Sắc khí tóc –
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Thiên Nga (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Thiên Nga (##)
![]() |
| ► Xem bói ngày tháng năm sinh để biết vận mệnh của bạn |
+ Điều kiện về tính chất:
+ Điều kiện về sao:
+ Điều kiện về cung:
+ Điều kiện thuộc hoàn cảnh:
+ Những dè dặt cần thiết:
g. Tình trạng chia ly: sự chia ly ở đây bao hàm hai trường hợp ly thân hay ly hôn chứ không nói đến sự xa cách để làm ăn hay vợ một nơi chống một ngả vì có thuyên chuyển, không nói đến việc một trong hai người chết nửa chừng xuân.
Đi vào chi tiết, cần lưu ý các sao sau:
- Những bộ sao của Tử Vi:
- Những bộ sao của Liêm Trinh:
- Những bộ sao của Thiên Đồng:
- Những bộ sao của Vũ Khúc:
- Những bộ sao của Thái Dương, Thái Âm:
- Những bộ sao của Thiên Cơ:
- Những bộ sao của Tham Lang:
- Cự Môn ở Thìn, Tuất, Tỵ: phải trắc trở trước khi lập gia đình; bất hòa lúc sống chung; phải chia ly, 2 hoặc 3 lần lập gia đình.
- Những bộ sao của Thiên Tướng:
- Những bộ sao của Thất Sát:
- Những bộ sao của Phá Quân:
- Thiên Mã, Tuần, Triệt ở Phu Thê: Tuần Triệt ở Phu Thê chỉ sự bất hạnh lớn lao và liên tiếp, có tính cách lâu dài của đời sống vợ chồng, thậm chí có thể xem như không có vợ/chồng. Chẳng những Tuần, Triệt ở Phu Thê cho thấy sự dang dở mối tình đầu mà còn dang dở vài mối tình kế tiếp. Đời sống gia đạo không những triền miên bất hòa mà có thể đi tới gián đoạn vĩnh viễn. Trong bối cảnh đó, sự có mặt của Thiên Mã càng xác nhận thêm sự ly cách giữa hai vợ chồng. Nếu Thiên Mã được thay bằng những sao Thiên Đồng, Đại Tiểu Hao cũng chỉ sự thay đổi, có lẽ ý nghĩa cũng tương tự.
- Địa Không, Địa Kiếp ở Phu Thê: vợ chồng xa nhau, cụ thể là bỏ nhau, chưa kể có thể một người phải chết. Nếu Không Kiếp đắc địa thì chỉ có thể đoán là tạm thời xa nhau, dưới hình thức ly thân hoặc là người sống một nơi kẻ ở một ngả, lâu lâu mới sum họp một lần hoặc là phải gặp ngang trái nặng trong tình duyên.
- Quan Phù, Thái Tuế, Quan Phủ: Quan Phủ, Quan Phù chỉ sự phản bội, sự thiếu chung thủy đồng thời cũng có nghĩa kiện tụng. Thái Tuế chỉ cả kiện cáo lẫn cãi vã, đồng thời cũng chỉ sự mất mát tình thương. Như vậy, bộ sao trên có thể báo hiệu cho sự xung đột giữa hai vợ chồng đưa đến tình trạng lôi nhau ra tòa phân xử, xin ly thân hay ly hôn. Nếu không có chuyện kiện nhau thì vẫn có chuyện âm thầm bỏ nhau, mỗi người một giang sơn, tự do của ai nấy giữ, không còn sự ràng buộc nào giữa hai người.
- Thiên Hình ở Phu Thê: vấn đề tòa án hầu như không tránh được nhất là khi Hình đi chung với một trong ba sao trên. Thiên Hình giúp xác nhận thêm sự ly hôn, ly thân một cách chính thức. Ngoài ra, Hình còn ngụ ý rằng hai vợ chồng có cãi vã đến nỗi đánh đập nhau hoặc người này hành hung người kia. Ngoài ra, Hình có nghĩa là tù ngục nên có thể có một người ở tù sau cơn ẩu đả. Nếu đi chung với Thái Tuế thì có "mạ lỵ thậm từ" và có đánh lộn gây thương tích nhưng chỉ Thiên Hình cũng đã quá đủ.
- Cô, Quả, Đẩu Quân ở Phu Thê: riêng 1 trong 3 sao này thật sự không đủ để minh chứng tình trạng ly cách. Nó cần phải đi chung với những sao kể trên. Riêng việc đơn thủ mà thôi thì Cô hay Quả hay Đẩu Quân chỉ sự cô đơn, cô độc dưới nhiều hình thái: hoặc có chồng/vợ vẫn ở chung với nhau mà bị cô đơn vì chồng/vợ không hiểu mình, không bệnh vực mình trước gia đình bên chồng hoặc có vợ/chồng ở chung nhau nhưng không có sự thắm thiết, hầu như mỗi người có ưu tư và nếp sống riêng rẽ, ít khi đồng thuận, không có chung thủy hoặc đối với nữ số, có thể vẫn là vợ chính thức nhưng vẫn bị bỏ rơi vì chồng có vợ lẽ, cả hai cũng vẫn không chia ly hoặc đối với nam số, có thể rơi vào tình trạng vợ lăng loàn, nhưng đành cam chịu vì sợ uy tín, xấu hổ hay sợ vợ ...
h. Trường hợp tử biệt:
i. Tình trạng án mạng trong gia đạo:
–
cần lưu ý đến những sao nói lên cá tính của thủ phạm và nạn nhân. Thủ phạm phải là người tự ái, ghen tuông quá mức, nóng nảy, ích kỷ tột độ, có ác tâm, có sát nghiệp. Nạn nhân là người dâm đãng, trắng trợn, ngang tàng, mạo hiểm, thủ đoạn, dối trá, bê tha, đam mê ...
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Mỹ Ngân (##)
Phòng khách là nơi mọi người trong gia đình quây quần, đoàn tụ, đây cũng là phòng có tỷ lệ vững chắc cao nhất so với các không gian khác. Chính vì vậy, yêu cầu đầu tiên đối với nền phòng khách là phải kiên cố vững chãi nhằm tối đa sự bất tiện cho các hoạt động của con người. Ngoài ra, sự vững chãi của nền nhà cũng có những căn cứ nhất định trong phong thủy học và kiến trúc
So với phòng ngủ, phòng đọc sách thì không cần quá rộng, tuy nhiên đối với phòng khách thì căn phòng để chọn lựa làm phòng khách phải là căn phòng rộng nhất.
Những hình lý tưởng để xây dựng những căn phòng từ xưa đến nay vẫn là hình vuông và hình chữ nhật. Bởi, hình vuông, hình chữ nhật thuộc đức Thổ, báo hiệu sự tín nghĩa, đoan chính, vận thế bình ổn, phong khí đường hoàng, vừa đắc trung, lại vừa đắc chính, không thiên lệch mất cân bằng bất cập hoặc thái quá.
Nhiều người thiết kế phòng khách theo các hình dạng đặc biệt vi nhu cầu thẩm mỹ, thị hiếu về kiến trúc, tuy đạt về mặt cách tân trong kiến trúc, phá vỡ nền tảng truyền thống, tuy nhiên những phòng khách có hình dạng đặc biệt này trường khí thường rất phức tạp, mạnh yếu khác nhau, biến động mạnh mẽ, như vậy sự nghiệp của chủ nhân ngôi nhà cũng có những biểu hiện lên xuống thất thường.

Phòng khách có hình dạng đặc biệt, vận thế gia đình không ổn định
Trong bất cứ căn phòng nào cũng bất lợi khi có xà ngang, dầm nhà xuất hiện trong cấu trúc. Tuy nhiên, tác dụng của xà ngang, hay dầm nhà trong kiến trúc, xây dựng rất quan trọng, nó có chức năng gánh đỡ trần nhà, mái nhà, diện tích trần nhà, mái nhà càng lớn thì vai trò của nó càng trở nên quan trọng.
Đối với phong thủy, dầm nhà, xà ngang gây nên áp lực, sự ức chế đối với thần kinh và ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe. Chúng ta có thể kê bàn ghế tránh vị trí dầm nhà, hoặc dùng trần giả che đi kết cấu bất lợi này
Đối với trường hợp phòng khách xuất hiện những góc nhọn thường gây bất lợi cho thị giác, lại ảnh hưởng đến sự lưu thông cát khí trong căn phòng. Chúng ta có thể hóa giải những bất lợi này bằng những biện pháp như sau:
Thiết kế những vật dụng làm cho những góc nhọn đó biến mất như đặt ở đó một chiếc tủ, đặt một chậu cây có tán lá rộng để che lấp góc nhọn, hoặc đặt một chiếc bình gốm lớn ở tại góc nhọn đó.
Phong thủy gọi cách đặt chậu cây trên góc nhọn là cách hóa gải sát khí theo phương pháp phủ xanh.
(2).jpg)
Hóa giải góc nhọn trong phòng khách bằng tủ sách

Phòng khách đầy đủ ánh sáng
+ Phòng khách hướng Đông, Đông Nam nên chọn màu xanh lục
+ Phòng khách hướng Tây, Tây Bắc nên chọn màu trắng hoặc màu vàng kim
+ Phòng khách hướng Tây Nam, Đông Bắc nên sử dụng màu vàng
+ Hướng Nam nên sử dụng màu đỏ hoặc màu vàng cam.
Ngoài ra , còn có thể căn cứ vào tổ hợp tứ trụ của chủ nhà và hướng nhà để lựa chọn các màu hỉ, kỵ tạo nên thế tương trợ trong mệnh lý
Sơn thủy hữu tình, nghĩa là núi sông hòa hợp với nhau. Đối với phong thủy cũng mang màu sắc quy luật, đạo lý vốn có của tự nhiên và xã hội, đối với tự nhiên là quy luật tự nhiên là sơn thủy hữu tình, đối với đạo lý xã hội đó chính là các mối quan hệ cường – nhược, chủ - khách, quân – thần, Phụ - tử. Ví dụ: Bàn ghế uống trà thì ghế thuộc sơn, bàn thuộc thủy. Trong mối quan hệ này thì phải tương xứng với nhau, không được để một thứ quá cao, còn một thứ quá thấp, hay một vật quá to, còn một vật lại quá nhỏ, nếu xảy ra tình trạng mất cân bằng đó mối quan hệ nhân luân, xã hội bị phá vỡ,khách – chủ không tương ứng…cũng là bất lợi tuy nhỏ nhưng rất đáng quan tâm.
Đối với tủ tường cũng nên chọn loại tủ có kích thước phù hợp cân xứng với căn phòng. Mối quan hệ giữa tủ tường và các đồ vật khác cũng được chú trọng rất kỵ bố cục, có thủy không có sơn hoặc có sơn không có thủy. Ví dụ: Một chiếc bàn uống nước thấp và một chiếc tủ tường thấp nữa sẽ tạo nên thế có thủy mà không có sơn.
Hải Triều
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Yến Nhi (##)
Văn hoá phong thủy có nguồn gốc từ Trung Quốc, là bộ phận quan trọng tạo nên văn hóa thần bí truyền thông Trung Quốc, bác đại tinh thòng, ngọn nguồn chày mãi.
Văn hoá phong thủy sở dĩ thịnh hành trong thế giới này, là do những đặc điểm chủ yếu của phong thủy quyết định. Vậy rốt cuộc đặc điểm phong thủy là gì?
Đầu tiên, hạt nhân của lý luận phong thủy là “thiên nhân hợp nhất”, tăng cường sự hài hoà và thống nhất giữa con người và tự nhiên.

Phong thủy chính là một môn khoa học hoặc học vấn xem xét nơi ở tốt nhất cho con người. Lớn là môi trường sinh thái, nhỏ là đến môi trường nhà ở xung quanh. Phong thủy tiến hành xem xét một cách toàn diện từ phường diện an toàn và tâm lí, có tính thực dụng và tính khoa học nhất định. Đặc biệt là môi trường tự nhiên hiện nay của loài người đang gặp phải những vấn đề như: Ô nhiễm môi trường trầm trọng, nguồn tài nguyên luôn xuất hiện những nguy cơ đe dọa, đất và nước bị tiêu biến nghiêm trọng, khí hậu bất thường…
Các loại hiện tượng đó đã làm nguy hại đến sự sinh tồn của con người. Mặt khác, môi trường nhỏ bé xung quanh nơi con người sinh sống cũng không được như ý muốn nữa, những kiến trúc hiện đại luôn hạn chế mối quan hệ giữa con người và môi trường hình thành không gian cuộc sống đơn điệu, vô vị, khiến con người cảm thấy khô kiệt và áp lực. Văn hoá phong thủy chính là xem xét đến mối quan hệ giữa người và trời đất, hơn nữa lấy con người làm trung tâm. Như vậy không những thỏa mãn được nhu cầu tinh thần của con người mã còn thoả mãn nhu cầu vật chất của con người.
Tiếp đó, phong thủy có ý nghĩa chỉ đạo thực tế. Phong thủy đưa cư trạch là một bộ phận cơ thể của đất, nhấn mạnh sự hài hoà giữa kiến trúc và tự nhiên cũng như môi trường xung quanh. Từ ý nghĩa nào đó, phong thủy và các bước đi sinh thái học kiến trúc là thống nhất với nhau, một số lý luận của chúng có ý nghĩa chỉ đạo nhất định đối với hiện thực.
Tiếp theo, phong thủy có thể tăng thêm sinh khí cho con người. Môi trường sống có phong thủy tốt, có thể làm cho con người vui vẻ tinh thần, khiến cho người ta sau một ngày lao động mệt mỏi, được nghỉ ngơi đầy đủ, để tiếp tục công việc của ngày hôm sau một cách có hiệu quả. Chính vì vậy mà có người đã nói rằng: “Phong thủy tốt có thể tăng thêm phần môi trường cho nơi bạn ở, hơn nữa tăng thêm sinh khí nhân sinh cho bạn”. Nhưng không chỉ có dựa vào một nhân tố phong thủy là đã thay đổi toàn bộ vận thế hoặc môi trường nơi ở của chúng ta.
Khói nhang ngày Tết là nét đẹp văn hóa truyền thống không thể thiếu trong các dịp lễ của Phật giáo, hoặc các dịp chạp giỗ, lễ Tết. Nén nhang như chiếc cầu nối thiêng liêng hiện hữu của con người với cõi tâm linh của trời đất. Có thể khẳng định, nhang đã len lỏi vào tận hang cùng ngõ ngách của đời sống và có một vị trí quan trọng trong cuộc sống của người Việt Nam, thậm chí còn lan rộng đến một số nước ở châu Á.
Ngày cuối năm, khi đi mua sắm các thứ để chuẩn bị cho ngày Tết, không ai không mua vài ba hộp nhang về cúng Phật, cúng ông bà Tổ tiên của mình.Ở chúng ta, khó ai diễn tả nỗi xúc động khi vào khoảnh khắc giao hòa giữa năm cũ và năm mới, cả gia đình quây quần bên nhau, thắp trên bàn thờ vài nén nhang thơm để cùng tưởng nhớ đến ông bà, cha mẹ, những người kính yêu đã khuất. Sự lẩn khuất của làn khói trắng, mùi thơm nhẹ lan tỏa, làm cho ta thấy ấm cúng và gắn bó với nhau nhiều hơn.
Trong tâm thức của mỗi người Việt Nam đều tin tưởng ở thế giới bên kia, trong khoảng không gian vô định, có những hình ảnh, những con người đang hướng về chúng ta, đang ở bên chúng ta hằng ngày. Và khi thắp nén nhang lên, ta có thể tâm sự với họ, sưởi ấm với cả thế giới này và cả với thế giới vô hình kia nữa.
Chưa rõ nguồn gốc tục lệ thắp nhang có từ đâu và do ai sáng lập, chỉ biết qua lịch sử, vua Trần Nhân Tông là vị vua trong lịch sử Việt xuất gia, cũng đã thừa hưởng và dùng nhang rất nhiều trong mỗi lần đến chùa lễ Phật.

Nhiều người có thói quen khi đi xa về, thường thắp nhang trên bàn thờ Phật, bàn thờ ông bà Tổ tiên trước, rồi mới ngỏ lời thăm hỏi, mới bắt đầu làm một công việc gì đó. Với người sắp đi xe, đi tàu cũng thường thắp nhang để cầu nguyện mong khi lên đường được bình an.
Rất nhiều vùng dân cư ở Nam Bộ, người ta còn thắp nhang cho từng gốc cây, ụ mối, góc nhà với quan niệm mọi vật đều có đời sống tâm linh.
Triết lý nhân sinh thật đơn giản, nhưng lại mang nội hàm đa dạng, phong phú thường thấy ở các dân tộc Á đông. Ngày nay, nhang không chỉ thắp trong các gia đình theo Phật giáo, mà những tôn giáo khác cũng đều có chung nét văn hóa đặc sắc này. Đặc biệt là ở các đình chùa, miếu mạo... nhang là thứ nhất định không thể thiếu được.
Ngày Tết đi lễ Phật, hái lộc đầu năm, chúng ta luôn bắt gặp những hình ảnh rất quen thuộc, những ông già, bà lão, các nam nữ thanh niên... khi thắp nhang lên bàn thờ Phật, miệng thường lâm râm khấn vái, cầu nguyện một năm mới được an khang thịnh vượng, phúc lộc khương ninh... Có thể nói đây là nét văn hóa đẹp đã tồn tại lâu đời, đã đem lại cho mọi người sự thanh thản, bình an trong tâm hồn.
Đối với người Việt Nam chúng ta, dù ở thành thị hay nông thôn, mỗi lần Xuân về, Tết đến mọi người đều thắp trên bàn thờ trong nhà mình một nén nhang để tỏ lòng thành kính đối với ông bà Tổ tiên, để cầu nguyện an vui, hạnh phúc cho mọi người, đồng thời cũng tạo không khí ấm áp, vui tươi cho cả gia đình trong những ngày đầu Xuân.
Theo dacsanvungque.net
Đây là quẻ Quan Âm thứ 74 được xây dựng trên điển cố: Tần bại cầm tam tướng hay quân Tần thất bại, ba vị tướng bị bắt.
Quẻ hạ thuộc cung Tỵ. Hoàn cảnh tiến thoái lưỡng nan, muốn tiến cũng không được, muốn lui cũng khó. Bốn phương tám hướng đều thấy bế tắc. Mọi sự cứ thận trọng và an bài cho số mệnh của mình.
Thử quái tự hộc đều long chi tượng. Phàm sự đa hư thiểu thực dã.
Mùa đông năm Tần Mục Công thứ 32 (tức năm 628 tr. CN), Tấn Văn Công băng hà. Lúc này, Khởi Tử từ nước Trịnh sai người gửi thư về nước Tần, nói rằng: “Người nước Trịnh đã trao chìa khóa cửa phía bắc cho tôi, nếu như lặng lẽ cử quân đội đến, sẽ có thể có được nước Trịnh.” Tần Mục Công hỏi ý kiến Kiến Thúc và Bách Lý Hề, hai người đáp rằng: “Vượt chặng đường mấy nghìn dặm đi qua mấy nước để tập kích người khác, rất ít khi thành công. Hành động của quân ta, nước Trịnh chắc chắn sẽ biết, không thể đi được!” Tần Mục Công nói: “Ta đã quyết định rồi, hai ngươi không cần nói nữa.” Bèn sai con trai của Bách Lý Hề là Mạnh Minh Thị, con trai của Kiến Thúc là Tây Khất Thuật và Bạch Ất Bính, ba người đem quân xuất phát.
Mùa xuân năm sau, quân Tần tiến về phía đông, Bách Lý Hề và Kiến Thúc khóc tiễn đội quân, Tần Mục Công rất tức giận: “Ta xuất quân, các ngươi lại khóc lóc với bộ mặt đưa đám làm ảnh hưởng đến sĩ khí của quân ta, thế là thế nào?” Hai người đáp: “Chúng thần thực không muốn làm mất sĩ khí. Chỉ là chúng thần tuổi đã già rồi, con trai phải xuất chinh, sợ rằng sau này không gặp lại được nữa!” Hai người nói với con trai của mình rằng: “Quân đội chắc chắn sẽ thất bại, người nước Tấn sẽ chặn đánh ở núi Hào Sơn!”
Đại quân nước Tần muốn lặng lẽ đánh úp nước Trịnh, nhưng nước Tấn sớm đã nhận được tin báo. Đại tướng nước Tấn là Tiên Chẩn cho rằng, đây là cơ hội tốt để đánh nước Tần, khuyên Tấn Tương Công mới lên ngôi cho chặn đánh ờ núi Hào Sơn. Tấn Tương công đích thân chỉ huy quân đội đến núi Hào Sơn.
Quân của Mạnh Minh Thị vừa đến núi Hào Sơn, đã rơi vào trận mai phục, bị đông đảo quân Tấn vây bủa, quân Tấn phục hai bên ném thuốc súng mồi lửa vào quân Tần, còn phía sau lưng nghe tiếng quân Tấn hô hào dậy đất. Quân Tần lâm vào cảnh tiến thoái lưỡng nan, dẫm đạp lên nhau, sĩ tốt người thì chết, người thì đầu hàng, chết và bị thương vô số, cuối cùng ba đại tướng là Mạnh Minh Thị, Tây Khất Thuật và Bạch Ất Bính đều bị bắt sống.
Tấn Tương Công đắc thắng trở về triều, Văn Doanh (phu nhân của Tấn Văn Công) cầu xin Tấn Tương Công thả ba vị tướng soái của nước Tần trở về, nói rằng: “Họ đúng là đã làm li gián mối quan hệ giữa hai quốc quân của hai nước Tần Tấn. Nếu như Tần Mục Công có được ba người này, có ăn thịt của họ cũng chưa hả giận, sao phải mất công trị tội họ? Hãy để họ trờ về nước Tần, cho vua nước Tần tự trừng phạt họ, được chăng?” Tấn Tương Công nghe mẹ nói có lý, liền cho thả ba người ra.
Ba người về tới nước Tần, Tần Mục Công biết tin toàn quân bị tiêu diệt, đã mặc tang phục, đích thân ra ngoài thành đón họ.
Ba người quỳ dưới đất chịu tội, Tần Mục Công nói: “Đây là sai lầm của ta, đã không nghe theo lời khuyên của cha các ngươi, hại các ngươi phải chịu bại trận, sao có thể trách các ngươi được? Ta cũng không thể vì phạm lỗi lầm nhỏ, mà xóa bỏ công lao to lớn của một người!” Ba người cảm động đến rơi nước mắt, từ đó về sau, họ chăm chỉ luyện tập binh mã, một lòng một dạ muốn báo thù cho nước Tần.
Chúng ta đang sống giữa mùa hè rực nắng với những chuyến du lịch đến khắp mọi nơi. Dù bạn đi đâu thì cũng hãy nhớ kĩ những lưu ý phong thủy này để có một chuyến du lịch thật tuyệt vời nhé. Mùa hè cũng là mùa du lịch, mùa nghỉ dưỡng, ai cũng mong muốn kì nghỉ của mình được suôn sẻ và vui vẻ. Hôm nay Lịch ngày tốt sẽ chia sẻ với các bạn một vài lưu ý về phong thủy, hy vọng sẽ giúp cho chuyến đi của các bạn được thuận lợi và thành công như ý muốn.
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
| ► Xem thêm: Tử vi 12 cung hoàng đạo, Horoscope được cập nhật mới nhất |
Dưới đây là những vật phẩm phong thủy đem lại sự may mắn, hưng thịnh, cát tường cho nhà bạn.
1. Cá cảnh, rùa

“Núi điềm quý, nước điềm tài”, bể cá có tác dụng tăng cường tài vận. Tuy nhiên bạn cần biết cách bài trí đúng vì nếu không có thể dẫn đến việc phá tài. Điều quan trọng nhất là xác định phương hướng đặt bể cá cho thích hợp. Nuôi rùa vừa có tác dụng hóa sát vừa có tác dụng tăng tài vận. Bạn nên lưu ý đến số lượng rùa và hướng đặt chậu nuôi rùa.
2. Hồ lô

Hồ lô có tác dụng trừ bệnh tật và thường được treo bên giường của người bệnh. Có nhiều loại hồ lô theo chất liệu khác nhau. Hồ lô đồng vừa có tác dụng trừ bệnh vừa có tác dụng tăng cường tình cảm vợ chồng.
3. Lọ hoa, bình hoa

Chữ “bình” trong từ “bình hoa” có cùng ý nghĩa với chữ “bình” trong từ “bình an”. Vì vậy, bài trí bình hoa trong nhà hoặc ở công ty mang ý nghĩa tốt đẹp. Tuy nhiên, tránh bài trí bình hoa tại hướng đào hoa, trừ khi bạn muốn tăng cường vận đào hoa.
4. Đồng tiền
Đồng tiền có tác dụng hóa sát. Có 3 cách sử dụng đồng tiền theo phong thủy: để dưới ngưỡng cửa để hóa giải cửa chính đối diện với thang máy; lấy dây vàng xâu đồng các đồng tiền lại rồi treo bên phải cửa chính, có thể phòng chống việc phụ nữ trong nhà hay tranh cãi; để 2 đồng tiền dưới gối vợ chồng có thể giữ được tình cảm tốt đẹp. Riêng với tiền ngũ đế là đồng tiền do 5 vị hoàng đế đời Thanh (Trung Quốc) tạo ra, có tác dụng hóa giải, tránh tà. Để tiền ngũ đế dưới ngưỡng cửa có thể hóa giải 1 số thế sát trong phong thủy như thương sát, phản cung sát, khai khẩu sát và góc nhọn đối diện với cửa chính; treo tiền ngũ đế trong nhà hoặc mang theo người cũng có tác dụng tăng cường khí vận và tránh tà.
5. Pha lê, gỗ đào, đá thiên nhiên

Pha lê gồm có pha lê tự nhiên và pha lê nhân tạo. Tùy vào màu sắc mà pha lê cũng có tác dụng khác nhau, có thể hóa sát hay chiêu tài. Gỗ đào từ xưa đến nay đều được coi là vật đại diện cho sự cát tường, là vật có năng lượng. Đá thiên nhiên là do tự nhiên sinh thành, như đá Thái Sơn đã có lịch sử hơn 25 ngàn năm, do vậy năng lượng tập hợp không có gì có thể so sánh được. Nếu gỗ đào kết hợp với kính đen bát quái thì sẽ rất hiệu quả.
6. Các loại thú phong thủy
Kỳ lân, tỳ hưu, thiềm thừ, rùa đầu rồng, cóc ba chân, rồng, phượng… cũng là những biểu tượng cát tường có thể hóa sát và chiêu tài.

7. Chuông gió – gương bát quái
Chuông gió, gương bát quái là những pháp khí mạnh trong phong thủy có tác dụng hóa sát.

8. Biểu tượng 12 con giáp
Tùy theo tuổi của mình bạn có thể chọn con vật cầm tinh để trưng bày trong nhà, có thể là dựa theo công thức tính tam hợp, lục hợp và tùy vào mục đích muốn tăng tài vận hay đào hoa vận.

9. Thư pháp
Các chữ thư pháp như Song Hỷ, Phúc, Lộc, Thọ, Thành, An… cũng thường được ưa dùng để trang trí trong nhà, mang lại may mắn cho gia chủ.

10. Các loại tượng
Các tượng thần, phật như bộ tượng tam đa (Phúc, Lộc, Thọ), tượng Phật Di Lặc, tượng Phật Bà Quan Âm, tượng các vị thần tài… cũng là những vật thích hợp để bài trí trong ngôi nhà của bạn. Tuy nhiên, cần đặc biệt chú ý tới phương vị bài trí.

Bàn thờ gia tiên là nơi linh thiêng, thanh khiết, nên ngoài các đồ đạc dùng để tế tự và trang hoàng, nhất thiết không được để vật dụng gì lên đó. Trung tâm của bàn thờ là bát nhang, phía sau bát nhang là di ảnh của những người đã khuất.
Nếu nhà khá giả, trước di ảnh còn có đỉnh đồng để đốt trầm vào mỗi dịp lễ tết, cúng giỗ, đỉnh thường được chạm khắc long, lân, mai, trúc. Hai bên bát nhang phía trước là đôi chân đèn để thắp nến, có ý nghĩa tượng trưng cho đôi vầng nhật nguyệt, cũng để nói lên người chết nhưng linh hồn của họ thì không tắt. Ở một số nơi vị trí đôi chân đèn người ta dùng hai ngọn đèn dầu để thay thế.
Tường sau không gian bàn thờ ở nhà khá giả là hoành phi và liễn đối bằng Hán tự sơn son thếp vàng, có nội dung nói lên công đức của người đã khuất. Ớ gia đình bình dân, đó là tranh thờ, thường là tranh dân gian vẽ ngũ quả, chiếc cuốn thư, cá chép vượt vũ môn hay các chữ như Phúc, Lộc, Thọ (bằng Hán tự).
Trong việc thờ cúng tổ tiên có hai ngày quan trọng nhất, đó là ngày giỗ và ngày Tết. Ngày giỗ cúng đúng vào ngày mất (theo âm lịch) của người được thờ tự. Đây là dịp để con cháu tưởng nhớ, bày tỏ lòng hiếu thảo với tổ tiên. Đây còn là dịp để gia chủ đáp nghĩa với dòng họ, láng giềng từng chia| sẻ buồn vui, bất hạnh với gia đình mình, nên ngày giỗ thường được tổ chức tiệc tùng khá linh đình.
Ngày Tết Nguyên Đán, ngoài ý nghĩa đưa năm cũ, đón năm mới, còn là dịp để mọi người ôn cố tri tân và việc cúng kiến ông bà là nghi lễ hàng đầu. Không khí Tết đến vối các gia đình bắt đầu từ việc trang hoàng bàn thờ ông bà. Những đồ thờ được lau chùi, đánh bóng.
Mâm cúng ngày giỗ hay ngày Tết không đặt trực tiếp trên bàn thờ mà đặt trên chiếc bàn thấp hơn kê trước bàn thờ. Trước khi người chủ trì thờ tự cùng con cháu dâng hương, người ta còn đặt lên bàn thờ gia tiên ba ly nước, có ý nghĩa tượng trưng cho sự thanh khiết của trời đất và tinh hoa của mùa màng.
Ngoài bàn thờ, người ta có che một chiếc màn gọi là ỷ môn. Khi cúng lễ xong, phải bỏ màn xuống để che khuất bàn thờ, để một lát sau mới hạ cỗ bàn. ý nghĩa của hành động này theo quan niệm xưa “sự tử như sự sinh, sự vong như sự tồn”, kính mời các vị tổ tiên, ông bà về chung hưởng vật phẩm do con cháu dâng cúng. Khi các ngài “ăn uống” phải che màn lại, để người ngoài không nhìn thấy.
Xưa, mỗi khi nhà ai đó có việc trọng như: mừng nhà mới, vinh quy bái tổ, chúc thọ thầy, mẹ người theo Nho học thường tặng nhau đôi câu đối vàng sơn son thếp vàng hoặc bạc, sang hơn thì tặng cả bức hoành. Còn bức hoành, đương nhiên bố cục theo chiều ngang thường treo ngay xà ngang gian giữa, ở phía trên câu đối. Hoành phi – Câu đối luôn đi thành bộ, thành một chỉnh thể trong lối chơi chữ được người dân trăm họ ưa chuộng từ lâu.
Ngưòi có của thường có hoành phi câu đối sơn son thếp vàng. Thứ đến, nhà không đủ ngân lượng để thếp vàng, thì vẫn nền son, nhưng chỉ thếp bạc thôi. Thứ dân xưa dù nghèo đến đâu cũng gắng sắm sửa một bức hoành phi trong nhà, thường thì gỗ tạp, hoặc mang cơi trầu, đĩa xôi nhờ thầy đồ viết cho mấy chữ vào giấy, kính cẩn mà treo trên bàn thờ. Đó là thể hiện lòng thành kính với Thánh hiền.
Bức hoành phi là phần đầu tiên, đặt trên cùng của bàn thờ, chủ yếu tập trung vào các nội dung: Công đức của tổ tiên để lại, chí hướng của tổ tiên, lời căn dặn của tổ tiên với con cháu…
Bàn thờ Gia Tiên theo phong tục Việt Nam xưa thì có Ngai thờ và Khám thờ.
Ngai thờ cao ngang ngực đặt trước khám thờ cao ngang mặt, trên Ngai thờ đặt Ngũ sự hoặc Thất sự.
Ngũ sự gồm bát hương để ở giữa, hai chân đèn đặt hai bên, phía sau là độc bình cắm hoa đặt sau chân đèn bên trái và khay quả đặt sau chân đèn bên phải.
Thất sự là gồm Ngũ sự cộng thêm đỉnh hương và đèn Thái cực, cách bày biện có khác chút ít là đỉnh hương nằm giữa ngang chân đèn, bát hương đặt trước đỉnh hương và đèn Thái cực đặt sau đỉnh hương.
Khám thờ có cửa mở ra đóng lại bên trong đặt các linh vị tổ tiên, ngay chính giữa khám thờ viết hai chữ “Thần Chủ”. Xưa khi lập bàn thờ gia tiên, gia chủ chuẩn bị mọi thứ như trên và viết chữ “Thần Chủ” nhưng chữ “Chủ” thiếu một nét chấm, sau đó mời một vị quan có uy tín đến dùng son điền thêm nét chấm đó thì chữ Chủ mới đủ, lễ này gọi là khai hoa điểm nhãn.
Ngày nay, phần lớn các gia đình không lập bàn thờ, tất cả ngai thờ và khám thờ được thay thế bằng tủ thờ.
Tủ thờ có độ cao ngang mặt, đặt sát vách phía trên bày biện đồ thờ tự, phía dưới trong tủ chứa các vật dụng liên quan rất tiện dụng. Nếu nhà trệt ít phòng thì đặt tủ thờ ngay phòng khách đối diện cửa ra vào, nếu có phòng thờ riêng thì bố trí cạnh phòng khách, đối diện tủ thờ phải có cửa sổ để lấy dương khí. Còn với nhà lầu thì đặt trên tầng cao nhất, đối diện tủ thờ cũng phải có cửa. Trên tủ thờ bày biện Ngũ sự hoặc Thất sự, sát vách đặt một ngai cao có bài vị Cửu Huyền Thất tổ, hai bên ngai đặt di ảnh của người thân.
Câu đối thuộc thể loại văn biền ngẫu, gồm hai vế đối nhau nhằm biểu thị một ý chí, quan điểm, tình cảm của tác giả trước một hiện tượng, một sự việc nào đó trong đời sống xã hội. Nên lưu ý là từ đối ở đây có nghĩa là ngang nhau, hợp nhau thành một đôi.
Thông thường thì bàn thờ gia tiên được bố trí ở gian giữa của ngôi nhà cũng có thể bố trí gian bên ở bên trái từ ngoài sân nhìn vào. Những gia đình giàu có, sang trọng thuộc lớp trung lưu thì đồ thờ gồm một bệ tam sự (môt cái đỉnh (lư), cặp chân đèn bằng đồng để cắm nến, hay một bộ Ngũ sự có thêm lọ độc bình, chân bệ để đèn. Nếu là bộ “thất sự” thì có thêm ống đựng hương, ống cắm đũa và một lư hương để trầm. Tất cả đều đúc bằng đồng. Những nhà khá giả còn có đôi hạc nhỏ cũng bằng đồng. Đồ thờ, nếu không col điều kiện sắm bằng đồng thì làm bằng gỗ tiện và thường sơn đỏ.
Thông thường người ta, chia gian thờ làm ba lớp:
Lớp ngoài là bộ phận phản để mọi người đến làm lễ, không đặt phản thì để trống nền nhà, khi cần có thể bày thêm bàn ghế, hay chải chiếu.
Lớp thứ hai là hương án, trên đặt bộ đồ Tam sự hay Ngũ sự.
Lớp thứ ba ở trong cùng, trên để khám sơn son, bài vị, hộp hay ống đựng gia phả, khay đựng vật cúng, đài rượu và có thể có ảnh chân dung người quá cố
Bát hương làm bằng nhiều chất liệu khác nhau nhưng tốt nhất vẫn là bằng kim loại: đồng, vàng, bạc. Khi bốc bát hương mới phải hết sức cẩn thận, nhất tâm nhất niệm, trong lòng thư thái, đừng có ý nghĩ vẩn đục. Trong Bát hương chỉ có cát trắng khô sạch, vàng bạc, đá ngũ sắc, ghi rõ tổ họ.
Ngày 23 tháng chạp sau khi đưa ông Táo thì gõ các chân hương đem ra sân đốt thả ra sông, sau đó dọn dẹp vệ sinh lại tủ thờ, không được dùng nước rửa, vì bàn thờ mệnh Hỏa, Hỏa khắc Thủy, đến trưa ngày 30 tháng chạp mối cúng rước ông bà và bắt đầu thắp hương lại.
Điều cần lưu tâm là nếu bày biện Thất sự thì ngọn đèn Thái cực luôn sáng. Khi bát hương tự hóa không được vội vàng đổ nước vào, mà từ từ chuyển các vật dụng dễ cháy ra. Khi bát hương cháy hết, chuyển các vị trí về như cũ.
Cháy bát hương có hai loại:
Tuỳ theo mức độ cháy mà có thể dự báo cát hung. Nếu bát hương cháy bị hỏng, cháy lan ra bàn thờ thì tùy theo tình hình kinh tế của gia chủ mà thay bàn thờ và bát hương mới.
Trước đây, nhiều người vẫn có sự nhầm lẫn về cách tính Kim lâu. Tôi vẫn thường thắc mắc, tại sao có tới hai cách tính mà kết quả của hai cách tính này lại khác biệt nhau. Và bức màn bí mật, sự thắc mắc của tôi đã được giải thích một cách thấu đáo.
Kim lâu là gì ? Là những năm không tốt, bất lợi cho việc mưu tính, khởi công hoặc làm đại sự. Nếu như phạm phải, cuộc sống gặp nhiều trở ngại, bất trắc, không được như ý muốn. Theo mục đích của cuộc sống người ta phân chia ra hai cách tính kim lâu, dành cho các đối tượng và công việc khác nhau, cần phải phân biệt và chú ý cho tinh, kẻo có sự nhầm lẫn.
Cách tính tuổi kim lâu khi chọn tuổi kết hôn: “Người xưa thường nói, lấy vợ xem tuổi đàn bà, làm nhà xem tuổi đàn ông”. Như vậy, các quý cô sau khi trải qua quá trình yêu đương tìm hiểu, quyết định xây dựng tòa lâu đài hạnh phúc cho mình đều phải lưu ý. Cách tính Kim lâu trong hôn nhân, chỉ áp dụng có phái nữ, có cách tính như sau : Lấy số tuổi âm, chia cho 9, nếu dư 1, 3, 6, 6 là phạm kim lâu, không nên tổ chức đám cưới vào năm đó. Kim lâu còn phân ra bốn dạng:
Sau khi chia cho 9 nếu số dư là 1 là Kim lâu thân : Bản thân có những bất lợi về sức khỏe, công danh.
Nếu dư 3 là Kim lâu phu thê : Dễ gặp tai nạn, hình khắc chia li, gãy đổ cho gia đạo, hôn nhân chẳng được hạnh phúc, cơm lành canh ngọt.
Nếu dư 6 là Kim lâu tử : Bất lợi cho con cái
Nếu dư 8 là Kim lâu súc : Các loài vật nuôi trong nhà sẽ bị bệnh dịch mà chết, gây thiệt hại đến sản xuất và kinh tế.
Ví dụ cô Nguyễn Thúy Hằng, sinh năm Canh Ngọ 1990, đến năm 2015 là phạm Kim lâu súc. Ta lấy 2015 – 1990 = 25 + 1 (Tuổi bào thai) = 26 : 9 dư 8. Nếu cô kết hôn vào năm nay sẽ gặp tình huống đó. Gia đình mà làm kinh tế nông nghiệp, chăn nuôi quy mô lớn, ắt phải để tâm đề phòng.
Cách tính Kim lâu trong khởi công xây dựng cửa nhà, hoặc mưu toan đại sự, thường áp dụng cho nam giới. Chúng ta áp dụng biểu đồ như sau.

Bắt đầu từ cung Cấn là 10 tuổi, tính thuận chiều Kim đồng hồ, 11 ở cung Chấn, 12 ở cung Khôn, 13 ở cung Ly, 14 ở cung Tốn, 15 ở cung Đoài, 16 ở cung Càn, 17 ở cung Khảm, 18 ở cung Cấn, 19 ở cung Chấn, nếu tuổi nào rơi vào các cung màu xanh là phạm Kim lâu, chớ nên khởi công, động thổ xây dựng. Nếu phạm vào cung Cấn là Kim lâu thân : Hại cho bản thân chủ nhà. Nếu phạm vào cung Khôn là Kim lâu thê : Không lợi cho vợ của gia chủ. Phạm vào cung Tốn là Kim lâu tử : Con cái gia chủ phải giữ gìn. Phạm vào cung Càn là Kim lâu lục súc : Các vật nuôi trong nhà dễ bị bệnh dịch.
Đến năm 20 tuổi thì lại khởi hạn từ cung Chấn và theo chiều thuận Kim đồng hồ, đến năm 30 tuổi thì hạn lại được khởi từ cung Khôn, cứ như vậy, tiếp tục, đó chính là cách tính Kim lâu trong khởi công xây dựng làm nhà. Ngoài ra, người ta con tính cả hạn tam tai và hoang ốc nữa. Nhưng ở đây, cần phân biệt để không bị nhầm lẫn trong mục đích sử dụng.
Tổng hợp
Độ chính xác của các dự báo này phụ thuộc vào trình độ phát triển của khoa học kỹ thuật và trình độ phân tích của người làm dự báo.
Người xưa lại có cách dự đoán của mình dựa theo tương quan âm dương ngũ hành của can chi. Tạm gọi là dự đoán cổ. Độ chính xác của dự đoán cổ cũng chuẩn xác nhiều khi đến phải ngạc nhiên. Nó gần như là quy luật của trời đất mà con người đang tiếp cận.
Dự đoán cổ có nhiều loại khác nhau, mỗi loại có công năng riêng của nó, như đã từ lâu loài người thừa nhận dự đoán theo quẻ dịch là có cơ sở và độ chính xác khá cao. Vì vậy Lập quẻ dịch được giới thuật sĩ và các cao nhân cúng như các thầy phong thủy hay dùng.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Thiên Nga (##)
An
An Bang, Anh Phúc, An Quốc, An Hòa, An Khang, An Dân, An Ninh, An Bình, An Thuận, An Hồng.
Anh
Anh Tài, Anh Đạt, Anh Phát, Anh Quang, Anh Hào, Anh Hoa, Anh Kiệt, Anh Vũ, Anh Tông, Anh Nghị, Anh Huân, Anh Diệu
Cảnh
Cảnh Quốc, Cảnh Luân, Cảnh Vũ, Cảnh Nghiệp, Cảnh Nghệ, Cảnh Nghĩa, Cảnh Vĩ
![]() |
| Đặt tên hay và ý nghĩa cho con ngay từ khi con yêu còn trong bụng mẹ |
Hòa
Hòa Lượng, Hòa An, Hòa Phong, Hòa Quang, Hòa Bình, Hòa Thuận, Hòa Thông, Hòa Đồng, Hòa Nhã, Hòa Nghi, Hòa Ngọc, Họa Nhuận, Hòa Chính, Hòa Chí, Hòa Hợp
Hồng (theo nghĩa to lớn)
Hồng Bảo, Hồng Bá, Hồng Tài, Hồng Đạt, Hồng Đức, Hồng Phi, Hồng Phong, Hồng Quang, Hồng Văn, Hồng Hy, Hồng Ngôn, Hồng Lôi, Hồng Vân, Hồng Chí, Hồng Hiên
Hưng
Hưng An, Hưng Bang, Hưng Đức, Hưng Phát, Hưng Quốc, Hưng Bình, Hưng Khánh, Hưng Thành, Hưng Kiệt
Học
Học Hải, Học Lâm, Học Dân, Học Danh, Học Văn, Học Nghĩa
Khải
Khải An, Khải Định, Khải Phong, Khải Ca, Khải Cảnh, Khải Khang, Khải Thành, Khải Đức, Khải Kiện, Khải Thắng, Khải BÌnh, Khải Thuận, Khải Tề
![]() |
Mậu (tươi đẹp, tươi tốt)
Mậu Tài, Mậu Đức, Mậu Học
Mẫn
Mẫn (nhanh nhẹn, sáng suốt)
Mẫn Tài, Mẫn Đạt, Mẫn Học, Mẫn Tri, Mẫn Thành, Mẫu Đức, Mẫn Huy, Mẫu Kiệt, Mẫn Tuấn
Kiến
Kiến An, Kiến Bản, Kiến Hoa, Kiến Đức, Kiến Minh, Kiến Thụ, Kiến Đồng, Kiến Nghiệp, Kiến Nguyên, Kiến Chương, Kiến Trung, Kiến Minh
Nhuệ
Nhuệ Phong, Nhuệ Tiến, Nhuệ Lập, Nhuệ Tinh, Nhuệ Lợi, Nhuệ Tư, Nhuệ Chí, Nhuệ Tài, Nhuệ Thành, Nhuệ Đức, Nhuệ Quảng, Nhuệ Minh, Nhuệ Thức
Ngọc
Ngọc Thành, Ngọc Long, Ngọc Sơn, Ngọc Thạch, Ngọc Thư, Ngọc Thụ, Ngọc Vũ
Phi
Phi Bạch, Phi Quang, Phi Hồng, Phi Hổ, Phi Long, Phi Loan, Phi Trường, Phi Tinh, Phi Anh, Phi Vũ
Quang
Quang Hoa, Quang Huy, Quang Lâm, Quang Minh, Quang Hy, Quang Dự (Dự - khen ngợi)
Tân
Tân Bạch, Tân Hồng, Bân Bính (Bân – mộc mạc; Bính – sáng tỏ), Tân Hải (Tân - bến nước)
Tài
Tài Thiện, Tài Anh, Tài Tuấn
Thành
Thành Hòa, Thành Cung, Thành Hoa, Thành Long, Thành Nhân, Thành Song, Thành Văn, Thành Châu
Thừa
Thừa An (Thừa – đón nhận, nhận lấy); Thừa Đức, Thừa Ân, Thừa Phúc, Thừa Cơ, Thừa Bình, Thừa Vọng, Thừa Nghiệp, Thừa Vận, Thừa Chí
Tuấn
Tuấn Tài, Tuấn Trì, Tuấn Đạt, Tuấn Mỹ, Tuấn Lực, Tuấn Danh, Tuấn Minh, Tuấn Dân, Tuấn Mỹ, Tuấn Kiệt, Tuấn Hào, Tuấn Phong, Tuấn Phát, Tuấn Nhân, Tuấn Hùng, Tuấn Anh, Tuấn Ngữ, Tuấn Hy
Vĩnh
Vĩnh Xuân, Vĩnh An, Vĩnh Phong, Vĩnh Trường, Vĩnh Phúc, Vĩnh Niên, Vĩnh Khang, Vĩnh Niên, Vĩnh Ninh, Vĩnh Thọ, Vĩnh Tân, Vĩnh Nguyên, Vĩnh Trinh
Theo Qiming
Đầu óc tư duy nhanh nhạy, tự tin thể hiện bản thân, là mẫu người có tố chất lãnh đạo.
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
Người này có nền tảng kiến thức khá phong phú, làm việc quy củ. Điều này khiến mọi người rất tin tưởng và tôn trọng họ.
![]() |
| (Ảnh minh họa) |
Họ giỏi chịu đựng gian khổ nhưng lại thiếu năng lực xác định mục tiêu. Chỉ khi xác định rõ mục tiêu để phấn đấu, họ mới có thể phát huy hết tài năng của mình.
Tuy có tư tưởng khá phóng khoáng nhưng người tuổi Tuất mệnh Thủy lại tương đối bảo thủ trong hành động. Một số người thường thiếu tính độc lập, tự chủ.
Người tuổi Tuất mệnh Thủy thích đi du lịch và thích cuộc sống tự do, tự tại. Tuy nhiên, không ít người trong số họ thường để mình rơi vào ảo tưởng và dần dần từ bỏ những mục tiêu đã xác định ban đầu.
Không khô khan như người tuổi Tuất mệnh Thổ, người tuổi Tuất mệnh Thủy khá lãng mạn trong chuyện tình cảm. Họ có sức lôi cuốn mạnh mẽ đối với người khác giới và được nhiều người theo đuổi.
(Theo 12 con giáp về sự nghiệp và cuộc đời)
Tuần: cũng có hiệu lực khắc chế khá mạnh nhưng kém hơn sao Triệt. Văn tinh mà gặp Tuần đồng cung báo hiệu sự thi rớt, thi khó, thi nhiều keo ...
Tuy nhiên, nếu cung hạn vô chính diệu gặp Tuần, Triệt thì lại tốt.
Hóa Kỵ: báo hiệu việc thi rớt, thi khó, khoa bảng lận đận, dở dang. Hóa Kỵ chỉ sự nông nổi hay thay đổi chí hướng, sự bất mãn vì thất bại. Hiệu lực của Hóa Kỵ khá mạnh vì có thể làm lu mờ cả Khôi, Việt, Xương, Khúc, Hóa Khoa. Người có Khôi Việt gặp Kỵ thì chỉ là kẻ ẩn dật, bất đắc chí. Hóa Kỵ chỉ tốt khi gặp Thanh Long đồng cung mà thôi.
Kình Dương, Đà La hãm: đều chỉ sự cản trở, sự gian nan, sự chậm lụt trong khoa trường. Nếu Kình Dương miếu địa, đối với hai tuổi ất, Tân thì lại là người có tài văn chương từ đó có nghĩa thi đỗ.
Địa Không, Địa Kiếp hãm: Đi với văn tinh thì rất bất lợi: không thể thi được, thi rớt, bị tai họa lúc thi (cóp bài bị đuổi ...)
Thiên Không hãm (ở Tý, Sửu, Mão, Thìn, Ngọ, Mùi, Dậu, Tuất, Hợi): gặp phải khoa tinh, Thiên Không làm cho khoa trường lận đận.
Đại Hao, Tiểu Hao: chủ sự thay đổi, hao tán, ứng dụng vào khoa bảng có thể có nghĩa: thi rớt keo đầu, thi hai ngành trong đó rớt một, có thể tốn tiền về thi cử.
Thiên Khốc, Thiên Hư: chỉ sự lo âu, nước mắt, xui xẻo, do đó có thể báo hiệu việc thi rớt hoặc học mà không chịu thi. Nếu đăc địa ở Tý Ngọ thì có thể đỗ ở kỳ hai vì hai sao này đắc địa lợi về hậu vận hơn.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Đoan Trang(##)
Tháng cưới gã có lợi có hại , nhưng thời nay nhiều người không coi trọng lắm , nhưng cũng xin ghi ra đây cho các anh chị , các bạn xem. Rất là nhiều sách cho rằng đây là xét theo tuổi cô dâu để chọn tháng , thật ra là năm làm đám cưới để chọn tháng vậy.

Cách tính như sau :
_ Năm Tý , Ngọ : Tháng 6-12 đại lợi ; tháng 1-7 tiểu lợi nhưng hại mai dong ; tháng 2-8 hại cha mẹ chồng ( không có không sao , tức là qua đời hay vắng mặt ) ; tháng 3-9 hại cha mẹ vợ (nt) ; tháng 4-10 hại chú rễ ; tháng 5-11 hại cô dâu.
_ Năm Sửu , Mùi : tháng 5-11 đại lợi ; tháng 4-10 tiểu lợi nhưng hại mai dong ; tháng 3-9 hại cha mẹ chồng ; tháng 2-8 hại cha mẹ vợ ; tháng 1-7 hại chú rễ ; tháng 6-12 hại cô dâu
_ Năm Dần Thân : tháng 2-8 đại lợi ; tháng 3-9 tiểu lợi nhưng hại mai dong ; tháng 4-10 hại cha mẹ chồng ; tháng 5-11 hại cha mẹ vợ ; tháng 6-12 hại chú rễ ; tháng 1-7 hại cô dâu.
_ Năm Mẹo , Dậu : tháng 1-7 /tháng 6-12 /tháng 5-11 /tháng 4-10 /tháng 3-9 /tháng 2-8.
_ Năm Thìn , Tuất : tháng 4-10 /tháng 5-11 /tháng 6-12 /tháng 1-7 /tháng 2-8 /tháng 3-9.
_ Năm Tị , Hợi : tháng 3-9 /tháng 2-8 /tháng 1-7 /tháng 6-12 /tháng 5-11 /tháng 4-10.
Tên là mệnh, là vận mệnh của mỗi con người, tên gọi luôn gắn liền với mỗi người trong suốt cuộc đời. Khoa học cổ dịch đã cho thấy, nếu tên gọi đúng ngũ hành mệnh, hợp với giờ sinh của bé, sẽ mang lại cho bé nhiều may mắn, sức khỏe, thuận lợi trong cuộc sống sau này. Việc đặt tên cho con thực sự rất quan trọng để Con có được thời vận tốt.

Nếu các bé sinh vào mùa hè, là mùa của sự sôi động và cuồng nhiệt, mùa của nắng và gió mạnh mẽ, của những loại hoa quả nhiệt đới ngọt ngào, thơm ngon, của biển xanh mây trắng vẫy gọi. Có những cái tên cực kì ý nghĩa và tuyệt hay để đặt cho các bé. Bố mẹ có thể tham khảo một số cách đặt tên cho con mùa hè nhé!
Tên cho bé gái:
Hạ Thảo: Loài cỏ mùa hạ
Hạ Vân: đám mây mùa hạ
Hạ Miên: giấc mơ mùa hạ
Hạ Vy: mùa hạ nho nhỏ
Lam Hạ: mùa hè xanh
An Hạ: mùa hè an lành
Thanh Hạ: mùa hè thanh bình
Diệp Hạ: lá cây mùa hạ
Tên cho bé trai:
Khởi Hạ: sự bắt đầu của mùa hạ;
Hạ Vũ: mưa mùa hạ
Quang Hạ; Tuấn Hạ; Vương Hạ
Mùa hè là mùa của vô vàn loại hoa sặc sỡ và quyến rũ. Đây là ý tưởng rất hay để đặt tên cho các bé gái.
Hoàng Anh (hay còn gọi là Huỳnh Anh): loài hoa trông như chiếc loa kèn nhỏ, màu vàng rực rỡ
Mộc Miên: hoa gạo đỏ chói
Bích Phượng: hoa phượng xanh
Hồng Phượng: hoa phượng hồng
Kim Liên: hoa sen vàng
Bích Liên: hoa sen xanh
Hồng Liên: hoa sen hồng
Bạch Liên: hoa sen trắng
Dạ Hương: loài hoa trắng, tỏa hương thơm ngát vào ban đêm
Hoàng Yến: loài hoa vàng rực rỡ, còn có tên khác là Bò Cạp Vàng
Ngọc Lan: loài hoa trắng, nở thơm ngát
Đỗ Quyên: loài hoa rừng đẹp quyến rũ
Mùa hè là mùa biển xanh, mây trắng vẫy gọi, mùa của những ngọn gió nam hiền hòa, của cái oi nồng nắng cháy, của những cơn mưa mùa hạ dịu mát. Bố mẹ có thể dựa vào những hiện tượng thiên nhiên phong phú để đặt tên cho con:
Hải An: biển yên bình, dịu êm
Hải Miên: giấc mơ của biển
Đại Dương: biển cả bao la
Minh Hải: vùng biển sáng
Long Hải: con rồng biển
Thanh Hải: biển xanh
Nam Phong: ngọn gió mùa hè
Thanh Phong: ngọn gió mát lành
Thái Dương: vầng mặt trời rực rỡ
Thùy Dương: ánh nắng chan hòa, dịu dàng
Ánh Dương: ánh mặt trời
Minh Nhật: mặt trời sáng sủa
Hạ Vũ: mưa mùa hạ
Trọng Vũ: đi qua những ngày nắng cháy mới thấy trân trọng những ngày mưa mát lành
Phong Vũ: gió mưa
Thùy Vân: đám mây phiêu bồng
Bích Vân: đám mây xanh
Hồng Vân: đám mây hồng
Bạch Vân: đám mây trắng
Nhắc đến mùa hè, người ta liên tưởng ngay đến những loại cây như tùng, bách, trúc,... tỏa bóng xanh mát và mạnh mẽ, vững vàng. Một số tên hay cho bé theo các loại cây cỏ mùa hạ:
Bích Thảo: cỏ xanh
Diệp Thảo: lá cỏ xanh
Thảo Nguyên: đồng cỏ xanh
Tùng Lâm: rừng tùng xanh tốt
Thanh Trúc: cây trúc xanh
Trúc Linh; Xuân Tùng; Quang Tùng; Xuân Bách; Lâm Bách; Hoàng Bách
bạch hổ (Kim) tang môn (Mộc)
***
1. Ý nghĩa cơ thể:
2. Ý nghĩa bệnh lý:
3. Ý nghĩa tính tình:
a. Những ý nghĩa tốt của Tang Hổ đắc địa:
b. Những ý nghĩa xấu của Tang Hổ hãm địa:
4. Ý nghĩa công danh, tài lộc, phúc thọ:
5. Ý nghĩa của tang hổ và một số sao khác:
a. Những cách tốt:
- Hổ Phi đồng cung (gọi là hổ mọc cánh): vui vẻ, nhanh nhẹn, tháo vác, cũng lợi ích cho việc thi cử, cầu danh, đạt quyền chức, may mắn nói chung.
- Hổ, Cái, Long, Phượng (Tứ Linh): cũng rất hiển đạt về uy danh, sự nghiệp, uy tín, khoa giáp.
- Hổ Kình hay Hổ Hình đồng cung hay hợp chiếu: người có chí khí hiên ngang, có mưu lược, có tài quyền biến, rất đắc lợi về võ nghiệp và văn nghiệp.
- Hổ ở Dần (hổ cư hổ vị): ví như cọp ở rừng núi, có thể vùng vẫy tung hoành như ý muốn. Có nghĩa như gặp được thời, gặp vận hội may mắn, có thể phát huy tài năng, đạt chức quyền cao. Vị trí này rất hợp với hai tuổi Giáp và Kỷ, thường lỗi lạc về võ nghiệp, lưu danh hậu thế. Rất độc với tuổi Bính, Mậu.
b. Những cách xấu:
- Tang, Hổ, Điếu, Binh (Tứ Hung): rất độc, báo hiệu cho tang tóc, tai nạn chết người, họa lớn. Nếu có Thiên Đồng thì hóa giải được.
- Tang Hổ gặp Lưu Tang, Lưu Hổ: tang tóc liên tiếp, ưu phiền rất nặng, tai họa khủng khiếp.
8. Ý nghĩa của tang hổ ở các cung:
a. ở Phu Thê:
b. ở Bào:
c. ở Tử:
d. ở Điền:
e. ở Tật:
f. ở Phúc:
g. ở Hạn:
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Thiên Nga (##)
Phú có câu "nữ mệnh đoan chính Thái Dương tinh, tảo ngộ hiền phu tín khả bằng", nghĩa là nữ mệnh có Thái Dương là người đoan chính, sớm gặp chồng hiền . Xét trên dịch lý e rằng câu phú này không đúng; bởi Thái Dương là sao cực dương cư mệnh phái nữ không hợp.
Thái Dương càng miếu vượng tính mâu thuẫn càng cao nên nữ mệnh có Thái Dương cư các cung Dần Mão Thìn Tỵ Ngọ dễ thành công trên đường sự nghiệp nhưng khó thuận nhân duyên. Sửu Mùi Âm Dương đồng cung khó tránh đôi lần dang dở, các cung còn lại vì hãm địa lại hóa ra đỡ xấu, chịu nhẫn nại qua những phút giây bất thuận thì vẫn có thể được hưởng cảnh bạch đầu giai lão.
Thiên Đồng là phúc tinh cư mệnh dễ gặp may mắn. Nhưng Thiên Đồng là nữ tinh yếu đuối, bản chất thay đổi vô chừng nên càng may mắn càng có khuynh hướng tự gây phiền toái cho mình. Nghĩa là trong cái tốt đã chứa sẵn mầm biến động, khó tìm hạnh phúc với chồng con; ngay cả Đồng Lương miếu ở Dần Thân cũng thế.
Loại: Sát Tinh
Đặc Tính: Trở ngại, thất bại, bần hàn, tai nạn, tác hại, gian xảo, kích động
Tên gọi tắt thường gặp: Kiếp
Phụ tinh. Thuộc bộ sao đôi Địa Không và Địa Kiếp. Phân loại theo tính chất là Sát Tinh, Hung Tinh.
Cũng là một trong 6 sao của bộ Lục Sát Tinh gồm các sao Kình Dương, Đà La, Địa Không, Địa Kiếp, Linh Tinh, Hỏa Tinh (gọi tắt là Kình Đà Không Kiếp Linh Hỏa).
Cũng là 1 trong 4 sao của cách Hình Riêu Không Kiếp (Thiên Hình, Thiên Riêu, Địa Không, Địa Kiếp).
Khi đóng trong cung không có chính tinh gọi là cách hung hoặc sát tinh độc thủ.
Khi có sao Địa Kiếp trong cùng một Cung Tỵ hoặc Cung Hợi gọi là cách Không Kiếp đồng cung Tỵ Hợi.
Khi một trong các Cung Tý, Cung Tuất, Cung Thìn, Cung Ngọ có sao Địa Không thì tại Cung Hợi hoặc Cung Tỵ thuộc cách giáp Không Kiếp.
Đắc Địa: Dần, Thân, Tỵ, Hợi.
Hãm Địa: Tý, Sửu, Mão, Thìn, Ngọ, Mùi, Dậu, Tuất
Ý Nghĩa Địa Kiếp Ở Cung Mệnh:
Tướng Mạo: Sao Địa Kiếp ở Mệnh thì thân hình thô xấu, da kém vẻ tươi nhuận.
Tính Tình: Địa Kiếp đắc địa: Có mưu trí, thâm trầm và lợi hại, rất can đảm, táo bạo, dám nói, dám làm, kín đáo, bí mật, hay giấu diếm, hay suy xét, mưu trí cao thâm, thủ đoạn. Những đặc tính này đúng cho cả phái nam và nữ.
Địa Kiếp hãm địa: Ích kỷ, tự kỷ ám thị, suy tật xấu của người từ tật xấu của mình, xảo quyệt, gian tà, biển lận, tham lam.
Công Danh Tài Lộc:
Cho dù đắc địa, Địa Kiếp cũng không bảo đảm trọn vẹn và lâu dài công danh và tài lộc. Sự nghiệp sẽ hoạch phát nhưng hoạch phá nghĩa là tiến đạt rất nhanh chóng song tàn lụi cũng lẹ. Uy quyền và tiền bạc phải gặp nhiều thăng trầm, lúc thịnh lúc suy; nếu có phú quý lớn thì hoặc không hưởng được lâu, hoặc phải có lần phá sản, lụn bại.
Nếu hãm địa, nhất định phải cực kỳ nghèo khổ, vất vả, không có sự nghiệp và sinh kế; đây là hạng vô sản, cùng đinh của xã hội, phải ăn xin độ nhật hoặc phải trộm cướp để nuôi thân.
Địa Kiếp giáp Mệnh cũng liên lụy ít nhiều đến bản thân, công danh, tài lộc như phải vất vả, tha phương lập nghiệp, bị mưu hại, trộm cắp.
Phúc Thọ Tai Họa:
Sao Địa Kiếp hãm địa có tác họa rất mạnh, dù có gặp sao chế giải, hung họa vẫn tiềm tàng, chỉ giảm bớt được ít nhiều chớ không mất hẳn. Có thể nói Địa Kiếp hãm địa làm giảm sự tốt đẹp của cát tinh nhiều hơn là cát tinh làm mất sự hung họa của Địa Kiếp.
Về các chính tinh, chỉ có Tử Vi và Thiên Phủ miếu và vượng địa mới có nhiều hiệc lực đối với Địa Kiếp.
Về các phụ tinh có: Tuần, Triệt, Thiên Giải và Hóa Khoa, là bốn sao tương đối mạnh. Kỳ dư những sao giải khác như Địa Giải, Giải Thần, Thiên Đức, Nguyệt Đức, Long Đức, Phúc Đức, Thiên Quan, Thiên Phúc .v..v.. không đủ sức chế ngự Địa Kiếp hãm địa.
Đi với võ tinh hãm địa như Sát Phá, Liêm Tham, Địa Kiếp càng tác họa mạnh mẽ thêm gấp bội. Nhưng sát tinh hãm địa khác như Kình, Đà, Linh, Hỏa hay hai sao Tả, Hữu cũng góp phần gây thêm hiểm họa cho Địa Kiếp.
Nếu đắc địa, cuộc đời phải vất vả cực nhọc, tuy tai họa tiềm tàng, nhưng không mấy hung hiểm. Dù sao, phải chịu nhiều cảnh thăng trầm, khi vinh, khi nhục. Nếu gặp phải sát tinh, thì sự phá hoại dễ dàng phát tác mau chóng.
Nếu hãm địa, Địa Kiếp ví như một nghiệp chướng bám vào vận mệnh con người, có ảnh hưởng đa diện và nặng nề, cụ thể như:
Bị tật nguyền vĩnh viễn, bệnh nặng.
Hung họa nhiều và nặng nề.
Nghèo khổ, cô độc, vô sản, phải đi xa làm ăn.
Yểu mạng.
Địa Kiếp đắc địa gặp Tướng, Mã, Khoa: Những sao này thủ Mệnh là người tài giỏi, lập được sự nghiệp lừng lẫy trong cảnh loạn ly.
Địa Kiếp đắc địa với phi thường cách: Phi thường cách hoặc gồm Tử, Phủ, Vũ, Tướng đắc địa, hoặc gồm Sát, Phá, Liêm, Tham đắc địa, được sự hội tụ của cát tinh đắc địa như Tả, Hữu, Khôi, Việt, Xương, Khúc, Long, Phượng, Đào, Hồng, Khoa, Quyền, Lộc và của sát tinh đắc địa như Kình, Đà, Không, Kiếp, Hình, Hổ. Đây là cách nguyên thủ, đế vương, hội đủ tài đức và vận hội, có cả lương thần và hảo tướng trợ giúp, xây dựng chế độ, để danh tiếng lừng lẫy cho hậu thế.
Địa Kiếp, Tử, Thiên Phủ cùng đắc địa: Gặp phải nhiều bước thăng trầm trong công danh sự nghiệp tài lộc. Nếu Tử, Phủ bị Triệt, Tuần mối hung họa mới hiểm nghèo.
Sao Địa Kiếp với Thiên Hình, ĐàLa, Hỏa Tinh, Linh Tinh: Nếu cùng đắc địa cả thì phú quý được một thời. Nếu cũng hãm địa cả thì rất nguy hiểm tính mạng, sự nghiệp, tài danh, suốt đời gặp nhiều chuyện đau lòng. Dù đắc hay hãm địa, cả trai lẫn gái đều khắc vợ, sát phu.
Địa Kiếp, Thiên Cơ (hay Hỏa): Bị hỏa tai như cháy nhà, phỏng lửa. Địa Kiếp, Tham Lang đồng cung: Bị thủy tai (chết đuối, bị giết dưới nước), nếu không cũng chật vật lang thang độ nhật, dễ sa vào đường tù tội.
Địa Kiếp, Trực Phù, Thiên Khốc, Điếu Khách, Cự Môn, Nhật: Cách này biểu hiện cho tai họa, tang khó, đau buồn liên tiếp và chung thân bất hạnh.
Ý Nghĩa sao Địa Kiếp Ở Cung Phụ Mẫu
Cha mẹ mất sớm, chết sớm, chết thảm, bị hình tù, ly cách.
Không nhờ vả được cha mẹ mà có khi phải gánh nợ di truyền của cha mẹ để lại.
Ý Nghĩa sao Địa Kiếp Ở Cung Phúc Đức
Trừ phi đắc địa thì hưởng lộc một thời. Địa Kiếp hãm địa chủ sự bất hạnh lớn về nhiều phương diện, giòng họ sa sút, lụn bại, vô lại, cường đạo, sự nghiệp tan tành, tuổi thọ bị chiết giảm, đau ốm triền miên vì một bệnh nan y.
Ý Nghĩa sao Địa Kiếp Ở Cung Điền Trạch
Nếu đắc địa, có điền sản một dạo, nhưng phải mua đi bán lại luôn.
Nếu hãm địa, vô sản, bị sang đoạt, bị phá sản, bị tai họa về điền sản (cháy nhà, nhà sập ...) hoặc sang đoạt, tạo điền sản bằng phương tiện táo bạo, ám muội.
Ý Nghĩa sao Địa Kiếp Ở Cung Quan Lộc
Công danh thấp kém, làm ăn rất chật vật.
Bị khinh ghét, dèm pha, không thăng tiến.
Bị mất chức ít nhất một lần.
Nếu đắc địa, có bộc phát được một thời nhưng sau cũng tàn lụi, hoặc phải lên voi xuống chó.
Ý Nghĩa sao Địa Kiếp Ở Cung Nô Bộc
Tôi tớ phản chủ, hại chủ, giết chủ.
Bạn bè xấu, tham lận, lường gạt.
Nhân tình ám hại, bêu xấu, bòn của.
Ý Nghĩa sao Địa Kiếp Ở Cung Thiên Di
Bị chết xa nhà và chết thảm nhanh chóng.
Bị kẻ thù hãm hại (ám sát, phục kích).
Ý Nghĩa sao Địa Kiếp Ở Cung Tật Ách
Sát tinh này có rất nhiều đặc tính bệnh lý, hầu hết là rất nặng. Nó gây thương tàn cho bộ phận cơ thể đi kèm, dù sao đó chỉ xung chiếu hay bàng chiếu.
Địa Kiếp, Thiên Đồng: Ruột dư phải mổ, hay bệnh thận phải mổ, bệnh mật có sạn.
Địa Kiếp, Đế Vượng: Gãy xương sống, sái xương sống.
Địa Kiếp, Hỷ Thần: Bệnh trĩ kinh niên hay bệnh mụn nhọt lớn ở mông.
Địa Kiếp, Phá Toái: Đau yết hầu, ung thư cổ họng.
Địa Kiếp, Thai: Bào thai chết trong bụng mẹ, mẹ cố ý phá thai.
Địa Kiếp, Kỵ: Ngộ độc bị phục độc.
Địa Kiếp đơn thủ báo hiệu những bệnh sau: Đau phổi nặng như ho lao, ung thư phổi, suyễn. Nếu đắc địa thì ho lâu năm. Bệnh mụn nhọt ghẻ lở nặng và lâu khỏi.
Ý Nghĩa sao Địa Kiếp Ở Cung Tài Bạch
Nếu đắc địa thì hoạch phát nhanh chóng một thời, nhưng về sau phá sản cũng rất nhanh. Thường thường kiếm tiền bằng những phương cách táo bạo (buôn lậu, ăn cướp, sang đoạt) và ám muội (đầu cơ, oa trữ, buôn bán đồ quốc cấm).
Nếu hãm địa: Vô sản, bần nông.
Ý Nghĩa sao Địa Kiếp Ở Cung Tử Tức
Không con, hiếm muộn, ít con, phải ở xa con cái.
Sát con rất nhiều.
Con không nhờ vả được mà còn phải bị di lụy.
Con phá sản nghiệp cha mẹ.
Ý Nghĩa sao Địa Kiếp Ở Cung Phu Thê
Có những ý nghĩa sau:
Sát phu, sát thê, góa bụa bất ngờ.
Có thể không có gia đình.
Nếu có gia đình thì sát hay phải xa cách nhau lâu dài vì tai nạn xảy ra cho một trong hai người.
Phải hai, ba lần lập gia đình, lần nào cũng nhanh chóng.
Ý Nghĩa sao Địa Kiếp Ở Cung Huynh Đệ
Có những ý nghĩa sau:
Không có anh chị em hoặc anh chị em ly tán
Có anh chị em dị bào, có người đau ốm bệnh tật, có tật nguyền, hoặc đoản thọ, chết yểu.
Không nhờ vả được anh chị em mà còn phải bị liên lụy vì họ (vì Địa Không bấy giờ giáp Mệnh).
Địa Kiếp Khi Vào Các Hạn
Nếu đắc địa, sẽ bộc phát tài danh mau lẹ, nhưng phải làm bệnh nặng về phổi, mụn nhọt, hoặc phải đi xa.
Nếu hãm địa, rất nhiều tai nguy về mọi mặt:
Bị bệnh nặng về vật chất và tinh thần (lo buồn).
Bị mất chức, đổi chỗ vì kỷ luật.
Bị hao tài, mắc lừa, mất của, thất tình.
Bị kiện cáo.
Bị chết nếu gốc nhị Hạn xấu.
Minh chứng điển hình là Bác Hồ kính yêu của chúng ta. Hồi nhỏ, tên thật của Bác là Nguyễn Sinh Cung (Côn), sau, Người đổi tên là Nguyễn Tất Thành (mọi việc sẽ thành công), trong thời gian hoạt động cách mạng, người lấy tên là Nguyễn Ái Quốc (mang tư tưởng yêu nước, luôn hướng về dân tộc) và một vài tên khác như anh Ba, anh Nguyễn... (là những tên gọi thân thiện).
![]() |
| Nhà yêu nước, vị lãnh tụ vĩ đại - Nguyễn Ái Quốc |
Bên cạnh đó, còn có trí sĩ yêu nước Phan Bội Châu, tên thật là Phan Văn San, khi hoạt động cách mạng đổi tên thành Phan Bội Châu... Hay nhà thơ, nhà cách mạng Tố Hữu cũng chọn tên gọi theo chí hướng, nguyện vọng. Tố Hữu tên thật là Nguyễn Kim Thành. Vì lòng cảm mến, một cụ đồ đã tặng ông 2 chữ "Tố Hữu" (ngô nhi tố hữu đại chí - trẻ ta sẵn có chí lớn). Nguyễn Kim Thành trân trọng bút danh mà cụ đồ tặng cho, song, ông chỉ dám nhận tên "Tố Hữu" với nghĩa "người bạn trong trắng" ("Hữu" là bạn, "Tố" là trong trắng).
Hiện nay, nhiều người đã chọn tên theo nguyện vọng về chí hướng ngay từ hồi nhỏ để đặt tên cho con. Một số tên gọi hay như: Chí Cường, Chí Trung, Chí Nhân,Chí Thiện, Thành Công, Tất Đạt, Thái Bảo, Trung Hiếu, Lập Quốc, Lập Thiên, Phan Nhân, Chí Tôn, Hùng Cường, Quốc Cường, Thái An, Thái Anh, Thái Xuân, Gia Đại, Xuân Công, Chí Công, Minh Công, Anh Minh, Tri Anh, Thái Học...
Tuy nhiên, giữa tên gọi và hiện thực của thành công còn có khoảng cách khác nhau. Tên gọi hàm ý về chí hướng, sự thành công nhưng không có sự nỗ lực phấn đấu thì mọi thứ cũng chỉ là "hão huyền". Để đạt được những hàm nghĩa trong tên, bạn nên cố gắng hết sức mình trong mọi hoàn cảnh, phải bỏ ra mồ hôi, công sức... thì mới có thể đạt được ước nguyện của bản thân, cũng như nguyện vọng mà cha mẹ đã gửi gắm.
Theo Khoa học và nghệ thuật đặt tên...
![]() |
Hướng bếp tuổi Kỷ Tỵ 1989:

– Năm sinh dương lịch: 1989
– Năm sinh âm lịch: Kỷ Tỵ
– Quẻ mệnh: Khôn Thổ
– Ngũ hành: Đại Lâm Mộc (Gỗ rừng già)
– Thuộc Tây Tứ Mệnh, nhà hướng Bắc, thuộc Đông Tứ Trạch
– Hướng tốt: Tây Bắc (Diên Niên); Đông Bắc (Sinh Khí); Tây Nam (Phục Vị); Tây (Thiên Y);
– Hướng xấu: Bắc (Tuyệt Mệnh); Đông (Hoạ Hại); Đông Nam (Ngũ Quỷ); Nam (Lục Sát);
| ► Xem tử vi ngày mới và tuần mới của bạn được cập nhật liên tục và chính xác nhất |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
Ngưỡng mộ 3 con giáp không thăng quan cũng phát tài trong 5 năm tới| ► Mời các bạn xem tử vi năm 2016 theo cung, mệnh bản thân chuẩn xác |