Mơ thấy bánh gatô: Công việc xã hội và làm ăn kinh doanh như ý –
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
Tên quan trọng như đã nói. Vì thế nên tránh những tên mang nghĩa xấu như: Toi, bại, hảm v.v…

– Những tên thô tục như: Dâm, bạo, hâm v.v…
– Tên đặt phi hợp phong tục, tập quán, dân tộc ví như người Việt Nam sông trên đất Việt Nam thì không nên đặt tên tiếng Âu, Mỹ, Tàu, Nhật, v.v…
– Tên có nghĩa trong sáng, rõ ràng, minh bạch, không tối nghĩa, ẩn ý thù oán v.v…
– Tên đặt với âm điệu thông dụng, dễ phát âm, dễ gọi. Trong thực tế nhiều dân tộc, nhiều vùng đặt tên theo thổ ngữ hay tiếng dân tộc. Các loại tiếng này tuy với dân tộc khác là khó phát âm, khó đọc. Song nó phù hợp phong tục, tập quán của dân tộc đó.
Vẫn biết phòng tắm là nơi có nhiều âm khí do tình trạng ẩm ướt kéo dài (và cả uế khí đối với những phòng tắm kết hợp cả phòng vệ sinh), nhưng nó lại đóng vai trò không thể thiếu được đối với mọi căn nhà. Đã không thể bỏ nó đi được thì bạn cần phải tìm cách để khắc phục những điềm xấu và phát huy những điểm tốt của nó.
Dù phòng tắm của bạn được đặt, hoặc buộc phải đặt (do không có sự lựa chọn nào khác) vào bất kỳ một khu vực phong thủy nào thì điều đầu tiên bạn cần quan tâm là luôn giữ cho chúng sạch sẽ và khô ráo nhất có thể, đưa những nguồn và giữ những nguồn năng lượng tinh khiết trong phòng tắm.
Không chỉ ảnh hưởng đến sức khoẻ, phong thủy phòng tắm còn có vị trí quan trọng trong tình yêu và khu vực hôn nhân nếu được đặt ở khu vực Tây Nam ngôi nhà. Theo phong thủy, khu vực phía Tây Nam, mà đại diện là yếu tố đất, là khu vực của tình yêu và hôn nhân. Trong trường hợp phòng tắm nằm ở khu vực này, hãy tập trung vào việc tăng cường yếu tố đất, đại diện phong thủy của khu vực này.
Cả yếu tố lửa và đất đều tốt cho phong thuỷ khu vực Tây Nam. Do đó bạn có thể cân nhắc việc sử dụng gam màu đỏ (đại diện của yếu tố lửa) hoặc màu vàng ấm (đại diện của yếu tố đất) để trang trí.
Khi phòng tắm nằm ở khu vực Tây Nam, bạn cần phải có cách sắp xếp và trang trí nhằm nhấn mạnh những nguồn năng lượng của tình yêu. Hãy đặt một bức tranh đẹp với hình ảnh của hai người đang yêu, hoặc một đôi chân nến cao, bao quanh bởi những viên pha lê hình hoa hồng. Hay một số các hình ảnh hoặc đồ trang trí nào có tính nuôi dưỡng cảm xúc của tình yêu trong bạn (những món đồ gợi nhắc những kỷ niệm đẹp chẳng hạn).
Ngoài việc tăng cường năng lượng của các yếu tố phong thủy tại khu vực bát quái cụ thể, hãy tập trung vào việc nhấn mạnh và tăng cường năng lượng bát quái liên quan.
Khi bố trí phòng tắm nên chú ý đến việc giới hạn sử dụng đồ trang trí hoặc màu sắc đại diện cho yếu tố kim, mộc và thủy tại khu vực Tây Nam phòng tắm. Tuyệt đối không trưng bày những đồ vật gợi nhắc đến sự cô đơn tại khu vực này.
Các lời khuyên theo phong thủy cho phòng tắm
- Đầu tiên, đó là vị trí đặt phòng tắm, không gian này nên được đặt chỗ kín gió, tránh nhìn thẳng ra cửa vì dễ bị gió lùa. Điều này sẽ rất không tốt cho sức khỏe những người sinh sống trong nhà.
- Nước là yếu tố quý giá trong thuyết phong thủy. Không có nước cũng đồng nghĩa với không có nguồn năng lượng luân chuyển trong ngôi nhà của bạn. Phòng tắm cũng cần được thiết kế để không bị nước bẩn ứ đọng trên sàn nhà. Sau khi sử dụng căn phòng này cũng cần phải được giữ khô thoáng.
- Lựa chọn một tác phẩm nghệ thuật, một bức tranh hay vài món đồ lưu niệm trưng bày trong phòng tắm sẽ mang đến cho bạn cảm giác thoải mái, đó có thể là tranh vẻ các cảnh đẹp thiên nhiên yên bình để mang đến cho không gian nơi đây cảm giác thư giãn thực sự.
- Ánh sáng thích hợp, không gian thoáng mát sạch sẽ là những điều tối quan trọng cho phòng tắm. Căn phòng này không cần quá nhiều ánh sáng như phòng khách, cũng không nên quá tối như phòng ngủ. Ánh sáng dịu nhẹ sẽ giúp bạn cảm thấy thư thái hơn.
- Một bát đá cuội, những viên đá trang trí, một chậu cây cảnh nhỏ hay một bình hoa tươi được đặt ở giá phía trên toilet sẽ là món đồ trang trí không thể thiếu cho phòng tắm giúp tạo sự cân bằng các yếu tố.
- Phòng tắm nên đặt chỗ kín. Nếu như phòng tắm nhìn thẳng ra cửa chính tạo thành một đường thẳng, đập vào mắt người vào cửa sẽ không tạo được thẩm mỹ và cũng không phù hợp với phong thủy. Như vậy, sẽ không tốt cho sức khỏe những người sinh sống trong nhà. Nếu không đặt ở vị trí thẳng ra cửa chính thì cũng không nên đặt ở những vị trí quá lộ liễu.
- Gian vệ sinh không nên đổi thành phòng ngủ. Đô thị thời hiện đại đất hẹp người đông. Một số gia đình để tiết kiệm không gian đã lấy ra một gian vệ sinh làm thành phòng ngủ.
- Nhà vệ sinh luôn được coi là nơi không sạch sẽ, lại ở hướng dữ để chấn áp các sao dữ nên phòng ngủ đặt gần nhà vệ sinh là không thích hợp và chuyển vệ sinh thành phòng ngủ lại càng không nên.
- Phòng tắm cần thường xuyên sạch sẽ để đảm bảo sức khỏe cho người sinh hoạt trong nhà và không gây ảnh hưởng tới các không gian khác. Nơi đây cũng cần thoáng đãng để cho không khí trong lành từ ngoài thổi vào và từ trong được hút ra ngoài. Vì vậy, cửa sổ hoặc cửa thông gió cần thường xuyên mở để cho không khí được lưu thông, giúp phòng tắm luôn có không khí trong lành.
những đồ vật khác. Đồng tiền xu là một trong những vật phẩm được dùng trong phong thủy để thu hút tiền bạc, thịnh vượng. Một trong những ưu điểm của những đồng tiền xu phong thủy đó là sự đơn giản khi áp dụng. Hơn nữa, bạn có thể sử dụng những đồng xu này cho nhiều nơi khác nhau, không quá khó khăn trong việc chọ vị trí đặt để như các đồ vật thu hút thịnh vượng khác như cóc ngậm tiền hoặc hòn non bộ.
![]() |
![]() |
a. Nổi danh về ngành nghề, khả năng nào đó rồi qua sự nổi danh ấy mà kiếm tiền. Tỉ dụ một nhà kinh tế gia được mời cai quản, tính thị trường cho hãng sản xuất
b. Nếu tự tay kinh doanh thì đã nổi tiếng với một hai vụ làm ăn rồi từ đấy có đà phát triển
Nói tóm lại Vũ Khúc Hóa Khoa kể là cách danh lợi song thâu. Nhưng danh ở Vũ Khoa khác với danh ở Thiên Cơ Hóa Khoa, Thái Dương Hóa Khoa hay Tử Vi Hóa Khoa không phải danh trên văn chương, trên thế lực mà là cái danh của thực tế kiếm tiền.
Nếu Vũ Khoa gặp Liêm Lộc thường qua danh mà thâu lợi bất ngờ. Đã Vũ Khúc Hóa Khoa thì đương nhiên Thái Dương đứng với Hóa Kị (như người tuổi Giáp tứ Hóa an theo tuần tự: Liêm Phá Vũ Dương. Người xưa thâm ý muốn nhắn bảo phải cẩn thận khi đi vào vận Thái Dương Hóa Kị, danh cao bổng hậu cho người oán ghét ắt tai họa cũng gần chứ không xa.
Vũ Khúc Tham Lang đồng cung mà Vũ Khúc đứng bên Hóa Khoa cùng lúc lại có cả Linh hay Hỏa Tinh thì hoạnh phát mau hơn nhưng cũng lại vì dương danh vô lối mà thất bại chóng hơn.
Các nhà Tử Vi Trung Quốc chủ trương Vũ Khúc Hóa Khoa nên thành công qua nghề chuyên môn hơn là xông vào doanh thương, đỡ kẻ thù đỡ kẻ ghét.
Vũ Khúc Hóa Khoa đóng Thê, vợ đoạt quyền chồng nhưng đồng thời cũng phù trợ chồng chứ không đoạt quyền để lăng loàn. Vũ Khúc Hóa Khoa đóng Tử Tức không đông con và có nhiều khả năng con hai dòng nhưng con cái đa năng.
Vũ Khúc đơn độc đóng Phụ Mẫu dễ xung khắc với cha mẹ. Nhưng có Hóa Khoa không những bớt khắc mà còn sinh trưởng từ một gia đình uy danh. Cung Tật gặp Vũ Khúc Hóa Khoa gặp Hỏa Tinh phải coi chừng phổi nhiệt, khí quản viêm.
HÓA KHOA TỬ VI
Tử Vi rất hợp với Hóa Khoa, nếu cả Thiên Phủ đứng cùng càng hay vì khi có Thiên Phủ tất nhiên phải kèm Thiên Tướng như vậy kể là tạm đủ văn võ triều đình.
Ở trường hợp không Phủ Tướng mà lại thấy tứ Sát Hình Hao hội tụ thì Hóa Khoa vô dụng. Tuy nhiên về mặt học vấn vẫn xem là con người có học, ít nhiều đến được với khoa bảng.
Tử Vi Hóa Kị đứng với Xương Khúc Khôi Việt, Long Phượng thì đa tài đa nghệ theo đuổi một ngành nghề khả dĩ thành công.
Tử Vi Hóa Khoa có một điểm dở là bạn hữu, phần lớn Tử Vi Hóa Khoa đi với nhau ở cung Nô thường xấu. Tỉ dụ Tử Vi Hóa Khoa đóng Tí, cung Nô Bộc Thái Âm ở Tỵ đứng cùng Hóa Kị không bao giờ được sự đắc lực của thủ hạ hay bạn bè. Cung Nô cũng gây ảnh hưởng luôn với cung Bào Huynh. Như vậy Tử Khoa không có thể cộng tác với ai, cộng tác chỉ bị thiệt. Trường hợp sinh ban đêm hay Thái Âm đắc địa sẽ giảm những khó khăn trên. Tỉ dụ số nữ mà Tử Vi đóng Ngọ cung, Thái Âm ở Hợi đứng với Hóa Kị mà lại sinh ban đêm thì thuộc hạ bằng hữu thật hữu dụng.
Tử Vi Hóa Khoa tính tình khoan hậu, nhưng tính cách này lại rất dễ biến thành chủ quan, yêu ghét giận mừng một cách chủ quan khiến cho lòng khoan hậu vì thiện từ mà đâm phiền, có khi lại thành đố kị.
Cho nên Tử Khoa nếu vào vận Hình Sát ắt đưa đến tình trạng hoài tài bất ngộ, vào vận hanh thông lại dễ bị đố kị. Thà đừng Hóa Khoa thì cuộc sống yên hơn.
Các cung lục thân mà Tử Vi Hóa Khoa đều kể làm tốt. Tỉ dụ cung Huynh đệ Tử Khoa, anh em ruột thịt nâng đỡ, vào Phụ Mẫu được cha mẹ che chở, vào Thê cung dễ gặp vợ hơn tuổi nhưng đảm đang, vào cung Nô Bộc mà thấy cả văn tinh thì tài năng kém thuộc hạ, cần phải biết sử dụng khéo thì tình thế này mới hay. Tử Khoa đóng Tật Ách phải săn sóc hệ thống bài tiết nhất là nhiếp hộ tuyết.
HÓA KHOA THÁI DƯƠNG
Thái Dương bản chất là tán phát nên không thật thoải mái với Hóa Khoa. Hóa Khoa làm tăng thêm tính phát tán ấy cho nên dễ thành ra tiếng nhiều mà miếng ít. Bị người chú ý quá mức dù là ngưỡng vọng thì cũng phiền. Như quẻ dịch gọi bằng “Khang long hữu hối” là thế.
Thái Dương miếu địa đứng với Khoa không bằng đứng với Lộc, Quyền trên thực tế thâu hoạch tốt. Thái Dương Hóa Khoa cũng cần bách quan tề tựu mới thành đại sự, nếu chỉ gặp Sát Hình thì là hư danh hư lợi thôi, có khi còn bị thiên hạ lợi dụng nữa.
Nói về bách quan tề tựu cũng có hai hình thái khác biệt. Thái Dương Hóa Khoa nhất định là nổi danh, người đời chú ý từ cử chỉ đến lời nói, nếu được văn tinh Xương Khúc chế giàm tục khí ngôn hành văn nhã, thiếu văn tinh sẽ thô lỗ, ẩu tả cho người đời đàm tiếu. Thái Dương hãm địa hoặc bị Tuần Triệt sự ẩu tả đậm nét hơn.
Có Xương Khúc rồi thêm Lộc Tồn càng đẹp. Cách Dương Lương Xương Lộc đóng vào Mão tốt nhất, trường hợp này Hóa Khoa sẽ đắc lực hơn Quyền Lộc nếu vào học thuật văn chương, nhưng lại không thành giàu có.
Thái Dương Hóa Khoa chỉ thành phú cách nếu xung chiếu bởi Hóa Quyền và cung Quan có Hóa Lộc. Được Thiên Mã Tả Hữu sẽ rất sớm thành công nếu như không bị Hỏa Linh Không Kiếp.
Dương Khoa có Cự Môn đứng cùng hay chiếu, ăn nói lý luận cứng cỏi vào ngành ngoại giao hay pháp luật hợp cách. Thái Dương Hóa Khoa ở hãm cung mà bị Không Kiếp sẽ vì danh vọng hão mà mang họa vào thân.
Dương Khoa đóng cung lục thân đều hay trừ cung Nô Bộc. Dương Khoa đóng Bào Huynh, Phu Thê, Phụ Mẫu những người thân ấy đều có danh vọng. Đóng vào Nô Bộc, thuộc hạ sẽ lợi dụng danh mình hoặc tựa vào mình mà vượt trội lên hơn mình.
Dương Khoa vào lục thân cung nếu bị Đà La Không Kiếp lại thành ra bị lục thân bóc lột. Thái Dương Hóa Khoa đóng Tật Ách dễ bị bệnh ở buồng gan, can khí nhiệt uất bốc lên mặt làm thành bệnh mắt.
HÓA KHOA THIÊN CƠ
Thiên Cơ bản tính phù động, đứng với Hóa Khoa tính năng động ấy sẽ thành kế hoạch, giỏi về giao tế, thuyết phục thiên hạ. Khoa đi với Cơ tốt hơn Lộc đi với Cơ.
Khoa Cơ luôn luôn đeo đẳng một điểm phiền là gặp Hóa Kị đứng với Cự Môn (người tuổi Đinh tứ Hóa an theo thứ tự Âm Đồng Cơ Cự). Cự Kị đương nhiên này không tuyệt đối thành cặp hung thần nếu không bị hung sát tinh khác. Hễ có hung sát tinh hội tụ để trợ giúp Cự Kị lập tức sinh phiền nhiễu do vạ miệng, do những lời phê bình sắc bén mà gây thù oán ảnh hưởng cho công việc làm.
Thiên Cơ Hóa Khoa càng thông tuệ, có điều Thiên Cơ đa học nhưng lại bất chuyên. Bởi vậy Cơ Khoa ít hy vọng thành một chuyên gia thật giỏi. Cơ Khoa sẽ chịu ảnh hưởng nhiều từ Cự Kị khi vận đi xuống. Bởi thế Cơ Khoa lúc đắc thời đắc thế cần thận trọng.
Ông Vương Đình Chi đưa ra lập luận sau đây: “Thiên Cơ đóng Mệnh rất ngại sao Thiên Lương đóng Phúc Đức (đó là cách Cự Cơ Mão Dậu đấy) sẽ đưa đến tình trạng tự thị thông minh mà rơi vào lầm lẫn to tát, khiến cho khả năng quyền biến thành hư ngụy, hoặc ra con người khinh bạc khó thành đại sự”
Cơ Khoa đóng Huynh Đệ, anh em bất hòa thường trực, hoặc bằng mặt mà chẳng bằng lòng, anh em cộng tác với nhau mà mỗi người lại tính toán riêng. Thà không Hóa Khoa còn hơn, có Hóa Khoa vào Huynh Đệ không chỉ ảnh hưởng đến anh em mà còn ảnh hưởng đến cả bè bạn. Có Hóa Khoa tóm lại khó lòng gặp được người cộng tác trung thực.
Cung Tật Ách thấy Cơ Khoa can hỏa vượng thịnh, khó ngủ vì tâm thần bất giao do sự hun nóng của lá gan đưa đến thần kinh suy nhược.
HÓA KHOA VĂN XƯƠNG
Xương Khúc tuy là phụ tinh nhưng cũng dự phần vào chuyện an tứ Hóa. Một phụ tinh nữa dự phần tứ Hóa là sao Hữu Bật. Xương Khúc chủ văn chương nên gặp Hóa Khoa kể như hữu lý.
Một phái hệ Tử Vi bên Trung Quốc không chấp nhận Hữu Bật đứng với Hóa Khoa, nhưng đấy chỉ đặt vấn đề thôi, không được giải quyết.
Thời xưa do khoa cử mà nên công danh (dĩ nhiên cũng không thiếu gì người qua dị lộ mà có công danh). Bởi vậy khi chuyển vào số mà chủ trương Mệnh hay Thê cung mà có Xương Khoa rất đáng mừng. Vận gặp Xương Khúc Hóa Khoa cũng thuận lợi cho công danh.
Đời bây giờ Xương Khoa không còn sức mạnh để đạt công danh như ngày trước, chỉ xem là giành được phần khoa bảng thôi.
Văn Xương chủ về văn thư khế ước, viết sách nổi tiếng, hoặc có văn bằng mà thành danh giá. Xương Khoa Hóa Lộc đi cùng khả dĩ nhờ một khế ước mà có tiền.
Xương Khoa cần có thêm Tấu Thư càng dễ nêu cao danh vọng. Xương Khoa cũng là dấu báo của một tin vui. Xương Khoa là một con người giỏi thích ứng với cuộc sống, yêu đời.
Xương Khoa vào vận hạn hay các cung lục thân mà gặp nhiều hung sát tinh thì lại không tiếp tục mang tính chất mừng vui hỉ khánh nữa mà có thể ra tang lễ. Tại sao? Vì Xương Khoa chủ về lễ nhạc kèn trống tế lễ.
Thê cung thấy Xương Khoa đi cùng Đào Hoa vào cổ thời là con người ưa lấy vợ lẽ thiếp hầu, ở thời này thường xảy ra những cuộc tình ngoại hôn. Xương Khoa vào cung Tật Ách mà có Hỏa hay Linh thì bệnh tật để lại vết sẹo, như giải phẩu hoặc nám da.
HÓA KHOA THIÊN LƯƠNG
Thiên Lương chủ quí nên cần gặp Hóa Khoa để mà danh dự. Cơ Lương đi cặp đứng cùng Hóa Khoa là con người quản trị giỏi. Thiên Lương Hóa Lộc dễ được người tin cậy.
Cách Cơ Cự Đồng Lương được Hóa Khoa là một cán bộ hành chánh cừ khôi, hoặc là loại chuyên viên có hạng. Cao thấp còn tùy sao bản mệnh.
Lương Khoa trên tính tình là con người từ ái, chuộng nghĩa khinh tài. Lương Khoa mà gặp Văn Khúc Hóa Kị đối xung thì sức lực bị giảm hẳn, gây thù chuốc oán vì cái tính bới lông tìm vết xét nét tiểu tiết nhỏ nhặt.
Lương Khoa có Tấu Thư học vào ngành viết diễn văn, làm đổng lý phụ tá đắc lực.
Lương Khoa đi cùng Thiên Đức Giải Thần học thuốc dễ thành công.
Thiên Lương Thiên Đồng hễ có Hóa Khoa thì không sợ thấy Thiên Mã, không Khoa chỉ có Thiên Mã thôi Đồng Lương sẽ ra lãng đãng, bông lông.
Đồng Lương Hóa Khoa có Thiên Mã thành ra con người giao du rộng rãi “tứ hải văn danh”. Ngay cả Thiên Lương Tỵ Hợi mà được Khoa cũng giảm bớt chất phiêu bồng thêm Khôi Việt nữa thì qua cơn phiêu lãng trải nhiều kinh hiểm khả dĩ nên công. Lương Tỵ Hợi vào Thê cung dù có Khoa cũng vẫn không đẹp.
Lương Khoa đóng Phụ Mẫu hay Tử Tức đều tốt, được ân đức cha mẹ và con cái thành đạt. Thiên Lương đóng Tật Ách gặp Không Kiếp dễ bị tê thấp đau nhức, có Hóa Khoa càng nặng.
Nữ mệnh Thiên Lương Hóa Khoa đóng Tật Ách gặp Linh Hỏa bị lưu sản, bệnh lộn xộn đường kinh. Từ trước tới giờ người ta nghĩ Hóa Khoa vào Tật Ách là giải hết bệnh hoạn, điều này qua kinh nghiệm không đúng
HÓA KHOA THÁI ÂM
Thái Âm là tài tinh, khi đã hóa thành Khoa khiến cho tài nguyên thuận lợi. Thái Âm Hóa Khoa vào kinh doanh hợp cách, dễ tạo thanh danh cho công việc kinh doanh mà sinh lợi. Tỉ dụ một tiệm ăn nổi tiếng, tiệm quần áo nổi tiếng….
Thái Âm khác Thái Dương ở điểm: Thái Dương trải ánh sáng đi, tán quang trong khi Thái Âm lại liễm ánh sáng tới. Bởi thế nên sự thành danh cũng khác với thành danh của Thái Dương. Thái Dương mở rộng ra quần chúng, Thái Âm lại cần hạn hẹp với lợi ích bản thân.
Thái Âm Hóa Khoa tạo tính lạc quan, dễ sống, thích nghi hưởng thụ. Thái Âm Hóa Khoa đóng Phúc Đức quan niệm sống thoải mái với hưởng thụ nhân sinh. Do đó mới có luận cứ rằng: Âm Khoa đóng Mệnh đắc địa không hay bằng đóng Phúc Đức trên mặt nhàn nhã hưởng thụ. Vì Âm Khoa ở Mệnh thì cung Phúc Đức có Cự Môn thường đưa đến tình trạng đam tâm thái quá dễ mệt mỏi tinh thần.
Âm Khoa vào Tài Bạch cung thì cung Mệnh sẽ là sao Thiên Lương thủ. Tiền bạc không do tự tay mình tung hoành mà nhờ thanh vọng chức tước sẵn có để hưởng bổng lộc. Thái Âm đóng hãm cung mà có Hóa Khoa càng vô duyên với những vụ đầu tư, hãy theo đuổi chức nghiệp thì hơn.
Thái Âm hãm đứng với Hóa Khoa ở Tật Ách chủ về bệnh âm hư. Âm Khoa đắc địa vào cung lục thân Phụ Mẫu Tử Tức xem là tốt đẹp kể luôn cả Thê cung, nhưng nếu lạc hãm thì ngược lại.
HÓA KHOA VĂN KHÚC
Xương hay Khúc đều là văn tinh cho nên đương nhiên cần Hóa Khoa. Thời xưa cho rằng Văn Khúc không bằng Văn Xương vì Văn Khúc mang khuynh hướng dị lộ công danh. Văn Khúc Hóa Khoa cùng với Ấn Quang Thiên Quí tốt hơn Văn Khúc chỉ với một Hóa Khoa, như vậy mới thành cách “Ân Khoa”. Cách này dễ được đề bạt vào chức vị.
Văn Khúc sao có tài ăn nói nếu gặp Cự Môn Hóa Lộc thì nói ra tiền, hoặc vì giỏi ngôn từ mà được người đời tin cậy. Văn Khúc cũng chủ về thuật số đứng với Khoa và Cơ Âm học về thuật số khả dĩ nổi danh.
Văn Khúc Hóa Khoa chịu ảnh hưởng nhiều từ các sao mà chúng đứng cùng. Tỉ dụ Tử Vi Thất Sát không ưa Văn Khúc Hóa Khoa lắm. Tử Sát chủ về quyền lực, Khúc Khoa không làm tăng tấn quyền lực, đôi khi còn làm trở ngại cho khả năng quyết đoán.
Vũ Khúc có thể cần Văn Khúc thôi, nhưng không cần Văn Khúc với Hóa Khoa vì Khoa chen vào tạo thành mâu thuẫn đáng lẽ cần tham, quyết định thì là dùng dằng mà hỏng việc. Nhưng Thiên Cơ Thiên Lương thì tuyệt đối cần Văn Khúc Hóa Khoa. Cơ Lương có được Khúc Khoa thanh vọng tăng lên, nhưng đồng thời cũng mang một khuyết điểm là nhiều lý thuyết hơn hành động.
Cự Môn Hóa Lộc đứng với Văn Khúc Hóa Khoa tài ăn nói hơn người với điều kiện đừng có Sát Kị tinh. Gặp Sát Kị sẽ bị họa do ngôn từ. So Xương với Khúc thì Văn Xương thiên về tư tưởng, Văn Khúc lại ngả về hành động. Văn Xương khi suy tư rất sáng nhưng vào hành động lại vụng về, trong khi Văn Khúc suy tính không tinh sảo nhưng hành động đắc lực.
Khúc Khoa vào cung Phúc Đức ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc đời. Khúc Khoa đóng Mệnh mà Thê cung lại thấy Văn Xương Hóa Kị thì trước khi có vợ đã có thiếp. Nữ mệnh mà như thế lúc lấy chồng không còn là con gái nữa. Nó không rõ rệt như Tham Đào nhưng là ngấm ngầm.
HÓA KHOA THIÊN PHỦ
Thiên Phủ ưa nhất Lộc. Khoa đối với Phủ chỉ là thứ yếu. Thiên Phủ thiếu Lộc mà gặp cả Sát tinh như Triệt Tuần, Linh Hỏa, Không Kiếp sách gọi bằng: “Phủ khố không lộ” (kho thủng, kho không cửa ngõ). Khoa vào chẳng giúp ích được gì.
Thiên Phủ Hóa Khoa không bị sát tinh là người quản thủ tiền bạc giỏi. Thiên Phủ Hóa Khoa gặp Sát tinh nên học một nghề cho tinh để vinh thân.
Phủ Khoa thành một cách đặc biệt nếu gặp Thiên Riêu đứng bên. Hễ có Riêu thì không sợ các sát tinh. Thêm Sát tinh càng tốt, biến ra con người nhiều mưu chước kinh doanh tài chánh, hoàn cảnh càng biến hóa càng lên cao. Phủ Khoa Riêu không Sát tinh thì chỉ là con người gây được tín nhiệm của thiên hạ nhưng coi chừng tâm tư người này quá lớn.
Tử Vi Thiên Phủ đồng cung hoặc đối xung thì Thiên Phủ Hóa Khoa kể làm tốt nhất là với người tuổi Nhâm vì còn hội thêm với Quyền Lộc. Phủ Khoa trong trường hợp trên đem lại khả năng lãnh đạo và được người tin cậy miễn đừng thấy Hóa Kị đứng bên Vũ Khúc. Có Vũ Kị biến ra lý tưởng quá mức mà đưa đến không tưởng.
Phủ Khoa đóng lục thân, có thể tin cậy trong mọi công việc làm ăn. Tỉ dụ vào cung Bào hãy cộng tác với anh em ruột thịt. Phủ Khoa đóng Thê cung hay Phu cung luận đoán phức tạp hơn. Vì Phủ ở Thê thì Mệnh là Tham Lang. Phủ Khoa như vậy người phối ngẫu sẽ chỉ phúc hậu với điều kiện hơn tuổi (vợ già hay chồng già). Phủ Khoa gặp Sát tinh đóng Tật Ách thường bị bệnh ở bộ phận tiêu hóa: dạ dày, ruột.
Nguồn Sưu tầm
Phong là Gió và Thuỷ là Nước. Khái niệm Phong Thuỷ có lịch sử hàng nghìn năm. Người ta áp dụng kiến thức Phong Thuỷ trong kiến trúc, đo đạc, mỹ học, năng lượng sinh học, chiêm tinh… Thuật Phong Thuỷ được sử dụng rất rộng rãi, đặc biệt trong việc xây nhà từ lúc đào móng tới khi khánh thành, với từng chi tiết nhỏ nhất liên quan tới số mệnh con người.
Còn với thời trang – lĩnh vực khi nhắc tới là người ta nghĩ đến các nhà thiết kế, trang phục đẹp, những siêu mẫu trên tạp chí – liệu có sự kết hợp nào giữa kiến thức Phong Thuỷ cổ xưa với thời trang hiện đại ngày nay?
Thời trang Phong Thuỷ là kỹ thuật thiết kế và may mặc mới, bắt nguồn từ cảm hứng nghệ thuật cổ xưa của người Trung Quốc về cách sắp xếp, bố cục màu sắc trang phục kèm theo phụ kiện. Theo đó, các mẫu trang phục được thiết kế sao cho hoà hợp, cân bằng giữa môi trường và lợi ích con người.
Người ta coi Phong Thuỷ thể hiện ở năm màu là trắng, đen, đỏ, vàng và xanh. Năm màu – ngũ sắc này là những yếu tố cơ bản của vũ trụ và có thể được ứng dụng trong cuộc sống.
Màu sắc có thể ảnh hưởng tới tâm tính và cảm xúc. Màu sắc trang phục không chỉ tác động tới người mặc, mà còn ảnh hưởng tới những người xung quanh, hay còn gọi là hiệu ứng tâm lý màu sắc. Đây chính là một phần trong thuật Phong Thuỷ khi xem xét mối tương quan với thời trang.
Ví dụ như màu sắc tối thường gợi lại cảm giác huyền bí, nhưng cũng làm người đối diện cảm giác bất an vì sợ hãi, hăm doạ. Màu lam nhạt lại nói rằng, chủ nhân bộ trang phục là người khá mềm mỏng và thân thiện. Màu sắc rực rỡ thì có ý nghĩa sôi nổi, mong muốn xung quanh chú ý.
Nếu mang trang phục với màu sắc khiến chính người mặc không thoải mái, thì có nghĩa là màu sắc đó không phản ánh đích thực con người bên trong của chủ nhân bộ trang phục.

Thời trang Phong Thuỷ không chỉ phổ biến ở màu sắc quần áo, mà còn thể hiện ở cách phối màu trong văn phòng, ngôi nhà của bạn. Ví dụ màu nâu sẫm phù hợp với nhà bếp, trong khi màu lam nhẹ thích hợp hơn với phòng trẻ em hay studio nghệ thuật.
Màu sắc mạnh thường rất phổ biến ở những không gian tập trung đông người, trong khi màu trung tính là ý tưởng hay với phòng tắm.
Ý nghĩa của những sắc màu trang phục
Màu Xanh
Màu xanh là màu của sinh sôi, phát triển. Vì thế, nó là màu sắc lý tưởng cho trang phục nếu người vận nó làm nghề giáo viên, hay đòi hỏi kỹ năng chuyên môn. Nó cũng tốt để thể hiện một con người tích cực, luôn hướng đến cái mới mẻ, không theo lối mòn. Hãy tránh vận bộ xanh nếu có cảm giác không thể nào ngơi nghỉ.
Màu Vàng
Màu vàng rực rỡ là niềm vui hân hoan, màu vàng nhẹ lại là sự ổn định và vững chắc. Vận quần áo màu vàng khi muốn thể hiện sự rõ ràng, sáng sủa, cũng như là màu trang phục lý tưởng khi đưa ra các quyết định. Tránh màu này nếu cảm thấy mệt mỏi.
Màu Đỏ
Đây là màu sắc lý tưởng để thu hút sự chú ý. Hãy mặc trang phục màu đỏ nếu đi tới cuộc thử giọng, thể hiện tác phẩm nghệ thuật hay muốn trở thành một phần không thể thiếu được ở đám đông. Hãy tránh màu này khi cảm thấy bực bội, bồn chồn.
Màu Đen
Màu đen gợi cảm giác huyền bí, sâu kín và sức lực ghê gớm. Mang trang phục màu này khi muốn là người chỉ huy uy quyền hoặc thể hiện sự bí ẩn. Nhưng người mặc hãy tránh xa màu đen nếu bị mọi người hoài nghi về động cơ hay khi muốn được đối xử công bằng.
Màu Trắng
Không gì mang lại cảm giác tin tưởng, tín nhiệm như màu trắng. Vận trang phục trắng khi muốn sự xuất hiện thực sự tỉ mỉ, cẩn trọng, hiệu quả và hoàn hảo. Tránh xa màu trắng nếu muốn tạo ra hình ảnh khoan hoà, dễ chịu. Màu trắng có thể thúc đẩy những âu lo, vì thế, hãy cẩn thận khi lựa chọn trang phục.
Màu Ánh Kim
Những màu ánh kim như vàng, đồng, bạc gợi cảm hứng của sự sáng tạo. Không gì tốt hơn màu này cho trang phục nếu người mặc bận rộn với dự án mang tính nghệ thuật nào đó. Màu ánh kim dễ gợi cho người khác sự bình phẩm, vì thế hãy tránh mang trang phục màu này nếu là người nhạy cảm, hay bị tổn thương.
Ngoài màu sắc, ứng dụng kiến thức Phong Thuỷ vào thời trang, người ta còn nói tới Trí. Trí chính là năng lượng tỏa ra từ con người và tác động tới xung quanh. Trí có ảnh hưởng rất lớn đến suy nghĩ và cảm giác.
Nó cũng chỉ lối dẫn đường trong sự tương tác giữa một cá nhân với thế giới xung quanh. Người ta tin rằng, Trí được quyết định bởi một phần màu sắc trang phục, đặc biệt là chất liệu, màu và kiểu dáng. Những chất liệu lý tưởng thường là cotton, lụa, lanh, len và da. Điều quan trọng cần lưu ý là, trang phục len và da không nên bó sát cũng như tiếp xúc với da.
Âm và Dương
Da, len và lụa đều xuất phát từ nguồn gốc động vật, nên được cho là mang đặc tính Dương, thể hiện hành động, tổ chức và sự năng động. Nếu muốn tìm tới năng lượng Âm thay thế, thì tìm tới cotton và lanh (xuất phát từ thực vật). Những chất liệu Âm này thường mang đến sự giao tiếp, tính sáng tạo và độ nhạy cảm.

Màu Sắc Theo Ngũ Hành
Việc lựa chọn màu sắc phù hợp với sở thích, tính cách của bản thân cũng chính là màu sắc phù hợp với nguyên lý Ngũ Hành tương sinh, tương khắc. Đã có từ rất lâu đời và không thể tách rời với con người phương Đông chúng ta đó là Ngũ Hành trong phong thuỷ.
Màu sắc trong phong thuỷ chủ yếu hướng đến việc cân bằng năng lượng Âm và Dương để đạt đến sự hài hoà lý tưởng. Âm là sắc tối yên tĩnh hấp thu màu và Dương là sắc sáng chuyển động phản ánh màu. Do vậy, màu sắc được vận dụng để tăng cường những yếu tố thuận lợi và hạn chế những điều bất lợi từ môi trường tác động vào ngôi nhà.
Theo nguyên lý Ngũ Hành, môi trường gồm 5 yếu tố và mỗi yếu tố đều có những màu sắc đặc trưng. Màu sắc trong ngũ hành của thuật phong thuỷ được áp dụng trong kiến trúc ngày nay.
Tính Tương Sinh Của Ngũ Hành
Tính Tương Khắc Của Ngũ Hành
Tương sinh, tương khắc hài hoà, hợp lý sẽ mang lại sự cân bằng trong phong thuỷ cũng như trong cảm nhận thông thường của chúng ta theo thuật phong thuỷ.
Việc lựa chọn màu theo sở thích hay chọn màu theo nguyên lý ngũ hành trong phong thuỷ là hai phương pháp khác nhau nhưng cùng chung một kết quả. Nắm được các quy luật trên kết hợp cùng kiến trúc sư, bạn sẽ có được đúng màu sắc hợp với ngũ hành của mình.
"Tứ chính giao phù kỵ nhất Không chi trực phá"
Triệt Lộ Không Vong là bao vây, ngăn cách từ cái xấu đến cái tốt, đã không cho xâm nhập từ ngoài vào (xấu cũng như tốt) , mà còn phá đổ tất cả những gì trong cung bị nó phong tỏa.
"Tam phương xung sát hạnh nhất Triệt nhi khả bằng"
(Không vong định yếu đắc dụng, nhược phùng bại địa chuyên khán phù trì chi diệu, đại hữu kỳ công).
Tuần Triệt chỉ có thể làm giảm sự tốt đẹp của Cát-tinh hay tiêu-tán bớt sự xấu của Hung-tinh, chứ không thể biến đổi tính cách của sao được, như biến Cát-tinh trở thành Hung-tinh và ngược lại.
Tuần-Triệt có thể làm cho bộ Sát Phá Tham thành hiền dịu lại đôi chút, còn đối với CNĐL thì làm cho bộ này trở nên chậm rãi, phấn-đấu hơi khó-khăn chứ không thể biến đổi từ ôn-hòa trở nên hào hùng và khí-phách như bộ SPT được.
Tuần-Triệt cũng không thể thay-đổi tính-cách của vòng Thái-tueá được, nhưng các sao trong tam-hợp Thái-tuế bị Tuần-Triệt phải tùy thuộc vị-trí mà thay-đổi tư-cách.
Trường-hợp những người chẳng may bị đặt để vào những vị-trí bất mãn (tam-hợp Tuế-phá, Thiếu-dương, Thiếu-âm) dễ tự thiêu thân, làm những việc xấu (nếu gặp SPT và Sát-tinh); được Tuần hay Triệt đóng khiến tự hạn-chế những tham-vọng và hành-động của mình mà thuận theo đường lợi-ích, nâng cao tư-cách không kém gì những người tam-hợp Thái-tuế.
Tuần-Triệt đóng giữa 2 cung trong tu vi, nghĩa là chỉ có liên-quan đến 2 cung đó mà thôi.
Dương-Nam / Âm-Nữ = ảnh-hưởng Tuần-Triệt tại cung Dương 70% và tại cung Âm 30%
Âm-Nam / Dương-Nữ = ảnh-hưởng Tuần-Triệt tại cung Dương 80% và tại cung Âm 20%
Mệnh bị Tuần hay Triệt thiếu-niên tân-khổ, luôn gặp trở-ngại lúc đầu thực-hiện công-việc.
Mệnh bị cả Tuần lẫn Triệt thì đời bị vùi xuống đất đen, không phải là Tuần-Triệt phá nhau để cho đương-số được thong-thả.
Tuần-Triệt phá nhau dành cho những người thuận lý âm-dương:
Mệnh hay Thân có một Tuần hay Triệt, đến đại-vận từ 30 tuổi trở đi gặp Tuần hay Triệt hay Triệt thì sẽ được tháo-gỡ cho hanh-thông, dầu chỉ là một vài năm (bất chấp đến vòng Thái-tuế).
Trường-hợp người Dương đóng cung Âm (hoặc ngược lại) mà Mệnh-Thân có một Tuần hay Triệt, khi đến đại-vận gặp Tuần hay Triệt thì thời-vận tốt mở làm hai lần chậm chậm ở 2 cung đại-vận có Tuần hay Triệt đóng (mỗi đại-vận là 5 năm).
Mệnh Tuần Thân Triệt (hoặc ngược lại) không còn gì để tháo-gỡ; ngay cả khi đến đại-vận Thái-tuế, ảnh-hưởng tốt đẹp cũng chỉ thỏa mãn 50% mà thôi.
Trên đây là kinh nghiệm về hai sao Tuần Triệt của học phái Thiên Lươngtrong việc bình lá số Tử Vi, thật ra vấn đề đặc tính, ngũ hành và tác dụng của Tuần Triệt hiện còn đang là những nghi vấn, đề tài gây ra nhiều tranh luận, tùy theo mỗi người có lối tiếp thu, suy luận và khám phá riêng mà giải đoán.
Nếu như bạn có phúc phận, dẫu ở những nơi phong thủy kém, phong thủy cũng sẽ theo bạn mà chuyển biến tốt lên. Nếu như bạn không có phúc phận, thì dù có ở nơi phong thủy tốt, phong thủy tốt cũng sẽ tự mình phá hủy mất. Kinh nghiệm đoán mệnh của một vị cao nhân, khiến cho rất nhiều người phải ngạc nhiên đến ngây cả người.
Cần phải tôn kính trời đất, nhật nguyệt, sông núi, cỏ cây, chim cá, đá cát, vạn vật, sách vở, bởi vì hết thảy những thứ này đều có linh tính cả. Bạn mà tôn trọng chúng, chúng sẽ thành tựu bạn, giúp đỡ bạn mọi lúc mọi nơi. Tình cảm này giống như tìm được tri kỷ của mình vậy.
Thử hỏi cảm giác chúng ta khi gặp được người bạn tri âm trong lòng như thế nào? Trạng thái tinh thần đó quả thật là vô cùng đặc biệt, nói dễ hiểu một chút chính là người già tám mươi cũng sẽ cảm thấy mình như mười tám vậy, những người thô kệch cũng có thể viết nên những áng văn thơ, đây chính là nét bút vẽ rồng thêm mắt, linh hồn sống lại, nó cũng là như vậy.
Vậy làm thế nào để bồi dưỡng phong thủy? Câu trả lời chính là hãy bồi dưỡng phúc đức của mình
Cái gọi là đất quý phong thủy, chính là những nơi có sinh khí hưng thịnh nhất. Sát sinh, sẽ khiến cho hết thảy sinh linh đều sợ hãi, đều chạy trốn không kịp. Hãy thử nghĩ xem, nơi nào không có sinh linh, chẳng phải sa mạc sao. Trên sa mạc, cái gì cũng đều không có, vậy thì còn chở tiền tài, phúc lộc thọ, an khang gì nữa.
Hiếu thuận với cha mẹ, không xích mích chống đối cha. Hiếu kính cha mẹ chính là một phương thuốc có thể thay đổi hết thảy vận mệnh trong cuộc sống. Phật Đà chẳng dạy rằng đã làm người cần phải biết phụng dưỡng cha mẹ.
Ở trong nhà nói với người thân cũng không được, bởi vì không phải nhà không người lạ thì chẳng ai nghe thấy. Thực tế Thần đều đang lắng nghe bạn, vạn vật đều đang nghe thấy cả, cho đến cả cái ly, cái đĩa, cái chén, cái đèn, bình phong, bàn ghế, v.v…. ở bên cạnh bạn đều cũng đang nghe.
Bạn nói xấu người khác, những thứ kia đều không phục bạn. Điều này cũng giống một tướng lĩnh, quân sĩ mà không phục tùng, thì bạn không có cách nào ra lệnh cho họ được, như vậy lòng quân sẽ tan rã. Chúng ở cùng với bạn lâu có thể còn sẽ bắt chước theo bạn, đúng với câu nói “vạn vật đều mang hình tượng của người chủ”.
Vậy nên có những người xem tướng một người, họ chỉ cần nhìn vào những vật mà người này từng dùng, liền biết ngay người này là như thế nào rồi, bản thân vật thể này biết nói chuyện. Vạn vật đều có linh tính, vạn vật đều là biết tự mình bộc lộ tâm sự vậy.
Biển cả dùng cái thiện ở nơi thấp của mình mà làm vua trăm sông. Địa thế của biển cả là thấp nhất nên trở thành vua. Chúng ta đặt bản thân mình ở vị trí thấp nhất để phúc đức trí huệ của trăm sông vạn vật cũng có thể hội tụ. Chúng ta nói đức dày chuyên chở vạn vật, muốn chở được vạn vật thì cần phải đặt bản thân mình ở dưới vạn vật, đặt mình ở vào vị trí thấp nhất.
Chúng sinh phúc mỏng, chính là vì sự tôn kính dành cho nhau càng ngày càng ít. “Cung kính trời thì có thể biết được đạo trời (thiên đạo); cung kính đất thì có thể biết được cái lý của đất (địa lý); cung kính các vì sao có thể biết được các tinh hệ; cung kính sông núi thì có thể liễu giải được sông núi; cung kính cỏ cây thì có thể liễu giải được cỏ cây; cung kính chim cá thì có thể hiểu được chim cá; cung kính đá cát thì có thể hiểu được đá cát”.
Bạn cung kính cái gì, thì cái đó liền nguyện ý giúp đỡ bạn, thành tựu bạn. Tỷ như cây cỏ lúc sống thì mềm yếu, chết rồi thì lại cứng khô. Thân thể người khi còn sống thì mềm yếu, chết rồi lại trở nên cứng đờ. Đây chính là nói rằng mềm yếu là một loại biểu hiện của sự sống, theo đây có thể suy luận rằng làm người cần phải mềm dẻo chứ đừng nên cố chấp, đây mới là nền tảng của phú quý phúc hậu.
Bất kể xem chỗ nào cũng đều phản ánh toàn bộ tướng số của người này, có thể thông qua cốt cách, có thể thông qua hình bóng sau lưng, có thể thông qua nét mặt, có thể thông qua nơi ở, có thể thông qua làn da của người ta, có thể thông qua nét chữ của người ta, có thể thông qua hộp đựng đồ dùng văn phòng mà nhìn.
Người xưa tại sao lại có thể bắt mạch, dựa vào mạch tượng của người ta để phán đoán phúc lộc của một người? Cái này là thật sự có thể. Một người và tất cả những sự vật bên cạnh của người ta, đều là tâm tướng được phóng đại phản ánh ra bên ngoài của người ta, chỉ cần cẩn thận quan sát những tín tức này, thì bản thân là có thể nhìn ra được.
Muốn định được phúc lộc của người ta, thì phải xem thử cách nói chuyện và làm việc của người này. Nói chuyện không có bắt bẻ lại người ta, làm việc thường hay giúp đỡ người khác đến khi thuận lợi mới thôi, dòng khí lưu chuyển của bản thân cũng sẽ do gợi ý của tâm lý này mà trở nên thông suốt.
Ví như nổi nóng oán hận thường xuyên sẽ nghẹt khí tắc khí, vậy nên cần phải khống chế oán hờn trong lòng, tựa như các khí bụi lắng xuống sẽ tạo thành mặt đất, từ đó mới có thể chuyên chở vạn vật. Cũng như thế đối với khuyết điểm và thiếu sót của người khác hãy bao dung, làm được vậy thì bản thân chư vị sẽ thấy mình có sức mạnh to lớn.
Của cải chính là đến từ các loại thu hoạch, các loại tài sản. Của cải chỉ có thể dùng đức dày để mà chuyên chở. Nếu không thì trái lại sẽ trở thành tai nạn.
Ví như nói, bây giờ cho bạn mười triệu, bạn cầm được mười triệu mà trong lòng nơm nớp lo sợ, sợ người ta đến giành, đến trộm, đến cướp. Mười triệu này, bạn lấy để làm gì? Bạn không có đức, thì sẽ dùng để phóng túng bản thân, suốt ngày ăn uống chơi bời, không biết phấn đấu, sau cùng tổn hại thân thể, tâm hồn, sức khỏe, đã hủy hoại chính bản thân mình rồi. Đây chính là đạo lý không dùng đức dày mà chuyên chở sự giàu có thì sẽ gặp phải tai ương.
Chim uyên ương là biểu tượng hạnh phúc và quen thuộc cho đôi tình nhân. Trưng bày một đôi uyên ương, chúng sẽ tạo một loại khí rất thuận lợi…

Chim uyên ương là biểu tượng hạnh phúc và quen thuộc cho đôi tình nhân. Trưng bày một đôi uyên ương, chúng sẽ tạo một loại khí rất thuận lợi giúp đôi lứa trở thành vợ chồng. Một đôi uyên ương có lẽ là biểu tượng mạnh nhất về hạnh phúc trong hôn nhân. Nếu muốn cung cấp năng lượng cho cuộc sống tình cảm, hãy trưng bày hình ảnh của cặp đôi uyên ương này. Tuy nhiên, không nên chạm khắc hình đôi uyên ương trên gỗ, bởi gỗ là hành Mộc tương khắc với hành Thổ cần phải cung cấp năng lượng tại khu vực Tây-nam của phòng ngủ. Tiểu Mộc thì không sao nhưng chạm khắc hình đôi uyên ương thường tạo thành Đại Mộc. Do đó, người độc thân đang tìm kiếm tình yêu hãy trưng bày bức tranh đôi uyên ương hoặc một đôi uyên ương làm bằng đá. Điều này sẽ tăng cường hành Thổ, sẽ kích hoạt quẻ Khôn ở góc Tây-Nam của phòng ngủ. Quẻ Khôn rất thuận lợi cho hôn nhân. Quẻ này thuộc khu vực Tây-Nam của phòng ngủ, khu vực tượng trưng cho tình yêu và hôn nhân. Vì vậy, hãy đặt một cặp uyên ương ở góc Tây-Nam của phòng ngủ, hoặc phòng khách, để kích hoạt khí may mắn chủ về tình yêu và hôn nhân. Nếu kết hợp với một lẵng hoa mẫu đơn, và chiếu sáng đầy đủ, thì như gấm thêu hoa.
Các ngày Thái Bạch không phụ thuộc vào tháng.

| Ngày kỵ đón dâu (âm lịch) |
Phương Thái Bạch soát |
| 1-11-21 |
Thái Bạch đóng chính ở phương Đông |
| 2-12-22 |
Thái Bạch đóng chính ở phương Đông Nam |
| 3-13-23 |
Thái Bạch đóng chính ở hướng Nam |
| 5-15-25 |
Thái Bạch đóng chính ở hướng Tây |
| 6-16-26 |
Thái Bạch đóng chính ở phương Tây Bắc |
| 7-17-27 |
Thái Bạch đóng chính ở hướng Bắc |
| 8-18-28 |
Thái Bạch đóng chính ở phương Đông Bắc |
| 10 – 20 – 30 |
Thái Bạch đóng chính ở thiên vô kỵ |
* Lưu ý:
Sao Thái Bạch đóng ỏ’ phương, hướng nào thì tránh đón dâu về phương hướng đó (lấy nhà gái làm Tâm). Riêng thiên vô kỵ thì kỵ mọi hướng.
tốt. Nhưng có thật sự là ai sinh vào năm đó cũng tốt không?
Chọn năm sinh con hợp tuổi bố mẹ dựa theo Ngũ Hành
Ngũ Hành của bản mệnh là yếu tố đầu tiên được xem xét đến khi chọn năm sinh con. Quy luật tương sinh tương khắc của Ngũ Hành rất đơn giản và dễ nhớ:

Như vậy, khi sinh con cần lựa chọn năm sinh để con không khắc với bố mẹ và ngược lại. Ví dụ: Bố mệnh Kim, mẹ mệnh Hỏa thì có thể chọn con sinh năm có bản mệnh Thổ là hợp tương sinh nhất.
Thông thường con khắc bố mẹ gọi là Tiểu Hung, bố mẹ khắc con là Đại Hung, nếu không tránh được Hung thì nên chọn Tiểu Hung sẽ đỡ xấu rất nhiều.
Chọn năm sinh con hợp tuổi bố mẹ dựa theo Thiên Can
Thiên Can (hay còn gọi là Can) là cách đánh số theo chu kỳ 10 năm (Thập Can) của người Trung Hoa cổ. Can cũng phối hợp được với Ngũ Hành và Âm Dương:
| Can | Năm | Hành | Âm – Dương |
| Giáp | Cuối cùng là 4 (94,04,14…) | Mộc | Dương |
| Ất | Cuối cùng là 5 (95,05,15…) | Mộc | Âm |
| Bính | Cuối cùng là 6 (96,06,16…) | Hỏa | Dương |
| Đinh | Cuối cùng là 7 (97,07,17…) | Hỏa | Âm |
| Mậu | Cuối cùng là 8 (98,08,18…) | Thổ | Dương |
| Kỷ | Cuối cùng là 9 (99,09,19…) | Thổ | Âm |
| Canh | Cuối cùng là 0 (00,10,20…) | Kim | Dương |
| Tân | Cuối cùng là 1 (01,11,21…) | Kim | Âm |
| Nhâm | Cuối cùng là 2 (02,12,22…) | Thủy | Dương |
| Quý | Cuối cùng là 3 (03,13,23…) | Thủy | Âm |
Trong Thiên Can có 4 cặp tương xung (xấu) và 5 cặp tương hóa (tốt), làm cơ sở để lựa chọn năm sinh phù hợp:
| 4 cặp tương xung (xấu) | 5 cặp tương hóa (tốt) |
|
|
Như vậy, năm sinh của con sẽ có thể dùng Thiên Can để so với bố mẹ dựa vào các cặp tương xung và tương hóa. Nếu Thiên Can của con và bố mẹ có tương hóa mà không có tương xung là tốt, ngược lại là không tốt. Ví dụ: Bố sinh năm 1979 (Kỷ Mùi), mẹ sinh 1981 (Tân Dậu), con sinh 2010 (Canh Dần) thì bố mẹ và con không có tương xung cũng như tương hóa và ở mức bình thường.
Chọn năm sinh con hợp tuổi bố mẹ dựa theo Địa Chi
Địa Chi (hay còn gọi là Chi) là cách đánh số theo chu kỳ 12 năm (Thập Nhị Chi) và nói đơn giản là 12 con giáp cho các năm. Chi từng được dùng để chỉ phương hướng, bốn mùa, ngày, tháng, năm, giờ ngày xưa và Chi gắn liền với văn hóa phương Đông.
Khi xem hợp – xung theo Chi, có các nguyên tắc cơ bản sau:
Tương hình:
– Tý chống Mão
– Dần, Tỵ, Thân chống nhau
– Sửu, Mùi, Tuất chống nhau
– Hai loại tự hình: Thìn chống Thìn, Ngọ chống Ngọ.
Lục xung:
– Tý xung Ngọ (+Thuỷ xung + Hoả)
– Dần xung Thân (+ Mộc xung + Kim)
– Mão xung Dậu (-Mộc xung -Kim)
– Thìn xung Tuất (+Thổ xung +Thổ)
– Tỵ xung Hợi (-Hoả xung -Thuỷ)
Tương hại:
– Tý hại Mùi
– Sửu hại Ngọ
– Dần hại Tỵ
– Mão hại Thìn
– Thân hại Hợi
– Dậu hại Tuất
Thông thường để đơn giản trong Tương Hình, Lục Xung, người ta thường ghép thành 3 bộ xung nhau gọi là Tứ Hành Xung:
Tuy nhiên cũng không hoàn toàn chính xác. Ví dụ: Dần và Hợi không xung, Mão và Ngọ không xung, Ngọ và Dậu không xung, Tí và Dậu không xung, Thìn và Mùi không xung, Thìn và Sửu không xung.
| Lục hợp | Tam hợp |
|
|
Như vậy, nếu dựa theo Địa Chi, việc chọn năm sinh, tuổi sinh cần chọn Lục Hợp, Tam Hợp và tránh Hình, Xung, Hại. Ví dụ: Bố tuổi Dần thì tránh con tuổi Thân, Tỵ, Hợi sẽ tránh được Xung của Địa Chi.
Nói tóm lại, lựa chọn năm sinh con để hợp tuổi bố mẹ có thể dựa vào Ngũ Hành, Thiên Can hoặc Địa Chi, cũng có thể dựa vào cả 3 yếu tố trên và lựa chọn phương án tốt nhất. Tuy nhiên, các yếu tố này cũng chỉ là một phần trong cuộc đời con người, cũng có nhiều trường hợp bố mẹ khó chọn được 1 dải năm để sinh con hợp tuổi do vậy không nên nhất thiết phải chọn năm để sinh, còn rất nhiều yếu tố khác như môi trường, xã hội, gia đình… hay kể cả về lý số cũng còn yếu tố Tử Vi để xem hung cát.
Thêm nữa là tính tình trung thực, giao thiệp rộng nên thường rất phát đạt trong việc kinh doanh.
– Mũi phú quý: Mũi cao, cánh mũi to dày, lỗ mũi rộng , chuẩn đầu tròn đầy.
– Mũi nghèo khó: Lỗ mũi lớn và quá lộ hay hếch lên.
– Lỗ mũi lớn quá lộ lại không tốt do thông hành ngược nên cần phải dựng chân mũi do thiếu chân mũi nên mũi hếch.
– Mũi đầy đặn, rộng từ trên xuống dưới Chuẩn đầu khiến Gián đài và Đình úy bị thu hẹp: Người bình thường có thể được giàu sang.
– Mũi đầy đặn, cao và rộng nhưng hơi thiếu bề dài giống như mũi cọp: Biểu hiện cho cá tính thiên về vật chất, ăn to nói lớn, thích danh vọng. Nếu có thêm Đình úy và Giản đài cân xứng thì có thể thành công về đường võ nghiệp hay binh nghiệp.

– Mũi dọc dừa: Biểu hiện cho người có tính tình trung hậu, khoan hoà trong xử thế , thiên về văn chương nghệ thuật nên thường được danh tiếng hơn lợi lộc. Nếu chuẩn đầu mũi tròn và sóng mũi cao. ngoài khả năng nghệ thuật thì sẽ giàu có.
– Mũi dài nhưng không đầy đặn, bề ngang quá hẹp giống như thân cá kết hợp với phần Niên thượng, Thọ thượng nổi cao: Biểu hiện cho cá tính nhỏ nhen, hay nghi ngờ người khác nên thiếu sự thân thiện, thường khó thành công trong cuộc sống.
– Mũi hẹp ở phần trên nhưng đến Chuẩn đầu thì nở nang quá mức, kéo theo hai canh mũi to: Biểu hiện cho tâm tính hời hợt, thường thích được người khác nịnh hót, sinh kế, vất vả.
Nguồn: Phong Thủy Tổng Hợp
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Cát Phượng (##)
a, nuôi cấy giống cây, các vật lễ thần, hương liệu, các thực phẩm có tố chất thực vật.

Những người mệnh hoặc hành trong tứ trụ nhiều Hỏa thường thích hướng Nam. Có thể thích hợp với những nghề nghiệp và lĩnh vực kinh doanh có liên quan đến các phương diện như: Chiếu sáng, phát sáng, quang học, nhiệt độ lớn, dễ cháy, các loại dầu, các loại cồn, thực phẩm nóng, thực phẩm, cắt tóc, mỹ phẩm hóa trang, trang sức trên người, văn nghệ, văn học, dụng cụ văn phòng phẩm, học sinh văn hóa, văn nhân, tác giả, tác phẩm, biên tập, nhà giáo, hiệu trưởng, thư ký, xuất bản, công vụ, giới chính trị…
Những người mệnh hoặc hành trong tứ trụ nhiều Thổ thường thích nơi trung tâm, bàn địa. Có thể thích hợp với những nghề nghiệp và lĩnh vực kinh doanh liên quan đến các phương diện như: Đất đai, bất động sản, nông thôn, gia súc, vải vóc, quần áo, đồ dệt, chất liệu đá, vùng núi, xi măng, kiến trúc, buôn bán nhà ở, áo mưa, ô dù, các vật phẩm có chứa nước, đồ phông bạt,đồ cổ, người trung gian, luật sư, quản lý, buôn bán, thiết kế, cố vấn, làm về tang lễ, xây dựng bia mộ, quán lý nghĩa trang, tăng ni…
Những người mệnh hoặc hành trong tứ trụ nhiều Thủy thường thích hướng Bắc. Có thể thích hợp với những nghề nghiệp và lĩnh vực kinh doanh liên quan đến các phương diện như: Hằng hải, các loại dung dịch lạnh khó cháy, băng tuyết, các loại cá, thủy sản, thủy lợi, đông lạnh, đóng băng, đánh bát, dọn rửa, nước chảy, càng khâu, bể bơi, ao hổ, phòng tắm, buôn bán thực phẩm nguội, phiêu du, lướt sóng: các tính chất thuộc Thủy: lưu động, tính liên tục, dễ thay đổi, tính chất mang tính âm, sạch sẽ, làm việc trên biển, du lịch, biểu diễn, vận động, hướng dẫn viên, dụng cụ đồ chơi, ảo thuật, phóng viên, trinh thám, công ty du lịch, dụng cụ cứu hỏa, dụng cụ câu cá, ngành y học, kinh doanh dược phẩm, bác sỹ , y tá, bói toán…
Những người mệnh hoặc hành trong tứ trụ nhiều Kim thường thích hướng Tây. Có thể thích hợp với những nghề nghiệp và lĩnh vực kinh doanh có liên quan đến các phương diện như: Vật liệu tơ lụa hoặc các vật liệu đồ dùng kim loại, các đồ cứng chắc, quyết đoán, võ thuật, kiên định, quản lý, ô tô, giao thông, tiền tệ, công trình, giống cây, khai khoáng, đại diện dân ý, chặt gỗ, cơ khí…
Cụ Hoàng Hạc - Thu Giang Nguyễn Duy Cần
Một nhà tu hành nếu nhập thế thì quyền cao chức trọng vô cùng, nhưng chính biết mình quyền cao nên mới đi tu.
- Cái phú quý mà mình có, đó là thiện nghiệp, nhưng dễ làm sa ngã hơn là ác nghiệp. Coi chừng bởi vậy mà tôi đi tu. Bỏ phú quý là có thừa phú quý. Nên nhớ những kẻ có ác nghiệp khó thành chánh quả. Chỉ có những kẻ có số đại phú, đại quý mà đi tu mới mong thành đạt mà thôi. Như thái tử Si – Đạt – Đa số là đế vương nên tu mau thành chánh quả.
- Nếu nhập thế thì sẽ đại phú, đại quý…nên Thiên Không và Hồng Loan đã biến tôi thành nhà chính trị đa mưu, túc trí. Nguy là ở chỗ đó. Đó là cái đã “ giết “ Khổng Minh. Nếu đi tu thì Khổng Minh đã đắc đạo. Đi tu muốn đắc đạo thì phải có số đế vương, như Lý Thái Tôn. Chuyển thế tinh thần phải có mới đóng nổi vai trò nhà lãnh đạo tôn giáo.
Có một vị tu sĩ bảo với tôi, anh xem hộ lá số của tôi có tu được không?
- Ồ! tại sao Đại đức nói thế? Đại đức đã khoác áo tu sĩ rồi còn gì nữa phải hỏi.
- Ấy, có một người bạn của tôi bảo với tôi rằng: Anh mà tu cái gì bởi Dâm Tinh tràn ngập Mạng cung. Thôi cởi áo đi.
- Thôi để tôi thử xem thế nào. Nhìn thấy Mạng Thủy đóng cung Ngọ. Âm cư Dương vị. Nhưng mạng có Liêm Trinh, Thiên Tướng. Tôi hỏi:
- Người bạn của Đại đức viện lẽ nào mà nói thế?
- Anh bảo tôi bị Liêm Trinh vì Liêm là vị Đào hoa thứ hai, lại còn bị sao Thiên Diêu là khác. Mà tôi thì đi tu từ khoảng năm 15, 16 tuổi đến giờ, chưa bao giờ phạm giới. Tôi đọc sách Tử vi, thấy có sao Thiên Diêu, tôi lo nghĩ: chả biết rủi mình bị cám dỗ thì uổng phí công phu…. Mình chưa biết rõ được mình vì chưa từng bị thử thách. Với cái áo thầy tu, biết đâu đã ngừa được nhiều cơ hội. Tôi chưa rõ tôi như thế nào?
Tôi rủ đi lại vị Hòa Thượng trước đây.
- Tôi cũng hơi thắc mắc. Vậy chúng ta lại nhà Tử vi có căn bản, thử hỏi xem sao.
Đến vị Hòa Thượng, trình lá số và bày tỏ thắc mắc. Hòa Thượng liếc qua đã cười:
- Thắc mắc cái gì? Thiên Diêu ở cung này (cung Ngọ) đặc biệt là một người cực kỳ thông minh. Đó là cái thông minh của những kẻ không học mà biết. Mà chỉ có cung Ngọ thì Thiên Diêu biến thành vị sao cực kỳ cao quý. Tu mà thiếu nó không hay. Các anh khác thì Diêu rất xấu trừ ra gặp Long Phượng mới hay, nhưng không bằng Diêu cư Ngọ cung. Huống chi Lộc Tồn thủ mạng là chân nhân chi tú. Các dâm tinh dù có cũng không sao cả. Liêm mà gặp Tướng thì đã bị chê rồi. Nầy nầy còn cái cung phúc (nhà tu phải coi cung Phúc nhé!) PHÚC ngộ Thiên Không và Hồng Loan hay đáo để. Đi tu là phải. Còn gì phải thắc mắc.
Tôi đang suy nghĩ thì Hòa Thượng nói tiếp:
- Các nhà tu (chân tu) cần phải có nhiều dâm tinh nhưng là những thứ dâm tinh đắc địa ( trừ Tham Lang ). Nhưng Lang mà ở cung Thìn không sao.
- Tại sao tu cần phải có nhiều dâm tinh?
- Các ông không rõ: dâm tinh là gì? Ở nơi kẻ thường nhơn thì nó làm cho mình sa đọa. Nhưng nó chính là tinh khí dồi dào nhất, nếu biết cách tu, thì tinh khí ấy biến thành khí học – nhiên và làm cho ta dễ thành Tiên Phật. Dục vọng là một sức mạnh. Nó như thác nước, sức mạnh của nó nếu được khai thác sẽ làm nên các việc vĩ đại. Thiếu nó người ta rất tầm thường.
Tôi liên tưởng đến thuyết “Libido“ của khoa Phân tâm học. Có dâm tinh là Libido chứ gì! Bỗng Hòa Thượng tằng hắng nói:
- Thiên Không này dở lắm, vậy mà gặp sao Hồng loan thì đi tu rất hợp. Thiên Không này sẽ biến thành “Chân Không“ vì nhờ có Hồng Loan nên hóa thành kẻ tu chân chính, thiếu Hồng Loan thì Thiên Không này là ác tinh.
Tôi thường tới lui với vị Hòa Thượng này rất am hiểu Tử Vi và nhất là Kinh Dịch. Lui tới tự do là vì Hòa Thượng với tôi có hai lá số “ truyền tinh”. Vị Hòa Thượng này là một bậc chân tu. Ngày nay ít có người như thế. Đó là cái phúc nhất đời tôi mà gặp được ngài..
Tôi có được phép xem lá số của ông. Chỗ thân tình nhất, ngài mới cho xem. Thời thường, Hòa Thượng ít chịu tiếp ai. Vào dinh Tổng thống còn dễ, gặp ngài rất khó. Không phải Ngài kiêng, nhưng ngài thích yên lặng, ghét thù tạc, tín đồ đến Ngài cũng không tiếp. Bạn thì nhiều nhưng Ngài không chơi thân với ai cả. Riêng phần tôi…..thì lại được Ngài đặc ân cho phép xuất nhập bất cấm và sách vở của Ngài tôi được quyền đọc giờ nào cũng được dường như Ngài có giác quan thứ 6 nên nhiều khi ngài tiên tri rất đúng.
Ngài thường bảo tôi: Nếu lựa bạn, lựa người cộng tác, hãy nên nhìn trước lá số của họ.
Tôi hỏi:
- Như họ không có lấy số, họ không tin số mạng nên xem thường ngày sinh tháng đẻ thì sao?
Ngài bảo:
- Xem tướng hoặc xem tay, thì cũng như xem lá số Tử vi. Có điều là xem tướng và tay không thấu nổi tiền kiếp.
- Tiền kiếp làm sao xem?
- Xem cung Thân, cung Mạng nhất là cung Phúc. Cung phúc là tiền kiếp cung Mạng là hiện kiếp, phúc mà tốt là tiền căn có nhiều kiếp tu. Nhà tu lấy số Tử vi rất chú trọng đến cung Phúc.
- Tại sao sách nói đó là cung dùng để xem sự thọ yểu, sự thịnh suy, tụ tán của họ hàng, và cũng lại để biết rõ về âm phần mà mình chịu ảnh hưởng. Tức là cung để xem mộ phần ông cha theo Địa Lý) Ngài có tin Địa Lý chăng?
- Quan trọng lắm!
- Sao quan trọng? Ngày nay Khoa học cho đó là dị - đoan.
- Tại cái học về Địa lý truyền thống đã mất. Ông bạn có tin đến cái thuyết người và vũ trụ là một chăng? Bạn có tin nơi cái thuyết Tự nghiệp và Cộng nghiệp của nhà Phật không? Coi quá khứ là ( chữ bị mờ) ảnh hiện tại. Nhìn hiện tại phải nhìn về quá khứ … vì quá khứ có nhiều kiếp đã lâu đời kết thành hiện tại. Đó là sản vật di truyền vào đời kết tinh. Nếu cung phúc lạc hãm, có nhiều hung tinh như Không Kiếp Kình Đà Diêu Kỵ thì thật là đáng lo mà tu ngay lập tức bây giờ dù ta không đổi số được trong hiện tại nhưng nhờ đó mà nghiệp chướng giảm lần. Bạn thiếu nợ ai thì phải lo trả lần: Nợ hay mòn, còn hay lớn. Đừng tạo nên nghiệp khác. Dù Mạng có tốt đẹp bao nhiêu mà cung Phúc xấu, khó thành công. Tôi nói thành công về đường tu. Tu là coi Phúc.
Đừng nghe lời thầy Địa lý mà sửa lại mộ phần. Ảnh hưởng chút ít thôi. Mộ phần không phải ở Âm phần của ông bà tổ tiên mình, chính nó nằm trong lòng ta, nó nằm ngay trong tiềm thức của ta "Bạn lấy làm lạ ư?"
(Theo tạp chí Khoa Học Huyền Bí)
Tuổi Ngọ chủ về hành Hỏa, do đó để phong thủy nhà cửa phù hợp cho người tuổi Ngọ, chúng ta cần chú trọng về phương diện Hỏa.
Về phương hướng.
Nên lấy hướng Nam là hướng chủ đạo cho căn phòng của bạn và tìm cách tăng hỏa khí hướng này. Cách tăng hỏa khí dễ nhất là dùng ánh sáng. Hãy để ánh sáng tự nhiên vào đầy đủ khu vực này. Bên cạnh đó, cố gắng đừng cho các công trình phụ (toilet, nhà kho, nhà bếp…) chắn ở hướng Nam. Tốt nhất bạn nên sắp đặt ban công và cửa sổ quay về hướng Nam để đón thật nhiều ánh nắng vào phòng. Ngoài ra, bạn cũng nên bố trí để tăng hỏa khí ở khu vực hướng Tây – Tây Bắc (Tuất) và Đông – Đông Bắc (Dần).
Về màu sắc.
Màu của hành Hỏa là màu đỏ. Thông thường màu đỏ với ý nghĩa may mắn là biểu tượng của tình yêu lãng mạn, là can đảm nhiệt huyết, là màu của thách thức, đam mê, là màu của sự sống và sự sung túc, giàu có. Nên người tuổi Ngọ cũng nên lấy màu này làm tông màu chủ đạo.

Hãy dùng những gam màu đỏ cho rèm cửa, ga giường và bàn ghế trong phòng. Bên cạnh đó, bạn cũng có thể xen kẽ một số đồ vật màu trắng (Kim) hoặc xanh lá (Mộc) để tăng thêm độ hài hòa cho không gian quanh mình. Đồ nội thất nên có chất liệu chính bằng gỗ, tránh chất liệu kim loại vì Hỏa khắc Kim, có rất nhiều biến tấu để bạn chọn như gỗ ép, gỗ vân, gỗ phủ sơn mài… Vật phẩm phong thủy cũng nên tuân theo nguyên tắc này sử dụng chất liệu đá, gỗ và có màu sắc phù hợp như đỏ, cam, xanh. Trong và ngoài căn nhà nên có cây xanh vì Mộc sinh Hỏa. Đương nhiên nếu kích hoạt quá tay yếu tố Hỏa thì cũng không tốt cho gia chủ, vì thế nên sử dụng gương, bể cá để kích hoạt Thủy khí, cân bằng Hỏa khí cho căn nhà.
Về hình tượng Ngọ

Bên cạnh hướng Nam và màu đỏ chủ đạo, yếu tố không thể bỏ qua khi bày trí phong thủy cho người tuổi Ngọ là các hình tượng. Bạn nên trang trí nhà bằng cách trưng bày hình ảnh ngựa (bộ tranh “Mã đáo thành công” chẳng hạn). Bên cạnh đó là các hình tượng ngựa bằng gỗ hoặc kim loại cũng là một sự lựa chọn tốt. Đặt hình ảnh con ngựa trang trí ở khu vực Ngọ trong nhà. Để tăng cường năng lượng của khu vực này, hãy trưng bày hình ảnh con ngựa màu trắng và màu đỏ – đây được cho là gam màu dương. Bạn cũng có thể chọn ngựa gỗ, vì theo ngũ hành thì Mộc sinh Hỏa.
Phòng khách có thể nói là bộ mặt ngôi nhà bạn, mà theo thuyết phong thủy phòng khách chính là không gian quyết định và có ảnh hưởng lớn đến thu-chi tài chính của một gia đình.
– Phòng khách nên sơn màu tươi sáng : Nếu phòng khách nhà bạn đón được nhiều ánh nắng thì tài chính nhà bạn sẽ luôn luôn đầy đủ, có cuộc sống dễ chịu hơn.
– Tuy nhiên, bạn không nên thiết kế cửa sổ lớn ở phòng khách, vì như vậy của cải sẽ theo luồng không khí đi ra ngoài. Hơn nữa, cửa chính phòng khách nhà bạn không nên đối mặt với cửa chính khác ở nhà đối diện.
– Nên đặt trong phòng khách những linh vật phù trợ cho tiền bạc về mặt tâm linh như: Ông thần tài, bức tượng của Đức Chúa Trời, Phúc – Lộc – Thọ.
– Phòng khách cũng nên có cây xanh :nhưng chú ý trong phong khách không nên để cây mây, cây xương rồng và những loại cây có gai., mà nên có những cây lá dày, to và những cây cao.
– Bạn cũng nên có hồ cá hay chậu cá nhỏ trong phòng khách, để tạo nên sự hòa hợp phong thủy trong chính căn phòng.

Phòng ngủ cũng là bộ phận rất quan trọng của ngôi nhà bạn. Phong thủy phòng ngủ tốt không những làm sức khỏe bạn dồi dào hơn mà còn là yếu tố tích cực đến đời sống tình cảm, ái ân mặn nồng trong sinh hoạt vợ chồng tạo sự hạnh phúc gia đình.
Những lời khuyên hữu ích sau đây bạn có thể tham khảo :
– Vị trí đặt phòng ngủ
Nên chọn vị trí yên tĩnh nhất trong nhà để đặt phòng ngủ. Tốt nhất không nên đặt tivi, điện thoại, máy tính, bàn làm việc có nhiều tài liệu, hóa đơn… trong phòng ngủ vì điều này không có lợi cho phong thủy và khiến không gian bị thu hẹp.
Hãy chắc chắn giấc ngủ của bạn không bị gián đoạn bởi những tiếng động bất ngờ như còi xe, tiếng tivi hay chuông điện thoại.
Để đạt được hiệu quả tối đa, nếu có thể, hãy thiết kế loại cửa cách âm.
-Vị trí đặt giường
Giường ngủ nên để tránh hướng cửa ra vào, không nên đặt giường đối diện cửa ra vào vì hiện tượng này sẽ dẫn tới sự suy sụp về sức khỏe và công danh của gia chủ. Cũng không nên kê giường ngủ ngay vị trí đặt cửa sổ vì điều này vi phạm nguyên tắc phong thủy.
Đầu giường nên đặt tựa vào tường sẽ tạo cảm giác thoải mái và an toàn khi ngủ.
Không nên đặt gương trong phòng ngủ, nếu có phải tránh để gương chiếu thẳng vào giường.
– Lựa chọn gam màu
Không chỉ ảnh hưởng yếu tố thẩm mỹ của không gian, màu sắc còn có những tác động trực tiếp phong thủy phòng ngủ.

Theo thuyết phong thủy, gam màu đỏ, hồng, đồng, cam và các gam màu nóng nói chung luôn tạo cảm giác lãng mạn, ấm cúng cho phòng ngủ. Tuy nhiên nếu yêu thích không gian yên tĩnh, bạn có thể sử dụng những gam màu trung tính và mang màu sắc tự nhiên như xanh da trời, xanh nước biển, kem…
– Nội thất phòng ngủ
Khi chọn đồ cho phòng ngủ, bạn cần chú ý lựa chọn những vật dụng không có góc cạnh sắc nhọn như một chiếc bàn nhỏ hình tròn thay những chiếc bàn hình vuông, hình chữ nhật… Cách lựa chọn này có tác dụng cải thiện nguồn năng lượng trong phòng.
Nếu đã trót lựa chọn, bạn có thể khắc phục nhược điểm bằng cách dùng khăn trải bàn che khuất những góc cạnh sắc nhọn. Trên mặt bàn có thể đặt một lọ hoa tươi hay một cây cảnh nhỏ để mang hương sắc thiên nhiên vào gần hơn với con người, đây cũng là cách đơn giản để tạo điểm nhấn ấn tượng cho phòng ngủ.
– Các cấp bậc ánh sáng
Ánh sáng cũng là một nhân tố ảnh hưởng tích cực đến phong thủy phòng ngủ, là biểu hiện số một việc duy trì các nguồn năng lượng trong căn nhà. Ánh sáng của phòng ngủ cần được thiết kế linh hoạt, theo những cấp bậc khác nhau, ví dụ vào ban ngày nên sử dụng nguồn sáng mạnh từ tự nhiên và khi ngủ cần không gian yên tĩnh, không thiết kế quá nhiều nguồn sáng.
Muốn đạt được mục đích này, bạn hãy thiết kế cửa chính hoặc cửa sổ lớn, dùng rèm cửa để điều chỉnh ánh sáng hiệu quả nhất. Màu rèm cửa nên ăn nhập với gam màu chung của phòng ngủ nhưng hãy chắc chắn đó không phải là tấm rèm quá mỏng “làm khó” bạn trong việc điều chỉnh độ sáng tối của căn phòng.
– Treo tranh
Những bức tranh phong cảnh hoặc những bức ảnh cưới rất thích hợp để làm vật dụng trang trí cho phòng ngủ. Tuy nhiên để tranh, ảnh trong phòng ngủ hợp với phong thủy, chú ý không nên treo gương xung quanh khu vực treo ảnh vì thông qua gương, một đôi vợ chồng sẽ thành… hai đôi vợ chồng. Điều này, theo phong thủy, rất bất lợi cho cuộc sống hôn nhân gia đình.
Việc treo một bức ảnh cưới ở đầu giường hoàn toàn phù hợp với phong thủy bởi biểu hiện cho sự hòa thuận, yêu thương nhau giữa vợ chồng. Đây cũng là cách hiệu quả để kết nối tình cảm vợ chồng.
– Tạo cảm giác lãng mạn cho phòng ngủ
Lãng mạn là một cảm yếu tố rất quan trọng khi thiết kế không gian phòng ngủ. Muốn tăng cảm giác lãng mạn cho căn phòng, bạn cần chú ý một vài yếu tố sau:
+ Ánh sáng : nên là ánh sáng của nến, loại ánh sáng này được coi là lãng mạn và ấm cúng nhất trong các loại ánh sáng. Tuy nhiên, khi lựa chọn nến bạn nên chọn loại nến sạch và không chứa khí độc.
+ Chăn drap đệm gối : nên lựa chọn chất liệu mềm, hoa văn hợp với gam màu chung của cả căn phòng và hợp tính cách của chủ nhân.
+ Bạn có thể tạo mùi hương dễ chịu cho phòng ngủ.
– Cuối cùng, cần chú ý đến yếu tố vệ sinh và cách bài trí ngăn nắp của căn phòng. Một căn phòng ngủ sạch sẽ ngăn nắp sẽ luôn đem đến cho bạn nguồn sinh lực dồi dào mỗi khi thức giấc.
Nhà bếp là nơi thể hiện sự nữ tính của người phụ nữ, hạnh phúc của người phụ nữ là nấu được bữa ăn ngon cho cả gia đình, và đón nhận lời tán dương từ người chồng và con cái…Hay nói cách khác nữ chủ nhân và nhà bếp có mối liên hệ mật thiết với nhau.
Nhà bếp kỵ hoàn toàn khép kín trong 1 căn phòng : Nhà bếp cần ít nhất 1 khoảng trống ( ví dụ như là lan can, giếng trời, cửa sau.v.v..), kỵ khép kín hoặc nằm ở trung tâm căn nhà, không những không sạch sẽ mà còn ảnh hưởng đến gia vận.
Vị trí : Nhà bếp không được nằm giữa 2 phòng ngủ, một số kiến trúc sư khi thiết kế nhà ở thường không lưu tâm nhiều đến phong thuỷ, nhất là khi thiết kế phân phòng cho nhà chung cư. Theo phong thuỷ, thì vị trí đặt nhà bếp nên tránh tiếp giáp với phòng ngủ, nhất là nhà bếp nằm giữa 2 phòng ngủ. Phạm phải điều kị uý này thường gây bất lợi về sức khoẻ cho gia chủ. Về lý luận khoa học thực tiễn thì điều này cũng hoàn toàn chính xác bởi bếp nấu và nhà tắm là 2 nơi kém vệ sinh nhất trong nhà. Nhà bếp là nơi dễ tạo khuẩn mốc, xú tạp và các loại vi khuẩn có hại cho sức khoẻ do vậy cần phải đặt bếp ở vị trí xa phòng ngủ càng tốt
Trong nhà bếp không được giặt quần áo : Có rất nhiều người có thói quen đặt máy giặt trong bếp để tiết kiệm không gian. điều này rất không tốt. Cổ nhân cho rằng nhà bếp là nơi ở của Táo quân, giặt rửa quần áo không sạch sẽ lại ở nơi có thần thánh này sẽ ảnh hưởng đến vận may.

Bếp ga hướng ra ngoài khiến cho gia vận bay mất : Nhà bếp cũng không nên đặt trước căn nhà, kỵ nhất bếp lửa hướng ra ngoài, khiến gia vận bay mất.
Việc cải tạo hung tướng của nhà bếp: có thể nói không gặp 1 chút khó khăn nào để cải tạo hung tướng của nhà bếp. Nếu như nhà bếp thuộc hung tướng, thì vấn đề thường xuất phát từ bếp lửa hoặc bồn rửa, chỉ cần để bếp lửa và bồn rửa cách nhau độ 60cm là được
Cải tạo vị trí không tốt của nhà bếp: Nếu như nhà mới xây gian bếp , mà nữ chủ nhân trở nên thường xuyên sinh bệnh, hoặc hay vì việc vặt linh tinh mà cáu giận, có xu hướng kích động, hoặc rơi vào trạng thái thần kinh bất ổn, nguyên nhân ngoài mệt mỏi thần kinh và thân thể, còn có khả năng do gian bếp đặt ở hướng Bắc, hoặc hướng Đông Bắc quỷ môn, hoặc hướng Tây Nam. Xin hãy di dời đến vị trí an toàn khác càng sớm càng tốt.
Khi ngăn cách các phòng, để cho tiện lợi không ít nhà đặt gian bếp ở hướng Bắc. Nói cách khác, nếu như phòng khách hoặc phòng ăn được đặt ở nơi sáng sủa như hướng Đông hoặc Đông Nam, thì nhà bếp tự nhiên sẽ được đặt ở hướng Đông Bắc hoặc Bắc.
Chỉ cần di dời nhà bếp đến nơi an toàn như hướng Đông hoặc Đông Nam, sức khoẻ tinh thần của nữ chủ nhân sẽ phục hồi nhanh chóng. Từ đó có thể thấy rằng, nữ chủ nhân và vị trí nhà bếp có liên hệ vô cùng mật thiết.
1. Biên tập viên, nhân viên phòng kế hoạch, phát triển sản phẩm
Với những người làm trong các ngành nghề nói trên, có thể bài trí một vài chậu cây hoặc hoa cảnh màu đỏ ở phía Đông. Phía Đông thuộc ngũ hành Mộc, quẻ Chấn.
Cách làm này sẽ giúp bạn dễ tập trung vào công việc, khơi gợi sức sáng tạo vô biên, bạn sẽ nhanh chóng tìm ra ý tưởng mới, mang lại lợi ích kinh tế cao cho cả tập thể và bản thân.
![]() |
![]() |
![]() |
nhỏ.

Cổng làm quá nhỏ, theo phong thủy gọi nó là thu nhỏ miệng khí của căn nhà, không có lợi cho việc tiếp nhận khí, khiến cho khí lưu vừa ít vừa chậm, từ đó giảm đi sinh khí trong phòng, tử khí tăng lên.
Đối với hoạt động kinh doanh, làm cửa ra vào quá nhỏ sẽ khiến cho khách hàng ra vào không thuận tiện. Nếu khách hàng muốn mang hàng ra sẽ đụng chạm lung tung, có khả năng làm hỏng hàng bán ra, cổng nhỏ hẹp, nếu dòng ngưòi vào đông sẽ chật chội, có khả năng khách hàng khác muốn vào nhưng thấy đông và chật chội quá, họ sẽ ngại không muốn vào, điểu này còn tạo điều kiện thuận lợi cho bọn ăn cắp, ăn trộm hành hoành, ảnh hưởng không nhỏ đến kinh doanh. Đây chính là tai họa mang đến.
![]() |
![]() |
![]() |
| ► Lịch ngày tốt gửi đến độc giả những câu chuyện về thế giới tâm linh huyền bí có thật |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
g những trường hợp như vậy, việc chuyển đổi hướng khí nhờ hướng của ban thờ là giải pháp phong thuỷ dễ dàng áp dụng để xứ lý tối ưu nhất.
Những ngôi nhà rộng rãi có điều kiện dành một phòng làm phòng thờ cần áp dụng theo phép phong thủy:

1. Phòng thờ đặt ở nơi cao nhất, yên tĩnh nhất, trang nghiêm nhất trong ngôi nhà hay căn hộ
Trang trí phòng thờ ngoài một số đồ phong thủy cần thiết làm tăng sự tôn kính và tâm thức tâm linh của gia đình không treo tranh ảnh hay đồng hồ.
2. Ánh sáng phòng thờ nên mờ ảo bằng các bóng đèn đó với số công suất thâp để thắp sáng liên tục.
Không dùng các bóng đèn dài ne-ông bật sáng liên tục làm mất khung cảnh thâm nghiêm nơi thờ cúng; là tăng khí dương không phù hợp với nơi cần khí âm nhiều.
3. Đồ thờ cũng cần lưu tâm với các thứ thông dụng theo phong tục như:
Bát nhang, lư hương, mâm bồng, cây nến (bộ tam sự) bài vị hoặc ảnh người quá cố, bức đại tự, câu đối, hoành phi. Không để các thứ lung tung trên bàn thờ ngoài sách kinh, chuông mõ nếu cần.
Không có nhiều thứ hung khí tạo nên tâm lý sợ sệt khi vào một mình.
4. Phòng thờ tuy u tịch nhưng luôn gây tâm lý được phù hộ che chở, mỗi khi bước vào trong lòng thấy yên bình, tâm tịnh, được tháo gỡ các âu lo qua lời kêu cầu tụng niệm ông bà tổ tiên.
| ► Xem bói tử vi để biết tình yêu, hôn nhân, vận mệnh, sự nghiệp của mình |
![]() |
![]() |
“Bắt bệnh” qua những dấu hiệu bất thường trên khuôn mặt đàn ông
Đại đa số chúng ta làm việc trong thời nay đều tiếp xúc rất nhiều với máy tính cũng như các đồ điện tử. Bởi lẽ đó mà không ít người chọn một chậu cây đặt trên bàn làm việc không chỉ để phòng trừ những tác hại do các tia bức xạ từ máy tính gây ra mà còn góp phần tăng vận may trong công việc nữa. Và chọn cây gì, đặt ở vị trí nào cũng cần tỉ mỉ đôi chút, hãy cùng xem nhé.
Cây cảnh màu xanh: chọn theo tổng thể
Một văn phòng làm việc bình thường sẽ đều có máy tính, thậm chí là dùng rất nhiều.
Chậu cây cảnh màu xanh bất kể là dưới góc độ phong thủy hay là góc độ khoa học thì đều quan trọng cho sức khỏe con người. Bởi thế mà khi chọn đặt một chậu cây cảnh trên bàn làm việc hãy lựa chọn những cây có màu xanh đầy sức sống nhé.
Ví trí cho những cây xanh trong phòng làm việc: cần phù hợp với hung cát
Một phương pháp sắp xếp theo phong thủy thường thấy là đặt những cây có lá to ở những nơi chính diện, gây sự chú ý nhất; những cây nhỏ hơn được đặt ở những nơi xa tầm nhìn hơn đôi chút. Không chỉ làm đẹp cảnh quan mà còn có tác dụng hóa giải tà khí.
Cây xanh trong phòng làm việc: ngũ hành tứ phương phải tương thích
Bất kể đó là trong chính ngôi nhà của bạn hay là ở công ty thì bốn hướng Đông, Tây, Nam, Bắc cũng cần phải tương thích với ngũ hành. Trong ngũ hành sẽ chỉ ra vị trí này thích ứng với người nào, chức vụ nào, đây là điều cần được chú ý nghiên cứu cho kỹ lưỡng.
Cây xanh trong phòng làm việc: Cây to hay nhỏ cần hợp với phong thủy
Điều quan trọng nữa khi đặt một chậu cây cảnh trong phòng làm việc là cần chú ý xem nó có phù hợp với kết cấu, không gian to nhỏ của căn phòng đó hay không. Không nên chọn cây quá to mà gây tác dụng ngược lại, thậm chí là mang đến những lợi ích đi ngược với mong muốn của chúng ta.
Tuổi Dần
Nhắc tới nghĩa khí không thể không kể đến người tuổi Dần. Con giáp này rất thích kết giao bạn bè rộng rãi. Đồng thời họ hết mực tôn trọng tình bạn, không phân biệt đẳng cấp sang hèn.
![]() |
Dù bạn là ai, xuất thân từ đâu, người tuổi Dần vẫn đối xử trước sau như một. Vậy nên, có được người bạn thân tuổi Dần, teen hãy tin tưởng tuyệt đối và coi đó mà may mắn trong cuộc sống.
Tuổi Thìn
Người tuổi Thìn tôn sùng trường phái anh hùng nên đối xử với bạn bè theo chiều hướng nhiệt tình, cho đi mà không cần báo đáp. Hơn thế, họ vô cùng chân thành, không miệt thị bất kỳ ai.
Tuy nhiên, con giáp này mắc phải nhược điểm - nói mà không cần suy nghĩ, nên đôi khi khiến mọi người chạnh lòng. Nếu bạn có thể bỏ qua tính xấu ấy của người tuổi Thìn, họ xứng đáng là tri kỷ hoàn hảo.
Tuổi Hợi
Trong mắt mọi người, con giáp này thích hưởng thụ cuộc sống sa hoa nên sẽ khó cảm thông với những hoàn cảnh khó khăn. Thực tế lại trái ngược, họ thường dùng tấm chân tình, lòng tốt của mình để đối đãi với bạn bè.
![]() |
Họ có số giàu sang thiên bẩm nhưng không bao giờ coi thường người nghèo khó. Thậm chí, con giáp này còn hết lòng giúp đỡ những ai gặp khó khăn. Họ xứng đáng là đối tượng kết bạn tốt nhất.
Tuổi Thân
Lý do khiến người tuổi Thân đáng để kết bạn chính là tính cách lạc quan, hào phóng, không tính toán thiệt hơn với bất kỳ ai. Làm bạn với người tuổi Thân, tinh thần của bạn sẽ luôn vui vẻ, thoải mái, không phải lo lắng câu nệ những phép tắc hay quy định nào đó. Bởi mọi thứ bạn làm đều khiến con giáp này vui vẻ. Hoặc nếu có tức giận, họ sẽ nhanh chóng quên đi và chủ động làm hòa.
Tuổi Mùi
Không những đối xử với bạn bè nhiệt tình, chu đáo, người tuổi Mùi còn ra sức bênh vực người yếu thế hơn mình. Với họ, tình bạn không phân biệt tuổi tác, giàu nghèo hay giới tính. Chỉ cần đôi bên cảm thấy thoải mái, vui vẻ là có thể trở thành bạn tâm giao của nhau.
![]() |
Người tuổi Mùi cho rằng nếu bạn bè giàu có, hạnh phúc thì bản thân cũng cảm thấy vui vẻ. Nếu họ buồn tủi, nghèo khó, họ sẽ chủ động đưa tay giúp đỡ. Dù bạn từng phạm lỗi khiến họ buồn lòng, nhưng vì tình bạn cao cả, con giáp này sẵn sàng bỏ qua tất cả.
Mr.Bull (theo Dyxz)
Qua: Số cô độc, vất vả. Trung niên nhiều tai ương, cuối đời hạnh phúc.
Quả: Có 2 con thì cát tường, số thanh nhàn, phú quý, trung niên đề phòng gặp tai ương, cuối đời phát đạt như ý.
Quách: Trí dũng song toàn, cuộc đời thanh nhàn, trung niên vất vả bôn ba, cuối đời cát tường, hưng vượng.
Quân: Bản tính thông minh, đa tài, nhanh trí, số thanh nhàn, phú quý, dễ thành công, phát tài, phát lộc, danh lợi song toàn.
Quản: Tính khí ôn hòa, có tài trí, số được hưởng phúc lộc song hành, cuối đời cát tường.
Quan: Mau miệng, cứng rắn, trung niên sống bình dị, cuối đời cát tường, gia cảnh tốt. Nếu đi xa sẽ gặp nhiều may mắn.
Quang: Cuộc đời thanh nhàn, phú quý, nên kết hôn muộn sẽ được phúc được tài. Trung niên và cuối đời cát tường.
![]() |
| Đặt tên cho bé bắt đầu bằng chữ Q để đem lại may mắn |
Quế: Là người hoạt bát, có số an nhàn, trung niên cát tường, thành công, hưng vượng.
Quốc: Đa tài, nhanh trí, số nhàn hạ nhưng kỵ xe cộ, tránh sông nước. Nên theo nghiệp giáo dục để thành tài, đường quan chức rộng mở.
Quy: Lý trí, thông minh, tính cứng rắn, mau mồm miệng, số thanh nhàn. Trung niên vất vả, cuối đời cát tường.
Quý: Thanh tú, tính khí ôn hòa, hiền hậu, nội tâm hay ưu phiền, kết hôn muộn sẽ đại cát, cuộc đời thanh nhàn bình dị.
Quỹ: Tính tình ôn hòa, hiền hậu, có phẩm chất tốt, nên theo ngành giáo dục. Trung niên vất vả, cuối đời hưng vượng.
Quyên: Số lận đận trong tình duyên, sự nghiệp vất vả nhưng không thành, trung niên có thể gặp tai ương, cuối đời cát tường.
Quyển: Cuộc đời bôn ba vất vả, u sầu, có 2 con sẽ cát tường, trung niên gặp tai ương, cuối đời cát tường.
Quyến: Tính tình cương nghị, thật thà. Trung niên gặp lắm tai ương, kỵ xe cộ, tránh sông nước, cuối đời được yên ổn.
Quyền: Là người học vấn cao, có số làm quan, thanh nhàn, phú quý. Trung niên dễ thành công, cuối đời nhiều ưu phiền.
Quyết: Thanh tú, hoạt bát, số đào hoa, trung niên cát tường, cuối đời vất vả lắm tai ương.
Quỳnh: Thanh tú, đức hạnh, tình duyên trắc trở, có 2 con sẽ cát tường, trung niên thành đạt, có số xuất ngoại.
Theo Tên hay thời vận tốt
Phương pháp tính toán nam mệnh và nữ mệnh có sự khác nhau, hiện nay theo thứ tự người ta liệt kê ra 100 năm của thế kỷ 20 , trong đó có quẻ nam, nữ mệnh của một năm phụ thuộc.

Năm 1901 – Tân Sửu, nam thuộc ly hoả, nữ thuộc càn kim.
Năm 1902 – Nhâm Dần, nam thuộc cấn thổ, nữ thuộc đoài kim.
Năm 1903 – Quý Mão, nam thuộc đoài kim, nữ thuộc cấn thổ.
Năm 1904 – Giáp Thìn, nam thuộc càn kim, nữ thuộc ly hoả.
Năm 1905 – Ất Tị, nam thuộc khôn thổ, nừ thuộc khảm thuỷ.
Năm 1906 – Bính Ngọ, nam thuộc tốn mộc, nữ thuộc khôn thổ.
Năm 1907 – Đinh Mùi, nam thuộc chấn mộc, nữ thuộc chân mộc.
Năm 1908 – Mậu Thân, nam thuộc khôn thổ, nữ thuộc tốn mộc.
Năm 1909 – Kỷ Dậu, nam thuộc khảm thuỷ, nữ thuộc cấn thổ.
Năm 1910 – Canh Tuất, nam thuộc ly hoả, nữ thuộc càn kim.
Năm 1911 – Tân Hợi, nam thuộc cân thổ, nữ thuộc đoài kim.
Năm 1912 – Nhâm Tý, nam thuộc đoài kim, nữ thuộc cấn thổ.
Năm 1913 – Quý Sửu, nam thuộc càn kim, nữ thuộc ly hoả.
Năm 1914 – Giáp Dần, nam thuộc khôn thổ, nữ thuộc khảm thuỷ.
Năm 1915 – Ất Mão, nam thuộc tốn mộc, nữ thuộc khôn thổ.
Năm 1916 – Bính Thìn, nam thuộc chân mộc, nữ thuộc chấn mộc.
Năm 1917 – Đinh Tỵ, nam thuộc khôn thổ, nữ thuộc tốn mộc.
Năm 1918 – Mậu Ngọ, nam thuộc khảm thuỷ, nữ thuộc cấn thổ.
Năm 1919 – Kỷ Mùi, nam thuộc ly hoả, nữ thuộc càn kim.
Năm 1920 – Canh thân, Nam thuộc cấn thổ, nữ thuộc đoài kim.
Năm 1921 – Tân Dậu, nam thuộc đoài kim, nữ thuộc cấn thổ.
Năm 1922 – Nhâm Tuất, nam thuộc càn kim, nữ thuộc ly hoả.
Năm 1923 – Quý Hợi, nam thuộc khôn thổ, nữ thuộc khảm thuỷ.
Năm 1924 – Giáp Tý, nam thuộc tốn mộc, nữ thuộc khôn thổ.
Năm 1925 – Ất Sửu, nam thuộc chấn mộc, nữ thuộc chấn mộc.
Năm 1926 – Bính Dần, nam thuộc khôn thổ, nữ thuộc tốn mộc.
Năm 1927 – Đinh Mão, nam thuộc khảm thuỷ, nữ thuộc cấn thổ.
Năm 1928 – Mậu Thìn, nam thuộc ly hoá, nữ thuộc càn kim.
Năm 1929 – Kỷ Tỵ, nam thuộc cấn thổ, nữ thuộc đoài kim.
Năm 1930 – Canh Ngọ, nam thuộc đoài kim, nữ thuộc chân thổ.
Năm 1931 – Tân Mùi, nam thuộc càn kim, nữ thuộc ly hoả.
Năm 1932 – Nhâm Thân, nam thuộc khôn thổ, nữ thuộc khảm thuỷ.
Năm 1933 – Quý Dậu, nam thuộc tốn mộc, nữ thuộc khôn thố.
Năm 1934 – Giáp Tuất, nam thuộc chấn mộc, nữ thuộc chấn mộc.
Năm 1935 – Ất Hợi, nam thuộc khôn thổ, nữ thuộc tốn mộc.
Năm 1936 – Bính Tý, nam thuộc khảm thuỷ, nữ thuộc cân thổ.
Năm 1937 – Đinh Sửu, nam thuộc ly hoá, nữ thuộc càn kim.
Năm 1938 – Mậu Dần, nam thuộc cân thổ, nữ thuộc đoài kim.
Năm 1939 – Kỷ Mão, nam thuộc đoài kim, nữ thuộc cấn thổ.
Năm 1940 – Canh Thìn, nam thuộc càn kim, nữ thuộc ly hoả.
Năm 1941 – Tân Tỵ, nam thuộc khôn thố, nữ thuộc khảm thuỷ.
Năm 1942 – Nhâm Ngọ, nam thuộc tốn mộc, nữ thuộc khôn thổ.
Năm 1943 – Quý Mùi, nam thuộc chấn mộc, nữ thuộc chấn mộc.
Năm 1944 – Giáp Thân, nam thuộc khôn thổ, nữ thuộc tốn mộc.
Năm 1945 – Ất Dậu, nam thuộc khẩm thuỷ, nữ thuộc cấn thổ.
Năm 1946 – Bính Tuất, nam thuộc ly hoá, nữ thuộc càn kim.
Năm 1947 – Đinh Hợi, nam thuộc cấn thố, nữ thuộc đoài kim.
Năm 1948 – Mậu Tý, nam thuộc đoài kim, nữ thuộc cấn thổ.
Năm 1949 – Ký Sửu, nam thuộc càn kim, nữ thuộc ly hoả.
Năm 1950 – Canh Dần, nam thuộc khôn thổ, nữ thuộc khảm thuỷ.
Năm 1951 – Tân Mão, nam thuộc tốn mộc, nữ thuộc khôn thổ.
Năm 1952 – Nhâm Thìn, nam thuộc chấn mộc, nữ thuộc chấn mộc.
Năm 1953 – Quý Tỵ, nam thuộc khôn thố, nữ thuộc tốn mộc.
Năm 1954 – Giáp Ngọ, nam thuộc khảm thủy, nữ thuộc cấn thổ.
Năm 1955 – Ất Mùi, nam thuộc ly hoả, nữ thuộc càn kim.
Năm 1956 – Bính Thân, nam thuộc cấn thố, nữ thuộc đoài kim.
Năm 1957 – Đinh Dậu, nam thuộc đoài kim, nữ thuộc cấn thổ.
Năm 1958 – Mậu Tuất, nam thuộc càn kim, nữ thuộc ly hoả.
Năm 1959 – Kỷ Hợi, nam thuộc khôn thổ, nữ thuộc khảm mộc.
Năm I960 – Canh Tý, nam thuộc tốn mộc, nữ thuộc khôn thổ.
Năm 1961 – Tân Sửu, nam thuộc chân mộc, nữ thuộc chân mộc.
Năm 1962 – Nhâm Dần, nam thuộc khôn thổ, nữ thuộc tốn mộc.
Năm 1963 – Quý Mão, nam thuộc khám mộc, nữ thuộc cấn thổ.
Năm 1964 – Giáp Thìn, nam thuộc ly hoả, nữ thuộc càn kim.
Năm 1965 – Ất Tỵ, nam thuộc câri thố, nữ thuộc đoài kim.
Năm 1966 – Bính Ngọ, nam thuộc đoài kim, nữ thuộc cấn thổ.
Năm 1967 – Đinh Mùi, nam thuộc càn kim, nữ thuộc ly hoả.
Năm 1968 – Mậu Thân, nam thuộc khôn thổ, nữ thuộc khảm thuỷ.
Năm 1969 – Kỷ Dậu, nam thuộc tốn mộc, nữ thuộc khôn thổ.
Năm 1970 – Canh Tuất, nam thuộc chấn mộc, nữ thuộc chân mộc.
Năm 1971 – Tân Hợi, nam thuộc khôn thố, nữ thuộc tốn mộc.
Năm 1972 – Nhâm Tý, nam thuộc khảm thuỷ, nữ thuộc cân thổ.
Năm 1973 – Quý Sửu, nam thuộc ly hoả, nữ thuộc càn kim.
Năm 1974 – Giáp Dần, nam thuộc cấn thổ, nữ thuộc đoài kim.
Năm 1975 – Ất Mão, nam thuộc đoài kim, nữ thuộc cấn thổ.
Năm 1976 – Bính Thìn, nam thuộc càn kim, nữ thuộc ly hoả.
Năm 1977 – Đinh Tỵ, nam thuộc khôn thổ, nữ thuộc khám thuý.
Năm 1978 – Mậu Ngọ, nam thuộc tốn mộc, nữ thuộc khôn thố.
Năm 1979 – Kỷ Mùi, nam thuộc chân mộc, nữ thuộc chân mộc.
Năm 1980 – Canh Thân, nam thuộc khôn thổ, nữ thuộc tốn mộc.
Năm 1981 – Tân Dậu, nam thuộc khảm thuỷ, nữ thuộc cấn thố.
Năm 1982 – Nhâm Tuất, nam thuộc ly hoả, nữ thuộc càn kim.
Năm 1983 – Quý Hợi, nam thuộc cấn thổ, nữ thuộc đoài kim.
Năm 1984 – Giáp Tý, nam thuộc đoài kim, nữ thuộc cấn thổ.
Năm 1985 – Ất Sửu, nam thuộc càn kim, nữ thuộc ly hoả.
Năm 1986 – Bính Dần, nam thuộc khôn thổ, nữ thuộc càn thuý.
Năm 1987 – Đinh Mão, nam thuộc tôn mộc, nữ thuộc khôn thổ.
Năm 1988 – Mậu Thìn, nam thuộc chân mộc, nữ thuộc chấn mộc.
Năm 1989 – Kỷ Tỵ, nam thuộc khôn thổ, nữ thuộc tốn mộc.
Năm 1990 – Canh Ngọ, nam thuộc khảm thuỷ, nữ thuộc cấn thổ.
Năm 1991 – Tân Mùi, nam thuộc ly hoả, nữ thuộc càn kim.
Năm 1992 – Nhâm Thân, nam thuộc cấn thổ, nữ thuộc đoài kim.
Năm 1993 – Quý Dậu, nam thuộc đoài kim, nữ thuộc cấn thổ.
Năm 1994 – Giáp Tuất, nam thuộc càn kim, nữ thuộc ly hoả.
Năm 1995 – Ất Hợi, nam thuộc khôn thổ, nữ thuộc khảm thuỷ.
Năm 1996 – Bính Tý, nam thuộc tốn mộc, nữ thuộc khôn thổ.
Năm 1997 – Đinh Sửu, nam thuộc chấn mộc, nữ thuộc chấn mộc.
Năm 1998 – Mậu Dần, nam thuộc khôn thố, nữ thuộc tốn mộc.
Năm 1999 – Kỷ Mão, nam thuộc khảm thuỷ, nữ thuộc cấn thổ.
Năm 2000 – Canh Thìn, Nam thuộc ly hoá, nữ thuộc càn kim.