Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,...   Click to listen highlighted text! Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,... Powered By DVMS co.,ltd
Kính mời quý khách like fanpage ủng hộ Vạn Sự !

Vạn Sự

Phân biệt đào hoa duyên và đào hoa kiếp trong tử vi

Trong tử vi có khái niệm đào hoa chỉ về nhân duyên, hôn nhân. Để phân biệt đào hoa duyên và đào hoa kiếp, xin mời đọc bài lý giải dưới đây.
Phân biệt đào hoa duyên và đào hoa kiếp trong tử vi

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Trong tử vi có khái niệm đào hoa chỉ về nhân duyên, hôn nhân. Tuy nhiên đào hoa cũng có hai loại, nhân duyên có hai đường, hôn nhân có tốt có xấu. Để phân biệt đào hoa duyên và đào hoa kiếp, xin mời đọc bài lý giải dưới đây.


Phan biet dao hoa duyen va dao hoa kiep trong tu vi hinh anh 2
 

1. Nam mệnh

  Từ phương diện thập thần và cung vị phân tích, nam mệnh lấy Tài tinh đại diện cho đào hoa với người khác phái, lấy chi ngày đại biểu cho cung vị hôn nhân, Năm 2017 là năm Đinh Dậu, thuộc tính âm, trong ngũ hành Đinh thuộc Hỏa, Dậu thuộc Kim, Thủy khắc Hỏa sinh Tài tinh, Hỏa khắc Kim sinh Tài tinh.   Mệnh cục có ngày chủ là Nhâm Thuỷ hoặc Quý Thủy, lấy thiên can Đinh Hỏa là Tài tinh. Nếu ngày chủ Thân vượng lấy Tài tinh là dụng thần, không tạo thành tình huống có Tỷ Kiếp tranh giành thì Tài tinh đến là biểu hiện đào hoa duyên xuất hiện. Hơn nữa khả năng cao là chính duyên.   Nếu ngày chủ Thân nhược, tuy rằng bình thường Thân nhược không chịu nổi Tài nhưng địa chi năm Dậu Kim có thể sinh đỡ ngày chủ, một khi Dậu Kim cùng mệnh cục hoặc đại vận tạo thành Tị Dậu Sửu tam hợp Kim cục hoặc Thìn Dậu hợp Kim cục, Kim khí vượng, Kim sinh Thủy thì có thể đảm nhận được. Lúc này cũng là biểu hiện của đào hoa duyên, tam hợp cục hoặc lục hợp cục tiến vào cung hôn nhân, năm nay sẽ bàn tính chuyện cưới xin.   Nếu ngày chủ Thân yếu, bản thân không đảm nhiệm được Tài tinh, lưu niên cùng mệnh cục hoặc đại vận tạo thành cách cục Tài Tư Quan Sát công thân thì chắc chắn biến thành đào hoa kiếp. Lưu ý bị tổn thương trong tình cảm hoặc vì tình cảm mà bị liên lụy, người phạm đào hoa kiếp muốn giữ trong sạch cần tuân thủ luật pháp và truyền thống đạo đức.   Mệnh cục ngày chủ là Bính Hỏa hoặc Đinh Hỏa lấy địa chi Dậu Kim là Tài tinh. Nếu ngày chủ Thân vượng lấy Tài tinh là dụng thần, không tạo thành tình huống Tỷ Kiếp tranh giành, biểu thị đào hoa duyên xuất hiện.    Lúc này phối hợp xem thiên can, nếu mệnh cục hoặc đại vận có Canh Tân thì sức mạnh của Tài tinh được tăng cường, đào hoa rất tốt, nhân duyên chính xác. Nếu mệnh cục hoặc đại vận không ra Canh Tân thì đào hoa khó ổn định, đa số biểu hiện hiện tượng mờ ám, hoặc đoạn tình yêu ngắn ngủi.    Nếu địa chi tạo thành Tị Dậu Sửu tam hợp Kim cục hoặc Thìn Dậu hợp Kim cục tiến vào cung vị hôn nhân thì biểu thị chính duyên, có lợi cho việc cưới hỏi. Ngày chủ Thân nhược, địa chi có Mão Dậu tương xung thì là đào hoa kiếp, nên thận trọng.   

2. Nữ mệnh

  Cũng như vậy, có thể xét tới thập thần và cung vị để phân tích, lấy Quan tinh đại diện cho nhân duyên của nữ giới, chi ngày đại diện cung hôn nhân.   Mệnh cục ngày chủ là Canh Kim hoặc Tân Kim lấy thiên can Đinh Hỏa là Quan tinh. Nếu ngày chủ Thân vượng, lấy Quan tinh là dụng thần hoặc ngày chủ tuy Thân yếu nhưng có Ấn tinh hộ vệ thì sẽ tạo thành Quan Ấn tương sinh, biểu thị đào hoa duyên đang tới, còn là chính duyên.
Phan biet dao hoa duyen va dao hoa kiep trong tu vi hinh anh 2
 
Ngày chủ Thân nhược, khuyết thiếu Ấn tinh, Quan tinh tạo mệnh, ngày chủ bị tổn hại thì không nghi ngờ gì, chính là đào hoa kiếp. Người này dễ gặp người không tốt nên bị tổn thương. Nếu mệnh cục hoặc đại vận có Thực Thương phản chế Quan tinh thì tình yêu nhiều trắc trở, bất định, bị người ngoài quấy nhiễu.   Mệnh cục ngày chủ là Giáp Mộc hoặc Ất Mộc, lấy địa chi Dậu Kim làm Quan tinh. Nếu ngày chủ Thân vượng lấy Quan tinh là dụng thần hoặc ngày chủ Thân nhược nhưng có Ấn tinh hộ vệ thì đào hoa duyên đến rồi.    Lúc này xét tới thiên can phối hợp, nếu mệnh cục hoặc đại vận thấy Canh Tân thì tức là Canh Tân gặp lưu niên Kim vượng, sức mạnh của Quan tinh được tăng cường, đào hoa vượng, là chính duyên. Nếu mệnh cục hoặc thiên can đại vận không có Canh Tân thì đào hoa duyên mỏng nhạt, đa số là chuyện mờ ám, không có thật, không thể phát triển.    Nếu ngày chủ Thân nhược lại khuyết thiếu Ấn tinh, địa chi Quan tinh tọa mệnh thì gây tổn thương không lớn cho ngày chủ, chỉ có thể mang tới chút muộn phiền tình cảm nho nhỏ, không tính là đào hoa kiếp.   Để phòng tránh đào hoa kiếp, hạn chế tác hại của kiếp dữ thì cần chỉn chu trong hành vi, khi giao du với người khác phái nên giữ lễ nghĩa và tuyệt đối lý trí, tôn trọng đạo đức và những chuẩn mực xã hội, tránh những dấu hiệu mờ ám ngay từ khi mới bắt đầu.
Tình duyên phơi phới với người bát tự vượng đào hoa năm 2017 Xem tình duyên năm 2017 của người tuổi Mùi Xem tình duyên năm 2017 của người tuổi Ngọ

Trần Hồng

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Phân biệt đào hoa duyên và đào hoa kiếp trong tử vi

Chọn hướng treo tranh hợp phong thủy - Phong thủy - Xem Tử Vi

Chọn hướng treo tranh hợp phong thủy, Phong thủy, Xem Tử Vi, xem bói, xem tử vi Chọn hướng treo tranh hợp phong thủy, tu vi Chọn hướng treo tranh hợp phong thủy, tu vi Phong thủy

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Chọn hướng treo tranh hợp phong thủy

Bạn đừng nghĩ tranh phong thuy treo ở bất kì hướng nào cũng tốt hết nhé, treo tranh phong thủy phải lựa chọn tranh hợp với tuổi, với mệnh và phải lựa chọn hướng treo thì lúc đó mới phát huy được cái tốt của tranh phong thủy

1. Chính Đông theo ngũ hành thuộc Mộc, có thể treo tranh sông nước vì theo mối tương quan của ngũ hành thì Thủy sẽ hỗ trợ Mộc. Tuy nhiên, tránh treo tranh thác nước (Thủy quá vượng) sẽ làm hại Mộc.

2. Chính Nam, Đông Nam theo ngũ hành thuộc Hỏa, thích hợp treo tranh núi cao, rừng rậm. Mộc có thể sinh Hỏa khiến cho gia đình hòa thuận, hạnh phúc.

3. Đông Bắc theo ngũ hành thuộc Thổ, là phương vị Tài tinh tốt nhất, nên treo 1 bức tranh vẽ 8 con ngựa, còn gọi là bức “Bát mã đồ”. Vì ngựa theo ngũ hành thuộc Hỏa, Hỏa sinh Thổ, rất có lợi cho tài vận của gia chủ.

4. Bắc theo ngũ hành thuộc Thủy, nên treo tranh 9 con cá còn gọi là bức “Cửu ngư đồ”, có lợi cho tài lộc, may mắn của gia chủ.

5. Tây Bắc theo ngũ hành thuộc Kim, có thể treo tranh Vạn Lý Trường Thành khung vàng khiến tài vận, sự nghiệp thành công và phát triển vững vàng.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Chọn hướng treo tranh hợp phong thủy - Phong thủy - Xem Tử Vi

Sao Tam Thai

Hành: Thủy Loại: Cát Tinh Đặc Tính: Khoan hồng, bệ vệ, học hành, khoa giáp, quý hiển, tốt lành Tên gọi tắt thường gặp: Thai Phụ t...
Sao Tam Thai

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Hành: ThủyLoại: Cát TinhĐặc Tính: Khoan hồng, bệ vệ, học hành, khoa giáp, quý hiển, tốt lànhTên gọi tắt thường gặp: Thai
Phụ tinh. Thuộc bộ sao đôi Tam Thai và Bát Tọa. Gọi tắt là bộ sao Thai Tọa.
Ý Nghĩa Tam Thai Ở Cung Mệnh

Tướng Mạo
Tam Thai là cằm, phần hạ đỉnh trên tướng mặt.
Tính Tình
Sao Tam Thai ở Mệnh là người khôn ngoan, phúc hậu, thích thanh nhàn.
Ý Nghĩa Tam Thai Với Các Sao

  • Tam Thai, Bát Tọa, Mộ: Đây là cách gọi là Mộ trung Bát Tọa, chủ sự quý hiển làm nên, nhất là khi cả ba sao được tọa thủ ở bốn cung Tứ Mộ là Thìn, Tuất, Sửu, Mùi. Cách này ở cung Mệnh hay cung Quan là thích hợp.
  • Tam Thai, Bát Tọa, Đào Hoa: Nếu ở cung Quan thì tài đắc quan từ lúc tuổi trẻ, ra làm việc sớm. Việc tiếp giáp Thai, Tọa cũng tốt như Thai Tọa tọa thủ.
Ý Nghĩa Tam Thai Ở Cung Phụ Mẫu
  • Cha mẹ danh giá, có tiếng.
Ý Nghĩa Tam Thai Ở Cung Phúc Đức
  • Được hưởng phúc, họ hàng đông người, danh giá, có người làm nên sự nghiệp.
Ý Nghĩa Tam Thai Ở Cung Điền Trạch
  • Gia tăng sự thuận lợi về mưu cầu nhà cửa.
Ý Nghĩa Tam Thai Ở Cung Quan Lộc
  • Gia tăng sự thuận lợi về mưu cầu công danh, thi cử, chức vụ, học hành.
Ý Nghĩa Tam Thai Ở Cung Nô Bộc
  • Bè bạn đông đảo, và có danh chức.
Ý Nghĩa Tam Thai Ở Cung Thiên Di
  • Ra ngoài có oai phong.
  • Được người mến chuộng.
  • Có quý nhân giúp đỡ.
Ý Nghĩa Tam Thai Ở Cung Tật Ách
  • Giải trừ được tai nạn, bệnh tật nhỏ.
Ý Nghĩa Tam Thai Ở Cung Tài Bạch
  • Gia tăng sự thuận lợi, dễ dàng khi mưu cầu về tiền bạc, lợi lộc, có quý nhân giúp đỡ.
Ý Nghĩa Tam Thai Ở Cung Tử Tức
  • Gia tăng số lượng con cái, con cái có công danh sớm.
Ý Nghĩa Tam Thai Ở Cung Phu Thê
  • Người hôn phối danh giá, có tài năng.
Ý Nghĩa Tam Thai Ở Cung Huynh Đệ
  • Gia tăng số lượng anh chị em, có người danh giá, làm nên sự nghiệp.

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Sao Tam Thai

6 con giáp số giàu sang thiên bẩm

Những cái tên được lọt vào danh sách này là Tý, Sửu, Dần, Thìn...
6 con giáp số giàu sang thiên bẩm

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tuổi Tý

Người tuổi Tý thông minh lanh lợi, có khả năng thích ứng với môi trường tốt. Họ luôn lạc quan, vui tính nên đường đời gặp nhiều may mắn, có quý nhân phù trợ, đi đâu cũng được mọi người yêu mến.

tuoi-ty-4632-1406244354.jpg

Ngoài ra, con giáp này khá nhạy bén về chuyện tiền bạc. Họ biết nỗ lực bằng chính sức mình để đạt được tham vọng lớn lao về cuộc sống giàu sang, phú quý. 

Tuổi Sửu

Người sinh năm Sửu thường có sức chịu đựng bền bỉ, kiên trì đến cùng. Bình thường họ không thích nói chuyện khoa trương mà trầm tư như đang suy tính chuyện gì vô cùng quan trọng. Do vậy, rất khó nắm bắt được suy nghĩ của con giáp này. Người tuổi Sửu còn tỏ ra chín chắn, sẵn sàng chịu khổ để đạt được điều mình mong muốn.

suu-2448-1406244354.jpg

Tuy nhiên, phải trải qua nhiều trắc trở, người tuổi Sửu mới nhận ra khả năng của mình và áp dụng triệt để. Họ còn rất giỏi trong việc tích lũy, thực hiện tiết kiệm để có cuộc sống sung túc. Thường thì đến trung vận, người tuổi Sửu sẽ rất giàu có.

Tuổi Dần

Vốn phóng khoáng và có năng lực thực thụ, cộng với mối quan hệ rộng, nên người tuổi Dần dễ gặt hái được thành công. Đặc biệt, đến trung vận sự nghiệp của họ sẽ lên như diều gặp gió, mang lại nhiều tài lộc. 

dan-3122-1406244354.jpg

Có điều, tính khí người tuổi Dần nông nổi, dễ cáu giận. Nếu biết tiết chế tính cách này, con đường tới vinh hoa phú quý của họ sẽ thêm rộng mở.

Tuổi Thìn

Tuổi Thìn có bản lĩnh hơn người, phân biệt thiện ác rõ ràng và cách thức thực hiện mọi việc đâu ra đó, không làm tổn hại đến lợi ích của bất kỳ ai.

thin-5754-1406244354.jpg

Tuy nhiên, vì đôi lúc quá tự tin thành ra tự kiêu, làm bản thân người tuổi Thìn "mất điểm" trong  mắt mọi người xung quanh, cản trở con đường tài lộc của chính mình. Chỉ cần sửa được nhược điểm này này, tài vận của người tuổi Thìn càng tăng lên theo cấp số nhân.

Tuổi Ngọ

Là người có tính cách thẳng thắn, liêm khiết, chân thành, người tuổi Ngọ dễ dàng tạo dựng được rất nhiều mối quan hệ xã giao có ích cho sự nghiệp và tài đồ của họ. 

ngo-8876-1406244354.jpg

Tuy vậy, trước mắt họ cần có sự trợ giúp từ người thân và bạn bè để tìm cơ hội tiến hành đầu tư, kinh doanh thu lợi nhuận. Thường ngày họ cũng biết cách chi tiêu và tích lũy nên có nhiều cơ hội phấn đấu để cuộc sống đủ đầy.

Tuổi Dậu

Người tuổi Dậu có năng lực phán đoán và phân tích vấn đề khá giỏi, lại có biệt tài ăn nói và tạo dựng các mối quan hệ có lợi cho sự phát triển về tiền đồ và địa vị của bản thân. 

a69d5bb2-b388-41d9-9901-d08db6-6533-4364

Bản thân người tuổi Dậu cũng đặt ra những yêu cầu, quy tắc, chuẩn mực khá cao để bản thân luôn trong trạng thái phấn đấu không mệt mỏi. Vì lẽ đó, đời sống vật chất của họ khá dư giả, thậm chí có thể nói là giàu sang, phú quý.

Mr.Bull

iq-9714-1406253696.jpg

Xếp hạng IQ của 12 con giáp

Chỉ số IQ cao nhất giúp người tuổi Tỵ được vinh danh vị trí đầu bảng, đứng cuối cùng là người tuổi... Tuất ^^.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: 6 con giáp số giàu sang thiên bẩm

Thôi miên và những điều bí ẩn?

Khi nhắc đến 2 tiếng “thôi miên”, hẳn điều đầu tiên bạn nghĩ đến là những con người bí ẩn, đang sử dụng con lắc để biến một ai đó trở thành một con rối bạn sẽ phải làm theo mọi thứ mà “chủ nhân” của mình yêu cầu?
Thôi miên và những điều bí ẩn?

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Thôi miên và những điều bí ẩn?

 

>> Xem thêm TỬ VI 2016 mới nhất!

>> Xem thêm TUỔI XÔNG ĐẤT 2016 mới nhất!

Khi nhắc đến 2 tiếng “thôi miên”, hẳn điều đầu tiên bạn nghĩ đến là những con người bí ẩn trong bộ áo khoác màu đen, đang sử dụng con lắc để biến một ai đó trở thành một con rối, buộc họ phải tuân theo mệnh lệnh của mình, một cách vô điều kiện, một khi đã bị thôi miên, bạn sẽ phải làm theo mọi thứ mà “chủ nhân” của mình yêu cầu?

Thực chất, những người bị thôi miên không hề “ngoan ngoãn” như bạn thấy, mà họ hoàn toàn có ý thức tự chủ chứ không phải bị sai khiến, và họ cũng không rơi vào trạng thái nửa ngủ nửa mê mà đó chỉ là biểu hiện của sự tập trung quá mức.

Trải qua nhiều thế kỷ, hiểu biết của con người về thôi miên đã đạt được rất nhiều tiến bộ, nhưng đây thực sự vẫn là một trong những bí ẩn lớn nhất của nhân loại. Vậy, bản chất của thôi miên là gì? Chúng hoạt động trong thực tế như thế nào? Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu qua bài viết dưới đây

Thôi miên là gì?

Thôi miên là một quá trình mà trong đó các chức năng suy nghĩ có ý thức của đầu óc bị qua mặt và một dạng suy nghĩ cảm nhận có chọn lọc được thiết lập. Mặc dù có một số người trải qua kinh nghiệm về sự thay đổi trạng thái của nhận thức và dễ bị thuyết phục hơn, điều này không đúng cho tất cả mọi người. Thực ra, một số dấu hiệu của sự thôi miên và sự thay đổi khách quan có thể đạt được mà không cần sự nghỉ ngơi hay một quá trình thôi miên lâu dài, một điều làm tăng tính nghi ngờ và nhiều sự hiểu lầm về thôi miên và trạng thái bị thôi miên.

Thôi miên có một lịch sử lâu đời, được biết đến từ những năm 1700 trở lại đây. Người đầu tiên phát hiện ra thôi miên là Franz Anton Mesmer, một bác sĩ người Áo sống ở thế kỉ 18 đã sử dụng công năng của thôi miên để chữa bệnh. Điều này đã mang lại cho ông nhiều tai tiếng nhưng sau đó người ta vẫn sử dụng cách thôi miên của ông. Thuật ngữ thôi miên (hypnosis) được đặt tên bởi bác sĩ người Xcôt-len (Scottish), James Braid, ông đã sử dụng từ ngủ trong tiếng Hy lạp để tạo nên thuật ngữ. Braid đã nghĩ có thể sử dụng thôi miên trong phẫu thuật, và ông đã đúng đến tận ngày nay nó vẫn được sử dụng bởi nhiều bác sĩ, nha sĩ, nhà tâm lý học. Từ khi nó xuất hiện, thôi miên và những người sử dụng nó là đối tượng cho nhiều nghiên cứu, sự chỉ trích, sự tò mò và huyền bí.

                                                                   

Thôi miên có gì bí ẩn?

Về bản chất, thuật thôi miên là cách để tiếp cận và giao tiếp với tiềm thức của con người một cách trực tiếp. Thông thường, bạn chỉ nhận thức được những ý nghĩ trong ý thức. Bạn suy nghĩ về mọi chuyện một cách có chủ ý, như tìm từ ngữ thích hợp để đối đáp.

Tuy vậy, các nhà tâm thần học đã biết khá rõ các đặc điểm chung của thuật thôi miên, và họ cũng đã phần nào hiểu được cơ chế của hiện tượng này. Người bị thôi miên ở trạng thái cực kỳ dễ bị ám thị, cơ thể và trí não hoàn toàn được thả lỏng, trí tưởng tượng được kích thích cao độ.

Trạng thái này không giống lúc ngủ, vì thực chất người bị thôi miên vẫn hoàn toàn tỉnh táo. Trạng thái này gần giống với trạng thái lúc bạn ngồi suy nghĩ mơ mộng mà quên mất mọi việc xung quanh, bạn tỉnh táo nhưng tâm trí tạm thời không bị tác động bởi các kích thích tố xung quanh. Bạn vui buồn theo những sự kiện trong trí tưởng tượng của mình. Một số nhà nghiên cứu phân loại những “giấc mơ ngày” là một hiện tượng tự thôi miên.

Trong thôi miên truyền thống, bạn tiếp cận với các yêu cầu của người thôi miên và xem nó như thể là thực tại.

Chẳng hạn, nếu người thôi miên nói với bạn rằng bạn bị đứt tay, bạn sẽ cảm thấy tay mình đau nhói; hoặc nếu ông ta bảo rằng bạn đang ăn kem, bạn sẽ cảm thấy lưỡi và cổ họng tê lạnh; nếu ông ấy nói rằng bạn đang rất hoảng sợ, bạn sẽ cảm thấy hoảng sợ thật sự và toát cả mồ hôi.

Tuy nhiên, trong suốt quá trình này bạn hoàn toàn tỉnh táo và vẫn ý thức được đây chỉ là sự tưởng tượng. Thực chất, bạn đang chơi trò “giả vờ” với một sự nhập tâm và tập trung cao độ. Tuy nhiên, ý thức về đạo đức và sự an toàn cho bản thân vẫn tồn tại khi bị thôi miên.  Người thôi miên không thể khiến bạn làm những việc nguy hiểm mà bạn không muốn làm.

Lý giải trên đã được chấp nhận rộng rãi trong giới tâm thần học, vì nó có thể giải thích được hầu hết các đặc điểm của trạng thái thôi miên.

 

 


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Thôi miên và những điều bí ẩn?

Vì sao ưu tiên đặt phòng khách ở tầng thấp?

Trong một ngôi nhà, phòng khách là không gian mang tính hướng ngoại cần nhiều dương khí, vì vậy cần ưu tiên đặt phòng khách ở tầng thấp.
Vì sao ưu tiên đặt phòng khách ở tầng thấp?

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Chị Phạm Thanh Thủy (Bắc Giang) hỏi: Nhà tôi đặt phòng khách ở tầng 4 – tầng cao nhất. Nhiều người đến chơi cho rằng phòng khách là phòng tụ khí, nếu đặt trên cao sẽ không tốt. Xin hỏi, điều này có đúng không? Nhà tôi đặt như thế có ảnh hưởng đến phong thủy?

Theo chuyên gia phong thủy Phạm Cương, Công ty Cổ phần Nhà Xuân, trong một ngôi nhà, phòng khách là không gian mang tính hướng ngoại cần nhiều dương khí. Đối với những ngôi nhà cao tầng chỉ có thang bộ, khí ở các tầng trên sẽ kém hơn các tầng dưới. Vì vậy, nên ưu tiên đặt phòng khách ở những tầng thấp của căn nhà.

Bên cạnh đó, việc tiếp đón khách cũng sẽ bất tiện do phải leo cao và đi qua các không gian khác. Tuy nhiên, đối với những nhà sử dụng cầu thang máy, nguồn năng lượng dẫn lên từ thang máy sẽ được cung cấp đầy đủ cho các tầng thì phòng khách hoàn toàn có thể đặt trên tầng cao.

Ngoài ra, khi thiết kế nhà, cần ưu tiên phòng khách ở những khu vực thoáng đãng, đón được nhiều ánh sáng tự nhiên, màu sắc nên sử dụng những gam màu sáng, hình khối trang trí cần thêm một số họa tiết tròn tạo nhiều sinh khí cho phòng khách.

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Vì sao ưu tiên đặt phòng khách ở tầng thấp?

Gương trong nhà bếp tạo sự sung túc

Gương là vật có năng lượng rất mạnh. Sự phản xạ các tia sáng và hiển thị hình ảnh khiến gương ngẫu nhiên trở thành vật
Gương trong nhà bếp tạo sự sung túc

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

"hội tụ năng lượng".

Gương trong nhà bếp tạo sự sung túc

Theo quan niệm phong thủy, gương sẽ tạo nguồn năng lượng gấp bội. Đặt gương ở vị trí có thể phản chiếu đồ ăn, đồ uống, quầy thu, kho hàng... khiến thực phẩm trong nhà dồi dào, việc làm ăn phát đạt. Nếu đặt gương ở những khu vực làm việc thì tất ảnh hưởng đến hiệu suất công việc... Tương tự, khi treo gương trong nhà bếp cũng sẽ có những tác dụng nhất định.

Vị trí lý tưởng nhất là phía sau nơi đặt bếp nấu, dựa vào tường hoặc treo ở phía trên bếp. Nếu bạn không nhìn thấy cửa bếp khi đứng ở vị trí nấu nướng, cần phải đặt gương dựa vào mảng tường bếp hoặc ở bất kỳ vị trí nào trong phòng. Tại vị trí này, bạn có thể dễ dàng quan sát người ra vào bếp. Phong thủy tối kỵ nhất là người ngụ trong phòng không thể biết được người ra vào căn phòng đó. Chính vì thế, 1 chiếc gương treo nơi nhà bếp là giải pháp hữu hiệu.

Trong trường hợp có 2 cánh cửa ra vào nhà bếp, hãy đặt gương ở vị trí chiếu thẳng vào cánh cửa được xem là "chính" hơn. Đó là nơi mà mọi người sẽ bước vào sau khi qua cửa chính của ngôi nhà.

Giải pháp khác cho bạn để tạo sự thịnh vượng trong cuộc sống là đặt 1 vật có khả năng phát quang (chiếu sáng) gần bếp nấu. Có thể là bình trà sáng bóng. Khi đó, hình ảnh bếp nấu sẽ được nhân đôi. Cảm giác "nhân đôi" bếp lò (nơi được coi là sự sung túc của căn nhà) sẽ giúp bạn có được cuộc sống đầy đủ, viên mãn.

(Tổng hợp)

 

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Gương trong nhà bếp tạo sự sung túc

SAO MỘ TRONG TỬ VI

mộ (Thổ) *** 1. Ý nghĩa của mộ: - đần độn, chậm, tối, u mê - dâm dục - ch...
SAO MỘ TRONG TỬ VI

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

mộ (Thổ)



***

1. Ý nghĩa của mộ:             - đần độn, chậm, tối, u mê             - dâm dục             - chủ sự bại hoại, tiêu tán, khô cạn, ngăn trở công việc             - chủ sự nghiệp quả             - chiết giảm phúc thọ

2. Ý nghĩa của mộ và một số sao khác:
Mộ, Thai, Tọa: văn võ kiêm toàn, nhất là ở Tứ Mộ
Mộ, Tuyệt: khôn ngoan, đa mưu, túc trí
Mộ, Hao: Hao làm mất tính chất u tối của Mộ
Mộ, Cái (hay Riêu, hay Mộc): dâm dục, thủ dâm

3. Ý nghĩa của mộ  ở các cung:
a. ở Phúc: Rất đẹp nếu gặp Mộ Thai Tọa ở Tứ Mộ, chủ sự tốt đẹp về mồ mả, đắc lợi cho con cháu về sau.
b. ở Tài: Mộ, Long, Phượng: có di sản tổ phụ Mộ, Hóa Lộc: có của đến tận tay
c. ở Tật: Mộ Cái (Riêu hay Mộc): bị bệnh về sinh dục
d. ở Tử: Không lợi ích cho sự sinh nở: sinh khó, trắc trở

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: SAO MỘ TRONG TỬ VI

Tài lộc tiêu tán vì bếp phạm phong thủy

Theo phong thủy ứng dụng, bài trí trong phòng ăn liên quan trực tiếp tới may mắn, tài lộc của gia đình và hạnh phúc trong quan hệ vợ chồng.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

  1. Theo phong thủy nhà ở, có một số kiêng kỵ cần lưu ý đối với phòng ăn và những sai lầm nhỏ cũng có thể dẫn tới hậu quả nghiêm trọng tài sản tiêu tán, mất mát tiền của, hao tổn sức khỏe, phát sinh bệnh tật...

Nếu có phòng ăn riêng, tốt nhất bạn nên xem xét kỹ lưỡng vị trí, không gian và màu sắc. Chúng tôi xin chỉ ra 4 điều cần lưu tâm sau đây:

1. Nguy hiểm: Phòng ăn đối diện cửa phòng tắm

Phòng ăn là nơi phục vụ hoạt động ăn uống cho cả gia đình, trong khi đó, nhà vệ sinh/phòng tắm lại là nơi chứa nguồn năng lượng bẩn thỉu, ô uế, hôi hám. Theo phong thủy, hai căn phòng này đối diện với nhau là cách bố trí sai lầm, rất xấu.

Trường hợp này có thể sinh ra bệnh tật cho người cư trú, đặc biệt là các bệnh phát sinh từ đường miệng nên phải tránh tuyệt đối.

2. Phòng ăn, phòng bếp cần tách biệt

Tránh kết hợp phòng bếp và phòng ăn trong cùng một không gian. Bởi vì, khi nấu nướng, các loại khói bụi, mùi thức ăn... sẽ tích tụ lại, lâu dần sẽ ảnh hưởng đến vấn đề vệ sinh và từ đó gây hại tới sức khỏe của bạn và người thân.

Dân gian có câu "Mở cửa thấy bếp, tiền bạc tiêu tán", có nghĩa rằng nếu cửa ra vào (cửa chính) và phòng bếp tạo thành đường thẳng (bạn có thể nhìn thấy bếp trực tiếp từ cửa ra vào), nó có thể khiến của cải, tiền bạc thất thoát và sức khỏe suy giảm, nhất là đường tiêu hóa.

3. Phòng ăn không nên dùng màu sắc tươi sáng

Những gam màu trung tính như màu gỗ, màu cà phê và đen rất được khuyến khích sử dụng cho bàn ăn. Không chọn màu sắc quá rực rỡ và tươi sáng. Nếu đã sắm sửa 1 bộ bàn ăn đắt tiền nhưng lại có màu sắc quá chói sáng thì bạn cũng không cần bận tâm, lo lắng. Vấn đề này có thể được khắc phục dễ dàng bằng cách trải một lớp khăn trải bàn màu trung tính lên trên bề mặt bàn ăn là được.

4. Không nên thiết kế xà nhà trong phòng ăn

Trần phòng ăn tốt hơn hết nên có hình dạng bằng phẳng và đơn giản, không thiết kế thêm xà nhà... Nếu thiết kế trần nhà nghiêng kèm theo những thanh xà nhà nặng nề, nó sẽ gây ra các vấn đề về sức khỏe cho các thành viên trong gia đình.

Có nhiều ảnh hưởng khác nhau và điều này phục thuộc vào vị trí của thanh xà nhà. Ví dụ, nếu thanh xà nhà ở trên bàn ăn, nó sẽ cản trở khả năng tiêu hóa của con người và theo thời gian, nó có thể dẫn đến bệnh tật về đường tiêu hóa.

(Theo Eva)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tài lộc tiêu tán vì bếp phạm phong thủy

Xây nhà ở nơi có "long mạch" sẽ sinh vượng khí

Từ xưa đến nay, hầu hết mọi người đều quan niệm xem địa làm nhà là rất quan trọng, bởi trong đất có nước và khí mà 2 thứ đó đều ảnh hưởng đến cuộc sống vạn vật và con người. Có những nơi địa khí độc, mạch nước độc khiến cho người sống ở đó hao kiệt, mòn mỏi.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Theo nhận định của các chuyên gia phong thủy, trong tự nhiên có một dòng khí lưu thông và xoay tròn xoắn ốc trong trái đất. Đến khi dòng khí lưu thông ra gần bề mặt trái đất thì nơi đó đất đai màu mỡ, cây cỏ xanh tốt, khí hậu mát mẻ trong lành, thời tiết ôn hòa. Con người sống ở đây sẽ thấy dễ chịu, thoải mái. Còn nếu khí trượt ra ngoài vỏ trái đất hoặc di chuyển sâu vào trong thì đất đai nơi đó sẽ khô cằn

Phần lớn những nhà phong thủy là những người biết tiếp thu những kinh nghiệm của con người trong cuộc sống tích lũy được cộng với sự quan sát tinh tế. Các nhà phong thủy biết xem vầng sáng quanh mặt trăng để đoán thời tiết và biết xem cả màu sắc, hay xem chân cột để đoán được độ ẩm của đất, đồng thời cả những mối tương quan về mặt đời sống, xã hội của con người để đưa ra lời dự đoán, nhận định cho một ngôi nhà, cuộc đất.

tìm long mạch để xây nhà
Những nơi mà cây cỏ xinh tươi tốt lành, chính là nơi có “long mạch”,
địa điểm này rất lý tưởng để dựng nhà ở. Ảnh minh họa.

Có thể nói, việc quan sát cả nội và ngoại cảnh rất quan trọng cho việc đoán định một cuộc đất. Dưới đây là một vài cách để nhận ra khí của đất theo quan niệm của phong thủy.

Nếu như cây cỏ xanh tươi thì ở khu vực đó khí vượng. Nhưng nếu có những khoảng đất vàng, nâu hoặc không có cây gì mọc ở trên một sân cỏ hoặc một vùng thì tức là khí ở đó đã không độc. Muốn tìm “long mạch”, đầu tiên hãy chọn vùng cây cỏ xinh tươi tốt lành, nơi đó chính là địa điểm lý tưởng để dựng nhà.

Sân phải có nhiều cây cỏ hoa lá là khí vượng. Không nên mua đất cằn cỗi, ở đó cây cỏ khô héo hoặc nơi hoa lá dị dạng, không nở được.

Song, trên thực tế không phải lúc nào chúng ta cũng có thể chọn được một cuộc đất ưng ý trong một môi trường lý tưởng mà thông thường sẽ có những khuyết điểm nhất định nào đó. Khi đó chỉ có biện pháp cải tạo để có một môi trường tốt hơn.

(Theo Báo xây dựng online)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xây nhà ở nơi có "long mạch" sẽ sinh vượng khí

Sao Thái Âm

Phương Vị: Bắc Đẩu Tinh Tính: Âm Hành: Thủy Loại: Phúc Tinh, Phú Tinh Đặc Tính: Điền trạch, tiền bạc, đôi mắt, mẹ, vợ Tên gọi t...
Sao Thái Âm

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Phương Vị: Bắc Đẩu TinhTính: ÂmHành: ThủyLoại: Phúc Tinh, Phú TinhĐặc Tính: Điền trạch, tiền bạc, đôi mắt, mẹ, vợTên gọi tắt thường gặp: Nguyệt
Một trong 14 Chính Tinh. Sao thứ 2 trong 8 sao thuộc chòm sao Thiên Phủ theo thứ tự: Thiên Phủ, Thái Âm, Tham Lang, Cự Môn, Thiên Tướng, Thiên Lương, Thất Sát, Phá Quân.

Vị Trí Ở Các Cung

  • Miếu địa: Cung Dậu, Tuất, Hợi.
  • Vượng địa: Cung Thân, Tý.
  • Đắc địa: Cung Sửu, Mùi.
  • Hãm địa: Cung Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ.
Ý Nghĩa Thái Âm Ở Cung Mệnh
Tướng Mạo
Cung Mệnh có Thái Âm miếu, vượng hay đắc địa thì thân hình to lớn, cao, da trắng, mặt tròn, mắt sáng. Còn Thái Âm hãm địa thì thân hình nhỏ, hơi cao, mặt dài, mắt kém.
Tính Tình
  • Thái Âm ở các cung miếu địa, vượng địa, đắc địa là người thông minh, hòa nhã, từ tâm, thích văn chương, mỹ thuật.
  • Thái Âm ở cung hãm địa là người có tính ương ngạnh, từ thiện, không tham danh lợi.
Công Danh Tài Lộc
Thái Âm là phú tinh nên có nhiều ý nghĩa tài lộc nhất. Nếu đắc địa, vượng địa và miếu địa, và tùy sự hội chiếu với Thái Dương và cát tinh khác, người có Thái Âm sáng sẽ có:
  • Dồi dào tiền bạc, điền sản.
  • Có khoa bảng cao, hay ít ra rất lịch lãm, biết nhiều.
  • Có danh tiếng, quý hiển.
Thái Âm đóng ở cung Tài, hay Điền thì tốt nhất. Thái Âm sáng mà bị Tuần Triệt coi như bị hãm địa, trừ phi ở Sửu Mùi thì tốt.
Nếu hãm địa, thì:
  • Công danh, trắc trở, không quý hiển được.
  • Lập nghiệp phương xa, bôn ba.
  • Khoa bảng dở dang.
  • Bất đắc chí.
  • Khó kiếm tiền, nghèo khổ, vất vả.
Các trường hợp này cũng xảy ra nếu Thái Âm miếu, vượng hay đắc địa mà gặp nhiều sao mờ ám, nhất là sát tinh Riêu, Đà, Kỵ, Hình.
Nếu Nguyệt hãm địa ở cung Âm thì cũng hưởng được lợi ích của luật âm tương hợp: Tuy không quý hiển nhưng cũng đủ ăn và ít phiền muộn. Nếu được nhiều cát tinh hội chiếu, thì sẽ được quý hiển, có danh vọng, tài lộc.
Cũng như đối với Thái Dương, Thái Âm ở Sửu Mùi gặp Tuần Triệt án ngữ, thêm Hóa Kỵ càng hay, sẽ được vừa phú, vừa quý như được miếu địa. Tại hai cung này, Thái Âm còn sáng hơn cả Thái Dương đồng cung, vì tọa thủ nơi cung Âm hợp vị. Danh tài càng về già càng hiển đạt vì Thái Âm sáng ăn về hậu vận.
Phúc Thọ Tai Họa
Tai nạn và bệnh tật xảy ra đối với các trường hợp Thái Âm hãm địa hoặc Thái Âm gặp các sao như Kình, Đà, Không, Kiếp, Riêu, Hình, Kỵ bị tật về mắt hay chân tay, đau bụng, gặp tai họa khủng khiếp, yểu tử, hoặc phải bỏ làng tha hương lập nghiệp mới sống lâu được. Riêng phái nữ còn chịu thêm bất hạnh về gia đạo như muộn gia đình, lấy kế, lấy lẽ, cô đơn, khắc chồng, xa cha mẹ.
Những Bộ Sao Tốt
  • Thái Âm và Thái Dương.
  • Thái Âm sáng gặp Lộc Tồn: Rất giàu có, triệu phú. Trong trường hợp này, Thái Âm có giá trị như sao Vũ Khúc sáng sủa, chủ về tài lộc.
  • Thái Âm đắc địa gặp Hóa Kỵ: Càng rực rỡ thêm.
  • Thái Âm sáng gặp Tam Hóa: Rất tốt đẹp, vừa giàu, vừa sang, vừa có khoa bảng.
  • Thái Âm sáng gặp Xương Khúc: Rất thông minh, lịch duyệt, từng trải, lịch lãm, tài hoa.
  • Thái Âm sáng gặp Tứ Linh (Long, Phượng, Hổ, Cái): Hiển hách.
  • Thái Âm, Thiên Đồng gặp Kình ở Ngọ: Rất có nhiều uy quyền.
  • Thái Âm sáng gặp Đào, Hồng: Rất phương phi, đẹp đẽ, được người khác phải mến chuộng tôn thờ. Đây là bộ sao của minh tinh, tài tử nổi danh. Tuy nhiên, bộ sao này có thể có nhiều bất lợi về tình duyên, có thể đưa đến sự sa ngã, trụy lạc, lăng loàn.
Những Bộ Sao Xấu
  • Thái Âm hãm gặp tam ám (Riêu, Đà, Kỵ): Bất hiển, bị tật mắt, lao khổ, nghèo, họa vô đơn chí, hao tài, bị tai họa liên tiếp, ly tán, bệnh hoạn triền miên. Phụ nữ có thể hiếm con.
  • Thái Âm hãm gặp sát tinh: Lang thang nay đây mai đó, lao khổ.
  • Thái Âm hãm gặp Tam Không: Phú quý nhưng không bền.
  • Thái Âm Thiên Đồng ở Tý gặp Hổ Khốc Riêu Tang: Người nữ có sắc đẹp nhưng bạc mệnh, đa truân, suốt đời phải khóc chồng, góa bụa.
Ngoài những bộ sao tốt xấu nói trên, cung Mệnh có Nhật sáng sủa tọa thủ rất tốt, nhưng còn kém hơn cung Mệnh được Nhật sáng sủa hội chiếu với Nguyệt. Nếu giáp Nhật, Nguyệt sáng cũng phú hay quý.
Ý Nghĩa Thái Âm Ở Cung Phụ Mẫu
  • Thái Dương, Thái Âm đều sáng sủa: Cha mẹ sống thọ.
  • Thái Dương, Thái Âm gặp Tuần Triệt: Cha mẹ mất sớm, có sự chắp nối, hoặc mình không ở gần.
  • Thái Âm, Thiên Đồng đồng cung: Cha mẹ khá giả, nhưng hay bất hòa, khắc khẩu, không được ở gần một trong hai người.
Ý Nghĩa Thái Âm Ở Cung Phúc Đức
  • Thái Âm ở cung Dậu, Tuất, Hợi: Được hưởng phúc trọn đời, sung sướng và sống lâu. Trong họ có nhiều người quý hiển và giàu sang.
  • Thái Âm ở cung Mão, Thìn, Tỵ: Phúc đức rất kém, tuổi thọ bị giảm, mồ côi, hoặc phải ở nhờ nơi người thân, cha mẹ xa cách, chắp nối, lại hay đau bệnh, nghèo nàn, có nhiều sự khổ tâm, làm ăn chật vật, túng thiếu. Số phải ly hương. Trong gia tộc có người cô đơn, nghèo, làm nghề cực nhọc, tha phương cầu thực, duyên nợ vất vả, hay đau yếu, có tật nguyền, hoặc hay gặp tai nạn. Người nữ, con gái vất vả về chồng con.
  • Thái Âm, Thiên Đồng đồng cung: Được hưởng phúc, sống lâu. Họ hàng danh giá. Nên lập nghiệp ở xa quê hương bản quán.
  • Nhật Nguyệt đồng cung: Được hưởng phúc, nhưng phải ly hương, vất vả một thời gian mới yên ổn. Họ hàng khá giả, nhưng ly tán.
  • Thái Âm, Thiên Cơ đồng cung tại Dần: Phúc đức không được tốt, chịu cảnh mồ côi, hoặc phải ở nhờ nơi người thân, hoặc lúc bé đã phải xa nhà, ly hương. Trong gia tộc, người nữ, con gái hay trắc trở về chồng con, hoặc có người cô độc, tật nguyền.
  • Thái Âm, Thiên Cơ đồng cung tại Thân: Được hưởng phúc, sống lâu. Trong gia tộc có người làm nên sự nghiệp. Người nữ cuộc đời luôn luôn khá giả hơn người nam.
Ý Nghĩa Thái Âm Ở Cung Điền Trạch
  • Nguyệt sáng: Điền sản rất nhiều.
  • Nguyệt hãm: Ít của, không có của.
Ý Nghĩa Thái Âm Ở Cung Quan Lộc
  • Thái Âm đơn thủ tại Dậu, Hợi: Công danh danh hiển đạt.
  • Thái Âm đơn thủ tại Tuất: Có tài, công danh hiển đạt nhưng thường bị nhiều người ghen ghét hay bị bó buộc vào nhưng công việc không hợp với chí hướng.
  • Thái Âm tại Mão: Công danh muộn màng, có tài ăn nói, văn chương lỗi lạc.
  • Thái Âm đơn thủ tại Thìn, Tỵ: Gặp nhiều trở ngại trên đường công danh, có tài nhưng không gặp thời, công danh lận đận. Lúc thiếu thời vất vả, đến khi nhiều tuổi thì mới xứng ý toại lòng. tuy vậy, vẫn được nhiều người kính trọng có đức độ và có tài văn chương.
  • Thái Âm, Thiên Đồng đồng cung tại Tý: Công danh hiển hách, có nhiều tài năng khéo léo, nghề tinh xảo, đặc biệt, thông minh, mưu trí. Là số tay trắng làm giàu, càng lớn tuổi thì càng khá giả.
  • Thái Âm đồng cung với Thiên Đồng tại Ngọ: Chuyên về kỹ nghệ hay doanh thương.
  • Thái Âm, Thái Dương đồng cung tại Sửu, Mùi: Công danh bất hiển vì Âm Dương hổn hợp. Nhưng nếu có Tuần, Triệt thì lại tốt.
Ý Nghĩa Thái Âm Ở Cung Nô Bộc
  • Nhật Nguyệt đắc địa: Tôi tớ lạm quyền, có học trò giỏi, người phò tá đắc lực.
  • Nguyệt hãm địa: Tôi tớ ra vào luôn, không ở lâu bền.
Ý Nghĩa Thái Âm Ở Cung Thiên Di
Nhật, Nguyệt sáng gặp Tam Hóa: Được nhiều người quý trọng tôn phục, giúp đỡ, hậu thuẫn.
Ý Nghĩa Thái Âm Ở Cung Tật Ách
  • Nguyệt hãm gặp sát tinh: Gặp nhiều bệnh hoạn triền miên ở mắt, thần kinh, khí huyết, kinh nguyệt.
  • Nguyệt, Trì, Sát: Hay đau bụng.
Ý Nghĩa Thái Âm Ở Cung Tài Bạch
  • Nguyệt sáng gặp Sinh, Vượng: Rất giàu có, kiếm tiền rất dễ dàng và phong phú.
  • Nguyệt sáng gặp Vũ chiếu: Giàu có lớn.
  • Nguyệt Tuất, Nhật Thìn: Đại phú.
Ý Nghĩa Thái Âm Ở Cung Tử Tức
  • Nguyệt Thai Hỏa: Có con cầu tự mới nuôi được.
  • Nhật Nguyệt Thai: Có con sinh đôi.
Ý Nghĩa Thái Âm Ở Cung Phu Thê
  • Nguyệt, Nhật miếu, vượng địa: Sớm có gia đình.
  • Nguyệt Xương Khúc: Vợ đẹp, có học (giai nhân).
  • Nguyệt, Quyền ở Thân: Sợ vợ.
Ý Nghĩa Thái Âm Ở Cung Huynh Đệ
Nhật Nguyệt giáp Thai: Có anh chị em song sinh.
Thái Âm Khi Vào Các Hạn
  • Nguyệt sáng: Tài lộc dồi dào, có mua nhà, đất, ruộng vườn, gặp việc hên, sanh con.
  • Nguyệt mờ: Hao tài, đau yếu (mắt, bụng, thần kinh) bị kiện vì tài sản, bị lương tâm cắn rứt, sức khỏe của mẹ, vợ bị kém.
  • Nếu thêm Đà Tuế, Hổ: Nhất định mất mẹ.
  • Nguyệt Đà Kỵ: Đau mắt nặng, mất của.
  • Nguyệt Hỏa Linh: Đau yếu, kiện cáo.
  • Nguyệt Hình: Mắt bị thương tích, phải mổ.
  • Nguyệt Cự: Đàn bà sinh đẻ khó, đau đẻ lâu.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Sao Thái Âm

Ánh sáng trong phòng ngủ –

Phòng ngủ là nơi nghỉ ngơi thư giãn, đòi hỏi phải có độ ánh sáng thích hợp. Ánh sáng trong phòng ngủ dù là trên phương diện mĩ thuật hay để đảm bảo sức khỏe đều phải đạt tiêu chuẩn dịu nhẹ và không làm hại mắt. Nếu ánh sáng trong phòng ngủ quá mạnh,

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

con người sẽ dễ cáu giận bực bội. Ngược lại, nếu ánh sáng quá yếu thì dễ làm cho con người có tâm trạng u uất và mắc chứng trầm cảm.

anhsang_phongngu1

Phong thủy học nói rằng, lắp đặt đèn điện cũng có những điều cấm kị. Chẳng hạn, không nên treo đèn treo ngay trên đầu giường, càng không nên treo ở chính giữa giường. Vì nếu trên đầu có một chiếc đèn treo thì khi ngủ ánh sáng sẽ chiếu trực tiếp vào mắt. Trừ khi bạn đeo một cái che mắt trong khi ngủ, nếu không chắc chắn bạn không thể nào ngủ ngon giấc được. Không chỉ vậy, việc thường xuyên bị ánh đèn chiếu vào mắt sẽ có ảnh hưởng tiêu cực đến gan của bạn.

Ngoài ra, hiện nay phần lớn những chiếc giường đôi được thiết kế có một chiếc đèn ngủ kèm theo. Điều này không có gì đáng nói. Tuy nhiên, ánh sáng phát ra từ chiếc đèn ngủ ấy phải dịu nhẹ. Nếu là một chiếc đèn đơn thì nên lắp thêm một cái chụp đèn, màu của chụp đèn phải hợp với màu tường và ngũ hành của chủ nhà. Như vậy, bạn không những có thể ngủ ngon mà sức khỏe của bạn cũng được đảm bảo. Nếu một người có tinh thần luôn luôn sung mãn thì tài sản, cuả cải sẽ tự nhiên tìm đến.

Nếu đèn điện trong nhà bị hỏng thì phải lập tức sửa hoặc thay ngay một cái bóng mới, vì đèn hỏng là chuyện vô cùng xui xẻo. Bởi thế, nếu trong nhà bạn có bất kì bóng đèn nào bị hỏng thì xin bạn đừng ngại việc mà hãy bắt tay vào xử lý ngay.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Ánh sáng trong phòng ngủ –

Xem tuổi và mạng –

1-(1941, 2001, 2061) Tuổi Tân Tỵ, cung Tốn, mạng Bạch Lạp Kim (chân đèn bằng vàng), xương con cọp, tướng tinh con thuồng luồng, khắc Phúc Ðăng Hoả, con nhà Bạch Ðế-Trường mạng 2-(1940, 2000, 2060) Tuổi Canh Thìn, cung Chấn, mạng Bạch Lạp Kim(chân đè

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

question-ngaygiototxau

1-(1941, 2001, 2061) Tuổi Tân Tỵ, cung Tốn, mạng Bạch Lạp Kim (chân đèn bằng vàng), xương con cọp, tướng tinh con thuồng luồng, khắc Phúc Ðăng Hoả, con nhà Bạch Ðế-Trường mạng

2-(1940, 2000, 2060) Tuổi Canh Thìn, cung Chấn, mạng Bạch Lạp Kim(chân đèn bằng vàng), xương con rồng, tướng tinh con quạ, khắc Phúc Ðăng Hoả, con nhà Bạch Ðế-Trường mạng.

3-(1939, 1999) Tuổi Kỹ Mẹo, cung Khôn, mạng Thành Ðầu Thổ ( đất trên thành), xương con thỏ, tướng tinh con rồng, khắc Thiên Thượng Thuỷ, con nhà Huỳnh Ðế-Phú quí.

4-(1938, 1998) Tuổi Mậu Dần, cung Khảm, mạng Thành Ðầu Thổ (đất trên thành), xương con cọp, tướng tinh con thuồng luồng, khắc Thiên Thượng Thuỷ, con nhà Huỳnh Ðế-Phú quí.

5-(1937, 1997) Tuổi Ðinh Sửu, cung Ly, mạng Giáng Hạ Thuỷ( nước mù sương), xương con trâu, tướng tinh con trùn, khắc Thiên Thượng Hoả, con nhà Hắc Ðế- Cô bần

6-(1936, 1996,2056) Tuổi Bính Tý, cung Cấn, mạng Giáng Hạ Thuỷ(nước mù sương), xương con chuột, tướng tinh con rắn, khắc Thiên Thượng Hoả, con nhà Hắc Ðế-Cô bần.

7-(1935, 1995) Tuổi Ất Hợi, cung Ðoài, mạng Sơn Ðầu Hoả (lửa trên núi), xương con heo, tướng tinh con hưu, khắc Sa Trung Kim, con nhà Xích Ðế-Cô bần.

8-(1934, 1994) Tuổi Giáp Tuất, cung Càn, mạng Sơn Ðầu Hoả (lửa trên núi), xương con chó, tướng tinh con ngựa, khắc Sa Trung Kim, con nhà Xích Ðế-Cô bần.

9-(1933, 1993) Tuổi Quí Dậu, cung Chấn, mạng Kiếm Phong Kim (kiếm bằng vàng), xương con gà, tướng tinh con đười ươi, khắc Phúc Ðăng Hoả, con nhà Bạch Ðế- Phú quí.

10-(1932, 1992) Tuổi Nhâm Thân, cung Khôn, mạng Kiếm Phong Kim, xương con khỉ, tướng tinh con dê, khắc Phúc Ðăng Hoả, con nhà Bạch Ðế-Phú quí.

11-(1931, 1991) Tuổi Tân Mùi, cung Khảm, mạng Lộ Bàng Thổ (đất đường đi), xương con dê, tướng tinh con gấu, khắc Tuyền Trung Thuỷ, con nhà Huỳnh Ðế-Bần cùng.

12-(1930, 1990) Tuổi Canh Ngọ, cung Ly, mạng Lộ Bàng Thổ, xương con ngựa, tướng tinh con vượn, khắc Tuyền Trung Thuỷ, con nhà Huỳnh Ðế-Bần cùng.

13-(1929, 1989) Tuổi Kỹ Tỵ, cung Cấn, mạng Ðại Lâm Mộc(cây lớn trong rừng), xương con rắn, tướng tinh con khỉ, khắc Ðại Trạch Thổ, con nhà Thanh Ðế- Trường mạng.

14-(1928, 1988) Tuổi Mậu Thìn, cung Ðoài, mạng Ðại Lâm Mộc, xương con rồng, tướng tinh con quạ, khắc Ðại Trạch Thổ, con nhà Thanh Ðế-Trường mạng.

15-(1927, 1987) Tuổi Ðinh Mẹo, cung Càn , mạng Lư Trung Hoả(lửa trong lư), xương con thỏ, tướng tinh con gà, khắc Kiếm Phong Kim, con nhà Xích Ðế-cô bần

16-(1926, 1986) Tuổi Bính Dần, cung Khảm, mạng Lư Trung Hoả, xương con cọp, tướng tinh con chim trĩ, khắc Kiếm Phong Kim, con nhà Xích Ðế-cô bần

17-(1925, 1985) Tuổi Ất Sửu, cung Tốn, mạng Hải Trung Kim(vàng dưới biển), xương con trâu, tướng tinh con chó, khắc Bình Ðịa Mộc, con nhà Bạch Ðế-Phú quí.

18-(1924, 1984) Tuổi Giáp Tý, cung Chấn, mạng Hải Trung Kim, xương con chuột, tướng tinh con chó sói, khắc Bình Ðịa Mộc, con nhà Bạch Ðế-Phú quí.

19-(1923, 1983) Tuổi Quí Hợi, cung Cấn, mạng Ðại Hải Thuỷ(nước biển lớn), xương con heo, tướng tinh con gà, khắc Thiên Thượng hoả, con nhà Hắc Ðế-Quan lộc, tân khổ.

20-(1922, 1982) Tuổi Nhâm Tuất, cung Ðoài, mạng Ðại Hải Thủy, xương con chó, tướng tinh con chim trĩ, khắc Thiên Thượng hoả, con nhà Hắc Ðế-Quan lộc, tân khổ.

21-(1921, 1981) Tuổi Tân Dậu, cung Càn, mạng Thạch Lựu Mộc (cây lựu đá), xương con gà, tướng tinh con chó, khắc Bích Thượng Thổ, con nhà Thanh Ðế-Cô bần.

22-(1920, 1980) Tuổi Canh Thân, cung Khôn, mạng Thạch Lựu Mộc, xương con khỉ, tướng tinh con cho sói, khắc Bích Thượng Thổ, con nhà Thanh Ðế-Cô bần.

23-(1919, 1979) Tuổi Kỹ Mùi, cung Tốn, mạng Thiên Thượng Hoả (lửa trên trời), xương con dê, tướng tinh con rùa, khắc Sa Trung Kim, con nhà Xích Ðế-Cô bần.

24-(1918, 1978) Tuổi Mậu Ngọ, cung Chấn, mạng Thiên Thượng Hoả, xương con ngựa, tướng tinh con heo, khắc Sa Trung Kim, con nhà Xích Ðế-Cô bần.

25-(1917, 1977) Tuổi Ðinh Tỵ, cung Khôn, mạng Sa Trung Thổ (đất trong cát), xương con rắn, tướng tinh con cú, khắc Dương Liễu Mộc, con nhà Huỳnh Ðế-Phú quí.

26-(1916, 1976) Tuổi Bính Thìn, cung Khảm, mạng Sa Trung Thổ, xương con rồng, tướng tinh con chuột, khắc Dương Liễu Mộc, con nhà Huỳnh Ðế-Phú quí.

27-(1915, 1975) Tuổi Ất Mẹo, cung Ly, mạng Ðại Khê Thuỷ( nước khe lớn), xương con mèo, tướng tinh con dơi, khắc Sơn Hạ Hoả, con nhà Hắc Ðế-Phú quí.

28-(1914, 1974) Tuổi Giáp Dần, cung Cấn, mạng Ðại Khê Thuỷ, xương con cọp, tướng tinh con trâu, khắc Sơn Hạ Hoả, con nhà Hắc Ðế-Phú quí.

29-(1913, 1973) Tuổi Quí Sửu, cung Tốn, mạng Tang Ðố Mộc (cây dâu), xương con trâu, tướng tinh con cua biển, khắc Ốc Thượng Thổ, con nhà Thanh Ðế- Quan lộc, tân khổ.

30-(1912, 1972) Tuổi Nhâm Tý, cung Chấn, mạng Tang Ðố Mộc, xương con chuột, tướng tinh con heo, khắc Ốc Thượng Thổ, con nhà Thanh Ðế-Quan lộc, tân khổ.

31-(1911, 1971) Tuổi Tân Hợi, cung Khôn, mạng Xoa Kim Xuyến (xuyến bằng vàng), xương con heo, tướng tinh con cọp, khắc Ðại Lâm Mộc, con nhà Bạch Ðế-Phú quí.

32-(1910, 1970) Tuổi Canh Tuất, cung Khảm, mạng Xoa Kim Xuyến, xương con chó, tướng tinh con cáo, khắc Ðại Lâm Mộc, con nhà Bạch Ðế-Phú quí.

33-(1909, 1969) Tuổi Kỹ Dậu, cung Ly, mạng Ðại Trạch Thổ (đất nền nhà), xương con gà, tướng tinh con thỏ, khắc Thiên Thượng Thuỷ, con nhà Huỳnh Ðế-Quan lộc.

34-(1908, 1968) Tuổi Mậu Thân, cung Cấn, mạng Ðại Trạch Thổ, xương con khỉ, tướng tinh con lạc đà, khắc Thiên Thượng Thuỷ, con nhà Huỳnh Ðế-Quan lộc.

35-(1907, 1967) Tuổi Ðinh Mùi, cung Ðoài, mạng Thiên Hà Thuỷ (nước sông Thiên Hà), xương con dê, tướng tinh con rồng, khắc Thiên Thượng Hoả, con nhà Hắc Ðế- tân khổ.

36-(1906, 1966) Tuổi Bính Ngọ, cung Càn, mạng Thiên Hà Thuỷ, xương con ngựa, tướng tinh con thuồng luồng,khắc Thiên Thượng Hoả, con nhà Hắc Ðế- tân khổ.

37-(1905, 1965) Tuổi Ất Tỵ, cung Ðoài, mạng Phúc Ðăng Hoả ( lửa đèn nhỏ), xương con rắn, tướng tinh con trùn, khắc Xoa Xuyến Kim, con nhà Xích Ðế-Tân khổ.

38-(1904, 1964) Tuổi Giáp Thìn, cung Tốn, mạng Phúc Ðăng Hoả, xương con rồng, tướng tinh con rắn,khắc Xoa Xuyến Kim, con nhà Xích Ðế-Tân khổ.

39-(1903, 1963) Tuổi Quí Mẹo, cung Ly, mạng Kim Bạch Kim (vàng trắng), xương con thỏ, tướng tinh con hưu, khắc Lư Trung Hoả, con nhà Bạch Ðế-Phú quí.

40-(1902, 1962) Tuổi Nhâm Dần, cung Cấn, mạng Kim Bạch Kim, xương con cọp, tướng tinh con ngựa, khắc Lư Trung Hoả, con nhà Bạch Ðế-Phú quí.

41-(1901, 1961) Tuổi Tân Sửu, cung Ðoài, mạng Bích Thượng Thổ ( đất trên vách), xương con trâu, tướng tinh con đười ươi, khắc Thiên Thượng Thuỷ, con nhà Huỳnh Ðế-Quna lộc, bần cùng.

42-(1900, 1960) Tuổi Canh Tý, cung Càn, mạng Bích Thượng Thổ, xương con chuột, tướng tinh con dê, khắc Thiên Thượng Thuỷ, con nhà Huỳnh Ðế-Quna lộc, bần cùng.

43-(1899, 1959) Tuổi Kỷ Hợi, cung Cấn, mạng Bình Ðịa Mộc(cây trên đất bằng), xương con heo, tướng tinh con gấu, khắc Sa Trung Kim, con nhà Thanh Ðế-Phú quí.

44-(1958, 2018) Tuổi Mậu Tuất, cung Tốn, mạng Bình địa mộc (cây trên đất bằng), xương con chó tướng tính con vượn, khắc Sa Trung Kim, con nhà Thanh Ðế-Phú quí.

45-(1957, 2017) Tuổi Ðinh Dậu, cung Chấn, mạng Sơn Hạ Hoả (lửa dưới núi), xương con gà, tướng tinh con khỉ, khắc Thích Lịch Hoả, con nhà Xích Ðế-Cô bần

46-(1956, 2016) Tuổi Bính Thân, cung Khôn, mạng Sơn Hạ Hỏa, xương con khỉ, tướng tinh con quạ, khắc Thích Lịch Hoả, con nhà Xích Ðế-Cô bần

47-(1955, 2015) TuổiẤt Mùi, cung Khảm, mạng Sa Trung Kim (vàng trong cát), xương con dê, tướng tinh con gà, khắc Thạch Lựu mộc ,con nhà Bạch Ðế- An mạng phú quí

48-(1954, 2014) Tuổi Giáp Ngọ, cung Ly, mạng Sa Trung Kim, xương con ngựa, tướng tinh con chim trĩ, khắc Thạch Lựu mộc ,con nhà Bạch Ðế- An mạng phú quí

49-(1953, 2013) Tuổi Quí Tỵ, cung Khôn, mạng Trường Lưu Thuỷ(nước chảy dài), xương con rắn, tướng tinh con chó, khắc Thiên Thượng Hoả , con nhà Hắc Ðế- Trương mạng

50-(1952, 2012) Tuổi Nhâm Thìn, cung Khảm, mạng Trường Lưu Thuỷ, xương con rồng, tướng tinh con chó sói, khắc Thiên Thượng Hoả , con nhà Hắc Ðế- Trương mạng

51-(1951, 2011) Tuổi Ất Mẹo, cung Ly, mạng Tòng Bá mộc ( cây Tòng và cây Bá), xương con thỏ, tướng tinh con rái, khắc Lộ Bàng thổ , con nhà Thanh Ðế-Trường mạng

52-(1950, 2010) Tuổi Canh Dần, cung Cấn, mạng Tòng Bá mộc, xương con cọp, tướng tinh con heo, khắc Lộ Bàng thổ , con nhà Thanh Ðế-Trường mạng

53-(1949, 2009) Tuổi Kỹ Sửu, cung Ðoài, mạng Thích Lịch Hoả ( lửa sấm sét), xương con trâu, tướng tinh con heo, khắc Thiên Thượng Thuỷ , con nhà Xích Ðế-Phú quí.

54-(1948, 2008) Tuổi Mậu Tý, cung Càn, mạng Thích Lịch Hoả, xương con chuột, tướng tinh con chó sói,khắc Thiên Thượng Thuỷ , con nhà Xích Ðế-Phú quí.

55-(1947, 2007) Tuổi Ðinh Hợi, cung Cấn, mạng Ốc Thượng Thổ ( đất ổ vò vỏ), xương con heo, tướng tinh con dơi, khắc Thiên Thượng Hoả, con nhà Huỳnh Ðế- Phú quí.

56-(1946, 2006) Tuổi Bính Tuất, cung Tốn,mạng Ốc Thượng Thổ, xương con chó, tướng tinh con trâu, khắc Thiên Thượng Hoả, con nhà Huỳnh Ðế-Phú quí.

57-(1945, 2005) Tuổi Ất Dậu, cung Chấn, mạng Tuyền Trung Thuỷ (nước trong giếng), xương con gà, tướng tinh con cua, khắc Thiên Thượng Hoả, con nhà Hắc Ðế-Từ tánh, phú quí.

58-(1944, 2004) Tuổi Giáp Thân, cung Khôn , mạng Tuyền Trung Thuỷ, xương con khỉ, tướng tinh con heo, khắc Thiên Thượng Hoả, con nhà Hắc Ðế-Từ tánh, phú quí.

59-(1943, 2003) Tuổi Quí Mùi, cung Càn, mạng Dương Liễu mộc ( cây dương liễu), xương con dê, tướng tinh con cọp, khắc Lộ Bàng Thổ, con nhà Thanh Ðế-trường mạng

60-(1942, 2002) Tuổi Nhâm Ngọ, cung Ly, mạng Dương Liễu mộc, xương con ngựa, tướng tinh con rắn, khắc Lộ Bàng Thổ, con nhà Thanh Ðế-trường mạng


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem tuổi và mạng –

Hạn tam tai

Bài viết về "Hạn tam tai" được tác giả Trần Việt Sơn thuật lại kinh nghiệm của cụ Thiên Lương.
Hạn tam tai

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Kinh nghiệm của cụ Thiên Lương, Trần Việt Sơn thuật

Mỗi tuổi, mỗi người có 3 năm (trong một loạt 12 năm) gặp hạn Tam Tai. Các hạn có nhiều thứ, nhưng người mà cung Mệnh thuộc những chÍnh tinh nào đó, khi đến hạn gặp những hung tinh phá là gặp hạn xấu. Tuy nhiên, không cứ gặp hạn xấu là bị xấu, mà gặp những sao giải, thì lại không bị xấu nữa. Cho nên, khi nêu lên hạn Tam Tai, không phải cứ đến hạn là gặp xấu, mà còn phải xét xem những cái xấu có bị giải đi hay không.

Cách tÍnh những năm gặp hạn Tam Tai:

Những tuổi Thân, Tý, Thìn: hạn Tam Tai vào các năm Dần, Mão, Thìn.

Những tuổi Tỵ, Dậu, Sửu: hạn Tam Tai vào các năm Hợi, Tý, Sửu

Những tuổi Dần, Ngọ, Tuất: hạn Tam Tai vào các năm Thân, Dậu, Tuất

Những tuổi Hợi, Mão, Mùi: hạn Tam Tai vào các năm Tị, Ngọ, Mùi

Để cho dễ nhớ những năm gặp hạn Tam Tai cho mỗi tuổi, quý bạn chỉ cần nhớ các bộ tam hợp, và phải nhớ cho đúng thứ tự trong mỗi bộ ba (thứ tự đó rất quan trọng). Thế rồi rồi quý bạn trở về các cung địa bàn trên lá số, và cứ lấ ba cung vừa theo chiều thuận đi tới cung cuối của bộ Tam hợp, đó là ba cung mà tên ứng với các năm gặp hạn Tam Tai (không tÍnh trên các cung địa bàn, thì tÍnh trên các đốt ngón tay cũng được).

Tuổi Thân, Tý, Thìn

Bộ ba Thân, Tý, Thìn: bạn ghi lấy ba cung ngay trước cung Thìn, và ôm cả cung Thìn, đó là ba cung Dần, Mão, Thìn. Vậy ba năm Dần, Mão, Thìn là ba năm gặp hạn Tam Tai của các tuổi Thân, Tý, Thìn. Trong các năm Dần, Mão, Thìn, các tuổi Thân, Tý, Thìn gặp hạn Tam Tai.

Tuổi Tỵ, Dậu, Sửu

Bộ ba Tỵ, Dậu, Sửu: cung chót của bộ ba tam hợp là Sửu, vậy bạn ghi lấy ba cung liền trước cung Sửu và kể luôn cả Sửu đó là ba cung Hợi, Tý, Sửu. Ba năm Hợi, Tý, Sửu là ba năm hạn Tam Tai của các tuổi Tỵ, Dậu, Sửu.

Tuổi Dần, Ngọ, Tuất

Cung chót của bộ tam hợp đó là Tuất. Ba cung liền trước Tuất và kể cả Tuất, là Thân, Dậu, Tuất. Thân-Dậu-Tuất là ba năm gặp hạn Tam Tai của các tuổi Dần, Ngọ, Tuất.

Tuổi Hợi, Mão, Mùi

Ba cung chốt liền trước Mùi, và kể cả Mùi, là Tị, Ngọ, Mùi. Tị-Ngọ-Mùi là ba năm gặp hạn Tam Tai của các tuổi Hợi, Mão, Mùi.

Gặp hạn Tam Tai là thế nào?

Không phải Tam Tai là ba loại tai nạn trong kinh Phật. Nói gọi gặp hạn Tam Tai là làm ăn thất bại, hoặc nhẹ ra thì làm ăn khó khăn. Sự làm ăn khó khăn hay thất bại bao gồm đủ các yếu tố làm cho thất bại, có thể ốm đau mà sanh thất bại.

(Chúng tôi đã được dự kiến cụ Thiên Lương xem lá số cho một ông và bảo là làm ăn khó khăn hoặc thất bại. Ống đó thởi phào một cái và nói: Tôi coi số đã nhiều mà có những người bảo tôi làm ăn năm đó tấn phát bởi vì đại vận, tiểu vận đều tốt cả; tôi đã dốc tiền ra làm ăn mà rồi mất cả, đến bây giờ mới thấy một cụ bảo rằng tôi làm ăn thất bại vào năm đó. Tôi tiếc không được gặp cụ sớm. Nhưng tại sao cụ lại bảo rằng năm đó tôi làm ăn thất bại?. Cụ Thiên Lương đã phân tích hạn Tam Tai mà ông nọ gặp. Tuy là vận tốt, nhưng gặp hạn Tam Tai thì cũng có giảm. Huống chi vận của ông chỉ tốt vừa phải, hoặc trung bình, thì hạn Tam Tai nó gây cho ông nhiều khó khăn).

Theo tạp chí Khoa Học Huyền Bí


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Hạn tam tai

Đặc trưng của tướng phụ nữ lẳng lơ

Phụ nữ có mắt lá khoai hay tam bạch, môi mỏng, Nhân trung có tía đỏ...đều ham mê nhục dục, lẳng lơ, có xu hướng yêu đương vụng trộm.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

1. Mắt lá khoai

Dân gian có câu “Mắt lá khoai liếc chồng, chồng chết, liếc trai, trai mù”. Đây là tướng phụ nữ lẳng lơ, không đoan chính, đa dâm, cuộc sống gia đình sóng gió vì không tránh khỏi chuyện ngoại tình. Người này có ham muốn tình dục mạnh, không thỏa mãn với những gì đã có.
 

2. Mặt trắng pha hồng
 
Phụ nữ “mặt hoa da phấn”, sắc da trắng thêm chút hồng hào, hoặc mặt trắng có nhiều tàn nhang đều háo dâm, khả năng tình dục mạnh. Người này có số đa phu, không hưởng hạnh phúc trọn vẹn.

Dac trung cua tuong phu nu lang lo hinh anh
Ảnh minh họa

3. Môi mỏng

 
Trong Nhân tướng học, môi mỏng chưa nói đã vọng động là tướng tà dâm, mê nhục dục. Nữ giới môi mỏng không những thích nói chuyện thị phi mà còn thiếu thủy chung và chân thành. Người này điềm tĩnh, phản ứng nhanh nhạy với ngoại cảnh nhưng thường theo xu hướng nói xấu người khác, nên không được yêu mến. 
 
4. Nhân trung có tía đỏ ngang
 
Theo quan điểm nhân diện học, Nhân trung nữ giới thể hiện phần nào sự ham mê và khả năng tình dục. Nếu trên Nhân trung có tía đỏ hoặc hồng nằm ngay như sợi tơ nhện (rất nhỏ, phải tinh mắt mới nhìn thấy) là người phụ nữ lẳng lơ, ham mê nhục dục và háo sắc. 
 
Ngoài ra, nếu Nhân trung gẫy khúc, quanh mép hoặc miệng có sắc da xanh xám tự nhiên, không phải do bệnh tật đều là dấu hiệu của người dâm đãng, lẳng lơ.
 
5. Mắt tam bạch
 
Đặc điểm của tướng mắt này là phần tròng trắng nhiều hơn tròng đen, lâu dần khiến tròng đen bị bao bọc biến thành loại mắt tam bạch tạm thời. Thông thường hiếm thấy loại mắt này, nhưng vì đắm say nhục dục nên sau thời gian ngắn sẽ xuất hiện. Tướng phụ nữ này không gian tà thì dâm đãng, đam mê nhục dục.
 
6. Lệ đường xuất hiện màu xanh đen
 
Thông thường lệ đường không có sắc xanh đen, nhưng vì giao hoan lạc thú nên xuất hiện. Đồng thời có lằn xếp hay gân màu xanh xám hoặc hồng chạy về đuôi mắt là tướng đàn bà có xu hướng yêu đương vụng trộm, trốn chồng ngoại tình.
 
7. Phía dưới mắt có nốt ruồi đen

Nếu nữ giới có nốt ruồi đen nổi rõ hoặc mắt ướt không phải do khóc là tướng tiện dâm, phóng khoáng trong chuyện tình dục. Đây cũng là một trong những đặc điểm dễ nhận thấy của tướng phụ nữ lẳng lơ, không chung thủy.

ST  
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Đặc trưng của tướng phụ nữ lẳng lơ

Quẻ Quan Âm: Quách Phần Dương Chúc Thọ

Quẻ Quan Âm thứ 68 Quách Phần Dương Chúc Thọ đoán rằng trong nhà có tin mừng, vui vẻ. Hôn nhân, ruộng vườn đều được thuận lợi, như ý.
Quẻ Quan Âm: Quách Phần Dương Chúc Thọ

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Đây là quẻ Quan Âm thứ 68 được xây dựng trên điển cố: Quách Phần Dương Chúc Thọ hay Quách Phần Dương Mừng Thọ.

Quẻ trung bình thuộc cung Mão. Người làm việc thiện thì sẽ có nhiều niềm vui trong đời. Người tận tâm tận lực sẽ có được phúc tinh chiếu đến.

Tích thiện chi gia, tất hữu dư khánh, trung nghĩa chi môn, củng chiếu phúc tinh.

Điển cố quẻ Quan Âm: Quách Phần Dương Chúc Thọ

Quách Phần Dương tức là Quách Tử Nghi (697 – 781) là Quận Vương quận Phần Dương đời Đường, là người huyện Trịnh, Hoa Châu, quê hương ở Phần Dương, Sơn Tây. Ông là nhà quân sự nổi tiếng đời Đường. Khi loạn An sử nổ ra, Quách Tử Nghi nhận chức Tiết độ sứ phương bắc, đánh bại sử Tư Minh ở Hà Bắc. Sau liên kết với Hồi Hột thu phục được hai kinh đô là Lạc Dương và Trường An, có công đầu trong việc dẹp loạn, được thăng chức làm Trung thư lệnh, phong làm Quận Vương quận Phần Dương.

Quách Tử Nghi văn võ song toàn, vừa được phú quý trường thọ, lại có con cháu đầy nhà, “bảy con trai tám con rể, đều làm quan lớn trong triều đình”. Như người con trai thứ sáu Quách Ái là Phò mã, con rể của vua Đường Đại Tông, kết hôn với công chúa Thăng Bình. Tương truyền vào ngày đại thọ sáu mươi tuổi của ông, do bảy con trai và tám con rể đều làm quan cao, khi chúc thọ, người nhà đặt “triều hốt”(*) lên giường , vậy mà để chật cả giường. Các cháu trai của ông nhiều đến mấy chục người, khi các cháu trai đến thăm hỏi, ông đều không thể phân biệt được ai là ai, chỉ gật đầu mà thôi.

(*) Triều hốt: Còn gọi là “thủ hốt”, “ngọc bản” hoặc “triều bản”. Thời cổ khi các quan văn võ đại thần vào triều kiến nhà vua, hai tay cầm hốt đề ghi lại lời vua, hoặc là ghi những lời muốn tâu với nhà vua lên đó, để tránh bị quên. Bắt đầu từ đời Thanh thì không sử dụng nữa.

Trong lễ đại thọ sáu mươi tuổi của Quách Tử Nghi, bảy người con trai và tám người con rể đều đến chúc thọ, cảnh tượng hoành tráng, hết sức náo nhiệt. Chỉ có cô con dâu thứ sáu là công chúa Thăng Bình không đến, anh con trai Quách Ái trong cơn tức giận đã đánh cành vàng lá ngọc của hoàng đế, còn mắng rằng: “Ngươi cậy có cha làm hoàng đế mà không đến chúc thọ đúng không? Cha ta còn không thèm làm hoàng đế kia!” Công chúa rất tức giận, bèn nói lại với Đường Đại Tông, đã khơi nên tầng tầng lớp lớp sóng gió giữa Đường cung và Quách phủ.

Quách Tử Nghi biết được con trai mình đã đánh công chúa, liền đưa con trai đến tạ tội với Đường Đại Tông. Đường Đại Tông vì muốn giáo huấn con gái, giả vờ ra lệnh xử chém phò mã, khiến cho công chúa Thăng Bình hết sức kinh sợ, hối hận không kịp. Quách Tử Nghi nghe tin cũng rất hoảng sợ, Đường Đại Tông mới nói với Quách Tử Nghi rằng: “Những chuyện vụn vặt của nhi nữ nơi khuê phòng, hà tất phải nghĩ ngợi làm gì? Những người bề trên giả như điếc, coi như không nghe thấy.” Đường Đại Tông vì muốn vỗ về những bề tôi tài giỏi, không những không giáng tội Quách Ái, mà còn thăng chức thêm ba bậc, khiến cho Quách Ái cảm động đến rơi lệ.

Quách Tử Nghi tạ ơn hoàng đế, sau khi trờ về nhà cũng mắng cho con trai một trận. Hai vợ chồng trẻ Quách Ái lại hòa hợp như trước, dắt tay nhau cùng đến phủ Phần Dương chúc thọ dâng lễ, không khí trong phủ rất vui vẻ.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Quẻ Quan Âm: Quách Phần Dương Chúc Thọ

Phán đoán nghèo hèn thọ yếu bệnh tật

Bậc đại nho Khổng Tử, khi sống từng long đong như con chó của nhà có tang, không thể đừng được, đành phải thốt lên, Tử sinh hữu mệnh, phú quý tại trời. Đem Khổng Tử ví như con chó của nhà tang, vốn là lời của Cô bố Tử Khanh người nước Trịnh (theo sử ký - Khổng Tử thế gia) sau khi lén quan sát tướng mạo Khổng Tử, đã nói với học trò ông là Tử Công, về sau Tử Công đem đúng lời ấy nói lại với Khổng Tử, Khổng Tử đã không nổi giận mà còn cười: hình dạng (tướng người), là mạt hạng, nhưng bảo giống con chó nhà tang (ý muốn nói là thần sắc hoàng tốt).
Phán đoán nghèo hèn thọ yếu bệnh tật

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Phải thôi, phải thôi! Do phấn đấu cả đời người mà chưa thi thố được tài năng về chính trị, cuối cùng Khổng Tử phải làm ông thầy dạy học, sau khi đã bươu đầu sứt trán, bất đắc dĩ phải cúi đầu nhận mệnh. “Không biết mệnh, không phải là nhà nho”, đó là ông tự vận vào mình sau khi bị nhiều lần thất bại, tâm tình ngày càng đi xuống, thế thì làm thế nào để “biết mệnh” được sớm? Thời Khổng Tử còn sống. Ngoài một số tướng thuật lẻ tẻ ra, đó là một việc không thể làm được, vì rằng lúc đó chỉ biết có mệnh mà không biết cách đoán mệnh.

Sau khi đã phát minh ra thuật đoán mệnh, do bởi tuân theo lời di huấn của bậc đại sư nho giáo, phần lớn là nghiên cứu dự đoán phú quý nghèo hèn, thọ yểu bệnh tật của một con người, tự nhiên đó là mục đích chủ yếu của thuật đoán mệnh.

Tại sao cũng một con người, sau khi sinh ra hoàn cảnh mỗi người lại khác nhau? Theo cách giải thích của nhà mệnh lý học. Tức là khi người đó mới thụ thai, khí âm dương giao lưu, chân tinh hoà hợp, nếu tiếp nhận được thanh khí thì có trí lực, tài năng, nếu tiếp nhận trọc khí thì sẽ ngu đần, có tài trí trong xã hội hẳn được lợi lộc nhiều, cho nên hoặc giàu hoặc thọ, nếu ngu đần làm ăn không phấn phát thì sẽ nghèo hèn mà chết yểu.

Nó phản ánh vào trong mệnh, tự nhiên sẽ hiện ra trong bát tự sao sinh của mỗi người.

Nói về cách tính tương lai của bản thân mệnh chủ, mỗi nhà mệnh lý học đều có một lô biện pháp của mình, đó là đoán phú quý nghèo hèn trước tiên phải xem can ngày trong mệnh của người đó có được lệnh hay không được lệnh, sau đó xem dụng thần có đắc lực hay không đắc lực, cuối cùng xem hành vận có thuận lợi hay không thuận lợi, nếu như can ngày đắc lệnh, dụng thân đắc lực, vận gặp tài quan, thường là phú nhiều phát phúc, đại cát đại lợi, ngược lại thì nghèo khó chao đảo, khổ không kể xiết.

Đoán sinh tử thọ yểu phải xem kỹ tuế vận và nguyên cục dụng thần là hỷ hay kỵ, nếu như tuế vận gặp kỵ thần trùm đấu, hỷ thần không cứu được, nếu nhẹ là hung, nặng thì chết. Nhưng cũng có cách nói. Lấy “tháng sinh mà định” (ngọc môn quan tập) rằng: thọ sinh lấy tháng sinh mà định, tháng sinh ở vào chỗ can chi nạp âm vượng, là ngũ hanh tương sinh không nghịch, giò Tỵ cùng thai, đều đắc số không cùng hình khắc, chủ thượng thọ. Ngoài ra trích thiên tuỷ có cách nói về phú quý nghèo hèn thọ yểu, có ảnh hưởng rất lớn:

1. Làm thế nào biết người ấy giàu, tài khí thông qua cửa ngõ

Thế nào gọi là tài khí thông qua cửa ngõ? Lưu Cơ chú giải rằng: tài liệu thân cường, quan tinh vệ tài, kỵ ấn mà tài có thể phá ấn, hỉ nhật mà tài có thể sinh quan, thương quan trọng tài thần lưu thông, tài thần trọng mà thương quan có hạn vô tài mà ám thành tài cục, tài bộ mà thương cùng lộ, đó đều là tài khí thông cửa ngõ, cho nên giàu. Nhậm Thiết Tiều thì nói bổ sung: tài diệu thân nhược không có quan, tất phải có thực, thương. Thân vượng tài vượng thì không có thực, thương, hẳn phải có quan có sát. Thân có ấn vượng thực, thương nhẹ, tài tinh đắc cục. Thân vượng quan suy ấn thụ nặng, tài tinh đương mệnh. Thân nhảy sang kiếp, không tài ấn mà có thực thương. Thân nhược tài trọng, không quan ấn mà có tỉ kiếp, đều là tài khí thông của ngõ. Do ở mệnh cục, cách luận tài cũng giống luận thê, cho nên có cách nói “thân tài thân thanh mà thân vượng thì vợ đẹp, tài thần trọc mà thân vượng thì giàu có, nếu đi sâu vào nghiên cứu thì thuyết của họ Nhậm có thể tham khảo được. Ông nói: nếu thân vượng có ấn, quan tinh tiết khí, tứ chi không thấy thực, thương đều là tài tinh sinh quan, không thực, thương thì tài tinh cũng nông, chủ thể đẹp nhưng tài mỏng. Thân vượng không có ấn, quan nhược phùng thương, đắc tài tinh hoá thương sinh quan, thì cũng thông căn quan cũng được giúp, không những thê đẹp mà phú dày, thân vượng quan nhược, thực, thương trung kiến, tài tinh không thông với quan, nhà tuy phú nhưng thê xấu. Thân vượng nguyên quan, thực, thương có khí, tài tinh không liền với kiếp, không ấn mà thê, tài đều đẹp, có ấn thì tài vượng mà thê tổn thương. Bốn điều đó cần nghiên cứu kỹ.

Bát tự của mệnh:

Năm Giáp Thân Tháng Bính Tý

Ngày Nhâm Dần Giờ Tân Hợi

Nhâm Thuỷ sinh vào tháng giữa đông, dương nhận đương quyền, xem bề ngoài, chi ngày Dần thực thần Giáp Mộc bị Thân Kim xung phá nhưng hay ở chỗ chi ngày chi giò Dần Hợi hợp cục, hai cái đó là đất của niên can trung hoà và nguyệt can Bính Mộc Hoả trường sinh, thêm vào Tý Thân hợp Thuỷ, Thân Kim không những không xung Dần Mộc và sau khi hợp Thuỷ Thực Thần Giáp Mộc ngược lại được sinh phú, cho nên nói tài khí thông với cửa ngõ, là mệnh của phú ông trăm vạn, phàm là mệnh của bậc cự phú, không phải là tài tinh nhiều ít, chỉ cần sinh hoá có tình, thì tài khí sẽ thông cửa ngõ. Nếu tài tinh lâm vượng địa chi nên kiến quan vì quan tinh có thể làm tiết bớt khí của tài tinh. Nếu như nhật chủ thất lệnh thì hẳn phải có tỷ kiếp tương trợ mới là đẹp và tốt.

Bát tự của mệnh:

Năm Nhâm Thân Tháng Bính Ngọ

Ngày Quý Hợi Giờ Mậu Ngọ

Quý Thuỷ sinh vào tháng giữa mùa hạ, lại gặp giờ Ngọ tháng theo trụ giờ thấu xuất Bính Hoả Mậu Thổ, khó tránh được tài quan quá vượng. Hay ở chỗ trụ ngày Quý Thuỷ đắc địa, càng hay hơn là can năm Nhâm chi tiết toạ trường sinh, thân vượng Nhậm được tài quan, thêm vào ngũ hành không có Mộc, Thuỷ không tiết mà Hoả không trợ, cho nên lấy can năm Nhâm Thuỷ làm dụng thần. Sau đó vận đi về Tây Bắc, Kim Thuỷ đắc địa tuy nói di sản của tổ tiên để lại không nhiều, tay trắng làm nên, trở thành người giàu có 4-5 chục vạn.

2. Làm thế nào biết được quý (sang) quan tinh có lý hội

Giải thích về quan tinh có lý hội, Lưu cơ cho rằng: “quan vượng thân vượng, ẩn thụ vệ quan kỵ kiếp nên quan có thê khử kiếp, hỉ kiếp mà quan có thể sinh ấn, tài thần vượng mà quan tinh thông đạt, quan tinh vượng mà tài thần có đốt, không quan mà ngầm thành quan cục, quan tinh tàng mà tài thần cũng tàng. Những cái đó đều làm quan tinh có lý hội, cho nên quý.

Nhậm Thiết Tiêu thì nói: Thân yếu quan nhược, tài có thể sinh quan. Quang vượng thân nhược, quan có thể sinh ấn. An vượng quan suy, tài có thể phá hỏng ấn. ấn suy quan vượng, tài tinh không hiện. Kiếp nặng Tài nhẹ, Quan có thể khử Kiếp. Tài tinh hoại ấn, quan có thể sinh ấn. Dùng quan quan tàng tài cũng tàng dùng ấn lộ, quan cũng lộ, các quan tinh có- lý hội cho nên quý hiển vậy. Trong mệnh cục do luận quan và luận con cách làm giống nhau, cho nên lại có cách nói! Quan tinh thanh mà thân vượng thì quý, quan tinh trọc (đục) mà thân vượng thì nhiều con về chỗ này, Nhậm Thiết Tiêu nói thêm: nếu thân Vượng, quan vượng ấn cũng vượng, cách cục rất nhanh mà thương, thực tứ trụ, chẳng lẫn chút nào, tài tinh lại không xuất hiện, tình của quan tinh dựa vào ấn, tình của ấn dựa vào nhật chủ, chỉ sinh được một người, cho nên có quan không có vậy. Dù thực thương có hơi tạp cũng bị ấn tinh khắc, can cũng gian nan. Nếu thân vượng, quan vượng, ấn vượng, thực thương ám tang, không thương tổn quan tinh, không bị ấn tinh khắc, tự nhiên quý mà đông con. Nếu thân vượng quan suy, thực thương có khí, có ấn mà tài có thể hoại ấn, không tìa mà ngầm thành tài cục, không quý mà đông con và giàu. Nếu thân vượng quan suy, thực thương vượng mà không tài, có con tất nghèo, nêu thân nhược quan vượng, thực thương vượng mà không có ấn, nghèo mà không có con, hoặc có ấn phùng tài cũng theo luận thuyết này.

Bát tự của mệnh: Đại vận

Năm Đinh Dậu Ất Tỵ

Tháng Bính Ngọ Giáp Thìn

Tháng Bính Ngọ Giáp Thìn

Đông phương

Ngày Mậu Dần Quý Mão Mộc địa

Giáp Mộc trong Dần là sát dụng thần

Giờ Đinh Tỵ Nhâm Dần

Tân Sửu Bắc phương

Canh Tý Thuỷ địa

Mệnh này được tạo nên, nhật chủ Mậu Thổ, sinh vào tháng Ngọ giữa mùa hạ, Hoả khí viêm thịnh, lại gặp Hoả của Bính Đinh can chi năm, tháng, giờ sinh phù, Thổ của Mậu Kỷ trợ thân có thể nói thân cực vượng. Vượng lắm nên chế nên tiết cho nên lấy Dần trong chi ngày chế Giáp Mộc của ta thất sát, hoặc trong chi năm tiết Tân Kim trong Dậu của ta, lấy làm dụng thần. Lại xem hành vận, sớm trong năm Dần Mão Thìn Hợp Mộc, vạn hành phương đông được Mộc chế khắc, giữa và cuối năm chuyển sang Bắc phương Tý Sửu Thuỷ Vận, Thuỷ vượng sinh sát, cho nên là mệnh quý và quá phú.

Bát tự của mệnh: Đại vận

Năm sát Quý Mão Nhâm Tuất Tây phương

Tháng sát Quý Hợi quan ấn Tân Dậu Kim địa

Ngày Đinh Mão ấn Canh Thân

Kỷ Mùi Nam phương

Giờ Tân Hợi Mậu Ngọ Hoả địa

Đinh Tỵ

Trong cục quan sát nắm quyền, tựa hồ thương uý, tốt ở địa chi Hợi Mão cung ấn, lưu thông Thuỷ khí, cho nên quan tinh có được lý hội. Đầu vận Tân Dậu. Canh Thân sinh sát hoại ấn, công danh đau tranh. Kỷ Mùi nhất vận, đại vận địa chi Mùi sẽ cảm ứng với mệnh cục Mão suy: Đại vận thiên can thấu xuất thực thần Kỷ Thổ, cho nên vận trình đi lên. Từ đó về sau Mậu Ngọ, Đinh Tỵ, thương sát thấu ra Tỷ kiếp trợ Thân, nên con đường thi cử huy hoàng, do đó có thể thấy, có mệnh ấy thì được vận ấy, nếu không chỉ mãi là hàn nho.

Bát tự của mệnh: Đại vận

Năm quan Quý Dậu Bính Thìn Đông phương

Ât Mão Mộc địa

Tháng kiếp Đinh Tỵ Giáp Canh

Ngày Bính Ngọ Quý Sửu Bắc Phương

Giờ sát Nhâm Thìn Nhâm Tý Thuỷ địa

Tân Hợi

Bính Hoả sinh vào tháng đầu mùa hạ, toạ lộc lâm vượng, lại gặp can tháng Đinh kiếp trợ thân, cho nên bản thân thuộc cường, tốt ở địa chi Kỷ Dậu cung Kim, tài có thể sinh quan, quan lại chế kiếp. Càng hay hơn là Can giờ thấu xuất Nhâm Thuỷ, giúp khởi can năm quý quan, trỏ thành tượng ký tế của trụ tháng trụ ngày, kết hợp đại vận, một khi tiền vào Bắc Phương Thuỷ Địa, đăng khoa phát giáp, danh lợi đều sáng.

Bát tự của mệnh: Đại vận

Năm Tài Giáp Ngọ sát ấn Đinh Mão

Tháng quan Bính Dần tài quan ấn Mậu Thìn

Ngày Tân Dậu tỉ Ky Tị

Giờ ấn ẩn tỉ thực Canh Ngọ

Tân Mùi Nhâm thân Quý Dậu

Mệnh này bản thân can ngày Tân Kim, can năm tài tinh, can tháng quan tinh, can giờ ấn tinh, đều thông căn lộc vượng. Canh Ngọ nhất vận, 5 năm trước canh vận đeo vào người, nên trong vận năm Quý Dậu đăng khoa phát Giáp, sau 5 năm Ngọ vận thì sát vượng bệnh phát, thân thuộc hình tang đi đến Tân vận, tỉ đến trợ thân ở năm Kỷ Mão phát giáp lên cao, sau đó vận đi đến Kim Thuỷ. Giúp Thân chế sát, tung cánh bay cao.

Bát tự của mệnh: Đại vận

Năm Ất Tỵ Canh Thìn

Tháng Tân Tỵ Kỷ Mão

Ngày Canh Thìn Mậu Dần

Giò Giáp Thân Đinh Sửu

Canh Kim ở vào ngày 5 lập hạ, Thổ đương lệnh mà Bính Hoả lại chưa nắm quyền, sinh canh Kim toạ thực, thêm vào chi Thìn, giờ Thân, sinh phù đều vượng, can tháng Tân kiếp, chi năm trường sinh là giúp, có thể thấy đấy là mệnh chưa sát ít. Phân tích trong mệnh tuy chi năm thấu xuất tài tinh nhưng tài tinh này vô căn mà gặp kiếp, cho nên có thê bói khi giao vào Đinh vận, do quan tinh nguyền thần phát lộ. Cho nên trong 2 năm Mậu Dần, Kỷ Mão tài tinh đắc địa. Thời hỉ dụng đều đến, khoa Giáp cùng đạt, sách nói: lấy sát hoá quyền, hiện rõ vẻ quý nơi cửa.

3. Sao biết người ấy nghèo

Tài thần Phân Bất gọi là “tài thần Bất Trân”, Nhậm Thiết Tiều cho rằng đại thể có 9 loại tình hình: một là tài năng mà thực, thương nhiều, hai là tài nhẹ hỉ thực, thương, mà ấn lườm tổn tài, ba là tài nhẹ kiếp nặng mà kỵ thấy thực thương, bốn là tài nhiều kiếp nhẹ mà quan tinh chế kiếp, năm là hỉ ấn mà tài tinh hoại ấn, sáu là kỵ ấn mà tài tinh sinh quan, bảy là hỉ tài mà tài hợp giảm thần mà hoá, tám là kỵ tài mà tài hợp gián thần hoá tài, chín là quan sát vượng dung ấn mà tài tinh đắc cục, đều là: phàm mệnh bại nghiệp phá gia, mới xem tựa hồ tốt đẹp, không tài quan đều đẹp thì can chi đều thanh không sát ấn tương sinh, thì tài làm vượng địa, không biết tài quan tuy có thể dưỡng mệnh vinh thân, đầu tiên nhật chỉ phải vượng tướng, mới có thể đảm đương tài phú, nếu thái quá bất cập, đều là bất trân, có thể tán có thể hao; rốt cục không thể phú quý được.

Bát tự của mệnh: Đại vận

Năm Quý Mão Quý Sửu

Tháng Giáp Dần Nhâm Tý

Ngày Đinh Tỵ Tân Hợi

Giò Kỷ Dậu Canh Tuất

Mệnh này Dậu tài tàng mà Quý sát lộ và sát ấn nối liền Bắc Phương, nhưng do sát can năm vô căn và tinh hoa của sát bị ấn thụ lấy mất, cho nên không dùng Quý Thuỷ làm dụng thần. Lại xem tài của Dậu Kim ở chi giờ, bên trên có Kỷ Thổ che trùm đầu, xem ra là đẹp nhưng mà toàn bộ cách cục Mộc vượng Thổ hư, tướng Hoả phùng sing, cho nên Kỷ Dậu không hội Kim thành tài, khiến cho tài tinh bất chân. Kết hợp đại vận khi giao Nhâm Tý, tiết Kim sinh Mộc, làm suy bại hết tổ nghiệp. Sau đó đi đến Quý vận, ấn gặp trường sinh, sẽ bị chết đói.

Bát tự của mệnh: Đại vận

Nảm Tân Sửu Ất Mui

Tháng Bính Thân Giáp Ngọ

Ngày Qúy Tỵ Quý Tỵ

Giò Canh Thân Nhâm Thìn

Trong mệnh Bính tài tọa lộc, trong Sửu nhất sát độc thanh, xem ra tựa tốt đẹp, đáng tiếc trong cục ấn tinh qúa nặng, Sửu sát sinh ấn che tài, thêm vào Bính Tân Kim hợp mà hoá Thuỷ, biến tài thành kiếp, canh thân ở Tỵ, tài càng bất chân. Đầu hành vận, người Ất Mùi, Giáp Ngọ, Mộc Hoả đều vượng, thực thần sinh tài. Tổ nghiệp phong lưu. về sau một khi giao với Quý Tỵ, Tỵ cùng Thân Kim trong mệnh, đều hợp thành Thuỷ, khắp nơi Tỷ kiếp, bại tan như vôi, cuối cùng lâm cảnh ăn mày.

4. Sao biết người đó hèn

Quan tinh vẫn không thấy, Nhậm Thiết Tiều cho rằng quan tinh không thấy là do 3 tình huống, mức trên, mức giữa và mức dưới. Quan nhẹ, ấn nặng, thân vượng hoặc quan nặng ấn nhẹ, thân nhược, hoặc quan ấn bằng nhau, nhật chủ hưu tù, đây là quan tinh không thấy ở mức trên. Quan nhẹ, kiếp nặng, vô tài hoặc quan sát nặng vô ân, hoặc tài nhẹ kiếp nặng, quan phục, đó là quan tinh không thấy ở mức giữa.

Quan vượng hỉ ấn, tài tinh hoại ấn hoặc quan sát nặng vô ấn, thực thương cường chế hoặc quan nhiều kỵ tài, tài tinh đắc cục hoặc hỉ quan tinh mà quan tinh hợp với thần khác mà hoá thương, hoặc kỵ quan tinh, thần khác hợp quan tinh mà lại hoá quan, đó là quan tinh không thấy ở mức dưới.

Bát tự của mệnh:

Năm Đinh Sửu Tháng Nhâm Tý

Ngày Đinh Hợi Giờ Giáp Thìn

Đinh Hoả sinh vào giữa mùa Đông, Can tháng thấu xuất Nhâm Thuỷ, địa Chi Hợi Tý Sửu hội bắc phương Thuỷ cục, mà Thìn lại là đất ướt. Không thể không chế được Thuỷ mà còn làm mò Hoả, thêm vào nhật chủ hư nhược, Giáp Mộc khô héo, Mộc ướt không thể sinh ra ngọn lửa được. Cho nên quan tinh vượng cực bất chân, trở thành tượng trong và khô. Tốt ở trong cục không có Kim, khí thế thuần trong, là người học vấn thực sự, xử thế không câu nệ, lấy việc dạy học làm kế sinh sống hàng ngày, chịu phận thanh bần, đó gọi là “quan tinh không thấy ở mức cao”

Bát tự của mệnh: Đại vận

Năm Bính Thìn Tân Mão

Tháng Canh Dần Nhâm Thìn

Ngày Bính Ngọ Quý Tỵ

Giờ Nhâm Thìn Giáp Ngọ

Ất Mùi

Mệnh này Canh tài lâm vào tuyệt địa, vô căn, khí quan tinh cũng không đủ, vận đi về đông nam đất của Mộc Hoả, cho nên lúc nhỏ chết cha, mẹ đi lấy người khác, mấy năm sau mẹ chết, chăn trâu sông qua ngày. Lúc mối lớn lên đi ở kiếm sống, về sau không may mù cả hai mắt, không làm thuê mà đi xin ăn để sống.

5. Sao biết người ấy cát

Hỉ thần là phù bật hỉ thần là dụng thần phù bật, thuộc về cát thần trong tứ trụ nếu như có hỉ thân dụng thần có thể cả đời cát nhiều hung ít. Ngược lại trong tứ trụ không có hỉ thần xuất hiện, tuy có dụng thần nêu tuế vận không gặp kỵ thần xung khắc thì thôi, nếu qủa gặp kỵ thần, phần lớn khó tránh hung tai.

Bát tự của mệnh:

Năm sát Giáp Tý Tháng ấn Bính Dần sát ấn tĩ

Ngày Mậu Dần Giờ Kỷ Mùi

Đầu xuân, đất lỏng cát vượng phùng tài, cho nên lấy chính ấn Bính Hoả là dụng thần. Chi năm tài tinh sỏ thích cách với quả ấn và tài sinh sát, sát sinh ấn, có sinh sinh không sạch, lại lấy giờ Mùi giúp bản thân làm hỉ thần, hơn nữa tứ chi thuần tuý, chủ tòng đắc nghi thần, cho nên sớm đăng khoa Giáp, cả đời chỉ cát không hung, làm tới chức quan sát. Cuối đòi về hưu, phu phụ song toàn, thọ đến 80, mấy đời con cháu đều thi cử đỗ đạt

Bát tự của mệnh:

Năm Bính Thân Tháng Kỷ Hợi

Ngày Canh Thìn Giờ Mậu Dần

Đây là hàn Kim hỉ Hoả, can năm Bính Hoả được chi giờ Dần Mộc tương sinh, thì Hoả có ngọn lửa, nhưng dụng tài sát đầu tiên phải thân ngày vượng, hiện tại can ngày Canh Kim hỉ phùng Kim trong chi năm là lộc và tam ấn can tháng Kỷ Thổ, can giờ Mậu Thổ, chi ngày Thìn Thổ đều sinh, thêm vào chi Hợi Thuỷ đương quyền, thân Kim tham sinh không xung Dần Mộc. Xem cả toàn cục, không Hoả thì Thổ đông Kim hàn, không Mộc thì Thuỷ vượng Hoả hư, cho nên cân nhắc lấy Hoả làm dụng thần, Mộc làm hỉ thần, cả hai Mộc Hoả không thể thiếu một. Trong đoàn viên trúng hỉ, dụng thần. Cho nên cả đòi không hung không hiểm, đăng khoa phát Giáp, quan chức lên cao, con cháu đều đẹp, thọ ngoài 80 tuổi.

6. Sao biết người ấy gặp hung

Kỵ thần theo Triển Thế Công nói: gọi là kỵ thần tức là thần làm tổn hại dụng thần. Kỵ thần trong bát tự là bệnh, hỷ bệnh không thuốc. Có bệnh có thuốc là cát, có bệnh không thuốc là hung, như người sinh tháng Dần, nếu không dùng Giáp Mộc mà dùng Mậu Thổ, thế thì Giáp Mộc khắc Thổ sẽ thành kỵ thần của đương lệnh. Lúc này trong mệnh cục của nhật chủ nêu có Hoả hoá Mộc, có Kim chế Mộc, Hoả Kim này sẽ thành hỉ thần, nếu từ đó về sau hành vận càng phù hỉ ức kỵ đều có thể chuyển hung thành cát. Ngược lại nếu trong mệnh trong vận không có Hoả hoá Mộc, không có Kim chế Mộc, trái lại có Thuỷ sinh Mộc, có Mộc nuôi Mộc thế thì tai hoạ nhiều bề, đến già cũng không cát, ngoài ra, tuế vận tuy chưa thể phù hỉ ức kỵ nhưng cũng không kết bè với kỵ thần thế thì suốt đời không hung không cát làng nhàng đến già. Vì thế Lưu Cơ nói: tài cung không có khí, dụng thần vô lực, chẳng qua không phát đạt được mà thôi, cũng không bị hình hung. Còn như kỵ thần quá nhiều, hoặc hình hoặc xung, tuế vận trợ giúp. Chuyển sang công kích thần trong cục không được chuẩn bị, lại không theo chủ, không tránh khỏi hình tang phá bại, phạm tội, đến già cũng không cát.

Bát tự của mệnh: Đại vận

Năm Ất Hợi Đinh Sửu

Tháng Mậu Dần Bính Tý

Ngày Bính Tý Ất Hợi

Giờ Giáp Ngọ Giáp Tuất

Mệnh này Bính Hoả sinh vào ngày tháng Dần. Trong cục Dần Hợi hoá Mộc, năm đi vào Giáp Ất đều thấu, ấn tinh quá thịnh vượng mà chi ngày Tý Thuỷ lại bị chi giờ Ngọ Hoả xung phá, cho nên đành lấy can tháng khiếm Thổ làm dụng thần. Lại nhìn khí thế trong cục. Giáp Ất Mộc vượng, ngược lại được Hợi Tý Thuỷ sinh, đó là nói kỵ thần triển thế công vậy. Kết hợp vận trình, vận đầu Đinh Sửu, trợ khởi dụng thần, xuất thân cự phú, vui sướng đầy nhà. Khi giao với Bính Tý, Hoả không thông căn, Thuỷ trợ kỵ thần, nếu bố mẹ không chết, thì liên tiếp gặp Hoả tai. Vận đến Ất Hợi, Thuỷ Mộc đều vượng kỵ thần mỏ rộng, lại gặp Hỏa tai, khắc tam thê tự tử, nhảy xuống nước mà chết.

Bát tự của mệnh: Đại vận

Năm Tân Tỵ Kỷ Sửu

Tháng Can Dần Mậu Tý

Ngày Bính Thìn Đinh Hợi

Giờ Kỷ Sửu Bính Tuất

Ất Dậu

Bính Hoả tuy sinh vào tháng Dần nhưng xem rộng toàn cục Thổ Kim đều vượng, cho nên lấy Bính Mộc làm dụng thần. Nhưng Dần là cây non đầu mùa xuân, kỵ thấy Canh Kim che đầu nên lấy Canh là kỵ thần trong cục. Hành vận lúc đầu giao với Kỷ Sửu, Mậu Tý, sinh Kim tiết Hỏa, cha mẹ đều mất, sống cô độc không chịu nổi Đinh Hợi, Bính Tuất, vì Hoả đến Dậu đất Phương Bắc, không thể khử hết kỵ thần, cho nên trải đủ phong sương, lập nên gia nghiệp vừa phải. Khi giao với Ất Dậu, Ất hợp với can tháng Canh Kim, Dậu hợp với chi ngày Thìn Thổ mà hoá Kim, kỵ thần đắc thế, hình thê khắc tử, gặp Thuỷ tai mà chết.

7. Sao biết người ấy thọ

Tính định nguyên thần dày gọi là “tính định” tức là 4 chi trong cục đắc địa, ngũ hành dừng đều, những gì hợp đều là gian thần, những gì hoá đều là dụng thần, những gì xung đều là kỵ thần, những gì lưu đều là hỉ thần. Khuyết nguyên không hãm, không thiên lệnh không bóp méo. Con người “tính định” không tham yêu đương, không làm việc cẩn thả, là người nhân hậu hoà bình, nhân đức đều đủ, cho nên nhiều phúc, nhiều thọ. Gọi là “nguyên thần dày” tức là 4 chi trong cung nhược, gặp tài, tài nhẹ, gặp thương, thân nhược có ấn thụ sinh thân, thân vượng có Thực, Thương, Thổ ra, những gì hỉ đều là thần của đề cương, những gì kỵ là vật thất lệnh, hơn nữa đề cương có tình với chi giờ, hành vận cũng hỷ dụng thần không dừng, cho nên phú và thọ.

Bát tự của mệnh:

Năm Tân Sửu Tháng Quý Tỵ

Ngày Giáp Tý Giờ Bính Dần

Mệnh này tứ trụ thông căn sinh vượng, đầu nguồn lưu thông, rất là đặc sắc. xem trước 4 chi, bản thân Giáp Mộc, quy lộc ở chi giờ, ấn thụ Quý Thuỷ lộc ở chi ngày, thực thần Bính Hoả, lộc ở chi tháng, quan tinh Tân Kim, chi toạ bại địa. Lại xem ngũ hành chi tháng Tỵ Hoả sinh chi năm Sửu Thổ. Chi năm Sửu Thổ sinh can năm Tân Kim, can năm Tân Kim sinh can tháng Quý Thuỷ, can tháng Quý Thuỷ sinh can ngày Giáp Mộc, can ngày Giáp Mộc sinh can giờ Bính Hoả, Bính Hoả lại toạ ở trường sinh địa, có thể nói là nguồn xa chảy ra. Vì vậy, người có mệnh chủ này nhân đức đều đủ, cương nhu giúp nhau, chức ở tam phẩm, giàu có trăm vạn, thọ đến trăm tuổi, chỉ chết vì già.

Bát tự của mệnh:

Năm Ất Mùi Tháng Mậu Dần

Ngày Ất Mão Giờ Canh Thìn

Đông phương này chĩa thẳng vào nhân thọ cách, do Hoả khí trong cách suy vi, tài thần suy nhược nguyên khí, Mộc thế quá vượng, quan tinh mỏng mảnh vô cấn, cho nên suốt đời lận đận, trọng nghĩa khinh tài sông nếp thanh bần, nhưng hay ở đông phương nhất khí, nhân thọ thành cách. Lưu Cơ nói rằng: “khí của Giáp Ất Dần Mão lớn, không gặp xung chiến tiết thương, thiên vượng phù phiếm, có được an nhàn nên thọ. Mộc thuộc nhân, nhân thì tho, ai cũng ứng nghiệm”. Vì vậy tuy cuộc sống thanh bần nhưng thọ đến 94 tuổi mới mất.

8. Sao biết người ấy yếu, khí đục thần khô

Gọi là “khí đục”, Nhậm Thiết Tiêu cho rằng: đục tức là nhược. Người khí đục, nhật chủ thất lệnh. Dụng thần nông mỏng, kỵ thần sâu nặng, đề cương cùng chi giờ không chiếu nhau, chi năm và chi ngày không hoà, hỉ xung mà không xung, kỵ hợp mà không hợp, hành vận vô tình với hỉ dụng thần, ngược lại kỵ thần kết bè đãng, tuy không thọ nhưng có con. Gọi là “thần khô”, Nhậm Thiết Tiêu nói tiếp: thần cây bách, thân nhược mà ẩn thụ quá nặng, thân vượng mà đều không khắc tiết. Nhưng trọng dụng ấn mà tài tinh hoại ấn, thân nhược vô ấn mà trùng điệp thực, thương hoặc Kim hàn Thuỷ lãnh mà Thổ ướt hoặc Hoả bốc Thổ táo mà Mộc Khô, đều chết yểu mà không con. Lưu Cơ đã khái quát chung rằng i mệnh khí nhờn thần khô rất dễ xem., An thụ quá vượng, nhật chủ không có cái gì đến, tài sát quá vượng, nhật chủ không chỗ dựa, kỵ thần và hỉ thần tạp mà đánh nhau, tứ trụ nghịch với dụng thần mà tuyệt. Xung mà không Hoà, vượng mà không bị kiềm chế, ướt mà trệ, táo trên mặt, tinh lưu khí tiết, tháng bỏ giò thoát, đó đều là người không thọ.

Bát tự của mệnh:

Năm Đinh Sửu Nhâm Dần Bắc Phương

kỷ Thổ thương quan

Tháng Ọuý Mão Canh Tý Thuỷ Địa

Ẩt Mộc ân thụ dụng thần

Giờ thực thần

Mậu Tuất Ất Hợi

Mậu Thổ

thực thần Mậu Tuất Tây Phương

Đinh Dậu Kim Địa

Mệnh này Nhật chủ Bính Hoả, sinh tháng Mão giữa mùa xuân, Ất Mộc sinh Hoả, vốn thuộc việc tốt, đáng tiếc Kỷ Thổ trong chi năm Sửu. Mậu Thổ trong chi ngày Tuất, can chi trụ ngày lưỡng trùng Mậu Thổ, thực thương trùng trùng, khiến cho tự mình tiết khí quá nhiều, nhìn xem toàn cục khi lấy Ất Mộc ấn thụ làm dụng thần, đã có thể sinh ra mà còn chế phục được Thổ thái quá. Lại xem đại vận, từ Nhâm Dần về sau, cả một dày Hợi, Tý, Sửu là Thuỷ địa. Thuỷ tuy có thể chế Hoả nhưng Thuỷ lại có thể sinh Mộc, vận ở bước này không thể tốt hơn vận Mộc từ đông phương trực tiếp đến, nhưng lại không miễn cưỡng nói rằng đi qua. Nhưng một hành vận đi vào Tuất Dậu Kim địa, tuy nói Kim là tài vận nhưng Kim có thể khắc Mộc, tài tinh phá ấn, dụng thần bị chế, thế thì khó lòng giữ mệnh.

Bát tự của mệnh: Đại Vận

Năm Ấn thụ Ất Sửu Tân Kim Giáp Thấn

Tháng Ân thụ Ât Dậu Tân Kim, tử Quý Mùi

Ngày Bính Thìn Nhâm Ngọ

Giờ Chính tài Tân Mão Tân Tỵ

Mệnh này Bính Hoả sinh ở tháng Dậu tử địa, không có căn khí, thêm vào can giờ thấu xuất chính tài Tân Kim, chi năm chi tháng, Sửu Dậu cũng ngầm chứa chính tài Tân Kim, có thể nói là tài đa thân nhược, với mệnh tài đa thân nhược mà không có tỉ kiếp trợ thân, tốt nhất lấy ấn làm dụng thần, vì rằng ấn, có thể sinh Thân, cho nên dụng thần ở đây sẽ áp tại Ất Mộc sinh ta vậy. Nhưng can năm dụng ở Ất Mộc, tuy cùng can ngày cạn giờ Thìn Mão thông căn nối liền, nhưng từ tọa chi của hai Ất Mộc mà xét, sẽ rơi vào tài tinh Tân Kim, có thể gọi là tài đa thân nhược, với mệnh tài đa thân nhược mà không có tỉ kiếp trợ thần, tốt nhất lấy ấn làm dụng thần. Vì rằng ấn có thể sinh ta vậy, nhưng can năm dụng ở Ất Mộc, tuy cùng can ngày can giờ Thìn Mão thông căn nối liền, nhưng từ toạ chi của hai Ất Mộc mà xét, sẽ rơi vào tài tinh Tân Kim, có thể gọi là tài tinh phá ấn, trên dưới vô tình, ở trường hợp này, bề ngoài xem ra dụng thần tuy nhiên, nhưng lại không phải trân dụng, hơn nữa không có Tỷ, kiếp, lộc, nhậm sở hỉ trong mệnh bắt nhau, không khỏi gặp cảnh gian nan. Tốt ở đại vận Quý Mùi, Nhâm Ngọ, Hoả đến trợ Thân, can ngày đắc địa nên có thể lấy vợ sinh con, nhưng khi giao vào vận Tân Tỵ can ngày Tân trong vận tước bỏ dụng thần Ất Mộc, tài có thể hoại ấn, địa chi trong vận cùng chi năm, chi tháng Sửu, Dậu trong mệnh cấu thành Kim cục, lại ra sức khắc chế thương tinh, ấn tinh chứa trong chi ngày chi giờ trong mệnh, chết yểu khó tránh ở kiếp tinh.

Về vấn đề sinh, tử, thọ, yểu trong Uyên Hải Tử Bình ở phần Cách cục sinh tử dẫn dụng có 7 điều, nêu lên để tham khảo

1. Phàm là cách cục, tự có định luận, giờ nói tóm tắt. Ấn thị kiến Tài hành tài vận lại kiêm tử tuyệt, tất xuống suối vàng, nếu có Tỷ kiên, có thể giải.

2. Chính quan gặp sát và thương quan hình xung phá hại, tuế vận song hành, tất tử,

3. Chính tài thiên tài gặp tỷ kiên chia nhau đoạt, kiếp tài dương nhận, lại gặp Tuế vận xung hợp, tất tử

4. Cách của thương quan, tài vượng thân nhược, quan sát gặp lại, hỗn tạp dương nhận. Lại gặp tuế vận, tất tử, nếu sống bị thương tật.

5. Giữ lộc, giữ quý, sang bằng lại gặp quan xung, nhận gặp tuế vận.

6. Lộc ngày quy giờ, hình xung phá hại, gặp thất sát, quan tinh, không vong, quan sát đại kỵ, tuế vận cùng vận tất tử.

7. Các cách khác đều kỵ sát và san bằng tuế vận cùng đến, tất tử, Gặp các hung thần ác sát, ấn thụ không vong, điếu khách, mộ, bệnh, tử cung chư sát, thập tử nhất sinh. Quan tinh thái tuế, tài nhiều thân nhược, nguyên phạm thất sát, thân được cứu thì cát, không được cứu thì hung, Kim nhiều yểu chết, Mộc thịnh bay trôi, Mộc vượng thì yểu, Thổ nhiều si ngây, Hoả nhiều ngu dốt. Thái quá bất cập, không để câu nệ mà phải quả đoán, cần phải lý hội để tìm ra sinh tử.

Ngoài ra Tam mệnh thông hội ở quyển 8 nói: “Ngày Đinh Hợi, giờ Ất Tỵ, ngày giờ đều xung, tổn thương vợ con, Tỵ, Dậu, Sửu, Than Ty, Thìn 2 cục Kim thuỷ, tài cung đắc dụng nên phú quý vậy. Tiếp theo còn nêu hai ví dụ về Bát tự của mệnh, một là Nhâm Thìn, Giáp Thìn, Đinh Hợi, Ất Tỵ, nói đó là mệnh nghèo chờ chồng, một là Đinh Hợi, Giáp Thìn, Ất Hợi, Ất Tỵ, đó là mệnh ăn mày. Trên thực tế, do tồn tại khách quan nhiều loại không chuẩn xác, cho nên Trần Tố Am trong khán phú quý cát thọ bần tiện hung yếu pháp đã ra sức cổ vũ khuyến khích tư tưởng làm điều thiện, báo ứng nhân quả của Phật giáo. Lập luận của ông có ảnh hưởng lớn đến tư tưởng mệnh học của các thế hệ đời sau, cho nên chúng tôi đã trích dẫn sau đây:

Cách cục phú quý cát, nghèo hèn hung, lấy lẽ đã định tương đối chuẩn, nhưng dùng đoán mệnh cho người không ứng nghiệm hoàn toàn là do bản thân có thiện ác và gia tộc có thiện ác. Phúc thiện dâm là lẽ tất nhiên. Như người làm điều ác, mệnh quý đến nhất phẩm thì giảm xuống chỉ còn tứ, ngũ phẩm, mệnh đáng giàu trăm vạn thì giảm xuống còn 6 - 7 chục vạn, mệnh đáng thọ trăm tuổi thì giảm xuống còn 6 - 7 chục tuổi; mệnh đáng hưởng đủ ngũ phúc thì giảm xuống còn 1 - 2. Như người làm điều thiện, mệnh lẽ cực hèn mà được vinh hiển một phần, mệnh đáng cực nghèo, có được tài sản của kẻ trung lưu, mệnh đáng chết sớm mà thọ được mấy chục tuổi, mệnh đáng gặp nhiều hung mà tránh được vài ba. Lẽ đời kẻ làm điều ác sao được hưởng phúc? Người làm điều thiện sao lại gặp hoạ, há không biết phúc đã bị tổn, hoạ đã bị diệt sao? Người biết hoạ phúc sao không biết mệnh, biết thiện ác là âm của hoạ phúc thì là biết mệnh. Tuy vậy, biết thì có ích gì? Có thay đổi được không, xưa Viên Liễu Phàm tiên sinh gặp thầy pháp thuật đoán mệnh, nói đi thì chỉ dừng ở cống sĩ mà không có con. Do trình bày cặn kẽ lý lịch, lúc đầu cái gì cũng đúng, sau gặp vị cao tăng, hướng dẫn học tạo mệnh, tích được phép làm điều thiện và cầu khoa bảng, tích được phép làm điều thiện cầu con cái. Thiên số đã định, thi hai kỳ đỗ cao, điều pháp sư đoán không có gì không nghiệm, cho nên phàm muôn cầu phú quý cát thọ mà tránh nghèo hèn hung yêu thì phải biết tích thiện là cần, hàng ngày tự nhớ việc làm, phải luôn tâm niệm nhân đức, việc việc đều thiện, lâu sẽ được như ý muốn. Nếu cậy mệnh thiện mà dám làm điều ác, mong mệnh giúp đỡ mà không biết suy nghĩ lại, đó là loại người ngu nhất trong thiên hạ, là kẻ sĩ chẳng có ý chí gì.

Đoán mệnh, ngoài đoán giàu nghèo thọ yểu là chính ra, có sách đoán mệnh còn không quên đoán bệnh tật cho người. Muốn đoán bệnh tật trước tiên phải liên hệ ngũ hành với lục phủ, sau đó căn cứ nguyên lý sinh ngũ hành để phân tích. Theo lý luận của Ô y, sự tương phối của ngũ hành với ngũ tạng, lục phủ như sau:

Giáp mật (đỏm) Ất gan (can)

Bính tiểu tràng Đinh tâm

Mậu dạ dày (vị) Kỷ tì

Canh đại tràng Tân phổi (phế)

Nhâm bàng quang Quý thận, tâm bào lạc tam tiêu

Trong đó mật, dạ dày, đại tràng, tam tiêu, bàng quan thuộc lục phủ, tính chất thuộc dương, cho nên đều phối với dương can, gan, tâm, tỳ thận thuộc ngũ tạng, tâm bào lạc thì thuộc vào tâm, tính chất thuộc âm, cho nên đều phối với âm can, ca rằng:

Giáp đơm Ất can Bính tiêu tràng

Đinh tâm Mậu vị Kỷ tỳ hương

Canh thị đại tràng Tân thuộc phế

Nhâm hệ bàng thoát Quý thận tàng

Tam tiêu diệc hướng Nhâm trung ký

Bào lạc đồng quy nhập Quý phương

Lại nói rằng:

Giáp đầu Ất hạng Bính kiên cầu

Đinh tâm Mậu hiếp Kỷ thuộc phúc

Canh thị tề luân Tân vi cổ

Nhâm cảnh Quý túc nhất Thân phúc

Chú thích: hạng (gáy) kiến (vai) hiếp (sườn) phúc (bụng) tề (rốn) cổ (đùi) túc (chân) Nam Định.

Đồng thòi, người xưa còn liên hệ 12 địa chi với các bộ phận ở thân thể nhưng nó không quan trọng bằng liên hệ với ngũ tạng, cho nên thường không được coi trọng.

Bây giờ đem việc liên hệ 12 địa chi với các bộ phận ở thân thể, ghép thành bài ca như sau:

Tý thuộc bàng quang thuỷ đạo nhĩ

Sửu vi bào đồ cập tỳ dương

Dần dởm phát mạch tịnh lưỡng thủ

Mão bản thập chỉ nội can phương

Thìn Thổ vì tỳ thận hung loại

Tỵ nhi xĩ yết hạ cửu cang

Ngọ Hoả tinh thần tự nhãn mục

Mùi Thổ vị quản cách tích lương

Thân Kim đại tràng kinh lạc phế

Dậu trung tỉnh huyết tiểu trường tàng

Tuất Thổ mệnh môn thoái Hoả túc

Hợi thuỷ vi đầu cập thận nang

Chú thích: bào (tâm bào) đỗ (bụng) đởm (mật) lưỡng thủ (hai tay) thập chỉ (10 ngón) can (gan) hung (ngực) xĩ yết (răng yết hầu) cửu cang (hậu môn) nhãn mục (mắt) vị quản (dạ dày) cách (hoành cách mô) tích lương (cột sống) phế (phổi) thoái (đùi) Hoả (mắt cá) túc (chân)...

Khi xem cụ thể, lấy can chi ngày làm chính, kết hợp ngũ hành sinh khắc thái quá bất cập mà định. Ví dụ can ngày là Giáp, Ất Mộc. Trong bát tự tứ trụ xuất hiện Kim trong Canh, Tân, Thân, Dậu, Mộc sẽ bị khắc, có thể sẽ bị gan mật, kinh sợ, lao lực, tay chân tê cứng, gân cốt đau nhức, đầu váng mắt hoa, hoặc mồm méo mắt xếch, phải trái bị liệt hoặc quỵ ngã thành thương tật. Ví dụ can ngày sinh vẫn là Giáp, Ất Mộc, trong Bát tự tứ trụ xuất hiện Hoả nhiều trong Bính, Đinh, Tỵ, Ngọ mà không có thuỷ đến trợ giúp, lúc này Mộc khí bị tiết quá nhiều, có thể bị nội nhiệt miệng khô, đòm suyễn khạc ra máu, trúng phong không nói được, phụ nữ kinh nguyệt không đều: mang thai bị sẩy, trẻ con kinh phong cấp mạn tính, ho thở khóc đêm, da xanh xám. Tại sao Mộc bị Kim chế hoặc Hoả tiết quá nhiều mà sinh ra những chứng bệnh này, trong y học cổ truyền đã nói và phân tích nhiều, ở đây không đi sâu bàn luận.

Về cách xem bệnh tật nói ở trên, Trần Tố Am có cách kiên giải độc đáo của ông: xưa phân ngũ hành, luận về bệnh tật của người, không gì không hợp lý nhưng Ngũ hành tạng phủ kinh lạc của con người đều đủ, nhưng trong trụ mệnh trong vận của con người, ngũ hành vị tất đã đủ đầy, phải lấy một hành nào đó để đoán bệnh thì chia đủ linh nghiệm. Phải xem ngày và cách cục của nó, nêu mạnh khoẻ, trung hoà hoặc Hoả thuận đều là mệnh không có bệnh, nếu yếu đuối, xô tạp hoặc rũ xuống đều là mệnh có bệnh. Lại xem khí thế của thần, hoặc thái quá, hoặc bất cập, rồi kết hợp xem ngũ hành trong trụ trong mệnh mà tính, tức là không có Mộc mà sinh Mộc, khắc Mộc, xem thần Mộc sinh Mộc khắc mà có thể đoán Mộc có bị bệnh hay không. Còn như can chi phôi với đầu, mắt, tay chân là ý muốn nói tìm biết tín hiệu. Nếu các bệnh đều thuộc về tâm thì theo luận thuyết của danh y, đâu phải ngũ hành? Phải trích mấy trăm loại sách thuốc để đưa vào mệnh vậy.

Để giản tiện dễ nhớ, lấy một phần bài phú cổ trích ra sau đây:

Gân cốt sưng đau, do Mộc bị Kim làm tổn thương, mắt mờ tối hẳn do Hoả bị thuỷ khắc; Thổ hư gặp Mộc vượng, tỳ bị tổn thương; Kim nhược gặp Hoả viêm là bị bệnh huyết lại nói:

Mộc gặp Kim khắc, bị tai nạn ở lưng sườn, Hoả bị Thuỷ làm tổn thương, tất bị tật mắt; tâm yếu thỏ dội thuộc về Kim Hoả tương hình; tỳ vị tổn thương do Thổ Thuỷ khắc nhau, chi Thuỷ can đều có Hoả bốc nên bụng đau tim bị che; chi Hoả can đầu có Thuỷ tích nên nội chướng mắt mờ; viêm trên (Hoả) đốt Thổ ướt nên đầu váng mắt hoa, nhuận dưới (Thuỷ) thuần ướt không Thổ chế, thận hư tai rè; đom đóm nháy (Hoả tinh) thừa vượng lâm li (Hoả phong); trong gió (trung phong) mất tiếng, thái bạch (Kim tinh) cứng sắc hợp Đoài Khôn (Kim Thổ) mất hồn mất vía.

Kết hợp với học thuật của các học giả Đài Loan thời nay, Từ Bình Bát tự đại đột phá cho rằng: phàm mệnh người, cường Kim phạt Mộc, Thổ nặng Mộc gãy, thuỷ nhiều Mộc trỗi. Hoả viêm Mộc bị đốt, Mộc nặng không tiết đều là gan mật có bệnh”, “phàm mệnh người, thuỷ nhiều Hoả tắt, Thổ nhiều Hoả mờ, Kim nhiều Hoả biến, Mộc nhiều Hoả tắc, Hoả nhiều không tiết, đều là bệnh tiểu tràng, bệnh tim”. “Phàm mệnh người, Mộc nặng Thổ lún, thuỷ nhiều Thổ hoang, Kim nhiều Thổ hư, Hoả nhiều Thổ cháy, Thổ vượng không tiết, đều là bệnh ở tỳ vị”, “phàm mệnh người , cường Hoả làm chảy Kim, Mộc rắn Kim bị thương, Thổ nhiều Kim bị vùi, thuỷ nhiều Kim bị chìm, Kim vượng không tiết, đều là đại tràng và phổi có bệnh” “Phàm mệnh người, Thổ nhiều thuỷ tắc, Kim nhiều thuỷ đục, Hoả nhiều thuỷ bốc hơi, Mộc nhiều thuỷ co lại, thuỷ vượng không tiết, đều là bàng quang và thận có bệnh.

Cách xem tật bệnh ở mệnh cục, học giả Đài Loan Lương Tâm Minh trong cuốn Hiện đại mệnh học còn tích cực để mắt tới việc nuôi dưỡng hậu thiên, đã nêu lên cách nói “tiên thiên hậu thiên điều hoà phù nhau bổ sung cho nhau. Trong sách Luận kiên khang cư gia chính quyết ông nói: thần điều hậu là thần dược, rất quan trọng trong mệnh cục. Mệnh chính cách sinh vào hạ lệnh viêm nhiệt, cần có thuỷ điều hậu tư nhuận, nếu không trong cục Hoả nhiệt quá táo sẽ không tốt. về mặt ăn uống, ăn chất mát thì tốt cho thân thể, những thức ăn táo nóng thì nên ăn ít. Mệnh chính cách sinh vào mùa đông lạnh, cần điều hoà cho ôn ấm, để lạnh quá sẽ không tốt, cho nên ăn chất nóng có lợi cho thân thể”.

Nguồn: Quang Tuệ

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Phán đoán nghèo hèn thọ yếu bệnh tật

Con giáp nào không giỏi chiều người yêu

Với các chàng trai tuổi Sửu, Tuất... người yêu không nằm trong danh sách những người cần được chiều chuộng, cưng nựng.
Con giáp nào không giỏi chiều người yêu

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Chàng trai tuổi Sửu

Con giáp này chân thành, đôn hậu nhưng lại không giỏi việc ăn nói. Hơn thế, bản tính cố chấp của họ đôi khi tạo mâu thuẫn với mọi người. Trước mặt người tuổi Sửu, nếu đối phương nổi cơn thịnh nộ, họ bỏ ngoài tai mọi điều.

Suu-2727-1429547448.jpg

Khi đối phương thật bình tĩnh, chàng trai tuổi Sửu mới bắt đầu “bới lông tìm vết”, bày tỏ quan điểm mang tính triết lý của mình. Sẽ không có chuyện họ dùng lời đường mật để dỗ dành người yêu đâu nhé.

Chàng trai tuổi Tuất

Tính tình thẳng thắn, phóng khoáng là đặc trưng riêng biệt ở người tuổi Tuất. Họ làm việc gì cũng có chừng mực nhất định, trong chuyện tình cảm cũng vậy. Hiếm khi thấy người tuổi Tuất cưng chiều bạn gái bằng những lời có cánh hoặc các món đồ xa xỉ.

Tuat-3790-1429547449.jpg

Đôi khi chàng trai tuổi Tuất có tính khí hệt như một đứa trẻ, hay hờn dỗi và hiếu thắng. Đặc biệt khi xảy ra mâu thuẫn, anh chàng này sẵn sàng đấu lý tới cùng, khiến đối phương phải khuất phục chứ không bao giờ có điều ngược lại. 

Chàng trai tuổi Thìn

Phần đông chàng trai tuổi Thìn có tính cách mạnh mẽ, quyết đoán và vô cùng hiếu thuận. Đồng thời, họ biết quan tâm và chia sẻ tâm tư tình cảm với người khác. Được “nâng khăn sửa túi” cho anh chàng này, bạn thực sự vô cùng may mắn. Tuy nhiên, trong tình yêu, họ lại khá kiệm lời, không có định nghĩa dùng lời đường mật để lấy lòng đối phương.

Ngo-9898-1429547449.jpg

Người tuổi Thìn sẵn sàng cưng chiều về mặt vật chất cho người thân của mình, nhưng với người yêu lại hoàn toàn trái ngược. Theo con giáp này, tình yêu không phân biệt nam nữ, chủ động hay bị động mà quan trọng là tình cảm chân thành của hai bên dành cho nhau và không cần phải nói ra những lời thừa thãi khi mọi cử chỉ hành động của mình đều hướng về  một phía.

Mr.Bull (theo Dzyx)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Con giáp nào không giỏi chiều người yêu

SAO KIẾP SÁT TRONG TỬ VI

kiếp sát (Hỏa) *** 1. Ý nghĩa tính tình: - nóng tính, can trường. Nếu cùng với Thất Sát hay Thiên ...
SAO KIẾP SÁT TRONG TỬ VI

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

kiếp sát (Hỏa) 



***
1. Ý nghĩa tính tình:             - nóng tính, can trường. Nếu cùng với Thất Sát hay Thiên Hình thì tính càng nóng hơn, không nhẫn nhục được, dễ bị khích động, chọc tức             - hay sát phạt, giết chóc, gây tai họa, thiên về khuynh hướng độc ác, phá hoại và bất nghĩa hay tàn nhẫn. Về điểm này, Kiếp Sát đồng nghĩa với Thiên Không, Lưu Hà, Hỏa Linh, Địa Không, Địa Kiếp. Nếu ở Mệnh, Kiếp Sát ví như một Địa Kiếp thứ hai, vừa nóng tính, vừa ác tính. Do ý nghĩa trên, Kiếp Sát thường gây oán, báo phục, chạm tự ái, trả thù qua lại.

2. Ý nghĩa nghề nghiệp: Giống như Thiên Hình, Kiếp Sát chỉ sự mổ xẻ, châm chích. Do đó, nếu đi với bộ sao y sĩ (Tướng, Y) thì là bác sĩ châm cứu hay giải phẫu, thường trị liệu rất táo bạo.

3. Ý nghĩa của kiếp sát và một số sao khác: Đi với sao hung, Kiếp Sát tác họa rất mạnh và nhanh chóng.
Kiếp Sát, Thất Sát: không sợ chết, can đảm, liều mạng.
Kiếp Sát và Tứ Sát: nếu ở cung Tật thì bị ác bệnh.
Kiếp Sát, Thiên Giải hay Tuần Triệt: Thiên Giải, Tuần, Triệt chế được nóng tính hay ác tính của Kiếp Sát, làm cho tâm tính đầm, thuần trở lại.

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: SAO KIẾP SÁT TRONG TỬ VI

Xem độ chênh giữa 2 đường tình duyên để đoán biết hôn nhân

Chủ nhân của tướng bàn tay mà hai đường tình duyên trên hai tay bằng nhau có tính tình hiền lành, điềm đạm, không dễ nổi cáu hoặc tỏ ra khó chịu trong bất cứ hoàn cảnh nào.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Xòe hai bàn tay ở trạng thái tự nhiên, sao cho hai bàn tay đặt ngang bằng nhau. Sau đó bạn quan sát xem hai đường tình duyên ở hai tay thuộc kiểu nào dưới đây, bạn sẽ biết đời sống tình cảm, hôn nhân của mình ra sao.

Xem do chenh giua 2 duong tinh duyen tren tuong ban tay de biet hon nhan hinh anh
 
Kiểu 1: Đường tình duyên ở hai tay ngang bằng nhau

Theo kết quả khảo sát ở Nhật Bản, có tới 80% số người tham gia khảo sát có bàn tay kiểu này. Chủ nhân của tướng bàn tay này tính tình hiền lành, điềm đạm, không dễ nổi cáu hoặc tỏ ra khó chịu trong bất cứ hoàn cảnh nào.

Thông thường, chủ nhân kiểu tay này có thiên hướng hướng nội, thích chăm sóc gia đình, con cái hơn là ra ngoài xã hội phấn đấu.

Chính vì hết mực quan tâm và chăm sóc gia đình, nên đời sống tinh thần phong phú, tình cảm tốt đẹp, hôn nhân êm ấm và an lành.

Xem do chenh giua 2 duong tinh duyen tren tuong ban tay de biet hon nhan hinh anh 2
 

Kiểu 2. Đường tình duyên bên tay phải cao hơn


Sở hữu tướng tay mà đường tình duyên bên tay phải cao hơn tay trái, chứng tỏ bạn được khá nhiều người lớn tuổi hơn để ý và yêu mến.

Thường thì trong các mối quan hệ yêu đương, khoảng cách về tuổi tác giữa bạn và người ấy khá lớn. Những người lớn tuổi hơn, chững chạc hơn mang lại cho bạn cảm giác an toàn, tin tưởng để nương tựa suốt cuộc đời.

Vì thế, tình cảm, hôn nhân của người này cũng khá êm đềm, không phải trải qua nhiều sóng gió nếu kết hôn với người lớn tuổi hơn mình.

Kiểu 3: Đường tình duyên bên tay trái cao hơn

Kiểu tay này cho thấy chủ nhân của nó có ý chí kiên cường, luôn cố gắng không ngừng, phấn đấu không mệt mỏi trong cuộc sống, đặc biệt là sự nghiệp.

Cuộc sống của bạn là phải chuyển động không ngừng. Bạn thích tự mình trải nghiệm nhiều cung bậc cảm xúc, thích tìm tòi, khám phá điều mới lạ, thậm chí khi chinh phục được điều đó, bạn mới có cảm giác thành công.

Trong tình yêu, bạn luôn mong muốn có được mối tình cuồng nhiệt, thà trải qua chút sóng gió để tăng hương vị tình yêu, còn hơn là lúc nào cũng bình lặng, không có bước đột phá mới.

Trong tương lai, nhiều khả năng bạn sẽ lấy chồng xa hoặc kết hôn với người nước ngoài và có đời sống hôn nhân phóng khoáng, thoải mái, tự do làm những điều mình thích.

Việt Hoàng
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem độ chênh giữa 2 đường tình duyên để đoán biết hôn nhân

SAO THIÊN QUAN - THIÊN PHÚC

thiên quan (Hỏa) thiên phúc (Hỏa) *** 1. Ý nghĩa của thiên quan, thiên phúc: Cả 2 đều là phúc tinh và đồng ...
SAO THIÊN QUAN - THIÊN PHÚC

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

thiên quan (Hỏa) thiên phúc (Hỏa) 


***

1. Ý nghĩa của thiên quan, thiên phúc: Cả 2 đều là phúc tinh và đồng nghĩa với nhau:
a. Về tính tình:             - có thiện tâm, nhân hậu, hiền lành, đức độ, hay làm việc thiện, hay cứu giúp người             - có tín ngưỡng, tin tưởng nơi Phật Trời, nhân quả             - có khiếu đi tu, có thể đắc quả Hai sao này giống nghĩa với Tứ Đức và Thiên Giải, Địa Giải, Giải Thần
b. Về phúc thọ:             - chủ sự cứu giải tai họa, giảm bớt hung nguy             - giảm bệnh tật             - tăng phúc thọ do việc tu nhân tích đức, giúp người, người giúp

2. Ý nghĩa của thiên quan, thiên phúc và một số sao khác: Thiên Tướng, Riêu, Y và Thiên Quan, Thiên Phúc: bác sĩ rất mát tay, lương y chữa bệnh giỏi
Cơ Nguyệt Đồng Lương, Thiên Quan, Thiên Phúc: lương y, người hảo tâm, phúc thiện, hay làm công tác xã hội.
Tử, Tham đồng cung: đi tu, cứu độ được nhiều người.

3. Ý nghĩa của thiên quan, thiên phúc  ở các cung: Đóng ở bất luận cung nào, 2 sao này đều mang lại sự lành, sự thiện cho các cung đó. Tốt nhất là ở cung Mệnh, Thân, Phúc, Di, Tật.
a. ở Quan hay Di, Mệnh: Hay giúp đỡ người khác và được nhiều kẻ khác giúp đỡ.
b. ở Tài: Hay dùng tiền bố thí, cúng đường, sử dụng tiền bạc vào mục đích lương thiện, xã hội.
c. ở Điền: Có khi hiến điền, nhà cửa cho việc nghĩa.
d. ở Hạn: Được nâng đỡ, giúp đỡ trong công danh, tiền bạc.

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: SAO THIÊN QUAN - THIÊN PHÚC

Thuyết ngũ hành –

Quan niệm Ngũ Hành trong y lý Chữa bệnh có y lý (lý luận đông y) không chỉ đang còn thịnh hành ở Trung Quốc mà hầu hết các Lương y, ngay cả một số bác sỹ (tây y) ở nhiều nước trên thế giới cũng đều coi hai thuyết này là cơ sở nhận thức bệnh học hữu í

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Quan niệm Ngũ Hành trong y lý

Chữa bệnh có y lý (lý luận đông y) không chỉ đang còn thịnh hành ở Trung Quốc mà hầu hết các Lương y, ngay cả một số bác sỹ (tây y) ở nhiều nước trên thế giới cũng đều coi hai thuyết này là cơ sở nhận thức bệnh học hữu ích. Nó soi sáng phần nào mọi khía cạnh của bệnh lý của con người; làm cơ sở cho phương thuốc điều trị.

Thuan-Thien-Kiem-he-thong-Ngu-Hanh-tuong-sinh-tuong-khac-1

Quan niệm Ngũ Hành trong y mệnh.

Để phòng chữa họa tai, người ta có y mệnh. Đó là sự tìm đến các môn dự báo, dự đoán như: dự báo khí tượng, dự đoán vận hạn đất nước, xã hội, con người trong các thời vận bằng dự đoán học mà hai thuyết Âm Dương và Ngũ Hành đều có mặt trong Dịch, Lý, số v.v… Tất cả các môn đó nhằm phần nào biết trước vận hạn: lành, dữ để phòng tránh hay khắc trừ đem lại sự an bình cho con người.

Quy tắc Ngũ Hành tương sinh tương khắc đã chế hóa vạn vật trong nguyên lý Âm Dương biến hóa, đối lập mà thống nhất. Các môn dự đoán đều dựa trên hiện tượng và thực thể cụ thể cho trước, có trước rồi trên cơ sở của nguyên lý Âm Dương và quy tắc của Ngũ Hành mà suy luận dự đoán cho điều sắp xảy tới. Việc giải một “phương trình” để tìm ẩn số “mệnh” ở đây không khác gì giải phương trình để tìm ẩn số trong toán học. Cũng có những dữ kiện đã cho, đã có, đã biết mà đi tìm kết quả nhờ quan hệ giữa chúng. Nhưng để mang tính khoa học thì kết quả của các môn thuật số chỉ là dự đoán. Dự đoán y mệnh càng có cơ sở vững chắc ngoài nguyên lý Âm Dương còn phải cần đến quy tắc của Ngũ Hành. Vì vậy quy tắc Ngũ Hành được thịnh hành là thế.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Thuyết ngũ hành –

Quẻ Quan Âm: Bá Vương Bị Khốn

Quẻ Quan Âm thứ 66 Bá Vương Bị Khốn đoán rằng mọi việc nên giữ nguyên hiện thời, chờ đợi thời cơ, chớ nên hành động tùy tiện.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Đây là quẻ Quan Âm thứ 66 được xây dựng trên điển cố: Bá Vương bị khốn hay Bá Vương bị vây khốn.

Quẻ hạ thuộc cung Mão. Nên chờ đợi thời điểm thích hợp, tĩnh lại một chút, hành động tùy tiện là điều không nên. Cũng không cần mưu tính, cứ thuận theo tự nhiên ắt sẽ tự tài nhàn nhã hơn.

Thử quái thuyền phá hạ than chi tượng. Phàm sự hiểm trở đề phòng dã.

Hạng Vũ là người giàu kinh nghiệm chiến đấu trên trận mạc
Bá Vương Hạng Vũ là người giàu kinh nghiệm chiến đấu trên trận mạc

Điển cố quẻ Quan Âm: Bá Vương bị khốn

Năm 202 trước Công nguyên, Hán Vương Lưu Bang hủy bỏ hòa ước Hồng Câu, điều binh khiển tướng tấn công quân sở. Trước tiên, Lưu Bang đến cố Lăng, một mặt sai người đi thúc giục các Đại tướng Hàn Tín, Bành Việt, Anh Bố tiến binh, một mặt viết thư khiêu chiến Bá Vương Hạng Vũ. Bá Vương đùng đùng nổi giận, mắng Lưu Bang là kẻ lật lọng, thay đổi bất thường, lập tức mang theo các Đại tướng Chung Ly Muội, Lý Bố, Phàn Sở, Ngu Tử Kỳ, thống lĩnh ba mươi vạn quân, tấn công ồ ạt vào Cố Lăng, Lưu Bang đại bại, chạy đến Thành Cao. Quân sở truy đuổi đến Thành Cao, bao vây quân Hán.

Lưu Bang bị vây hãm, khấn cấp lệnh cho Hàn Tín, Bành Việt đến cứu viện. Nhưng hai người Hàn, Bành mẫi không phát binh, Trương Lương bèn hiến kế rằng: “Nếu được trọng thường, ắt sẽ có người dũng cảm. Nếu ngài có thể chia đều thiên hạ cho Hàn Tín, Bành Việt, chắc chắn họ sẽ xuất bỉnh!” Lưu Bang bèn sai sứ giả đi nói với Hàn Tín, Bành Việt rằng: “Sau khi hợp sức đánh bại quân sở, từ huyện Trần về phía đông đến ven biển là của Hàn Tín; từ huyện Tuy Dương về phía bắc đến Cốc Thành là của Bành Việt!” Hai người lập tức dẫn quân xông lên, bao vây quân sở ờ Cai Hạ (nay ở phía đông nam huyện Lỉnh Bích, tính An Huy).

Hạng Vũ thấy lương thực đã cạn, Ngô Tử Kỳ và Lý Bố khuyên Hạng VO không nên liều chết cố thủ, phảỉ mờ đường máu, phá vây xông ra. Vì thế, Bá Vương liền mang theo một đội người ngựa xông lên phía trước. Tuy Bá Vương dũng mãnh, quân Hán không ai địch nối, nhưng đánh lui được tốp quân Hán này, lại xuất hiện một tổp khác. Đơn thương độc mã không thể đối phó được vứi quân Hàn Tín mai phục khắp nơi, Bá Vương đành trở về doanh trại ờ Cai Hạ, dận dò tướng sĩ cẩn thận đe phòng, có cơ hội sẽ lại xuất kích.

Đến nửa đêm, nghe thấy quân Hán xung quanh đều hát các bài ca nước Sở, Hạng Vũ kinh hãi tự hỏi: “Lẽ nào quân Hán đã cướp được toàn bộ nước Sở rồi sao? Nếu không, tại sao trong quân Hán lại có nhiều người Sở đến thế?” Hạng Vũ trở dậy đến bên trướng uổng rượu cùng Ngu Cơ cũng đi theo chính chiến, bi phẫn làm một bài ca mà hát rằng: “Lực bạt sơn hề, khí cái thế; thời bất lợi hề, Chuy bất thệ; Chuy bất thệ hề khả nại hà, Ngu hề, Ngu hề nại nhược hà” (Sức bạt núi chừ khí ngất trời; không gặp thời chừ ngựa không tiến; ngựa không tiến chừ biết tính sao? Ngu hỡi Ngu hỡi biết tính sao?)

Hạng Vũ và Ngu Cơ
Hạng Vũ và Ngu Cơ

Hạng Vũ hát xong, Ngu Cơ họa lại rằng: “Hán binh dĩ lược địa, tứ diện Sở ca thanh, trượng phu ý khí tận, tiện thiếp hà liêu sinh.” (quân Hán lấy hết đất, bốn bề khúc sở sầu, trượng phu chí khí hết, tiện thiếp sống nhờ đâu). Ca xong liền tự vẫn.

Bá Vương nhảy lên con ngựa ô chuy, mang theo hơn tám trăm người, giống như mãnh hổ bị thương, suốt đêm đột phá vòng vây, chạy như bay về hướng nam. Khi trời sáng Lưu Bang phát hiện ra, sai năm nghìn kỵ binh đuổi theo. Khỉ Hạng Vương qua sông Hoài, quân sĩ đi theo chỉ còn hơn một trăm người. Hạng Vương chạy đến Âm Lăng (nay ờ phía tây bắc huyện Định Viễn, tỉnh An Huy), thì lạc đường, sa vào đầm lầy, bị quân Hán đuổi kịp.

Khi Hạng Vương đến ô Giang (bờ phía đông bắc của huyện Hòa, tỉnh An Huy), quan Đình trưửng (một chức quan trong làng) ở ô Giang bơi thuyền đậu bên bờ chờ đợi, nói với Hạng Vương rằng: “Giang Đông tuy nhỏ, chỉ nghìn dặm vuông, dân chúng mấy chục vạn, cũng đủ để xưng vương, mong đại vương hãy mau qua sông!” Bá Vương nói: “Việc đã đến nước này, ta còn mặt mũi nào đi gặp các phụ lão ờ Giang Đông nữa? Ta biết ngươi là vị quan trung hậu, ta tặng ngươi con ngựa ô chuy mà ta yêu quý!” Rồi lệnh các tướng sĩ xuống ngựa đi bộ, cầm binh khí ngắn giao chiến. Đã giết chết được khá nhiều quân Hán, Bá Vương cũng mang hơn chục vết thương trên người. Bá Vương quay đầu lại, nhìn thấy một tướng tĩnh của quân Hán là Lữ Mẫ Đồng, nói rằng: “Ngươi là bạn cũ của ta, ta nghe nói Hán Vương treo giải nghìn lượng vàng, phong tước Vạn hộ hầu để mua đầu của ta, ta đem đầu mình tặng cho ngươi làm ân huệ!” Nói xong liền tự vẫn mà chết.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Quẻ Quan Âm: Bá Vương Bị Khốn

Nhận biết khuôn mặt những đứa trẻ thông minh lanh lợi

Cùng xem con bạn sở hữu những đặc điểm nào dưới đây nhé!
Nhận biết khuôn mặt những đứa trẻ thông minh lanh lợi

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


1. Tóc mỏng


Đại đa số trẻ sơ sinh chào đời đều có mái tóc mỏng, thậm chí chưa mọc đầy đủ. Khảo sát khoa học cũng chứng minh, những em bé ít tóc khi chào đời thường có sức khỏe tốt, ham ăn ham ngủ. Ngoài ra, những trẻ tóc thưa mỏng trước 7 tuổi có tính cách ôn hòa, biết nghe lời bố mẹ. Ngược lại nếu mái tóc dày và quá cứng là những em bé bướng bỉnh, hiếu thắng, ý chí kiên định và thích chỉ huy người khác.

Nhan biet khuon mat nhung dua tre thong minh lanh loi hinh anh
 
2. Vầng trán đầy đặn

Trong nhân tướng học, vầng trán con người thể hiện ba khả năng chính là phán đoán, ghi nhớ và hiểu biết. Do đó, những đứa trẻ có vầng trán đầy đặn, sáng sủa thường thông minh lanh lợi, có nhiều tài năng thiên bẩm, tính cách vui vẻ, hòa đồng và dễ được mọi người yêu mến. Trái lại, những trẻ có vầng trán lồi lõm, khuyết hãm thì cả chỉ số EQ và IQ đều không cao, không giỏi trong tư duy logic.

3. Ấn đường rộng

Trên khuôn mặt, Ấn đường chính là vị trí giữa hai đầu lông mày và phía trên Sơn căn. Đây cũng là vị trí của cung Mệnh trong 12 cung tướng mặt. Bộ phận này dại diện cho tinh thần, nguyện vọng, tính cách và cả tuổi thọ của mỗi con người. Ấn đường được cho là tốt khi dài 1 đốt ngón tay với nữ giới và 2 đốt ngón tay với nam giới. Đồng thời phải đảm bảo yếu tố đầy đặn, rộng, sáng sủa, không khuyết hãm, không nốt ruồi hay bị các đường vân chồng chéo.

Những đứa trẻ có Ấn đường mang những đặc điểm trên đều thông minh lanh lợi, sức khỏe dồi dào, hưởng nhiều phúc lộc, công danh sự nghiệp thành đạt, các mối quan hệ hài hòa.

Nhan biet khuon mat nhung dua tre thong minh lanh loi hinh anh
 
4. Mắt to, lòng trắng đen rõ ràng

Trong nhân tướng học lấy cốt (xương), hình (hình dáng) và khí sắc (thần thái đôi mắt, khuôn mặt) để phân tích sức khỏe, tính cách của mỗi người. Thông thường mắt trẻ thơ trong veo, lòng đen trắng rõ ràng phản ánh tâm hồn ngây thơ, trong sáng. Nếu ngay từ khi sinh ra trẻ có đôi mắt to, tròn và có hai lòng đen trắng đều sắc nét là biểu hiện của sự thông minh, hoạt bát.

5. Sống mũi cao, hai cánh mũi đầy đặn


Trên khuôn mặt, mũi chính là cung Tài bạch cho biết tài lộc, khả năng tài chính và sự nghiệp của mỗi người. Những đứa trẻ có sống mũi cao, hai cánh mũi đầy đặn không những sức khỏe tốt, thông minh, suy nghĩ tích cực mà sự nghiệp cũng thành công, biết tích lũy tiền tài, hưởng cuộc sống giàu sang. Ngược lại, nếu mũi cong, nhọn, mỏng, lộ xương mũi, lộ lỗ mũi… cho thấy nhược điểm trong tính cách và cũng ảnh hưởng không nhỏ đến sự nghiệp, tài phúc cả đời.

6. Tai cao hơn lông mày


Phần lớn những đứa trẻ khi sinh ra có tướng tai tốt, tức tai ép sát vào đầu, vành tai rõ ràng, tai cao hơn lông mày đều thông minh, nhạy bén, có khả năng trở thành lãnh đạo, cuộc đời nhiều vinh hoa phú quý.

► Tham khảo thêm: Đặt tên con theo phong thủy để có vận mệnh tốt đẹp

Ngọc Lan (Theo MGSP)

 
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Nhận biết khuôn mặt những đứa trẻ thông minh lanh lợi

Xem dáng đi đoán tính cách

Mỗi người đều có tư thế đi của mình. Tuy tư thế này trên mức độ rất lớn là do hình thể mỗi người khác nhau tạo nên, nhưng căn cứ vào bước đi, nhịp đi hoặc những đặc điểm khác mà nói, cũng vì mọi người có tâm tính và bẩm sinh khác nhau nên mơi có tư thế đi khác nhau.
Xem dáng đi đoán tính cách

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Có thể khẳng định rằng, tâm trạng, tính tình hoàn toàn có thể thay đổi tư thế đi của một người. Khi nhịp đi của người đó nhanh hơn bình thường, chúng ta có thể đoán rằng anh ta đang phấn khởi ; nếu một người đi lang thang thì nhất định anh ta đang bị cú sốc nào đó ; nếu một người đi hai vai rũ xuống, bước đi nặng nề thì khẳng đình trong lòng anh ta cũng đang nặng trĩu.

Vậy bước đi, nhịp đi hoặc tư thế đi cụ thể của một người trong giao tiếp thường ngày đại biểu cho những đặc trưng tính cách và hàm nghĩa tâm lý cụ thể gì ?

* Dáng đi chữ bát: Đi chữ bát tức là khi đi hai gót bàn chân hướng vào hai đầu bàn chân hướng ra thành hình chữ bát. Khi đi tuy dùng lực, nhưng tỏ ra rất vội vàng, nửa thân trên hay lắc sang trái sang phải. Dáng đi này có hàm nghĩa tâm lý và đặc trưng tính cách như sau:

- Tính cách bảo thủ: Nói chung dáng đi chữ bát không đẹp tí nào, nhưng vì họ đã quen đi như thế, điều đó chứng tỏ: trong cuộc sống dù phát sinh sự việc gì họ cũng có thái độ chấp nhận. Họ không dễ dàng thay đổi hành vi của mình.
 

- Không thích giao tiếp: Về điểm này, hiện nay vẫn chưa có một cách nói chuẩn xác, nhưng nhìn chung loại người này có đầu óc thông minh: làm việc khoa học mà không ồn ào. Có thể vì đầu óc thông minh nhưng tư thế đi không đẹp đã tạo cho họ thích kiểu đi lặng lẽ một mình này

* Dáng đi lắc đảo: Dáng đi lắc đảo tức là bước đi rất tuỳ tiện, nói chung không có quy luật cố định nào. Có lúc họ đút hai tay trong túi, hai vai rụt lại mà đi; có lúc đánh tay thoải mái, ưỡn ngực. Qua bước đi của loại người này ta có thể đoán biết được thế giới nội tâm của họ như sau:

- Tính cách hào phóng: Loại người này có tính cách giống như cách đi của họ, rất hào phóng, không câu nệ tiểu tiết. Xưa nay họ không vì những lời khen, chê của người khác mà thay đổi hành vi của mình. " Đi theo cách của mình, ai nói gì kệ họ" là qui tắc hành động của loại người này.

- Mong muốn cao xa: Người đi kiểu này nói chung rất thông minh. Họ có ý chí tạo dựng sự nghiệp, ước mong cao xa. Nhưng nhược điểm là có lúc quá đề cao vai trò của mình, vì thế mà hay tranh chấp, đặc biệt trong trường hợp họ có lý thì không dễ gì nhường nhịn người khác.

* Đi có tiếng dội: Đi có tiếng dội tức là chân đặt lên đất có tiếng kêu, khi đi ưỡn ngực, bước đi hơi nhanh. Người đi kiểu này có những hàm nghĩa tâm lý và đặc điểm tính cách sau:

- Giàu chí tiến thủ: Loại người này giàu chí tiến thủ. Tính cách giống như bước đi, cho người khác thấy rõ bản thân, họ thường không dấu giếm khuyết điểm của mình. Làm việc gì cũng đều coi trọng kết hợp giữa lý trí và tình cảm.

- Đầu óc tản mạn: Người đi kiểu này, có một số người tinh thần tản mạn. Tuy trong lòng ôm ấp chí lớn, nhưng không chủ động tiến thoái mà thường có thái độ "đã thế thì đành sống thế".

* Dáng đi thẳng: Dáng đi thẳng tức là khi đi chân và tay song song nhau, người không lắc đảo, gây cho người khác cảm giác họ có tác phong nho nhã. Người đi kiểu này có tính cách hướng nội điển hình. Nói chung loại người này nhút nhát, bảo thủ, thiếu ý chí rộng lớn. Điều đáng nói là gặp việc họ thường bình tĩnh, không dễ cáu giận. Cho nên họ giao tiếp tốt với người khác.

* Dáng xung phong: Thông qua tên gọi chúng ta cũng có thể tưởng tượng được dáng đi tiên phong là: bước chân nhanh, không lùi, cho dù chỗ chen chúc đông người hay chỗ yên tĩnh, vắng lặng. Loại người này khẳng định có tính cách nóng vội. Họ thẳng thắn, bộc bạch, thích giao kết bạn bè, ham nói chuyện, tuy nhiên tính cách nóng vội. Điều khiến người khác yên tâm là họ không làm sai lời hẹn.

* Dáng đi song song: Dáng đi song song tức là chân bước chậm, giống như sợ trước mặt có hố sâu bất ngờ. Loại người này tính cách khá nhu nhược. Khi gặp việc thường đo trước đắn sau. Nhưng loại người này có cái tốt là nặng về tình cảm, có thể chọn làm bạn.

* Dáng vừa đi vừa xem: Vừa đi vừa xem tức là dáng đi chậm chạp, thỉnh thoảng nhìn sang phải, ngó sang trái. Người đi kiểu này có hàm nghĩa tâm lý và đặc điểm tính cách sau:

- Không có chí lớn: Loại người này điển hình là không có chí lớn. Họ thích sống đơn độc. Đặc điểm nổi bật của họ là không thích giao tiếp bạn bè, hiệu suất công tác thấp.

- Ngưỡng mộ hư vinh: Trong cuộc sống hiện thực, loại người này thường hay ngưỡng mộ những điều xa xôi, không làm việc một cách chắc chắn, thực sự. Tuy họ có tính hiếu kỳ, nhưng đáng tiếc là không có tính kiên nhẫn, thiếu ý chí bền bỉ. Loại người này trong cuộc sống ít thành công.

* Đi treo chân: Đi treo chân tức là đi như nhảy, hầu như gót chân không chạm đất. Người đi kiểu này có đặc trưng hàm nghĩa tâm lý sau:

- Làm việc không chắc chắn: Tính cách loại người này giống như tư thế đi : trôi nổi, không có lực. Làm việc không chắc chắn. Tuy trong cuộc sống họ gặp được dịp tốt nhưng đều bỏ lỡ trong sự vội vàng, cập rập.

- Tính tình không ổn định: Loại người đi như thế thường là người rất thông minh, nhưng ý chí bạc nhược, tính tình không ổn định. Họ thường làm việc đầu voi đuôi chuột một cách không tự giác, vì vậy dễ mất tín nhiệm đối với người khác.

* Dáng đi lay người: Tư thế đi lay động, lắc lư như cây liễu gặp gió, trong mệnh tướng học cổ gọi là "rắn bò". Tư thế đi này có những đặc điểm tính cách sau.

- Hay giả vờ: Người đi như thế hay làm vẻ giả vờ. Họ làm việc nói chung không có tinh thần trách nhiệm.

- Độ tin cậy thấp: Người đi kiểu này phần nhiều gian trá. Cho dù là làm việc hay trong giao tiếp đều gây cho người khác cảm giác khó tin cậy. Làm bạn với loại người này phải rất cẩn thận, nếu không dễ bị thiệt

* Dáng đi lang thang: Dáng đi lang thang tức là bước đi thất thểu, lúc lên trước, lúc như lùi về sau. Loại người này thường là người sôi nổi. Đặc trưng tính cách của họ là ý chí bạc nhược, làm việc cẩu thả, vô ý. Tuy họ an phận giữ mình, nhưng cũng có quy tắc nhất định. Tuy tư tưởng đơn giản, nhưng làm việc cũng thường kín đáo.

* Dáng đi chắp tay sau lưng: Người đi kiểu này có hàm nghĩa tâm lý sau:

- Tính cách ôn hoà, hơi có thành tích: Loại người này trong sự nghiệp có những thành đạt nhất định. Nói chung tính cách của họ tương đối ôn hoà. Tư thế đi thể hiện lòng họ như cảm thấy tự mãn và thoải mái sau khi đã đạt được thành tích nào đó.

- Thích làm thầy người khác: Người đi theo tư thế này còn có ý thích làm thầy người khác. Vì dáng đi chắp tay sau lưng thường để lại cho người ta ấn tượng là người tự cao tự đại, loại người này quả thực đúng như thế.

* Dạng đi cúi đầu: Đi cúi đầu tức là khi đi đường đầu hơi cúi xuống, chân bước chậm. Người đi kiểu này có đặc điểm tính cách và tâm lý sau:

- Tính cách hướng nội: Loại người này tính cách hướng nội, ngoài đời thường không chủ động, cho nên ít bạn tri âm.

- Suy nghĩ sâu sắc: Loại người này suy nghĩ chu đáo. Tục ngữ có câu: "Ngửa mặt là bà già, cúi đầu là hảo hán", hảo hán đây chính là loại người này. Nói chung họ không muốn nhìn trực diện vào người khác và cũng không muốn người khác nhìn thấu tâm can mình, cho nên họ thường hay cúi đầu.

* Dáng đi vội vàng: Dáng đi vội vàng tức là khi đi đường chân bước vội vàng, bước chân nặng nhưng không loạn nhịp. Người đi như thế có đặc điểm tính cách cởi mở, bụng thẳng miệng nhanh, có tài nǎng lãnh đạo. Nhưng có lúc vì tính tùy tiện của mình mà làm tổn thương đến người khác.

* Dáng đi tự mãn: Dáng đi tự mãn tức là khi đi đường mặt hơi nâng lên, nhịp tay vung vẩy thoải mái, hai chân hơi cứng, bước đi thận trọng. Người có dáng đi như thế có đặc điểm tự cao tự đại điển hình. Dáng đi đó phản ánh chân thật thế giới nội tâm. Họ muốn thông qua cách đi đó để gây ấn tượng sâu sắc cho người khác.

* Dáng đi như vác nặng: Dáng đi như vác nặng có tư thế điển hình sau: hai vai hơi nhô lên, đầu hơi chúi về phía trước, mắt như nhìn xuống chân. Người đi đường như thế có các đặc điểm tính cách, tâm lý sau.

- Tự ý thức về mình sâu sắc: Loại người này tự ý thức mạnh mẽ. Nói chung họ ngưỡng mộ hư vinh. Ngoài đời họ quá tự tin, hay ǎn to nói lớn, dễ mắc lỗi nên thiếu bạn tri âm.

- Cô độc và đau khổ: Người đi đường với tư thế ấy vì không nhìn thẳng vào cuộc đời cho nên cũng không nhìn thẳng vào mình, thường rơi vào hoàn cảnh cô độc và đau khổ.

* Dáng đi còng lưng: Dáng đi còng lưng điển hình là nửa thân trên hơi hướng về phiá trước, để bảo đảm cho mắt nhìn được xa hơn thì phải ngẩng mặt lên. Người có kiểu đi như thế thường có đặc điểm tính cách và tâm lý sau:

- Không có lý tưởng cao xa: Loại người này nói chung không có lý tưởng rộng lớn, đối với tương lai cũng ít hy vọng, đối với chung quanh thiếu nhận thức tỉnh táo.

- Mơ màng, hồ đồ: Loại người này đối với mọi việc chung quanh thường có thái độ bi quan, thất vọng. Làm việc gì cũng không có kế hoạch chu đáo. Họ thường làm theo cảm tính, suốt ngày sống một cách hồ đồ.

* Đi từ từ chậm chạp: Dáng đi từ từ chậm chạp là tư thế đi : miệng hơi mở, hai tay buông thõng, tuy mắt nhìn phía trước nhưng nhãn thần bất định, tỏ ra rất mơ màng. Người đi như thế thường có đặc điểm tính cách và tâm lý sau.

- Đù đờ như người nộm: Loại người này điển hình là đù đờ không có hồn. Họ thường để lại cho người khác ấn tượng không có sinh khí, thiếu sức sống, đối với mọi việc chung quanh thờ ơ, không quan tâm, đồng thời thiếu khả nǎng ứng phó khi gặp sự biến.

- Có sức mạnh tích tụ: Người đi đường như thế nội tâm tiềm tàng nǎng lượng tích tụ. Có lúc nguồn nǎng lượng này vì một nguyên nhân nào đó mà được giải phóng ra một cách bột phát mạnh mẽ. Nhưng điều không thể hiểu nổi là sau khi bột phát, họ lại trở về trạng thái ban đầu như chưa hề xảy ra việc gì

*Dáng đi điệu đài các: Dáng đi điệu đài các là tư thế đi : hai vai như nhô lên do thở mạnh, nửa thân trên dùng lực gưỡng gạo. Người có dáng đi như thế thường có các đặc điểm tính cách và hàm nghĩa tâm lý sau:

- Bụng dạ hẹp hòi: Khí chất của loại người này thường hẹp hòi, ý chí bạc nhược, muốn sống đơn độc.

- Hư trương thanh thế: Loại người này thường hy vọng dựa vào sức mạnh của người khác hay tập thể để thể hiện mình. Bản thân họ không có bản lĩnh gì đáng kể, nhưng lại muốn núp dưới bóng của người khác mạnh hơn để đạt được mục đích "sói mượn oai hùm".

* Dáng đi quay đầu lại: Điển hình của dáng đi quay đầu lại là lúc đi, không phải quên cái gì, cũng không phải chia tay với người thân, càng không phải như đang tìm một vật gì đó nhưng vẫn thỉnh thoảng quay đầu lại nhìn. Người có kiểu đi này có đặc điểm tính cách và tâm lý sau:

- Lưu luyến quá khứ: Đặc trưng tính cách của loại người này là thường nhớ lại quá khứ. Vì họ luôn nhớ đến từng kỉ niệm xưa nên đi đường hay quay đầu lại.

- Tính cách cố chấp: Loại người này có tính cách cố chấp. Nói chung họ rất khó tiếp thu sự phê bình và chê trách của người khác

Nguồn "Sưu tầm"


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem dáng đi đoán tính cách

Phụ Chương: Tên họ với cuộc đời

Bài 1 : CÁCH GIÁO DỤC KHIẾN TRẺ BỊ RỐI LOẠN TÂM THẦN
Phụ Chương: Tên họ với cuộc đời

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Theo Phương Pháp Xác Định Tính Cách Thật (Tên Họ) thì một đứa trẻ sẽ bị rối loạn tâm thần khi suy nghĩ, lời nói, thái độ và hành vi của chúng luôn trong trạng thái Tính Giả Cực Đoan một thời gian dài trước đó.

Cách giáo dục khiến trẻ rối loạn tâm thần :
Theo số liệu của một cơ quan nghiên cứu nước ngoài thì 1/3 nữ sinh Saigon bị trầm cảm. Không rõ cách đánh giá này có chính xác ? Tuy nhiên, báo cáo của 1 cơ quan y tế trong nước thì 15% dân số Việt Nam có biểu hiện rối loạn tâm thần (Theo thống kê của Bệnh viện Tâm thần Trung ương, hiện cả nước có trên 10 triệu người đang bị rối loạn tâm thần cần phải điều trị. Số liệu đầu năm 2003) Con số này quá lớn ! .... Một số ý kiến cho rằng do áp lực của chương trình học đã khiến các em bị stress liên tục dễ dẫn đến nguy cơ trầm cảm. Tôi cho rằng không hẳn như vậy ! Vấn đề là ở chỗ: Học nhiều không điên, nhưng nếu ép các em học với nhiều mộng ước chủ quan lớn lao của các bậc cha mẹ, là vô tình đẩy các em vào trạng thái không còn là chính các em nữa. Nghĩa là các em mang Tính Giả ! Mang Tính Giả, không phải bản tính & khả năng thực của các em, trong trường và ở nhà 1 thời gian (thái quá), sẽ khiến 1 số em trở nên Tính Giả Cực Đoan (Nhóm F). Với trạng thái tính cách này, các em ấy dễ bị trầm cảm, rối loạn tính cách dẫn đến nguy cơ rối loạn tâm thần. Đây là cách lý giải và đánh giá của phương pháp xác định Tính Cách Thật qua Tên-Họ (Tôi chỉ xem xét trong phạm vi học hành. Rối loạn tâm thần còn do các nguyên nhân khác)

Bài 2 : XÁC ĐỊNH LỜI NÓI DỐI
Phương pháp xem xét tính cách qua Tên - Họ có khả năng phát hiện lời nói dối. Thẩm định 1 số trường hợp, kết quả thực tế hoàn toàn phù hợp với lý thuyết.
Sống không đúng với bản chất thật của mình, chính khi ấy con người rất dễ dàng nói dối. Nếu biết được bản chất, ta có thể xác định được khi ấy họ có nói dối không. Qua Tên - Họ, ta xác định được Tính Cách Thật. Vậy khi, 1 người bày tỏ, kể chuyện.... trong tâm thái không đúng với Tính Cách Thật, tức là họ đang hoặc chuẩn bị nói dối.
Tôi lấy ví dụ : 1 người có Tính Cách Thật là Lãnh Đạm, Lạnh Lùng nhưng thái độ rất tình cảm (Tính Giả) khi bày tỏ, tâm sự. Chính khi đó họ bắt đầu nói dối.

Bài 3 : CÁC DANH NHÂN. NHỮNG NGƯỜI NỔI TIẾNG
Theo bảng Định Vị Thành Phần Xã Hội, những người nổi tiếng luôn bày tỏ Tính Cách Thật. Tức là, họ nhất quán với tính cách thật trong suy nghĩ, lời nói, thái độ và hành vi. Ba dạng kia chỉ tồn tại trong họ như tính cách phụ trợ.

VÍ DỤ 1 : 3 nhân vật chủ chốt cuộc khởi nghĩa Tây Sơn Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ.
Tra bảng xác định Tính Cách Nổi Thật :
Nguyễn Nhạc : Sơn Phong Cổ
- Tính Cách Thật : Nệ cổ, bảo thủ
- Tính Giả : Cách Tân
Nguyễn Nhạc thuộc Nhóm A người làm nên sự nghiệp lớn. Khi giao quyền hành lại cho Nguyễn Huệ, chuyển qua nhóm C, Ông trở về với con người bình thường.
Nguyễn Lữ : Sơn Hoả Bí
- Tính Cách Thật: Bề ngoài, khách sáo
- Tính Giả: Thân thiện
Nguyễn Huệ : Sơn Lôi Di
- Tính Cách Thật: Trông cậy, dùng người
- Tính Giả: Tự lập, Tự chủ
Nguyễn Huệ thuộc nhóm A người làm nên nghiệp lớn. Khi lên ngôi, trong công việc triều chính Ông vừa nêu cao tinh thần độc lập tự chủ, biết dùng người tài triều Lê và kỹ thuật của người Phương Tây.

Sử sách có ghi : Do không hài lòng với tầm nhìn và cách cầm quân của anh mình là Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ đem quân đến dựng trại dưới chân thành người anh. Nguyễn Nhạc đã bật câu nói nổi tiếng : “Nồi da sáo thịt sao em nỡ !” Nguyễn Huệ nghe xong bèn rút quân. Nhân vật Nguyễn Lữ, sử sách ghi không nhiều về người anh thứ hai của Nguyễn Huệ. Tuy nhiên, có ghi nhận rằng cụôc tranh giành quyền cầm quân chỉ diễn ra giữa người anh cả Nguyễn Nhạc và người em út Nguyễn Huệ. Sau này, Nguyễn Nhạc đã giao toàn bộ quyền bính cho em là Nguyễn Huệ (Cách Tân)... Nêu rõ tinh thần độc lập tự chủ, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng Đế lấy niên hiệu Quang Trung. Trong công cuộc thống nhất đất nước, ông biết dùng người tài của Triều Lê, vời được La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp.... Về đối nội, ông lấy chữ Nôm làm Quốc ngữ (Tự chủ). Đối ngoại, Quang Trung mở cửa đón nhận tinh hoa kỹ thuật phương Tây (Dùng người). Tiếc rằng ông đã mất sớm khi chưa qua 40 tuổi.

VÍ DỤ 2 : Đại Thi Hào Nguyễn Du mang hình thái Sơn Trạch Tổn
- Tính Cách Thật : Bất bình, giúp đỡ.
- Tính Giả: Hoà hoãn
Nguyễn Du tỏ thái độ bất bình “Giùm” cho thân phận phụ nữ xã hội đương thời qua nhân vật Thuý Kiều. Tôi nói như thế không rõ có đúng không ?

VÍ DỤ 3 : Hàn Mặc Tử (Biệt danh) mang hình thái Lôi Sơn Tiểu Quá
- Tính Cách Thật : Hơi quá, hoa mỹ
- Tính Giả: Đơn giản.
Tôi chưa nhìn thấy chân dung nhà thơ nổi tiếng này. Nhưng qua cái biệt danh mà nhà thơ tự đặt cho mình, thấy rằng : Hàn Mặc Tử rất xem trọng cái đẹp bên ngoài. Ở phụ nữ, nhà thơ cũng thế, rất tôn sùng vẻ đẹp bên ngoài. Một con người thích cái đẹp bề ngoài, một nhà thơ tôn sùng và biết thưởng thức cái đẹp bên ngoài của phụ nữ, chắc rằng ông phải rất đẹp trai !

VÍ DỤ 4 : Nhạc Sĩ Trịnh Công Sơn mang hình thái Thuỷ Sơn Kiển
- Tính Cách Thật : Siêng năng
- Tính Giả : Biếng nhác
Ông là nhân vật nổi tiếng. Trong nhà siêng viết, khoảng 600 bài hát chưa nói đến vẽ. Ra ngoài thì siêng đi (Du Ca)

VÍ DỤ 5 : Bác sỹ Tôn Thất Tùng mang hình thái Hoả Trạch Khuê
- Tính Cách Thật : Đa nghi, Chống lại, phản biện
- Tính Giả: Chấp Nhận
Vị Bác Sỹ tạo ra phương pháp cắt gan được giới y khoa thế giới gọi tên “Phương Pháp Cắt Gan Tôn Thất Tùng” Với cá tính như thế chả trách vị Bác Sỹ nổi tiếng nóng tính và đa nghi khai sinh ra được cái phương pháp chưa nơi nào có.

VÍ DỤ 6 : Bill Clinton. Tổng Thống Hoa Kỳ mang hình thái Lôi Sơn Tiểu Quá
- Tính Cách Thật : Hơi quá, hoa mỹ
- Tính Giả: Đơn giản.
Ta hãy xem cái cách vị Tổng Thống Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ này giải quyết, sau khi vụng trộm nhẹ nhàng (Hơi quá) với cô thư ký tập sự Monica ở Whitehouse như sau : Bị tố cáo (Bị sốc) vị Tổng Thống đã đưa ra 1 giải pháp rất ngắn gọn là gật đầu chịu tội, xin lỗi với dân & vợ con (rất đơn giản).
Vị Tổng Thống này quả thật rất đẹp trai ! Tài hùng biện thì không phải bàn. Nhưng cái cách ông ta nói chuỵện mới hấp dẫn và duyên dáng làm sao (Hoa mỹ) Coi cho vị Tổng Thống này không thể không nhắc đến nhân vật có liên quan Monica Lewinsky.

VÍ DỤ 7 : Cô thư ký tập sự của White House, Monica Lewinsky có hình thái Thuỷ Địa Tỉ
- Tính Cách Thật : Dễ làm thân.
- Tính Giả : Xa lánh.
Vị Tổng Thống Hoa Kỳ Bill Clinton hào hoa phong nhã quả là khó cưỡng lại trước của cô thực tập sinh Monica đầy sức quyến rủ. Ở đây tôi không phân định lỗi phải của bên nào. Nhưng việc sắp xếp cô thực tập sinh Monica có tính Cách Nổi Thật Dễ làm thân gần bên Vị Tổng Thống đẹp trai và hào hoa sẽ như ông bà ta thường nói : “Lửa gần rơm lâu ngày cũng bén.”

VÍ DỤ 8 : Một nhân vật gây nên nhiều tranh cãi, tốn hao biết bao công sức của nhiều thế hệ các nhà sử học Trung Hoa, Tần Thuỷ Hoàng mang hình thái Trạch Thiên Quải
Tần Thuỷ Hoàng viết theo chữ Hán 秦 始 皇
- Tính Cách Thật : Quyết liệt
- Tính Giả : Hoà dịu
Trong những năm cầm quyền của vị vua này, ta luôn thấy ông ta luôn có cách xừ lý các sự việc rất quyết liệt.
Tôi xin đưa ra 1 tên tuổi nổi tiếng khác, được đời sau phong tặng danh vị “Vạn Thế Sư Biểu” Người đó là Khổng Tử.

VÍ DỤ 9 : Khổng Tử trong tiếng Hán là 孔 子
孔 子 4 / 3, là Lôi Hoả Phong
Tra Sổ Tay, ta có :

- Tính Cách Thật : Giới thiệu, phổ biến
- Tính Giả : Hạn chế KHỔNG TỬ

Cuộc đời của Đức Khổng Phu Tử thật chẳng khác cái tên của Ngài là mấy. Bôn ba khắp các nước, mời chào những vị quân vương nhằm phổ biến (Quảng bá) cái Đạo Trị Quốc của Ngài. Rồi cũng có nước Lỗ tin dùng phong cho chức Thừa Tướng. Đạo của Khổng Tử được trải rộng đem lại sự thịnh vượng cho nước Lỗ. Nước Lỗ thịnh vượng thì Ngài bị ghét. Bời Đạo của Ngài khó quá (!?) Khi khổ cực mọi người có thể chịu nhịn để chắt chiu. Nhưng khi khó khăn đã qua, dư ăn có của để thì vua quan nước Lỗ vẫn bị Đạo của Ngài bắt nhịn. Thế là Ngài bị đuổi ! Bị sốc, Khổng Tử rời chốn quan trường về nơi thôn dã mở trường, mở lớp thu nhận học trò (Hạn chế). 


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Phụ Chương: Tên họ với cuộc đời

Xem tướng nốt ruồi trên mặt –

Nốt ruồi ai cũng có nhưng nốt ruồi ở vào các vị trí “đắc địa” mới cho ta những thông tin giá trị. Không phải bất cứ nốt ruồi nào ở đâu cũng có ý nghĩa. 1. Có nốt ruồi mầu đen, màu đỏ, màu vàng, xanh. Nốt ruồi phải nổi cao, chủ các điểm đen, bớt không

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Nốt ruồi ai cũng có nhưng nốt ruồi ở vào các vị trí “đắc địa” mới cho ta những thông tin giá trị. Không phải bất cứ nốt ruồi nào ở đâu cũng có ý nghĩa.

1. Có nốt ruồi mầu đen, màu đỏ, màu vàng, xanh. Nốt ruồi phải nổi cao, chủ các điểm đen, bớt không có ý nghĩa trong phần xem tướng nốt ruồi.

2. Nốt ruồi ở nữ giới có giá trị khác nốt ruồi ở nam giới về ý nghĩa.

Ý nghĩa nốt ruồi ở mặt nữ giới

not_ruoi_nu

1. Lấy chồng sang

2. Nhiều chồng 3. Chú ý khắc cha, mẹ 4. Có bạn quý 5. Nguy hiểm 6. Phòng chồng phản bội 7. Thông minh 8. Có con quý 9. Bỏ chồng 10, 13. Khóc chồng 11. Thông minh 12. Tai nạn 14. Thích ngao du 15. Sinh đôi 16. Nhiều chồng 17. Thủy nạn 18. Bệnh tật 19. Ít xa quê 20. Sát chồng

Ý nghĩa nốt ruồi ở nam giới.

not_ruoi_nam

1, 2. Chú ý cha, mẹ

3. Quan chức 4. Thông minh đa tài 5. Tán gia sản 6, 7. Quan chức 9. Ðại cát 10. Mau nước mắt 11. Dâm đãng 12. Không tốt 13, 14. Không con 15. Gian 16. Thông minh 17. Lộc tài tốt 18. Cô đơn 19. Không có người giúp việc tốt 20. Thông thái, hay ăn 21. Hay rượu Chè

22. Quan to.

Nốt ruồi thuộc “Duy biến”, người có tư nhất tốt thì sinh ra nốt ruồi quý hiếm, người mà tư chất xấu thì sinh nhiều nốt ruồi xấu. Nó bắt đầu xuất hiện theo thời vận. Nốt ruồi không có ở trẻ sơ sinh. Tướng nốt ruồi cho rằng nốt ruồi tượng trưng cho một mô đất xấu. Vì thế nếu nó mọc chỗ kín thì được, nó mọc chỗ lộ liễu thì không hay, nó ở các đường giao tiếp các bộ phận của mặt là sự trở ngại. Nốt ruồi mọc ở nơi khó thấy như: tóc, mày, râu, tóc mai, thì tốt. Mặt không có nốt ruồi thì tốt và trong người không có nốt ruồi thì xấu, vì trong người toàn là chỗ kín.

Màu sắc nốt ruồi có nhiều kiến giải.

– Nốt ruồi đen thì phải như mụn sinh ở chỗ lộ liễu thì quá xấu, nó đem đến điều chẳng lành. Nhưng nếu nó ở chỗ kín thì lại nhiều điều cát hơn hung. Nốt ruồi này mà ở mặt thì bất lợi. – Nốt ruồi đỏ thì phải đỏ như son mới tốt. Và tất nhiên nó phải ở nơi kín bị lấp mới tốt. – Nốt ruồi đen mà pha trắng thì hay có việc lo sợ tai ách. – Còn pha màu đỏ: Thì sẽ gặp nhiều lời hay tranh biện. – Có pha màu vàng: Hay quên, bỏ mất đồ đạc.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem tướng nốt ruồi trên mặt –
Click to listen highlighted text! Powered By DVMS co.,ltd