Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,...   Click to listen highlighted text! Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,... Powered By DVMS co.,ltd
Kính mời quý khách like fanpage ủng hộ Vạn Sự !

Vạn Sự

Phong thủy cho cửa chính: Những điều nên và không nên

Nếu đảm bảo phong thủy cho cửa chính gia chủ sẽ khỏe mạnh, giàu có, hạnh phúc, thịnh vượng, an yên.
Phong thủy cho cửa chính: Những điều nên và không nên

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Nếu đảm bảo phong thủy cho cửa chính gia chủ sẽ khỏe mạnh, giàu có, hạnh phúc, thịnh vượng, an yên. Vì thế, chỉ cần lưu ý một số điểm sau cuộc sống của bạn sẽ trở nên vui tươi và nhẹ nhàng hơn.
 

Trong phong thủy, cửa chính của ngôi nhà rất quan trọng vì đó là nơi năng lượng tốt đi vào nhà. Nhà là nơi mà chúng ta về để nghỉ ngơi, thư giãn sau một ngày vất vả làm việc nơi công sở. Vì thế, ai cũng muốn đó là nơi chúng ta được thoải mái, thư giãn, có cảm giác ấm cúng và tất cả những điều tích cực khác.   Cửa chính được xem là hợp phong thủy khi nó còn giúp loại bớt các loại năng lượng tiêu cực khác để tránh hạn chế việc chủ nhà có thể gặp những vấn đề rắc rối không đáng có.
 
Không ai muốn năng lượng tràn vào nhà quá nhanh hay quá chậm. Trong thực tế nguồn năng lượng di chuyển vào nhà đều đặn sẽ tốt hơn bởi vì nếu di chuyển nhanh quá khiến gia chủ dễ bị lo lắng và nếu chậm thì họ hay thờ ơ với cuộc sống.
 
Và sau đây là những điều nên và không nên làm đối với phong thủy cho cửa chính:  
Phong thuy cho cua chinh Nhung dieu nen va khong nen  hinh anh
 

Phong thủy cho cửa chính: Nên

1. Hãy tạo cho cảm giác chào đón, vui vẻ, hạnh phúc và mời gợi cho lối vào nhà bạn có; Nói chung là phải là trạng thái tích cực.
 
2. Phải đảm bảo rằng cửa chính lớn hơn cửa khác ở trong nhà.
 
3. Cửa được mở đúng chiều kim đồng hồ.
 
4. Cửa được mở trong một không gian rộng lớn. Đối với không gian chật hẹp, sử dụng gương đúng phong thủy để làm tạo cảm giác phòng rộng. 
 
5. Nếu có bàn thờ đó phải đối mặt với phòng khách là tốt nhất.
 
6. Cửa phải vuông góc 90 độ với mặt đất và không nghiêng ra ngoài hoặc vào trong.
 
7. Sử dụng vật liệu chất lượng tốt nhất cho cửa chính.
 
8. Cửa không được phát ra bất kỳ tiếng ồn nào trong khi mở hoặc đóng cửa.
 
9. Giữ cho cửa sáng sủa
 
10. Đảm bảo cho lối vào dễ nhìn thấy, có thể để cây và đèn để cho bắt mắt.
 
11. Nếu có một vết nứt hoặc cửa bị ẩm thì sửa chữa hoặc thay cửa ngay lập tức.
 
12. Đặt ba đồng tiền gắn với dải ruy băng màu đỏ dưới mặt đất hoặc thảm bên trong cửa chính.
 
13. Một mẹo phong thủy có thể áp dụng là treo bức ảnh của 100 loài chim ở gần cửa ra vào vì điều này tượng trưng cho 100 cơ hội bay vào nhà của bạn.
 
14. Nên đặt cây cầu tài lộc ở gần cửa chính
 
15. Đặt cây bên cạnh cửa ra vào của ngôi nhà được xem là phong thủy tốt, chỉ cần đảm bảo rằng cây không chặn lối vào.
 
16. Nếu cây gần lối vào của ngôi nhà thì chúng phải tươi tốt, không có lá úa.
 
17. Một hòn non bộ, tiểu cảnh đặt bên phải của cánh cửa được xem là phong thủy tốt, mang lại năng lượng thịnh vượng trong nhà.
 
18. Con đường dẫn vào nhà phải sạch sẽ, dọn sạch rác, báo cũ, lá khô ở gần đấy.
  
Phong thuy cho cua chinh Nhung dieu nen va khong nen  hinh anh
 

Phong thủy cho cửa chính: Không nên

 
1. Cửa ra vào không được để đồ vật lộn xộn.
 
2. Cửa chỉnh không nên là cửa trượt, hình tròn hoặc cửa dáng xiên.
 
3. Tránh cửa chính của ngôi nhà khác đối diện cửa chính nhà mình, được gọi là thế "cửa đối cửa".
 
4. Không có bể tự hoại dưới lối vào nhà.
 
5. Không xây nhà vệ sinh ở phía trên cửa chính. 
 
6. Tuyệt đối không để giày dép, kệ giày, rác và thùng rác gần cửa chính.
 
7. Không nên dùng cửa chính tự động.
 
8. Cố gắng tránh cửa chính đối mặt với những con đường giao nhau.
 
9. Tránh cột đèn, cây, dây điện,… ngay phía trước cửa nhà vì như thế được xem là “mũi tên độc”, hoặc là tránh mua nhà ở đó hoặc xem phần độc mũi tên để khắc phục.
 
10. Tránh nhà ở nơi có bóng từ một tòa nhà khác hoặc một cây khác chiếu lên lối vào.
 
11. Tránh cửa chính phải đối mặt với cầu thang. 
 
12. Không nên để cửa chính buồn tẻ, bạn nên khắc hoặc thiết kế cho cửa trông sinh động hơn.
 
13. Không được gắn gương ở cửa chính nếu không tất cả năng lượng tích cực sẽ đi ra khỏi nhà.
 

Màu sắc của cửa chính:
 

Không thể phủ nhận tầm quan trọng của màu sắc trong phong thủy cho cửa chính, và sau đây là một số lưu ý về màu sắc liên quan đến hướng cửa chính của ngôi nhà.
 
Cửa hướng Bắc: Xanh hoặc đen (Xanh tốt hơn)
 
Cửa hướng Nam: Đỏ hoặc các tông màu tương tự.
 
Cửa hướng Đông và Đông - Nam: Màu của gỗ màu xanh chứ không phải nâu.
 
Cửa hướng Tây và Tây Bắc: Màu trắng.
 
Cửa hướng Đông - Bắc và Tây Nam: Màu vàng, nâu, hồng. 
 
HaTra

Phong thủy cho người mệnh Hỏa: Bài trí phòng ngủ đón tài lộc Cẩn thận kẻo nghèo và bệnh tật vì phòng tắm không đúng phong thủy Lưu ý phong thủy cho từng loại phòng ngủ để hạnh phúc viên mãn


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Phong thủy cho cửa chính: Những điều nên và không nên

Vài bước đơn giản cho ban công thành thiên đường êm ái

Nếu nhà bạn có những ban công còn bỏ ngỏ hãy tham khảo những ý tưởng trang trí dưới đây, chúng sẽ giúp bạn biến ban công trở thành thiên đường của những phút thư giãn cuối tuần.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo



1. Những chiếc ghế phù hợp
  Thật tuyệt vời nếu được cùng các thành viên trong gia đình ngồi nghỉ ngơi, tán gẫu ở ban công vào những buổi tối đẹp trời. Để có một cuộc trò chuyện vui vẻ dài lâu, bạn cần có một chỗ ngồi thoải mái. Trước tiên bạn cần xem xét diện tích ban công nhà mình để biết nên lựa chọn loại sofa dài hoặc những chiếc ghế đơn linh động. Những chiếc ghế chất liệu mây, cói hay thép không gỉ sẽ vô cùng phù hợp với không gian ngoài trời này. Ngoài ra, bạn cũng có thể sử dụng ghế gỗ với những miếng nệm rời, dễ cất gọn sau khi sử dụng để tránh mưa nắng.   Bố trí chỗ ngồi thoải mái để ban công thành nơi tụ họp của gia đình mỗi tối đẹp trời.   Những chiếc ô giúp bạn không lo ngại thời tiết.
 
 
Những chiếc ghế bằng thép không gỉ, mây rất hợp để sử dụng ngoài trời.


Ghế treo phù hợp với ban công nhỏ.

2. Chọn nền sàn phù hợp   Không thể phủ nhận rằng việc bề mặt sàn có tác động khá lớn đến việc bạn có muốn sử dụng không gian đó hay không. Dù không phải là phần không gian chủ đạo trong nhà, nhưng khu vực ban công cũng không ngoại lệ. Bởi thế, thay vì sử dụng nền xi măng đơn điệu, hãy tô điểm cho ban công bằng loại sàn quen thuộc. Gạch lát sáng màu đem lại cảm giác hiện đại và rất “đô thị”. Gạch lát họa tiết màu sắc thì đem lại cảm giác ấm áp và hơi “tây”, còn sàn gỗ thì đem lại cảm giác mộc mạc nhưng sang trọng, đặc biệt phù hợp với những người yêu thích phong cách vintage.  
 Sàn bằng gỗ luôn đem lại cảm giác ấm áp, gần gũi.
 

Sàn gạch men sạch sẽ và hiện đại.
  3. Phủ xanh ban công   Ý tưởng trang trí ban công được nhiều người sử dụng nhất chính là sử dụng cây xanh. Quả thật với cách làm này không gian này sẽ mềm mại và gần gũi với thiên nhiên hơn nhiều. Bạn có thể lựa chọn cho mình các giỏ hoa treo rực rỡ, hoặc nếu ban công nhà bạn được chắn bằng lưới mắt cáo thì các loại cây leo mát mắt là lựa chọn không tồi. Một ý tưởng khác là bạn có thể trồng rau xanh hoặc các loại thảo dược vào chậu nhỏ bày xung quanh ban công. Không chỉ xanh mát mà bạn còn có ngay các loại thực phẩm sạch cho gia đình.   Trang trí ban công bằng các loại cây xanh vừa đẹp vừa mát nhà.   Cây leo rất phù hợp với những ban công có rào chắn.
 
4. Dành chỗ cho đồ trang trí   Đối với những không gian bên ngoài như ban công thì một tiểu cảnh hay chiếc đèn treo bằng giỏ mây hay chai lọ tận dụng đồ cũ sẽ là ý tưởng trang trí vừa đẹp mắt lại vừa tiết kiệm. Những món đồ tuy nhỏ nhưng lại có tác dụng khiến ban công nhà bạn bắt mắt, nhẹ nhàng và gần gũi với thiên nhiên hơn.  
Những kệ nhỏ trưng bày đồ trang trí sẽ giúp ban công nhà bạn sống động hơn.
   Một tiểu cảnh hồ nước cũng là gợi ý không tồi để trang trí ban công.  
Thậm chí bạn còn có thể tận dụng những món đồ cũ làm thành
đồ trang trí độc đáo cho riêng mình, ví dụ như sử dụng chiếc lồng cũ làm chụp đèn như ảnh.


(Theo TTVN)

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Vài bước đơn giản cho ban công thành thiên đường êm ái

Rồng phong thủy, bài trí đúng để nâng tầm quyền lực

Rồng phong thủy mang nhiều ý nghĩa tích cực, là biểu tượng của Vua, của những điều cao thượng, là linh vật thần thoại mang thiên mệnh cao cả.
Rồng phong thủy, bài trí đúng để nâng tầm quyền lực

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Theo dân gian, rồng là biểu tượng của Vua, của những điều cao thượng, là linh vật thần thoại mang thiên mệnh cao cả và tối thượng. Ngày nay, rồng được coi là vật có tác dụng lớn trong phong thủy. Vậy rồng phong thủy có ý nghĩa, tác dụng và cách dùng như thế nào?   Sức mạnh của loài rồng trong phong thủy có thể nói là vô hạn, biểu tượng rồng phong thủy được áp dụng trong hầu hết các lĩnh vực của cuộc sống như công việc, tình yêu, hôn nhân.     

1. Rồng phong thủy có ý nghĩa gì?

   

- Biểu tượng của sức mạnh và quyền uy

  Trong phong thủy, rồng giúp  cho doanh nhân thu được nhiều tài lộc và tăng uy tín.   Trong tứ linh thì rồng đứng hàng đầu: Long, Lân, Quy, Phụng. Rồng có thề phun mưa giúp mùa màng tươi tốt, thổi gió mát giúp khí trời mát mẻ, đó chính là nguyên khí của đất trời, là nền tảng của học thuật phong thủy. Rồng có sức mạnh vô biên, là biểu trưng cho năng lượng của đất trời, là con vật có vượng khí nhất trong phong thủy.

Để hiểu rõ hơn về tứ linh, có thể tham khảo: Giải thích vị trí của tứ tượng Thanh Long, Bạch Hổ, Chu Tước, Huyền Vũ trong phong thủy.
 
Rong phong thuy, bai tri dung de nang tam quyen luc
 

- Hút tài lộc vào nhà

  Nếu trong nhà có trang trí tượng hình rồng sẽ mang đến nguồn sinh khí mạnh mẽ đến với gia đình. Rồng là con vật linh thiêng, đại diện cho sức mạnh và quyền uy của vũ trụ.   Vì thế, nếu đặt tượng rồng hướng ra cửa chính hoặc cửa sổ sẽ mang lại nhiều tài lộc cho gia đình, giúp công việc thuận buồm xuôi gió. 

Có thể bạn quan tâm: Bày rồng để chiêu tài khai vận
 

- Cải thiện tình trạng hôn nhân gia đình

  Theo quan niệm xưa, rồng với phượng là cặp biểu tượng phong thủy tốt lành, có truyền thống lâu đời trong văn hóa phương Đông. Rồng và phượng trong phong thủy được cho là có tác dụng thu hút may mắn trong vấn đề tình duyên, cải thiện mối quan hệ vợ chồng trở nên hài hòa, qua đó hôn nhân và tình yêu đôi lứa trở nên hạnh phúc hơn.    Khi nói về phong thủy trong hôn nhân gia đình nói riêng và tình yêu đôi lứa nói chung, có rất nhiều phương pháp phong thủy giúp mối quan hệ tình cảm giữa người nam và người nữ trở nên hài hòa, viên mãn. Và một trong những cách thức truyền thống lâu đời nhất, cũng có thể nói là tốt nhất, đó là bài trí hình tượng rồng và phượng phong thủy, hay còn gọi là “long phụng sum vầy”.

Rong phong thuy, bai tri dung de nang tam quyen luc
 

 

2. Rồng phong thủy có tác dụng gì?
 

Theo phong thủy, rồng có tác dụng giải trừ tiểu nhân, đặc biệt là rồng có màu xanh (gọi tắt là rồng xanh hay Thanh Long). Rồng  có đặc điểm là mình rồng dài, trên thân có nhiều vẩy, trên đầu có sừng như sừng hươu, chân có móng vuốt, rồng có nhiều tài như bay trên trời, bơi dưới nước…   Nếu đặt rồng xanh ở hướng Thanh Long của ngôi nhà thì những kẻ tiểu nhân không dám gây sự quấy nhiễu, hoặc khi hướng Bạch Hổ của ngôi nhà khí vận phong thủy quá xấu, thì nên bày rồng xanh ở Thanh Long để hóa giải tai ách do Bạch Hổ gây ra. Xem thêm: Long - Hổ trong chọn đất xem nhà.   Là con vật đứng đầu trong các loài thú lành, nên ngoài việc hóa sát rồng còn tăng cường phát huy quyền lực, người có chức vụ cao dùng nó có hiệu quả càng lớn. Ngoài ra rất phù hợp cho người làm việc hành chính hoặc hoạt động chính trị, giúp chống lại những lời gièm pha và tăng cường quyền uy.  
Rong phong thuy, bai tri dung de nang tam quyen luc
 

3. Đặt rồng phong thủy như thế nào cho đúng?

  - Luôn đặt rồng phong thủy ở vị trí thông thoáng, đây là nơi có nguồn năng lượng tốt dồi dào rất phù hợp với đặc tính loài rồng.   - Hãy chắc chắn rằng đầu rồng hướng về phía rộng rãi, xem mắt rồng có nhìn bao quát được phần lớn căn nhà hay không. Nếu vị trí đặt rồng giúp mắt rồng bao quát được phần lớn ngôi nhà, điều đó sẽ đem lại nhiều may mắn và thịnh vượng hơn nữa.   - Không đặt đầu rồng hướng về phía cửa sổ.   - Không đặt đầu rồng nhìn sát vào tường hay đặt ở khu vực góc nhà.   - Lưu ý, nếu trên tay rồng có viên ngọc trai (hoặc viên đá quý), cần tránh để hướng tay rồng quay ra phía cửa sổ hoặc cửa chính.   - Không nên đặt các linh vật phong thủy khác quá gần với rồng (ngoại trừ một số linh vật hợp với rồng như phượng hoàng phong thủy).   - Cần lưu ý việc đặt biểu tượng rồng sau lưng người ngồi. Bởi đặt ở vị trí này sẽ tạo hiệu ứng cho vương quyền hay quyền lực bị lấn áp hay khống chế, gây phản tác dụng. Không bao giờ để rồng nhìn đối diện người ngồi, tức rồng chầu ngược vào chính diện của người chủ hay người lãnh đạo. Vị thế này gây bất lợi về tài lộc, công danh sự nghiệp cho người đối diện.   Ngân Hà   Treo tranh rồng, hổ, ngựa thế nào để không rước xui xẻo vào nhà? Ý nghĩa linh vật Rồng trong phong thủy 9 con của rồng - linh vật phong thủy toàn năng (phần 1) 9 con của rồng - linh vật phong thủy toàn năng (phần 2)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Rồng phong thủy, bài trí đúng để nâng tầm quyền lực

Lễ hội diễn ra trong ngày 12 tháng 4 âm lịch - Hội Chùa Tà Và

Vào ngày 12 tháng 4 âm lịch có diễn ra lễ hội đó là Hội Chùa Tà Và ở Lạng Sơn được tổ chức long trọng tại xã Chi Lăng, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Lễ hội diễn ra trong ngày 12 tháng 4 âm lịch - Hội Chùa Tà Và

Lễ hội diễn ra trong ngày 12 tháng 4 âm lịch - Hội Chùa Tà Và

Hội Chùa Tà Và ở Lạng Sơn

Thời gian: tổ chức vào ngày 12 tới ngày 15 tháng 4 âm lịch.

Địa điểm: xã Chi Lăng, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn.

Đối tượng suy tôn: Nhằm suy tôn đức Phật, Thần Nông, Quan Công và Lưu Bị.

Nội dung: Hội chùa có lễ dâng hương cùng các Thánh Thần, cúng Phật. Đặc biệt, còn có lễ cầu mùa, với ý nghĩa cầu nguyện mưa thuận gió hòa; tổ chức cả chơi cờ người.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Lễ hội diễn ra trong ngày 12 tháng 4 âm lịch - Hội Chùa Tà Và

Con gái tuổi nào tình yêu viên mãn, kết thúc có hậu

Đứng đầu bảng là cô nàng tuổi Sửu dịu dàng, một lòng một dạ với nửa kia, hay cô nàng tuổi Tuất luôn toàn tâm toàn ý với tình yêu.
Con gái tuổi nào tình yêu viên mãn, kết thúc có hậu

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

No 1. Tuổi Sửu

1-6128-1412648764.jpg

Tính cách con gái tuổi Sửu dịu dàng, ngoan ngoãn, nhiệt tình, ân cần, ít nói, không thích chủ động. Khi có đối tượng "thầm thương trộm nhớ", họ sẽ không chủ động tấn công mà chỉ lặng lẽ quan sát ở phía sau hoặc lẳng lặng làm nhhiều việc vì đối phương, đợi thời cơ chín muồi, mới đưa ra quyết định. Họ làm việc gì cũng rất bình tĩnh, chắc chắn sẽ không vì thích một ai đó mà hy sinh quên mình.

Nếu con gái tuổi Sửu đã xác định mối quan hệ yêu đương với ai đó, họ sẽ một lòng chung thủy, dù bên cạnh có người khác giới điều kiện rất tốt theo đuổi, họ cũng không dao động. Con gái tuổi Sửu hành xử rất câu nệ, nghiêm túc với tình yêu. Cũng chính vì lẽ đó, tình yêu của họ thuận buồm xuôi gió, kết thúc viên mãn.

No.2. Tuổi Tuất

2-6655-1412648765.jpg

Trong tình yêu, con gái tuổi Tuất một mực chung thủy, toàn tâm toàn ý. Bình thường, họ có thể làm người ta buồn bực vì thái độ lãnh đạm, dửng dưng. Kỳ thực đó không phải là sự thật. Tính cách con gái tuổi Tuất chân chính rất thẳng thắn, thành thật, cởi mở, thoải mái, đối với tình yêu khá e dè, kín đáo.

Có thể trở thành bạn trai của một cô gái tuổi Tuất, bạn chắc chắn là rất may mắn. Họ tuy truyền thống nhưng nếu đã chọn ai thì họ sẽ kiên định, vững vàng tiếp tục đi về phía trước, bất luận là nghèo khó hay bệnh tật, họ cũng sẽ không rời bỏ đối phương. Chuyện tình yêu của những cô gái như vậy thường sẽ có kết quả tốt, tình yêu của họ sẽ sớm đơm hoa kết trái.

No.3. Tuổi Thìn

3-7749-1412648765.jpg

Con gái tuổi Thìn với bản tính cô độc, kiêu ngạo, tràn đầy tự tin, nhiệt tình, khẳng khái luôn khao khát về một tình yêu tươi đẹp. Khi đã yêu ai, họ gần như tin tưởng tuyệt đối vào người ấy, đồng thời đòi hỏi hai bên cùng nỗ lực đi lên, xây dựng một tương lai tốt đẹp. Đặc biệt, đã yêu ai, họ sẽ không dễ dàng vì những tác động bên ngoài làm ảnh hưởng đến tình cảm đôi ben. Hơn nữa, họ cho rằng, muốn gặp được một người thật lòng thật dạ yêu thương mình không dễ dàng gì, cơ hội đến với tình yêu thực sự cũng chỉ có một lần, vì vậy nhất định phải cực kỳ trân trọng. Với thái độ như vậy, họ xứng đáng có được một tình yêu tươi đẹp với kết thúc có hậu.

Nhật Băng


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Con gái tuổi nào tình yêu viên mãn, kết thúc có hậu

Điểm danh top 4 con giáp may mắn cả năm 2016 - Tuổi sửu - Xem Tử Vi

Điểm danh top 4 con giáp may mắn cả năm 2016, Tuổi sửu, Xem Tử Vi, xem bói, xem tử vi Điểm danh top 4 con giáp may mắn cả năm 2016, tu vi Điểm danh top 4 con giáp may mắn cả năm 2016, tu vi Tuổi sửu

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Điểm danh top 4 con giáp may mắn cả năm 2016

Cùng 12 con giáp điểm danh top 4 con giáp có vận số may mắn suốt cả năm trong năm 2016

Bạn có nằm trong số đó?

1. Con giáp Tuổi Mão:

Năm 2016, Cát tinh chiếu rọi, cả năm vận thế tuổi Mão khá tốt. Nếu như có thể nắm bắt cơ hội thì những gì bạn có được sẽ cực kỳ khả quan. Nhưng năm tới này lại có Hung Tinh chiếu mệnh, mặc dù không gặp sóng gió gì lớn nhưng những việc phiền phức gặp phải cũng không hề ít. Bạn cần thận trọng và thật cẩn thận, không nên vì quá đắc ý mà mất cảnh giác. Nửa năm đầu vận thế rất tốt, vào mùa thu vận thế hơi lận đận, đến cuối năm thì lộc lá lại tràn trề.

diem-danh-top-4-con-giap-may-man-ca-nam-2016Điểm danh top 4 con giáp may mắn cả năm

2. Con giáp Tuổi Tý:

Trong năm 2016 này vận thế người tuổi Tý rất tốt, những kế hoạch, những dự định còn đang ấp ủ thì hãy thử thực hiện trong năm mới này nhé. Thế nhưng cung mệnh tuổi Tý năm nay lại có Hung tinh xuất hiện, trong công việc đề phòng có kẻ chơi xấu, hãy cẩn thận để đối phó. Một khi đã không nề hà khó khăn thì nhất định bạn sẽ có lợi lộc cực kỳ lý tưởng. Nửa năm đầu những trở ngại khá nhiều, nửa năm cuối thì vận khí thuận hơn, đến cuối năm chắc chắn là thời điểm bạn như cá gặp nước, cầu gì được nấy.

3. Con giáp Tuổi Sửu:

Năm Bính Thân sao Minh Đức chiếu rọi, lại thêm vận quý nhân cực tốt, giúp đỡ nhiều cho sự nghiệp của bạn. Tuy nhiên việc trong phúc có họa là điều khó tránh khỏi, vận hạn người tuổi Sửu vẫn có Hung tinh xuất hiện nên bạn cần đề phòng những kẻ xung quanh “miệng nam mô bụng một bồ dao găm”. Nếu có kế hoạch nào lớn bạn không nên cho quá nhiều người biết đề phòng có kẻ xấu phá hoại. Vận thế năm tới khá ổn định, thuận lợi, cuối năm là thời điểm tốt cho bạn, nhất là 3 tháng cuối năm. Hãy nắm bắt thời cơ này để mưu nghiệp lớn nhé!

4. Con giáp tuổi Tỵ :

Năm mới Cát Tinh quy tụ, dù có khá nhiều trở ngại nhưng bạn đều có thể hóa Hung thành Cát. Sao Ngọc Đường chiếu sáng, bạn phát triển khá thuận lợi trên con đường sự nghiệp cũng như học tập, chăm chỉ bỏ công sức ra ắt thành công cực kỳ lớn. Năm 2016 tuổi Tỵ lại có nhiều quý nhân phù trợ, có thể kết giao được với nhiều bạn bè mới. Thế nhưng lắm người thì sinh lắm điều, nên bạn cần thận trọng, đề phòng “họa từ miệng mà ra”. Giữa năm là thời điểm vận thế tốt nhất, và cũng là thời điểm thành công nhất trong sự nghiệp của bạn.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Điểm danh top 4 con giáp may mắn cả năm 2016 - Tuổi sửu - Xem Tử Vi

4 loại rèm cửa vừa đẹp vừa tiện dụng

Ngoài tác dụng che nắng vốn có, rèm cửa hoàn toàn có thể giúp ngôi nhà của bạn đẹp mắt và ấn tượng hơn.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

1. Rèm cửa 2 lớp
 Chọn loại rèm cửa nào để vừa đảm bảo được sự riêng tư, vừa tận dụng được ánh sáng tự nhiên là câu hỏi khiến nhiều người đau đầu. Giải pháp cho bạn chính là loại rèm cửa 2 lớp - một lớp voan, một lớp bằng vải dày. Khi cần chắn sáng, bạn có thể đóng cả 2 lớp rèm, còn khi muốn tận hưởng ánh sáng dịu nhẹ, bạn chỉ sử dụng lớp rèm voan mỏng là đủ. Rèm cửa màu đỏ cam và be sẽ giúp không gian phòng của bạn ấm áp nhưng vẫn toát lên được sự hiện đại và tinh tế.


Rèm 2 lớp vừa đảm bảo riêng tư vừa đẹp mắt và tận dụng được ánh sáng.

2. Màn cửa tre - trúc
Lấy cảm hứng từ thiên nhiên, rèm cửa từ chất liệu tre trúc không chỉ phát huy tác dụng trong việc chặn sáng mà còn thân thiện với môi trường. Đồng thời loại rèm này cũng phát huy được sự độc đáo, ấn tượng trong trang trí nhà. Đối với những người ưa sự mộc mạc thì rèm cửa bằng tre - trúc là lựa chọn khá hoàn hảo. Trên thị trường có khá nhiều loại rèm tre - trúc với cách phối màu và kiểu đan đẹp mắt.


Rèm cửa tre - trúc mộc mạc.

3. Rèm cửa đính các hạt pha lê
Những tấm rèm không chỉ có chức năng che nắng, che gió mà còn góp phần tạo điểm nhấn cho căn phòng và thể hiện khiếu thẩm mỹ của gia chủ. Rèm cửa gắn hạt pha lê hiện được rất nhiều người ưa thích trong trang trí nhà. Ánh sáng long lanh hắt ra từ các hạt pha lê đính trên rèm sẽ mang lại vẻ đẹp tinh tế cho ngôi nhà của bạn.


Rèm cửa đẹp hơn nhờ hạt đính pha lê.

4. Rèm cửa có hoa văn
Rèm cửa có hoa văn sẽ giúp cho không gian sống của bạn bớt đơn điệu. Mỗi loại hoa văn đều có một đặc trưng riêng: Sọc thẳng tăng chiều cao cho phòng; đường kẻ ngang làm cho không gian thấp xuống và rộng thêm; những họa tiết nhỏ trên rèm cửa làm căn phòng sâu rộng hơn, còn hoa văn lớn in đậm tạo cảm giác ngược lại. Một lưu ý nhỏ là bạn nên sử dụng màu sắc và họa tiết tương đồng cho những chiếc rèm cửa trong cùng một không gian.


Hoa văn trên rèm cửa mang đến điểm nhấn cho không gian sống.


Theo ttvn.vn


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: 4 loại rèm cửa vừa đẹp vừa tiện dụng

3 “sai lầm” phong thủy nên “né” khi mua chung cư

Theo các chuyên gia thiết kế và phong thủy, khi chọn mua căn hộ chung cư, cần cân nhắc những yếu tố cơ bản để tránh ảnh hưởng xấu và đem lại sự thịnh vượng cho gia đình. Dưới đây là 3 sai lầm nên tránh.
3 “sai lầm” phong thủy nên “né” khi mua chung cư

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


1, Tòa nhà bạn mua thấp hơn những tòa nhà phía trước

Tòa nhà bạn chọn ở tốt nhất là phải cao hơn những tòa nhà khác ở phía trước. Xét về mặt ánh sáng, nếu phía trước nơi bạn ở có những công trình kiến trúc cao hơn và khoảng cách quá gần thì ánh nắng mặt trời sẽ bị cản lại, làm cho nơi bạn ở trở nên u ám do thiếu ánh sáng, lâu ngày dễ tích tụ vi khuẩn, khí độc, gây bất lợi cho sức khỏe lẫn tâm trạng của người sống.

Theo phong thủy, nếu không nhận được trường khí dương từ ánh nắng tự nhiên, điều đó có nghĩa là mạch khí trong nhà bạn bị đứt đoạn, gây ra cảm giác bị áp chế.

2, Phía sau tòa nhà không có điểm tựa

Điểm tựa ở đây chính là kiến trúc cao hơn, nằm ở phía sau tòa nhà của bạn như một điểm tựa vững chắc. Điểm tựa này là để cản gió, có tác dụng giúp người sống trong tòa nhà cảm thấy ổn định, dễ chịu. Đồng thời, khi có vật chống đỡ phía sau cũng đồng nghĩa nơi bạn ở được trợ giúp, bảo vệ, giúp chủ nhân có cuộc sống yên ổn và phát triển.

Theo phong thủy, điểm tựa còn có tác dụng tụ khí, giúp con người thuận lợi trong cuộc sống và được nhiều phú quý.

3, Nhà ở quá cao hoặc quá thấp

Nếu nơi ở quá thấp, ẩm mốc và tạp khí nhiều, cách âm lại không tốt sẽ hình thành môi trường độc hại, người ở cũng dễ bị quấy nhiễu bởi các tầng ở trên, gây cảm giác bức bí, bị đè nén.

Ngược lại, nếu bạn ở trên tầng quá cao thì dễ sinh ra cảm giác chơi vơi, chông chênh, nhiều khí lạnh, người ở trở nên yếu ớt, dễ hình thành tâm trạng bất ổn, cô độc. Tóm lại, chọn tầng để ở quá cao hay quá thấp đều không tốt.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: 3 “sai lầm” phong thủy nên “né” khi mua chung cư

Tìm vận may cho người tuổi Kỷ Mão

Tuổi Kỷ Mão (mệnh Thổ, sinh năm 1939, 1999) tài giỏi, cả đời an nhàn, sung sướng, trường thọ, phúc lộc dồi dào, con cháu thành đạt, số có quý nhân phù trợ.
Tìm vận may cho người tuổi Kỷ Mão

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tuổi Kỷ Mão (mệnh Thổ, sinh năm 1939, 1999) tài giỏi, cả đời an nhàn, sung sướng, trường thọ, phúc lộc dồi dào, con cháu thành đạt, số có quý nhân phù trợ.


Cuộc đời:
Từ 21 - 28 tuổi gặp phải khó khăn, trung niên khá giả, về già được hưởng vinh hoa, phú quý.

 
Các tuổi đại kỵ với Kỷ Mão là: Kỷ Mão, Ất Dậu, Mậu Tý, Tân Mão, Bính Dậu, Bính Tý, Quý Dậu.

Những năm khó khăn nhất trong cuộc đời nữ Kỷ Mão là tuổi: 23, 32, 44; nam là: 19, 21, 27, 31, 39, 43 tuổi.

Tính cách: Là người quyết đoán, ý chí, tự lập, siêng năng, có tài lãnh đạo. Tuổi Kỷ Mão tài giỏi nhưng lại ôn hòa, khiêm tốn, không bảo thủ nên dễ thành công trong cuộc sống.

Tình duyên: Tuổi Kỷ Mão tình duyên không suôn sẻ, phải qua sóng gió mới có được hạnh phúc.

Nữ giới sinh vào các tháng: 3, 6, 7, 11; nam giới sinh vào các tháng: 6, 7, 11 sẽ được hưởng hạnh phúc đôi lứa trọn vẹn.

Tuổi Kỷ Mão kết duyên với các tuổi Tân Tỵ, Nhâm Ngọ, Giáp Thân, Đinh Hợi, Mậu Dần sẽ có hôn nhân tốt đẹp, gia đình phú quý.

Nếu kết duyên với các tuổi Quý Mùi, Đinh Sửu, Tân Mùi sẽ phải chịu cuộc sống nghèo túng, vất vả.

Để vợ chồng không bị chia cách, nam giới Kỷ Mão không nên kết hôn ở tuổi: 19, 21, 27, 31, 33, 40, 43; nữ giới không nên kết hôn ở tuổi: 17, 23, 28, 29, 35.

Gia đạo: Gia đạo bất ổn, trung vận và hậu vận mới yên ấm, hòa thuận. Hậu vận có xảy ra mâu thuẫn trong gia đình.

Công danh sự nghiệp: Là người thông minh, tài giỏi, may mắn nên đường này rất thành công. Năm 32 tuổi sự nghiệp sẽ phát triển mạnh, hậu vận vững chắc.

Tuổi Kỷ Mão nên kết hợp với các tuổi Tân Tỵ, Nhâm ngọ việc làm ăn sẽ thuận lợi, sự nghiệp phát triển.

Tiền bạc: Tiền bạc phát triển theo sự nghiệp. Kỷ Mão một đời sung túc, giàu có.

(Theo 12 con Giáp, tính cách con người qua năm sinh)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tìm vận may cho người tuổi Kỷ Mão

Xem tướng trán để biết vận số của bạn –

Vầng trán là biểu thị cho trí tuệ và có thể nói lên tính cách, vận số của bạn. Dưới đây là một số tướng trán điển hình. Tướng trán trên hình là tướng trán đạt tiêu chuẩn theo nhân tướng học. Đây là tướng trán của hầu hết các nhà chính trị, nhà khoa h

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Vầng trán là biểu thị cho trí tuệ và có thể nói lên tính cách, vận số của bạn. Dưới đây là một số tướng trán điển hình.

Tướng trán trên hình là tướng trán đạt tiêu chuẩn theo nhân tướng học. Đây là tướng trán của hầu hết các nhà chính trị, nhà khoa học, nhà văn, nhà doanh nghiệp… Tuy nhiên đàn ông có tướng trán này thì tốt; đàn bà có tướng trán này thành công trong sự nghiệp, nhưng thường có cuộc sống hôn nhân không mấy hạnh phúc, vợ chồng thường lục đục và dễ dẫn tới ly hôn.

1

Tướng trán ở hình trên là tướng trán đẹp, vầng trán tuy không cao nhưng có bề ngang rộng. Những người có trán này thường thành đạt trong sự nghiệp, nhưng mức độ thành công của họ không lớn, chỉ nhỏ lẻ.

2

Trán như hình trên là trán có hình vòng cung, đây là dạng trán tiêu chuẩn dành cho nữ giới. Những người có trán này thường dịu dàng, thông mình, hiểu lòng người, biết cách cư xử. Nam giới có trán này tính tình sẽ lương thiện, hiền lành nhưng không có chí tiến thủ và thiếu khả năng sáng tạo.

3

Vầng trán như hình trên tạo thành hình chữ M. Đây được gọi là vầng trán của nghệ sĩ. Những người có trán này có khả năng sáng tạo cao, vì thế, họ có thể thành công trong nhiều ngành nghề. Tuy nhiên, họ hơi bảo thủ, cố chấp vì thế không phải lúc nào họ cũng đạt được thành công.

Nếu trán chữ M kết hợp thêm phần xương trán gồ lên nổi rõ thì sẽ đạt thành tựu lớn trong sự nghiệp, ngược lại thì mọi việc chỉ đạt ở mức độ bình thường.

4

Trán như hình trên thoạt nhìn hơi giống trán chữ M, nhưng thực tế chỉ có phần giữa chân tóc hơi lồi ra một chút, được gọi là trán mỹ nhân tiêm. Những người có trán này rất hiếu thắng, tò mò và mưu mẹo, họ thường đi xa quê hương để lập nghiệp.

5

Trán như hình trên có nửa bên trên hơi ngả ra sau, tạo thành hình gần giống hình bậc thang so với nửa bên dưới. Dạng trán này thường thuộc về người không thông minh, tình cảm hời hợt, sự nghiệp không thuận lợi, khó gặt hái được thành công lớn.

6


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem tướng trán để biết vận số của bạn –

Những kiêng kỵ trong thiết kế phòng lớn cho cửa hàng –

Lưng hướng Đông Nam, hướng về phía Tây Bắc Kiến trúc lưng hướng Đông Nam, hướng về phía Tây Bắc thuộc Tốn, ngũ hành thuộc Mộc, mùa đông gió Đông Bắc về sẽ tràn vào, không thuận lợi. Thiết kế cho phòng lớn độ rộng hẹp phải thích hợp. Lưng phía Tây, mặ

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Lưng hướng Đông Nam, hướng về phía Tây Bắc

Kiến trúc lưng hướng Đông Nam, hướng về phía Tây Bắc thuộc Tốn, ngũ hành thuộc Mộc, mùa đông gió Đông Bắc về sẽ tràn vào, không thuận lợi. Thiết kế cho phòng lớn độ rộng hẹp phải thích hợp.

Lưng phía Tây, mặt phía Đông

Kiến trúc lưng phía Tây, mặt phía Đông thuộc Đoài, ngũ hành thuộc Kim, hệ âm Kim. Nếu chủ cửa hàng là phụ nữ, thì phòng lớn quá sáng sủa, buôn bán thuận lợi. Nếu người phụ trách là nam giới thì sẽ hại dương khí trong phòng, ảnh hưởng đến sức khỏe, tài vận.

Lưng phía Đông Bắc, mặt hướng Tây Nam

phong-lon-cua-hang

Kiến trúc lưng phía Tây Bắc, mặt hướng Đông Nam thuộc Cấn, ngũ hành thuộc Thổ. Tính chất của Thổ có phần rộng rãi sinh sôi vạn vật. Vì thế khi bố trí căn phòng phải tạo cảm giác to lớn rộng rãi, trồng cây xung quanh. Ngược lại, nếu bố trí căn nhà chật chội, bí bách sẽ gây cho khách hàng cảm giác không muốn ở lại lâu, từ đó buôn bán dần dần yếu kém.

Lưng phía Bắc, mặt hướng Nam

Kiến trúc này thuộc Khảm, ngũ hành thuộc Thủy. Tính chất của Thủy có lọi cho độ trầm, sâu, nuôi dưỡnng vận khí và lưu gió tụ khí. Vì thế bố trí căn phòng nên tạo cảm giác thân trầm không lộ liễu. Ngược lại, nếu nước nông lộ đáy, mùa đông đến gió bắc tràn vào làm cho khí tụ tản mát, có nghĩa khách hàng không muốn ở lại.

Lưng phía Đông, mặt hướng Tây

Kiến trúc này thuộc Chấn, ngũ hành thuộc Mộc. Tính chất của Mộc là sâu sắc, vững chãi, đàng hoàng. Vì thế khi bố trí căn phòng lớn phải lấy vững chãi, đoàng hoàng làm nền, tạo cảm giác cao lớn, có chiều sâu. Ngược lại, nếu rộng mà nông, có nghĩa dương khí không đủ, âm khí thịnh sẽ không có lợi cho kinh doanh.

Lưng phía Tây Nam, mặt hướng Đông Bắc

Kiến trúc này thuộc Khôn, ngũ hành thuộc Thổ. Nó giống như căn phòng lưng Đông Bắc mặt hướng Tây Nam. Cấu trúc của căn phòng phải rộng, trồng cây tạo cảm giác to lớn. Ngược lại, nếu quá chột chội sẽ có hiện tượng kinh doanh giảm, sự nghiệp tiêu tan.

Lưng Tây Bắc, mặt hướng Đông Nam

Kiến trúc này thuộc Càn, ngũ hành thuộc Kim. Tính chất của Kim có lợi cho sáng sủa, kỵ nơi tăm tối không đủ ánh sáng. Vì thế khi thiết kế phòng lớn phải sử dụng nhiều đèn chiếu sáng khắp nơi rực rỡ, tạo cảm giác sang trọng, hào hoa.

Lưng phía Nam, mặt hướng Bắc

Kiến trúc này thuộc Li, ngũ hành thuộc Hòa. Thiết kế phòng lớn phải áp dụng hệ thống màu sắc trầm, tạo cảm giáo mạnh mẽ mà trang nghiêm. Nếu màu sắc nhạt, lửa không phát huy, chủ nhà dễ phạm quan tư hoặc gặp hỏa hoạn.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những kiêng kỵ trong thiết kế phòng lớn cho cửa hàng –

Thạch anh là gì? –

Trong cuộc sống bạn đã từng nghe và thấy rất nhiều sản phẩm từ đá thạch anh như vòng tay, vòng cổ, nhẫn... Có những người đang đang sử dụng sản phẩm làm từ đá thạch anh phong thủy nhưng lại không biết gì về loại đá này. Vậy thạch anh là gì? có những

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Trong cuộc sống bạn đã từng nghe và thấy rất nhiều sản phẩm từ đá thạch anh như vòng tay, vòng cổ, nhẫn… Có những người đang đang sử dụng sản phẩm làm từ đá thạch anh phong thủy nhưng lại không biết gì về loại đá này. Vậy thạch anh là gì? có những loại nào?. Hãy cùng tham khảo bài dưới đây chúng tôi có cung cấp cho bạn những kiến thức mà bạn cần.

Nội dung

  • 1 Thạch anh là gì?
  • 2 Nguồn gốc và phân bố
  • 3 Thạch anh gồm những loại nào?
    • 3.1 Một số loại thạch anh được dùng phổ biến
    • 3.2 Một số loại hiếm gặp hơn
  • 4 Thạch anh có đắt không?
  • 5 Tại sao lại dùng thạch anh trong phong thủy
    • 5.1 Thứ nhất
    • 5.2 Thứ hai
  • 6 Thạch anh có hàng giả không?

Thạch anh là gì?

Thạch anh (silic điôxít, SiO2) hay còn gọi là thủy ngọc là một trong số những khoáng vật phổ biến trên Trái Đất. Thạch anh được cấu tạo bởi một mạng liên tục các tứ diện silic – oxy (SiO4), trong đó mỗi oxy chia sẻ giữa hai tứ diện nên nó có công thức chung là SiO2.

Thạch anh được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau: điện tử, quang học,… và trong ngọc học. Các tinh thể thạch anh trong suốt có màu sắc đa dạng: tím, hồng, đen, vàng,… và được sử dụng làm đồ trang sức từ rất xa xưa. Ametit loại biến thể màu tím của thạch anh được coi là đá quý của tháng hai và là loại được ưa chuộng nhất của họ thạch anh.

Thạch anh là một loại đá. Đá thạch anh rất phổ biến trong tự nhiên. Có thể bạn không tin, nhưng nếu tình cờ bạn nhặt được 1 viên sỏi, khả năng rất cao là bạn đang cầm trong tay một viên thạch anh.

Sỏi này thực chất là thạch anh bị rớt xuống sông suối, bị nước bào mòn theo thời gian nên tròn nhẵn bề mặt. Còn thạch anh dạng tinh thể tự nhiên thì khó có khả năng tình cờ bắt gặp, mà phải chịu khó trèo đèo lội suối băng rừng tìm kiếm mới có.

Nguồn gốc và phân bố

Thạch anh là khoáng vật rất phổ biến trong tự nhiên và là thành phần của rất nhiều loại đá và khoáng sản quặng. Thạch anh thường gặp ở dạng thành phần chính của nhiều loại đá magma axit xâm nhập và phun trào ở dạng hạnh nhân như mã não và onix, một số đá trầm tích cơ học như cát kết thạch anh, đá biến chất từ các loại đá trên như quartzit. Trong các quá trình biến chất thạch anh hình thành do sự khử nước của các đá trầm tích chứa opal để thành tạo ngọc bích. Trong các quá trình ngoại sinh thạch anh và conxedon thành tạo do sự khử nước và tái kết tinh của keo silic. Ngoài ra còn gặp các tinh thể lớn của thạch anh trong các hỗng pegmatit cộng sinh với fenspat, muscovit, topaz, beryl, tuamalin và một số khoáng vật khác, và là khoáng vật phổ biến trong các khoáng sàng nhiệt dịch.

Các tinh thể thạch anh xuất hiện trong tự nhiên có độ tinh khiết cao thường dùng trong công nghiệp bán dẫn thì cực kỳ đắc và hiếm. Các mỏ thạch anh có độ tinh khiết cao như mỏ đá quý Spruce Pine ở Spruce Pine, Bắc Carolina.Bên cạnh đó, loại citrin được khai thác chủ yếu ở Brasil (Minas Gerais), Mỹ (Colorado), Nga (Ural), Pháp và Scotland. Còn ametit được khai thác chủ yếu ở Brasil, Uruguay…đặc biệt kết tinh trong các tinh hốc với kích thước rất lớn.

Ở Việt Nam thạch anh tinh thể đẹp gặp rất nhiều ở nam Thanh Hoá, Pia oắc, miền sông Đà ở Vạn Yên có những tinh thể lặng trụ rất dài, thạch anh tím được khai thác nhiều ở Kontum, thạch anh tinh thể, pha lê gặp nhiều ở Bảo Lộc, Gia Nghĩa…

Thạch anh gồm những loại nào?

Thạch anh có rất nhiều dạng biến thể khác nhau, cực kỳ phong phú và đa dạng. Một số loại hay gặp và có tính ứng dụng trong phong thủy và trang sức bao gồm:

Một số loại thạch anh được dùng phổ biến

– Thạch anh trắng (Pha lê thiên nhiên)

– Thạch anh vàng (Citrine)

– Thạch anh tím (Amethyst)


– Thạch anh hồng


– Thạch anh khói
– Thạch anh đen


– Thạch anh tóc/Thạch anh rêu
– Aventurine
– Đá mắt hổ

Một số loại hiếm gặp hơn

– Thạch anh mắt mèo (Cat’s eye Quartz)
– Thạch anh xanh lá (Prasiolite)
– Thạch anh sữa
– Thạch anh lam (Dumortierit quartz)

Mấy loại này người thường ít gặp lắm, cửa hàng phong thủy cũng chẳng tìm được, dân sưu tầm như tác giả bài viết mới có.

Thạch anh có đắt không?

Khái niệm đắt hay rẻ không mang tính định lượng. Một mức giá có thể rẻ với đại gia, nhưng lại rất đắt với sinh viên. Tuy nhiên nếu để so sánh với các loại đá phong thủy, trang sức khác thì thạch anh phổ biến và tương đối rẻ.

Trong cùng nhóm thạch anh thì mức giá cũng chênh lệch khá nhiều. Nhìn chung thạch anh vàng, thạch anh tím, thạch anh tóc là những loại đắt nhất. Thạch anh trắng, thạch anh hồng, thạch anh khói, aventurine, đá mắt hổ có giá khá rẻ.

Tất nhiên cái gì cũng có ngoại lệ, nếu viên thạch anh có 1 đặc điểm gì đó rất kỳ lạ thì nó sẽ trở thành đồ độc và giá cao bất thường. Những trường hợp này để tránh mua hớ thì bạn nên tham khảo ý kiến chuyên gia rồi hãy quyết định mua.

Tại sao lại dùng thạch anh trong phong thủy

Có 2 lý do chính:

Thứ nhất

Thạch anh là loại đá có năng lượng mạnh. Nghiên cứu khoa học đã chứng minh khi có một năng lượng sóng cơ học tác động vào tinh thể thạch anh, các phân tử thạch anh sẽ dao động với tần số tương đương sóng tác động. Ngoài ra cấu trúc mạng tinh thể tự nhiên của thạch anh là cấu trúc chóp trụ lục lăng, là dạng hình khối tích tụ năng lượng rất mạnh (Có thể hình dung giống cây cột thu lôi)

Nhờ tính chất này, trong phong thủy người ta tin rằng đặt thạch anh trong phòng sẽ giúp giải trừ năng lượng xấu, tạo ra năng lượng tốt, giúp chủ nhân sảng khoái, minh mẫn và ra quyết định chính xác hơn. Nếu đeo thạch anh trên người, tần số năng lượng của thạch anh sẽ tương ứng với tần số năng lượng của người đeo, giúp điều hòa cơ thể, mang lại nhiều tác dụng tốt cho sức khỏe. Theo thực nghiệm của các nhà cảm xạ học, khi đặt con lắc cảm xạ trên khối thạch anh, con lắc sẽ tự dao động.

Thứ hai

Nếu chỉ vì năng lượng mạnh, liệu người ta có dùng thạch anh không? Câu trả lời là không. Vì có những loại đá năng lượng còn mạnh hơn cả thạch anh (Chẳng hạn Tourmaline). Tuy nhiên vì thạch anh là loại đá rất phổ biến, dễ kiếm, nên sản phẩm từ thạch anh có thể dễ dàng tìm kiếm nguyên liệu và sản xuất ở quy mô công nghiệp. Các chủng loại thạch anh cũng rất đa dạng (Như đã nêu trên), màu sắc có đủ 5 màu 5 mệnh, nên đáp ứng được hầu hết nhu cầu của người sử dụng. Còn nếu xài Tourmaline, ngoại trừ Tourmaline đen, các màu sắc khác đều rất đắt, người có tiền mới chơi nổi.

Ngoài ra còn một số lý do phụ như thạch anh có độ cứng cao, dễ chế tác, nhiều chủng loại có chất lượng ngọc để làm trang sức …

Thạch anh có hàng giả không?

Câu trả lời là: Nhiều vô kể!

Thạch anh “giả” có thể bao gồm 1 số loại:

– Thạch anh nhân tạo: Được con người tạo ra chủ yếu phục vụ trong khoa học công nghệ, nhưng dần dà vì giá thành rẻ, chất lượng cao nên … đem xài luôn trong phong thủy, trang sức. Loại này về bản chất vẫn là thạch anh, vẫn có tác dụng như thạch anh xịn, chỉ khác về nguồn gốc hình thành. Nên nếu ai ko quan trọng chuyện tự nhiên thì … xài cũng chả sao.

– Đá giả thạch anh: Một số loại đá rẻ tiền bị người bán vô tình hoặc cố tình gọi sai là thạch anh

– Thủy tinh màu: Thủy tinh có cùng công thức hóa học như thạch anh, nhưng độ cứng thấp hơn, và không có năng lượng mạnh như thạch anh. Vì vậy loại này dễ xước và hầu như không có tác dụng phong thủy.

– Nhựa bắn màu: Loại này phổ biến không kém, nhưng nó không phải đá, không có giá trị gì về phong thủy, cũng chỉ để trang trí cho đẹp mắt.

Nếu không phải dân am hiểu về đá, xách cục tiền ra ngoài mua thạch anh, khả năng bạn bị mua phải các loại trên là khá cao. Mình đã nhiều phen dở khóc dở cười khi tới những nhà, thấy họ đặt cục thủy tinh hoặc cục nhựa lên bệ rất trang trọng, tôn thờ mà không hề hay biết mình đã mua phải hàng giả.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Thạch anh là gì? –

Bát Quái Đồ - Thuật ngữ trong Phong Thủy

Tìm hiểu về Bát Quái Đồ - Thuật ngữ trong Phong Thủy. Bát quái đồ là một phù hiệu mang yếu tố tượng trưng hoàn chỉnh của người Trung Quốc cổ đại.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Bát Quái Đồ - Thuật ngữ trong Phong Thủy

Bát Quái Đồ - Thuật ngữ trong Phong Thủy

Bát quái đồ là một phù hiệu mang yếu tố tượng trưng hoàn chỉnh của người Trung Quốc cổ đại. Dùng vạch để biểu tượng cho âm dương, mỗi quẻ có 3 vạch tạo nên hình thức của Bát Quái. Mỗi quẻ đại diện cho một sự vật nhất định. Bát quái cùng phối hợp với nhau sẽ tạo nên 64 quẻ và được dùng để tượng trưng cho các hiện tượng trong tự nhiên và xã hội.

Là hình Bát quái được sắp xếp theo trật tự có tính đối xứng rất rõ. Đối xứng với một hào Âm (vạch đứt) sẽ là một hào Dương (vạch liền). Quẻ Càn ở trên cùng gồm 3 hào dương (3 vạch liền) thì đối xứng dưới cùng là quẻ Khôn gồm 3 hào âm (3 vạch đứt). Quẻ Khảm gồm 1 hào dương nằm giữa 2 hào âm thì đối xứng là quẻ Ly gồm 1 hào âm nằm giữa hai hào dương.

Sự vận động của Tiên thiên bát quái về mặt hình học là khá rõ ràng: ngược chiều kim đồng hồ, cứ thay thế một hào âm bằng một hào dương (hoặc một hào dương bằng một hào âm) từ trên xuống, sẽ cho quẻ tiếp theo phía bên trái.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Bát Quái Đồ - Thuật ngữ trong Phong Thủy

Những điều lưu ý về phong thủy nơi công sở

Không ngồi đối diện trực tiếp với tường lớn; nên đặt tượng gà trống hay sử dụng ánh sáng trắng… là những lưu ý giúp bạn thúc đẩy sự nghiệp.
Những điều lưu ý về phong thủy nơi công sở

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

1. Tạo khoảng trống sau lưng an toàn

Một trong những yếu tố quyết định sự thành công trong sự nghiệp của bạn chính là tạo một chỗ ngồi an toàn, chắc chắn. Để tránh sự dòm ngó hay những tai nạn bất ngờ, bạn nên đặt chiếc ghế của mình gần hoặc dựa vào tường. Tránh để lưng quay về phía cửa sổ cũng như ngồi đối diện với cửa sổ. Bạn có thể đặt phía sau ghế ngồi những biểu tượng phù trợ cho sự nghiệp như tranh có hình rùa.

2. Tránh ngồi đối diện với bức tường lớn

Ngồi đối diện với bức tường lớn trước mặt là một trong những điểm xấu nhất trong phong thủy văn phòng. Khi đó, mọi cơ hội thăng tiến cũng như phát triển trong nghề nghiệp của bạn sẽ bị hạn chế. Nếu không thể thay đổi chỗ ngồi, bạn có thể treo trước mặt bức tranh phong cảnh rộng lớn hoặc treo hình phượng hoàng đang tung cánh để tạo cảm hứng công việc.

Nhung dieu luu y ve phong thuy noi cong so hinh anh
Bàn làm việc nên có vách ngăn

3. Đặt tượng gà trống trên bàn làm việc

Trong phong thủy, biểu tượng gà trống được sử dụng để thu hút may mắn, thúc đẩy sự nghiệp, ngăn cản năng lượng xấu và hóa giải xung đột, mâu thuẫn. Nếu thường xuyên gặp phải sự ganh ghét nơi công sở, bạn hãy đặt bức tượng gà trống bằng đồng hoặc sứ trên bàn làm việc hoặc đeo một chiếc vòng mã não.

4. Dùng cầu pha lê để hút xung khí

Cầu pha lê có tác dụng vô hiệu hóa những âm khí và xung khí trong văn phòng, vì thế bạn có thể sử dụng món đồ này với mọi kích thước đặt trên bàn làm việc. Những tinh thể trong suốt này có thể giúp bạn đảm bảo sự hài hòa và cân bằng năng lượng của căn phòng, đồng thời tăng hiệu suất làm việc, giảm căng thẳng.

5.  Tránh kê bàn đối diện với bàn khác

Việc phải đối diện liên tục với đồng nghiệp ở một vị trí cố định sẽ khiến bạn cảm thấy bị áp lực, và không có tinh thần thoải mái, làm mất năng suất công việc. Nếu không thể thay đổi vị trí đối diện, bạn có thể bố trí đặt một chậu cây cảnh đủ lớn để hạn chế việc đối diện hay dựng vách ngăn nhỏ giữa các bàn làm việc.

6. Chọn ghế ngồi hợp lý

Ghế ngồi nơi công sở đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo tư thế và tâm thái thoải mái để làm việc. Vì phải gắn liền với chiếc ghế trong một khoảng thời gian dài (trên 8 giờ đồng hồ), bạn hãy chọn cho mình chiếc ghế có nệm êm, tựa lưng và cổ thoải mái và có thể xoay theo nhiều hướng. Trong khi đó, đối với ghế dùng để tiếp khách, hãy chọn loại ít thoải mái để thời gian tiếp không quá dài, không ảnh hưởng đến quỹ thời gian của bạn.

7. Không ngồi quá gần cửa ra vào

Ngồi quá gần cửa ra vào dễ gây ra những sự cố bất ngờ, nguy hiểm. Hãy cố gắng chọn cho mình vị trí có thể quan sát cánh cửa và hoạt động ra vào của mọi người để giúp bạn tránh khỏi những tình huống không được chuẩn bị trước.

8. Đảm bảo ánh sáng hợp lý

Một văn phòng được thiết kế tốt là nơi có ánh sáng hài hòa, đầy đủ. Cửa sổ có khung cảnh đẹp bên ngoài là lựa chọn tốt nhất. Thêm vào đó, hãy bố trí rèm cửa để lượng sáng bên ngoài không quá chói, tránh dư thừa năng lượng dương trong phòng. Đối với những văn phòng xây dựng dưới tầng hầm, nên sử dụng hệ thống chiếu sáng giống ánh sáng tự nhiên, trong đó, ánh sáng trắng là lựa chọn tuyệt vời. Ánh sáng màu vàng sẽ làm chậm hiệu suất công việc.

9. Ngồi đối diện với nguồn sinh khí

Hướng tốt nhất để đảm bảo sự nghiệp, kinh doanh thành công cũng như danh tiếng, địa vị và giàu sang là ngồi đối diện với hướng có sinh khí của mình theo tuổi, mệnh. Hãy hỏi ý kiến của các chuyên gia phong thủy, dùng bản đồ bát quái để tìm hiểu hướng sinh khí của bản thân.

 Theo VnExpress


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những điều lưu ý về phong thủy nơi công sở

Nền tảng của phong thủy, vận mệnh và vạn vật là Khí

Phongthủy là một nghệ thuật và khoa học sống hòa hợp với môi trường để thu được lợi ích tối đa bằng cách sống đúng chỗ và đúng thời điểm. Cụm từ chính là sống “đúng chỗ” (không gian) và xây “đúng thời điểm” . Một cách đơn giản, loài người đóng vai bà mối để thiên khí và địa khí “kết hôn” với nhau. Khi các nguồn năng lượng thay đổi của thiên khí tương ứng với thời điểm ngôi nhà bạn được xây, thì năng lượng ổn định của địa khí lại tương ứng với không gian từ trường của ngôi nhà.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Cách nhìn nhận sự việc như vậy cũng giống như việc tạo dựng một cuộc hôn nhân tốt đẹp sẽ tạo ra sự thịnh vượng, sự hòa hợp và sức khỏe ảnh hưởng đến bạn một cách tích cực và hiệu quả. Sau khi đọc bài viết này bạn sẽ hiểu được “Khí” là gì? Và phong thủy và Bát tự mệnh lý,…là phương tiện giúp chúng ta có được nguồn khí tích cực, có lợi cho cuộc sống thuận theo tự nhiên, khoa học, mà không có sự thần bí, tôn giáo, mê tín dị đoan.

Khí theo quan niệm của Trung Quốc và các nước khác.
Cái chúng ta gọi là sức mạnh của tự nhiên là cái mà người Trung Quốc gọi là “Khí”. Khí có nhiều nghĩa. Nó là không khí mà chúng ta thở. Nó là từ trường trái đất, là bức xạ vũ trụ và ánh sáng mặt trời. Khí là linh hồn của chúng ta. Khí là vận may rủi. Như các bạn sẽ thấy, khí làm nền tảng cho vạn vật và còn hơn thế. Mặc dù khái niệm này có thể hơi trù tượng với người phương Tây, nhưng các nền văn hóa phương Đông cho rằng sức mạnh tổng thể này chi phối sức khỏe, của cải và hạnh phúc của chúng ta. Mục đích của phong thủy là làm chủ các mặt tích cực của khí để giúp cuộc sống của chúng ta trở nên tốt đẹp hơn.
Ngày nay, rõ ràng là sự tồn tại chủa khí không thể được chứng minh đầy đủ về mặt khoa học. Thậm chí một số khía cạnh bí ẩn hơn của khí không bao giờ có thể được chứng minh bằng các phép đo định lượng. Ví dụ, bạn có thể chứng minh sự tồn tại của giác quan thứ sáu không? Bạn có thể chứng minh vận mệnh hay số phận không? Bạn có thể chứng minh được trực giác không? Chắc chắn là không. Tuy nhiên, phần lớn chúng ta đều tin những điều này tồn tại. Nói cách khác, các đặc tính siêu hình hay siêu nhiên của khí bất chấp các phép đo.
Nhưng chúng ta không nên quá vội vàng và bàn luận qua loa quan niệm về một sức mạnh, mà trong một chừng mực nào đó, không đo được này. Cách đây không lâu, Benjamin Franklin đã tìm ra “điện”, vốn được xem là sức mạnh bí ẩn của tự nhiên vào thời điểm đó. Chúng ta đã khai thác năng lượng này để làm cho cuộc sống dễ chịu hơn rất nhiều. Thế còn việc phát hiện ra tia X, tia phóng xạ và hạt hạ nguyên tử thì sao? Tất cả đã dẫn tới một cuộc cách mạng sâu sắc về cách chúng ta nhìn nhận thế giới.
Bài viết này nói về “Khí”, nền tảng của nhiều phương pháp thực hành của phương Đông như phong thủy, bát tự mệnh lý, đông y, khí công,…. Vì vậy, hãy cởi mỡ đầu óc và thực hiện một cuộc hành trình tìm hiểu về sức mạnh hợp nhất tất cả chúng ta.
Khí là gì?
Đơn giản, khí là tinh túy, linh hồn và phần quan trọng nhất của vạn vật. Đó là năng lượng hợp nhất, bao gồm toàn bộ, lan tỏa và là phần cốt yếu của thiên, địa và nhân. Vừa mang tính vật chất, vừa mang tính siêu hình, khí là nguồn lực cơ bản, tối quan trọng, bồi bổ và đưa cuộc sống đi lên. Khí là trường thông tin kết nối tất cả chúng ta. Mặc dù không có từ tiếng Anh tương đương để dịch, nhưng có lẽ cách hiểu tốt nhất là thế này: khí là “hơi thở của cuộc sống”.
Phong thủy địa khí thế giới
Định nghĩa này có thể khá mơ hồ và thậm chí trừu tượng. Nhưng trên thực tế, khái niệm khí rất giống với trường lượng tử trong vật lý hiện đại. Trong cuốc sách bán chạy nhất của mình là “Đạo của vật lý” (The Tao of Physics), Fritjof Capra đưa ra sự tương quan: “Giống như trường lượng tử, khí được hình dung là một dạng vật chất loãng và không thể nhận biết, tồn tại trong không gian và có thể tụ lại thành các vật thể rắn. Khí không chỉ là phần cốt yếu của mọi vật thể, mà còn chứa sự tương tác giữa các vật thể dưới dạng sóng”.
Định nghĩa một cách đơn giản hơn, khí là chất liệu của vạn vật và là cái ẩn giấu sau vạn vật. Chất liệu đó thổi sức sống cho thực vật, động vật, núi non, sông nước và con người chúng ta. Đó là chất liệu của ước mơ, trực giác, số phận và vận mệnh. Đó là chất liệu cốt lõi của những vật vô hồn như máy bay, nhà cửa và chiếc ghế chúng ta đang ngồi. Đó là thức mà các nhà châm cứu dùng kim châm để kích thích. Đó là chất liệu các võ sư sử dụng để đập vỡ các vật cứng. Và, đó là thứ mà những người thực hành phong thủy khai thác để cải thiện sức khỏe, của cải và các mối quan hệ của con người.
Khái niệm “Khí” của người Trung Quốc lần đầu tiên được ghi lại trong Thập dực (hay Dịch Truyện, chú thích Dịch Kinh, Chu Dịch) thời Chiến quốc (403-221 TCN) và được gộp vào Chu Dịch mà về sau được đổi tên thành Kinh Dịch. Khái niệm khí không chỉ của riêng người Trung Quốc. Các nên văn hóa khác cũng biết đến khái niệm này. Chẳng hạn:

  • Người Nhật gọi là Ki
  • Người Hinđu gọi là Prana
  • Người Hy Lạp gọi là Pneuma
  • Người Ai Cập gọi là Ankb
  • Người Do Thái gọi là Ruab
  • Người Hawai gọi là Tane
  • Thổ dân Úc gọi là Arunquiltba
  • Người Iroquois gọi là Orenda
Cho dù bạn quyết định gọi “Khí” là gì, thì việc nhận biết, điều chỉnh và định hướng sức sống vô hình này vì lợi ích sức khỏe và hạnh phúc của bạn là việc phongthủy và bát tự mệnh lý đề cập đến.
Ba nguồn khí mà phong thủy, bát tự mệnh lý quan tâm.
Khí luôn luôn vận động. Khí biến chuyển không ngừng. Khí tích tụ, phân tán, nở ra và co lại. Khí chuyển động nhanh, chậm và co lại. Khí chuyển động nhanh, chậm, vào, ra, lên và xuống. Khí di chuyển theo đường ngoằn ngoèo và theo đường xoắn ốc. Khí đi theo đường thẳng, góc cạnh và cong. Khí nương theo gió (phong) và gặp nước thì tụ (nước). Không có gì thoát khỏi sức ảnh hưởng của Khí. Tất cả chúng ta đều là sản phẩm của và lệ thuộc vào sức mạnh to lớn của “Khí”.
Người Trung Quốc cho rằng có ba nguồn khí chính là “Thiên khí”, “Địa khí” và “Nhân khí" duy trì tất cả mọi vật đang tồn tại. Phớt lờ ảnh hưởng của chúng đối với cơ thể con người cũng tương tự như việc không để ý đến virút làm suy yếu và kiệt quệ sức khỏe của bạn. Có thể chống lại virút và các trở lực khác (chẳng hạn như thua lỗ tài chính, thất nghiệp và bệnh tật) bằng cách khai thác những mặt có lợi của khí để có một cơ thể cường tráng, đầu óc minh mẫn và tinh thần sảng khoái.
Phong thuy Thien Khi

Điều này có nghĩa chính xác là gì? Khi thực hành phong thủy bạn sẽ biết điều này, người Trung Quốc cổ đã biết điều chỉnh “Khí” để gia tăng sự hài hòa trong không gian sống và làm việc của bạn. Khi trong môi trường của bạn có sự cân bằng và hài hòa thì cơ thể bạn cũng sẽ dễ ở trong trạng thái cân bằng. Tất nhiên, bạn cũng phải duy trì chế độ ăn uống và tập luyện hợp lý. Bạn phải ngủ tốt, phải sống theo những “quy tắc vàng”. Tất cả những yếu tố này giúp cơ thể khỏe mạnh. Chỉ khi phát huy hết khả năng một cách tối ưu, bạn mới có đủ cảm hứng và sự thành công.
Trong ba nguồn khí này, có rất nhiều “luồng khí” khác nhau tác động đến mỗi khía cạnh trong cuộc sống của chúng ta, bạn sẽ biết điều này trong phần giới thiệu bên dưới:
Thiên Khí:
Những gì đến từ trên trời được gọi là “Thiên Khí”. Đó là nguồn năng lượng đầu tiên của tự nhiên. Thiên khí di chuyển theo đường xoắn ốc từ các thiên thể, mặt trời, mặt trăng, các hành tinh và các vì sao. Nếu bạn nghi ngờ việc thiên khí có thể ảnh hưởng đến chúng ta, thì hãy xem xét mặt trời, ngôi sao trung tâm torng hệ mặt trời. Không có năng lượng mặt trời, cuộc sống sẽ không tồn tại, còn coi thường năng lượng của nó, bạn có thể bị cháy nắng, say nắng, ung thư da và thậm chí là chết.
Thế còn mặt trăng? Nếu mặt trăng có thể làm biến dạng vỏ trái đất và đại dương cứ 12 giờ một lần, thì rõ ràng là năng lượng của mặt trăng, ở mức độ nào đó, sẽ ảnh hưởng đến bạn. Cuối cùng, thành phần chính của trái đất và cũng là của cơ thể chúng ta là nước. Trên thực tế, khi trăng tròn, chúng ta có chiều hướng giữ nước. Ngoài ra, việc di trú và các hình thức sinh sản của động vật, cá và chim đều tuân theo hoặc hợp với các tuần trăng. Với thực vật cũng vậy. Các nghiên cứu đã chứng minh rằng gieo hạt trong khoảng thời gian từ hai ngày trước đến bảy ngày sau một tuần trăng mới sẽ cho một vụ mùa tốt hơn.
Thời tiết cũng là một thành phần của Thiên khí. Không có gì nghi ngờ về việc các hiện tượng thời tiết ảnh hưởng đến hạnh phúc và sức khỏe của chúng ta. Cái rét cực độ “khiến chúng ta lạnh thấu xương”, còn côn nóng cực độ tao ra “những buổi chiều oi ả” và kích thích trạng thái giận dữ. Một số người òn bị trầm cảm, thậm chí là tự tử do thiếu ánh nắng và những đợt mưa kéo dài. Mặc dù điều này hay xảy ra ở các nước phía Bắc hơn, nhưng bất kỳ dạng thời tiết nào cũng có thể ảnh hưởng đến sức khỏe và tâm trạng của con người. Chẳng hạn bạn sẽ lưu ý, nếu bạn cảm giác thấy cảm giác khác trong người vào kỳ trăng tròn, thì đó không chỉ là tưởng tượng của bạn đâu! Tình trạng này được gọi là “sự mất trí vào kỳ trăng tròn” có thể xuất hiện khi quá nhiều nước tích tụ trong sọ não khiến một số người cảm thấy giận dữ, lo lắng và căng thẳng tăng lên. Thực tế, từ lunatic (”Luna” theo tiếng La tinh có nghĩa là trăng) có nguồn gốc từ quan niệm cho rằng các kỳ trăng gây ra tình trạng mất trí hay rối loạn tâm thần.
Có những thành phần khác của thiên khí liên quan đến thời gian, yếu tố gắn với sự thay đổi và biến chuyển. Ngày và mùa thay đổi do sự vận hành của mặt trời. Thời điểm xây nhà là thông tin quan trọng, bởi vì điều đó phần nào quyết định đặc tính thiên bẩm của ngôi nhà.
Cuối cùng, thiên khí gắn với mệnh (số mệnh) và vận (may rủi). Nếu ví cuộc sống là tấm bản đồ giao thông và mục đích sống của bạn là điểm cần đến, thì mệnh là chiếc ôtô mà định mệnh giao cho bạn để bạn cùng nó thực hiện cuộc hành trình. Người lái xe tượng trưng cho “ý chí cá nhân” của bạn. Ví dụ, nếu số phận đã định bạn lái chiếc Ferari, sau đó bạn đưa chiếc xe đó vào một địa hình gồ ghề, nhiều sõi đá, như vậy bạn đã lạm dụng chiếc xe, và có thể làm nó bị hỏng không còn có thể sửa chữa được. Cho dù bạn đến được đích, thì làm như vậy bạn cũng sẽ gặp nhiều trở ngại và cạm bẫy, vốn có thể tránh được nếu bạn biết chọn con đường phù hợp với chiếc ôtô của bạn. Hiểu được những gì chiếc xe của bạn có thể làm được và không làm được sẽ giúp bạn đến đích an toàn và thành công.
Mặc dù phần lớn người phương Tây tin rằng vận mệnh mang tính ngẫu nhiên và không thề đoán trước, nhưng người phương Đông lại cho rằng có thể biết và lường trước vận mệnh. Tiếp tục lấy chiếc Ferari làm ví dụ, vận mạy sẽ giúp bạn tìm ra con đường tắt để tiết kiệm thời gian, hoặc lái xe trên con đường rộng và không bị tắc nghẽn giao thông trong thời tiết tốt. Vận may có “thẻ ưu tiên” trong giao thông. Vận rủi làm xe bị thủng lốp, lạc đường, phải đi dường vòng và lái xe trong điều kiện thời tiết nguy hiểm. Vận rủi giống như bạn bị cảnh sát giao thông phạt. Việc đoán định thiên khí của mình, mệnh và vận của mình, người Trung Quốc sử dụng thuật chiêm tinh gọi là Bát tự (Tứ trụ - Tử Bình) để dự đoán.
Địa Khí:
Núi, sông, sa mạc, thung lũng và đồng bằng, tất cả đều có luồng địa khí có thể ảnh hưởng đến sức khỏe, khí chất và khả năng hòa hợp của chúng ta. Các dãy núi bảo vệ chúng ta trước các yếu tố độc hại, cho chúng ta chỗ dựa tâm lý. Chúng ta thường cảm thấy vững vàng hơn nếu có một chỗ dựa ở sau lưng.
Trong phong thủy cổ điển, núi đồng nghĩa với âm hay nguồn năng lượng nữ tính của tự nhiên. Giống như một bà mẹ bảo vệ con mình khỏi bệnh tật do gió lạnh và mưa to gây ra, núi chi phối sức khỏe và các mối quan hệ của chúng ta. Mục đích của những người thực hành phong thủy là nghiên cứu và điều hòa khí gắn với núi tự nhiên (hoặc núi nhân tạo, chẳng hạn như các tòa nhà cao tầng và hàng rào cao) ở ngoài nhà ở, và núi bên trong nhà thể hiện bằng các bức tường và đồ đạc lớn, sao cho chúng mạng lại sức khỏe và các mối quan hệ tốt đẹp.
Ngược lại, nước tương ứng với dương hay nguồn năng lượng nam tính. Theo truyền thống, đàn ông có trách nhiệm tạo ra của cải. Giống như dòng nước, luồng khí sinh ra của cải (tài khí) tụ lại ở hồ và đại dương. Nó được cuốn đi dọc theo sông, đường phố và hành lang. Nó lưu thông qua cửa sổ và cửa ra vào. Phải xem xét tất cả những thứ này khi quyết định không gian sống và làm việc của con người.
Bạn sẽ nhận ra rằng, những người sống ở vùng núi thường kiên quyết, trung thành và chân thật hơn. Giống như ngọn núi, những người này thường không dễ bị lay chuyển và kiên định trong ứng xử. Trái lại, những người sống gần nước thường “tuân theo hoặc chấp nhận”. Thái độ và quan điểm của họ dễ thay đổi. Họ sẵn sàng thay đổi và thậm chí hài lòng với sự thay đổi.
Tìm được sự cân bằng giữa các yếu tố tự nhiên là tiền đề căn bản của phong thủy cổ điển. Bạn cũng sẽ hiểu rõ hơn về núi (sức khỏe và mối quan hệ) và nước (của cải) thể hiện thế nào trong cách bố trí phong thủy theo sơ đồ khí.
Từ trường trái đất cũng là một thành phần của địa khí. Cùng với thời điểm xây nhà, hướng nhà sẽ định rõ đặc điểm của khí trong nhà bạn, tính cách bẩm sinh của nó. Điều này quan trọng là phải hiểu được trường điện từ ảnh hưởng đến chất lượng khí “vào” và “cư trú” trong nhà bạn ra sao. Chắc chắn các trường do các luồng năng lượng điện cao áp và các thiết bị điện hiện đại tạo ra có ảnh hưởng đến sức khỏe chúng ta. Chúng ta phải thận trọng và chú ý tới điều này khi dùng các thiết bị điện, khi sống gần nhà máy điện, biến thế điện và những thứ tương tự.
Nhân Khí:
Bản thân bạn cũng có khí. Khí của bạn được đánh dấu vào lúc bạn vừa mới sinh ra, thời điểm bạn thở hơi thở đầu tiên. Cũng giống như dấu vân tay, khí của bạn chỉ có một và duy nhất. Trong phong thủy, năm sinh của bạn là nguồn thông tin tối quan trọng. Năm sinh quyết định nguồn năng lượng sống của bạn tương hợp với của người khác và với khí trong nhà bạn như thế nào.
Phong thủy khí ngũ hành

Còn bây giờ, bạn cần biết rằng nhiều nhà khoa học và các chuyên gia y tế phương Tây đang chấp nhận ý tưởng cho rằng có một sức mạnh tổng thể (holistic force) và tối cần thiết cho sự sinh tồn bên trong cơ thể con người, và nó điều chỉnh toàn bộ sức khỏe thể chất và tinh thần của chúng ta. Hơn nữa, mạng lưới sinh học này kết nối chúng ta với toàn thể môi trường xung quanh, và ở phạm vi rộng hơn, với ý thức chung, nguồn tri thức thuần túy. Thực tế, có thể chụp phim trường năng lượng phát ra từ cơ thể bạn (cái mà nhiều người gọi là tinh hoa phát tiết) bằng kỹ thuật chụp ảnh Kirlian do hai nhà khoa học Nga là Semyon và Valentina Kirlian phát triển.
Mặc dù ở phương Tây, nguồn năng lượng liên kết bên trong cơ thể con người được gọi bằng nhiều cái tên (ví dụ: lực thừa, trường sinh, sinh chất, điện năng động vật, tinh thần tinh tế và khí), nhưng nhìn chung, những người cấp tiến ứng dụng ý tưởng này thì tin rằng đây là trường năng lượng điện trong thiên nhiên. Nhân khí rất có thể liên quan phần nào tới điện, nhưng chúng ta đừng bỏ qua một thực tế là không thể đo đếm hoặc hiểu hết các khía cạnh của nguồn năng lượng hợp nhất này bằng năm giác quan: thị giác, vị giác, khứu giác, xúc giác và thính giác. Hãy nhớ ngay từ đầu rằng khí mang tính tự nhiên và siêu hình (còn trên cả tự nhinê và siêu nhiên); yếu tố siêu hình gồm có mệnh, vận và trực giác.
Tuy nhiên, dường như các chuyên gia trong các lĩnh vực khác nhau (ví dụ: vật lý, sinh học, tâm lý, tôn giáo, nhân chủng học, thần kinh học và ngôn ngữ học) cùng nhận ra rằng câu hỏi về sự tồn tại và mục đích sống của chúng ta không thể giải đáp bằng bất kỳ lĩnh vực riêng lẻ nào. Sử dụng phép so sánh ta thấy một chiếc bánh ngọt được tạo ra bằng cách nấu trộn các nguyên liệu khác nhau. Tương tự, điềm lành hay gở của một ngôi nhà là kết quả của các lớp thông tin hòa trộn. Bạn có hiểu vấn đề này không?
Suy cho cùng, “tích đức” và “hành thiện” để có được kiến thức quảng đại hơn cũng là các thành phần của nhân khí, hay gọi chính xác hơn là “vận khí” – “vị thần may mắn” của con người. Đơn giản là, đối xử với mình, giúp đỡ những người kém may mắn hơn bạn, và không ngồi lê đôi mách sẽ mang lại sự hài lòng và mãn nguyện. Bằng cách dành nhiều thời gian cho học tập và giảm bớt thời gian xem tivi và làm những việc không cần động não, bạn sẽ mài sắc trí thông minh và sự thông thái của mình và tăng cường được các năng lực trí tuệ.
Ngoài sử dụng phong thủy để cân bằng khí trong ngôi nhà, người Trung Quốc còn sử dụng châm cứu để khôi phục sự cân bằng khí trong cơ thể. Họ cho rằng ở mỗi bên cơ thể có 14 dòng khí chính liên kết với nhau (kinh mạch) và có khoảng 360 huyệt châm cứu. Các kinh mạch này tương ứng với một (hoặc vài) vùng hay bộ phnậ cơ thể. Khi cơ thể mất cân bằng hay mắc bệnh, chuyên gia châm cứu dùng kim châm để kích thích các huyệt thích hợp. Ngoài ra, còn có phương pháp dự đoán vận mệnh theo Tứ trụ (Bát tự). Đây là phương pháp chiêm tinh của họ, nghiên cứu khí của bạn khi sinh ra. Sử dụng phương pháp này, bạn có thể dự đoán được mệnh và vậncủa mình. Bạn có thể xác định được màu sắc, môi trường và nghề nghiệp phù hợp với mình nhất.
Cảm nhận sức mạnh của Khí.
Việc khí ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến bạn là rất quan trọng đối với “trạng thái tồn tại” của bạn. Để minh họa cho điều này, chúng ta hãy thực hiện một bài tập đơn giản. Đầu tiên, tắt tivi hoặc radio rồi tìm một nơi yên tĩnh, không bị quấy rối. Điều quan trọng là bạn phải thực sự tham gia vào bài tập này để hiểu rõ luồng khí ảnh hưởng đến bạn như thế nào. Bạn đã sẵn sàng chưa? Hãy hình dung bạn đang ngồi trên chiếc ghế đối diện với thác nước. Nếu chúng tôi nói với bạn rằng, bỗng nhiên thác nước này đổ ập xuống bạn, kèm theo nước là gió và tiếng ồn dữ dội, chôn vùi và nhấn chìm bạn thì bạn sẽ cảm thấy thế nào? Có lẽ là sợ hãi, bối rối, mất phương hướng hay mệt mỏi chăng? Nhưng bạn sẽ cảm thấy thế nào nếu chúng tôi nói với bạn rằng nước phun nhẹ trong thác nước mát lạnh, gió hiu hiu thổi làm dịu mát cơ thể bạn và khiến bạn thấy khỏe khoắn? Cảm giác này có kích thích cảm giác thư giãn, cân bằng, thoải mái và an toàn không? Cảm giác này hoàn toàn khác, đúng không?
Điều chúng tôi vừa trình bày chính là việc luồng khí có thể ảnh hưởng đến tâm trạng của bạn và cuối cùng là sức khỏe của bạn, trong một thời gian. Khí bổ dưỡng lưu thông, nhẹ nhàng di chuyển theo đường cong, tạo ra một môi trường cân bằng và có lợi cho sức khỏe. Khí quá mạnh (hay gọi là sát khí, thuật ngữ bạn sắp được biết) gây lo lắng, đặc biệt là nếu bạn đang nằm trong đường đi của nó. Sát khí có thể gây ra các bệnh về thể chất và tinh thần. Cũng có loại khí yếu. Khí yếu di chuyển chậm. Một căn phòng ngột ngạt, thiếu không khí là một ví dụ về khí yếu.
Vậy, chúng ta có thể kiểm soát khí yếu hay tiêu cực không? Hoàn toàn có thể! Nếu thác nước phun ra một lượng nước lớn, bạn không chạy đi sao? Nếu nhà bạn ngột ngạt, theo bản năng bạn sẽ mở cửa sổ để không khí trong lành lưu thông chứ? Mặc dù phần lớn yếu tố phong thủy dựa trên những lẽ thường rất cơ bản, nhưng một số yếu tố vẫn không rõ ràng, chẳng hạn như việc xác định chất lượng khí sẵn có trong nhà bạn. Và mỗi khi năm mới đến, sự thay đổi khí lại diễn ra. Chúng tôi sẽ phân loại 2 loại khí như sinh khí và sát khí với bạn như sau:
Sinh Khí:
Sinh khí là khí tích cực, bồi bổ sức khỏe và hạnh phúc của chúng ta. Chúng ta có thể nhận ra một số khía cạnh của sinh khí bằng năm giác quan như:
  1. Sinh khí thị giác: các khu vườn và bãi cỏ được cắt tỉa gọn gàng, tường ngoài được sơn sạch sẽ, nội thất được sắp xếp gọn gàng, ngăn nắp, và mọi người vui vẻ công tác. Về cơ bản, sinh khí thị giác là bất kỳ thứ gì bạn cảm thấy “vừa mắt”.
  2. Sinh khí  thính giác: Suối hay vòi nước chảy róc rách, chim hót líu lo, chuông gió, tiếng em bé bi bô, một vài bản nhạc. Tuy nhiên, bạn phải lưu ý là âm thanh mà bạn cho là êm dịu có thể lại là tạp âm của người khác. Ví dụ, nhiều người thích nơi vắng vẻ yên tĩnh hay sự thanh bình của vùng nông thôn hoặc vùng ngoại ô. Những người khác lại hợp với không khí náo nhiệt của thành phố. Mặc dù có thể bạn thấy nhạc cổ điển êm dịu, nhưng bạn của bạn lại không thấy vậy và chuyển sang nghe chương trình nhạc rock-and-roll.
  3. Sinh khí  xúc giác: Mặt phẳng, vật nuôi, tắm nước ấm, nụ hôn, massage, lụa, sa tanh và nhung là những ví dụ về sinh khí xúc giác.
  4. Sinh khí  khứu giác: Hoa, nước hoa, nến thơm và thức ăn kích thích sinh khứu giác. Tuy nhiên, có những thứ bạn thấy có mùi dễ chịu, thơm phức thì người khác lại có thể thấy khó chịu, ví dụ khói thuốc lá.
  5. Sinh khí  vị giác: Bữa ăn nấu ở nhà, sôcôla, rượu v.v…tất cả đều gắn với sinh khí vị giác. Đó là bất cứ thứ gì mà bạn thấy hài lòng. Nếu bạn thích cả sản phẩm làm từ thuốc lá, thì khi đó đối với bạn, những món này cũng là sinh khí vi giác.
Còn có loại sinh khí thức sáu, là một cái gì đó huyền bí và trừu tượng, có thể so sánh với giác quan thứ sáu của bạn. Đó là rung cảm bạn có khi sắp được tăng lương hay thăng chức. Đó là cảm giác của bạn khi có ai đó thích bạn, cảm giác đang yêu. Sinh khí giống như sự tự tin và mãn nguyện. Đó là “sự cộng hưởng” của những người hay giúp đỡ người khác và tốt bụng.
Sát Khí:
Sát khí là khí tiêu cực, có chứa luồng khí dữ ảnh hưởng tiêu cực đến cơ thể bạn. Sát khí là bất cứ thứ gì đối lập với năm giác quan của bạn, chẳng hạn như:
  1. Sát khí thị giác: Ánh sáng chói chang, chỗ tối om; các môn nghệ thuật gây khó chịu và ồn ào; sự hỗn loạn, rác rưởi; những vật chết hoặc tàn tạ; và bất cứ thứ gì bạn thấy có vẻ đe dọa, to lù lù. Sát khí thị giác cũng bao gồm cả các hành động bạo lực, thành kiến, sự thiếu khoan dung.
  2. Sát khí thính giác: Tiếng ồn như xe cộ đi lại, tiếng còi, công trình xây dựng, tranh cãi, trẻ em gào thét và một số loại nhạc là những ví dụ về sát khí thính giác.
  3. Sát khí xúc giác: Bụi bẩn, rác rưởi, đất; mảnh vụn, vết nứt, chỗ rách. Đi trên một chiếc cầu hay cầu thang ọp ẹp, trượt trên băng mỏng, leo lên địa hình không vững chãi, hay sự quấy rối tình dục và xâm phạm thân thể,..v.v…là những ví dụ về sát khí xúc giác.
  4. Sát khí khứu giác: Ô nhiễm, khói thải, ẩm mốc, mục nát, phấn hoa và độc tố là những ví dụ về sát khí khứu giác.
  5. Sát khí vị giác: Thức ăn đắng, chua hay ôi thiu. Thực phẩm lạ có thể gây khó chịu khi nếm. Tuy nhiên, chúng ta phải nhớ rằng thực phẩm sống, côn trùng và rong biển được nhiều nền văn hóa coi là thức ăn thông thường. Người ăn chay thấy sản phẩm làm từ động vật là không ngon.
Đã có sinh khí thứ sáu thì cũng có sát khí thứ sáu. Sát khí thứ sáu là rung cảm trong bạn khi “có cái gì đó rờn rợn trong không khí” hoặc cảm giác nôn nao khi “có cái gì đó nhầm lẫn” hoặc khi bạn cảm thấy đang bị nhòm ngó, theo dõi. Sát khí thứ sáu còn tồn tại dưới dạng tức giận, căm ghét và ghen tỵ. Đó có thể là “sự cộng hưởng” của ma quỷ.
Phong thủy tương tác khí
 Khí “mũi tên độc”:
Còn được gọi là “hơi thở giết người”, khí mũi tên độc “bắn” vào bạn như một viên đạn. Vật sinh ra loại khí này có thể là những con đường đâm thẳng cửa ra vào hay cửa sổ nhà bạn; cạnh sắc, nhọn của đồ vật và tòa nhà; và bất cứ thứ gì chĩa thẳng vào bạn. Khí mũi tên độc rất dữ và gây ra bất hạnh, bệnh tật và thậm chí là tai họa.
Trích từ tư liệu Phong thủy huyền không phi tinh
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Nền tảng của phong thủy, vận mệnh và vạn vật là Khí

Tuyển tập những câu nói hay về cuộc đời của mỗi người

Tuyển tập những câu nói hay về cuộc đời của mỗi người. Mỗi con người chúng ta cần phấn đấu cho cuộc sống đó được tốt đẹp hơn.
Tuyển tập những câu nói hay về cuộc đời của mỗi người

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tuyển tập những câu nói hay về cuộc đời của mỗi người. Mỗi con người chúng ta ai cũng có cuộc sống riêng của mỗi người và ai cần phấn đấu cho cuộc sống đó được tốt đẹp hơn. Cuộc đời của mỗi con người phụ thuộc vào cách sống, lối suy nghĩ của mỗi người. Mỗi người đều có cuộc đời riêng, có người có cuộc đời tươi sáng đẹp đẽ, có người có cuộc đời đen tối.

Những câu nói hay về cuộc đời của mỗi con người là sự tổng hợp và lựa chọn những câu nói hay nhất và ý nghĩa nhất về cuộc đời cho chúng ta tham khảo và suy ngẫm. Có đôi lúc bạn tự hỏi bản thân mình tại sao cuộc đời của mình lại đen tối và u ám như vậy đó chính là do bạn tự tạo ra, do suy nghĩ và hành động của bạn tạo nên chính cuộc đời bạn, Hãy đọc và rút ra những suy ngẫm có ích cho cuộc đời của bạn nhé.

Những câu nói hay về cuộc đời của mỗi người

1. Bạn không thể điều khiển hướng gió, chỉ có thể điều khiển cánh buồm.Bạn không cần phải thấy hết các bậc thang mà chỉ cần đi bước đầu tiên với một niềm tin.- Martin Luther King.

———–

2. Nghịch lý thường nằm ở chỗ, chúng ta cứ thường phán xét cuộc sống của người khác dựa trên quan điểm cá nhân, rồi lại loay hoay tìm cách sống sao cho hợp với đánh giá theo quan điểm của người khác.- Nguyễn Ngọc Thạch.

———–

3. Điều đáng sợ nhất mà một người phải đối diện không phải là thất bại hay mất mát. Mà chính là lúc tỉnh giấc mỗi buổi sáng, không mong muốn gì, không khát khao gì. Bởi vì trái tim rỗng toác. Bất mãn với cả chính bản thân mình. Khi ấy, có lẽ điều kỳ diệu là một từ ngữ quá xa xỉ và nực cười. Nhưng rồi, chúng ta cũng phải tự cứu chính mình thôi. Bạn luôn có sự lựa chọn, ngay cả khi cùng cực nhất. Là đứng lên và đi hay đứng lại rồi bị quên lãng. Quyền quyết định thuộc về bạn- Phan Ý Yên

4. Bạn sẽ biết rõ một người hơn rất nhiều dựa vào những gì anh ta thể hiện vào những ngày cuối cùng của một mối quan hệ chứ không phải bởi những gì anh ta đã làm vào buổi đầu tiên.- Phan Ý Yên

5. Dường như càng lớn, người ta càng phải đối diện với nhiều sự lựa chọn hơn lúc nhỏ, không chỉ đơn thuần là thích thì có thể chọn. Mọi thứ trở nên rắc rối hơn, và luôn luôn có sự do dự song song tồn tại. Cuối cùng, dù là lựa chọn con đường nào đi nữa, chúng ta sẽ vẫn chịu tổn thương- Khuyết Danh

6. Ra đi không phải bao giờ cũng đồng nghĩa với một sự từ bỏ, đó cũng có thể là một cách để giữ gìn những gì đã trải qua, nếu người ta biết ra đi trước khi quá trễ…- Marc Levy

7. Mày phải nhớ rõ kịch bản của đời mình — mày không phải là tập tiếp theo của bố mẹ, cũng không phải phần một của con cái mày, cũng không phải ngoại truyện của bạn bè mày.- Khuyết Danh

8. Điều tuyệt nhất khi còn thơ là chúng ta không hề biết mình đang sống những ngày hạnh phúc. Đến khi nhớ lại, ta không khỏi tiếc nuối ngày ta thức dậy và rắp tâm trở thành đàn ông, đàn bà… thay vì cứ là một đứa trẻ!- Chương Đặng

9. Đàn ông nói: “Anh sẽ điện thoại cho em” và rồi không làm điều đó, hắn không quên, hắn không làm mất số điện thoại và hắn cũng không chết, đơn giản vì hắn không muốn mà thôi.- Khuyết Danh

10. Chúng ta thực ra không phải thực sự trưởng thành, chúng ta chỉ là học cách giả vờ trước mặt người khác. Trên bước đường tương lai, nếu muốn học cách sống trưởng thành thì tuổi trẻ phải biết cách gánh vác trách nhiệm, gánh vác cuộc sống của chính mình, gánh vác hoài bão của bản thân, gánh vác những gánh nặng của hiện thực tàn nhẫn mà bạn sắp sửa dấn thân vào.- Hòa Hỏa

11. Khi bạn có một xứ sở để trở về hoặc là để thỉnh thoảng trở về, thì bạn còn có hạnh phúc nhiều lắm. Ở đó bạn có một dòng sông, một ngọn núi, và bạn tìm lại được những đứa bạn một thời tóc xanh nay đã lốm đốm bạc đầu…- Trịnh Công Sơn

12. Trên đời này, có rất nhiều điều là vĩnh cửu, nhưng tuyệt nhiên, tình yêu không phải là 1 trong số đó…- Khuyết Danh

13. Cuộc sống là những lần gặp gỡ và biệt ly, là những lần lãng quên và bắt đầu, nhưng luôn có những chuyện, một khi đã xảy ra, sẽ để lại dấu vết; và luôn có những người, một khi đã tới, sẽ không thể nào quên.- Xuân Thập Tam Thiếu

14. Đôi khi tôi chỉ mong sao được yên tĩnh một mình, không có bất cứ điều gì có thể làm phiền thôi. Đừng nói tôi lạnh lùng, cũng đừng nói tôi vô tình. Tôi thể hiện rằng mình không quan tâm, trên gương mặt tôi thể hiện rằng sao cũng được, nhưng liệu ai biết có những khi trong thâm tâm tôi cuộn sóng lao đến cùng cực của sự thất vọng.- Hòa Hỏa

15. Trong lòng mỗi người đều có nhiều cánh cửa, những đau buồn suy nghĩ, đôi khi không cần thiết phải mở toang cho mọi người cùng thấy.- Khuyết Danh

16. Người nào có thể làm mỗi giây phút đều tràn ngập một nội dung sâu sắc thì người đó sẽ kéo dài vô tận cuộc đời mình.I.Cuôcxơ

17. Con người sinh ra không phải để tan biến đi như một hạt cát vô danh. Họ sinh ra để in dấu lại trên mặt đất, in dấu lại trong trái tim người khác. Xukhômlinski

18. Đừng che dấu tình yêu và sự dịu dàng của mình cho đến khi bạn lìa đời. Hãy làm cuộc đời bạn tràn đầy sự ngọt ngào. Hãy nói những lời thân thương khi bạn còn nghe được và tim bạn còn rung động. Henry Ward Beecher

19. Bạn có yêu đời không? Vậy đừng phung phí thời gian vì chất liệu của cuộc sống được làm bằng thời gian.Franklin

20. Luôn luôn có niềm hy vọng cho người nào bình tâm suy nghĩ về cuộc sốngKatherine Logan

21. Bao lâu bạn vẫn còn tự tin ở bạn, thì người khác vẫn còn tin bạnCynda Williams

22. Đừng quá xem trọng điều gì. Hãy tiếp nhận mọi sự may rủi một cách nhẹ nhàngJepfecson

23. Đứng vững và không nghĩ rằng mình sẽ ngã thì sẽ chẳng bao giờ ngã H.Andersen

24. Khi tất cả những cái khác đã mất đi thì tương lai vẫn còn.Bové

25. Sự chân thành là điều tốt đẹp nhất bạn có thể đem trao tặng một người. Sự thật, lòng tin cậy, tình bạn và tình yêu đều tùy thuộc vào điều đó cả. Elvis Presley

26. Đời là cuộc đấu tranh liên tục; nó luôn được cải biên với nhưng khó khăn mới. Và chúng ta sẽ chiến thắng nhưng bao giờ cũng phải trải giá.Mirko Gomex

27. Đừng đi qua thời gian mà không để lại dấu vết Bao giờ ta cũng phải luôn luôn có một nơi nào để đến Trí tuệ của con người trưởng thành trong tĩnh lặng, còn tính cách trưởng thành trong bão táp. W.Gơt

28. Hãy sống tốt đẹp đi và nhớ rằng, mỗi ngày có một đời sống riêng cho nó thôi.Seneca

29. Khi bạn sinh ra đời, bạn khóc còn mọi người xung quanh cười. Hãy sống sao cho khi bạn qua đời, mọi người khóc còn bạn, bạn cười.

30. Ðôi khi trong cuộc sống, có lúc bạn cảm thấy bạn nhớ ai đó đến nỗi muốn chạy đến và ôm chầm lấy họ. Mong rằng bạn sẽ luôn mơ thấy họ. Hãy mơ những gì bạn muốn, đi đến nơi nào mà bạn thích, hãy làm những gì bạn thích vì bạn chỉ có một cuộc sống và một cơ hộiđể làm tất cả trong cuộc đời.

31. Mong rằng bạn luôn có đủ hạnh phúc để vui vẻ, đủ thử thách đểmạnh mẽ hơn, đủ nỗi buồn để bạn trưởng thành hơn và đủ tiền để mua quà cho bạn bè.

Trên đây là những câu nói hay về cuộc đời của mỗi người cho bạn tham khảo và cảm nhận. Ngoài ra bạn có thể cảm nhận đầy đủ về cuộc đời, cuộc sống với những câu danh ngôn về cuộc sống mà bài viết tổng hợp được. Và chúc bạn tìm thấy cho mình một con đường sống tích cực và thành công hơn nhé.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tuyển tập những câu nói hay về cuộc đời của mỗi người

Giải mã giấc mơ thấy nước mắt –

“Hễ mơ thấy gì thì cứ đó mà suy đoán cát hung” (Việt Nam phong tục). Từ xưa, các nhà chiêm mộng tinh đã dựa vào những điều người ta chiêm bao mà đưa ra những suy đoán về điềm lành điềm dữ sẽ xảy ra trong tương lai gần cho những người nằm mộng biết. T
Giải mã giấc mơ thấy nước mắt –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

“Hễ mơ thấy gì thì cứ đó mà suy đoán cát hung” (Việt Nam phong tục). Từ xưa, các nhà chiêm mộng tinh đã dựa vào những điều người ta chiêm bao mà đưa ra những suy đoán về điềm lành điềm dữ sẽ xảy ra trong tương lai gần cho những người nằm mộng biết.

Tiếng khóc là âm thanh đánh dấu sự ra đời và kết thúc cuộc sống của một con người. Trong suốt hành trình sinh tồn ấy, ai cũng cần có nước mắt để giải tỏa nỗi lòng. Vui cũng khóc, buồn cũng khóc, thậm chí cả trong phút giây hạnh phúc nhất người ta cũng bật khóc. Nước mắt sẽ cuốn trôi mọi nỗi buồn. Vì vậy việc mơ thấy khóc cũng mang nhiều ý nghĩa khác nhau, nhưng lại thường là điềm tốt lành, vui vẻ.

nuocmat500-6320-1396323450

1. Trường hợp nằm mộng thấy mình đang khóc trước mặt người khác, là điềm báo sẽ gặp chuyện vui mừng dẫn đến chỗ tác hợp hôn nhân như ý muốn. Có một chuyện lạ là nếu người nằm mộng ấy đang toan tính làm ăn thì “giọt nước mắt” trong chiêm bao chính là điềm báo trước những “ly rượu mừng” vì đắc lợi trên thương trường sắp tới.

2. Nếu mơ thấy mình bị toát mồ hôi ướt đẫm cả người hãy chuẩn bị đón nhận những điều không may sẽ xảy đến trong đời sống tình cảm, hoặc giận hờn, hoặc gây gỗ, cãi vã, đến nỗi “không nhìn mặt nhau” một tuần, một tháng, hoặc lâu hơn.
3. Trong giấc mơ thấy mình khóc thành tiếng, là điềm báo có việc tốt lành đến với bạn. Nếu khóc không thành tiếng, có nghĩa là mọi việc bạn làm đều rất thuận lợi.

4. Khi đang yêu, con gái mơ thấy nước mắt tràn trề khắp mặt, điều này có nghĩa là tình cảm hai bên đang tốt đẹp, bạn càng thêm hiểu và quan tâm tới đối phương hơn.

5. Mơ thấy mình và người khác cùng khóc, là dấu hiệu bạn sắp có việc vui, đáng được chúc mừng. Tuy nhiên, nếu mơ thấy một mình nằm khóc trên giường thì lại là điềm gở.

6. Trong giấc mơ nghe thấy tiếng khóc nức nở có nghĩa là niềm vui khôn xiết sẽ đến với bạn. Ngoài ra, nếu mơ thấy mình bị ốm mà lại vừa cười vừa khóc hoặc mơ thấy một ai đó bị bệnh và khóc lớn tiếng, điều này sẽ báo hiệu mọi bệnh tật đều nhanh chóng qua đi.

7. Nếu trong mơ thấy mình khóc vì sự ra đi của người nào đó, rất có thể bạn sẽ được thừa hưởng một khối tài sản lớn.

8. Mơ thấy người khác khóc và nhìn thấy cả răng của họ, là điềm báo bạn sẽ vướng vào chuyện kiện tụng. Bạn phải hết sức cẩn trọng nhé.

9. Nếu giấc mơ xuất hiện một người lạ vừa đi vừa khóc và tiến về phía bạn là điềm báo không an lành. Còn nếu người đó vừa khóc vừa than vãn, có nghĩa là bạn sắp phải đối đầu với thử thách nào đó.

10. Nếu bạn mơ thấy mình đang khóc với người nào đó thường là điềm vui vẻ.

11. Mơ thấy khóc lớn tiếng cũng là một tin tốt lành, báo rằng bạn sẽ được sung sướng với thành công nào đó sắp tới của mình.

12. Trong giấc mơ bạn thấy mình khóc thầm trong lòng, điều này báo rằng bạn sắp có được tài lộc lớn.

13. Thấy mình khóc trong mơ là điều ám chỉ rằng bạn đang gặp chuyện không vui và cần được ai đó an ủi.

14. Mơ thấy người thân hoặc bạn bè khóc là điềm báo những người được bạn mơ thấy đang có như cầu cần được sẻ chia, thông cảm.

15. Chiêm bao thấy có người mếu khóc, bạn nên đề phòng có thể gặp chuyện kiện tụng.

16. Thấy nước mắt chan hòa là chuyện vui sắp đến, hoàn toàn hài lòng.

17. Bạn mơ thấy người đã chết khóc lóc là điềm báo bạn có thể gặp chuyện tai tiếng. Tuy nhiên, mơ thấy có người khóc trong vòng tay mình, bạn sắp có tài lộc lớn.

18. Chiêm bao thấy người ở xa đến nhà mình khóc là điềm dữ, bạn nên cẩn thận khi làm bất cứ việc gì.

19. Chiêm bao thấy mình buồn rầu, lo sợ vì chuyện gì đó, bạn sắp gặp một người tốt. Tuy nhiên, nếu mơ thấy mình đã thoát khỏi tâm trạng buồn là điềm không tốt, nó báo trước người nào đó có ý làm hại bạn.

20. Thấy ngồi trên giường khóc là có hung tin.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Giải mã giấc mơ thấy nước mắt –

Xem tướng tay: Các đường chỉ tay

Chắc chắn các bạn đã không dưới một lần tò mò liệu những đường chỉ tay có thực sự mang những chỉ dẫn vận mạng của mình. Thuật xem chỉ tay là nghệ thuật tìm hiểu tương lai qua các đường chỉ tay (nam xem bàn tay trái, nữ xem bàn tay phải). Đó là một thuật pháp (thuật tiên đoán) có nguồn gốc từ thời xa xưa.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo




Đường sanh đạo

Đó là một trong những đường quan trọng nhất trong bàn tay. Đường này ở giữa ngón tay cái và ngón tay trỏ và chạy hướng về phía cổ tay. Đường này diễn tả mức độ sinh khí, năng lượng, sức mạnh thể chất, thành tích và sự bền chắc.
Đường nét rất rõ ràng: giới tính phát triển.
Đường cong yếu: thiếu năng lượng và sinh động, nhục cảm suy yếu.
Đường chỉ nhỏ và rõ: sức sống tốt, ý chí tốt.
Đường chỉ rộng: có sức mạnh thể chất nhưng hệ thần kinh rất mong manh.

Đường trí đạo

Nằm ngang ở giữa bàn tay dưới đường tâm đạo, đường chỉ này xác định bạn có suy nghĩ thuần lý hay tưởng tượng.
Nhỏ và sâu: thông minh, đầu óc lanh lẹ.
Rộng: phù phiếm, nông nổi, vật chất.
Đường định mạng (may mắn)
Đường bắt đầu đi lên từ phía đáy bàn tay, hướng về gò thổ tinh và chia bàn tay ra làm hai. Nó diễn tả yếu tố may mắn trong cuộc đời, định mệnh.
Không có: nó cho thấy một cá nhân cần phải làm việc khó nhọc mới thành công.
Đường chỉ sâu: thành công nhưng không thỏa mãn.
Xuất phát từ đường sinh đạo: người này chỉ dựa vào bản thân.
Xuất phát từ cổ tay: nếu khắc sâu, gặp may suốt đời, thành công.

Đường tâm đạo

Đường này nằm ngang ở phần trên của bàn tay. Đường này ngự trị các khía cạnh cảm xúc và biểu lộ tiềm năng tình ái, mối tương quan với người yêu và những người xung quanh, không có đường chỉ này: hoàn toàn vô cảm.
Thẳng: tư tưởng kiểm soát cảm xúc.
Xuất phát từ ngón trỏ: tình duyên và ghen tuông.
Xuất phát dưới ngón giữa: nhục cảm hoàn toàn, thiên về khoái lạc.
Xuất phát từ dưới ngón đeo nhẫn: kém cảm xúc.

Đường thái dương (hay là đường mặt trời)

Song song với đường may mắn, nhiều người không có đường này.
Xuất phát từ cổ tay cho đến ngón đeo nhẫn: may mắn và thành công tuyệt đối, một định mệnh phi thường.
Xuất phát từ gò hỏa tinh: kiên trì và có ý chí thành công.
Xuất phát từ gò mặt trăng: thành công nghệ thuật.
Xuất phát từ đường trí đạo: thành công đến từ sự suy nghĩ.
Xuất phát từ đường sinh đạo: chỉ biết dựa vào bản thân.
Xuất phát từ đường tâm đạo: thành công đến muộn.

Đường hôn nhân (giới tính)

Nằm dưới ngón tay út, nhưng người ta chỉ chú ý đến đường chỉ có nét sâu nhất vì thường có nhiều đường chỉ ở đây. Đây là đường chỉ về hôn nhân hay về giới tính.
Rõ ràng và thẳng: hôn nhân hạnh phúc.
Nhiều đường chỉ cạn: nhiều cuộc sống chung không hôn thú.
Đường chỉ đi lên: độc thân.
Đường chỉ đi xuống: ly thân.
Đường chỉ chẻ đôi lúc đầu: khó khăn khi bắt đầu sống chung.
Đường chỉ chẻ đôi lúc sau: tan vỡ.

Nguồn: Tổng hợp.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem tướng tay: Các đường chỉ tay

Cách xác định Tiểu Vận

1 – Tiểu vận Tiểu vận hoàn toàn phụ thuộc vào trụ giờ và thời gian của nó chỉ kéo dài đúng 1 năm (có thể gọi đây là tuổi ảo).
Cách xác định Tiểu Vận

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

a – Nam sinh năm dương và nứ sinh năm âm 
Nam sinh năm dương và nữ sinh năm âm thì tính thuận theo bảng nạp âm bắt đầu can chi ngay sau trụ giờ làm tiểu vận đầu tiên, tiếp là tiểu vận thứ hai.... Tiểu vận khác với đại vận là thời gian chỉ kéo dài 1 năm. Thời gian của tiểu vận đầu tiên bắt đầu tính ngay từ ngày và giờ sinh tại năm sinh của người đó cho đến đúng ngày và giờ đó của năm sau, sau đó mới sang tiểu vận thứ hai,...

Ví dụ là nam như trên sinh ngày 12/2/1976 lúc 3,01’am là năm Bính Thìn (1976), giờ sinh là Bính Dần (3,01’am) vì sinh năm dương nên tiểu vận đầu tiên tính theo chiều thuận của bảng nạp âm. Tức là từ 3,01’a.m. của ngày sinh 12/2/1976 đến 3,01’a.m. ngày 12/2/1977 là tiểu vận đầu tiên Đinh Mão, tiếp từ ngày 12/2/1977 đến ngày 12/2/1978 là tiểu vận thứ hai Mậu Thìn.... Nếu là nữ sinh vào năm âm cũng tính theo chiều thuận như vậy.

b – Nam sinh năm âm và nữ sinh năm dương 
Nam sinh năm âm và nữ sinh năm dương thì tính theo chiều ngược của bảng nạp âm, bắt đầu can chi ngay trước can chi của trụ giờ làm tiểu vận đầu tiên, sau là tiểu vận thứ hai,.....

Ví dụ trên nếu là nữ thì phải tính tiểu vận ngược với bảng nạp âm. Cụ thể là từ 3,01’a.m. của ngày sinh 12/2/1976 đến 3,01’am ngày 12/2/1977 người nữ này có tiểu vận đầu tiên là Ất Sửu, tiếp từ ngày 12/2/1977 đến 12/2/1978 là tiểu vận Giáp Tý, cứ thế tính các tiểu vận tiếp theo theo chiều ngược của bảng nạp âm. Nếu là nam mà sinh vào năm âm cũng tính theo chiều ngược như vậy.

2 – Tính chất của tiểu vận 
Can, chi và nạp âm của tiểu vận chỉ có khả năng hình, xung, khắc, hại, hợp đối với can, chi và nạp âm của đại vận và lưu niên nhưng chúng không có khả năng tác động đến các can, chi và nạp âm trong tứ trụ và ngược lại.

Nguồn: phuclaithanh.com


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Cách xác định Tiểu Vận

Luận đoán tiểu hạn trên lá số tử vi - Phần 1

Tiểu hạn trên lá số tử vi của mội người cứ 12 năm lại trùng nhau một lần, hãy cùng chúng tôi tìm hiểu xem làm cách nào tìm ra điểm khác biệt giữa sự trùng lập này nhé!

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Luận đoán tiểu hạn trên lá số tử vi - Phần 1

Luận đoán tiểu hạn trên lá số tử vi - Phần 1

Ảnh hưởng của gốc đại hạn tới tiểu hạn như thế nào?

Yếu tố làm cho các tiểu hạn trung nhau thành ra khác biệt nhiều là do gốc đại hạn thay đổi, vì khi đoán tiểu hạn điều tiên quyết là phải xét đến đại hạn lúc đó được coi như là một cung Mệnh thứ hai di động có ảnh hưởng mạnh mẽ và rõ rệt cho tiểu hạn, nhưng ta vẫn không thể quên lãng cung Mệnh khi giải đoán. Để cho được linh động và bớt khô khan tôi tránh việc nêu ra các nguyên tắc và chỉ nêu ra dưới đây nhiều thí dụ điển hình:

- Nếu đại hạn có Liêm Tham hãm địa (tại Tỵ, Hợi) mà tiểu hạn có Địa không, Địa kiếp, Thiên không thì sự nghiệm hoạnh phát, nhất là khi được Địa không, Địa kiếp đắc địa (Dần, Thân, Tỵ, Hợi) chỉ vì Liêm Tham hãm địa rất cần gặp Không (chính trong cuốn Tử vi đẩu số Tân biên của Vân Đằng Thái Thứ Lang cũng có nêu ra điểm này khi bàn đến bộ Sát Phá Liêm Tham hãm tại cung Quan lộc mà quý bạn vô tình không biết áp dụng cho cả đại tiểu hạn).

- Cũng trong trường hợp tiểu hạn trên, nếu gặp Đại hạn có Thiên Phủ hoặc Tử vi thì thực đáng buồn chỉ chờ ngày khuynh gia bại sản hoặc mất chức…nhất là khi có thêm Tuần, Triệt án ngữ (là yếu tố làm lợi thêm cho Liêm Tham hãm), vì Tử Phủ sợ nhất gặp Không Vong và Tuần, Triệt.

- Ngoài ra, ta vẫn phải xét đến Mệnh nữa, vì khi đại tiểu hạn tương hợp với nhau rồi nếu được thêm Mệnh hỗ trợ thêm mới đáng gọi là hanh thông thuận lợi, còn ngược lại vẫn giảm đi nhiều. Tỷ dụ như Mệnh có Vũ Sát tại Mão mà gặp được đại hạn Liêm Tham hãm và tiểu hạn Không Kiếp, Thiên không như trên thì còn gì hay bằng vì tất cả nhóm sao đó tương trợ lẫn nhau chặt chẽ. Còn trường hợp Mệnh có Thiên Phủ (tức là Mệnh ở Dậu) với đại tiểu hạn như trên thì chưa thể hanh thông được hoặc nếu có phát lên mạnh thì đương số cũng đau khổ, bực dọc trong tâm hồn vì nằm trong môi trường trái ngược với tư thế của mình, không khác gì một ông quan tòa mà phải đứng đầu một đảng cướp hoặc một nhóm buôn lậu quốc tế, như thế càng thành công càng thấy lương tâm cắn rứt, mặc dầu bề ngoài thật là thịnh vượng và có uy tín.

Khi Đại hạn có Nhật Nguyệt miếu vượng tại Mão và Hợi mà gặp tiểu hạn có Thiên Không, Thiên Hư và cung nhập hạn lại vô chính diệu thời tiền tài và công danh rất ngon lành, vì Nhật Nguyệt rất ưa cung vô chính diệu để rọi chiếu vào cho sáng sủa nhất là có thêm Thiên Không quét sạch mây mù và có Thiên Hư làm cho bầu trời thăm thẳm thực là đẹp biết bao!

Ngay cả khi có Tuần, Triệt án ngữ cũng vẫn hanh thông vì Nhật, Nguyệt khi chiếu gián tiếp (tức là ở đại hạn ảnh hưởng cho tiểu hạn) không hề sợ Tuần, Triệt mà có khi còn nhờ hai sao nầy làm tăng sự tốt đẹp cho cung vô chính diệu nhập tiểu hạn nữa.

Ngoài ra, dù có thêm Không, Kiếp (bất luận miếu vượng hay hãm) nhập hạn cũng phát đạt như thường vì Không Kiếp không hại gì cho Nhật, Nguyệt. Nhưng với tiểu hạn như trên, nếu đại hạn gặp Thiên Phủ hội Song Lộc thì kết quả ngược hẳn lại, không lụn bại thì cũng không làm sao phát đạt nổi. Gặp trường hợp như thế nhiều người mới học tử vi hẳn phải thắc mắc không hiểu tại sao tiểu hạn trước mình phát mạnh mẽ mà tiểu hạn sau cũng vào cung đó lại xuống đến đất đen, nhất là cứ yên trí đại hạn có Thiên Phủ hội Song Lộc thì tiền để đâu cho hết…

Bây giờ ta lại phải xét đến Mệnh xem có gì mâu thuẫn hoặc thuận lợi cho đại tiểu hạn hay không: nếu trường hợp đầu (tức là đại hạn Nhật Nguyệt và tiểu hạn Thiên không, Thiên Hưu và cung nhập hạn vô chính diệu) mà được cung Mệnh cũng vô chính diệu hoặc có Phá quân cư Thân) thì năm đó rất thuận lợi, vì Phá quân rơi vào hạn có những sao trên không có gì trái ngược, cũng ví như một người liều lĩnh, thủ đoạn dữ dằn gặp được môi trường làm ăn bất chính (như buôn lậu) thì dễ thành công rực rỡ.

Nếu Mệnh có Cơ, Lương hoặc Tử, Phủ thì tuy hợp với Đại hạn Nhật, Nguyệt nhưng lại kỵ tiểu hạn Không Vong, Không Kiếp, Tuần, Triệt cho nên năm đó cũng khó thành công.

-Nếu đại hạn có Xương, Khúc, Khôi, Việt, Quan Phúc, Hóa Khoa, mà tiểu hạn lại gặp Hỏa Linh, Không Kiếp, Tuần, Triệt, Hóa Kỵ, Kình, Đà là ta đã thấy ngay sự mâu thuẫn, trái ngược giữa hai nhóm sao đó vì một bên toàn là sao chủ về văn học, tư cách thông minh, một bên chủ về dữ dằn, phá hoại, ngăn trở, lao động về chân tay, như thế làm sao có thể hanh thông được. Riêng trường hợp này, rất cần phối hợp với Mệnh.

Nếu Mệnh có Liêm Tham hãm địa hoặc có Vũ, Sát hay Cơ, Lương (nhưng 2 cặp sao sau không thuận lợi bằng Liêm Tham vì chúng rất sợ Tuần Triệt) thì năm đó không đáng ngại, cũng ví như người thợ máy tới lúc được bổ túc thêm phần kỹ thuật của mình (tỷ dụ như học thêm một khóa chuyên môn nào đó).

Còn trường hợp Mệnh có Thiên Tướng, Thiên Lương…thì tuy rất hợp với đại hạn đó nhưng tiểu hạn hoàn toàn bất lợi, nếu có đi thi tất rớt, có mưu cầu chức phận gì cũng bị cản trở. Do đó, nếu Mệnh và tiểu hạn tương hợp với nhau rồi phải có Đại hạn làm trung gian kết hợp mới tốt đẹp, cũng ví như người mai mối giữa hai họ nhà trai và nhà gái nếu thân thiết với cả hai bên thì người đó sẽ cố tác thành cho cặp trai gái, còn trường hợp không ưa một bên nào là thế nào cũng gây mâu thuẫn. Xem như vậy quý bạn thấy đoán tiểu hạn quả thực rất uyển chuyển vì phải kết hợp quá nhiều yếu tố.

Qua những thí dụ nêu trên, quý bạn hẳn đã có một khái niệm về sự khác biệt giữa các tiểu hạn trùng nhau (cùng một cung). Đây mới chỉ căn cứ vào gốc đại hạn chứ chưa xét tới những yếu tố thay đổi khác, mà tôi xin nêu ra dưới đây:

(Xem tiếp phần 2)

 


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Luận đoán tiểu hạn trên lá số tử vi - Phần 1

CÁCH NGHÈO - NHỮNG SAO NGHÈO

Có nhiều chỉ dấu để phỏng đoán cái nghèo nói chung: – chính tinh ở những cung tài sản bị hãm địa. Nếu đó là ta...
 CÁCH NGHÈO - NHỮNG SAO NGHÈO

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Có nhiều chỉ dấu để phỏng đoán cái nghèo nói chung:       chính tinh ở những cung tài sản bị hãm địa. Nếu đó là tài tinh thì mức độ nghèo không mấy nặng vì dù sao, tài tinh hãm địa thì cũng còn ít nhiều ý nghĩa tài lộc, nhất là hợp vị ở Tài, Điền. Có thể có hai trường hợp hãm địa gần như tương đương nhau: hoặc chính tinh miếu, vượng và đắc địa bị Tuần hay Triệt án ngữ, hoặc chính tinh hãm địa thiếu Tuần, Triệt án ngữ. Lẽ dĩ nhiên, chính tinh hãm địa thiếu Tuần, Triệt đồng cung thì xấu hơn là miếu, vượng hay đắc địa gặp Tuần Triệt vì Tuần hay Triệt chỉ có hiệu lực cản trở cái tốt của chính tinh một thời gian nào đó, đến một mức độ nào đó mà thôi.       những cung tài sản thiếu phụ tinh tốt hội chiếu, nhất là thiếu tài tinh. Những cung này có tài tinh hãm địa thì vẫn còn đỡ khổ hơn là thiếu cả tài tinh lẫn cát tinh khác.       những cung tài sản thiếu sao giữ của. Nếu bị thêm sao hao (Đại, Tiểu Hao hãm địa) thì càng kém, nhất là khi hao tinh nằm ở Tài và Điền mà không gặp sao nào chế ngự.       những cung tài sản thiếu sao trợ tài, sao may mắn, sao hưởng của.       những cung tài sản bị sát tinh, hung tinh, bại tinh, hao tinh, hình tinh cùng hãm địa. Đây là trường hợp xấu nhất, đặc biệt là khi gặp sát tinh nặng lại không hợp cách của Mệnh và cũng không bị sao nào khác chế ngự.         Có đủ 5 trường hợp trên thì mức nghèo sát ván: đó là hoàn cảnh của những người cùng khổ, không có gì để giữ, không có gì để mất. Họ dễ trở thành đạo tặc, trộm cướp.

1. Cách nghèo về điền trạch: do cung Điền mô tả qua những sao dưới đây:
            - Phá Quân ở Dần, Thân             - Thất Sát ở Thìn, Tuất             - Thiên Đồng, Cự Môn đồng cung             - Cự Môn ở Tỵ, Thìn, Tuất             - Vũ Khúc, Thất Sát đồng cung             - Thái Dương hãm địa             - Thái Âm hãm địa Bảy bộ sao trên đều có nghĩa là không có tài sản.
            - Tử Vi, Thất Sát đồng cung             - Tử Vi, Phá Quân đồng cung             - Tử Vi, Tham Lang đồng cung             - Liêm Trinh ở Dần, Thân             - Vũ Khúc, Phá Quân đồng cung             - Cự Môn, Thái Dương ở Thân             - Tham Lang ở Dần, Thân, Tý, Ngọ             - Cự Môn ở Hợi, Tý, Ngọ             - Thất Sát ở Tý, Ngọ             - Phá Quân ở Thìn, Tuất             - Liêm Trinh, Tham Lang đồng cung Đó là những trường hợp có ít nhiều di sản, nhưng không giữ được, không hưởng được, bị phá sản, phải lìa bỏ tổ nghiệp, chỉ có thể tự lập mới có chút ít điền sản nhưng phải hết sức chật vật và chậm lụt, nhiều khi phải tha phương lập nghiệp.
            - Liêm Trinh, Thiên Phủ đồng cung             - Liêm Trinh, Thất Sát đồng cung             - Liêm Trinh, Phá Quân đồng cung             - Thái Dương, Thiên Lương ở Dậu Những cách trên tương đối khá hơn, cụ thể như có di sản nhưng bị sa sút về sau (Liêm, Phủ), chậm của (Liêm, Sát), lập nghiệp thất bại buổi đầu (Liêm, Phá), về già mới có nhà đất (Dương, Lương).
- Địa Không, Địa Kiếp hãm địa: đóng hay chiếu cung Điền, Kiếp Không có nghĩa: không có của cải, nhà đất; bị chiếm hữu nhà đất; bị phá hủy nhà đất; bị tai họa lớn vì điền sản. Kiếp Không hãm địa báo hiệu một đại họa bất khả kháng, có hậu quả lớn lao và lâu dài cho sở hữu chủ. Họa đến một cách hung hãn và bất ngờ, không lường trước được, không thể tránh khỏi. Hai sao này là một nghiệp chướng thật sự về mặt điền sản.
- Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh hãm: nếu hãm địa và hội tụ ở Điền, bốn sao này hung hiểm không kém: chỉ sự phá sản, tai họa về điền sản (họa về lửa nếu gặp Hỏa Linh), sự cực nhọc lúc mua sắm, lúc gìn giữ, số lượng tài sản ít oi, phẩm chất nhà đất tầm thường, việc mất nhiều mối lợi về điền sản.
- Tuần, Triệt ở Điền: chẳng những phải tự lực mua sắm mà nhà đất còn khó tạo hay chậm có hoặc có rồi bị phá, hao, sa sút. Nếu cả hai đồng cung, triển vọng vô sản hoặc phá sản càng rõ rệt. Ai có di sản mà cung Điền có Triệt thì dễ bị hao tán sớm và mạnh, nếu có Tuần thì di sản ít mới khỏi hao, còn nhiều thì hao dần. Ai tự lập mà cung điền có Triệt thì chậm của, có thể từ 45 tuổi trở đi. Gặp Triệt, thời gian thủ đắc chậm thêm một thập niên nữa. Nếu gặp Tuần, điền sản tự lập hoặc ít, nếu có nhiều thì hao tán tuần tự, mặc dù của cải có thể được thủ đắc sớm, vào tuổi lập thân.
Có hai biệt lệ đối với cung Điền vô chính diệu:       Điền vô chính diệu gặp Tuần hay Triệt đồng cung: việc mua sắm chỉ khó lúc đầu của buổi lập thân, có sự mua vào bán ra điền sản và thay đổi nhà cửa luôn. Càng về già thì mới có sản nghiệp, nhưng tầm thường.       Điền vô chính diệu có Tuần hay Triệt án ngữ và có Nhật Nguyệt sáng sủa hội chiếu: sự nghiệp tuy có khó khăn lúc đầu nhưng về sau rất phong túc, trở thành đại phú nông, đại trạch chủ, đại tư bản.

2. Cách nghèo về tiền bạc: biểu lộ ở cung Tài và ba cung hội chiếu Tài, cùng với cung nhị hợp với Tài nhưng cung Tài có ý nghĩa trực tiếp.
            - Liêm Trinh, Tham Lang đồng cung             - Phá Quân ở Dần, Thân             - Thất Sát ở Thìn, Tuất             - Tham Lang ở Dần, Thân, Tý, Ngọ Bốn trường hợp này là tệ nhất: nghèo túng, nợ nần, hoang phí, bị hình ngục vì tiền (Liêm, Tham).
            - Tử Vi, Thất Sát: kiếm tiền mau lẹ             - Tử Vi, Phá Quân: chật vật buổi đầu, càng về sau càng sung túc             - Tử Vi, Tham Lang: tiền bạc bình thường, có của hương hỏa nhưng về sau bị sa sút             - Liêm Trinh ở Dần, Thân: việc kiếm tiền phải cạnh tranh và chậm nhưng làm giàu chắc chắn             - Liêm Trinh, Thiên Phủ: giàu có lớn, giữ của             - Liêm Trinh, Thất Sát: tiền bạc thất thường, hết lại có             - Liêm Trinh, Phá Quân: dễ kiếm tiền lúc tao loạn, nhưng hay bị họa vì tiền             - Thiên Đồng, Cự Môn: tiền bạc vào ra thất thường             - Vũ Khúc, Phá Quân: tiền bạc có vào nhưng lại ra hết             - Vũ Khúc, Thất Sát: tự lập, vất vả lúc đầu             - Thái Dương hãm, Thái Âm hãm: phải cực nhọc mới tạo ra tiền, chậm có tiền             - Cự Môn ở Hợi, Tý, Ngọ: tự lập, phát tài mau lẹ lúc tao loạn             - Cự Môn ở Tỵ, Thìn, Tuất: tiền bạc thất thường, hay bị kiện tụng, thị phi vì tiền             - Phá Quân ở Thìn, Tuất: tiền bạc thất thường, hết lại có

3. Những sao hao tiền bạc:
Đại, Tiểu Hao hãm địa: rất hoang phí, ham vui, tiêu pha không tiếc tiền, dù không tiền cũng không biết lo kiếm tiền, do đó thường túng thiếu, nợ nần. Tâm lý của nhị Hao rất phù du, lãng tử, chỉ biết có hiện tại, không có chí làm giàu, không có khả năng kiếm tiền, chỉ có tài ném tiền qua cửa sổ cho thỏa thích, cho dù không muốn tiêu cũng thường gặp dịp phải chi. Cung Tài đại kỵ hai sao này, dù có được tài tinh đồng cung thì mức chi vẫn nhiều hơn mức thu.
Văn Xương, Văn Khúc: đôi khi có nghĩa mê cờ bạc, một trong những nguyên nhân hao tán tài lộc. Đôi khi, người có Xương Khúc ở Tài sống bằng nghề cờ bạc.
Điếu Khách: cờ bạc đều đều, có thể là người sống về nghề đổ bác hoặc chủ sòng bạc.
Đại, Tiểu Hao, Hỏa hay Linh Tinh: Hỏa hay Linh là bệnh nghiện. Nếu Hỏa, Linh không đi với nhị Hao, có lẽ bệnh nghiện không nặng và không tốn hao lắm.
Đại, Tiểu Hao, Đào, Hồng: đây là bệnh nghiện gái/kép, hảo ngọt mà dại gái/trai, bị tốn tiền vì tình nhân bòn của. Đào, Hồng, Song Hao không cần đóng ở Tài, có thể đóng ở Mệnh, Quan, Phúc cũng vẫn có ý nghĩa nói trên. Duy Đào Hồng đi với Hóa Lộc hay Lộc Tồn thì nhờ phái đẹp hoặc nhờ sắc đẹp mà trở nên giàu có.
Phục Binh: đóng hay chiếu cung Tài, Phục Binh dễ bị mất trộm, thường bị ăn chặn, ăn gian, lường gạt, hoặc mất bất cứ của cải gì. Trong lá số gian phi, Phục Binh là chính mình đi trộm, đi giựt, chính mình là thủ phạm hay tòng phạm. Đóng ở cung Nô thì tôi tớ trong nhà lấy đồ đạc của chủ, bạn bè quỵt tiền mình.
Thiên Hình: ở một cung Tài đẹp không có lợi vì chỉ tụng ngục, hình tù vì nguyên do tiền bạc, cũng có thể bị bắt rồi phải hao tiền chạy chữa. Nếu cung Tài xấu, Thiên Hình có thể chỉ sự trộm cắp, lường gạt, cướp giật mà bị tù tội. Nếu có Song Hao hãm địa thì có tái phạm ít ra hai lần. Thiên Hình đồng cung với Thiên Tướng (cho dù có đắc địa đi nữa) ở Tài cũng xác nhận tai họa vì tiền khó tránh.  Nếu Hình đi chung với Không Kiếp thì bị cướp đánh đập khảo của, bắt giữ để tống tiền. Nếu cung Tài xấu, thì chính đương sự là kẻ phạm pháp. Nếu đồng cung với Liêm Tham ở Tỵ Hợi, tù tội khó tránh và phải vướng mắc nhiều lần.
Thiên Hình, Lực Sỹ: ở cung Tài xấu, Hình Lực có nghĩa bần cùng sinh đạo tặc. Lực Sỹ chỉ sức mạnh cho nên thường phạm pháp bằng bạo lực và bằng dụng cụ nhà nghề như cạy cửa, đào tường, khoét vách để lấy trộm. Vì có Hình, ắt có lần bị bắt quả tang, phải vướng lao tù. Cũng vì có Lực, phạm nhân có thói quen thoát ngục bằng bạo lực. ở cung Tài xấu, hai sao này xác nhận thêm sự nghèo khó.
Hóa Kỵ: chỉ: hao tài, tán của nhưng không mạnh bằng Song Hao; bị dị nghị, đàm tiếu, tai tiếng trong việc kiếm tiền; bị cạnh tranh, đố kỵ, ghen ghét vì tiền bạc. Ngoài ra, nếu Mệnh xấu có Kỵ mà giáp Kình Đà thì cũng nghèo, lang thang tìm miếng ăn rất khổ cực.
Quan Phù, Quan Phủ, Thái Tuế: trừ phi đương số hành nghề luật sư, thẩm phán, bằng không, ba sao này chỉ sự kiện tụng vì tiền bạc, sự hao tài vì thưa kiện, sự tranh chấp tài sản giữa anh em hay với người ngoài, kéo nhau đến tòa án. Mặt khác, Quan Phù và Quan Phủ trong cung cách gian phi còn chỉ sự phản bội, sự lường gạt cụ thể như mượn tiền không trả, giật hụi, chia "chiến lợi phẩm" không sòng phẳng thường đi đến cãi vã, kiện thưa, thanh toán, trả thù. Ba sao này nếu đi chung với Đà La, Hóa Kỵ: càng nhấn mạnh cường độ của sự tranh tụng.
Liêm, Tham đồng cung: báo hiệu sự kiện thua vì tiền, có thể đi đến ngục tù.
Địa Không, Địa Kiếp hãm địa: nghèo túng, nợ nần cực khổ, thậm chí có thể ăn mày, nếu có chút của cũng tán tài, sự mất của xảy ra bất ngờ, mau chóng, liên quan đến số tiền lớn và thường đi liền với bạo hành như đánh đập, cướp giật, phá nhà, hoặc dùng thủ đoạn phi pháp như lường gạt, sang đoạt, thậm chí có khi giết người. Tóm lại, Kiếp Không có hai nghĩa chính: hoặc là vô sản, hoặc là bị họa vì tiền bạc. Đi chung với Tướng Quân, Phục Binh hay Tả, Hữu thì có thêm tòng phạm. Kiếp Không hãm địa ở cung Tài của một lá số gian hùng có nghĩa là chính mình đi cướp của, dùng thủ đoạn ám muội và táo bạo để tạo ra tiền. Cách này thường đi liền với cách ăn mày trong bối cảnh các cung Phúc, Mệnh, Thân cùng xấu.
Kình, Đà, Hỏa, Linh hãm địa: càng hội nhiều vào cung Tài thì càng nghèo khó. Các sao này thường chỉ con người rất bủn xỉn, đê tiện, chỉ biết có đồng tiền và hành động tráo trở để xoay tiền. Nếu Mệnh xấu mà giáp Kình, Đà thì cũng rất nghèo, có khi phải ăn xin.
Tuần, Triệt ở cung Tài: như Tuần Triệt ở cung Điền.
Thiên Không: phá tán, không cầm của được nhiều, không giữ của được lâu dài. Những nguyên nhân hao tán thường là bất khả kháng hoặc là hậu quả của một thủ đoạn thủ đắc tiền bạc về trước.
Thiên Giải: ở Tài Điền thì không cầm giữ của cải được nếu ở cung Tài xấu. Nếu đi với tài tinh thì sẽ có nhiều dịp may kiếm lợi.

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: CÁCH NGHÈO - NHỮNG SAO NGHÈO

Quẻ Quan Thế Âm Hà Văn Tú Ngộ Nạn

Quẻ Quan Thế Âm Hà Văn Tú Ngộ Nạn là quẻ thẻ Trung Bình trong quẻ thẻ quan âm, là quẻ số 38 !
Quẻ Quan Thế Âm Hà Văn Tú Ngộ Nạn

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Đây là điển cố thứ Ba tám trong quẻ Quan Thế Âm, mang tên Hà Văn Tú Ngộ Nạn (còn gọi là Hà Văn Tú Gặp Nạn). Quẻ Quan Thế Âm Hà Văn Tú Ngộ Nạn có bắt nguồn như sau:

Hà Văn Tú là con trai của một trung thần, từ nhỏ đã đọc sách, tính ham hiếu biết, năm mười bảy tuổi, bị gian thần Cao Tung hãm hại, cả gia đình gặp tai ương, chỉ có duy nhất Hà Văn Tú trốn thoát, bất đắc dĩ phải đi hát đạo tình kiếm sống. Một hôm, vì cha của Vương Quỳnh Trân bày tiệc mừng thọ, đã gọi Hà Văn Tú đến nhà hát đạo tình. Vương Quỳnh Trân thấy Hà Văn Tú thân thế đáng thương, lại tài mạo song toàn, liền sai a hoàn mời Hà Văn Tú đến hoa viên gặp mặt.

Do thấy cảm thương và yêu mến, nên Vương Quỳnh Trân đã tặng bạc cho Hà Văn Tú, mong cậu gắng học hành, lên kinh dự thi. Đúng lúc này, người cha đi vào hoa viên, bắt gặp tình cảnh đó, cho rằng con gái và gã trai nghèo khổ hát đạo tình đang ngầm đính ước với nhau, làm nhục đến gia phong, nên vô cùng tức giận, chiểu theo phong tục địa phương, cho Hà Văn Tú và Vương Quỳnh Trân vào bao tải, đem dìm xuống nước cho chết. Người mẹ xót thương con gái, thấy tình hình nguy cấp, vội tìm viên Tống quản đến, lệnh cho ông ta ngầm lặn xuống vớt bao tải lên, để Hà Văn Tú và con gái trốn đi nơi khác. Trên đường đi, hai người đã đính ước chuyện trăm năm.

Hà Văn Tú dẫn vợ lên kinh dự thi, trên đường đi qua Hải Ninh, gặp tên ác bá Trương Đường. Trương Đường cậy thế lực của cha là Nghiêm Tung, hoàng hành ngang ngược không sợ pháp luật, dân chúng hết sức oán hận. Hắn thèm khát nhan sắc của Vương Quỳnh Trân, muốn âm mưu chiếm đoạt, nhưng không thể thực hiện được. Trương Đường buồn bực thành ra tức giận, bèn giết chết tỳ nữ của mình, lại vu cáo là do Hà Văn Tú làm, vì thế Hà Văn Tú bị gọi đến tra hỏi. Quan tri huyện Hải Ninh tra tấn Hà Văn Tú, buộc Hà Văn Tú nhận tội, định gán tội chết cho Hà Văn Tú. Trương Đường lại đút lót quan Giải sai (người áp giải tù nhân), hòng ngấm ngầm hãm hại Hà Văn Tú, may mà quan Giải sai Vương Đức là người trượng nghĩa, đã lén thả Hà Văn Tú ra, cho cậu trốn thoát. Trương Đường hãm hại Hà Văn Tú, lại cướp đoạt Vương Quỳnh Trân. Để thay chồng báo thù, Vương Quỳnh Trân giả vờ đồng ý chuyện thành thân với Trương Đường, rắp tâm đâm chết Trương Đường trong đêm tân hôn. Nhưng kế hoạch không thành công, bèn bỏ trốn ngay trong đêm, được nữ chủ nhân của quán trà “Tật Ác Như Cừu” (ghét cái ác như thù) là bà Dương giải cứu. Để trốn tránh kẻ quyền thế, Vương Quỳnh Trân theo gia đình bà Dương trốn ở thôn Hạnh Hoa trong vườn dâu cửu Lý.

Hà Văn Tú gặp đại nạn mà không chết, đổi tên thành Vương Sát, sau ba năm, dự thi và đỗ cao, vâng mệnh nhậm chức Bát phủ tuần án ở Giang Nam. Hà Văn Tú mặc quần áo thường dân đi thị sát dân tình, tại Hải Ninh đã điều tra được rất nhiều tội ác của Trương Đường, lại tìm được tung tích của người vợ Vương Quỳnh Trân. Hà Văn Tú hóa trang thành một thầy đoán mệnh, dò hỏi được nơi ở của vợ mình. Đến nơi, thấy Vương Quỳnh Trân lập bài vị cúng tế, rất cảm động khi biết rằng Vương Quỳnh Trân vẫn tưởng nhớ tới mình, lại nhớ đến những oan ức mà hai vợ chồng gặp phải, trong lòng vui buồn lẫn lộn.

Để diệt trừ Trương Đường, Hà Văn Tú buộc phải tạm thời chưa dám nhận người vợ đã xa cách bấy lâu, chỉ biết dùng thân phận là thầy đoán mệnh để khuyên giải Vương Quỳnh Trân, lại thay vợ viết cáo trạng, sắp xếp cho Vương Quỳnh Trân đến nha môn của Tuần phủ kêu oan. Khi quan Tuần án thăng đường, Trương Đường vẫn hết sức ngạo mạn, trước rất nhiều chứng cứ xác đáng, hắn không những không nhận tội, mà ngược lại còn hổng hách uy hiếp Hà Văn Tú. Hà Văn Tú không sợ lời đe dọa “mất quan cách chức khó toàn mệnh”, cương quyết xử trảm Trương Đường. Hà Văn Tú và Vương Quỳnh Trân đã trải qua biết bao khố nạn, cuối cùng vợ chồng lại được đoàn viên.

Quẻ Quan Thế Âm Hà Văn Tú Ngộ Nạn là quẻ thẻ Trung Bình trong quẻ thẻ quan âm, là quẻ số 38 !

Quẻ này là tượng mây mù che lấp mặt trăng.
Những việc mong cầu đều không được như ý, nên giữ nguyên hiện trạng vốn có.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Quẻ Quan Thế Âm Hà Văn Tú Ngộ Nạn

Văn Khấn Lễ Đền Bà Chúa Kho (Bắc Ninh)

Văn Khấn Lễ Đền Bà Chúa Kho thường dùng vào những ngày đầu xuân, để vay tiền làm ăn, cầu tài, cầu lộc, thường là thương nhân, tiểu thương
Văn Khấn Lễ Đền Bà Chúa Kho (Bắc Ninh)

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Văn Khấn Lễ Đền Bà Chúa Kho thường dùng vào những ngày đầu xuân, khách thập phương từ mọi miền đất nước đổ về đền Bà chúa Kho (Bắc Ninh) để vay tiền làm ăn, cầu tài, cầu lộc, trong đó đa phần là giới thương nhân,tiểu thương. Họ quan niệm “đầu năm đi vay, cuối năm đi trả”, muốn nhờ vía của Bà để ăn nên, làm ra, kinh doanh phát đạt.

Sắm lễ cúng lễ Đền Bà Chúa Kho

Theo phong tục cổ truyền khi đến Đình, Đền, Miếu, Phủ nên có lễ vật có thể to, nhỏ, nhiều, ít, sang, mọn tuỳ tâm. Mặc dù ở những nơi này thờ Thánh, Thần, Mẫu nhưng người ta vẫn có thể sắm các lễ chay như hương hoa quả, oản,… để dâng cũng được.

– Lễ Chay: Gồm hương hoa, trà, quả, phẩm oản… dùng để lễ ban Phật, Bồ Tát (nếu có).
Lễ chay cũng dùng để dâng ban Thánh Mẫu.

– Lễ Mặn: Nếu Quý vị có quan điểm phải dùng mặn thì chúng tôi khuyên mua đồ chay hình tướng gà, lợn, giò, chả.

– Lễ đồ sống: Tuyệt đối không dùng các đồ lễ sống gồm trứng, gạo, muối hoặc thịt tại các ban quan Ngũ Hổ, Bạch xà, Thanh xà đặt ở hạ ban Công Đồng Tứ phủ.

– Cỗ sơn trang: Gồm những đồ đặc sản chay Việt Nam: Không được dùng cua, ốc, lươn, ớt, chanh quả… Nếu có gạo nếp cẩm nấu xôi chè thì cũng thuộc vào lễ này.

– Lễ ban thờ cô, thờ cậu: Thường gồm oản, quả, hương hoa, gương, lược… Nghĩa là những đồ chơi mà người ta thường làm cho trẻ nhỏ. Nhưng lễ vật này cầu kỳ, nhỏ, đẹp và được bao trong những túi nhỏ xinh xắn, đẹp mắt.
– Lễ thần Thành Hoàng, Thư điền: Phải dùng chay mới có phúc và những lời cầu nguyện được linh ứng.

Hạ lễ Đền Bà Chúa Kho

Sau khi kết thúc khấn, lễ ở các ban thờ, thì trong khi đợi hết một tuần nhang có thể viếng thăm phong cảnh nơi thừa tự, thờ tự.

Khi thắp hết một tuần nhang có thể thắp thêm một tuần nhang nữa. Thắp nhang xong, vái 3 vái trước mỗi ban thờ rồi hạ sớ đem ra nơi hoá vàng để hoá.

Hoá sớ xong mới hạ lễ dâng cúng khác. Khi hạ lễ thì hạ từ ban ngoài cùng vào đến ban chính. Riêng các đồ lễ ở bàn thờ Cô, thờ Cậu như gương, lược… thì để nguyên trên bàn thờ hoặc giả nơi đặt bàn thờ này có nơi để riêng thì nên gom vào đó mà không đem về.

Văn Khấn lễ Đền Bà Chúa Kho

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)

– Con xin kính lạy Tam giới Thiên chúa cập nhất thiết Thánh chúng.

– Con xin kính lạy Tam phủ cộng đồng, Tứ phủ vạn linh.

– Con xin kính lạy Thiên tiên Thánh mẫu, Địa thiên Thánh mẫu, Thủy tiên thánh mẫu.

– Con xin kính lạy Đức Chúa kho Thánh mẫu hiển hoá anh linh.

– Con xin kính lạy Đương niên hành khiển chí đức Tôn thần.

– Con xin kính lạy Đường cảnh Thành Hoàng Bản Thổ đại vương.

– Con xin kính lạy Ngũ hổ thần tướng, Thanh bạch xà Thần linh

Hương tử con là:………………..Ngụ tại:……..

Ngày hôm nay là ngày……………………………

Con sắm sửa kim ngân, hương hoa, lễ vật chí thiết một lòng thành tâm dâng lễ, sám hối cầu xin phù hộ cho hương tử con được: gia quyến bình an, cầu tài đắc tài, cầu lộc đắc lộc, bách sự cầu được như ý.
Hương tử con lễ bạc tâm thành, cúi đầu thành tâm kính lễ Chúa Kho Thánh mẫu, cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô a di Đà Phật! (3 lần)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Văn Khấn Lễ Đền Bà Chúa Kho (Bắc Ninh)

Quẻ Quan Âm Tô Tần Đắc Chí

Đây là điển cố thứ Mười lăm trong quẻ Quan Âm, mang tên Tô Tần Đắc Chí (còn gọi là Tô Tần Thỏa Chí) Quẻ Quan Âm Tô Tần Đắc Chí có bắt nguồn như sau:
Quẻ Quan Âm Tô Tần Đắc Chí

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Đây là điển cố thứ Mười lăm  trong quẻ Quan Âm, mang tên Tô Tần Đắc Chí (còn gọi là Tô Tần Thỏa Chí). Quẻ Quan Âm Tô Tần Đắc Chí có bắt nguồn như sau:

Sau khi Tô Tần theo Quỷ Cốc Tử học hành thành tựu, rất muốn gặp thiên tử nhà Chu, nhưng không có đường tiến cử. Trong lúc nóng giận, ông đã bán hết gia sản, đến các nước chư hầu tìm đường tiến thân. Nhưng Tô Tần đi khắp đông tây ròng rã mấy năm, cũng không được trọng dụng. Tiền bạc đã hết, quần áo rách nát, đành phải trở về nhà.Vợ của Tô Tần ngồi trước khung cửi, không thèm nhìn đến Tô Tần. Tô Tần xin chị dâu làm cơm cho mình, chị dâu cũng làm như không nghe, quay người bỏ đi.

Tô Tần phải chịu sự đả kích nặng nề, càng quyết tâm dùi mài sách vở, ngày ngày nghiền ngẫm sách “Âm phù” cho đến đêm khuya. Có khi đọc sách đến nửa đêm, vừa mệt vừa buồn ngủ, bèn lấy dùi tự đâm vào đùi, để thấy đau mà tỉnh táo trở lại. Khổ công như thế trong suốt hơn một năm trời, kiến thức của Tô Tần đã càng thêm sâu sắc.

Tô Tần lại tiếp tục lên đường, đầu tiên ông đến nước Tần, nhưng vẫn không được trọng dụng. Vừa đúng lúc Yên Chiêu Vương chiêu mộ hiền tài trong thiên hạ, nên Tô Tần đến nước Yên, nhanh chóng được Yên Chiêu Vương tín nhiệm. Tô Tần cho rằng, nước Yên muốn báo mối thù với nước Tề lớn mạnh, thì trước tiên phải thể hiện sự khuất phục đối với nước Tề, để che đậy ý muốn báo thù, nhằm có đủ thời gian cần thiết chấn hưng nước Yên. Sau đó, phải khích lệ nước Tề không ngừng tiến công các nước khác, nhằm đề phòng Tề tấn công Yên, đồng thời làm tiêu hao lực lượng của nước Tề. Vì thế, Tô Tần khuyên nước Tề đánh nước Tống, hợp tung để đánh Tần.

Năm 285 trước Công nguyên, Tô Tần đến nước Tề, công kích mối quan hệ giữa hai nước Tề và Triệu, được Tề Man Vương tín nhiệm, phong làm tướng nước Tề. Nhưng ông vẫn ngầm bàn mưu kế với nước Yên. Tề Man Vương không biết chân tướng sự việc, vẫn lệnh cho Tồ Tần chỉ huy binh sĩ chống lại quân đội nước Yên. Khi quân đội hai nước Tề, Yên giao chiến, Tô Tần cố ý làm cho quân nước Tề thất bại, tốn thất đến năm vạn người. Do đó, quần thần nước Tề bất hòa, dân chúng hoang mang, tạo điều kiện cho liên quân năm nước của Nhạc Nghị công phá nước Tề.

Sau đó, Tô Tần lại thuyết phục được nước Triệu liến kết với các nước Hàn, Ngụy, Tề, sở, Yên tấn công nước Tần. Vua nước Triệu rất vui mừng, ban thưởng cho Tô Tần rất nhiều báu vật. Được sự giúp đỡ của nước Triệu, Tô Tần lại đến nước Hàn, thuyết phục Hàn Tuyên Vương; đến nước Ngụy, thuyết phục Ngụy Tương Vương; đến nước Tề, thuyết phục Tề Tuyên Vương; rồi lại đến nước sở, thuyết phục sở Uy Vương. Các nước chư hầu đều tán đồng mưu sách của Tô Tần, vì thế sáu nước thực hiện hiệp ước hợp tung. Tô Tần làm Tung ước trưởng, được phong tướng sáu nước. Sau khi về đến nước Triệu, Triệu Vương phong cho Tô Tần làm Vũ An Quân. Nước Tần nhận được tin này, vô cùng lo sợ. Trong suốt mười lăm năm sau đó, quân đội nước Tần không dám đưa quân tấn công đến cửa Hàm Cốc.

Khi Tô Tần đã thanh danh hiển hách, vàng bạc muôn nghìn, tùy tùng ngựa xe đông đảo, các nước chư hầu ở phía đông Hoa Sơn đều theo nhau khuất phục. Tô Tần vổn chẳng qua chỉ là một kẻ sĩ cơ hàn xuất thân từ nơi nghèo khổ, nhưng cuối cùng đã được lên xe xuống ngựa, tung hoành thiên hạ, vào triều du thuyết vua chư hầu, uy thể lấn lướt các quan đại thần tả hữu, thiên hạ không ai có thể sánh được với ông.

Sở dĩ Tô Tần có được thành quả như vậy, là do ông đã không nản lòng trước thất bại, kiên định ý chí không chịu khuất phục, cuối cùng đã đạt được đến đỉnh cao danh vọng.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Quẻ Quan Âm Tô Tần Đắc Chí

Chọn gối cho phòng ngủ

Một chiếc gối xinh xắn, êm ái không những giúp chúng ta đi vào giấc ngủ ngon mà nó còn là vật trang trí cho căn phòng của bạn thêm vẻ ấm cúng và sinh động.
Chọn gối cho phòng ngủ

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Trước khi lựa chọn cho mình một chiếc gối thật bắt mắt và ấn tượng, bạn cần phải lựa chọn chất liệu ruột gối cho phù hợp. Tiêu chí đầu tiên của một chiếc gối tốt là phải đảm bảo được tốt nhất giấc ngủ của chủ nhân.

 
Chất liệu ruột gối rất đa dạng từ các chất liệu tự nhiên đến các loại sợi nhân tạo… Do đó, bạn hãy cẩn trọng khi đưa ra quyết định nếu trong gia đình có người bị dị ứng với các chất liệu làm ruột gối này. Khi đã quyết định lựa chọn loại gối sử dụng chất liệu nào, việc tiếp theo là bạn hãy lựa chọn độ dày và độ cứng của gối sao cho phù hợp.

Tốt nhất là bạn nên thay thế toàn bộ những chiếc gối mới sau 2- 4 năm, hoặc khi gối đã không còn giữ được nguyên hình dáng ban đầu.

Để có thể chọn cho mình một chiếc gối đảm bảo chất lượng, bạn có thể sử dụng mẹo nhỏ sau đây để kiểm tra. Đối với loại gối được làm từ các chất liệu tự nhiên như lông ngỗng chẳng hạn, bạn đặt gối xuống sàn nhà, gấp đôi chiếc gối và thả tay ra, chiếc gối tốt sẽ trở lại hình dáng như ban đầu. Với loại gối làm từ sợi tổng hợp, đặt một chiếc giày nhỏ lên bề mặt gối sau đó bỏ chiếc giày ra quan sát bề mặt gối nếu không bị lõm là gối đạt yêu cầu.

Bạn cần nhớ, loại gối lông không thể giặt bằng máy mà chỉ có thể giặt khô, còn loại gối làm bằng sợi nhân tạo có thể dùng máy để giặt. Mỗi năm gối cần được làm sạch ít nhất hai lần, còn đối với vỏ gối bạn nên thường xuyên giặt sạch hàng tháng.

Kích thước một chiếc gối tiêu chuẩn thường là 51 x 66 cm. Đối với các kiểu giường rộng thì kích cỡ những chiếc gối có thể lớn hơn một chút, gối vuông thông dụng ở châu Âu có kích cỡ 66 x 66 cm.

Những chiếc gối còn chính là những đồ vật trang trí rất ấn tượng. Bởi bản chất mềm mại và êm ái nên những chiếc gối sẽ là vật trung hòa đối với chiếc giường to lớn và chắc chắn. Để những chiếc gối có thể phát huy được vẻ đẹp của nó bạn cũng cần phải chú ý lựa chọn vỏ gối phù hợp với các phụ kiện khác như vỏ chăn, ga trải giường để tạo nên một tổng thể hài hòa về màu sắc và phong cách.

(Theo Vietnamnet)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Chọn gối cho phòng ngủ

Cách chọn vị trí tốt, xấu các phòng trong căn nhà

Kỳ trước, chúng tôi đã nói về những chỗ tốt và xấu trong một căn nhà để xác định các vị trí. Nói đúng hơn, mỗi vị trí trong căn nhà thích hợp cho một mục đích sử dụng chứ không có vị trí nào thích hợp cho mọi việc cũng như không có vị trí nào hoàn toàn xấu.
Cách chọn vị trí tốt, xấu các phòng trong căn nhà

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Vì vậy, biết được ý nghĩa của từng vị trí, ta sẽ có thể bố trí các phòng phù hợp. Ví như gỗ sung là loại thớ to, mềm, giá trị thấp, không thể làm được giường, tủ, thậm chí làm củi cũng không đắt vì khó cháy, nhiều khói. Thế nhưng các cụ ngày trước dùng gỗ sung làm cánh cổng, phòng ngừa trộm cướp lại rất đắc dụng vì gỗ nhẹ nhưng quánh, dẻo, có dùng dìu, búa bổ vào cũng không thể phá vỡ được. Ngược lại vàng tâm là loại gỗ quý thường được sử dụng làm đồ nội thất rất tốt nhưng nếu đem làm cánh cổng thì chỉ một nhát dìu đã có thể phá vỡ toang vì vàng tâm thớ mịn, mềm…

Như đã nói, nếu chia mặt bằng căn nhà làm 9 ô thì 8 ô vòng ngoài kể như 8 phòng (8 vị trí) sẽ ứng với 8 hướng, 8 quẻ trong bát quái. Lấy một ô đặt vào hướng cửa nhà thì 7 ô còn lại sẽ có các tên sau: Lục sát, Ngũ quỷ, Tuyệt mệnh, Diên niên, Họa hại, Sinh khí, Thiên y (cách xác định các vị trí này theo hướng cửa nhà đã giới thiệu ở số trước). Các tên gọi này có ý nghĩa như sau:

- Diên niên là chỗ tốt trong căn nhà, có lợi cho sức khỏe, biểu trưng của sự trường thọ. Vì vậy, đây là nơi lý tưởng để ở, làm việc, nghỉ ngơi. Với ý nghĩa đó, phòng ngủ chính đặt ở ô này sẽ rất có lợi cho sức khỏe.

- Sinh khí cũng là vị trí tiểm ẩn của sức mạnh, sự phát triển cũng bắt nguồn từ đây. Vì vậy, cần tận dụng vị trí này để tăng cường, phát huy nguồn sinh khí đạt được hiệu quả tối đa. Nên bố trí phòng làm việc, học hành ở vào vị trí này.

- Thiên y có tính hóa giải ác khí, xua đi những điều xấu, đem lại sự bình an, sức mạnh. Vì vậy vị trí này dành cho những người cần hồi phục về thể lực, tâm thần và cả của cải thì tốt.

- Ngũ quỷ là tượng trưng cho linh hồn con người lìa khỏi thể xác đi vào cõi âm. Vì vậy không nên bố trí phòng ngủ ở vị trí này mà tốt nhất là để bàn thờ tổ tiên, thờ cúng.

- Họa hại là vị trí gây tai họa, có hại cho con người. Vì vậy người ta không làm nhà bếp, nhà tắm, hay phòng của trẻ em ở đây vì có thể dễ xảy ra tai họa. Vị trí này tốt nhất là dùng làm nhà kho, chứa đồ nhưng cho dù vậy, khi tiến hành công việc gì ở đây cũng nên cẩn thận.

- Lục sát là thất sát vì theo tử vi nó là ngôi sao tách ra từ chòm sao bảy ngôi. Vị trí này có sự biến động, không liên tục, hoàn chỉnh. Vì vậy không nên bố trí phòng làm việc, phòng học ở đây vì sự nghiệp, sự học hành dễ bị chi phối, ngắt quãng, không có lợi.

- Tuyệt mệnh là điểm tận cùng của số mệnh. Vì vậy chỉ nên dành làm nơi cho người bệnh nặng hoặc cũng có thể làm nhà kho chứa đồ. Chính vì ý nghĩa đó mà số ít người Trung Hoa cổ có khi xây nhà để thiếu một góc là dụng ý đặt góc thiếu vào cửa này.

Tuy nhiên, ý nghĩa của các vị trí nói trên là theo quan niệm của thuyết phong thủy và nó cũng chỉ có ý nghĩa tượng trưng. Người xưa tin vào số mệnh, nhưng cũng chính người xưa lại cho rằng con người nhiều khi chiến thắng được số mệnh (“Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều” hay “Có trời mà cũng tại ta…” - Nguyễn Du)

Tuy vậy, chúng ta cũng nên lưu ý một điểm, việc xác định các vị trí nói trên trong một căn nhà không phải theo phương địa lý cố định mà tùy thuộc vào hướng cửa chính, các vị trí này hoàn toàn phụ thuộc vào hướng cửa. Mà cửa vào chính là hướng vận động của luồng khí. Chúng ta đều biết, lối đi, luồng gió vận chuyển trong căn nhà, tác động rất lớn đến hiệu quả làm việc, sức khỏe và sự yên tĩnh của giấc ngủ.

Thực tế dễ nhận thấy nếu bố trí phòng học, làm việc gần nơi nhiều người qua lại sẽ bị phân tán suy nghĩ, vì vậy hiệu quả làm việc, học tập không cao. Cũng như vậy, giường ngủ kê ở nơi có luồng gió thốc vào (dân gian gọi là “gió lùa”) rõ ràng là không có lợi cho sức khỏe, nhất là mùa đông dễ gây cảm lạnh, “trúng gió”… Vì vậy, việc xác định các vị trí trong căn nhà với ý nghĩa như trên biết đâu chẳng là kinh nghiệm đúc kết từ thực tiễn đời sống của người xưa?

Thụy Văn


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Cách chọn vị trí tốt, xấu các phòng trong căn nhà

Ông Bà Tổ Tiên

Giá trị văn hóa, phong tục tập quán của người Việt liên hệ với việc truyền giáo Lm Vũ Kim Chính, SJ Giáo sư Ðại Học Công Giáo Phụ Nhân, Ðài Loan
Ông Bà Tổ Tiên

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Ðề cập tới văn hóa, phong tục của một dân tộc là một đề tài hết sức phức tạp, vì mỗi dân tộc không ít thì nhiều là một đơn vị đặc thù, dầu vậy tính cách đặc thù văn hóa này không khải là cô lập, nhưng là kết tinh vừa tế nhị vừa phức tạp qua sự giao tiếp với các dân tộc khác, với những nền văn minh khác. Văn hóa, phong tục tập quán của nfười Việt cũng thế, là những tinh hoa đã được gạn lọc, biến hóa qua cuộc sống dân tộc của biết bao nhiêu thời đại, qua việc tiếp xúc với nền văn minh, những nguồn tư tưởng sâu rộng nhất, mạnh mẽ nhất của nhân loại như Hoa-Ấn, Hy-La. Ở đây khi chọn đề tài "Ông bà tổ tiên" liên hệ với việc truyền giáo, chúng ta đã thu hẹp phạm vi không thảo luận những liên hệ Lão giáo và Phật giáo, nhưng chỉ chú tâm vào Nho giáo và Kitô giáo có liên quan tới vấn đề "lễ nghi" đối với ông bà tổ tiên. Trước tiên chúng ta truy xét lý do tại sao người Việt thành kính ông bà tổ tiên, thứ tới thảo luận lý do người Việt Công giáo trong quá trình lịch sử gặp phải những khó khăn khi bầy tỏ lòng thành kính này theo như phong tục tập quán của mình. Cuối cùng chúng ta tự hỏi có thể học được gì trong kinh nghiệm lịch sử này để hy vọng có thể suy tư về một thần học bản vị hóa việc thành kính ông bà tổ tiên?

1. Nguồn Gốc Tôn Kính Ông Bà Tổ Tiên

Tuy ai cũng biết mỗi người, mỗi gia đình đều có ông bà tổ tiên riêng, nhưng nói tới việc tôn kính ông bà tổ tiên cách chung là chấp nhận những điểm tương đồng của những nền văn hóa Viễn Ðông trong lịch sử ít nhiều đã chịu ảnh hưởng của Nho học, như Trung Hoa, Ðại Hàn, Nhật Bản, Việt Nam. Nên ở dây khi bàn về nguồn gốc tôn kính ông bà tổ tiên hay ở phần sau thảo luận những tranh chấp về "lễ nghi" thì những tài liệu của các quốc gia trên đều có thể dùng để bổ túc cho nhau để hiểu rõ vấn đề.

Việt ngữ dùng danh từ "tôn giáo" để chỉ chung các tín ngưỡng. Chữ "tôn" cũng còn một âm nữa là "Tông" nguyên ủy chỉ ông "thứ tổ" (ông tổ thứ hai), rồi dùng rộng hơn nữa để chỉ nơi thờ kính tổ tông, cũng như chỉ các giáo phái, học phái. Như vậy, "tôn giáo" theo ngữ văn là thực hiện lòng hiếu kính đối với tổ tông, tổ tiên. Lòng hiếu kính này được biểu tỏ nôm na theo lối bình dân như:

"ăn quả nhớ kẻ trồng cây,
uống nước nhớ tới nguồn"
, hoặc:

"Công cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra,
Một lòng thờ mẹ kính cha,
Cho tròn đạo hiếu mới là đạo con"
.

Hay Nguyễn Du viết trong truyện Kiều:

"Tâm thành đã thấu đến trời,
Bán mình là hiếu, cứu người là nhân"
.

hay ở đoạn khác:

"Lấy tình thâm, trả tình thâm,
Bán mình đã động hiếu tâm đến trời"
.

Như vậy căn nguyên tôn kính ông bà tổ tiên ở đâu? Phải chăng là một sự tôn kính "Thần Thánh" theo phẩm trật? Như sách Lễ Ký, thiên Khúc-lễ-hạ đã chép: "Thiên tử tế thiên địa, tế tứ phương, tế sơn xuyên, tế ngữ tự, chư hầu phương tự, tế ngũ tự (tức là tế Thần cửa, ngõ, giếng, bếp và giữa nhà), chư hầu tế phương mình ở, tế ngũ tự, quan đại phu tế ngũ tự, kẻ sĩ tế tổ tiên). Thực ra đây là những phương châm cho những nền văn hóa chịu ảnh hưởng Khổng học, nên dù ở Thiên An Môn bên Trung Hoa hay ở Ðàn Nam Giao tại Huế, việc tế trời chỉ có nhà vua mới có quyền đứng chủ tế. Trong lễ tế Nam Giao, trên Viên-Ðàn ở giữa là bàn Thời Trời Ðất, hai bên có hai hàng hương án song hành thờ các Tiên Ðế. Xem như thế, thừ Vua quan tới thứ dân, tế tự là việc rất quan trọng, lễ nghi được minh định có trật tự, chung qui vào hai nguyên ủy là Trời và Tổ, vì "vạn vật bản hồ Thiên, nhân bản hồ Tổ" (Lễ ký) (dịch: muôn vật gốc ở Trời, người gốc ở Tổ). Nhưng thực ra hai nguyên ủy này chỉ bắt nguồn bởi một mà thôi, vì các Tổ Tiên tuy sinh ra người, nhưng tất cả đều do Trời sinh dưỡng, như Kinh Thi chép: "Thiên sinh chưng dân, hữu vật hữu tắc dân chi bỉnh di, hiếu thị ý đức" (Trời sinh ra dân, có hình phép, dân giữ tính thường, mới có đức tốt).

"Ông Trời" là nguyên ủy của muôn loài, nên tế Trời là quan trọng nhất, do đó không phải ai cũng được phép mà chỉ có Thiên Tử, dân chi phụ mẫu, mới được trực tiếp hành lễ mà thôi. Ông Trời tuy rất gần kề đại chúng trong cuộc sống, khi vui khi buồn đều có thể gọi "Trời ơi" được, nhưng họ không được phép trực tiếp cúng tế, nên thường kêu cầu tới Tổ Tiên hay cúng tế các thiểu thần. Chính vì thế mà Trần Trọng Kim đã viết: "Việc thờ Trời, thờ quỉ thần và tổ tiên, tuy là phân biệt, nhưng kỳ thực cũng là theo một lý cả, và chính là cái tôn giáo đặc biệt của những dân tộc theo văn minh Tầu ở Á đông". Dù được trực tiếp tế tự "Trời" hay chỉ gián tiếp qua Thần Thánh, tổ tiên, người Việt đều tin tưởng vào sự liên đới "Thiên nhân tương dữ". Theo đó con người được phú cho nhân tính để nhận ra thiên lý, để mô phạm Thiên tính, để trong cuộc sống họ thực thi nhân đạo hợp với Thiên đạo. Nói cách khác: "Trời đối với quần chúng như một nguyên ủy tiền định con người, nhưng vượt trên con người, định đoạt sinh tử, phúc họa, giầu nghèo. Họ kêu Trời vì Trời không xa ta. Trời thấu suốt tất cả, cả những tâm tư thầm kín. Họ kêu Trời vì Trời toàn năng, không mù quáng trong việc xét xử. Trời công minh vì thưởng kẻ lành, phạt kẻ dữ".

Nho gia thừa hưởng tư tưởng Khổng tử tin Trời là chủ tể vũ trụ, điều hòa mọi biến hóa bởi vậy tri Thiên mệnh là nguồn gốc và lý tưởng của tu tâm và dưỡng tính của bậc quân tử". "Bất tri mệnh vô dĩ vi quân tử dã" (Luận Ngữ; Nghiêu viết, XX) (dịch: không biết mệnh Trời thì không lấy gì làm quân tử). Khi bậc quân tử quyết tâm học biết và tuân theo mệnh Trời tức là sống trong tâm tình Kính và Thành. Mặc dù khi họ cúng tế thì biểu tỏ lòng chân thành: "tế thần như thần tại" (Luận Ngữ: Bát dật, III) (dịch: tế thần như có thần ở đó); nhưng đồng thời "kính quỉ thần nhi viễn chi" (Luận Ngữ: Ung giả, VI) (dịch: quỉ thần thì kính mà xa ra), vì theo Khổng tử con người làm sao biết được thế giới quỉ thần cao xa, u ẩn, nếu có tưởng tượng ra không khỏi bầy ra những điều huyền hoặc, dẫn đường cho mê tín. Như vậy, Khổng tử tuy rất trọng lễ, coi nghi thức là bày tỏ lòng Thành Kính, nhưng đồng thời cũng coi thực hành đạo Nhân là sống Thành Kính hợp với Thiên mệnh là rất quan trọng. "Quân tử thể nhân túc dĩ trưởng nhân, gia hội túc dĩ hợp lễ, lợi vật túc dĩ hòa nghĩa, trinh cố túc dĩ sự" (Kinh Dịch:Văn Ngôn truyện) (dịch: quân tử lấy cái nhân làm thể là đủ làm trưởng thành cho người, hợp các cái tốt đẹp là đủ làm cho hợp lễ, lợi cho vạn vật là đủ làm hòa cái nghĩa, biết cái trinh-chính mà cố giữ là đủ lam gốc cho mọi sự). Vậy đạo Nhân là gì? "là Cung, khoan, tín, mẫn, huệ". Khổng tử giải thích thêm: "Cung thì không khinh nhờn, khoan thì được lòng người, tín thì người ta tin cậy được, mẫn thì có công, huệ thì đủ khiến được người" (Luận Ngữ: Dương Hóa, XVII). truy ngồn năm cái kết quả diễn đạt đạo Nhân này, chúng ta sẽ tìm ra cái Nhân Tâm Thành Kính. Tam đạo là quan trọng như thế, nên sau này, mặc dù Mạnh tử và Tuân tử mỗi người phát huy Khổng học theo đường hướng riêng, một người coi trọng "Nhân" là bảo tồn tính bản thiện của con người, một người trọng "Lễ" để chế ngự tính bản ác của người, nhưng tất cả hai đều công nhận sự trọng yếu của tâm đạo: bảo tồn lương tâm (Mạnh Tử), tu dưỡng tâm tri (Tuân tử). Ði xa hơn nữa, Mặc tử phê bình chỉ trích Nho đạo cũng vì trong thực tế tâm đạo đã bị nghi lễ tha hóa làm mất tính cách phổ biến của tâm đạo vậy.

Ðạo hiếu là một đặc tính của đạo tâm, làm cho con người tỏ lòng Thành Kính đối với cha mẹ, tiền nhân, nên chỉ nuôi dưỡng cha mẹ mà không có lòng hiếu thảo thì làm sao gọi là hiếu được! Lòng hiếu thảo này phụng sự cha mẹ lúc các ngài còn sống, tang lễ nếu các ngài quá cố: "sống thì lấy lễ mà thờ, chết thì lấy lễ mà táng, lấy lễ mà tế" (Luận Ngữ: Vi chính II). Hiếu đễ đối với cha mẹ tức là kính những người cha mẹ đã tôn trọng, yêu những người cha mẹ đã yêu mến, lễ tế những bậc cha mẹ đã lễ tế. Ðó là nguồn gốc của tôn kính tổ tiên vậy. Bởi đó Tăng tử nói: "Thận chung, truy viễn, đức qui hậu hĩ" (Luận Ngữ: Học Nhi, I) (dịch: cẩn thận lúc cha mẹ chết, nhớ đến tổ tiên xa, thì cái đức của dân trở nên hậu).

Tư tưởng đạo hiếu đã thấm nhuần vào lòng người Việt trở thành một phần quan trọng của Việt tính. Kính bái tổ tiên là chân nhận giới vô hình và hữu hình luôn luôn có sự liên lạc mật thiết với nhau. Ðó là cách diễn tả sự hiệp thông giữa ông bà cha mẹ và con cháu, giữa người sống và cả chết, là dịp đoàn tụ của đại gia đình. Quan niệm vong hồn gia tiên luôn gần gũi với con cháu được diễn tả bằng nhiều cách khác nhau. Ðại đa số quần chúng Việt Nam được coi là theo "đạo Ông Bà" thường có phong tục làm lễ cáo gia tiên, trong mọi tuần tiết, hoặc ngày kị giỗ, hoặc khi có việc hiếu hỉ, tang chay. Toan Ánh diễn giải thêm: Những biến cố quan trọng trong gia đình, lẽ tất nhiên gia trưởng đều có lễ cáo gia tiên, như: sinh con cái, con cái đầu cữ, đầy tháng, đầy năm, con cái bắt đầu đi học, sửa soạn đi thi, thi đỗ, dựng vợ gả chồng cho con... hay nhiều khi chỉ sửa sang lại nhà cửa, nhất là những di sản của tiền nhân để lại. Vui đã thế, buồn cũng khấn trình tổ tiên để các ngài biết và phù hộ, như việc làm ăn thua lỗ, có người đi xa, có người mệnh một... Ngoài những biến cố trong gia đình ra, gia trưởng cũng kính cáo những việc quan trọng khác xẩy ra trong làng nước, như làng có cướp tới, đất nước sinh loạn lạc hay những tin vui trong thôn xã,... Tất cả những kính cáo, trình khấn trên mục đích để tổ tiên hiệp thông hay phù trợ trong những khi vui cũng như lúc buồn. Tùy từng trường hợp, tùy từng gia cảnh mà sửa soạn lễ. Nhiều khi gia chủ chỉ cần sửa soạn cái lễ nhỏ, như chén trà, đĩa xôi, nải chuối. Cũng có khi lễ lạc linh đình. Toan Ánh kết luận: "Con cháu nhớ đến tổ tiên thì cúng, năng cúng bái càng tỏ rõ lòng hiếu thảo của mình đối với các cụ. Sống khôn chết thiêng, các cụ thấy con cháu hiếu kính, ất vong hồn cũng vui mừng".

Nói tới cúng vái tổ tiên tức là phải nói tới bàn thờ gia tiên. Bàn thờ này mặc dù trang trí có khác nhau, nhưng đại để đều có bài vị, bình hương, nến sáp... Nếu là bàn thờ họ thường đặt trong miếu đường, chính giữa có bàn thờ riêng thờ ông "Thủy Tổ" của dòng họ. Còn các bàn thờ biệt tông, biệt phái khác trong mỗi ngày giỗ kỵ của tông, phái mình mới được bày ra. Trên bàn thờ Thủy Tổ luôn có cuốn gia phả ghi rõ danh tánh các chi nhánh dòng họ. Nhiều khi gia phả này được ghi khắc trên tường sau bàn thờ Thủy Tổ.

Quần chúng tuy một đàng muốn bày tỏ lòng hiếu kính mình đối với tổ tiên, nhưng họ không thể phân biệt rõ ràng như những nho sĩ "vụ dân chi nghĩa, kính quỉ thần nhi viễn chi", nên thực hành đạo hiếu và thờ quỉ thần đã trở thành lẫn lộn. Vì muốn bảo vệ phần mộ ông cha, nên nhớ tới Thần Thổ Công, Thần Hà Bá. Ngoài ra còn có những thần tại gia khác như: Thần Tài, Thần Tiên Sư (hay Thánh Sư, Nghệ Sư, tức là ông tổ mỗi nghề), Ðức Quan Thánh... để bảo vệ che chở mình hay giúp phát tài,... Chính vì thế mà khi các nhà truyền giáo Tây Phương tới Việt Nam hay Trung Hoa gặp phải những khó khăn làm sao thấu hiểu tinh thần, nhất là về tinh thần "lễ nghi" tôn kính ông bà tổ tiên.

2. Tôn Kính Tổ Tiên Liên Hệ Tới Việc Truyền Giáo:

Lịch sử truyền giáo ở Việt Nam cũng như ở Trung Hoa bắt đầu bằng những bước dò dẫm, va chạm những khó khăn về phiên dịch, vì hai loại ngôn ngữ biểu tả hai văn hóa quá khác nhau, nên không biết phải làm sao mới có thể đạt tới việc "bản vị hóa" chân chính được. Thoạt đầu những nhà truyền giáo tiên khởi dùng ngôn ngữ địa phương để phiên âm những từ căn bản của Kitô giáo, như thánh Phanxicô Xavier đã Nhật âm hóa tiếng Latinh: Deus Pater, Deus Filius, Deus Spiritus Sanctus là: Deusu Patere, Deusu Hiiruo va Deusu Spiritusu Santa (có khoảng 50 ngữ vựng căn bản như thế). Nhưng cách phiên âm này đã gặp những khó khăn lớn, vì hoặc là âm đó có một nghĩa khác trong ngôn ngữ là "Deusu" làm trò cười cho nhiều Phật đồ Nhật, vì họ liên tưởng tới một âm tương tự là "daiuso", có nghĩa là "Nói dối đại tài". Thấy cách phiên âm này không ổn, nên các nhà truyền giáo kế vị các bậc tiên khởi này như A. Valignano, M. Ricci, A. Schall, A. de Rhodes v.v... đã học hỏi ngôn ngữ và tư tưởng địa phương để Kitô giáo được thích ứng với môi trường mới. Trong lúc phiên dịch và thích ứng này đã xảy ra cuộc tranh chấp về "lễ nghi". Cuộc tranh chấp này mặc dù đầu tiên là bàn về hai phương pháp truyền giáo được hai phe (một bên là dòng Tên, một bên là dòng Ðaminh, dòng Phanxicô và hội Thừa Sai Balê) chủ trương, nhưng dần dần đã vượt qua phạm vi thuần túy truyền giáo và tôn giáo trở thành một tranh chấp bị những ảnh hưởng chính trị, quyền bính chi phối, nên đã trở thành một tấm bi kịch của lịch sử truyền giáo ở Viễn Ðông. Ở đây chúng ta chỉ có thể chú tâm tới những dự kiện chính yếu mà thôi.

Trước tiên chúng ta bàn về vấn đề phiên dịch. Sau khi thảo luận những khả thể dịch chữ, "Deus", các nhà truyền giáo đã đồng ý dùng chữ "Thiên Chúa". Nhưng dùng cách thế nào để giải thích chữ "Thiên Chúa" thì hai phe có những lập trường khác nhau. Một bên cho rằng dùng chữ "Thiên Chúa" để chỉ Deus thì phải hiểu hoàn toàn khác, hoàn toàn độc lập, không thể dùng một từ ngữ nào như "Thiên", "Thượng Ðế" để diễn giải được, vì "Thiên" theo ý họ "chỉ có nghĩa là bầu trời" (ciel materiel et visible), còn quan niệm "Thượng Ðế" là quan niệm dân ngoại thường dùng, nếu ta dùng sẽ rơi vào giới "vô thần" như dân ngoại. Một bên khác cho rằng chữ "Thiên Chúa" mặc dù là chữ ghép mới để chỉ Deus, nhưng có thể dùng những quan niệm sẵn có trong kinh điển Trung Hoa xưa như "Thiên", "Thượng Ðế" để người Trung Hoa có một mấu cứ để thăng hóa, nhờ đó mới dễ dàng hiểu rõ nghĩa thực sự của "Thiên Chúa" được. Thực ra, hai bên dùng hai phương pháp thần học cổ điển vẫn dùng là: phương pháp "phủ nhận" (via negotiva) và phương pháp "sánh loại" (via analogia). Ðứng trên phương pháp học không có chi đáng bàn cãi, nhưng động lực nao khiến họ chọn hai phương pháp này để nói lên thái độ của họ đối với nền văn hóa địa phương. Ðó mới là điều quan trọng. Dù sao đi nữa, sự kiện xẩy ra trong lịch sử là: Giám Mục Charles Maigrot, đặc sứ tông tòa ở Phúc Kiến đã nhân danh Thánh Bộ truyền giáo tuyên bố: từ ngữ "Thiên Chúa" phải được dùng để chỉ chữ "Deus" còn những tiếng khác như "Thiên" và "Thượng Ðế" thì không được dùng.

Ðối với người Công Giáo Việt Nam hiện nay, ta dùng chữ "Thiên Chúa" trong văn chương, nhưng cũna dùng chữ "Ðức Chúa Trời" theo nghĩa bình dân để chữ "Deus". Trong khi đó những người không Công Giáo thường dùng "Ông Trời" (Trung Hoa dùng chữ Lão Thiên) để chỉ Ðấng Tối Cao. Thực ra, quan niệm "Trời" không phải chỉ là "bầu trời", nhưng cũng là "Hóa Công", đấng sinh thành vũ trụ, vì vậy tại sao chúng ta không thể dùng những quan niệm đã có sẵn trong kinh điển Trung Hoa, đã được nhiều người biết tới để giải thích một quan niệm chí ư "trừu tượng", đối với họ hoàn toàn mới lạ như Deus. Phải chăng phản đối dùng những quan niệm như "Thượng Thiên", "Hiển Thiên", "Hoàng Thiên", "Thượng Ðế" để giải thích chữ "Thiên Chúa", vì các nhà truyền giáo sợ người Trung Hoa, Việt Nam không hiểu xác thực được nghĩa Deus của Kitô giáo, hay là các nhà truyền giáo đó đã không hiểu rõ được những quan niệm trên trong tư tưởng Trung Hoa? Trần Văn Hiến Minh còn đi xa hơn nữa, khi ông quả quyết: "Quan niệm một Tiên Chúa có ngôi vị, Thượng Ðế là một trực giác đầu tiên của người Trung Hoa từ xa xôi bao ngàn năm trước. Tất cả cuộc sống Trung Hoa cổ kính đều qui hướng vào đó". Ðề mục họ Trần nêu ra có thể là một đề tài thảo luận hào hứng, nhưng vượt qua phạm vi của bài nói chuyện này. Dù "Thượng Ðế" theo người Trung Hoa hiểu có "ngôi vị" hay không, cũng không thể là lý do chính đáng không dùng những quan niệm đó để "giải thích" tiếng "Thiên Chúa" được.

Như vậy ta thấy được tranh luận về mấy danh từ trên không phải chỉ là một cuộc thảo luận lý thuyết thần học hay ngôn ngữ, văn chương, nhưng là tỏ rõ đường hướng của hai phe đối với vấn đề truyền giáo: giáo hội có thể dùng di sản văn hóa của địa phương để diễn đạt giáo lý, nghi lễ của mình hay không? Mà được phép dùng tới mức nào? Tại sao có thể dùng hay bị cấm dùng như vậy?

Bây giờ chúng ta trực tiếp đề cập tới cuộc tranh luận "lễ nghi". Vấn đề chính của cuộc tranh chấp này là câu hỏi: lễ nghi đối với tổ tiên là "tôn thờ" tổ tiên vì nghi thức này có tính cách tôn giáo. Tôn thờ tổ tiên là những người theo "đạo Ông Bà". Nói cách khác, nghi lễ tôn thờ này được cử hành trong những nơi nhất định (chủ đường hay tông đường hoặc tại gia, trước bàn thờ tổ), có những qui định riêng (thành văn hoặc bất thành văn) và đối tượng của đạo này là "tôn thờ Bài Vị" của những người quá cố, Bài Vị này là chỗ của các Hồn người quá cố "cư ngụ". Khi hành lễ gia trưởng chắp vái hay quì lạy, dâng hương, báo cáo, cầu xin trước bàn thờ vong linh có đốt nến và bày những lễ cúng như hoa quả, bánh rượu... lễ nghi này cũng giống như lễ nghi trước phần mộ khi mai táng hay trong các dịp kỵ lễ. Sau khi đã mô tả những chi tiết trên, cộng thêm sự ghi chú những tính cách tôn giáo của đạo ông bà, các vị thừa sai này đã đặt những câu hỏi xin thánh bộ giải quyết, như: xin hỏi người Kitô hữu có được phép cử hành những nghi lễ và dâng cúng trước bài vị theo như tập tục ở chủ đường hoặc nơi phần mộ hay trước linh cửu? Và nếu họ được phép làm như vậy thì họ có thể tham dự với dân ngoại hay hành lễ một mình? Hay câu hỏi: Người Kitô hữu có được dựng bài vị tổ tiên ở trong nhà mình với chữ khắc "Thần Chủ" không? Dĩ nhiên những câu hỏi này đã được sửa soạn bằng những "mô tả" hàm xúc một câu trả lời phủ nhận. Có người còn đi xa hơn nữa, coi việc "Tôn thờ tổ tiên" ở Trung Hoa giống hệt như việc thờ phượng các thầ Manes xưa ở Hy lạp hay La Mã: "Theo lịch xưa của người La Mã khi thời thờ ẩu thần còn hiển trị, có nhắc tới một dịp lễ gọi là "Feralia", bắt đầu từ 20 tháng 2 kéo dài tới cuối tháng 2. Lễ này là dịp tôn thờ các Thần Manes. Dân ngoại đem thịt đặt trên mộ các người quá cố để họ hưởng, như tiến sĩ Varron đã giải thích. Ðó cũng là những việc mà những người Trung Hoa hành lễ ở các chùa chiền, trên phần mộ hay trong tư thất trước bài vị tổ tiên". Sự so sánh này đặt người hữu trách trước một sự lựa chọn không thể chối được: Nếu xưa giáo hội đã hủy bỏ phong tục thờ tà thần Manes, tại sao ngày nay lại có thể cho phép làm như thế ở trung Hoa. Lý chứng này càng ảnh hưởng tới người hữu trách khi người đó không hiểu thấu hiện trạng phức tạp ở miên Viễn Ðông.

Trong khi đó, phe khác coi nghi lễ đối với ông bà tổ tiên là sự "tôn kính" bày tỏ lòng hiếu đễ của con cái đối với bậc tiền nhân, dù khi còn sống hay đã quá cố. Trước tiên họ nhận định những nghi lễ trong các chùa chiền hay trước những thần tượng bày rải rắc khắp nơi là có tính cách tôn giáo và nhuốm nhiều màu sắc mê tín, dị đoan. Họ cũng công nhận thái độ mê tín này có thể ảnh hưởng tới việc tôn kính tổ tiên, nếu không được giải thích minh bạch giữa nơi tôn thờ và tôn kính: Ngược với "chùa miếu" là nơi tôn thờ các thần thánh, "đường" nơi có tính cách "trung tính" (có thể dùng liên quan tới tôn giáo hay không). Do đó, "chủ đường" hay "tông đường" (hay nói nôm na là "chỗ dành cho tổ tiên") là "nơi" kính nhớ ông bà tổ tiên để tỏ lòng biết ơn với những người quá cố, cũng như phong tục tập quán địa phương có những "nơi" riêng trọng kính các vị tiền bối lúc sinh thời. Còn Bài Vị thực ra không phải là "bàn thờ" thực, nhưng thường là một thanh gỗ được sửa soạn tươm tất ở trên đó có ghi danh tánh ông bà tổ tiên được bày trên án hương. Tuy Bài Vị "là biểu tượng" cho vong linh người quá cố, nhưng không phải là chỗ "cư ngụ" của hồn linh đó. Các vị này giải thích: trong quá khứ người Trung Hoa có thói quen tìm một người "thay thế" cho một người thân quá cố. Phong tục này được chuyển hóa bằng việc dùng bài vị như là biểu tượng của người quá cố ở giữa con cái. "Bài vị được dựng nên không phải để đánh dấu sự hiện hữu của một linh hồn mà người ta tin rằng linh hồn đó cư ngụ ở bài vị, nhưng đúng hơn là để thức tỉnh một thái độ luân lý và sự biểu tượng này có thể coi như sự hiện diện của một thân xác". Trong khi đó, việc "hóa" vàng giấy, đốt những đồ vật làm bằng giấy cho tổ tiên dùng là những điều mê tín, dị đoan cần cấm bỏ. Ngược lại, những cử chỉ bái lạy hay quỳ gối là những cung cách người Trung Hoa thường dùng để tỏ lòng tôn kính đối với bậc trên, dù những người này còn sống hay đã qua đời. Ðiều đáng chú ý là, chính vua Khang Hy ngày 30.11.1700 đã tự tay chứng thực bản văn do các cha dòng tên thảo nói những lễ nghi tôn kính Khổng Tử, tổ tiên là những hình thức bày tỏ lòng thành kính mà thôi: "Nói là Khổng Tử được thờ phượng để xin sự khôn ngoan hay để xin được thăng chức hay thêm bổng lộc là không đúng... Dựng bài vị tiền nhân quá cố không có nghĩa là linh hồn tổ tiên được nghĩ là thực sự ngự trị trong miếng gỗ này... Mục đích thực sự của nghi lễ tôn kính tổ tiên là con cháu trong một dòng tộc không được phép quên, nhưng luôn luôn tưởng nhớ tới tổ tiên cho đến muôn đời". Nhưng lời chứng thực của vị hoàng đế trung Hoa, người có thẩm quyền nói lên ý nghĩa thực sự của phong tục tập quán, đã không được tòa thánh thời đó lưu ý tới.

Trên đây là lược thuật tổng quát lập trường của hai phe phái về vấn đề đối với tổ tiên có liên hệ đến việc truyền giáo. Cuộc tranh chấp "lễ nghi" này đã tạm thời kết thúc khi Ðức Giáo Hoàng Clement XI ngày 20.11.1704 đã quyết định:

- Cấm dùng chữ "Thiên" hay "Thượng Ðế" để giải nghĩa "Thiên Chúa". Theo đó không được dùng "mensa seu altare" (bàn thờ) để "kính Thiên" trong nhà thờ.

- Người Kitô hữu không được phép tổ chức hay tham gia những lễ nghi theo như phong tục đối với Khổng Tử hay những người quá cố. Do đó cũng không được phép lập "chủ đường", miếu đường", cũng không được phép dâng lễ vật trong miếu đường hay gia thất vì những nghi thức này liên hệ tới mê tín ("tamquam superstitione inseparabilia"). Tông huấn (Ex illa die) đã được quyết định, đã được đặc sứ tòa thánh, Hồng Y De Tournon mang sang Trung Hoa để ban hành. Sau ba lần De Tournon hội kiến với Hoàng Ðế Khang Hy, Tông huấn đã không được chính thức ban hành cho tới ngày 19.3.1715 mới được Giám Mục đầu tiên của địa phận Bắc Kinh Charles Castorano ban hành. (Trong khi đó De Tournon đã mất ngày 8.6.1710 ở Macao). Tông huấn "Ex illa die" được chính thức ban hành gây ra nhiêu phản ứng khác nhau, nhưng khi phải quyết định phát thệ "chống lễ nghi" theo chỉ thị của tòa thánh, các nhà truyền giáo đã anh dũng bỏ lập trường riêng để chấp nhận tông huấn "Ex illa die". Về phần Khang Hy, ông thấy Công Giáo chống đối lễ nghi và tập tục Trung Hoa đối với Khổng Tử và tổ tiên, đã đổi thái độ từ thân thiện sang nghịch thù. Nhưng cuộc tranh chấp chưa kết thúc, vì chính Ðức Clement XI lại sai một đặc sứ khác là Charles Ambrose Mezzabarba, tân giáo phụ của Alexandria tới Bắc Kinh ngày 26.12.1720. Sau khi đã hội kiến, lắng nghe các nhà truyền giáo báo cáo và đã được tiếp kiến Hoàng Ðế, C. A. Mezzabarba đã trở về Maccao và thảo một bức thư mục vụ ca ngợi tinh thần phục tùng và thống nhất của các nhà truyền giáo, đồng thời đã liệt kê "Tám điều được phép" để dễ dàng thực hành mục vụ. "8 điều được phép này" đã được ban hành ngày 4.11.1721, nới rộng những điều cấm ngặt của tông huấn "Ex illa die". Tỉ dụ: được lập "bài vị" trên đó chỉ được phép ghi tên người quá cố. Tất cả các lễ nghi trung Hoa đối với tổ tiên nếu không pha trộn mê tín mà chỉ có tính cách "dân sự" (Civil) thì đều được phép tổ chức hay tham dự. Hay là: được phép dùng nến, hương, hoa quả, để tỏ lòng tôn kính và biết ơn đối với người quá cố... "8 điều được phép này" đã làm sống lại cuộc tranh chấp "lễ nghi" một lần nữa, nhất là sau khi đặc sứ C.A. Mezzabarba đã trở về Âu Châu. Một đàng khác, Dũng Thành kế vị Khang Hy được một năm thì ra chỉ thị trục xuất những nhà truyền giáo trừ những người được mời ở lại. Tình trạng hỗn độn này cuối cùng đã được chấm dứt với Tông huấn "Ex Quo Singulari" do Ðức Benedictus XIV ban hành ngày 11.1.1742. Tông huấn này là tông huấn cuối cùng cấm ngặt "lễ nghi" đối với tổ tiên và rút lại tất cả những điều cho phép trước kia. Ðức Benedictus XIV đã minh định: "không phải xấu vì bị cấm, nhưng bị cấm vì xấu".

3. Bàn Về Việc Tranh Chấp "Lễ Nghi"

Trong quá trình tranh chấp như chúng ta thấy ở trên khó mà phân định được "bị cấm vì xấu" hay "xâu vì bị cấm". Ngay cả khi đã bị cấm nhưng trên thực tế chỉ là tránh né vấn đề hơn là giải quyết vấn đề. Bằng chứng là sau gần 200 năm bị cấm ngặt, ngày 8.12.1939 thánh bộ truyền giáo đã hủy bỏ việc bắt các nhà truyền giáo phải tuyên thệ chối bỏ "lễ nghi" mà tông huấn năm 1742 đã đòi buộc và đồng thời tuyên bố các Kitô hữu và các nhà truyền giáo ở trung Hoa, Việt Nam... đối với việc tôn kính Khổng Tử và tổ tiên cần có một cái nhìn "mới". Cái nhìn mới này sau công đồng Vaticanô II đã trở thành một khía cạnh quan trọng để thành lập một nền thần học bản vị hóa. Như vậy Bản vị hóa không những chỉ được phép mà phải được khuyến khích. Ðứng trên một thái độ mới này nhìn lại lịch sử tranh chấp chúng ta dễ có cái nhìn khách quan hơn.

Trước tiên chúng ta nhận định "mạch sống" của hai phe. Một bên đứng trên quan điểm của người trí thức, của tân nho gia đời Minh, để tìm hiểu ý nghĩa của các nghi lễ. Nếu lễ nghi đối với hổng Tử, tổ tiên thuộc về tôn kính hơn là tôn thờ thì hiển nhiên thuộc về phạm vi luân lý hơn là tôn giáo. Quả thực các nhà trí thức Trung Hoa đã hiểu như thế, vì vậy lập trường của các nhà truyền giáo này đã được Hoàng Ðế Khang Hy chứng thực. Chúng ta thấy hiện nay những "lễ nghi" tưởng niệm Khổng Tử hay các vị tiên đế đã mang một ý nghĩa hoàn toàn "dân sự". Các nhà trí thức Việt Nam như Trần Văn Chương, Hồ Ðắc Diễm, Nguyễn Văn Huyên, Trần Trọng Kim v.v... cũng cho những nghi lễ tôn kính ông bà là bày tỏ lòng con cái hiếu thảo đối với tổ tiên, là hành động muốn luôn tưởng nhớ tới tổ tiên mà thôi. Vì thế cúng bái ông bà tổ tiên theo như tập tục không phải là hành động của "niềm tin", nghĩa là qua đó cắt nghĩa một sự mầu nhiệm liên quan tới sự sống và sự chết, cũng không phải là hành động "phi lý" nhưng là những củ chỉ "tự nhiên" (theo phong tục tập quán của một nền văn hóa) do tấm lòng hiếu thảo thôi thúc. Cũng vì thế những việc dâng hương cúng quả, tiến rượu bày cỗ trước Bài vị không mang một ý nghĩa phụng dưỡng vật chất nào cả. Quan trọng nhất là vì nhớ tới ông bà tổ tiên nên con cái cháu chắt thấy họ có bổn phận phải sống như một người tốt, một tôi trung, một đệ tử thành tín, một người chồng gương mẫu, một người vợ hiền, một người con thảo... để khỏi làm nhơ danh tiền nhân. Ðây là quan niệm tôn kính tổ tiên trong mạch suấng của trueỳn thống nho học đặt nặng trên bổn phận luân lý.

Trong khi đó các nhà truyền giáo khác đứng trên phương diện của giới bình dân coi việc tôn kính ông bà tổ tiên là một lễ nghi tôn giáo, vì vậy họ nghĩ rằng cho phép cử hành những nghi thức này tức là hỗn hợp các tôn giáo, làm tha hóa, làm tha hóa Kitô giáo và làm hoang mang lòng các tín hữu. Do đó, họ xin tòa thánh qui định rõ ràng để dễ thực hành mục vụ. Ở đây ngôn ngữ là vấn đề then chốt. Nhưng để giải quyết nạn ngôn ngữ thiếu minh bạch mà cấm dùng ngôn ngữ đó thì không phải là giải pháp thỏa đáng, vì nếu không dùng chữ "Thiên" để giải thích "Thiên Chúa" thì khi dùng chữ "Thiên Chúa" người địa phương cũng không thể hiểu khác hơn mạch sống văn hóa của họ được. Cũng vậy, gọi Khổng Tử là "Thần nhân" thì ý nghĩa của chữ "Thần" này không thể hiểu theo một mạch văn hóa khác được (tỉ dụ như thánh nhân theo nghĩa hẹp của Giáo Hội Công Giáo). Cũng thế, những hạn ngữ như "Altare", "Sacrificium", genuflectio, templum... là những từ ngữ tùy theo nền văn hóa Âu Châu hay Trung Hoa, Việt Nam mà mang một ý nghĩa khác nhau. Nếu dùng cái nhìn của nền văn hóa Âu châu phán đoán những hiện trạng của nền văn hóa Á Châu tức là đã tách những dự kiện, hình ảnh tượng trưng ra khỏi mạch sống văn hóa. Nếu hai nền văn hóa đó quá khác nhau và chưa hiểu nhau được, thì làm sao tránh khỏi được những ngộ nhận. Nếu quyền phán quyết dành cho một phía khi chưa thấu triệt vấn đề thì phán đoán đó làm sao tránh khỏi những thiên kiến?

Tóm lại, cuộc tranh chấp "lễ nghi" nói lên những khó khăn mà một thần học bản vị hóa trong một môi trường cụ thể đã gặp phải và dần dần vượt qua. Cuộc tranh chấp trên không những chỉ bộc lộ hai phe đứng trên hai phạm vi khác nhau để nhìn một vấn đề mà cũng đứng trong những giai đoạn tiến tới thần học bản vị hóa khác nhau, nên gặp nhau trong đối thoại. Sự tranh chấp lễ nghi trở thành một thảm kịch trong lịch sử truyền giáo ở Viễn Ðông, vì giải quyết sự tranh chấp đã không nằm trong mạch sống đó, nhưng ở ngoài và ở trên mạch sống văn hóa, nên không thấu đáo được những nhu cầu sống của giáo hội địa phương.

Như vậy, đề cập tới vấn đề "Ông Bà Tổ Tiên" có liên quan tới việc truyền giáo tức là phản tỉnh một nền thần học bản vị hóa. Bản vị hóa không có nghĩa là chỉ hội nhập và chấp nhận những gì có sẵn trong nền văn hóa đó, nhưng đồng thời cũng thăng hóa những giá trị đó. Vậy theo đó ý nghĩa của lễ nghi đối với ông bà tổ tiên là gì? Nếu chỉ coi lễ nghi đối với tổ tiên là cách bày tỏ lòng hiếu đễ, tức là thực thi một bổn phận luân lý, thì chưa chứng minh lý do tại sao con người đòi buộc phải thực hành luân lý như vậy. Nếu ta coi sự đòi buộc đó là một sự tự minh (self-evident) thì hoặc là rơi vào chủ nghĩa độc đoán (dogmatism) hoặc chủ trương thuyết "vô tri thức" (agnosticsm) như khuynh hướng của một số nhà nho tân thời ở Ðài Loan hiện nay. Cả hai khả thể trên chỉ là né tránh vấn đề mà không giúp chúng ta hiểu tại sao con người phải thi hành bổn phận luân lý với tổ tiên. THực ra khi những nhà truyền giáo dòng Tên chủ trương coi lễ nghi tôn kính ông bà thuộc phạm vi luân lý, họ tin rằng một khi đã tìm ra ý nghĩa nguyên ủy và chính yếu của lễ nghi này, họ có thể giáo dục quần chúng gọi bỏ những mê tín mọc rườm rà bên ngoài và cuối cùng có thể biến hóa những bổn phận luân lý đó cho họp với niềm tin Kitô giáo. Như vậy, mặc dù học nhấn mạnh "lễ nghi" này thuộc phạm vi luân lý, nhưng ngầm xác định cn bản của luân lý không thể tách rời khỏi niềm tin tôn giáo được. Mối liên hệ giữa luân lý và tôn giáo này có thể dùng tư tưởng sẵn có trong kinh điển Trung Hoa như niềm tin "Thiên nhân tương dữ" và "vạn vật bản hồ thiên, nhân bản hồ tổ" để giải thích. Theo đó tôn kính ông bà không thể độc lập với việc Kính Thiên, nhưng cũng không thể đặt ngang hàng với việc Kính Thiên, nhưng cũng không thể đặt ngang hàng với việc kính Thiên được, vì con người cũng là thành phần của vạn vật mà nguyên ủy của vạn vật là Thiên. Hiểu như thế, việc tôn kính ông bà tổ tiên không những không phản với đạo Công Giáo mà còn bộc lộ được tính cách đặc biệt đông phương, đạo hiếu của người Việt, đồng thời qua việc đưa hành động tôn kính này hòa hợp với tinh thần Kitô giáo, chúng ta vừa thăng hóa vừa qui tụ những giá trị luân lý và những hình thức bày tỏ trên về cội gốc của muôn loài: chúng ta hiếu thảo cha mẹ vì Chúa là Cha chúng ta đã dậy như thế. Nói cách khác, một khi việc tôn thờ "Trời". "Thượng Ðế"... những danh từ chỉ Thiên Chúa ẩn hình (Deus absconditus) được niềm tin do Ðức Kitô mặc khải soi chiếu, canh cãi và hoàn hảo hóa, thì những hành động có tính cách nhân bản của một nền văn hóa cũng được xác định và thăng hóa theo đúng mức nahn bản của nó.

4. Kết luận

Thảo luận việc tôn kính ông bà tổ tiên liên hệ tới việc truyền giáo là dịp may hiếm có để chúng ta suy tư về một khía cạnh của nền thần học bản vị hóa Việt Nam. Trong bài học lịch sử trên chúng ta nhận ra hậu quả của một cuộc tranh chấp lễ nghi mà đã bị tách rời khỏi mạch sống văn hóa và bị phán quyết do những người chưa thấu đáo ý nghĩa của nó. Tấm bi kịch này là một điển hình của bước khó khăn trong cuộc gặp gỡ của hai nền văn hóa cổ truyền, mạnh mẽ nhưng khác nhau, khi hai nền văn hóa đó thiếu uyển chuyển nên ngăn cản việc thăng hóa tới một hợp đề bao gồm một nền nhân bản phong phú hơn. Sau công đồng Vaticanô II việc tích cực tìm hiểu nền văn hóa địa phương, xác định những giá trị nhân bản chân chính của những tôn giáo khác, những luồng tư tưởng khác trở thành một nhu cầu thường nhật của mỗi giáo hội địa phương. Chúng ta nghiên cứu việc tôn kính ông bà tổ tiên liên hệ với việc truyền giáo ở Việt Nam, ở Trung Hoa, không phải để nuối tiếc một dịp may đã qua, nhưng quan trọng hơn là tìm thấy những ý nghĩa có liên quan tới cuộc sống đạo hiện tại của chúng ta. Nói cách khác sau khi đã nhận định lòng hiếu thảo là một giá trị nhân bản căn bản của nền văn hóa ảnh hưởng nho học, và ý thức được những lễ nghi tôn kính khác với những mê tín dị đoan, chúng ta tự hỏi, chúng ta có thể thực hiện những hình thức, "lễ nghi" nào để biểu tỏ lòng thành kính, hiếu đễ của chúng ta? Nhưng để những nghi thức đó không rơi vào trạng thái "vụ hình thức" "cố chấp" chiếu lệ. điều quan trọng nhất là tấm lòng người Việt thành kính mà chúng ta có thể gọi là "Tâm Việt". Tâm Việt đối với ông bà tổ tiên là một khía cạnh biểu lộ của Tâm Việt. Khía cạnh này không thể tách rời khỏi lòng thành đối với Thượng Ðế được, nếu không Tâm Việt này sẽ thiếu nguồn sống và trở thành độc đoán. Bởi đó Tâm Việt là nguồn sống của "Việt tính". Dĩ nhiên Tâm Việt này còn có thể biểu lộ theo những cách thế khác tùy theo ta nhìn từ Phật Giáo hay Lão Giáo mà trong bài này chúng ta không có dịp để bàn tới. Có Tâm Việt như vậy chúng ta mới có thể bước thêm một bước nữa là đi tìm một hợp đề của Tâm Việt trong môi trường cụ thể mà chúng ta đang sống ở hải ngoại này. Hợp đề này là một mức độ nhân bản cao hơn vì nó được cải hóa và bổ túc do hai nền văn hóa khác nhau. Tiên chuẩn canh cải và hoàn thiện này không gì khác hơn là một nhân bản thuần túy: Hiện Thân của một mẫu mực Thiên Nhân tương dữ, Thiên Nhân hợp nhất, Thiên Chúa Nhập Thể.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Ông Bà Tổ Tiên
Click to listen highlighted text! Powered By DVMS co.,ltd