Mơ thấy người cha đã qua đời: Áp lực trong sự nghiệp hay nỗi lo về sức khỏe –
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
Xem tiểu vận trong lá số tử vi cần phải kết hợp với xem đại vận trong 10 năm hiện tại của bạn,tiểu vận thường nương theo đại vận,ví như đại vận của bạn tốt mà tiểu vận cũng tốt thì năm đấy sẽ gặp nhiều điều thuận lợi,còn như đại vận xấu mà tiểu vận năm tốt thì cái tốt đấy cũng bị giảm đi nhiều,đồng thời tiểu vận là sự hiện rõ đại vận trong một năm về các biến cố ,thông qua các sao trình bày ở dưới đây để luận đoán biến cố trong năm là gì
Thấy sao tốt mà không bị hung tinh phá, không bị Tuần Triệt cản, mới thật được tốt.
Thấy sao xấu, nhưng có sao giải (Khoa, Lộc, Quan Phúc; Khôi Việt, Tồn) hay sao cản (Tuần, Triệt, Tài, Thọ) thì tai hoạ giảm xuống hoặc tránh được.
-Có biến cố trọng đại trong năm:
Đẩu Quân
-Vận thi đậu, thăng tiến công danh:
Xương, Khúc
Khôi, Việt
Khoa, Quyền, Lộc
Tả, Hữu, Tứ Linh
Long, Phượng, Hổ, Cái
Mã ngộ Tràng Sinh
Mã khốc khách
Đào, Hồng, Hỷ
Phụ, Cáo
-Vận phái tài làm giầu:
Tham Vũ Lộc đồng cung
Song Lộc
Lộc Mã
Kiếp, Không (miếu)
Hoả, Linh (miếu)
Vận thành hôn:
Tầ, Hữu, Long, Phượng, Nhật, Nguyệt Đào, Hồng, Riêu, Hỷ Hỷ Thần, Thanh Long
-Vận thành hôn:
Tả , Hữu ,Long, Phượng, Nhật, Nguyệt
Đào, Hồng, Riêu, Hỷ
Hỷ Thần, Thanh Long
-Vận sinh con:
Thai, Sinh, Vượng; Tả, Hữu; Hồng, Đào, Long, Phượng
Thiên Hỷ, Hỷ Thần, Thanh Long
Vận đến cung Dương, có Nam Đẩu nhiều sao Dương: Sinh con trai
Vận đến cung Âm, có Bắc Đẩu, nhiều sao Âm: Sinh con gái
Cung Dương, Bắc Đẩu hay cung Âm, Nam Đẩu: Cứ theo nhiều sao Dương hay nhiều sao Âm mà đoán là sinh trai hay sinh gái. Cung Vô Chính Diệu: Xem Chính Diệu cung xung chiếu. Xem cả hai vợ chồng mới đúng.

- Vận tù tội:
Sát, Hình, Phá Liêm Hình, Liêm Phẩ Liêm Tham (ở Tỵ Hợi)
Bạch Hổ + Đường Phù (Các cách trên, thêm raên Không, Không Kiếp, Cô Quả, Lưu Hà, Kiếp Sát p
rô hơn)
-Vận tán tài:
Đại Tiểu Hao (hãm)
Kình, Đà
Lương thêm sát tinh
Vận phát và tán:
Song Hao (miếu)
-Vận thay đổi:
Đồng
Mã
-Vận ốm đau:
Kinh, Đà
Không, Kiếp
- Vận lừa gạt tai hoạ nặng:
Kinh, Đà
Không, Kiếp
- Vận tang thương:
Khốc Hư, Tang, Điếu,Hổ
Cô, Qủa
-Vận chết:
Đại vận xấu báo hiệu sự chết. Và đại tiểu vận trùng phùng.
Hoặc tiểu vận có những sao nặng như đại vận hoặc những sao nặng khác cộng thêm vào
Cộng với hàng Can của năm khắc hàng Can của tuổi
Bạn có thể xem thêm các tuổi khác bằng tiện ích tra cứu: Xông đất đầu năm 2017
Bạn có thể xem thêm màu sắc phong thủy bằng tiện ích tra cứu : Xem phong thuy
Bạn có thể xem thêm lá số tu vi bằng tiện ích tra cứu : Xem tu vi## kính chúc mọi người năm mới an khang thịnh vượng !
Thuật xem bói nốt ruồi của người xưa giúp chúng ta phát hiện ra nhiều bí ẩn của bản thân.
Người có nốt ruồi, như núi có rừng, đất có nước. Núi có tốt mới có rừng, đại diện cho điềm lành. Đất không tốt nên mọc cỏ dại, đại diện cho điều xấu.
Nhưng có người cho rằng người có nốt ruồi được ví như ngọc quý có tì vết, thường xuất hiện ở những người có số mệnh không tốt. Thuật xem bói nốt ruồi có quan điểm về nốt ruồi rất khác nhau. Người có bản tính tốt thì có nốt ruồi lạ, biếu hiện cho may mắn. Người có bản tính xấu thì chắc chắn có nốt ruồi xấu, biểu hiện cho sự bất hạnh. Người nào có nốt ruồi đen mọc ở nơi dễ thấy đa số là bất hạnh, mọc ở nơi kín đáo thì là gặp may, mọc ngay trên khuôn mặt là bất lợi.
Thuật xem bói cho rằng :
Nốt ruồi lạ là một nét đẹp của đá quý. Nốt ruồi xấu lại là tì vết.
Quan sát bằng mắt, có thể thấy được sự khác biệt về màu sắc. Cảm nhận bằng tâm, có thể biết được sự kỳ lạ của vị trí nốt ruồi. Những nốt ruồi có màu vàng đen và xanh lá cây đa số là do các tế bào sắc tố tạo thành, màu vàng đen biểu hiện trên bề mặt da, xanh lá cây nằm bên dưới da. Còn các nốt ruồi màu đỏ (còn gọi là nốt ruồi chu sa hay nốt ruồi son) được hình thành bởi sự khuếch trương của mạch máu. Sau đây là các bài ca quyết xưa nói về nốt ruồi.
1. Về tài lộc
Diện vô ác chí cổ nhân ngôn,
Nhất cú năng bình phúc họa môn,
Quả kiến tần tần sinh nhạc độc,
Bất thanh hồn xứ dã tiêu hồn.
Ý nghĩa: Những người không có nốt ruồi xấu trên khuôn mặt đa số đều có tài lộc hộ mệnh.
2. Về điềm lành
Diện như bích ngọc chí như hà,
Bích ngọc hà sinh tự bất gia,
Đắc đắc kỳ hà thành dị vật,
Chí viển diệu xứ sắc chu sa.
Ý nghĩa: Nếu khuôn mặt là một viên ngọc quý thì nốt ruồi là tì vết trên viên ngọc đó. Nhưng nếu là nốt ruồi lạ thì lại trở thành điều hiếm hoi, là điềm tốt lành. Nếu nốt ruồi này có màu sắc như chu sa, vận may đó càng tốt.
3. Về đại cát đại lợi
Chí hiềm lộ diện tối nghi tàng,
Lộ diện vô tai hữu họa ương,
Điểm điểm thân trung đa cát triệu,
Châu viễn ngọc nhuận bất tầm thường.
Ý nghĩa: Nốt ruồi tốt kín đáo là tốt. Nốt ruồi xấu hiện trên khuôn mặt là xấu. Trên thân mình có nhiều nốt ruồi thì đại cát, gặp nhiều vận may.
4. Về vận may
Chí như hắc tất tính chu hồng,
Ta tủ diện gian vận diệc thông,
Tối phạ tiêu hoàng vi bạch sắc,
Vô câu nam nữ hại kỳ trung.
Ý nghĩa: Nốt ruồi có nhiều màu sắc khác nhau. Nếu là màu đen và màu đỏ thì vận may sẽ tốt. Còn nếu là vàng đen hay trắng là bất lợi.
5. Về điều xấu
Ác chí sinh thành bất khả y,
Tung nhiên y đắc đới vi tì,
Khuyến quân quảng tích âm công hảo,
Ngọc khiết băng thanh khỉ hữu khuy.
Ý nghĩa: Nốt ruồi xấu do trời sinh nên không thể xóa đi, dù có xóa được cũng để lại tì vết. Cách tốt nhất là làm nhiều việc thiện để có được một tâm hồn thanh thản.
Phong thủy có mục đích là giảm sự căng thẳng và tránh các vấn đề nguy hại cho tâm trí và cơ thể bạn. Vì thế, bạn hãy chọn cho mình những đồ nội thất hình tròn, bao gồm cả bàn làm việc. Các cạnh sắc lẹm, góc nhọn thường được gọi là "mũi tên độc", không tốt về phong thủy vì nó ngăn chặn năng lượng tích cực lưu thông cân bằng và tự nhiên. Bên cạnh đó, nếu vô tình bị va đập phải, những góc chọn có thể gây ra đau đớn.
|
| Sự nghiệp của bạn sẽ bị ảnh hưởng bởi các "mũi tên độc" trong phòng làm việc |
Bạn hãy xem mình như là nữ hoàng, vua trên ngai vàng quyền lực. Khi ngồi trên một chiếc ghế thoải mái, có thể điều chỉnh độ ngả, độ cao và thật êm, khả năng làm việc của bạn sẽ được tăng lên đáng kể.
|
| Trong phong thủy bàn làm việc, lựa chọn một chiếc ghế phù hợp và thoải mái rất quan trọng |
Nếu để ý văn phòng của những CEO có sự nghiệp thành công, bạn sẽ thấy vị trí đặt bàn làm việc giúp chủ nhân "nhìn thấy" tất cả mọi thứ. Đặt bàn làm việc ở một vị trí quyền lực, nơi bạn có thể nhận được ánh sáng vừa đủ của cửa sổ, nhìn rõ cửa chính và sau lưng là một bức tường vững chắc công việc của bạn sẽ hanh thông. Cách bố trí này sẽ giúp bạn có một tầm nhìn xa cho tương lai phía trước và nhận được sự hỗ trợ vững chắc từ các hậu phương đằng sau.
|
| Vị trí đặt bàn làm việc đẹp nhất là nơi có thể nhìn bao quát căn phòng và sau lưng có tường dựa vững chắc |
Bạn hãy vức bỏ danh sách những công việc đã làm, biên lai cũ, hóa đơn, tạp chí, sơn móng tay, đồ ăn, thư và bất cứ thứ gì không thuộc về bàn làm việc.
|
| Bạn nên dọn dẹp bàn làm việc thường xuyên |
Bạn cần đặt đúng vị trí mỗi đồ vật để dễ dàng tìm thấy mỗi khi cần. Việc làm này sẽ giúp công việc của bạn hiệu quả hơn và tránh được cảm giác khó chịu và lãng phí thời gian khi không thể tìm thấy đồ vật bạn cần.
|
| Nên sắp xếp văn phòng phẩm đúng vị trí của nó |
Dù không gian nhỏ hay lớn, bạn cũng có thể áp dụng phong thủy vào bàn làm việc. Điều quan trọng là luôn giữ không gian sạch sẽ, gọn gàng và thỉnh thoảng trang trí để không gian tươi mới, tốt lành hơn.
(Theo Eva)
1.
2. Trước nhà có tảng đá hay vật nhọn chiếu vào thì gia chủ dễ bị thương tổn. Nếu ở hướng Nam của nhà có vật nhọn chiếu vào thì nhà dễ bị hỏa hoạn.
3. Trước cửa nhà là một hố nước hoặc một ao nhỏ là rất hung (xấu), gia đình không hòa thuận, gặp nhiều chuyện thị phi.
|
| (Ảnh chỉ mang tính minh họa) |
4. Nhà ở gần bãi rác (càng lớn càng hung) thì dễ xảy ra tiêu cực, sức khỏe kém, con cái ngỗ nghịch.
5. Trước cửa nhà hoặc trong sân có 2 cây bắt chéo nhau sẽ khiến gia đình không hòa thuận, vợ chồng dễ có chuyện tình cảm bất chính.
6. Nhà ở đối diện với khu vui chơi giải trí thì ảnh hưởng xấu đến việc hình thành nhân cách của trẻ.
7. Nhà ở hoặc cửa hàng có đoạn đường cong trước mặt thì gia chủ rất dễ gặp nguy hiểm như tai nạn, phá sản; con cái ngỗ ngược...
8. Trước cửa có cây to sẽ ngăn cản dương khí vào nhà, âm khí sinh sôi. Người sống trong nhà này dễ sinh bệnh tật, dễ bị sét đánh vào nhà.
9. Nhà ở hoặc cửa hàng không nên ở chính giữa ngã ba đường. Nếu là phố rộng thì gọi là lộ xung, nếu là phố hẹp thì gọi là lộ sát. Hai trường hợp này gọi là lộ không vong, đều khiến gia chủ dễ lâm vào cảnh bị phá sản hoặc bị kiện tụng.
(Theo Bí mật gia cư)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
1. Tướng Lông Mày hình 1 - Người không tham vọng quyền lực

Những người có kiểu lông mày tự nhiên như thế này thường không màng danh lợi, mà chỉ nghĩ đến cuộc sống bình yên là cái đích cuối cùng. Bạn cho rằng việc đấu đá, tranh giành khiến họ mệt mỏi, chịu nhiều áp lực, trong khi với tài năng của mình, bạn thừa sức tạo ra của cải để sống dư giả.
Tuy nhiên, bạn lại tỏa ra lức lôi cuốn đến lạ kỳ, và luôn có sức ảnh hưởng tới những người xung quanh. Vì vậy, cơ hội để nắm bắt quyền lực lại đến với bạn rất nhiều. Nếu chấp nhận nắm bắt, bạn sẽ làm rất tốt trên cương vị lãnh đạo.
2. Tướng Lông Mày hình 2 - Người tham vọng Quyền lực

Bạn thích được “đeo mặt nạ” cho bất kỳ những gì mình làm để mọi thứ trở nên hoàn hảo. Bạn quyết đoán và có tố chất vạch ra hướng đi cho cả tập thể đông người. Bạn sở hữu tài năng diễn thuyết, lôi cuốn người khác. Tất cả những tốt chất của một người lãnh đạo đều hội tụ ở bạn.
Quan trọng hơn cả, bạn có đam mê và ham muốn được đứng ở vị trí lãnh đạo. Vì vậy, bạn sẽ đoạt về mình mọi cơ hội, tranh thủ sự hậu thuẫn của mọi người để leo lên ghế ngồi danh dự. Trên thực tế, nếu được coi trọng, bạn chẳng tiếc công sức để cống hiến cho tập thể tốt.
3. Tướng Lông Mày hình 3 - Thông Minh và thích quyền lực

Tính cách nổi trội của bạn là thông minh, hóm hỉnh và biết cách đọc tâm lý đối phương. Dù tầm hiểu biết còn hạn chế ở một số lĩnh vực không phải thế mạnh, nhưng bạn vẫn tự tin, xoay sở giỏi trong mọi tình huống. Nói về quyền lực, bạn rất thích thú và tỏ rõ quan điểm muốn được đặt vào vị trí lãnh đạo.
Bạn tự tin cho rằng chỉ khi ở vị thế cao nhất, mọi tố chất của mình mới được phát huy. Nếu chỉ làm một người bình thường, thì cuộc sống sẽ cơ cực, phí phạm tài năng nên phấn đấu bằng mọi giá phải có danh vọng từ khi còn rất trẻ.
4. Xem Tướng Lông Mày hình 4 - Nổi loạn và chống đối quyền lực

Không đến mức bạn chống lại cả thế giới, mọi nguyên lý theo lẽ tự nhiên, nhưng bạn thích làm mọi việc theo cách của riêng mình. Bạn tin rằng nếu điều gì đó không hữu ích, thì cần gạt bỏ và thay đổi. Tính cách phóng khoáng của bạn khó tồn tại trong môi trường gò ép với nhiều nguyên tắc.
Kết quả là bạn chẳng những không tham vọng quyền lực, mà còn chống đối lại để sống, làm việc theo cách của riêng mình. Dù vậy, bạn vẫn đối xử với mọi người bằng lòng kính trọng nên không bị cô lập.
Đây là điển cố thứ Mười một trong quẻ Quan Âm, mang tên Thư Tiến Khương Duy (còn gọi là Viết Thư Tiến Cử Khương Duy). Quẻ Quan Âm Thư Tiến Khương Duy có bắt nguồn như sau:
Khương Duy sinh năm 202, mất năm 264, tự là Bá Ước, là người có tài văn võ song toàn hiếm thấy, ở huyện Ký, quận Thiên Thủy ông là một tướng lĩnh quân sự và một nhà quân sự nối tiếng của nhà Thục Hán thời Tam Quốc. Khương Duy ban đầu là Trung lang tướng ở quận Thiên Thủy của Tào Ngụy, sau đầu hàng Thục Hán, làm quan đến chức Thứ sử, Đại tướng quân ở Lương Châu.
Khương Duy mồ côi từ khi còn nhỏ, sống cùng với mẹ. ông ham thích kinh học của Trịnh Huyền, có tài năng hơn người. Cha của Khương Duy là Khương Quýnh từng làm chức Công tào trong quận, khi các tộc Khương, Nhung làm loạn, Khương Quýnh đích thân bảo vệ cho Quận Thái thú mà tử trận. Vì vậy, nhà Ngụy ban cho Khương Duy làm Trung lang, tham gia vào việc quản lý quân sự trong quận.
Mùa xuân năm Kiến Hưng thứ 6 nhà Thục Hán (năm Thái Hòa thứ 2 nhà Ngụy, tức năm 228), Gia Cát Lượng Tân đầu khởi binh ờ núi Kỳ Sơn, sai Triệu Vân, Đặng Chi chiếm cứ Ký Cốc, giả vờ theo đường Tà Cốc, tấn công huyện Vân, đế chế ngự quân chủ lực của nước Ngụy. Ngụy Minh Đế Tào Tuấn sai Tào Chân chỉ huy các cánh quân ở Quan Hữu, bố trí quân đội hùng mạnh phòng bị ở huyện My, còn Gia Cát Lượng đích thân chỉ huy đại quân tấn công núi Kỳ Sơn.
Lúc này, quan Thái thú quận Thiên Thủy của nước Ngụy là Mã Tuần đang đưa Khương Duy và một vài người là quan Công tào Lương Tự, quan Chủ bạ Doãn Thường, quan Chủ ký Lương Kiền cùng với quan Thứ sử Ung Châu là Quách Hoài đi thị sát các vùng. Sau khi nghe tin quân Thục đến Kỳ Sơn, các huyện đều hưởng ứng, Quách Hoài liền quyết định đi về phía đông, trở về Thượng Khuê phòng bị. Mã Tuần nghi ngờ bọn Khương Duy có lòng dạ khác, đang đêm trốn theo Quách Hoài đến Thượng Khuê. Khương Duy phát hiện Mã Tuần đã bỏ đi, vội vàng đuổi theo sau, đáng tiếc là đã chậm một bước, đến khi bọn Khương Duy đến Thượng Khuê thì cống thành đã đóng, không cho họ vào trong thành. Bọn Khương Duy lại trở về huyện Ký, huyện Ký cũng không cho họ vào thành. Đám Khương Duy không còn đường đế đi, chỉ còn cách đầu hàng
Gia Cát Lượng thấy Khương Duy gan dạ tài trí, bèn phong làm Thương tào duyện, rồi thăng Phụng nghĩa tướng quân, sau lại phong làm Dương đình hầu. Lúc này Khương Duy hai mươi bảy tuổi.Gia Cát Lượng viết thư gửi cho quan Trưởng sứ Lưu Duệ và quan Tham quân Tưởng Uyển, hết lời khen ngợi Khương Duy, lại nói rằng: “Khương Bá Ước là người trung thành, cần cù, suy nghĩ sâu xa, xem xét những điều kiện của người này, thì những người như Vĩnh Nam (tức Lý Thiệu), Quý Thường (tức Mã Lương) cũng không sánh được. Người này thực sự là bậc thượng sĩ ở đất Lương Châu. Trong thư còn nói rằng: “Trước tiên nên giao cho huấn luyện năm sáu nghìn bộ binh Trung Hố. Khương Bá Ước rất giỏi về quân sự, vừa can đảm có nghĩa khí, lại am hiểu việc binh. Trong lòng người này có nhà Hán mà tài năng lại hơn người, cho huấn luyện quân đội, nên đưa vào cung yết kiến chúa thượng. Không lâu sau, Khương Duy liền được thăng chức làm Trung giám quân, Chinh tây đại tướng quân.
Gia Cát Lượng sau đó sáu lần đem quân đánh Kỳ Sơn, mắc bệnh nặng, tính mạng lâm nguy, đã đem bộ binh thư hai mươi tư thiên do mình viết ra truyền lại cho Khương Duy, hy vọng Khương Duy có thể tiếp nốl được chí của mình. Tháng tám, Gla Cát Lượng bị bệnh mà mất trong doanh trại tại cánh đòng Ngũ Trượng (nay ờ phía tây nam huyện My thuộc tỉnh Thiểm Tây), quân Thục giữ bí mật không phát tang, chỉnh đốn quân đội rút lui. Dân chúng vùng này thấy quân Thục đi hết, bèn báo vớỉ Tư Mã Ý, Tư Mã Ý xuất binh đuối theo. Khương Duy lệnh cho Dương Nghị quay cờ nối trống, làm ra vẻ quay lại nghênh đón. Tư Mã Ý cho rằng đã trúng kế, vội vã thu quân về, không dám đến gần. Sau khi Khương Duy về Thành Đô, nhận chức Hữu giám quân, Phụ Hán tướng quân, thống lĩnh quân đội, rồi sau được phong làm Bình Tương hầu.
Trường thọ, danh tiếng và tiền tài chính là ba yếu tố tốt đẹp nhất của vận may mà con người luôn tin tưởng sẽ có được nhờ Phúc, Lộc, Thọ - ba vị thần đại diện cho lĩnh vực tài lộc. Giống như hầu hết các giải pháp phong thủy, ba vị thần Phúc, Lộc, Thọ mang đến những điều mà con người hy vọng trong nhiều thế kỷ qua, đó là sự giàu có, quyền lực và may mắn bên cạnh cuộc sống khỏe mạnh và lâu dài.
Tượng ba vị thần Phúc, Lộc, Thọ khi nhìn vào không giống với một giải pháp phong thủy mà là một cái gì đó sẽ mang lại may mắn, sự giàu có và hạnh phúc, đương nhiên còn có cả sức khỏe tốt và thành công. Vì vậy, về mặt này có thể nói rằng ba vị thần Phúc, Lộc, Thọ đáp ứng cùng một mục đích giống như các giải pháp phong thủy tài lộc phổ biến khác.
Phúc, Lộc, Thọ - ba vị thần biểu tượng cho sự may mắn, giàu có và tuổi thọ.
Ba vị thần Phúc, Lộc, Thọ có điểm gì khác nhau? Tại sao bạn nên chọn ba vị thần đại diện cho vận may (còn được gọi là ba vị thần thông thái hoặc ba vị thần bất tử) để trưng bày trong nhà hoặc văn phòng làm việc? Ba vị thần này có được con người thờ cúng hay không? Có nguyên tắc nào cần tuân theo ghi trưng bày tượng thần Phúc, Lộc, Thọ hay không? Hãy cùng khám phá.
Câu chuyện về ba vị thần Phúc, Lộc, Thọ
Theo nhiều nguồn phong thủy khác nhau, có rất nhiều truyền thuyết về ba vị thần Phúc, Lộc, Thọ. Một trong những truyền thuyết phổ biến nhất dựa trên niềm tin rằng ba vị thần chính là hiện thân của những năng lượng thiên đường cụ thể đã có sẵn vì lợi ích của con người.
Phúc thần chủ về may mắn, sức khỏe và hạnh phúc. Tương truyền, ông Phúc là một quan thanh liêm của triều đình. Theo quan niệm xưa, nhà đông con là nhà có phúc nên đôi khi còn thấy có một đứa trẻ đang nắm lấy áo ông Phúc, hoặc nhiều đứa trẻ vây quanh ông hay là có hình ảnh con dơi bay xuống ông (dơi phát âm giống "phúc").
Sự hiện hữu của ba vị thần Phúc, Lộc, Thọ đảm bảo cho gia chủ sức khỏe, sự thịnh vượng và tài lộc.
Lộc thần hay Thần Tài chủ về sự giàu có, thịnh vượng. Theo truyền thuyết, ông Lộc được sinh tại Giang Tây, sống trong thời Thục Hán của Trung Quốc, ông còn là một quan lớn của triều đình, có nhiều tiền của. Ông thường mặc áo màu xanh lục vì trong tiếng Hoa, "lộc" phát âm gần với "lục", hoặc thường có một con hươu đứng bên cạnh (hươu cũng được phát âm giống "lộc").
Thọ thần chủ về sự sống lâu. Vị thần này gắn liền với hình ảnh là một ông già râu tóc bạc trắng, trán hói và dô cao, tay cầm quả đào, bên cạnh thường có thêm có con hạc.
Cách trưng bày tượng ba vị thần Phúc, Lộc, Thọ
Tượng ba vị thần Phúc, Lộc, Thọ luôn luôn được đặt ở những vị trí cao ráo và có năng lượng tốt, ví dụ như đặt trên một chiếc bàn cao trong phòng khách hoặc trên một chiếc kệ cao tại văn phòng làm việc. Đặt tượng Phúc, Lộc, Thọ ở những vị trí và bề mặt thấp, trong phòng bếp, phòng tắm hay phòng ngủ đều được đánh giá là sự thiếu tôn trọng và rất xấu theo phong thủy.
Lưu ý trưng bày tượng Phúc, Lộc, Thọ ở vị trí trang trọng nhất trong nhà để tỏ lòng tôn kính và thu hút được nhiều vượng khí hơn.
Ba ông Phúc, Lộc, Thọ luôn được đặt cạnh nhau, không bao giờ tách rời và theo thứ tự cụ thể. Bên trái luôn luôn là ông Phúc với tất cả nguồn năng lượng phước lành và may mắn. Ở giữa là ông Lộc với niềm tin về sự thành công và tài chính ổn định. Ông Thọ luôn ở bên trái, mỉm cười và ban tặng những món quà của tuổi thọ và cuộc sống yên bình.
Mặc dù được gọi là thần nhưng ông Phúc, Lộc, Thọ không được con người thờ cúng bởi vì niềm tin chỉ cần trưng bày tượng ba vị thần này trong nhà hoặc văn phòng làm việc cũng đủ thu hút vượng khí chủ về phúc, lộc, thọ.
Tượng Phúc, Lộc, Thọ nên được trưng bày trong phòng khách, phòng làm việc, quầy kinh doanh. Mặt cả ba vị thần cùng nhìn ra phía cửa chính.
Những ngày đầu tiên của năm mới mọi người đều muốn đi chùa dâng hương lễ Phật để thành tâm cầu khấn hồng ân chư Phật, chư đại Bồ Tát, Hiền Thánh Tăng gia hộ cho bản thân, người thân và gia đình mạnh khoẻ, tai qua nạn khỏi, hạn ách tiêu trừ, gia đình hoà thuận, thế giới hoà bình, chúng sinh an lạc.
Đi chùa lễ Phật đầu năm là một phong tục tốt đẹp, dĩ nhiên rồi. Dù đi làm ăn ở đâu xa, tết trở về làng mình, thắp nén nhang trước mộ tổ tiên, viếng thăm ngôi chùa làng nhỏ bé, nhưng gần gũi và thiêng liêng. Chùa làng không phải chỉ là nơi sinh hoạt tôn giáo mà còn là chỗ để mỗi con người lắng lại lòng mình với những ý nghĩ tốt lành.
Tuy nhiên, việc sửa soạn đi lễ chùa, hoặc sắm lễ vật để đi lễ chùa, người đi lễ cần phải biết những quy định căn bản của nhà chùa mà người hành lễ phải tuân thủ là:
– Điều đầu tiên bạn cần ghi nhớ khi bước vào nhà chính của chùa là nên bước vào từ cửa bên, không bước vào cửa chính giữa; đồng thời không dẫm lên bậu cửa, phải bước qua bậu cửa, nếu không sẽ phạm tội bất kính. Cửa chính nhà chùa từ xưa đến nay chỉ Đức Phật, Ngọc đế, Quốc vương một nước mới được ra vào. Vì thế nhiều ngôi chùa ngày thường không mở cửa chính.
– Vào chùa, nên dùng Phật danh “A di đà Phật” thay tên gọi để mở lời chào trụ trì và tăng ni trong chùa. Khi ra về cũng nên dùng câu này để bái biệt, công đức mang lại vô lượng, cho cả người vãn cảnh và nhà chùa.
– Khi đi lễ chùa bạn nên thắp hương tại đỉnh đặt bên ngoài, hạn chế thắp hương bên trong chùa, vì có thể gây ảnh hưởng đến tượng Phật, pháp khí. Chỉ cắm 1 nén hương vào bát hương, nếu bát hương có hương rồi không cần cắm tiếp. Không cắm hương tùy tiện vào tay tượng, gốc cây, hay đồ lễ…
– Không nên chụp ảnh, quay phim tùy tiện trong chùa.
– Không đứng lễ hoặc quỳ chính giữa Phật đường lễ Phật vì đó là vị trí tối cao của trụ trì. Chỉ đứng lễ hoặc quỳ chếch sang bên một chút.
– Không tự ý lấy sử dụng hoặc mang bất kỳ loại đồ đạc gì của nhà chùa về làm của riêng. Theo nhiều kinh sách và quan niệm truyền thống, những hành vi như vậy gọi là “đạo dụng thập phương thường trụ” (trộm dùng đồ lễ của chúng sinh cúng dàng). Phạm giới luật này khi chết sẽ bị giam vào địa ngục, chịu khổ vô kể. Phật điển ghi rõ, “nhân nhỏ, quả lớn”, thành tâm cúng dàng, lễ dù nhỏ nhưng phúc báo lớn lao; trộm của chùa, vật tuy sơ sài nhưng quả báo không gánh hết.
– Vào Phật đường và Tam Bảo không nên đi giầy dép, nhai trầu, hút thuốc. Tam bảo là nơi tôn nghiêm, có giới hương, định hương, chân hương, đòi hỏi phải trì giới để di dưỡng thanh tịnh, tuyệt đối không gây ồn ào, hỗn tạp.
– Không nên ngắm tượng Phật như một tác phẩm nghệ thuật, trước tượng Phật nên cung kính nghiêm trang, không nhìn ngang ngó dọc, khệnh khạng trước Tam Bảo. Nếu muốn chiêm ngưỡng tượng Phật, nên đứng từ ngoài để quan sát.
– Không chạy qua chạy lại, nói chuyện, bình phẩm, ngồi hoặc nằm trong Phật đường. Không tùy tiện hắt hơi sổ mũi, khạc nhổ… quanh khu vực Phật điện, Tam Bảo.
– Khi vào Phật đường, đi vòng quanh tượng Phật và khu vực Tam Bảo, lưu ý đi từ phải sang trái, niệm tên Phật “A di đà phật” sẽ được hưởng 5 điều phúc đức: Hậu sinh đoan chính, đẹp; lời ăn tiếng nói rõ ràng dễ nghe; hóa sinh thăng thiên; có thể được sinh ra trong gia đình quyền quý; siêu sinh đạo Niết Bàn.
– Sử dụng đồ của chùa, như ăn uống, thụ lộc, nên lưu công đức, dù ít hay nhiều. Không nên coi đó là của chùa, trụ trì cho thì nhận mà không bố thí chút công đức, vì nếu làm vậy sẽ phạm tội “luân đạo thực quả báo” là căn nguyên rơi vào địa ngục.
– Không để trẻ em chạy loạn Tam bảo, nghịch ngợm các đồ tế khí, sờ mó tượng phật…
– Không được tùy ý làm ồn hoặc nói những lời bất kính đối với Phật, Thánh, cũng không được có thái độ thiếu cung kính như tùy tiện dùng tay chỉ trỏ vào tượng Phật.
– Khi bước đi không nên cắt ngang qua mặt những người đang quỳ lạy.
– Muốn làm lễ thì không nên quỳ phía sau những người đang đứng thắp hương. Tùy vào từng môn phái, có thể đứng/quỳ khi làm lễ nhưng cần phải lên trước.
– Đến dâng hương tại các chùa chỉ được sắm các lễ chay: Hương, hoa tươi, quả chín, oản phẩm, xôi, chè… Không được sắm sửa lễ mặn như cỗ tam sinh (trâu, dê, lợn), thịt gà, giò, chả…
– Hoa tươi lễ Phật thường là hoa sen, hoa huệ, hoa mẫu đơn, hoa ngâu, hoa hồng, hoa cúc…Tuyệt đối không dùng các loại hoa tạp, hoa dại.
– Quả chín dâng lên ban thờ tốt nhất là các loại quả như chuối, thanh long, nho, bưởi, táo, hồng, đu đủ, hồng xiêm…
– Tuyệt đối không đặt lễ mặn ở khu vực Phật điện (chính điện), tức là nơi thờ tự chính của ngôi chùa. Trên hương án của chính điện chỉ được dâng đặt lễ chay, tịnh. Việc sắm sửa lễ mặn (như gà, giò, chả, rượu, trầu cau…) chỉ có thể được chấp nhận nếu như trong khu vực chùa có thờ tự các vị Đức Ông (vị thần cai quản toàn bộ công việc của một ngôi chùa), Thánh, Mẫu và chỉ dâng đặt tại ban thờ hay điện thờ mà thôi.
– Không nên sắm sửa vàng mã, tiền âm phủ để dâng cúng Phật, Bồ Tát tại chùa. Nếu có sửa lễ này thì thí chủ đặt ở bàn thờ Thần Linh, Thánh Mẫu hay ở bàn thờ Đức Ông. Tiền thật cũng không nên đặt lên hương án của chính điện, mà nên bỏ vào hòm công đức.
– Tại chùa, không để tiền thật lẫn tiền âm phủ lên ban thờ hay mâm lễ. Tại đình, đền có thể đặt tiền âm phủ nhưng không nên đặt tiền thật.
– Rượu, bia, thuốc lá không đặt được trên ban thờ Phật nhưng có thể đặt trên ban thờ Thánh.
– Không nên mang theo mũ áo, khăn, túi xách, gậy gộc, bao tay… vào tam bảo bái Phật. Lỡ đặt những đồ đạc như vậy trên bàn, trên chiếu hoặc trong góc tam bảo để bái Phật thì mọi công quả tu dưỡng bấy lâu đều tiêu tán. Đi lễ chùa, tốt nhất không mang theo những đồ tùy thân khi vào tam bảo.
– Khi vào chùa cần mặc quần áo dài, kín cổ, giản dị, sạch sẽ, đặc biệt không mặc váy ngắn, quần cộc, áo hở lườn hở nách… Nhiều người khi lễ Phật, thậm chí nhiều vị trí nhạy cảm phơi hết ra ngoài, vừa phạm giới uế tạp Phật đường, vừa phạm giới bất kính, khẳng định công quả tiêu tán hết, quả báo vô cùng.
Theo quan niệm của nhà Phật, Phật chỉ phù hộ an bình, che chở cho con Phật chứ không thể phù hộ đường công, danh, tài, lộc. Vì vậy, khi chúng ta làm lễ cầu tới cửa Phật nên xin được Phật che chở, bảo vệ. Vào đình, đền bạn có thể cầu xin may mắn trong sự nghiệp, tình cảm…
Tất cả tiền thật đều nên đặt vào hòm công đức chính. Không nên đi “rải” tiền trên tất cả ban thờ hoặc đặt vào tay tượng. Một lưu ý quan trọng là thay vì đặt tiền vào hòm công đức chính giữa, bạn nên đặt tiền vào hòm công đức nằm lệch bởi hòm công đức đặt chính giữa.
– Không lấy cành lộc mang về đặt lên ban thờ nhà mình. Cành lộc chứa nhiều trường khí âm, bất lợi cho gia tiên, thần linh tại gia.
– Có thể lấy lộc là bánh kẹo, bao diêm, bật lửa nhưng đều không mang về đặt lên ban thờ.
Nam mô A Di Đà Phật!
Nam mô A Di Đà Phật!
Nam mô A Di Đà Phật!Kính lạy Đức Ông Tu Đạt Tôn Giả, Thập Bát Long Thần, Già Lam Chân Tể.
Hôm nay là ngày ….. tháng ….. năm …..
Tín chủ con là ……………………………………
Ngụ tại ……………………………………………..Cùng cả gia đình thân tới cửa Chùa …………………trước điện Đức Ông, thành tâm kính lễ, hiến dâng phẩm vật, kim ngân tịnh tài. Chúng con tâu lên Ngài Tu Đạt Tôn Giả từ cảnh trời cao soi xét.
Chúng con kính tâu lên Ngài Già Lam Chân Tể cai quản trong nội tự cùng các Thánh Chúng trong cảnh nhà Chùa.
Thiết nghĩ: Chúng con sinh nơi trần tục, nhiều sự lỗi lầm, hôm nay tỏ lòng thành kính, cúi xin Đức Ông thể đức hiếu sinh, rủ lòng tế độ che chở cho chúng con, tiêu trừ bệnh tật tai ương, vui hưởng lộc tài may mắn, cầu gì cũng được, nguyện gì cũng thành.
Dãi tấm lòng thành, cúi xin bái thỉnh.
Cẩn nguyện!
Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)
Đệ tử con thành tâm kính lạy Mười phương chư Phật, chư vị Bồ Tát, chư Hiền Thánh Tăng, Hộ pháp Thiện thần, Thiên Long Bát Bộ.
Hôm nay là ngày ….. tháng ….. năm …..
Tín chủ con là ……………………………………
Ngụ tại ………………………………………………Thành tâm dâng lễ bạc cùng sớ trạng lên cửa Mười phương Thường trụ Tam Bảo.
Chúng con xin dốc lòng kính lễ:
– Đức Phật A Di Đà giáo chủ cõi Cực Lạc Tây phương.
– Đức Phật Thích Ca Mâu Ni giáo chủ cõi Sa Bà.
– Đức Phật Dược Sư Lưu Ly giáo chủ cõi Đông phương.
– Đức Thiên thủ, Thiên nhãn, Ngũ bách danh tầm thanh cứu khổ cứu nạn, linh cảm Quán Thế Âm Bồ Tát.
– Kính lạy Đức Hộ Pháp thiện thần Chư Thiên Bồ Tát.
Kính xin chư vị rủ lòng từ bi, phù hộ độ trì cho con, nguyện được ………………………………(công danh, tài lộc, giải hạn, bình an…).
Nguyện xin chư vị, chấp kỳ lễ bạc, tâm thành (sớ trạng) chứng minh, chứng giám cho con được tai qua nạn khỏi, điều lành đem đến, điều dữ tiêu tan, phát lộc phát tài, gia trung mạnh khỏe, trên dưới thuận hòa an khang thịnh vượng.
Chúng con người phàm trần tục lầm lỗi còn nhiều. Cúi mong Phật, Thánh từ bi đại xá cho con (và gia đình) được tai qua nạn khỏi, mọi sự tốt lành, sở cầu như ý, sở nguyện tòng tâm.
Dãi tấm lòng thành, cúi xin bái thỉnh.
Cẩn nguyện.
Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)
Con cúi lạy Đức Thánh Hiền, Đại Thánh Khải Giáo A Nan Đà Tôn Giả.
Hôm nay là ngày ….. tháng ….. năm …..
Tín chủ con là ……………….
Ngụ tại ………………………….
Chúng con thành tâm tiến dâng lễ bạc, oản quả, hương hoa. Cầu mong Tam Bảo chứng minh, Đức Thánh Hiền chứng giám, rủ lòng thương xót phù hộ cho con được mọi sự tốt lành, hạnh phúc an lạc ………… (tài lộc, cửa nhà)
Cúi mong Ngài soi xét tâm thành, phù hộ cho gia đình chúng con được sở cầu như ý, sở nguyện tòng tâm.
Dãi tấm lòng thành, cúi xin bái thỉnh.
Cẩn nguyện
Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)
Nam mô Đại từ, Đại bi Linh cảm Quán Thế Âm Bồ Tát.
Kính lạy Đức Viên Thông giáo chủ thùy từ chứng giám.
Hôm nay là ngày ….. tháng ….. năm …..
Tín chủ con là …………………
Ngụ tại ……………………………
Thành tâm đến trước Phật đài, nơi điện Đại bi, kính dâng phẩm vật, hương hoa kim ngân tịnh tài, ngũ thể đầu thành, nhất tâm kính lễ dưới Toà sen hồng.
Cúi xin Đức Đại Sỹ không rời bản nguyện chở che cứu vớt chúng con như mẹ hiền phù trì con đỏ. Nhờ nước dương chi, lòng trần cầu ân thanh tịnh, thiện nguyện nêu cao. Được ánh từ quang soi tỏ, khiến cho nghiệp trần nhẹ bớt, tâm đạo khai hoa, độ cho đệ tử cùng gia đình bốn mùa được chữ bình an, tám tiết khang ninh thịnh vượng, lộc tài tăng tiến, gia đạo hưng long, mầm tai ương tiêu sạch làu làu, đường chính đạo thênh thang tiến bước. Cầu gì cũng được, nguyện gì cũng thành.
Dãi tấm lòng thành, cúi xin bái thỉnh.
Cẩn nguyện
Dưới đây là 8 loại vật phẩm dùng làm "bùa may mắn" khá phổ biến:
Đồng xu cổ Trung Quốc được cho là có tác dụng thu hút tài lộc trong gia đình. Khi tình hình tài chính ổn định, tâm trạng của các thành viên trong gia đình cũng tốt hơn. Nhiều người thường treo một dải xu Trung Quốc lên tường nhà, hoặc có thể đóng khung rồi mới treo. Thậm chí, bạn có thể chỉ cần đặt nó ở một vị trí nào đó như bàn trà, bàn làm việc hay giá sách,...
Tuy vậy, ít người biết đồng xu cổ còn được coi như một tín vật bảo vệ và mang may mắn đến cho gia chủ. Không chỉ trang trí trong nhà, vật phẩm này còn có thể làm đồ trang sức như bông tai, vòng đeo tay, mặt dây chuyền hoặc đơn giản hơn là cất chúng trong ví. Các doanh nhân thường có thói quen để một chuỗi 3 đồng xu xâu bằng dây đỏ ở trong ví để cầu may và cầu tài lộc.

Tiền xu cổ được xâu lại bằng một dải ruy băng đỏ là tín vật cầu
may được nhiều doanh nhân ưa thích
2. Nút thắt vô tận
Đây là một kiểu bùa may mắn được sử dụng khá phổ biến trong phong thủy thời phong kiến. Theo quan niệm thời kỳ này, những nút thắt không có điểm đầu và điểm kết thúc là đại diện cho một dòng chảy hài hòa của năng lượng tốt lành - không bị gián đoạn bởi những thất bại, tai nạn hay bất hạnh.
Vẻ đẹp hài hòa của những nút thắt vô tận cũng tượng trưng cho sự may mắn trong tình yêu, hôn nhân và cuộc sống. Nhiều người tin rằng, nếu mang theo nút thắt bên mình, mọi việc sẽ luôn hanh thông, may mắn từ đó mang lại sự bình yên trong tâm hồn.
3. Tượng Phật Di Lặc
Trong các gia đình hình ảnh của Phật Di Lặc thường là những bức tượng được đặt trang trọng trong phòng khách. Với khuôn mặt và thần thái phúc hậu, Phật Di Lặc được tin tưởng là vị thần mang lại hạnh phúc, thành công, sức khỏe cho gia chủ.

Tượng Phật Di Lặc giúp mang lại may mắn, sức khỏe
Ngoài những bức tượng với kích thước lớn, Phật Di Lặc còn được chế tác với nhiều kích thước khác nhau, có thể trưng bày trên bàn phòng khách, bàn làm việc...và có cả những hình khắc trên các vật trang sức như nhẫn, mặt dây chuyền....

Nhiều người nổi tiếng ưa chuộng đeo nhẫn, mặt chuyền có khắc hình Phật Di Lặc
4. Biểu tượng Song Hỷ
Trong Hán tự, chữ "song hỷ" có sự đối xứng hoàn hảo. Vì thế biểu tượng này được cho là thể hiện sự cân bằng trong dòng chảy của các nguồn năng lượng. Biểu tượng này hay được dùng trong các đám hỏi, đám cưới với ý nghĩa là sự tròn đầy, vẹn toàn và bền lâu của hạnh phúc lứa đôi.

Bộ chén tách uống trà được trang trí bằng biểu tượng song hỷ phong cách
Biểu tượng Song Hỷ cũng sẽ đem lại may mắn trong tình yêu và hôn nhân cho những người đã hoặc chưa kết hôn. Vì thế, biểu tượng này cũng hay được sử dụng để trang trí nhà cửa, làm đồ trang sức, dây đeo chìa khóa...

Mặt dây chuyền biểu tượng song hỷ giúp mang lại may mắn trong tình yêu
Con voi là biểu tượng của sức mạnh thầm lặng, lòng tốt và sự uy nghi. Vì thế biểu tượng Voi hay được dùng để cầu bình an hơn là cầu tài lộc, may mắn như một số loại vật phẩm phong thủy khác.

Biểu tượng cặp mẹ con voi có ý nghĩa như một lời chúc cho việc sinh nở thuận lợi

Mặt dây chuyền biểu tượng voi được nhiều người yêu thích
6. Hạt mã não
Đây là một kiểu bùa may mắn được cho là có tác dụng trừ tà mạnh mẽ. Ở một số nơi, khi có một bé gái ra đời, mọi người sẽ tặng bé một chiếc vòng mã não nhằm cầu chúc cho bé lớn lên bình an, khỏe mạnh.

Vòng kết bằng hạt mã não được coi như một loại bùa cầu may
Ngày nay, vòng hoặc dây kết hạt mã não mang ý nghĩa may mắn về tình yêu nhiều hơn là cầu chúc sức khỏe như trước đây. Những vật phẩm có hạt mã não trên thị trường hiện được làm từ mã não hoặc Carnelian. Tuy vậy, hạt carnelian là loại sản phẩm đắt đỏ và khó tìm.

Vòng mã não với kiểu dáng và màu sắc phong phú phù hợp với hầu hết mọi người
7. Tỳ hưu phong thủy
Đây là một loại bùa may mắn phổ biến nhất hiện nay. Ngoài trang trí nhà ở hay văn phòng, tỳ hưu còn là vật phẩm hay được đeo sát bên người để cầu tài lộc, thăng tiến trong sự nghiệp.

Biểu tượng tỳ hưu giúp triệt tiêu các nguồn năng lượng xấu

Một kiểu trang sức là nhẫn gắn hình Tỳ Hưu
Cặp đôi này thường được sử dụng với mục đích cầu may trong tình yêu và hôn nhân. Trong khi biểu tượng Rồng thể hiện sự mạnh mẽ và quyền lực, và có thuộc tính dương, thì Phượng lại mềm mại và duyên dáng và biểu tượng cho phần âm.

Cặp đôi Long Phụng thường được bày trong phòng ngủ để cầu duyên, hay
làm họa tiết trang phục thể hiện quyền lực
Những câu nói hay và chuẩn nhất về người phụ nữ. Xemboituong.com xin gửi đến bạn đọc những câu nói hay và chuẩn nhất về người phụ nữ, là những quan điểm nhận định về người tính cách cuộc đời của họ. Nếu bạn là người đàn ông thì đọc những câu nói này sẽ giúp bạn hiểu một phần nào đó về những người phụ của mình, còn nếu bạn là một người phụ nữ thì càng nên tìm hiểu về những cau noi hay này nó sẽ giúp bạn biết nên và không nên làm gì.
Nào hãy cùng đọc những câu nói hay về người phụ nữ trong bài viết dưới đây nhé!
– Một người đàn bà xấu mặt nhưng đẹp lòng là người đàn bà đẹp.
Một người đàn bà đẹp mặt, nhưng lòng dạ không đẹp là người đàn bà xấu.-(Jean Rigaux)
– Cả cuộc đời người phụ nữ là biên niên sử của tình cảm- (W. Irving)
– Người phụ nữ đẹp là thiên đàng của cặp mắt, mà là địa ngục của tâm hồn. (Pope)
– Phụ nữ là kiệt tác của vũ trụ – (G.Let-Xinh)
– Tất cả mọi sự bí ẩn của thế giới này đều không thể sánh nổi với sự bí ẩn của người phụ nữ- Vladimir Lobanok
Khi bất ngờ hỏi một cô gái xin anh hãy nhớ: câu trả lời đầu tiên là chính sử, còn câu thứ hai là tiểu thuyết- Tống Ái Linh
Ðức tính đầu tiên và quan trọng nhất của phụ nữ là dịu dàng- Jean Jacques Rousseau
Trước con mắt của người yêu, không có người phụ nữ nào xấu cả- Ronsard
Không có một người phụ nữ nào lại không có một người đàn ông vô danh chiêm ngưỡng, tôn thờ mình- Giracdanh
Phụ nữ làm cho cách xử thế ở đời được trau chuốt và khiến người ta chuộng sự lễ độ. Họ là thầy dạy chân chính về mĩ quan và là người khích lệ mọi hi sinh. Hiếm có người đàn ông nào yêu thương họ mà lại là người man rợ – (G. Legouve)
Không có phụ nữ xấu…
… Chỉ có người phụ nữ không biết cách làm đẹp (La Bruyere)
Ðẹp và được yêu ấy mới chỉ là phụ nữ. Xấu mà biết cách làm cho mình được yêu ấy là công chúa- (J. Barbey Daurevily)
Không phải những người đẹp là những người hạnh phúc, mà những người hạnh phúc là những người đẹp (khuyết danh)
Nàng che dấu một trái tim sắt đá dưới cái hình hài mảnh khảnh và duyên dáng
(Balzac)
Đối với người phụ nữ, yên lặng cũng là một thứ trang sức
Sophocle
Đàn bà hoàn toàn thấy rõ rằng họ càng vâng lời bao nhiêu thì họ càng chỉ huy bấy nhiêu – (Jules Michelet)
Bí quyết hạnh phúc của người phụ nữ là tự tìm cái vui trong bổn phận [Dr. Auton]
Người phụ nữ cảm và nói theo trực giác của con tim nên chẳng bao giờ sai lầm. Không ai biết nói những lời sâu sắc và êm ái cho bằng người phụ nữ. Êm ái và sâu sắc, đó chính là con người họ- V.Hugo
Tính hiền dịu của người phụ nữ đối với cuộc đời là dấu hiệu xác thực của một cuộc sống nội tâm phong phú. (K.Pau-Top-Xki)
Tất cả vẻ đẹp của cuộc sống được tạo nên là nhờ vào sức mạnh của tình yêu đối với người phụ nữ
(M.Gorki)
Phụ nữ bao giờ cũng yêu vì tài trước khi yêu vẻ bề ngoài
Banzac
Im lặng đem đến cho người phụ nữ sự kính nể
Sophocle
Có vợ thì dù hiền hay dữ bạn đều có lợi, nếu vợ hiền bạn sẽ là người đàn ông hạnh phúc nhất trên đời, còn nếu vợ dữ, bạn sẽ trở thành triết gia. (Bec-xong).
Mọi phụ nữ đều đẹp, và đôi khi chỉ có đấng mày râu mới nhìn thấy vẻ đẹp này.
Một người phụ nữ đẹp là người biết dùng ngôn ngữ nói lên sự thật, biết dùng giọng nói để miêu tả sự chân thành, biết dùng đôi tai để hiểu sự trắc ẩn, biết dùng đôi tay để cứu giúp và dùng trái tim để dành cho tình yêu.
Một người con gái nên có hai điều: sang trọng và tuyệt vời.
Một phụ nữ có nụ cười rạng rỡ và một thái độ giao tiếp cởi mở, đó là điều đẹp nhất hơn cả những trang phục đắt tiền cô ấy mặc.
Mọi phụ nữ đều đẹp dù cho vẻ ngoài của họ có thế nào. Bạn chỉ cần cảm nhận linh hồn của cố ấy với sự tôn trọng và đánh giá đúng mực. Đường tới trái tim chính là cách quan trọng nhất. Phụ nữ là món quà lớn nhất mà Thượng đế mang lại cho con người. Chúng ta nên trân trọng và bảo vệ họ, những con người ta yêu và một nửa thế giới.
Tự nhiên mang lại cho bạn một gương mặt trẻ đẹp ở tuổi hai mươi, và đem lại cho bạn cả sự tự tin trên khuôn mặt khi ở tuổi năm mươi.
Vẻ đẹp của một người phụ nữ không phải là ở những bộ đồ mà cô ấy mặc, số tiền mà cô ấy có, hay cách cô ấy chải tóc. Vẻ đẹp của phụ nữ được nhìn thấy trong mắt cô ấy, bởi đó là cánh cửa trái tim cô, nơi mà tình yêu ngụ trị. Vẻ đẹp thực sự luôn được phản ảnh trong tâm hồn mỗi người phụ nữ.
Một người phụ nữ có khuôn mặt đẹp thu hút những chàng thích tán tỉnh, một phụ nữ trái tim nồng thu hút chàng đang yêu, một người phụ nữ với tính cách cởi mở sẽ thu hút được một người đàn ông.
Những bộ quần áo mà bạn mặc không bao giờ làm cho bạn đẹp lên. Chính bạn đã làm cho chúng trở nên đẹp hơn.
Mọi phụ nữ đều đẹp, và đôi khi chỉ có đấng mày râu mới nhìn thấy vẻ đẹp này.
Bạn không thực sự biết một cô gái xinh đẹp như thế nào cho đến khi gặp cô ấy, đó là vẻ đẹp trong nhân cách.
Mọi phụ nữ đều đẹp. Vì Chúa trời đã tạo ra một phụ nữ hào hảo. Bạn luôn đẹp trong mắt của Người. Vì vậy hãy luôn mỉm cười và chấp nhận chính mình. Người luôn yêu bạn và một ngày nào đó sẽ mang một người đàn ông, người mà luôn chỉ nhìn mình bạn và tin tưởng rằng bạn dành cho anh ấy. Chúa trời sẽ cho bạn một nửa đích thực, người mà luôn đối xử tốt và không làm trái tim bạn tổn thương. Vì vậy, hãy kiên nhẫn và chờ đợi. Đừng bao giờ trao trái tim của mình cho những ai không xứng đáng. Bởi anh ấy chỉ xuất hiện một lần và bạn chỉ có thể trao trái tim cho ấy một lần duy nhất.
Có thể phụ nữ chúng ta không làm được nhiều điều to lớn, nhưng chỉ cần một hành động nhỏ nhoi với tất cả tình yêu thương là đủ.
Hỡi tất cả phụ nữ, bạn có muốn gặp tình yêu của cuộc đời mình? Hãy nhìn vào gương và bạn sẽ tìm được câu trả lời.
Phụ nữ giống như những túi trà – bạn không bao giờ biết sức mạnh của cô ấy cho đến khi bạn ngâm vào nước nóng.
Nếu bạn chỉ có duy nhất một nụ cười, hay trao nó cho những người mà bạn yêu quý. Dù bất kể là ở nhà, đang đi trên đường hay bất cứ đâu, hãy bắt đầu ngay với việc nở nụ cười mừng ngày mới với tất cả những người xa lạ.
Hãy thường xuyên vào trang web này để tham khảo những câu nói hay trong cuộc sống hay về những sự kiện diễn ra trong cuộc sống thường ngày bạn nhé!
Chính ra thì từ bao thế kỷ trước mùa giáng sinh của chúa Giê Su, cả thế giới đã tổ chức nhiều lễ hội truyền thống đón mừng ngày Đông Chí ... Đông chí, trong thiên văn học, là thời điểm liên quan đến vị trí của hành tinh trên quỹ đạo quanh Mặt Trời. Nó là lúc kinh độ Mặt Trời nằm thẳng ở 270 độ. Đông chí là ngày mà thời gian ban ngày ngắn nhất và thời gian ban đêm dài nhất nếu vị trí của người quan sát không phải ở hai cực. Đối với nhiều nước, Đông chí rơi vào khoảng thời gian giữa mùa Đông. Họ ăn mừng vì vũ trụ đã bước vào Đông. Không bao lâu cái lạnh rét buốt sẽ tan, nhường lại cho sự đâm trồi nẩy lộc cho sức sống, ngày sẽ dài hơn, nắng sẽ lâu hơn...va.n vật sẽ tái sinh. Nhưng ở Mỹ thì ngày Đông chí chính là ngày lập đông.
Tại xứ Scandinavia, người Na Uy đã có tục lệ ăn mừng Lễ Yule từ ngày Đông Chí, 21 tháng 12, cho đến tháng Giêng tây. Để đón mừng nắng sắp trở lại trên vạn vật, các người cha cùng với con trai của họ đều mang về nhà những khúc gỗ thật lớn để đốt sưởi. Mọi người ăn mừng cho đến khi khúc gỗ tàn...có khi lên đến tới 12 ngày mới tàn hết khúc gỗ. Người Na Uy tin tưởng rằng mỗi tiếng tí tách phát ra từ củi lửa là hiện thân của các chú heo con, các chú trừu con sẽ được sanh ra trong năm sắp tới..biểu hiệu của sự gặt hái, thành đạt.
Đối với đa số các quốc gia bên Âu châu thì cuối tháng 12 là thời gian tốt nhất để ăn mừng. Lúc ấy, các thú nuôi, gia súc sẽ bị làm thịt dùng làm thức ăn cho suốt mùa Đông. Đây cũng là khỏang thời gian mọi người có được thịt tươi để dùng và rượu bia cũng được chín mùi để mọi người tha hồ ăn nhậu.
Người Đức thì lại tôn thờ vị thánh Oden trong mùa này. Họ rất nể sợ Oden. Truyền thuyết cho rằng Oden thường hay bay bổng trên không vào ban đêm để kiểm sóat hành vi của mọi người và quyết định cho số phận của họ. Vì thế, trong khỏang giữa đông này, họ thường trốn kỹ trong nhà.
Thời đế quốc La Mã, nơi mùa Đông không lạnh giá như những vùng miền Bắc, dân chúng thường có lễ hội Saturnalia để tôn vinh Saturn, vị thánh của ngành nông nghiêp. Bắt đầu từ tuần lễ lập đông kéo dài cho cả tháng trời, lễ Saturnalia là mùa hưởng thụ...thức ăn, thức uống ê chề. Đời sống hằng ngày, giai cấp xã hội, quy tắc luật lệ trong cộng đồng cũng như tục lệ đều đảo ngược. Trong tháng này, dân nô lệ được lên làm chủ, dân quê được nắm chính quyền địa phương. Trường ốc, công sở, công ty thương mại đều đóng cửa suốt để ăn mừng.
Cũng trong mùa lập đông này, người La Mã cũng ăn mừng lễ Juvenalia, ngày lễ đặc biệt cho thiếu nhi. Còn giòng quý tộc và giới thượng lưu cũng ăn mừng sinh nhật Mithra vào ngày 25 tháng 12 dương lịch. Huyền thọai cho rằng, Mithra là thánh hài đồng được sanh ra từ đá, có sức mạnh vô song, dân chúng gọi là thần mặt trời.
rong thời sơ khai của Cơ Đốc Giáo, Lễ Phục Sinh là đại lễ lớn nhất. Đến thế kỷ thứ 4, các giáo xứ mới quyết định nhận ngày sinh của chúa Giê Su là ngày lễ hội. Tiếc rằng, trong kinh thánh không ghi rõ ngày sanh của ngài. Có những dấu hiệu cho thấy chúa Giê Su có thể sanh vào mùa Xuân. Đức Giáo Hòang Julius Đệ Nhất đã chọn ngày 25 tháng 12 là ngày giáng sinh của chúa Giê Su. Thọat đầu, ngày lễ này được gọi là "the Feast of the Nativity" (tức là Lễ Giáng Sinh như người Việt chúng ta đang gọi); phong tục này truyền bá sang Ai Cập năm 432 và đến Anh Quốc vào cuối thế kỷ thứ 6. Đến cuối thế kỷ thứ 8 thì "Christmas" đã lan rộng đến tận Scandanavia. Ngày nay, tại các thánh đường chính thống ở Hy lạp và Nga, lễ Giáng Sinh đến sau ngày 25 tháng 12; thực vậy, họ mừng lễ Giáng Sinh 13 ngày sau đó và họ gọi đó là ngày "Epiphany" hay "Ngày Lễ Ba Vị Vua" vì họ tin rằng đó là ngày ba vị quốc vương này đã tìm được chúa Giê Su trong máng lừa.
Khi chọn ngày lễ Giáng Sinh vào cùng thời điểm với những lễ hội lập đông, các bậc lãnh đạo tôn giáo mong rằng ngày lễ này cũng sẽ thích ứng với quần chúng, nhưng họ lại không nghĩ tới việc thiết lập tập tục ăn mừng. Thời Trung Cổ, Cơ Đốc Giáo đã dần dần dẹp bỏ phong tục thờ thần thánh, tà đạo. Vào mùa Giáng Sinh, các con chiên cùng nhau đi lễ nhà thờ, rồi bắt đầu ăn mừng xả láng, phóng khóang như ngày lễ hội Mardi Gras. Mỗi năm, một học sinh hay một người ăn mày được chọn làm "Người Lãnh Đạo Bất Tài" (Lord of Misrule) và mọi người thay nhau giữ một vai trò góp phần trong cuộc vui này. Những người nghèo sẽ tìm đến nhà người giàu để đòi được hậu đãi. Nếu không được tiếp xúc hậu hỹ, họ sẽ phá phách. Christmas cũng là thời gian giới thượng lưu có cơ hội "trả nợ" xã hội bằng cách hoan hỉ, chiêu đãi những công dân bất hạnh hơn...khởi đầu cho ý nghĩa của sự bố thí vào mùa Giáng Sinh.
Đến đầu thế kỷ thứ 17, một luồng cải tổ tôn giáo xẩy ra khắp Âu châu đã đổi truyền thống mừng Giáng Sinh. Năm 1645, khi Oliver Cromwell và tín đồ Thanh Giáo của ông nắm chính quyền bên Anh, họ thề sẽ tiêu diệt văn hóa suy đồi của Anh và dẹp luôn lễ Giáng Sinh. Cũng may, dưới sự phẫn nộ và yêu cầu của quần chúng, vua Charles II đã đựơc trở lại ngai vàng, và ngày lễ quan trọng này đã được tồn tại.
Nhóm Pilgrims, nhóm người Anh theo chủ nghĩa phân lập đã di dân đến Châu Mỹ năm 1620, còn cuồng tín hơn nhóm của Cromwell. Kết quả, trong thời kỳ sơ khai của Châu Mỹ, lễ Giáng Sinh không được nhìn nhận. Từ 1659 cho đến 1681, tại thành phố Boston, ăn mừng lễ Giáng Sinh là phạm luật. Bất cứ ai có thái độ hay bày tỏ tinh thần mừng Giáng Sinh sẽ bị phạt 5 đồng (thời bấy giờ tiền tệ được dùng là shillings). Ngược lại, tại khu định cư Jamestown, Thuyền Trưởng John Smith thuật lại rằng mọi người đã đón chào và ăn mừng Giáng Sinh trong bình an và vui vẻ.
Sau American Revolution, phong tục của người Anh dần dần ít được hưởng ứng, ngay cả lễ Giáng Sinh. Thật vậy, ngay ngày 25 tháng 12 năm 1789, ngày Christmas đầu tiên dưới nền hiến pháp mới của Hoa Kỳ, Quốc Hội Hoa Kỳ vẫn bận rộn họp hành. Mãi đến ngày 26 tháng 6 năm 1870, Christmas mới được chấp nhận là ngày lễ tòan quốc.
Tới thế kỷ thứ 19, người Mỹ mới bắt đầu đón mừng lễ Noel. Họ cũng thay đổi cách tổ chức và kiểu cách. Từ lối ăn mừng ồn ào, hỗn lọan, náo nhiệt, linh đình, Giáng Sinh trên đất Mỹ đã trở thành ngày dành cho gia đình và chú trọng tới bình an và ghi nhớ công ơn tổ tiên. Thế kỷ thứ 19 cũng là thời gian có nhiều biến lọan và tranh chấp giai cấp. Nạn thất nghiệp gia tăng; băng đảng thuộc các giai cấp bất mãn thường hòanh hành cướp bóc vào dịp Giáng Sinh. Năm 1828, hội đồng thành phố Nữu Ước thành lập lực lượng cảnh sát đầu tiên để đối phó với những cuộc náo lọan này. Những biến chuyển này đã thúc đẩy giới thượng lưu phải thay đổi phong tục đón mừng Giáng Sinh đánh dấu tầm quan trọng của việc đón mừng ngày lễ trong những thập niên 1800.
Năm 1819, văn hào Washington Irving ra mắt tác phẩm "The Sketchbook of Geoffrey Crayon, gent.", một tuyển tập bao gồm các mẫu chuyện về Giáng Sinh trong một trang viên của người Anh. Tranh họa trong tuyển tập kể lại truyện về một điền chủ mời những người nông dân làm công cho ông cùng dự ngày lễ với gia đình ông. Không như những vấn đề đang diễn biến tại xã hội Mỹ lúc ấy, những người này sinh họat rất vui vẻ, thuận hòa. Trong tâm tưởng của Irving, lễ Giáng Sinh phải được thưởng ngọan trong bình an, ấm cúng, tràn đầy lòng nhân ái, giữa loài người không phân chia giai cấp. Những nhân vật trong truyện vẫn có thể thưởng thức những phong tục cổ xưa, ngay cả trò chơi "Lord of Misrule" mà không làm tổn hại đến nhau. Tuy nhiên, truyện của Irving không dựa trên một ngày lễ hội nào mà ông đã tham dự. Các sử gia cho rằng ông chỉ lập luận và "phát minh" ra những truyền thống này và gọi đó là phong tục chính thực của mùa lễ.
Cũng trong thời gian này, văn hào người Anh, Charles Dickens, đã sáng tác một tập truyện rất hay. "A Christmas Carol" đã trở thành tác phẩm vô giá trong kho tàng văn chương thế giới mà trải qua bao thế hệ vẫn còn được yêu chuông. Câu chuyện nói lên giá trị của việc làm từ thiện và nghĩa cử cao đẹp đối với nhân lọai đã đánh thức mọi người tại Hoa Kỳ cũng như bên Anh quốc. Ngay cả thành viên của Hội Victorian cũng nhận thấy lợi quả của ngày lễ hội này.
Trong phạm vi gia đình, phụ huynh cũng đỡ khắc khe với con cái và cảm nhận được sự cần thiết của con cái. Từ đó, mùa Giáng Sinh đã tạo cơ hội cho các gia đình dồn hết tâm trí và tiêu xài rộng rãi cho con cái mà không cảm thấy mình làm chúng hư.
Khi người Mỹ đã bắt đầu chú trọng mùa Giáng Sinh là ngày lễ quan trọng cho gia đình, những phong tục cũ cũng dần dần được phát hiện trở lại. Rồi những di dân mới và các giáo hội khác cũng lần lượt áp dụng phong tục riêng để tăng thêm phần phong phú cho ngày lễ. Sang đến thế kỷ sau thì người Mỹ đã tự sáng tạo cho mình những phong tục được gom góp từ nhiều nét văn hóa, chủng tộc khác nhau như trang trí cây Noel, gửi thiệp chúc mừng, và quà tặng.
Nói đến trang hòang cây Noel cũng cần nhắc đến nguồn gốc của hai cây Noel quan trọng nhất trong vùng thủ đô Hoa Thịnh Đốn.
Lịch sử hai cây Noel tại tòa nhà Bạch ốc và Quốc hội
Hằng năm, mỗi độ Giáng Sinh về, mọi nơi trên thế giới đều bận rộn sửa sọan ăn mừng mùa lễ lớn này. Tại Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn, những ngày nhộn nhịp nhất ngòai xe xộ chật đường vì "shopping" là lúc mọi người trang trí nhà cửa, trưng bầy đèn đuốc.
Nếu thong thả thì chúng ta cũng có thể xuống phố, chạy xe vòng vòng, ngắm nghía đường phố kết hoa đèn sáng rực. Đặc biệt là tại thủ đô có những cây Noel rực rỡ, quyến rũ không biết bao du khách đến xem và chụp ảnh lưu niệm.
Trước nhất là cây Noel tại Tòa Bạch Ốc. Tục lệ trang trí cây Noel này đã phát nguồn từ năm 1923.
Thật vậy, vào tháng 11 năm 1923, đệ nhất phu nhân Grace Coolidge đã cho phép các trường học trong vùng thủ đô Hoa Thịnh Đốn thiết dựng một cây Noel tại khu Ellipse, thuộc hướng Nam của Tòa Bạch Ốc. Họ đặt tên cho cây Noel này là "the National Christmas Tree".
Vào lúc 5 giờ chiều ngày 24 tháng 12, năm 1923, Tổng Thống Calvin Coolidge đã bộ hành từ Tòa Bạch Ốc đến khu Ellipse và trước sự chứng kiến của 3,000 người ngưỡng mộ, ông đã "nhận nút" để thắp sáng cây Noel cao 48 feet. Lọai cây thông Balsam này được trường đại học Middlebury College tặng. Trường Middlebury College nằm trong tiểu bang Vermont, là nơi sanh trưởng của tổng thống Coolidge.
Từ 1924 đến 1953, mỗi năm đều có cây Noel được trưng bầy tại nhiều địa điểm quanh vùng Tòa Bạch Ốc. Đến năm 1954, cây Noel được trở lại khu Ellipse và truyền thống này được lan rộng hơn. Các hội đòan công và tư nhân đồng hợp lại tổ chức lễ hội "Christmas Pageant of Peace". Một số cây Noel nhỏ hơn đại diện cho 50 tiểu bang, 5 lãnh thổ của Hoa Kỳ, và thủ đô Hoa Thịnh Đốn, được trưng bầy chung quang và kết thành một lối đi được đặt tên là "Pathway to Peace"-Con đường đưa tới Hòa Bình.
Vào ngày 17 tháng 12, năm 1954, Tổng Thống Dwight D. Eisenhower đã thắp sáng cây Noel Quốc Gia do dân chúng tiểu bang Michigan trao tặng. Từ đó, tục lệ chặt cây Noel để trưng bầy cho Giáng Sinh được dùng cho tới năm 1973.
Vào ngày 20 tháng 10, năm 1978, cây thông lọai "blue spruce" từ Colorado được trồng tại khu Ellipse và trở thành cây Noel Quốc Gia vĩnh viễn. Ngòai sự tượng trưng cho linh hồn của Giáng Sinh, lễ thắp sáng cây Noel dưới sự chủ tọa của các vị tổng thống đương nhiệm đã trở thành truyền thống của người Hoa Kỳ.
Năm nay, lễ khai mạc thắp sáng cây Noel Quốc Gia đã được tổng thống George W. Bush chủ tọa vào lúc 5 giờ chiều ngày thứ Năm, mùng 6 tháng 12. Theo tục lệ thì sau lời chào mừng và thông điệp hòa bình của tổng thống, buổi lễ thắp sáng cây Noel này chính thức khai mạc cho chương trình văn nghệ giải trí suốt đêm do những ban nhạc quân đội và các nghệ sĩ danh tiếng giúp vui mở đầu cho mùa chào mừng Giáng Sinh.
Nói về cây Noel tại Quốc Hội còn được gọi là "the Capitol Christmas Tree", thì tục lệ này đã được lưu truyền từ năm 1964 do Chủ Tịch Hạ Vịên John McCormack khởi xướng. Cây Noel đầu tiên là lọai thông Douglas, cao 24 feet, được trồng trong khu vườn hướng Tây của tòa Quốc Hội, thuộc góc đường Independence và Constitution Avenues. Tuy nhiên, sau một trận bão tuyết nặng nề vào năm 1968, rễ thông đã bị mục rữa và cây đã chết. Cơ quan bảo trì Nông Nghiệp và Lâm Sản đã phải nhổ cây và từ năm 1969 đã cung cấp cây Noel hằng năm cho nghi lễ này.
Cây Noel 2007 tại Quốc Hội là lọai thông Balsam, cao 55 feet, đến từ khu rừng Green Mountain National Forest thuộc tiểu bang Vermont. Cây được trang trí với 4,500 vật trang hòang do những nghệ nhân tại tiểu bang Vermont trao tặng. Đề tài trang trí cho cây Noel Quốc Hội năm nay là "Bringing an Old-fashioned Holiday to the Nation" để mang lại nét đặc thù cổ kính của ngày lễ này đến với mọi người trong nước. Những vật trang sức này thể hiện di sản, lịch sử, phong cách, và những tài nguyên thiên nhiên của người dân vùng Vermont.
Vào lúc 5 giờ chiều, ngày mùng 5 tháng 12, năm nay, Bà Chủ Tịch Hạ Viện, Nancy Pelosi, là người chủ tọa thắp sáng cây Noel tại Quốc hội.
Giáng Sinh mà chúng ta biết đến ngày nay tuy là sáng kiến của xã hội Victorian từ kỷ niên 1860, nhưng đã trải qua nhiều giai đọan. Có lẽ đây là mùa lễ được yêu chuộng nhất bởi vì Giáng Sinh trên đất Mỹ bao gồm những phong tục thần thọai cũng như thiêng liêng từ nhiều ngõ ngách trên thế giới đã đem đến từ mấy trăm năm qua và sẽ mãi mãi trường tồn.
(VATV-Lê Thùy Lan sưu tầm)

Tiền đồng cổ Càn Long
Tiền đồng dùng trong phong thủy phải là tiền Càn Long, nhưng cũng không cần phải là tiền cổ thật, có thể dùng tiền mô phỏng tiền Càn Long cũng được. Bởi vì tiền cổ thật bây giờ đã bị ăn mòn, tiền đồng bây giờ dùng đồng mới để mô phỏng lại, thuộc tính “Kim” còn cao hơn. Theo phong thủy, tiền đồng có tác dụng thu hút tài lộc.
2. Tiền đồng “xuất nhập bình an”

Tiền đồng "xuất nhập bình an"
Tiền đồng “xuất nhập bình an” chủ yếu hóa giải sát khí, tránh tai họa. Có 3 cách sử dụng bảo bối phong thủy này:
- Đặt ở trên cửa chính, dùng để ứng phó với các cấm kỵ phong thủy như mở cửa nhìn thấy cầu thang hoặc thang máy.
- Đặt bên trái cửa chính, dùng dây màu vàng treo lên, có thể tránh phụ nữ trong nhà cãi vã như những chuyện mẹ chồng nàng dâu.
- Đặt 2 đồng tiền dưới gối để giữ gìn tình cảm vợ chồng.

Thỏi vàng giúp chiêu tài
Thỏi vàng thường được dùng theo đôi, có tác dụng chiêu tài. Có 2 cách dùng thỏi vàng:
- Đặt một đôi thỏi vàng ở trên bệ cửa sổ lớn nhất của ngôi nhà - mỗi góc bên trái và bên phải đặt một cái, có thể hấp thu được tiền tài từ bên ngoài cửa sổ vào. Cửa sổ càng lớn tài khí càng vượng.
- Đặt ở góc nhọn của cửa, có thể tụ khí tài.

Tượng gà trống bằng đồng
Đây là vật phẩm giúp hóa giải vận đào hoa. Ví dụ: Dùng để tránh người phụ nữ xấu xa hoặc người mà bạn ghét quấy rối. Tượng gà bằng đồng nên đặt ở chỗ cửa chính bị đối xung. Còn nếu như nghi ngờ người bạn đời của mình có người khác, có thể đặt trong tủ quần áo của người đó. Phải dùng một đôi, góc phải và trái, ở nơi khuất của tủ.

Tượng sư tử bằng đá trắng
Với dáng vẻ uy dũng, tượng sư tử đá có thể giải rất nhiều sát khí. Ngày xưa, rất nhiều hộ gia đình đặt một đôi sư tử đá ở trước cửa. Nếu như cửa sổ nhìn thấy xung khắc bất lợi, có thể đặt một đôi sư tử hướng ra cửa sổ để hóa giải, hơn nữa còn có ngụ ý sinh quyền lực. Tất cả những nghề dùng miệng để mưu sinh như luật sư, nghệ sĩ… đều có thể đặt một đôi sư tử đá trong phòng làm việc để uy danh lừng lẫy.

Long quy đem lại may mắn
Long quy đem lại may mắn, có thể hóa giải tai họa. Cách dùng của long quy khá phức tạp, cần phải đặt ở vị trí Tam Sát hoặc nơi có thủy khí nặng.
Cách tính tam sát:
Dần, Ngọ, Tuất: Sát Bắc.
Thân, Tý, Thìn: Sát Nam
Hợi, Mẹo, Mùi: Sát Tây
Tỵ, Dậu, Sửu: Sát Đông.
Ví dụ: Năm nay là năm Ất Mùi, theo câu quyết: Hợi, Mẹo, Mùi: Sát Tây. Có nghĩa là nhà ta ở hướng Tây là phạm phải tam sát trong năm nay. Như vậy trong năm Ất Mùi hãy đặt Long quy tại góc Tây của ngôi nhà.
7. Chuông gió

Đây là một vật phẩm khá thông dụng và thường được đặt ở những nơi chật hẹp, không thể bày các vật dụng phong thủy khác hoặc dùng trong các cửa hàng. Có 2 cách dùng chính:
- Khi cửa đối diện với đường, có thể treo chuông gió ở góc trên bên trái của cửa, có thể tránh sát khí.
- Cửa sổ của nhà mình đối diện với cửa sổ nhà khác, mà nhà bên kia có nhiều người hơn, thì treo chuông gió ở cửa sổ nhà mình, để tiền tài của nhà không bị ảnh hưởng.
8. Sư tử đồng

Cặp đôi sư tử đồng
Sư tử đồng chủ yếu dùng để hóa sát ngăn tai, thường đặt ở nơi hướng về cửa. Tất cả các phong thủy không có lợi như mở cửa nhìn thấy đèn hoặc bị xung với đường đều có thể dùng sư tử đồng để hóa giải.
9. Tỳ hưu

Tỳ hưu đem lại may mắn
Tỳ hưu là loài thú may mắn, trên người không có vảy, chân không có lông, thần thái uy phong, thường được dùng làm vật bài trí phong thủy để công việc thuận lợi. Tượng tỳ hưu khá thích hợp với nhân viên marketting và những người có thu nhập không ổn định. Khi đặt tỳ hưu nên để đầu hướng về cửa hoặc cửa sổ.
10. Hồ lô gỗ

Nếu như trong nhà có người mắc bệnh có thể treo 3 chiếc hồ lô gỗ, sẽ có kỳ tích xuất hiện. Bệnh nặng thì cần đặt 3 chiếc hồ lô ở đầu giường, nam nữ đều có thể dùng. Vật này khi treo lên có 3 tác dụng: trị bệnh, kéo dài tuổi thọ, tăng sức sống, có thể khiến con người khỏe mạnh và tinh thần vui vẻ.
(Theo Khám phá)
1. Đường tâm đạo dài, thẳng, trơn tru
Đây là dấu hiệu điển hình của những cô nàng có số "vượng phu" - không những lấy được chồng giàu, mà cuộc sống hôn nhân cũng rất hạnh phúc, viên mãn.
2. Dưới đường tâm đạo có hình chữ thập
Hình chữ thập đại diện cho tình yêu, hôn nhân và hạnh phúc. Nếu có hình chữ thập ngay dưới đường tâm đạo, bạn dễ có được cuộc sống gia đình hạnh phúc viên mãn, cuộc sống giàu sang, phú quý, không bao giờ phải lo lắng về các vấn đề tiền bạc, vật chất.
![]() |
3. Trên ngón tay có vân tiền tài
Vân tiền tài nhỏ, mảnh, nằm ở giữa ngón út và ngón vô danh. Những người có vân tiền tài thường lấy được chồng đại gia, tài sản kếch xù, cuộc sống giàu sang phú quý, không phải lo nghĩ gì chuyện tiền nong.
4. Lòng bàn tay sáng mịn và hồng hào
Những người có lòng bàn tay sáng mịn, hồng hào thường tính cách tốt bụng, nhiệt tình. Mọi chuyện xảy ra với họ đều thuận buồm xuôi gió, dữ hóa lành... Không những thế, họ còn dễ lấy được người chồng vừa có tài lại có đức - lúc nào cũng yêu chiều, chăm sóc, cuộc sống trôi qua yên bình, nhẹ nhàng.
5. Lòng bàn tay có nốt ruồi
Nốt ruồi trong lòng bàn tay là đại diện cho sự thông minh và tài lộc - cuộc sống an nhàn, dễ lấy chồng giàu sang, môn đăng hộ đối.
Mi Na (theo D1xz)
Dưới đây là một bài viết của một người bạn đã trên 40 năm coi tử vi, nhân dịp vừa qua trở về Việt Nam, TMT có dịp gặp lại và đã khuyến khích người bạn này chia xẻ kinh nghiệm coi số. Người bạn này tuy rất bận rộn nhưng cũng đã viết một số ý, nay TMT hơi rảnh nên đánh máy bài này, mong rằng các bạn có dịp biết thêm một số điều hữu ích
Vài kinh nghiệm xem lá số Tử Vi
Trong 32 năm qua (1972 - 2004), ở Việt Nam nhờ có máy điện toán (computer) phát triển trong giới tin học thế giới, nhiều thảo trình viên (programmer) người Việt mê Tử Vi Đẩu Số đã viết ra được các thảo trình cách lấy lá số Tử Vi, vừa nhanh, vừa tiện, đỡ công sức viết, kẻ, đếm cung, an sao, đổi giờ, ngày, tháng, năm Âm, Dương lịch ra cho hợp với nguyên tắc lập lá số (xưa gọi là chấm lá số). Rõ ràng đỡ cho người giải đoán khỏi mất thời giờ và bớt được có khi sơ ý an sao lầm lộn. Chỉ cần cho bốn dữ kiện (data): năm sinh, tháng sinh, ngày sinh, giờ sinh Âm Lịch là đã lập và in ra được một lá số đẹp, dễ xem, vô cùng tiện lợi. Nhất là trong 20 năm nay (1984 - 2004), từ giới Việt Kiều hải ngoại đến các tay thảo chương viên trong nước trau giồi kỹ thuật điện toán nhuần nhuyễn. Họ đã đua nhau viết các thảo trình Tử Vi Đẩu Số Đông Phương khá tiện lợi và dễ "bắt mắt" cho các "Thầy". Tuy nhiên đa số các thảo trình viên chi giỏi lập trình thảo chương, thường thường biết rất yếu về một vài cách An Sao, nên có một số nhỏ Sao đã lập sai (như bộ Đà La, Kình Dương) chẳng hạn). Đấy là chưa nỏi đến kém chính tả Việt Ngữ, dấu hỏi, dấu ngã, dấu huyền, dấu sắc, chữ d và r viết loạn xà ngầu (Quan Phù, Quan Phủ, tuổi Kỹ Mẹo [Kỷ Mão], Thiên Riêu [Diêu = dâm] là các ví dụ).... Đó là tuyệt đại đa số các người mê Tử Vi, xem Tử Vi trong 50 năm nay (1954 - 2004) đều mù chữ Hán Nôm nên đọc trật trẹo theo âm ngữ địa phương ở Miền Trung, Miền Nam, và nói trớt giọng của một số làng ở vùng ven biển Thái Bình và Nam Định. Điều này chỉ là tiểu tiết, có thể bỏ lỗi cho qua. Nhưng tên chữ Hán các sao, 80% các "Thầy tân thời" (chỉ học Tử Vi qua các sách quốc ngữ) và tự cao tự đại cho Mình là "Tử Vi đại tài", nói thánh, nói tướng... Thực chất có nhiều tên sao đã hiểu sai ý nghĩa (sao Thiên Tài chẳng hạn).
Quan trọng nhất trong cách xem lá số Tử Vi ra sao? Đó là điều các bạn trẻ thường đặt câu hỏi những người lớn tuổi, có kinh nghiệm, xem nhiều, hiểu sâu (tất nhiên các Thầy Tử Vi mở tiệm xem công khai, hay các ông già thận trọng, kín đáo, dấu nghề, chẳng mấy ai hơi đâu mà trả lời rõ ràng, đúng đắn cả).
Gần đây, có nhiều thanh niên, trung niên nam, nữ trên 35 tuổi, đã có trình độ Đại Học, có óc tìm tòi say mê khoa Tử Vi Đẩu Số một cách khoa học và thành thật nghiên cứu. Đồng thời có niềm tin vào Khoa Học Nhân Văn Đông Phương này, sau khi tìm hiểu khá sâu về Tử Vi và có nghiệm chứng với đời sống hàng Năm, Tháng của bản thân, người nhà, bạn bè.... thấy kỳ diệu và "hay hay". Nhưng càng đọc nhiều sách Tử Vi của các tác giả ấn hành bằng chữ Quốc Ngữ (soạn trong khoảng từ 1948 - 1974, đa số in ở Miền Nam), mỗi sách viết một cách, tuy Lập Mệnh, An Sao và đa số nguyên tắc sơ đẳng đều giống nhau, nhưng các soạn giả viết chỉ dẫn có nhiều điều mâu thuẫn và ông nọ cóp nhặt của ông kia, rồi "vẽ rắn thêm chân"! Trong hơn 40 năm tìm hiểu về Tử Vi, xem "miễn phí, làm phúc" cho hàng ngàn người nhờ, tôi học được một số nghiệm lý Tử Vi Đẩu Số qua các kinh nghiệm giải đoán của các người cao tuổi, biết nhiều, nhưng khiêm tốn, giỏi chữ Hán cổ (phức thể), đã chỉ giáo cho. Đồng thời, nhờ biết chữ Hán Nôm, nên đọc hiểu các câu phú Tử Vi như "Mệnh Vô Chính Diệu đắc Tam Không, phú quí khả kỳ". Vậy "Khả Kỳ" là nghĩa gì? Mà trong Hán Tự, có 15 chữ Kỳ viết khác nhau, và nghĩa khác nhau. Nhưng oái ăm ở chữ Quốc Ngữ, đều viết: "Kỳ" hết. Rõ ràng, "mù chữ Hán" là một điều thiếu sót trong việc nghiên cứu cổ học Đông Phương? Dù có đọc bản dịch, đã chắc gì người dịch đúng? Chưa kể các tác giả còn tỏ tài, đưa Toán Học, Triết Học Phật, Lão, Kiến Trúc, Vật Lý Học, Biện Chứng Học.... vào cách giải đoán lá số Tử Vi.... Thật là lố bịch và "dao to búa lớn", ngông cuồng đáng phê bình?
Trong quá khứ tôi đã từng gặp mấy ông già võ vẽ chữ Hán, chữ Pháp, cũng nghiên cứu Tử Vi qua bàn đèn thuốc phiện. Mấy ông già này đã nói "một tấc lên Trời" rằng: "Mình đã phát hiện được 12 sao nữa đem áp dụng vào khoa Tử Vi, đoán đâu trúng đó! Tử Vi không phải chỉ có 110 sao mà là 122 sao mới đủng (sic). Tôi nghe chỉ tức cười và nhờ xem, càng thấy trật lất.
Gần đây, lại mới gặp mấy cháu ngoài 30 tuổi và vài anh hơn 40 tuổi đã thiếu tính khiêm tốn, tự tâng bốc là có "tuyệt chiêu" và "nhiều bí kiếp"? Họ huyên hoang, "bốc phét" (đôi anh còn lợi dụng xem Tử Vi để đòi tiền thù lao cắt cổ, và lợi dụng các bà, các cô mê tín, cả tin để chỉ dẫn mánh lới làm ăn bất chính (thậm chí còn tán tỉnh tình cảm, dụ dỗ dâm đãng.... phạm vào đạo đức con người). Gần đây tôi có gặp một anh sinh năm 1960, đạo mạo, áo quần bảnh bao, trịnh trọng, là "một Thầy tự hào nhất Sài Gòn". Lúc trao đổi với tôi, đã bịp bợm nói chữ Nho: "-Chú đã thấy lá số cháu có Tam Mã Đồng Tầu không?" Tôi lắc dầu và nhẹ nhàng giải thích: "- Chỉ có Nhị Mã là chính Mã và lưu Mã, làm gì có Tam Mã? Mà phải nói là đồng tào chứ ai nói "Hán Nôm cọc cạch: " đồng tầu?" Vì đang ăn trưa và gặp hắn lần đầu, tôi lịch sự không cho một bài học về sự dốt nát: " xấu khoe tốt, dốt nói chữ ". Tơi lảng chuyện, không xem thêm lá số cho hắn nữa. Cười thầm ra về....
Trong 10 năm qua (1994 - 2004) nhiều cháu thanh niên độ tuổi 25 đến 30 năn nỉ xin học Tử Vi ở tôi. Nhưng tôi từ chối một cách khiêm tốn và khuyên: " - nên để thì giờ học chuyên môn cao lên và lập chí lập nghiệp, tin ở số mệnh Tử Vi làm gì sớm vậy? Tam Thập Nhi Lập. Đang tuổi lập Thân đừng nên say mê Tử Vi Đẩu Số quá mà nhụt trí tuệ và khát vọng! Con trai lớn của tôi cũng có ý muốn học Tử Vi. Tôi lảng tránh, vì không muốn con tôi đam mê khoa này bạc nghệ, bạc phước lắm? Vì vi phạm đến "Thiên cơ bất khả lậu" chẳng hay gì?
NGUYÊN TẮC CĂN BẢN LÚC GIẢI LÁ SỐ
Muốn nói gì đi nữa thì khoa Tử Vi Đẩu Số của Việt Nam và Trung Hoa cổ đại cũng là bói toán vận mạng con người. Nó là một thứ Siêu Hình Học, trong ý nghĩa 110 Sao được an bài trên lá số. Nên sự chính xác của Tử Vi là tương đối? Theo tôi có lẽ chỉ 75% thôi?
Vì thế cũng làm cho người đoán giải lá số, dù tự tin, bạo nói, đôi lúc cũng phải dè dặt? Do đó phải thận trọng khi giải đoán!
Nhớ rằng có một số người nhờ xem lá số hay nhờ lấy dùm lá số, họ không thật thà đâu và cố ý cho giờ, ngày sinh sai để có ý đồ thử tài "Thầy". Vì họ nghĩ, nếu Thầy kém, dở sẽ bị mắc lỡm? Còn nếu Thầy giỏi, tài phải biết là lá số đó sai? Thật ra, rất hiếm Thầy truy hỏi khi nghi ngờ lá số nhờ coi dùm? Vì cứ nghĩ thân chủ thực thà tâm địa. Đấy là chưa nói, nhiều người ham được xem ngay, đã nói "đại" giờ, ngày, tháng sinh, mặc dù họ không biết thật! Đã bịa ra, và nghĩ đơn giản là cứ biết tuổi gì? thì "Thầy" sẽ đoán được thôi! CHO NÊN NGƯỜI XEM PHẢI KIỂM TRA:
1/ Khi cầm lá số Tử Vi của ai nhờ xem, điều đầu tiên là phải kiểm tra lại giờ, ngày, tháng, năm Dương lịch và Âm lịch có đúng không? Đa số các người nhờ xem đều không biết nguyên tắc lập lá số Tử Vi như thế nào. Có người chỉ biết ngày, tháng, giờ Âm lịch và tuổi con gì? Không nhớ là năm Canh Tí, Mậu Tí, Giáp Tí, Bính Tí hay Nhâm Tí (ví dụ như thế). Có người chỉ rõ ngày, tháng Âm lịch, còn giờ và năm lại nói bằng Dương lịch (Ví dụ: 23 tháng Giêng năm 1959, 7 giờ 15' tối). Điểm này người lập Tử Vi vô ý, thiếu thận trọng, cứ ngỡ lá số Tử Vi đó là ngày tháng Dương lịch luôn. Có nhiều người giải đoán vô tình, cứ căn cứ vào đó mà thao thao giải thích, hóa ra lầm lẫn hoặc lý giải sai, khiến người nhờ xem lại phản ứng: " - thưa không đúng mấy ". Người xem dùm.... bẽ bàng, tự ái và mất niềm tin về Tử Vi? mà sách đã dạy, Thầy đã chỉ cho? Lỗi này đâu phải ở người có lá số nhờ "coi dùm". Lỗi do người lập lá số thiếu sự cẩn trọng và người xem chủ quan đã không kiểm tra lại giờ, ngày, tháng, năm sinh Âm lịch. Đây là thường gặp không ít. Điều dặn này không thừa.
2/ Ở Việt Nam, từ ngày 1/1/ 1943 Viên Toàn Quyền Đông Dương Decoux đã ký một sắc lệnh đổi giờ 3 nước Việt, Miên, Lào. Nên những ai sinh vào giai đoạn sau 1/1/1943 cho tớij ngày 9/31945 phải đổi chậm đi một giờ. Thời đó thực tế chỉ có ở thành phố, thị xã, thị trấn mới có đồng hồ, biết mà đổi giờ theo lệnh quan Tây. Còn nhân dân địa phương cứ áng chừng, xem bóng mặt trời, chuông Chùa, chuông Nhà Thờ (vùng có người, có làng theo đạo Chúa), xe lửa kéo còi khi đi qua vùng đó, mõ điếm canh hay bóng mặt trăng mà ước đoán. Thật sự nhiều trường hợp đoán giờ sinh sai lệch, thì người xem hãy hỏi lại giờ sinh của họ cho thật kỹ. Tôi đã gặp nhiều bà mẹ già, đã đẻ nhiều con quá lâu năm, đâu nhớ chính xác, đã lẫn ngày, tháng, nhất là giiờ sinh con nọ qua con kia, làm người giải Tử Vi đi vào mê hồn trận. Có 40% - 50% người Việt sinh vào trước 1950, không biết giờ sinh là giờ nào? Người cha không trực tiếp đẻ (nhất là sinh con gái) nên không nhớ được. Mà người mẹ đau đẻ quá nên quên không để ý lúc đẻ đứa con là mấy giờ. Trước năm 1950, ở nông thôn và tỉnh lẻ không mấy nhà, mấy người có đồng hồ (thuở đó đồng hồ là vật quý, hiếm, đắt đỏ. Có khi cả phố, Huyện, hay cả làng xã mới có một nhà có đồng hồ quả lắc "cổ lỗ sĩ"). Vả lại, chỉ có các gia đình có văn hóa Nho học mới quan tâm đến "giờ sinh" để lập lá số Tử Vi. Chứ nhà có người học cao về Tây học chưa hẳn quan tâm tới giờ sinh. Rồi giờ ở Việt Nam rất lộn xộn từ 9/3/1945 đến ngày 2/9/1945. Và từ 1946 đến 1954 giờ Việt Nam cũng quá biến động, lung tung giữa các thành thị bị Tây tạm chiếm, cùng vùng "tề" thì nhanh hơn vùng kháng chiến 1 giờ. Còn giờ Nhật chiếm Đông Dương từ tháng 4 đến tháng 9/1945 đã nhanh lên hai giờ. Chi tiết này, nên xem thêm ở một số sách dạy lấy lá số Tử Vi. Giờ sinh từ 1946 đến năm 1975 (ngày 2/9) có nhiều thay đổi ở Việt Nam, nhất là dưới vĩ tuyến 17.
3/ Nếu kiểm tra thấy ngày, tháng, giờ, năm đúng rồi thì hãy để ý xem Hành của bản Mệnh thuộc gì? Kim, Mộc, Thủy, Hỏa hay Thổ? Xong nhớ xem đương số sinh ban ngày hay ban đêm? Và nhìn ngay cung Mệnh của đương số nằm ở vị trí nào? Cung đóng Mệnh thuộc hành gì? có hợp, khắc, sinh nhập, xuất với hành Bản Mệnh chăng? Tuổi Âm hay là tuổi Dương? có thuận lý hay nghịch lý? Cục Mệnh tương sinh hay là tương khắc? Bình hòa hay sinh nhập, sinh xuất? Khắc nhập hay là khắc xuất? Điều này rất hệ trọng đến diễn biến cuộc sống của đương số. Sinh ra ban ngày đóng Mệnh vào các cung đêm tối (từ Dậu đến Mão) thì "ưa may" và tốt hơn người sinh vào ban đêm. Vì giờ sinh thuộc Dương mà Mệnh đóng vào cung thuộc Đêm (= Âm) là hỗ tương ( hút, dính vào nhau vì đã khác cực). Còn ngược lại, đồng cực Âm hay Dương, sẽ đẩy nhau ra (chống đối). Đấy là kinh nghiệm mà nhiều người Thầy giỏi giữ bí truyền (dấu nghề). Tuy không quan trọng bằng Dương cư Dương vị và Mệnh Cục bình hòa, tương sinh (nhập, xuất). Hay Âm cư Âm vị, cũng thế. Đó là hai thế đại lợi cho lá số một cá nhân ở đời này. Nghịch lý và khắc nhập, xuất đều là xấu hay mâu thuẫn giữa nội tâm và cuộc sống! Bất hợp với thân nhân và xã hội.
4/ Xem kỹ thế đóng chốt của Tuần và Triệt ở vị trí nào? Và bộ Thái Dương, Thái Âm đóng ở cung nào? Quan trọng vô cùng. Lá số gọi là tốt thật sự phải có Âm Dương tịnh minh, đắc địa. Hoặc "phản vi kỳ cách" (Hãm địa ngộ Tuần, Triệt, Kỵ đồng cung, hoặc có Thiên Lương chính chiếu.
Phân chia âm dương
Phân theo cung (Tí Dương, Sửu Âm....) và phân theo trục Mão Dậu (từ Mão đến Dậu là Dương, từ Tuất đến Dần là Âm)
Âm phải gặp Dương, Dương phải gặp Âm thì mới có tác động mạnh (hút nhau), trái lại thì yếu (do đẩy nhau)
Phân theo cung quan trọng hơn theo trục
Vấn đề sinh khắc:
Cứ tương sinh (sinh nhập, sinh xuất) là tốt, tương khắc (khắc nhập, khắc xuất) là xấu
Trong các hành thì hành Thổ có ưu điểm hơn là cho dù bị khắc nhưng cũng đỡ hơn (ví dụ Mệnh Thổ bị cung Mộc khắc) vì khắc ít hơn. Do đó Mệnh Thổ thường có ưu thế hơn
Dương Nam (+, + => +), Âm Nữ ( -, - => +) thuộc Dương (người Dương), đi đến cung Âm (Sửu, Mão, Tỵ....) thì ăn mạnh (nếu tốt thì tốt thêm, tốt gấp hai, xấu thì xấu hơn, xấu thì xấu gấp hai), đi đến cung Dương thì ăn yếu (tốt thì không tốt nhiều, xấu thì không xấu thêm)
Âm Nam (-, + => -), Dương Nữ (+, - => -) thuộc Âm (người Âm), đi đến cung Dương thì ăn mạnh, đi đến cung Âm thi ăn yếu hơn
Dương Nam, Âm Nữ thuộc Dương, đi đến cung Âm (từ Tuất đến Dần, ban đêm) thì ăn mạnh hơn khi đi đến cung Dương (từ Mão đến Dậu, ban ngày)
Âm Nam, Dương Nữ thuộc Âm, đi đến cung Dương thì ăn mạnh hơn đi đến cung Âm
Nguyên tắc này được vận dụng khi coi đại vận, tiểu vận, vị trí cung Mệnh.
Ví dụ người Âm Mệnh đóng tại cung Dậu (Âm) thì không ăn mạnh, nhưng cũng được gỡ phần nào do cung Dậu thuộc Dương (phân theo trục Mão Dậu)
Ví dụ Âm Nam Mệnh đóng cung Thìn thì tốt hơn cung Tuất
Hỏa và Kim thuộc Dương, Thủy và Mộc thuộc Âm. Như vậy Mệnh Thủy, người Dương (Dương Nam, Âm Nữ) thì ăn hơn người Âm (Âm Nam, Dương Nữ)
Xem đại hạn
Cung là hoàn cảnh nuôi bản Mệnh
Khi xem thi sự sinh khắc giữa hành cung và hành Mệnh quan trọng hơn chính tinh nhập hạn có hợp hay không (chỉ ảnh hưởng 30%)
Sinh khắc giữa hành cung và hành Mệnh:
Đồng hành thì ăn 100%
Sinh nhập thì được hoàn cảnh nuôi dưỡng, ăn 90%
Sinh xuất thì vất vả, phải chạy theo hoàn cảnh, nuôi dưỡng hoàn cảnh (ăn 60%)
Khắc xuất thì tuy chống đối hoàn cảnh nhưng vẫn vượt qua được (ăn 30%)
Khắc nhập thì bị hoàn cảnh chống đối không cho hoạt động (không ăn gì cả 0%)
Ngoài ra nếu trên 37 tuổi thì xét thêm tương quan giữa hành cung và hành Cục để biết thêm hoàn cảnh có tốt hay không
Chú ý: hành của cung tính toán trên hai cơ sở kết hợp: hành chính cung và hành tam hợp cục (ví dụ cung Tí hành Thủy vì chính cung là Tí hành Thủy, tam hợp Thân Tí Thìn hành Thủy, còn cung Sửu thuộc Thổ đới Kim vì cung Sửu hành Thổ, tam hợp Tỵ Dậu Sửu hành Kim. Như vậy cung Tỵ là Hỏa đới Kim, nếu Mệnh Hỏa thì ăn 70%, Mệnh Kim thì ăn 30%, cung Ngọ hành Hỏa, Mệnh Hỏa ăn 100%)
Chính tinh đắc địa nhập hạn quan trọng hơn chính tinh hợp Mệnh. Đắc mà không hợp Mệnh thì cũng hơn hãm mà hợp Mệnh
Đắc nếu hợp Mệnh thì ăn 100%, nếu không hợp thì cũng còn ăn 40%
Hãm và không hợp Mệnh thì không ăn, nếu hãm mà đồng hành thì cũng ăn vì là của mình
Hạn gặp Thiên Không thủ thì không thể làm gì (đổ vỡ)
Người chính diệu đi vào hạn VCD thì lao đao ít hơn người VCD đi vào hạn VCD
Người VCD đi vào hạn có hung tinh đắc địa độc thủ thì phát. Gặp Không Kiếp Tỵ Hợi người tuổi Tỵ Hợi thì phát mạnh, nếu Mệnh Kim thì càng ăn mạnh
Mệnh Cơ Nguyệt Đồng Lương đi vào hạn Sát Phá Tham thì xấu (Trúc La hạn)
Xem tiểu hạn
Đại hạn tốt nếu tiểu hạn có xấu cũng hưởng 50%
Xem tiểu hạn khi xét sao thì chỉ quan trọng sao thủ trong cung
Các sao chiếu phải là sao đôi (như Khôi Việt, Quang Quí)
Sao chính chiếu quan trọng. Sao tam hợp không quan trọng
Cung nếu có Tuần, Triệt thì chiếu mạnh hơn (Triệt: câu vào, Tuần: đẩy ra), nhất là cung Vô Chính Diệu, nếu không có Tuần Triệt thì chiếu ăn 30%
Cung tiểu hạn là cung lưu Mệnh
Mệnh rơi vào cung nào thì cung đó quan trọng, dính dáng đến cung đó (ví dụ tại Tử Tức thì vấn đề con cái quan trọng)
Lưu niên đại hạn cũng quan trọng
Xem thêm cung có sao lưu Thái Tuế (ví dụ vào Phu Thê thì vợ chồng bất hòa? vào Điền Tài thì tranh chấp về Tài Sản? vào cung Tử thì đẻ con, khai sinh?)
Cần xem sinh khắc giữa hành cung và hành Mệnh để xét hoàn cảnh có nuôi dưỡng mình không?
Cần xét thêm sinh khắc giữa hành năm nhập hạn và hành Mệnh để biết tăng độ số hoặc giảm độ số (thêm hanh thông hoặc thêm trắc trở)
Trên 37 tuổi còn xét tương quan giữa hành Cục và hành sao tại cung Thân
Tiểu hạn là năm tam hợp với tuổi thông thường thì đàn bà tốt, đàn ông xấu, nếu là năm xung thì đàn bà xấu, đàn ông tốt (nhưng gặp xấu trước rồi mới tốt)
Vào năm xung lấy nhau thường dễ gặp khó khăn. Vào Năm tam hợp nếu gặp Đào Hồng Hỉ hoặc Tả Hữu Âm Dương đúng thế thì dễ lấy
Người Mệnh Âm thì ăn mạnh sao Dương hơn sao âm....
Thêm phần coi tiểu hạn
Xét tương quan sinh khắc giữa hành Chi của năm hạn và hành Mệnh
Chi và Mệnh đồng hành: bình thường
Hành Chi sinh hành Mệnh: thuận lợi, tốt
Hành Mệnh sinh hành Chi: hao tổn
Hành Mệnh khắc hành Chi: vượt qua được nhưng gian nan
Hành Chi khắc hành Mệnh: bế tắc, thất bại
Ví dụ năm Mùi (hành Thổ), Mệnh Kim ăn, Mệnh Hỏa thì hao....
Ví dụ Mệnh Mộc, năm hạn là Tỵ Dậu Sửu thì năm Dậu, xấu nhất (vì Dậu là chính Kim) còn năm Tỵ và Sửu bị nhẹ (vì Tỵ là Hỏa đới Kim, còn Sửu thì là Thổ đới Kim)
Xét sinh khắc giữa hành Can năm hạn và hành Mệnh, ví dụ tuổi Mộc đi đến năm Canh và Tân (hành Kim) thì không lợi
Nếu bị xấu khi xét cả hai mặt về Chi và về Can thì xấu nhất
Ngoài ra còn xét cung hạn với bản Mệnh....
Vấn đề an sao
Tuổi Canh luôn có Tam Hóa liên châu nghĩa là an Khoa với Thiên Đồng, Kỵ với Thái Âm
Kình Dương và Lực Sĩ luôn luôn đồng cung
Linh tinh
Âm Dương hãm gặp Hóa Kỵ đồng cung thì lại trở thành tốt (Vân ám tường vân), Âm Dương sáng sủa gặp Kỵ thì lại xấu
Mệnh giáp Âm Dương thì không tốt, cho dù Âm Dương sáng sủa (chủ về vợ chồng xa cách, biệt ly....) vì rơi vào thế Âm Dương cách trở
Âm Dương, Khôi Việt, Hồng Đào...cần chiếu hơn thủ
Song Hao đắc địa tại Tí Ngọ, Mão Dậu (thủy triều lên xuống), đóng tại Mệnh, Quan, Di thì hợp
Đại Hao hành Hỏa, đóng tại Mão và Ngọ tốt (tiền vào như nước)
Tiểu Hao hành Thủy, đóng tại Dậu và Tí thì tốt
Đóng ngược lại thì lại không tốt
Tuổi Tỵ Hợi thì Không Kiếp, Liêm Tham không luận
Kỵ gặp Tử Phủ Vũ Tướng bình hòa hoặc hãm địa, Âm Dương hãm địa
Bộ Thiên Không Đào Hoa đồng cung: chủ họa đến bất ngờ, nhanh chóng
Ví dụ: tại Di thì ra đi bất ngờ, làm gì cũng bất ngờ, tại Tật Ách thì chết bất đắc kỳ tử, chết vì đau tim bất ngờ, tại Điền thì mất nhà cửa bất ngờ, tại Tài thì vỡ nợ, bị giật tiền...., tại Quan Lộc thì quan trường gãy đổ bất ngờ, tại Tử Tức thì con cái chết bất ngờ tuổi thanh xuân, tại Nô thì vợ chồng chia tay bất ngờ, tại Huynh Đệ thì có anh chị em chết bất ngờ. Hạn gặp Không Đào thì xui xẻo tới bất ngờ, ví dụ như Không Đào tại Nô thì đề phòng chồng chết bất ngờ vì tim mạch, bạn bè chơi với nhau không bền....
Một điểm đặc biệt khi coi phu thê là cung phu thê chỉ cho ta coi hoàn cảnh khi gặp gỡ, còn khi sống chung đã thành lập gia đình thì phải coi cung Nô làm quan trọng hơn. Ví dụ như Nữ Mệnh có Đào Hoa Đế Vượng cư Nô thì chồng bay bướm... Coi ly dị khi vợ chồng đã có con thì coi cung Nô, ví dụ như Âm Dương lạc hãm cách cung và chiếu Nô thì hai đời....
Đào Hoa Thiên Không đồng cung: hoa rơi
Đào Hoa Địa Kiếp đồng cung: hoa héo
Đào Hoa thuộc Mộc, Mộc Dục thuộc Thủy, gặp nhau thi độ số gia tăng
Đào Hoa cư Dậu thì duyên phận bẽ bàng, cư Tí thì lẳng lo, cư Mão thì tốt đẹp
Đào Hoa tại Mệnh thì xấu (mê trai, gái), chiếu Mệnh mới đẹp (người khác mê mình). Gặp Thiên Không đồng cung càng xấu thêm. Đào Hoa cư Mão đẹp nhất (có duyên, lập gia đình sớm, tươi tắn...), kế đến là cư Ngọ (nhưng kỵ gặp Tử Vi đối với Nữ Mệnh). Còn tại Dậu và Tí thì xấu. Tại Dậu thì như hoa héo, là cách lấy vợ thừa, thất tiết, không đứng đắn, hoặc về già mới lập gia đình, lấy trễ. Xấu nhất là gặp Không Kiếp, kế đến gặp Linh Hỏa. Gặp Tuần Triệt ví như hoa bị ngắt. Gặp Thiên Hình Không Kiếp thì bị bề hội đồng. Đào Hoa tại Tí gọi là phiếm thủy, chủ dâm dật, đàn bà thì lãng mạn, dễ mắc vào tình ái, nếu gặp Thiên Không đồng cung thì tuy thông minh nhung đường chồng con không khá, bị chồng bỏ... Trên 50 tuổi nếu Đào Hoa thủ hạn thì cần chú ý vì dễ bị bệnh nặng, chiếu hạn thì không sao,chỉ bị bệnh mà thôi. Tử Vi cư Ngọ gặp Đào Hoa đồng cung, đối với Nữ Mệnh gọi là Đào Hoa phạm chủ, chủ dâm dật, chỉ cách lấy nhau trái luân thường đạo lý như cách thầy lấy trò, chủ lấy tớ, họ hàng lấy nhau....
Đào Hoa cư Nô thì đàn ông mới xấu (lấy tớ)
Âm Dương lạc hãm thì dễ bị lừa do thiếu sáng suốt, nhất là tại Thìn Tuất, và hơn nữa nếu Mệnh đóng tại Thìn Tuất
Âm Dương đồng cung: vợ chồng tranh quyền nhau, hạn đến thì sẽ có chuyện tranh chấp giữa vợ chồng khiến dễ đưa đến chia ly, nếu chưa có gia đình thì không thể lập gia đình trong giai đoạn này được
Âm Dương cách cung (như Nhật tại Dần, Nguyệt tại Tí) thì vợ chồng chia ly, hoặc ít gần nhau (do công vụ....)
Âm Dương Thìn Tuất lạc hãm: tuy vợ chồng cãi nhau nhưng khó bỏ nhau
Âm Dương lạc hãm chiếu hạn thì cần đề phòng bệnh về mắt (mắt đau, mắt bị mổ)
Nhật Nguyệt tranh huy ngộ Kỵ thì không tốt
Giải thế Âm Dương cách trở thì là Tam Hóa Liên châu cư ngoại địa....
Hạn gặp Âm Dương phản bối thì khó lập gia đình nhưng lại vương vấn tình cảm
Nhị hợp
Mệnh nhị hợp cung nào thì thường bận tâm lo lắng (khổ) về điều đó, mang nặng nợ về một điều gì đó
Mệnh nhị hợp Tử Tức thì lo lắng về con cái, khổ vì con cái hoặc mặc cảm trên vấn đề con cái (như không có con...)
Mệnh nhị hợp Huynh đệ thì khổ về anh em. Có Tuần nối thì anh chị em xa thì thương nhau, gần lại không hợp....
Mệnh nhị hợp Nô thì trẻ có bạn nhiều, hay chơi với bạn....
Nhị hợp với Phụ Mẫu thì con cái quan tâm cha mẹ, hoặc cha mẹ quan tâm đến con cái
Nữ Mệnh Thân nhị hợp với Phụ Mẫu thì gắn bó với cha mẹ chồng
Thân nhị hợp Nô thì thương chồng, lo cho chồng
Cung VCD
Phụ mẫu VCD thì cha mẹ thường sống lâu (xem thêm Nhật, Nguyệt)
Tật Ách VCD thì ít bệnh tật
Điền VCD thì khó giữ nhà đất bền vững, cho dù có sau giữ của như Quả Tú
Tử VCD thì khó có con, vẫn có con nhưng không nhờ được con
Huynh VCD thì không nhờ nhau
Phúc VCD thì lại tốt
Phụ Mẫu VCD thì không giúp đỡ được cho cha mẹ nhiều, hoặc cha mẹ cũng không giúp đỡ cho con nhiều
Điền VCD gặp Triệt đương đầu: ăn trong cảnh bất ngờ, náo loạn (bất thường, phản vi kỳ cách)
Nữ Mệnh VCD thì đỡ xấu hơn là Nam Mệnh VCD
Tam hợp chiếu tại cung VCD thì phải tại Tứ Mộ mới ăn, tại các cung khác thì lấy xung chiếu
Mệnh VCD, Tử Tức VCD thì xấu, cả đời không con hoặc khổ về vấn đề con
Phu Thê vô chính diệu thường lập gia đình bất ngờ
Tam Hóa, Lộc Tồn
Hóa Lộc tại Tứ Mộ thì Lộc bị chôn vùi, do đó chủ về phúc hơn là chủ về tiền tài. Hóa Lộc cư tại Tứ Mộ thì bị vùi, nhưng nếu gặp Triệt thì lại tốt, không bị chôn lấp
Hóa Lộc đóng tại Tứ Sinh thì tốt nhất, kế đến là tại Tứ Chính
Lộc Tồn Hóa Lộc đồng cung không tốt, chủ về họa đến bất ngờ do tiền tài gây ra
Lộc Tồn mang tính chất tồn đọng, chưa hẳn là tốt (như tại Tử thì chậm con, ít con, tại Phu Thê thì vợ chồng bất hòa, chiếu tốt hơn thủ (thủ bị giáp Kình Đà), hạn VCD có Lộc Tồn thủ thường không tốt
Lộc Tồn thủ Mệnh thì cố chấp, độc đoán, gia trưởng, làm theo ý mình không hỏi người khác, cô đơn....
Tam hóa liên châu cư ngoại địa, phúc tất trùng lai (không tai họa trong đời, đời ít tai họa, bệnh tật, tù tội)
Tam Hóa cư từ Dậu đến Sửu thì là mặc áo gấm đi đêm, không tốt bằng tại Dần đến Thân
Tam Hóa liên châu tại Mệnh không tốt bằng Tam Hóa thủ chiếu Mệnh, nhưng cần phải có một sao thủ tại Mệnh mới đẹp
Cũng cần chú ý đến Tam Hóa liên châu tại đại hạn
Cự Môn
Cự Môn chủ về bất đắc chí, bất mãn, thêm Phá Toái thì càng bất mãn, cần có Tuần, Triệt, Song Hao, Thiên Hình...đồng cung. Cư Thiên Di thì hay nói, hay bất mãn, không bằng lòng, không nên ra nước ngoài dễ bất mãn...Quan Lộc có Cự Môn gặp Triệt thì làm việc lớn được, việc nhỏ không được, làm trong lúc loạn ly biến động thì rất giỏi, làm thẳng thì không được nhưng làm quanh co,lắc léo, khó khăn thì lại được.Tử Tức có Cự Môn thì bất mãn về con cái
Cự Môn không gặp Tuần, Triệt, Song Hao.... thì có tài nhưng bất đắc chí
Mệnh hay Tử Tức có Quả Tú thì thường là con một bề (hoặc toàn là trai, hoặc toàn là gái)
Khốc Hư
Khốc Hư Tí Ngọ, Nữ Mệnh thì tính tình mau mắn, nhanh lẹ, nói nhiều
Mệnh Khốc Hư Tí Ngọ Mão Dậu thì nói mau lẹ, làm mau lẹ, đời gặp may mắn
Khoa gặp Khốc Hư thì học hành nhanh
Khốc Hư hãm tại Tật thì bị ho, ho lao
Hư tại Mệnh thì hay ho, mắc bệnh phổi
VỊ TRÍ CUNG THÂN
Thân cư cung nào thì thông thường dễ khổ thân về cung đó, phải lo lắng về điều đó. Thân cư cung nào thi cuộc sống gắn liền với cung đó.
Thân cư Mệnh: không được thừa hưởng di sản cha mẹ để lại. Tính tình cương quyet, không chịu khuất phục trước người khác. Cha mẹ đẻ ra người con có Thân cư Mệnh là dấu hiệu phúc đức bị suy tàn.
Thân cư Tài: khổ vì tiền bạc nghĩa là phải lo lắng về tiền bạc, cung Tài tốt thì cũng khổ, cung Tài xấu thì càng khổ hơn.
Thân cư Di: sống ngoài đường hơn trong nhà, hay phải xa nhà hoặc tuổi nhỏ hay rong chơi ngoài đường, không hay ở nhà. Ly hương.
Thân cư Quan thì bôn ba vật lộn kiếm sống, vợ chồng góp gao thổi cơm chung (cả hai cùng nhau lo về kinh tế), nữ Mệnh dễ hai đời chồng nếu chồng về kinh tế yếu, trừ khi ly hương thì có khả năng giải được
Thân cư Phối: sống nhờ vợ hoặc chồng, vợ hoặc chồng chỉ lo ăn không ngồi rồi, hoặc rổ rá chắp lại, hoặc phải lụy vì chồng vợ, hoặc bất mãn vợ chồng, hoặc hai đời chồng. Nếu cả hai vợ chồng đều Thân cư Phu Thê thì lại sống lâu bền.
Thân cư Phúc: thì đối phó mặc theo sự may hay rủi tùy theo cung Phúc tốt hay xấu.
Thái Tuế
Thái Tuế thủ Mệnh thì tự hào, hãnh diện về bản thân, làm nghề liên quan đến ăn nói thì tốt nhất (như luật sư, thầy giáo, công an cảnh sát, thẩm phán...)
Thái Tuế mang tính chất tự hào, đóng tại Tử Tức thì tự hào về con cái, hay nói về con mình, tại Phu Thê thì tự hào về chồng hay vợ, hay khoe chồng vợ mình....
Thái Tuế tại Phu Thê thì lấy dễ, lấy nhanh, hài lòng, yêu thực sự....
Lưu Thái Tuế xung chiếu hạn thì dễ vướng vào cãi cọ, thị phi, hoặc kiện tụng...
Có Thái Tuế thủ Mệnh cũng có khả năng là con trưởng
Tuần Triệt đương đầu (xung chiếu Mệnh) thiếu niên tân khổ (vì bệnh, khổ tâm....)
Xem cung Phụ Mẫu thì phải là con trưởng hoặc út thì mới xem rõ được
Không Kiếp tại Tỵ thì phát nhanh, tàn nhanh, tại Hợi phát nhưng còn giữ lại được
Thiên Tài chủ sự cắt giảm, đóng tại Mệnh thì khó làm lớn (vì nghĩa cắt giảm), tại Tật thì lại tốt (cắt giảm bệnh tật)
Quả Tú hành Kim, Cô Thần hành Hỏa
Tang Hổ
Mệnh Tang Môn thì mặt buồn so, hiền lành
Mệnh Bạch Hổ thì có thể xinh nhưng rất dữ, gian nan, đáo để, vất vả, gian truân
Nữ Tang khổ hơn Hổ
Bạch Hổ Nữ Mệnh thì nhiều lo lắng, tại Phu thì khó lấy chồng
Bạch Hổ cư Dậu, Mệnh VCD Nữ Mệnh thì có tiếng tăm, tuy phát về sự nghiệp nhưng tình duyên, hạnh phúc gặp trục trặc, trắc trở
Bạch Hổ tại Phu Thê thì lập gia đình muộn màng, khó khăn
Các tuổi Dần Thân thì tác họa của Bạch Hổ giảm đi
Thiên Giải, Địa Giải, Giải Thần
Thiên Giải mang tai họa về tinh thần, Địa Giải mang tai họa về vật chất
Thiên Giải giải mạnh hơn Giải Thần, giải toàn bộ tai họa, tại Tài thì không tốt (giải hết tiền tài)
Địa Giải hành Thố (Địa), có lẽ bịa thêm, có lẽ tuổi Thìn Tuất Sửu Mùi và hành Thổ thì bị ảnh hương mạnh, giải sạch tốt xấu
Song Hao gặp Địa Giải đồng cung thì xấu
Song Hao Mão Dậu, sinh giờ Thìn và Dậu thì mới ăn
Tướng Quân chỉ về lãng mạn, gặp Đào Hoa, Mộc Dục, Hồng Loan...chủ về dâm
Hỏa Linh
Hỏa Linh tại cung Thủy thì không tác họa lắm
Tốt tại cung Mộc và Hỏa
Hỏa Linh cư cung Hỏa, Mộc thì tốt, ăn nói khúc triết, tại cung Thổ thì bình hòa, tại cung Kim thì ăn nói ẩu tả, thô lỗ hoặc cộc cằn....
Hỏa thì bộc phát nhanh
Linh thì phát chậm nhưng lâu bền
Mệnh Linh tinh, nếu có bệnh thì lâu khỏi
Thiên Mã gặp Tuần, Triệt không nhảy được như quan điểm của cụ Thiên Lương, và Mã tại Hợi là nơi cùng đường nên phải nhảy
Người nào đẻ vào tháng nhuận thì đời dư ăn
Cự Cơ tối hiềm Hóa Kỵ
Cự gặp Lộc Tồn thì kỵ, bất đắc chí
Cự gặp Kỵ thì bất đắc chí, bất mãn với hoàn cảnh, hay than thở, gặp Lộc Tồn thì càng xấu. Tại Tật gặp Kỵ thì có bệnh khó chữa
Hóa Kỵ hành Thủy, ở cung VCD thì lại tốt
Hung tinh
Hung tinh hãm địa thì cũng ăn nhưng ăn vào thời loạn, tranh tối tranh sáng, còn hung tinh đắc địa thì ăn vào cả thời bình lẫn loạn
Hung tinh ăn về hậu vận, về già mới ăn
Tuổi Tỵ Hợi ăn Không Kiếp rất mạnh
Phu thê
Phu thê có Thiên Không Địa Kiếp đủ bộ thì sát phu thê
Phu Thê tốt đẹp thì lập gia đình dễ dàng, vợ đẹp hoặc hiền,vợ chồng tốt....
Vợ chồng hạnh phúc hay không thì coi Nô, chủ về gia đình ăn ở, hoàn cảnh sinh sống
Vợ chồng bỏ nhau hay không thì cần coi thêm Nhật Nguyệt, nếu Nhật Nguyệt hãm thì dễ bỏ nhau, nhưng nếu tại Thìn Tuất thì lại khó bỏ. Âm Dương miếu vượng thì vợ chồng khó bỏ nhau
Lấy vợ bé thường thì phải có Đào, Hồng, Hỉ chiếu, cần Thiên Di có Đào Hoa và Tật Ách có dâm tinh như Tướng ngộ Thai....
Thiên Tài cư tại cung VCD hoặc tại Tật Ách thì lại tốt
Xương Khúc thì ham vui hát hò, văn nghệ..., không hay suy nghĩ, lãng mạn văn nghệ
Đà La thì lãng mạn, âu sầu, lì lợm
Kình Dương là gọng kìm, cần sao chủ vị
Tham Lang hành Hỏa
Hữu Bật là cây cung, ly hương, lập gia đình thì già kén kẹn hom, làm bé, làm lẽ
Giáp Xương Khúc thì là người ham vui, vì vui mà mang họa
Khi còn bé thì xét sinh khắc giữa cung và Mệnh để biết cha mẹ làm nên hoặc xuống dốc trong thời gian đó
Thiên Thọ
Thiên Thọ (Thọ chủ về lâu dài, bền) ở Tật thì bệnh tật lâu khỏi, bệnh tật triền miên, tại Mệnh thì sống lâu, tại Tài thì tiền của bền vững....
Song Hao làm giảm tác họa của Thiên Không, làm giảm bệnh tật....
Hóa Khoa, Tuần Triệt giải được Thiên Không
Thiên Tướng, Tướng Quân thì dâm &nb sp;
Nữ nhân có Thái Âm lạc hãm thì kinh nguyệt không đều, ít nhất là xảy ra trong một giai đoạn nào đó trong cuộc đời và thông thường sinh lý không mạnh, không có nhiều hứng cảm khi làm tình. Nếu Thái Âm sáng sủa thì kinh nguyệt điều hòa
Nam nhân có Thái Dương lạc hãm thì sinh lý yếu hoặc có vấn đề như xuất tinh sớm, không cương cứng, không thể làm tình nhiều lần hoặc thiếu kỹ thuật... Nếu Thái Dương sáng sủa thì sinh lý mạnh khoẻ
Tóm lại Âm Dương sáng sủa thì cuộc sống sinh lý vợ chồng tốt, một điều kiện đưa đến hạnh phúc.
Âm Dương đồng sáng sủa thì vợ chồng khó bỏ nhau, thông thường thì vợ chồng tương đắc trừ khi gặp sao khắc kỵ với Âm Dương. Âm Dương sáng sủa tại Thìn Tuất thì vợ chồng tương đắc về sở thích nhưng hay tranh cãi nhau. Âm Dương lạc hãm là một điều kiện để vợ chồng dễ xung khắc, dễ bỏ nhau, xa cách hoặc chia ly
Âm Dương đồng tranh Sửu Mùi: vợ chồng thông thường không nhường nhịn nhau, tranh đua nắm thế thượng phong, từ đó dễ đưa đến bất hòa, vợ muốn lấn chồng, chồng muốn lấn vợ
Mệnh giáp Âm Dương lạc hãm thì vợ chồng dễ xa cách hoặc chia ly, nếu gặp Tuần Triệt thì cũng bỏ nhau nhưng bỏ chậm
Hạn rơi vào Âm Dương thủ hạn cũng quan trọng, thông thường dễ liên quan đến chồng hoặc cha nếu gặp Thái Dương, và mẹ hoặc vợ nếu gặp Thái Âm
Hạn gặp Âm Dương phản bối thì khó lập gia đình nhưng lại vấn vương về tình cảm
Cung Tật có Âm Dương dù đắc hay hãm cũng dễ có tật về mắt như mắt bị cận thị, yếu
Âm Dương sáng sủa thì cha mẹ thông thường thọ, còn lạc hãm thì không thể kết luận về thọ yểu
Mệnh VCD
Nhạy bén
Có giác quan thứ sáu, linh cảm được chuyện gần xảy ra
Lúc còn nhỏ thường vất vả, lận đận, hoặc hay đau yếu, khó nuôi
Khi lớn lên, thường dễ giảm thiểu được bệnh tật, tai họa đo lường trước hoặc cảm nhận trước được sự việc sắp xảy ra
Thường hay mắc bệnh dị ứng hoặc trong đời có lần mắc bệnh dị ứng.
Rất nhạy cảm khi gần người khác phái
Dễ thích ứng được với hoàn cảnh
Không có lập trường tư tưởng vững vàng nếu không nằm trong các trường hợp đặc biệt đã nêu
Chỉ làm phụ tá thì bền, làm trưởng thì không bền, không thể đứng mũi chịu sào được, hoạt động trong bóng tối hoặc ẩn danh là hay nhất.
Cuộc sống không bền, trôi nổi, cho dù đắc cách thì thường thường phú qui cũng khả kỳ (phú quí chỉ trong một giai đoạn), hoặc đáng hưởng phú quí thì lại chết
Nếu là con trưởng thì không sống gần cha mẹ, nên làm còn nuôi họ khác, nếu gần cha mẹ thì dễ chết non hoặc nghèo (phi yểu tắc bần)
Mệnh VCD thì cần Hỏa mệnh và Kim mệnh vì mệnh VCD như nhà không nóc, cần bản mệnh có hành khí mạnh mẻ cứng cỏi làm nồng cốt. Các mệnh khác như Thổ, Thủy, Mộc mệnh chưa chắc ăn được
Thường là con vợ hai, vợ lẽ
Mệnh VCD mà cung Tử cũng VCD thì xấu, cả đời không con hoặc khổ về vấn đề con cái
Thân chào các bạn,
Các kinh nghiệm thu nhặt trên chỉ là những điều mà TMT góp nhặt trong quá trình trao đổi cũng như nhận thấy người bạn đã sử dụng khi giải đoán. Thật ra cũng khó vận dụng hoàn chỉnh nếu không phải tác giả viết và nêu lên những gì quan trọng, những gì thứ yếu khi coi. Ví dụ như khi coi hạn chẳng hạn, điều gì quan trọng nhất, điều gì thứ yếu, điều gì quyết định.....thì chỉ có tác giả mới nêu rõ được quan điểm mình. Có một điều tôi nhận thấy rất rõ là người bạn này có rất nhiều chiêu thế, chiêu thế về cách nhìn bộ Âm Dương, về luận giải cung VCD, về tác dụng của cung Nhị hợp, về các cách Thân cư cung nào, về giải đoán bệnh tật....Có nhiều điều phải nói khi nghe tôi thấy rất mới lạ, không hề đọc thấy trong sách vở nào cả, như Tham Lang là hành Hỏa chẳng hạn, hoặc VCD đắc hung tinh Thái Tuế hành Hỏa..... Còn về coi đúng hay sai thì tôi đã chứng kiến nhiều trường hợp, ví dụ như là coi một lá số của một người người bạn đã nói ngay là hai đời chồng và năm sau sẽ bỏ chồng thôi (tuổi Canh, đại hạn có tam hóa liên châu), sự việc diễn biến đúng như vậy. Hoặc có lá số một phụ nữ tôi đã coi, đưa cho người bạn duyệt lại, anh ta nói ngay rằng "số người này thì bị chồng bỏ chứ làm gì mà có chuyện bỏ chồng như đã nói với em?" mà quả thật là đúng như vậy khi tôi liên hệ để biết thực hư ra sao. Rõ ràng là trình độ tôi coi chưa tới nên chưa phân biệt được điểm dấu diếm nói trên của thân chủ do ngại ngùng gây ra. Chính vì biết rõ người bạn tôi có nhiều kinh nghiệm thành ra tôi mới không ngần ngại đăng các điều tôi thu nhặt nói trên trong khi chờ đợi bài viết mới của bạn tôi. Mọi thắc mắc tôi sẽ ghi nhận và sẽ liên lạc với bạn tôi để trả lời nếu có dịp
Thân chào
Đọc link bài gốc: http://tuvilyso.org/forum/topic/1524-vai-kinh-nghiem-xem-la-so-tu-vi-cu-vu-tien-sinh/#ixzz45clacJPB
TuViLySo.Org
|
Vua Quang Trung rất coi trọng việc chọn đất cát tường để lập kinh đô mới nên đã nhiều lần tha thiết nhờ đến cụ La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp là danh sĩ giỏi về dịch lý phong thủy đương thời tìm kiếm thế đất tốt tại Nghệ An.
Lần đầu vào tháng 4 năm Mậu Thân 1788, khi Nguyễn Huệ kéo kỵ binh thần tốc ra Bắc để trừng phạt Vũ Văn Nhậm, đã dừng quân để nhờ La Sơn phu tử “giúp coi địa lý để định lập đô ở đất quê quán mình là xứ Nghệ An”.
Nhưng một tháng sau, khi xong việc, Nguyễn Huệ từ Thăng Long quay về vẫn chưa thấy La Sơn phu tử xem đất cho, nên Nguyễn Huệ đã tự tay viết một bức thư bằng mực son tàu, trách: “Trước đây đã nhờ Phu tử về Nghệ An để coi đất đóng đô, sao tới nay ta quay về thấy việc đó chưa làm?

Vì thế ta phải thẳng về Phú Xuân để binh sĩ dưỡng sức và viết chiếu này ban xuống để Phu tử hãy cùng với quan trấn thủ Thận bàn bạc, xem xét đất đai để đóng đô tại Phù Thạch (trên bờ sông Lam, dưới chân núi Nghĩa Liệt). Hành cung hãy dựng dựa lưng vào sát núi. Cuộc đất được chọn tùy nơi Phu tử dùng con mắt tinh tường mà sớm định. Hãy mau mau chọn gấp, giao cho trấn thủ Thận xây dựng cung điện thật nhanh sao cho trong vòng 3 tháng phải xong”. Nhận thư, La Sơn phu tử viện dẫn địa thế ở Phù Thạch vừa hẹp, vừa không hợp phong thủy.
Nguyễn Huệ lại có chiếu gởi trả lời đại ý tiếp nhận những ý kiến của La Sơn phu tử, không lấy Phù Thạch làm đất đóng đô nữa, nhưng vẫn giữ ý định dứt khoát chọn đặt kinh đô tại Nghệ An và nhờ La Sơn phu tử chọn đất khác:
“Nay kinh thành Phú Xuân địa thế cách trở, lại ở xa Bắc Hà nên rất khó xử lý công việc. Chính vì thế, các đình thần có quyết nghị rằng đóng đô ở Nghệ An thì sẽ khống chế được thế lực trong Nam ngoài Bắc, vả lại người trong bốn phương có việc gì cần kíp kêu kiện cũng tiện việc đi lại (…) nhiều lần ta đã nhờ tiên sinh xem đất tìm những chỗ núi non kết phát ở đất Nghệ An mà tiên sinh đã từng chú tâm xem xét địa thế. Nhưng lâu nay vẫn chưa thấy trả lời (…) ta đã từng mở xem địa đồ hình thế vùng Nghệ An thấy ở huyện Chân Lộc, xã Yên Trường, đất đai rộng rãi, thông thoáng, khí sắc tươi nhuần, xem ra có thể chọn làm nơi xây kinh đô mới(…) tiên sinh gắng suy nghĩ giúp cho việc ấy”.
Đó là chiếu ngày 3.9 năm Mậu Thân 1788, tỏ rõ mong muốn được La Sơn phu tử coi đất lập đô, nhưng La Sơn phu tử vẫn tìm cách trì hoãn. Đó là lần thứ hai La Sơn phu tử ngầm ý từ chối cuộc đất mà Nguyễn Huệ đề nghị xây kinh đô.
Ba lần chọn đất lập đô của Quang Trung
Nhưng đến lần thứ ba, thì La Sơn phu tử đồng ý với địa điểm mới là Phượng Hoàng: “Ngày nay, khoảng giữa núi Quyết và núi Mèo, còn thấy dấu tích một thành cũ hình gần tam giác. Dấu thành và hào đương còn rõ, nhất là trong bức ảnh chụp từ cao. Cửa tiền ở phía Nam. Núi Mèo (núi Kỳ Lân) làm nền cho đồn gác, thành phía Nam chắp vào núi ấy. Mặt Đông Bắc lấy núi Quyết (Phượng Hoàng) làm thành.
Ở giữa thành, còn dấu thành trong và nền nhà. Nhấtlà có nền cao ba bậc ở phần Bắc, mà ngày sau đời Nguyễn dùng làm nền xã tắc. Chắc đó là chỗ Quang Trung, ngự triều trong khi tạm nghỉ ở Nghệ An. Tuy gọi là Trung Đô, nhưng thành Phượng Hoàng nhỏ, thành Nam chỉ dài chừng 300 mét, bức thành Tây dài 450 mét, và cái nền cao thì ngang dọc cũng chỉ có chừng 20 mét mà thôi. Ấy vì Quang Trung mất sớm, chưa kịp đổi hành cung ra cung điện. Về sau kinh đô của Quang Toản vẫn ở Phú Xuân”.
Những trích dẫn trên đây nằm trong cuốn sách giá trị: La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp của GS. Hoàng Xuân Hãn với lời tóm lược về ba lần chọn chỗ đóng đô: Lần đầu ở núi Lam Thành Sơn, lần thứ hai ở Yên Trường (cách Lam Thành Sơn chừng mười cây số ở phía Bắc), lần thứ ba ở Dũng Quyết (cách Yên Trường chừng hai cây số ở phía Đông Nam và cách Lam Thành Sơn chừng tám cây số).
Cuối năm 2011 hội thảo về Phượng Hoàng trung đô mở tại thành phố Vinh (Nghệ An), nhà khảo cổ học và nghiên cứu phong thủy lão thành Đỗ Đình Truật được mời từ TP. HCM ra Vinh để tham dự và ông đã viết một tham luận đề cập đến phong thủy của Phượng Hoàng trung đô trích dưới đây:
“Thị trấn Thanh Nghệ xưa kia chỉ là một cuộc đất từ sông Mã chạy xuống Nam đến hết sông Lam, là cuộc đất rất thịnh dễ sinh ra những vị anh hùng cho đất nước. Căn cứ vào tấu thư của Cao Biền đời Đường và “Hoàng Phúc cố chuyện” của thời Minh thì hai nhân vật này tuy sống ở thời đại khác nhau nhưng cùng chung một ý đồ đi yểm trời đất sông núi Việt Nam. May thay Lê Lợi đã bắt được tướng Hoàng Phúc, thấy trong hành trang của Hoàng Phúc có cả bản đồ của đất Nghệ Tĩnh và tài liệu về việc Hoàng Phúc đã dựng 5 ngọn cờ ở đất Hà Tĩnh cách núi Quyết độ 10km để yểm trừ vùng đất thiêng này – gọi là “cờ 5 yểm”.
Và Hoàng Phúc dự kiến đến khoảng thiên niên kỷ III thì vùng này sẽ là trung tâm chống Bắc Triều. Nguyễn Thiếp giỏi về dịch học và khoa phong thủy đã dày công đọc hết những tài liệu đó và đi thăm dò thực hư. Quả nhiên là Tổ Sơn của vùng này xuất phát từ (khe Bò Đái) nằm trong 99 ngọn núi Hồng Lĩnh sơn và được mạch khí chạy lòng vòng xuống núi Quyết rồi quay lại về Tổ Sơn; làm cho núi Quyết trở thành âm phù dương trợ, quần phong tụ khí, nên vô cùng đắc địa. Do đó mới có tên là núi Phượng Hoàng, vì ta đứng bên dòng sông Lam quay mặt ra bể thì ta thấy bên tả Thanh Long: là con Rồng Xanh (sông Lam), bên hữu là Bạch Hổ (có dãy núi của Hà Tĩnh) cũng đưa khí về núi Quyết. Còn ở mặt trước phía Đông núi Quyết là Chu Tước – vật báo hiệu Minh Đường rất phát triển và phía sau là Huyền Vũ (sao của người giữ nhà, giữ cửa, giữ nước) làm hậu phương.

Sau khi có chiếu chỉ của vua Quang Trung, Nguyễn Thiếp đã đi rà soát lại thì thấy Phượng Hoàng trung đô là nơi đắc địa hiếm có trong trời đất. Điểm này ông hoàn toàn nhất trí với tướng Hoàng Phúc (nhà Minh bạo tàn). Vì vậy ông và Trần Quang Diệu quyết tâm để lăng mộ của chủ tướng mình ở đây là hợp lý và việc xây cất trở thành việc làm vô cùng bí mật. Đứng bên ngoài mà nhìn là việc xây thành đắp lũy, bên trong thì ngấm ngầm làm việc trọng đại ấy. Tôi cũng đi rà soát lại lần nữa với hai đồng nghiệp là nhà nghiên cứu Nguyễn Thiện Đức và nhà nghiên cứu Nguyễn Ngọc Tâm thì thấy Nguyễn Thiếp miêu tả cảnh quan phong thủy của cuộc đất Phượng Hoàng như thế là rất đúng, nên đều nhất trí là di mộ của vua Quang Trung có khả năng để ở đây”.
Qua phân tích và nhận định của GS. Hoàng Xuân Hãn, cụ Đỗ Đình Truật và các tài liệu lịch sử khác như: Đại Nam chính biên liệt truyện, Hoàng Lê nhất thống chí cho chúng ta biết Phượng Hoàng trung đô đã được bắt tay xây dựng ở khoảng giữa núi Mèo và núi Quyết với lầu gác ba tầng có bố trí đồn binh bảo vệ vòng quanh đó. Xa xa về phía núi có kho lúa dự trữ. Dấu tích của thành và các đường hào đến thế kỷ 20 vẫn còn khá rõ.
Các nhà nghiên cứu kết luận địa thế của thành rất dễ giữ, vì phía trước có con Mộc và sông Lam, phía bên có núi Quyết, vốn là hào và thành thiên nhiên kề cận để che chắn bảo bọc. Tiếc rằng vua Quang Trung mất sớm nên việc xây dựng cung điện nguy nga để định đô ở Nghệ An chưa kịp hoàn thành. Vậy là, cuộc đất tuy đại lợi về mặt phong thủy nhưng giống như con phượng hoàng đang bất ngờ lâm bệnh nên không đủ sức khỏe để cất cánh bay cao khỏi số mệnh nghiệt ngã của mình.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
ất biến.
Việc đổi Tên Họ cũng thường xảy ra trong quá khứ, hiện tại và chắc tương lai cũng sẽ có trường hợp đổi Tên Họ của mình ở một ai đó.

– Xa xưa khi một triều đại mới ra đời người ta quan niệm “Thiên vận” mà đổi Họ cho “thuận thiên” thế là hậu duệ của triều vua đó có một Tên Họ mới thay thế Tên Họ cũ.
– Thời phong kiến nhiều triều thần có công lớn và họ được nhà vua ưu ái cho đổi sang Họ của vua. Thế là từ đời đó trở đi (các hậu duệ sau) đã mang một Tên Họ khác với Tên Họ xuất xứ của mình. Ví dụ thời Trần Triệu có một vài người họ Lê, Nguyễn được đổi sang họ Trần của nhà vua. Thời Lê Triều cũng vậy có một số người được đối Tên Họ mình thành Tên Họ Lê và thế là con cháu hậu duệ cứ vậy mang một Tên Họ mới về sau mà không dùng Tên Họ gốc của họ nữa.
– Thời vận đã làm biến đối Tên Họ, tức “Thiên khí” đã có sự thay đổi trong Tên Họ. Bởi theo “Thiên vận” mà người ta đổi Tên Họ. Đó là quan hệ nhân quả từ con người tạo ra.
– Nhiều bậc vĩ nhân cũng theo một quan niệm “Thiên vận” nào đó mà đổi Tên Họ của mình. Những nhà cách mạng cũng thay đổi một lần hay nhiều lần Tên Họ vì lý do “bí mật” hay vì một lý do nào ẩn ý bên trong và từ đó họ mang một Tên Họ mới, một “Thiên lực” mới.
Trong cuộc sống lại cũng có người bị đuổi khỏi họ tộc, bị tước Tên Họ. Thế là lại có một Tên Họ mới ra đời v.v…
Chùa An Ninh nằm tại thôn 4, xã Tân Hương, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương, được trụ trì bởi Đại đức Thích Tục Phương. Chùa An Ninh có tên chữ là Vĩnh Khánh tự, tên thường gọi là Chùa Trăm Gian xứ Đông, ở Vạn Lộng trang sau đổi thành làng An Ninh rồi An Đông thuộc xã An Bình, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương. Theo hệ thống bia ký, chùa Trăm gian có quy mô khá lớn và độc đáo vào bậc nhất ngày từ đầu thế kỷ XVII.
Lịch Sử: Chùa An Ninh được xây dựng từ đầu thế kỷ XVII đến năm Chính Hòa (1691) đời vua Lê Hy Tông sửa thượng điện, năm Vĩnh Thịnh thứ 1 (1705) đời vua Lê Dụ Tông vua tiếp tức sửa thượng điện, các năm 1740 và 1809 tư sửa và tôn tạo khá nhiều công trình trong chùa.
Thế kỷ XIX – XX chùa Trăm gian được trùng tu lớn. Đường vào chùa qua một cầu gỗ xây dựng theo kiểu “thượng gia hạ kiều” vào năm Cảnh Hưng thứ 1 (1740). Năm 1795, “thượng gia hạ kiều” bị giải hạ và thay vào đó là một cầu đá 9 nhịp. Đến khoảng năm 1938-1939, cầu đá bị sông ngòi vùi lấp . Đến nay cầu chỉ còn 3 hàng cột nhô lên mặt nước.
Kiến Trúc: Các công trình chính của chùa hiện nay nằm tập trung trong một quần thể kiến trúc gần như khép kín. Từ phía đông, mở đầu là công trình gác chuông, có quy mô lớn và độc đáo. Trên gác chuông ở gian trung tâm treo quả chuông đồng đúc vào năm Thành Thái thứ 2 (1890), đây là quả chuông hiếm có của tỉnh Hải Dương.
Chùa có kiến trúc kiểu chữ Đinh, được xây dựng vào năm Chính Hòa thứ 12 (1691) nhưng đã được trùng tu nhiều lần, kiến trúc hiện nay mang phong cách thời Nguyễn thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Gần đây, thượng điện đã được tu sửa lại.
Tiền đường 7 gian, kết cấu các vì kèo theo kiểu chồng rường đấu sen. Các chi tiết như cột cái, cột quân, bẩy hiên, xà nách, các con thuận, câu đầu, trụ, con vành, đấu gòi được chế tạo rất công phu. Các xà thượng, xà hạ, hoành, rui đều được soi chỉ. Kết cấu hệ thống giằng ngang và giằng dọc hợp lý, chặt chẽ. Trong tiền đường có một số bức chạm hoa lá “long quần”, chạm khắc rất tinh vi. Phần ngõa cũng được tạo dựng khá chắc chắn, tường, móng xây dựng bằng gạch Bát Tràng đe lộ bắt mạch, mái lợp ngói mũi cổ, kỹ thuật lợp phẳng.
Nối liền gian tiền đường với 3 gian thượng điện là hai máng xối. Tường xây bằng gạch Bát Tràng, bên trong trát vữa, ngoài đe mộc bắt mạch nõn dong, mái lợp ngói mũi. Bên trái thượng điện là 7 gian nhà thờ mẫu. Các vì kèo kết cấu theo kiểu kèo cầu, đơn giản. Bên phải là hai nhà khách. Hai nhà khách nối liền nhau như một hành lang. Sau thượng điện là nhà tứ ân, kết cấu theo kiểu kẻ chuyền, chồng chóp, các con chồng, đấu sen, các bức chạm lá lật chạm trồ tinh vi. Nhà thờ tổ nằm phía sau nhà tứ ân.
Sau nhà tổ là nhà cung 9 gian, kết cấu theo kiểu kèo cầu trụ đấu, mái thấp, gian hẹp, được tu sửa năm 2002. Phía bắc chùa có sân rộng chừng 1.000m², có một số công trình quay ra sân là nhà tháp nhà tăng, am trong, am ngoài cùng nhiều công trình phụ khác. Phía sau chùa là một vườn tháp gồm 10 ngôi, trong đó có 9 ngôi được xây dựng vào thời Nguyễn, một ngôi được xây dựng năm 2003.
Đầu thế kỷ XX, chùa Trăm gian còn đủ 100 gian, nhưng hiện nay chùa chỉ còn 85 gian. Chùa còn lưu giữ hệ thống cổ vật phong phú gồm 57 pho tượng Phật có niên đại thời Lê và thời Nguyễn, trong đó có tượng Trúc Lâm tam tổ, 12 bức đại tự, 12 đôi câu đối các loại, 738 bản khắc kinh Phật, 7 bia đá có niên đại thời Lê và thời Nguyễn, nhiều cổ vật có chất liệu gỗ, gốm, đồng và khá nhiều đồ tế tự mới.
Chùa An Ninh (Chùa Trăm Gian) đã được công nhận di tích năm 1990. Đến nay chùa thu hút nhiều lượt du khách tham quan. đặc biệt là vào ngày lễ chính: Ngày 13 tháng 9 âm lịch hàng năm.
Rất khó có thể tìm được nhiều nơi phong thủy đẹp một cách toàn diện, mà thường là luôn phát hiện thấy những khiếm khuyết nào đó. Thuyết phong thủy cho rằng đó là sự khiếm khuyết của địa lý, một số có thể dùng sức người để cải tạo, cụ thể:

(1) Mở đường dẫn nước: hoặc đào ao tích nước. Dối vối những điểm thiếu nước, có thể dùng cách này để khắc phục, lưng dựa vào long mạch, hai bên có hộ sa, phía trước có ao. Long mạch thông khí, hộ sa chắn gió, ao giữ nưốc, như vậy là có thể thành khu đất đại cát. Đối với một xóm, nếu gần sông thì có thể lựa chọn cách này để cải tạo và tận dụng. Nếu trước huyệt có suối chảy qua, nếu nưốc chảy xiết thì có thể xây đập chắn nước vừa để giảm tốc độ của dòng nước vừa để giữ nước, nếu dòng nước quá mạnh bật trở lại thì có thể thay đổi dòng chảy. Tuy nhiên với những dòng sông lớn thì không thể áp dụng cách này. Do đó phải dựa vào bốn nguyên tắc: hiểu tự nhiên, lợi dụng tự nhiên, cải tạo tự nhiên, thuận theo tự nhiên để tiến hành điều chỉnh.
(2) Bổ khuyết tay long, bồi đắp sa: Tay long đến thấp, Sơn sa lại khuyết thì có thể sử dụng sức ngưòi để cải tạo tình thế, thê đất, đồng thời trồng thêm cây để tăng độ cao và cuối cùng là đạt được mục đích tránh gió, điều chỉnh nhiệt độ, độ ẩm, giảm nhiệt độ.
(3) Tu bổ nhà ở: ví như thay đổi hướng của cửa 1 chính, thay đổi kích cõ cửa, thay đổi cấu tạo ngôi nhà để phù hợp với yêu cầu của thuật bát trái, thuật ngũ trái trong lý luận phong thủy, đối vói ngôi nhà hướng thẳng về đường cái hoặc đường phố lớn, có thể áp dụng biện pháp xây tường che để che chắn, tường có thể xây ở trong hoặc ngoài cổng. Mục đích một là để chắn gió, hai là tránh hung thần.
(4) Dùng các loại trấn vật phong thủy: trong thuyết phong thủy có rất nhiều loại trấn vật, ví 1 như bảo tháp trấn sông. Nếu nưốc sông chảy xiết thì thường gây nên lũ lụt, cần xây bảo tháp để trấn áp dòng nước, cầu cũng có tác dụng trấn tà. Thuyết phong thủy cho rằng, xây cầu ở cửa sông có tác dụng bảo vệ cửa ngõ, có thể giữ được tài khí của lung xóm, hình thế của dãy núi dốc, hung dữ, quật trở lại, có dáng vẻ như không bị một sự ràng buộc nào, nên xây một tòa tháp để trấn giữ.
(5) Điều chỉnh về hoa cỏ cây cối: Nhiều ngưòi biết ung cây xương rồng để tránh hung thần.
Nếu xung quanh nhà có góc nhọn xung sát có thể đặt chậu cây xương rồng ngoài cửa sổ hoặc ngoài cửa ra vào và hướng về phía góc nhọn để ngăn chặn, hiệu quả rất tốt. Mọi ngưòi đều biết rằng, cây cố có thể hút khí C02 nhả khí O2, nếu đặt cây trong nhà vừa có thể tăng cường O2 vừa có thể dùng lá của nó xua đuổi tà ma. Nếu có vật, hình gì thuộc dạng xung, sát hướng về cổng nhà thì nên đặt một loại cây tương ứng ở chỗ trước mặt khi vừa bước vào nhà. Như vậy không những có thể xua đuổi tà ma mà còn có tác dụng mang tài lộc về nhà. Ngoài ra còn có thể treo chuông gió, hồ lô, bảo kiếm, đặt sư tử đá, kỳ lân, cá vàng, trâu vàng, gà vàng để trừ tà và làm cho vận nhà ngày càng đi lên.
Đối với tình yêu, điều đáng ngại nhất là bản thân toàn tâm toàn ý nhưng đối phương lại hững hờ, thờ ơ. Khi mới quen nhau, hai bên rất tâm đầu ý hợp, khi chính thức hẹn hò yêu nhau thì hai người lúc nào cũng gắn với nhau như keo. Nhưng thời gian yêu nhau càng dài thì tình cảm càng ngày càng phai nhạt, không còn mặn nồng như lúc mới yêu, thậm chí thái độ của đối phương dần hờ hững, tìm cách lảng dần. Nếu tỉnh táo thì có thể nhận ra những rạn nứt đó, biết được rằng quan hệ của hai người đã có sự biến chất.
Nhưng nếu là người quá lụy tình sẽ không thể nhận ra sự thật, vẫn tiếp tục yêu hết mình. Cho đến khi đối phương đề nghị chia tay thì mới tỉnh mộng, có hối hận thì cũng đã muộn, đành phải nén lòng quên đi mối tình đẹp, để thời gian hàn gắn vết thương lòng. Dù bản thân rất nặng tình nhưng đối phương vấn không hề hay biết.

Bói tình yêu theo diện mạo tướng mặt có thể giúp bạn nhận ra những người chung thủy, trọng tình cảm hoặc lời nói trong tình yêu của họ là chân thật. Ngoài ra khi xem tướng mặt mà cho thấy người này khiêm tốn và hiền hòa có đa phần thường chung tình. Xem tướng thấy người này chữ tín thì tình cảm họ nói ra thường là điều thổ lộ thật sự. Với tướng người khoan dung độ lượng, lạc quan yêu đời thì yêu ghét họ rành mạch, rõ ràng, sẽ không lừa dối bạn. Căn cứ vào những đặc điểm trên, bạn có thể bói tình yêu của người yêu đối với mình một cách khá chính xác.
- Kích thước hai mắt bằng nhau, nhìn khá cân đối, vị trí của hai con mắt tốt nhất là nằm trên cùng một đường thẳng. Đây là con người chung thủy với người yêu của họ.
- Nếu một mắt thấp, một mắt cao hẳn cho thấy người này ý chí không kiên định, rất dễ bị quyến rũ, mê hoặc bởi người khác.
- Tai có vị trí cân đối, không lệch lạc: tình cảm ổn định, khó thay lòng đổi dạ dù có sự quyến rũ từ bên ngoài.
- Tai nên có vị trí cao thấp vừa phải là tốt. Nếu vị trí của tai quá cao hoặc quá thấp thì người này thường không ổn định về tình cảm, rất dễ bị kích động thậm chí thay lòng đổi dạ.
- Ngưòi có mắt to nhỏ không thường không chung thuỷ. Hai mắt to nhỏ không đều nhau, thường là tình cảm bất ổn, tâm lý không vững vàng. Người có đôi mắt như vậy rất hay thay lòng đổi dạ, tình cảm không ổn đinh, thậm chí không chung thuỷ. Tình duyên theo đó thường trắc trở, ghệp ghềnh hơn người khác.
- Mũi thẳng: thận trọng trong giao tiếp. Mũi thẳng là tướng tốt. Những người có mũi cong, vẹo thường hay lừa dối trong tình cảm.
- Hai cánh mũi cũng nên có đường nét rõ ràng, kích thước đồng đều. Những người có tướng mặt như vậy thường thận trọng trong tình cảm, sẽ lựa chọn người yêu một cách cẩn thận, kỹ càng.
- Nhân trung sâu và dài: trọng tình cảm. Nhân trung ngay ngắn, sâu và dài, hoặc nở rộng dần xuống phía dưới là người thường rất rộng rãi, trọng tình cảm, nhu cầu sinh lý bình thường.
- Miệng ngay ngắn: lời nói thành thật. Miệng ngay ngắn là tướng tốt. Những lời họ nói ra có thể tin cậy được, không sợ bị lừa dối trong tình cảm.
- Người có miệng méo, lệch thường nói những lời không thành thực, và cũng không nghiêm túc trong tình cảm.
Sống trong xã hội, dù là trong tập thể lớn hay là tập thể nhỏ thì ai cũng muốn được người khác tôn trọng và khẳng định. Được tập thể chấp nhận là một việc rất đáng tự hào. Nhưng nếu sống trong tập thể lại làm việc một mình một kiểu, tự phụ kiêu căng, coi thường người khác, hống hách ngang ngược, chắc chắn sẽ bị mọi người ghét bỏ, thậm chí còn bị trừng phạt. Đây là trường hợp không được tập thể chấp nhận. Nhưng nếu một người khiêm tốn, cư xử khéo léo, có thể nhìn thấy những điểm tốt của mọi người xung quanh, sống hoà thuận với họ, biết cách khen ngợi động viên người khác thì chắc chắn sẽ được tập thể tin tưởng, có mối quan hệ tốt với tập thể, luôn luôn có người tình nguyện giúp đỡ thậm chí dù có lâm nguy cũng được cứu giúp. Ngoài ra trong phép bói tình duyên, thống kê cho thấy những người này trong tình yêu họ sẽ thật lòng, chung tình mà không bội bạc lại người yêu.
Tổ hợp tướng mặt tốt - khiêm tốn, khéo léo, không chê bai người khác, thật lòng trong tình yêu:
Tổ hợp tướng mặt xấu - kiêu cẳng tự phụ, không biết khen ngợi người khác, tình yêu đem cân đong đo đếm

Khi gặp phải khó khăn, thất bại, mọi người thường hay nản chí, chán chường. Nhưng vẫn có những người trong khó khăn mà có thể xoay chuyển tình thế, tổng kết kinh nghiệm của sự thành công và bài học của sự thất bại và cuối cùng có được sự nghiệp thành công. Đương nhiên cũng có những người khi gặp khó khăn thì buông xuôi bỏ cuộc, không dám đối mặt với thực tế nghiệt ngã và cũng không nghĩ ra cách gì để thay đổi cục diện đó. Căn cứ theo lý luận của Nhân tướng học, sự lạc quan luôn đi cùng với sự tự tin và khiêm tốn, yêu ghét thì rành mạch; Bi quan tiêu cực thường đi với sự tự ti, hèn nhát, không biết rõ thực sự bản thân yêu ai, có tình cảm với ai.
- Khoảng cách giữa ấn đường vừa phải: người lạc quan - là tướng mặt tốt. Không vì một chút chuyện nhỏ mà thù ghét. Không vì xích mích đơn thuần mà bỏ rơi người yêu.
- Những người có ấn đường nhỏ, hẹp thường là người hẹp hòi, nhỏ mọn, tiêu cực, hiểu biết nông cạn, không thể nhận biết sự việc một cách đúng đắn, làm việc không đầu không cuối, lỗ mãng xốc nổi. Coi tình yêu là trò đùa. Không tôn trọng tình cảm của bản thân và của người yêu.
- Người có ấn đường quá rộng thường là người hèn yếu, không có chính kiến, bắt chước theo người khác.
Do đó thì khoảng cách giữa ấn đường vừa phải, không rộng không hẹp thì tốt nhất. Quá rộng hay quá hẹp đều không phải là tướng mặt tốt.
- Mũi cao: lạc quan tích cực. Mũi đại diện cho cá tính, chủ kiến của một người. Nếu mũi cân đối thể hiện được là người lạc quan, tích cực và rất có tinh thần trách nhiệm, không sợ khó khăn, quyết tâm kiên trì đến cùng. Trong tình yêu thì rất chừng mực, biết quan tâm, chia sẻ và lo lắng cho người yêu.
- Miệng có kích thưởc vừa phải: cư xử khoan dung, độ lượng. Miệng có kích thước vừa phải chứng tỏ đó là người rất lạc quan, rộng lượng, cư xử với người khác khoan dung, độ lượng, không những có thể bỏ qua lỗi lầm mà còn không tùy tiện chỉ ra điểm yếu của người khác; nếu không cũng rất sòng phẳng ý chí kiên định, làm việc luôn kiên trì tuân theo quy tắc của bản thân, không hề thay đổi, có đầu có cuối. Trong tình yêu thì kiên trì theo đuổi đến cùng; biết tha thứ lỗi lầm của người yêu; biết nói lời yêu thương, quan tâm tới người yêu.
- Cằm đầy đặn: người giữ chữ tín. Người có cằm đầy đặn thì thường lạc quan chủ động, hành động mạnh mẽ, nói là làm ngay đồng thời rất giữ chữ tín. Những việc đã hứa thì dù có khó khăn, trở ngại mấy cũng làm bằng được. Người như vậy rất dễ thành công. Trong tình yêu, đã nghĩ là nói ra; đã nói ra sẽ giữ lời và thực hiện đúng như vậy. Nếu ai đó bói tình yêu mà tìm được những người thương như vậy quả thật là an tâm.
- Người có cằm ngắn thường tính toán hơn thiệt, làm việc tiêu cực bị động không toàn tâm cho công việc. Tâm trạng rất dễ thay đổi, thường hoang mang; làm việc gặp một chút khó khăn liền bỏ cuộc giữa chừng. Không đeo đuổi tình yêu, an phận và chấp nhận thua thiệt mà không biết giành lấy hạnh phúc cho bản thân. Thường tự trách mình và chím đắm trong nỗi buồn khổ nếu thất bại trong tình yêu và hôn nhân.
Tuổi Tý:
Theo như tử vi ngày thì Phúc: Qua năm phạm Thái Tuế, bước vào năm tam hợp Thái Tuế, trường sinh đại vượng vận. Tuổi Tý chính là con giáp có vận thế đại cát nhất trong 12 con giáp. Phúc Tinh đại quý nhân lâm môn, bảo vệ cho cung Phúc Tự, chiêu nạp phúc khí, vận thế cả năm cát tường.
Lộc: Sao Phi Liêm sẽ ảnh hưởng xấu đến vận cung Lộc Tự, dễ dẫn đến kiện tụng, thị phi.
Thọ: Phi Nhẫn sát giáng họa, cung Thọ Tự chịu tổn thất nặng, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe.
Tình: Gặp năm tam hợp Thái Tuế, vận tình cảm ổn định.
Tài: Sao Thiên Tài chiếu rọi, tài vận hanh thông, vượng phát.
Duyên: Có được năng lượng của Thiên Đức hợp quý nhân, tránh được hạn tiểu nhân.
Tuổi Sửu:
Phúc: Long Đức quý nhân xuất hiện, bảo vệ cho cung Phúc Tự, gặp hung hóa cát, gặp họa hóa phúc, nỗ lực tất sẽ thành công.
Lộc: Có sự trợ giúp của Quốc Ấn quý nhân, lộc vận sẽ dần dần khởi sắc, quan vận thênh thang.
Thọ: Đại hung tinh Vong thần đến cửa, xem bói thấy ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, đề phòng tai bay vạ gió. Tình: Thiên Hỉ chiếu mệnh, Phúc Lộc song hành, đại phát, cung phu thê có tin vui.
Tài: Thái Tuế hao tài, không có lợi cho tài vận.
Duyên: Gặp Chính Ấn đại vận, có lợi cho cung Nhân Duyên, ngăn họa tiểu nhân.
Tuổi Dần:
Phúc: Gặp hai vận lớn, không chỉ xung Thái Tuế mà còn hình Thái Tuế, ảnh hưởng nghiêm trọng đến vận thế cả năm. Đây chính là con giáp có vận thế kém thứ hai trong 12 con giáp.
Lộc: Học Đường quý nhân, tuy không phải là đại quý nhân nhưng cũng giúp cho sự nghiệp học hành. Nếu muốn cầu quan cầu chức chỉ có dựa vào học tập để phấn đấu.
Thọ: Huyết Nhẫn sát phạm mệnh, tai bay vạ gió khó tránh, dễ dính họa huyết quang, thận trọng giữ an toàn tính mạng.
Tình: Sao Hồng Diễm chiếu, tình cảm phong phú, đào hoa nở rộ, cẩn trọng bản thân dễ ngoại tình hoặc dễ bị phản bội trong chuyện tình cảm.
Tài: Xung Thái Tuế, phạm phải đại hao, tài vận vô cùng xấu.
Duyên: Có được năng lượng của Nguyệt Đức đại quý nhân, nên giảm bớt được họa, giữ được cung Nhân Duyên bình an.
Tuổi Mão:
Phúc: Gặp được Thiên Đức quý nhân, bảo vệ cung Phức Tự, gặp hung hóa cát, gặp khó hóa may, giúp bảo vệ vận thế của năm được bình an.
Lộc: Tử Phù sát khiến cung Lộc ảnh hưởng nặng nề, thị phi nhiều.
Thọ: Kiếp Sát nhập mệnh, vì thế ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, thậm chí còn ảnh hưởng đến người thân trong gia đình.
Tình: Gặp thế Mộc Dục ám hợp nên tình cảm và hôn nhân tốt đẹp. Tình cảm trọn đời của bạn nếu đã kết hôn cũng cần đề phòng sự xuất hiện kẻ thứ ba phá hoại hạnh phúc.
Tài: Gặp Thái Cực quý nhân,không giúp chiêu tài vượng vận mà chỉ bù lại năng lượng thiếu hụt giúp tài vận ổn định, hồi phục.
Duyên: Chính Quan đại vận, có lợi cho cung Nhân Duyên. Lưu ý làm việc gì cũng phải quang minh chính đại, nên hợp tác cùng làm không nên đơn thương độc mã.
Tuổi Thìn:
Phúc: Tam hợp Thái Tuế, có lợi cho cung Phúc Tự, giúp cho vận thế cả năm đỏ như son. Đây chính là con giáp có vận đỏ đứng thứ hai trong năm 2016.
Lộc: Quan Phù, Ngũ Quỷ đồng hành, vận đen liên miên, vạn sự khó thành, thị phi nhiều, sự nghiệp và quan vận khó khăn trùng trùng.
Thọ: Đại hung tinh Thiên Đồ phạm mệnh, ảnh hưởng nặng đến sức khỏe và tuổi thọ.
Tình: Có Quan Đới đại vận, bảo vệ cung Nhân Duyên, vận đào hoa vô cùng vượng, những người đã có gia đình cũng cần phải đề phóng tránh chuyện ngoại tình.
Tài: Gặp năm Thân, Thân Tý Thìn tam hợp thủy khố chính là Tài khố. Gặp thế Tài vận nhập khố, vì thế tiền tài rủng rỉnh, chiêu tài đại tài, lộc của trời ban.
Duyên: Sao Thiên Giải chiếu, giúp hóa giải tiểu nhân, tăng nhân duyên.
Tuổi Tỵ:
Phúc: Gặp hình Thái Tuế, tổn hại nặng nề đến cung Phúc Tự.
Lộc: Có được sự trợ giúp của Thiên Quan quý nhân, quan lộ thênh thang.
Thọ: Gặp Phị Ma sát gây tổn hại nghiêm trọng đến cung Thọ Tự, dễ dẫn đến họa huyết quang, tai nạn ngoài ý muốn.
Tình: Gặp lục hợp Thái Tuế, ảnh hưởng nhẹ đến cung Nhân Duyên, gặp Cô Thần, dễ cô đơn trong tình cảm.
Tài: Thiên tài đại vận, các nguồn thu thêm rất vượng.
Duyên: Lâm Quan đại vận, có quý nhân giúp đỡ, tiểu nhân đứng xa, nhân duyên vượng phát.
Tuổi Ngọ:
Phúc: Dương Nhẫn xuất hiện, gây tổn hại nặng đến cung Phúc Tự, ảnh hưởng xấu đến vận thế cả năm 2016.
Lộc: Đới vượng thúc quý xuất hiện, rất có lợi cho việc cầu thăng quan tiến chức.
Thọ: Sao Tang Môn chiếu cung Thọ Tự gây nhiều tổn hại, tai bay vạ gió bất ngờ.
Tình: Găp được Nguyệt Đức quý nhân vì thế gặp hung hóa cát, gặp khó hóa may.
Tài: Chính Tài đại vận, có tác dụng thúc vượng tài vận, chiêu tài được tài.
Duyên: Dịch Mã tinh chiếu, tuy có chút biến động nhưng không quá xấu.
Tuổi Mùi:
Phúc: Tiểu hung tinh Hối Khí chiếu cung Phúc Tự, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, vận đen đủi đeo đẳng.
Lộc: Gặp được Kim Dư quý nhân nên gặp may trong sự nghiệp và quan vận.
Thọ: Gặp phải Huyết Sát, ảnh hưởng xấu đến tổng thể vận thế của cả năm.
Tình: Sao Hồng Loan chiếu vì thế nhân duyên rất vượng, đặc biệt rất tốt cho những người đang độc thân.
Tài: Suy vận bại kim đến, ảnh hưởng đến tiền tài, kiếm tiền chật vật, tài vận ngày càng kém.
Duyên: Gặp thế Thổ sinh Kim, vượng nhân duyên, cung Nhân Duyên hanh thông, tránh được họa tiểu nhân.
Tuổi Thân:
Phúc: Gặp năm bản mệnh (năm hạn) vì thế cung Phúc Tự gặp đại hung.
Lộc: May mắn có sao Văn Cương, học hành và sự nghiệp thuận lợi.
Thọ: Kiếm phong phục thi, ảnh hưởng nghiêm trọng đến cung Thọ Tự, gây họa huyết quang, lắm tai bay vạ gió, vất vả long đong.
Tình: Gặp được Quan Quý Học Đường, tuy không phải đại quý nhân nhưng cũng giúp bảo vệ cung Phu Thê ổn định.
Tài: Bính Hỏa gặp Thân Kim thành Thập ác đại bại, như cây không gốc, như nước không nguồn, tiểu nhân phá rối, tài vận suy kém.
Duyên: Gặp phải sao Tiểu Nhân, nên bị tiểu nhân hãm hại.
Tuổi Dậu:
Phúc: Tam hội Thái Tuế, vì thế cung Phúc Tự cả năm bình an.
Lộc: Gặp được Thiên Ất quý nhân, có nhiều cơ hội thăng chức, tăng lương.
Thọ: Bệnh Phù nhập mệnh, vì thế sức khỏe kém, ốm đau liên miên.
Tình: Gặp được Chính Quan đại vận nên tình cảm vợ chồng tốt đẹp.
Tài: Kiếp tài đại vận phá kim, vì thế tài vận gặp khó khăn.
Duyên: Quý nhân Tuế Đức Hợp xuất hiện vì thế giảm bớt được họa tiểu nhân.
Tuổi Tuất:
Phúc: Gặp Tam Hội Thái Tuế vì thế nhận được sự trợ giúp của Thái Tuế, bảo vệ vận thế cả năm, cung Phúc Tự cơ bản cát tường an khang.
Lộc: Có sự trợ giúp của Thiên Đức quý nhân vì thế công việc và sự nghiệp cát tường, như ý.
Thọ: Điếu Khách đến cửu, dễ gặp tang sự, cung Thọ Tự tổn hại.
Tình: Có được sự trợ giúp của Nguyệt Đức quý nhân, cung Phu Thê được bảo vệ.
Tài: Thiên Cẩu thực tài xuất hiện, ảnh hưởng đến tài vận, kiếm tiền vất vả, khó khăn.
Duyên: Thiên Ấn đại vận giúp vượng nhân duyên, tránh được tiểu nhân.
Tuổi Hợi:
Phúc: Gặp hại Thái Tuế, tổn hại nặng nề, trực tiếp đến cung Phúc Tự, ảnh hưởng vận thế của cả năm.
Lộc: Có được sự trợ giúp của Thiên Ất quý nhân, tuy bị ảnh hưởng của hại Thái Tuế, năng lượng cũng giảm sút phần nào, song cũng giúp sự nghiệp thuận lợi.
Thọ: Gặp Tuyệt vận phạm mệnh, vô cùng bất lợi, dễ chiêu tai họa, dễ gặp họa huyết quang, đau ốm liên miên.
Tình: Gặp Ngọc Đường quý nhân, tình cảm mãn nguyện như ý.
Tài: Có Thiên tài đại vận, vì thế các nguồn thu thêm rất vượng phát.
Duyên: Gặp phải hung tinh Hiêu Thần phá vận, tổn hại cung Nhân Duyên, tiểu nhân phá hoại. (Thông tin trong bài chỉ mang tính tham khảo).
Một người đàn ông từng sống trên thế gian và có ba điều ước: Có được một công việc thu nhập cao, lấy một cô vợ đẹp và trở nên nổi tiếng trên khắp thế giới.
Vào một mùa đông giá buốt người đàn ông vội vã đến một cuộc phỏng vấn tại một công ty nổi tiếng. Bỗng nhiên, trước mắt ông bất chợt có một ông lão bị trượt ngã. Ông nhìn sang người vừa ngã, trong đầu lóe lên ý nghĩa rằng người đó chắc hẳn là say rượu nên đã không đưa tay đỡ ông ta dậy, và vì điều đó có thể làm ông đến cuộc gặp muộn. Thế nhưng cuộc phỏng vấn diễn ra không thành công: Ông không được bầu vào chức vụ mơ ước.
Lần khác vào một buổi tối mùa hè người đàn ông này đi dạo trong thành phố. Nhận thấy có một đám đông các nghệ sỹ đường phố ông liền dừng lại để xem họ biểu diễn. Khán giả không đông, nhưng vở kịch thật vui vẻ và cuốn hút. Sau khi kết thúc buổi diễn, những tràng vỗ tay vang lên và mọi người bắt đầu tản đi. Người đàn ông cũng quay về nhà nhưng lúc đó có ai đó đã rụt rè chạm tay vào vai ông. Đó chính là nữ nhân vật chính của vở kịch – một bà cụ diễn vai hề. Bà liền hỏi ông có thích vở kịch đó không, có hài lòng về các nghệ sỹ không, nhưng người đàn ông đã không muốn trò chuyện với bà và khinh khỉnh quay người bước về nhà.
Một lần khác nữa vào một buổi chiều mưa người đàn ông nọ vội vã trở về nhà sau buổi sinh nhật ở nhà một người bạn. Ông đã rất mệt mỏi và trong đầu ông hiện lên ý nghĩ về một chiếc bồn tắm hoa sen và một chiếc giường ấm áp tiện nghi. Bỗng nhiên ông nghe thấy có tiếng nức nở đang cố nén lại của ai đó.
Đó là một người phụ nữ đang khóc. Cô ta ngồi trên chiếc ghế dài đằng sau ngôi nhà của ông. Cô ngồi một mình và không có ô che mưa. Nhìn thấy người đàn ông, cô gái liền quay sang nhờ ông giúp đỡ. Cô đang gặp bất hạnh trong gia đình, và cô chỉ cần có một người để chia sẻ trò chuyện. Người đàn ông nghĩ ngợi, trước mắt ông là hình ảnh chiếc bồn tắm và chiếc giường, thế rồi ông vội vã đi tiếp.
Người đàn ông đã sống một cuộc đời bất hạnh, rồi ông qua đời! Khi đến thiên đường, người đàn ông gặp lại người bạn của mình là Thần cứu thế.
“Bạn có biết không, tôi đã trải qua một cuộc đời hoàn toàn bất hạnh và vô giá trị. Tôi đã có ba điều ước mơ nhưng chẳng đạt được một điều ước nào cả. Thật đáng tiếc”.
“Hừm…. Bạn của tôi ơi, tôi đã làm tất cả để mọi ước mơ của bạn được trở thành hiện thực, nhưng để làm được điều đó, điều mà tôi cần ở bạn chỉ là: đôi tay của bạn, đôi mắt của bạn và trái tim của bạn.
“Rồi sao nữa?”
“Cậu còn nhớ người đàn ông đã bị ngã trên con đường trơn vào một mùa đông chứ? Bây giờ tôi sẽ cho bạn biết điều này….. người bị ngã đó là giám đốc điều hành của công ty mà bạn đang muốn được vào. Một sự nghiệp rạng rỡ đã chờ bạn. Mọi thứ cần ở bạn – là đôi tay của bạn đó.
Bạn còn nhớ về bà cụ diễn vai hề, người sau buổi biểu diễn đường phố đã tiếp cận với cậu bằng những câu hỏi. Đó là một nữ nghệ sỹ trẻ đẹp, người đã yêu cậu từ cái nhìn đầu tiên. Một hạnh phúc tương lai chờ đợi hai người – những đứa con, một tình yêu bất tử. Tất cả những điều cần ở bạn – là đôi mắt của bạn đó.
Cậu có nhớ đến người phụ nữ đã khóc ở gần lối vào nhà cậu không? Khi đó là một buổi chiều mưa và người cô ấy đã bị ướt cùng với nước mắt…..
Đó là một nữ văn sỹ nổi tiếng. Cô ấy đang trải qua cuộc khủng hoảng gia đình và cô ấy đã rất cần có sự nâng đỡ về tinh thần. Giá như cậu có thể giúp cô ấy được sưởi ấm trong căn phòng của mình, được sưởi ấm tâm hồn nhờ vào những lời động viên an ủi thông minh của cậu thì cô ấy sẽ viết nên một cuốn sách kể về chuyện đó. Cuốn sách sẽ trở nên nổi tiếng trên khắp thế giới và cậu sẽ được vinh danh bởi trên trang đầu cuốn sách tác giả sẽ đề tên người đã trở thành nguyên mẫu tác phẩm đó. Và tất cả những điều cần ở cậu khi đó – là trái tim của cậu đó. Cậu đã không quan tâm đến điều đó, bạn của tôi ạ”.
Hãy lắng nghe thế giới vì nó vẫn mang đến những cơ hội và bạn không nên chỉ biết đòi hỏi về sự giúp đỡ, mà bạn còn phải xứng đáng để được đón nhận nó!
Trần Việt Sơn thuật theo cụ Thiên Lương
Sau bộ Không Kiếp, đến bộ Kinh Đà (Kình Dương, Đà La). Cũng như Không Kiếp có đắc địa mới ăn. Kình Đà chỉ ăn ở các cung đắc địa. Và phải có chính tinh chỉ huy. Như Phá Quân cùng với Không Kiếp đắc địa thì ăn lớn, Kình phải có Thất Sát mới ăn to. Kình, Đà đứng hai bên Lộc Tồn, cho nên không có trường hợp đồng cung. Chiếu thì lại không ăn to. Phải đóng ngay tại Mạng hoặc tại cung mà thôi. Cho nên cần phần biệt các trường hợp riêng rẽ.
TRƯỜNG HỢP KÌNH DƯƠNG
Ai cũng biết rằng có cách Hình, Sát thì oai hùng. Hình là Thiên Hình. Sát là Thất Sát. Được cách Hình Sát tại Mạng thì phát công danh lớn, thường về võ nghiệp.
Kình, Sát (Kình Dương, Thất Sát) cũng được hưởng như Hình, Sát (vì Kình đóng vai hình)
Về cách này, xin chú ý:
– Kình phải đóng tại Mạng cùng với Sát mới được.
– Hoặc là Mạng có Thất Sát, thì đến Đại Vận có Kình là ăn. Nếu chỉ gặp Đại Vận có Kình chiếu thì cũng hưởng, nhưng kém hơn
– Phải là Thất Sát mới chỉ huy được Kình, tức là mới vận dụng được Kình. Trong bộ Sát, Phá, Tham chỉ có Sát mới chỉ huy được Kình, còn các sao khác kém hơn, không đủ sức chỉ huy.
– Kình phải đắc địa tại Thìn, Tuất, Sửu, Mùi thì mới có ảnh hưởng tốt.
Kỳ trước, chúng tôi đã ghi rằng bộ Phá Quân, Không Kiếp đắc địa rất mạnh. Bộ Thất Sát, Kình cũng mạnh, nhưng kém hơn bộ Phá Quân, Không Kiếp. Nhưng kinh nghiệm lại cho biết rằng bộ Sát, Kình tuy ảnh hưởng kém mạnh, nhưng lại hay hơn bộ Phá Quân, Không Kiếp, là vì nó “phù hẳn”, chứ không “tráo trở” không phù mạnh rồi hạ xuống.
Nếu không có Thất Sát
Mệnh phải có Thất Sát, mới vận dụng được Kình.
Nhưng nếu không có Thất Sát, thì có Phá Quân cũng tạm được, nhưng ảnh hưởng tốt kém Thất Sát.
Họa hại vì Kình
Kình Dương kị các tuổi: Dậu, Tuất, Hợi.
Ba tuổi đó đến Đại vận có Kình Dương là gặp họa hại, phải coi chừng.
Ba tuổi đó, Mạng có Kình Dương, cũng phải coi chừng những họa hại.
TRƯỜNG HỢP ĐÀ LA
Đà La đắc địa tại: Dần, Thân, Tị, Hợi, ở cung Mạng vô chính diệu, không có Tuần Triệt là Đà La độc thủ, rất anh hùng. Tức là cho đương số phát mạnh, phát lớn, phần nhiều về võ nghiệp. Nhưng phải là người Kim Mệnh hay Thủy Mệnh thì mới ăn; chứ người Hỏa thì lại không được.
Trong trường hợp trên, Đà La độc thủ đã trở thành chính tinh, rực rỡ, cho nên phải không có Tuần Triệt tại đó mới được, có Tuần Triệt lại hỏng mất cách hay.
TRƯỜNG HỢP XẤU CỦA ĐÀ LA
Đà La ở hai cung Thìn, Tuất đóng vai trò La Võng chi địa.
Không phải cứ hai cung Thìn, Tuất là Thiên La, Địa Võng, tức là lưỡi trời ràng buộc các đương số, phải có Đà La đóng đó mà Đà La là lưới trời, thì hai cung đó mới là hai cung lưới trời trói buộc. Do đấy đừng thấy Mạng đóng tại Thìn Tuất mà bảo rằng Mạng bị ràng buộc. Mạng tại Thìn Tuất, mà có Đà La thì mới bị ràng buộc (phải Đà La ngay cung Mạng, chứ Đà La chiếu sang Mạng cũng không sao)
Đà La là lưới tại Thìn, Tuất thì các sao khỏe ở đấy như như Tử-Tướng, Phá Quân bị trói lại, không thi thố được nữa. Những sao yếu, hiền lại không bị Đà La trói buộc.
Cũng như Kình đóng vai trò của Thiên Hình, Đà đóng vai trò của Hóa Kị.
CÁCH AN KÌNH, ĐÀ
Theo kinh nghiệm của cụ Thiên Lương, cách an Kình Đà có hơi khác các sách, nhưng hợp lý ở chỗ phân biệt Âm, Dương.
Kình, Đà ở hai bên có Lộc Tồn, và theo nguyên tắc “Tiền Kình, hậu Đà”. Nhưng hướng trước sau phải tuỳ theo người tuổi Âm hay tuổi Dương. Như tuổi Âm thì an theo chiều ngược lấy chiều đó rồi, thì Kình đi trước cung có Lộc Tồn, và Đà La đi sau cung có Lộc Tồn. Vì dụ tuổi Ất Mùi, Lộc Tồn ở Mão thì Kình ở Dần, Đà La ở Thìn.. Tuổi Dương thì theo chiều Dương, và theo chiều đó, như tuổi Giáp Dần, Lộc Tồn ở Dần, thì Kình ở Mão, Đà La ở Sửu.
Theo cách an đó, nhớ là Kình Lực luôn luôn đi với nhau. Chỗ nào có Lực Sĩ là có Kình Dương.
Theo tạp chí Khoa Học Huyền Bí
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)