Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,...   Click to listen highlighted text! Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,... Powered By DVMS co.,ltd
Kính mời quý khách like fanpage ủng hộ Vạn Sự !

Vạn Sự

Chòm sao nào là chuyên gia nịnh hót –

Chòm sao nào là chuyên gia nịnh hót? Quán quân thuộc về Song Ngư, các vị trí kế tiếp là Bò Cạp, Bảo Bình, Bạch Dương và Thiên Bình. Nhưng củ thể thế nào thì phải khám phá trong bài viết dưới đây nhé! Chòm sao nào là chuyên gia nịnh hót Quán quân: Son

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Chòm sao nào là chuyên gia nịnh hót? Quán quân thuộc về Song Ngư, các vị trí kế tiếp là Bò Cạp, Bảo Bình, Bạch Dương và Thiên Bình. Nhưng củ thể thế nào thì phải khám phá trong bài viết dưới đây nhé!

Nội dung

  • 1 Chòm sao nào là chuyên gia nịnh hót
    • 1.1 Quán quân: Song Ngư
    • 1.2 Á quân: Bò Cạp
    • 1.3 Thứ 3: Bảo Bình
    • 1.4 Thứ 4: Bạch Dương
    • 1.5 Thứ 5: Thiên Bình

Chòm sao nào là chuyên gia nịnh hót

Quán quân: Song Ngư

Chòm sao này như có quý nhân phù trợ, giúp đỡ vượt qua mọi khó khăn, và hơn thế còn chiếm được cảm tình của đông đảo mọi người xung quanh. Khi được giao phó nhiệm vụ nào đó, bất kể việc đó là gì, Song Ngư đều vui vẻ nhận lời. Điều này khiến mọi người càng thêm yêu mến bạn.

song-ngu-7316-1396066085

Biểu hiện bên ngoài có vẻ rất ngoan hiền như vậy, nhưng thực chất Song Ngư đã tính toán đường đi nước bước cho mọi chuyện. Khả năng “ẩn hình” của một cao thủ nịnh hót như Song Ngư thật đáng nể phục, rất xứng đáng giữ ngôi vị số một trong “lĩnh vực” này.

Á quân: Bò Cạp

Bò Cạp vốn rất có tài ăn nói và ngoại giao. Mọi mối quan hệ với người cùng trang lứa hoặc với người bề trên, bạn đều xử lý một cách thông minh và êm thấm. Tuy nhiên, vì tính hiếu thắng và tham vọng lớn nên Bò Cạp không ngần ngại buông những lời mật ngọt, xu nịnh làm mềm lòng mọi người để đạt được mục đích.

bo-cap-1881-1395846333

Không chỉ dừng lại ở lời nói, bạn còn sẵn sàng tặng đồ cho người khác nhằm lấy lòng họ. Tuy những thứ này không đắt giá nhưng nó lại có giá trị tinh thần rất lớn. Bò Cạp rất thông minh khi “đánh trúng” tâm lý của mọi người.

Thứ 3: Bảo Bình

Sở trường của chòm sao này là phân tích và nghiên cứu, cộng thêm với tư duy nhạy bén và tính cách biết đặt mình vào vị trí của người khác để nhìn nhận sự việc, thành công là điều không khó với Bảo Bình.

bao-binh-9304-1396066084

Trước mặt mọi người, Bảo Bình chỉ nói những điều họ thích nghe mà giấu nhẹm sự thật phũ phàng về họ. Không ít người đã nhận ra sự xu nịnh này nhưng vẫn cảm thấy vui vẻ và thích thú bạn. Nhiều khi Bảo Bình nghĩ quá nhiều, làm cho thần kinh lúc nào cũng căng như dây đàn, thậm chí khi đi ngủ cũng nghĩ là làm sao để lấy lòng mọi người, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện ý đồ của mình.

Thứ 4: Bạch Dương

Nhiệt tình, vui vẻ là tính cách nổi bật ở Bạch Dương. Đôi khi vì muốn chinh phục tình cảm của người khác, chòm sao này nhiệt tình thái quá, không tiếc những lời khen hay tâng bốc điên đảo, miễn sao đạt được mục đích.

bach-duong-1471-1396538052

Vì quá chủ động và tích cực xu nịnh nên Bạch Dương quên mất bản thân đang trong trường hợp hay địa điểm nào, khiến cả hai phía phải ngượng ngùng, đỏ mặt. Không phải mọi hoàn cảnh, mọi thời điểm đều có thể nói lời khen xu nịnh đâu Bạch Dương nhé.

Thứ 5: Thiên Bình

Nhìn bên ngoài sẽ không thấy được sự mạnh mẽ ở chòm sao này, mà ngược lại chỉ thấy sự nho nhã và điềm đạm. Do đó, các mối quan hệ xã giao của Thiên Bình đều rất hài hòa, không mất lòng ai bao giờ.

7-thien-binh-6348-1395124052

Thiên Bình tỏ ra khá hài lòng với cuộc sống hiện tại của mình bây giờ. Nhưng khi có được cơ hội để phát triển và chứng tỏ bản thân, bạn không ngại ngần dùng lời đường mật, khen ngợi, thậm chí là ca ngợi người khác để tiến đến đích nhanh hơn.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Chòm sao nào là chuyên gia nịnh hót –

Xem bói tình yêu những người khó tìm bạn đời - Bói tình yêu - Xem Tử Vi

Xem bói tình yêu những người khó tìm bạn đời, Bói tình yêu, Xem Tử Vi, xem bói, xem tử vi Xem bói tình yêu những người khó tìm bạn đời, tu vi Xem bói tình yêu những người khó tìm bạn đời, tu vi Bói tình yêu

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Xem bói tình yêu những người khó tìm bạn đời

Webtuvi hướng dẫn bạn cách xem bói tình yêu dựa vào bàn tay, đoán vận mệnh của những người khó tìm kiếm một nửa của mình. Cùng xem bói đường tình duyên lận đận của người khó tìm bạn đời.

Đường Hôn nhân mảnh yếu, không nét

Trên bàn tay có đường hôn nhân mảnh yếu không nét là chỉ đường hôn nhân mờ không nhìn thấy, hoặc đường vân quá mờ nhạt, cho thấy về mặt tình cảm của bạn lận đận, gặp khó khăn, khó tìm kiếm được tình yêu.

Đường Hôn nhân tạp loạn

Đường Hôn nhân tạp loạn là chỉ đường Hôn nhân xuất hiện quá nhiều nhưng quá loạn, cho thấy cơ hội tình yêu rất nhiều, tình yêu cứ tới dào dào nhưng chính vì tâm thái quá phóng túng, nên họ thường không biêt phải lựa chọn thế nào. Người này thường xuyên quan hệ với nhiều người khác giới, nhưng lại không muốn đi đến hôn nhân. Dẫn tới tình duyên hóa thành lận đận.

Đường Tình cảm không thông suốt

Đường Tình cảm không thông suốt là chỉ đoạn cuối của đường Tình cảm không đi đến sát vào mép bàn tay, hơn nữa còn có tình trạng đứt nối liên tiếp, những người có chỉ tay tình cảm như này về cơ bản họ không tin vào chuyện tình cảm, có biểu hiện thích bông đùa, đối với người khác giới thường không cự tuyệt, tình cảm rất hỗn tạp, đôi khi sẽ bị tổn thương về mặt tình cảm mà trơ thành người cô độc, khép kín.

Đường cổ tay tạp loạn mà còn nhô lên

Đường Cổ tay tạp loạn mà còn nhô lên là chỉ giữa các đường cổ tay xuất hiện trạng thái nhấp nhô, mà các đường lại rối loạn. Người này ít nói chuyện với đối phương, một số quan niệm của hai bên cũng khó mà dung hợp được, vì vậy mà quan hệ tình cảm cũng khó mà duy trì, có khả năng đứt gánh giữa đường.

Đường Vận mệnh từ gò Nguyệt kéo dài ra

Đường Vận mệnh từ gò Nguyệt kéo dài ra là chi đường chỉ tay từ gò Nguyệt kéo dài tới ngón giữa, cho biết đây là người có quan hệ xã hội rất tốt, đặc biệt là với người bạn khác giới, họ thường nhận được sự giúp đỡ thật sự. Bàn tay này còn đại diện cho tư duy nhạy bén, tính giác ngộ cao, rất thích hợp làm nhừng việc như tôn giáo, huyền học hoặc nghiên cứu sự vật thần bí và có được thành quả nhất định. Đương nhiên kiểu người này thường vì vùi đầu vào việc nghiên cứu, cho nên tình yêu thường đến muộn và sẽ có thể phải sông độc thân trong thời gian dài.

doc-than-2

 

Lòng bàn tay có hình chữ thập

Lòng bàn tay có xuất hiện ký hiệu hình chữ “thập” là ngưòi thích nghiên cứu sự vật thần bí, hơn nữa trực giác của bản thân họ cũng rất tốt, rất thích hợp làm việc liên quan đến mệnh lý, tôn giáo, người này khi đối mặt với chuyện tình cảm phàm tục tốt nhất là nên kiềm chế.
Đường Trí tuệ ngang dài nhưng hướng xuống

Đường Trí tuệ ngang dài nhưng hướng xuống là chi đường Trí tuệ hướng ngang kéo dài nhưng ở phần đuôi lại hưóng xuống, cho thấy tư duy nhạy bén, phản ứng nhanh nhạy, cảm thấy cuộc sông hiện thực rất có ý nghĩa nhưng lại có hứng thú đặc biệt với những sự vật thần bí, khả năng tưởng tượng phong phú, nếu lại đi sâu vào nghiên cứu thì chắc chắn sẽ có thành tựu. Đương nhiên, kiểu người này khó mà tránh khỏi cuộc sống cô đơn.

Ngón tay xuất hiện dường chỉ tay âm dương

Trên ngón tay xuất hiện đường chỉ âm dương, cho biết bẩm sinh người này đã có khả năng về mặt tôn giáo, huyền học, có thể cảm nhận được từ trường mà người khác không cảm nhận được bằng khả năng trực giác hơn người của mình, nếu có thế khai thác được điểm này thì họ sẽ gặt hái được nhiều thành tựu lớn. Nhưng về mặt tình cảm, kiểu người này sẽ lãnh đạm vô cùng.

Mép bàn tay xuất hiện đường Trực giác

Mép bàn tay xuất hiện đường Trực giác là chỉ ở giữa gò Nguyệt và ngón út xuất hiện đường thẳng, cho thấy phản ứng thần kinh của người này khá nhạy cảm, còn có khả năng dự đoán được xu thế phát triển của tương lai, rất thích hợp vối huyền học hoặc quy y tôn giáo, chuyên tâm ngộ đạo.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem bói tình yêu những người khó tìm bạn đời - Bói tình yêu - Xem Tử Vi

Sự nghiệp thăng tiến bất ngờ với chữ kí hợp Mệnh

Nhiều người tin rằng, chữ ký hợp phong thủy, sẽ quyết định phần lớn đến vận mệnh tương lại của chủ nhân.
Sự nghiệp thăng tiến bất ngờ với chữ kí hợp Mệnh

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Nhiều người tin rằng, chữ ký hợp phong thủy, sẽ quyết định phần lớn đến vận mệnh tương lai của chủ nhân. 


Su nghiep thang tien bat ngo voi chu ki hop Menh hinh anh
 
Không ít người, đặc biệt là những doanh nhân, người có công danh sự nghiệp, đều lựa chọn rất kỹ mẫu chữ ký hợp nhất với mình. Người ta tin rằng, chữ kí hợp mệnh sẽ mang tới sự nghiệp thăng tiến, công việc hanh thông và thành đạt.
 
Theo phong thủy, người mệnh Mộc kỵ với hình tròn và sắc nhọn. Vì thế, các nét nên cao, rộng, dài thoáng. Chữ ký của người mệnh Mộc trông phóng khoáng sẽ giúp họ nhanh thăng tiến về công danh.
 
Người mệnh Hỏa cần sử dụng nhiều nét nhọn, sắc, không theo quy tắc cụ thể; kỵ với hình bán nguyệt và lượn sóng. Có thêm sự tự do trong chữ ký thì người mệnh Hỏa sẽ được tiếp thêm sức lực trong các công việc đòi hỏi sự sáng tạo và trí tưởng tượng.
 
Chữ ký của người mệnh Thổ hợp nhất là có hình chữ nhật nằm dài hoặc hình vuông, chữ cần có tư thế ổn định, chắc chắn; kỵ với hình chữ nhật đứng cao. Người mệnh Thổ với nét chữ vững chãi là điểm tựa cho sự phát triển hoặc rất có lợi khi khởi nghiệp.
 
Người mệnh Kim chữ ký hợp phong thủy nên có hình tròn làm chủ đạo (có hình tương tự hình tròn và các nét nên uốn lượn tròn); kỵ nhất với các đường gấp khúc, sắc nhọn. Điều này tiếp thêm sự khéo léo, khôn ngoan trong các mối quan hệ cho người mệnh Kim.
 
Người mệnh Thủy chữ ký cần có hình lượn sóng, hình tròn, hoặc hình bán nguyệt; kỵ với các loại hình vuông góc. Sự linh hoạt và thông thái toát lên từ chữ ký sẽ cổ vũ người mệnh Thủy mạnh dạn trong các cuộc làm ăn hoặc tự tin hơn nơi công sở.  
► Xem thêm: Ngũ hành tương sinh và những ảnh hưởng đến cuộc đời, vận mệnh

Theo Một thế giới

 

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Sự nghiệp thăng tiến bất ngờ với chữ kí hợp Mệnh

Kiêng kỵ vào cửa thấy bàn ăn –

Hiện tượng: Nếu bàn ăn đặt ở nơi cửa vào trong nhà làm cho mọi người vừa bước vào nhà là nhìn thấy tình trạng trên bàn ăn, như vậy sẽ làm cho thói quen ăn uống của người trong nhà và mối quan hệ giao tiếp bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Phương pháp hóa gi

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Hiện tượng: Nếu bàn ăn đặt ở nơi cửa vào trong nhà làm cho mọi người vừa bước vào nhà là nhìn thấy tình trạng trên bàn ăn, như vậy sẽ làm cho thói quen ăn uống của người trong nhà và mối quan hệ giao tiếp bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

ban-an-ban-an-phong-an-(3090210)

Phương pháp hóa giải: Tốt nhất là bạn nên điều chỉnh vị trí bàn ăn hoặc dùng bức bình phòng để che chắn lại hoặc gấp bàn ăn lại để hóa giải.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Kiêng kỵ vào cửa thấy bàn ăn –

Tướng phụ nữ qua nhũ hoa –

Bạn thắc mắc nhũ hoa của phụ nữ nói lên điều gì? Chúng ta cùng tìm hiểu trong bài viết dưới đây để biết thêm tướng nhũ hoa của phụ nữ nhé! Tướng nhũ hoa của phụ nữ có ý nghĩa Nhũ hoa của phụ nữ là gì? Nhũ hoa của phụ nữ là căn bản của hậu duệ, tức là
Tướng phụ nữ qua nhũ hoa –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tướng phụ nữ qua nhũ hoa –

Cách đặt tên công ty theo phong thủy –

Việc chọn tên cho công ty, cho các tổ chức hoặc cơ quan vô cùng quan trong, tên công ty có ảnh hưởng rất lớn tới sự thành bại nhất là vấn đề kinh doanh sau này của công ty. Đặt tên theo đúng luật Âm Dương, Ngũ Hành sẽ mang lại những kết quả tốt đẹp.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Việc chọn tên cho công ty, cho các tổ chức hoặc cơ quan vô cùng quan trong, tên công ty có ảnh hưởng rất lớn tới sự thành bại nhất là vấn đề kinh doanh sau này của công ty.

tencongty

Đặt tên theo đúng luật Âm Dương, Ngũ Hành sẽ mang lại những kết quả tốt đẹp. Trước hết việc đặt tên cần dựa theo ý nghĩa của tên, phải phản ảnh được những ước vọng tốt đẹp, hoặc phản ánh được quan điểm kinh doanh, tiêu chí hành động của công ty. Ví dụ, “Thành Đạt” biểu hiện sự thành công, may mắn. “Sáng Tạo” biểu hiện ước muốn tiến tới sự sáng tạo, hoàn thiện trong quá trình hoạt động.

– Về Âm Dương tên phải có sự cân bằng, tránh thuần Âm hoặc Thuần Dương. Ví dụ tên “Chiến Thắng” có hai vần trắc nên là thuần Dương, tên “Minh Long” thể hiện sự cân bằng về Âm Dương.

– Về việc phân định Bát Quái cho tên để dự đoán tương lai của công ty được thành lập theo nguyên tắc như sau. Dựa vào số lượng chữ cái để tính số, thông qua số để lập thành quẻ. Tên được chia làm 2 phần, phần trước nhiều, phần sau ít. Ví dụ “Chiến Thắng” chia làm 2 phần là “Chiến” và “Thắng”. Nếu tên bao gồm 3 từ thì lấy 2 từ đầu cho phần 1, từ thứ 3 cho phần 2. Ví dụ “Tân Hoàng Minh” thì “Tân Hoàng” là phần 1, “Minh” là phần 2.Sau đó tiến hành đếm số chữ cái cho mỗi phần để lập quẻ, mỗi chữ cái được tính là 1 đơn vị, mỗi dấu cũng được tính là 1, ví dụ “Chiến” tính là 6, “Thắng” tính là 6, chú ý không tính các móc của các chữ.

Sau khi có số chữ của 2 phần tiến hành lập quẻ theo số của Tiên Thiên Bát Quái. Trường hợp ”Chiến Thắng” 6/6 được quẻ Thuần Khảm.

“Tân Trọng Minh” 9/4 được quẻ Thiên Lôi Vô Vọng
“Mai Linh” 3/4 được quẻ Hoả Lôi Phệ Hạp

– Bước tiếp theo tiến hành dự đoán trên ý nghĩa quẻ. Các trường hợp trên ta thấy quẻ Vô Vọng xấu nên việc kinh doanh không có lợi về lâu dài. Quẻ Phệ Hạp có lợi cho việc kinh doanh thực dụng trong thời gian ngắn.
– Người giám đốc, người làm chủ phải có mệnh cung phù hợp với các Quẻ của tên. Trường hợp Đông Tứ Mệnh thì hợp với các quẻ Khảm, Ly, Chấn, Tốn. Trường hợp Tây Tứ Mệnh thì hợp với các quẻ Càn, Đoài, Cấn, Khôn.

=========================================

Nội dung

  • 1 Những Sai Lầm Cần Tránh Khi Đặt Tên Cho Doanh Nghiệp
    • 1.1 Để cho cả một “uỷ ban” tham gia vào quyết định của bạn
    • 1.2 Dùng phương pháp “xác tàu” để đặt tên
    • 1.3 Dùng cách tiếp cận atlas và bản đồ để đặt tên
    • 1.4 Biến tên công ty thành một lời sáo
    • 1.5 Chọn tên sai, sau đó không chịu thay đổi
  • 2 Những cách đặt tên công ty hay nhất
    • 2.1 1. Đặt tên công ty theo tên cá nhân:
    • 2.2 2. Đặt tên công ty theo địa danh:
    • 2.3 3. Đặt tên công ty bằng những từ viết tắt:
    • 2.4 4. Đặt tên công ty gợi nhắc đến ngành nghề kinh doanh:
    • 2.5 5. Đặt tên công ty bằng tính từ mô tả:
    • 2.6 6. Đặt tên công ty lấy cảm hứng từ các danh từ gợi nhắc
    • 2.7 7. Đặt tên công ty bằng Ngoại ngữ.
  • 3 5 cách thông dụng để đặt tên cho công ty khởi nghiệp của mình
    • 3.1 1. Những từ mang ý nghĩa cụ thể
    • 3.2 2. Những từ “bị” đánh vần sai
    • 3.3 3. Những từ ghép có 2 âm tiết
    • 3.4 4. Viết tắt các chữ cái đầu tiên
    • 3.5 5. Những từ không theo nguyên tắc nào trong 4 nguyên tắc trên
  • 4 Nghệ thuật đặt tên công ty
    • 4.1 Tạo ra ấn tượng dễ chịu
    • 4.2 Khêu gợi sự tò mò
    • 4.3 Hướng tới thị hiếu của các khách hàng
    • 4.4 “Hãy quên cái tên của bản thân”
    • 4.5 Tránh mô tả
    • 4.6 Thêm một chút hài hước
    • 4.7 Hãy cẩn thận với những “kẻ ăn cắp”!
    • 4.8 Tên không có ý nghĩa

Những Sai Lầm Cần Tránh Khi Đặt Tên Cho Doanh Nghiệp

Khi đặt tên cho doanh nghiệp, bạn cần phải luôn nhớ rằng cái tên này sẽ không chỉ có ý nghĩa hiện tại mà còn theo suốt bạn trong tương lai.

Phil Davis đã điều hành một công ty tư vấn dịch vụ quảng cáo 17 năm trước khi thành lập một công ty chuyên tư vấn về tên và thương hiệu tại Bắc Carolina, Mỹ sẽ cho chúng ta nhiều lời khuyên bổ ích.

Đặt tên cho doanh nghiệp rất giốngvới việc bạn xây viên gạch ở góc của một toà nhà. Một khi nó đã vào chỗc ủa mình rồi thì việc xây dựng và cấu trúc còn lại cứ thế tiến hành theo cái mốc đã đặt ra. Nếu công việc đầu tiên này thất bại, thậm chí chỉ một chút thôi, phần xây dựng còn lại cũng sẽ thất bại và đườngt hẳng sẽ biến thành đường xiên.

Vì vậy nếu bạn có cảm giác day dứt không yên khi lựa chọn một cái tên và cho nó có tầm quan trọng sống còn thì bạn đã đúng. Với 18 năm kinh nghiệm trong việc đặt tên và lựa chọn thương hiệu, tôi có thể nhận ra cái tốt,cái xấu và cái thực sự xấu để giúp bạn có bước khởi đầu suôn sẻ với sự nghiệp kinh doanh của mình. Dưới đây là những lỗi mà các chủ doanh nghiệp hay mắc phải khi đặt tên cho công ty:

Để cho cả một “uỷ ban” tham gia vào quyết định của bạn

Chúng ta đang sống trong một xã hội dân chủ và dường như có vẻ đúng khi tất cả mọi người (bạn bè, gia đình, nhân viên và khách hàng) tham gia vào quyết định quan trọng này. Tuy nhiên, lối suy nghĩ này cho thấy có một số vấn đề cần phải được tìm hiểu.

Một thực tế đầu tiên và rõ ràngnhất là cuối cùng bạn cũng chỉ chọn được một cái tên, vì vậy bạn cónguy cơ phải bỏ qua nhiều cái tên khác mà những người xung quanh đã gợi ý cho bạn. Thứ hai, bạn thường kết thúc việc chọn tên với một quyết định được nhất trí cao, thường là một cái tên rất an toàn, rất ngọt ngào.

Một phương pháp tốt hơn là chỉ tham khảo ý kiến của một số người trụ cột-càng ít càng tốt và chỉ lựa chọn người mà bạn cảm thấy họ có tâm huyết với công ty.

Sự cảm nhận cá nhân có thể đem đến một kết quả sai lệch, vì vậy bạn cần những người tư vấn có thể khoanh vùng nhận thức của họ ở một mức nhất định. Hãy chắc chắn rằng bạn có một vài bộ óc thông thái và phá cách trong một đống hỗn độn ấy, bạn sẽ chọn được một cái tên rất văn vẻ và đầy sức gợi.

Dùng phương pháp “xác tàu” để đặt tên

Khi bắt buộc phải tạo ra một cái tên hấp dẫn, có sức lôi cuốn, nhiều nhà quản lý tham vọng cho rằng chỉ việc đơn giản thêm vào danh từ một tính từ, kết quả là những cái tên có vẻ hợp lý nhưng nhìn và nghe thì thật tệ hại.

Những kiểu cắt bỏ phổ biến khác và rất chung chung như Tech, Corp (hay đặc biệt ở Việt Nam, doanh nghiệp thường có đuôi Mex…) khiến cho khách hàng thường bị nhầm lẫn và không tạo được nét riêng biệt. Vấn đề xảy ra với cách tiếp cận này là nó không có sức lôi cuốn và bị lọt thỏm khi người ta xướng tên nó lên. Dùng những từ quá đơn giản tới mức chúng chẳng bao giờ nổi bật trước đám đông Công ty đầu tiên trong một lĩnh vực nào đó có thể theo cách này, như bạn đã từng nghe tới General Motors, General Electric và nhiều tên khác nữa. Nhưng một khi đã xuất hiện sự cạnh tranh, nó đòi hỏi bạn phải có sự khác biệt. Hãy tưởng tượng Yahoo! Cũng có cái tên GeneralInternetDirectory.com xem sao?

Cái tên có thể mang tính miêu tả rất lớn nhưng lại đặc biệt đáng ghi nhớ. Và với sự tấn công dữ dội của truyền thông, các kênh quảng cáo, điều quan trọng hơn bao giờ hết là bạn phải bảo vệ cái tổ của mình bằng tính duy nhất. Không có gì tiếp thị tốt hơn một cái tên hay.

Dùng cách tiếp cận atlas và bản đồ để đặt tên

Trong trạng thái sốt sắng bắt đầu một công ty mới, nhiều doanh nghiệp chọn cách sử dụng tên thành phố nơi họ mở công ty, quận hay vùng như là một phần trong tên doanh nghiệp. Trong khi đó có thể là cứu cánh hiện tại, vào thời điểm bắt đầu nhưng lại thường trở thành một lực cản khi doanh nghiệp phát triển hơn.

Một khách hàng từng than thở với tôi anh ta đang phục vụ cho thị trường nhiều hơn cho chính mình với cái tên của anh ta. Anh ta đã đặt tên doanh nghiệp mình là St. Pete Plumbing khi anh ta tới từ St. Petersburg, Florida. Nhưng trang vàng những cửa hàng lại kết luận đó cũng là cái tên cho toàn vùng.

Nhiều công ty khác đã phải vật lộn với vấn đề tương tự. Minnesota Manufacturing & Mining đang phát triển vượt ra khỏi ngành công nghiệp và bang của mình. Để tránh hạn chế tầm phát triển, họ đổi tên thành 3M, một công ty hiện đang nổi tiếng về sáng tạo. Kentucky Fried Chicken hiện đổi thành KFC, xóa nhòa bớt sự nổi bật của tên vùng và tên nguyên gốc. Từ bài học này, bạn có thể biết mình cần phải làm gì ngay từ đầu.

Biến tên công ty thành một lời sáo

Một khi bỏ qua được tính văn vẻ, miêu tả, quá trình suy nghĩ của bạn hầu hết quay về phép ẩn dụ. Đây có thể trở thành điều tuyệt vời nếu chúng không bị lạm dụng để trở nên nhàm chán. Ví dụ, từ khi có nhiều công ty tự cho rằng mình đứng đầu lĩnh vực, các tên thường được họ dùng là Summit, Apex, Pinnacle, Peak toàn mang nghĩa là đỉnh, chóp cả.

Thay vì vậy, hãy tìm cách kết hợp các từ tích cực với nhau và dùng phép ẩn dụ, bạn sẽ thấy hiệu quả hơn nhiều. Một ví dụ rất hay là công ty lưu trữ dữ liệu Iron Muontain, một cái tên truyền được sức bền và độ an toàn mà không bị nghe như tầm thường ,sáo rỗng.

Làm cho tên công ty trở nên quá khó hiểu, khách hàng không thể biết nó có ý nghĩa gì Điều tuyệt vời là khi bạn chọn được một cái tên có ý nghĩa đặc biệt, nó có thể bao gồm cả một câu chuyện nói về thông điệp của công ty. Nhưng nếu nó quá mập mờ và khó phát âm, bạn có thể không bao giờ có cơ hội nói điều đó với khách hàng vì họ dễ dàng bỏ qua bạn. Dùng cách hỗn hợp để chọn tên

Bị cuốn theo suy nghĩ cần ghi dấu trên lĩnh vực hoạt động, nhiều công ty đã phải cầu viện tới việc xây dựng vụng về hoặc viết sai chính tả những cái tên có mục đích. Kết quả là những cái tên công ty nghe giống như miêu tả một loại ma túy hơn là tên công ty.

Lỗi Dùng phương pháp “xác tàu” để đặt tên đôi khi kết hợp với lỗi này và kết quả là tạo nên một cái tên kiểu như KwaliTronix. Điều thú vị là một vài cái tên bắt đầu được thay đổi sau khi đặt: để tránh dùng “K” thay bằng dùng “Q” hay “Ph” thay bằng “F”. Điều này làm cho việc phát âm tên công ty cũng như tìm kiếm nó trên Internet trở nên khó khăn hơn.

Tuy nhiên, nó cũng không phải là không tạo nên thành công. Ví dụ như trường hợp của Kodak và Xerox. Nhưng hãy nhớ rằng những cái tên như thế này thường không có ý nghĩa bản chất và ý nghĩa ngôn ngữ, vì vậy họ phải cầu viện nhiều tới quảng cáo để truyền đạt ý nghĩa công ty và thường tốn rất nhiều tiền.

Nhiều công ty sử dụng thành công cách tiếp cận này thường là những công ty đi tiên phong hoặc có nguồn ngân quỹ dành cho quảng cáo lớn. Hiện tại như Verizon đang tiêu tốn hàng triệu đô cho nỗ lực thay tên của mình mà Accenture cũng đã từng làm. Vì vậy hãy xem khả năng tài chính của bạn trước khi bắt tay vào việc đặt tên theo kiểu này.

Chọn tên sai, sau đó không chịu thay đổi

Nhiều chủ doanh nghiệp biết cái tên của công ty mình có vấn đề và hi vọng tự nó sẽ làm nên điều kì diệu. Tên công ty ban đầu của một khách hàng của tôi là “Portables” gợi cho khách hàng ý nghĩ về một phòng học di động-một cái tên chưa từng được chủ của nó nghĩ tới, điều này càng nặng nề hơn khi chính người chủ một đại lý cũng cố gắng giải thích quan niệm mới của họ về vận chuyển và lưu kho.

Sau nhiều suy nghĩ, chúng tôi đã quyết định chọn tên PODS, có nghĩa Portable On Demand Storage. Phần còn lại nhanh chóng trở thành một kỳ tích khi họ mở rộng ra cả quốc gia và quốc tế.
Và cũng như vậy, 3M hay KFC đã quyết định đúng khi họ có sự thay đổi cần thiết để duy trì sự lớn mạnh và hình ảnh trong mắt khách hàng.

Trước khi bắt đầu đặt tên, hãy dành thời gian để suy nghĩ những vấn đề mà tôi đã nêu ra trên đây, bạn sẽ có một cái tên phù hợp với hiện tại cũng như có thể theo suốt bạn trong tương lai.
=======================================

Những cách đặt tên công ty hay nhất

Đặt tên công ty chắc chắn là một trong những quyết định khó khăn nhất đối với hầu hết mọi người khi khởi nghiệp. Một cái tên công ty hay và hấp dẫn không chỉ truyền cảm hứng cho toàn doanh nghiệp mà còn là nền móng quan trọng để xây dựng tài sản thương hiệu lâu dài. Bài viết sau đây chia sẽ những cách phổ biến nhất để đặt tên cho công ty mới của bạn.

1. Đặt tên công ty theo tên cá nhân:

Lựa chọn này thích hợp cho các công ty tư nhân, gia đình. Tuy nhiên, rất nhiều công ty lớn trên thế giới có nguồn gốc tên công ty từ tên cá nhân. Có một vài cách đặt tên cho công ty theo tên cá nhân như:

– Đặt theo tên chủ doanh nghiệp: ví dụ Nam Cường, Mai Hương, Hoàng Dũng, Mc Donal, Trump, Adidas,…
– Đặt tên theo tên ghép của những người sáng lập doanh nghiệp: Mạnh Dũng, Tấn Phát Sang,…
– Đặt tên bằng tên của những người thân: vợ – chồng, con,…
– Đặt tên bằng họ của những người sáng lập: ví dụ Lê Trần, Nguyễn Lê, Trương Nguyễn, Nguyễn Hoàng,…

2. Đặt tên công ty theo địa danh:

Đây là một cách đặt tên rất truyền thống được sử dụng để nhấn mạnh tính bản địa của doanh nghiệp giúp doanh nghiệp có lợi thế khi phục vụ tại thị trường địa phương hoặc trong trường hợp sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp sẽ được đánh giá cao khi có người gốc xuất xứ tại đây. Một vài cách đặt tên theo phương pháp này như:

– Lấy địa danh làm tên chính: Bất động sản Thăng Long, Nhà đất Thủ Đô, Bia Hà Nội,…
– Lấy địa danh nổi tiếng về loại sản phẩm đang kinh doanh: Nước mắm Phan Thiết, Yến Khánh Hòa, Vang Đà Lạt, Chè Thái Nguyên,…
– Lấy tên ghép của các quốc gia: Việt Trung, Việt Nhật, Việt Pháp, Việt Nga,…
– Lấy tên địa danh làm chỉ dẫn xuất xứ: Hoàng Anh Gia Lai, Đồng Tâm Long An,…

3. Đặt tên công ty bằng những từ viết tắt:

Đây là cách mới nhưng khá phổ biến trong các doanh nghiệp Việt Nam. Ban đầu những tên này có thể là viết tắt của tên doanh nghiệp đầy đủ nhưng sau đó do việc sử dụng thuận tiện hơn nó có thể trở thành tên gọi thay thế và đôi khi tên gọi pháp lý của doanh nghiệp. Có một số cách đặt tên như sau:

– Viết tắt tên địa danh và ngành nghề: Vinaconex, Viglacera, Vinamilk, Habeco, Sabeco.
– Viết tắt từ tên công ty đầy đủ:
– Lấy các chữ cái đầy tiên của tên: ACB ( Ngân hàng Á Châu), ICP (Internation Consumer Product),…

4. Đặt tên công ty gợi nhắc đến ngành nghề kinh doanh:

Có rất nhiều doanh nghiệp sử dụng phương pháp này để đặt tên doanh nghiệp. Vì dường như nó hiển nhiên, tên một doanh nghiệp phải gợi đến lĩnh vực mà nó hoạt động. Tên này chỉ hiệu quả khi ngành hàng của bạn còn mới và ít đối thủ tham gia. Ví dụ Công ty CP Sữa Việt Nam, Tổng công ty Điện lực, Tổng công ty hóa dầu, Công ty Rượu bia Hà Nội,… Cách đặt tên này sẽ kém hiệu quả nếu bạn ở trong một ngành hàng có nhiều sự cạnh tranh và nhiều đối thủ. Bởi khi đó sẽ không ai phân biệt nổi: Công ty sữa Việt Nam, Công ty sữa Quốc Gia, Công ty Sữa Quốc tế,…

5. Đặt tên công ty bằng tính từ mô tả:

Đây là một trong những phương pháp đặt tên được sử dụng nhiều nhất trong thực tế. Nó phản ánh những ước vọng của chủ doanh nghiệp khi tham gia kinh doanh. Những tên loại này thường được đặt theo:

– Gợi lên sự may mắn, thành công: Nhà đất Tài Lộc, Lộc Phát, Tài Phát, Hưng Thịnh, Phúc Thịnh, Thành Đạt,…
– Gợi lên uy tín, tin cậy: Vàng bạc Bảo Tín, Nhà đất Trung Tín, Bảo hiểm Bảo Việt, Đại Tín, Tín Nghĩa ngân hàng…
– Gợi lên khát vọng dẫn đầu: Công ty công nghệ Tiên Phong, Công ty y tế Tiến Bộ,…
– Gợi lên triết lý kinh doanh: Công ty xây dựng Hòa Bình, Công ty CP Đồng Lợi, Công ty Hiệp Phát, Hợp Tiến,…

6. Đặt tên công ty lấy cảm hứng từ các danh từ gợi nhắc

Đôi khi một danh từ gợi nhắc lại có thể được sử dụng rất hiệu quả để đặt tên cho công ty. Bạn cứ thử một trong vài cách sau đây nhé:

– Lấy cảm hứng từ các vị thần trong thần thoại: Vệ Nữ, Mặt Trời, Venus, Panora, Zeus Spa,…
– Một trong các hành tinh trong thái dương hệ: Sao Kim, Sao Thủy, Sao Khuê, Sao Bắc Đẩu, Sao Mai,…
– Một trong các loài hoa: Công ty truyền thông Hướng Dương, Hoa Hồng, Công ty mỹ phẩm Cẩm Tú, thời trang Salla (tên 1 loài hoa hồng), Giấy đa năng Rosalia,…
– Lấy cảm hứng từ loài vật: BiaTiger (hổ), Eagle (đại bàng), Nước tăng lực Redbull, Mỳ Gấu đỏ,…
– Lấy cảm hứng từ một danh lam thắng cảnh: Khách sạn Bài Thơ, Công ty du lịch Phú Bài, Công ty đá mỹ nghệ Non Nước, Công ty du lịch Hòn Dấu,…
– Lấy cảm hứng từ văn học: Khách sạn Mộng Mơ, Công ty truyền thông Núi Đôi, Thời trang Casanova,…

7. Đặt tên công ty bằng Ngoại ngữ.

Đây là một xu hướng ngày càng được sử dụng rộng rãi trong các doanh nghiệp Việt Nam và đặc biệt là các doanh nghiệp trẻ. Ngày càng nhiều người có khả năng sử dụng tiếng Anh hoặc hiểu được các ngôn ngữ ngoại nhập. Do vậy, xu hướng sử dụng ngoại ngữ để đặt tên công ty sẽ làm cho doanh nghiệp hiện đại hơn, tạo được liên kết với những thuộc tính mà ngôn ngữ của quốc gia đó đại diện. Ví dụ: nếu doanh nghiệp có tên mang âm hưởng Đức sẽ được hưởng lợi nếu là doanh nghiệp sản xuất, phân phối các thiết bị công nghiệp (Đức vốn nổi tiếng với các sản phẩm này), doanh nghiệp mang tên gợi nhắc đến Nhật Bản sẽ tượng trưng cho các sản phẩm gia dụng và điện tử chất lượng cao.

Ví dụ: Công ty hàng tiêu dùng Masan, Nhà hàng Kichi – Kitchi, Công ty đầu tư Vincom, Máy lọc nước Akamoto, Cửa nhựa Ausdoor,…

Có vô vàn cách gợi ý khác nhau cho việc đặt tên công ty. Tuy nhiên, những cách trên đây được sử dụng rất phổ biến và cũng tạo được không ít những tên công ty hấp dẫn. Để tìm kiếm tên cho doanh nghiệp bạn đừng chần chờ gì nữa, hãy bắt đầu bằng những ý tưởng gần gũi nhất với công việc kinh doanh của bạn: bạn làm gì? phục vụ ai? địa điểm ở đâu? tên của bạn có phù hợp với ngành nghề của mình không?, bạn có nghĩ tới một loài hoa, một vị thần hay 1 địa danh nào không?,… Hãy động não và huy động sự giúp đỡ của người thân, bạn bè để có những ý tưởng tốt nhất.
============================================

5 cách thông dụng để đặt tên cho công ty khởi nghiệp của mình

1. Những từ mang ý nghĩa cụ thể.
2. Những từ “bị” đánh vần sai.
3. Những từ ghép có 2 âm tiết.
4. Viết tắt các chữ cái đầu tiên.
5. Những từ hoàn toàn tự nghĩ ra.

Để chọn được một cái tên ưng ý không phải là dễ. Từ việc đặt tên cho con cái, cho một cửa hàng, hãy một công ty… tất cả đều cân nhắc kỹ vì điều đó có liên quan rất nhiều đến “số phận” sau này của nhân vật được đặt tên. Đối với những công ty khởi nghiệp trong lĩnh vực công nghệ, mang trong mình tham vọng vươn ra tầm cỡ thế giới, thì việc đặt tên nhiều khi còn mang ý nghĩa “sống còn” với họ.

Giữa một biển những cái tên, làm thế nào để công ty của mình luôn được nổi bật, được chú ý và được nhớ tới? Dưới đây là 5 cách thông dụng mà nhiều công ty lớn đã áp dụng. Nhưng hãy nhớ, thông dụng chưa chắc đã là dễ bắt chước vì một công ty không thể chỉ tồn tại nhờ vào cái tên.

1. Những từ mang ý nghĩa cụ thể

Khi bạn nghe tới những cái tên như Yahoo, Apple, Amazon hay Twitter, bạn sẽ nghĩ ngay tới những thực thể, những thứ có thể cảm nhận được bằng các giác quan. Tuy nhiên, chúng lại không thật sự có ý nghĩa liên quan trực tiếp tới lĩnh vực hoạt động của các công ty. Apple không bán táo cũng như Twitter không bán chim, điều đó là hiển nhiên rồi.
Có thể cách đây 30 năm, tên gọi Apple cho một công ty đã bị coi là ngớ ngẩn.

– Lý do để đặt tên theo cách này: Vui vui, dễ chọn và mang lại cảm giác thú vị lạ lạ. Ban đầu những người sáng lập ra Yahoo không chỉ định tìm ra một cái tên vui vui, mà còn phải có khả năng tạo nên sự độc đáo trong chiến dịch quảng cáo. Và thế là, tiếng hú “Yahoo!” của thổ dân Mỹ đã được chọn. Apple thì được dịch sâu xa hơn một chút. Quả táo trong câu chuyện Newton được coi là niềm cảm hứng để ông này suy ra được định luật vạn vật hấp dẫn, ngay khi rơi vào đầu ông này.
– Lý do để không đặt tên theo cách này: Mặc dù chúng là những từ cụ thể, nhưng thật ra lại rất… trừu tượng và dễ gây nhầm lẫn. Sự lựa chọn có phần “ngẫu hứng” kiểu này cũng hơi 5 ăn 5 thua, và nếu không may mà sai thì công ty đó sẽ rơi vào tình trạng chẳng gây được ấn tượng gì.

2. Những từ “bị” đánh vần sai

Nếu tên là Google hiện nay mà là cái tên Googol, sẽ chả mấy thân thiện gì khi đọc nó lên cả. Tất nhiên là người ta biết cách đánh vần đúng cho những cái tên bị “đánh vần sai” đó. Nhưng vận dụng ngữ âm nhiều hơn ngữ pháp trong việc đặt tên cũng có nhiều khả năng mang lại cho công ty của bạn một ấn tượng thật sự… thú vị. Có khá nhiều ví dụ cho trường hợp này, như: Tumblr (Tumbler), del.icio.us (delicious), Digg (dig), flickr (flicker) and Google (Googol).

– Lý do để đặt tên theo cách này: Không chỉ tạo ra sự nổi bật giữa đám đông, những cái tên được đặt theo cách này cũng khá là dễ nhớ và dễ tìm.
– Lý do để không đặt tên theo cách này: Không may chọn phải một từ đánh vần sai nhiều quá, nó sẽ khiến người ta bối rối và khó nhớ ra, dẫn đến việc công ty bị đẩy vào trạng thái khó định vị.

3. Những từ ghép có 2 âm tiết

Rất nhiều công ty mới đang đặt tên theo cách này. Nổi bật giữa đám đông, ta có Birchbox, Skillshare, Crowdtilt and JackThreads. Có lẽ sau sự nổi tiếng của “Mặt Sách” (Facebook), trào lưu này càng lúc càng nở rộ.

– Lý do để đặt tên theo cách này: Phải có đến hàng tỉ cách để ghép 2 từ lại với nhau để tạo thành một từ mới và lấy làm tên của một công ty. Mặc dù có phần dài hơn những cái tên ở hai cách trên, nhưng chúng vẫn thuộc dạng dễ nhớ và dễ tìm.
– Lý do để không đặt tên theo cách này: Không có nhiều điểm hạn chế, ngoại trừ việc những cái tên kiểu này hơi “bão hòa”. Lưu ý là đặt tên kiểu này thì nên cẩn thận một chút, khó mà “ngẫu hứng” được như 2 cách đầu tiên.

4. Viết tắt các chữ cái đầu tiên

Tên gọi tắt cũng thường được sử dụng rất nhiều trong các công ty hiện nay.
IBM (International Business Machines), AOL (America Online) and TBS (Turner Broadcast System) là những ví dụ sinh động nhất chonhững công ty đặt tên theo cách này. Có nguồn tin cho hay, Rupert Murdoch cũng đang cân nhắc rút gọn Wall Street Journal’s lại chỉ còn WSJ.

– Lý do để đặt tên theo cách này: Nếu cần một cụm-nhiều-từ ghép lại với nhau để có thể miêu tả về một công ty, đây có lẽ là một cách hay. Nó cũng hữu ích trong việc cung cấp những thông tin sơ bộ cho các đối tác và những người cần tìm hiểu về công ty đó.
– Lý do để không đặt tên theo cách này: Hơi nhàm. Và đa số các công ty đều dùng 3 chữ cái để tạo thành tên của công ty mình, thế nhưng bây giờ chẳng còn tên miền .com nào tồn tại trên Internet cả. Có lẽ nếu thật sự muốn thì công ty đó phải bỏ ra kha khá tiền để mua được một tên miền như thế.

5. Những từ không theo nguyên tắc nào trong 4 nguyên tắc trên

Một số thương hiệu đặt tên gọi với một ý nghĩa đầy ngẫu hứng. Skype, Hulu, Zynga… Không có ý nghĩa cụ thể,ý nghĩa trừu tượng cũng không nốt. Cũng chẳng vui vẻ, thú vị, “bị” phát âm sai, được viết tắt hay là ghép từ đâu vào cả. Nói chung là cách đặt tên này hoàn toàn… sáng tạo và ngẫu hứng theo đúng nghĩa của nó. Nếu có công ty nào đó sở hữu cái tên như vậy mà gây dựng được chút tiếng tăm, cái tên của họ sẽ trở thành một thương hiệu không thể lẫn đi đâu được.

– Lý do để đặt tên theo cách này: Người ra sẽ nhận ra ngay lập tức sự sáng tạo của cái tên và của người nghĩ ra nó. Nếu được tạo ra một cách hợp lý, nó sẽ rất “bám tai” và dễ nhớ.
– Lý do để không đặt tên theo cách này: Vô nghĩa chính là trở ngại đầu tiên. 4 cách đặt tên ở trên đều mang một ý nghĩa nào đó, dù có thể không liên quan trực tiếp. Nhưng cách đặt tên này thì đúng là không mang ý nghĩa gì cả. Ngẫu hứng 100%. Cho nên, hệ quả là nó có thể gây hiểu nhầm, lẫn lộn, mau quên thậm chí là khiến người khác cảm thấy có phần… ngớ ngẩn.
===========================================

Nghệ thuật đặt tên công ty

Tên gọi là điều đầu tiên mà các khách hàng và đối tác biết về bạn. Một cái tên đặc biệt và truyền cảm sẽ là cách quảng cáo tốt nhất cho công ty của bạn. Ngược lại, với một cái tên khó phát âm thì công việc kinh doanh của công ty sẽ rất dễ gặp phải trắc trở.

Có cả một bộ môn khoa học về cách đặt tên cho công ty và sản phẩm/dịch vụ. Ở Việt Nam mọi người còn ít biết đến chuyên ngành khoa học này. Đôi khi cũng xuất hiện những cái tên thành công nhưng phần nhiều là do các ông chủ ngẫu nhiên chọn được. Hơn nữa, bộ môn khoa học này còn chứng minh rằng: khi tạo ra một cái tên cần phải cân nhắc đến rất nhiều yếu tố marketing khác.

Ai là các khách hàng tiềm năng của bạn? Điểm khác biệt của công ty bạn so với các đối thủ cạnh tranh khác là gì? Bạn muốn truyền tải thông điệp nào đến với khách hàng thông qua cái tên của mình? Liệu một cái tên êm ái du dương đã đủ thỏa mãn những yêu cầu về kinh doanh của công ty? Khi trả lời các câu hỏi này cộng với việc nắm vững những nguyên tắc chính của khoa học đặt tên, thì việc tìm được một cái tên thành công không phải là quá phức tạp. Và sau đây là những nguyên tắc chính của nghệ thuật đặt tên:

Tạo ra ấn tượng dễ chịu

Ấn tượng đầu tiên mà một cái tên cần phải có là làm cho các khách hàng và đối tác nảy sinh mong được tiếp cận với công ty của bạn. Ấn tượng được tạo thành từ cảm giác và những hình ảnh hiện lên trong nhận thức của mọi người. Ví dụ, nếu một công ty chuyên tổ chức các buổi lễ hội thì với cái tên “Tết” là rất thích hợp. Chỉ cần nghe thấy từ “Tết”, trong đầu mọi người đã xuất hiện nhiều hồi tưởng dễ chịu. Những cái tên tương tự có thể tự động tạo ra một hình ảnh có lợi cho công ty. Khi làm được điều này, có thể coi các ông chủ đã có trong tay một tấm “bùa hộ mệnh”.

Ngược lại những từ ngữ làm liên tưởng đến sự mất mát và đau khổ có thể làm hỏng uy tín công ty bạn. Thậm chí, một ‎ý tưởng kinh doanh tuyệt vời cũng chưa chắc đã cứu vãn được. Cũng vì lý‎ do này mà bạn phải đặc biệt cẩn trọng với những với cái tên nước ngoài. Ví dụ, một người để bắt tay vào kinh doanh đã mua dịch vụ một công ty “có sẵn” mang tên “Red grave”, trong khi bản thân anh ta không biết tiếng Anh và cũng không hề nghĩ đến điều này khi k‎ý kết hợp đồng mua bán.

Khi về đến trụ sở công ty, anh ta đưa giấy tờ cho một cộng sự của mình, anh bạn tái mặt hỏi: “Cậu có bị điên không? “Grave”- có nghĩa là nhà mồ”. Lúc đấy, người mua muốn trả lại công ty “nhà mồ đỏ” thì đã muộn, cuối cùng đành phải mua một công ty khác.

Khêu gợi sự tò mò

Bạn hãy làm sao để tên công ty không những mang lại ấn tượng dễ chịu mà còn kích gợi trí tò mò của mọi người. Ví dụ, một nhà xuất bản mang tên “Quả cam tím”, trong cụm từ này chứa yếu tố bất ngờ vì chứa đựng mâu thuẫn. Trong tự nhiên, chỉ có cam xanh, cam vàng, vậy khi nghe thấy cái tên này, trong tiềm thức của mọi người sẽ xuất hiện câu hỏi: “Tại sao cam lại tím? Đây là loại quả gì vậy?”. Và kết quả là họ sẽ tìm cách tiếp cận công ty để thỏa mãn trí tò mò một cách vô ‎ý thức.

Hướng tới thị hiếu của các khách hàng

Trước khi quyết định lựa chọn một cái tên nào đó, bạn cần phải hình dung ra trong đầu chân dung các khách hàng tiềm năng của mình. Một cái tên thích hợp với lứa tuổi “tin” hoàn toàn có thể gây phản cảm đối với những người già và bảo thủ. Ví dụ, các thanh thiếu niên sẽ bị hút vào cửa hàng mang tên “Người lữ hành kỳ dị”, nhưng với phần đông những người về hưu thì họ không thấy hứng thú với những cái tên như vậy. Hay ngược lại, những cái tên chiếm cảm tình của người đứng tuổi như “Gia đình”, “Ấm cúng” ít có tác động đến tầng lớp thanh niên.

Hoặc những người giàu có thường có cảm tình với những công ty mang cái tên gợi liên tưởng đến sự cao sang. Ví dụ, họ thích mua quần áo trong các cửa hàng “Thẩm mỹ”, mua đồ gỗ ở “Sang trọng”.

“Hãy quên cái tên của bản thân”

Một trong những sai lầm thường phạm phải của các chủ doanh nghiệp là trộn lẫn tên mình vào trong tên của công ty. Đặc biệt các chủ cửa hàng thực phẩm, hàng ăn hay mắc phải sai lầm này. Tại sao bạn lại không nên làm điều này, vì các l‎ý do sau đây:

Thứ nhất, một cái tên thương mại thành công thường độc đáo và duy nhất, trong khi đó có cả hàng trăm nghìn người có tên giống như bạn.
Thứ hai, một cái tên độc đáo cho phép bạn nổi bật giữa các đối thủ cạnh tranh, còn nếu lấy tên mình đặt cho công ty, thì bạn hoàn toàn có thể lẫn vào trong danh sách các đối thủ của mình, mặc dù bạn có thể thêm vào đó những con số ví dụ như “99” hay một chữ cái nào đó ví dụ như “M”.

Thứ ba, vì uy tín xấu của một công ty nào đó mang tên giống tên của bạn có thể ảnh hưởng đến công ty của bạn.
Và cuối cùng, hoàn toàn có thể vào một lúc nào đó bạn muốn bán đi công ty của mình, hiển nhiên, ông chủ mới sẽ không thích một công ty mang tên người khác.

Chỉ nên sử dụng tên mình làm tên công ty trong một số các trường hợp đặc biệt. Ví dụ, bạn là một luật sư rất nổi tiếng và tên của bạn đồng nghĩa với sự đảm bảo về tính chuyên nghiệp và có uy tín cao. Ngoài ra, tên và họ của bạn có thể đặt cho công ty khi nó rất nổi tiếng với phần đông mọi người ví như “Nina Ricci”, “Mary Kay”.

Tránh mô tả

Một số các chủ doanh nghiệp thường có xu hướng đem vào cái tên công ty càng nhiều thông tin càng tốt về hoạt động kinh doanh của mình. Vì vậy, bạn có thể bắt gặp những cái tên rất phức tạp, ví như “Công ty sản xuất, cung ứng và sửa chữa thiết bị xây dựng”.

Khi lựa chọn những cái tên kiểu này, tác giả của chúng thường nghĩ đến chức năng hoạt động của công ty nhiều hơn là thị hiếu và động cơ của các khách hàng tiềm năng. Mặc dù, các nghiên cứu thực tiễn cho thấy, mọi người thường khó tiếp thu và khó nhớ những “câu thần chú” gồm những thuật ngữ kỹ thuật. Nhưng nhược điểm chính của một cái tên mô tả nằm ở chỗ nó dễ bị chìm lẫn giữa các đối thủ cạnh tranh và khó có thể nổi bật lên được.

Thêm một chút hài hước

Đôi khi sẽ rất có ích nếu bạn hài hước đôi chút. Các khách hàng thường đánh giá cao điều này, và công việc kinh doanh của bạn nhờ đó mà được quảng cáo miễn phí.

Tuy nhiên, khi nghĩ một cái tên hài hước, thì quan trọng nhất là bạn đừng đi quá giới hạn, vì có thể dẫn đến trường hợp làm cho các khách hàng tiềm năng coi thường bạn. Có thể họ vẫn phá lên cười nhưng họ sẽ mua hàng ở đối thủ cạnh tranh của bạn.

Hãy cẩn thận với những “kẻ ăn cắp”!

Trước khi bắt đầu tiến hành các chiến dịch quảng bá thương hiệu của mình, bạn phải kiểm tra xem cái tên mình chọn đã thuộc quyền sở hữu của ai đó chưa? Đã có ai đăng k‎ý cái tên này trước bạn chưa? Vì hoàn toàn có thể, vào một ngày đẹp trời, chủ sở hữu chính thức tên công ty bạn sẽ buộc bạn phải mua lại quyền sở hữu với giá cao ngất.

Tên không có ý nghĩa

Có thể chọn một cái tên truyền cảm và dễ nhớ mà không cần sử dụng những từ ngữ trực tiếp miêu tả lĩnh vực kinh doanh của công ty. Ví dụ, từ “Kodak”, được nghĩ ra từ năm 1988 đến nay nhưng vẫn được coi là một trong những tên thương hiệu thành công nhất. Người sáng lập ra Kodak đã đặt ra những tiêu chí sau khi đặt tên cho công ty của mình: ngắn; không có ‎bất cứ một ý nghĩa nào; ân thanh rõ và khó xuyên tạc. Và Kodak chính là tổng hợp của những yếu tố đó.

Xerox cũng được tạo ra trên những nguyên tắc như vậy và đã trở nên thông dụng trên toàn thế giới, thậm chí, còn trở thành danh từ chung chỉ một hình thức kỹ thuật.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Cách đặt tên công ty theo phong thủy –

Hướng của cửa sổ –

Cửa sổ mở về hướng Đông là một điềm lành vì dương khí ở hướng Đông rất dồi dào. Trong phong thủy gọi là “tử khí đến từ hướng Đông” (“tử” ở đây tức là màu tím trong tia cực tím). Cửa sổ mở về hướng Bắc không có lợi cho sức khỏe của mọi người trong nh

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

file.394957

Cửa sổ mở về hướng Đông là một điềm lành vì dương khí ở hướng Đông rất dồi dào. Trong phong thủy gọi là “tử khí đến từ hướng Đông” (“tử” ở đây tức là màu tím trong tia cực tím).

Cửa sổ mở về hướng Bắc không có lợi cho sức khỏe của mọi người trong nhà, vì phương Bắc trong ngũ hành phong thủy thuộc “âm thủy”, cửa mở về hướng Bắc dễ dẫn “âm sát” vào nhà. Trong khi đó, cửa sổ mở về hướng Nam, nếu nhìn thấy các vật như góc nhà, cây khô, đá nhọn hoặc đường chân trời thì không có lợi cho sức khoẻ, dễ bị các bệnh về mắt.

Cửa sổ phòng khách và phòng ngủ nếu đối diện với những vật không may mắn sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe và của cải của chủ nhà và gây ra nhiều vấn đề bất cập.

Ngoài cửa chính, cửa sổ là con đường duy nhất để những người trong nhà kết nối với thế giới bên ngoài, vì thế cửa sổ đóng vai trò vô cùng quan trọng. Thông thường, các nhà có cửa sổ hướng Đông Nam tương đối dễ chịu, mùa đông ấm áp, mùa hè mát mẻ, nhưng theo quan điểm phong thủy thì trước hết phải nhìn rõ cảnh vật xa gần bên ngoài cửa sổ. Nếu cảnh vật là “xung sát” kém may mắn thì cho dù ‘cửa sổ ở hướng Đông Nam cũng là điều không tốt.

Nếu cửa sổ bị che khuất tầm nhìn bởi một nhà bên cạnh, ngưòi trong nhà vì thế không cách nào mở rộng tầm mắt vượt qua bên ngoài cửa sổ thì đó cũng là một điều bất cập. Phong thủy gọi đó là: “quái khí bất đáo”, nói cách khác tức là “sinh khí” và “tài khí” không thể vào được trong nhà. Đốỉ với chủ nhân của ngôi nhà thì điều này quả thật không có lợi.

Ngoài ra, nếu cửa sổ đối diện ngay với một con đường cái dài và thẳng thì cũng không tốt, vì trên đường cái chắc chắn sẽ có xe cộ thường xuyên qua lại. Nếu những chiếc xe đó đi thẳng qua cửa sổ nhà bạn thì đó là “xung tâm thủy”. Đây là một trong những “hung sát” có ảnh hưởng không tốt với sức khỏe con người. Ngược lại, nếu xe đi qua về hướng con đường đối diện với cửa sổ đó thì sẽ tạo thành thế “chỉ thủy”. Những nhà thường xuyên bị “chỉ thủy” đương nhiên khó mà tích luỹ được của cải. Vì thế, cửa sổ đối diện với đường cái nhỏ và hẹp, dù là theo hướng nào cũng đều là không tốt.

Cửa sổ lí tưởng nhất là đối diện với một con đường hơi ngoằn nghèo uốn lượn, đó chính là thế hiếm gặp – “cửu khúc thủy”. Nhờ có “cửu khúc thủy” mà con cháu đời sau trong nhà mới có thể giữ được địa vị và sự giàu sang phú quý.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Hướng của cửa sổ –

Phong thủy cửa chính thúc đẩy vượng khí cho ngôi nhà

Cửa chính của một ngôi nhà được gọi là cửa khí, là vị trí phong thủy duy nhất trong nhà thúc đẩy vượng khí, có ảnh hưỏng rất lớn đến các thành viên

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Cửa chính của một ngôi nhà được gọi là cửa khí, là vị trí phong thủy duy nhất trong nhà thúc đẩy vượng khí, có ảnh hưỏng rất lớn đến môi trường sống của các thành viên trong đó.

Câu chuyện dưới đây sẽ chứng minh rõ.

Một người đã bày tỏ nỗi lòng chất chứa của mình với một người bạn vốn là một đại sư phong thuỷ: “Con gái thật sự luôn khiến cho người ta phải lo lắng!”.

Phong thủy cửa chính thúc đẩy vượng khí cho ngôi nhà

- “Có chuyện gì sao?”

- “Con bé nhà tôi tối ngày không ở nhà, chỉ lo dạo phố .
- “Cô bé đang yêu sao?”
- “Tôi nghĩ chắc không phải! Tôi cũng không hiểu tại sao con bé vốn rất ngoan, từ sau khi chuyển nhà vào năm trước, càng ngày nó càng ít ở nhà, sáng sớm tinh mơ đã đi, đến tận đêm khuya mới trở về. Nó cứ như là người khác vậy. Liệu có phải tôi đã sống trong ngôi nhà có vấn đề về phong thủy không? 

Xét về phong thủy học, muốn giải thích hiện tượng này quả không khó. Câu chuyện tiếp tục như sau:

- “Cô bé là con thứ mấy trong nhà?”
- “Là con gái lớn”.
- “Cửa chính của nhà anh phải chăng mở ở hướng Đông Nam?” Người kia suy nghĩ giây lát, nói: “Ông thật tinh tường! Cửa chính nhà tôi quả đúng ở hướng Đông Nam”.

Đại sư phong thuỷ nọ càng khẳng định suy đoán của mình là chính xác: “Nếu muốn mỗi ngày con gái đều về nhà đúng giờ, không lang thang khắp nơi nữa thì phải chuyển nhà đi nơi khác”.

Người kia nghe xong giật mình, lập tức đưa ra rất nhiều lý do, giải thích vì sao anh ta không thể chuyển nhà lần nữa.

Đại sư phong thuỷ khuyên anh ta: “Không thể chuyển nhà, nhưng con gái đã lớn rồi, nữ giới hướng ngoại, việc này là hiện tượng tất yếu, không cần phải buồn lo vô cớ”. 

Nhưng người kia vẫn hỏi đến cùng: “Làm sao ông biêt cửa nhà tôi mở ở hướng Đông Nam?”.

Có thể xoay quanh cửa chính để giải thích vấn đề này. Cửa chính ẩn chứa nguyên lý phong thủy quan trọng, căn cứ vào dịch quái Cửu cung, cửa chính nằm ở hướng nào trong Cửu cung thì hướng đó đại diện cho thành viên tương ứng trong gia đình có tính cách đặc biệt hướng ngoại.

Thế nào được gọi là “hướng ngoại”? Đó là chỉ một người thích đây đó. Đặc trưng lớn nhất là người này có thể cõng rắn cắn gà nhà. Nếu có tiền họ cũng mang tiền đi cho hết bạn bè. Tóm lại, vị trí cửa chính ứng với thành viên nào trong gia đình thì người đó nhất định có tính thích giúp người ngoài chứ không giúp người nhà, suốt ngày ở bên ngoài, không thích ở nhà.

Rất nhiều đôi vợ chồng, người chồng không thích người thường xuyên đi siêu thị. Người chồng nói bình thường người vợ chỉ đi bộ được 3 phút là than phiền, nhưng khi đi dạo trong siêu thị thì đi cả ngày cô ta cũng không cảm thấy mệt.

Người vợ này đại diện cho điều gì? Cửa chính của nhà này thể nằm ở hướng Tây Nam, trong phương vị Cửu cung phi tinh là hướng của nữ chủ nhà, đại diện là người vợ, cửa chính ở hướng Tây Nam, người vợ sẽ thường xuyên đi mua sắm, dạo phố. Cửa ở hướng Tây Bắc thì nam chủ nhân thường xa nhà.

Trong phong thủy, cửa chính ngoài việc ảnh hưỏng đến tính cách của thành viên trong gia đình ra thì còn là cửa khí, là nơi nạp khí của cả nhà, chỉ cần điều chỉnh cửa chính vào vị trí cát lợi của lưu niên là có thể mang đến gia vận tốt.

Giả sử năm 2010, hướng đại lợi ở hướng Nam Bắc, nếu cửa chính cũng ở hướng Nam, Bắc, không những chủ nhà có thể kiếm được nhiều tiền mà do hướng Tây Bắc là hướng đào hoa, đặc biệt chủ nhà có nhiều đào hoa quý nhân.

Năm 2010, hướng Đông và hướng Tây Bắc là tài vị, vì thế nếu mở cửa ở hai hướng này sẽ có nhiều tài lộc. Mở cửa ở hướng Đông tài tinh có thể chiếu sáng, mở cửa ở hướng Tây Bắc, trong nhà có đào hoa quý nhân, ứng nghiệm vào nam chủ nhân, đặc biệt dễ dẫn đến vận đào hoa. 

Nếu cửa chính trong nhà mở ở hướng Tây Bắc, năm 2010 năm chủ nhân không những thường xuyên ở bên ngoài, không về nhà, hơn nữa vận đào hoa còn đặc biệt thịnh vượng.

Hướng Bắc đại diện cho thứ nam, tức là người con trai thứ hai. Trong năm này thứ nam có thể kiếm được nhiều tiền, đặc biệt phát tài.

Từ cửa chính có thể biết được thành viên nào trong nhà hướng ngoại, người nào kiếm được tiền, người nào có vận đào hoa. Căn cứ vào sự đi đến của Phi tinh mỗi năm có thế tra được ngay tình trạng của mỗi người trong gia đình.

Áp dụng Phong thủy huyền không cho năm 2015 Ất Mùi

Năm 2015 phi tinh Tam Bích nhập trung cung, làm sao chủ quản của năm. Tuân theo cách vận hành của Cửu cung phi tinh, ta có Phong thủy trận đồ 2015 như sau

phong thủy trận đồ 2015

Dựa vào phi tinh đồ năm 2015 này, ta sẽ biết được ảnh hưởng của phong thủy đến ngôi nhà và từng người trong gia đình đang sống dưới ngôi nhà đó. Có thể dựa vào các vật phẩm phong thủy để Kích hoạt sức khỏe, tài lộc và tình duyên 2015 cho những người đang cần.

- Năm 2015, phi tinh Nhất bạch ở phía Đông, phía này đại diện cho con trai cả (trưởng nam) trong gia đình. Trong năm nay con trai cả có nhân duyên tốt đẹp, nếu đến kỳ thi cử có sẽ có nhiều thuận lợi. Ảnh hưởng nhiều nhất là con trai cả từ 31 đến 49 tuổi. 

- Phi tinh Nhị hắc tọa ở hướng Đông Nam trong năm nay. Con gái cả (trưởng nữ) sẽ là người chịu ảnh hưởng của phi tinh này, nhất là trong độ tuổi từ 31 đến 49. Nếu cửa chính hoặc nơi đón khí chính nằm ở hướng Đông Nam trong năm 2015 này, sức khỏe sẽ có vấn đề, cần đề phòng cẩn thận, có bệnh liền chủ động chữa trị tức thời. Cũng cần đề phòng hỏa hoạn bắt nguồn từ nơi đây.

- Phi tinh Tam bích tọa ở trung cung, là vị trí tâm của ngôi nhà nên các thành viên trong gia đình năm nay cần tránh các chuyện thị phí bên ngoài, bỏ qua được thì bỏ qua chớ nên tranh chấp kẻo thua thiệt nghiêng về bản thân. Tuy nhiên có điều lợi là những người buôn bán, tài chính hoặc thể thao có thể tận dụng hợp lý khí vận của sao Tam bích để phát đạt.

- Phi tinh Tứ Lục tọa Tây Bắc, nam chủ nhân (người cha, người chủ gia đình) sẽ may mắn trên con đường học thuật, danh tiếng được lên cao nếu làm về văn hóa, văn nghẹ, giả trí. Nếu cửa chính nằm ở hướng Tây Bắc, nam chủ nhân cần chú ý về vấn đề tình duyên, dễ gây họa đào hoa nếu có ý định bên ngoài.

- Phi tinh Ngũ hoàng đóng ở phía Tây, thiếu nữ hoặc con gái út trong nhà sẽ ảnh hưởng nhiều trong năm nay. Dễ gặp tai họa, có chuyện buồn lòng, không được như ý. Có thể dùng một số vật phẩm phong thủy sau để hóa giải tai ương cho người con gái út như: tiền đồng, thạch anh trắng, mã não trắng, tỳ hưu, long quy hoặc kỳ lân. Đặt hoặc treo những vật phẩm phong thủy này ở hướng Tây là được.

- Phi tinh Lục bạch năm 2015 tọa hướng Đông Bắc ngôi nhà. Thiếu năm hoặc con trai út trong nhà thuận lợi về sự nghiệp, nếu làm trong tổ chức đoàn thể, cố gắng phấn đấu để lên chức sẽ thuận lợi. Nếu làm trong cơ quan hành chính thì tài lộc tốt tươi. Để phụ giúp cho việc thăng tiến chức vụ, đặt các vật phẩm phong thủy sau ở hướng Đông Bắc như: Voi hoàng ngọc, voi vàng. Còn trợ giúp cho tài lộc thì sử dụng thạch anh vàng, thạch anh mắt hổ hoặc cây rung tiền.

- Phi tinh Thất xích ở hướng Nam của ngôi nhà. Thứ nữ hoặc con gái thứ trong gia đình chịu nhiều ảnh hưởng nên cần đề phòng bệnh tật, nhất là hô hấp, phổi, phế quan và bệnh tay chân miệng. Nếu có cửa sổ ở hướng này nên đóng kín. Hóa giải bằng cách dùng thạch anh đen, mã não đen, hồ lô ngũ sắc.

- Phi tinh Bát bạch ở hướng Bắc của ngôi nhà. Thứ năm hoặc con trai thứ trong gia đình có thêm danh lợi, phúc lộc trong năm nay. Nếu kích hoạt phong thủy có thể thêm lộc điền trạch như: động thạch anh vàng, nho mã não đỏ, động thạch anh tím. Trong phòng nên cắm thêm hoa hồng, đặt một đôi nến đỏ.

- Phi tinh Cửu tử tọa Tây Nam đại diện cho nữ chủ nhân (người mẹ, người vợ chủ gia đình) được nhiều phần may mắn, vui vẻ, lợi về quan hệ xã hội. Có thể cầu con cái bằng cách kích hoạt vị trí này, đặt vật phẩm phong thủy như quả cầu thạch anh hồng ở hướng Tây Nam này là được.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Phong thủy cửa chính thúc đẩy vượng khí cho ngôi nhà

Vị trí đặt bàn thờ Phật cầu phúc cho cả nhà bình an - Phong thủy bàn thờ - Xem Tử Vi

Vị trí đặt bàn thờ Phật cầu phúc cho cả nhà bình an, Phong thủy bàn thờ, Xem Tử Vi, xem bói, xem tử vi Vị trí đặt bàn thờ Phật cầu phúc cho cả nhà bình an, tu vi Vị trí đặt bàn thờ Phật cầu phúc cho cả nhà bình an, tu vi Phong thủy bàn thờ

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Vị trí đặt bàn thờ Phật cầu phúc cho cả nhà bình an

Vị trí đặt bàn thờ Phật cầu phúc cho cả nhà bình an. Tượng Phật liên quan đến các vấn đề tâm linh nên cần được coi trọng. Nên đặt tượng Phật ở độ cao khoảng 1m và nhìn thẳng ra cửa để khí trường trong nhà toàn bộ đều mang năng lượng tốt. Vì vậy, vị trí số 1 là tốt nhất. Vị trí đặt bàn thờ Phật cầu phúc cho cả nhà bình an

Vị trí đặt bàn thờ Phật cầu phúc cho cả nhà bình an

Bàn thờ Phật cần nằm ở gian phòng khách. Nếu nhà có nhiều tầng, theo phong thủy nên đặt bàn thờ ở tầng trên – tránh ở vị trí chiếu dưới nhà vệ sinh, gầm giường. Cấm kị đặt bàn thờ tại phòng ngủ vì đây là không gian riêng tư của vợ chồng, con cái.

 

Về kích thước của ban thờ. Thực sự tốt khi bày tượng Phật thật to trong nhà. Tuy nhiên, cần căn cứ vào diện tích căn phòng để chọn kích thước ban thờ và tượng Phật phù hợp. Tượng Phật nhỏ cũng vẫn sẽ có hiệu quả,  chỉ là mang lại nguồn năng lượng ít hơn. Nên đặt tượng Phật ở độ cao khoảng 1m và nhìn thẳng ra cửa để khí trường trong nhà toàn bộ đều mang năng lượng tốt. Vì vậy, vị trí số 1 là tốt nhất.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Vị trí đặt bàn thờ Phật cầu phúc cho cả nhà bình an - Phong thủy bàn thờ - Xem Tử Vi

Lời nguyền Nhà Trắng hay chỉ là biến cố ngẫu nhiên?

Lời nguyền Nhà Trắng đã khiến cho 7 Tổng thống Mỹ qua đời trong vòng 120 năm. Và tất cả đều là những cái chết bất ngờ, nhiều uẩn khúc.
Lời nguyền Nhà Trắng hay chỉ là biến cố ngẫu nhiên?

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


► Mời các bạn xem thêm: Những lời tiên tri của Vanga đáng sợ nhất lịch sử

Loi nguyen Nha Trang hay chi la bien co ngau nhien hinh anh
 
Lời nguyền Tippecanoe – lời nguyền Nhà Trắng được cho là nguyên nhân dẫn đến cái chết của nhiều Tổng thống Mỹ trong suốt một thời gian dài. Trong vòng 120 năm (từ năm 1840 – 1960), 7 Tổng thống Mỹ đã qua đời đúng theo quy luật lời nguyền nghiệt ngã trên. 
 
Tippecanoe là tên một trận chiến giữa quân đội Mỹ do tướng William Henry Harrison chỉ huy (sau này là Tổng thống thứ 9) với người dân bản địa do thủ lĩnh Tecumseh dẫn dắt. Trong trận tranh hùng đó, đội quân của tướng William giành thắng lợi.
 
Theo một số tài liệu, do Tecumseh bại trận nên người anh em của ông là Tenskwatawa đã nguyền rủa tướng Harrison và những tổng thống Mỹ sau này. Theo đó, cứ khoảng 20 năm một lần, bất kỳ tổng thống Mỹ nào nhậm chức sẽ chết trong thời gian tại vị.
 
Ông chủ Nhà trắng đầu tiên bị lời nguyền nghiệt ngã đó đeo bám chính là tướng William Henry Harrison. Năm 1840, ông đắc cử Tổng thống đời thứ 9 của nước Mỹ. Ông giành được vị trí tối cao này khi đã luống tuổi và giữ vững kỷ lục người già nhất đắc cử Tổng thống Mỹ trong suốt 140 năm. Tuy nhiên, ông đã qua đời vì bị cảm lạnh vào năm 1841. Do đó, ông cũng trở thành Tổng thống tại vị ngắn nhất trong lịch sử.
 
20 năm sau, lời nguyền Tippecanoe tiếp tục linh nghiệm. Lần này là Tổng thống Abraham Lincoln phải “chịu trận”. Ông đắc cử và bị ám sát khi đang ở giữa nhiệm kỳ Tổng thống thứ hai vào năm1865.
 
Năm 1881, Tổng thống James Garfield cũng qua đời vì bị ám sát. Ông chỉ kịp ở trong tòa bạch ốc được 200 ngày sau khi nhậm chức. Vào ngày 2/7/1881, luật sư bị tâm thần tên là Charles J. Guiteau đã ám sát vị Tổng thống này.
 
Lời nguyền Tippecanoe tiếp tục linh ứng với Tổng thống William McKinley năm 1901. Ông qua đời cũng vì bị ám sát. Ông trở thành vị tổng thống Mỹ thứ 3 thiệt mạng vì nguyên nhân này.
 
Năm 1923, Tổng thống Warren Harding mất vì đau tim. Ông cũng được cho nạn nhân của lời nguyền Tippecanoe.   
 
Năm 1945, Tổng thống Franklin Roosevelt qua đời vì xuất huyết não và đột quỵ. Ông được cho là nạn nhân thứ 6 của lời nguyền Nhà Trắng bí ẩn.
 
Lời nguyền Nhà Trắng đeo bám các đời tổng thống Mỹ và bắt đầu hết “hiệu nghiệm” khi Tổng thống Ronald Reagan vẫn còn sống sót trong chu kỳ 20 năm. Năm 1981, ông cũng bị ám sát nhưng vẫn bảo toàn được tính mạng. 
 
Lời nguyền này đến nay vẫn chỉ là suy đoán, nhưng những điều thực sự diễn ra trong thực tế khiến không ít người tin vào sự tồn tại của nó. Đây là một lời nguyền tâm linh hay chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên của số phận?
Theo Thế giới văn hóa tâm linh

 

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Lời nguyền Nhà Trắng hay chỉ là biến cố ngẫu nhiên?

Quẻ Quan Âm: Hàn Văn Công Ngộ Tuyết

Quẻ Quan Âm thứ 85 Quẻ Quan Âm: Hàn Văn Công Ngộ Tuyết đoán rằng người cao tuồi rút được thẻ này, sẽ lại gặp được vận tốt.
Quẻ Quan Âm: Hàn Văn Công Ngộ Tuyết

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Đây là quẻ Quan Âm thứ 85 được xây dựng trên điển cố: Hàn Văn Công ngộ tuyết hay Hàn Văn Công gặp tuyết.

Quẻ trung bình thuộc cung Thân. Quẻ này tốt cho người cao tuổi, may mắn và vận thế tốt đẹp. Nếu người trẻ, hỏi về công danh lợi lộc, khi gặp quẻ này nghĩa là tiền tài sẽ có khi về già.

Thử quái xuân tận hoa khai chì tượng. Phảm sự chù hậu cải biến dã.

Điển cố quẻ Quan Âm: Hàn Văn Công Ngộ Tuyết

Hàn Văn Công tức Hàn Dũ (767 – 824), tự Thoái Chi, người huyện Hà Dương, tỉnh Hà Nam.

Năm Nguyên Hòa thứ 14 (năm 819), Đường Hiến Tông sai sứ giả đi Phượng Tường đón xá lị của Phật, kinh thành Trường An bỗng chốc dấy lên trào lưu sùng tín Phật pháp. Hàn Dũ không chú ý đến sự an nguy của bản thân, kiên quyết dâng “Luận Phật cốt biểu” (bài biểu bàn về xá lị Phật), cực lực bài xích đạo Phật lầ không thể tin theo, yêu cầu đem xá lị Phật “ném vào nước lửa, cắt đứt gốc rễ, chấm dứt nghi ngờ trong thiên hạ, phá bỏ mê hoặc của đời sau”. Hiến Tông nhận được tờ biểu, bừng bừng tức giận, muốn dùng cực hình xử tội. Nhờ Tể tướng Bùi Độ cùng các quan đại thần trong triều ra sức nói giúp, Hàn Dũ mới được miễn tội chết, nhưng bị giáng chức làm Thứ sử Triều Châu.

Hàn Dũ từ biệt vợ con, đi đến Triều Châu. Đi chưa được mấy ngày thì gió lạnh đổ về, tuyết lớn mù mịt. Hàn Dũ đi đến một nơi tuyết dày mấy thước, ngựa khó mà tiến lên được, gần đó cũng không có lấy một nếp nhà. Trong lúc tuyệt vọng, chợt thấy một người đội tuyết đi tới, thì ra là đứa cháu Hàn Tương Tử. Lúc này Hàn Tương Tử đã đắc đạo thành tiên. Tương Tử hỏi Hàn Dũ: “Chú còn nhớ câu thơ năm nọ không? Chính là nói đến sự việc ngày hôm nay đấy!”

Vốn dĩ anh trai của Hàn Dũ mất sớm, để lại một đứa con trai là Hàn Tương, Hàn Dũ nuôi dưỡng Hàn Tương thành người, lại dạy cháu đọc sách. Nhưng Hàn Tương không có hứng thú với việc đọc sách làm quan, chỉ thích tìm tiên tu đạo, mê muội không chịu tỉnh ngộ, khiến cho Hàn Dũ rất đau lòng. Một lần, Hàn Tương lại ra ngoài tìm tiên, Hàn Dũ tức cảnh viết một bài thơ:

Lưỡng giơ các sinh tử, Hài đề xảo tương như.

Thiếu trưởng tụ hi hý, Bất thù đồng đội ngư.

Niên chí thập nhị tam, Đâu giác sảo tương sơ.

Nhị thập tiệm quai trương, Thanh câu ánh hà cừ.

Tam thập cốt cách thành, Năi nhất long nhất trư.

Nhất vi công dữ tướng, Đàm đàm phủ trung cư;

Nhất vi mã tiền tốt, Tiên bối sinh trùng thư.

Vấn chi hà nhân nhỉ? Học dữ bất học dư?

(Hai nhà đều sinh con trai, lúc còn bé thì khéo léo như nhau. Lớn nhỏ tụ tập vui đùa, không khác gì cá cùng đàn. Đến mười hai mười ba tuổi, tài hoa có khác nhau một chút. Hai mươi tuổi thì dần có sự trái ngược, như khe trong và dòng kênh lớn. Ba mươi tuổi thì cốt cách hình thành, một là con rồng một như con lợn. Một lầ công là tướng, ung dung ờ trong phủ; một là tên tiểu tốt dắt ngựa, suốt ngày bị đánh đến rách lưng. Hỏi nguyên nhân là vì sao? Phải chăng là có học và không học.)

Sau khi Hàn Tương trở về nhà, đọc xong bài thơ của Hàn Dũ, cũng dùng thơ để nói lên ý mình:

Giải cấu thoan tuần tửu, Nâng khai khoảnh khắc hoa.

Hữu nhân năng học ngã, Đồng cộng khán tiên ba.

(Có thể ủ được rượu trong chốc lát, có thể làm cho hoa nở trong khoảnh khắc. Người nào có thể học theo ta, sẽ có thể cùng xem được hoa tiên.)

Hàn Dũ vẫn không tin.

Hàn Tương liền mang đến một chậu đất, nói: “Hoa đẫ nở ròi.” Chỉ thấy hai bông hoa xanh biếc nở trong chậu, lại có hai câu thơ ở trên cánh hoa: “Vân hoành Tần Lĩnh gia hà tại, tuyết ủng Lam Quan mã bất tiền” (Mây giăng Tần Lĩnh nhà đâu nhỉ, tuyết lấp Lam Quan ngựa chùn chân). Hàn Dũ hết sức kinh ngạc, đành phải cho Hàn Tương đi vân du khắp nơi. Sau này, Hàn Tương đắc đạo thành tiên, là một trong Bát tiên, chính là Hàn Tương Tử.

Lúc này Hàn Dũ mới biết đây là Lam Quan, liên tục thử dài, cuối cùng tin lời mà Hàn Tương Tử nói năm xưa là thật.

Đêm đó, hai người đến ngủ nhờ trong thôn Phó Xá ờ Lam Quan, cùng bàn luận về chuyện xưa nay, về đạo tu hành, Hàn Dũ thực lòng tin phục theo đạo mà Hàn Tương Tử nói đến. Ngày hôm sau, Hàn Tương Tử chào từ biệt ra đi, đưa ra một bầu thuốc tiên, nói với Hàn Dũ rằng: “Uống một viên có thể ngăn được nóng lạnh”, và còn dặn thêm: “Không lâu nữa chú sẽ trở về, không những không có bệnh tật, mà còn tiếp tục được triều đình trọng dụng.”


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Quẻ Quan Âm: Hàn Văn Công Ngộ Tuyết

Con so về nhà mạ, con rạ về nhà chồng tại sao ?

Con so là con sinh đầu lòng, con rạ là những đứa con sinh sau. Nếu nuôi được cả thì con so là trưởng, con rạ là thứ. Phong tục này phổ biến ở Bình Trị Thiên và một số địa phương ngoài Bắc, còn ở Nghệ An, Hà Tĩnh thì trừ trường hợp ở rể, nói chung con gái không được sinh đẻ ở nhà cha mẹ mình.
Con so về nhà mạ, con rạ về nhà chồng tại sao ?

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Con gái mới lớn lên, mới sinh lần đầu tiên, trẻ người non dạ, chưa biết đi đứng, ăn uống, tắm giặt, kiêng khem ra sao, hơn nữa trong người yếu khoẻ ra sao muốn nhờ vả mẹ chồng hoặc chị em nhà chồng cũng ngần ngại, khó nói hơn với mẹ đẻ và em út mình. Còn những lần sinh sau đã có kinh nghiệm, có thể tự mình giải quyết được nhiều việc.

Phong tục, "Con so về nhà mạ" là một phong tục hay nhưng muốn giải quyết được êm đẹp cũng phải có thu xếp: Gần ngày ở cữ, mẹ chồng hoặc chàng rể sang quê ngoại thưa chuyện trước, nếu có khó khăn về kinh tế hoặc đường xá xa xôi cách trở cũng cần thảo luận với nhau về trách nhiệm cho thoả đáng, sau khi mẹ tròn con vuông, cháu cứng cáp, chàng rể cũng cần sắm một số lễ vật, nhằm ngày tốt sang tạ ơn gia tiên bên ngoại và ông bà ngoại để xin đón vợ con về. Ông bà ngoại còn cẩn thận đánh dấu vôi hoặc nhọ nồi ở trán cho cháu và các thứ bùa phép khác để các thứ tà ma ác quỷ không dám đến quấy rối cháu dọc đường.

ở Nghệ Tĩnh lại có phong tục ngược lại: Cho là sinh dữ tử lành, ngoài con dâu ra, không ai được quyền sinh trong nhà. Con gái về nhà mạ, nếu nhỡ đến kỳ động thai, trở dạ, không kịp trở về nhà chồng, sợ sinh nở dọc đường thì bố mẹ phải dựng tạm chiếc lều ở góc vườn, hoặc nếu không kịp, thì ra chuồng trâu mà đẻ.

Thiết nghĩ không cần phân tích, bạn đọc cũng thấy được phong tục nào hợp tình lý hơn.

Trường hợp đã mồ côi mạ, về nhà mạ thiếu người chăm nom thì con so cũng về nhà chồng.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Con so về nhà mạ, con rạ về nhà chồng tại sao ?

Gò má nói gì về vận mệnh tương lai

Người có xương gò má lõm xuống thường thiếu dương khí, có tâm địa gian xảo, làm việc dễ bỏ dở giữa chừng hoặc lợi dụng người khác để tiến thân.
Gò má nói gì về vận mệnh tương lai

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Người có xương gò má lõm xuống thường thiếu dương khí, có tâm địa gian xảo, làm việc dễ bỏ dở giữa chừng hoặc lợi dụng người khác để tiến thân.


► Lịch ngày tốt gửi đến bạn đọc công cụ xem tử vi, xem tướng các bộ phận cơ thể đoán vận mệnh chuẩn xác

Go ma noi gi ve van menh tuong lai hinh anh
Ảnh minh họa

1. Gò má cao và nhọn
  Dù là đàn ông hay phụ nữ, nếu xương gò má cao và nhìn hơi nhọn đều là tướng bần hàn, phá tài. Những người này có tính cách soi mói, thích bới lông tìm vết, phong cách làm việc hung hăng, không biết nói lí lẽ nên dễ bị mọi người ghét bỏ nên khó thành đạt trong sự nghiệp.   Cuộc sống sau hôn nhân của người này cũng không được yên ấm. Phần lớn nữ giới sẽ nắm mọi quyền hành trong gia đình, nam giới thì độc đoán, gia trưởng.   Tuy nhiên, nếu xương gò má cao nhưng thêm đặc điểm là Ấn Đường đầy đặn thì là người tài trí, nhân vật có tiếng tăm, có thể hô mưa gọi gió. Ngoài ra, trong Nhân tướng học, xương gò má chính là hình ảnh tượng trưng cho quyền lực, cho biết vận may của con người ở độ tuổi 46 hoặc 47. Nếu gò má vuông vắn tròn đầy thì tài lộc phát đạt, gặp nhiều may mắn trong cuộc sống.
2. Gò má lõm xuống   Người có xương gò má lõm xuống thường thiếu dương khí, có tâm địa gian xảo, làm việc dễ bỏ dở giữa chừng hoặc lợi dụng người khác để tiến thân. Phụ nữ có tướng này thường có số mệnh gian nan, vất vả, cuộc sống hôn nhân gia đình không yên ấm. Đàn ông gò má lõm xuống thì tính tình nhu nhược, thiếu quyết đoán, làm việc không rõ ràng nên khó thành công trong sự nghiệp, dù có quan vận nhưng cũng lên xuống bất ổn.   3. Gò má tròn đầy, sáng sủa   Phần lớn những người có phần gò má đầy đặn, tròn trịa đều có ý chí kiên cường, nhẫn nại, nắm trong tay cả quyền lực và danh vọng, cuộc sống hạnh phúc an nhàn khi về già.    Nếu gò má tròn đầy thêm đầu mũi tròn và nhẵn bóng là tín hiệu cho thấy người này có tài vận hanh thông, được thừa hưởng khối tài sản lớn và biết gìn giữ, phát triển nó một cách bền vững.    Khánh Mai (Theo ZY)  
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Gò má nói gì về vận mệnh tương lai

Chọn huyệt cát, yên âm trạch

Theo quan niệm của người phương Đông, âm trạch là yếu tố quan trọng tác động đến đời sống. Linh hồn người chết có yên ổn thì con cháu mới thịnh vượng, được
Chọn huyệt cát, yên âm trạch

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

hưởng phúc ông cha. Vì vậy, khi chôn cất người chết cần xem xét thế đất chu đáo, chọn được huyệt cát. Dưới đây là một vài gợi ý phong thủy hữu ích khi chọn đất đặt mộ phần.


Chon huyet cat, yen am trach hinh anh
 
Nhập thủ đầy đặn: nhập thủ là nơi long mạch vào mộ. Nếu nơi đó hơi lồi như mu con rùa, đầy đặn, cỏ cây tươi tốt thì nên chọn để đặt mộ, gia chủ và con cháu sẽ phú quý.
 
Màu sắc đất: sau khi đào thấy đất ở dưới mịn, có màu ngũ sắc, màu hồng vàng, màu son đậm, màu hồng có vân. Đất này gọi là ” Thái cực biên huân”.
 
Đồi đất và dòng nước bao bọc: huyệt mộ nằm trong thế này được xem là huyệt quý. Để đảm bảo huyệt cát, khi đào huyệt thường dùng đất ngũ sắc, hoặc đất hồng sắc để chôn mộ, chôn tiểu quách. Ngoài ra, đất ngũ sắc và đất hồng sắc có tác dụng kết dính thành một khối khi gặp nước, đảm bảo huyệt mộ yên vị và không ngấm nước và trong quan. Gia chủ và con cháu sẽ gặp đại cát, đại lợi.
 
Kỵ nhất đặt huyệt ở nơi đất đá, có chứa nhiều rác rưởi, hoặc có nguồn nước thải bị ô nhiễm. Đào lên ở đáy huyệt phải có mạch nước ngầm chảy dưới huyệt. Màu sắc của nước trong xanh, mùi thơm, tránh nước bị ô nhiễm hoặc nước có mùi hôi. Những huyệt ở đồng bằng, ruộng thì kỵ không có nước ở dưới huyệt.
 
Ở các nghĩa trang, nơi quy tập nhiều mộ thường quá tải về diện tích, các mộ chen lấn nhau. Tránh huyệt bị các mộ xung quanh lấn chiếm, hoặc nằm án ngữ ngay trước phần mộ, hoặc đâm xuyên vào 2 bên cạnh mộ. Nếu chọn được huyệt phía trước rộng thoáng, lại nhìn ra ao hồ hay sông suối là đắc cách (tốt). Trường hợp đất đai quá hiếm, không chọn được huyệt có phía trước thoáng rộng thì tối thiểu cũng phải có một khoảng đất trống nằm ngay phía trước huyệt mộ.
 
Quan sát cẩn thận hệ thống đường đi xung quanh huyệt. Nếu huyệt có đường đi đâm thẳng vào giữa hoặc đâm xuyên sang hai bên thì gia chủ bị bại, không thể dùng. Đường đi sát ngay phía sau huyệt cũng tối kỵ, chủ tổn hại nhân định. Tốt nhất chọn huyệt nơi yên tĩnh, xa cách với đường đi lối lại quanh khu vực mộ.
 
Ở vùng núi non thì cần thẩm định huyệt theo những tiêu chí của địa lý chính tông. Huyệt cần có long hổ hai bên ôm lấy huyệt (hai đồi núi ôm lấy nhau, mộ ở phần giữa), phía sau có cao sơn che chắn, phía trước có minh đường thuỷ tụ…  
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Chọn huyệt cát, yên âm trạch

Đối mặt với đại hung khi bắt gặp các dị tượng

Con người đôi lúc gặp phải các tai nạn khó giải thích bằng khoa học lại gắn liền chặt chẽ với phong thủy. Dưới đây là một số hiện tượng bất thường, nếu bắt gặp
Đối mặt với đại hung khi bắt gặp các dị tượng

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Con người đôi lúc gặp phải các tai nạn khó giải thích bằng khoa học, tuy nhiên lại gắn liền chặt chẽ với phong thủy. Dưới đây là một số hiện tượng bất thường, nếu bắt gặp tất đối mặt đại hung.


Doi mat voi dai hung khi bat gap cac di tuong hinh anh
 

Mèo hoang đến cửa 


Doi mat voi dai hung khi bat gap cac di tuong hinh anh 2
 
Khi mèo hoang tìm đến cửa nhà điều này ngụ ý trong gia đình có người gặp vấn đề về sức khỏe hoặc tai nạn bất ngờ sẽ xảy ra. Nếu mèo hoang không đi tức là khí trường trong những góc nhà u tối bị rối loạn, dẫn đến ảnh hưởng đến phong thủy trong nhà. Điều tốt nhất cần làm khi gặp tình huống này là điều chỉnh phong thủy.  

Tiếng kêu của chuột

  Trong nhà, đặc biệt là các căn nhà làm bằng gỗ nghe thấy tiếng kêu của chuột. Điều này không những làm các đồ vật trong nhà bị hỏng hóc, mà còn đại diện cho hiện tượng phá sản.

Mạng nhện

 
Doi mat voi dai hung khi bat gap cac di tuong hinh anh 3
 
Nếu gia chủ phát hiện trong nhà có mạng nhện chưa quét sạch, tức là khí trường trong nhà gặp vấn đề, thường là uế khí tích tụ, khiến người trong gia đình dễ mắc bệnh.  

Cây cối chết khô

Nếu lá cây khô là việc bình thường, không đem đến ảnh hưởng. Tuy nhiên, khi cây cối chết khô có nghĩa là gia chủ gần đây có tranh chấp xích mích, thị phi quấn thân. Để giải quyết lỗi phong thủy này, gia chủ nên dọn dẹp cây chết và thay đổi cây mới.  

Đồ cúng bị mốc


Doi mat voi dai hung khi bat gap cac di tuong hinh anh 4
 
Đồ cúng đặt trên ban thờ, bình thường trong thời gian ngắn không gặp vấn đề gì, nhưng nếu phát hiện đồ cúng nhanh chóng bị mốc bị hỏng có khả năng là cúng cầu không thành tâm hoặc do tiểu quỷ. Ngoài cách dùng vật phẩm phong thủy, gia chủ nên giữ gìn không khí thanh tịnh trong sạch xung quanh ban thờ.
Chi Nguyễn

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Đối mặt với đại hung khi bắt gặp các dị tượng

Ý nghĩa sao Thiên Cơ

ĐẠI CƯƠNG Cung Mệnh có Thiên CơMiếu địa, Vượng địa hay Đắc địa tọa thủ, nên thân hình cao, xương lộ, da trắng,mặt dài, nhưng đều đặn, rất thông minh, khôn ngoan, có óc kinh doanh, có mưutrí, biết quyền biến, tính nhân hậu, từ thiện, được hưởng giàu sang và sốnglâu.
Ý nghĩa sao Thiên Cơ

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

- Cơ Miếu địa, Vượng địa hay Đắc địa gặp nhiều sao sáng sủa tốt đẹp hội hợp, nhất là Xương, Khúc, Khôi, Việt, Tả, Hữu, Đại, Tiểu hao, Khoa, Quyền, Lộc, tất được hưởng phú quí song toàn và có uy danh lừng lẫy.

- Cơ Miếu địa, Vượng địa hay Đắc địa gặp Tả, Hữu, Lộc, Hình, Y, Quang, Quí hội hợp, chắc chắn chuyên về y khoa hay dược khoa.

- Cơ Miếu địa, Vượng địa hay Đắc địa gặp Tả, Hữu, Linh, Hình là người khéo tay, thường chuyên về kỹ nghệ, máy móc hay thủ công.

- Cơ Miếu địa, Mão Dậu gặp Đại Tiểu Hao hội hợp là người đa tài, được hưởng phú quí đến tột bực. Cung Mệnh có cách này, mà lại sinh năm Ất, Tân, Kỷ, Bính, thật là toàn mỹ.

- Cơ Đắc địa Tý Ngọ, gặp nhiều Văn tinh hội hợp, dĩ nhiên là quý hiển. Nhưng tuổi Ất, Bính, Đinh mà cung Mệnh có cách này lại lập được sự nghiệp lớn lao và được hưởng giàu sang trọn đời.

- Cơ Miếu địa, Vượng địa hay Đắc địa gặp Tuần, Triệt án ngữ, tất phải ly tổ, bôn ba, suốt đời vất vả, chân tay thường có tật, lại khó tránh thoát được tai nạn xe cộ hay dao súng, tuổi thọ cũng bị chiết giảm. Có cách này, thật chỉ có tu hành mới được yên thân, hưởng phúc và sống lâu.

- Cơ Hãm địa, nên thân hình nở nang, hơi thấp, da trắng, mặt tròn, kém thông minh, cũng có óc kinh doanh, nhưng có tính gian xảo, thường phải buôn bán ngược xuôi hay làm nghề thủ công để kiếm ăn. Tuy vậy, vẫn được no cơm ấn áo và sống lâu.

- Cơ Hãm địa gặp Tuần Triệt án ngữ, tuy khá giả, nhưng phải lập nghiệp ở xa quê hương, bản quán và hay mắc tai nạn xe cộ, dao súng.

- Cơ Hãm địa gặp nhiều sao mờ ám xấu xa hội hợp, nhất là Sát tinh, Kỵ, Hình, tất phải có tàn tật, nhất khó chữa, phải thường lang thang phiêu bạt, lại hay mắc những tai họa khủng khiếp, nếu không cùng khổ cô đơn, chắc chắn là yểu tử.

NAM MỆNH

- Cơ Miếu địa, Vượng địa hay Đắc địa thủ Mệnh, gặp nhiều sao sáng sủa tốt đẹp hội hợp, tất được hưởng phú quí đến tột bậc và phúc thọ song toàn.

- Cơ Miếu địa Thìn, Tuất, là người có mưu trí hay bàn xét về chính lược chiến lược.

- Cơ Miếu địa Mão, Dậu gặp Đại Tiểu Hao hội hợp, là người có tài kiêm văn võ.

- Cơ Hãm địa gặp nhiều sao mờ ám xấu xa hội hợp, tất phải có tàn tật, có bệnh khó chữ, thường phải lang thang phiêu bạt, hay mắc những tai họa khủng khiếp, nếu không cùng khổ, cô đơn, chắc chắn là yểu tử

NỮ MỆNH

- Cơ Miếu địa, Vượng địa hay Đắc địa thủ Mệnh, là người khôn ngoan tài giỏi, đảm đang, vượng phu ích tử, nhưng hưởng giàu sang và sống lâu. Đây, nếu Cơ gặp nhiều sao sáng sủa tốt đẹp hội hợp, chắc chắn là được hưởng phú quí đến tột bậc và phúc thọ song toàn.

- Cơ Miếu địa Mão Dậu, tất có tính dâm đãng.

- Cơ Hãm địa là người đảm đang, nhưng gian xảo và bất chính suốt đời vất vả, phải muộn lập gia đình hay lấy kế, lấy lẽ mới tránh được những nỗi buồn thương, đau đớn vì chồng con. Đây, nếu Cơ gặp nhiều sao mờ ám xấu xa hội hợp, thật là cùng khốn cô đơn, nếu được no cơm ấm áo, chắc chắn là không thể sống lâu được.

PHỤ GIẢI

1 – Cơ Viên phú tính từ tâm

Cung Mệnh có Cơ Miếu địa, Vượng địa hay Đắc địa tọa thủ, là người có lòng từ thiện.

2 – Thiên Cơ gia ác Sát đồng cung, cẩn thân thử thiết

Cung Mệnh có Cơ Miếu địa, Vượng địa hay Đắc địa tọa thủ, gặp nhiều Sát tinh đồng cung, là người quỷ quyệt xảo trá. Nhưng nếu cung Mệnh có Cơ Hãm địa tọa thủ, lại gặp nhiều Sát tinh đồng cung tất là hạng trộm cướp bất lương.

3 – Thiên Am, triều cương, nhân từ chi trường

Cung Mệnh an tại Thìn, Tuất, có Cơ (Thiên) Lương (Ấm) tọa thủ đồng cung, nên rất nhân từ và chắc chắn là được hưởng phúc thọ song toàn. Đây, nếu Cô, Lương gặp Tuần, Triệt án ngữ hay gặp nhiều Sát tinh hội hợp, thật chỉ có tu hành mới được yên thân, hưởng phúc và sống lâu.

4 – Cơ, Lương hội hợp, thiện đàm binh,

cư Tuất, diệc vi mỹ luận

Cung Mệnh an tại Thìn, Tuất có Cơ, Lương tọa thủ đồng cung, là người học rộng tài cao, hay bàn xét về chính lược, chiến lược.

5 – Cơ, Lương thủ Mệnh gia Cát diệu, phú quí song toàn

Cung Mệnh an tại Thìn, Tuất, có Cơ, Lương tọa thủ đồng cung, gặp nhiều sao sáng sủa tốt đẹp hội hợp, chắc chắn là được hưởng giàu sang trọn đời.

6 – Cơ, Lương, Tứ Sát, Tướng Quân xung,

vũ khách, tăng lưu Mệnh sở phùng

Cung Mệnh an tại Thìn, Tuất, có Cơ, Lương tọa thủ đồng cung, gặp Kình Đà, Hỏa, Linh hội hợp, gặp Tướng xung chiếu, tất là hạng võ sĩ giang hồ hay thầy tu.

7 – Cơ, Nguyệt, Cấn, Khôn, nhi hội Xương, Riêu, thi tứ, dâm tàng

Cung Mệnh an tại Dần (Cấn), Thân (Khôn) có Cơ, Nguyệt tọa thủ đồng cung gặp Xương, Riêu hội hợp, nên hay làm thơ văn dâm tinh.

8 – Cơ, Nguyệt Đồng Lương tác lại nhân

Cung Mệnh có Cơ, Nguyệt, Đồng Lương hội hợp, thường là công chức.

9 – Cơ, Lương đồng chiếu Mệnh Thân Không, vi tăng đạo.

Cung Mệnh hay cung Thân có Tuần, Triệt án ngữ, có Cơ, Lương (đồng cung), chiếu, tất là thầy tu.





Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Ý nghĩa sao Thiên Cơ

Giải mã 4 vị trí nốt ruồi ở tai

Teen đặc biệt chú ý vị trí nốt ruồi ở phong đương, vành tai vì đó là điềm báo không tốt cho chuyện tình duyên của khổ chủ.
Giải mã 4 vị trí nốt ruồi ở tai

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

vanh-tai-1-1256-1441671175.jpg vanh-tai-2-6175-1441671175.jpg vanh-tai-3-7632-1441671175.jpg vanh-tai-4-4252-1441671176.jpg
1. Nốt ruồi ở phong đương 2. Nốt ruồi ở dái tai 3. Nốt ruồi ở phía sau vành tai 4. Nốt ruồi ở vành tai

Mr.Bull (theo XYB)

xemchitay-1441443212-144144322-7132-3317 Đọc nốt ruồi trên đường chỉ tay tình duyên

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Giải mã 4 vị trí nốt ruồi ở tai

Tìm may mắn cho tuổi Canh Thân

Tuổi Canh Thân (mệnh Mộc, sinh năm 1980) có bản mệnh tốt, số tài lộc, được quý nhân giúp đỡ, cuộc sống gặp nhiều may mắn, con cháu được hưởng phúc đức.
Tìm may mắn cho tuổi Canh Thân

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Cuộc đời: Tuổi Canh Thân (mệnh  Mộc, sinh năm 1980) có bản mệnh tốt, số tài lộc, được quý nhân giúp đỡ, cuộc sống gặp nhiều may mắn, con cháu được hưởng phúc đức. Tuổi trẻ vất vả, về già sung sướng, an nhàn.

Tim may man cho tuoi Canh Than
 
Các tuổi đại kỵ với tuổi Canh Thân là: Canh Thân, Quý Hợi, Nhâm Thân, Ất Hợi, Mậu Dần.

Tính cách: Là người lương thiện, cứng rắn, coi trọng danh tiếng nên thường thiếu trách nhiệm với gia đình.

Tuổi Canh Thân thông minh, đa tài, không ngại khó nhưng lại thiếu ý chí, kiên nhẫn nên thường không đạt được thành công lớn trong công việc.

Tình duyên: Tuổi này tình duyên lận đận, thường gặp phải chuyện đổ vỡ, buồn lòng.

Tuổi Canh Thân không nên kết hôn với các tuổi: Giáp Tý, Kỷ Tỵ, Mậu Ngọ, Đinh Tỵ sẽ không phải chịu cảnh xa vắng triền miên.

Công danh sự nghiệp: Tuổi này sự nghiệp phát triển mạnh mẽ, từ 35 tuổi trở đi sẽ có triển vọng tốt đẹp, nếu đi xa sẽ có công danh.

Để công việc thành công, tốt đẹp, tuổi Canh Thân nên hợp tác với các tuổi: Nhâm Tuất, Mậu Thìn, Kỷ Mùi.

Tiền bạc: Tuổi này tiền bạc trung bình, trung vận làm ăn thuận lợi, từ 45 tuổi sẽ phát tài rồi lại thất bại.

(Theo 12 con giáp, tính cách con người qua năm sinh)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tìm may mắn cho tuổi Canh Thân

Phong thủy góc làm việc cho sự nghiệp "lên tiên"

Đơn giản chỉ bằng cách di chuyển một vài đồ vật trong văn phòng hay góc làm việc. Điều đó đồng nghĩa với việc thay đổi những nguồn năng lượng ở các khu vực này. Bạn sẽ đạt được những thành công mới.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Sự nghiệp của mỗi người thường khác nhau, có người thuận lợi, có người khó khăn, nhưng tất cả là đều phụ thuộc vào sự cố gắng của mỗi người. Bên cạnh đó, một số yếu tố thuộc về phong thủy cũng được xem là có ảnh hưởng quan trọng đến sự nghiệp của bạn.

 phong thuy goc lam viec cho su nghiep

Trước khi bắt đầu, bạn nên xác định nên tập trung vào đâu. Phòng làm việc chỉ cần một cửa đi, khi đặt bàn làm việc bạn nên chú ý đặt ở vị trí có thể dễ dàng nhìn thấy cánh cửa khi ngồi ở vị trí đặt bàn. Theo phong thuỷ, sẽ là sai lầm khi đặt bàn làm việc ở vị trí khi mà bạn ngồi vào bạn quay lưng lại với cửa đi. Trong trường hợp vì điều kiện phòng không cho phép mà bắt buộc phải kê bàn như vậy thì một tấm gương để bạn có thể quan sát những sau lưng mình sẽ là giải pháp tối ưu nhất.

Phòng làm việc quá tối đồng nghĩa với việc năng lượng trong phòng sẽ ở mức thấp. Bạn cần cung cấp ánh sáng cho phòng làm việc càng nhiều càng tốt bởi như thế sẽ có thể thu hút thêm thật nhiều năng lượng và may mắn cho sự nghiệp của bạn. Không những thế, ánh sáng còn có những kích thích nhất định lên các giác quan của bạn, giúp bạn giải quyết công việc được nhanh chóng và hiệu quả hơn. Ánh sáng tốt nhất cho phòng làm việc chính là ánh sáng trời, nếu như ngồn sáng này không đáp ứng đủ thì một chiếc đèn bàn loại tốt sẽ bổ sung ánh sáng cần thiết cho bàn làm việc của bạn.

 phong thuy goc lam viec cho su nghiep

Phòng làm việc không nên quá cứng nhắc chỉ với máy tính, sách vở, tài liệu…Một chút năng lượng sống từ những cây xanh trồng trong nhà sẽ giúp ích cho bạn rất nhiều. Chẳng những đem lại nguồn năng lượng hữu ích, cây xanh chính là một nhà máy hoàn hảo, sự hiện diện của nó trong phòng làm việc cũng sẽ mang đến thêm thành công cho công việc của bạn. Nhưng bạn hãy giành chút ít thời gian để chăm sóc cho cây được phát triển khoẻ mạnh bởi nếu trong phòng bạn có sự hiện diện của những cây xanh yếu, héo hon…sẽ thu hút những năng lượng xấu vào phòng.

Sự nghiệp của bạn cũng có thể được củng cố chỉ bằng những thứ rất đơn giản như một bát nước nhỏ được thả vào đó vài lá cây bạc hà, nó không chỉ mang lại hương thơm tinh khiết mà còn giúp mang mọi người đến với phòng làm việc của bạn và đó cũng giống như việc thu hút thêm nhiều thành công, may mắn đối với công việc của bạn.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Phong thủy góc làm việc cho sự nghiệp "lên tiên"

Phong thủy chuẩn cho nhà bếp nhỏ

Nhà bếp là một trong những khu vực trung tâm của ngôi nhà. Đồng thời nó cũng thuộc một phần của tam giác phong thủy quan trọng: phòng ngủ - phòng tắm - nhà bếp. Nó kết nối trực tiếp tới sức khỏe và hạnh phúc của bạn.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Một nhà bếp với phong thủy tốt sẽ giúp bạn có được sức khỏe dồi dào, cũng như thu hút dòng chảy của sự giàu có vào cuộc sống của bạn. Bạn sẽ làm gì khi nhà bếp của bạn rất nhỏ? Đồng thời, rất khó để có thể giữ cho nó được gọn gàng hoặc không gian của nó không đủ cho tất cả các vật dụng cần thiết của nhà bếp?

Trước hết, bạn có thể mở rộng nhà bếp bằng cách sắp xếp lại nhằm thắp sáng năng lượng, tạo ra một dòng chảy năng lượng tốt hơn. Bạn cũng có thể xem xét sơn lại những tủ gỗ bằng một màu sắc sáng hơn, ví dụ như màu trắng hay vàng nhạt, hoặc màu sắc nào đó phù hợp nhất với tất cả các yếu tố khác trong nhà bếp của bạn (bàn, chạn,…)
 

Hệ thống chiếu sáng thông minh cho nhà bếp nhỏ trở nên rất quan trọng. Vì vậy, không nên giới hạn sự sáng tạo của mình để tránh sự nhàm chán, tiêu hao năng lượng. Hãy thử nghiệm với nhiều cấp độ khác nhau của ánh sáng và cảm nhận sự thay về năng lượng mà mỗi thứ ánh sáng mang lại.
 

Gương là giải pháp tốt nhất cho không gian nhỏ, được gọi là biện pháp "cứu nguy" trong phong thủy. Bởi vì, gương tạo khả năng “nhân bản” trong nhà bếp của bạn, giúp mang lại nhiều ánh sáng và cho cảm giác không gian được mở rộng ra. Ngoài ra, theo các chuyên gia phong thủy, việc đặt một chiếc gương trong bếp cũng sẽ đem lại sự sung túc và thịnh vượng trong cuộc sống cho gia chủ.
 

Bạn cũng có thể tạo nguồn năng lượng mới cho nhà bếp nhỏ của bạn bằng những lại thảo mộc thơm hoặc những trái cây tươi được bày biện trong nhà bếp.

Và điều đơn giản nhất để giúp cho không gian bếp rộng hơn chính là việc giữ cho bếp luôn sạch sẽ và gọn gàng. Chắc chắn, bạn sẽ tìm thấy sự yêu thích đối với căn bếp dù rất nhỏ của mình.

(Theo Xzone)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Phong thủy chuẩn cho nhà bếp nhỏ

Bí quyết dọn nhà hợp phong thủy

Dọn dẹp nhà cửa đúng cách, đúng phong thủy vừa tiết kiệm thời gian, công sức, vừa đem lại nhiều may mắn, tài lộc cho gia chủ.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Mùa hạ đã gõ cửa và bây giờ là thời gian để bạn vạch ra những bước đi táo bạo và thực hiện ước mơ của mình. Việc vệ sinh nhà cửa sạch sẽ có thể tạo ra điều kỳ diệu - nuôi dưỡng và tăng cường - năng lượng cá nhân. Phong thủy, như mọi khi, có thể giúp đỡ bạn làm việc này hoàn hảo với một loạt bí quyết mạnh mẽ, dễ dàng.

Hiện tại, nếu bạn vẫn đang cảm thấy trì trệ và thiếu hụt năng lượng sau một mùa lạnh mưa, dưới đây là một số bước phong thủy đúng đắn, đã được chứng minh là có khả năng nâng đỡ nguồn năng lượng cho bạn.

Từ khóa chính bạn cần tập trung là làm sạch và loại bỏ sự lộn xộn, cố gắng bỏ đi tất cả những thứ không còn giá trị sử dụng, không phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của gia đình.

Vệ sinh và dọn dẹp nhà cửa làm cho không gian sống tươi mới hơn, đón nhận được nguồn năng lượng mới mẻ, đầy sức sống đến với ngôi nhà và cuộc sống.

Bí quyết 1:

Nếu bạn muốn cải thiện sức khỏe, hãy loại bỏ tất cả những thứ bẩn thỉu, lộn xộn đang "khóa chặt" dòng chảy năng lượng trong phòng bếp, đặc biệt là bên trong tủ bếp và tủ lạnh. Tình trạng của phòng bếp cũng chính là tình trạng sức khỏe của gia chủ, vì vậy, bạn nên ưu tiên giữ cho phòng bếp luôn sạch sẽ và thơm tho.

Sắp xếp lại tủ lạnh, vệ sinh bếp nấu và rửa lại toàn bộ nồi niêu, xoong chảo... là một vài công việc bạn cần thực hiện ngay tức thì. Nếu có thể, hãy chuyển sang sử dụng những phương pháp và công thức vệ sinh tự nhiên, an toàn và thân thiện với con người thay thế các loại hóa chất độc hại.

Lau dọn các ngăn kéo tủ, bề mặt bếp, hệ thống chiếu sáng... cũng tạo ra con đường mới để nguồn khí lưu thông và nuôi dưỡng năng lượng cho bạn tốt hơn.

Bí quyết 2:

Trang trí 3 chậu cây xanh tươi tốt để làm mới lại năng lượng của ngôi nhà. Một số loại cây xanh mang ý nghĩa tượng trưng cho sức mạnh phong thủy và năng lượng của sự khởi đầu mới.

Trường hợp bạn dự định đặt chậu cây trong bếp, hãy trồng những cây thảo mộc (cây gia vị) tươi tốt và có hương thơm như cây húng quê, cỏ thơm hoặc bạc hà... Ngoài ra, dành sự quan tâm cho lối vào (hành lang) và phòng bếp vì cả hai khu vực này đều có mối liên hệ chặt chẽ đến sức khỏe của bạn.

Bí quyết 3:

Tiếp theo, tiến hành vệ sinh, dọn dẹp phòng ngủ và phòng tắm. Bạn cần vứt bỏ bất cứ thứ gì không sử dụng đến trong suốt 6 tháng qua. Dọn sạch không gian bên dưới giường ngủ, lau cửa sổ và đừng quên trang trí lại căn phòng để phù hợp với mùa mới.

Bí quyết 4:

Nếu bạn mong muốn và thực sự hy vọng một mối quan hệ mới sẽ đến với mình, đừng chần chừ gì nữa mà hãy chuẩn bị ngay không gian riêng sẵn sàng cho "người ấy". Sắp xếp lại tủ quần áo là cách làm mới dòng chảy và có thêm nhiều không gian để đồ hơn.

Bạn bắt buộc phải tạo ra một dòng chảy xuyên suốt, linh hoạt trong nhà để thu hút và nhấn mạnh được những gì đang tìm kiếm, mong mỏi. Và việc vệ sinh nhà cửa đem lại cơ hội tuyệt vời cho bạn để làm điều đó.

Bí quyết 5:

Cuối cùng, chắc chắn bạn hiểu rõ tầm quan trọng của việc dọn dẹp nhà cửa và cảm thấy thoải mái khi làm những việc này. Tốt nhất, tìm ra thời điểm thích hợp, chẳng hạn như thời điểm bắt đầu mỗi mùa mới trong năm để "thanh toán" nguồn năng lượng cũ và trì trệ trong nhà.

(Theo Eva)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Bí quyết dọn nhà hợp phong thủy

12 chòm sao làm gì để đối phó với tiểu nhân nơi công sở

Chốn công sở với nhiều đua tranh, cũng không ít cạm bẫy, bạn có biết cách để đối phó với tiểu nhân nơi công sở nếu không may gặp phải không?
12 chòm sao làm gì để đối phó với tiểu nhân nơi công sở

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Chốn công sở với nhiều đua tranh, cũng không ít cạm bẫy, bạn có biết cách để đối phó với tiểu nhân nơi công sở nếu không may gặp phải. Hãy thử xem 12 chòm sao cần làm gì trong trường hợp này nhé.   Nơi công sở tưởng chừng yên bình khi ai cũng có mục đích để đến đó làm việc nhưng kì thực lại ẩn chứa rất nhiều đợt sóng ngầm. Chúng ta không nên có tâm hại người song nên biết đề phòng là hơn. Chuyện đối phó với tiểu nhân nơi công sở nghe có vẻ ghê gớm nhưng quả thực không thể coi thường, bởi những hành động của kẻ tiểu nhân có thể ảnh hưởng trực tiếp đến công việc, thanh danh hay thăng tiến trong sự nghiệp của chúng ta.


12 chom sao doi pho voi tieu nhan noi cong so nhu the nao
 
  Hôm nay, Lịch ngày tốt sẽ chia sẻ với các bạn những nhược điểm của 12 chòm sao và mách bạn cách hữu hiệu nhất để đối phó với tiểu nhân nơi công sở nhờ khắc phục những nhược điểm đó nhé.  

Bạch Dương

  Nhược điểm: tính tình nóng nảy, dễ bốc đồng Làm thế nào để phòng kẻ tiểu nhân: kiểm soát cảm xúc của bản thân, tránh những xung đột trực tiếp.   Sở dĩ những kẻ tiểu nhân nơi công sở khiến mọi người e ngại là vì họ chẳng dễ đối phó chút nào. Một khi bị những kẻ đó nhắm làm mục tiêu thì chắc chắn hậu quả sẽ vô cùng thê thảm. Chính vì thế, cách tốt nhất để tránh vướng phải mâu thuẫn với họ chính là tuyệt đối tránh những xung đột trực tiếp. Nóng nảy và bốc đồng có thể khiến bạn đánh rơi lý trí, làm ra những chuyện ngoài sức tưởng tượng. Đừng vì sĩ diện hão trong vài phút giây mà chủ động chọc vào những kẻ khó ưa kia. Nếu họ gây khó dễ cho bạn, có thể nhịn thì đừng làm to chuyện. “Một sự nhịn là chín sự lành”, bạn chọc vào tổ kiến lửa thì hậu quả ra sao khó bề kiểm soát được.

Hãy thử Truy tìm lý do khiến bạn vướng vào thị phi nơi công sở nhé.
 

Kim Ngưu

  Nhược điểm: Cứng nhắc, cố chấp, bướng bỉnh Làm thế nào để phòng kẻ tiểu nhân: Đừng quá nguyên tắc mà hãy học cách ứng biến linh hoạt.


ung xu kheo leo
 
  Có những thói quen của chúng ta không phải lúc nào cũng đúng mà nên sửa đổi cho phù hợp với từng tình huống, từng hoàn cảnh. Đặc biệt là khi đối mặt với những kẻ tiểu nhân, bạn chớ nên để mọi cảm xúc của mình thể hiện hết trên khuôn mặt. Dù trong lòng cực kì khó chịu thì cũng phải học cách nở nụ cười nói chuyện bình thường. Kẻ thức thời mới là trang tuấn kiệt, chúng ta chẳng nên vì mấy chuyện không cần thiết mà tự dưng khiến cho bản thân mất đi cơ hội, quyền lợi, như vậy há chẳng phải bạn đã mắc phải bẫy của kẻ tiểu nhân rồi sao?  

Song Tử

  Nhược điểm: Quá nhạy cảm, dễ bị tổn thương Làm thế nào để phòng kẻ tiểu nhân: Trở nên mạnh mẽ hơn.   Ở chốn công sở, chuyện gặp phải những người ưa so đo tính toán, hay dòm ngó soi mói hay gây chuyện thị phi không phải điều gì quá mới mẻ. Có những người rất thích nói xấu sau lưng người khác. Nếu gặp phải chuyện như vậy thì đừng quá để tâm, bạn càng đặt nặng vấn đề, khiến cho chính mình không thoải mái, khó chịu hay bị tổn thương thì bạn càng là kẻ thua cuộc. Kẻ tiểu nhân chỉ đang chực chờ ngày bạn suy sụp tinh thần, chẳng có dũng khí để làm được gì nữa. Song Tử hãy rèn luyện cho mình ý chí kiên cường và nội tâm mạnh mẽ, bạn còn nhiều sóng gió khác phải đối diện trong cuộc đời cơ mà.  

Cự Giải

  Nhược điểm: Quá hiền lành lương thiện, dễ tin người Làm thế nào để phòng kẻ tiểu nhân: Đừng cả nể, hãy biết cách từ chối khi cần thiết   Ở chốn công sở, chuyện phải chịu thiệt thòi quá bình thường, tuy nhiên với những kẻ tiểu nhân, Cự Giải đừng mãi đóng vai kẻ bị hại nữa nhé. “Người lành bị bắt nạt, ngựa hiền bị người cưỡi”, nếu có những người mặt dày hết lần này đến lần khác nhờ bạn làm chuyện vô lý không đâu mà bạn lại cả nể, chẳng bao giờ từ chối thì lần một sẽ có lần hai, nó sẽ thành thói quen, bạn sẽ thành chân sai vặt của cả văn phòng. Hãy dám nói “Không”, biết cách từ chối khi cần phải từ chối bạn nhé.  

Sư Tử

  Nhược điểm: Tự tin thái quá đến mức tự phụ, thích thể hiện, làm màu Làm thế nào để phòng kẻ tiểu nhân: Hãy biết cách khiêm tốn, sống thực tế hơn   Nếu bạn quá tự cao, kiêu căng thì khả năng bạn phải đau đầu lo nghĩ cách đối phó với tiểu nhân nơi công sở là rất cao. Những hành động của bạn rất dễ khiến cho những kẻ tiểu nhân sinh lòng đố kị, bạn trở thành mục tiêu công kích của chúng. Chính vì thế, hãy học cách khiêm nhường hơn, tài năng là thứ không thể giấu được, nhưng đừng thể hiện một cách phô trương thái quá, gây tổn thương đến lòng tự trọng của người khác. Cây càng cao thì càng phải chịu gió lớn, bạn thích nổi bật thì sao tránh khỏi chuyện cạnh tranh!

Cùng xác định đối thủ của 12 chòm sao nơi công sở nhé.
 

Xử Nữ

  Nhược điểm: vô tư quá mức, ngây thơ không phòng bị Làm thế nào để phòng kẻ tiểu nhân: Nên có sự đề phòng với những người xấu  


dung qua tin nguoi
 
  Chân thành đối xử với người khá không sai, nhưng ở chốn công sở, quá ngây thơ, quá chân thành và thẳng thắn là điều vô cùng nguy hiểm. Đừng nghĩ rằng mình tốt với người thì người sẽ tốt lại với mình, thế giới này không công bằng đến vậy. Nếu bạn để lộ hết mọi bí mật của mình cho người khác thì cũng có nghĩa là bạn đã tự chỉ cho người khác biết nhược điểm chí mạng của mình là gì, bị lợi dụng lúc nào không hay.  

Thiên Bình

  Nhược điểm: nói năng không suy nghĩ, hay tám chuyện Làm thế nào để phòng kẻ tiểu nhân: Giữ mồm giữ miệng, suy nghĩ trước khi nói   “Họa từ miệng mà ra” chính là nói về Thiên Bình. Chốn công sở là nơi đầy rẫy thị phi, nếu bạn không giữ được miệng mình mà nói năng thiếu suy nghĩ thì chắc chắn sẽ gây ra nhiều hậu quả khôn lường. Tốt nhất đừng nên tò mò mà chỗ nào cũng “chõ mũi” vào, bà tám khắp mọi nơi chỉ dễ trở thành con tốt thí mạng mà thôi. Trong công việc cần phải nghiêm túc, không phải chuyện gì cũng đem ra nói linh tinh được.

Mời bạn đọc thêm: Tuyệt chiêu phong thủy giúp bạn tránh xa rắc rối nơi công sở.
 

Hổ Cáp

  Nhược điểm: Có dã tâm, tham cái lợi nhỏ Làm thế nào để phòng kẻ tiểu nhân: Chẳng có gì là miễn phí, hãy tự dựa vào sức mình   Lợi danh ai cũng muốn, nhưng đừng để nó che mờ đôi mắt. Trên đời này chẳng có bữa trưa nào là miễn phí, cũng chẳng ai cho không ai cái gì, nhất là ở chốn công sở lại càng không. Kẻ tiểu nhân sẽ dùng những thứ mồi nhử trông bề ngoài ngon ăn để dụ dỗ bạn vào tròng. Miếng mồi càng lớn thì nguy hiểm bạn gặp phải càng kinh khủng, đừng để kẻ khác làm ngư ông đắc lợi!  

Nhân Mã

  Nhược điểm: Cẩu thả, dễ làm hỏng chuyện Làm thế nào để phòng kẻ tiểu nhân: Nên học cách cẩn thận hơn, có trách nhiệm với công việc   Làm tốt việc của mình bao giờ cũng là lựa chọn đúng đắn nhất để đối phó với tiểu nhân nơi công sở. Đến việc của mình còn làm không xong thì chắc chắn nó sẽ trở thành nhược điểm to lớn để kẻ khác vin vào đó mà dìm bạn xuống, khiến bạn không thể ngóc đầu lên được.
 

Ma Kết 

  Nhược điểm: Quá trầm lặng, thiếu hòa đồng Làm thế nào để phòng kẻ tiểu nhân: Hãy học cách duy trì và mở rộng mối quan hệ 


hoa dong voi moi nguoi
 
  Làm tốt việc của mình, có trách nhiệm với công việc tất nhiên là tốt nhưng cũng phải hòa nhập với đồng nghiệp, với những người cùng làm việc với mình. Những khi cần, bạn phải biết cách phát biểu ý kiến, làm cho mọi người hiểu được điều mình đang làm. Tuy việc thân thiết với đồng nghiệp không phải là chuyện dễ dàng nhưng nếu bạn cứ tự cô lập bản thân thì sẽ khiến cho sức mạnh của tập thể bị suy yếu, bản thân bạn cũng sẽ trở thành mục tiêu dễ bị công kích của kẻ tiểu nhân.  

Bảo Bình

  Nhược điểm: Quá thẳng thắn, thiếu khéo léo Làm thế nào để phòng kẻ tiểu nhân: Hành xử cẩn trọng hơn   Bạn được nhiều người yêu mến bởi sự thẳng thắn của mình, nhưng nét tính cách ấy lại chính là con dao quay ngược lại hại bạn. Đừng tùy tiện than phiền hay nói xấu người khác với đồng nghiệp, bạn không biết mọi chuyện có thể diễn tiến xấu đến thế nào đâu. Từng lời nói hành động của bạn có thể truyền đến tai người khác bất cứ lúc nào, thậm chí bị bóp méo sai khác hẳn với nội dung ban đầu. Nói ít làm nhiều bao giờ cũng là điều đúng đắn.  

Song Ngư

  Nhược điểm: Quá ngây thơ, dễ tin người Làm thế nào để phòng kẻ tiểu nhân: Nên giữ cho mình khoảng cách an toàn, đừng quá thân mật với ai   Ở nơi làm việc, bạn chớ nên quá thân thiết với đồng nghiệp, hãy giữ cho mình khoảng cách an toàn, nói những chuyện bình thường chứ đừng nên tâm sự những chuyện riêng tư, cơ mật. Bạn không thể nào đo được lòng người, càng chẳng thể biết được người bên cạnh mình là người tốt hay kẻ xấu. Tiểu nhân là kẻ rất giỏi ngụy trang, lại trở mặt như trở bàn tay, cách tốt nhất để đối phó với tiểu nhân nơi công sở là chớ nên để họ có cơ hội thân thiết quá mức với mình.
Tanny

Top 3 chòm sao thăng chức tăng lương nhanh nhất năm 2017 3 chòm sao không bao giờ có tình công sở 3 cung hoàng đạo là ngôi sao nơi công sở

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: 12 chòm sao làm gì để đối phó với tiểu nhân nơi công sở

Những cái tên cấm kỵ cho bé tuổi Bính Thân 2016 - Đặt tên cho con - Xem Tử Vi

Những cái tên cấm kỵ cho bé tuổi Bính Thân 2016, Đặt tên cho con, Xem Tử Vi, xem bói, xem tử vi Những cái tên cấm kỵ cho bé tuổi Bính Thân 2016, tu vi Những cái tên cấm kỵ cho bé tuổi Bính Thân 2016, tu vi Đặt tên cho con

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Những cái tên cấm kỵ cho bé tuổi Bính Thân 2016

Sau đây là những cái tên cấm kỵ cho bé tuổi Bính Thân 2016 không nên đặt tên. Các ông bố bà mẹ cùng xem nhé. Những cái tên cấm kỵ cho bé tuổi Bính Thân 2016

Những cái tên cấm kỵ cho bé tuổi Bính Thân 2016

Các chữ thuộc bộ Kim, Dậu, Đoài, Mãnh, Điểu, Nguyệt không phù hợp khi dùng để đặt tên cho người tuổi Thân, bởi những chữ đó đều chỉ phương Tây (thuộc hành Kim).

Theo ngũ hành, Thân thuộc hành Kim; nếu dùng những chữ thuộc các bộ trên để đặt tên cho người tuổi Thân sẽ khiến Kim tụ lại quá nhiều, dễ dẫn đến hình khắc và những điều không tốt. Theo đó, những chữ cần tránh gồm: Kim, Cẩm, Ngân, Xuyến, Nhuệ, Phong, Cương, Chung, Thoa, Trân, Trâm…

Khỉ thích phá hoại các loại ngũ cốc trên đồng ruộng. Vì vậy, những chữ thuộc bộ Hòa, Mạch, Tắc, Mễ, Điền, Cốc như: Do, Giới, Thân, Nam, Đương, Phan, Khoa, Thu, Đạo, Chủng, Tùng, Tú, Bỉnh, Đường, Tinh, Lương, Lượng… không nên dùng để đặt tên cho người tuổi Thân.

Dần và Thân xung nhau, Thân và Hợi (Trư) thuộc lục hại. Do vậy, khi chọn tên cho người tuổi Thân, bạn cần tránh những chữ có liên quan tới các con giáp trên. Vì dụ như: Dần, Xứ, Hổ, Báo, Lư, Hiệu, Hợi, Tượng, Gia, Duyên, Hào, Mạo…

 

Những chữ thuộc bộ Khẩu cũng nên tránh ví dụ như: Huynh, Cát, Hòa… vì mang ý nghĩa bị kìm hãm. Các chữ như Quân, Tướng, Đao, Lực cũng nên tránh khi đặt tên cho người tuổi Thân.

 

Để đặt tên cho con tuổi Thân, bạn có thể tham khảo thêm các thông tin về Bản mệnh, Tam hợp hoặc nếu kỹ lưỡng có thể xem Tứ Trụ, (nếu bé đã ra đời mới đặt tên). Có nhiều thông tin hữu ích có thể giúp cho cha mẹ chọn tên hay cho bé.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những cái tên cấm kỵ cho bé tuổi Bính Thân 2016 - Đặt tên cho con - Xem Tử Vi

Đặt máy giặt theo kiểu này, bạn và gia đình sẽ gặp hạn lớn mà không hề hay biết

Mọi người không nên coi thường những chiếc máy giặt tưởng như vô tri vô giác này.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Máy giặt hiện đang là một trong những đồ gia dụng cần thiết và không thể thiếu trong các gia đình. Nó giải phóng phụ nữ khỏi những thau đồ khổng lồ, cho họ thêm thời gian để lo việc cá nhân. Trong thời hiện đại, cuộc sống của hầu hết mọi người đều không thể thiếu vắng máy giặt. 
Dù là vật dụng hiện đại nhưng máy giặt cũng có vai trò rất quan trọng trong phong thủy. Vì vậy mọi người không nên coi thường những chiếc máy giặt tưởng như vô tri vô giác này. 
Không nên đặt máy giặt trong phòng bếp
May giat 1
Không nên đặt máy giặt trong bếp (Ảnh: Internet)
Thông thường nếu nhà quá chật người ta sẽ đặt máy giặt trong phòng bếp để tận dụng không gian. Đây không phải là vị trí tốt vì theo phong thủy, đặt máy giặt trong phòng bếp sẽ khiến gia đình thường nảy sinh bất hòa, tranh chấp. Bình thường các chuyên gia phong thủy sẽ khuyên mọi người không nên đặt máy giặt trong phòng bếp.
 Ngoài ra máy giặt cũng ứng với dạ dày, nhà bếp là lửa, đặt máy giặt trong bếp sẽ gây bất lợi đến cơ thể chủ nhà, lâu dài sẽ phát sinh các bệnh liên quan đến bao tử.
Không nên để máy giặt ở ban công
May giat 2
Ban công cũng là nơi cấm kị để máy giặt (Ảnh: Internet)
Trong phong thủy, máy giặt đặt ở ban công là điều cấm kỵ. Theo chuyên gia, ban công không nên để đồ lặt vặt, trồng các loại dây leo hay đồ gia dụng. Đặt máy giặt ở ban công không chỉ che ánh sáng vào nhà mà còn giảm khí lưu thông, gây tắc đọng khí xấu ảnh hưởng đến sức khỏe gia chủ. 
 Nếu như bắt buộc phải đặt máy giặt ở ngoài ban công thì nên đặt theo hướng đông hoặc hướng đông nam để giảm bớt tác động xấu.
Không nên đặt máy giặt ở tường bên phải 
4 phương của gia đình là Thanh Long, Chu Tước, Bạch Hổ và Huyền Vũ. Một gia đình bình an, hạnh phúc nghĩa là 4 phương cân bằng và khắc chế lẫn nhau. Tường phải của gia đình là phương Bạch Hổ chủ về sự hung hại, tường trái của căn nhà là Thanh Long chủ về sự cát lợi. Đặt máy giặt sát tường phải đồng nghĩa với việc Bạch Hổ được hỗ trợ để mạnh hơn. Bạch Hổ mạnh, Thanh Long yếu sẽ tạo thành thế "Bạch Hổ chèn ép Thanh Long", ảnh hưởng xấu đến cả gia đình.
Tốt nhất nên đặt máy giặt trong nhà vệ sinh, vừa thuận tiện cho việc giặt đồ vừa hợp phong thủy.  May giat 3
Tốt nhất nên đặt máy giặt trong nhà vệ sinh, vừa thuận tiện cho việc giặt đồ vừa hợp phong thủy. (Ảnh: Internet)
Nhà vệ sinh là nơi nhiều nước, máy giặt lại thuộc tính nước nên cả hai bên đều không ảnh hưởng xấu đến nhau. 

Các hướng đặt máy giặt tốt:
Hướng Đông hoặc Đông Nam: Nếu hai vợ chồng thuộc mạng Mộc thì nên đặt máy giặt ở hướng này là tốt nhất. Nhà vệ sinh thuộc Thủy, Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa giúp gia đình ấm áp hạnh phúc.
Đặt ở hướng Nam: Hướng Nam thuộc hỏa, nhà vệ sinh là âm hỏa, có tác dụng tương sinh giúp gia đình hòa thuận.
Tuyệt đối không nên đặt máy giặt ở các hướng:Hướng Đông Bắc, Tây Nam: Nếu hai vợ chồng mệnh Thổ, mà đặt máy giặt ở hướng này trong phong thủy gọi đây là vị trí "quỷ môn" khiến gia đình bất hòa, hay lo lắng.
Hướng Tây, Tây Bắc: Nếu hai vợ chồng mệnh Kim sẽ thường cãi nhau.
Hướng Bắc: Hướng Bắc cực xấu, chịu ảnh hưởng nhiều nhất là người lớn tuổi trong nhà. 

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Đặt máy giặt theo kiểu này, bạn và gia đình sẽ gặp hạn lớn mà không hề hay biết

Tử Vi hoàn toàn khoa học

Một bài viết sưu tầm trên mạng của Whatebear về các bài viết của TS Đằng Sơn. Mời các bạn cùng đọc.
Tử Vi hoàn toàn khoa học

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Bài viết ghi chép lại một số phần của cuốn Tử Vi Hoàn Toàn Khoa Học của Tiến Sỹ Đằng Sơn. Bài này chép lại một thread của WhateBear trên diễn đàn Tử Vi Lý Số

Tử Vi Lý Số: Thuyết Tạ Phồn Trị về nguồn gốc chính tinh và tứ hóa

Khởi điểm của ông Trị chỉ có đúng địa bàn 12 cung. Với giả sử rằng lý tuần hoàn của trái đất ứng với một đời người (một năm = một đời người chết già) ông suy ra được rằng Thái Âm ứng với tháng, Thái Dương ứng với giờ bằng lý thiên văn.

(Theo tôi, nhìn ra Thái Âm ứng tháng, Thái Dương ứng giờ là đã tìm ra cái chìa khóa quan trọng nhất của khoa Tử Vi. Theo lời ông Trị tự thuật thì ông suy ngẫm về cái bí mật của cặp sao Âm Dương liên tục 18 năm mà không tìm ra manh mối gì cả, sau nhờ thiền đốn ngộ mới hiểu ra cái lý của chúng).

Các sao còn lại là kết quả tất yếu, như sau:

1- Tử Phủ phải có mặt vì Âm Dương không phản ảnh đúng những biến đổi trên mặt địa cầu (lý này do tôi bổ túc).

2- Trong hoàn cảnh quân bình nhất của địa cầu, mọi cung đều phải có sao. Hoàn cảnh này là tháng 2 (tiết xuân phân) và tháng 8 (tiết thu phân). Nhưng địa bàn còn 9 cung trống, số sao thêm phải gần 9 mà thỏa lý âm dương, tức là thỏa lý số chẵn, do đó số sao thêm phải là 10, cộng với 4 sao có sẵn là Âm Dương Tử Phủ, kết quả tổng số sao phải là 14. (Tạ Phồn Trị).

Từ cách hình thành trên đây, có thể thấy Âm Dương Tử Phủ khác với 10 sao còn lại, nên tôi gọi chúng là 4 đế tinh. Hình như cách gọi này nhiều người không thích, nên cần phân biệt thêm là Tử Phủ ví như hai vua ở trung ương (Tử chính Phủ phụ), Âm Dương như hai ông tướng vùng (mỗi người một cõi, không có chính phụ).

3- Dùng lý của hậu thiên bát quái, định ra hai nhóm cung âm dương trên địa bàn, coi nhóm sao bắc đẩu ứng với âm, nhóm nam đẩu ứng với dương thì ra thứ tự các sao ứng với tháng 2 y hệt như lưu truyền, tức Tử Phủ Dần, Thái Âm Mão, Tham Lang Thìn v.v… (Tạ Phồn Trị)

Tái khám phá này là một đột phá to lớn của ông Trị, vì xưa nay những người nghiên cứu hoặc không hiểu 14 chính tinh ở đâu mà ra, hoặc cho rằng mình hiểu thì lý luận lại thiếu tính khoa học.

4- Dùng lý chẵn của âm dương và đòi hỏi tụ tán của tháng 2 (bình hòa), tháng 5 (cực đoan) thì phân ra được hai chùm sao Tử, Phủ. (Phần này do tôi bổ túc).

Kế tiếp, về tứ Hóa:

- Tứ Hóa ứng với 4 sự biến đổi lớn trên địa cầu, do vị trí tương đối của mặt trời mà sinh ra, nên Lộc Quyền Khoa Kỵ chẳng gì khác hơn là 4 thực thể tương ứng của 4 mùa xuân hạ thu đông. (Đây không phải là tái khám phá của ông Trị, vì nhiều nhà nghiên cứu Tử Vi đã tin như vậy từ lâu rồi).

- Hóa ứng với thế cực đoan, thế cùng (cùng tắc biến) nên hoàn cảnh được xử đụng để định tứ hóa là tháng 5 hoặc tháng 11. Hai tháng cho lời giải như nhau nên chọn tháng 5. Thái Âm ứng tháng nên tháng 5 thì Thái Âm cư Ngọ, ngoài ra phải thêm một lý nữa là mượn tính bình đẳng (nhiệt độ) của trục Mão Dậu để đưa hai sao Liêm Phá từ Mão sang Dậu để tăng độ cực đoan đến mức tối đa trong bài giải tứ Hóa. Kết quả được Phủ Tỵ, Đồng Âm Ngọ, Tham Vũ Mùi, Cự Nhật Thân, Liêm Phá Dậu (mượn cung của Tướng), Cơ Lương Tuất, Tử Sát Hợi. (Tạ Phồn Trị).

- ”Ta” có bản chất của ta, đồng thời chịu ảnh hưởng bên ngoài, cộng lại thành số mệnh. Trong bài toán tử vi “ta” ứng với tháng ngày giờ, ảnh hưởng bên ngoài ta ứng với năm, gồm có can năm và chi năm. (Phần này do tôi bổ túc).

- Ảnh hưởng bên ngoài ta có thể phân làm hai loại, một là của mặt trời, hai là các thiên thể còn lại trong thái dương hệ. Ảnh hưỏng của các thiên thể còn lại trong thái dương hệ được phản ảnh qua các sao thuộc chi năm, nhất là vòng Thái Tuế. Ảnh hưởng của mặt trời vì thế phải được phản ảnh qua can năm. Do đó tứ Hóa định bằng can năm. (Phần này do tôi bổ túc).

- Phó tinh là sao không có bản sắc riêng, nên không có yếu tố biến hóa. Do đó phó tinh không hóa. Phó tinh gồm có: Tướng là phó tinh của Phá Quân, Phủ là phó tinh của Tử Vi, và Sát là phó tinh của Thiên Phủ (Tạ Phồn Trị).

- Lộc Quyền ứng với hai mùa Xuân Hạ. Xuân Hạ cùng ứng với sự sinh động, tiến bộ, hòa hợp nên Lộc Quyền được xét chung với nhau, theo lý “Lộc trước Quyền sau”. Thêm nữa, vì hai mùa Xuân Hạ phối hợp tốt đẹp với nhau, trong bài toán Tử Vi hai chùm Tử Phủ được phối hợp với nhau và vận chuyển thuận lý (theo chiều thời gian) để định Lộc Quyền. Ra được kết quả y hệt như bảng Lộc Quyền hiện hành. (Tạ Phồn Trị).

Theo tôi đây là một tái khám phá rất vĩ đại, vì nguồn gốc tứ Hóa là một bí mật to lớn của khoa Tử Vi, các lập luận khác mà tôi được đọc qua đều thấy rất hàm hồ tùy hứng.

- Kỵ ứng với mùa đông. Đông có tính chết chóc, thụt lùi, chia rẽ nên bài toán hóa Kỵ có hai đặc điểm. Một là hai chùm Tử Phủ phải tách rời nhau và đều vận chuyển nghịch lý. Hai là năm dương thì chính nhóm sao dương (tức chùm sao Tử Vi) bị hóa Kỵ, năm âm thì chính nhóm sao âm (tức chùm sao Thiên Phủ) bị hóa Kỵ. Dùng luật này suy ra kết quả của nhóm can dương là: Giáp Dương, Bính Liêm, Mậu Cơ, Canh Đồng, Nhâm Vũ. (Tạ Phồn Trị)
Kết quả này của ông Trị hết sức quan trọng, vì nó giải vấn nạn can Canh. “Canh Nhật Vũ Âm Đồng” hay “Canh Nhật Vũ Đồng Âm”. Theo lý luận này của ông Trị can Canh Âm không thể nào hóa Kỵ vì Âm là sao của nhóm âm, không thỏa điều kiện năm dương sao dương hóa Kỵ.

- 14 chính tinh không đủ để giải bài toán hóa Kỵ cho 5 can âm, vì vậy Tử Vi phải đặt thêm cặp sao Xương Khúc. (Tạ Phồn Trị).
Đây là một luận đề quan trọng của ông Trị. Nó giải thích lý do tại sao Xương Khúc có mặt trong bài toán Tử Vi.

- Hóa Khoa ứng với mùa thu, dừng lại, điều chỉnh sau sự phát triển quá độ của mùa hạ. Điều chỉnh là không tiến cũng không lùi vì vậy luật định hóa Khoa phải khác với Lộc Quyền, và cũng khác với Kỵ. (Tạ Phồn Trị).

- Khi giải bài toán hóa Khoa, 14 chính tinh và Xương Khúc vẫn chưa đủ, nên phải thêm hai sao Tả Hữu. (Tạ Phồn Trị).
Đây là một luận đề quan trọng khác của ông Trị. Nó giải thích tại sao Tả Hữu có mặt trong bài toán Tử Vi.

Mặc dù có vài góc cạnh bất đồng với ông Trị, tôi tin là ông đã lật mở những bí mật quan trọng bậc nhất của khoa Tử Vi. Thuyết của ông giải thích được tại sao có 14 chính tinh, tại sao các chính tinh lại theo thứ tự như vậy, tại sao tứ hóa lại được an như vậy mà không khác; đều là những vấn nạn hàng đầu của khoa Tử Vi. Ngoài ra, cùng trong cái lý nhất quán ấy ông suy ra được lý do hiện hữu của hai cặp sao bí mật của Tử Vi là Xương Khúc Tả Hữu cũng như lý do tại sao chúng được tham dự trong bài toán tứ Hóa (các sao Không Kiếp Hình Riêu Thiên Địa Giải Thai Cáo Thai Tọa Quang Quý thì có thể suy ra được sau khi chấp nhận sự hiện diện của Xương Khúc Tả Hữu nên không bàn đến ở đây).

Quan trọng hơn nữa đối với tôi là thuyết của ông Trị hoàn toàn phù hợp với phương pháp lý luận của khoa học hiện đại. Điểm này cần nhấn mạnh, vì trước và sau ông Trị đã có nhiều vị cố giải thích lý do hiện hữu của 14 chính tinh và tứ Hóa rồi, nhưng tôi thú thật là đọc qua các lý luận ấy tôi chẳng thấy phù hợp chút nào với kiến thức khoa học hiện đại. Chẳng hạn thuyết cho rằng mỗi chính tinh ứng với một sao trên trời có vấn đề lớn là trục trái đất liên tục xoay trong vũ trụ nên vị trí các sao bây giờ đã khác hẳn mấy ngàn năm trước, và vài ngàn năm sau lại càng khác xa hơn nữa.

Tôi rất vui mừng vì thế hệ sau tôi còn nhiều người muốn nghiên cứu khoa Tử Vi một cách nghiêm chỉnh như anh. Trước khi trả lời câu hỏi, tôi cần nói rõ rằng mấu chốt của bài toán LQKK được ông Trị hé mở mới 11 năm trước thôi (1995), và ngay trong chính lời giải của ông Trị tôi đã thấy có vài vấn đề mà tôi đã mạn phép sửa chữa.

Nói rõ thế để anh cũng như các bạn trẻ khác thấy rằng việc nghiên cứu Tử Vi cũng như nghiên cứu khoa học, chẳng có ai có mọi lời giải, chúng ta -bất chấp tuổi tác phái tính- phải học hỏi lẫn nhau, và trong các vấn đề chưa ngã ngũ thì mỗi người phải tự đốt đuốc mà đi, tìm con đường cho riêng mình, rồi khi thấy người ta có điểm hay thì mạnh dạn bỏ cái dở kém cùa mình mà học cái ưu việt của họ; ngược lại thấy cái sai của người hay cũng phải dám mạnh dạn bỏ đi hoặc sửa lại cho đúng. Tóm lại phải luôn luôn mở mắt ngóng tai, lọc cái sai chọn cái đúng, tuần tự nhi tiến.

Lời mào đầu như vậy đã xong, nay tôi xin vào đề:

Theo tôi, Tử Vi là bài toán tổng hợp của rất nhiều tín hiệu. Chủ trương của tôi là không bỏ tín hiệu nào cả, nhưng phải phân định tín hiệu nào là chính, tín hiệu nào là phụ.
Các cung trên lá số chứa sẵn một loại tín hiệu, đó là tín hiệu ngũ hành. Tín hiệu này dĩ nhiên có ảnh hưởng, nhưng vấn đề là ảnh hưởng của nó mạnh bao nhiêu. Câu hỏi này chỉ trả lời được khi ta xét mỗi một vấn đề từ gốc rễ của nó.

Trong bài toán tứ Hóa, nhờ bài giải nhất quán của ông Trị (phù hợp với cách an tứ Hóa được lưu truyền) ta có thể tin rằng tứ Hóa quả đã được người xưa đặt ra để tương ứng với 4 trạng thái của địa cầu (Xuân Hạ Thu Đông) và phản ánh 4 cảnh biến của đời sống (Sinh Thành Trụ Diệt). “Hóa” như vậy có nghĩa là biến đổi từ một hoàn cảnh có sẵn. Thực thể nhận sự biến đổi dĩ nhiên là các chính tinh liên hệ hoặc Xương Khúc Tả Hữu.

Vì là tác nhân của sự biến đổi, khả năng tạo biến đổi dĩ nhiên phải là tính chất chính của tứ Hóa. Biến đổi có ý nghĩa nhất khi nó chính là đáp số phù hợp với đòi hỏi của hoàn cảnh. Từ đó tôi suy ra rằng hóa Lộc mạnh nhất trong hoàn cảnh cần Lộc, hóa Quyền mạnh nhất trong hoàn cảnh cần Quyền v.v…

Lấy trường hợp hóa Lộc. Tôi ví Lộc như đồ ăn. Chính tinh miếu vượng không bị phá cách như nhà giàu no đủ, thêm đồ ăn cũng tốt đấy (nhưng phải coi chừng bội thực hoặc “ăn no rửng mỡ” thành tai hại). Ngược lại chính tinh cực hãm thì như Hàn Tín sắp chết đói, hóa Lộc dù theo lý ngũ hành kém cỏi bao nhiêu vẫn là “bát cơm Phiến mẫu”, chính là yếu tố “cùng tắc biến” thay đổi cả một đời người.

Thành thử tôi cho rằng yếu tố quan trọng nhất để định độ mạnh yếu của LQKK là hoàn cảnh của chính tinh (hoặc XKTH).

Các thuyết như Lộc Quyền đắc ở mộc hỏa, hãm ở kim thủy, hóa Lộc vô dụng ở tứ Mộ, Kỵ đắc ở tứ mộ v.v… đa số dựa trên lý ngũ hành của các cung.
Chúng ta đều biết các khoa mệnh lý đều dựa trên hai thuyết hợp lại là âm dương và ngũ hành (gọi chung là thuyết âm dương ngũ hành). Dựa trên cách hình thành, tôi cho rằng trong khoa Tử Vi lý âm dương đóng vai chủ yếu, ngũ hành chỉ là phụ mà thôi. Thế nhưng các luật ngũ hành của tứ Hóa theo tôi vẫn có chỗ hữu ích, miễn là ta biết giới hạn phạm vi (mà tôi cho là khiêm nhượng) của chúng khi áp dụng vào thực tế.

Vắn tắt, khi luận tứ Hóa tôi coi hoàn cảnh của chính tinh (hoặc XKTH) là chủ yếu, lý ngũ hành và các lý khác (kể cả Tuần Triệt) như gia vị tăng giảm hiệu ứng mà thôi.

Ngoài ra, cũng xin tiết lộ một tái khám phá của tôi (hoàn toàn lý thuyết, còn cần nhiều kiểm chứng) là Khôi Việt có công năng giải cái nguy của Kỵ. Đặc biệt khi chính tinh hoặc Xương Khúc cực hãm lại hóa Kỵ, được có Khôi hoặc Việt cùng cung hoặc hội họp thì chẳng sợ cái nguy của Kỵ nữa.

Nhưng tôi muốn chia sẻ với bạn thế này. Thời còn trẻ, tôi mê Tử Vi rồi bỏ nó vì thấy nó không trả lời được nhiều câu hỏi có thể gọi là “cắc cớ” của tôi, chẳng hạn:

1. Chính tinh: Tại sao Tử Vi có 14 chính tinh? Chính tinh được đặt ra bằng lý nào? Tại sao đúng 14 chính tinh mà không phải 12 (số cung trên địa bàn) hoặc 16 (vì 16=2×8 mà 8 là bát quái)? Tại sao Tử Vi hành thổ, Thất Sát hành kim v.v…? Một số sao mỗi sách nói một hành khác nhau vậy sách nào đúng, và tại sao đúng? Tại sao Thiên Đồng hãm ở Dậu (cung chính kim, sinh tính thủy của Thiên Đồng), tại sao Tử Vi kém ở Tí mà miếu ở Ngọ v.v…

2. Tứ hóa: Tứ hóa có ý nghĩa gì? Tại sao tứ Hóa an theo can năm mà không theo chi năm, hoặc tháng, hoặc giờ? Tại sao tứ Hóa an theo sao khác thay vì theo cung? Tại sao can Giáp lại Liêm Phá Vũ Dương mà không phải Phá Liêm Dương Vũ chẳng hạn, v.v…

Khi trở lại mệnh lý rồi, đọc nhiều sách tôi vẫn chẳng tìm được lời giải, mãi khi tình cờ đọc được sách của ông Trị mới như thấy ánh sáng cuối đường hầm. Mặc dù ông Trị chưa có lời giải cho 100% mọi câu hỏi của tôi, tôi cho rằng ông đã mở được cánh cửa bí mật nghìn năm của khoa tử vi, hy vọng chúng ta sẽ nương theo đó mà đạt những bước tiến mới giúp khoa Tử Vi nhảy vọt tới trước.

Hình như bạn cũng có nhiều câu hỏi giống tôi ngày xưa. Nhưng bây giờ bạn may mắn hơn vì bạn có một cái chìa khóa quan trọng trong tay, đó là những bước khởi đầu do ông Trị đề ra. Chỉ việc đọc sách cho kỹ (gạn lọc lỗi chính tả) bạn cũng sẽ nắm được cái chìa khóa đó y như tôi vậy.

Chúc việc nghiên cứu của bạn sớm thu hoạch nhiều kết quả.

Vài dòng đóng góp.

***

Nền tảng của mọi khoa mệnh lý Á đông là thuyết âm dương ngũ hành, điểm này thiết tưởng cần nhấn mạnh, kẻo không chú ý thì bị lạc đề mà không hay.

Tinh đẩu trong Tử Vi không gì khác hơn là các lời giải của thuyết âm dương ngũ hành trong trường hợp đặc thù của Tử Vi (cũng như thần sát là các lời giải của thuyết âm dương ngũ hành trong trường hợp đặc thù của các khoa ngũ tinh khác với Tử Vi).

Bởi vậy, rất cần chú ý. Đừng nệ vào ngôn từ, mà phải nắm cái gốc. Một khi hiểu tinh đẩu chính là lời giải của âm dương ngũ hành rồi thì sẽ có cái nhìn khác về tinh đẩu.
Tinh đẩu = một cách diễn tả lý âm dương ngũ hành.

Tóm lược lại, theo tôi âm dương ngũ hành là cái lý bề sâu của khoa Tử Vi, tinh đẩu là cách diễn tả bề mặt của cái lý đó cho mọi người dễ hiểu; nên nếu bảo “Tử Vi tinh đẩu quan trọng hơn âm dương ngũ hành” tôi sẽ đồng ý, ấy bởi vì nếu đã hiểu ý nghĩa tinh đẩu rồi mà còn thêm âm dương ngũ hành vào nữa tức là áp dụng một phép tính hai lần, may lắm thì chỉ thừa thãi mà thôi, nhưng nếu xui xẻo thì phạm sai lầm to lờn.

Vậy tại sao phải đặt vấn đề âm dương trọng hay ngũ hành trọng khi xét tinh đẩu? Xin thưa là vì có nhiều vị làm việc “xét lại” ý nghĩa tinh đẩu bằng lý âm dương ngũ hành, rồi thiên về một khía cạnh nào đó mà diễn giải, tạo thành cơ nguy là càng diễn giải càng xa rời cái ý nghĩa của âm dương ngũ hành vốn đã nằm sẵn sau các tinh đẩu. Cần chú ý đến âm dương ngũ hành khi xét tinh đẩu là cốt để tránh cái nguy cơ đó.

Thí dụ: Xét cách Thiên Đồng cư Dậu. Cách này sách bảo là hãm địa. Đây là một kết quả mà người xưa đã tìm ra và đã bao hàm ý nghĩa âm dương ngũ hành ở đằng sau rồi. Thế nhưng đời sau có người không biết lại lập luận rằng “Thiên Đồng thuộc dương thủy, mà Dậu là âm kim sinh thủy, nên Thiên Đồng miếu vượng ở Dậu”. Nếu coi ngũ hành là tiêu chuẩn xét tinh đẩu thì lập luận này có vẻ đúng (nhưng thực ra nó sai). Chính vì thế mà tôi mới nhấn mạnh rằng khi xét cách cục (tức tinh đẩu) thì phải coi âm dương là chính, ngũ hành là phụ. Một khi áp dụng quy luật ấy, sẽ (tái) khám phá rằng quả nhiên Thiên Đồng hãm ở Dậu là hợp lý.

Dĩ nhiên, nếu đã nắm vững ý nghĩa của tinh đẩu rồi thì chẳng cần dùng lý âm dương ngũ hành làm gì cho thừa thãi. Nhưng mấy người trong làng nghiên cứu Tử Vi dám xưng là nắm vững ý nghĩa tinh đẩu? Riêng tôi có chủ trương hồ nghi nên phương pháp của tôi là dùng lý âm dương ngũ hành để tái lập lại ý nghĩa của mọi tinh đẩu (y như kiểu reverse engineering của người tây phương).

Tái lập ý nghĩa tinh đẩu rất tốn công sức, nhưng tôi nghĩ nó sẽ giúp chúng ta đạt một mức hiểu biết có tính gốc rễ đáng tin cậy, thay vì phải học thuộc lòng tính chất tinh đẩu theo các sách xưa, vừa mất công vừa lo ngại họa tam sao thất bổn.

Kế tiếp, xin bàn chuyện sao đồng hành với bản mệnh.

Nhận xét sơ khởi: Tinh đẩu phản ảnh lý âm dương ngũ hành theo quy luật của khoa Tử Vi (có khác với các khoa khác).

Tôi cho rằng trong bài toán Tử Vi, cần phân biệt hai lực lượng là “ta” và “ngoài ta”. Theo suy luận của tôi, trong các tinh đẩu thì “ta” được đại biểu bởi các sao liên hệ đến tháng ngày giờ gồm có chính tinh và các phụ tinh Tả Hữu Xương Khúc Hình Riêu Không Kiếp Quang Quý Thai Tọa Thai Cáo Thiên Địa Giải (Triệt thì tôi còn trong vòng suy nghĩ, chưa ra kết quả tối hậu). “Ngoài ta” thì được đại biểu bằng can năm và chi năm. Tức là Tứ Hóa, vòng Thái Tuế, vòng Lộc Tồn v.v… đều là những lực lượng “ngoài ta” cả.

Còn lại nạp âm của năm sinh, tức là “bản mệnh” thì có liên hệ thế nào với khoa Tử Vi, là “ta” hay “ngoài ta”. Ở đây tôi dùng lời giải có sẵn của thuyết tam tài, theo đó can năm đại biểu trời, chi năm đại biểu đất, “bản mệnh” là thực thể do cả trời đất cộng lại mà thành, nên đại biểu nhân, tức là “ta”. Đây là cái “ta” ngoài lá số.

Cùng ứng với cái “ta” cả thì phải ăn khớp với nhau mới tốt. Bởi vậy có nhu cầu so sánh, xem bản mệnh có phù hợp với cái “ta” trong lá số không. Phù hợp thì như hai bộ phận ráp lại ăn khớp, tất có sự tốt đẹp, không phù hợp thì như hai bộ phận trái cựa, dù tốt cũng không hoàn hảo.

Như vừa trình bảy ở trên, cái “ta” trong lá số được đại biểu bởi chính tinh, Tả Hữu Xương Khúc và các sao liên hệ. Quan trọng nhất dĩ nhiên là chính tinh.

Vấn đề là làm sao so sánh cái “ta” ngoài số (tức bản mệnh) và cái “ta” trong lá số (tức chính tinh?). Ở đây lý âm dương không có lời giải rõ rệt nào, do đó không có cách nào khác hơn là dùng lý ngũ hành.
Kế tiếp, giữa hai cái “ta” ngoài lá số và trong lá số thì cái nào gần với con người thật của ta? Thiết nghĩ phải là cái ta ngoài lá số, vì cái ta ấy phối hợp can năm và chi năm, nên có giao cảm tự nhiên với thiên (can) và địa (chi).

Từ đó suy ra:

1.-Chính tinh đồng hành với bản mệnh là lý tưởng hơn hết, vì như vậy là hai cái ta “như hai mà một”, ứng hợp hoàn toàn.
2.-Chính tinh sinh bản mệnh cũng tốt (vì cái ta thật sự được cái ta lý thuyết sinh cho) nhưng không bằng trường hợp 1, vì như vậy là hai cái ta khác nhau, thế nào cũng phải có lúc trái cựa.
3.-Bản mệnh sinh chính tinh tạm tốt, nhưng kém trường hợp 2, vì cái ta thật sự phải sinh cho cho cái ta lý thuyết, không những có lúc trái cựa, mà còn bị nhiều mệt mỏi nữa.
4.-Bản mệnh khắc chính tinh là cái ta thật khắc cái ta lý thuyết, bất lợi.
5.-Chính tinh khắc bản mệnh là cái ta thật sự bị khắc, bất lợi hơn hết.

Từ lý luận trên, có thể thấy rằng đòi hỏi tương ứng ngũ hành giữa bản mệnh và chính tinh là kết quả của một lập luận hợp lý. Chỉ có vấn đề cấp độ mạnh yếu của tương ứng này là không rõ mà thôi. Tôi cho rằng đây là một tương ứng khá mạnh, ấy bởi vì ngũ hành là cái lý duy nhất có thể xử dụng để suy ra kết quả trong trường hợp này.

Tóm lại, tôi đồng ý sự tương ứng ngũ hành giữa chính tinh và bản mệnh là một yếu tố quan trọng. Về điểm này, tôi tin theo kết luận của cụ Thiên Lương.

Nhưng vì đã coi âm dương là lý quan trọng nhất của Tử Vi- tôi không tin độ tương ứng (ngũ hành) giữa bản mệnh và chính tinh là yếu tố áp đảo. Về điểm này, chủ trương của tôi có phần khác với học phái Thiên Lương.

Vài dòng đóng góp.

1. Một vị bảo rằng tôi nói ông Tạ Phồn Trị thiền đốn ngộ 18 năm suy ra rằng can Canh Thiên Đồng hóa Kỵ.
Sự thật: Chuyện ông Trị đốn ngộ ra là cái lý của cặp sao Âm Dương, không phải cái lý của tứ Hóa. Ông cũng không hề nói rằng ông ngồi thiền 18 năm, chỉ nói là bế tắc về ý nghĩa của cặp Âm Dương 18 năm, nhờ thiền đốn ngộ mới suy ra (thời gian thiền không rõ, nhưng đốn ngộ có thể trong một giây hoặc một sát na).
Xem lại bài đầu tôi viết trong mục này sẽ thấy y hệt như thế.

2. Một vị khác bảo rằng ông Trị cho rằng thuyết ngũ hành là lời giải gần đúng của thuyết âm dương.
Sự thật: Ông Trị không hề chủ trương ngũ hành là phép tính gần đúng của âm dương (và riêng bản thân tôi nghi rằng ông Trị vẫn cho rằng thuyết ngũ hành là toàn bích như mọi người khác).
Thuyết “ngũ hành chỉ gần đúng” này là do tôi tái khám phá ra bằng phương pháp khoa học, chẳng dính líu gì với ông Trị.

3. Khá nhiều người cho rằng ông Trị chủ trương khảo sát Tử Vi bằng phương pháp hoàn toàn khoa học.

Sự thật: Chủ trương của ông Trị khó biết vì ông chỉ ra đúng một quyển sách mỏng “Chu dịch dữ tử vi đẩu số” rồi biến mất, nhưng từ sách này tôi thấy ông là một dịch lý gia theo nghĩa rất cổ điển, nào là số thái huyền, nào là cách an Tử Vi liên hệ đến “đế xuất hồ Chấn”, nào là cách Cự Nhật ứng với quẻ “thủy hỏa kí tế”, nào là Càn Tốn đối nhau, Khôn Cấn đối nhau trong hậu thiên bát quái v.v…

Thú thật đọc sách của ông Trị tôi thấy quá huyền hoặc, hiển nhiên không phải là một quyền sách khoa học.

Nhưng đời này rất lạ, có nhiều khi bằng phương pháp phi khoa học người ta lại tìm ra phát kiến mới có giá trị khoa học.

Tôi là người trọng khoa học, đọc sách của ông Trị tôi thấy cái giá trị khoa học ẩn tàng bên trong nên mới dùng ngôn ngữ khoa học để chứng minh những điều ông đã tái khám phá. Một mục đích của tôi là tạo cơ hội cho những người trong giới khoa học nhận ra rằng Tử Vi hoàn toàn phù hợp với khoa học hiện đại rồi tham dự vào việc nghiên cứu, giúp Tử Vi mau chóng tiến bộ như mọi ngành khoa học khác thay vì cứ lẩn quẩn như ngàn năm qua trong trạng thái của một khoa học phôi thai.

Nếu việc khoa học hóa những tái khám phá của ông Trị về chính tinh và tứ Hóa có tính gượng ép thì người có tội là tôi, không phải ông Trị, vì -như đã nói- ông Trị không dùng ngôn ngữ khoa học mà chỉ dùng ngôn ngữ của dịch học và thuyết âm dương ngũ hành thôi.

Cuối cùng, một điểm có tính học thuật:

Một vị viết trên vietlyso.com rằng khi can Giáp xuất hiện, cùng sát na đó các can Ất, Bính, Đinh v.v… cũng có mặt trong bài toán Tử Vi; rồi dựa vào đó mà phê bình, rằng thuyết của ông Trị không thỏa lý này.
Tôi e vị này đã hiểu lầm thuyết của ông Trị, vì sự kiện “mọi can cùng hiện” cũng chính là giả sử mà ông Trị sử dụng, không những thế nó chính là một trong những mấu chốt quan trọng nhất (theo tôi thì nó chính là điểm đột phá) giúp ông định được cách an tứ Hóa.

Không phải mọi người đều đồng ý rằng Tử Vi nên được khoa học hóa, nên thiết tưởng cần trả lời tại sao nên khoa học hóa Tử Vi.

Khởi từ nhận xét:

Ở một thời xa xưa Tử Vi chỉ có người dạy và người học. Nhưng trong vòng trăm năm trở lại đây, có lẽ thời gian thẩm thấu đã đủ, người ta bắt đầu đặt ra nhiều vấn đề với khoa này. Đặt vấn đề với Tử Vi rất dễ dàng, vì xưa nay cách học Tử Vi nặng về khẩu quyết mà thiếu nguyên lý, nên có thể nói rằng bất cứ đề tài nào liên hệ đến Tử Vi cũng có dẫy đầy câu hỏi.

Có đặt câu hỏi thì tất nhiên sẽ có trả lời câu hỏi. Ở Việt Nam trong hạ bán thế kỷ 20 có ông Thiên Lương viết hai tập Tử Vi nghiệm lý, xiển dương một số cách luận có phần khác truyền thống, trong đó quan trọng nhất là cái lý của vòng Thái Tuế. Ở Đài Loan, HK từ cuối thập niên 1970 cho đến cuối thập niên 1990 có thể gọi là một giai đoạn trăm hoa đua nở của khoa Tử Vi. Đột ngột số sách Tử Vi biến từ vài quyển thành mấy trăm quyển, kỳ nhân dị sĩ xuất hiện khắp nơi, trong đó người bảo là có bí mật gia truyền ngàn năm muốn lộ ra ngoài, người bảo mình nhờ thiền mà ngộ ra Tử Vi, nói chung đều xưng cách của mình là “đại đột phá”, “vô tiền khoáng hậu” v.v…

NÓI THÊM VỀ LÝ THIÊN VĂN CỦA CẶP ÂM DƯƠNG (theo ông Tạ Phồn Trị)

HỎI: Ông dùng điều kiện thiên văn “giữ cho hoàn cảnh của vũ trụ không đổi” để định hai sao Âm Dương. Điều kiện này có thực cần thiết không? Thiết tưởng cho cặp Âm Dương ứng với mặt trăng, mặt trời hoặc nói Thái Âm, Thái Dương đại biểu hai yếu tố âm dương cũng cho kết quả tương tự.

ĐÁP: Trước hết cần nói rõ rằng điều kiện thiên văn “để hoàn cảnh của vũ trụ không đổi” được xử dụng trong việc định hai sao Âm Dương là do ông Tạ Phồn Trị tái khám phá ra, không phải tôi. Tôi chỉ là người ghi lại sự kiện này. Cần nói rõ thế vì tôi nghĩ rằng đây là một phát hiện hết sức quan trọng, ví như chiếc chìa khóa chính; không có nó không thể mở cánh cửa đã đóng kín nghìn năm của khoa tử vi. Cái công của người tái khám phá (tức ông Tạ Phồn Trị) vì thế phải được ghi nhận rõ ràng.

Đã biết kết quả rồi thì khó cảm nhận tại sao -từ căn bản khoa học- tìm ra cái lý nằm sau cách an hai sao Âm Dương lại là một tái khám phá to lớn, nên tôi xin lùi một bước để phân tích các thuyết -liên hệ đến cặp Âm Dương- đã có mặt trước thuyết của ông Trị.

Có hai thuyết chính.

Thuyết thông thường (mà ta sẽ gọi là thuyết A) là Âm biểu tượng mặt trăng, Dương biểu tượng mặt trời.

Thuyết A có ứng hợp với thực tế, nhưng không ứng hợp hoàn toàn vì tử vi có một cách lớn là Âm Dương Sửu Mùi, thường được gọi là “Nhật Nguyệt tranh huy”, nghĩa là mặt trời mặt trăng dành ánh sáng. Vấn đề là giờ Mùi (tùy trường phái mà ứng với thời gian 1-3 hoặc 2-4 giờ chiều) trời sáng trưng thì có lý do gì để mặt trăng có uy lực mà đòi “dành sáng” mới mặt trời? Muốn có “Nhật Nguyệt tranh huy” vào buổi chiều thì tất phải là lúc hoàng hôn; tức là sớm lắm cũng phải từ giờ Thân trở đi.

Ngoài ra, từ kinh nghiệm tích lũy lâu đời, người ta biết tính miếu hãm của cặp Âm Dương ngoài yếu tố thời (Dần đến Ngọ là thời của Dương, Thân đến Tý là thời của Âm, Sửu Mùi là thời tranh tối tranh sáng) còn có yếu tố vị (Dương an cung dương đắc vị, an cung âm thất vị; Âm ngược lại). Hiển nhiên mặt trời mặt trăng không phản ảnh yếu tố “vị” khá lạ lùng này.

Kế tiếp là một thuyết khác mà ta sẽ gọi là thuyết B. Thuyết B hoàn toàn đặt trên lý luận, cho rằng cặp Âm Dương chỉ giản dị là đại biểu của hai yếu tố âm và dương, tức là hai đơn vị nền tảng của thuyết Âm Dương.

Ưu điểm lớn của thuyết B là nó giải quyết được cả hai vấn nạn của thuyết A:

- Vấn nạn thời: Dần đến Ngọ ứng với hai hành mộc hỏa đều ứng với phát triển nên là khu vực dương, Thân đến Tý ứng với hai hành kim thủy ứng với sự dừng bước, thoái hóa nên là khu vực âm; nên Thái Dương đắc thời từ Dần đến Ngọ, thất thời từ Thân đến Tý; Thái Âm ngược lại. Thế là yếu tố thời được thỏa.

- Vấn nạn vị: Từ cách thành lập địa bàn ta đã phân 12 cung thành 6 âm, 6 dương,nên cho Thái Âm ứng âm, Thái Dương ứng dương thì yếu tố vị đương nhiên được thỏa.

Đồng thời, thuyết B dẫn đến một kết quả tự nhiên là ở hai cung Sửu Mùi cả hai sao Thái Âm, Thái Dương đều không đắc thời hoặc thất thời, nên ứng với cảnh tranh tối tranh sáng của hai yếu tố âm dương. Nói cách khác, trục Sửu Mùi là trục đối xứng của hai yếu tố Âm Dương. Với kết quả này, ta có quyền đòi hỏi rằng cặp Âm Dương phải vĩnh viễn đối xứng qua trục Sửu Mùi.

Có thể thấy rằng thuyết B đạt rất gần đến cái lý tối hậu nằm sau cách an cặp Âm Dương, thế nhưng nó có một thiếu sót trầm trọng là ngoài lý âm dương ra, ta không biết các vị trí của hai sao này ứng với các yếu tố nào khác của địa bàn. Lấy thí dụ trường hợp Thái Dương cư Tý, tất Thái Âm cư Dần. Thái Âm ở Dần đại biểu gì? Khởi đầu của hành mộc? Hoặc giả phối hợp với thuyết A để nói Âm Dương cùng ứng với giờ thì bảo Thái Dương cư Ngọ cực tốt hợp lý rồi, nhưng cùng lúc ấy Thái Âm cư Thân có ý nghĩa gì? Giờ Thân chưa phải là lúc mặt trời lặn sao có thể nói Thái Âm tốt được?

Cái độc đáo của lý tương ứng Thái Âm = Tháng, Thái Dương = Giờ mà ông Tạ Phồn Trị tái khám phá ra là nó vừa ứng với thiên văn (hai sao Âm Dương phối hợp để giữ hoàn cảnh của vũ trụ y hệt như thời điểm khai sinh của địa cầu là -tiết lập xuân- tháng Giêng giờ Tý), vừa tổng hợp được các tính chất chính của hai thuyết A và B kể trên. Tức là nó giúp cái lý của cặp Âm Dương trở thành đầy đủ và nhất quán.

Theo ông Trị tiết lộ thì nhờ ngồi thiền mà cuối cùng ông ngộ ra cái lý của cặp Âm Dương sau 20 năm liên tục suy nghĩ và bế tắc. Đã chuyên tâm nghiên cứu mà phải mất 20 năm suy nghĩ, lại thêm đốn ngộ mới suy ra được một điều thì điều ấy chắc không thể tầm thường.

Vài dòng ghi nhận.

Chữ “âm dương” mà tôi nói đến trong “âm dương là chính ngũ hành là phụ” ám chỉ toàn bộ “thuyết âm dương” không chỉ là cách phân loại âm dương đặc thù (như Thiên Đồng là dương thủy).
Khi xét toàn bộ thuyết âm dương thì sự phân phối của các sao trên địa bàn đã có hàm chứa tính âm dương rồi. Cơ sở lý luận chính của tôi ở đó. Xét các tổ hợp khác nhau với điều kiện là hoàn cảnh của (hai ông tướng vùng) Âm Dương có ảnh hưởng quan trọng đến các sao tĩnh (rồi thêm ngũ hành vào sau cùng nếu cần thiết) thì sẽ thấy tại sao Thiên Đồng hãm ở Ngọ, Thìn.

GIỚI HẠN VÀ TRIỂN VỌNG CỦA VIỆC KHOA HỌC HÓA TỬ VI

Khi muốn khoa học hóa bất cứ một ngành gì đã hiện hữu, ta phải lùi thật nhiều bước để trở về một vị trí nào đó mà tập thể những người tương đối có trí tuệ và kiến thức có thể đồng thuận trên nền tảng của một hệ tư duy có lớp lang gọi là “lô gích” rồi từ đó mới lại bước đi, cũng theo các quy luật của lô gích.

Tại sao lại đặt vấn đề lô gích? Thưa vì có nhiều chuyện trên đời này không thể nào dùng lô gích mà suy được (như thánh nữ đồng trinh Maria, như hiện tượng đốn ngộ, như hiện tượng đột ngột khỏi hẳn ung thư nhờ kiên trì cầu nguyện phật, chúa v.v…); đó là những chuyện nằm ngoài lô gích. Những chuyện nằm ngoài lô gích không ở trong phạm trù của khoa học nên không thể dùng tiêu chuẩn của khoa học mà luận xét. Cần nói rõ thế, vì nhiều người tự xưng là khoa học gia cứ dùng tiêu chuẩn khoa học để lên án những hiện tượng nằm ngoài lô gích mà không biết rằng khi làm thế là chính mình đã đi ngược lại đòi hỏi của lô gích.

Bởi vậy, bước đầu của người nghiên cứu Tử Vi bằng khoa học là phải nhận biết công trình của mình có giới hạn riêng của nó, dù đạt thành công đến tột đỉnh cũng không thể nào vượt qua giới hạn ấy được. Phải biết thế để khỏi cạnh tranh vô lý với những kỳ nhân nằm ngoài lô gích, như chỉ nhìn lá số Tử Vi rồi nói vanh vách cuộc đời phải như thế nào, và đều đúng cả (có thật, cá nhân tôi đã gặp qua). Thí dụ này quan trọng, vì dùng lô gích bình thường sẽ phải dựa vào thực tế là chỉ có 500 ngàn lá số để kết luận rằng không thể nào nhìn lá số mà đoán đời người ta vanh vách được. Để khỏi loãng đề tài hiện tại tôi sẽ giải thích hiện tượng kỳ nhân mệnh lý sau (và dĩ nhiên lời giải thích ấy không thể nào hoàn toàn lô gích).

Nhưng tại sao lại bỏ quá nhiều công lao để nghiên cứu Tử Vi bằng phương pháp khoa học để rồi khi xem Tử Vi vẫn thua xa các kỳ nhân? Thưa vì người học Tử Vi thì đông mà kỳ nhân cực hiếm. Thực trạng là vì thiếu phương pháp khoa học, hầu hết giới học tử vi (kể cả giới nghiên cứu tử vi) đều ở trạng thái mò mẫm, như người trong hầm tối chẳng có lối ra. Trạng thái mò mẫm đó tạo thành cảnh vàng thau lẫn lộn, chẳng biết đâu là đúng là sai, nên người học Tử Vi sau khi đạt một mức cơ bản nào đó rồi thì tiến hay lùi thật khó mà xác định, tức là bị kẹt trong một cái vòng lẩn quẩn, không có con đường rõ ràng nào để tiến về phía trước. Giả như việc khảo sát Tử Vi bằng khoa học thành công, thì mặc dù không thể đào luyện kỳ nhân, chúng ta cũng thành công trong việc giúp người học Tử Vi liên tục tiến về phía trước thay vì dậm chân tại chỗ hoặc chạy trong cái vòng lẩn quẩn.
Đó là phần trình bày về giới hạn và triển vọng của phương pháp khoa học khi áp dụng vào Tử Vi. Kế tiếp tôi xin luận những điều kiện mà các bước đầu của khoa Tử Vi phải thỏa khi ta khảo sát nó bằng phương pháp khoa học.

TẠI SAO TÔI BÁC BỎ THUYẾT THIÊN VĂN CỦA CẶP TỬ PHỦ?

HỎI: Về cặp Tử Phủ ông bảo thuyết của ông Tạ Phồn Trị “quá huyền hoặc” và ông đề xướng thuyết của riêng ông. Thuyết này của ông không nói gì đến tính thiên văn của Tử Phủ, nhất là không nhắc đến chòm sao bắc đẩu, vốn được nhiều nhà nghiên cứu cho là thực thể thiên văn tương ứng của sao Tử Vi. Vậy có phải là thiếu sót chăng?

ĐÁP: Tôi có đọc thấy trên vài mạng mệnh lý khá nhiều lời phê bình, cho rằng tôi đã thiếu sót, sai lầm trầm trọng vì không nhận ra rằng 14 chính tinh đều có gốc ở thiên văn. Có người dựa trên sự kiện rằng tôi hay viện dẫn sách ông Trị mà kết luận rằng đây là điểm thiếu sót, sai lầm của ông Trị.

Để làm sáng tỏ vấn đề, tôi xin thưa ngay rằng ông Trị không hề đi ngược lại truyền thống thiên văn của các nhà nghiên cứu cũ. Người đi ngược truyền thống là tôi, và từ cái nhìn “ngược truyền thống” -nhưng dựa trên khoa học- tôi thấy lập luận của ông Trị về cặp Tử Phủ là huyền hoặc. Sau đây tôi xin tóm lược lập luận của ông Trị rồi trình bày lý do tại sao tôi không chấp nhận nó.
Ta đã biết vào lúc khai sinh của địa bàn, tức tháng Giêng giờ Tý thì Thiên Phủ ở Sửu, Tử Vi ở Mão.

Ông Trị nhận xét rằng ở thời điểm này nhìn lên phương bắc tất thấy sao đuôi của chòm Bắc Đẩu ở chính đông, ứng với phương Mão trên địa bàn, cùng lúc đó sao Long Đầu ứng với cung Sửu.
Vì trục trái đất gần khít với sao Bắc Cực (tức sao Alpha–UMi), một quan sát viên trên mặt đất (ở bắc bán cầu) sẽ thấy cả hai sao này cứ mỗi giờ âm lịch chuyển 30 độ theo chiều nghịch.
Chiều nghịch quan sát thấy trên trời bắc chính là chiều thuận trên địa bàn, mỗi 30 độ ứng với một cung, nên nếu đuôi chòm Bắc Đẩu đã ở Mão vào giờ Tý thì sẽ ở Thìn vào giờ Sửu, ở Tỵ giờ Dần v.v… tức là hoàn toàn phù hợp với vận trình sao Tử Vi.

Tương tự, cho ngày và giờ cố định rồi thì cứ mỗi tháng hai sao Phá Quân và Long Đầu cũng chuyển 30 độ theo chiều nghịch nên tiết lập xuân (tháng Giêng) sao Long Đầu ở cung Sửu tất tiết lập hạ (tháng 4) ở cung Thìn, lập thu (tháng 7) ở Mùi, lập đông (tháng 10) ở Tuất; tức là hoàn toàn phù hợp với vận trình của sao Thiên Phủ.

Cho nên, dùng hoàn cảnh của tiết lập xuân làm điều kiện ban đầu (initial conditions) và “giờ tháng nghịch chiều” làm cái lý vận hành để giữ hoàn cảnh của vũ trụ không đổi, ông Trị kết luận Tử Vi ứng với đuôi của chòm Bắc Đẩu thất tinh, Thiên Phủ ứng với sao Long Đầu. Đó là cái lý hình thành của cặp Tử Phủ theo ông Tạ Phồn Trị.

Mười chính tinh còn lại thì ông Trị cho rằng không dính líu gì đến các sao trên trời. Tôi đã thấy một số người suy diễn rộng hơn, cho rằng mỗi một chính tinh đều phản ảnh vận hành của một sao có thật trên trời. Nhưng dù chỉ cho cặp Tử Phủ ứng với sao thật như ông Trị hoặc cho hết thảy 14 chính tinh ứng với sao thật như một số vị khác, tựu chung thì yếu tố để liên kết vẫn là tương ứng phương vị trong một hoàn cảnh đặc thù nào đó. Chẳng hạn như trường hợp ông Trị thì hoàn cảnh đặc thù ấy là giờ Tý ngày đầu của tiết lập xuân (ứng với Tử Vi ở Mão, Thiên Phủ ở Sửu).

Cần ghi nhận rằng ông Tạ Phồn Trị chẳng phải là người đầu tiên cho rằng các sao trong khoa Tử Vi ứng với sao thật trên trời. Thí dụ cận đại có “Tử vi đẩu số giảng nghĩa”, một tài liệu Tử Vi nổi tiếng do tiền bối Lục Bân Triệu soạn trong thập niên 1950 cho lớp Tử Vi của ông gần đây được nhiều nhà bình chú. Trong tài liệu này, phần an sao có viết khá dài về liên hệ giữa Tử Vi và thiên văn. Đoạn đầu như sau:
“Tử Vi dựa vào sự vận chuyển biến hóa của chòm bắc đẩu, chòm nam đẩu, các sao trong Tử Vi đàn, và các tạp tinh để tượng trưng cát hung họa phúc của đời người. Nam đẩu, bắc đẩu, Tử Vi đàn nguyên là những sao quan trọng nhất và được biết tới nhiều nhất trong thiên văn cận đại…”

Tôi xin phép chỉ dịch đến đấy, bởi thiết nghĩ bấy nhiêu đủ cho ta biết thuyết cho rằng Tử Vi liên hệ mật thiết với bắc đẩu, nam đẩu v.v… không phải là mới lạ, mà đã lưu hành tối thiểu nửa thế kỷ rồi. Và rất dễ hiểu, vì tên gọi của 14 chính tinh và một số phụ tinh Tả Hữu Xương Khúc v.v… đều là tên sao có thật; nếu xưa này người ta chưa từng nối kết các sao trong Tử Vi với sao thật trên trời mới là chuyện lạ.

Bây giờ tôi xin trình bày lý do tại sao tôi cho rằng loại lập luận này là huyền hoặc. Tôi sẽ chỉ phê bình lập luận của ông Trị, nhưng lý lẽ này cũng áp dụng cho các lập luận tương tự.

Tôi sẽ nhìn nhận ngay rằng thuyết của ông Trị về cặp Tử Phủ (và các thuyết thiên văn tương tự khác) có tính hấp dẫn rất mạnh, bởi nó khơi động tính tò mò của con người về những liên hệ có thể có giữa con người và các vì sao trên trời. Chính tôi cũng bị loại thuyết này hấp dẫn, nhưng tiêu chuẩn khoa học bắt buộc tôi phải đứng về phe phản đối vì có hai vấn đề sau đây.

Vấn đề đầu tiên là: Trên trời có muôn vì sao cùng ứng hợp phương vị với Tử Vi, Thiên Phủ; tại sao chọn hai sao Phá Quân và Long Đầu làm sao tương ứng? Vì hai sao này tương đối sáng chăng? Nhưng nếu độ sáng là tiêu chuẩn thì hai sao này làm sao sáng bằng mặt trăng, mặt trời là biểu tượng của Thái Âm Thái Dương? Vậy thì lấy lý nào để nói Tử Vi là sao vua, ngự trị các chính tinh khác kể cả cặp Âm Dương?

Ngắn gọn, cách chọn sao của ông Trị không thỏa đòi hỏi độc nhất; một đòi hỏi hết sức quan trọng của khoa học. Trong thập niên 1980 đã có một danh gia mệnh lý Đài Loan là ông Phương Vô Kỵ cố gắng giải quyết vấn nạn này. Ông Vô Kỵ cho rằng hai chòm Bắc Đẩu và Nam Đẩu (tức chòm sao Nhân Mã Sagittarius) có từ trường rất mạnh nên chúng đặc biệt hơn các chòm sao khác. Nhưng như thế lại có vấn đề, vì từ lực giảm rất nhanh với khoảng cách. Nếu lấy từ lực làm tiêu chuẩn thì lực áp đảo phải là các thiên thể trong thái dương hệ; và nếu vậy thì một lần nữa ta lại gặp bế tắc là tại sao Tử Vi lại ứng với uy quyền cao hơn cặp Âm Dương, trong khi mặt trời (ứng với Thái Dương) hiển nhiên là thiên thể quan trọng nhất của thái dương hệ (chú 6). Mặt trăng có kém thế hơn mặt trời, nhưng nếu hỏi một em bé (chưa có suy nghĩ thiên vị) mặt trăng hay chùm bắc đẩu quan trọng hơn, tôi nghĩ câu trả lời hiển nhiên sẽ là mặt trăng.

Vấn đề thứ hai trình bày kế tiếp đây tôi nghĩ còn nghiêm trọng hơn nữa. Các độc giả đã đọc qua sách thiên văn hẳn biết rằng trục của trái đất (tức trục tưởng tượng xuyên qua bắc cực và nam cực) không vĩnh viễn song song với một phương cố định trong vũ trụ, mà liên tục xoay chuyển như trục của một con quay (tức con vụ, con bông vụ, con cù) lúc sắp ngã vậy. Nếu ta vẽ trên tinh cầu (một mặt cầu tưởng tượng ở trời cao) quỹ tích của các điểm mà trục trái đất vạch thành thì sẽ được một vòng tròn. Phải mất khoảng 26 ngàn năm trục trái đất mới đi hết vòng tròn này để trở lại vị trí ban đầu. Thời gian 26 ngàn năm đối với một đời người là rất dài, nhưng xét trên chiều kích của khoa học thì cũng như một tích tắc mà thôi. Và khi trục trái đất trên trời cao dời đi đủ xa thì đuôi chòm Bắc Đẩu sẽ không ở phương đông vào giờ Tý ngày đầu của tiết lập xuân nữa!

Khi ấy ta sẽ làm gì? Phải chăng là cho một sao khác ở lân cận đâu đó ứng với Tử Vi để tái lập sự ứng hợp đã mất đi giữa thời gian và vị trí? Sự điều chỉnh này, nếu có, sẽ dựa trên lý nào? Làm sao thiết lập tính độc nhất của nó?

Sự thật là chòm Bắc Đẩu hiện đang lìa xa dần vòng cung bắc cực. Chính ông Phương Vô Kỵ (đã dẫn ở trên) có nhìn nhận trong sách của ông rằng 8 nghìn năm nữa chòm Bắc Đẩu sẽ không còn ở phía trên xích đạo; lúc ấy thật khó mà cho rằng nó có vị trí thiên văn đặc biệt hơn các chòm sao khác; bảo là nó ứng với sao cao quý nhất của 14 chính tinh, tức sao Tử Vi, thì lại càng gượng ép, nếu không muốn nói là hàm hồ.

Vì những vấn nạn đã nêu trên, mọi thuyết cho rằng mỗi một chính tinh của môn Tử Vi có một sao tương ứng trên trời sẽ phải chấp nhận thêm tối thiểu một điều kiện là khoa Tử Vi chỉ có giá trị khi một số điều kiện đặc thù về phương vị của các sao này được thỏa. Như vậy, vì trục quay trái đất liên tục di chuyển, trong mỗi chu kỳ 26000 năm khoa tử vi chỉ có giá trị trong một khoảng thời gian X nào đó mà thôi.

Tức là giá trị khoa học của khoa Tử Vi có tính tuần hoàn; có khi nó sai, có khi nó đúng?! Thật khó tưởng tượng là giá trị của một thuyết khoa học lại có đặc tính kỳ cục này.

Có người sẽ biện luận đời vốn không phải là cõi thập toàn nên dĩ nhiên không có thuyết tuyệt đối hoàn chỉnh; và nếu coi cái “kỳ cục” kể trên là một phần của tính không hoàn chỉnh của Tử Vi thì chẳng có vấn đề gì. Tôi xin phép hoàn toàn bất đồng. Bởi mặc dù đời này không có sự hoàn chỉnh tuyệt đối, các thuyết vẫn có độ hoàn chỉnh cao thấp khác nhau. Nếu phải lựa một trong hai thuyết, ta không thể nói vì cả hai đều không hoàn chỉnh nên tha hồ lựa chọn theo ý thích, mà phải xử dụng những tiêu chuẩn khoa học cập nhật nhất để loại thuyết kém hoàn chỉnh và giữ thuyết hoàn chỉnh hơn.

Trở lại vấn đề, tôi xin thưa rằng cái “kỳ cục” kể trên có thể tránh được nếu ta bỏ hẳn việc ép các sao có thật trên trời vào 14 chính tinh. (Chú thích tại chỗ: Mặt trời và mặt trăng là ngoại lệ vì liên hệ với trái đất rất mật thiết và có tính vĩnh hằng, nên ứng với Thái Dương và Thái Âm là hợp lý).

Vì thế tôi lập luận cặp Tử Phủ được đặt ra để phản ảnh những thay đổi mùa màng của địa cầu, vì cặp Âm Dương đã không làm được chuyện ấy. Xét rốt ráo thì cái lý mà tôi đưa ra cho cặp Tử Phủ vẫn là lý thiên văn, nhưng dựa trên kết quả hiển hiện (mùa màng) nên thỏa điều kiện độc nhất của khoa học, lại không lệ thuộc vào vị trí trục quay của trái đất nên không bị mối nguy là chắc chắn trở thành sai lạc trong vài ngàn năm nữa.
Tóm lại ta hiện có hai thuyết đều có tính thiên văn. Một thuyết thì lý tương ứng không thỏa điều kiện độc nhất, lại chắc chắn sẽ trở thành sai lầm trong vài ngàn năm nữa và vì thế khó biết có đúng trong hiện tại hay không; một thuyết hiện đã tương ứng với thực tế và sẽ tiếp tục tương ứng với thực tế ngày nào trái đất còn tự xoay quanh nó và quanh mặt trời.

Xét từ quan điểm khoa học ta phải chọn thuyết nào? Câu trả lời xin dành cho quý vị.

MUỐN KHOA HỌC HÓA MỆNH LÝ PHẢI LÀM GÌ

Sau đây là một bài viết của tôi cho các ngành mệnh lý nói chung, dĩ nhiên áp dụng cho Tử Vi.

Tính ưu việt của khoa học và thực trạng lạc hậu của mệnh lý

Trong nhiều bài rải rác khắp nơi tôi đã đưa lập luận để chứng minh rằng mệnh lý hội đủ các đặc tính của một ngành khoa học, nhưng nhận ra tính khoa học tiềm ẩn trong mệnh lý không làm cho mệnh lý biến ngay thành một phần của tri thức khoa học mà chỉ là bước đầu trong công cuộc khoa học hóa mệnh lý.

Đi từ thực trạng huyền học của mệnh lý đến cái đích khoa học là một công cuộc cải cách; muốn cải cách một hoàn cảnh đã tồn tại lâu đời ta phải bắt đầu bằng cách nhận diện rạch ròi những khó khăn trở ngại, rồi suy ra phương thức khắc phục. Điểm bắt đầu hợp lý và giản dị nhất là đi trở lùi về lịch sử để làm việc ôn cố tri tân.

Khởi từ lúc văn minh loài người hình thành, đã có một thời gian rất dài mệnh lý được coi là một phần của tri thức chính thống. Ở Á đông ngày xưa, kiến thức được quy về 4 chữ “nho y lý số”, và tiêu chuẩn trí thức cao cấp nhất là trên thông thiên văn, dưới đạt địa lý, giữa hiểu nhân sự (“thượng thông thiên văn, hạ đạt địa lý, trung tri nhân sự”); đều bao hàm mệnh lý. Ở tây phương trước đây, các nhà thiên văn học cũng thường là chiêm tinh gia; như ông Kepler nổi tiếng với ba định luật diễn tả quỹ đạo và vận tốc của các hành tinh quanh mặt trời là một điển hình.

Hạ bán thế kỷ 17, khi khoa học bắt đầu chiếm ưu thế trong các hệ tri thức của nhân loại nhờ vật lý Newton thì cũng là lúc các khoa nghiên khảo mệnh lý (gọi chung là mệnh lý học) bắt đầu bị đẩy lùi vào bóng tối, không còn được coi là kiến thức chính thống nữa. Hơn ba thế kỷ đã trôi qua, khi bài này được viết, tình hình chung đại khái vẫn thế. Nếu hỏi giới khoa học nghĩ gì về mệnh lý, e rằng câu trả lời phổ thông nhất là “mê tín dị đoan”, và câu trả lời lịch sự nhất vẫn mang nặng tính chất hồ nghi.

Tại sao mệnh lý bị coi là mê tín, tại sao giá trị của mệnh lý bị giới khoa học hồ nghi? Xin thưa đây chỉ giản dị là một trường hợp “cạnh tranh thích ứng sinh tồn” giữa hai đối thủ là khoa học và huyền học. Với phương pháp và thủ tục hiệu quả của riêng nó, khoa học đã đạt những thành tựu xuất chúng. Các bộ môn huyền học (bao gồm mệnh lý) vì không điều chỉnh để thích nghi với hoàn cảnh nên lâm vào cảnh lạc hậu. Giữa sự ưu việt và sự lạc hậu, người trí thức nên chọn cái nào? Thiết tưởng câu trả lời quá hiển nhiên; thế nên đa số giới trí thức chọn khoa học. Mà đã chọn khoa học thì nhẹ cũng phải hồ nghi giá trị của mệnh lý, nặng tất coi mệnh lý là nhảm nhí.

Nhưng chi tiết hơn thì những lý do nào khiến mệnh lý lạc hậu đến nỗi mang tiếng “mê tín dị đoan”? Theo thiển ý, có 4 lý do chính:

1. Khuynh hướng thần thánh hóa cổ nhân.
2. Phương pháp luận lỗi thời (thiếu khả năng thích nghi).
3. Tự cho mệnh lý giá trị quá cao.
4. Thiếu khả năng và thủ tục truyền đạt kiến thức.

Sau đây xin trình bày từng lý do một và đề nghị phương thức giải quyết.

Đề nghị 1: Bỏ khuynh hướng thần thánh hóa cổ nhân

Khi nghiên cứu mệnh lý, ta hay gặp hai chữ “thánh nhân”; như Chu Văn Vương, Chu Công, Khổng Tử là “thánh nhân” của dịch lý; các ông Thiệu Khang Tiết, Dã Hạc là “thánh nhân” của bói dịch v.v… “Thánh nhân” đây được hiểu là “đỉnh cao trí tuệ”. Thánh nhân “phán” điều gì ta phải coi là điều ấy đúng. Dám đặt câu hỏi về một điều thánh nhân đã phán là hành động phạm thượng không thể tha thứ được. Trọng thánh nhân được coi là một đức tính phải có của người học mệnh lý, không chỉ vì “tiên học lễ hậu học văn” mà còn vì niềm tin rằng đây là điều kiện để có cảm ứng tốt đẹp giúp cho sự tiến bộ trên đường học tập.

Khác với mệnh lý, khoa học không có một thánh nhân nào cả. Xét hai khoa học gia đứng hàng đầu lịch sử là Newton và Einstein là rõ. Ông Newton tìm ra quy luật “vạn vật hấp dẫn” giải thích được đủ loại chuyển động, từ động tác rơi của một chiếc lá vàng nhỏ bé đến vận trình của các thiên thể vĩ đại; phát kiến ấy tự cổ chí kim dễ ai sánh kịp? Nhưng ông Einstein thay vì coi ông Newton là thánh nhân lại hồ nghi là thuyết của ông (Newton) còn thiếu sót. Thái độ “phạm thượng” này không những chẳng làm hại ông Einstein hoặc khiến khoa học ngừng trệ, mà dẫn đến hai thuyết Biệt Tương Đối và Tổng Tương Đối (Special Relativity and General Relativity).

Nhưng đó chưa phải là đoạn kết của câu chuyện. Trong thập niên 1920’s, khi ông Einstein đã đạt vị trí cao nhất trong giới khoa học, nhân loại lại chứng kiến một cuộc cách mạng mới, tức cuộc cách mạng của vật lý lượng tử. Lịch sử khoa học ghi rõ từ năm 1927 trở đi, người phản đối vật lý lượng tử dữ dội nhất chính là ông Einstein. Nhưng nhờ sự lãnh đạo của Neils Bohr, phái lượng tử đã thành công trong việc xiển dương những lý thuyết của họ, với kết quả (ngoài ý muốn) là ông Einstein bị đẩy từ thế tiền phong vào vị trí lạc hậu.

Giả như ông Einstein coi ông Newton là thánh nhân thì có lẽ đến ngày hôm nay nhân loại vẫn chẳng có hai thuyết Tương Đối, và chúng ta vẫn nhai lại những gì ông Newton khám phá ra hơn 300 năm trước. Giả như Neils Bohr và những người tin tưởng ông coi Einstein là thánh nhân thì vật lý lượng tử có lẽ đã không thể thành hình rõ nét để dẫn đến cuộc cách mạng điện tử, giúp máy điện toán trở thành phổ thông rồi kích khởi cuộc cách mạng truyền thông của ngày hôm nay.

Các dữ kiện có thật trăm phần trăm trên đây là minh chứng hùng hồn rằng nhiều bước tiến của khoa học xảy ra được chính vì khoa học không có “thánh nhân”. Không có thánh nhân nên chẳng có ai để tôn thờ, nương dựa; phải tự đốt đuốc mà đi thành thử chẳng thể lập lại cái cũ, như thế mới có thể tìm ra con đường mới lạ cho riêng mình. Cái lý này phật Thích Ca đã giải thích rõ trước khi ngài nhập niết bàn, trong thiền học có công án “phùng phật sát phật” đại khái cũng là lý ấy, người viết chẳng dám lạm bàn thêm nữa.

Nhìn trở lại trường hợp mệnh lý, khuynh hướng thần thánh hóa người xưa đã vô hình chung biến thành một trở ngại vô cùng to lớn, khiến mệnh lý ngày nay thay vì tiến bộ lại có phần thoái hóa so với ngày xưa. So với văn minh khoa học hiện đại, thực trạng của mệnh lý lại càng thảm hại, nói là như đom đóm so với mặt trăng chẳng phải là quá đáng. Mà cũng dễ hiểu. Thần thánh hóa người xưa thì thành tựu cao tột cũng không thể vượt quá việc diễn giải những kiến thức cũ của họ thay vì phát triển những tư duy mới. Không có tư duy mới thì dĩ nhiên không tiến bộ, mà mình không tiến trong khi người ta tiến thì bảo sao không bị tụt lại, lẽo đẽo sau lưng người ta?
Thế nên (mặc dù có thể bị lên án “phản truyền thống”) người viết cường điệu rằng đòi hỏi đầu tiên trong công cuộc khoa học hóa mệnh lý là chấm dứt thói quen thần thánh hóa người xưa. Dĩ nhiên, bởi mọi cái tồn tại lâu đời đều phải có một giá trị nào đó, ta phải biết quý trọng và chịu học hỏi, nghiền ngẫm những gì được người xưa truyền lại. Nhưng đồng thời ta phải giữ thái độ hồ nghi, luôn luôn đặt câu hỏi về giá trị của những gì người xưa để lại cho ta bởi dù siêu việt bao nhiêu thì người xưa vẫn là con người, tức là họ có thể phạm sai lầm.

Đề nghị 2: Khoa học hóa phương pháp luận của mệnh lý

Một lý do khiến khoa học vượt thắng nhiều hệ tri thức khác (kể cả triết học) là vì nó có một phương pháp đặc thù, nay được gọi là ‘phương pháp khoa học’. Phương pháp khoa học đã được bàn nhiều trong các sách giáo khoa, ở đây chỉ xin nêu ưu điểm chính của nó. Ưu điểm này có thể bao gồm trong bốn chữ “khả năng đãi lọc”!

Để thấy tại sao “khả năng đãi lọc” là một ưu điểm lớn của khoa học hãy xét trường hợp tiêu biểu là có 2 thuyết được đặt ra để giải thích cùng một hiện tượng. Hiện tượng được giải thích dĩ nhiên phù hợp với cả hai thuyết nên không thể dùng nó để đãi lọc xem thuyết nào sai. Gặp hoàn cảnh này, thủ tục đương nhiên của khoa học là suy luận thêm một bước nữa để ra hai kết quả có thể kiểm chứng được của thuyết [1] và thuyết [2] mà ta sẽ gọi lần lượt là X’ và X’’. Ta biểu diễn hoàn cảnh này như sau:

[1] => X’
[2] => X’’

Kế đó thực hiện thí nghiệm kiểm chứng, nếu kết quả là X’ thì thuyết [1] tồn tại, thuyết [2] bị đãi lọc (tức là bị bác bỏ); ngược lại nếu kết quả là X’’ thì thuyết [2] tồn tại, thuyết [1] bị bác bỏ.

Hãy giả sử là X’ được chứng nghiệm, nhờ vậy thuyết [1] tồn tại, rồi sau đó có người lập ra thuyết [3] và thuyết này cũng cho kết quả X’. Lúc ấy người ta lại phải suy ra hai kết quả khác có thể kiểm chứng được:

[1] => Y’
[3] => Y’’’

rồi xét kết quả (Y’ hay là Y’’), dựa vào đó kết luận thuyết nào nên giữ, thuyết nào phải bỏ, cứ thế cứ thế…

Mà cũng không cần phải có nhiều thuyết cạnh tranh nhau thì diễn trình đãi lọc nói trên mới xảy ra. Giả như ngày kia có khoa học gia suy được rằng nếu thuyết [1] đúng thì nó phải cho kết quả Z’. Kiểm chứng được kết quả Z’ thì thuyết [1] tiếp tục tồn tại. Kết quả phản lại Z’ người ta buộc lòng phải kết luận rằng thuyết [1] còn khiếm khuyết (xem chú 1).

Với thủ tục đãi lọc này, các thuyết tồn tại trong khoa học không có tính chất “chắc chắn đúng” mà chỉ có tính chất “tạm thời được coi là đúng”. Sau nhiều cuộc chứng nghiệm, có một số thuyết bị bỏ hẳn để thay bằng thuyết mới, nhưng cũng có một số thuyết được người đời sau bổ khuyết, trở thành hoàn bị hơn và tiếp tục tồn tại với giá trị cao hơn lúc mới được phát minh.

Có thể nói mà không sợ quá lời rằng thủ tục đãi lọc diễn tả ở trên chính là tác nhân dẫn đến sự tiến bộ liên tục của khoa học.

Quay lại mệnh lý, trên lý thuyết thì chuyện đãi lọc cũng có đấy, nhưng ta chẳng thấy một thủ tục nào tạm gọi là hữu hiệu. Vấn đề này có thể thấy rõ hơn qua một thí dụ có thật lấy từ khoa Tử Vi.
Giới nghiên cứu tử vi đều biết Tử Vi có hai cách khởi đại hạn. Cách thứ nhất là khởi đại hạn ở mệnh. Giả như nam mệnh sinh năm dương (gọi là “dương nam”) mệnh lại cư ở vị trí ứng với mộc tam cục; tất vận hạn của mười năm từ 3 đến 12 tuổi ứng với cung an mệnh, sau đó cứ đi theo chiều thuận mỗi cung ứng mười năm.

Cách thứ hai là khởi đại hạn ở huynh đệ hoặc phụ mẫu. Cũng dương nam, mộc tam cục như trên thì đại hạn 3-12 tuổi ứng với cung phụ mẫu, rồi sau có cũng thuận hành mỗi cung ứng với mười năm.
Hai cách khởi đại hạn này sai biệt nhau đúng mười năm. Mười năm là một thời gian khá dài so với đời sống của con người nên chẳng phải là chuyện nhỏ. Vậy thì ai đúng ai sai? Mặc dù trên thực tế cách thứ nhất có số người theo đông đảo hơn hẳn cách thứ hai, câu trả lời hiện tại vẫn là “ai giữ ý kiến người nấy”.

Có độc giả sẽ thắc mắc hỏi: “Tại sao lại ‘ai giữ ý kiến người nấy’? Tại sao không làm một cuộc thí nghiệm để giải quyết vấn đề có vẻ tương đối giản dị này?”

Loại câu hỏi này đã được đặt ra khá nhiều lần khi có các cuộc tranh luận đúng sai giữa các thuyết mệnh lý khác nhau. Theo kinh nghiệm của người viết, khi bị đặt câu hỏi thường thường hai phe chống đối nhau đều đồng ý là sự khác biệt chỉ có thể giải quyết được bằng cách chứng nghiệm. Nhưng khi vào chi tiết, chứng nghiệm như thế nào thì mọi sự đồng ý đều chấm dứt.

Sở dĩ có sự bất đồng ý về phương pháp chứng nghiệm là vì giới mệnh lý và giới khoa học có một khác biệt hết sức cơ bản. Trong khoa học, chứng nghiệm là một công cuộc có phương pháp rõ rệt, với những quy luật được phát triển và đãi lọc lâu đời; những phe chống đối nhau đều hiểu điều đó. Ta có thể ví thủ tục chứng nghiệm khoa học như một môn thể thao có luật chơi rõ rệt. Người thua dù không phục đối phương cũng vẫn bị trọng tài chiếu theo các luật chơi đã định mà loại ra khỏi đấu trường. Mệnh lý vì chưa từng đặt ra vấn đề đãi lọc một cách nghiêm chỉnh, nên chỉ bạ đâu đãi lọc đấy theo tiêu chuẩn cá nhân tùy hứng mà thôi.

Mà đã gọi là cá nhân tùy hứng thì phải trở lại vấn đề “thánh nhân” đã nói đến ở phần trên bài này. Muốn thực lòng chịu chứng nghiệm thì phải dám có thái độ hồ nghi đối với những cái mình học của người xưa. Nên còn giữ thái độ thần thánh hóa người xưa thì có chứng nghiệm chăng nữa cũng chỉ là hình thức, bởi nếu kết quả chứng nghiệm không được như ý muốn thì sẽ phải khống chế, biện hộ cho “thánh nhân”, vậy thì làm sao đãi lọc cái sai được?

Cho là thoát được cửa ải “thánh nhân” (tức là chịu chấp nhận bác bỏ cái sai, ngay trường hợp đó là cái do người xưa truyền lại) thì vẫn còn một cửa ải nữa, lần này là kỹ thuật. Thủ tục đãi lọc của khoa học vốn chẳng giản dị. Ngay cả các kỹ sư được huấn luyện 4 năm ở đại học, khi làm thí nghiệm đãi lọc giả thuyết còn gặp nhiều lúng túng, nói gì đến giới mệnh lý, tối thiểu trong hiện tại đa số thiên về nhân văn hơn kỹ thuật; làm sao có thể tin là có khả năng để tiến hành thủ tục đãi lọc một cách đúng đắn? (chú 2).

Giải thích như trên không phải là coi thường giới nghiên cứu mệnh lý, mà là trình bày một thực trạng cần được điều chỉnh. Theo thiển ý, chỉ có cách điều chỉnh duy nhất là học hỏi nghiêm chỉnh phương pháp đãi lọc của khoa học, rồi tùy trường hợp mà áp dụng nó vào các ngành mệnh lý cho phù hợp. Người viết hiểu rằng chuyện này chỉ có thể xảy ra khi mệnh lý đã được chấp nhận là một khoa học, có lẽ phải vài mươi năm nữa.

Đề nghị 3: Đặt lại giá trị của mệnh lý

Trong làng mệnh lý có nhiều nhân vật, kể cả một số cao thủ, thật tâm cho rằng mệnh lý có khả năng tuyệt đối. Như trường hợp khoa tử vi chẳng hạn, một số không nhỏ người nghiên cứu cho rằng “cuộc đời được in trên lá số”, tức là lá số nói tương lai ra sao thì sự thật phải diễn ra y hệt như vậy; họ bảo nếu sự thật xảy ra khác với lời đoán là vì lấy lá số sai hoặc vì ‘thầy’ tài nghệ còn kém mà thôi.

Sự thật là, có nhiều cặp sinh đôi cùng năm tháng ngày giờ sinh và phái tính nên có cùng lá số tử vi mà đời sống khác nhau (thành tựu khác nhau, lập gia đình khác năm, người đông con người ít con v.v…) Nhưng nếu đưa bằng cớ này ra, thì ta thường được trả lời rằng các cặp sinh đôi phải luận theo công thức khác.

Chuyện những người không có liên hệ máu mủ có đời sống khác nhau mặc dù sinh cùng năm tháng ngày giờ cũng chẳng hiếm. Nếu ta đưa vấn đề này ra thì thường được bảo rằng vì ông A vẫn ở nơi sinh quán, trong khi ông B xuất ngoại nên đời sống dĩ nhiên phải khác v.v…

Tóm lược lại các luận điểm kể trên:

1. Lá số ra sao cuộc đời phải như vậy.
2. Sinh đôi cùng năm tháng ngày giờ và phái tính đời sống có thể khác.
3. Không liên hệ máu mủ, nhưng sinh cùng giờ cùng phái tính, hoàn cảnh khác nhau đời sống có thể khác.

Chỉ cần nhìn thoáng qua cũng thấy ngay là hai điểm 2 và 3 mâu thuẫn với điểm 1. Vậy mà có khá nhiều người nghiên cứu tử vi, tài tử cũng như chuyên nghiệp, tin cả 3 điểm; thế mới là kỳ.
Người viết cho rằng đây là một loại hiện tượng ‘lỗ hổng tâm lý’, tức tâm lý thiếu lô gích về một mặt đặc thù nào đó. Mỗi lỗ hổng tâm lý thường phải có một nguyên ủy sâu xa. Theo thiển ý, nguyên ủy sâu xa của hiện tượng lỗ hổng tâm lý đã kể là ngay từ lúc khởi đầu người ta đã lỡ cho mệnh lý một giá trị quá cao, nên về sau dù hoàn cảnh mâu thuẫn thế nào cũng phải biện hộ cho giá trị quá cao đó. (Loại hiện tượng tâm lý này không hiếm trong tình trường; như anh A mê cô B quá độ thì dù cô B lầm lỗi đến bao nhiêu, anh A vẫn cố tìm lý lẽ để biện hộ cho cô cho bằng được.)

Muốn vượt thắng những lỗ hổng tâm lý loại này hoặc tương tự, chỉ có một cách, đó là áp dụng luận lý khoa học.

Một khi chấp thuận luận lý khoa học là tiêu chuẩn rồi, ta sẽ thấy nhu cầu bắt buộc là phải loại ngay các trường hợp mâu thuẫn. Và trong diễn trình loại bỏ mâu thuẫn, người viết chắc chắn rằng một kết quả tìm được sẽ là:

Mệnh lý không có tính tuyệt đối!

Có độc giả sẽ hỏi “Tại sao ông dám nói thế? Biết đâu đời này có số mệnh tuyệt đối thì sao?” Xin trả lời rằng “mệnh lý” không phải là “số mệnh” mà là ngành học nhắm mục đích diễn tả số mệnh. “Mệnh lý” và “số mệnh” khác nhau như hình vẽ quả cam và quả cam vậy. Nên chuyện có số mệnh tuyệt đối hay không chẳng dính líu gì đến tính thiếu tuyệt đối của mệnh lý.

Từ cái nhìn toán học, giả như ta diễn tả “số mệnh” bằng một hàm số S, và liệt kê ra tất cả những yếu tố có thể là biến số thì rất có thể năm tháng ngày giờ sinh là những biến số quan trọng nhất, như khoa Tử Vi chủ trương. Nhưng vì không có quy luật nào bảo ta rằng năm tháng ngày giờ sinh là những biến số duy nhất, nên để đầy đủ ta ký hiệu hàm số S như sau:
S(năm, tháng, ngày, giờ, X1, X2, X3,…,Xn)

Tức là ngoài năm, tháng, ngày, giờ sinh ra, S rất có thể còn lệ thuộc vào n biến số mà ta ký hiệu là X1 đến Xn; và rất có thể thứ tự ra đời trong trường hợp sinh đôi và hoàn cảnh sống là hai trong những biến số đó (chú 3).
Điểm chính yếu là, thuyết cho rằng năm tháng ngày giờ sinh định 100% cuộc sống con người không thể đứng vững được khi so sánh với dữ kiện thực tế (anh em sinh đôi, hai người khác đời cùng lá số v.v…). Nghĩa là Tử Vi không thể đúng 100%, nên nó chỉ có giá trị xác xuất mà thôi. Mà đã công nhận tử vi chỉ có giá trị xác xuất thì phải bác bỏ ngay thuyết cho rằng đời sống con người đã được in rành rành trên lá số.

Mặc dù trên đây chỉ nói đến khoa tử vi, ta có thể lý luận y hệt cho mọi ngành mệnh lý khác. Tóm lại, một khi chấp nhận luận lý khoa học thì phải đặt lại giá trị của mệnh lý, cho nó một vị trí khiêm nhường hơn nhưng đúng đắn và hợp lý hơn.

Đề nghị 4: Chọn toán học làm ngôn ngữ của mệnh lý

Là người học mệnh lý từ sách vở, chúng ta phải nhìn nhận một thực tế là các sách giáo khoa mệnh lý thiếu tính cập nhật. Ngôn ngữ trong các sách này còn bị ám ảnh bởi cái sợ thiên nhiên, quỷ thần của người xưa nên có nhiều tính huyền học hơn là khoa học. Các phần đòi hỏi tính toán thì xử dụng các phương pháp thô sơ đã lỗi thời của người xưa thay vì các phép mới mẻ hơn, tiện lợi hơn mà toán học khám phá ra sau này. Nói chung là lạc hậu, đi sau thời đại quá xa. Khuyết điểm này cần phải được tu sửa điều chỉnh thì mới mong một ngày nào đó mệnh lý có vị trí của một ngành khoa học.

Theo thiển ý, chỉ có một cách điều chỉnh hợp lý là xử dụng ngôn ngữ của khoa học, tức là diễn tả mệnh lý bằng toán học. Đây chính là ngôn ngữ mà người viết đã chọn lựa khi viết loại bài này cũng như các đề tài khác liên quan đến mệnh lý.

Tại sao chọn toán học làm ngôn ngữ để diễn tả mệnh lý? Thưa, vì toán học là một ngôn ngữ chính xác, và lịch sử khoa học đã chứng minh là nó hết sức hữu hiệu trong việc truyền đạt ý tưởng xuyên qua nhiều thế hệ. Nhờ toán học, người đời nay có thể đọc các sách khoa học viết từ mấy trăm, thậm chí cả ngàn năm trước mà không sợ hiểu lầm như trường hợp chúng ta đọc các sách mệnh lý cổ xưa (viết bằng chữ Hán cổ, với một số từ mà ngay người Trung Hoa thời nay cũng chẳng hiểu nghĩa gì). Hơn nữa, toán học lại là một khí cụ rất tiện lợi cho sự suy diễn khoa học, giúp ta có thể tìm ra những kết quả mới từ kiến thức cũ, điểm này lịch sử có dẫy đầy chứng minh thiết tưởng chẳng cần viết ra dài dòng làm gì.

Nhưng lựa chọn toán học thì phải tuân theo đòi hỏi chính xác của toán học. Vì đòi hỏi chính xác, toán học có quy luật trình bày riêng của nó. Khi mở một quyển giáo khoa vật lý dạy thuyết Tương Đối chẳng hạn, ta thấy cốt tủy những điều được giảng dạy là suy luận hiện đại, và nếu so sánh ta sẽ thấy khá nhiều khác biệt so với những gì Einstein đã viết ngày xưa, mặc dù Einstein là người khám phá ra thuyết tương đối. Ấy bởi vì ngay cả thuyết tương đối cũng không dừng lại với Einstein, mà đã được liên tục khai triển, mở rộng, điều chỉnh bởi các thế hệ đi sau ông để thành kiến thức cập nhật.

Đây chính là phương cách mà người viết đã chọn để trình bày vấn đề, tức là xử dụng lý luận cập nhật nhất, khoa học nhất, hiện đại nhất, thay vì lập lại những gì người xưa đã viết. Các độc giả đã quen với lối trình bày của các sách mệnh lý cổ có thể thấy hơi khó chịu, nhưng người viết tin rằng lần hồi ngay cả các độc giả này cũng thấy cái ưu điểm của lối trình bày vấn đề bằng ngôn ngữ của khoa học. Riêng các độc giả thuộc thế hệ trẻ hoặc được huấn luyện trong môi trường kỹ thuật thì chắc chắn sẽ thấy lối trình bày này dễ hiểu hơn các sách mệnh lý cổ rất nhiều.

Dĩ nhiên đời này không có gì hoàn hảo. Ngôn ngữ toán học có ưu điểm là chính xác, dễ truyền đạt ý tưởng; nhưng nó cũng là một ngôn ngữ rất nhàm chán so với tiêu chuẩn thường ngày của chúng ta. Cũng dễ hiểu, vì khoa học chẳng phải là chỗ dụng võ của thi phú, văn chương.

CHÚ THÍCH

(1) Đây chính là diễn trình dẫn đến hai thuyết tương đối của Einstein cũng như thuyết vật lý lượng tử. Trước khi có hai thuyết tương đối của Einstein, các khoa học gia đã có một số kết quả thí nghiệm không giải thích được bằng vật lý Newton. Trước khi có vật lý lượng tử, các khoa học gia đã có một số kết quả thí nghiệm không thể giải thích được bằng vật lý cổ điển.
(2) Xét cách đãi lọc mà ta hay thấy trong làng Tử Vi chẳng hạn. Ông thầy tin cách X là “đại phú”, gặp khách hàng có cách X mà không giàu sụ ông vẫn có vài cách biện hộ, như “chắc là giờ lấy sai” hoặc “đây là ngoại lệ hiếm hoi vì…” v.v… Kết quả là với ông thầy, cách X vẫn là cách “đại phú”; tức là tưởng đãi lọc mà chẳng có đãi lọc gì cả.
(3) Nhiều trường phái Tử Vi cho rằng hoàn cảnh đã nằm trong lá số, tức là bao hàm trong năm tháng ngày giờ sinh; nhưng đây chỉ là một niềm tin, nên cũng rất có thể hoàn cảnh sống cũng là một biến số nằm ngoài lá số tử vi.


VÌ ĐÂU TÔI DÁM NÓI THUYẾT CỦA ÔNG TẠ PHỒN TRỊ KHOA HỌC HƠN CÁC THUYẾT KHÁC?

Nếu một độc giả nào đó có duyên gặp quyển “Chu dịch dữ Tử Vi đẩu số” (Chu Dịch và Tử Vi) của ông Tạ Phồn Trị (1) rồi mở ra đọc, có lẽ sẽ chẳng thấy sách này có chút khoa học tính nào cả. Ấy bởi vì trong sách ấy ông Trị vẫn dùng loại ngôn ngữ huyền hoặc như các sách mệnh lý cũ, và loại lý luận tùy hứng, hễ kẹt là mượn một câu nào đó của thánh nhân, phán ra bắt độc giả chấp nhận như chân lý.

Vậy thì tại sao tôi lại dám nói rằng thuyết của ông Trị hiện có khoa học tính cao nhất trong tất cả các thuyết được lưu hành?

Nguyên là tôi may mắn được hoàn cảnh cho phép cắp sách đến trường nhiều năm nên học được cách áp dụng “phương pháp khoa học” (2). Nhờ phương pháp này tôi có thể dùng tiêu chuẩn khoa học để làm việc đãi lọc khi đọc sách, nói theo tiếng lóng là việc “nhặt sạn” để gạn bỏ đi cái sai trái hoặc tầm thường hầu nhìn ra cái tinh hoa tuyệt học ẩn trong những công trình thoạt xét qua tưởng là không có gì cả.

Cần nói rằng tôi áp dụng phương pháp khoa học không chỉ với sách của ông Trị mà với tất cả các sách Tử Vi khác, như bộ “Tử Vi Đẩu Số Tân Biên” của ông Vân Đằng Thái Thứ Lang, “Tử Vi chỉ nam” của ông Song An Đỗ Văn Lưu, “Tử Vi áo bí” của ông Hà Lạc Dã Phu, “Tử Vi nghiệm lý” của ông Thiên Lương, như phái “huyền không tứ hóa” của ông Chính Huyền Sơn Nhân, phái tạm gọi là “âm dương” (3) của ông Liễu Vô cư sĩ, phái Trung Châu (4) do ông Vương Đình Chi đại diện, phái “Nhất Diệp Tri Thu” (5) do ông Phan Tử Ngư đại diện, gần đây hơn là sách của các ông Trịnh Mục Đức (phái Hoa Sơn), Trương Thanh Uyên (có vẻ là một chi của Trung Châu phái) v.v…

Kết quả việc đãi lọc sơ khởi của tôi là mỗi sách, mỗi phái đều có một vài tinh hoa mà người nghiên cứu khoa học nên chú ý; nhưng chỉ có ông Liễu Vô cư sĩ và ông Tạ Phồn Trị là có hy vọng thỏa đòi hỏi của khoa học hiện đại.(Chú ý tại chỗ: Sách không thỏa đòi hỏi của khoa học không có nghĩa là sách không hay, chỉ là ta khó chuyển nó sang ngôn ngữ của khoa học, thế thôi).

So sánh riêng hai ông Liễu Vô cư sĩ và Tạ Phồn Trị thì rõ là hai thái cực. Ông Liễu Vô cư sĩ ra rất nhiều sách mệnh lý (trên 20 quyển là ít, có lẽ khi bài này được viết đã trên 40), ông Tạ Phồn Trị thì cho đến khi tôi rời Đài Loan năm 2001 chỉ có đúng một quyển là “Dịch kinh dữ tử vi đẩu số” thôi. Suy tư của ông Liễu Vô cư sĩ đã được nhiều người trong giới trí thức khoa bảng của Đài Loan chấp nhận và viết sách xiển dương phát triển thêm, có thể nói rằng ông đã trở thành sư tổ của một môn phái mới ở Đài Loan; còn ông Tạ Phồn Trị có vẻ là một ẩn sĩ (theo lời tựa thì sách của ông được viết ở Los Angeles, California, Hoa Kỳ; không phải ở Đài Loan), sách không phổ biến nhiều, xác xuất được đời biết đến phải coi là không đáng kể, bảo là phường vô danh tiểu tốt cũng chẳng phải quá lời. Về cách viết thì ông Liễu Vô cư sĩ rất rành mạch khúc chiết, lập luận phù hợp khoa học hiện đại; còn ông Trị thì viết theo lối xưa, tức là hay “phán” ra những câu có tính kết luận mà thiếu dẫn chứng và bắt người đọc chấp nhận.

Tôi nhìn nhận là trên hình thức thuyết của ông Liễu Vô cư sĩ có vẻ hoàn toàn phù hợp khoa học hiện đại, nhưng có một điểm khiến tôi lo ngại là thuyết này bắt ta phải bỏ gần như phân nửa cái nền tảng cũ của Tử Vi (bỏ gần hết các sao). Suy nghĩ của tôi là người xưa có thể sai lầm, nhưng xác xuất để họ sai lầm ghê gớm đến độ như vậy mà khoa Tử Vi vẫn tồn tại đến ngày nay tôi nghĩ là nhỏ lắm.

Lại nghĩ thêm, lần hồi tôi cho rằng tôi đã tìm ra cái thiếu sót nếu không muốn gọi là sai lầm trong cơ sở tư duy của ông Liễu Vô cư sĩ.

CHÚ THÍCH

(1) Trước vì sách này thất lạc, tôi nhớ mang máng tên là “Dịch kinh dữ tử vi đẩu số”, sau may mắn tìm lại được, mới biết tên đúng là “Chu dịch dữ tử vi đẩu số”.
(2) Phương pháp khoa học là gì thì các sách giáo khoa đã nói nhiều, ở đây xin không nhắc lại.
(3) Ông Liễu Vô cư sĩ chủ trương loại bỏ tất cả mọi ảnh hưởng dính líu đến ngũ hành, kể cả sao Lộc Tồn. Phái của ông chỉ giữ chính tinh, tứ hóa, lục cát và lục sát.
(4) Tôi cho rằng phái này có cùng gốc với Tử Vi Việt Nam.
(5) Phái Nhất Diệp tri thu phối hợp thêm Thất Chính tứ dư vào Tử Vi, cách xem hết sức phức tạp.


VÌ ĐÂU TÔI DÁM NÓI THUYẾT CỦA ÔNG TẠ PHỒN TRỊ KHOA HỌC HƠN CÁC THUYẾT KHÁC? (tiếp theo)

A. Phê bình chủ trương bỏ ngũ hành của ông Liễu Vô cư sĩ

Đóng góp chính của ông Liễu Vô cư sĩ cho khoa Tử Vi có thể thu vào 5 điểm:

1. Tử Vi hoàn toàn không dính líu gì đến ngũ hành.
2. Đại hạn phải khởi ở mệnh mới đúng, khởi ở huynh đệ hoặc phụ mẫu là sai. (“Mệnh cung bất khả vô đại hạn”).
3. Tử Vi trọng lý quân bình, nên mệnh và tam phương tứ chính không có SÁT TINH không những không tốt như sách cũ nói, mà phải luận là xấu!
4. (Lưu) Tứ hóa là nền tảng của việc xem hung cát của đại hạn cũng như lưu niên.
5. Xem đại hạn chỉ cần biết đến lưu Hóa của đại hạn, bất chấp tứ Hóa nguyên thủy (thuyết “Mệnh vận phân ly”).

Mỗi điểm trên đây tự nó là một luận đề, muốn chứng minh hoặc phản biện đều đòi hỏi thời gian và công sức. Quý vị nào hứng thú xin mời tham gia phản biện. Nhưng xin lượng sức, vì ông Liễu Vô cư sĩ chẳng phải tay mơ mà là một kiện tướng của cả hai khoa Từ Vi và Tử Bình, dám viết khá nhiều sách bình chú chê người xưa là thiếu khoa học và đề nghị sửa sai (Tử Bình chân thuyên hiện đại bình chú, Thanh triều mộc bản Tử Vi đẩu số toàn tập hiện đại bình chú, Đẩu số đàn vi hiện đại bình chú v.v…) Ông cũng chẳng phải là thiếu thực nghiệm, trái lại một lý do khiến ông thành danh là đoán trước vận mệnh các nhân vật chính trị ở Đài Loan mà kết quả ra đúng phóoc, và rõ ràng trên giấy trắng mực đen, chứ chẳng phải là lời đồn đại.

Riêng về Tử Vi, giờ có thể coi ông Liễu Vô cư sĩ là sư tổ của một phái mới ở Đài Loan, được nhiều người trong giới trí thức ủng hộ nồng nhiệt, có mấy người viết hàng loạt sách khác dựa trên phương pháp của ông. Những người theo ông Liễu Vô cư sĩ có đặc điểm là xem số chỉ dùng 14 chính tinh, lục sát (6), lục cát (6), và Tứ Hóa (4), cộng lại chỉ có 30 sao. Có người bỏ luôn Quyền Khoa, còn 28.

Trong phạm vi của đề tài này, tôi chỉ phản biện điểm 1, tức chủ trương loại hẳn ngũ hành ra khỏi Tử Vi của ông Liễu Vô cư sĩ mà thôi. (Tôi cũng không đồng ý với chủ trương “mệnh vận phân ly” của ông, nhưng đó là chuyện khác).

Vì mệnh lý Á đông chỉ có hai cái nền là âm dương và ngũ hành, không cần đi vào chi tiết cũng biết là ông Liễu Vô cư sĩ phải dùng thuyết âm dương trong Tử Vi. Vậy thì điểm khiến ông khác người là trong khoa Tử Vi thay vì dùng cả âm dương lẫn ngũ hành như người ta, ông lại bỏ ngũ hành đi chỉ dùng âm dương thôi.

Muốn làm được như thế thì âm dương và ngũ hành phải là hai thuyết hoàn toàn biệt lập với nhau, vì nếu không biệt lập thì khi cắt thuyết ngũ hành ta có thể làm hỏng thuyết âm dương và ngược lại.

Nay tôi đặt câu hỏi: “Có thật âm dương và ngũ hành là hai thuyết hoàn toàn biệt lập hay không?”

Câu hỏi này nghe có vẻ cắc cớ, nhưng đừng quên rằng “cắc cớ” là một đòi hỏi rất lớn của khoa học. Chính nhờ hay hỏi “cắc cớ” mà khoa học đã liên tục tiến bộ.

Tôi biết là đa số áp đảo nếu không muốn nói là toàn thể quý độc giả đều trả lời rằng dĩ nhiên âm dương và ngũ hành là hai thuyết hoàn toàn độc lập. Đây là câu trả lời tự nhiên nhất, vì chúng ta đã được dạy như thế, và chúng ta cũng cảm thấy như thế. Chính tôi cũng từng mấy mươi năm tưởng như thế.

Nhưng bây giờ tôi xin tuyên bố với quý vị rằng “Ngũ hành chỉ là một phép tính gần đúng của âm dương mà thôi”, và đây chẳng phải là một niềm tin của tôi, mà là một “tái khám phá” của tôi, suy ra được bằng lý luận khoa học, và đây không phải là lý luận khoa học áp dụng, mà là lý luận có tính cơ sở của khoa vật lý. Vì diễn đàn này không phải là một diễn đàn vật lý tôi chỉ xin hé mớ thế này:

1-Giả sử bình thường (của mọi ngành khoa học) là ba chiều của không gian luôn luôn tương đương nhau.
2-Giả sử trên đây sai lầm, vì chiều chuyển động khác với hai chiều còn lại (có thể chứng minh bằng thuyết tương đối của Einstein).
3-Có thể chứng minh rằng thuyết ngũ hành ứng với trường hợp 1, và thuyết âm dương ứng với trường hợp 2.
4-Vì 1 là hoàn cảnh gần đúng của 2, ngũ hành là trường hợp gần đúng của âm dương.
Gần đây tôi đọc thấy một số vị phê bình thuyết “ngũ hành là thuyết gần đúng của âm dương” một cách hết sức gay gắt. Tôi không ngạc nhiên, vì cái gì mới lạ cũng phải bị chống đối trước. (Lùi lại mười năm trước thì chính tôi cũng phải chống lại thuyết này).

Nhưng tôi xin lưu ý các vị chống lại thuyết “ngũ hành = âm dương gần đúng” rằng ngoài âm dương ngũ hành ra, trên nền tảng khoa học chúng ta phải tìm chỗ đứng cho thuyết tứ nguyên tố của mệnh lý tây phương nữa.

Thuyết tứ nguyên tố có vẻ lạc loài khi ta cố xếp nó vào cạnh hai thuyết âm dương và ngũ hành, nhưng một kết quả của “tái khám phá” của tôi là tứ nguyên tố cũng chỉ là một phép tính gần đúng của âm dương mà thôi. Tóm lại:

a. Âm dương diễn tả vũ trụ chính xác nhất.
b. Ngũ hành là một cách tính gần đúng của âm dương.
c. Tứ nguyên tố là một cách tính gần đúng khác của âm dương.
Trở lại chuyện ông Liễu Vô cư sĩ loại ngũ hành ra khỏi Tử Vi. Một khi đã nhìn nhận rằng ngũ hành chỉ là một phép tính gần đúng của âm dương thì sẽ thấy ngay việc loại ngũ hành ra khỏi Tử Vi chẳng những sai lầm mà hoàn toàn không cần thiết.


THÊM CHI TIẾT VỀ TƯƠNG QUAN GIỮA ÂM DƯƠNG VÀ NGŨ HÀNH

Tôi vừa thấy một lời phản biện thuyết “ngũ hành = âm dương gần đúng” mà tôi đề xướng. Lời phản biện này rõ ràng đã dựa trên một sự hiểu lầm, dẫn đến nguy cơ là hiểu lầm chồng chất lên hiểu lầm, rồi tam sao thất bản và người ta tưởng là sự thật.

May sao, tôi còn giữ một bài cũ có nhắc sơ đến thuyết “ngũ hành = âm dương gần đúng”, nay xin cắt ráp để quý độc giả có thể thấy rõ ràng hơn cái nền chính của lập luận mà tôi đề xướng. Quý vị nào muốn phản biện xin đọc cho kỹ.

Rất tiếc, tôi đã dành thời giờ cho việc khác, nên từ chối mọi cuộc tranh luận. Tuy nhiên, quý vị nào thấy tôi sai thì cứ việc làm như các nhà khoa học (họ rất ít khi tranh luận trực tiếp, vì sợ tình cảm xen vào làm hỏng lí trí), là viết một bài luận văn giải thích tại sao quý vị lại nghĩ như vậy để quý độc giả rộng đường luận xét.

Liên hệ khoa học giữa hai thuyết âm dương và ngũ hành

Lý do tại sao soạn giả cho rằng ngũ hành chỉ là một phép tính gần đúng của thuyết âm dương đã được trình bày trong loạt bài “Mệnh lý hoàn toàn khoa học”. Tiếc rằng khi bài này được viết “Mệnh lý hoàn toàn khoa học” vẫn chưa được in thành sách. Để các độc giả chưa đọc “Mệnh lý hoàn toàn khoa học” có khái niệm tổng quát về lập luận của soạn giả mà không mất nhiều thời giờ, xin trình bày đại lược như sau:

- Vũ trụ vật chất của chúng ta gồm 4 chiều là 3 chiều không gian và một chiều thời gian. Từ kết quả của thuyết tương đối của Einstein, có thể chứng minh được rằng ba chiều không gian gồm hai chiều tương đương tạo thành chùm mặt phẳng thẳng góc với chuyển động. Chiều của chuyển động thì có lý tính khác với hai chiều kia (chú 3).

- Dùng những đặc tính kể trên để lập mô hình toán học của các hiện tượng hiện hữu, thì mô hình hợp lý nhất là các vòng tròn đại biểu hai lý tính âm dương nằm trên một mặt phẳng định hướng. Mô hình này hoàn toàn phù hợp với thuyết âm dương, vì nó dẫn đến sự hình thành tất yếu của bát quái, và sự tương ứng giữa 64 quẻ với các hiện tượng của cuộc đời.

- Trong mô hình nói trên của thuyết âm dương, mặt phẳng đại biểu hai chiều không gian tương đương nên là môi trường hiện hữu của các vòng tròn âm dương. Các vòng tròn âm dương thì chẳng gì khác hơn là biểu tượng của hai cách giao thoa giữa chiều thời gian và chiều không gian còn lại, tức chiều chuyển động. (Ngoài ra, có thêm một đòi hỏi liên hệ đến thời gian là mặt phẳng phải được định hướng và có điểm trước, điểm sau).

- Nếu đặt giả sử gần đúng rằng không có sự khác biệt giữa ba chiều không gian (chú 4), tức là không gian hoàn toàn bình đẳng thì môi trường hiện hữu không chỉ là một mặt phẳng mà là toàn thể không gian ba chiều. Hai cách giao thoa giữa không gian và thời gian vẫn tồn tại, nhưng bây giờ phải được biểu diễn bằng các hình cầu với hai lý tính âm dương khác nhau. Các thực thể trong không gian bình đẳng này ứng với kết cấu bền bỉ nhất của các hình cầu. Kết cấu bền bỉ nhất là kết cấu có tính đối xứng cao nhất, nên mỗi thực thể được tạo bởi 4 hình cầu âm dương cùng lúc tiếp xúc với nhau (bốn tâm tạo thành hình tứ diện đều). Ly kỳ làm sao, chỉ có đúng 5 cách xếp 4 hình cầu âm dương khác nhau, nên mô hình này dẫn đến sự tồn tại tất yếu của 5 thực thể phân biệt. Độc giả có thể đoán được là mô hình này hoàn toàn phù hợp với thuyết ngũ hành (xin tự vẽ hình rồi kiểm soát lấy). Cường điệu hơn, nó chính là thuyết ngũ hành được diễn tả bằng hình học.

Sau khi đã chọn 5 thực thể (ngũ hành) làm nền tảng của mọi hiện tượng trong vũ trụ thì liên hệ 2 chiều trở thành tất yếu. Đây chính là liên hệ “sinh khắc” mà mọi người nghiên cứu thuyết ngũ hành đều quen thuộc. Nhưng liên hệ một chiều “sinh khắc” không phản ảnh được nhiều hiện tượng có thật trên cuộc đời (như liên hệ hai chiều “yêu nhau” chẳng hạn), nên ngũ hành phải phối hợp với lý âm dương mới thành hệ thống hoàn chỉnh.
Có thể thấy rằng ngay trên lý thuyết không thể có thuyết ngũ hành đứng riêng rẽ mà chỉ có thuyết ngũ hành đã phối hợp với âm dương thành thuyết âm dương ngũ hành; mặc dù vì thói quen ngắn gọn ta hay gọi thuyết này là thuyết “ngũ hành” mà bỏ hai chữ “âm dương”.

Đó là mệnh lý Á đông. Nhìn sang mệnh lý tây phương (phát xuất từ trung đông) ta thấy thuyết tứ nguyên (còn gọi là thuyết “tứ nguyên tố”, tức “four elements”) thay vì thuyết ngũ hành. Hiển nhiên thuyết tứ nguyên đã lâu năm hiện diện biệt lập với thuyết ngũ hành và ngược lại. Khi truy xét kỹ, ta khám phá ra rằng thuyết tứ nguyên tố cũng đã chứa sẵn cái nền rất đậm của thuyết âm dương, mặc dù các nhà nghiên cứu chiêm tinh tây phương hình như chẳng hề chú ý đến sự kiện hiển nhiên ấy.

Tóm lại, hai thuyết ngũ hành và tứ nguyên không thể tự tồn tại mà chỉ có thể tồn tại trên cái nền của thuyết âm dương. Gọi thuyết ngũ hành là NH, thuyết tứ nguyên là TN, thuyết âm dương là AM. Ta thấy có hai thực thể tồn tại, một là tập hợp {NH, AM}, hai là tập hợp {TN, AM}, mà không hề có {NH} hoặc {TN} riêng rẽ. Dùng lý {B lệ thuộc A} => {có B tất phải có A} và {có A không nhất thiết có B} ta thấy lời giải hợp lý nhất là hai thuyết ngũ hành và tứ nguyên đều phải lệ thuộc vào thuyết âm dương, nói cách khác ngũ hành và tứ nguyên là hai thuyết phụ của thuyết âm dương.

Nhưng tại sao nhân loại không chỉ dùng thuyết âm dương mà lại sinh ra thêm hai thuyết phụ này? Để trả lời ta chỉ việc so sánh các liên hệ nội tại của ba thuyết âm dương, ngũ hành, tứ nguyên. Liên hệ “đối đãi” (vừa bổ khuyết vừa đối nghịch) của thuyết âm dương khi áp dụng vào các bài toán mệnh lý thường chỉ cho các kết luận hết sức mơ hồ, trong khi đó liên hệ “sinh khắc” của thuyết ngũ hành và “hợp xung” của thuyết tứ nguyên thường cho kết quả khá rõ nét. Vì vậy đáp án là: Hai thuyết ngũ hành và tứ nguyên cần thiết vì chúng cho ta các kết quả rõ nét hơn thuyết âm dương. Nhưng nếu ngũ hành và tứ nguyên là hai thuyết phụ, lại khác nhau, thì dĩ nhiên độ chính xác của chúng không thể nào sánh bằng thuyết mẹ của chúng là thuyết âm dương. Thành thử ta kết luận ngũ hành và tứ nguyên chỉ có thể là hai phép tính gần đúng của thuyết âm dương, tương tự như lời giải gần đúng của hai ngành kỹ sư khác nhau cho cùng một phương trình vật lý vậy.

Những điều trên đây đã được luận trong loạt bài “mệnh lý hoàn toàn khoa học”, hy vọng một ngày gần đây được in thành sách, lúc ấy mọi sự sẽ rõ ràng hơn. Phần trình bày ở trên chỉ là đại lược mà thôi.

Trở lại vấn đề. Vì ngũ hành chính là một cách tính gần đúng của thuyết âm dương (chú 2), ta không thể lấy lý do âm dương là yếu tố áp đảo trong bài toán Tử Vi mà bỏ ngũ hành. Thành thử bỏ thần sát với lý do “vì thần sát dựa trên ngũ hành” trở thành một lập luận rất khập khiễng, nếu không muốn nói là đi ngược lại cơ sở khoa học.

Mặc dù bất đồng ý với chủ trương bỏ ngũ hành của ông Liễu Vô cư sĩ, soạn giả nhìn nhận rằng ông có công đặt ra vấn đề thần sát một cách nghiêm chỉnh. Việc làm của ông khiến người nghiên cứu có quan tâm bắt buộc phải nhìn lại các thần sát dưới một lăng kính tỉ mỉ hơn, khoa học hơn.

CHÚ THÍCH

2) Chỉ nói thuyết ngũ hành là một cách tính gần đúng của thuyết âm dương, vì còn một cách tính gần đúng khá quan trọng khác là thuyết tứ nguyên tố. Những tương đồng và khác biệt giữa hai thuyết ngũ hành và tứ nguyên tố sẽ không được luận trong sách này. Các độc giả muốn tìm hiểu thêm xin đọc quyển “mệnh lý hoàn toàn khoa học” của cùng soạn giả.
3) Theo thuyết biệt tương đối (Special Relativity) của Einstein, một chiều dài L song song với chiều chuyển động sẽ lệ thuộc vận tốc chuyển động theo công thức L=L0(1-v2/c2)0.5, với L0 là một chiều dài cố định, v vận tốc chuyển động, c vận tốc không đổi của ánh sáng. Chiều dài L đại biểu không gian, nên có thể thấy theo vật lý Einstein thì chiều chuyển động không thể nào tương đương với hai chiều không gian còn lại. Có điều lạ lùng là ngay cả vật lý hiện đại cũng vẫn giả thử (một cách sai lầm rằng) 3 chiều không gian hoàn toàn tương đương nhau. Điểm này được luận kỹ hơn trong tập “kinh Dịch hoàn toàn khoa học”, tiếc là tập này chưa in khi bài này được viết.
4) Ba chiều không gian hoàn toàn tương đương chính là giả sử của vật lý Newton. Có thể thấy thuyết âm dương phù hợp với vật lý Einstein, thuyết ngũ hành phù hợp với vật lý Newton. Vì vật lý Newton có tính gần đúng so với vật lý Einstein, có thể suy ra thuyết ngũ hành có tính gần đúng so với thuyết âm dương.

VÌ ĐÂU TÔI DÁM NÓI THUYẾT CỦA ÔNG TẠ PHỒN TRỊ KHOA HỌC HƠN CÁC THUYẾT KHÁC? (kỳ 3)

B. Về lý do tại sao thuyết của ông Trị phù hợp với khoa học

Như tôi đã trình bày trong một lần trước, nếu đọc thẳng sách “Chu dịch dữ Tử Vi đẩu số” của ông Tạ Phồn Trị thì sẽ chẳng thấy tính khoa học ở đâu cả. Thế nhưng đây không phải là vấn đề vì đã có người (tức bản thân tôi) bỏ thời gian và công sức ra phân tích và xác định đặc tính khoa học ẩn tàng trong sách này. Những điều trình bày tiếp đây là cái tính khoa học mà tôi đã đào quật ra từ sách ấy cộng với những ý kiến cá nhân của tôi.
Để tránh trường hợp người khác nhận diện lầm lẫn tôi sẽ cố đề rõ ý nào của ông Trị, ý nào do tôi thêm vào.

1. Nền tảng “tuần hoàn” của bài toán Tử Vi
2. Cái lý của 14 chính tinh
3. Cái lý của tứ Hóa
4. Cái lý của các sao Tả Hữu Xương Khúc Hình Riêu Không Kiếp Thai Toạ Quang Quý Thai Cáo Thiên Địa Giải
5. Cái lý của các sao thần sát

Nay xin đi từng bước một

1. Nền tảng “tuần hoàn” của bài toán Tử Vi

Tử Vi là một trong nhiếu áp dụng của một ngành khoa học có tính cùng khắp mà ta tạm gọi là mệnh lý, tương tự như khoa kỹ sư không gian là một ứng dụng của hai ngành khoa học là lý và hóa vậy.

Mọi áp dụng đều phải khởi từ một hoặc nhiều giả sử nền tảng có tính đặc thù. Trước hết “nền tảng” có ý nghĩa nôm na là không thể bỏ được, nên “giả sử nền tảng” có nghĩa là giả sử không thể nào bỏ đi được, bất luận chiều kích hoặc phương pháp khai triển xảy ra như thế nào.

Tĩnh từ “đặc thù” ở đây rất quan trọng, vì mặc dù thuyết âm dương chắc chắn là một nền tảng của khoa Tử Vi (chú 1), nó cũng là cái nền tảng chung của nhiều ngành khác, bởi vậy “thuyết âm dương” không phải là cái nền tảng đặc thù của khoa Tử Vi.

Có người sẽ trả lời rằng cái nền tảng đặc thù của Tử Vi là nó không cần biết đến tiết khí (mà chỉ cần biết đến năm tháng ngày giờ sinh). Tôi sẽ phản biện rằng đây không phải là câu trả lời chính xác, vì ngay khi bài này được viết vẫn có nhiều người trong giới nghiên cứu đang tìm cách mang tiết khí vào khoa Tử Vi, điều đó chứng tỏ rằng “không cần biết đến tiết khí” chỉ có giá trị của một thủ tục mà không có tính nền tảng.
Vậy cái nền tảng đặc thù của khoa Tử Vi là gì? Quý vị nào có hứng thú xin cứ tự nhiên góp ý, phần tôi sẽ giải thích sau tại sao tôi cho rằng cái nền tảng ấy là lý tuần hoàn.

CHÚ THÍCH:

(1) Không vội nói đến ngũ hành vì có thể có độc giả tin vào thuyết của ông Liễu Vô cư sĩ (cho rằng Tử Vi không dính líu gì đến ngũ hành).

VDTT đã viết: 4) Ba chiều không gian hoàn toàn tương đương chính là giả sử của vật lý Newton. Có thể thấy thuyết âm dương phù hợp với vật lý Einstein, thuyết ngũ hành phù hợp với vật lý Newton. Vì vật lý Newton có tính gần đúng so với vật lý Einstein, có thể suy ra thuyết ngũ hành có tính gần đúng so với thuyết âm dương.
Phải chăng vì như các ông bà phân tâm học nói, thỉnh thoảng con người lại buột miệng ra những cái sai cũ mà tôi viết đoạn chú thích trên đây, vì đoạn này rõ ràng sai.
Nó sai vì không và thời gian được kết hợp trong cả hai thuyết âm dương và ngũ hành, mà vật lý Newton cho rằng thời gian biệt lập với không gian, nên không thể so sánh thuyết ngũ hành với vật lý Newton được.

Tôi xin tự sửa lại như sau:

- Âm dương ứng với thuyết biển thời không của Einstein khi áp dụng đúng.
- Ngũ hành ứng với thuyết biển thời không của Einstein khi áp dụng gần đúng.
Tức là tôi trước sau như một cho rằng ngũ hành là phép tính gần đúng của âm dương.
Tôi sẽ đào sâu thêm lý do trong phần sau.

VDTT đã viết: 3) Theo thuyết biệt tương đối (Special Relativity) của Einstein, một chiều dài L song song với chiều chuyển động sẽ lệ thuộc vận tốc chuyển động theo công thức L=L0(1-v2/c2)0.5, với L0 là một chiều dài cố định, v vận tốc chuyển động, c vận tốc không đổi của ánh sáng. Chiều dài L đại biểu không gian, nên có thể thấy theo vật lý Einstein thì chiều chuyển động không thể nào tương đương với hai chiều không gian còn lại. Có điều lạ lùng là ngay cả vật lý hiện đại cũng vẫn giả thử (một cách sai lầm rằng) 3 chiều không gian hoàn toàn tương đương nhau. Điểm này được luận kỹ hơn trong tập “kinh Dịch hoàn toàn khoa học”, tiếc là tập này chưa in khi bài này được viết. Tôi cứ tưởng chú thích như trên là đủ để những người có biết qua tân vật lý nhận ra sự khác biệt giữa chiều chuyển động và hai chiều kia, không ngờ kết quả không như ý muốn. Vì vậy tôi xin thêm những chi tiết sau. Quý vị nào muốn phản biện xin đọc cho kỹ trước khi kết luận.

Sự thay đổi độ dài trong chiều chuyển động theo vật lý Einstein dẫn đến kết quả là ta phải nối kết thời gian vào với không gian. Để thí dụ sự khác biệt giữa vật lý Newton và vật lý Einstein, xét một động tử A ở một thời điểm t.

Gọi (x,y,z) là tọa độ của A trong hệ thống trục bình thường, và (X,Y,Z) là tọa độ của A trong một hệ thống do (x,y,z) quay quanh gốc trục tọa độ (0,0,0) mà thành. Theo vật lý Newton:

x^2 + y^2 + z^2 = X^2 + Y^2 + Z^2 (1)

Chú ý rằng t không có mặt trong hệ thức trên bởi vì theo vật lý Newton thì thời gian không ăn nhập gì với không gian.

Nhưng theo vật lý Einstein thì thời gian cũng tùy hệ thống trục mà thay đổi, nên hệ thức đúng phải là:

x^2 + y^2 + z^2 -(ct)^2 = X^2 + Y^2 + Z^2 – (cT)^2 (2)

Chú ý rằng vế bên trái có thêm {-(ct)^2}, vế bên phải có thêm {-(cT)^2} đại biểu thời gian khác nhau của hai hệ thống trục.

Nhìn qua phương trình 2 ta có cảm tưởng là x,y,z hoàn toàn tương đương nhau, tương tự X,Y,Z cũng có vẻ hoàn toàn tương đương nhau. Nếu thế ta sẽ phát biểu là trong vật lý Einstein ba chiều không gian vẫn hoàn toàn tương đương với nhau. Đây chính là giả sử của khoa học hiện đại.

Thực tế như thế nào?

Nhờ thuyết biệt tương đối, ta biết rằng thời gian chỉ cộng hưởng với chiều chuyển động mà thôi, nên (2) mặc dù đúng nhưng còn thiếu sót (vì nó cho ta cảm tưởng rằng mọi chiều không gian đều có liên hệ bình đẳng trong tác dung của chúng với thời gian). Để có thể thấy rõ ràng hơn, ta chọn chiều chuyển động là x, khi ấy (2) trở thành:

x^2 + hằng số -(ct)^2 = X^2 + Y^2 + Z^2 – (cT)^2 (3)

Chú ý rằng y, z đã biến mất khỏi phương trình 3, và ta không thể thay x^2 bằng y^2 hoặc z^2. Nếu hỏi x, y, z có còn tương đương hay không, thiết tưởng câu trả lời đã quá rõ ràng rồi vậy.

Nếu quý vị nào thấy ý trên chưa rõ, xin thử giải đáp bài toán a,b,c khoanh dưới đây:

Trong vật lý Einstein, giả sử một vật điểm A di chuyển trên trục x, tìm câu trả lời chính xác nhất trong các câu trả lời sau đây:

(a) x^2 là yếu tố bất biến
(x^2 + y^2 + z^2 là yếu tố bất biến
© x^2 – (ct)^2 là yếu tố bất biến
(d) x^2 + y^2 + z^2 – (ct)^2 là yếu tố bất biến

Quý vị chọn c hay chọn d? Chọn c thì đồng ý với tôi (ý kiến mới), chọn d xin cứ tiếp tục giữ ý kiến (ý kiến hiện tại của giới khoa học mà tôi cho là thiếu sót).

Tôi đã bỏ công định ra mô hình của cả hai trường hợp, mô hình của thuyết âm dương ứng với ©, mô hình của thuyết ngũ hành ứng với (d). Tôi giải là © chính xác hơn (d), bởi vậy tôi mới nói ngũ hành là phép tính gần đúng của âm dương.

Nếu không thích, có thể viết lại để tránh nối kết âm dương và ngũ hành với nhau:
- Âm dương là phép tính chính xác của mệnh lý (ứng c).
- Ngũ hành là phép tính gần đúng của mệnh lý (ứng d).

Hy vọng đã rõ ràng hơn.

V/V NGŨ HÀNH CHỈ LÀ THUYẾT GẦN ĐÚNG

Khoa học không hề có ý kiến nhất thống như một số người tưởng lầm, thậm chí ngay cả cơ sở của khoa vật lý vẫn là đề tài bàn cãi sôi nổi. Chỉ có một quy luật là “cái đang nổi của ngày hôm nay chưa chắc là cái đúng của ngày hôm sau”. Quý vị còn hồ nghi có thể tìm đọc quyển “The Trouble With Physics: The Rise of String Theory, the Fall of a Science, and What Comes Next” của tiến sĩ Smolin về lý do tại sao ông cho rằng thuyết vật lý “nóng” nhất hiện nay là String theory đã đẩy lùi khoa vật lý. Sách này mới ra năm 2006.

Nhân đây xin kể một chuyện không xưa lắm. Năm 2002 sau khi tranh luận trên một diễn đàn vật lý của google, tôi được một vị cao niên người Mỹ liên lạc, xưng là đã có một thuyết có vài điểm tương đồng với tôi, từng đưa cho ông Richard Feynman xem thử và được ông Feynman bảo là sẽ liên lạc lại, tiếc thay (theo lời kể) việc liên lạc chưa xảy ra thì ông Feynman qua đời. Bản thảo này tôi còn giữ, tựa đề là “the foundation of physical reality”, soạn giả là tiến sĩ vật lý R.D. Stafford, viết năm 1982. Trong bản thảo này, tiến sĩ Stafford xét lại hiện trạng đầy mâu thuẫn nội tại của vật lý ra đề xướng một thuyết mới.

Tôi đã đọc kỹ bản thảo này và thấy nó có tính thuyết phục rất cao (dĩ nhiên có thể tôi thiên vị). Tôi nghĩ trình độ cao học vật lý trở lên đọc bản thảo này có thể hiểu, nhưng tôi cho rằng bất luận trình độ cao bao nhiêu cũng phải tốn rất nhiều công lực vì tài liệu này đòi hỏi người đọc nhiều kiến thức toán cao cấp. (Quý vị nào tò mò xin vào trang của ông Stafford, địa chỉ là http://home.jam.rr.com/dicksfiles và ấn chuột vào hình quyển sách, các chương sẽ hiện ra.)

Theo tiến sĩ Stafford kể thì ông đã về hưu. Ông bắt đầu suy nghĩ về một con đường mới cho vật lý trong thập niên 1960′s nhưng đến năm 2002 chỉ mới có TS Nobel vật lý Richard Feynman là người duy nhất thèm đọc qua ý kiến của ông mà thôi; những người khác (kể cả đồng nghiệp) cho là ông khùng điên vì dám chê Einstein, Heisenberg v.v… là còn thiếu sót.

Ông Stafford cho rằng sau cái chết của ông Feynman sẽ chẳng còn ai hiểu nổi công trình của ông nữa. Trong phần lời tựa (preface), ông than:

“I spent a substantial amount of time during the 1970′s and 80′s attempting to find interest and/or support for my work. By 1987 I had become convinced that I would find no one interested in my thoughts. What is written here is written for posterity as I strongly suspect that I will never personally meet anyone educated enough to follow my work who is also objective enough to comprehend that the academy might be wrong and that I could be right and yet not be recognized.”

Tạm dịch:

“Trong hai thập niên 1970 và 1980 tôi bỏ rất nhiều thời giờ tìm người quan tâm tới và/hoặc ủng hộ công trình của tôi. Đến năm 1987 tôi cho rằng tôi sẽ chẳng bao giờ tìm được ai quan tâm đến những suy nghĩ của tôi. Những gì tôi viết đây là cho đời sau vì tôi hết sức lo ngại rằng tôi sẽ chẳng bao giờ gặp ai đủ trình độ học vấn để hiểu công trình của tôi và đồng thời đủ vô tư để nhận ra rằng viện hàn lâm có thể sai và tôi có thể đúng mà không được công nhận.”

Theo tôi hoàn cảnh đầy thất vọng của tiến sĩ Stafford thật ra không có gì đáng ngạc nhiên, vì ông chẳng phài là người duy nhất cho rằng mình có thuyết mới; trên thế giới hiện tại chắc phải có cả ngàn, ngay cả chục ngàn người trình độ tiến sĩ đang ôm ấp một thuyết mới như ông. Vấn đề là ai chịu bỏ thời giờ để lần mò trong khu rừng lý thuyết và công thức toán dầy đặc mà xét xem quan điểm của người viết là đúng hay sai. Nhất là xưa nay sự sáng tạo và sự khùng điên chỉ cách nhau một khoảng cách nhỏ như sợi tóc.

Câu chuyên về tiến sĩ Stafford cho thấy cái khó khăn của người lập thuyết và cái khó khăn của việc đánh giá thuyết mới trong thời đại lạm phát kiến thức ngày hôm nay, khi mà khí cụ cơ bản của khoa học là toán học đã trở thành quá khó hiểu cho ngay cả những người trong giới nghiên cứu khoa học.

Cái khó khăn càng ngày càng tăng gia của toán học là một trong nhiều lý do phức tạp khiến giới khoa học chính thống, tức các giáo sư vật lý chính thức trong các đại học nổi danh thế giới, còn phải tranh cãi huyên thuyên về các ý kiến của nhau và không thể đồng ý ai sai ai đúng, nói gì đến ý kiến của một gã VDTT.

Bởi vậy tôi không hề hy vọng là ý kiến của tôi sẽ được chấp nhận trong vòng 5, 10 năm, thậm chí mấy mươi năm. Ngoài ra, vì biết rằng trong những vấn đề như thế này tranh luận thắng không có nghĩa mình đúng, tranh luận thua không có nghĩa mình sai, nên tôi đã quyết định từ chối mọi cuộc tranh luận, thời giờ xin dành cho việc khác.

Nhưng nhờ hệ thống internet những người nào biết đến khoa học giờ có thể thấy đại khái cái cơ sở lý luận của tôi (về lý do tại sao tôi cho rằng ngũ hành chỉ là phép tính gần đúng, âm dưong mới đúng) và của những người bất đồng ý với tôi. Các vị cho rằng mình có khả năng luận xét có thể đóng vai bồi thẩm đoàn bắt đầu làm việc so sánh ngay từ bây giờ. Ai nghĩ rằng tôi sai xin trình bày quan điểm của họ. Trình bày càng rõ ràng thì càng giúp việc đánh giá đúng đắn được rút ngằn thời gian.

Tối hậu thì thời gian sẽ là ông quan tòa vô tư hơn hết.

Kế tiếp xin trở lại các vấn đề của khoa Tử Vi.

VÌ ĐÂU DÁM NÓI THUYẾT CỦA ÔNG TẠ PHỒN TRỊ KHOA HỌC HƠN CÁC THUYẾT KHÁC (kỳ 4)

1. Lý tuần hoàn của khoa Tử Vi

Trước hết, như đã nói, tôi không thể nào biết ông Trần Đoàn nghĩ gì nên những điều tôi viết chẳng phải là tôi đoán ý ông Trần Đoàn mà là dựa theo những cái biết của khoa học hiện đại cộng với cái di sản khoa học đặc thù của Á đông mà người tây phương chưa được biết đến.

Theo tôi cái lý tối hậu của khoa học, kể cả khoa học tây phương, là thuyết “vạn vật đồng nhất thể” của Á đông. Nhận ra lý VVĐNT rồi thì sẽ thấy ngay rằng lý tuần hoàn là một mấu chốt để giải bài toán mệnh lý vì có thể coi đời một người chết già ứng với một chu kỳ tuần hoàn sinh thành trụ diệt, tương đồng với rất nhiều hiện tượng thiên nhiên trong cái vũ trụ vật chất mà chúng ta đang sống.

Quý độc giả có nghiên cứu Tử Bình hẳn đã nhận ra rằng khoa này dựa trên một lý tuần hoàn nhất quán, đó là lý tuần hoàn của lục thập hoa giáp. Bởi vậy năm tháng ngày giờ trong khoa bát tự đều theo một lý tuần hoàn chung với chu kỳ là 60.

Tôi xin lưu ý quý độc giả rằng khi chọn lục thập hoa giáp làm cái lý nhất quán, khoa Tử Bình đã phải trả bằng cái giá -mà tôi nghĩ khá đắt- là nó buôc lòng phải lờ đi một hiện tượng tuần hoàn có tinh rất tự nhiên, đó là hiện tượng tuần hoàn của mặt trăng. Mà đã gạt bỏ tính tuần hoàn của mặt trăng rồi thì đâu còn lý do gì để coi mỗi chu kỳ của mặt trăng là một tháng cho phải phiền toái vì tháng nhuận, vì thế tháng của khoa Tử Bình hoàn toàn dựa trên tiết khí (lệ thuộc vào góc của trục trái đất so với mặt trời) là rât hợp lý.

Khi muốn khảo sát một vấn đề bằng toán học, ta phải làm hai việc, một là tìm ra một cái lý toán học có tính xuyên suốt phù hợp với vấn đề cần khảo sát, hai là tìm giao điểm giữa cái lý ấy và thực tế để bảo đảm là có sự phù hợp giữa lý thuyết và thực tế (trong toán học gọi là điều kiện ban đầu hoặc điều kiện ngoại vi).

Bằng ngôn ngữ khoa học, có thể nói cái lý toán học của Tử Bình là luật tuần hoàn của lục thập hoa giáp, và lý này được ghép vào thực tế bằng cách chọn liên hệ tương đối giữa trái đất với mặt trời làm chủ điểm.
Câu hỏi là có cách nào vận dụng tính tuần hoàn của mặt trăng (mà khoa Tử Bình đã phải lờ đi) vào bài toán số mệnh hay không? Câu trả lời là có, và câu trả lời hùng hồn nhất mà ta biết thì chính là khoa Tử Vi vậy.

Tóm lại, Tử Vi là một cách giải bài toán số mệnh, nhưng khác với Tử Bình ở chỗ là nó áp dụng lý tuần hoàn của mặt trăng vào bài toán số mệnh. Cái giá mà nó phải trả là phải coi mỗi ngày là một phần tử của một chu kỳ của mặt trăng. Gọi một chu kỳ của mặt trăng là một tháng thì yếu tố ngày chỉ có thể lên đến tối đa là 29 hoặc 30 (ngày) nên không thể nào thỏa cái lý của lục thập hoa giáp. Bởi vậy, Tử Vi không tính can chi của ngày, chỉ tính ngày từ 1 đến 29 hoặc 30 mà thôi.

Tôi xin nhấm mạnh rằng Tử Vi bắt buộc phải coi lý tuần hoàn của mặt trăng là quan trọng, tại sao thế? Thưa, vì đó là ưu điểm chính của nó so với khoa Tử Bình. Giả như nó cũng không coi lý tuần hoàn của mặt trăng là quan trọng (tức là chủ trương như khoa Tử Bình) thì chẳng có lý do gì để nó có hy vọng chính xác tương đương với khoa Tử Bình, và như vậy thì chẳng có lý do gì để sáng lập ra khoa Tử Vi cho mệt óc.

Phải lập luận dông dai vòng vo như thế để cốt lưu ý với quý vị nghiên cứu rằng, xin đừng vội cho rằng tính tháng trong Tử Vi bằng tiết khí thì chính xác hơn, bởi nếu tính như vậy là bỏ cái nền tảng của Tử Vi mà lấy cái nền tảng của Tử Bình. Đây là trường hợp chỉ được chọn một trong hai (chọn sai thì thành “râu ông nọ cắm cằm bà kia”), nên đừng nên mong là nhờ định tháng bằng tiết khí mà Tử Vi sẽ chính xác hơn.

Hy vọng như vậy vấn đề “bất quá tiết” của Tử Vi đã được giải quyết bằng lý luận.

Ở trên ta thấy xét hiện tượng thật thì Tử Bình đã chọn mặt trời làm chủ điểm và vì thế phải lờ mặt trăng đi. Còn Tử Vi thì ta biết đã chọn mặt trăng làm chủ điểm, vậy còn liên hệ giữa mặt trời với trái đất trong khoa Tử Vi thì sao? Để trả lời ta nhận xét:

1-Các giờ trong ngày không có vấn đề gì cả. Vẫn có thể dựa theo mặt trời.
2-Các ngày trong tháng dĩ nhiên phải theo mặt trăng.
3-Các tháng trong năm thì có vấn đề trầm trọng cần giải quyết. Vì coi mặt trăng là chủ điểm thì năm phải có 12 hoặc 13 tháng, mà không thể theo đúng chu kỳ của trái đất quanh mặt trời nữa. Nhưng nếu xử dụng 13 tháng thì lại có vấn đề với môi trường dùng để giải Tử Vi, tức là địa bàn, vì địa bàn chỉ có 12 cung nên phải đổi 13 tháng thành 12, do đó phải có tháng nhuận.
Các đề mục từ 1 đến 3 trên đây chẳng có gì mới lạ mà chính là kiến thức cơ sở của khoa Tử Vi. Cần nhắc lại chỉ cốt để lưu ý với quý vị nghiên cứu rằng Tử Vi từ xưa đến nay ở hoàn cảnh không mấy gọn gàng như vậy là có lý do cả. Đừng tưởng sửa lại cho gọn gàng là giúp Tử Vi chính xác hơn, e làm nó thiếu chính xác hơn là đằng khác.

Cả hai môn Tử Vi và Tử Bình đều cố áp dụng lý tuần hoàn đến mức tối đa. Càng nhiều tương ứng với các hiện tượng tuần hoàn tự nhiên dĩ nhiên càng tốt.

- Tử Bình miễn cưỡng bỏ lý tuần hoàn của mặt trăng vì lý do đã trình bày (giữa lý tuần hoàn nhất quán của lục thập hoa giáp và lý tuần hoàn của mặt trăng phải chọn một bỏ một, quyết định bỏ mặt trăng). Vì Tử Vi thái dụng lý tuần hoàn của mặt trăng và đạt nhiều thành công to lớn, ta biết bỏ mặt trăng là một khuyết điểm lớn của khoa Tử Bình.

- Tử Vi thu nhập lý tuần hoàn của mặt trăng mà không phải bỏ lý tuần hoàn của mặt trời; đây là một ưu điểm vì định giờ theo mặt trời là lý tuần hoàn tự nhiên hơn hết (chắc chắn tự nhiên hơn là định giờ theo mặt trăng) bởi vậy dĩ nhiên cách định giờ phải theo mặt trời. Một vòng tuần hoàn của giờ thành ngày nên cách xác định khi nào đổi ngày dĩ nhiên cũng theo mặt trời. Nhưng bao nhiêu ngày thành một tháng thì lại phải theo mặt trăng, vì đó là ưu điểm to lớn nhất của Tử Vi so với Tử Bình. Mà đã theo mặt trăng như vậy thì phải chịu tháng nhuận, không thể tránh được.

Lý do phải có tháng nhuận (thay vì thỉnh thoảng cho một năm có 13 tháng) là vì Tử Vi muốn ghép tất cả mọi yếu tố vào địa bàn, mà địa bàn thì có đúng 12 cung (và 12 cung này có lý của chúng, không đổi được).
Vậy khuyết điểm của Tử Vi là không áp dụng được lý lục thập hoa giáp một cách nhất quán vào mọi đơn vị thời gian, chắc chắn phải là một nguồn sai số, tháng nhuận chắc chắn cũng là một nguồn sai số.

Có thể thấy rằng cả hai môn Tử Vi và Tử Bình đều khiếm khuyết, và đây là khiếm khuyết có tính cơ sở, tức là bất luận tiến bộ bao nhiêu khiếm khuyết ấy vẫn còn.

Ở Đài Loan nhiều phái coi Tử Vi riêng, Tử Bình riêng (chú ý: Nghĩa là coi riêng từng môn, không phải là dùng cách của Tử Vi để xem Tử Bình hoặc ngược lại), rồi theo kinh nghiệm của thầy mà phối hợp kết quả của hai môn (có điểm theo Tử Bình, có điểm theo Tử Vi, tùy kinh nghiệm của thầy); đó là một cách bổ khuyết hai môn.

- Thái Âm chỉ tương ứng với mặt trăng (theo lý “vạn vật đồng nhất thể”) nhưng không phải là mặt trăng. Dùng tiết khí hay tháng thật để luận Thái Âm không quan trọng vì hai cách tính này sai số luôn luôn nhỏ hơn 1, nhưng vì lý nhất quán khoa Tử Vi tất phải theo tháng thật (và chịu đựng xác xuất sai trong tháng nhuận). Ngày thì buộc lòng phải theo ngày âm lịch, vì đó chính là cơ sở của khoa Tử Vi (Thái Âm từ 1 đến rằm càng ngày càng mạnh, sau đó yếu đi).

Vài dòng chia sẻ.

****

THẾ NÀO LÀ CÁCH TÍNH “GẦN ĐÚNG”?

Hình như nhóm chữ “cách tính gần đúng” mà tôi xử dụng bị hiểu lầm là “cách tính ra kết quả gần đúng”, rồi từ đó diễn giải thêm ra thành những kết quả lạ lùng, kỳ dị mà bản thân tôi chẳng bao giờ tưởng tượng ra nổi.

Tôi chẳng hiểu tại sao khi bàn luận về một chuyện hết sức cơ bản lại có sự hiểu lầm này, nhưng thiết nghĩ mọi sự hiểu lầm đều nên được giải tỏa càng sớm càng tốt kẻo dần dần hiểu lầm tưởng là hiểu thật.

Xin phép dùng tiếng Anh. Cách tính gần đúng là “approximation”.

Mục đích là tìm đáp số gần đúng nên mới đặt ra cách tính gần đúng, nhưng đời này có khi lực bất tòng tâm, chẳng phải cứ đặt ra cách tính gần đúng là sẽ được kết quả gần đúng!

Sau đây tôi xin trình bày tại sao “cách tính gần đúng” chưa chắc phải cho kết quả gần đúng, nhiều khi sai rất xa, có khi cho kết quả trái ngược lại ý ta là đằng khác.

Xin chú ý kỹ, kẻo sai lầm đáng tiếc.

A. ĐIỀU KIỆN ÁP DỤNG HẾT SỨC QUAN TRỌNG, KẺO SAI MỘT LY ĐI MỘT DẶM

Phép tính gần đúng chỉ có thể áp dụng trong điều kiện của nó, bằng không thì kết quả chẳng có gì là gần đúng cả. Đây chính là một trường hợp của ý nghĩa sai một ly đi một dặm.

Một thí dụ về phép tính gần đúng:

X= A + BC + DE (1)

Trong một điều kiện Alpha nào đó thì DE nhỏ hơn hai số kia nhiều, nên (khi điều kiện Alpha được thỏa), ta nói cách tính gần đúng ứng với (1) là:

X= A + BC (2)

Có thể thấy rằng nếu điều kiện Alpha không được thỏa mà áp dụng (2) thì có thể sẽ phạm lỗi sai một ly đi một dặm.

Tôi đã dùng thí dụ số học cốt cho mọi người dễ hiểu. Quý vị nào biết giải phương trình vi phân thuộc dạng hết sức mẫn cảm (“very stiff equations”) thì càng thấy rõ lý này hơn hết. Nhiều khi bỏ một chữ nhỏ thôi (để có phép tính gần đúng) mà kết quả ra hoàn toàn khác hẳn. Đây cũng là lý do tại sao khi dùng computer để giải phương trình vi phân (một thí dụ thực tế khác của cách tính gần đúng) người ta phải rất cẩn thận, kẻo kết quả ra hoàn toàn sai.

Các thí dụ này cho thấy tại sao “phép tính gần đúng” không chắc cho kết quả gần đúng. Cường điệu hơn kết quả của phép tính đúng và phép tính gần đúng có thể khác hẳn nhau. Ngược lại, khi thấy hai kết quả khác hẳn nhau, đừng vội nói rằng chúng không thể là kết quả của hai phép tính gần giống nhau.

B. DÙNG LƯỢNG ĐỂ ĐỊNH TÍNH GẦN ĐÚNG CÓ KHI VẪN SAI BÉT

Ngay cả khi tính ra gần đúng, kết quả vẫn có thể trái ngược. Một thí dụ là trường hợp dùng phép tính gần đúng để định lượng, nhưng kết quả lại thuộc dạng định tính.

Thí dụ: Dùng mô hình “gần đúng” để tiên đoán điểm, đoán được Phoenix Suns 113-Lakers 110. Sự thật Phoenix 112 – Los Angeles 113. Phép tính định lượng thì gần đúng (chỉ sai 0.9% cho đội Phoenix, 2.7% cho đội Los Angeles). Nhưng kết quả thì sai bét vì đoán Phoenix thắng mà sự thật Phoenix thua.

Cho nên:

1.-Ngũ hành là phép tính gần đúng của âm dương không có nghĩa âm dương có cái gì thì ngũ hành phải có một cái gần đúng như thế.
2.-Ngũ hành có vẻ khác hẳn âm dương không có nghĩa ngũ hành không thể là phép tính gần đúng của âm dương.
3.-Mặc dù là phép tính gần đúng của âm dương, ngũ hành có thể có trường hợp ra kết quả sai bét.

Đó là lý luận cơ bản của phép tính gần đúng. Xin lưu ý!

SO SÁNH BA CHIÈU KHÔNG GIAN THEO NHƯ CÁI NHÌN CỦA CẬU BÉ TRONG “CHIẾC ÁO MỚI CỦA NHÀ VUA”

Năm 1989, ông Roger Penrose, một tiến sĩ giáo sư toán lừng danh thế giới của nước Anh, ra quyển “Bộ óc mới của nhà vua” (The Emperor’s New Mind). Đây là một quyển sách bán rất chạy nhưng tương đối khó đọc vì xử dụng khá nhiều kiến thức toán và vật lý cao cấp. Đại khái ông Penrose tỏ ý không bằng lòng với hiện trạng của khoa học nói chung và khoa vật lý nói riêng.

Nhưng tại sao lại đặt tên sách là “Bộ óc mới của nhà vua”? Nguyên là sau khi đi vào rất nhiều chi tiết nhiêu khê, có khi công thức toán chằng chịt nguyên trang, ở cuối sách ông Penrose đưa ra một điểm hết sức triết lý, là có thể sự bế tắc hiện tại của khoa học một phần là do hoàn cảnh đã trở thành tương tự như truyện cổ tích “chiếc áo mới của nhà vua”, với những người thợ may nổi tiếng trầm trồ khen ngợi chiếc áo vô hình được thay bằng các khoa học gia thời nay. Vấn đề của các khoa học gia, ông Penrose nói, là có thể vì biết quá nhiều mà họ trở thành thiên kiến, nên cũng như trong truyện cổ tích “chiếc áo mới của nhà vua” người có đáp số đúng có lẽ phải như cậu bé, thứ nhất nhãn quan chưa bị những kiến thức đã học được từ trường sở hoặc cuộc đời làm cho vặn vẹo, thứ hai đầu óc thơ ngây nên chẳng biết sợ những lời chê bai, cứ thấy sao là nói vậy.

Lấy cảm hứng từ triết lý ấy, tôi xin mời các độc giả có hứng thú cố đóng vai trò của một cậu bé không thành kiến, tức là tôi yêu cầu quý vị hãy bỏ gần hết tất cả những gì quý vị đã học được trong khoa vật lý, kể cả vật lý Newton.

Tôi chỉ yêu cầu quý vị chấp nhận một điều giản dị là mọi vật thể đều có thể được diễn tả bằng các điểm trên một trục tọa độ gồm ba trục là x, y, z hỗ tương thẳng góc với nhau. Các vị nào không tin thì làm thử thí nghiệm này: Chọn một hình phẳng nào đó, bỏ nó lên một trục x,y; ghi xuống tọa độ của càng nhiều điểm càng tốt vào một tờ giấy, rồi đưa tờ giấy nhờ một anh cán sự kỹ nghệ họa vẽ xem ra hình thù gì. Tôi dám bảo đảm quý vị sẽ thấy hình vẽ ấy diễn tả khá đúng vật thể mà quý vị đã chọn. Thí nghiệm này tôi chọn hai chiều x, y thôi cho giản dị, nhưng thêm chiều thứ ba là z thì kết quả vẫn không đổi.

Kế tiếp tôi sẽ trình bày với quý vị một bảng kết quả của một thí nghiệm nhiều bước, và yêu cầu quý vị trả lời một câu hỏi.

Đối tượng của thí nghiệm này là một khối vuông mỗi cạnh 100m, với ba cạnh X, Y, Z lần lượt song song với các trục x, y, z của trục tọa độ. Nhờ lối xếp vuông vắn này, đo hình chiếu của hình vuông lên trục x ta được cạnh X, đo hình chiếu của hình vuông trên trục y ta được cạnh Y, đo hình chiếu của hình vuông trên trục z ta được cạnh Z.
Các bước của thí nghiệm như sau:

0. Giữ khối vuông đứng im không chuyển động, đo ba hình chiếu để được ba cạnh X, Y, Z.
1. Cho khối vuông chuyển động theo chiều x với vận tốc bằng phân nửa vận tốc ánh sáng. Đo ba hình chiếu để được chiều dài của ba cạnh X, Y, Z.
2. Tương tự 1 kể trên, nhưng cho khối vuông chuyển động trong chiều y (thay vì x).
3. Tương tự 1 kể trên, nhưng cho khối vuông chuyển động trong chiều z (thay vì x).

Sau đây là bảng kết quả thí nghiệm, xin trình bày cùng quý vị:

0. Không chuyển động: X=100m, Y=100m, Z=100m
1. Chuyển động chiều x: X= 87m, Y=100m, Z=100m
2. Chuyển động chiều y: X=100m, Y= 87m, Z=100m
3. Chuyển động chiều z: X=100m, Y=100m, Z= 87m

Định nghĩa: Nếu chuyển động theo chiều x thì x là chiều chuyển động, y và z là hai chiều còn lại. Hai trường hợp khác lý tương tự.

CÂU HỎI: Chiều chuyển động có giống hai chiều còn lại hay không?

Xin độc giả cho biết câu trả lời theo cái nhìn của cậu bé ngây thơ (và nếu hứng thú thì cứ tự nhiên thêm câu trả lời của cá nhân mình, nếu khác với câu trả lời của cậu bé ngây thơ).

Riêng tôi thì đã biết cậu bé trong tôi trả lời như thế nào rồi.

Chúng ta biết rằng quy luật thịnh suy và biến hóa của âm dương, quy luật thắng phục và sinh khắc của ngũ hành theo luật tuần hoàn không đầu cuối chi phối vạn vật trong gầm trời. Ví dụ:
1. Trong một năm bốn mùa xuân hạ thu đông thứ tự tuần hoàn: nếu phân âm dương thì mùa xuân hạ là dương còn mùa thu đông là âm; nếu phân ngũ hành thì mùa xuân mộc, mùa hạ hỏa, mùa thu kim và mùa đông thủy.
2. Trong một ngày thì ban ngày là dương còn ban đêm là âm; từ giờ tý nhất dương sinh ra mà tý thuộc thủy, từ giờ ngọ nhất âm sinh mà ngọ thuộc hỏa.
3. Trong hệ can chi tuần hoàn thì thiên can thuộc dương còn địa chi thuộc âm; trong thiên can lại có ngũ hành âm và ngũ hành dương, trong địa chi cũng được phân thành ngũ hành âm và ngũ hành dương.
4. Và trong họa đồ bát quái tuần hoàn cũng vậy.

Vậy theo trên có thể tách âm dương ra khỏi ngũ hành và ngũ hành ra khỏi âm dương được không, sau đem hai mảng đó so sánh với nhau rồi cho mảng này là gần đúng của mảng kia.

Theo PV thì âm dương ngũ hành bất khả phân ly. Và nhận thức không có âm dương ngoài ngũ hành cũng như không có ngũ hành ngoài âm dương.

Tối hậu bằng lô gích ta biết khoa học chỉ có thể có một thuyết. Tại sao thế? Vì nếu có hai thuyết thì hai thuyết này hoặc mâu thuẫn nhau hoặc bố cứu cho nhau, nếu mâu thuẫn nhau thì tối thiểu một phải sai loại đi còn một, nếu bổ cứu nhau thì cộng lại chính là một thuyết xuyên suốt. Cứ thế mà lý luận dần đến tận cùng sẽ suy ra tối hậu vũ trụ vật chất chỉ có thể có một thuyết mà thôi.

Gọi thuyết tối hậu là A, các thuyết khác chỉ có thể là một mặt nào đó của A hoặc là phép tính gần đúng của A. Thuyết ấy là gì? Tôi cho là thuyết âm dương. Nếu thuyết âm dương đúng là thuyết tối hậu thì nó phải hàm chứa tất cả mọi thuyết còn lại.

Trường hợp ngũ hành, tôi tính ra thấy nó là một thuyết gần đúng. Tứ nguyên cũng là một thuyết gần đúng.

Dễ hiểu vì:

Sinh khắc là liên hệ một chiều chỉ ứng với một loại hiện tượng, dù diễn giải soi rộng thế nào cũng không thể bao hàm các liên hệ hai chiều như “yêu nhau” chẳng hạn. Thuyết ngũ hành cơ bản chỉ có sinh khắc dĩ nhiên thiếu sót.

Tương tự, hợp xung là liên hệ hai chiều chỉ ứng với một loại hiện tượng, dù diễn giải soi rộng bao nhiêu cũng không thể bao hàm các liêh hệ một chiều như “thắng thua” chẳng hạn. Thuyết tứ nguyên cơ bản chỉ có hợp xung dĩ nhiên thiếu sót.

Thiếu sót thì chỉ có thể “gần đúng”, chẳng thể nào “đúng” đuợc.

Người đông phương bảo rằng âm dương ngũ hành bất khả phân thì người tây phương sẽ bất đồng ý vì họ chẳng hề có thuyết ngũ hành mà vẫn phát triển về huyền học như thường. Đừng quên như thế!
Đông phương không cần thuyết tứ nguyên mà huyền học vẫn phát triển, tại sao? Tứ nguyên có thật là thuyết tất yếu không?

Tây phương không cần thuyết ngũ hành mà huyền học vẫn phát triển, tại sao? Ngũ hành có thật là thuyết tất yếu không?

Nhắc lại câu trả lời của tôi: Ngũ hành và tứ nguyên đều không phải là tất yếu! Chúng chỉ là hai cách giải gần đúng khác nhau khởi từ cùng một thuyết lớn trùm ở trên. Thuyết ấy chính là thuyết âm dương.

Nên tôi phân định:

Huyền học đông phương: Lấy âm dương làm nền, lấy ngũ hành trợ lực, thành hệ thống thực dụng gọi là “âm dương ngũ hành”.

Huyền học tây phương: Vẫn lấy âm dương làm nền, dùng tứ nguyên (đất nước gió lửa hoặc đất nước khí lửa cũng thế) mà thành hệ thống thực dụng.

Vì thực dụng khác biệt (ngũ hành / tứ nguyên), mỗi bên có sở trường và sở đoản khác nhau.

Xin thêm rằng tôi không chỉ đoán mò mà từ nguyên lý cơ bản lập ra mô hình của từng trường hợp, rồi thấy một mô hình phản ảnh thuyết âm dương, một mô hình phản ảnh thuyết ngũ hành, một mô hình phản ảnh thuyết tứ nguyên nên mới dám nói như thế.

Chẳng hạn, như đã trình bày ỏ một bài trước, quý vị thử hai loại hình cầu màu sậm là âm, màu nhạt là dương cho chúng gộp vào nhau thành hình tứ diện đều (là hình thể cân xứng nhất trong ba chiểu có thể tạo dựng bằng các khối cầu) để đại biểu thực thể hiện hữu, quý vị sẽ thấy có đúng 5 thực thể là:

AAAA (thủy)
ADDD
AADD (thổ)
AAAD
DDDD (hỏa)

Có thể thấy mô hình này dẫn đến thuyết ngũ hành.

Vài dòng chia sẻ.

VÌ ĐÂU DÁM NÓI THUYẾT CỦA ÔNG TẠ PHỒN TRỊ KHOA HỌC HƠN CÁC THUYẾT KHÁC?

2. Lý hình thành của 14 chính tinh

Đọc các sách cổ cũng như sách gần đây ta thấy đủ loại thuyết cố giải thích sự hình thành của 14 chính tinh, nhưng thú thật khi đọc các thuyết ấy tôi lại nhớ một thí dụ mà ông giáo sư toán đệ nhất của tôi là CAH hay dùng để chỉ trích các cách chứng minh tùy hứng:

“Hôm nay trời sáng, nên hai vòng tròn trực giao”
Tức là -trên cơ sở khoa học- chẳng thấy lô gích ở đâu cả!

Độc giả nào đã đọc sách của ông Tạ Phồn Trị có lẽ cũng sẽ có cảm giác tương tự là sách này cũng chẳng rõ lô gích ở đâu, thế nhưng bản thân tôi thấy một khác biệt quan trọng, là mặc dùng không đặt nặng lô gích trong cách viết, những tái khám phá của ông Trị lại rất hợp lô gích, nghĩa là có thể được xếp đặt lại đề phù hợp với lô gích.

Về nguồn gốc 14 chính tinh ông Trị bắt đầu bằng cách giải cái lý của cặp Nhật Nguyệt với câu ‘phán’ theo kiểu sách cổ, xin dịch như sau “kỳ thật Nhật, Nguyệt chính là đại biểu của giờ và tháng” rồi ông đưa lý thiên văn cho thấy là nếu bắt đầu với tháng giêng giờ Tí, sau đó muốn thấy vũ trụ ở chỗ cũ tất tháng hai phải là giờ Hợi, tháng ba giờ Tuất v.v… chính là các cặp vị trí tương ứng của hai sao Âm Dương.

Mỗi lần ghi xuống tái khám phá này, tôi lại thêm một lần thán phục cái lý của người xưa (tức người lập ra Tử Vi) và một lần cám ơn ông Trị đã nhìn ra sự kiện này, vì tôi cho nó là chiếc chìa khóa quan trọng nhất trong cuộc hành trình tìm lại cái gốc khoa học của môn Tử Vi.

Sau đây là phần lý luận thêm của tôi để đặt cái tái khám phá của ông Trị vào khuôn mẫu khoa học.

Nhận xét sơ khởi:

1. Địa bàn thực tính là một hình tròn gắn vào địa cầu.
2. Xét giờ thì giờ nào cung ấy quay về phía mặt trời. Thí dụ giờ Tí tất cung Tí của địa bàn quay về mặt trời. Vì vậy mỗi cung của địa bàn có tương ứng tự nhiên với giờ.
3. Xét tháng thì một khi đã chọn một giờ cố định (như giờ Tí) thì tháng nào cung ấy quay về một phương cố định trong vũ trụ. Như tháng giờ Tí một ngày nào đó của tháng 1 cung Dần quay về một phương X nào đó thì đợi đúng một tháng sau tất cung quay về phương X phải là cung Mão.

Những kết quả trên đây là tái khám phá của tôi, đã giải thích ở một nơi khác, ở đây không lập lại.

VÌ ĐÂU DÁM NÓI THUYẾT CỦA ÔNG TẠ PHỒN TRỊ KHOA HỌC HƠN CÁC THUYẾT KHÁC

Từ đó có thể thấy rằng:

1. Địa bàn ứng với giờ và tháng: Mỗi cung địa bàn tương ứng với một giờ, đồng thời tương ứng với một tháng.

2. Thuận lý và nghịch lý trên địa bàn: Vì các cung cứ đi thuận theo giờ mà hướng về phía mặt trời, đi thuận theo tháng mà hướng về một phương cố định trong vũ trụ, chiều thuận trên địa bàn (chiều kim đồng hồ) chính là chiều thời gian. Thời gian chỉ đi tới mà không đi lùi, nên đi thuận trên địa bàn hợp lý hơn đi nghịch, do đó -áp dụng thuyết âm dương- ta nói đi theo chiều thuận của địa bàn là “thuận lý”, đi ngược chiều của địa bàn là “nghịch lý”. Nói cách khác, trên địa bàn “thuận lý” có nghĩa là đi theo chiều kim đồng hồ, “nghịch lý” là đi ngược chiều kim đồng hồ.
Đó là xét tháng và giờ riêng rẽ. Trường hợp phối hợp tháng giờ thì phức tạp hơn, sẽ bàn sau.

3. Nền tảng toàn không của khoa Tử Vi: Theo một tiền đề của thuyết âm dương (dưới nhãn quan khoa học) thì mọi hiện tượng trong vũ trụ này đều là giả tướng do âm dương trộn lộn với nhau mà thành, nhưng tổng số thành của âm dương trong vũ trụ thì chỉ là một con số không.

Áp dụng lý vạn vật đồng nhất thể để giả sử con người là một “tiểu vũ trụ”. Giả sử này chỉ có thể gần đúng vì con người có liên hệ mật thiết với các phần tử khác của vũ trụ (và có thể với các vũ trụ ngoài vũ trụ này nữa), nhưng ta buộc lòng phải dùng nó vì nó vẫn cho kết quả chính xác nhất có thể đạt được trong khả năng tầm thường của chúng ta. Coi con người là một tiểu vũ trụ và dùng địa bàn để biểu diễn vận mệnh con người thì tổng số thành âm dương trên địa bàn (tức lá số) phải bằng không.

Ý nghĩa thực tế của điều kiện này là: Trên lá số mọi yếu tố đều phải có lực đối trọng, sao cho tổng thành âm dương gần bằng zéro.

4. Áp dụng lý toàn không vào Tử Vi: Ở trên ta đã trình bày cái cơ sở của lý toàn không, bây giờ ta sẽ luận cách áp dụng nó vào địa bàn.

Tứ nguyên chính là tứ đại. Khi đức phật ra đời thuyết này đã thịnh hành rồi. Hiện vẫn có một số nhà nghiên cứu cho rằng thuyết tứ đại (tứ nguyên) khởi từ Ấn Độ rồi truyền sang Trung Đông (thay vì từ Trung Đông truyền sang Ấn Độ).

Phật giáo chỉ nói đến tứ đại một cách biểu tượng (đại biểu vật chất), trong khi chiêm tinh và các khoa mệnh lý khác của tây phương thì coi tứ nguyên là cái nền để phát triển ra.

Thí dụ trong chiêm tinh tây phương thì:

Đất (Earth): Capricorn (cardinal), Taurus (fixed), Virgo (mutable).
Nước (Water): Cancer (cardinal), Scorpio (fixed), Pisces (mutable).
Gió (Wind / Air): Libra (cardinal), Aquarius (fixed), Gemini (mutable).
Lửa (Fire): Aries (cardinal), Leo (fixed), Sagittarius (mutable).

Đây là điểm kỳ diệu: Cardinal có tính tương tự “sinh”, Fixed có tính tương tự “vượng”, Mutable có tính tương tự “mộ”. Xếp theo thứ tự khởi từ Aries ta được 12 cung hoàng đạo:

1. Aries (Dương Cưu): Lửa sinh
2. Taurus (Kim Ngưu): Đất vượng
3. Gemini (Song Nam): Gió mộ
4. Cancer (Bắc Giải): Nước sinh
5. Leo (Hài Sư): Lửa vượng
6. Virgo (Xử Nữ): Đất mộ
7. Libra (Thiên Xứng): Gió sinh
8. Scorpio (Hổ Cáp): Nước vượng
9. Sagittarius (Nhân Mã): Lửa mộ
10. Capricorn (Bạch Dương): Đất sinh
11. Aquarius (Bảo Bình): Gió vượng
12. Pisces (Song Ngư): Nước mộ

Kỳ diệu thay, lý này y hệt như phép tam hợp hành của ngũ hành.

Thế nên càng ngày tôi càng tin vào giả thuyết gấn đây của nhiều nhà nghiên cứu lịch sử mệnh lý người Đài Loan và Hoa lục, rằng ngũ hành là do tứ nguyên cải biến mà ra (Thí dụ: Xem sách “Đường Tống âm dương ngũ hành luận tập”, La Quế Thành, Văn Nguyên Thư Cục, Đài Bắc, tái bản năm 1992).

Vài dòng đóng góp.

T.B. Nhưng vì có 4 yếu tố thay vì 5, tứ nguyên phải dùng liên hệ khác với sinh khắc, liên hệ ấy là “hợp” và “không hợp” hoặc “hợp” và “xung”. Chú ý rằng sinh khắc là liên hệ một chiều, hợp xung là liên hệ hại chiều. Sự khác biệt về liên hệ dẫn đến kết quả khác hẳn nhau. Như trên địa bàn của mệnh lý Á đông, vì lý ngũ hành mà hai cung xung có tương quan khắc, trong khi đó trên tinh bàn (thiên bàn) của chiêm tinh tây phương, vì lý tứ nguyên mà hai cung xung có liên hệ “hợp” (thay vì “xung” nếu suy diễn giản dị từ lý ngũ hành rồi vội vàng áp dụng sang một cách sai lầm).

Kết quả: Đất Nước hợp nhau, Gió Lửa hợp nhau, Đất Nước “xung” với Gió Lửa và ngược lại. Tức là mỗi cung “xung” với hai cung bênh cạnh nó và “hợp” với cung đối diện nó (tức cung mà ta thường gọi là xung chiếu).

VÌ ĐÂU DÁM NÓI THUYẾT CỦA ÔNG TẠ PHỒN TRỊ KHOA HỌC HƠN CÁC THUYẾT KHÁC (tiếp theo)

Áp dụng luật toàn không vào địa bàn

Hãy tưởng tượng 12 cung địa bàn như một cái nồi nước, bản chất không có mùi vị gì cả, còn người đặt ra khoa Tử Vi như ông đầu bếp. Bỏ bất cứ thứ gì vào cái nồi địa bàn sẽ làm cho tối thiểu một góc nào đó của địa bàn có mùi vị, cho nên nếu đã bỏ gia vị A vào thì sau đó phải tìm cách trung hòa bằng cách bỏ thêm gia vị B. Trong trường hợp B không đủ trung hòa A thì không những thêm B lại phải thêm C, có khi phải thêm D, E, F v.v…

Trung hòa xong A rồi thấy vẫn chưa được thì bỏ AA vào, bỏ AA vào thì lại phải trung hòa nó bằng BB, nếu BB không trung hòa nổi AA thì thêm CC, có khi phải thêm DD, EE, FF v.v… cứ thế cứ thế.

Theo quy luật này thì các sao trên lá số Tử Vi không thể nào đặt ra tùy hứng hay cứ nhắm mắt dựa theo các khoa cũ gắn vào địa bàn, mà phải có một thứ tự, quy luật nhất quán.
Chúng ta hãy bắt đầu.

Tại sao cái lý của khoa Tử Vi phải bắt đầu với cặp Âm Dương?

Bước đầu của việc thiết lập lá số Tử Vi bằng phương pháp khoa học ví như việc bỏ gia vị A vào cái nồi nước địa bàn còn đang trống rỗng. Vấn đề của người đầu bếp là bỏ gia vị nào vào nồi. Vấn đề của người lập ra khoa Tử Vi là bắt đầu với sao gì, và tại sao lại bắt đầu như thế?

Câu trả lời là cặp Âm Dương. Ấy bởi vì cặp Âm Dương đại biểu một cặp tháng giờ lý thuyết thỏa điều kiện cơ bản là giữ phương của trái đất y như lúc tháng giêng giờ Tí. Nhưng tại sao lại muốn giữ phương của trái đất y như lúc tháng giêng giờ Tí. Thưa vì bài toán Tử Vi giả sử rằng thời điểm khai sinh đã chứa tín hiệu họa phúc của đời người, thời điểm khai sinh của con người thì tương ứng với lúc mùa xuân bắt đầu, tức là tháng giêng giờ Tí, nên vì lý vạn vật đồng nhất thể phải giữ trái đất ở phương hướng y như lúc khai sinh của nó, và cặp Âm Dương là công cụ bảo đảm rằng điều kiện ấy luôn luôn được thỏa.

Bởi vậy Tử Vi bắt đầu với cặp Âm Dương mà không phải bất cứ sao nào khác (kể cả cặp Tử Phủ).

Mỗi áp dụng khoa học đều phải bắt đầu ở một điểm mấu chốt. Từ trước đến giờ đọc các sách Tử Vi tôi đều chỉ thấy cành lá, ngọn, không thấy gốc. Đến giờ phút này tôi vẫn chỉ thấy thuyết trên đây giải thích cái lý của cặp Âm Dương hợp lý hơn hết, chưa kể là nó thỏa tính tất yếu, một tính tối quan trọng của mọi công trình khoa học.

Chú thích tại chỗ: Tôi đã từng đọc thấy rải rác trên các mạng vài vị phê bình cái lý của cặp Âm Dương do ông Trị đề xướng. Vấn đề là các lời phê bình này đều có tính đại khái, không đưa lập luận. Vì đang khảo sát vấn đề trên nền tảng khoa học, tôi buộc lòng phải coi đây là những lời phê bình cho vui, có tính trà dư tửu hậu.

Các vị nào cho rằng thuyết về cặp Âm Dương của ông Trị sai tôi đề nghị các vị ấy ghi rõ lập luận của mình ra. Các vị nào có sẵn thuyết về cặp Âm Dương tôi đề nghị tự nhìn lại thuyết của mình, xem có nền tảng khoa học gì không, trước khi làm chuyện phê bình.

Còn các vị nào bất chấp khoa học thì xin cứ tiếp tục giữ quan điểm. Tôi xin dĩ hòa vi quý và không bàn đến tử vi với các vị ấy.

VÌ ĐÂU DÁM NÓI THUYẾT CỦA ÔNG TẠ PHỒN TRỊ KHOA HỌC HƠN CÁC THUYẾT KHÁC

Tính “giản dị” của dịch lý, khoa học và bài toán Tử Vi

Cặp Âm Dương cũng như gia vị A cho cái nồi nước Tử Vi mùi vị đầu tiên của nó. Trước khi làm việc trung hòa gia vị A ta cần xét lại xem còn có đặc điểm quan trọng nào của thiên nhiên mà cặp Âm Dương không phản ảnh được hay không. Kiểm soát lại ta sẽ thấy đó là mùa màng trên trái đất. Thí dụ tháng 2 là tiết xuân phân trời đất thái hòa tươi đẹp, hoàn cảnh của Âm Dương là Âm (tháng) cư Mão, Dương (giờ) cư Hợi. Giờ Hợi của tháng 2 thái hòa chẳng thấy đẹp đẽ ở chỗ nào cả.

Bởi thế phải thêm sao để phản ảnh đúng đắn mùa màng trên trái đất. Luật thêm sao phải có tính khoa học, tức là phải có tính giản dị.

Có độc giả sẽ thắc mắc tại sao lại có điều kiện “giản dị” kỳ cục này. Đây là một vấn đề có tính triết lý hết sức lý thú. Luận về dịch, ta đã nghe “dịch có ba nghĩa: Biến dịch, bất dịch, và giản dịch”. Biến dịch thì chính là ý nghĩa cơ bản của dịch nên không cần nói đến. Bất dịch đây có nghĩa là sự biến đổi (dịch) không phải tùy hứng mà phải theo những quy luật bất biến (tức là có tính khoa học).

Riêng về “giản dịch” thì tôi chưa thấy sách nào luận cả (chỉ đưa ý nghĩa là “phải giản dị” mới đúng), nên nhân đây lạm bàn. Nguyên “dịch” và “dị” chữ Hán viết y hệt nhau, nên “giản dịch” chính là “giản dị”. Tại sao “giản dị” lại dính líu đến dịch? Có lẽ cách diễn giải hay nhất là mượn một tư triết lý tương đồng của tây phương, gọi là “dao cạo Occam”. Triết lý “dao cạo Occam” nói rằng khi lập thuyết, nếu phải chọn giữa vài ba thuyết cùng giải thích được một vấn đề thì thuyết nên chọn phải là thuyết giản dị nhất. Nhìn từ một mặt khác, nếu lời giải thích của ta cho một vấn đề quá rắc rối thì có xác xuất cao là lời giải thích ấy sai. Trong phạm vi của bài viết này tôi sẽ không luận tới cái lý đằng sau “dao cạo Occam”, chỉ nhấn mạnh rằng nó đã trở thành một khuôn vàng thước ngọc cho khoa học tây phương.

Tôi cho rằng đây chính là ý nghĩa của hai chữ “giản dị” trong dịch lý.

Tuân theo khuôn vàng thước ngọc “giản dị” ta sẽ tìm cách giản dị nhất để phản ảnh mùa màng trên trái đất, rồi sẽ tính sau.

Dùng lý “giản dị” để thêm cặp sao Tử Phủ

Lý “giản dị” cộng với hoàn cảnh sẵn có (cặp Âm Dương) dẫn đến sự hình thành của cặp sao Tử Phủ. Cặp này thỏa tính giản dị vì chỉ cần nhìn tính tụ tán của chúng ta biết ngay khí hậu lúc nào thái hòa, lúc nào khắc nghiệt. Tức là chúng giúp ta diễn tả hoàn cảnh của địa cầu.

Cái lý chi tiết dẫn đến cặp Tử Phủ dĩ nhiên dài dòng hơn thế nhiều, nhưng ở đây tôi chỉ chú trọng đến tính tất yếu có tính cơ sở của khoa Tử Vi, nên sẽ không vào chi tiết.

Cần nói rằng lý “giản dị” trên đây của cặp Tử Phủ là do tôi đề xướng, vì ông Trị cho rằng cặp Tử Phủ ứng với hai sao Phá Quân (trong chòm Bắc Đẩu) và Long Đầu. (Tôi đã phê bình ý kiến này của ông Trị trong một bài trước đây, nên không lập lại).

Dùng lý “giản dị” và “quân bình” để thêm 10 chính tinh còn lại

Thế nhưng thêm cặp Tử Phủ rồi vẫn không ổn lắm vì nếu xét toàn thể địa bàn thì hoàn cảnh thái hòa của tháng 2 (xuân phân) và tháng 8 (thu phân) không thấy khác gì cảnh cực đoan của tháng 5 (hạ chí) và tháng 11 (đông chí).
Cách giải quyết giản dị nhất là thêm một số sao để cho:

1-Tháng 2 và tháng 8 mọi cung đều có sao, phản ảnh cảnh bình hòa của trái đất.
2-Tháng 5 và tháng 11 số cung có hai sao và không sao đạt mức tối đa, phản ảnh cảnh cực đoan của trái đất.

Xem lại tháng 2 (tức Thái Âm cư Mão) thấy còn 9 cung trống. Vì đòi hỏi âm dương số sao thêm phải chẵn, tức phải là 10, 12, 14 v.v… Vì đòi hỏi giản dị phải chọn 10. Tổng số chính tinh do đó là 4+10=14.

Vậy là giải thích được tại sao có 14 chính tinh một cách hết sức giản dị, chẳng cần phải mượn câu này câu nọ của “thánh nhân” hoặc đưa ra một lý do mơ hồ nào đó để rồi tranh cãi chẳng bao giờ chấm dứt.
Còn tại sao chùm Tử Vi có 6 sao, chùm Thiên Phủ có 8 sao, tại sao sao X ở trong chùm Tử Vi, sao Y trong chùm Thiên Phủ v.v… đều là những kết quả tất yếu có thể suy ra được từ lý âm dương và hai điều kiện kể trên. Ở đây chỉ bàn cái cơ sở của khoa Tử Vi, nên không nói đến.

Tự trong nội bộ 14 chính tinh phải thỏa lý “toàn không”, đây là một mấu chốt quan trọng của bài toán Tử Vi. Phối hợp mấu chốt này với tính xung hợp của địa bàn (không luận trong loạt bài này) thì có thể suy ra tính đối đãi của một số sao, tức là đạt được bước đầu trong việc xác định cá tính của 14 chính tinh.

Nhưng bước đầu ấy không đủ để xác định cá tính của 14 chính tinh.

Bước tiến quan trọng kế tiếp của bài toán Tử Vi là luận ra sự hiện hữu của tứ Hóa.

VÌ ĐÂU DÁM NÓI THUYẾT CỦA ÔNG TẠ PHỒN TRỊ KHOA HỌC HƠN CÁC THUYẾT KHÁC (tiếp theo)

Ý nghĩa của 14 chính tinh từ đâu ra?

Nguồn gốc của chính tinh có rất nhiều thuyết. Cá nhân tôi cho là đa số các thuyết này có tính “ráp nối” tức là được thiết lập một cách tùy hứng, nhưng dĩ nhiên người tin thuyết X phải cho thuyết X là đúng. Từ trước đến nay khuynh hướng chung là nhìn Tử Vi bằng con mắt huyền học nên không có tiêu chuẩn nào rõ rệt để biết thuyết nào đúng hay sai thành ra chỉ có cách là mỗi người giữ ý của riêng mình.

Nhưng một khi nhìn vấn đề bằng con mắt khoa học thì sẽ nhận ra điểm chung của các thuyết này là chúng không có manh mối rõ rệt nào có thể giúp ta suy ra tính chất của 14 chính tinh.

Giả như hỏi:

-Tại sao Tử Vi là sao tôn quý nhất, mà không phải là Liêm Trinh, Vũ Khúc, Phá Quân v.v…
-Tại sao Cự Môn là ám tinh?
-Tại sao Tham Lang là sao chính đào hoa?
-Tại sao Thiên Lương có tính “thày đời”?

v.v… và nhiều tính chất khác của 14 chính tinh được ghi rõ trong sách vở thì tôi cho là các thuyết ấy sẽ đều không trả lời được.

“Trả lời được” ở đây phải hiểu theo nghĩa nhất quán, bởi có rất nhiều thuyết giải thích được một vài điểm nên mới thịnh hành; vấn đề là có giải thích được một số phần trăm đáng kể, như 80, 90% các điểm hay không?Nếu độc giả nào biết một thuyết -ngoài thuyết của ông Trị- giải thích được một số phần trăm đáng kể các tính chất của 14 chính tinh thì xin cho tôi biết vì đó quả là một cơ hội học hỏi, mở mắt cho tôi.

Một trong những ưu điểm lớn mà tôi nhận thấy trong thuyết của ông Tạ Phồn Trị là ta có thể nương theo nó để suy ra tính chất của 14 chính tinh một cách thứ tự lớp lang, tức là “có khoa học”.

Tự trong nội bộ 14 chính tinh phải thỏa lý “toàn không”, đây là một mấu chốt quan trọng của bài toán Tử Vi. Phối hợp mấu chốt này với tính xung hợp của địa bàn (không luận trong loạt bài này) thì có thể suy ra tính đối đãi của một số sao, tức là đạt được bước đầu trong việc xác định cá tính của 14 chính tinh.

Nhưng bước đầu ấy không đủ để xác định cá tính của 14 chính tinh vì nó chỉ là… bước đầu. Phương pháp của Tử Vi (mà tôi tình cờ tái khám phá ra) là cứ mỗi lần thêm một bài toán là mỗi lần xét lại lý toàn không, một lần tìm thêm ra một vài tính chất của chính tinh. Nói theo toán học, chính tinh giữ vai trò của những yếu tố điều chỉnh (optimization factors) trong bài toán tử vi cốt cho lý “toàn không” được thỏa. Giải xong hết các con toán cần thiết của Tử Vi rồi thì thấy đủ mọi mặt của các yếu tố điều chỉnh, tức là định được mọi đặc tính của 14 chính tinh như chúng ta đã biết.

Đi vào thực tế, từ cách hình thành ta đã thấy:

1. Bốn sao Âm Dương Tử Phủ (được đặt ra để phản ảnh vũ trụ và hoàn cảnh của địa cầu) phải khác với 10 sao còn lại (được đặt ra để lý quân bình đưọc thỏa).
2. Tử Phủ có liên hệ thực tế rõ rệt (dễ thấy) với hoàn cảnh nhìn thấy trên mặt đất, trong khi Âm Dương có liên hệ (khó thấy) với phần vũ trụ bên ngoài trái đất.
Từ đó có thể suy diễn ra một số tính chất đã biết của 14 chính tinh (và chính là lý do tại sao tôi dám nói Âm Dương Tử Phủ là bốn đế tinh, Tử Phủ lãnh đạo nhóm sao động, Âm Dương lãnh đạo nhóm sao tĩnh).
Từ các luật nhị hợp lục hại, liên hệ hợp xung trên địa bàn v.v… lại suy thêm một số tính chất nữa.
Một số tính chất quan trọng của chính tinh được suy ra từ bài toán kế tiếp, đó là bài toán tứ Hóa.

VÌ ĐÂU DÁM NÓI THUYẾT CỦA ÔNG TẠ PHỒN TRỊ KHOA HỌC HƠN CÁC THUYẾT KHÁC

Tại sao tứ Hóa được định bằng can năm? Tứ Hóa có tác dụng gì?

Xem lại các yếu tố được dùng để xác định vị trí 14 chính tinh ta thấy:

-Tháng và giờ (dùng để xác định vị trí cung mệnh, tức là địa chi của cung mệnh, trên địa bàn).
-Can của các tháng (dùng để xác định can của cung mệnh, rồi phối hợp với chi cung mệnh cho ngũ hành nạp âm, suy ra cục số).
-Ngày sinh (phối hợp với cục số để định vị trí sao Tử Vi).

Tóm lại, thấy có can tháng, chi tháng, ngày, giờ. Tức là mọi yếu tố liên hệ đến tháng ngày giờ đều được xử dụng cả, nhưng yếu tố năm thì hoàn toàn vắng bóng.

Đây là một sự tình cờ hay là hữu ý? Tôi cho rằng hoàn toàn hữu ý. Rõ ràng hơn, tôi cho rằng bài toán Tử Vi được phân ra làm hai vế, một vế lá “ta”, một vế là “ngoại cảnh”. Vế “ta” gồm tháng, ngày, giờ, vế “ngoại cảnh” chỉ có năm mà thôi.

Tôi sẽ trở lại vấn đề này trong một dịp khác. Ở đây chỉ muốn đưa ra luận đề, để có thể tiếp tục đi tới sau khi đã có 14 chính tinh. Theo luận đề này (mà tôi đề nghị) thì 14 chính tinh đại biểu “ta”, sự kiện này chỉ ghi ra cho đầy đủ bởi nó chẳng có gì mới lạ (có lẽ bất cứ ai mới nghiên cứu Tử Vi cũng đều có cảm tưởng rằng quả nhiên trong khoa Tử Vi các chính tinh chính là đại biểu của “ta”).

“Phân biệt” là mục đích của mọi ngành khoa học. Nói nôm na, “phân biệt” là xác định sự khác biệt. Như khi khảo sát hai thực thể, người nghiên cứu sẽ tức thì đặt câu hỏi “chúng giống nhau ở điểm gì? khác nhau ở điểm gì?” Khi khảo sát hai thực thể có vẻ giống nhau, người nghiên cứu phải hỏi “chúng có thật giống nhau không, chúng có điểm nào khác nhau không?”

Nhìn lại các yếu tố xác định 14 chính tinh, câu hỏi của ta là khoa Tử Vi đã phân biệt đến tận cùng hay chưa. Câu trả lời là chưa vì cùng can tháng, chi tháng, ngày, giờ có thể có hai năm khác nhau.

-Tháng khởi ở Giáp Dần có thể là năm Quý hoặc năm Mậu.
-Tháng khởi ở Bính Dần có thể là năm Giáp hoặc năm Kỷ.
-Tháng khởi ở Mậu Dần có thể là năm Ất hoặc năm Canh.
-Tháng khởi ở Canh Dần có thể là năm Bính hoặc năm Tân.
-Tháng khởi ở Nhâm Dần có thể là năm Đinh hoặc năm Nhâm.

Có thể thấy rằng, nhu cầu phân biệt bắt ta phải thêm tác dụng của can năm vào khi khảo sát các chính tinh. Nói cách khác, bước kế tiếp của ta là phải tìm cách nào đó phối hợp can năm với các chính tinh. Vì vị trí chính tinh đều đã định rồi nên can năm chỉ có thể phối hợp với tính chất của chính tinh. Suy ra can năm phải có tác dụng trên tính chất của chính tinh, nói cách khác can năm có tác dụng thay đổi tính chất của chính tinh.

Đó là lý luận sơ khởi dẫn đến bài toán tứ Hóa. Nó cho ta hai kết quả sơ khởi: Một là tứ Hóa phải được định bằng can năm; hai là tứ Hóa có tác dụng thay đổi tính chất của chính tinh.

Kết quả thứ nhất trước nay chúng ta chỉ nhắm mắt xử dụng, nhưng bây giờ thì chúng ta đã tái khám phá ra cái gốc khoa học của nó, tức là chúng ta hiểu tại sao tứ Hóa phải an bằng can năm, mà không thể bằng chi năm, can tháng, chi tháng v.v…

Kết quả thứ hai thì có phần “bất thường” so với lối xem Tử Vi truyền thống của đa số các thầy người Việt, theo đó tứ Hóa là bốn sao quan trọng, nhưng không có gì đặc biệt hơn các sao khác. Kết quả thứ hai đòi hỏi ta phải điều chỉnh lại cách xem này, vì tứ Hóa không chỉ giản dị là bốn sao đóng cùng cung với chính tinh, mà là bốn yếu tố phản ảnh sự đổi thay tính chất của chính tinh, nên không thể tách rời ra khỏi chính tinh được.

(Mỗi làng Tử Vi có ưu khuyết điểm khác nhau, nhưng riêng về cách xem tứ Hóa ưu điểm phải về tay các làng tử vi ngoài Việt Nam, vì họ đã nhìn ra rằng tứ Hóa là một phần bất khả phân của các chính tinh).

VÌ ĐÂU DÁM NÓI THUYẾT CỦA ÔNG TẠ PHỒN TRỊ KHOA HỌC HƠN CÁC THUYẾT KHÁC

Tại sao là tứ Hóa?

Đồng ý là cần thêm yếu tố của can năm vào bài toán chính tinh, đồng ý là can năm có tác dụng thay đổi tính chất của chính tinh ta vẫn có thể hỏi “Nhưng tại sao lại là tứ hóa, tại sao không là bát Hóa, thập Hóa, thập nhị Hóa, hoặc thập tứ Hóa v.v…?” Câu hỏi này quan trọng, vì nếu 4 hóa không phải là câu trả lời hợp lý duy nhất, thì tử vi vẫn có vấn đề trầm trọng khi nhìn dưới nhãn quan khoa học.

Tôi sẽ trở lại câu hỏi này sau.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tử Vi hoàn toàn khoa học

Khổng Tử răn 5 điều có sức mạnh lấn át phong thủy

Phong thủy nhà đẹp thì người trong nhà hưởng phúc là suy nghĩ của hầu hết tất cả mọi người. Nhưng, theo Khổng Tử, có 5 điều mạnh hơn phong thủy, làm sai thì lụn bại mà làm tốt thì thịnh hưng.
Khổng Tử răn 5 điều có sức mạnh lấn át phong thủy

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

1. Làm điều ác, thu lợi từ việc hãm hại người khác là điều gây họa mà phong thủy tốt cũng không tránh được. Khổng Tử răn rằng, hôm nay hại người ắt mai người sẽ hại lại, bằng không, của bất chính không bền lâu, người bất nhân không hưởng thọ.

2. Không chăm lo, hiếu kính đúng mực với người lớn tuổi. Trưởng bối là cội rễ, lưu truyền gia phong, nếp nhà. Nhà không có cội như cây không có rễ, sớm ngày tàn lụi.

3. Suy rộng ra, một quốc gia là một gia đình lớn, quốc gia mà kẻ vô đạo lên nắm quyền, người gian ác được trọng dụng hơn hiền tài thì ắt đi vào diệt vong. Trí tuệ và đức độ là điều mạnh hơn phong thủy. Mỗi quốc gia đều lựa chọn kinh đô hoặc những công trình kiến trúc bề thế ở vị trí đắc địa, đẹp về phong thủy. Nhưng phong thủy tốt mà chính quyền không tốt, thì không thể phát triển hưng thịnh.

4. Văn hóa dân tộc là nền móng quốc gia. Văn hóa vững thì quốc gia mạnh, văn hóa yếu thì quốc gia suy đồi. Người già biết làm gương, con trẻ biết học hỏi, ấy là phúc phần mà không phong thủy nào có thể mang lại. Nhược bằng ngược lại thì phong thủy hay cũng chẳng để làm gì.

5. Lời răn về phong thủy của Khổng Tử còn mở rộng ra, mỗi quốc gia như một gia đình trong thế giới rộng lớn. Người có đạo đức, trí tuệ và tâm huyết bị thay thế bởi những kể tham lam, vô độ, tàn bạo trong những vị trí chủ chốt, thì thế giới đi vào con đường lầm lạc. Thế giới lầm lạc thì quốc gia chịu ảnh hưởng, gia đình chịu họa lây.

Vì thế, phúc phận, điều hay tốt của một gia đình, một quốc gia, cả thế giới không gói gọn trong phong thủy, hướng nhà, cuộc đất mà là đức nghiệp được gây dựng sâu xa. Như câu “đức năng thắng số” là vậy. Người đức độ, kẻ hiền lương, thì địa thế xấu đến đâu cũng ắt thành đại nghiệp.   Theo Qtcs

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Khổng Tử răn 5 điều có sức mạnh lấn át phong thủy

Ý nghĩa Hổ phong thủy –

Do hổ bản thân có những phục khí mạnh mẽ và năng lực bộc phát, cho nên nếu cần phải vận dụng chỗ đặt phong thủy, trừ phi là những người trong nghề nghiệp có khí thế đặc biệt hoặc phong cách. Giống như những nhân viên cảnh sát hoặc quân đội, là người

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

có quyền thế cao, mới có thể có linh động hổ ứng tương đương.

nhung-cam-ky-khi-bai-tri-ho-trong-nha-1

Từ góc độ phong thủy mà nói, hổ được qúy là con thú hung, chính vì vậy thông thường đều không đặt trong nhà những người binh dân, nếu lấy hổ để bày đặt trong nhà, dễ dẫn đến gia đình xảy ra những việc ngoài ý muốn hoặc cãi cọ không yên. Giống như các nhà kinh doanh cũng tốt nhất không nên treo những bức tranh hoặc đồ vật có liên quan đến hổ, bởi vì đối với khách hàng mà nói, khi đã bắt được hổ có con mắt dữ , hung tợn sẻ khiến cho người ta sợ hãi mà không dám đi vào, ứng với đó là ảnh hưởng không tốt đến việc làm ăn. Nếu trong phòng làm việc có bày đặt tượng hổ, sẽ sinh ra khoảng cách với mọi người, đem lại cảm giác áp lực một cách vô hình với người xung quanh, đồng nghiệp sợ bị hạn dẫm vào chân, cấp trên sợ bị phạm sai lầm, cho nên nếu thật sự muốn bày đặt, không nên đặt ở những nơi dễ đập vào mắt mọi người.

Nếu trong nhà thực sự cần bày đặt hổ, đặt buồng ngủ đối thẳng với cửa chính của phòng lớn là điều cấm kỵ nhất (đặc biệt là phòng ngủ của vợ chổng). Nếu đặt trong phòng ngủ sẽ khiến cho vợ chồng bất cứ lúc nào bất cứ nơi đâu cũng trong cảnh bất an, hơn nữa tình cảm sẽ ngày càng giảm sút. Nếu đối thẳng với cửa phòng lớn, thì sẽ ảnh hưởng đến hàng xóm và khách khứa tới thăm, khiến lòng người bất an.

Mặc dù theo quan điểm ohong thủy, Hổ là con thú hung, có điều hổ cũng lã một hộ vệ đắc lực. Đối với một số người có tài thế lớn và quyền khí mạnh mẽ mà nói, rất thích bày đặt hổ phong thủy. Những người này phần lớn lợi ích là ưu tiên hàng đầu, không quan tâm đến tình nghĩa. Chính vì vậy trừ phi bàn thân khí thế của bạn của mạnh mẽ, nếu không thì khó chiếm được lợi mà chỉ có hại nhiều.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Ý nghĩa Hổ phong thủy –
Click to listen highlighted text! Powered By DVMS co.,ltd