đẩu sao Ngưu)
- Cự Môn phùng Đà Kị tối hung
(Cự Môn đóng Mệnh gặp Đà Kị rất xấu)
- Cự phùng Tồn tứ cát xứ tang hung, ưu nhập tử cung vô nhị tống lão
(Cự Môn đứng bên Lộc Tồn tuy tốt nhưng có hung tiềm ẩn bên trong, nếu hai sao này vào tử tức tới già không con cái nối dõi)
- Cự Môn thê thiếp da bất mãn hoài
(Cự Môn đóng Thê luôn luôn bất mãn với duyên tình, không yên với một vợ)
- Cự Môn bất mãn trong lòng, ba lần kết tóc mới xong mối sầu
(Số nữ Cự Môn tái Phu, phải mấy đời chồng)
- Giải sứ mạc ngộ Cự Đồng kiêm phùng Tang Hổ Đà Riêu hữu sinh nan dưỡng
(cung Tật ách thấy Cự Đồng mà đi với Tang hổ Đà Riêu thì sinh mà không nuôi được)
- Cự phùng Dương miếu tốt thay
Thăng quan tiến chức vận lành mừng vui.
(Vận đến Thái dương đắc địa hội Cự Môn làm quan thăng chức)
- Kình Đà Linh Hỏa cùng ngồi
Với sao Cự tú một đời tai ương
- Hợi Tỵ Cự Lộc Quyền rất quý
Gặp Lộc Tồn biến thể ra hư
- Cự gặp Hổ Tuế Phù hội viên
Ấy là nghề thầy kiện quan tòa
- Cự Tí Ngọ gặp Khoa Quyền Lộc
Ấy là người đa học đa năng
- Cự Nhật đồng thủ Dần Thân
Một đời chức tước cháu con sang giàu
- Gặp Quyền Vượng càng thêm vinh hiển
Gặp Lộc Tồn lại kém lắm thay
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
1. Long ngân
Long ngân là tên gọi của những đồng tiền bằng bạc được lưu hành cuối triều nhà Thanh. Trên mặt đồng tiền có khắc hình con rồng. Để sinh vượng tài cho văn phòng, nên bày đồng tiền hình con rồng này ở bên trái của bàn Thổ công.
2. Ngọc cổ
Ngọc cổ là miếng ngọc có hình vuông, ở giữa đục một lỗ to tròn, lỗ tròn tượng trưng cho trời còn hình vuông của miếng ngọc tượng trưng cho đất. Theo quan niệm của phong thuỷ, sự hài hòa giữa đất trời sẽ mang đến tài lộc cho văn phòng. Ngọc cổ cũng giống như Ngân Long, không nên bày một mình mà nên bày bên phải bàn Thổ công để cầu tài.
3. Ngọc bích
Ngọc bích là miếng ngọc màu xanh có hình tròn. Ngọc bích thường được bày bên cạnh thần tài là biểu tượng phong thủy giúp vượng tài vận. Có thể bày một miếng ngọc bích ở phía bên trái của các vị thần, như Quan đế, triều Công Minh, Lưu Hải tiên nhân, Quân âm như ý (tay cầm gậy như ý), Quan Âm Bảo Châu (tay cầm ngọc vàng)…
4. Con dơi
Trong tiếng Hán, từ chỉ con dơi có cách đọc giống từ phúc, vì vậy con dơi thể hiện phúc khí. Dơi được coi là con vật may mắn, tốt lành vì nó trông rất giống con chuột.
5. Bách phúc đồ
Đây là một loại tranh chữ, trong tranh có viết 100 chữ phúc với các cách viết khác nhau, được gọi là bách phúc đồ (bức tranh trăm phúc). Bức tranh này có thể mang lại phúc khí cho nhân viên trong văn phòng.
6. Con hươu
Trong tiếng Hán, từ chỉ con hươu có âm đọc giống từ lộc, vì vậy những vật phẩm hình con hươu rất thích hợp để trưng bày trong văn phòng mang đến may mắn và tài lộc. Về tranh vẽ, người ta thường vẽ một con “chuột phúc” (con dơi) và một con hươu, với ý nghĩa “phúc lộc song toàn”. Ngoài ra cũng có một số bức tranh ngoài vẽ con dơi và con hươu, mọi người còn vẽ thêm hình ông Thọ để mang đầy đủ ý nghĩa “Phúc Lộc Thọ”.
7. Sừng trâu
Đối với những ngành nghề mang tính cạnh tranh cao thì nên treo một cái sừng trâu trong văn phòng để tăng sức mạnh và ý chí vươn lên.
8. Tranh chữ
Thông thường, tranh chữ là món đồ phong thủy thường được treo trên tường ở phía sau chỗ ngồi ở bàn làm việc của nhân viên hoặc treo ở phía tường đối diện. Trong phòng cũng không nên treo quá nhiều tranh chữ, nếu không sẽ có kết quả ngược lại, vì thị giác sẽ bị các bức tranh làm rối loạn, không tập trung được tinh thần khi làm việc.
(Theo Xzone)
![]() |
![]() |
Ban công là vị trí đặc biệt trong nhà, có tác dụng đón dương khí, giao lưu với tự nhiên. Vì thế mà có những đồ vật không nên để ở ban công, hãy lưu ý dọn dẹp thật kĩ để tránh ảnh hưởng tới phong thủy ngôi nhà. Phong thủy ban công quan trọng không kém bất cứ khu vực vào trong nhà, có ảnh hưởng tới toàn bộ gia vận, nhất là tài vận và sự nghiệp của chủ nhân. Có một số đồ vật tốt nhất không nên đặt ở ban công bằng không sẽ phá hủy sự hòa hợp âm dương ở nơi đây.
![]() |
![]() |
![]() |
Bếp là một trong ba không gian quan trong trong kết cấu không gian một căn nhà và có ảnh hưởng tới vấn đề sức khỏe – hành phúc gia đình – tài lộc. Do đó, để giúp bạn có được hướng bếp phong thủy chúng tôi xin chia sẻ một số kinh nghiệm chọn hướng nhà bếp theo phong thủy để vượng gia. Trong đó, có 3 vấn đề các bạn cần quan tâm trong phong thủy hướng bếp là:
Thứ nhất, hướng nhà bếp, phòng bếp
Thứ hai, hướng đặt bếp theo phong thủy
Thứ ba, bố chí không gian bếp với đồ dùng theo phong thủy
1. Chọn hướng nhà bếp theo phong thủy
Xem hướng nhà bếp theo phong thủy trong không gian tổng thể căn nhà của bạn chính là cửa vào bếp. Phụ thuộc vào các phòng trong căn nhà của bạn mà cửa nhà bếp cần phải sắp xếp sao cho hợp lý và đảm bảo được yêu cầu về phong thủy, tốt lành cho chủ nhà.

Chọn xem hướng nhà bếp theo phong thủy để vượng gia
3. Chú ý cần tránh để bếp có phong thủy tốt
Ngoài việc xem phong thủy hướng nhà bếp và đặt bếp thì cũng cần chú đến việc bài trí không gian bếp và tránh cách xếp đặt các dụng cụ không phù hợp, ảnh hưởng xấu tới phong thủy bao gồm:
Tránh các góc nhọn chiếu góc vào khu vực nấu vì có thể làm mất đi sự hòa thuận trong gia đình và tránh các xà ngang trên bếp cũng không tốt cho nữ gia chủ, sức khỏe của gia đình
Không nên đặt bếp quay về hướng bắc (hướng thủy vượng) và bàn nấu ăn ở trên rãnh, mương, đường nước chảy, tránh đặt vị trí thấp, không cao ráo và đủ ánh sáng hoặc xô lệch bàn nấu ăn.
Tránh cửa nhà vệ sinh nhìn thẳng vào bếp, cửa ra vào trước vì đây là nơi ố khí và trực diện với đường đi nên dễ bị tác động. Đồng thời, không đặt bếp ngược hướng nhà tức là người nấu quay lưng về hướng cửa nhà chính hoặc cửa chính nhìn, đâm thẳng vào bếp. Và không để không không quá rộng phía sau vị trí đặt bếp mà cần có điểm tựa vững chắc.
Kiêng nhà bếp đối diện hoặc sát với cửa phòng ngủ hay giường ngủ vì có thể ảnh hưởng tới sức khỏe, dễ sinh bệnh đối với người trong phòng ngủ. Kiêng mặt trời chiếu xiên buổi chiều hoặc góc nhọn chiếu thẳng vào bếp vì theo phong thủy học bếp hướng tây nếu bị mặt trời chiếu xiên từ hướng chính tây vào sẽ mang lại điều không tốt về sức khỏe cho mọi người trong gia đình.
Mặt khác, bếp thuộc hỏa, hỏa vốn kỵ nước,nước và lửa không dung hòa, vì vậy lửa không nên để gần nước quá. Nếu như bếp đặt trên đường nước là không thích hợp. Tránh đặt các dụng cụ có sự xung khắc giữa nước và lửa như: đặt tủ lạnh đối diện hoặc quá gần bếp nấu hoặc tử lạnh/máy giặt/chậu rửa ở hai bên và bếp nấu ở giữa…
Trên đây là một số lưu ý về xem hướng nhà bếp theo phong thủy để vượng gia mà bạn nên tham khảo khi xây dựng, thiết kế, bố trí, sắp xếp một căn bếp hợp phong thủy.
Căn cứ ghi chép trong sách cổ "Thái tuế có 3 loại, một là Thái tuế năm, vận hành sang trái 28 vì tinh tú, 12 năm một chu thiên, bắt đầu thấy ở phía Nam ngoài biển; tháng 1 là Thái tuế tháng, tháng 2 khởi từ ngày Mão, tháng 3 khởi từ ngày Tý, tháng 4 khởi từ ngày Dậu, tháng 5 khởi từ ngày Ngọ, tháng 6 lại quay về Mão".
Thái tuế trong sách Tử vi Đẩu Số là Thái tuế năm, cũng gọi là Thái tuế âm, Tinh long, Thiên nhất.
Thái tuế mỗi năm chuyển động một cung, ví dụ như năm Dân quốc thứ 72 là năm Quý Hợi, Thái tuế tại Hợi, sang năm sau Thái tuế tại Tý, sang năm sau nữa Thái tuế tại Sửu.
Ba công dụng của Thái tuế là:
1) Căn cứ vào tính toán chuyển động của mặt Trăng, tuy năm nay Thái tuế của mỗi người đều ở Hợi, nhưng lưu nguyệt của mỗi người lại không giống nhau. Ví dụ như Phan Tử Ngư sinh vào tháng 2, lấy cung Hợi làm khởi điểm, ngược chiều kim đồng hồ lấy Hợi địa làm tháng 1, Tuất địa làm tháng 2 (sinh tháng 3 lại theo đó suy tiếp 1 cung, sinh tháng 4 suy tiếp tương tự) tại cung Tuất làm khởi điểm, lại theo chiều kim đồng hồ đoán ngược giờ sinh. Phan Tử Ngư sinh vào giờ Dần, lấy Tuất địa làm giờ Tý, Hợi địa làm giờ Sửu, Tý địa làm giờ Dần. Như vậy Phan Tử Ngư năm nay Đẩu quân tại Tý, cũng tức là lất Tý địa làm chính nguyệt, Sửu địa làm tháng 2, Dần địa làm tháng 3 ... Sự biến hóa cát hung của vận khí mỗi tháng đều xem dựa trên vị trí tọa của các Sao.
Vận khí mỗi ngày như thế nào, thì lấy Lưu nguyệt làm ngày mồng 1, mỗi ngày vận hành một cung
Lưu thời lấy Đẩu Nhật làm giờ Tý, tính toán như lưu Nhật.
2) Thái tuế của mỗi ngươi đều ở Hợi địa, nhưng cung nhập Hợi địa mỗi người không giống nhau, ví như có người Hợi địa ở cung Phụ mẫu, có người ở cung Phu thê, có người ở cung Tử nữ, lại có người cung Tài bạch nhập Hợi địa ... Như vậy, Thái tuế và cung Hợi có quan hệ mật thiết, ví như cung Phu thê tọa Hợi địa thì luận về tình cảm vợ chông trong năm Quý Hợi là trọng yếu. Nếu sao ở cung Phu thê là cát tinh thì vợ chồng hòa thuận, nếu là hung tinh thì vợ chồng bất hòa, hoặc gặp tai nạn, thậm chí là xung khắc nhau. Nếu nha Thái tuế năm nay ở cung Tài bạch, gặp cát tinh tất phát tài, gặp hung tinh e khó tránh họa phá tài.
3) Xem vận khí mỗi năm, lấy Tiểu hạn làm chủ, Thái tuế làm phụ trợ. Ví dụ Thái tuế năm nay ở Hợi địa, thì lấy Hợi địa làm cung Mệnh, cung Phu thê ở Dậu, sao tọa Dậu địa là cát tinh thì vợ chồng hòa hợp, sao tọa là hung tinh thì vợ chồng bất hòa.
Cung Tài bạch ở Mùi địa, sao tọa là cát tinh thì năm Quý Hợi tài vận tốt đẹp, là hung tinh thì e khó tránh họa phá tài.
Tuy nhiên, nên chú ý phần phê mệnh, lại tham khảo các phương tiện Đại hạn, Tiểu hạn, Thái tuế, cùng Tứ hóa (bao gồm tứ Hóa năm sinh. Tứ Hóa đại hạn. Tứ hóa tiểu hạn. Tứ hóa Thái tuế...) tổng hợp để nghiên cứu.
Thái tuế rất kị gặp năm mệnh, nếu sao ở cung Mệnh là cát tinh thì không đáng lo ngại, nếu là hung tinh thì năm đoa khó tránh họa tai nạn.
Thái tuế kị gặp Thiên thương - Thiên sứ (như Thiên thương tại Tị, Thiên sứ tại Mùi, Thái tuế tại Ngọ), kị hành Địa không, Địa kiếp, Kình dương, Đà la, cũng kị Kình Đà xung phá Thái tuế, thường gặp hung hạn.
(Nguồn: blog tử vi tinh quyết)
Hưng-Đạo-Vương là tước vị của hoàng thân Trần-Quốc-Tuấn, một vị danh tướng nhà Trần có chiến công không kém phần quan trọng và hiển hách so với các vị anh hùng dân tộc như Đại đế Quang Trung, Lê-Thái-Tổ. Ngài là vị anh hùng đuổi quân xâm lăng Mông cổ, chứ không phải chỉ là một vị linh thần như một số người hiểu lầm dưới một khía-cạnh đánh phạt tà-ma cứu nhân độ thế với uy hiệu là Đức Thánh Trần.
Theo một số dã sử, Ngài tuổi Mậu Tý (1228 TL) sanh ngày 30 tháng chạp giờ Ngọ, Qui thần ngày 20-8 năm Canh Tí (1300 Tl) hưởng thọ 72 tuổi.

Xem Tướng chấm net xin được trích dẫn phần luận giải của cụ Thiên Lương về lá số tử vi Đức Hưng Đạo Vương:
Theo tử vi Tuổi Mậu Tí thân mệnh đồng cung tại Mùi vô chính Diệu là vị trí của người đã chấp nhận với định mệnh lấy đức nhân hậu làm chủ đích dầu thân phận có phải hy sinh cũng không ngại.Vì thế đương số mới ghi được câu nói bất hủ : Nếu bệ hạ muốn hàng Mông Cổ xin trước hãy chém đầu tôi đi đã rồi sau sẽ hàng cũng không muộn”. Ăn nhịp với câu cứng cỏi bất khuất của thái sư Trần Thủ Độ: “Đần thần chưa rơi xuống đất thì xin bệ Hạ đừng lo”.
Người vô chính diệu Hỏa mệnh đắc Tuần câu hút Nhật-Nguyệt tịnh minh Mão Hợi phải nói là cách Vô chính Diệu tuyệt hảo, một sự thông minh quán chúng, một đức độ chính đính sánh với trời cao đất rộng ( Song Long Quan Phúc), còn Hồng Việt Tả Hữu Khoa Quyền một khả năng văn võ toàn tài quyền uy đúng mức.
Đây có phải là một vị Thiên Tướng xuống trần như dã sử đã nói : lúc có mang An-Sinh Vương phu nhân nằm mơ thấy thiên thần xin đầu thai, đến lúc sinh ra Vương có hào quang mùi thơm ngào ngạt. Lên 6 tuổi đã biết làm thơ và hay bày chơi đồ bát trận (Nam Hải Dị Nhân của Phan kế Bính).
Lòng chính đính của Vương ngay cả ở bộ tinh đẩu giáp 2 bên Mệnh Thai, Tọa, Quang, Quí phá tan cả nghi vấn Tử-Phá là hoản cảnh bất hạnh Vương phải gánh chịu một trong hai điều bất trung hay bất hiếu. Vì nhà Trần theo sử liệu, có sự lỉnh kỉnh trong hoàng hoàng tộc nên khi Đức Ông An-Sinh Vương-Liễu lúc sắp qua đời có trối chăng cho Vương là phải giải hận cho Ông. Nên lúc phò xa-giá Nhân-Tôn chạy loạn vào Thanh-Hóa, Vương phải bẽ mũi gươm ở tay để tránh điều nghi kỵ, và tỏ lòng trung thành minh bạch của Vương như đôi vừng nhật nguyệt ở số định, tưởng sự chân thành này không còn bút nào tả hết, và công nghiệp vang dội cũng không biết nói thế nào cho đủ với Tuần của Hỏa mệnh.
Đem so sánh với lá số tử vi vô chính diệu của Lê-Thái-Tổ khi mệnh đắc Bạch Hổ cư Dậu, lá số của vị đại đế cứu quốc cũng được Nhật Nguyệt ở Sữu chiếu lên.Người tuổi Sửu đứng ở Dậu là cái thế của người làm việc chính-nghĩa, Kim mệnh đóng Kim cung ở thế Kim, đối phương ở mão (Mộc) khó mà ở yên không thể không bị khắc chế. Nếu thêm tuần thì lại giảm uy danh của Bạch Hổ độc thủ, tuy là câu hút được Nhật Nguyệt dễ dàng, vậy không nên quan niệm tính ở “Không” mà định giá trị của số Vô chính Diệu.
Đại đế Lê-Thái-Tổ với Bạch Hổ ở Dậu mệnh Kim được Nhật Nguyệt ở Sửu, binh quyền ở Tỵ đủ cái nghĩa một vị Đại-Đế anh hùng thời cuộc. Còn Hưng-Dạo-Vương vô chính Diệu không có nòng cốt một sát tinh đắc địa hợp mệnh của tuổi Hỏa, phải mượn thế Thái Dương nhờ Tuần thâu hút, dầu Tuần là Hỏa, cũng là một số đắc cách. Nhưng được tuần lôi kéo Nhật Nguyệt nhất là Nhật ở Mão, Nguyệt ở Hợi là vị trí tuyệt phẩm của thông minh sáng suốt hơn hẳn bất cứ vị trí nào của bộ Âm-Dương. Huống chi bồi thêm Tả hữu Hồng Việt Khoa Quyền dư tài làm một vị nguyên soái thông văn đạt võ điều khiển thiên binh vạn mã. Chỉ hiền vị trí ở Mùi là luôn luôn ở thế bị động chỉ tìm cách chống đỡ (Mộc) thế công ở Sửu (Kim). Đối phương từ Đồng cự đền Hà sát, Kiếp Không, Toái Kỵ, một đòan quân từ cấp chỉ huy đến ba quân chỉ biết đem giải khắp đó đây sự khủng khiếp mạnh ai nấy vơ vét, rồi ra cũng chẳng nên trò trống gì ở vị trí Thiên KHông chính vị ( Thìn Tuất Sửu Mùi).
Quân Nguyên bắt đầu khởi hấn đem quân sang xâm chiếm vào tháng 10 năm Quí Mùi (1283) cho đến trận thất bại cuối cùng ở Bạch Đằng-Giang vào tháng 3 năm Mậu Tí(1288) tức là giai đọan Hưng Đạo Vương đi vào cung Tí (56-65) nghĩa là giai đọan thắng thế nhất thời của Vương ở thế chính Thái Tuế, chứ bộ Sát Phá Tham này chẳng có gì là tốt đẹp (hãm địa) quân thần tả sứ thiếu be bét, được một Linh(Thìn) phụ tá cho cấp chỉ Huy mặt trận Tham Lang là hợp cách, còn Thất Sát, Phá Quân như là chịu trận không một chút khả năng nâng đỡ, hèn chi Vương phải mấy phen phò giá rời bỏ Long thành.
Đứng về phương diện tử vi , trường hợp vô chính diệu như hai lá số của Lê-Thái-Tổ và Hưng Đạo Vương phải kể là 2 trường hợp đắc cách nhất. Một đằng tuổi Kim đắc sát tinh đắc địa thủ mệnh, một đằng Hỏa mệnh đắc Tuần thâu hút Âm Dương là hai kiểu điển hình xếp theo thứ tự giá trị. Dĩ nhiên hai số này phải sắp xếp sau số của Đại Đế Quang Trung, Tuổi Nhâm Thân(Kim), Mệnh đóng ở Thân (Thái Tuế) có Thất Sát thủ Mệnh (Kim). Nguyên một chi tiết nhỏ đó cũng đủ thấy một vị anh hùng không biết cái thua là gì.
Xét về công nghiệp thì Đại Vương Quốc Tuấn với cái thân thế là một danh thần phải kể là quá lớn lao đối với Tổ quốc dân tộc thì ngàn thu hương khói, chỗ linh địa Vạn kiếp cũng là rất xứng đáng với lòng dân thờ kính, tuy vậy vẫn còn lả thiệt thòi, so sánh với 2 vị Đại đế, phải chăng là ở vị trí Long đức, định mệnh đã an bài.
Ngôi Chùa Thiêng Thác Vàng có lối kiến trúc độc đáo nằm dưới pho tượng Phật lớn lôi cuốn nhiều khách hành hương cả nước. Ngôi chùa cách Hà Nội đúng 100km theo hướng Quốc lộ 3, trong khu du lịch huyền thoại Hồ Núi Cốc (huyện Đại Từ, Thái Nguyên)
Chùa Thiêng Thác Vàng nằm trong quần thể khu Du lịch huyền thoại Hồ núi Cốc, xã Tân Thái, Huyện Đại Từ, Tỉnh Thái Nguyên. Với một tượng phật cao 45 mét, tọa trên đỉnh núi và một ngôi Tam Bảo thờ trong lòng phật, với thiết kế màu vàng là chủ đạo, Chùa thiêng Thác vàng là ngôi chùa huyền bí linh thiêng, công trình còn được mang tên Thuyết nhân quả, như một thông điệp cho muôn đời sau.
Lịch Sử: Theo truyền thuyết, xưa có vợ chồng ông lão nghèo, nhưng rất thương yêu nhau. Ông lão hằng ngày vào rừng đốn củi, hái lượm và săn bắn. Còn bà lão ở nhà nuôi con, quay tơ và dệt vải. Dù vậy, họ luôn sẵn sàng giúp đỡ những người nghèo khó trong vùng. Rồi một ngày, ông lão ốm, không còn sức vào rừng được nữa. Một đêm, trời động, sấm rền vang, mưa xé lá rừng, thác tuôn trào khe núi.
Tiên ông đã hiện về, chỉ cho ông ngọn núi và nói rằng: Con cố đào sâu nơi đây, trời Phật sẽ giúp con đỡ khổ, vì con đã có công cứu giúp mọi người. Khi tỉnh giấc, ông lão đã kể cho bà lão nghe về giấc mơ của mình. Sáng ra, ông cố gượng dậy, tới mỏm núi tiên ông đã chỉ. Ông gắng đào, gắng đào… cho tới lúc một dòng nước mát chảy ra, lạ thay cùng với dòng nước là những hạt vàng lấp lánh. “Chùa Thác Vàng” cũng chính là ngôi chùa huyền thoại mà vợ chồng ông gắng dựng lên để tạ ơn trời Phật và đã hiển linh từ đó.
Kiến Trúc: Toàn bộ khu chính điện, tam quan, tam bảo, nhà thờ tổ nằm dưới đài sen tượng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni khổng lồ. Ở đây pho tượng có mầu vàng óng, cao 45m, đường kính chiều ngang của đài sen rộng 37m, sừng sững giữa núi rừng, hướng mặt ra Hồ Núi Cốc.
Điều đặc biệt nhất về Chùa Thiêng Thác Vàng chính là nghệ thuật điêu khắc với những bức tượng, phù điêu gắn trên tường. Ngay khi đặt chân tới bên chùa chúng ta đã bắt gặp những bức tượng phù điêu khổng lồ gắn vào tường mô tả về những vị Thần, Diêm La, Địa Sát đứng bảo vệ, rất lạ mắt và độc đáo. Với những yếu tố trên, ngay khi bước qua cửa chùa sẽ như được lạc vào chốn hang động lung linh huyền ảo, bồng lai tiên cảnh. Mọi người sẽ đi lên từng tầng của ngôi chùa theo đường xoáy trôn ốc rất độc đáo.
Vẻ đẹp nhuốm màu Phật Giáo của chùa thể hiện qua những bức phù điêu khổng lồ trên tường, chạy dọc theo các suối nước nhân tạo nước chảy róc rác. Mỗi bức phù điêu có diện tích 25-30m2 thể hiện một triết lí Phật Giáo trong thuyết Nhân Quả. Với hình tượng Đức Phật, cảnh chùa cùng núi non, sông nước chính là những nét phác họa chủ đạo trong các bức phù điêu này… Tô điểm cho cảnh quanh chùa Thiêng Thác Vàng là những búp, lá sen khổng lồ cao 4-5m bên hành lang lối đi từ tầng 1 lên tầng 2.
Với lối kiến trúc độc đáo của ngôi chùa nằm trong lòng pho tượng Phật lớn đã lôi cuốn khá đông du khách hành hương về chùa lễ Phật.
| ► Lịch ngày tốt gửi đến bạn đọc công cụ xem bói tử vi chuẩn xác theo ngày tháng năm sinh |
![]() |
| Ảnh minh họa |
Mấy hiện tượng của kim nam châm trong la bàn mà thầy phong thuỷ quy chúng thành “bát kỳ”:
Nhái đường: Cự dã, nổi mà không ổn định, không quay về hướng trung tuyến chứng tỏ dưới đất có khả năng có đồ cổ.
Nhị đoài: Đột dã, kim nằm ngang, không quay về tý ngọ chứng tỏ gần đấy có đồ kim loại.

Tam khỉ: Trá dã, kim chuyển động không ổn định.
Tứ thám: Kích đầu dã, nửa chìm nửa nổi.
Ngũ đầu: chứng tỏ dưới đất có đồ đồng.
Lục toại: Bất thuận dã, kim nổi và chỉ lung tung.
Thất trắc: Bất chính dã, chếch Đông hoặc chếch Tây.
Bút chính: Thu tạng trung tuyến.
Bảy hiện tượng đầu không bình thường, không thể đoán định vị trí chính xác cho nên không cát. Chỉ có hiện tượng cuối cùng là bình thường có thể đoán được chính xác vị trí nên là cát.
Ngoài ra, khi không dùng đến cũng phải đặt la bàn ở nơi bằng phẳng. Nếu kim nam châm bị lệch về một hướng như lệch chính Nam hoặc chính Bắc thì rất dễ khiến kim rơi vào trạng thái không ổn định, từ đó sẽ không có hiệu quả. Đồng thời phải chú ý gần nơi để la bàn không được để những vật có từ trường hoặc điện lưu, nếu không kim nam châm cũng sẽ mất tác dụng.
HOA ĐỖ QUYÊN
Đỗ Quyên còn có tên gọi là Sơn Thạch Lựu, Ánh Sơn Hồng, Mãn Sơn Hồng... Đỗ quyên có nhiều giống với nhiều màu hoa và là một trong những loài hoa nổi tiếng đẹp, hiếm. Ở Việt Nam, loài hoa này mọc rất nhiều ở vách đá của một thác nước nổi tiếng trong rừng quốc gia Bạch Mã, thác Đỗ Quyên – dòng thác mang tên loài hoa này.
Hoa Đỗ Quyên mang ý nghĩa dịu dàng, ôn hòa và nữ tính (theo quan niệm Trung Quốc). Dùng hoa Đỗ Quyên làm tên, ngoài tên gọi Đỗ Quyên, còn có thể tách ra và có thể lựa chọn sắc thái màu sắc để kết hợp lại, ví dụ Hồng Quyên, Bạch Quyên, Hoàng Quyên… Hoặc bạn có thể lấy cách gọi nho nhã của Đỗ Quyên để đặt tên như Thiên Hương, ví dụ Trương Thiên Hương, Trịnh Thiên Hương.
HOA TRÀ (SƠN TRÀ)
Trong ngôn ngữ của các loài hoa, Sơn Trà mang ý nghĩa là 'sự duyên dáng nhất'. Dùng hoa Trà để đặt tên cho con, bạn có thể học tập cách tưởng tượng phong phú lãng mạn như: nếu họ Chu có thể đặt tên con gái là Chu Kim Trà. Hoặc có thể dùng cách gọi khác của hoa Sơn Trà là “Hải Hồng” để đặt tên gọi như Nguyễn Hải Hồng (hoa Trà màu hồng)…
HOA MAI
Hoa Mai hay còn gọi là “Xuân Mai” là loài hoa từ màu sắc, hương thơm đến tư thế đều khiến các loài hoa khác phải ngưỡng mộ. Có rất nhiều người thích hoa Mai và cũng có rất nhiều người lấy hoa Mai để đặt tên, ví dụ như Hiểu Mai, Đông Mai, Tú Mai, Ngọc Mai, Nguyệt Mai, Tố Mai, Hoàng Mai… Những cái tên này rất dễ nghe, nhưng nếu thấy nhiều người đặt tên như thế thì bạn hoàn toàn có thể tìm hiểu thêm ý nghĩa của loài hoa này (hoa Mai không những có cái thanh tao, trong trắng của tuyết, mà còn có mùi hương quyến rũ, lan tỏa) để tự sáng tạo ra một cái tên thật hay và mang nét đặc trưng nhất của loài hoa này cho con mình.
![]() |
| Tên hoa Hồng: vừa đẹp người, vừa đẹp nết |
HOA HỒNG
Hoa hồng có hương thơm ngào ngạt. Đặc tính của loài hoa này là thích ánh sáng mặt trời và chịu được giá lạnh. Người phương Tây quan niệm hoa Hồng là loài hoa hàm chứa tình cảm nhiều nhất. Dùng hoa Hồng để đặt tên có thể mang nghĩa là: có cái tình sâu nặng, đẹp người và đẹp cả nết.
HOA TƯỜNG VI
Tường Vi thuộc loài cây lá rụng, hoa Tường Vi có màu trắng hoặc màu phấn hồng, hoa có nhiều loại: Tường Vi thập tỉ muội, Tường Vi phấn đoàn… Tường Vi là loài hoa không chịu được trong phòng ấm, mà thích dãi dầu với mưa nắng, rèn rũa để có sức sống mạnh mẽ. Những người thích tính cách này của Tường Vi có thể để con mình mang tên loài hoa này. Bạn có thể dùng chữ Tường (Tường Anh) hoặc cả hai chữ Tường Vi để đặt tên cho con đều được.
HOA HẢI ĐƯỜNG
Các văn nhân Trung Quốc trước kia đã gọi Hải Đường là “mắt xanh”, họ miêu tả loài hoa này giống như má hồng của các thiếu nữ khi thẹn thùng hay xấu hổ với ai đó. Hải Đường là loài hoa vừa thuần khiết vừa quý phái nhưng màu sắc của hoa lại không kém phần tươi mới, nên Hải Đường rất thích hợp để đặt tên cho những người con gái đẹp.
HOA LÊ (LÊ HOA)
Trong lịch sử đã không ít danh nhân miêu tả đặc tính của hoa Lê: một loài hoa thanh khiết, trắng trong. Lấy chữ hoa Lê để đặt tên tương đối dễ nghe, ví dụ như: Phạm Lê Hoa, Phan Lê Hoa, Hà Lê Hoa…
HOA CÚC
Hoa Cúc là loài hoa được người Nhật Bản rất yêu mến, bởi hoa tượng trưng cho sự trường thọ. Nhiều người lý giải rằng họ yêu hoa Cúc vì hoa vốn giản dị và lâu tàn. Hoa Cúc còn có thể gọi là hoa Hoàng Lan. Hoa Cúc không được phú quý như hoa Đỗ Quyên, không quyến rũ như hoa Lan, nhưng nó là loài hoa chịu được gió rét, gian khổ và rất lâu tàn. Phẩm chất vừa cương vừa nhu này của hoa Cúc rất xứng đáng để bạn cho con mình mang tên loài hoa này.
HOA LAN
Hoa Lan, cùng với hoa Cúc và Nguyệt Quế, cũng được liệt vào danh sách 10 mỹ hoa Trung Quốc. Do có nhiều người thích hoa Lan nên những người mang tên loài hoa này cũng nhiều. Ngoài ra, bạn có thể đặt tên con bằng hoa Lan theo mùa như Xuân Lan, Thu Lan, Hạ Lan…
THỦY TIÊN
Thủy Tiên cũng được liệt vào hàng Top 10 hoa đẹp nhất Trung Quốc. Đặc tính của Thủy Tiên là mùi hương không quyến rũ, nhưng dáng hoa lại thướt tha yểu điệu như thần như tiên. Thủy Tiên, với đặc tính này của mình, rất xứng đáng để bạn chọn làm tên cho con gái mình.
BÁCH HỢP (HUỆ TÂY)
Hai chữ “Bách Hợp” là ý chỉ mọi sự được hòa thuận, tốt lành, nên nhiều người khi tặng hoa cho bạn bè thường chọn mua hoa Bách Hợp. Tức là hoa này có hàm ý cát tường, nên chọn loài hoa này để đặt tên cho con là rất hợp lý, chỉ có điều hai chữ Bách Hợp nghe có vẻ giống tên nam giới mà thôi.
LIÊN HOA (HOA SEN)
Điều tuyệt diệu của Liên Hoa là sống trong bùn đất mà lại tinh khiết đến vô ngần, vì thế hoa Sen có địa vị rất cao trong lòng mọi người. Phẩm chất cao đẹp thanh khiết của hoa Sen khiến ai cũng phải kính phục. Không những hoa đẹp hương thơm mà hoa còn không bị cuốn theo dòng nước. Vì thế, nội hàm của hoa Sen là phẩm chất cao quý gần bùn mà không bị hôi tanh mùi bùn.
Dùng hoa Sen để đặt tên, thông thường dùng chữ Liên hoặc chữ Hà, sau đó dùng thêm một chữ khác để ghép vào, ví dụ: Nguyệt Hà, Liên Hoa, Bích Liên, Ngọc Liên, Vũ Hà…
Theo Tìm hiểu khoa học về tên gọi
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
Một tuần mới lại bắt đầu. Ngoài guồng quay công việc, hẳn là các quý cô công sở sẽ lại bắt đầu tuần mới với nỗi lo thường trực: "Mặc gì cho tuần làm việc mới?". Đôi khi, cách kết hợp đồ không phải là vấn đề to tát nhất gây trở ngại cho việc mặc đẹp của phái đẹp, mà chọn món đồ nào để làm điểm nhấn chính cho phong cách mới là điều khiến họ... "bế tắc". Bài viết dưới đây sẽ giúp các quý cô công sở giải quyết được phần nào những lo lắng đau đầu vào mỗi buổi sáng trước khi tới sở làm. Và tuần này, lựa chọn của chúng ta sẽ là những món đồ nào đây?
1. Váy ren
Mùa xuân tươi mới luôn gợi cho người ta nghĩ về vẻ đẹp nhẹ nhàng, ngọt ngào. Chính vì vậy, đây sẽ là lúc bạn trút bỏ phần nào những món đồ trầm mặc, nặng nề của mùa đông như quần jeans, váy len/dạ... để thay thế bằng các món đồ tinh tế, dịu dàng hơn. Và gợi ý của chúng tôi lần này chính là váy ren. Ngoài những chiếc váy ren nổi quen thuộc, bạn cũng có thể chọn cho mình những chiếc chân váy bút chì, chân váy chữ A được đắp thêm mảng ren mỏng đầy quyến rũ nơi gấu váy.






2. Váy liền dài tay
Cũng cùng với lí do để chọn váy ren, bởi mùa xuân đã tới, thế nên phái đẹp cần hướng vẻ ngoài của mình tới những gì nhẹ nhàng, thanh thoát hơn. Hãy từ bỏ set đồ quần jeans, áo phao để thay thế vào đó là những chiếc váy liền dài tay. Nhờ kiểu dáng thanh lịch, gọn gàng được nhấn nhá thêm bằng những đường chiết eo hay chân ngực rất nhẹ mà những thiết kế váy liền đã trở nên sang trọng hơn, nhưng vẫn không làm mất đi tính dễ mặc, dễ che khuyết điểm của nó.





3. Một món đồ màu hồng
Màu hồng rất nữ tính và ngọt ngào, nhưng nó lại thường khiến phái đẹp công sở e dè vì độ nổi bật cũng như vẻ ngoài có vẻ hơi... "xì-tin" mà nó mang lại. Tuy nhiên, với sự biến tấu màu sắc vô cùng đa dạng, bạn sẽ không còn phải lo lắng quá nhiều khi muốn nhấn nhá thêm phần tươi sáng cho tuần làm việc mới của mình bằng món đồ màu hồng nào đó. Những món đồ công sở nhàm chán và quen thuộc của bạn phút chốc sẽ trở nên duyên dáng, cuốn hút hơn hẳn khi được tô điểm bằng loạt sắc hồng hết sức nhã nhặn như hồng pastel, hồng vỏ đỗ, hồng nude...


4. Áo khoác màu sáng
Có thể nói, áo khoác đóng vai trò quan trọng nhất đối với vẻ ngoài của bạn, bởi dù bạn có mặc đồ bên trong cầu kì hay xuề xòa, thì khi đi ngoài đường, sẽ chẳng ai có thể nhìn thấy chúng trông ra sao. Người ta cũng chỉ nhận xét phong cách của bạn qua chiếc áo khoác ngoài, vì vậy chọn cho mình 1 chiếc áo khoác tử tế, mang tone màu tươi sáng cũng có thể giúp bạn trông trẻ ra vài tuổi.




Đá mắt hổ được con người tác chế thành các sản phẩm rất đẹp và được sự yêu thích của phái nữ. Từ vòng cổ nhẫn và có cả vòng tay đá mắt hổ…. Nhưng để đá sản phẩm vòng đá mắt hổ phát huy hết công năng của nó thì trước tiên phải chọn hợp mệnh cũng như hợp tuổi mình. Sau đây chúng tôi sẽ hướng dẫn cho các bạn cách chọn vòng đá mắt hổ hợp mệnh, hợp tuổi. Chúng ta cùng tham khảo bài viết để xem trong các loại vòng đá mắt hổ đỏ, mắt hổ vàng, mắt hổ xanh… loại nào hợp với bạn.

Nội dung
Đá mắt hổ (xem thêm tại đây) hay còn gọi là ngọc mắt hổ, tên khoa học là tiger’s eye (hay tiger eye) là đá chatoyant (chatoyant gemstone là từ dùng chỉ nhóm đá có hiệu ứng mắt mèo), thường là một loại đá biến chất có màu sắc từ vàng đến nâu đỏ, bề mặt đá có hiệu ứng “ánh lụa – silky lustre” vô cùng bắt mắt.
Đá mặt hổ là một biến thể thuộc nhóm đá thạch anh. Một dạng biến thể gần giống với loại đá này là đá mắt chim ưng xanh (tên khoa học là Hawk’s eye), ở Việt Nam Hawk’s eye thường được gọi là đá mắt hổ xanh.
Đá mắt hổ có thành phần hóa học là SiO2, độ cứng là 7/10 (theo thang độ cứng Mohs), có ánh thủy tinh bắt mắt.
Chúng có nhiều biến thể với màu sắc khác nhau như mắt hổ đỏ nâu, mắt hổ vàng nâu, mắt hổ vàng tươi, mắt hổ xanh đen (mắt chim ưng). Loại phổ biến nhất là loại màu vàng nâu.
Loại đá này được tìm thấy khá nhiều ở các tỉnh khu vực miền Trung, Việt Nam.
Đá mắt hổ là viên đá hộ thân tuyệt vời. Trong thạch trị liệu học, chúng được cho là mang đến cảm xúc vững vàng, tâm lý ổn định cho con người. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng năng lượng của chúng tác động đến hệ thống thần kinh, làm cho con người tăng cảm giác tự tin, sẵn sàng trong hoạt động nhằm đạt được mục đích cá nhân, tăng tính thực tế, giúp đầu óc minh mẫn hơn trong việc quyết định các vấn đề.
Trong văn hóa phương Đông, đá mắt hổ được cho là mang đến may mắn, thịnh vượng, tượng trưng cho tiền tài trong phong thủy.
Trong văn hóa Ấn Độ và một số vùng dân tộc Nam Á, đá mắt hổ còn có nghĩa là “sự bảo vệ”. Người dân ở đây thường mang theo trong các chuyến công tác, du lịch để cầu bình an. Các thủy thủ, người làm nghề đánh cá, khai thác biển thường mang theo đá này để tăng sự tập trung tầm nhìn.
Trong thiền học, các thiền sư thường sử dụng đá mắt hổ để hấp thu năng lượng, khai mở luân xa thứ 3.
Như vậy vòng tay đá mắt hổ có màu sắc đẹp, có hiệu ứng ánh sáng bắt mắt (hiệu ứng ánh lụa), có độ cứng 7/10 nên rất bền, khó vỡ hơn những loại vòng đá khác.

Vòng tay đá mắt hổ đỏ nâu được làm từ đá mắt hổ đỏ nâu, đây là loại khá hiếm trong các biến thể của mắt hổ. Màu nâu đỏ trong phong thủy ngũ hành thuộc hành Hỏa. Vì vậy, vòng đá mắt hổ đỏ nâu hợp với những người mệnh Hỏa và mệnh Thổ. (tra tuổi của bạn ở cuối bài viết)

Vòng đá mắt hổ vàng nâu được làm từ đá mắt hổ vàng nâu, đây là loại biến thể phổ biến nhất trong tự nhiên. Màu nâu vàng trong phong thủy ngũ hành thuộc hành Thổ. Vì vậy, vòng đá mắt hổ vàng nâu hợp với những người mệnh Thổ và mệnh Kim.(tra tuổi của bạn ở cuối bài viết)
Vòng đá mắt hổ màu vàng tươi được làm từ đá mắt hổ vàng. Đây là biến thể nằm lẫn với biến thể nâu vàng, chúng là loại hiếm gặp nhất trong tự nhiên, có màu sắc đẹp và giá trị thương mại cao. Màu vàng tươi tượng trưng cho hành Thổ. Vì vậy, vòng đá mắt hổ vàng tươi hợp với những người mệnh Thổ và mệnh Kim. (tra tuổi của bạn ở cuối bài viết)
Vòng đá mắt hổ xanh đen cũng là loại biến thể hiếm gặp nhất thuộc họ mắt hổ. Chúng thường được gọi với cái tên khác là vòng đá mắt chim ưng, do màu xanh đậm có cảm giác huyền bí, sâu lắng, rất giống với đôi mắt của loài chim ưng. Màu xanh đen này trong phong thủy tượng trưng cho hành Thủy. Vì vậy, vòng đá mắt hổ xanh đen hợp với những người mệnh Thủy và mệnh Mộc. (tra tuổi của bạn ở cuối bài viết)
Dựa vào bảng tra cung mệnh theo năm sinh dưới đây, bạn sẽ biết mình mệnh gì, qua đó lựa chọn được một sản phẩm màu sắc hợp mệnh.
| 1960 | Canh Tý | Thổ |
| 1961 | Tân Sửu | Thổ |
| 1962 | Nhâm Dần | Kim |
| 1963 | Quý Mão | Kim |
| 1964 | GiápThìn | Hỏa |
| 1965 | Ất Tỵ | Hỏa |
| 1966 | Bính Ngọ | Thủy |
| 1967 | Đinh Mùi | Thủy |
| 1968 | Mậu Thân | Thổ |
| 1969 | Kỷ Dậu | Thổ |
| 1970 | CanhTuất | Kim |
| 1971 | Tân Hợi | Kim |
| 1972 | Nhâm Tý | Mộc |
| 1973 | Quý Sửu | Mộc |
| 1974 | Giáp Dần | Thủy |
| 1975 | Ất Mão | Thủy |
| 1976 | BínhThìn | Thổ |
| 1977 | Đinh Tỵ | Thổ |
| 1978 | Mậu Ngọ | Hỏa |
| 1979 | Kỷ Mùi | Hỏa |
| 1980 | CanhThân | Mộc |
| 1981 | Tân Dậu | Mộc |
| 1982 | NhâmTuất | Thủy |
| 1983 | Quý Hợi | Thủy |
| 1984 | Giáp tý | Kim |
| 1985 | Ất Sửu | Kim |
| 1986 | Bính Dần | Hỏa |
| 1987 | Đinh Mão | Hỏa |
| 1988 | Mậu Thìn | Mộc |
| 1989 | Kỷ Tỵ | Mộc |
| 1990 | Canh Ngọ | Thổ |
| 1991 | Tân Mùi | Thổ |
| 1992 | NhâmThân | Kim |
| 1993 | Quý Dậu | Kim |
| 1994 | GiápTuất | Hỏa |
| 1995 | Ất Hợi | Hỏa |
| 1996 | Bính Tý | Thủy |

Chất lượng vòng đá mắt hổ được đánh giá dựa trên tiêu chí là: kiểu cắt, độ bóng sáng, hiệu ứng quang học “ánh lụa”, tạp chất lẫn trong đá, độ trơn và độ mịn của bề mặt đá.
Kiểu cắt: là viên đá được cắt tròn, đều, không méo mó sai lệch;
Độ bóng sáng: là viên đá được mài bóng, kích thích tối đa ánh thủy tinh;
Hiệu ứng quang học: là viên đá phát huy tối đa hiệu ứng ánh lụa, viên đá dưới ánh đèn neon hoặc ánh sáng ban ngày trông “rực lửa” như mắt con hổ;
Tạp chất: viên đá sạch, không lẫn các tạp chất, khoáng vật khác.
Cuối cùng, trên thị trường có xuất hiện loại sản phẩm tên là vòng đá mắt mèo, loại này người mới tìm hiểu về đá thường dễ nhầm lẫn. Vòng đá mắt mèo cũng là loại sản phẩm giống với đá mắt hổ (cùng họ mắt mèo chatoyant), nhưng loại này ở thị trường Việt Nam hiếm, nếu là loại 100% tự nhiên sẽ có giá thành thực tế cao hơn so với mắt hổ.
Loại vòng đá mắt mèo thường bị làm giả bằng nhựa, nhà sản xuất dùng một thủ pháp trong giới sản xuất đồ trang sức gọi là “bơm ánh” để vòng mắt mèo có hiệu ứng mắt mèo, khách hàng dễ bị nhầm lẫn.
Địa Không, Địa Kiếp: đây là hai sao chỉ bệnh nặng nói chung, trong đó có bệnh về bộ máy tiêu hóa nếu đi chung với một trong 5 sao chỉ bộ máy tiêu hóa. Vì Không Kiếp chỉ ung nhọt, chốc lở nên bộ máy tiêu hóa có thể bị rách, chảy máu. Về cường độ, vì Không Kiếp là sát tinh hạng nặng cho nên bệnh sẽ nặng, nhất là khi hãm địa. Vốn là sao Hỏa, nên bệnh bột phát bất ngờ.
Thiên Hình, Kiếp Sát: một trong hai sao này chỉ về mổ xẻ. Bộ máy tiêu hóa có thể bị giải phẫu. Bệnh sẽ tương đối nặng, nhất là khi gặp cả hai sao.
Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh: bốn sao này chỉ bệnh nhưng không rõ tính chất và cường độ nhưng chắc chắn không nặng bằng Không Kiếp.
Đại Hao, Tiểu Hao: Đúng ra, Song Hao chỉ bệnh đau bụng, tiêu chảy. ở Mệnh hay Tật, Song Hao chỉ tạng của người hay đi tiêu chảy, tái đi tái lại, hầu như kinh niên. Cũng có thể là bệnh ăn không tiêu, kém ăn, trúng thực, thượng thổ hạ tả.
Hóa Kỵ: chỉ trục trặc nhỏ trong bộ máy tiêu hóa, do sự dùng thuốc quá liều, hay ăn trúng phải chất có hại cho tiêu hóa (Hóa Kỵ là hóa chất).
Thiên Khốc, Thiên Hư: chỉ sự lục đục, hao hoại ngấm ngầm của bộ máy, không hẳn là bệnh nhưng gây khó chịu như ăn không tiêu, trục trặc không rõ căn nguyên. Một nguyên do khả hữu là vì bộ răng không tốt, nhai thức ăn không kỹ. Đây cũng là một bệnh kinh niên.
Ngoài ra, những bộ sao dưới đây liên quan đến bệnh tiêu hóa nói chung:
- Thái Âm hãm địa
- Vũ Khúc, Thất Sát
- Thiên Đồng, Hóa Kỵ
- Thiên Trù, Đại, Tiểu Hao
bệnh do ăn uống quá độ hoặc ăn món lạ bị ngộ độc. Đây là bệnh của người ăn nhiều cao lương mỹ vị, trà dư tửu hậu, thường thấy trong giới ngoại giao, bợm nhậu.
- Riêu, Đà, Kỵ: đau bao tử, đau ruột
- Không, Kiếp, Bệnh, Cơ: bệnh mật
- Không, Kiếp, Hỷ Thần: bệnh trĩ
- Tham, Đà: bệnh do ăn uống quá độ, bội thực
- Bệnh Phù: hay đau dạ dày, đầy hơi, kiết lỵ hoặc thiếu dinh dưỡng sinh ra phù thũng.
2. Những bệnh về bộ máy hô hấp:
Địa Không, Địa Kiếp: chỉ bệnh đau phổi dưới nhiều hình thái và cường độ khác nhau từ ho, suyễn, yếu phổi, kém khí cho đến lao, ung thư phổi, sưng phổi.
Tang, Hổ, Khốc, Hư: ho lao
Thái Âm hãm địa: đau phổi
Thiên Cơ, Khốc, Hư: phong đờm, ho ra máu
Thiên Khốc: phổi yếu, hay ho vặt
Hình, Bệnh hay Tử: có thể bị lao hay kinh phong
Ngoài ra, những sát tinh, hình tinh, hao bại tinh, kỵ tinh ứng dụng vào bộ máy hô hấp sẽ mô tả thêm rõ hơn hình thái hoặc cường độ của bệnh. Ví dụ, gặp Thiên Hình Kiếp sát thì bệnh hô hấp có thể phải mổ, bị Song Hao thì bệnh phổi hay tái phát nhiều lần gần như trầm kha; gặp Hóa Kỵ thì sinh thêm bệnh tiêu hóa vì dùng quá nhiều thuốc trị phổi; gặp Lưu Hà thì có thể là phổi có nước ...
3. Những bệnh về bộ máy tuần hoàn:
Hai sao Tang Môn và Bạch Hổ chỉ máu.
Lâm Quan, Hỏa hay Linh: bệnh chảy máu cam, xuất huyết, đứt mạch máu
Bạch Hổ: máu xấu, nhất là đối với phụ nữ.
Tang Môn, Bạch Hổ: bệnh khí huyết, bệnh thiếu máu, căng mạch máu, yếu tim, đau tim.
Đào Hoa, Hồng Loan: yếu tim
Lưu Hà: bệnh máu loãng, hay ra máu khi bị thương, bệnh hoại huyết
4. Những bệnh về bộ máy bài tiết và sinh dục:
Thiên Riêu hay Thiên Hư: bệnh suy thận, dương hư
Tham, Riêu - Đào, Hồng, Không, Kiếp - Riêu, Cái: chỉ bệnh phong tình
Đào, Hồng, Kỵ, Mộc - Đào, Hình, Thai, Mộc: chỉ bệnh "phạm phòng".
Thai, Không, Kiếp: chỉ bệnh đau tử cung, lệch hay sa tử cung
Cự, Kình, Hỏa - Tham ở Tý, Ngọ (có thể đi kèm với Đà La): bệnh do tửu sắc, sinh dục quá độ.
Nếu đi chung với Không Kiếp thường là nặng và có máu mủ; với Thiên Hình, Kiếp Sát có thể bị mổ xẻ ...
5. Những bệnh về tai, mũi, họng: Long Trì chỉ mũi, Phượng Các chỉ tai, Phá Toái chỉ cuống họng:
Phượng, Kình, Đà: bệnh ở tai, cứng tai, lãng tai, sớm lãng tai, điếc.
Trì, Khốc, Hư: bệnh lở mũi, có Thiên Hình là có mổ, có Hỏa Tinh Linh Tinh là có đốt.
Lâm Quan, Địa Kiếp: bệnh yết hầu, thịt dư ở cổ họng.
Phá Toái, Hình hay Hư, Khốc: đau cuống họng, tiếng khàn rè
Riêu: đau răng, hư răng, sớm rụng răng.
6. Những bệnh của sản phụ:
Đào, Hồng, Kình, Kỵ, Mộc: bệnh tiểu sản, hậu sản
Không, Kiếp, Mộc hay Kỵ, Mộc: bệnh sản thai, đau dạ con, khó đẻ
Nguyệt hãm hay Nguyệt, Kỵ hay Nhật, Kỵ, Hư: âm hư, kinh nguyệt không đều, dương hư, có bệnh về bộ phận sản dục ảnh hưởng đến sự thụ thai, sinh đẻ.
Lưu Hà hay Tang, Hổ: khi sinh đẻ hay bị băng huyết vì máu loãng.
7. Những bệnh ngoài da:
Vũ, Cơ: Bệnh ngoài da hay tê thấp.
Tướng ở Mão, Dậu: da mặt vàng, có bệnh thuộc khí huyết hoặc ngoài da.
Cơ, Nguyệt: hay có mụn nhọt
Không, Kiếp, Cơ: mụn nhọt, lở chốc có máu mủ
Phá: máu nóng lúc nhỏ tuổi sinh nhọt
Liêm, Phá: chân tay có tỳ vết
Kình, Cái, Không, Kiếp: phát ban, lên đậu
Hỏa, Linh, Mộc: phỏng nước, phỏng lửa
Liêm hãm, Hình, Kỵ: máu nóng sinh nhọt
Cự Môn hãm: môi thâm
Tham Xương: lang ben, da loang lổ
8. Những bệnh về mắt: Nhật, Nguyệt chỉ cặp mắt. Nhật là mắt trái. Nguyệt là mắt phải. Đi với sát, hình, hao, bại tinh, mắt bị bệnh từ nặng đến nhẹ.
Nhật, Kình, Kỵ ở Hợi, Tý: bị đau mắt có thể mù
Nguyệt, Riêu, Hình, Kỵ: cũng đồng nghĩa
Đà, Riêu, Kỵ: mắt kém
Phá, Vũ: hay đau mắt
9. Những bệnh về thần kinh:
Thái Dương, Thái Âm sáng sủa thường là chỉ dấu của bệnh thần kinh, biểu lộ dưới nhiều hình thái như mất ngủ, căng thẳng tinh thần, tăng huyết áp, lo âu quá đáng.
Nhật, Cự: ngây ngô, hơi khùng, suy luận không bình thường. Nhật càng sáng, bệnh càng nặng.
Nhật, Không, Kiếp - Phá, Hỏa, Linh - Nhật và nhiều sao hỏa ở cung Hỏa - Phá, Kình, Đà, Hình, Kỵ: khùng và điên.
Ngoài ra, Mệnh nào có Tang Hổ Khốc Hư Cô Quả Đẩu Quân thường u buồn, ủy mị, dồn ép.
10. Những bệnh ở chân tay, gân cốt:
Về cơ thể, chân tay do Thiên Mã chỉ danh. Về bệnh lý, Kình, Đà cũng có nghĩa bệnh tật liên quan đến tứ chi.
Mã, Đà: có tật ở chân tay
Mã, Hình: có thương tích ở chân tay
Mã, Tuần, Triệt: trật xương, gãy chân tay
Hình, Đà: chân tay bị yếu gân
Vũ, Riêu: tê thấp hoặc phù chân tay
11. Những bệnh lạ:
Cơ, Hỏa, Linh: bệnh ma làm, quỷ ám
Riêu, Hỏa, Linh: bị ma quỷ phá phách, quấy nhiễu
Sát, Hao, Mộc, Kỵ: ung thư
Bệnh Phù, Hình, Kỵ: hủi
12. Những tật:
Vượng, Kình, Đà hay Hình: lưng có tật: lưng gù, sái chiều nghiêng về phía phải hay trái.
Mã, Đà hay Tuần Triệt: có tật ở chân tay: què, chân dài chân ngắn, tay cán xẻng, tay lọi, chân hay tay to nhỏ không đều, có thể cụt một chân hay một tay, hoặc mất bàn chân, bàn tay.
Việt, Đại Tiểu Hao: so vai, xệ vai, vai cao, vai thấp. Khôi, Việt gặp Hình cũng có nghĩa này.
Tướng, Hình: có tật ở trên đầu: đầu méo, đầu to hay thật nhỏ, đầu xói hết tóc ...
Phục, Hình: nói ngọng
Tuế, Đà, Riêu, Cái: nói lắp
Vũ, Riêu, Việt, Toái: câm
Sát, Kình, Đà, Linh, Hỏa: gù lưng
Cự, Hỏa hay Linh: miệng méo
Kỵ, Riêu: sứt môi
Phượng, Kiếp, Kình: điếc
Trì, Kình: mũi sống trâu, mũi lệch
Nhật, Nguyệt gặp Riêu, Đà hay Kỵ: mắt có tật: cận thị, viễn thị, loạn thị. Nếu gặp cả ba thì tật nặng có thể lòa, quáng gà.
Vũ, Tướng: có ám tật, tật kín
Cự, Nhật: hình dáng dị kỳ
Tồn, Không, Kiếp: có ám tật mới sống lâu.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Đoan Trang(##)
Một trong những phong tục hay quan niệm của ông cha ta khi chuẩn bị về nhà mới, hay có nơi còn gọi là lễ nhập trạch là điều quan trọng nhất. Khi làm nhà mới thì có ba nghi lễ không nên bỏ qua là Lễ động thổ ( xin phép Thổ Công ở khu đất đó để đào móng bắt đầu quá trình xây dựng), thứ 2 là lễ Cất Nóc ( đổ mái nhà hay nhiều nơi là đổ trần nhà, quan trọng nhất là lần đổ trần đầu tiên), lễ quan trọng thứ 3 là lễ Nhập trạch hay dọn về nhà mới.

Vậy sau khi xây nhà xong, gia chủ muốn dọn về nhà mới cần phải báo cáo với tổ tiên, thổ công thổ thần sau đây là 10 điều cần biết khi nhập trạch chuyển nhà mới:
Trên đây là một số lưu ý khi chuyển nhà, nhập trạch về nhà mới, điều quan trọng nhất vẫn là việc xem ngày, chọn ngày tốt để nhập trạch. Nếu bạn không có kinh nghiệm trong việc chọn ngày tốt để về nhà mới thì bạn có thể nhờ đến các thầy phong thủy hay tham khảo công cụ xem ngày nhập trạch của ## chúng tôi.
![]() |
![]() |
| ► Trắc nghiệm tính cách của bạn với những sự tương đồng thú vị tại Lichngaytot.com |
3 con giáp sinh ra để hưởng chức cao vọng trọng
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
![]() |
| Tuổi Mùi |
Tuổi Tân Mùi (1931, 1991)
- Ngày, giờ nên tránh: Tân Mùi, Tân Sửu, Đinh Mùi
- Ngày, giờ đặc biệt cần tránh: Đinh Sửu
Tuổi Quý Mùi (1943, 2003)
- Ngày, giờ nên tránh: Quý Mùi, Quý Sửu, Kỷ Mùi
- Ngày, giờ đặc biệt cần tránh: Kỷ Sửu
Tuổi Ất Mùi (1955)
- Ngày, giờ nên tránh: Ất Mùi, Ất Sửu, Tân Mùi
- Ngày, giờ đặc biệt cần tránh: Tân Sửu
Tuổi Đinh Mùi (1967)
- Ngày, giờ nên tránh: Đinh Mùi, Đinh Sửu, Quý Mùi
- Ngày, giờ đặc biệt cần tránh: Quý Sửu
Tuổi Kỷ Mùi (1979)
- Ngày, giờ nên tránh: Kỷ Mùi, Kỷ Sửu, Ất Mùi
- Ngày, giờ đặc biệt cần tránh: Ất Sửu.
Theo Đời người qua 12 con giáp
NGUYÊN TẮC ÐẶT TÊN
Khi đặt tên cần tuân thủ các nguyên tắc:
Âm vần của tên gọi phải hay, đẹp: đặt tên là để người khác gọi, vì thế phải hay, kêu, tránh thô tục, không trúc trắc.
Tiếp đến là tránh họ và tên cùng vần cùng chữ, tránh dùng nhiều chữ để dễ gọi.
Khi đặt tên cần chú ý sự thống nhất hài hòa giữa họ và tên.
Tên gọi phải có ngụ ý hay: điều quan trọng nhất của việc đặt tên là chọn chữ nghĩa sao cho hay và lịch sự. Vì thế phải căn cứ vào thẩm mỹ, chí hướng, và sở thích để chọn chữ nghĩa.
NHỮNG ĐIỀU CẦN CHÚ Ý KHI ÐẶT TÊN
Hạn chế đặt tên đơn, vì tên đơn dễ bị trùng tên.
Khi đặt tên không nên chạy theo thời cuộc chính trị, đặt tên gọi mang mầu sắc chính trị.
Khi đặt tên không nên dùng những từ cầu lợi, làm cho người khác có cảm giác đó là sự nghèo nàn về học vấn.
Khi đặt tên không nên cuồng tín, nông cạn quá, ví dụ đặt tên là Vô Địch, Vĩnh Phát... Đặt tên gọi tuyệt đối quá, cực đoan quá sẽ làm cho người khác không có ấn tượng tốt.
Không nên đặt tên nam nữ, âm dương trái ngược nhau, nữ không nên đặt tên Nam, nam không nên đặt tên Nữ để người khác dễ phân biệt.
Tránh các tên dễ bị chế giễu khi nói lái như Tiến Tùng ra Túng Tiền.
Các bạn ở nước ngoài nên tránh những tên gọi khi viết không dấu mang những nghĩa khác của địa phương như chữ Phúc và Dũng trong tiếng Anh.
Không nên tùy tiện đổi tên.
PHƯƠNG PHÁP ÐẶT TÊN
Có nhiều cách đặt tên, nhưng thường theo một mô thức nhất định:
Lấy họ mẹ làm tên gọi hay chữ đệm.
Kỷ niệm ngày tháng năm sinh: Mậu Dần, Thu Hương, Xuân Mai...
Nữ giới thường đặt tên các loài hoa như Lan, Huệ, Quỳnh, Mai, Đào; bằng tên các loài chim như Yến, Khuyên, Mi; bằng mầu sắc như Hồng, Thanh, Lam; bằng các chữ trữ tình như Huệ, Nhàn, Vân, Hà, Diễm, Phương... bằng các chữ thể hiện đạo đức của nữ giới như Trinh, Thục, Ái, Mỹ Linh, Khiết Tâm...
Nam giới khi đặt tên nên thể hiện được sự cương trực, kiên cường, trung hiếu, ý chí và hoài bão, ví dụ các chữ Đức, Lương, Công, Nghị, Quang, Hiền thể hiện tính cách, đạo đức; các chữ Trường Giang, Sơn Hải, Vạn Lý... thể hiện phong độ oai phong lẫm liệt, tư tưởng quyết thắng của các tướng soái; các chữ Hiếu, Trung, Nghĩa, Chính thể hiện khí tiết con người; Chí Kiên, Hướng Tiền thể hiện sự sáng suốt, ý chí kiên cường.
Tên con cháu thường do ông bà hoặc người có vai vế trong họ đặt cho. Tục lệ này thể hiện rõ nét tính liên tục và tính truyền thống của văn hóa gia đình. Ông bà hay những người có vai vế thường là người hiểu biết rộng hoặc nắm được hệ thống tên của những thành viên trong dòng họ, tên các vị cao niên trong làng, thậm chí tên thành hoàng làng, thần thánh... Nhờ đó, việc đặt tên con cháu sẽ phù hợp với hệ thống, lại tránh trùng lặp mắc tội "phạm húy". Chính điều này quyết định việc đặt tên thường được tiến hành trước khi đứa trẻ ra đời. Trong lúc người mẹ mang thai, ông bà cha mẹ hầu như đã chuẩn bị đặt tên bé. Nhiều gia đình chọn ngay những cái tên có giá trị "nối tiếp" với tên cha hoặc tên mẹ. Chẳng hạn, tên cha là Khải, tên con là Hoàn; tên mẹ là Thuần, tên con là Thục... Những gia đình phong kiến thường chọn cách đặt tên theo cung cách vua quan xưa, tức là chuẩn bị một dãy tên để "đặt dần". Thực tế đã có nhiều gia đình đặt đúng và đủ các tên trong dãy.
Ngày nay, cách đặt tên đã có những thay đổi đáng kể. Mặc dù ảnh hưởng của ông bà cha mẹ vẫn rất lớn, nhưng phải thừa nhận rằng cách nhìn nhận về việc đặt tên đã thoáng hơn nhiều. Cách đặt tên con để thể hiện nguyện vọng của gia đình vẫn còn. Bên cạnh đó, người ta có thể dùng ghép tên quê cha và mẹ để đặt tên con. Thí dụ: cha quê Thái Bình, mẹ quê Hà Nội, tên con là Thái Hà.
Trước đây, ngoài việc tránh đặt tên con cái trùng với tên ông bà tổ tiên, việc đặt tên con trùng với bạn bè, người thân cũng hết sức tránh. Nay quan niệm này có đổi khác. Trừ ông bà tổ tiên, những người thân của cha mẹ, những người mà cha mẹ hâm mộ cũng thường được cha mẹ lấy tên đặt cho con.
Các dấu hiệu giới tính trong tên gọi như "Văn" cho tên con trai và "Thị" cho tên con gái dường như không còn là yếu tố bắt buộc nữa.
Là một hiện tượng ngôn ngữ - văn hóa tồn tại lâu bền với thời gian, cách đặt tên luôn là một vấn đề gây nhiều tranh luận thú vị và chắc chắn sẽ luôn có một vị trí nhất định trong đời sống văn hóa và ngôn ngữ của người Việt chúng ta.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Minh Tuyết (##)
1. Treo đèn lồng - Xua đuổi vận đen
![]() |
Đèn lồng thường được dùng phổ biến trong các dịp lễ hội như Tết và Trung thu. Muốn xua đuổi tà khí, xui xẻo ra khỏi nhà, bạn nên treo đèn lồng lên cây cảnh hoặc trước cửa nhà.
2. Câu đối đỏ - Cầu may mắn
![]() |
Ngày nay câu đối đỏ không còn được sử dụng rộng rãi trong dịp Tết như xưa. Tuy nhiên, nếu bạn là người hoài cổ, yêu thích những giá trị văn hóa cổ xưa, hay đơn giản là muốn mang đến may mắn cho gia đình. bạn có thể đi xin chữ ông đồ và dán cặp câu đối đỏ lên cửa nhà. Nhớ là phải xin một cặp câu đối đỏ nhé. Còn xin chữ gì thì tùy tâm của bạn, nếu muốn giàu có, xin chữ Lộc, muốn sức khỏe xin chữ Thọ, hay muốn làm ăn phát đạt thì xin chữ Phát, Vượng.
3. Treo tranh, ảnh liên quan đến năm mới - Biểu tượng của sự chào đón
![]() |
Năm hết, tết đến là dịp để trang trí nhà cửa bằng những bức tranh, bức ảnh về năm mới, nhằm thể hiện sự hân hoan chào đón một năm mới bắt đầu cũng như nói lời tạm biệt một năm cũ đã chính thức khép lại. Trong phong thủy, việc treo tranh năm mới cũng ảnh hưởng tích cực đến tài vận của gia chủ.
4. Dán ngược chữ "Phúc" - Cầu Phúc đến
![]() |
Trong văn hóa Trung Hoa, cứ dịp Tết đến là người dân lại dán chữ "Phúc" ngược lên cửa nhà để cầu may. Theo quan niệm của họ, chữ "Phúc" ngược có nghĩa là phúc bị đảo hay còn gọi là "phúc đảo", trong khi đó chữ "đảo" trong tiếng Hán đồng âm với chữ "đáo" (đến), mà "phúc đáo" lại mang nghĩa là "phúc đến". Từ đó, mọi người thường dán chữ "Phúc" ngược để cầu danh lợi.
5. Cây quất - Cầu may mắn và tài lộc
![]() |
Quất vốn là biểu tượng của sự may mắn và giàu có, luôn dùng để trang trí nhà cửa vào những ngày đầu năm mới, như một lời cầu mong bình an phú quý của gia chủ trong năm tới.
6. Hoa - Cầu an khang thịnh vượng
![]() |
![]() |
Nên bày biện trong nhà những loài hoa như: hoa đào, hoa mai, hoa cúc, hoa phong lan và hoa mẫu đơn trong dịp Tết để cầu may.
Alexandra V (theo chinahighlights)
Không nên đi lại khệnh khạng trong chùa
Nhiều người vào chùa mà không chào hỏi các sư, đi lại khệnh khạng, chỉ vội vàng đi làm lễ. Đây là một kiêng kị. Vào chùa, nên dùng Phật danh “A di đà Phật” thay tên gọi để mở lời chào trụ trì và tăng ni trong chùa. Khi ra về cũng nên dùng câu này để bái biệt, công đức mang lại vô lượng, cho cả người vãn cảnh và nhà chùa.
Không nên tự tiện đặt lễ mặn ở khu vực chính điện
Khu vực chính điện (Phật điện) là nơi thờ tự chính của ngôi chùa. Do đó bạn không nên đặt lễ mặn ở đây. Trên hương án của chính điện chỉ được dâng đặt lễ chay, tịnh. Việc sắm sửa lễ mặn chỉ có thể được chấp nhận nếu như trong khu vực chùa có thờ tự các vị Đức Ông, Thánh, Mẫu và chỉ dâng đặt tại ban thờ hay điện thờ mà thôi.
Không nên mang nhiều đồ đạc vào tam bảo bái Phật
Không nên mang theo mũ áo, khăn, túi xách, gậy gộc, bao tay… vào tam bảo bái Phật. Lỡ đặt những đồ đạc như vậy trên bàn, trên chiếu hoặc trong góc tam bảo để bái Phật thì mọi công quả tu dưỡng bấy lâu đều tiêu tán. Khi lễ chùa, những đồ tùy thân nên để ở ngoài.
Không nên ăn mặc váy ngắn khi đi chùa
Khi đi lễ chùa bạn nên ăn mặc gọn gàng, chỉnh tề sao cho phù hợp với bối cảnh của chùa, không nên mặc trang phục quá sặc sỡ, hở hang. Và đăc biệt đối với các bạn nữ thì không nên mặc váy quá ngắn hoặc quần quá ngắn. Điều này phạm giới uế tạp Phật đường, vừa phạm giới bất kính.
Vào chùa không nên đi cửa chính giữa
Nhiều người thường không để ý vị trí cửa vào khi đi lễ chùa. Nhưng theo đúng quan niệm, vào chùa nên đi từ cửa bên, không đi cửa chính giữa; đồng thời không dẫm lên bậu cửa khi bước vào để tránh phạm tội bất kính.
Theo quan niệm dân gian, cửa chính nhà chùa từ xưa đến nay chỉ đức Phật, Ngọc đế, quốc vương một nước mới được ra vào. Vì thế nhiều ngôi chùa ngày thường không mở cửa chính. Khi đi qua cổng Tam quan vào chùa nên đi vào cửa Giả quan ( bên phải) và đi ra bằng cửa Không quan (bên trái).
Không nên đứng hoặc quỳ chính giữa
Phật đường Vị trí chính giữa Phật đường khi lễ Phật thường dành cho trụ trì của chùa. Vì vậy, bạn không nên đứng hoặc quỳ ở đó. Khi lễ Phật, bạn nên chếch sang bên một chút, không phải cứ đứng ở giữa là tốt. Lễ Phật quan trọng là ở tâm.
Hạn chế thắp hương bên trong chùa
Nhiều người thường nghĩ phải thắp hương trong gian thờ Phật ở chùa mới thiêng nhưng điều này không chính xác. Khi đi lễ chùa bạn nên thắp hương tại đỉnh đặt bên ngoài, hạn chế thắp hương bên trong chùa, vì có thể gây ảnh hưởng đến tượng Phật, pháp khí. Nhiều chùa ở Việt Nam cũng đã có những tấm biển hướng dẫn nơi thắp hương, không nên thắp hương bên trong.

Không nên đi giày dép vào Phật đường, tam bảo
Hầu hết các chùa ở Việt Nam đề đề nghị người đến lễ chùa để giày dép ở bên ngoài. Bởi Tam bảo, Phật đường là những nơi tôn nghiêm, có giới hương, định hương, chân hương, đòi hỏi phải trì giới để di dưỡng thanh tịnh, tuyệt đối không gây ồn ào, hỗn tạp. Tội náo loạn tam bảo không nhỏ. Tuy nhiên, nhiều người thường không để ý điều này khi đi lễ chùa.

Không tự ý sử dụng hoặc mang đồ nhà chùa về nhà
Theo nhiều kinh sách và quan niệm truyền thống, những hành vi tự ý sử dụng hoặc mang đồ nhà chùa về gọi là “đạo dụng thập phương thường trụ” (trộm dùng đồ lễ của chúng sinh cúng dàng). Phạm giới luật này khi chết sẽ bị giam vào địa ngục, chịu khổ vô kể. Phật điển ghi rõ, “nhân nhỏ, quả lớn”, thành tâm cúng dàng, lễ dù nhỏ nhưng phúc báo lớn lao; trộm của chùa,vật tuy xơ sài nhưng quả báo không gánh hết. Do đó, bạn không nên tự ý lấy sử dụng hoặc mang bất kỳ loại đồ đạc gì của nhà chùa về làm của riêng.
Không nên sắm sửa nhiều vàng mã, tiền âm phủ
Vào chùa không nên sắm sửa vàng mã, tiền âm phủ để dâng cúng Phật tại chùa. Nếu có sửa lễ này thì thí chủ đặt ở bàn thờ thần linh, Thánh Mẫu hay ở bàn thờ Đức Ông. Tiền thật cũng không nên đặt lên hương án của chính điện, mà nên bỏ vào hòm công đức.
Năm bước hành lễ khi đi chùa 1. Đặt lễ vật: thắp hương và làm lễ ở ban thờ Đức Ông trước. 2. Sau khi đặt lễ ở ban Đức Ông xong, đặt lễ lên hương án của chính điện, thắp đèn nhang rồi làm lễ chư Phật, Bồ Tát. 3. Sau khi đặt lễ chính điện xong thì đi thắp hương ở tất cả các ban thờ khác của nhà bái đường. Khi thắp hương lên đều có 3 lễ hay 5 lễ. Nếu chùa nào có điện thờ Mẫu, Tứ phủ thì đến đó đặt lễ, dâng hương cầu theo ý nguyện. 4. Cuối cùng thì lễ ở nhà thờ Tổ (nhà Hậu). 5. Cuối buổi lễ, sau khi đã lễ tạ để hạ lễ thì nên đến nhà trai giới hay phòng tiếp khách để thăm hỏi các vị sư, tăng trụ trì và có thể tùy tâm công đức. |