Tướng người có nhân trung sâu –
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
| ► Mời các bạn: Xem phong thủy theo ngũ hành tương sinh tương khắc để đón lành tránh dữ |
![]() |
![]() |
Sử dụng Hồ Ly tốt nhất nên chọn Hồ Ly đen, vì nó là màu của Cửu vĩ Hồ. Chất liệu tốt nhất của linh vật phong thuỷ là đá tự nhiên.
Trong truyền thuyết Trung Quốc, Hồ Ly là tên gọi của cáo đã tu luyện thành tinh. Và trong các loài vật, thì loài Cáo là loài thông minh nhất sau con người.

– Theo truyền thuyết, Hồ Ly có thể tu hành luyện đạo; tu một trăm năm thì ba cái đuôi sẽ mọc ra và được gọi là “Yêu Hồ”, tu luyện đến một nghìn năm thì chuyển sang loài “Lục vĩ ma hồ” (Cáo ma 6 đuôi), và cứ như vậy; khi đến được cảnh giới là chín đuôi (Cửu vĩ thiên hồ) thì thế gian đích thị vô thượng cảnh giới; không ai rõ đích xác phải bao năm mới đạt được đến cảnh giới. Mỗi chiếc đuôi là một mạng của Hồ Ly. Muốn giết chết một Hồ ly thì phải chặt hết các đuôi trước.
– Tất cả các Hồ Ly thường là Cáo cái, các Hồ ly con sinh ra được là do Hồ ly mẹ đã uống thuốc tiên ngàn năm. Hồ ly cái khi hoá thành người thường vô cùng xinh đẹp, thông minh, có sức quyến rũ kì lạ. Các Hồ ly cái thường sử dụng ưu điểm đó để hớp hồn đàn ông và thực hiện các mục đích đã được vạch ra trước.
– Hồ Ly vốn là Cáo nên cũng có nhiều đặc tính giống Cáo, đó là rất thích ăn thịt gà. Tuy nhiên màu lông của Hồ ly thì khác hẳn so với cáo thường. Tuỳ theo số năm tu luyện mà chúng đổi màu theo đó. Tương truyền, lông của Cửu vĩ hồ thường đen tuyền. Hồ Ly thường sống trong các hang động lạnh vì chúng ưa lạnh. Mỗi khi ra khỏi hang động đều thay đổi hình dạng. Chỉ khi chết Hồ Ly mới trở lại y nguyên hình dạng của một con Cáo. Các lão Hồ Ly (Hồ Ly già, thường là đã sống được khoảng ngàn năm tuổi) có khả năng tiên đoán rất chính xác. Hồ Ly cũng có tổ chức bầy đàn. Thủ lĩnh tối cao nhất của Hồ Ly thường được gọi là “Hồ cung chủ”. Chức vị đó được truyền từ đời này sang đời khác, thường là truyền cho đứa con mà “Hồ cung chủ” đó yêu thương nhất hoặc tài giỏi nhất.
– Có tương truyền rằng Đắc Kỷ- mỹ nữ thời Trụ Vương là một “Hồ cung chủ” của Hồ Ly thời đó. Rất nhiều thành ngữ có yếu tố nói về sắc đẹp của Đắc Kỷ hoặc sắc đẹp hồ ly để nói về những nữ nhân có sắc đẹp làm mê muội những nam nhân có quyền lực.
– Và theo quan niệm trong dân gian Tung Quốc từ xưa đến nay, nếu sở hữu mặt đeo Hồ Ly hoặc tượng Hồ Ly, nhất là đối với phụ nữ, thì sẽ mang lại sự may mắn vượt bậc về đường tình duyên, hôn nhân, giữ gìn hạnh phúc lứa đôi. Và Hồ Ly rất thích số Tám ( Bát- Phát) nên người sở hữu nó sẽ gặp thêm nhiều may mắn về đường tài lộc, sự tiến triển trong sự nghiệp.
– Khi sử dụng Hồ Ly tốt nhất nên chọn Hồ Ly thạch anh hồng, hồ ly đá mắt hổ vàng, hồ ly đá mã não đen, quý hơn nữa là Hồ Ly thạch anh đen vì nó là màu của Cửu vĩ ( Hồ Ly chín đuôi ) cảnh giới cao nhất của Hồ Ly.
– Chất liệu tốt nhất là đá tự nhiên như đá thạch anh, đá mắt hổ, đá mã não…
– Không nên sử dụng Hồ Ly làm bằng đồng hoặc chất liệu nhân tạo, vì như vậy sẽ mang nhiều “sát khí” hơn là “cát khí”, không sử dụng Hồ Ly nếu không biết rõ nguồn gốc xuất xứ, chất liệu hình thành để tránh trường hợp bị tác dụng ngược.
– Nếu sử dụng tượng Hồ Ly nên trưng ở phòng ngủ hoặc để ở nơi làm việc ( trong góc khuất), nên chọn hướng, ngày giờ tốt và hợp tuổi để an vị. Và nhờ sự tư vấn của cửa hàng phong thuỷ nơi bạn đến.
– Khi sử dụng mặt dây chuyền đeo cổ mặt Hồ Ly thì nên tẩy uế trước khi sử dụng bằng cách dùng rượu trắng lau qua. Khác với Tỳ Hưu, Thiềm Thừ…, Hồ Ly vẫn có thể đeo bên mình khi làm chuyện phòng the, vợ chồng.
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
Những con giáp cả đời chôn chặt mối tình đầu trong tim| => Tất tần tật về mười hai con giáp bạn nên xem |
Những nàng giáp lỗ cả tình lẫn tiền trong tình yêu
Tác dụng và ảnh hưởng của vì sao Mộc tinh trong khoa Chiêm Tinh là chỉ định óc tìm tòi, khảo cứu, sưu tầm. Có nhiều may mắn, đời tươi đẹp và hạnh phúc, người cao thượng.
Gò Mộc tinh thật cao và ngón trỏ trội, người tự phụ, tự hào và phách lối, nhưng rất giàu tin tưởng vào thiêng liêng, nổi bật trên đường tín ngưỡng.
Gò Mộc tinh có một hình thức đầy đặn không cao và một ngón trỏ thon, người có nhiều kỳ vọng cao xa, nhiều ham muốn. Đời sống sẽ được vẻ vang, hạnh phúc, người có tính cao thượng.
Gò Mộc tinh no đủ, với một ngón trỏ dài, đầu bầu dục, người có tài điều khiển, nhất là trên đường binh nghiệp sẽ gặp nhiều danh vọng nhờ can đảm, nhiều nghị lực và cũng nhiều kỳ vọng.
Gò Mộc tinh trũng, người không biết ham muốn, lười và tự kỷ. Người thuộc hạng tầm thường.
Trích KHÁM PHÁ NHỮNG BÍ MẬT CỦA BÀN TAY
_ Bác sĩ Joef Ranald_
Có rất nhiều cách chiêu tài, giữ tài, trong đó mọi người có thể bày cây phong thuỷ để thu hút tài vận. Tùy vào từng con giáp bản mệnh mà có từng loại cây may mắn khác nhau. Chọn đúng cây phong thuỷ cho từng con giáp giúp bạn tăng cường tài vận trong sự nghiệp và mang lại may mắn trong cuộc sống.
Nội dung
Cây mang lại tài vận: Cây Kim Tiền
Những người tuổi Tý đa phần không biết cách quản lý tiền bạc, nhưng họ luôn có ý thức tích lũy tiền bạc và tiết kiệm. Họ không am hiểu đầu tư, thường không nắm bắt được cơ hội kiếm tiền.

Người tuổi Tý nếu có thể đặt một chậu Kim Tiền trong nhà riêng sẽ giúp họ nhận được nhiều may mắn. Đồng thời tăng thêm tinh thần mạo hiểm, giúp người này dũng cảm đương đầu thách thức để nắm bắt những cơ hội phát tài.
Cây mang lại tài vận: Cây dứa cảnh nến
Nếu người tuổi Sửu trồng một chậu Cây dứa cảnh nến trên bàn làm việc sẽ mang vận tài lộc đến cho họ.
Tên thường gọi: Cây dứa cảnh nến (cây dứa cảnh lệ, cây dứa cánh sen, cây ngôi sao đỏ, cây ngọn lửa đỏ, cây phong lộc hoa).

Người tuổi Sửu chịu được vất vả, làm việc theo hướng thực tế, là người trung thực nhưng tương đối bảo thủ, mỗi ngày làm việc chỉ kiếm được một ít tiền.
Những người tuổi này nên đặt chậu dứa cảnh nến ở bên trái bàn làm việc để trợ giúp bạn kiếm được nhiều tiền hơn, mà bạn cũng sẽ cảm thấy thoải mái hơn.
Cây mang lại tài vận: Cây Ngũ gia bì
Người tuổi Dần dám đương đầu với nguy hiểm, biết cách kiếm tiền. Nhưng thực tế thì họ không quá coi trọng tiền tài, mà chỉ thích quá trình kiếm ra nó. Đôi khi người tuổi này có chút nóng vội, hấp tấp dẫn đến nguy cơ cạn kiệt tiền tài.

Nếu người tuổi Dần trồng một chậu ngũ gia bì trong phòng khách sẽ giúp cho con đường tài vận của họ ổn định, phát triển thuận lợi; đồng thời giúp họ củng cố tài vận, giữ được tiền bạc không tiêu biến.
Cây mang lại tài vận: Cây Trúc phú quý (cây phát lộc)
Người tuổi Mão không biết mẹo kiếm tiền, đối với chuyện tiền tài có chút bảo thủ. Vì vậy, tiền họ kiếm được thường ít và chậm hơn, cơ hội phát tài cũng không dễ dàng.

Người tuổi Mão nên đặt cành phát lộc trên tủ lạnh( chú ý là phải để số lẻ) để giúp tài vận của họ được thịnh, kiếm tiền nhanh hơn, nhiều hơn.
Cây mang lại tài vận: Cây xương rồng và cây vạn niên thanh
Đường tài vận của người tuổi Thìn vô cùng tốt. Không cần làm việc quá vất vả vẫn có tiền vào túi, nhưng bên cạnh thường có kẻ xấu giở trò mờ ám, từ đó cản trở con đường tài lộc của họ.

Người tuổi Thìn nên đặt một chậu xương rồng ở hướng Tây Bắc của phòng khách để hóa giải tà khí, phòng kẻ tiểu nhân và đặt một cây vạn niên thanh ở hướng Đông Nam giúp mang đến tài lộc.
Cây mang lại tài vận: Cỏ đồng tiền
Kỳ thực người tuổi Tỵ có đường tài vận không tệ nhưng lại không biết nắm chắc cơ hội, vì do dự nên hay bỏ qua thời cơ kiếm tiền.

Người cầm tinh con rắn nên trồng một ít cỏ đồng tiền trước bệ cửa sổ để trợ giúp tài vận tăng tiến, đồng thời tăng năng lực phân tích cá nhân, giúp bạn mạnh mẽ hơn, hành động quyết đoán hơn.
Cây mang lại tài vận: Cây trầu bà
Tài vận người tuổi này rất tốt, biết cách kiếm tiền. Nhưng tuổi này lại khá tham lam, chính tính cách này làm họ bị tổn thất trong quá trình kiếm tiền.

Trong nhà người tuổi Ngọ nên đặt mấy chậu trầu bà sẽ giúp tài vận của họ tập trung một mối, nhưng cũng phải suy xét tình hình kỹ lưỡng, không được tham lam.
Cây mang lại tài vận: Cây Lan quân tử
Người tuổi này không quan trọng tiền tài, khát vọng kiếm tiền cũng không lớn. Bởi họ không nỗ lực sức mình để kiếm tiền nên cơ hội phát tài là khá thấp.

Người tuổi Mùi nên đặt một chậu lan quân tử ở phía bên phải bức tường đối diện sofa trong nhà, sẽ mang đến quý nhân phù trợ họ trên con đường tài vận.
Cây mang lại tài vận: Cây tùng bồng lai
Người tuổi Thân biết cách kiếm tiền, cũng biết cách nắm bắt cơ hội tài lộc, nhưng họ kiếm nhiều thì tiêu cũng nhiều. Họ tiêu tiền như nước, không biết tiết kiệm nên cuối cùng còn lại không đáng là bao.

Người tuổi Thân nên đặt một chậu tùng bồng lai trong phòng đọc sách, phòng làm việc. Điều này giúp họ kiếm được tiền, làm ví tiền không bao giờ cạn.
Cây mang lại tài vận: Cây Ngọc Lộ (sen đá)
Đường tài vận tuổi này rất vượng, nhưng không biết giữ. Tiền tài hoặc là bị vay mượn, hoặc hao tổn khi đầu tư. Khả năng tổn hao tiền tài rất cao.

Không muốn vậy, người tuổi Dậu nên trồng một chậu sen đá ở phòng khách, giúp họ ngăn chặn việc hao tổn tài lộc. Tiền tài tự nhiên sẽ giữ được.
Cây mang lại tài vận: Cây phát tài (cây kim ngân)
Người tuổi này có đường tài vận khá ổn định, nhưng không biết cách quản lý, không biết nắm bắt cơ hội kiếm tiền. Khi có cơ hội không biết cách trân trọng, nên rất khó phát tài.

Những người này nên đặt chậu kim ngân ở phòng khách, giúp họ tích lũy tiền tài, kiếm được nhiều tiền hơn, tài lộc lũ lượt kéo đến.
Loại cây vượng tài: Nhất mạt hương (tên tiếng Anh Plectranthus hadiensis var. tomentosus).
Người cầm tinh con lợn có cuộc sống đầy đủ sung túc, ăn ngon mặc đẹp, nhưng cũng vì cuộc sống xa xỉ này mà họ thường tiêu hết tiền, ít khi dư dả để tiết kiệm, tài sản dần dần ít đi.

Người tuổi Hợi nên đặt một chậu nhất mạt hương trên bàn máy tính trong văn phòng và ở nhà, để giúp bạn lý trí hơn mỗi khi tiêu tiền, hạn chế việc tiêu pha tùy tiện. Nhưng bạn phải nhớ thường xuyên chạm vào lá cây thì mới có hiệu quả!
![]() |
Điều tu dưỡng lớn nhất trong mỗi cuộc đời con người (P1)| => Tham khảo thêm những thông tin về: Lịch vạn niên và Lịch âm dương chuẩn xác nhất |
Điều tu dưỡng lớn nhất trong mỗi cuộc đời con người (P2)
![]() |
![]() |
![]() |
| ► Tham khảo thêm những thông tin về: Lịch vạn niên và Lịch âm dương chuẩn xác nhất |
Vì sao thứ 6 ngày 13 bị cả thế giới xa lánh?
Xem bói ngày sinh những bạn sinh vào ngày:
01, 06, 11, 16, 21, 26, 31, bạn thuộc nhóm A1.
02, 07, 12, 17, 22, 27, bạn thuộc nhóm B2.
03, 08, 13, 18, 23, 28, bạn thuộc nhóm C3.
04, 09, 14, 19, 24, 29, bạn thuộc nhóm D4.
05, 10, 15, 20, 25, 30, bạn thuộc nhóm E5.
Bói tình yêu theo ngày sinh
Giải đáp:
A1:
Bạn là người lãng mạn và cũng thích đối xử lãng mạn, vì bạn coi tình yêu là điều đẹp nhất trên đời. Bạn cảm thấy tình yêu thật dễ chịu, nhưng cũng chính vì coi tình yêu quan trọng như vậy nên bạn hơi đa nghi và hơi ghen. Bạn luôn sợ người yêu không chân thành, dù anh ấy/cô ấy không mảy may có bằng chứng nào để bị buộc tội như vậy. Bạn thích đi chơi với nhiều bạn bè và luôn được coi là người bạn có trách nhiệm. Tuy nhiên, điểm yếu lớn nhất của bạn xuất phát từ bản chất tò mò và hiếu kỳ (rất tốt cho công việc nhưng không tốt lắm cho tình yêu) là thiếu kiên nhẫn. Bạn thường muốn “đánh nhanh thắng nhanh” và đôi khi nó là trở ngại vật lớn nhất trong tính cách của bạn.
Khi bạn yêu một người, người đó có thể chế ngự không chỉ trái tim mà còn cả tâm trí bạn nên bạn rất dễ bị ảnh hưởng đến các mối quan hệ xã hội khác. Cẩn thận và bình tĩnh bạn yêu quý nhé .
B2:
Bạn là mẫu người của sự nghiệp và những giấc mơ nhiều hơn là mẫu người của tình yêu, thật đấy. Bạn rất nhiều hoài bão và chúng quan trọng đến mức bạn làm bất kỳ điều gì. Tuy nhiên, không phải vì thế mà bạn coi nhẹ tình yêu. Đối với bạn, tình yêu rất quý giá, nhưng bạn hơi khó tìm được một người mà bạn coi là “hoàn hảo”. Đó là vì với những mối quan hệ và công việc rộng rãi, bạn ít khi hoàn toàn tin tưởng một người, và đây có thể coi là một nhược điểm nhỏ của bạn. Kể cả bạn bè cũng vậy, bạn bè rất quan trọng với bạn, nhưng bạn không kể “tất tần tật” chuyện gì cho mọi người nghe bao giờ.
Điểm mà mọi người khâm phục nhất ở bạn là bạn suy nghĩ tốt, nhìn được cả ưu điểm và khuyết điểm của vấn đề. Quan tâm chính của bạn về tình yêu là hai người thật sự quan tâm nhau, thế là đủ, đúng không?
C3:
Những người có ngày sinh thuộc nhóm C3 rất giỏi trong việc đưa ra những quyết định “nóng”, tức là rất quyết đoán, nhanh nhạy và ít khi để tình cảm chi phối những quyết định của mình. Chính vì vậy, số bạn bè công việc của bạn rất nhiều, và số khâm phục và cần ý kiến của bạn cũng không ít.
Bạn coi cuộc sống là món quà giá trị và mỗi người nên biết tận hưởng màu sắc của nó. Về tình yêu, bạn yêu quý khá nhiều người, vì bạn cho rằng tình cảm là không có giới hạn. Thậm chí, bạn còn chia sẻ cuộc sống và thời gian của mình với họ. Tuy nhiên, với người mà bạn yêu thì bạn rất chân thành. Bạn có khả năng điều khiển cảm xúc có thể gọi là hoàn hảo, tuy nhiên đôi khi những quyết định lý trí của bạn lại ảnh hưởng đến những người mà bạn yêu thương, vì không phải ai cũng lý trí được như bạn đâu. Sự cứng rắn là điểm mạnh trong sự nghiệp nhưng lại là điểm yếu trong sự lãng mạn của bạn đó. Một người đầu óc nhanh nhạy như bạn, hẳn khi đọc đến đây là trong đầu của bạn xuất hiện ngay hình ảnh của “ người đặc biệt nhất” rồi, phải không ?
D4
Bạn là mẫu người thích sống tự lập và bận rộn. Không lúc nào mà bạn không có một danh sách những việc cần làm và danh sách những mục tiêu phải đạt, dù danh sách đó được viết trên trang giấy hay chỉ nắm an toàn trong bộ não điện tử của bạn. Tư duy tốt và tính khoa học cao, bạn đã có một bản “phác hoạ” mẫu người lý tưởng và bạn luôn tìm các cá tính đó. Bạn là mẫu người thích tới sự hoàn thiện nhất trong số 5 nhóm này.
Bạn bè rất có ý nghĩa với bạn và bạn có cực kỳ nhiều bạn thân vì bạn có thể làm bất kỳ điều gì vì tình bạn. Trong tình yêu, bạn thường được coi là đa cảm và dễ xúc động vì đôi khi bạn khó kiểm soát cảm xúc cũng như sự kiên nhẫn của mình, và phản ứng quá mức. Bạn có thể khóc ấm ức chỉ vì người yêu bạn đến trễ 5 phút và bạn có thể đập vỡ cái cốc khi nghe nói kể rằng bạn trai (bạn gái) của bạn đi mua sắm… cùng bạn gái (bạn trai) (để rồi sau đó biết rằng đó là anh em trai /chị em gái của người ấy).
E5
Nhóm E5 được người Ý coi là “những người của tình yêu”. Nếu bạn thuộc nhóm này, dường như bạn thích những quyết định mang tính tình cảm hơn là lý trí. Cũng may là tình cảm của bạn khá nhạy bén nên khi cảm xúc xen vào, bạn vẫn “linh tính” được để mà quyết định đúng. Bạn coi cuộc sống là tận hưởng từng ngày, và người Ý coi bạn là mẫu người Ý “điển hình” – rất lãng mạn, vui tươi , hoà đồng. Bạn có nhiều bạn bè và vẫn luôn cố gắng kéo dài cái danh sách đó trong sổ điện thoại, máy di động, hay trong sổ email… Bạn mơ mộng và cũng có nhiiều ước vọng, tuy nhiên, điều có thể coi là nhược điểm của bạn với bản chất “đừng nghiêm trọng hoá vấn đề”, bạn hơi thiếu kiên định nên nhiều khi không thực hiện được những việc quan trọng đến nơi, đến chốn.
| ► Xem bói 2016 để biết vận mệnh, công danh, tình duyên của bạn |
![]() |
| Tổng quan tài vận tháng 9 của 12 con giáp |
– Bạn có biết mình mệnh gì, cha mẹ, con cái mình mệnh gì không? Chỉ cần biết Can Chi của một năm bất kỳ, bạn sẽ tính nhẩm ra ngay mệnh ngũ hành rồi.
![]() |
![]() |
| Can | Giá trị tương ứng |
| Giáp, Ất | 1 |
| Bính, Đinh | 2 |
| Mậu, Kỷ | 3 |
| Canh, Tân | 4 |
| Nhâm, Quý | 5 |
| Chi | Giá trị tương ứng |
| Tý, Sửu, Ngọ, Mùi | 0 |
| Dần, Mão, Thân, Dậu | 1 |
| Thìn, Tỵ, Tuất, Hợi | 2 |
Bài viết của cụ Thiên Lương
Tử vi nghiệm lý ra đời được là nhờ công của quí vị độc giả KHHB cố thúc đẩy khuyến khích, muốn có một cuốn sách tập trung tất cả những nguyên tắc căn bản để phân tách luận định.
Chẳng may gặp buổi gạo châu củi quế, sách đành phải thu hẹp, cho gọn như những nguyên tắc vắn tắt cho dễ nhớ.
Cây kim la bàn của Tử vi nghiệm lý là phân tích lý lẽ âm dương và sinh khắc chế hóa của Ngũ hành.
Biết rằng tất cả các ngành học huyền bí Á Đông (Tướng pháp, Địa lý, Bói dịch…) đều lấy âm dương làm căn bản, rồi Ngũ hành biến dịch sinh khắc chế hóa để tìm kết quả, thì Tử vi cũng phải lấy phần phân tích âm dương làm phần quan trọng.
Âm Dương của chính tinh
Như 14 chính tinh đầu não phải sắp xếp đâu là âm dương tức là thế lưỡng nghi của Tử vi. Cũng biết rằng trong cái dương đã có sẵn cái mầm của Âm (Thiếu âm) và trong cái Âm có cái mầm của Dương (Thiếu Dương) như đôi mắt của thế nhân có hai cái trong ở trong, tức là mầm phát khởi ra tứ tượng, cứ thế sinh chia đến bất tuyệt để xét từ cái nguyên lý lần xuống cái tương đối đến mức độ cùng tột.
Vậy thì Tử vi, Thiên Phủ, Vũ khúc, Thiên Tướng, Thất sát, Phá quân, Liêm Trinh, Tham Lang, chỉ là cái thế Dương (thực hành) và Thiên Cơ, Thái Âm, Thiên Đồng, Thiên Lương, Cự Môn, Thái Dương là thế Âm (lý thuyết) của lưỡng nghi Tử vi.
Chi ra tứ tượng tức là bộ Tử, Phủ, Vũ, Tướng, Sát, Phá, Liêm, Tham, Cơ Nguyệt Đồng Lương và Cự Nhật là đã biết sự chế trộn phân hóa đến mức độ điều hòa, thăng trầm nào rồi, còn chia ra nữa như từng cặp Phủ Tướng, Nhật Nguyệt, Cự Cơ, Liêm Phá…xuống đến một sao cốt cán của Mệnh ảnh hưởng ra sao, và đối với vận hành của cuộc đời từ phía Dương gặp phía âm hay trái lại từ phía Âm gặp vận phía dương phải tính ra sao?
Vì như người Sát Phá Liêm Tham gặp vận Tử Phủ Vũ Tướng hẳn là sự khác biệt không bao nhiêu vì Tử Phủ Vũ Tướng cùng trong phe phái lưỡng nghi, nếu gặp Cự Nhật hay Cơ Nguyệt Đồng Lương, tức là khác biệt hẳn dĩ nhiên là kết quả phải đáng kể.
Nguyên tắc Đại vận
Vậy có thể đặt nguyệt tắc căn bản (để đoán Đại vận):
a- Người Sát Phá Liêm Tham gặp vận Cơ Nguyệt Đồng Lương là có sự kém cỏi hẳn.
b- Người Sát Phá Liêm Tham gặp vận Cự Nhật có sự thay đổi kém với mức độ quá bán.
c- Người Sát Phá Liêm Tham gặp vận Tử Phủ Vũ Tướng có sự thay đổi tương đối.
d- Người Sát Phá Liêm Tham gặp vận Sát Phá Liêm Tham nguyên mức độ.
Trái lại:
a- Người Cơ Nguyệt Đồng Lương gặp vận Cơ Nguyệt Đồng Lương ở nguyên mức độ.
b- Người Cơ Nguyệt Đồng Lương gặp vận Cự Nhật đã thấy khởi sắc.
c- Người Cơ Nguyệt Đồng Lương gặp vận Tử Phủ Vũ Tướng tiến bộ.
d- Người Cơ Nguyệt Đồng Lương gặp vận Sát Phá Liêm Tham, phải coi chừng càng cao danh vọng càng dày gian nan.
Ngoài ra còn phải thêm bớt do bộ sao ở chỗ đắc địa hay hãm, bộ trung tinh đắc cách phò trợ, bộ sát tinh tùy thuộc lộng hành.
Nhìn vào vị trí an sao trên bản số địa bàn (hình số 2) cứ sắp xếp lấy sao ở cung dương để một bên, sao ở cung âm để một bên sẽ thấy (hình 3) thế âm dương luôn riêng biệt, không bao giờ sao của dương đứng chung với sao bên âm như hình số 1 đã trình bày theo thế lưỡng nghi, tứ tượng.
Thấy Tử Phủ Vũ Tướng và Sát Phá Liêm Tham vẫn là một phía của lưỡng nghi (D) đối với Cự Nhật, Cơ Nguyệt Đồng Lương là phía âm của lưỡng nghi.
Sinh khắc, ngũ hành
Như trên đã trình bày, cái lý quan hệ của âm dương áp dụng cho Tử vi. Dưới đây xin trình về sinh khắc của Ngũ hành mà căn bản là thế tam hợp tuổi, từ chỗ an Mệnh Thân đến vận hành chuyển đến các cung Đại vận để biết sự thuận lợi hay nghịch cảnh có 4 tam hợp là:
Người tuổi Thân Tí Thìn cần phải đóng ở Thân Tí Thìn mới là trúng cách đồng hành (vòng Thái Tuế) nếu đóng ở Dần Ngọ Tuất là hành khắc (xuất hay nhập) là cuộc đời có sự bất mãn, khó khăn. Nếu ở Tỵ Dậu Sửu hay Hợi Mão Mùi là gặp hành sinh (nhập hay xuất) là cuộc đời luôn luôn có sự hạn chế, như sinh nhập thì gặp Thiên Không còn như sinh xuất, là bị thiệt thòi.
Nhị hợp
Nhị hợp là thế tương trợ của Mệnh, Thân luôn luôn chỉ có sinh (xuất hay nhập) liên hệ nội cảnh của Mệnh, Thân như:
Mệnh đóng ở Tí (Thân Tí Thìn Thủy) được nhị hợp là phụ ở Sửu (Tỵ Dậu Sửu: Kim) sinh nhập cho Mệnh là Mệnh được hưởng cái gì từ tinh thần vật chất của cha mẹ. Nếu Mệnh ở Sửu thì Mệnh phải sinh xuất cho Bào ở Tí, tức là Mệnh ở thế thường trực trợ đỡ cho anh chị em. Với các vị trí nhị hợp khác cũng vậy, cứ Mệnh sinh xuất là Mệnh phải lo toan mà sinh nhập là Mệnh được nâng đỡ đối với nhị hợp (Phụ, Bào, Tử, Nô, Ách, Điền).
Đặc biệt là không khi nào Mệnh sinh xuất cho Phụ, chỉ có phụ sinh nhập cho Mệnh có ý nghĩa là Mệnh là truyền thống dòng dõi của nhà mình, mình là nhân quả tốt xấu. Chỉ có Thân sinh xuất cho Phụ, tức là cái Ta phải có bổn phận hiếu thảo với đấng sinh thành.
Điều hệ trọng trường hợp nhị hợp với Ách, đương số phải thận trọng trong việc đối sử nhân thế. Dầu Mệnh hay Thân sinh xuất cho Ách là chính mình kiếp này dễ gây nghiệp quả (tốt xấu). Còn như Ách sinh nhập cho Mệnh Thân là kiếp này thọ lãnh nhân quả, nên tự an ủi.
Cung xung chiếu
Xung chiếu là thế đứng luôn luôn chỉ có khắc (xuất hay nhập) với Mệnh là mình phải tranh đấu. Nếu khắc xuất là mình được hưởng những gì Mệnh có, nếu được thọ hưởng cũng phải chật vật vì phải quỵ lụy triều cống kẻ trên tay.
Tóm lại tam hợp, xung chiếu cho biết là vị trí của Mệnh có thuận tiện cho đương số kinh doanh với đời, dầu ít hay nhiều là phần quan trọng quyết định từ tư cách đến sự nghiệp của số…
KHHB số 74H1
Trong vườn nhà trồng vài loại cây giúp môi trường thêm trong sạch, lại tăng thêm màu sắc cho ngôi nhà là điều rất tốt. Thế nhưng không phải là loại cây nào cũng thích hợp trồng trong vườn nhà bạn. Nhìn từ góc độ phong thủy, trồng loại cây như thế nào và trồng ở đâu là một điều vô cùng quan trọng, cần phải có hiểu biết về vấn đề này.
1. Cây liễu
Trong vườn đặc biệt kiêng kị trồng cây liễu. Trồng loại cây này có thể dẫn đến những xui xẻo, hao tài tốn của cho chủ nhân, vì từ “ liễu” nghe âm gần giống với từ “ lưu”, tức là chảy đi, đổ đi mất. Vậy nên trồng cây liễu có thể sẽ khiến cho tài sản trong nhà chảy đổ hết xuống sông xuống biển.
Ngoài ra còn có một cách nói khác, đó là rất lâu trước đây mọi người cho rằng cây liễu thuộc về phần âm, có thể dẫn dụ âm khí đến nhà, hơn nữa cây liễu còn không kết hạt khiến người ta liên tưởng đến phần con cái. Vậy nên trồng cây liễu rất là không may mắn và không thích hợp trồng ở trong vườn nhà.

Cây liễu rủ gây hao tài tốn của
2. Cây dương
Cây Dương là loại cây cành lá xum xuê rậm rạp, nếu như có gió là sẽ kêu ào ào, sồn sột. Vậy nên dân gian mới lưu truyền cách nói về cây dương, gọi đó là “ quỷ vỗ tay”. Vì gió thổi khiến cây kêu lên từng trận ào ào như thế nên người ta cũng cho rằng cây dương dễ dẫn dụ ma quỷ đến nhà. Chính vì lẽ đó nên người ta rất không thích trồng loại cây này.

Cây Dương dẫn dụ ma quỷ đến nhà
3. Cây bách
Cây bách bốn mùa xanh tốt và có sức sống mãnh liệt vì thế loài cây này vốn dĩ là loài cây rất may mắn. Thế nhưng điều không ổn ở đây là người ta thường trồng loài cây này ở các mộ phần và còn gọi là cây nấm mộ. Chính vì lẽ đó nên người ta cho rằng đây là loại cây không tốt lành và là một loài cây đặc biệt phải kiêng kị.

Cây bách chuyên trồng ở mộ phần
4. Cây đa
Cây đa bị rất nhiều người cho rằng đó là loại cây không dung nạp con người. Gốc rễ cây đa thường to và thô nên dễ khiến cho địa hình đất đai lồi lõm và gây ra sự mất cân bằng cho ngôi nhà. Hơn thế nữa cây đa cũng thường được trồng ở đền thờ miếu mạo nên không thích hợp trồng trong gia đình.

Cây đa thường có ở đền thờ miếu mạo.
5. Cây dâu
Cây dâu Hán việt gọi là “tang” mang nghĩa xấu nên đây là loại cây không may mắn. Tuy nhiên rất nhiều người không chấp nhận cách nói này nên trong vườn họ vẫn trồng rất nhiều cây dâu.

Như bạn đã biết, đối với đàn bà, có râu là một điều xấu. Nhưng với đàn ông, nếu không có râu thì ắt hẳn là một sự “thiệt thòi” không hề nhỏ. Như người ta nói: đàn ông không râu kém uy. Do đó, rất nhiều người đàn ông luôn mong muốn có một hàm râu để thể hiện sự uy nghi đó của mình. Trong đó có không ít người sở hữu hoặc mong sở hữu được hàm râu quai nón. Vậy Râu quai nón có ý nghĩa gì đối với đàn ông? Liệu có phải cứ sở hữu râu quai nón là sẽ có được sự uy nghi của một người đàn ông bản lĩnh hay không?

Xem thêm những bài viết liên quan khác:
+ Ý nghĩa của việc tặng gương soi
+ Nốt ruồi ở đầu gối có ý nghĩa gì?
+ Nốt ruồi ở chân có ý nghĩa gì?
Trước khi tìm hiểu về Râu quai nón có ý nghĩa gì thì chúng ta tìm hiểu râu quai nón là gì trước nhé. Với những người chưa hiểu rõ về hình dáng râu này thì chắc hẳn cũng đã từng 1-2 lần nhìn thấy ngoài thực tế. Thường râu đàn ông mọc ở xung quanh miệng, cằm là chủ yếu. Với người sở hữu râu quai nón thì râu sẽ mọc từ dưới tai, chạy dọc xuống cằm. Tùy vào từng người mà độ rậm và dài của râu khác nhau. Có người mọc từ dưới tai đến gần cằm, có người mọc liền đến cằm, có thể lan sang 2 bên má, có người râu rậm, có người chỉ mọc thành đường kẻ mỏng v.v
Trước nay, những lời nói về Râu quai nón có ý nghĩa gì luôn có những ý kiến trái chiều khác nhau. Có người cho rằng tốt có người cho rằng xấu.
Thường những người đàn ông sở hữu râu quai nón được cho là những người có ngoại hình thu hút. Sự quyến rũ từ hàm râu mang lại cho người đó sự chú ý nhiều từ phái đẹp. Bởi râu quai nón thể hiện sự nam tính, mạnh mẽ và một sức hút kì lạ. Họ được đánh giá là những người cường tráng, khỏe mạnh cũng như tháo vát và nhanh nhẹn. Đây là câu trả lời phổ biến nhất cho Râu quai nón có ý nghĩa gì với đàn ông.
Trái ngược với những người đàn ông mặt mày nhẵn nhụi được cho là tiểu nhân, nhỏ mọn thì những người đàn ông có râu quai nón lại là người được đánh giá có khí chất, đôi khi ngang tàng. Họ mang trong mình tấm lòng nghĩa hiệp, có chuyện bất bình không thể bỏ qua, không hay tính toán lặt vặt. Do đó, trong mối quan hệ với bạn bè, đồng nghiệp v.v họ luôn được đánh giá là người tốt. Đây cũng là câu trả lời khá phổ biến cho Râu quai nón có ý nghĩa gì.
Ngoài ra, một điều khác mà nhiều người truyền tai nhau, nhất là chị em phụ nữ, đó là những người có râu quai nón thường rất giỏi trong chuyện chăn gối. Họ là người mạnh mẽ, cường tráng, trong tình cảm thì thật thà, chung tình và luôn biết cách làm hài lòng người phụ nữ của họ. Tuy nhiên, xét 1 góc độ khác thì người đàn ông có râu quai nón cũng bị đánh giá là người dễ “đá” bạn gái nhất. Bởi họ thu hút được sự chú ý của nhiều người, có nhiều người yêu thích và mong muốn.
Những câu trả lời cho Râu quai nón có ý nghĩa gì đối với đàn ông như trên chỉ mang tính chất tham khảo. Tuy nhiên nó được đúc rút từ việc nghiên cứu nhân tướng học, tâm lý học xã hội v.v và cũng là nguồn tài liệu đáng tin cậy. Nếu bạn là một cô gái đang quen hoặc đang muốn tìm hiểu về những anh chàng râu quai nón thì đừng bỏ qua những thông tin hữu ích trên nhé!
Tìm kiếm liên quan: râu quai nón nói lên điều gì, râu quai nón tiếng anh, đàn ông có râu quai nón, râu quai nón có ý nghĩa gì, râu quai nón là người như thế nào, người có râu quai nón, râu quai nón và tính cách, râu quai nón sợ vợ, râu quai nón tiếng anh là gì, tính cách đàn ông râu quai nón, xem tướng đàn ông có râu quai nón, râu quai nón tướng số
Theo truyền thuyết và Phật thoại, xa xưa, Người và Quỷ cùng sống trên mặt đất. Quỷ cậy mạnh chiếm đoạt toàn bộ đất đai và bắt Người đi làm thuê cho chúng với những điều kiện ngày càng khắt khe.
Với trò "ăn ngọn cho gốc", đến mùa gặt Quỷ lấy hết phần ngọn (những bông thóc), còn Người chỉ được phần gốc (rạ). Phật thương Người, mách bảo Người đừng trồng lúa mà trồng khoai lang. Mùa thu hoạch ấy, Người lấy hết củ, Quỷ chỉ được dây và lá khoai.
Quỷ tức tối, mùa sau quy định lại là "ăn gốc, cho ngọn". Người liền trở về trồng lúa như cũ. Vẫn thất bại, Quỷ đòi "lấy cả gốc lẫn ngọn". Phật mách Người nên trồng ngô. Người làm theo và lại thắng (vì bắp ngô ở khoảng giữa thân cây). Uất ức, Quỷ tịch thu toàn bộ ruộng đất, không thuê Người trồng cấy gì nữa.
Phật bảo Người thương lượng với Quỷ để mua một miếng đất chỉ bằng bóng chiếc áo cà sa. Người sẽ trồng một cây tre, trên đó mắc áo cà sa, đất của Người là phần đất giới hạn bởi bóng áo ấy. Quỷ nghĩ chẳng đáng là bao nên đồng ý, và hai bên giao ước: đất trong bóng áo là của Người, ngoài bóng áo là của Quỷ.
Khi Người trồng xong cây tre, Phật đứng trên ngọn, tung áo cà sa bay tỏa ra thành một miếng vải tròn. Rồi Phật hóa phép làm cho cây tre cao vút mãi lên, đến tận trời. Tự nhiên đất trời trở nên âm u: bóng của áo cà sa dần dần che kín khắp cả mặt đất.
Quỷ không ngờ có sự phi thường như thế, mỗi lần bóng áo lấn dần vào đất của chúng, chúng phải dắt nhau lùi mãi lùi mãi. Cuối cùng Quỷ không có đất ở nữa, phải chạy ra biển.
Quỷ tập hợp lực lượng phản công hòng chiếm lại đất. Cuộc chiến diễn ra hết sức ác liệt. Biết quân của Quỷ sợ máu chó, lá dứa, tỏi, vôi bột nên Phật và Người sử dụng những thứ ấy làm vũ khí. Quỷ bị đại bại, bị Phật bắt, đày ra biển. Chúng van xin Phật, hàng năm, cho chúng vào thăm đất liền vài ba ngày. Phật thương tình, đồng ý.
Vì thế, hàng năm cứ đến ngày Tết Nguyên đán là ngày Quỷ vào thăm đất liền, thì người ta theo tục trồng nêu để cho Quỷ không dám bén mảng vào chỗ người đang ở.
Trên ngọn cây nêu, Người ta treo khánh đất nung để mỗi khi gió rung thì có tiếng động phát ra để luôn nhắc bọn Quỷ nghe mà tránh. Cũng trên đó có buộc một bó lá dứa hoặc cành đa mỏ hái để cho Quỷ sợ. Ngoài ra, người ta còn vẽ hình cung tên hướng mũi nhọn về phía đông và rắc vôi bột xuống đất vào những ngày Tết để cấm cửa Quỷ.

Trồng cây nêu đã trở thành tục lệ Tết phổ biến của các dân tộc Việt Nam: từ Kinh, Thái, Mường đến Ba Na, Gia Rai... Trên ngọn nêu, người ta thường treo một túm lá dứa, lông gà, cành đa, lá thiên tuế, những chiếc khánh và con cá bằng đất nung, cùng một tán tròn bằng tre nứa dán giấy đỏ.
Ngoài ra có nơi còn treo những chiếc đèn lồng, đèn xếp hoặc vài xấp tiền, vàng mã... Dù với dụng ý khác nhau, nhưng những vật treo đều tượng trưng cho mong muốn bảo vệ con người, tạo lập hạnh phúc cho con người. Ví như lá dứa để dọa ma quỷ (vì ma quỷ sợ gai), không cho chúng vào quấy phá.
Cái khánh đồng âm với "khánh" có nghĩa là "phúc": năm mới đem lại hạnh phúc cho gia đình. Cành đa tượng trưng cho điều lành và tuổi thọ. Tiền vàng mã để cầu tài, cầu lộc. Lông gà là biểu tượng chim thần (một sức mạnh thiên nhiên giúp người).
Đặc biệt, cây nêu còn coi là cây vũ trụ - nối liền Đất với Trời. Tán tròn bằng giấy đỏ tượng trưng cho Mặt Trời và ngọn nêu là nơi chim thần (sứ giả của Mặt Trời) đậu. Cuối năm (cuối mùa đông) mới trồng cây nêu để đầu năm ngọn nêu vươn lên đón ánh nắng xuân, sức sống xuân.

Nghi thức thờ cúng tổ tiên của người Việt Nam được coi là độc đáo, trở thành hệ thống và có ý nghĩa riêng của nó. Khởi đầu những ngôi mộ trong hang động ở vùng trung du Bắc Bộ có những vật dụng đem theo cho người chết với sự tin tưởng người chết vẫn sống ở thế giới vĩnh hằng. Con người, ông bà, tổ tiên mình có thể thành Tiên, thành thần, thành thánh, thành Phật.
Chính vì vậy, người ta lập bàn thờ, nhà thờ một cách trang trọng. Khi cúng tế, người ta luôn cầu ân đức, tổ tiên phù hộ độ trì cho con cháu. Không chỉ ngày giỗ, ngày Tết mà còn có những dịp trong đại của con người như đám cưới, đám tang hay khi gặp hoạn nạn, làm ăn, đều khấn vái, kính cáo Tổ tiên.
Các nhà nho trước đây cho rằng thờ cúng tổ tiên chỉ để thể hiện chữ hiếu, với tinh thần chim có tổ, người có tông, uống nước nhớ nguồn.
Ngày nay, mọi gia đình người Việt Nam đều thờ tổ tiên và hầu hết đều có bàn thờ gia tiên, đó chính là quốc đạo, lấy con người làm chủ vạn vật, coi trọng âm đức, cái đức thiêng liêng của con người.
Đây là an theo tháng sinh, dựa vào thứ tự: “Dần – Tý – Tuất – Thân – Ngọ – Thìn” từ tháng Giêng đến tháng Chạp, thuận theo thứ tự này để an sao Âm sát, tuần hoàn 2 lần.
– tháng Giêng tháng Bảy ở cung Dần
– tháng Hai tháng Tám ở cung Tý
– tháng Ba tháng Chín ở cung Tuất
– tháng Tư tháng Mười ở cung Thân
– tháng Năm tháng Một ở cung Ngọ
– tháng Sáu tháng Chạp ở cung Mão
Sao Âm sát chủ về âm mưu, gian trá, giảo hoạt, lừa bịp, tâm thuật bất chính. Thường kết hợp với Thái âm Hóa Kị, Thiên cơ Hóa Kị, Cự môn Hóa Kị, Thiên diêu, Đà la mà phát sinh ứng nghiệm.
Theo Vương Đình Chi – Trung châu Tam hợp phái cho rằng, Âm sát chủ về rất thích hợp với tiểu nhân, kị nhập cung Mệnh và cung Phúc đức. Ở cung Phúc đức cung Mệnh chủ về người tâm thuật bất chính. Ở cung Tài bạch chủ về người thiên bẩm có tài giỏi trộm cắp. Ở cung Sự nghiệp chủ về ưa dùng thủ đoạn mờ ám, lật lọng, lừa đảo, hành nghề rất tinh vi sản xuất hàng giả, như chế tạo tiền giả.
Theo Chu Văn Sơn – Nam Bắc phái đoán mệnh viết: Âm sát là sao chủ về tiểu nhân. Thủ chiếu ở cung Thiên di, Phúc đức chủ về tính mạng gặp nguy khó. Trong một thời gian nào đó sẽ có người lôi kéo. Âm sát chủ về sự ẩn náu, mớ ám. Nếu sao Âm sát tọa thủ cung Mệnh cung Thân thì người đó rất gian manh, đố kị, thêm Kình dương, Đà la thì tâm tính thâm trầm, hành sự mớ ám.
Theo Vũ Tài Lục – Tử vi tinh điển cho rằng: Âm sát vào mệnh hay gặp tiểu nhân, bản tính nghi hoặc nên dễ phiền não vô ích, nếu thấy luôn cả Đà la, Hóa Kị, Không Kiếp, chủ về đi đến ảo giác, suy nghĩ vớ vẩn, hoặc vì ma túy mà con người đầu óc lơ mơ.
– Âm sát ở cung Thiên di, con người cô độc ít hợp, khó hòa đồng, hay ngại ngùng nghi kỵ, mê muội với sự vật hư ảo.
– Âm sát ở cung Phụ mẫu ưa những vọng tưởng không có thực về gốc tích của mình.
– Âm sát ở cung Nô bộc hay uất ức vô cớ với bạn bè, công việc hợp tác thì hay nghi kỵ.
– Âm sát ở cung Huynh đệ thường bị phản từ nội bộ.
– Âm sát ở cung Phu thê, đau khổ ngơ ngẩn vì người thương yêu do sinh ly hay tử biệt.
– Âm sát ở cung Quan lộc, làm một việc mê muội mà hại đến sự nghiệp, mê vợ hay tình nhân mà khốn khó, hoặc cả tin vào bạn, người trên mà lâm vào tình cảnh khốn khó.
– Âm sát ở cung Tài bạch, vì tự cao tự đại, vì tham mê mà phá sản.
– Âm sát ở cung Phúc đức, tâm lý tư tưởng quá khích, cuồng tưởng, vọng tưởng, cuồng tính, găp thêm ác sát có thể thành điên.
– Âm sát ở cung Tử nữ, con người rất chủ quan, lại hay đi vào tín ngưỡng tôn giáo đồng bóng, tuyệt đối tin rằng mình giỏi hơn, đáng kính đáng yêu hơn bất cứ ai khác.
– Âm sát ở cung Điền trạch, thường gặp nhà cửa có ma quỷ, hoặc vì vợ chết con chết, mà cứ tưởng tượng thấy lởn vởn linh hồn vợ con phảng phất.
Theo Nguyễn Đăng Quang – Bí mật Tử vi Đẩu số viết: Đặc tính căn bản của Âm sát là gây ảo giác, đưa con người về thế giới tâm linh, Âm sát rất kỵ gặp Không Kiếp Hỏa Linh, bởi vì đây là hai thứ Hỏa vô hình, nhất là Không Kiếp, trong huyền thật của đạo sĩ phái Mao Sơn còn cho là Thiên hôn Địa ám, toàn là thứ âm khí nặng nề là gặp Âm sát, là chúa gây ảo giác, Mệnh và Vận hạn gặp phải cứ cảm giác mình đang bị người hại. Đây là loại hoang tưởng phổ biến nhất, lúc nào cũng cảm giác có người theo dõi, truy đuổi, dẫn đến cảnh bỏ nhà đi lang thang, hoặc tìm cách thu mình vào xó nhà, sợ tiếp xúc với người lạ, đôi khi lại tự nói chuyện lầm thầm trong miệng, ánh mắt khác thường, mắt chớp đảo liên hồi hoặc mắt ngây dại. Dân gian thường gọi là “người bị ma nhập“, Y học hiện đại thì cho là bệnh chứng hoang tưởng. hoặc tâm thần phân liệt dạng hoang tưởng, Tây y cho là rối loạn thần kinh mà ra, Đông y cho là khí hỏa uất kết mà ra. Có trường hợp chữa bằng thuốc thì khỏi, có trường hợp không khỏi. Có người bệnh qua vận Âm sát, trở lại sinh hoạt tương đối bình thường, có người bệnh nặng bỏ nhà đi luôn không biết sống chết thế nào !
Hoang tưởng còn có biểu hiện ghen tuông vô cớ, thậm chí là ghen tuông người đã quá cố. Cũng có khi lại cho là có ai yêu mình, rất khẳng định và tìm cách tiếp cận đối tượng yêu đương kia sợ hãi, xa lánh, … Các trường hợp hoang tưởng này, là cách Âm sát, Linh Hỏa, Kiếp Không, Phục binh, Hóa Kị, gặp hạn Hồng Đào Diêu Thai.
Tôi, qua kiểm nghiệm thực tế, nhận thấy lá số Tử vi của vài người có khả năng ngoại cảm, trong lá số Tử vi có Âm sát tọa thủ tại cung Mệnh. Rõ nhất là người mệnh Vô chính diệu Âm sát thủ mệnh, Đồng Âm xung chiếu, Hỏa Linh hội hợp.
Yếu tố gây hoang tưởng là do sao Âm sát nằm sẵn trong mệnh, chỉ chờ vận hạn ráp đủ bộ là nổi lên ngay tức khắc. Bởi thế, có những trường hợp đang là sinh viên Đại học, từ nhỏ đến khi vào Đại học đều thông minh nhanh nhẹn, tự nhiên trở thành bệnh nhân hoang tưởng, làm nhiều điều (mà người bình thường cho là) dại dột, gây đau khổ và ấm ức cho gia đình, hao tổn cho xã hội.
Vấn đề tác hại của sao Âm sát gây ra chứng bệnh hoang tưởng, đáng được quý độc giả ghi nhận và nghiên cứu thêm, không nên vội vã chấp nhận hay phản đối, đó là thái độ khoa học. Đây là vấn đề rất nghiêm túc, số người mắc chứng hoang tưởng theo thống kê chiếm khoảng từ 0,3% ~ 1% dân số. Nếu Tử vi đóng góp chính xác về chứng hoang tưởng là góp phần giải quyết một vấn nạn quan trọng cho xã hội.
Vận hạn đến sao Âm sát, gia hội sát tinh và bại tinh, cũng thường có ý tưởng thoái lui công việc, xin nghỉ việc, đầu óc lang man, thích chơi nhiều hơn làm. Người có Âm sát trong mệnh cũng hay ngủ nhiều. Vận hạn gặp Âm sát gia hội Sát tinh là bại vận, phá vận, nếu tranh đoạt với người khác là cầm chắc phần thua.
Ở những bài trước Xem Tướng chấm net đã trình bày cùng các bạn cách xem đại vận 10 năm trong lá số tử vi của mỗi người ,cũng như cách xem hạn năm của mỗi người dựa vào lá số.
Bài này Xem Tướng chấm net xin trình bày chi tiết cách xem hạn tháng theo phương pháp và quan điểm của cụ Thiên Lương :

Nếu Đại vận và tiểu vận tốt, thì Nguyệt vận cũng tốt thì càng tốt thêm; Nguyệt vận có xấu cũng bớt xấu.
Nếu Đại vận và tiểu vận bị xấu mà Nguyệt vận bị xấu thì càng xấu; Nguyệt vận tốt cũng chỉ tương đối.
-Tính Nguyệt vận, có 2 nguyên tắc :
Xem hạn tháng ở tháng nào, tháng ấy có Can Chi gì, lấy hàng Can so với Can của năm sinh là thấy tháng ấy tốt hay xấu. Mức độ tốt xấu đại cương này đúng đến 60%, chỉ còn những chi tiết của biến cố tốt xấu là do sao mà đoán.
Cũng vì sự tốt xấu của tháng đã được ấn định, do hàng Can của tháng, cho nên hàng Chi của tháng không thay đổi, cứ:
Tháng Giêng là tháng Dần, ở cung Dần
|
|
2
|
Mão
|
Mão
|
|
|
3
|
Thìn
|
Thìn
|
|
|
4
|
Tỵ
|
Tỵ
|
|
|
5
|
Ngọ
|
Ngọ
|
|
|
6
|
Mùi
|
Mùi
|
|
|
7
|
Thân
|
Thân
|
|
|
8
|
Dậu
|
Dậu
|
|
|
9
|
Tuất
|
Tuất
|
|
|
10
|
Hợ,
|
Hợi
|
|
|
11
|
Tý
|
Tý
|
|
|
12
|
Sửu
|
Sửu
|
Xem các sao cung Nguyệt vận, dể biết các chi tiết vận tốt xâu (40% còn lại).
Xem sao ở cung Nguyệt vận, phải kể cung chính và cung tam hợp; tam hợp nhị hợp sinh cho tam hợp Nguyệt vận thì cho các sao nhị hợp, và tuỳ theo tam hợp Nguyệt vận khắc tam hợp cung xung chiếu hay bị khắc lại, mà đoạt những sao tốt hay phải chịu những sao xấu của cung xung chiếu.
Trong nhiều trường hợp mà sự tốt xấu đã rõ ràng (như Đại vận và niên vận đều báo sự thi đậu hay thăng tiến công danh, hay phát tài lộc, hay đau ốm sắp chết) có khi không cần xem sao Nguyệt vận, chỉ cần xem tháng đó tốt hay xấu trong đại cương. Nếu là tháng tốt thì việc tốt xảy ra, nếu là tháng xấu thì việc xấu xảy ra.
Muốn biết tháng tốt hay xấu, trước hết phải biết hàng Can của tháng. Hàng Can của tháng tính như sau:
| Năm vận (là năm tiêu hạn)
|
Tháng Dần
|
| Giáp, Kỷ
|
Bính Dần
|
| Ất, Canh
|
Mậu Dần
|
| Bính, Tân
|
Canh Dần
|
| Đỉnh, Nhâm
|
Nhâm Dần
|
| Mậu, Quý
|
Giáp Dần
|
Thí dụ: Năm Kỷ Mùi, tháng Giêng là tháng Bính Dần.
Năm Canh Thân, tháng Giêng là tháng Mậu Dần.
Rồi cứ theo thứ tự hàng Can và hàng Chi mà tính các tháng kê tiếp.
Cũng như niên vận, tính các tháng tốt xâu bằng hàng Can so sánh với Can năm sinh.
| Can nguyệt vận sinh cho Can năm sinh
|
Tốt 1
|
| Can năm sinh khắc Can nguyệt vận
|
Tốt 2
|
| Can nguyệt vận hoà Can năm sinh
|
Bình
|
| Can năm sinh Can nguyệt vận
|
Xấu vừa
|
| Can nguyệt vận khắc Can năm sinh
|
Xấu |
Vấn đề tốt xấu là do hành Can (của năm vận và năm sinh so sánh với nhau). Đó là về năm về tháng, tháng tốt xấu cũng được ấn định bằng hành Can của tháng vận so với hành Can năm sinh.
Nhưng ta có thêm nguyên tắc sau này:
-Nếu là năm vận Âm, thì sự việc tốt hay xấu (tùy theo là năm tốt, xấu) thường xảy ra vào tháng âm
-Nếu là năm vận Dương thì sự việc tốt xấu (tùy theo là năm tốt, xấu) thường xảy ra vào tháng dương
-Chờ tháng một sự kiện xấu đã sẵn có, phải tìm đến tháng mà hành Can khắc được hành năm vận, nếu năm vận xấu.
-Vài kinh nghiệm xem tử vi vận tháng của cụ Thiên lương
Câu chuyện thứ nhất:
Đương số" tuổi Kỷ Mùi bị ở tù. Đầu năm Đinh Tỵ, Cụ Thiên Lương giải đoán: “Năm nay tốt đây, tuổi Kỷ có thể về nhà được, vì Đinh Hoả sinh Kỷ Thổ”.
Hỏi: Có thể về tháng nào?
Đáp: Chưa xem lá sô", nhưng đoán rằng sẽ về trong một tháng Âm.
Năm Đinh Tỵ, tháng Giêng là tháng Nhâm tức tháng Dương. Bao giờ các tháng 1,3,5,7,9,11 cũng là tháng Dương. Tháng Âm bao giờ cũng là tháng 2, 4, 6, 8, 10, 12.
Tuổi Kỷ Mùi đã được tự do tháng 8 năm Đinh Tỵ, đúng tháng Âm.
Câu chuyện thứ hai:
Người con ông Cụ tuổi Nhâm gần nhà đến coi cho cha: “Cha tôi bị đau liên miên, sợ khó qua khỏi”
Năm đó là Mậu Ngọ - Mậu Thổ khắc Nhâm Thủy, ông cụ đau nặng là phải. Qua đến năm Kỷ Mùi, ông Cụ càng đau thêm.
Cụ Thiên Lương nói: “Cụ khó qua khỏi, năm Kỷ còn xấu, Kỷ cũng là Thổ, cũng khắc Nhâm Thủy. Nhưng tháng Giêng này chưa sao đâu, phải phòng tháng 2 hay tháng 4”.
Kỷ là năm Âm, việc xấu do năm báo trước thường xảy ra vào tháng Âm là tháng 2 hay 4...... Tháng 2, ông Cụ tuổi Nhâm mất
Câu chuyện thứ ba:
Một người tuổi Mậu bị bệnh lâu ngày. Năm đó là năm Ất, Ất Mộc khắc Mậu Thổ bị bệnh là phải.
người nhà đến nhờ xem giờ khỏi. Xem lá số tử vi người đó không yểu, Cụ Thiên Lương bảo: Sẽ khỏi trong tháng Âm, mà vào tháng Quý, vì Mậu khắc Quý”.
Quả nhiên, tháng 6 Quý Mùi người đó khỏi bệnh.
Bạn có thể xem thêm các tuổi khác bằng tiện ích tra cứu: Xông đất đầu năm 2014
Bạn có thể xem thêm màu sắc phong thủy bằng tiện ích tra cứu : Xem phong thuy
Bạn có thể xem thêm lá số tử vi bằng tiện ích tra cứu : Xem tu vi
Đền Đậu An tọa lạc tại thôn An Xá, xã An Viên, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên. Nằm cách thành phố Hưng Yên khoảng 12 km, trên mảnh đất hình đầu rồng, được bao bọc bởi hồ nước trong xanh in bóng những cây nhãn lồng cổ thụ, đền Đậu An là nơi duy nhất ở Việt Nam thờ Ngọc Hoàng Thượng Đế cùng các thiên thần.
Tương truyền, vào năm Thiên Định nhị niên (trước Công Nguyên) có Thiên tiên, Địa tiên mở cổng trời xuống hướng dẫn nhân dân khai phá vùng sình lầy, dạy cách săn bắn, hái lượm và trồng lúa nước. Ngoài ra còn có Ngũ lão tiên ông huy động dân làng khai hoang, diệt trừ thú dữ và dựng Thụy Ứng quán thờ để cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Đền Đậu An được chính thức ghi vào lịch sử với tên gọi Thụy Ứng quán vào năm 226 trước Công nguyên. Sau này, Thụy Ứng quán được xây dựng mở rộng trở thành quần thể di tích mang tên gọi đền Đậu An như ngày nay.
Đền Đậu An có kiến trúc kiểu chữ Đinh (J), tọa lạc trên thế đất hình rồng với diện tích khoảng 2,2ha, xung quanh có cây xanh, hồ nước tạo thành nơi Thủy tụ. Đền gồm 3 kiến trúc chính: đền Thượng (đền chính), đền Hội đồng và đền Thánh mẫu. Trong đó, đền Thượng là công trình kiến trúc đặc sắc hình chữ Đinh, gồm 3 tòa: Tiền tế, Thượng điện và Hậu cung. Phần lớn kiến trúc của đền được làm bằng gỗ lim, riêng hai cung Đệ nhất và Đệ nhị của tòa Thượng điện được xây dựng bằng đá tảng nguyên khối có chạm khắc họa tiết rồng, phượng tinh xảo.
Ngoài kiểu kiến trúc cổ kính, Đền Đậu An còn lưu giữ được nhiều di tích cổ có giá trị nghệ thuật và thẩm mĩ. Nổi bật và đặc sắc nhất phải kể đến tòa tháp Cửu trùng bằng đất nung được xây dựng từ thời Lý – Trần. Họa tiết và chất liệu của tháp vừa có dáng dấp tháp đình bảng, vừa có nét Chăm Pa, khắc hình cánh sen, chim thần Gara. Tháp cao chín tầng biểu thị chín tầng mây cao vời vợi của chốn cửu trùng. Ngoài tháp Cửu trùng còn có nhang án (bệ hoa sen) bằng đất nung đặt trong cung cấm, có cùng niên đại với tháp Cửu trùng. Tại đền Đậu An còn lưu giữ chiếc khánh đá cổ niên hiệu Vĩnh Trị, chuông đồng niên hiệu Cảnh Hưng và hai tấm bia đá thời Lý, Nguyễn ghi lại niên đại kiến trúc và những người có công tôn tạo, mở rộng trùng tu đền.
Lễ hội đền Đậu An bắt đầu từ ngày 6 – 12/4 âm lịch, nhân dân thôn An Xá lại tổ chức lễ hội truyền thống đền Đậu An để tri ân công đức các vị tiền bối. Ngoài các nghi thức tế lễ chính (dâng hương, rước kiệu), lễ hội còn có nhiều trò chơi hấp dẫn như: chọi gà, cờ tướng, hát quan họ…, trong đó có trò chơi “đánh hổ” hay còn gọi là “đánh bệt” mang đậm màu sắc dân gian truyền thống.
Hàng năm, các Phật tử trong và ngoài nước đến đây để dâng hương, tham quan và làm công đức. Ngôi đền cổ Đậu An đã thực sự không làm phụ công các Phật tử đến đây khi họ cầu luôn thấy ứng. Đến với quần thể di tích đền Đậu An hôm nay, du khách sẽ như được hòa mình vào không gian của những thiên thần thoại cổ tích, không gian của làng quê văn hóa Việt Nam với những nếp ứng xử văn hóa ấm áp tình người.
Hiện tượng: cửa nhà vệ sinh chính đối cầu thang đi xuống sẽ làm cho uế khí từ nhà vệ sinh xông thẳng xuống dưới, bay vào nơi dương trạch, ảnh hưởng đến sức khỏe và vận thế của người sống trong nhà.

Phương pháp hóa giải: Bạn hãy treo một tấm rèm vải ở cửa nhà vệ sinh và nởi ngưỡng cừa đặt chuỗi đồng tiền Ngũ Đế để hóa giải. Nếu có quạt thông gió hoặc cửa sổ trong nhà vệ sinh thì bạn phải chú ý thường xuyên để nhà vệ sinh được thông gió cho uế khí bay ra ngoài, thì nhà vệ sinh luôn sạch sẽ, khô ráo.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Mỹ Hoa (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
Phương Vị: Nam Đẩu TinhTính: DươngHành: ThổLoại: Tài Tinh, Quyền TinhĐặc Tính: Tài lộc, uy quyềnTên gọi tắt thường gặp: Phủ
Một trong 14 Chính Tinh. Sao thứ nhất trong 8 sao thuộc chòm sao Thiên Phủ theo thứ tự: Thiên Phủ, Thái Âm, Tham Lang, Cự Môn, Thiên Tướng, Thiên Lương, Thất Sát, Phá Quân.
Vị Trí Ở Các Cung
Do vị trí địa lý đặc thù của Trung Quốc mà hướng Nam được coi là hướng tốt nhất để làm nhà.
Những di chỉ khảo cổ đã cho chúng ta thấy hầu hết mọi căn nhà thời đồ đá đều là tọa Bắc hướng Nam, tức là hướng Tý Ngọ (theo phong thuỷ). Tuy nhiên do vĩ độ và kinh độ khác nhau nên toạ Bắc hướng Nam chếch Đông, toạ Bắc hướng Nam chếch Tây là hướng tốt nhất.

Thông thường, các thầy phong thuỷ không đề xướng xây nhà hướng chính Nam hoặc chính Bắc. Nguyên nhân là do chính Nam chính Bắc là tướng đế vương, theo phong thuỷ đó là hướng “lên voi xuống chó”. Cái gọi là “Sáng quân vương, chiều trộm cướp” là có ý chỉ điều đó. Cho nên người dân bình thường không chịu nổi hướng đó.
Làm nhà hướng Tây Nam hoặc Đông Bắc có thể tránh được ánh nắng chói chang của mùa hè, nhưng lại ấm áp vào mùa đông, có thể sát khuẩn khiến sức đề kháng của con người tăng mạnh, giảm phát sinh bệnh tật. Tục ngữ có câu: “Cửa chính hướng Nam, con cháu không lạnh. Cửa chính hướng Bắc, con cháu chịu tội”. Câu nói này không phải là không có lý. Vì thế khi chọn hướng nên chọn hướng Tây Nam hoặc Đông Nam là tốt nhất.
– Nếu ngũ hành bản mệnh của bạn thuộc mệnh Kim, nên thường xuyên mặc quần áo màu trắng, phối phụ kiện hay đồ trang sức màu vàng kim sẽ rất tốt về ngũ hành. Vì đó là màu sắc mang đặc trưng của bản mệnh. Ngoài ra, màu vàng cũng thích hợp cho người mệnh Kim, vì Thổ sinh Kim, mang tới cát khí cho bản mệnh.
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
Thiên Đồng dương thủy, hóa khí là ‘Phúc’ chủ về Phúc đức thuộc Nam Đẩu hệ. Ở đắc địa người đầy đặn, vào hãm địa người thấp nhỏ. Thiên Đồng gặp Đà La nơi Mệnh cung hay có tật ở mắt như lác, lé, cườm mắt. Thiên Đồng hành thủy nên cũng ưa động, bị động chứ không chủ động, tâm thần không kiên nhẫn mà dao động, luôn luôn đổi ý. Thiên Cơ già dặn kinh lịch, Thiên Đồng động một cách non nớt, ấu trĩ.
Thiên Đồng gặp Thiên Riêu tâm tình y như người đồng bóng ưa giận dỗi, nay thế này, mai thế khác. Số nữ có Thiên Đồng thì hiền thục nhưng khó chiều, dễ hờn mát. Thiên Đồng khoái hưởng thụ hơn phấn đấu. Chủ về Phúc nên đóng ở cung Phúc Đức kể như tốt nhất. Phúc Đức cung có sao Thiên Đồng đời đời mãi mãi sống sung túc với điều kiện không đi cùng Cự Môn.
Điểm đặc biệt của Thiên Đồng là không sợ Sát Kỵ, dễ có thể dựa vào Sát Kỵ làm khích phát lực. Sát Kỵ đẩy Thiên Đồng vào quyết liệt phấn đấu. Đó chính là lý do cổ nhân đưa ra câu phú: ‘Thiên Đồng Tuất cung Hóa Kỵ Mệnh ngộ phản vi giai (Thiên Đồng tại Tuất hội Hóa Kỵ thủ Mệnh hóa ra tốt)
"Đồng đóng cung Tuất yên vìHãm cung nhưng lại được bề hiển vinhNhờ sao Hóa Kỵ thêm xinhẤy là ưng hợp dễ thành giàu sang"
Cách Thiên Đồng cung Tuất hội Hóa Kỵ cổ thư gọi bằng ‘Càn cung phản bối’. Không phải chỉ gặp Hóa Kỵ không là đủ. Hóa Kỵ còn cần Cự Môn, Hóa Lộc, Văn Xương thì mới đến tình trạng bĩ cực thái lai sức dồn ép đến sức cùng bật ngược trở lại.
Song song với cách ‘Càn cung phản bối’ là cách ‘Mã đầu đới tiễn’ (Cung tên treo cổ ngựa). Mã đầu chi cung Ngọ, tiễn là Kình Dương. Chỉ những người tuổi Bính Dậu mới gặp Kình Dương thôi.
Phú nói ‘Thiên Đồng Kình Dương cư Ngọ vị, uy chấn biên cương’ nghĩa là ‘Thiên Đồng đóng cung Ngọ gặp Kình Dương uy thế ra tới ngoài biên ải. Đừng nhầm lẫn hễ cứ thấy Thiên Đồng hội Kình Dương cả ở cung Tí mà gọi là ‘Mã đầu đới tiễn’. Cung tên chẳng thể treo ở cổ chuột.
Tử Vi Đẩu Số viết: ‘Người tuổi Bính an Mệnh ở cung Tỵ, Hợi gặp Thiên Đồng, công danh tiền bạc tốt’. Đó là cách Điệp Lộc (hai sao Lộc). Hóa Lộc tại Mệnh, Lộc Tồn từ cung xung chiếu Tỵ. Cách Điệp Lộc thì giàu có. Nếu thêm Tả, Hữu, Khôi, Việt còn sang cả nữa.
Thiên Đồng đóng Dậu, người tuổi Bính cũng Điệp Lộc. Hóa Lộc tại Mệnh, Lộc Tồn từ cung Tài Bạch đứng cùng Cự Môn chiếu qua, Hóa Quyền đi theo Thiên Cơ chiếu lên, tiền bạc khá giả nhưng không hay bằng cách Điệp Lộc của Thiên Đồng Tỵ Hợi bởi lẽ cả ba sao Đồng Cơ Cự không đắc địa.
Còn như Thiên Đồng tại Sửu mà tuổi Bính cũng Điệp Lộc. Hóa Lộc tại Mệnh, Lộc Tồn cung Quan kém hơn. Vì Cự Đồng đồng cung gây chướng ngại trên hoàn cảnh cũng như trên tính tình. Và Lộc ở Quan cũng chẳng bằng Lộc ở cung Tài Bạch.
Điệp Lộc còn vào người tuổi Đinh khi Thiên Đồng đóng Ngọ, nên Tử vi trong tinh điển mới viết: “Đồng Ngọ hãm, Đinh nhân nghi chi”. Đồng Âm Ngọ hãm địa, nhưng tuổi Đinh lại tốt vì có Điệp Lộc. Vậy thì Thiên Đồng cần Điệp Lộc.
Với tuổi Canh, cách Thiên Đồng có một điểm nghi nan trên an bài Tứ Hóa. Tuổi Canh Đồng gặp Hóa Kỵ hay Hóa Khoa? Là Nhật Vũ Đồng Âm hay Nhật Vũ Âm Đồng? Theo trình tự của Tứ Hóa? Không ai đủ uy quyền mà quyết định. Bên Trung Quốc đã bàn cãi nhiều mà rút cục phe nào làm theo ý phe ấy. Người trọng tài duy nhất chỉ là Trần Đoàn tiên sinh thôi, mà tiên sinh thì chưa sống lại. Tuổi Canh hễ dính dấp đến Thiên Đồng vấn đề muốn nát óc, phải mượn tướng cách mà đoán thêm.
Toàn thư viết rằng: “Nhược tại Hợi địa, Canh sinh nhân hạ cục cách ngộ Dương Đà Linh Kỵ xung hội, tác cô đan phá tướng mục tật”. Câu trên nghĩa là Nếu Đồng đóng Hợi mà tuổi Canh thì xấu, lại gặp cả Dương Đà Linh Kỵ nữa, thì cô đơn, phá tướng, có mục tật (cận thị nặng hoặc đui mù). Vịn vào câu trên mới lập luận chắc Thiên Đồng bị Hóa Kỵ nên mới thành hạ cục, thiết nghĩ không lấy chi làm rõ lắm. vì cũng câu trên lại bảo ‘cánh ngộ’ (lại gặp cả) Hóa Kỵ. Sao phải dùng chữ ‘cánh ngộ’ nếu như đương nhiên Thiên Đồng đi với Hóa Kỵ.
Và rõ ràng hơn ở mục sắp xếp các sao thì chính Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư vẫn sắp Hóa Kỵ đứng bên Thái Âm.
"Canh Nhật Vũ Đồng Âm vi thủTân Cự Dương Khúc Xương chí."
Riêng tôi thấy Đồng Âm đúng. Bên Trung Quốc, Tử vi thấu phái chủ trương Âm Đồng.
Về cách ‘Càn cung phản bối’ của Thiên Đồng tại Tuất đứng với Hóa Kỵ, cách này chỉ hiện lên vì hai tuổi Tân và Đinh. Tuổi Tân, Hóa Kỵ theo Văn Xương đóng Tuất hoặc Thìn (tùy theo giờ sinh Tí Ngọ). Tuổi Đinh, Hóa Kỵ theo Cự Môn đóng Thìn. Tuổi Tân Cự Môn còn có cả Hóa Lộc nữa. Tuổi Đinh thì Đồng đứng bên Hóa Quyền
Khi giải thích về: “Càn cung phản bối”, cổ nhân viết câu :”Thiên Đồng tại Tuất, Đinh Tân nhân ngộ phản vi kì” là thế.
Thiên Đồng cần đi với Hóa Lộc, ở trường hợp ‘Càn cung’ nó cần Hóa Kỵ để làm sức khích động, sức khích động ấy chuyển tình trạng bất lợi sang tình trạng thuận lợi, chuyển hàn vi thành khá giả.
Bĩ cực thái lai, cổ nhân ngầm báo cho hay rằng cách Càn cung phản bối trước khi nên công phải bị đẩy vào chỗ bĩ đa. Thiên Đồng còn được nhận như bạch thủ hưng gia (tay trắng làm nên) chính là rút tỉa từ cách ‘Càn cung’ vậy. Cách ‘Càn cung phản bối’ cổ nhân cho rằng không hợp với nữ mạng. Đàn ông con trai phải thiên ma bách triết được, đàn bà mà như thế chẳng khác gì cô thôn nữ chất phác dấn thân vào chốn phồn hoa.
Chỉ thấy nói Thiên Đồng tại Tuất mới có cách Càn vi phản bối. Thiên Đồng tại Thìn thì không. Không thấy Đẩu số toàn thư giảng tại sao? Tuy nhiên có luận cứ của người đời sau cho rằng Thìn là cung Thiên La, Tuất là cung Địa Võng. Đã Thiên thì hết khích động phản ứng, chỉ có Địa tiếp xúc với cái thực tế trước mặt mới chịu khích động phản ứng mà thôi. Luận cứ này cũng cho rằng Thiên La nên hiểu theo nghĩa Thiên Nhai, Địa Võng nên hiểu theo nghĩa Địa Dốc (chân trời góc biển). Thiên Nhai (chân trời) không tạo khích động lực như Địa dốc. Cái gì thuộc trời như đã an bài rồi, cái gì thuộc đất còn tiếp tục đấu tranh.
Vào số nữ, cổ nhân cho rằng không nên nếu nó đi với Thái Âm hay Thiên Lương.
"Đồng Âm ở Ngọ ở TíĐồng ở Tuất hội chiếu Cơ Âm ở DầnĐồng ở Dậu đối xung với Thái Âm tại MãoĐồng đóng Mão, Thái Âm tam hợp từ HợiĐồng Lương cùng đóng Dần ThânĐồng ở Tỵ Lương ở Hợi, Đồng ở Hợi Lương ở Tỵ"
Đẩu Số Toàn Thư viết:”Nữ mệnh bị sát xung phá ắt hẳn hình phu khắc tử, Nguyệt Lương xung phá và hợp thường làm thứ thất hay lẽ mọn”. Ngoài ra cũng sách trên viết câu: “tuy mỹ nhi dâm” (tuy đẹp nhưng mà dâm). Thiên Đồng cung Tí là người đàn bà nhan sắc diễm lệ:
"Đồng Nguyệt Tí gái hoa dungGặp Tang, Riêu, Khốc khóc chồng có phen"
Đồng Âm tại đây nếu bị Tang Riêu Khốc thường ly phu, khắc phu thậm chí sát phu. Đồng Âm ở Ngọ đa đoan, nhan sắc không đẹp như Đồng Âm cung Tí nhưng tính dục cực vượng thịnh. Đồng Dậu, Nguyệt Mão, Đồng Mão Nguyệt Hợi cũng đẹp và dâm vậy. Luận đoán quan kiện đặt trên căn bản ý chí lực và tình tự. Thiên Đồng chịu ảnh hưởng của Thái Âm làm cho ý chí lực bạc nhược. Nếu bị xung phá của Hỏa Linh càng bạc nhược lại thêm bị kích thích. Thiên Đồng chịu ảnh hưởng của Thiên Lương đưa ý chí vào mộng cảnh. Nếu bị Kình Dương Đà La thì càng như sống trong mơ.
Chủ yếu khi luận đoán về Thiên Đồng là ý chí và tình tự. Ý chí với tình tự phải cân bằng khi vào nữ mạng thì cuộc đời mới yên ổn thảnh thơi. Bị Thái Âm làm cho bạc nhược ý chí, bị Thiên Lương làm cho viển vông tình tự đều không hay, nếu như lại chịu xung phá của Kình Đà Linh Hỏa lại càng thêm phiền nữa.
"Thiên Đồng mừng thấy Khoa Lộc đi bênÝ chí tình tự vừa đúng, cân bằng"
Nếu Thiên Đồng gặp Quyền, Kỵ, Lộc, ý chí tình tự cũng mất thăng bằng như gặp Linh Hỏa Lương Âm Kình Đà. Cổ nhân cho rằng cơm no ấm cật quá tất nghĩ chuyện dâm dật.
Phú có câu: “Nữ Mệnh Thiên Đồng tất thị hiền” (Người nữ Thiên Đồng thủ mệnh hiền thục). Thiên Đồng không giản đơn như thế đâu. Như cách Cự Đồng vào nữ thì tâm trạng không lúc nào hết thống khổ.
Bản chất hiền thục tất cần an định êm ả, không có khả năng chống trả với phá phách phiền nhiễu nên Thiên Đồng ý chí phải vững vàng không bạc nhược, không quá khích, tình tự phải chân chất, không viễn vông mơ ước hão. Bởi vậy Thiên Đồng sợ Kỵ, Kình Đà, Lương Âm, Hỏa Linh.
Các sao trong Tử vi khoa ẩn chứa cái lý của nhân sinh thật phong phú. Thiên Đồng Thái Âm đi vào nam mạng thì sao? Đồng với Thái Âm ở Tí Ngọ đều là con người hào hoa đa tình. Thiên Đồng Dậu Mão dễ vướng bẫy tình. Cự Đồng đóng cung Sửu Mùi, nam mạng tầm thường cuộc đời nhiều chướng ngại.
Cần nghiên cứu thêm qua những câu phú sau đây nói về Thiên Đồng:
- Thiên Đồng ngộ Kiếp Không bất cát(Thiên Đồng thủ mệnh gặp Kiếp Không thành xấu)
- Đồng Âm Ngọ, Bính Mậu tuế cư phúc tăng tài hoạch, gia hãm Long Trì tu phòng mục tật(Đồng Âm đóng Ngọ tuổi Bính Mậu công danh phát đạt, tiền tài phấn chấn, ngại gặp Long Trì tất có tật ở mắt)
- Đồng Âm tại Tí, Nguyệt Lãng Thiên Môn, dung nhan mỹ ái, Hổ Khốc Riêu Tang xâm nhập chung thân đa lệ phối duyên(Đồng Âm thủ Mệnh tại Tí, như mặt trăng sáng nơi cửa trời nhan sắc xinh đẹp, nếu bị Bạch Hổ, Thiên Khốc, Thiên Riêu, Tang Môn xâm nhập thì dang dở, khổ tình hay góa bụa)
- Phúc điệu phùng Việt điệu ư Tí cung định thị hải hà dục tú(Đồng Âm đóng tại Tí thủ mệnh gặp Thiên Việt có vẻ đẹp sang trọng uy nghi)
- Phúc điệu nhi ngộ Cự Môn thê nhi lãng đãng(Thiên Đồng Cự Môn Đồng cư thủ Mệnh lận đận cuộc đời, nhưng Thiên Đồng Cự Môn đóng phối cung thì hoặc muộn chồng, muộn vợ con hoặc gãy đổ duyên tình)
- Đồng Lương viên, ngộ Khôi Quyền tăng phùng Linh Kỵ, giao lại Song Lộc doanh thương dị đạt phú cường (Đồng Lương đóng Mệnh gặp Thiên Khôi Hóa Quyền lại có Linh Kỵ và Song Lộc chiếu làm thương mại dễ nên giàu)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Mỹ Ngân (##)
Chùa Tượng Sơn còn có tên gọi khác là Chùa Hầm Hầm. Đây là ngôi chùa cổ tuy nhỏ nhưng là một trong những danh lam tại Hà Tĩnh, xưa nay được khách thập phương tham quan vãn cảnh chiêm ngưỡng.
Chùa được nằm trên một khu đất bằng phẳng trước mặt là dòng sông Ngàn Phố xã Sơn Giang, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh., sau lưng là núi Voi sừng sững. Sơn thủy thật hữu tình hòa quyện cùng tiết xuân làm cho lòng người thật thư thái.
Chùa được xây dựng từ thời Hậu Lê, đời Lê Dụ Tông (đầu thế kỷ XVIII), theo ý tưởng của bà ngoại của Đại danh y Hải Thượng Lãn Ông là bà Đặng Phùng Hậu, vợ của Tả hiệu điểm Tham đốc Quận công Bùi Tướng Công và được hai anh em Lê Hữu Trác và Lê Hữu Tán trực tiếp xây dựng.
Chùa Tượng Sơn cũng là một trong những nơi Hải Thượng Lãn Ông dùng làm nơi đọc sách, nghiên cứu về thuốc chữa bệnh và soạn thảo bộ sách nổi tiếng “Y tông tâm lĩnh” gồm 66 quyển và một số tác phẩm nghiên cứu về đông y kết hợp với y học dân gian. Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, của chiến tranh, lũ lụt, các hiện vật đã gắn liền với cuộc đời của Hải Thượng Lãn Ông không còn là bao ngoài mảnh đất thiêng liêng gắn với cuộc đời của Lê Hữu Trác và gia quyến ở đất vương nhà và ngôi chùa Tượng Sơn.
Chùa có 3 toà, chùa Thượng chính điện thờ Phật Thích Ca, bên tả thờ ông bà cụ Tham đốc quận công (tức ông bà ngoại của Lê Hữu Trác) và bà Bùi Thị Thưởng người sáng lập chùa, bên hữu thờ tổ tiên họ Lê Hữu, hai bên phía ngoài thờ các tiên vong quy y ký tiến. Chùa Hạ là một lầu chuông 8 mái được chạm trổ tinh xảo theo hoa văn kiểu tứ linh, tầng trên để gác chuông, tầng dưới làm nơi lễ bái.
Bên cạnh chùa Thượng là nhà Tổ, thờ tượng Tổ Đạt Ma, lịch đại Tổ sư, trong chùa có nhiều pho tượng Phật được tạo hình dáng nghệ thuật đẹp với nhiều dáng vẻ độc đáo, khác nhau, nhất là pho tượng lớn Bồ Tát Chuẩn đề 18 tay. Trước sân nhà Tổ là cổng tò vò xây theo kiểu chồng diêm tiếp theo bên phải nữa là 3 gian nhà khách rộng rãi, phía sau là tăng xá phương trượng. Về phía góc trái vườn chùa có 7 am mộ của các nhà sư trụ trì viên tịch tại đây.
Hàng năm tại chùa Tượng Sơn ngoài những ngày lễ của nhà Phật như lễ Phật Đản, Vu Lan còn có những ngày lễ hội như Lễ Thượng nguyên và lễ cầu yên, lại có lễ Quan Âm ngày 19 tháng 2 âm lịch là ngày lễ vía đức Bồ Tát quan thế âm. Đây là địa điểm đáng để du khách ghé qua trong những ngày nghỉ lễ.
Chùa có vị trí đẹp, phong cảnh sơn thuỷ hữu tình. Đây là một địa điểm du lịch và sinh hoạt văn hoá tâm linh của nhân dân địa phương cũng như trong cả nước.