Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,...   Click to listen highlighted text! Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,... Powered By DVMS co.,ltd
Kính mời quý khách like fanpage ủng hộ Vạn Sự !

Vạn Sự

Hướng bếp hợp người sinh năm 1958 Mậu Tuất –

Hướng bếp hợp người sinh năm 1958: Năm sinh dương lịch: 1958 - Năm sinh âm lịch: Mậu Tuất - Quẻ mệnh: Càn Kim - Ngũ hành: Bình Địa Mộc (Gỗ đồng bằng) - Thuộc Tây Tứ Mệnh, nhà hướng Bắc, thuộc Đông Tứ Trạch - Hướng tốt: Tây Bắc (Phục Vị); Đông Bắc (Th

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Hướng bếp hợp người sinh năm 1958:

k

Năm sinh dương lịch: 1958

– Năm sinh âm lịch: Mậu Tuất

– Quẻ mệnh: Càn Kim

– Ngũ hành: Bình Địa Mộc (Gỗ đồng bằng)

– Thuộc Tây Tứ Mệnh, nhà hướng Bắc, thuộc Đông Tứ Trạch

– Hướng tốt: Tây Bắc (Phục Vị); Đông Bắc (Thiên Y); Tây Nam (Diên Niên); Tây (Sinh Khí);

– Hướng xấu: Bắc (Lục Sát); Đông (Ngũ Quỷ); Đông Nam (Hoạ Hại); Nam (Tuyệt Mệnh);


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Hướng bếp hợp người sinh năm 1958 Mậu Tuất –

Đọc vị tính cách của bạn qua nếp nhăn trên trán

Nếp nhăn trên trán không đơn thuần là biểu hiện của tuổi già, nó còn tiết lộ phần nào tính cách và cuộc đời mỗi con người.
Đọc vị tính cách của bạn qua nếp nhăn trên trán

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

 


► Lịch ngày tốt cung cấp công cụ xem tử vi, xem tướng các bộ phận cơ thể đoán vận mệnh chuẩn xác

1. Trên trán có 3 nếp nhăn ngang có độ dài tương đương nhau   Nếu trên trán đột nhiên xuất hiện 3 nếp nhăn trên trán ngang có độ dài tương tự nhau, đây là dấu hiệu cho thấy chủ nhân là người coi trọng tình nghĩa, lối sống lí trí, công tâm, dám làm dám chịu, được nhiều người yêu mến và giao phó trọng trách.   Ngoài ra, vận thế của người này khá tốt, công danh sự nghiệp thành đạt. Chỉ cần tiết chế cảm xúc bản thân thì mọi việc thuận buồm xuôi gió, là chỗ dựa tinh thần cho người thân, bạn bè xung quanh.

Doc vi tinh cach cua ban qua nep nhan tren tran hinh anh
Đọc vị tính cách của bạn qua nếp nhăn trên trán

2. Trên trán có 3 nếp nhăn ngang có đội dài không bằng nhau   Trong Nhân tướng học, nếp nhăn phía trên cùng (sát với chân tóc) được gọi là Thiên văn. Nếp nhăn này càng dài thì chứng tỏ chủ nhân càng có tài làm lãnh đạo, lời nói đầy sức thuyết phục. Nếp nhăn ở giữa gọi là Nhân văn, đường vân này càng dài chứng tỏ nhân duyên càng tốt đẹp.

Nếp nhăn ở phía dưới cùng (gần với lông mày nhất) gọi là Địa văn. Địa văn dài thì người này nhận được sự quan tâm, chăm sóc chu đáo của người nhà, con cái sau này đều hiếu thuận.
  3. Trên trán có 2 nếp nhăn dọc   Nếu cả 2 nếp nhăn này đều nhô cao, tức nằm gần phần chân tóc, chứng tỏ người này không có tinh thần trách nhiệm đối với gia đình, sau con cháu bất hiếu, không phụng dưỡng cha mẹ tuổi già.

Trường hợp 2 nếp nhăn nằm gần lông mày, đây là người không có thái độ tích cực trong công việc và thiếu sự hiếu thuận với cha mẹ.
  4. Trên trán có 1 nếp nhăn dọc   Nếu nếp nhăn trên trán dọc này nằm ở giữa trán, điều này có nghĩa đây là người không thích dựa dẫm vào người khác, tự tin vào bản thân và có thể tay trắng dựng cơ đồ.   5. Nếp nhăn trên trán bị đứt đoạn   Chủ nhân của kiểu nếp nhăn này có tính cách nóng lạnh thất thường, thông thường sẽ đi theo hai hướng cực đoan, một tốt một xấu chứ không có chuyện hài hòa ở giữa, lẫn lộn giữa tốt và xấu.    Công việc của người này bất ổn, nay đây mai đó, liên tục thay đổi chỗ làm. Tuy nhiên, đến hậu vận thì chuyển biến tích cực hơn, số mệnh thuộc hàng khổ tận cam lai (khổ trước sướng sau).   6. Trên trán có nếp nhăn hình chữ Vương   Đặc điểm dễ nhận thấy của nếp nhăn này là có 3 đường vân ngang song song nhau và 1 đường vân dọc chạy xuyên qua các đường vân ngang tạo thành chữ Vương (王). Nếu các đường vân không rối loạn mà nhìn ra chữ Vương rõ ràng thì đây là quý tướng.    Nếu ngũ quan đều tốt, không khuyết hãm thì người này có phong thái của lãnh đạo, vận thế tốt đẹp, được hưởng cuộc sống giàu sang, phú quý. Nếu là nữ giới thì nhan sắc tuyệt trần, được nhiều người mến mộ.
7. Trên trán nhiều nếp nhăn rối ren, không thuộc những trường hợp trên   Người có nếp nhăn trên trán kiểu này thường không biết cách kiểm soát cảm xúc, làm việc thiếu kiên nhẫn và không có kế hoạch cụ thể. Hơn thế, người này không có chí tiến thủ nên cả đời khó làm nên nghiệp lớn.    An Khánh (Theo YJ95)  
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Đọc vị tính cách của bạn qua nếp nhăn trên trán

Coi tướng lông mày của người phụ nữ quyền lực - Nhân tướng - Xem Tử Vi

Coi tướng lông mày của người phụ nữ quyền lực, Nhân tướng, Xem Tử Vi, xem bói, xem tử vi Coi tướng lông mày của người phụ nữ quyền lực, tu vi Coi tướng lông mày của người phụ nữ quyền lực, tu vi Nhân tướng

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Coi tướng lông mày của người phụ nữ quyền lực

Sở hữu tướng lông mày này, phụ nữ có thể nắm quyền lực lớn trong tay, có số làm lãnh đạo và khá phù hợp với con đường chính trị. 1. Quyền lực - Các góc lông mày tạo thành hình chữ V

Nữ giới sở hữu tướng lông mày mà ba phần lông mày (đầu, giữa và cuối) cùng với cánh mũi tạo thành các góc có hình chữ V luôn biết cách kiểm soát được ý nghĩ và hành động của bản thân. Người này có tư duy rạch ròi, yêu ghét rõ ràng nhưng vẫn có sự mềm mỏng, khéo léo của.   Người  này rất tận tâm trong công việc, khi đã đảm nhận việc nào đó, họ làm tới nơi tới chốn và có tinh thần trách nhiệm cao. Bên cạnh đó họ rất kiên định, phải có sự giải thích hợp lý, vì mục đích chung may ra mới thay đổi được quyết định của người phụ nữ này. Ngoài ra, người này khá giỏi giao tiếp, ăn nói dễ nghe nên được lòng của đông đảo mọi người.
Coi tuong long may cua nguoi phu nu quyen luc hinh anh
Ảnh minh họa
  2. Tham vọng - Hai đầu mày cách xa nhau   Khu vực nằm giữa hai đầu lông mày được gọi là Ấn đường, cho biết vận thế mỗi người. Khoảng cách giữa hai đầu lông mày được đo bằng bề rộng của hai đầu ngón tay, lí tưởng nhất là bằng một ngón tay rưỡi, nếu nhỏ hơn hoặc lớn hơn đều không tốt.   Theo Nhân tướng học, không chỉ nữ giới mà cả đàn ông nếu sở hữu hai đầu lông mày xa nhau thường rất tham vọng. Đặc biệt, phụ nữ dễ thành đạt trong sự nghiệp và thích hợp đi theo con đường chính trị. 
Coi tuong long may cua nguoi phu nu quyen luc hinh anh 2
Ảnh minh họa
  3. Chí khí mạnh mẽ - Đuôi lông mày hướng lên phía trên   Phụ nữ có tướng lông mày này tính tình thẳng thắn, chí khí, mạnh mẽ và vô cùng quyết đoán trong công việc. Họ thích phưu lưu, mạo hiểm nhưng mắc phải nhược điểm là dễ bị kích động, khó giữ được thái độ bình tĩnh trong những tình huống cấp bách. Thông thường đây cũng là tướng phụ nữ quyền lực.   4. Gia trưởng – Lông mày thưa và to Chủ nhân sở hữu cặp lông mày thưa mà lại to thường có cá tính mạnh và có số làm lãnh đạo hoặc nắm quyền lực lớn trong tay. Người này có lập trường vững vàng, làm việc đến nơi đến chốn, không chịu đầu hàng trước những thử thách. Ngoài ra, họ khó tính, gia trưởng, muốn nắm quyền hành trong gia đình nhưng lại vô cùng chung thủy trong tình yêu, trở thành “đối tác” tin cậy của chồng. 

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Coi tướng lông mày của người phụ nữ quyền lực - Nhân tướng - Xem Tử Vi

Đền Bạch Mã - Hà Nội

Đền Bạch Mã là một trong tứ Trấn của kinh thành Thăng Long xưa, gồm bốn ngôi đền: Đền Quán Thánh; Đền Kim Liên; Đền Voi Phục; Đền Bạch Mã
Đền Bạch Mã - Hà Nội

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Đền Bạch Mã tọa lạc ở địa chỉ 76 phố Hàng Buồm, phường Hàng Buồm, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Đền Bạch Mã là một trong tứ Trấn của kinh thành Thăng Long xưa, gồm bốn ngôi đền: Đền Quán Thánh (trấn giữ phía Bắc kinh thành); Đền Kim Liên (trấn giữ phía Nam kinh thành); Đền Voi Phục (trấn giữ phía Tây kinh thành); Đền Bạch Mã (trấn giữ phía Đông kinh thành).

Đền Bạch Mã được xây dựng từ thế kỷ 9 để thờ thần Long Đỗ (Rốn Rồng)- vị thần gốc của Hà Nội cổ. Năm 1010, khi Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long, định đắp thành nhưng nhiều lần thành đắp lên lại bị sụp đổ. Vua cho người cầu khấn ở đền thờ thần Long Đỗ thì thấy một con ngựa trắng từ đền đi ra. Vua lần theo vết chân ngựa, vẽ đồ án xây thành, thành mới đứng vững. Thần được vua Lý Thái Tổ phong làm Thành hoàng của kinh thành Thăng Long.

Văn bia hiện còn ở đền cho biết, đền Bạch Mã được tu bổ lớn vào niên hiệu Chính Hòa (1680-1705) đời Lê Hy Tông, đến năm Minh Mệnh thứ 20 (1839) lại được tu bổ thêm: sửa lại đền, dựng riêng văn chỉ, xây Phương đình, quy mô ngày càng rộng rãi, cảnh quan tôn nghiêm, nổi tiếng ở chốn đất thiêng.

Kiến Trúc: Hiện tại ngôi đền có qui mô kiến trúc lớn, quay theo hướng Nam gồm có Nghi môn, Phương đình, Đại bái, Thiêu hương, Cung cấm và nhà hội đồng ở phía sau. Các mục hạng này được bố trí theo chiều dọc, trong một không gian khép kín.

Kiến trúc đền còn lưu lại hiện nay chủ yếu mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn (thế kỷ 19). Nổi bật trong kết cấu kiến trúc của đền là toàn bộ khung nhà gỗ với hệ thống cột gỗ lim lớn, các bộ vì đỡ mái được làm kiểu “giá chiêng chồng rường con nhị”, đặc biệt là “hệ củng 3 phương” tại nhà phương đình vừa có tác dụng chịu lực, vừa là tác phẩm nghệ thuật và sử dụng để treo đèn trong các ngày lễ hội và kết cấu “vòm vỏ cua” đỡ mái hiên nhà thiêu hương. Trên các cốn gỗ, xà lách, xà ngang, các vì chồng rường đều có nhiều mảng trang trí với các đề tài phong phú và nét trạm chắc, khỏe.

Trong nội thất của đền, phương đình ở phía trong, bên trái có cây hương, bàn thờ, phía ngoài có miếu thờ Tề Vương Phi, bên phải phương đình thờ Bể Núi. Thiêu hương và cung cấm có ban thờ và đồ tế lễ.

Hiện đền còn lưu giữ nhiều di vật cổ có giá trị như: bia đá, sắc phong, kiệu thờ, hạc thờ, đôi phỗng, Cùng với các giá trị về kiến trúc nghệ thuật, di tích đền Bạch Mã là một nguồn tư liệu quí để nghiên cứu, tìm hiểu Thăng Long-Hà Nội về nhiều mặt. Có hơn một nghìn năm lịch sử, Đền Bạch Mã là một trong những di tích kiến trúc nghệ thuật tiêu biểu của thủ đô Hà Nội.

Đền Bạch Mã liên tục tiếp đón các du khách trong và ngoài nước đến viếng, tìm hiểu về một trong những di tích lịch sử văn hóa của Thăng Long-Hà Nội, nơi có vị thần Long Đỗ Thành hoàng quốc đô Thăng Long ngự trị, đã và đang phù trợ cho nhân dân.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Đền Bạch Mã - Hà Nội

Chùa Phúc Khánh - Hà Nội

Chùa Phúc Khánh có tên gọi khác là Chùa Sở. Chùa Sở được coi là nơi linh thiêng thu hút hàng vạn tín đồ phật giáo về cầu an, giải hạn mỗi năm
Chùa Phúc Khánh - Hà Nội

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Chùa Phúc Khánh nằm tại số 382 phố Tây Sơn, phường Thịnh Quang, quận Đống Đa, TP. Hà Nội. Chùa được Đại đức Thích Minh Định (Thanh Quyết) trụ trì.

Chùa Phúc Khánh có tên gọi khác là Chùa Sở. Chùa Sở được coi là nơi linh thiêng thu hút hàng vạn tín đồ phật giáo về cầu an, giải hạn mỗi năm. Chùa thuộc hệ phái Bắc tông. Chùa đã được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận là Di tích lịch sử – văn hóa quốc gia năm 1988.

Chùa được dựng vào thời Hậu Lê. Vào thời Lê, chùa là cơ sở đào tạo tăng tài cho Phật giáo. Sau đó gặp hỏa hoạn bị hư hỏng hoàn toàn. Có tài liệu cho chùa nằm trong khu vực diễn ra trận đánh Đống Đa năm 1789 nên bị đổ nát, sau được nhà sư Chiếu Liên xây dựng lại với sự hổ trợ của Đô đốc Trần Văn Lễ (thời Tây Sơn) đã từng ém quân ở chùa. Ông còn cho đúc quả đại hồng chung và pho tượng Cửu Long cúng chùa.

Chùa qua nhiều lần trùng tu, xây dựng vào các năm 1853, 1921, 1932, 1935, 1940, 1993, 1996, 1998. Đặc biệt, năm 1940, Hòa thượng trụ trì Thích Trung Thứ đã cho kiến thiết ngôi chùa, làm cơ sở đào tạo tăng tài, điểm An cư kiết hạ hàng năm của chư Tăng.

Năm 1950, dân làng đã góp công góp của xây dựng ngôi chùa ngày nay. Điện Phật được bài trí tôn nghiêm. ở đây có 20 pho tượng có giá trị nghệ thuật cao. Chùa có 21 tấm bia đá, tấm cổ nhất là năm 1698; 3 đại hồng chung, chuông cổ nhất đúc năm 1796; 14 bộ bao lam (cửa võng) và các đồ thờ khác như bát hương đồng, long ngai, nhang án…

Chùa Phúc Khánh là ngôi chùa nổi tiếng linh thiêng ở Hà Nội, dịp đầu xuân mỗi năm có hàng ngàn người đến dâng sao giản hạn ở đây. Vào ngày rằm, mùng 1, rất đông khách thập phương tới chùa. Nếu muốn được tĩnh tâm hay ngắm cảnh thì bạn nên đến chùa vào ngày thường để không phải chen lấn xô đẩy. Phật tại tâm, miễn là thành tâm thì đi chùa ngày thường cũng tốt như ngày rằm, mùng 1. Khi đi lễ chùa bạn cũng nên ăn chay cho tâm hồn thanh thản. Gần chùa Phúc Khánh có một quán chay khá ngon là An Phúc (Quán nằm ở số 11 ngõ 131 Thái Hà, cách chùa Phúc Khánh gần 1km).


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Chùa Phúc Khánh - Hà Nội

Xem tử vi tháng 4 của người tuổi Mùi

Tử vi tháng 4 của người tuổi Mùi gặp vận trình tam hội, chưa kể quan hệ Lục Hợp tốt đẹp với Thái Tuế vậy nên bạn có thể “kê cao gối ngủ” trong tháng này.
Xem tử vi tháng 4 của người tuổi Mùi

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

- Tử vi tháng 4 của người tuổi Mùi gặp vận trình tam hội, chưa kể quan hệ Lục Hợp tốt đẹp với Thái Tuế vậy nên bạn có thể “kê cao gối ngủ” trong tháng này. Tuy nhiên, hung tinh Kiếp Sát vẫn gây ra nhiều áp lực khiến bản mệnh cũng phải một phen lao đao.


 
tu vi thang 4 cua nguoi tuoi Mui hinh anh goc
 
NÊN CẢM THÔNG TRONG HÔN NHÂN    Tử vi người tuổi Mùi gặp vận trình tam hội, chưa kể quan hệ Lục Hợp tốt đẹp với Thái Tuế vậy nên bạn có thể “kê cao gối ngủ” trong tháng này. Tuy nhiên, hung tinh Kiếp Sát vẫn gây ra nhiều áp lực khiến bản mệnh cũng phải một phen lao đao. Tài vận suy thoái, nên tận dụng Ngọc Đường quý nhân mà hóa giải vận xấu từ hung tinh.   
tu vi thang 4 cua nguoi tuoi Mui hinh anh goc 2
 
SỰ NGHIỆP    Mùi Tỵ nằm trong quan hệ tam hội, Mùi Thân thuộc quan hệ Lục Hợp nhưng Hối Khí hung tinh sẽ gây ra họa tiểu nhân khó tránh. Trong cát tàng hung, công việc tốt đẹp nhưng cũng khó tránh áp lực từ đồng nghiệp, lãnh đạo hay từ chính bản thân bạn. Sự nỗ lực trong công việc của bạn rồi sẽ tiến triển tốt và nhiều thu hoạch. Nên nhớ, luôn đổi mới và sáng tạo để gặt hái thành công. Giữa tháng cơ hội phát huy tài năng của bạn sẽ xuất hiện, đừng để người khác khinh thường bạn nữa!   
tu vi thang 4 cua nguoi tuoi Mui hinh anh goc 3
 
TÀI LỘC    Vận tài lộc của người tuổi Mùi vô cùng rực rỡ. Tỵ Hỏa tương sinh Mùi Thổ, thúc đẩy vận tiền tài tiến triển. Nhưng ngay từ đầu tháng bạn vẫn cần lên kế hoạch chi tiêu cụ thể, tránh tình trạng tiêu tiền như nước, dẫn tới phá tài. Thứ Tài tuy thăng tiến nhưng làm gì cũng cần phải suy nghĩ kỹ càng, tham lam khiến bạn mất cả tiền lẫn tài.    TÌNH CẢM    Về tình cảm, người tuổi Mùi cần phải điều chỉnh nhiều suy nghĩ, xem xét lại cảm xúc riêng tư. Hãy để mọi thứ diễn ra thuận theo tự nhiên, không nên cưỡng ép, nếu không kết quả sẽ không như ý muốn. Đối với người có gia đình, những hành động gây hiểu nhầm, lời đồn thổi, tin tức sai lệch sẽ gây ra mâu thuẫn, xung đột, nên làm gì cũng phải thận trọng.   SỨC KHỎE   Vận trình sức khỏe của người tuổi Mùi không có gì đáng lo ngại. Chỉ gặp chút vấn đề về hệ tiêu hóa. Dạ dày không tốt, lại thêm thời tiết đêm lạnh ngày nóng khác biệt lớn, tần suất các buổi ăn uống về đêm lại tăng, khiến hệ tiêu hóa tổn thương nghiêm trọng.    Nhìn chung, quan hệ tương khắc giữa Nguyệt Lệnh cùng Thái Tuế, địa chi Tỵ Mùi đều thuộc âm Hỏa khiến bản mệnh dễ gặp vạ từ lời nói. Khiêm tốn làm việc, kỵ cãi cọ gây mâu thuẫn thì mọi việc ắt thuận lợi. 
 
 
tu vi thang 4 cua nguoi tuoi Mui hinh anh goc 4
 
=> Xem thêm: Tử vi trọn đời chuẩn xác theo Lịch âm

Lichngaytot.com

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem tử vi tháng 4 của người tuổi Mùi

Thay đổi phong thủy giúp hộ kinh doanh tránh thất thoát tiền bạc

Trong cuộc sống, những người không biết tiết kiệm, không có cách chi tiêu hợp lý thì sẽ luôn luôn trong tình trạng túng thiếu. Nhưng cũng có trường hợp ngược lại, lên kế hoạch chi tiêu và quản lý ngân sách rất tốt nhưng vẫn không tránh khỏi tình trạng cháy túi, bởi những phát sinh ngoài dự định. Dưới góc độ phong thủy, một số thói quen xấu và cách bố trí nhà cửa không hợp lý cũng có thể khiến quá trình tích lũy tiền gặp trở ngại.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Những yếu tố gây thất thoát tiền bạc

Trong sinh hoạt hàng ngày, có những điều vô tình ảnh hưởng đến nguồn tài chính trong nhà mà gia chủ không mấy chú ý. Vì vậy trước hết, bạn cần xem lại để biết mình có mắc phải những điều này không. Thứ nhất là nước chảy trong nhà. Trong sinh hoạt hàng ngày, có khá nhiều người thích để nước chảy xối xả khi đánh răng, rửa mặt, rửa bát, rửa rau, giặt quần áo… Tuy nhiên, cách này rất lãng phí và không tốt về mặt phong thủy. Thực tế, tăng thêm thu nhập và giảm chi tiêu là cách phổ biến nhất để tích lũy sự giàu có, và việc giảm chi tiêu có thể áp dụng ở mọi nơi. Tại sao người lớn tuổi không thích để nước chảy tự do trong nhà? Bởi vì theo phong thủy, nước kiểm soát sự giàu có. Vì thế, bạn không nên lãng phí nước mà hãy đóng vòi nước lại khi đã có đủ nước để dùng nhằm tiết kiệm tiền. Để làm giàu thêm tài chính, hãy sửa chữa những bộ phận chứa nước hỏng hay loại bỏ các nguồn nước đang bị ứ đọng.

Thứ hai là thói quen vứt tiền bạc lung tung. Không phải ai cũng là người có tổ chức, ngăn nắp và sạch sẽ nên việc vứt đồ đạc lung tung là điều khó tránh khỏi. Thói quen này cực kỳ không tốt và dễ dàng hình thành tác động tiêu cực đến sự giàu có của bạn. Thậm chí, có người còn thả ví tiền thẳng vào máy giặt quần áo mà không hề hay biết. Hành động này có nghĩa bạn đã đánh mất sự may mắn về tài lộc của bản thân nhanh hơn và nhiều hơn. Tốt nhất, bạn nên thật sự chú ý đến điều này. Tục ngữ có câu “Kiến tha lâu sẽ có ngày đầy tổ” muốn nói rằng sự giàu có cần phải tích lũy một cách từ từ. Hãy để một con lợn đất ở nơi thuận tiện để các thành viên trong gia đình bỏ tiền lẻ vào đấy, thể hiện sự tích lũy hàng ngày và cuộc sống sẽ cởi mở hơn.

Thứ ba là do phong thủy phòng bếp. Trong phong thủy, phòng bếp được đánh giá là cái kho của cải, tiền bạc. Rất nhiều người, đặc biệt là người trẻ tuổi thích ăn uống bên ngoài, họ thường phớt lờ phong thủy phòng bếp. Bạn nên thiết kế bếp nằm ở phía sau ngôi nhà và nên tích trữ một ít đồ ăn trong tủ lạnh cũng như những nơi khác trong bếp để giữ gìn tài sản. Ngay cả khi bạn là người ít nấu ăn tại nhà thì vẫn cần dự trữ đồ ăn. Vì nó không chỉ đáp ứng nhu cầu của bạn lúc khẩn cấp mà còn nâng cao sự dồi dào, thịnh vượng cho căn bếp. Chú ý kiểm tra và bổ sung kịp thời để đảm bảo luôn luôn có đồ ăn trong nhà. Thứ tư là màu sắc trang trí phòng khách. Nhìn chung, phòng khách có vị trí quan trọng trong phong thủy của ngôi nhà. Nên sử dụng những sản phẩm kim loại ở vị trí này để tăng cường vận may tài lộc. Bởi vì đất dưỡng kim nên gia chủ cũng có thể thêm yếu tố đất để trang trí phòng khách, chẳng hạn như sàn nhà gạch men, đồ gia dụng và đường nét màu vàng… giúp hình thành một không gian may mắn. Ngoài ra để mang lại sự thịnh vượng, gia chủ nên tạo nên cảm hứng sôi động, lành mạnh và loại bỏ sự bừa bộn trong nhà. Bừa bộn gây ùn tắc nguồn khí, dẫn đến sự trì trệ. Cây và hoa mang lại năng lượng sôi động cho cuộc sống, giúp không khí trong lành. Đài phun nước giúp điều chỉnh vượng khí, kích thích năng lượng và tượng trưng cho tiền bạc. Tuy nhiên để mời gọi tài lộc, sự giàu có, bạn phải giữ cho dòng nước chảy hướng thẳng về ngôi nhà. Nếu không, bạn có thể bị mất tiền, hoặc thậm chí phá sản.

Thay đổi phong thủy giúp hộ kinh doanh tránh thất thoát tiền bạc - 1


Treo chuông gió ở góc tài lộc để thu hút dòng chảy tiền bạc vào nhà.

  Kích thích góc tài lộc

Trong bất cứ ngôi nhà nào cũng thường có một vị trí giúp gia chủ phát tài và giữ tiền bạc, gọi là góc tài lộc. Trong phong thủy thì hướng Đông Nam của nơi làm việc hay nhà ở là hướng liên quan đến sự thịnh vượng, cát tài cát lộc. Để định hướng cho đúng hướng nào là hướng đem lại tài lộc, tiền bạc dồi dào cho bạn thì bạn dùng la bàn để xác định phương hướng. Hướng Đông Nam thuộc Mộc nên gia chủ phải lưu ý không nên chưng những vật mang yếu tố Kim hay Hỏa hay những màu sắc thuộc hai yếu tố này (màu trắng, đỏ, cam, hồng nhạt) vì Kim sẽ “cắt đứt” còn Hỏa thì “thiêu rụi” Mộc. Tốt nhất bạn nên tránh những yếu tố này để nguồn năng lượng tiền nong dồi dào không bị ảnh hưởng.

Cung tài lộc thuộc Mộc. Vậy ở hướng Đông Nam bạn nên đặt một chậu cây cảnh xanh tốt sẽ giúp hỗ trợ năng lượng. Hoặc đặt hình hay vật phẩm phong thủy mang yếu tố Thủy, ví như một hũ rỗng để sẵn sàng đón nhận tiền bạc đổ vào hay một vài đồng xu đặt trong bát nước suối đã phơi dưới ánh trăng và hàng ngày phải thay nước. Ngoài ra ở vị trí này, bạn nên sử dụng các màu như xanh lá cây, xanh da trời, màu nâu và vàng (đây là các màu thuộc Thủy, Mộc và Thổ). Những màu này đều nuôi dưỡng và tăng cường cho Mộc. Nếu nhà tắm, nhà vệ sinh nằm ở hướng Đông Nam thì gia chủ cần lưu ý một số điều để nguồn tài lộc trong nhà không bị ảnh hưởng. Nên dùng các màu thuộc Mộc (nâu, xanh lá cây), Thủy (xanh dương, đen), Thổ (vàng nhạt, màu be). Luôn giữ nhà tắm, nhà vệ sinh sạch sẽ, thoáng đãng, không chất quá nhiều đồ đạc linh tinh, luôn có đèn sáng sủa. Nếu có thể nên trang trí 8 cây tre nhỏ hay tranh ảnh hình cây cối xanh tươi, đang đâm chồi nảy lộc, hoa tươi...

Dù là nhà ở hay văn phòng công ty, những biểu tượng phong thủy về tiền tài thường được đặt ở góc tài lộc của căn phòng, nhằm cầu tiền tài, may mắn sẽ đến với gia chủ. Tại đây, gia chủ nên đặt những vật phẩm phong thủy – biểu tượng của tiền bạc. Cụ thể như sau:

Chuông gió: Chuông gió được sử dụng để hút dòng chảy tiền bạc vào nhà. Cách sử dụng hiệu quả nhất với chuông gió là số 9, có thể là 9cm, hoặc 9 sợi dây ruy băng đỏ. Chiếc chuông gió có sức mạnh nhất là những chiếc có 6 thanh và làm bằng kim loại. Chuông gió được treo ở vị trí tài lộc của ngôi nhà hoặc văn phòng. Cũng đừng quên để tiếng chuông gió được vang lên thường xuyên.

Đồng tiền xu Trung Quốc: Treo những đồng tiền chéo nhau và kết nối chúng bằng một sợi dây màu đỏ, sau đó treo ở vị trí cao, thoáng đãng. Phong thủy cũng cho rằng việc giữ lại tiền dưới mọi hình thức như sổ tiết kiệm, thẻ ngân hàng… trong một chiếc hộp phong thủy có màu tím hoặc màu vàng thật đẹp sẽ giúp bạn giữ được tiền. Ngoài ra, bạn hãy đặt 9 đồng xu thật sáng bóng tại góc tài lộc, và hãy tưởng tượng rằng “những hạt giống” này đang sinh sôi và phát triển. Khi có tiền, trước khi đưa vào sử dụng, bạn nên giữ một lúc ở góc này. Và những đồng tiền lẻ cũng đừng quên giữ trong một chiếc bát màu tím hoặc vàng ở góc thịnh vượng. Nó không chỉ là một ý nghĩa về phong thủy, mà còn là vật trang trí cho góc nhà của bạn nữa.

Ông thần tài: Ông thần tài được sử dụng nhằm mục đích cầu phước lành cho gia chủ. Vị trí thích hợp nhất cho tượng Thần tài đó là đối diện với cửa trước. Dù bức tượng lớn hay nhỏ, nó đều có sức mạnh đáng kể đối với tiền tài của gia đình bạn.

Đá quý và đá phong thủy: Đá quý và đá phong thủy là biểu tượng của giàu sang, phú quý. Bạn nên giữ kim cương hay đồ trang sức bằng đá quý vào một chiếc hộp có màu tím hoặc màu vàng trong góc tài lộc. Phía trên chiếc hộp nên đặt chuông gió. Trong phong thủy, điều này có nghĩa là sự sang trọng, giàu có sẽ bị hút vào cuộc sống của bạn. Nếu tình hình tài chính gia đình bạn không mấy ổn định hay thường xuyên phải suy nghĩ về nó, hãy đặt những vật nặng như đá tròn hay tượng ở góc tài lộc.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Thay đổi phong thủy giúp hộ kinh doanh tránh thất thoát tiền bạc

9 giới hạn làm người

Khái niệm làm người có nhiều định nghĩa đơn giản mà chúng ta vô tình bỏ qua, thay vào đó là cứ mải mê kiếm tìm những định nghĩa quá cao siêu.
9 giới hạn làm người

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

 

9 gioi han lam nguoi hinh anh goc
 
► Cùng đọc những câu nói hay về cuộc sống và suy ngẫm

Hà Xuyên

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: 9 giới hạn làm người

33 điều kiêng kỵ trong tâm linh

1. Đi đường nếu gặp tiền lẻ hay những vật dụng cá nhân của người khác không nên lượm lặt dù là mục đích gì. Vì sao : Thông thường 1 số người đang gặp hạn người ta giải hạn bằng cách vứt bỏ những thứ ấy xem như vứt bỏ cái xui của họ, nếu mình nhận lấy thì sẽ lãnh lại cho họ.
33 điều kiêng kỵ trong tâm linh

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

2. Khi đi ngang những con sông, suối, ao, hồ không rõ nguồn gốc tuyệt đối không nên vứt đồ cá nhân mình xuống. Nếu vô tình bị rớt mà có thể lấy lại được thì nên lấy lại => Vì bỏ lại sẽ dễ mắc duyên âm, nếu tại nơi đó có vong.

3. Đặc biệt với con gái, phụ nữ nên Hạn Chế để quần áo ngoài trời vào ban đêm, đặc biệt là đồ “nhỏ” => Dễ mắc duyên âm.

4. Vào ban đêm tránh soi mình dưới mặt nước.

5. Không may vá, mua đinh, chải tóc, soi gương vào ban đêm. May vá, mua đinh => Mang điềm xui tang tốc đến. Chải tóc, soi gương => dễ bị vong theo.

6. Tránh tiếp xúc chơi bùa ngãi nếu không hiểu thấu đáo, nên không nên uống các loại Bùa mà các “Thầy Pháp” ban cho.

7. Người không quen thân thì đừng tiết lộ ngày tháng năm sinh, giờ sinh, tên tuổi cho họ biết.

8. Nhà có con nhỏ không nên cho bé đi viếng nghĩa trang hay dự tang lễ.

9. Nhà có người mất nên đi xem giờ để tránh trúng giờ độc gây ra hiện tượng trùng tang.

10. Thực hiện làm ăn hay làm những việc mang tính chất đại sự nên xem ngày để tránh nhằm vào ngày Tam Nương => Tan nát, bất thành.

11. Đi trên đường trời tối nên tránh đùa giỡn, gọi tên nhau lớn tiếng và nhắc đến ma quỷ.

12. Khi ăn uống nên hạn chế gõ, khua chén đũa.

13. Vào nghĩa trang không nên bình phẩm, chê khen ảnh, tên, bia mộ người đã khuất.

14. Phụ nữ có thai hạn chế đi ăn cưới, đi dự đám tang.

15. Nếu đi đường khuya vắng không thấy người mà nghe tiếng gọi tên mình thì đừng trả lời.

16. Đừng bao giờ thề thốt hay hứa hẹn với người đã chết rồi không làm.

17. Về khuya nên hạn chế may vá, chải chuốt, soi gương.

18. Nếu hái lộc xuân nên chọn những cây nhỏ, tán cây nhỏ chớ nên hái ở những cây cổ thụ um tùm, gần đền, chùa, miếu…..

19. Khi đi dự đám tang về nên hơ người bằng lửa ấm, thay quần áo và hạn chế tiếp xúc với trẻ nhỏ.

20. Đi đường gặp tai nạn thì không nên trầm trồ, bình luận, nếu đã không giúp đỡ, không phận sự thì nên im lặng.

21. Với các bạn nữ vào những ngày “ấy” không nên đi đến những nơi linh thiêng, xem bói và không nên qua lại trước bàn thờ.

22. Những ngôi nhà bằng gỗ khi có máu (cả người hay động vật) bám trên thân gỗ thì nên thay đổi, hoặc không nên ngủ gần đó.

23. Nếu trước nay chưa cúng cô hồn bao giờ do không có điều kiện thì không cúng luôn, chớ nên cúng rồi lại bỏ.

24. Những ai cúng giải hạn hằng năm, nơi làm lễ cúng là những ngã ba, tư đường thì trong vòng năm đó không nên đặt chân đi ngang qua nơi đó. Vì thế, khi chọn nơi cúng hạn nên chọn những nơi ít thường xuyên lui tới nhất.

25. Ai đã lầm lỡ phá bỏ thai nhi con mình thì hãy đặt cho bé cái tên và đem lên chùa gửi.

26. Với Ngãi thì ta có thể mang theo vài tép tỏi bên mình khi đi đường xa để tránh bị kẻ xấu hại.

27. Khi tham gia chơi cầu cơ (bói chén), gọi hồn, nên trật tự, và phải đảm bảo an toàn cho mình nếu có người bảo lãnh….

28.Tuyệt đối không nên Tắm ở những ao, hồ, sông suối đã có tai nạn chết người => dễ bị vong bắt theo.

29. Khi đang trong quá trình xây dựng nhà cửa, nếu giữa chủ nhà và thợ xây xảy ra xích mích nên lưu ý kẻo bị họ thư ếm vào nhà. Cách giải : kết thúc thi công, ăn trộm 1 món đồ của họ không để họ biết.

30. Những vật dụng cá nhân của người đã chết nên chôn theo hoặc đốt bỏ, không nên giữ lại để tiếp tục sử dụng.

31. Lúc ngủ không nên quay chân ra cửa (tư thế dành cho người chết), hay quay chân vào bàn thờ (bất kính với bề trên).

32. Nhà có người chết ngoài đường khi nhận xác về không nên cho xác vào nhà => nếu có vong khác chiếm lấy xác thì rất nguy hiểm.

33. Có câu: Chim sa cá luỵ, thế nên gặp những con vật trong hoàn cảnh đó không nên chiếm hữu nó và đem về nhà.

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: 33 điều kiêng kỵ trong tâm linh

Chùa Duyên Ninh - Ninh Bình

Chùa Duyên Ninh là một trong những ngôi chùa cầu duyên linh thiêng Việt Nam. Du khách và phật tử không sẽ được thưởng thức nhiều cảnh đẹp
Chùa Duyên Ninh - Ninh Bình

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Chùa Duyên Ninh còn có tên gọi dân gian khác là chùa Thủ. Chùa thuộc vùng bảo vệ đặc biệt của khu di tích Cố đô Hoa Lư (Ninh Bình). Chùa được xem là một trong những ngôi chùa cầu duyên nổi tiếng ở Việt Nam. Chùa nằm rất gần đền Vua Đinh Tiên Hoàng và giữa 2 điểm du lịch là chùa Bái Đính và khu du lịch sinh thái Tràng An. Chùa quay hướng đông bắc, gồm có chính điện, nhà tổ, phòng khách, nhà ăn, tháp…

Lịch sử: Chùa Duyên Ninh là ngôi chùa cổ, được xây dựng từ thế kỷ X dưới thời vua Đinh Tiên Hoàng. Chùa Duyên Ninh cùng với chùa Kim Ngân nằm ở vị trí thành Tây của kinh đô xưa. Cũng như chùa Nhất Trụ, chùa Duyên Ninh là nơi thờ phật và các nhà sư thế kỷ 10 như Pháp Thuận, Khuông Việt và Vạn Hạnh.

Chùa nằm rất gần đền Vua Đinh Tiên Hoàng và giữa 2 điểm du lịch là chùa Bái Đính và khu du lịch sinh thái Tràng An. Chùa quay hướng đông bắc, gồm có chính điện, nhà tổ, phòng khách, nhà ăn, tháp…

Theo lịch sử ghi chép lại, Chùa Duyên Ninh là nơi các công chúa thời Đinh-Lê thường qua lại. Tại đây, công chúa Lê Thị Phất Ngân và tướng công Lý Công Uẩn đã thề hẹn ở đó mà sinh ra Lý Phật Mã (sau là vua Lý Thái Tông) vào năm 1000. Sau này khi Lý Thái Tông trở về đây dẹp loạn Khai Quốc Vương đã đổi tên chùa thành chùa Duyên Ninh. Cuối đời, Hoàng hậu Phất Ngân đã về đây tu hành và trông coi mộ phần thân phụ là Hoàng đế Lê Đại Hành. Tại đây, Hoàng hậu đã tác hợp cho nhiều đôi lứa thành đôi và từ đó Duyên Ninh trở thành ngôi chùa cầu duyên ở cố đô Hoa Lư.

Chùa duyên ninh
Chùa Duyên Ninh nằm trong thành tây Hoa Lư

Lý Thái Tông sinh ngày 26 tháng 6 âm lịch năm Canh Tý niên hiệu Ứng Thiên thứ 7 thời Tiền Lê ở ngôi sau này là chùa Duyên Ninh trong kinh đô Hoa Lư (Ninh Bình ngày nay). Theo Đại Việt sử ký toàn thư, khi vua mới sinh, ở phủ Trường Yên có con trâu của nhà dân tự nhiên thay sừng khác, người có trâu ấy cho là điềm không lành, lấy làm lo ngại. Có người giỏi chiêm nghiệm đi qua nhà người ấy cười mà nói rằng: “Đó là điềm đổi mới thôi, can dự gì đến nhà anh” thì người ấy mới hết lo. Tương truyền thuở nhỏ ông đã có 7 nốt ruồi sau gáy như chòm sao thất tinh (sao Bắc Đẩu). Sau này ông trở thành vị Hoàng đế thứ hai của Nhà Lý.

Kiến trúc: Hiện tai, Chùa Duyên Ninh là một chùa cổ kính, nằm nép mình bên các dãy núi xưa là kinh thành của Hoa Lư. Trên địa bàn xã Trường Yên hiện còn 6 chùa gồm: chùa Nhất Trụ, chùa Am Tiên, chùa Kim Ngân, chùa Cổ Am, chùa Bà Ngô và chùa Duyên Ninh. Tương truyền, Mỗi chùa gắn với một sự tích khác nhau như cầu phúc thì đến chùa Cổ Am, cầu lộc vào chùa Kim Ngân, cầu danh vào chùa Nhất Trụ, cầu thọ vào chùa Bà Ngô, cầu tài vào chùa Am Tiên còn cầu duyên thì vào chùa Duyên Ninh…

Chùa Duyên Ninh là một trong những ngôi chùa cầu duyên linh thiêng nhất Việt Nam. Du khách và phật tử không chỉ được thưởng thức cảnh đẹp từ thiên nhiên mà còn có thể cầu nguyện năm mới nhiều may mắn.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Chùa Duyên Ninh - Ninh Bình

Thực hư ngôi mộ ăn mày giúp một gia đình giàu như 'công tử Bạc Liêu'

Nói về chuyện bốc mộ, không thể không nhắc đến các giai thoại về mộ kết, vốn mang rất nhiều màu sắc kỳ bí khiến con người ta khi mừng rỡ, hân hoan, lúc sợ hãi, đau khổ.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Mộ kết (mộ phát) là những ngôi mộ khi được đắp xong hoặc chưa kịp đắp tự nhiên đất chỗ ấy đùn lên thành ngôi mộ to lớn khác thường. Những ngôi mộ này thường có kích thước lớn gấp đôi, gấp ba… lần, thậm chí được “đùn” thành gò, đống. Và gia đình, dòng họ nào có được những ngôi mộ kết này, con cháu đời đời được hưởng vinh hoa phú quý, giàu sang hơn người…            

Ngôi mộ kết của kẻ ăn mày

Tình cờ, tôi có dịp ghé qua xã Tân Dân, huyện Phú Xuyên, Hà Nội. Tại đây, tôi được người dân kể cho nghe câu chuyện về sự giàu có nổi tiếng khắp vùng của cụ Chánh Đúc tên thật là Nguyễn Đình Giám, sinh sống vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Cụ giàu có vì được hưởng lộc từ ngôi mộ phát.

Bà Thanh (65 tuổi, xã Tân Dân, Phú Xuyên, Hà Nội) cho biết: “Câu chuyện về cụ Chánh Đúc ở đây từ trẻ con đến các cụ già, ai cũng biết. Người ta còn có câu ví von “giàu như ông Chánh Đúc””. Cũng theo lời bà Thanh kể, theo câu chuyện bà được nghe từ các cụ cao niên trong làng, bố ông Chánh Đúc là một người ăn mày, bị chết trên đường đi khất thực bên Hưng Yên. Sau khi chết, ngôi mộ ấy bị mối đùn lên thành đống, từ đó ông Chánh Đúc giàu có nhất vùng.

Nghe bà Thanh kể xong, tôi tìm đường tới xã Chuyên Mỹ, nơi vẫn còn con cháu của cụ Chánh Đúc sống. Tại đây, tôi được ông Lâm Hữu Đào, cán bộ văn hóa xã Chuyên Mỹ khẳng định: “Câu chuyện về cụ Chánh Đúc là có thật. Nghe nói cụ ấy giàu có lắm”. Thế rồi chẳng quản đường sá, ông Đào dẫn tôi đến gặp ông Nguyễn Văn Lộc, 73 tuổi, cháu gọi cụ Chánh Đúc là ông cậu (bà nội ông Lộc là chị gái của cụ Chánh Đúc). Thế rồi ông Lộc kể cho tôi nghe câu chuyện liên quan đến ngôi mộ phát và sự giàu có của cụ Chánh Đúc.

 thuc hu ngoi mo an may giup mot gia dinh giau nhu 'cong tu bac lieu' - 1

Nhờ ngôi mộ kết phát mà cụ Chánh Đúc và con cháu trở nên giàu có. Ảnh minh họa.

Ông nội cụ Chánh Đúc không rõ tên gì, sinh ra trong một gia đình nghèo, không rõ lai lịch, gốc tích ở đâu. Chỉ biết rằng họ là những người hiền lành, chất phác và lương thiện. Lớn lên, ông nội cụ Chánh Đúc theo học nghề thợ xẻ. Tay nghề của ông nổi tiếng khắp vùng. Mỗi khi làng hết việc, ông mang đồ nề, dụng cụ đi đến các nơi khác làm thuê, lấy tiền về nuôi cha mẹ, vợ con. Mỗi chuyến đi như thế, có khi cả tháng, thậm chí vài tháng ông mới về nhà. Và trong mỗi chuyến đi ấy, ông nội cụ Chánh Đúc không quên mang theo chiếc hộp đựng thuốc lào được khảm trai tinh xảo. Chiếc hộp này được coi là “vật bất ly thân” của ông. “Chỉ cần nhìn chiếc hộp đựng thuốc lào ấy, con cháu, người làng nhận ra ngay. Bởi kỹ xảo khảm trai tuyệt đỉnh ấy chỉ người đạt trình độ nghệ nhân nơi đây mới tạo thành và nó còn là “biểu tượng” khi đó của làng về kỹ xảo khảm trai”, ông Lộc chia sẻ.

Lần ấy, ông nội cụ Chánh Đúc đi mãi không thấy về nhà. Vợ con, người thân của ông đi dò hỏi khắp nơi nhưng không biết tung tích ở đâu. Ông còn sống hay đã chết... không một ai biết. Một thời gian sau, tình cờ, con cháu của ông gặp “vật bất ly thân” kia. Hôm ấy, làng vào ngày mùa, ngoài đồng lúa chín vàng rực rỡ, nếu không gặt nhanh, thóc sẽ rụng. Cực chẳng đã, gia đình người cháu của cụ Chánh Đúc mới phải tìm thợ. Khi đám thợ gặt ngồi nghỉ ngơi tại đầu ruộng, một người thợ gặt liền bỏ trong túi hộp đựng thuốc lào ra hút. Nhìn chiếc hộp được chạm khắc công phu, đẹp đẽ ấy, người cháu của cụ Chánh Đúc ngờ ngợ. Người ấy liền mời người kia đến nhà cụ Chánh Đúc nói chuyện.

Vừa nhìn thấy vật, cha cụ Chánh Đúc nhận ra ngay “vật bất ly thân” của người bố thất lạc bao năm. Theo lời kể của người thợ gặt, cách đó mấy năm, có một người đàn ông ăn mày đi qua vùng đất thuộc Khoái Châu (Hưng Yên). Về đến đây, người này vào làng ăn xin và làm thuê cho dân làng. Nhìn thấy hộp thuốc đẹp quá, ông thợ gặt ngỏ lời xin, người đàn ông nọ tặng luôn. Trời tối, người đàn ông nọ ra điếm canh đê xin ngủ nhờ để sáng mai về sớm. Tuy nhiên, sáng ngày hôm sau, người đàn ông nọ bị ốm và chết. Thương cảm, dân làng gọi nhau mang người đàn ông nọ đi chôn. Mọi người bó ông trong một manh chiếu cũ, khiêng ra đồng để chôn. Vừa đi được một đoạn, mây đen kéo đến kín trời, mưa gió nổi lên. Những hạt mưa to hất xối xả vào mặt đoàn người đưa tang khiến bước chân họ siêu vẹo trên con đường đất lồi lõm, trơn trượt. Cố thêm được một đoạn, mọi người bảo nhau đặt tạm người chết xuống cái hố nhỏ ven đường, sáng mai sẽ ra mang đi chôn.

Sáng hôm sau, khi dân làng đến nơi, cái hố trâu đằm ven đường, nơi đặt người ăn mày đã bị mối đùn lên thành một ngôi mộ lớn. Nhìn ngôi mộ, dân làng bảo nhau, đây là ngôi mộ kết. Bên trong ngôi mộ này có tơ hồng quấn quanh người chết. Ngôi mộ này chỉ có thể để nguyên, nếu cải táng, con cháu người này sẽ mất lộc. Còn nếu để nguyên cho ngôi mộ “tự lớn”, con cháu người này được hưởng sự giàu sang và vinh hoa, phú quý muôn đời.

Kể đến đây, ông Lộc bảo: “Tôi đã từng sang thắp nhang ngôi mộ tổ ấy. Ngôi mộ ấy rất lớn, to gấp mấy lần so với những ngôi mộ khác. Ngay từ thời cụ Chánh Đúc, ngôi mộ ấy cũng đã to như thế. Hiện nay khu đất có ngôi mộ ấy thuộc sự quản lý của con cháu cụ Chánh Đúc. Bởi sau cái ngày gặp người thợ gặt kia, cụ Chánh Đúc đã sang tận nơi mua khu đất ấy rồi thuê người trông nom, chăm sóc”.

Sự giàu có của một dòng họ

Từ khi có mộ phát, con cháu người ăn mày ăn lên làm ra, chẳng mấy trở thành người giàu có nổi tiếng khắp vùng. Sự giàu có trên có phải nhờ được lộc trời từ ngôi mộ phát? Theo lời kể của một số người dân làng thôn Chuôn Trung, Chuyên Mỹ, thời điểm ông nội cụ Chánh Đúc chết, ngôi mộ được ăn lộc trời, trở thành mộ kết, từ một gia đình nghèo khó, gia đình cụ Chánh Đúc có của ăn, của để. Đặc biệt đến thời cụ Chánh Đúc, sự giàu có ấy nổi tiếng khắp tổng.

Đưa tay chỉ về phía cánh đồng trước mặt, bà Thanh (65 tuổi, xã Tân Dân, Phú Xuyên, Hà Nội) bảo: “Cả cánh đồng thẳng cánh cò bay này trước kia là của cụ Chánh Đúc hết đấy. Cụ ấy giàu lắm”. Rồi bà Thanh bảo: Theo lời kể của các cụ cao niên trong làng, nhà ở của cụ Chánh Đúc vô cùng rộng lớn, tráng lệ và nguy nga. Trong nhà cụ có hàng chục người ở để trông nom, dọn dẹp, lau chùi nhà cửa. Bữa ăn của cụ toàn “sơn hào, hải vị” được mua từ khắp nơi về. Mỗi khi cụ thức giấc, có người đến tận giường bưng cốc cho cụ nhổ nước bọt, người bưng thau nước ấm, người cầm khăn mặt... Mỗi lần đi xa, cụ cho hàng chục người theo hầu, hộ giá... Có thể nói, cụ là “ông vua nhỏ” ở vùng cụ cai quản (cụ làm Chánh tổng).

Dẫn tôi ra trường tiểu học của xã Chuyên Mỹ, ông Lâm Hữu Đào bảo: “Cả khu này ngày xưa là nơi vui chơi, giải trí, ăn uống của cụ Chánh Đúc. Đây cũng là nơi cụ Chánh Đúc đón các quan lớn trên huyện về. Những cái cây cổ thụ kia là dấu tích về nơi nghỉ dưỡng của cụ Chánh Đúc đấy. Những cái cây này được cụ ấy trồng mà”. Theo lời kể của ông Đào, xưa kia nơi đây là một cái hồ hình bán nguyệt lớn. Ở giữa hồ là một mặt phẳng, trải được mấy cái chiếu để cụ Chánh Đúc cùng mọi người ra đó chơi cờ, luận bàn công việc. Trên bờ là những căn phòng dành để ăn uống, nghỉ ngơi... Có thể nói, khu vui chơi, nghỉ dưỡng thời xưa của cụ Chánh Đúc được ví ngang ngửa với những khu resort hiện đại ngày nay. Bởi số lượng các quan từ nơi kéo về ăn chơi, nghỉ dưỡng rất đông. Hầu như ngày nào cụ Chánh Đúc cũng đón đoàn khách hàng chục người đến ăn, nghỉ, chơi không mất tiền... Ngoài ra, cụ Chánh Đúc cũng hay mang tiền dâng vào đình, chùa hoặc cho tiền sửa sang các nơi công cộng...

Ở miền Nam, người ta ví “giàu như công tử Bạc Liêu” thì ở đây người ta cũng ví sự giàu có của những người sau này với cụ Chánh Đúc. Cụ giàu có, biết hưởng thụ là vậy nhưng lại là một người vô cùng thương người. Cụ thường cho thuê ruộng với giá rất rẻ; nếu không may năm đó mất mùa, cụ sẵn sàng cho nợ đến sang năm trả hoặc trả dần dần. Không bao giờ cụ thúc ép người nghèo. Hay mỗi khi xảy ra hạn hán, mất mùa, dân nghèo đói khổ, cụ lại sai người nấu cháo, phát chẩn hoặc cho vay mượn thóc gạo... Chính vì thế, cụ được nhân dân khắp vùng yêu mến.

Đời cụ Chánh Đúc giàu, đời con cháu của cụ cũng giàu. Theo lời chia sẻ của ông Lộc, sau khi chiến tranh loạn lạc xảy ra, cụ mất, con cháu cụ di tản vào Nam, thi thoảng mới về nhưng ai cũng thành đạt và khá giả. Một số người cháu của cụ còn sang nước ngoài sinh sống. Có thể nói dù ở đâu, con cháu của cụ Chánh Đúc vẫn rất giàu có, sung sướng, đến nay đã là đời thứ 4, thứ 5 rồi. Nhưng tất cả sự giàu có ấy liên quan đến mộ kết cũng chỉ là tin đồn vô căn cứ mà thôi.

Lý giải về sự giàu có của cụ Chánh Đúc, ông Lộc bảo: “Tôi không biết sự giàu có ấy có phải bắt nguồn từ ngôi mộ phát của ông nội cụ Chánh Đúc không. Chỉ biết rằng từ đời cụ Chánh Đúc làm ăn luôn luôn gặp may mắn, phát đạt (ngày trước cụ Chánh Đúc làm cai thầu, nạo vét kênh mương, hồ và xây dựng...). Ngày nay, con cháu cụ cũng rất giàu sang, phú quý, ai cũng làm giám đốc này kia...”.



Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Thực hư ngôi mộ ăn mày giúp một gia đình giàu như 'công tử Bạc Liêu'

LUẬN VỀ BỐN THẾ SAO TAM HỢP VÀ BỐN MẪU NGƯỜI TRONG CÕI NHÂN THẾ

Bốn thế sao (Thái tuế - Quan phù - Bạch hổ), (Thiếu dương - Tử phù - Phúc đức), (Tuế phá - Điếu khách - Tang môn), (Thiếu âm - Long đức - Trực phù), tư cách của từng nhóm sao và hình mẫu con người hiện ra từ tính cách, vai trò, sứ mệnh của họ
LUẬN VỀ BỐN THẾ SAO TAM HỢP VÀ BỐN MẪU NGƯỜI TRONG CÕI NHÂN THẾ

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

    Vào những năm 60 của thế kỷ trước, tại khu vực miền Nam, một nhà đẩu số đã nghiên cứu ra một học thuyết của mình. Vâng ! tên tuổi mà tôi muốn nhắc tới ở đây là cụ Thiên Lương.

    Bản thân cụ Thiên Lương, hay các học trò trong môn phái của cụ luôn lấy nghiệm lý làm khuôn vàng thước ngọc, hệ quy chiếu trung thực để rút ra lý luận. Công lao của cụ đó là phát hiện ra vòng Thái tuế và tư cách của bốn nhóm người trong xã hội. Trước tác nổi tiếng của cụ là cuốn Tử vi nghiệm lý mệnh học, và cuốn Tử vi nghiệm lý toàn thư (Tuy nhiên cuốn Tử vi nghiệm lý toàn thư còn dang dơ thì cụ qua đời)

   Một lá số có mười hai cung, ứng với mười hai địa chi trong một giáp. Tuổi của một người nằm trong trong mười hai con giáp đó. Nếu như cung mệnh lập đúng địa chi năm sinh, nằm trong tam hợp Thái tuế, ắt là người có tư cách, phẩm hạnh của bậc chính nhân, quân tử.

   Thái tuế. Theo các nhà khoa học nghiên cứu Thái tuế là một hành tinh trong bát đại hành tinh của Thái dương hệ, tức là mộc tinh, chi phối một năm. Các nhà Thiên văn, Chiêm tinh, Đẩu số đã phát hiện ra hành tinh này từ thời cuối nhà Tần, đầu nhà Hán. Trong các công văn, biểu chế từ thời nhà Hán, thường mở đầu bằng câu “ Thái tuế đóng… Ngày… tháng…”. Ví dụ như biểu văn phong Nguyên soái cho tướng Hàn Tín của Hán Vương Lưu Bang. Từ đó trở đi, người ta động thổ, khởi công, hay mưu cầu những việc đại sự đều tránh năm tuổi của mình. Có câu “Động thổ trên đầu Thái tuế” chỉ sự thiếu hiểu biết, làm ẩu, và đương nhiên hậu quả của nó là không tốt. Bởi vì sức mạnh chi phối của Thái tuế rất lớn.

Thiệu Vĩ Hoa trong cuốn Dự đoán theo tứ trụ khẳng định Thái tuế là thần cai quản một năm, là ông vua, luận về tứ trụ và vận hạn, nếu Nhật nguyên hợp với Thái tuế về thiên can, địa chi, là gần gũi với bậc tôn quý, ứng nghiệm trong thực tế, sẽ gặp nhiều may mắn, đắc lộc và phát phúc. Ngược lại, Nhật nguyên xung đột với Thái tuế, nhất là trường hợp phạm thiên khắc địa xung, thì bản thân không chết, cũng có người thân qua đời, ý nói hung họa rất nhiều. Ví dụ nhật chủ Mậu Ngọ, Thái tuế Nhâm Tý (Tức là đến năm Nhâm Tý), can Mậu hành Thổ của Nhật nguyên khắc can Nhâm hành Thủy của Thái tuế, chi Tý và chi Ngọ xung nhau, thường xảy ra tai họa lớn. nếu Đại vận mà bí bét tất hạn nguy hiểm tính mạng chẳng chơi.

    Trở lại với ngôi Thái tuế trong Tử vi. Theo sách Tử vi Chân thuyên của Kiều Nguyên Tùng thì Thái tuế đóng ở cung mệnh thường có tư cách lớn, làm vua (hiện nay là nguyên thủ, hoặc cán bộ hành chính quản lý một khu vực), làm ông chủ, và làm thầy. Như vậy, nhân phẩm của người có Thái tuế được khẳng định rõ ràng. Dường như nó là định mệnh cho những người có may mắn gặp được nó, trên thế mệnh – thân

   Luận về Thái tuế, cụ Thiên Lương khám phá ra rằng, người có Mệnh – Thân nằm trong tam hợp Thái tuế là người sẽ dễ đạt được ước vọng của mình, còn lại những vòng sao khác vị trí khác thì hình thái về nhân phẩm và cuộc đời sẽ có biểu hiện khác đi, hoặc là bất mãn, không được như ý muốn, nếu có đạt được thì cũng là cả một quá trình phấn đấu gian lao, thắng bại, thành công còn phụ thuộc vào vận nữa. Người có Thái tuế Mệnh – Thân nếu không phú quý, đắc ý trong đường đời (phụ thuộc vào chính diệu và sự phối hợp giữa các tinh đẩu), thì cũng là người có nhân cách lớn, không ươn hèn, hay là kẻ bất chính.

    Bốn mẫu người mà cụ Thiên Lương tìm ra ở đây chính là : Một, tư tưởng, hành động, nhân phẩm chính phái. (Mệnh thân tam hợp Thái tuế  -  quan phù – bạch hổ). Hai, Cuộc đời nhiều nghịch cảnh, ở vào thế bất mãn, luôn luôn đấu tranh, quật ngược lại định mệnh (Mệnh – Thân nằm trong tam hợp Tuế phá – Điếu khách – Tang môn). Ba, nhóm người sinh ra trước chu kỳ vận động của Mộc tinh, khôn ngoan biết nhiều, được hưởng nhiều đặc ân, nhưng luôn phải trọng thần quyền, trọng đạo đức, nếu vi phạm nguyên tắc này, thì thành quả hóa hư không, kết cục của sự thảm bại. (Mệnh – Thân lập tại tam hợp Thiếu dương – Tử phù – Phúc đức) Bốn, nhóm người bị thua thiệt, thường lấy sự trung hậu, và tu dưỡng làm nòng cốt chủ đạo (Mệnh – Thân lập tại tam hợp Thiếu âm – Long đức – Trực phù).

   Mệnh cung thể hiện tư tưởng, nhân phẩm, tính cách, cung Thân chính là hành động của người đó với cuộc đời, với xã hội nhân sinh. Người có Mệnh - Thân ở tam hợp Thái tuế - Quan phù – Bạch hổ có những đặc điểm

   Thái tuế : Lòng đầy tự hào, coi mình có sứ mệnh làm việc chính đáng, luôn có nhân sinh quan tiến thủ không ngừng, khát vọng muốn cống hiến, đóng góp cho quần chúng nhân dân, và cao cả vĩ đại hơn là đóng góp cho nhân loại. Như cụ Nguyễn Công Trứ từng viết: Phải có danh gì với núi sông. Hay như tể tướng nhà Tống, Văn Thiên Tường : Nhân sinh tự cổ thùy vô tử/ Lưu thủ tâm đan hãn chiếu thanh. (Từ xưa đến nay có ai mà không chết? Để lại một tấm lòng son với sử xanh). Ví dụ sinh năm 1992 tuổi Nhâm Thân, mà mệnh thân lập tại tam hợp Thân – Tý – Thìn gặp chính diệu và phụ tinh đúng cách thì sẽ thành công lớn, hay ít ra nếu không thành công cũng là người có nhân phẩm, tư cách, phẩm hạnh cao thượng

Thái tuế hành mộc, nhiều sách ghi là hành Hỏa, luôn luôn tam hợp với Quan phù, Bạch hổ. Ở mệnh là người thông minh hay lý luận, hội hợp nhiều văn tinh thì có tài hùng biện, giỏi về chính trị, tư pháp

    Quan phù : Hành động chính đáng, với suy tính kỹ càng, thận trọng. Nếu như Thái tuế khởi xướng nên tư tưởng, học thuyết, lý tưởng…thì Quan phù là sự thận trọng, suy tính kỹ lưỡng, là hạng quan văn, tham mưu phục vụ cho lý tưởng, cho quân vương. Sự suy tính của Quan phù dẫn đến sự khôn khéo, thận trọng trong lời nói, hành vi, không mạnh mẽ quyết liệt, mà có phần nhẹ nhàng hơn, thường ra tay khi cảm thấy chắc ăn

    Quan phù: Tính nết hay giúp đỡ can thiệp phò tá. Tượng trưng cho công lý, hay lý luận, giỏi phê bình, chỉ trích, nhưng thích giúp đỡ người khác. Tâm lý cạnh tranh, cảm thấy buồn bực khi thua kém, nó là sao thúc đẩy học hành, cũng là động cơ phấn đấu, rèn rũa bản thân không ngừng

     Bạch hổ: Gắng công làm việc chính đáng bằng bất kể giá nào. Là sao chủ về võ, về hành động, về thực tiễn và rất quyết liệt. Tác phong “bạo hổ băng hà” (Hổ dữ qua sông, gầm thét vang dội). Khi nhận thức vấn đề đúng, sai, phải, trái (Thái tuế), suy tính kỹ càng (Quan phù), thì Bạch hổ là sự quyết tâm, quả đoán, cương nghị dũng mãnh khi thực hiện, vì thế nên đôi khi dễ bị hiểu lầm, hiểu sai.

    Thường khi thủ mệnh, Bạch hổ là người có tính cương quyết, võ lược văn thao, biện luận ngăn gọn, súc tích, nhưng hiệu quả và chính xác. Phú văn có câu : Nam nhân Tang, Hổ thì tài/ Nữ nhân Tang, Hổ thì đi hai lần đò.

    Thế tam hợp Thái tuế - Quan phù – Bạch hổ, luôn hội hợp với bộ Tứ linh Long trì, Phượng các, Hoa cái, Bạch hổ, được xem như chiếc cẩm bào dát vàng, nạm ngọc về tư cách nhân phẩm, lời nói và hành vi. Hội hợp thêm Khoa, Quyền, Lộc thì càng rực rỡ.

    Phú văn có câu : Ai bảo trong mệnh người quân tử không có sát tinh, mà mệnh kẻ tiểu nhân không có Khoa, Quyền, Lộc. Nhìn vào hệ thống chính tinh miếu, vượng, đắc địa, chưa thể kết luận vội vàng rằng đương số hạnh phúc, vui vẻ. Có khi đó là một hộp quà được gói ghém trang trí công phu cầu kỳ, rất đẹp đẽ và bắt mắt, nhưng bên trong lại là bánh kẹo chất lượng thấp…

    Trái với thế sao Thái tuế, Quan phù, Bạch hổ, là thế sao Tuế phá, Điếu khách, Tang môn. Những người có mệnh thân ôm bộ sao này thường mang tâm lý bất mãn, không hài lòng với mọi thứ, cuộc sống cũng phải đấu tranh, nỗ lực quyết tâm rất nhiều mới đạt được ước vọng. Người xưa xếp đặt tinh bàn thật sâu sắc và thâm thúy. Vòng sao này, luôn ở thế xung chiếu đối nghịch với Thái tuế, Ví dụ sinh năm Bính Dần, Thái tuế đóng cung Dần mà mệnh lại lập ở Thân, Tý, Thìn. Dần, Ngọ, Tuất, tuổi năm sinh thuộc Hỏa cục, mệnh thân trong thế Thân, Tý, Thìn thuộc Thủy cục, một ván cờ nước lửa sẽ diễn ra, thắng bại còn phụ thuộc vào vận hạn, và sự phối hợp tốt xấu, nhưng về cơ bản họ không được thỏa mãn và đấu tranh nhiều.

    Tuế phá: Bất mãn, uất ức, căm phẫn muốn đả phá quật ngược mọi thứ. Đích danh là lãnh tụ phái đối lập. Thủ thân mệnh là người cực đoan hết sức, còn nhỏ thì là trẻ nghịch ngợm, hư, khó dạy, khi lớn là người luôn biểu lộ sự bất mãn của mình qua lời nói ngông cuồng, khích bác, và bằng những hành động cụ thể. Trong thực tế, nếu để ý sẽ thấy, nhóm người này thường không hài lòng về nhiều thứ công việc, gia đình, cuộc sống. Đơn cử một chuyện nhỏ nhặt như nấu thức ăn không ngon, hoặc không hợp khẩu vị, họ cũng có thể ca thán chê bai suốt cả bữa ăn. Đi làm về công việc có hơi bận rộn quá sức thì họ cũng thốt nên đầy lời oan vọng. Tuy nhiên, hình thức biểu lộ sự đả phá, phẫn uất thì biểu hiện ở nhiều hình thái khác nhau, nếu Tuế Phá đi kèm với Cự môn có khi sự bất mãn, đả phá này chỉ thể hiện ở lời nói, hành văn, câu chữ. Còn một khi đi kèm với các võ tinh như Phá quân chẳng hạn, thì nó sẽ biến thành những hành động cụ thể. Bởi vậy, Phú văn có câu: “Trai bất nhân Phá quân Thìn Tuất/ Gái bạc tình Tham sát Dần Thân”. Nhưng có lẽ chỉ khi nằm cùng Tuế phá mới thực sự là bất nhân chính hạng

    Điếu khách: Bất mãn và thường phải dùng lời lẽ của mình để phân trần, thuyết phục người khác. Theo các tài liệu của môn Tử vi Đẩu số thì Điếu khách là một sao nói về tính chất không cẩn ngôn, lại ham bài bạc. Nhưng trên thực tế, Điếu khách chính là sự phân trần, giải thích những phẫn uất, bức xúc, ức chế của mình. Vì ở tư thế đối nghịch, nên lời nói của họ không được nhiều người tin cậy và coi đó là sàm ngôn, không cẩn trọng, phát biểu liều. Điếu khách, còn là những lời lẽ ngông cuồng khích bác, nếu hội hợp văn tinh, thì cũng là một người rất giỏi lý luận, biện, Gia Cát Lượng mệnh Vô Chính diệu lập tại Mùi, ông sinh năm Tân Dậu, mệnh có Điếu khách, Tả phù, Hữu bật, Nhật Nguyệt tinh minh, nên ông nổi tiếng về biện luận, sang Đông Ngô, bẻ gãy lý luận của các danh sỹ Giang Đông, khích Tôn Quyền, khích Chu Du, nổi giận quyết tâm việc đánh Tào Tháo. Trước trận mạc mắng cho Tư đồ nước Ngụy Vương Lãng chết nay tại trận, gửi thư khiến Tào Chân đọc xong chết luôn…Như vậy, nếu sự hội hợp không tốt, Điếu khách chỉ là sự ca thán trong mệt mỏi, chán chường. Còn kết hợp với trí tuệ sáng suốt, học vấn uyên bác thì Điếu khách là một năng lực hùng biện như thiên tài, văn chương quán chúng. Chúng ta không thể xem nhẹ, đánh giá thấp, luận đoán một các hồ đồ được

     Trong thời kỳ gần đây, một số đại gia môi giới bất động sản, kinh doanh địa ốc, hay đội ngũ quảng cáo tiếp thị tài tình đều có Điếu khách, cư thân hoặc cư mệnh.

     Tang môn: Ở trong cảnh bất mãn, không thỏa chí, luôn phải đấu tranh với định mệnh, Tang môn chính là sự lo lắng. Người có Tang môn thủ mệnh nét mặt thường không tươi, đắm chìm trong lo âu, suy tư. Nếu đắc địa thì giỏi nghiên cứu, còn nếu không, thì cuộc đời đắm chìm trong sự buồn bã, ưu tư, lo toan nặng gánh. Đi kèm với Tang môn là Thiên khốc, Thiên hư, được vì như hai giọt lệ lăn dài, trên đường đời đầy bụi bặm, nước mắt chan cơm.

Nhóm Tuế phá, Tang môn, Điếu khách luôn luôn hội hợp với Thiên mã. Thiên mã chính là nghị lực mạnh mẽ, chí khí lớn lao, tác phong siêng năng, cần cù, chịu khó. Cuộc đời thường xuyên bận rộn, ít khi được thảnh thơi. Nghị lực, sự cần mẫn trong đấu tranh có được đền đáp xứng đáng hay không, khi Thiên mã ở cung nào (Ở Dần người mệnh Mộc đắc cách, người mệnh Hỏa được hưởng lợi, ở Tị là ngựa chiến của Hỏa mệnh, người Thổ mệnh gặp nó cũng được hưởng thụ nhiều, Ở Thân, người mệnh Kim – Thủy đắc cách. Ở Hợi người mệnh Thủy, Mộc nhiều cơ hội thành công )

     Thiên mã, hội hợp Thiên Khốc, Điếu khách, Trường sinh là tiếng chuông ngựa của con tuấn mã, hay tiếng hý vang thắng lợi trở về. Nếu là Thiên mã, Thiên hư, Điếu khách là tiếng rên của ngựa ốm đói. Ý tượng thất bại, đau khổ

      Lộc, Mã giao trì là cách kinh doanh, buôn bán ở phương xa mà thành phú thương…

      Nhóm Thiếu dương, Tử phù, Phúc đức. Như trên đã giới thiệu, những người này, sinh ra trước chu kỳ vận động của Mộc tinh (Thiếu dương luôn ở trước Thái tuế), được tam hợp tuổi tương sinh cho tam hợp mệnh thân, khôn ngoan và hưởng nhiều đặc ân của tạo hóa.

     Thiếu dương: Bản chất của Thiếu dương chính là vòng tròn nhỏ màu trắng trên Thái cực đồ, nơi dương khí bắt đầu phát sinh, ánh sáng rạng rỡ, cho nên người có Thiếu dương tọa mệnh, thân là những người sáng suốt minh mẫn hơn, thông tuệ hơn người. Những người này từ học hành, nghiên cứu đều có tố chất học một biết mười, ứng xử, lời nói hành vi đều rất khôn ngoan, sáng suốt

     Tử phù: Như một đối trọng quyền lực với Thiếu dương, “càng khôn ngoan lắm, càng oan trái nhiều” như cổ nhân từng nói, hay “tài hoa mà bạc mệnh”, như cụ Nguyễn Du viết về Thúy Kiều vậy. Thế đứng của Tử phù là khôn ngoan nhưng thường bị kẹt, muốn có thành tựu phải dựa vào yếu tố khác

      Phúc đức: Muốn hơn người, mà thành quả vững chắc, thọ chung chính tẩm, sử sách ca ngợi, bảng vàng bia đá thì phải lấy đạo đức làm nòng cốt nền tảng, trọng đạo đức, trọng thần quyền, tu dưỡng bản thân, và hành động  theo chuẩn mực, quy tắc nhân ái thì thành tựu mới bền vững, sự sáng suốt khôn ngoan mới có giá trị, đem lại hiệu quả. Nhược bằng khôn mà không ngoan thì tất có hậu quả chuốc lấy thất bại thê thảm về sau. Điều này thực đúng đắn, trong xã hội không ít kẻ, dùng mưu trí làm điều ác điều xấu, đương nhiên kẻ gieo gió ắt gặp bão. Hồ Chủ tịch nói rằng: “Có tài mà không có đức thì là người vô dụng”. Thậm chí tệ hại hơn là những tên lừa đảo, tham nhũng, vơ vét, bòn rút, đến khi ấy không những vô dụng mà còn là kẻ gây tai họa cho người khác nữa.

     Bộ sao này tạo ra thế cân bằng, bởi các sao hợp chiếu nữa, khôn ngoan (Thiếu dương), công danh, thành tựu sớm có Đào hoa, Hồng loan, cần trọng đạo đức và tu dưỡng Phúc đức (tam hợp gồm Thiên đức, Nguyệt đức), nếu không quan triệt được nguyên lý này thì lâm vào thế bị kẹt Tử phù, rơi xuống hố sâu vực thẳm (Thiên không, Lưu hà, Kiếp sát ra tay thực thi công đạo), Thiên không (tượng của hố sâu), Lưu hà (cơ nghiệp chìm đáy nước), lưng trời gẫy cánh, chẳng thể được trọn vẹn

     Nhóm thứ tư là nhóm Thiếu âm, Trực phù, Long đức. Nhóm này xét về thế cục ở thế thua thiệt rõ ràng. Những người sinh năm Hợi, Mão, Mùi thuộc Mộc cục mà mệnh thân ở thế Dần, Ngọ, Tuất thuộc Hỏa cục, Mộc sinh Hỏa, bản thân vốn bị sinh xuất, không còn nguyên vẹn khí gốc nữa. Xét về hình thế sao.

    Thiếu âm : Bản chất là vòng tròn nhỏ màu đen trên Thái cực đồ, tượng của âm khí, bóng tối bắt đầu phát sinh, lan tỏa. Ta hình dung ra lúc trời chiều nhá nhem, người mệnh cung có nó tất sẽ nhẹ dạ, cả tin và nhầm lẫn, đôi khi khờ dại tin người trong những tình huống quyết định

     Trực phù : Phải chịu sự thiệt thòi vì sự cả tin, nhầm lẫn, thù lao, thành quả không được hưởng thụ xứng đáng, công sức, trí tuệ còn bị người khác lợi dụng, cướp đoạt

     Long đức: Vì cố gắng bon chen cùng không thể đến đâu, chính về thế nên tự tu để an ủi bản thân, không nên tham lam, hay thủ đoạn làm gì nữa.

     Vòng Thiếu âm, Long đức, Trực phù rất hợp với bộ Cơ, Nguyệt, Lương, Đồng hình ảnh của những công dân tốt, những bác sỹ, nhân viên, giáo viên mẫu mực. Họ có tính cách không ham bon chen, chỉ cốt thực hiện cho đúng chức phận của mình, là người trung hậu, đáng tin cậy. Đây là hình ảnh của Thừa tướng Tiêu Hà, thời kỳ Vua Cao Tổ Lưu Bang dựng nước, giao cho việc trù liệu lương thảo khí giới thì ông cố gắng làm tốt, giao cho việc xây dựng luật pháp, kiểm kê hộ khẩu nhân đinh, ông cũng đều cố gắng hoàn thành, đến khi nhận công lao, ông cũng là người khiêm tốn, chỉ có điều không phải, đó chính là sự nhầm lẫn, khí mà ông nhúng tay vào vụ sát hại Hoài Âm Hầu – Hàn Tín, vì lẽ đó mà ông hối hận và trở về kiếp tu, trở về đạo lý.

     Thế Thiếu âm, Long đức, Trực phù thường tam hợp Lộc tồn (tài sản), Tướng quân, Quốc ấn (danh vọng và địa vị). Tuy nhiên, để ăn được Lộc tồn thì cũng là hưởng nó trong nghịch cảnh và vất vả, có được địa vị của Tướng quân, Quốc ấn là cả một quá trình cung cúc tận tụy, vất vả gian lao.

      Thông qua việc nghiên cứu kỹ về bốn thế sao, với tư cách của bốn nhóm người cơ bản trong xã hội, ta thấy được bất cứ bộ sao nào cũng có ưu thế và những điểm cần lưu tâm, quan triệt. Nhóm Thái tuế, Quan phù, Bạch hổ là nhóm danh phẩm, tư chất hơn người, muốn thành công thì nhân sinh quan của họ luôn phải tiến lên, hoàn thiện mình và cống hiến cho xã hội, cho nhân dân.

     Nhóm Tuế phá, Tang môn, Điếu khách là những anh hùng quật khởi, cái đáng tôn trọng ở họ là nghị lực, cần cù, bản lĩnh của người dám chống lại định mệnh, nếu như hội hợp tốt, vận hạn tốt, họ đứng lên và hình ảnh của họ cũng rạng rỡ chói lòa không kém. Nhưng cái hại là nếu tổ hợp xấu, họ là những kẻ đâm chọc, phá hoại, khích bác rất khó chịu xung quanh chúng ta. Tệ hơn nữa là những tên lừa đảo, cướp bóc, phản dân hại nước.

     Anh em nhà Thiếu dương, Tử phù, Phúc đức, sáng suốt khôn ngoan từ nhân thức tới hành động. Nhưng tài luôn kèm với đức, hồng gắn bó với chuyên. Phúc đức, Thiên đức, Nguyệt đức nhắc nhở ai đó quanh ta…Đã được hưởng ân huệ của tạo hóa, thì phải trọng sự tu dưỡng, đạo lý. Bằng không thì lưng trời gẫy cánh, cơ nghiệp tan tành, danh ô, tiết xú

     Những người Thiếu âm, Long đức, Trực phù, là những người đáng tin cậy, trung hậu, nhưng cần siêng năng học tập, cẩn thận chu đáo hơn, tránh những sai lầm, cả tin đáng tiếc trong cuộc sống.

    Mệnh - Thân ở những tư thế như trên có những đặc trưng cơ bản như vậy. Nhưng bách nhân bách tính, lời nói và việc làm có nhất quán, tư duy và hành động có như lý tưởng hay không, thì chuyện cung mệnh, cung thân lập ở những thế cờ khác nhau. Đó là điều kỳ sau tôi sẽ phân tích thêm.

 

 

 

 

 

    


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: LUẬN VỀ BỐN THẾ SAO TAM HỢP VÀ BỐN MẪU NGƯỜI TRONG CÕI NHÂN THẾ

Giấc mơ người mang bệnh “ỷ lại tinh thần” –

Jung là một học giả, đồng thời cũng là một thầy thuốc. Khi quan điểm phiếm tính luận của Freud bị phê phán gay gắt, Jung đưa ra phương pháp phóng đại - một loại phương pháp giải thích các giấc mơ mới. Phương pháp phóng đại nguyên hình giấc mơ của Jun

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Jung là một học giả, đồng thời cũng là một thầy thuốc. Khi quan điểm phiếm tính luận của Freud bị phê phán gay gắt, Jung đưa ra phương pháp phóng đại – một loại phương pháp giải thích các giấc mơ mới. Phương pháp phóng đại nguyên hình giấc mơ của Jung là một loại phương pháp tổng hợp có trình độ cao.

Giấc mơ người mang bệnh

Jung có một người bệnh, ông ta ghi lại tất cả hơn 400 giấc mơ có liên hệ với nhau.

Người nằm mơ là một người theo đạo Ki-tô, không phải là giáo sĩ. Do những giấc mơ, ông không hứng thú mấy với tôn giáo. Người này kể: “Tôi mơ thấy có nhiều phòng, bên ngoài như sân khấu kịch, lại giống như bối cảnh của vũ đài. Có người nói lần sau sẽ biểu diễn hí kịch. Có một gian phòng, trên tường treo một tấm biểu ngữ khiến người ta phải chú ý. Tấm biểu ngữ viết:

Đây là giáo đường Ki-tô thế giới,

Là giáo điíờng của Thượng đế

Tất cả những ai tự giác bản thân,

Những người là công cụ của Thiủỵng đế đều có thể tiến đến.

Bên dưới có khắc dòng chữ nhỏ:

Giáo đường này do Ki-tô và Phao-lô xây dựng.

Tôi nói với bạn tôi:

–      Chúng ta hãy đến xem.

Bạn tôi trả lời:

–     Tôi xem không ra, tại sao lại có nhiều người tụ tập ở đây? Để có cảm tình với tôn giáo chăng?

Nhưng tôi nói:

–     Đây là một giáo đồ mới. Anh không có cách nào để hiểu được điều này.

Một người đàn bà đứng bên cạnh gật đầu tán thành.

Lúc này tôi mới phát hiện trên tường có khắc một đoạn văn, nội dung như sau:

Các binh sĩ!

Khi các anh cảm thấy mình ở dưới quyền uy của Tlnỉợng Đế, không cần trực tiếp nói chuyện với Thượng Đế, bởi vì Thượng Đế không nghe thấy gì cả.

Chúng tôi nghiêm chỉnh yêu cầu anh không cần mê muội

bằn luận về ân huệ giữa Thượng Đế với anh.

Như thế chỉ mất công vô ích.

Bất cứ sự việc gì có giá trị, khó có thể nói suông.

Điều trị bệnh tinh thần bắt nguồn từ quan điểm tự nhiên, tôn giáo và võ thuật cổ đại. Tôn giáo và võ thuật cho rằng bệnh tật là tà linh, là biểu hiện sự đau khổ.

Lý luận chủ yếu của quan điểm tự nhiên là để bác sĩ, thầy thuốc, hộ lý quan tâm đến người bệnh, giúp đỡ người bệnh khôi phục lý trí, tăng cường lòng tin chông lại bệnh tật.

Người ốm thường có tâm lý muốn trốn tránh bệnh tật của mình hoặc không muôn thừa nhận tình hình nghiêm trọng của bệnh tật. Cuối thế kỷ XVIII, một bác sĩ y khoa nổi tiếng cho rằng con người nếu ở trạng thái ngủ say sẽ làm cho nhiều căn bệnh tiêu tan và đã sáng tạo ra cách điều trị bằng thuật thôi miên.

Vào thế kỷ XIX, Freud đã sáng lập học thuyết phân tích tinh thần, được ứng dụng rộng rãi. Từ thập kỷ 50 của thế kỷ XX đến nay đã vận dụng phương pháp điều trị theo dõi hành vi phản xạ có điều kiện và phương pháp điều trị theo yêu cầu giúp đỡ về mặt tâm lý đối với người bệnh.

Theo con sô” thống kê chưa đầy đủ, có đến hơn 300 phương pháp điều trị tâm lý, trong đó có 10 loại được dùng nhiều nhất. Ai cũng có thể nắm vững phương pháp và quy luật để chữa bệnh khiến tâm lý ổn định và lành mạnh. Chúng tôi xin trình bày một số phương pháp chữa bệnh tâm lý sau:


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Giấc mơ người mang bệnh “ỷ lại tinh thần” –

Kỳ bí phép dùng trinh nữ làm thần giữ của

Quan lại, những người giàu có ngày xưa thường sở hữu khối tài sản khổng lồ, một kho báu giá trị vô cùng lớn. Để bảo vệ của cải khỏi sự nhòm ngó của những tay
Kỳ bí phép dùng trinh nữ làm thần giữ của

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

trộm và tai mắt người xung quanh, họ thường chọn một nơi kín đáo để giấu chúng. Họ chọn một mảnh đất tốt, chôn của cùng với một “trinh nữ” làm thần giữ cửa với mong muốn kho báu đó bất khả xâm phạm. 


Với những quy tắc tâm linh kì dị cùng giá trị tại sản cực lớn chôn theo nên những người làm lễ đặc biệt cẩn trọng trong khâu lựa chọn thần giữ cửa và quá trình chuẩn bị cho buổi lễ. Gia chủ mời một thầy phù thủy cao tay, am tường thiên văn, địa lý, lịch pháp, kinh dịch, thậm chí phải giỏi cả nghề thuốc để chủ trì buổi lễ. Đặc biệt, đây phải là người mà gia chủ tuyệt đối tin tưởng giao phó cho bí mật lớn này. Theo sự chỉ dẫn của thầy phù thủy, gia chủ tìm một mảnh đất tốt, hợp tuổi, nhiều linh khí và phải có vận chuẩn. Kế đến là chọn một cô gái còn trinh làm vật tế, chôn theo cùng để làm thần giữ của.
 
Buỗi lễ chôn của thường diễn ra ban đêm, lấy bóng trăng làm dấu đưa đường vừa tránh tai mắt người đời, vừa thuận lợi cho con cháu đời sau đến lấy kho báu ông cha. Bởi giấu của vào thời điểm nào trong năm thì khi lấy cũng phải đúng thời điểm đó. Chôn ngày 14 thì phải lấy ngày 14, lệch đi một ngày, một giờ thì bóng cây, bóng núi đã dịch chuyển sang địa điểm khác.
 
Của chôn đi phải có thần canh giữ để bảo vệ, nên sau đó tiến hành xây hầm mộ cho thần. Của và thần không nhất thiết phải nằm cùng một chỗ, chỉ cần của nằm trong phạm vi ảnh hưởng của thần là được. “Đất có thổ công, sông có hà bá”, khi động thổ thì biện lễ xin phép thổ công, để thần chứng cho mà đồng ý, không thì xây không thành. Cách thức xây dựng hầm mộ phụ thuộc vào nguồn gốc, truyền thống cũng như trình độ của thầy phù thủy. Nhưng mục đích chung vẫn chỉ có một là ngăn chặn những kẻ bên ngoài hóa giải lời nguyền.
 
Những cô gái được chọn làm thần giữ của rất trẻ, từ 13 đến 18 tuổi, có khi chỉ 9, 10 tuổi; đều còn trinh trắng để đảm bảo sự tinh khiết của thần. Những người giàu có thường mua các cô từ khi còn nhỏ rồi nuôi đến lớn hoặc giả cưới những cô gái nghèo khó về làm vợ lẽ, nhưng thực chất là để làm thần giữ của. Cô gái càng xinh đẹp càng tốt, bởi theo quan niệm, càng đẹp thì chết oan càng ấm ức, bùa càng linh nghiệm. Cô gái được chọn được chăm sóc đặc biệt ở một nơi riêng, tuyệt đối không tiếp xúc với đàn ông. Trước khi đưa đi làm lễ, họ được tắm rửa sạch sẽ, xức dầu thơm, ăn đồ chay tịnh.   Đến ngày đã chọn, để tránh cô gái chống cự, họ cho uống một loại thuốc gây tê khiến dù vẫn tỉnh táo nhưng không cử động, nói năng được. Cô gái bất động được đưa lên kiệu, khiêng đến căn hầm đã xây dựng sẵn. Lễ bắt đầu, người ta đặt cô nằm trong quan tài, miệng ngậm sâm, phù thủy làm phép để cô sống được đúng 100 ngày mà không cần ăn uống. 
 
Cô gái trẻ trung, xinh đẹp phải sống mòn mỏi trong cảnh chờ chết, rất oan ức, tuyệt vọng, hận thù nên khi chết thành thần giữ của. Chỉ những ai biết thần chú, được thần giữ của cho phép mới được vào. Bất kỳ ai cố tình xâm phạm đều mất mạng hoặc tâm thần điên loạn. Nếu vì lý do gì mà lấy được của cải trong kho thì thần cũng sẽ đeo bám, hành hạ đến khi trả lại thì thôi.

Ky bi phep dung trinh nu lam than giu cua hinh anh
Những cô gái trinh trắng chết oan trở thành thần canh giữ kho báu

Ở Việt Nam có nhiều câu chuyện ly kì mà người ta thường truyền tai nhau về những kho báu có thần giữ của là gái trinh. Nhiều người dân xã Vân Côn, huyện Hoài Đức, Hà Nội kể dưới chân ngôi miếu nằm trên bốn tảng đá trắng ở đỉnh núi Bạch Tuyết có đến hàng tấn vàng bạc châu báu được chứa đầy trong một cái hầm đá rộng bằng gian nhà. Kho báu đó do người Tàu để lại từ hàng ngàn năm trước, nhưng không ai có thể đột nhập để lấy đi bất cứ cái gì vì nó đã được yểm bùa bằng “linh hồn trinh nữ” 13 tuổi và một con rùa ngay cửa hầm. Có người bạo gan hám của, thuê thợ thuyền đào bới, truy tìm, lúc đào thấy một con rùa đang nằm với hàng tấn vàng bạc chói lóa, sáng lòa dưới hố nhưng mang lên chỉ toàn bùn đen đất đỏ. Từ đó, gia đình mấy anh thợ khoán vì cách này hay cách khác đều suy kiệt, đau ốm liên miên. Cũng có người kể lại từng thấy trăn rắn, gà vàng, cóc bạc chui ra từ kẽ đá dưới chân ngôi miếu vào những hôm trời nổi gió, mưa dông.
 
Hay như quá trình tháo dỡ ngôi nhà cổ gần 100 tuổi của cụ Nghị Dong ở làng Si, thị trấn Nam Sách, tỉnh Hải Dương để xây dựng công trình của huyện cũng gặp nhiều chuyện kì quái. Vị cán bộ huyện kí quyết định tháo dỡ ngôi nhà chết bất đắc kì tử, máy xúc thi công chết máy rồi gãy răng ở gầu xúc dù nền đất rất mềm. Khi nhồi cọc bê tông, công nhân phát hiện ra 3 cái chum đựng xác người, máy xúc vào đào nhưng gầu xúc cứ chạm đất là khựng lại. Chủ công trình mời thầy cúng về làm lễ thì thầy cho hay, dưới mảnh đất này có 8 cái chum đựng 8 xác trinh nữ theo trận đồ bát quái để “yểm” long mạch. Vì động vào đất của thần nên thần “vật”, gây cản trở. 
 
Những câu chuyện trên truyền đi khiến người ta tin rằng việc dùng trinh nữ làm bùa chú là có thật và linh thật. Nhưng đó mãi chỉ là những câu chuyện đồn thổi, kể cho nhau nghe, còn thực hư thế nào thì chẳng có ai dám khẳng định. Những điều mà người ta cho là “mắt thấy tai nghe” cũng chỉ qua lời kể của đôi ba người, không rõ đúng sai. Vì thế, dùng trinh nữ làm thần giữ của dẫu có cũng là chuyện của những thế kỉ trước, khi còn mê tín lạc hậu, giờ kể cho nhau nghe như câu chuyện tâm linh rùng rợn mà thôi.  
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Kỳ bí phép dùng trinh nữ làm thần giữ của

Hướng bếp hợp người sinh năm 1946 Bính Tuất –

Hướng bếp hợp người sinh năm 1946: - Năm sinh dương lịch: 1946 - Năm sinh âm lịch: Bính Tuất - Quẻ mệnh: Ly Hoả - Ngũ hành: Ốc Thượng Thổ (Đất nóc nhà) - Thuộc Tây Tứ Mệnh, nhà hướng Bắc, thuộc Đông Tứ Trạch - Hướng tốt: Bắc (Diên Niên); Đông (Sinh K

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Hướng bếp hợp người sinh năm 1946:

tin-tuc-20140808014303432

– Năm sinh dương lịch: 1946

– Năm sinh âm lịch: Bính Tuất

– Quẻ mệnh: Ly Hoả

– Ngũ hành: Ốc Thượng Thổ (Đất nóc nhà)

– Thuộc Tây Tứ Mệnh, nhà hướng Bắc, thuộc Đông Tứ Trạch

– Hướng tốt: Bắc (Diên Niên); Đông (Sinh Khí); Đông Nam (Thiên Y); Nam (Phục Vị);

– Hướng xấu: Tây Bắc (Tuyệt Mệnh); Đông Bắc (Hoạ Hại); Tây Nam (Lục Sát); Tây (Ngũ Quỷ);

Lời khuyên cho việc bài trí nội thất trong nhà:

Trong trường hợp này, có thể đặt bếp tọa các hướng Tây Bắc (Tuyệt Mệnh); Đông Bắc (Hoạ Hại); Tây Nam (Lục Sát); Tây (Ngũ Quỷ); , nhìn về các hướng tốt Bắc (Diên Niên); Đông (Sinh Khí); Đông Nam (Thiên Y); Nam (Phục Vị);

Ngoài ra, bếp nên tránh đặt gần chậu rửa, tủ lạnh, tránh có cửa sổ phía sau, tránh giáp các diện tường hướng Tây.

Chậu rửa, cũng như khu phụ, được hiểu là nơi xả trôi nước, tức là xả trôi những điều không may mắn, nên đặt tại các hướng xấu như hướng Tây Bắc (Tuyệt Mệnh); Đông Bắc (Hoạ Hại); Tây Nam (Lục Sát); Tây (Ngũ Quỷ);

Cửa của bếp nấu không được để thẳng với cửa chính của nhà, hoặc nhìn thẳng vào cửa phòng ngủ, người nằm ngủ sẽ gặp tai ương tật ách.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Hướng bếp hợp người sinh năm 1946 Bính Tuất –

Thạch anh Rutin (SiO2)

Những mẫu khoáng vật đẹp được tìm thấy ởÔxtraylia, Braxin, Madagaxca, Na Uy, Hoa Kỳ, Pakistanvà kazactan. Ở Việt Namcũng đã tìm thấy loại thạch anh này ở vùng Gia lai song về chất lượng chưa đượcđẹp.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

- Độ cứng theo thang Mohs: 7.0

- Khối lượng riêng: 2.6g/cm3

- Hệ tinh thể ba phương

- Ánh thủy tinh

Trong số những biến thể thông thường của silic đioxit, các chuyên gia về khoáng vật tách thành một nhóm riêng những tinh thể thạch anh trong suốt có chứa tạp chất dạng sợi trông như những sợi tóc hoặc hình kim rất mảnh. Đó là thạch anh rutin, rutin chính là titan đioxit (TiO2). Khoáng vật có mầu nâu sẫm hoạc vàng phớt nâu (theo tiếng Latinh rutin là "đỏ ánh kim" hoặc "hung đỏ"), tinh thể thường có tinh hệ bốn phương; thường gặp dưới dạng khối hạt nhỏ chặt sít. Tuy nhiên đôi khi các tinh thể rutin hình kim còn có các thành phần của hợp chất khác. Bề dầy của những tinh thể đó dao động từ cỡ milimet đến phần mười của milimet ,mầu sắc có thể vàng kim, ánh bạc thậm chí phớt xanh lá cây. Những sợi chỉ mảnh này tạo cho thạch anh một diện mạo thật độc đáo; không phải ngẫu nhiên mà thạch anh rutin được các nhà sưu tập đánh giá đặc biệt cao. Những mẫu khoáng vật đẹp được tìm thấy ở Ôxtraylia, Braxin, Madagaxca, Na Uy, Hoa Kỳ, Pakistan và kazactan. Ở Việt Nam cũng đã tìm thấy loại thạch anh này ở vùng Gialai song về chất lượng chưa được đẹp.

TÍNH CHẤT CHỮA BỆNH

Nhẫn và ngọc bội gắn thạch anh rutin có khả năng làm chậm quá trình lão hóa .Chúng kích thích hoạt động của hệ miễn dịch, cũng như giúp cơ thể hồi phục sau xạ trị. Thạch anh rutin giúp khắc phục tình trạng mệt mỏi và trầm uất. Nó còn có tác dụng trong điều trị về đường hô hấp.

TÍNH CHẤT MẦU NHIỆM

Loài người đã biết tới thạch anh rutin từ nhiều năm trước đây cho rằng chính tạp chất rutin đã tăng cường tính mầu nhiệm của thạch anh. Đặc biệt là thạch anh rutin giúp xua đuổi nỗi ưu phiền rầu rĩ và cô đơn, truyền cho chủ nhân của nó khả năng thiên nhãn và tiên đoán tương lai. Nhất là thạch anh rutin được coi là lá bùa hộ mệnh có tác dụng trong những vấn đề tình cảm . Không phải ngẫu nhiên mà trong số những tên gọi loại đá này trong thi ca là "mũi tên của thần Amur" (thần tình yêu thần ái tình)

ẢNH HƯỞNG TỚI LUÂN XA

Đối với luân xa vùng đám rối dương: có ảnh hưởng tới gan, lá lách và hệ tiêu hóa, luân xa này có liên quan tới lý trí, điều khiển cảm xúc và trí tưởng tượng.

Năng lượng chiếu xạ của dương.

CUNG HOÀNG ĐẠO

Chòm sao Kim Ngưu, Song Tử

TÊN KHÁC BIẾN THỂ

Mái tóc của thần vệ nữ

Nguồn: VietGem(st)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Thạch anh Rutin (SiO2)

Bàn chuyện dự đoán tương lai

Thái Uyển - đăng lúc 01:12:51 PM, Jan 04, 2006
Bàn chuyện dự đoán tương lai

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Trong cuộc sống vật chất gay go, đầy thử thách, và biến động, nhất là thời cổ đại, con người luôn luôn lo lắng cho tương lai, và tìm mọi cách để tìm hiểu bí mật của nó, và thường tin tưởng ở sự chỉ dẫn của Thần Linh.
Ngày nay, khoa học đã tiến bộ một bước dài với nhiều phát minh, khám phá kỳ diệu, có tầm vóc lớn lao ..nhất là thế kỳ 20, nhưng thực ra, còn nhiều điều khoa học chưa giải thích nổi, những sự bất công, bất như ý..còn đầy rẫy trong xã hội ..nên người ta còn cần tìm hiểu , kiếm giải đáp để dược yên tâm một phần nào,- những môn bói toán ..phát nguyên từ đó.
Ở phương Đông hay ở phương Tây, những môn bói toán được nhiều người biết đến là : Tử Vi đẩu số, Tứ Trụ, Bát Tự (Tử Bình), Mai Hoa, Lục Nhâm..Bói Bài Ai Cập (Tarot) ,Chiêm Tinh, Tướng Tay, Số học (Numerology) vv..
Gần đây, cả thế giới (Đông Tây) lại chú ý đến quyển Kinh Dịch của Trung Quốc, một cổ thư ra đời cách cả 5 ngàn năm, mà trước đây có một số người coi
thường vì cho nó chỉ là một sách bói toán.
Đa số những người trong giới khoa học (hay tự cho mình là văn minh, tiến bộ),
đều không tin giá trị của môn bói toán, lẽ giản dị vì họ chưa kiểm nghiệm, chứng minh được như các bộ môn (khoa học) khác: toán, lý, hóa, sinh vật học.. và, dĩ nhiên, họ cho những người tin bói toán là mê tín..
Sự thật thì-như trên đã viết, với trình độ hiện thời, có nhiều điều khoa học chưa- (hay không bao giờ) giải đáp được, mà khi chưa hiểu rõ, không cắt-nghĩa được.. thì không thể hoàn toàn phủ nhận những sự kiện của người khác nêu ra hay đã kinh qua
nhiều lần (để có thể tin tưởng).
Vậy, những môn bói toán, những phương thuật tìm hiểu tương lai có giá trị gì không và có thể tin tưởng được phần nào không. Câu trả lời sẽ không thể là toàn diện và đồng nhất, vì sẽ tùy theo sự cảm nhận, và kinh nghiệm của mỗi người, cũng như kẻ tu hành đã chứng quả tối thượng thì chỉ có họ nhận biết thôi!
Trong tập thơ “ Ta thấy hình ta những miếu đền”, nhà văn, nhà thơ Mai Thảo đã
có một nhận xét chí lý, khi ông viết (đại ý): Thế gíới có triệu điều không hiểu và ông hi vọng sẽ khám phá ra được, khi đã nằm xuống..
Riêng chúng tôi, cũng như một số bạn đồng chí hướng, từ thủa nhỏ đã nhiều lần thắc mắc về những vấn đề siêu thực (huyền bí) trong đó có bói toán, mà thịnh hành nhất ở Việt Nam là môn Tử Vi đẩu số, Độn Lục Nhâm..
Với những sự nghiên cứu và khảo nghiệm riêng từ nhiều năm, chúng tôi tin tưởng ở giá trị của môn bói toán, nếu những kẻ hữu quan tuyệt đối thành tâm, và người đoán số hay quẻ có đủ bản lãnh và kinh nghiệm.
Trong các môn bói toán (hay xem số) thì Bốc Dịch là môn khó vận dụng nhất, bởi vì những giải thích (quẻ hay hào từ) thường mù mờ, nước đôi..không trả lời dứt khoát vào câu hỏi của đương sự . Kẻ viết đã lưu tâm tìm kiếm được quyển Bốc Dịch lập thành, truyền là của nhà số học Trần Đoàn (đời Tống) sọan ra, đã thử thì thấy khá ứng nghiệm (nếu có dịp, sẽ xin trình bày cặn kẽ).
Bói toán cần có lòng tin, mà khi tâm đã thành và tịnh thì hình như bói cách nào cũng ứng, bởi thế mới có Bói Kiều ..và vô số phương pháp khác. Dưới đây là một kinh nghiệm mới nhất mà kẻ-viết mới trải qua, xin trình bày để quí bạn độc giả nhận xét.
Trong dịp bàu Tổng Thống Mỹ (ngày 7/11/20) vừa qua, một vài bạn có nhắc chúng tôi thử bói (Dịch) xem kết quả thế nào. Thực sự, kẻ-viết rất bận, và cũng không quan tâm đến cuộc bàu cử này lắm, nên cứ ngần ngừ..đợi cho hết việc, mới làm. Đến gần 12 giờ đêm, thấy mọi người đều đã mệt mỏi chờ kết quả bàu cử (25 phiếu cử tri đoàn của Florida), kẻ-viết chợt nghĩ ra một cách bói đơn giản, để mọi người tạm yên tâm đi ngủ.
Sau khi tĩnh tâm giây phút để cảm thông với Vô Hình lực, kẻ-viết đã dùng (một) đồng Quarter của Mỹ để xin bói thử, với ước định mặt có hình người là ứng cử viên Bush và mặt kia là ứng cử viên Gore. Sau khi xóc vài vòng, đồng tiền được tung lên, rồi rơi xuống với hình người lật ngửa, có ý nghĩa là Bush sẽ thắng, và quả nhiên độ nửa giờ sau, có tin Bush đã lượm 25 phiếu cử tri đoàn Florida.
Qua nhiều lần bói quẻ theo sách Bốc Dịch lập thành, kẻ-viết nhận thấy 80% số câu hỏi đã dược giải đáp rõ ràng, và kết quả đúng như lời giải đoán. Kẻ viết còn giữ lại ký lục của những Quẻ (Dịch) và Hào đã bói theo lối gieo đồng tiền (6 lần, mỗi quẻ)
để chiêm nghiệm, và sẽ trình bày lại đầy đủ, nếu có cơ hội thuận tiện.
Nhân tiện đây, chúng tôi cũng xin góp vài ý kiến về tìm hiểu Kinh Dịch, một tác phẩm để bói toán từ lâu đời, đang được các giới học giả Đông Tây nghiên cứu, bàn luận ..để tìm hiểu ý nghĩa chính xác và sự áp dụng của nó trong việc dự (tiên) đoán tương lai.

Dự đoán học nhằm đoán trước tương lai , tức là xu thế phát triển hoặc kết cục tương lai của sự vật, gần hay xa . Chu Dịch có thể là bộ sách chuyên môn ra đời sớm nhất trên hoàn vũ , và chiêm bốc (đoán) là một phần của Chu Dịch (Tượng,Số, Lý, Chiêm). Có thể nói, Chu Dịch lấy chiêm bốc làm hình thức thực hiện.
Quái từ (quẻ) và hào từ chứa đựng những tin tức, qui nạp từ thực tế xã hội
và nhân sinh. Chu Dịch được coi là sách dự đoán cấp cao vì nội dung chứa đựng những nguyên lý dự đoán rất ảo diệu, phương pháp đa dạng, giá trị dự đoán rất cao qua nhiều thời đại về nhiều mặt, thời tiết, phong thủy, cát hung, họa phúc ..
Ngoài phương pháp dự đóan thường thấy như Bốc Dịch theo tượng quẻ, theo lục hào, còn có Kỳ môn độn giáp, Lục nhâm thần toán, Tứ trụ (Bát tự) Tử Bình, Thiết bản thần số ..là những trường phái chiêm phệ khác nhau .
Đã một thơi gian dài, Chu Dịch chỉ được một thiểu số để tâm nghiên cứu ( giơi Nho sĩ cầm quyền ở Trung Quốc, Việt Nam..) và dưới một số chế độ mới, nó từng bị coi là mê tín dị đoan, nếu không phải là bị cấm kỵ.
Thời gian gần đây, ở Trung Quốc, việc nghiên cứu Chu Dịch như được sống lại, ngày càng trở nên rộng rãi, do công lao của các đại Dịch học gia như Thiệu Vĩ Hoa.-.cháu nhiều đời của nhà lý số Thiệu Khang Tiết ( đời Tống), truyền là tác giả sách Mai Hoa Dịch Số,- đã đem dự đoán Chu Dịch ứng dụng vào thực tế, được kiểm chứng vớI khoa học, nên được nhiều tầng lớp trong xã hội tôn trọng, độc giả trong, ngoài nước (Trung Quốc) hoan nghênh .
Nguyên lý Âm Dương được thể hiện trong Chu Dịch qua tượng quẻ và các hào, đó là tính cách Cương Nhu của hào và quẻ với hai ký hiệu __ và _ _để gọi tên các
Hào Dương và Hào Âm.
Trong thiên Thiên Hà, Trang Tử nói: Dịch lấy âm dương làm Đạo . Lại nữa,
Trong Dịch truyện, Hệ từ nhắc lại: Nhất âm, nhất dương chi vị Đạo, có ý nói là
Mâu thuẫn biến động của âm dương (hai cực đối lập) là động lực phát triển của sư vật và xã hội.
Ngoài ra, quan niệm về Ngũ hành sinh khắc , phôi thai từ triều Ân (Trung quốc), đã có mầm mống trong Chu Dịch qua yếu tố Thủy Hỏa .Cổ nhân chia vạn vật ra làm 2 loại lớn là Âm và Dương, còn Kim, Mộc, Thủy ,Hỏa, Thổ là những vật chất cơ bản để tạo thành thế giới.
Sách Hà Lạc nguyên lý nói: Thái Cực sinh ra âm dương, âm dương hợp hóa
ra ngũ hành, các hành vừa là mầm mống , vừa là thành tố của vạn vật.
Dự đoán Chu Dịch gắn liền với ngũ hành, âm dương, và Bát quái của Chu Dịch lại là sự vận dụng qui luật ngũ hành, giải thích và nói rõ mối quan hệ và sự biến hóa của các sự vật và hiện tượng trên thế giới
Giữa ngũ hành có luật tương sinh, tương khắc, cũng như âm dương, là hai
mặt gắn bó-với-nhau của sự vật. Có sinh khắc mới duy trì được sự cân bằng và điều hòa trong quá trình phát triển và biến hóa của sự vật. Mối quan hệ trong âm có dương, trong dương có âm, trong sinh có khắc, trong khắc có sinh, tương phản, tương thành, dựa vào nhau đã duy trì và thúc đẩy vạn vật sinh trưởng, phát triển, biến hóa bình thường.

-Về Ngũ hành tương sinh. Mộc sinh Hỏa Hỏa sinh Thổ Thổ sinh Kim
Kim sinh Thủy Thủy sinh Mộc
Theo Mệnh lý thám nguyên, Mộc tính ấm, do Hỏa phục mà sinh ra nên nói là Mộc sinh Hỏa .
Hỏa nhiệt có thể đốt cháy mộc thành tro, nên nói là Hỏa sinh Thổ .
Thổ sinh Kim vì kim loại ẩn tàng trong núi (đá hay đất).
Kim sinh Thủy vì có khí thiếu âm chảy thành nước.
Thủy sinh Mộc vì cây cốI nhờ có nước mớI sinh trưởng..
-Về Ngũ hành tương khắc.
Đó là Mộc khắc Thổ  Thổ khắc Thủy  Thủy khắc Hỏa Hỏa khắc Kim Kim khắc Mộc.
Trong quan hệ tương khắc có hai mặt, khách khắc chủ là (hại), và chủ khắc khách, trái lại, là tốt.

GIEO QUẺ

Thông qua tượng quẻ để đoán cát hung, muốn thế cần phải học cách gieo quẻ .
Gieo quẻ sai, tất cả sẽ sai dù bản lĩnh cao, mà muốn bản lĩnh cao, cần nắm vững các kiến thức cơ sở liên quan đến việc gieo quẻ.
Theo một số tài liệu hướng dẫn, muốn gieo quẻ trước hết cần :
-  Có Lịch âm dương, tức là lịch Vạn niên dù đoán theo Tượng quẻ,. theo 6 hào, hoặc theo Tứ trụ Tử Bình. Mà ở lịch âm dương, chúng ta cần biết rõ thời điểm các Tiết Khí giao nhau .
Năm âm lịch có 12 tháng và 24 tiết khí, đó là: Lập Xuân, Vũ Thủy, Kinh trập, Xuân Phân, Thanh Minh, Cốc Vũ- Lập Hạ,Tiểu mãn, Mang Chủng, Hạ Chí, Tiểu Thử, Đại Thử- Lập Thu, Sử Thử, Bạch Lộ, Thu Phân, Hàn Lộ, Sương Giáng-Lập Đông,Tiểu Tuyết, Đại Tuyết, Đông Chí, Tiểu Hàn, Đại Hàn ..
Những tiết khí mang số lẻ (như 1,3..) gọi là Tiết khí, các tiết có số chẵn gọi là Trung khí. Trong vài ba năm có 1 tháng không có Trung khí, được gọi là Tháng Nhuận, mang tên tháng đứng trước mình. Tuy nhiên, trong dự đoán, thì 12 trung khí và tháng Nhuận không có tác dụng trực tiếp, chỉ cần đến 12 tiết khí như Lập Xuân,Thanh Minh..Lập Hạ, Lập Thu..
Trong dự đoán, dùng 12 Tiết Khí để phân ranh giới Nguyệt Lệnh giữa các tháng. Lập Xuân là Nguyệt lệnh thứ nhất trong 12 tiết khí của mỗi năm, nên được coi là ngày Đầu tiên của một năm, và cũng là ngày phân ranh giới giữa hai năm (trước và sau) . Nguyệt lệnh là một trong những tiêu chuẩn để đo lượng mức độ thành, bại của sự dự đoán.
Trong sách Nhập môn Chu Dịch của nữ sĩ Trần Viên (Trung quốc) biên soạn có chỉ dẫn một cách tính số theo ngày Lập Xuân-rất quan trọng-xin được tóm tắt ở đây:
“..Lập Xuân năm 1991 bắt đầu từ 16giờ 09 phút ngày 20 tháng 12 năm âm lịch của năm 1990 (Ngọ). Người sinh trước giờ này(16.09) thuộc về năm Ngọ, còn những người sinh sau 16.09 tính thuộc về năm 1991(Mùi) ..”

Vận dụng Thiên Can (10) Địa chi (12) đế miêu tả chu kỳ vận hành của mặt trăng và mặt trời, và định âm, dương, ngũ hành, phương vị của chúng. Cách tính can chi ngày giờ khá phức tạp, cần có Lịch Vạn niên mới thực hiện được đầy đủ. Nhân đây cũng xin ghi lại ý nghĩa của Can Chi để cùng mở rộng kiến thức. Theo sách “Ngũ Hành đại nghĩa”, Can Chi do Đại Náo (?) đặt ra. Ban đầu, ông lấy Giáp Ất làm tên ngày gọi là Can., lấy Tý, Sửu làm tên tháng , gọi là Chi. Việc nào liên quan đến Trời thì dùng hàng Can để tính, việc liên hệ với Đất thì dùng Chi, tóm lại là những ước hiệu được đặt ra để dùng vào việc dự đoán.
Về ý nghĩa của từng Can, theo sách “Quần thư khảo dị”,
-Giáp có nghĩa là Tách ra (khỏi vạn vật)
-Ất: : Bật ra (chỉ trạng thái sơ sinh)
-Bính: tỏ rõ
-Đinh: Mạnh, trưởng thành
-Mậu: Rậm rạp, phát triền
-Kỷ: ghi nhớ, thành hình, phân biệt rõ ràng..
-Canh: cứng rắn (có cốt lõi)
-Tân: mới (sinh)-không phải là tân khổ, như có người giải thích.
-Nhâm: gánh chịu ( sự nuôi dưỡng vạn vật)
-Quý : vỡ nát (sau khi đã chín)-chứ không phải là quí trọng, như một số người nói.

Ngoài ra, để có thể suy đoán quẻ, người học cần biết cách gieo quẻ, hiểu rõ ý nghĩa các tượng quẻ...một việc đòi hỏi thời gian, kinh nghiệm và trí thông minh của mình..không dễ gì đạt được trong một sớm, một chiều.

Dù sao, đây chỉ là vài ý kiến sơ lược đóng góp vào việc dự đoán tương lai, điều màchúng tôi tin tưởng có thể làm được một phần, nếu có sự học hỏi nghiêm túc và nghiên cứu kỹ càng,-sẽ được trình bày ở những phần sau.

Tháng 12/2000 Thái Uyển

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Bàn chuyện dự đoán tương lai

Những lưu ý với đường nước vào nhà

Nguồn nước từ trước đến nay luôn được xem là biểu trưng cho sự thịnh vượng, giàu sang, phồn thịnh, may mắn. Thế nên, người ta rất chú ý đến cách thiết kế đường nước chảy vào nhà để tạo nên những điềm may mắn, thịnh vượng cho chính gia đình mình.
Những lưu ý với đường nước vào nhà

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Đường nước dùng để chỉ đường dẫn nước vào và ra. Người xưa một mặt ý thức được việc dòng nước có thể ảnh hưởng đến khí, “ khí dương thổi theo gió, khí âm thổi theo nước” - “Nơi có khí thuận theo âm dương thích hợp để sinh sống”, mặt khác cũng cho rằng, nước là nguồn mang lại sự giàu có vì thế đặc biệt coi trọng đường nước, coi nó là thần bảo hộ và đường sinh mệnh

Tiêu chuẩn đường nước hợp lý là: “thiên môn khai, địa hộ bế”. Nơi nào nước chảy đến gọi là cửa trời, nước đến mà không thấy nguồn gọi là cửa trời mở. Nơi nước chảy đi gọi là cửa đất, nơi không thấy nước chảy đi gọi là của đất đóng. Nước chảy đi tượng trưng cho của cải, cửa mở của cải đến, cửa đóng thì của cải dùng không hết. Cửa trời cửa đất đã giới định cả một khu vực xóm làng, tượng trưng cho nhà cửa và linh hồn của xóm làng.

Trước cửa nhà có nước gọi là tiền đường tụ thủy, tư tưởng truyền thống cho rằng thế là có phúc trạch, nước đã trở thành biểu tượng của Phúc.

Kiến trúc ngày nay muốn bù đắp sự thiếu hụt nước tự nhiên do thiên nhiên ban tặng nên đã dùng phương pháp thủ công đào ao hay suối phun nước. Những tia nước vút lên ngụ ý mong muốn cho của cải đến nhiều.

Nước là nguồn gốc cuộc sống của nhân loại, cũng có người cho rằng nước là nguồn gốc của của cải. Trong phong thủy quan niệm, nếu cửa mở ở vị trí tốt, trước nhà có nước sẽ tự nhiên sinh của cải, sẽ mang đến sự giàu có cho chủ nhân. Nếu cửa mở ở vị trí xấu dòng nước đó sẽ mang đến những điều không hay cho người ở.

Đoan Trang
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những lưu ý với đường nước vào nhà

LUẬN BÀN CÁCH ĐA PHU - NHỮNG SAO NHIỀU CHỒNG

1. Cách đa phu tại cung Phu: Cự Môn , Hóa Kỵ : cho dù đắc địa cũng nói lên bất trắc gia đạo đặc biệt là khi đồng cung...
LUẬN BÀN CÁCH ĐA PHU - NHỮNG SAO NHIỀU CHỒNG

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

1. Cách đa phu tại cung Phu:
Cự Môn, Hóa Kỵ: cho dù đắc địa cũng nói lên bất trắc gia đạo đặc biệt là khi đồng cung. Bộ sao này gọi là "ngọc có vết", ám chỉ duyên số phụ nữ phải gặp bất hạnh, từ tai nạn trinh tiết xảy ra cho người con gái chưa chồng cho đến hậu quả trên hạnh phúc gia đạo sau khi lập gia đình. Cự, Kỵ có nghĩa là có hai đời chồng, đồng thời cũng có nghĩa là gia đạo bất hòa, người đàn bà bị hắt hủi, phụ rẫy vì thất trinh trước khi lấy chồng. Nếu chỉ có Kỵ đơn thủ thì chỉ có nghĩa là bất hòa mà thôi.
Cự Môn hãm địa: nếu cung Phúc, Mệnh hay Thân xấu, Cự Môn hãm địa sẽ bất lợi cho gia đạo, thể hiện qua việc chắp nối vài lần. Trái lại, nếu ba cung trên tốt, thì có thể chỉ xung khắc mà thôi.
Cự Môn, Hỏa Tinh, Linh Tinh: khắc phá, dễ đi đến tan vỡ, chắp nối.
Phá Quân, Tuần hay Triệt: Phá Quân chủ sự hao tán phu thê dù là đắc địa. Tuần, Triệt báo hiệu sự xung khắc nặng. Cả hai sao thường báo hiệu sự gãy đổ, có khi đến ba lần. Chỉ riêng Tuần hay Triệt cũng đủ hủy hoại một lần hôn nhân.
Tuần, Triệt hoặc Tuần, Triệt đồng cung: chỉ sự gãy đổ một lần, nhẹ nhất có thể là bị hồi hôn sau khi có lễ hỏi, nặng nhất là tan rã sau khi hai người ăn ở với nhau. Nếu Tuần, Triệt đồng cung thì cái họa chia ly, sát phu, chắp nối hầu như khó tránh và có thể xảy ra ít nhất hai lần trong gia đạo. Nếu cung Phúc, Mệnh, Thân mà xấu nữa thì nữ số, ngoài việc chết chồng, mất chồng có thể lâm vào cảnh lẽ mọn, thứ thiếp, chưa kể đây có thể là trường hợp gái giang hồ hoặc là gái già không chồng, lỡ thời hoặc phải ở vậy nuôi con, dù có "lắm mối" mà tối vẫn "nằm không". Trường hợp chồng bỏ cũng là một hình thái khả dĩ có. Hai sao này phá hoại cung Phu không kém gì Phá Quân hãm địa. Mức độ nặng nhẹ, số lần tan hợp còn tùy phẩm chất của Phúc, Mệnh, Thân.
Thất Sát ở Thìn, Tuất: khắc chồng và gián đoạn gia đạo nhiều lần, đặc biệt là khi Phúc, Mệnh, Thân xấu.
Tử Vi, Tham Lang hội Tả, Hữu: Riêng Tả, Hữu ở Phu ám chỉ sự song đôi, nghĩa là có hai đời chồng hoặc nếu Mệnh, Thân có nhiều sao tình dục thì có chồng  và có cả nhân tình.
Đào Hoa, Thiên Hình: duyên số bị trắc trở nhiều lần. Vì Thiên Hình chỉ sự ghen tuông và bạo hành cho nên cách Hình Đào ám chỉ một vụ ngoại tình nào đó của người chồng (hay vợ) làm đổ vỡ gia đạo, sau một trận xô xát và mặt khác cũng chỉ cá tính quá ghen tuông của người vợ/chồng làm cho duyên phận hai bên bị gián đoạn. Vốn có Đào Hoa hiện diện ở Phu cho nên việc ngoại tình của chồng thường tái diễn và việc ông ăn chả bà ăn nem cũng khả hữu.
Thiên Riêu, Thiên Hình: ý nghĩa tương tự như trên nhưng có phần nặng hơn vì Thiên Riêu chỉ sự giao dịch sinh lý hẳn hoi, trong khi Đào Hoa có thể chỉ bay bướm lăng nhăng. Tuy Hình, Riêu ở Phu có nghĩa là chồng ngoại tình song đây cũng là cách gái hại chồng, phản chồng để thỏa mãn sinh lý hoặc để trả thù. Nghĩa này càng rõ khi Riêu thủ ở Mệnh, Thân, Di hay Quan của lá số phụ nữ: đàn bà dâm đãng, ngoại tình và bị chồng hay nhân tình đánh đập (Thiên Hình chỉ thương tích) hoặc kiện ly dị.
Đào Hoa hay Hồng Loan gặp Hóa Kỵ: không nhất thiết phải có hai chồng. Chắc chắn nhất là bộ sao này chỉ sự đắc mèo của chồng, đắc kép của vợ. Hội với Hóa Kỵ ở cung Phu là có sự lục đục, nghi ngờ lẫn nhau trong gia đạo. Nếu thiếu sao đoan chính thì vấn đề đắc kép của nữ số chỉ ngoại tình, đa "phu". Nếu nhân duyên bị gián đoạn, người đàn bà tái giá rất nhanh, nhờ luôn có kép hờ.
Long Trì, Phượng Các, Tả Hữu: Long Phượng chỉ hôn nhân, còn Tả Hữu ngụ ý có sự song đôi hay tái sinh, tái hợp nhiều lần. Vì bản chất tốt đẹp  của Long Phượng nên trong cả hai lần, phụ nữ đều gặp nhân duyên ưng ý.
Nhật, Nguyệt, Tả Hữu: Nhật Nguyệt tượng trưng cho chồng và vợ đi đôi với Tả Hữu có thể có tình trạng hai lần lập gia đình hoặc tình trạng có gia đình mà có nhân tình. Nếu Nhật Nguyệt cùng sáng, hai mối duyên có thể cùng tốt đẹp. Nếu mờ ám, thường là ngang trái, chia ly.
Thiên Mã, Tuần hay Triệt: chỉ sự đổ vỡ một lần.

Cự Môn, Thiên Đồng, Thiên Riêu: Cự ở Phu chỉ trắc trở gia đạo, Đồng chỉ sự thay đổi, Riêu chỉ sắc dục. Đây là trường hợp ngoại tình của người chồng hoặc người vợ vì Cự ở Phu thường chỉ hai đời chồng hoặc hai chồng. Vì Riêu chỉ mối tình xác thịt cho nên cả hai vợ chồng cùng chạy theo tiếng gọi của sinh lý.
Thai, Phục, Vượng, Tướng: hai vợi chồng lấy nhau rồi mới hợp thức hóa (tiền dâm hậu thú), đồng thời cũng có nghĩa là vợ hoặc chồng có một đời con trước rồi mới họp nhau.

2. Cách đa phu tại cung Mệnh hay Thân:
Đào Hoa hay Hồng Loan với Thiên Riêu: đa tình, đa dâm, dù đã có chồng.
Đào, Thai hay Liêm Trinh, Tham Lang đồng cung: chỉ sự dâm đãng khá nặng, hiến dâng một cách dễ dãi và vô điều kiện. Riêng bộ Liêm Tham còn báo hiệu cả số kiếp giang hồ khả hữu. Sự hiện diện của sao Thai còn có nghĩa "không chồng mà chửa".
Thiên Riêu, Thiên Đồng: chỉ sự thay cũ đổi mới trong vấn đề sinh lý và là biểu hiện của sự ngoại tình, bắt nguồn từ lý do thể xác. Nếu Đồng ở Hợi hay Tỵ mà gặp Riêu tại đó thì có thể là giang hồ, hư thân mất nết từ nhỏ.
Hoa Cái, Bạch Hổ, Mộc Dục: Mộc Dục và Hoa Cái chỉ sự chưng diện, se sua và háo dâm. Bạch Hổ là máu. Tính nết dâm đãng vào tận xương tủy, hầu như là một bệnh sinh lý. Đây là người chưng diện sắc sảo và khéo chiều chuộng đàn ông, làm cho mọi người phải chết mê, chết mệt vì họ.
Tướng, Khúc, Mộc, Cái, Đào: chỉ sự hoa nguyệt của hạng người quý phái, ngoại tình với các nhà tai mặt, quyền thế, sang trọng.
Tham Lang hay Thất Sát ở Dần, Thân: chỉ người con gái bạc tình, đôi khi ghen tuông từ tự ái hay quyền lợi hơn là vì tình yêu
Đào Hoa hay Hồng Loan: có nhan sắc, có duyên. Nếu hội thêm Tả Hữu, có thể có hai đời chồng.
Sát tinh và sao tình dục: báo hiệu nhiều nghiệp chướng trong tình trường, cụ thể như gặp nhiều mối tình hết sức ngang trái hoặc phải tan vỡ nhiều lần, thậm chí có thể là giang hồ lãng tử. Người đàn bà như vậy gặp nhiều mối tình liên tiếp, chóng hợp, chóng tan, mỗi lần như thế đều phải điêu đứng, đau khổ, có khi đến tự tử (sát tinh).
Chính tinh hãm địa ở Mệnh: cũng là một bất hạnh có thể có cho gia đạo. Sát Phá Liêm Tham không bao giờ hợp với phụ nữ về phương diện gia đạo. Nếu đắc địa thì có thể quyền quý cao sang nhưng cảnh chồng con không toàn, không bền, dễ bị gián đoạn, chắp nối.

3. Cách đa phu ở cung Nô:
Đào Hoa hay Hồng Loan: chỉ nhân tình khả hữu, dù là có chồng.
Thiên Riêu, Đào Hoa hay Thiên Đồng: háo dâm, hay thay đổi tình nhân và ngoại tình. Duy chỉ có Riêu ở Mão, Dậu thì tương đối kín đáo, có tự chế, vì thế ít lụy đến danh giá, tai tiếng. Nếu có Tử đồng cung thì cuộc ngoại tình rất bí mật, cẩn thận, nhờ tài khéo léo che mắt thiên hạ. Đào với Tử còn có nghĩa là yêu trộm, thương thầm, có khi  chỉ một chiều.
Thai Đào hay Thai Riêu: chỉ việc thụ thai khả hữu do lang chạ.
Thai, Phục, Vượng, Tướng: dâm bôn với người tình có thể có thai. Thông thường, có sự dụ dỗ của một bên nào đó vì có Phục Binh và Tướng Quân chỉ thủ đoạn, làm liều, táo bạo. Và cũng vì có Phục Binh nên có thể câu chuyện bị tiết lộ và cặp nhân tình bị bắt ghen tại trận. Nếu được Thiên Giải đồng cung, có thể chạy thoát.

4. Cách đa phu ở cung Tử:
Khi cung Tử là âm cung thì bảy cách sau chỉ đàn bà hai chồng: Thiên Tướng, Tuyệt - Thái Âm, Thiên Phúc - Cự Môn, Thiên Cơ đồng cung - Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương thủ, chiếu - Phục Binh, Tướng Quân - Thai, Đế Vượng và Thai, Tả, Hữu.

5. Cách đa phu ở cung Thê của phái nam:
Đào, Hồng, Kỵ, Đà: lừa dối chồng để trăng hoa.
Đào, Hồng, Cái: vợ chồng bỏ nhau vì nguyên nhân loạn dâm hay ngoại tình.
Đào, Thai hay Hồng Riêu hay Riêu Thai: vợ ngoại tình, lang chạ, đôi khi mang con người về cho chồng nuôi.
Thất Sát hay Phá Quân ở Thìn, Tuất: vợ hai lòng.

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: LUẬN BÀN CÁCH ĐA PHU - NHỮNG SAO NHIỀU CHỒNG

Vu Lan báo hiếu, ngẫm về đạo làm con

Vu Lan báo hiếu, mỗi năm một lần nhưng hiếu thảo với cha mẹ, một đời không hết. Nhân ngày lễ Vu Lan, xin mạn bàn đôi chút về thái độ của con cái đối với cha mẹ.
Vu Lan báo hiếu, ngẫm về đạo làm con

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


► Tra cứu Lịch âm dương, Lịch vạn sự nhanh chóng và chuẩn xác nhất

Vu Lan bao hieu, ngam ve dao lam con hinh anh 2
 
Phật dạy trong trăm điều thiện, thì hiếu thảo là cái thiện hàng đầu, trong trăm phúc báo, thì hiếu thảo là phúc báo số 1. Cha mẹ cho hình hài, cho thân thể, cho yêu thương, con cái đáp đền bằng lòng hiếu thảo, ấy là cái lễ ở đời. Thế nên mới có ngày lễ Vu Lan báo hiếu – Rằm tháng 7, gợi nhắc về ý thức, tình cảm của con cái đối với cha mẹ.   Lễ Vu Lan nào phải cúng bái, lễ lạt gì mới đủ thành tâm, chỉ cần hàng ngày, hàng giờ ghi nhớ đôi điều sau đây là đủ:   1. Cha mẹ dạy bảo, con cái lắng nghe, ở thời điểm cho mẹ khuyên giải, nhất định phải cung kính tiếp nhận. Ở thời điểm cha mẹ trách phạt, nhất định phải khiêm tốn ăn năn, kiểm điểm bản thân, sửa đổi chính mình. Vì bậc làm cha làm mẹ nào trên thế gian này cũng đều một lòng mong con cái trưởng thành đức hạnh, mà con cái cãi lời chính là không có tâm cung kính.    2. Kiên nhẫn lắng nghe, trò chuyện cùng cha mẹ. Cha mẹ hiểu lầm, không giải thích cũng không sao, nhún một bước, nhẫn một chút, nóng nảy qua đi, cha mẹ con cái lại hòa bình. Trên đời này, bất cứ ai cũng có thể đến rồi đi, bất cứ ai cũng có thể từ quen thuộc trở thành xa lạ, từ gần gũi trở nên người dưng nước lã. Chỉ có cha mẹ với con cái là dù xa cách bao nhiêu cũng vẫn là người thân, người yêu nhất, không thể chối bỏ.
Vu Lan bao hieu, ngam ve dao lam con hinh anh 2
 
3. Yêu thương bản thân, yêu thương cha mẹ. Cha mẹ đánh con, cha mẹ đau, con đánh cha mẹ, cha mẹ đau. Vì thế, trong mối quan hệ cha mẹ - con cái, êm ấm thì cả hai hạnh phúc, bất hòa thì cha mẹ chịu khổ. Người làm cha làm mẹ luôn chịu thiệt thòi, nhường nhịn và bao dung với con cái. Cha mẹ nuôi con không kể tháng ngày, con nuôi cha mẹ con đếm từng ngày. Muốn hiếu với cha, với mẹ thì tốt với mẹ cha thôi chưa đủ, tốt với chính mình mới là sáng suốt, vì con hạnh phúc, cha mẹ khắc yên lòng. 
  Vu Lan báo hiếu, bông hồng màu đỏ cài áo những ai còn đang còn mẹ để báo hiếu, bông hồng trắng trên những khuôn ngực không thôi nỗi đau mất mẹ. Dù là bất kì ai, ngày này hãy một lần ngẫm về chữ hiếu, hướng đến đấng sinh thành, tự thấy mình đã là đứa con ngoan?
Chớ nhầm lẫn giữa lễ Vu Lan và lễ cúng Cô hồn Tháng 7 âm lịch - tháng của tâm linh Tiết Trung Nguyên
Tâm Lan
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Vu Lan báo hiếu, ngẫm về đạo làm con

Xu hướng làm mới phòng bếp

Làm mới lại tủ bếp bằng cách sơn một lớp màu mới không phải là điều gì mới. Nhưng, khi bạn sử dụng hai, ba hoặc thậm chí là bốn màu sắc khác nhau thì các “khối” màu sẽ mang tới hiệu ứng mới mẻ.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Đây là cách hợp lý để thêm phong cách cho một căn bếp và những khả năng sáng tạo dường như là vô tận. Phòng bếp của bạn có thể trở nên tinh tế và “hút mắt” hay không tủy thuộc vào cách bạn lựa chọn màu sắc. Xu hướng “color-block” khiến tất cả mọi người phải yêu mến.

Dưới đây là cách làm thể nào để tạo ra hiệu ứng tốt với xu hướng “color-block” cho tủ bếp nhà bạn.

Sơn tủ bếp trên cao bằng một màu sắc khác với màu của tủ bếp bên dưới. Nếu bạn đang chọn lựa bộ đôi sắc màu có sự tương phản cao thì hãy sơn những tủ bếp phía dưới với gam màu tối và những tủ bếp phía trên bằng một màu sáng hơn. Đặt gam màu tối gần cửa ra vào sẽ giúp mắt nhìn cân bằng, trong khi đó, những màu sáng trên cao sẽ khiến một căn bếp có cảm giác được rộng mở và thoáng đạt hơn.

Nếu bạn mong muốn hai gam màu sáng tương đương nhau về cấp độ, hãy lựa chọn những sắc màu trung tính trong cùng một dải màu, ví dụ như màu xanh ngọc lục bảo và màu chanh xanh để diện mạo của chúng không quá chói.

Nếu bạn thích một sắc màu ấn tượng và năng động cho căn bếp của mình, nhưng lại có một chút e ngại nó có thể hơi quá sặc sỡ thì bạn có thể chọn tủ bếp màu gỗ tự nhiên hoặc sơn một màu trung tính nhẹ nhàng.

(Theo Eva)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xu hướng làm mới phòng bếp

Tiền hết tình tan vì đặt ảnh người yêu làm hình nền

Đặt ảnh người yêu làm hình nền là một trong những thói quen sẽ “giết chết” tình yêu lứa đôi và chính túi tiền của bạn.
Tiền hết tình tan vì đặt ảnh người yêu làm hình nền

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Đó là một trong những thói quen sẽ “giết chết” tình yêu lứa đôi và chính túi tiền của bạn.


Những thói quen hàng ngày của chúng ta tiềm ẩn rất nhiều điều kiêng kị trong phong thủy. Điển hình như đặt ảnh người yêu làm hình nền, chụp ảnh món ăn trước mỗi bữa ăn, móng tay quá ngắn, bàn chân bẩn… Nếu phạm phải những điều tối kị sau đây, bạn nên học cách thay đổi càng sớm càng tốt.

1. Đặt ảnh người yêu làm hình nền điện thoại

Một số người có thói quen để ảnh nửa kia của mình làm hình nền điện thoại hoặc máy tính mà không biết rằng điều đó có thể ảnh hưởng xấu tới tình cảm đôi lứa.

Tien het tinh tan vi dat anh nguoi yeu lam hinh nen hinh anh
Ảnh minh họa

Theo quan điểm phong thủy, những màn hình của các thiết bị này lúc sáng tối thất thường khi có chuông báo gọi tới hay chương trình gì đó cập nhật… Điều này tạo cảm giác bất an, có thể gián tiếp ảnh hưởng tới “an khí” của nửa kia.

2. Chụp ảnh món ăn trước khi dùng bữa

Xét theo quan điểm trong phong thủy, việc chụp ảnh món ăn ở mọi góc độ, lại còn chia sẻ trên các trang mạng xã hội một cách thường xuyên, liên tục vô hình chung bạn đã chia sẻ sự may mắn, phúc lộc của mình cho mọi người. Tất nhiên điều này không hề có lợi cho bạn. Đây là một trong những thói quen xấu đồng thời là lỗi phong thủy cần tránh.

3. Cắt móng tay quá ngắn

Quan điểm dân gian cho rằng chủ nhân của bàn tay mà có ngón tay út dài vượt qua đường đốt tay trên cùng của ngón áp út thường có cuộc sống sung túc, đầy đủ, hiếm khi phải lo lắng về cơm áo gạo tiền.

Do đó, nếu cắt móng tay quá ngắn, đặc biệt là ngón út cũng ảnh hưởng phần nào tới vận may của bạn.

Tien het tinh tan vi dat anh nguoi yeu lam hinh nen hinh anh
Ảnh minh họa

4. Để bàn chân dơ bẩn

Đôi bàn chân dơ bẩn tức là đã mang theo những điều xấu xí, xui xẻo vào trong nhà khiến cho trường khí xấu mạnh dần lên, ảnh hưởng đến vận thế của gia đình bạn. Bạn thử hình dung xem nếu chân giẫm phải nước thải, vật bẩn… rồi cứ vậy mang vào nhà thì không khí trong ngôi nhà bạn sẽ ra sao.

Nhằm tránh được thói quen không tốt này, bạn nên chú ý khi đi đường, lau chùi giày dép, chân tay thật kĩ trước khi vào nhà, tránh ảnh hưởng xấu tới mọi người trong gia đình và chính bản thân bạn.

5. Bày biện quá nhiều tượng Phật trong xe

Không ít người có sở thích hoặc thói quen bày biện tượng Phật ở trong xe để cầu bình an mà không biết rằng môi trường di động, bầu không khí xung quanh xe ồn ào, nhiều tạp âm vô tình đã “kinh động” đức Phật và gây tác dụng ngược lại.

6. Nam giới để ví tiền ở túi quần sau


Đây là một trong những thói quen không những ảnh hưởng tới sức khỏe mà còn gây hại tới tài vận và phúc khí của nam giới. Bạn biết đấy, túi quần sau nằm ở vị trí khá thấp và chịu nhiều tác dụng lực (khi bạn ngồi lên chẳng hạn). Nếu tiền bạc cất giữ ở vị trí này lâu ngày sẽ khiến tài vận của bạn không những khó tăng lên mà còn có xu hướng giảm đi.

► Mời các bạn: Xem phong thủy theo ngũ hành để đón lành tránh dữ

Theo Khám phá



Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tiền hết tình tan vì đặt ảnh người yêu làm hình nền

9 điều bạn nên nhớ trong cuộc đời

9 điều bạn nên nhớ trong cuộc đời. Hầu hết trong chúng ta đều mong muốn một cuộc sống yên bình, hạnh phúc. Hãy tham khảo 9 điều trong bài viết để luôn hạnh phúc bạn nhé.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

9 điều bạn nên nhớ trong cuộc đời. Hầu hết trong chúng ta đều mong muốn một cuộc sống yên bình, hạnh phúc. Để có được điều đó, bạn hãy nhớ những điều sau đây để trở nên hạnh phúc. Đừng quên chia sẻ cho những người thân của mình để họ cũng được hạnh phúc như bạn nhé.

1. Đừng xem trọng bề ngoài vì nó có thể đánh lừa bạn. Đừng xem trọng sự giàu sang vì nó có thể mất dần. Hãy đến với người biết làm bạn cười, vì chỉ có nụ cười mới biến ngày buồn thành vui. Chúc bạn tìm được người như thế.

2. Có những lúc trong cuộc đời, bạn nhớ một người đến nỗi chỉ muốn kéo người ấy ra khỏi giấc mơ để ôm chặt lấy. Chúc bạn có được người ấy.

3. Hãy đến nơi bạn thích, hãy trở thành người mà bạn muốn. Bởi lẽ, bạn chỉ có một cuộc đời và một cơ hội để thực hiện tất cả những gì mong mỏi. Chúc bạn có lòng can đảm.

4. Chúc bạn có đủ hạnh phúc để được dịu dàng, đủ từng trải để được mạnh mẽ, đủ nỗi buồn để biết cảm thông, đủ hy vọng để biết hạnh phúc.

5. Khi cánh cửa hạnh phúc đóng lại, một cánh cửa khác sẽ mở ra. Thường bạn sẽ ngắm mãi cánh cửa đóng lại để rồi không thấy cánh cửa đang mở ra. Chúc bạn nhận ra cánh cửa của mình.
6. Người bạn tốt nhất là người có thể im lặng cùng bạn khi ngồi ngoài hiên, để rồi khi quay đi, bạn cảm thấy như vừa được trò chuyện thật thích thú. Chúc bạn có nhiều bạn bè.

7. Bạn sẽ chẳng biết mình đang hưởng gì nếu không mất nó. Bạn sẽ chẳng mong mỏi gì nếu không mất nó. Chúc bạn không biết để không chịu đau khổ như thế.

8. Luôn đặt mình vào vị trí của người khác. Nếu trong vị trí đó, bạn thấy đau, có lẽ người kia cũng sẽ cảm thấy như vậy.

9. Một lời bất cẩn có thể gây bất hòa. Một lời độc ác có thể làm hỏng cả cuộc đời. Một lời đúng lúc có thể làm giảm căng thẳng. Một lời yêu thương có thể đem lại hạnh phúc. Chúc bạn biết cách điền vào chỗ trống của cuộc đời.

Hy vọng những điều trên đây sẽ đem đến cho bạn hạnh phúc. Hãy tận hưởng và sống sao cho trọn kiếp người.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: 9 điều bạn nên nhớ trong cuộc đời

Cát hung của các con số trong phong thủy học –

Các học gia về xã hội đã chỉ ra rằng, mồi một con số đều hàm chứa điều thần bí tác động đến con người. Thời cổ Hy lạp, số 1 được xem là mở đầu của vạn vật do nó sản sinh ra cả thế giới. Số 2 mang ý nghĩa về tình yêu. Số 3 hàm nghĩa ngang với số 2, Số

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Các học gia về xã hội đã chỉ ra rằng, mồi một con số đều hàm chứa điều thần bí tác động đến con người.

Thời cổ Hy lạp, số 1 được xem là mở đầu của vạn vật do nó sản sinh ra cả thế giới. Số 2 mang ý nghĩa về tình yêu. Số 3 hàm nghĩa ngang với số 2, Số 6 là chữ số tuyệt diệu vì nó có một đặc tính phi phàm, nó mang ý nghĩa tích của 3 1,2,3, lại là tổng hoà của cả ba số 1, 2 và 3. Số 7 có quan hệ rất lớn với cuộc sống con người, vì vậy mà bất kỳ ở đâu nó đều được yêu thích. Một tuần có 7 ngày; trên trái đất có 7 đại lục; người có 7 loại tình cảm; trong truyền thuyết thần thoại, Thiên đế có 7 người con; Ngưu Lang Chức Nữ gặp nhau vào ngày 7 tháng 7 v.v…

cacconso666

Trung Quốc cổ đại cũng ưa chuộng số 5 và số 8. Số 5 là đầu của ước số (lẻ 4 tính xuống lẻ 5 tính lên); về học thuyết có ‘Thuyết ngũ hành”; lương thực thường gọi là “ngũ cốc”; núi nổi tiếng gọi là “ngũ nhạc”; một đêm chia thành “5 canh”; trong cơ thể người có “ngũ tạng”, số “8” có âm đọc giống với chữ “phát”; về quẻ mệnh có “bát quái”; phân chia đất trời có “8 hướng”; khi kết nghĩa huynh đệ vái “8 vái”; bài văn thi xưa gọi là “bát cổ”.

Con số được tổ tiên của chúng ta yêu thích nhất là số 9. Số “9” có âm đọc là “cửu” là con số xếp cuối cùng trong dãy số, là đinh điểm của tất cả các sự vật, là số đơn dương lớn nhất, nó hàm chứa ý nghĩa “tối cao vô thượng, cát tường như ý”. Ví dụ như trời thì có “cửu trùng”; đất chia thành “9 tầng”; nước có “cửu uyên”; lãnh thổ quốc gia có “9 châu”; người có “cửu đẳng”; chức quan có “cửu phẩm”; chiều cao các vật thể chia ra “cửu đoạn”; Trung Hoa cùng gọi là “Cửu khúc Hoàng hà”. Kiến trúc trong hoàng gia không thể tách rời số 9, từ số lượng quần thể kiến trúc, số lượng bậc thềm, thậm chí là số lượng những hòn đá được dùng đều liên quan đến số 9.

Con số mà người Trung Quốc kị nhất là số “4”. Số “4” có âm đọc gần giống với chữ “tử (chết)”, mọi ngày sinh trong đời, người ta đều tổ chức lễ sinh nhật rất long trọng, riêng sinh nhật năm 40 tuổi là không tổ chức.

Hy Lạp cổ xem số “13” là con số đen đủi nhất, vì người Hy Lạp cổ đại dùng phương pháp thêm hàng số bằng số 12. số 12 là số của người cuối cùng trong một hàng quân, số 13 không bao giờ được dưa vào. Số 13 được xem là số nguy hiểm, không may mắn, có nhiều câu chuyện liên quan đến số 13. Mọi người ở các nước phương Tây có nền khoa học phát triển nhưng vẫn thường né tránh con số 13. Ví dụ như trong kiến trúc các khu nhà ở thành phố Luân Đôn nước Anh, người ta khó tìm thây dâu có con số 13 dùng để đánh số nhà, khi đánh số nhà hết số 12 người ta chuyển lên 14 mà bỏ qua số 13, trong rạp chiếu phim các hàng ghế, số ghế không bao giờ dùng 13 để đánh số v.v…

Ở Trưng Quốc áp dụng đơn vị tính là 10, vì vậy mà mọi người không có thiên kiến gì với số 13, đôi khi còn xem 13 là con số may mắn, ví dụ như tháp Phật có 13 tầng, con vua xếp thứ tự thành “thập tam thái bảo” v.v…

Chúng ta hãy nói về tiêu chuẩn hung, cát của các con số xem thế nào? Với số 13, trong quan niệm của người phương Tây 13 vẫn là con số không may mắn nhất, có lẽ là do sự trùng hợp ngẫu nhiên mà nhiều sự kiện liên quan đến số 13 đều mang lại không may mắn. Ví dụ như trong kế hoạch vũ trụ của Mỹ, những hạng mục liên quan đến số 13 thì tỉ lệ thất bại rất cao, tàu vũ trụ số 13 phóng không thành công, tên lửa đẩy phóng vào ngày 13 bị trục trặc, những sự việc có liên quan đến số 13 thường không diễn biến thuận lợi.

Nhưng với người Trung Quốc, 13 lại là con số đại cát đại lợi, liên quan đến số 13 còn có ý thơ luận rất hay rằng con số này đã mang lại trí tuệ, tài hoa, vinh hoa phú quý và những đức tính tốt đẹp cho con người. Đặt giả thiết nếu là người nước ngoài đến thăm Trung Quốc, nhìn thấy những sự vật có liên quan đến số 13 thì họ sẽ nghĩ thế nào? Luận về hung, cát là phải luận theo những điều kiện khác nhau về con người, về sự việc, sự vật, thời gian, không gian và địa điểm, không thể chỉ nhìn phiến diện một mặt nào đó để đánh giá.

Vì sự khác nhau về con người, thời gian, sự việc, sự vật, địa điểm có thể thao túng hoàn toàn cát hung, phúc hoạ, đó là sự thực không thể phủ nhận. Nhưng bình luận và phán đoán về phúc hoạ, cát hung là phải hoàn toàn dựa theo lập trường quan điểm riêng của bản thân, điều này không thông dụng cho tất cả mọi người, cách nhìn nhận đối với một sự việc cũng phải có quan điểm thuận nghịch thì mới có thể chọn lựa một cách đúng đắn. Hung cát ở đây tuỳ thuộc vào sự thay đổi về con người, thời gian, sự việc, sự vật, địa điểm, tuyệt đối không phải là sự ngẫu nghiên.

Cần phải chỉ ra rằng, hàm nghĩa thần bí của những con số có thể có khởi nguồn mang tính khách quan, nhưng không được tin tưởng một cách mù quáng vào sức mạnh thần bí đó. Đối với các hiện tượng loại này, biết được là thú vị, không biết được cùng chẳng hại gì (với những ai làm công tác ngoại giao hoặc buôn bán xuất khẩu hàng hoá thì cần hiểu nhiều hơn).


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Cát hung của các con số trong phong thủy học –

Chiến lược cả đời Khổng Minh thực ra đã thất bại từ trứng nước?

Toàn bộ giai đoạn "Tam Quốc" chỉ là con đường đi tới diệt vong của Thục Hán, mà căn nguyên thực sự được cho là đã xảy ra từ khi chiến lược của Khổng Minh mới "ra lò".

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Cốt lõi của "tam phân thiên hạ"

Ngày này, có nhiều ý kiến cho rằng sự sụp đổ của Thục Hán xuất phát từ sự kiện Quan Vũ để mất Kinh Châu về tay Đông Ngô, khiến Thục gần như bị "bế quan tỏa cảng", không còn cách đột phá ra khỏi lãnh thổ của mình.

Sự kiện này có thể coi là điểm mấu chốt trong sự sụp đổ của toàn bộ "Long Trung đối sách" nhằm duy trì thế "tam phân thiên hạ" của Gia Cát Lượng.

Tuy nhiên, có quan điểm nói rằng, sự thất bại thực sự của Khổng Minh đã đến từ trước đó rất lâu, khi ông không thể thuyết phục Lưu Bị đoạt lấy Kinh Châu khi khu vực này còn nằm trong tay Lưu Biểu, chứ chưa sáp nhập vào Đông Ngô.

"Long Trung đối sách" là chiến lược căn bản mà Gia Cát Lượng vạch ra cho Lưu Bị từ khi ông còn ở "lều cỏ". Mục tiêu của chiến lược này là "liên Ngô kháng Tào".

Trong khi đó, Khổng Minh cũng chỉ ra, điều kiện tiên quyết để đạt được mục tiêu nói trên là phải có được Kinh Châu trong tay.

Long Trung đối của Khổng Minh đã bị ông thực hiện thất bại từ đầu?

"Long Trung đối" của Khổng Minh đã bị ông thực hiện thất bại từ đầu?

Dù sau đại chiến Xích Bích, Lưu Bị cũng "mượn" được Kinh Châu từ Tôn Quyền, song thời thế đã không còn như trước. Khổng Minh hiểu rõ, cùng là một miếng đất, nhưng đoạt lấy khi nào và từ tay ai lại mang ý nghĩa chiến lược hoàn toàn khác biệt.

Đương thời, Tào Tháo còn mải bình định phương Bắc, chưa thể xua quân Nam hạ, trong khi Tôn Quyền và Lưu Biểu diễn ra tranh chấp.

Nếu tại thời điểm này, Lưu Bị đoạt lấy Kinh Châu từ tay Biểu thì ông có thể dễ dàng sở hữu một địa bàn độc lập mà không phát sinh vấn đề chủ quyền, dẫn đến xung đột với Đông Ngô như sau này.

Như vậy, với việc Tào Tháo tấn công Giang Đông, sự liên kết của Tôn Quyền và Lưu Bị cũng sẽ được hiện thực hóa trong vai vế bình đẳng hơn.

Ngược lại, trên thực tế, quân đội Lưu Bị đã bị Tào Tháo đè bẹp ở Tân Dã, buộc ông phải cử Khổng Minh làm thuyết khách đến cầu viện Đông Ngô. Về lý thuyết, Lưu Bị luôn ở "chiếu dưới" trong quan hệ đồng minh với Tôn Quyền.

Ngay trong chiến dịch Xích Bích, quân đội chủ đạo đem lại thế thắng cho "liên quân" thực chất cũng là thủy quân của Chu Du.

Qua các điểm này, có thể thấy được ý nghĩa lớn nhất của việc "không bỏ lỡ thời cơ đoạt Kinh Châu" chính là Lưu Bị sẽ được "danh chính ngôn thuận" sử dụng Kinh Châu mà không vấp phải sự chất vấn chủ quyền từ Giang Đông. Có như vậy, "Long Trung đối" mới được thực thi triệt để.

nếu đoạt sớm kinh châu, có thể diễn biến lịch sử đã khác đối với lưu bị.

Nếu đoạt sớm Kinh Châu, có thể diễn biến lịch sử đã khác đối với Lưu Bị.

"Sớm muộn cũng để chủ công ngồi cao trên thành Nam Đô"

Khi "cơ hội vàng" trôi qua, lịch sử Tam Quốc đã ghi nhận tranh chấp chủ quyền cực lớn giữa Thục và Ngô tại Kinh Châu.

Việc Gia Cát Lượng buộc dựa vào mưu lược để "mượn sức" Đông Ngô đoạt lấy Kinh Tương vô hình trung đã thừa nhận sự góp phần và ăn chia hợp lý của Giang Đông tại khu vực này.

Kinh Châu được Thục tận dụng hiệu quả trong suốt 10 năm trời, nhờ đó thôn tính địa bàn chiến lược thứ 2 là Ích Châu, đủ thấy giá trị địa - chính trị của Kinh Châu không gì thay thế được.

Nhưng mối ẩn họa đối với Thục Hán là sự ổn định khu vực này chỉ là tạm thời. Đông Ngô nhiều lần dùng các biện pháp ngoại giao yêu cầu hoàn trả Kinh Châu, trong khi Khổng Minh chỉ có thể "khất lần" để nuôi dưỡng thực lực với mục đích nuốt trọn được địa bàn này.

Có quan điểm nói rằng điều Khổng Minh lo ngại nhất mà không thể ngăn được chính là Quan Vũ trở thành đại tướng trấn thủ Kinh Châu.

Việc Quan Vũ "đổ thêm dầu vào lửa" dẫn tới xung đột bùng phát và ông để mất Kinh Châu là thực tế, nhưng chỉ là hệ quả cuối cùng của những mâu thuẫn âm ỉ trong suốt 10 năm trời.

Nguyên nhân rất đơn giản, Lưu Bị là phe được lợi và đương nhiên muốn duy trì hiện trạng Kinh Châu, đồng thời "hợp tác hòa bình" với Đông Ngô.

Trong khi đó, Giang Đông là phe chịu thiệt và thậm chí còn bị lợi dụng. Do đó, việc Tôn Quyền phát binh lấy Kinh Châu chỉ là vấn đề thời gian, Thục Hán hy vọng dùng các chính sách ngoại giao để "lần lữa" chỉ là phương án câu giờ, hoàn toàn không xử lý được vấn đề.

Chính vì vậy, có quan điểm bênh vực Quan Vũ nói rằng, việc đoạt lại Kinh Châu từ Thục đã là chiến lược tất yếu của Đông Ngô, cho nên việc Quan Vân Trường có thủ Kinh Châu hay thậm chí là Khổng Minh trực tiếp trấn giữ cũng không thay đổi được gì.

Cho dù Quan Vân Trường không thua trước Lữ Mông, Lục Tốn năm 219 và Kinh Châu chưa mất, thì những năm sau đó, đây vẫn sẽ là khu vực "nóng" nhất trong mâu thuẫn Ngô - Thục.

Để thua trước Lữ Mông là thất bại của Quan Vũ, song để dẫn đến mâu thuẫn Ngô - Thục lại là sai sót của Khổng Minh và Lưu Bị.

Để thua trước Lữ Mông là thất bại của Quan Vũ, song để dẫn đến mâu thuẫn Ngô - Thục lại là sai sót của Khổng Minh và Lưu Bị.

Cũng có ý kiến nói rằng, không phải Gia Cát Lượng không muốn sớm đoạt Kinh Châu. Ông từng nhiều lần thuyết phục Lưu Bị ra tay nhưng không được nghe theo.

Nhiều sự kiện về sau đã chứng minh, Lưu Bị chắc chắn là người sẵn sàng đi ngược lại đạo đức để hành sự. Điều mà Khổng Minh thất bại chính là không đưa ra được một cái cớ hợp lý để Bị thực hiện việc đó với Lưu Biểu.

Trong một hoàn cảnh tương tự, Bàng Thống - nhân vật tề danh cùng Khổng Minh - đã giúp Bị tìm được một lý do "danh chính ngôn thuân", giúp ông ta vượt qua "trở ngại đạo đức" mà đoạt lấy Tây Xuyên.

Câu nói "sớm muộn cũng để chủ công ngồi cao trên thành Nam Đô (Kinh Châu)" mà Khổng Minh nói với Lưu Bị xem ra đã trở thành trò cười, bởi thất bại của họ rất có khả năng xuất phát từ chính thời điểm "sớm muộn" đó mà thôi.

Theo Trí Thức Trẻ


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Chiến lược cả đời Khổng Minh thực ra đã thất bại từ trứng nước?

Các môn phái Tử Vi

Bài viết về các môn phái Tử Vi rất hay. Tác giả đã rất công phu tổng hợp để chúng ta nhìn ra tổng quan về các môn phái Tử Vi.
Các môn phái Tử Vi

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

1 Vài kỷ niệm về Tổ Sư

Trần Đoàn lão tổ là người kiến văn rất quảng bác, hiệu là Phù dao tử, thích tư tưởng của Đạo gia, ngài từng tổng kết Nội đan Đạo pháp, là Tác giả của ”Dịch kinh đồ, Tiên thiên đồ, Vô cực đồ”, là một trong vài khuôn mặt chủ lưu của lãnh tụ Đạo gia hậu Tống, có ảnh hưởng lớn lao đến người đương thời và mãi đến hiện nay Đường minh tông từng tứ hiệu cho ngài là ”Thanh hư ngoại sĩ”, cũng như Đường thế tông tứ hiệu ”Bạch vân tiên sinh”, Tống thái tông Triệu quang Nghĩa tặng hiệu ”Hi Di tiên sinh”, sau này Đạo sĩ và Hoa sơn đạo giáo tôn xưng ngài là Tổ sư, Hoa sơn Ngọc tuyền viện tôn xưng ngài là Giáo chủ.

Hoa sơn tại tỉnh Thiểm Tây, vị trí tại phía Nam Huyện Hoa Âm, là Tây nhạc trong hệ thống Ngũ Nhạc, là Động thiên đứng hàng thứ 4 trong 36 động thiên của Đạo giáo, Hoa sơn có Chủ phong (núi cao nhất) có Hải bạc là 1997 mét, trong Ngũ nhạc chỉ thua có Bắc nhạc Hằng sơn, nhưng Hoa sơn có sơn thế hùng vĩ hiểm ác không đâu sánh bằng, nên được gọi là ” Kỳ hiểm thiên hạ đệ nhất sơn”, từ xa xưa, Hoa sơn đã là nơi linh địa của Đạo giáo, hiện còn một số tự viện liên quan như Tây nhạc miếu và Ngọc tuyền viện ở dưới chân núi, trên núi thì có Đông đạo viện, Trấn nhạc cung, Ngọc nữ từ, Túy vân cung, trong đó Ngọc tuyền viện, Đông đạo viện và Trấn nhạc cung được xem là 3 trọng điểm của các Cung Quan Trung quốc.

Cứ theo truyền thuyết thì Lão tử cũng từng lưu chân tại Hoa sơn, tại núi Nam phong của Hoa sơn nay vẫn còn lưu giữ một lò luyện đan của Lão tử. Tại sơn môn của Ngọc tuyền viện, bước lên thạch cấp đi xuyên qua Chính môn và tiếp tục duyên theo thạch lộ mà đi thì sẽ gặp Hi Di động.

Động này được phân làm Tiền và Hậu điện, phía tả tiền điện có tấm bia Hoa sơn thạch đồ, mé trái có một thạch bia do một thư pháp danh gia thời Tống tạc mấy chữ Đệ nhất sơn, hậu điện là tượng ngồi của Lão tổ, ngoài ra còn một số di tích khác liên quan đến lão tổ như Hi Di Trũng, Hi Di Động, Son Tôn Đình, Nạp Kinh Đình, Vô Ưu Đình, Quần Tiên Điện Và Tam Cung Điện, Sơn Tôn Đình được xây trên một tảng đá khổng lồ, kiến trúc kỳ dị, tương truyền đây là nơi Tổ sư thường đúng ngắm cảnh. Cạnh đình có một cây cổ thụ tuy quá cổ lão nhưng vẫn xanh um gọi là Vô ưu thụ, đồn rằng cây này do đích thân Trần Đoàn trông nên, Hi Di động thì nằm ở gần cạnh đình, là nơi để Tổ sư tĩnh dưỡng (ngài ngủ rất lâu), bên trong có một bức tượng ngài đang ngủ! Toàn cảnh Ngọc tuyền viện đình miếu ngổn ngang, suối reo róc rách, cây cối thâm u, tạo cho du khách cái cảm giác thoát trần, tại đây còn lưu một bài của Khang hữu Vi:

Cốc Khẩu Tuyền Thanh Dẫn Khúc Lưu

Trường Lan Hồi Hợp Thụ Vô Ưu

Tuyền Thanh Sơn Sắc Khả Vong Thế

Nhượng Dữ Hi Di Thùy Vạn Thu…

2 Giới Tử Vi Cổ

Giới Tử Vi Đẩu Số xưa kia có thể được chia làm 3:

  • Đạo gia Tử Vi Đẩu Số, là những vị tu theo Đạo giáo (Lão giáo) thường nghiên cứu về Thiên văn và Huyền học, một số môn Huyền thuật phát xuất từ lò Đạo gia mà ra, ngay môn Tử Vi Lý Số cũng vậy, nên nhóm này ở địa vị tối cao.
  • Khâm thiên phái Tử Vi Đẩu Số: sau này Triều đình với mục đích tóm thâu hầu hết các nhân tài Huyền môn trong thiên hạ để làm việc tư lợi cho Hoàng gia, nên đã thành lập Khâm thiên giám, cũng như Đạo tạng (Thư viện về Huyền học) và dùng mồi danh lợi hoặc ngay cả việc áp chế để giam lỏng đám nhân tái Huyền môn trong cung cấm, qua một thời gian trong họ hình thành cái gọi là Giới Tử Vi đẩu số của Khâm thiên giám, theo quy luật chặc chẽ của Triều đình, họ chỉ được truyền thừa cho một Đệ tử mỗi một đời mà thôi, và truyền theo lối khẩu truyền, kinh sách Tử Vi Đẩu Số liên quan từ đó đừng hòng lọt ra bên ngoài.
  • Dân gian Tử Vi Đẩu Số: Họ thừa hưởng những gì.. còn sót lạ, tuy nhiên họ cũng lưu giữ được một số sách gia truyền và những phát kiến trong thời gian nghiên cứu, nhưng vì quá thiếu thốn kinh sách, cùng tắc biến, Tử vi sau này biến thành nhiều dạng thái kỳ lạ không còn liên quan nhiều đến gốc rễ…

3 Tử Vân Phái

Tử Vân trước kia làm việc cho một nhà xuất bản, theo như chuyện kể trong quyển ”Đẩu số luận nhân sinh”, trước kia Tử Vân không tin vào Mệnh lý, về sau nhân có lần đi với Vu thái thái gặp Hà lão sư, Hà lão sư căn cứ trên Mệnh bàn nói ra những tình huống gì sắp xảy ra trong năm sau cho Vu thái thái, chẳng hạn sau khi sinh thì bị viêm gan và phải tiếp huyết.v.v

Một năm sau, tất cả xảy ra như đã kể, Tử Vân bèn bái Hà lão sư làm sư phụ và khai thủy học Tử Vi Đẩu Số cùng với hai vị sư đệ. Về sau, Tử vân chu du khắp Đài loan nam bắc, tứ xứ tìm cao thủ Tử Vi Đẩu Số để nghiên cứu thêm, trong thời gian này còn học thêm Tâm lý học và Trung y.Danh tiếng của Tử vân ngày càng vang dội, nhưng nhiều khi người được coi bói không biết rằng Him là Tử Vân tiên sinh. Khoảng 70, 80 niên đại Tử vân bắt đầu ra sách Tử Vi Đẩu Số, trong đó đã tiết lộ rất nhiều ” Khẩu quyết ” mà ông đã khai ngộ được những sáng kiến quan trọng của ông ta gồm:Tam đại luận, Thái tuế Bát quái, Thái tuế Cung vị

Tử Vân tiên sinh là lão sư của Liễu vô cư sĩ. Tử vân vừa viết sách vừa khai quán (xem bói) vừa dạy Tử Vi Đẩu Số không lấy tiền, ông có những đầu sách như:

  1. Đẩu Số Luận Danh Nhân
  2. Tòng Đẩu Số Đàm Phụ Mẫu Tình
  3. Đẩu Số Luận Mệnh
  4. Đẩu Số Luận Tử Nữ
  5. Đẩu Số Khán Nhân Tế Quan Hệ
  6. Đẩu Số Luận Điền Trạch
  7. Đẩu Số Luận Nhân Duyên
  8. Đẩu Số Luận Tài
  9. Đẩu Số Dữ Nhân Sinh
  10. Đẩu Số Luận Sự Nghiệp

4 Tuệ Canh và nhóm ”Tử Vi trí thức Đài Loan”

”Tử Vi trí thức Đài Loan ” không phải là một phái Tử Vi ở Đài Loan, chỉ là một cách phân loại chủ quan của người viết những dòng này thôi. Nhóm này ở rải rác Đài Loan từ bắc xuống nam, đa số đều có bằng đại học trở lên, và đều cho rằng Tử Vi có tính khoa học cao đáng cho họ nghiên cứu. Điểm đáng nói là họ đại diện mấy chủ trương khác nhau, có khi đối nghịch nhau, nhưng tôn trọng nhau và đối xử với nhau rất lịch sự.

Vài nhân vật quan trọng theo thứ tự tuổi tác:

  1. Tử Vân và tiến sĩ Hứa Hưng Trí, nếu còn tại thế đều đã hơn 70 tuổi.
  2. Liễu Vô Cư Sĩ, Tuệ Canh, Lại Minh Hiền trên 50 tuổi.
  3. Sở Hoàng và em của Liễu Vô cư sĩ.

4.1 Ông Tuệ Canh và bài luận văn “Mệnh cung bất khả vô đại hạn”

Hãy nói một chút về ông Tuệ Canh. Theo lời nhà xuất bản Hòa Mã văn hóa thì ông Tuệ Canh tốt nghiệp luật sư, nhưng sau khi hành nghề luật sự mấy năm thấy nghề này không hợp bản tính bèn bỏ luôn, ” bế quan luyện công ” (theo đúng nghĩa đen) mấy năm nữa rồi mới tái xuất giang hồ, lần này làm thầy bói. Thời khóa biểu làm việc là sáng nghiên cứu, chiều đoán mệnh cho khách.

Theo lời nhà xuất bản Thời Báo của Đài Loan thì Tuệ Canh là một trong hai đệ tử cao cấp của ông Tử Vân (đệ tử kia là Liễu Vô cư sĩ). Nhưng theo sự truy cứu, khi học Tử Vi với Tử Vân hai ông Liễu Vô cư sĩ và Huệ Canh đã đạt trình độ Tử Vi cao cấp rồi, học đây là vì thấy ông Tử Vân có chỗ độc đáo vô tiền khoáng hậu nên họ vì tinh thần cầu tiến mà học lại theo kiểu ” master class ” (lớp bổ túc cho bậc thầy) mà thôi.

Tác phẩm quan trọng nhất của ông Tuệ Canh có lẽ là bộ ” Đẩu Số khai vận toàn tập ”, đến giữa thập niên 90′s đã được 6 quyển không rõ sau này viết thêm bao nhiêu quyển. Bộ này phân tích các vấn đề cơ sở của Tử Vi, đầu tiên do Nhà xuất bản Thiên Tướng ấn hành, sau Nhà xuất bản Hòa Mã tái bản.

Tuệ Canh thỉnh thoảng cũng viết bài đặc biệt cho tập trường thiên ” Hiện đại Tử Vi ” của ông Liễu Vô cư sĩ. Chính trong Hiện đại Tử Vi ông đã có bài luận văn gây sôi động là ” mệnh cung bất khả vô đại hạn ”.

Bài “mệnh cung bất khả vô đại hạn” có tiếng vang, nhưng theo chính lời kể của ông Tuệ Canh lại bị một người thân trong giới Tử Vi chê là chỉ có đả phá, thiếu tính xây dựng (đả phá chủ trương khởi mệnh ở huynh đệ hoặc phụ mẫu là sai, nhưng lại chẳng trình bày là phải khởi đại hạn thế nào mới hợp lý). Bởi thế ông Tuệ Canh quyết định đăng lại bài này với một bài khác có tựa “Mệnh cung đương nhiên khởi đại hạn” để biện hộ chủ trương khởi đại hạn ở mệnh (sách “Đẩu số biện chứng” nhà xuất bản Long Ngâm, Đài Loan, 1993).

5 Hiện Đại Phái và Liễu Vô Cư Sĩ

Phái này chưa có chức Chưởng môn, mà cũng không biết đã thành Môn phái hay chưa, người đại diện là LIỄU VÔ CƯ SĨ, người đã từng phản đối việc tử/bình hợp tham (Dùng Tử bình để tham ngộ thêm Tử vi, thời gian này phong trào Tử, Bình hợp tham đang phát triển tại Đài.)

Ông chủ xướng ” Tử bình quy Tử bình, Đẩu số quy đẩu số, và cự tuyệt việc sử dụng các Thần sát, hay Quan Sát, dị hình dị loại xâm nhập vào lãnh vực Tử vi mà không có…giấy phép! Liễu vô cư sĩ sáng tác rất hăng, thường dùng thực chứng để lý giải, có bộ Hiện đại Tử vi (khoảng 11, 12 tập), Tử vi chi lộ, uyên ương truyền kỳ. Tử vi chi lộ, yên hoa truyền kỳ.v.v.v Phạm vi đề cập của ông rất rộng rãi, được Ngô hoài Vân tán xưng là Vệ sĩ của Mệnh học giới, hay là Tư mã Nam của Mệnh lý học. Sách của ông ta đọc được và có tính Hiện thực, nhưng lại không có ý nghĩa thực tế (có nghĩa là những lời bàn Mao tôn Cương của ông về các lá số chẳng áp dụng được, chẳng giúp ích gì cả, điều này thì ai cũng thấy ra, nhưng ông được cái khá thành thực, chỗ nào không biết thì nói là không biết hoặc chờ hỏi Thầy.

Ở Đài Loan có nhiều người cho rằng có thể áp dụng một số nguyên tắc của Tử Bình vào Tử Vi để giúp khoa này chính xác hơn. Chẳng hạn ông Sở Hoàng (sách ” Tử Vi hỉ kị thần đại đột phá ”, Sitak publishing, 1985) chủ trương dùng tiết khí để định tháng Tử Vi. Lại nữa, ông Sở Hoàng (sách đã dẫn) và ông Phương Vô Kị (sách ” Tinh tình thám nguyên ”, 1987) chủ trương dùng phép Hỉ Kị của Tử Bình để luận sao Tử Vi (Như sinh tháng 3 có Thiên Đồng hành thủy thì Đồng này không phải chỉ là hành thủy mà là hành thủy của tháng 3, phải dúng phép Hỉ Kị của Tử Bình tính xem tốt xấu thế nào).

Ông Liễu Vô Cư Sĩ chống lại các quan điểm đại loại như vậy.

Nhưng tôi cho là ông Liễu Vô cư sĩ quá cực đoan vì ông và những người theo ông hiện chỉ an các sao:

  • 14 chính tinh
  • Nhị hóa (Lộc Kỵ)
  • Lục cát (Tả Hữu Xương Khúc Khôi Việt)
  • Lục sát (Kình Đà Hỏa Linh Không Kiếp)

Tổng cộng 28 sao. Tất cả mọi sao khác ông Liễu Vô cư sĩ đều lược bỏ (với lý do rằng chúng là ngũ hành thần sát thuần túy, không dính líu đến Tử Vi).

6 Thiên Cơ Phái Tử Vi Đẩu Số

Phái này do Thiên Cơ Thượng nhân HOÀNG XUÂN LÂM truyền dương, vào năm 1992 bộ sách Tử Vi Thiên Cơ được phát hành, trong đó lần đầu tiên tiết lộ những ” Tuyệt kỷ ” của Thiên cơ phái (đã thất truyền từ lâu) như Mật tông Lạp số, Đẩu số hỉ, kỵ thần cùng lý luận về cung khí (tử bình cũng có dùng Lạp số trong cách tính về Tiết khí của 12 Tháng).

Lạp số trong Tử vi thấy cũng có xuất hiện vào thời nhà Trần, dùng để xét lực lượng giữa hai nhóm Tinh đẩu là Cát diệu và Ác diệu để xem lực lượng hai bên tương quan như thế nào, nói thẳng ra là bên nào sẽ thắng, hoặc có thể cứu giải được hay không khi thấy đa Hung tinh xuất hiện.Bên Tàu thì thấy Trác phái và một vài Môn phái nhỏ cũng có xài Lạp số, nhưng giấu kỹ không cho ai biết…)

Đồng thời, Thiên cơ phái cũng tiết lộ bí quyết về: Song tinh khán pháp bí cấp Tử Vi Đẩu Số Phong thủy Huyền không nhị thứ Tứ Hóa Tử Kiếp.

7 Hoa Sơn Bí Nghĩa Phái

Đây là một Môn phái khá đặc biệt và có ảnh hưởng lớn nhất và bao trùm tại Đài loan, tên Chính danh của Môn phái này là: ” Khâm Thiên Tứ Hóa Tử Vi Đẩu Số Đẩu Số Phi tinh bí nghĩa ”, cận đại truyền nhân là TỐ TÂM LÃO NHÂN, sau này còn có Sài Minh Hoằng, Lý tử Dương…

Vào năm 1985, một môn sinh trong Phái đã công khai đăng báo phát mãi (auction) một Bản Bí cấp của Môn phái (dường như là bản viết tay), trị giá khởi đầu đã lên đến trên 30 vạn Đài tệ (10000$), vụ này đã làm chấn động cả giới Đẩu số đương thời… Nghe rằng phái Bí nghĩa đời đời chỉ đơn truyền (truyền lại cho một môn sinh độc nhất), bí cấp là một bản viết tay, nội dung gồm:

  • Mai Hoa Dịch Số
  • Cửu Tinh Bố 12 Cung Thất Tinh Quyết
  • Tứ Phượng Tam Kỳ Nhị Nghĩa Phiêu
  • Tiên Thiên Tứ Hóa Phi Tinh Mệnh Phổ

Phương pháp suy đoán thì chuyên dùng tứ hóa, lấy Tứ hóa làm trọng tâm liên hệ với các cung vị (rất phức tạp) để đoán sự việc, đối với Tinh diệu thì thường…đụng đến thì ngừng! (không chú trọng đến Tinh diệu cho mấy), nói chung thì Phái này có ảnh hưởng rất lớn tại Đài, các đại danh sư Phương ngoại nhân như Pháp Đường chủ nhân, Phương vô Kỵ đều bị ảnh hưởng của Phái này…

Tứ Phượng, Tam Kỳ, nhị Nghi, Phiêu Phiêu là chỗ độc đáo của Phái này, là cơ sở của Thập Can đạp thiên pháp.

Tứ Phượng:

Tứ Phượng nếu tại Cung vị thì đại biểu Tứ Chính Cung vị, như Mệnh Tử, Tử Thiên…loại mà nói thì Tứ Phượng tại Tinh Thìn đại biểu CƠ CỰ ĐỒNG LƯƠNG. Trong ứng dụng, Tứ Phượng đại biểu Cách tứ vị Lộc, Kỵ, là một trong vài diện điểm để căn cứ mà phán xét Tài, Quan và sự việc Cát, Hung ra sao..

Tam Kỳ:

Tam Kỳ tại Cung vị thì đại biểu Đồng Âm đồng Dương Cách Nhị Cung vị, chẳng hạn như Mệnh Phu, Phu Tài loại… Tam Kỳ Tại Tinh thìn đại biểu Sát – Tham – Phá. Tam Kỳ tại ứng dụng đại biểu Lộc, Kỵ của Lân Cung, Tam Kỳ là một trong các điểm dùng để định sự Cát Hung của Nội Lục Thân.

Nhị Nghi:

Nhị Nghi tại Cung vị đại biểu Âm Dương tương cách Cung vị của Lân vị, như Mệnh Huynh, Huynh Phu loại. Nhị Nghi tại Tinh thần đại biểu Thái Âm, Thái Dương, tại Ứng dụng đại biểu Lộc, Kỵ của Lân Cung, là một trong những Điểm để định sự Cát Hung của Nội Lục thân.

Phiêu Phiêu (Tứ Hóa):

Chẳng hạn như những nhân quả Cát Hung trong hình thức Kỵ truy Kỵ, Lộc truy Kỵ…

8 Hà Lạc Phái

8.1 Hà Lạc Phái Trung Quốc

Tại Trung Quốc đã có đến hai phái Hà Lạc:

8.1.1 Hà Lạc Nam Phái

Sau khi Hi Di tiên sinh qua đời, đệ tử của ông chia ra làm hai phái. Phái đi về phương Nam chịu ảnh hưởng của khoa bói toán, nên đời sau gọi là phái Hà Lạc. Họ thêm vào một số sao mới mà trong Tử Vi Chính Nghĩa Kinh không có. Cách an sao của họ cũng khác với Hi Di tiên sinh.

Những sao họ thêm vào, với tính cách quái dị, vô lý của khoa bói dịch như: Thiên Giải, Địa Giải, Giải Thần, Thiên Quan, Thiên Phúc, Thiên Tài, Thiên Thọ, Thiên Y, Thiên Trù, Quán Sách, Thiên Xá….Vòng thái tuế có 5 sao, họ thêm vào 7 sao mà thành 12 sao.

Đa số người của phái này dùng khoa tử vi làm kế sinh sống, nên không bao giờ họ truyền cho nhau hết cái tinh vi mà cũng giữ lại một số bí thuật. Đôi khi họ còn truyền sai cho nhau nữa. Vì vậy phái bị mất hẳn gốc. Kinh nghiệm của họ thực nhiều, nhưng họ không truyền cho nhau thì đâu còn giá trị gì nữa. Các thầy tử vi Tàu sang Việt Nam dạy lại cho người Việt Nam, họ vốn dĩ đã bị học lại không đúng với chính kinh, khi truyền lại họ còn dạy sai và dạy thiếu nữa, thì hỏi tại sao khoa tử vi không có chỗ bế tắc khó giải thích. Công trình của phái này còn chép trong bộ tử vi Âm Dương Chính Nghĩa Nam Tông.

8.1.2 Âm Dương Hà Lạc Phái

Học trò của Hi Di tiên sinh đi về phương Bắc đã bị ảnh hưởng của Âm Dương sinh khắc ngũ hành. Phái này có khuyết điểm là quá chú ý vào Âm Dương sinh khắc mà quên mất tinh yếu của khoa tử vi là Thiên văn. Đầu đời Minh, một nhân vật quan trọng của phái này làm quân sư cho Minh Thái Tổ. Đó là Lưu Bá Ôn. Trọn đời Minh (1368-1643) phái này rất được trọng dụng. Kinh nghiệm của phái này rất nhiều, nhưng tiếc rằng đi quá xa với chính tinh nên không thành đạt cho lắm. Công phu của phái này còn lưu truyền bộ tử vi Âm Dương Chính Nghĩa Bắc Tông.

Niên hiệu Sùng Chinh thứ 16 nhà Minh (1643), Lý Tự Thành đem quân đốt phá Bắc kinh thì bộ sách trên thất truyền. Sau Vĩnh Vương bị Ngô Tam Quế thắt cổ ở Vân Nam, y có lưu giữ một bộ. Ngô Tam Quế bị diệt, bộ này lọt vào tay các văn thần nhà Thanh.

8.1.3 Bộ Tử Vi Đại Toàn

Niên hiệu Càn long thứ 38 nhà Thanh, nhà vua thấy danh sĩ thiên hạ xúm vào bài bác mình, chê bai Thanh triều là dòng dõi mọi rợ phương Bắc… mới tập trung những nhà học giả lại phong cho mỗi người một tước đặt dưới quyền Kỷ Duân, làm việc trong viện Tứ khố toàn thơ. Công việc của viện là tập trung tất cả sách vở, học thuật trong thiên hạ lại chú giải, ấn hành cho dân gian học. Bộ này được gọi là Tứ bộ bị yếu, gồm có 4 bộ môn: Kinh, Sử, Tử, Tập. Quả nhiên sau biện pháp này, dân chúng không còn lý do chông đối nhà vua nữa. Bộ này rất vĩ đại, phải chở mấy xe mới hết.

Hồi đệ nhất Cộng hòa, Tổng thống Trung Hoa Dân Quốc có tặng cho thư viện Đại học Văn Khoa một bộ, in bằng giấy Tàu bạch. Sau Kỷ Duân thấy rằng còn một lực lượng chống đối không kém quan trọng là mấy ông thầy tử vi, bói toán. Ông ta tâu lên vua Càn Long cho mời 75 nhà nghiên cứu tử vi danh tiếng về kinh phong tước rồi tập trung tất cả sách tử vi trong thiên hạ lại chú giải thành bộ Tử Vi Đại Toàn gồm 9 cuốn như sau:

  • Cuốn thứ nhất: Bản nghiên cứu tổng quát, các bản chiếu biểu liên quan đến soạn thảo Tử Vi Đại Toàn. Phàm lệ
  • Cuốn thứ hai: Lịch sử khoa tử vi. Tiểu sử các nhà nghiên cứu tử vi, lịch sử các phái
  • Cuốn thứ ba: Nghiên cứu về khoa thiên văn, ứng dụng vào tử vi
  • Cuốn thứ tư: Cách an sao, an vận hạn, sao lưu niên
  • Cuốn thứ năm: Tính chất các sao
  • Cuốn thứ sáu: Đoán vận hạn, đoán 12 cung
  • Cuốn thứ bảy: Chú giải các bài phú của Hi Di tiên sinh, phái Triệu gia
  • Cuốn thứ tám: Cử hiền, triệt ác (Căn cứ vào khoa tử vi để cử người cho đúng, loại bỏ kẻ ác). Phá cách (Căn cứ vào số tử vi để biết muốn hạ một người có số tử vi thế này thì làm sao)
  • Cuốn thứ chín: Các lá số của danh nhân. Gồm 417 lá số với lời chú giải đầy đủ. Từ Chu Công, Thái Công, Vua chúa, danh tướng, phản tặc, văn thần, đạo gia trải qua các đời

Đặc biệt cuốn thứ nhì có nói đến khoa tử vi tại Việt Nam là công trình nghiên cứu của nhà Trần. Cuốn thứ tám chép lại nguyên văn của sách “Đông A Di Sự” đời Trần.

8.2 Tân Đài Hà Lạc Phái

Phái mới xuất hiện ở Đài Loan là ” Tân Đài Hà Lạc Phái “

Phái này Tổ sư sáng lập môn phái là Tăng quốc Hùng địa bàn tại Đài loan. Phái này chuyên dùng Hà lạc số, Quái vị, Tứ Hóa (nhất là Hóa Kỵ)và Tính lý của Tinh đẩu để luận một lá số. Như Đoán pháp tổng luận của Phái này có sơ lược cho ta biết:

  • Dùng Tinh tính đoán cát hung.
  • Dùng Tứ Hóa (Thật ra chỉ có Hóa Kỵ và Hóa Lộc) để đoán khế cơ (cơ nguyên).
  • Dùng Quái vị để đoán Nhân sự.
  • Dùng Tứ Hóa của Mệnh cung để đoán tâm năng và hành vi.
  • Dùng Tứ Hóa của Quan lộc để định cát Hung Họa Phúc.
  • Dùng Mệnh thiên tuyến để định hiện tượng của hành động.
  • Phụ tật tuyến thì chủ về vận đồ.
  • Huynh đệ tuyến thì chỉ về Thành tựu hay không.
  • 12 Cung đều khả dĩ là Bản cung, chúng đều có Mệnh thiên tuyến và Phụ tật tuyến.
  • Sự thành bại của mỗi Cung được quyết định bởi Quan lộc cung (Khí số vị) của Cung đó.
  • Thượng nhất cấp Bàn Tứ Hóa ” ưng Hạ ” dùng để định Tông tượng (tung tích). -Hạ nhất Bàn Tứ Hóa ” nhập Thượng ” dùng để đoán cát Hung.
  • Trước là Sát (xem xét)tung tượng, sau mới đoán cát Hung.

Phái này nghe đồn đoán rất linh nghiệm. Theo học phái này thì cũng chẳng khó, có điều là hơi…cô đơn, cũng như thời xưa khi tui học Tử bình xong rồi thì ông Thiệu vĩ Hoa cũng chưa viết sách, trên 10 năm trời chẳng biết bàn chuyện Tử bình với ai, riết rồi chán bỏ vào một xó,,,

9 Trung châu phái

Trung châu phái tái xuất giang hồ trên hai mươi năm là ít. Bằng cớ hiển nhiên là Trung Châu Phái Tử Vi Đẩu Số Giảng Nghĩa do ông Vương Đình Chi bổ chú đã được nhà xuất bản Thời Báo ở Đài Loan phát hành năm 1987, gồm hai tập, tập một đề tháng 3, 1987, tập 2 tháng 4, 1987.

Năm 2001 nhà xuất bản Vũ Lăng ra một bản bình chú khác của Tử Vi Đẩu Số giảng nghĩa, lần này người bình chú là ông Lục Tại Điền, không rõ có cùng dòng với ông Lục Bân Triệu hay không.

Và cần thêm nữa, sự tái xuất hiện của Trung Châu phái chẳng rầm rộ gì, chỉ là một trong nhiều trường phái Tử Vi trong giai đoạn bùng vỡ trăm hoa đua nở của kéo dài hơn hai thập niên (chủ yếu là thập niên 80’s và 90’s).

Ở Đài Loan Trung Châu phái bị nhiều phái khác, chẳng hạn các phái của Tử Vân, của Liễu Vô Cư Sĩ, của Chính Huyền Sơn Nhân đè bẹp. Tóm lại Trung Châu phái không phải là mới xuất hiện, từ lâu chẳng thấy “nóng hổi” gì, và cũng chẳng có ai “xếp de” trước phái này.

Tháng 6 năm 2007, một vị mang bút danh là Tam Thai xuất hiện trên một mạng của Trung châu Phái có vẻ như tự nhận mình là Truyền nhân chính thức của môn phái này (Môn phái này mỗi đời chỉ có một Truyền nhân, nhưng đến đời của Tam Thai thì phá lệ, hiện nay có đến 40 môn đồ và khoảng 2000 người theo thụ giáo). Ông này cho rằng Lục bân Diêu không phải là đệ tử đích truyền mà chỉ là một dạng như Tục gia đệ tử và chỉ học về sơ cấp chứ chưa đi sâu vào học trình cao cấp của Trung Châu phái. Tam Thai cũng có nói quyển ” Tử Vi Lý Số Giảng Nghĩa ” có nguồn từ một tài liệu gọi là ” Thế truyền Khâm thiên giám bí cấp ”.

Tam Thai có kể: sư tổ phụ của ông ta nguyên họ Du, trước kia có làm một chức quan nhỏ trong cơ quan khâm thiên giám nhà thanh, sau khi nhà thanh bị lật đổ, sư phụ của ông nhất thời bị thất nghiệp, lại không thích treo bảng làm nghề thày bói, trong cơn bối rối (tam thai không nói rõ như vậy) thì được gia nhân nhà họ lục mời về dạy bói toán cho lục bân diêu, dạy được mấy năm thì thày trò chia tay, bởi lúc đó chiến tranh loạn lạc đã khởi sự, họ du chạy về lạc dương, hình như để tìm thêm tài liệu thất lạc của môn phái, tình cờ thì gặp và cơ duyên làm sao mà thu nhận sư phụ của tam thai làm đệ tử…

Cứ theo Tam thai nói, thì sư phụ của ông cho biết họ Lục chỉ mới học qua về Tính chất các Sao và những câu Phú liên hệ mà chưa học đến ” Tử vi Tinh quyết ”, tức những yếu quyết (đa số là dưới dạng công thức) để suy đoán một lá số,, Họ Lục cũng có truyền nhân riêng của họ, đến nay cũng được 4 đời, đệ tử của Lục bân Diêu hiện nay chỉ theo một ít kiến giải của Thầy (vì không biết các chiêu Tinh quyết), nên đa số chỉ làm việc Nghiệm lý, xét lại vấn đề sau khi nó đã xảy ra..) một lá số mà ít khi dám tiên đoán! Tam Thai cho rằng làm như vậy thì sao mà phát huy được tinh hoa của một môn phái.

Tam thai nói: chẳng hạn Vương đình Chi có viết trong Tử Vi Đẩu Số giảng nghĩa: ” Phu thê cung hội THAM -KỴ, có nghĩa là đoạt ái (đoạt vợ chồng người khác), nhưng ông Vương không đề là vợ/chồng bị kẻ khác đoạt hay là đi đoạt tình nhân/vợ chồng người khác, bởi lẽ là ông ta chưa học Tinh quyết nên không phân biệt được… Họ Tam nói: ngay như THAM LANG -HÓA LỘC, hay THAM -QUYỀN (mà gặp sao này sao kia) có khi vô nhà lao ngồi chơi mấy mùa, đó là do sự biến hóa của Tinh hệ mà hình thành, nếu không biết mà luận lung tung tùy hứng thì còn gì là tinh hoa của Trung châu phái.

Chẳng hạn như cái sao THIÊN TƯỚNG, có người thì nói Thiên tướng là sao chính nghĩa cảm, thích vì người mà phục vụ, ưa xen chuyện bất bình, tại Mệnh cung thủ tọa thì không sợ Ác sát xâm lấn!! thậm chí đi khắp 12 cung ở đâu cũng là cát tường (không có Hãm địa).v.v, nhưng thực tế khi tham đoán một lá số đâu có giản đơn như thể dạo phố như vậy. Theo Tam Thai, thì Thiên Tướng chỉ là một Anh Ba phải, khi hội với cát tinh thì có khuynh hương tốt, khi đi với Ác diệu thì biến thành kè Ác ngay liền tù tì… Cổ nhân có cho rằng ” Phùng Tướng khán Phủ và Phùng Phủ khán Tướng ” (Mệnh/Hạn có Thiên Tướng thì phải xét đến Thiên Phủ và nghịch lại), vì hai sao này là chủ chốt của cách cục và lúc nào cũng ở thế Tam hợp..

Chẳng hạn Thiên Tướng tọa Mùi, Mão cung Tài có Thiên Phủ, đối cung là cặp Tử -Phá, tại Mão cung Thiên Phủ tọa thủ gặp phải vài tên Ác sát như nhóm Hỏa -Linh -Kình -Đà/hay Hình -Kỵ… như từ Dậu cung xạ chiếu chẳng hạn, những Ác tinh này tuy không chiếu xạ Thiên Tướng, chỉ chiếu tướng Thiên Phủ mà thôi, nhưng vì Phủ -Tướng là một cặp bất khả phân ly, nên chơi anh Thiên phủ cũng có nghĩa là ném chuột mà không nghía chủ nhà. Khi Thiên Phủ bị Hung đồ chiếu thì sẽ biến thành bại hại ngay, và lôi kéo theo anh chàng Thiên tướng (biến thành kẻ thiếu mất chủ kiến tham lận thô bỉ, không biết lẽ tấn thoái, hoặc giả chỉ biết tiến và tiến cho đến lúc hữu sự thì thoái thân vô lộ). Nếu không hiểu rõ cơ đồ, nhìn lá số Mệnh cung thấy Thiên tướng sáng láng, chẳng thấy Hung tinh chiếu xạ, vội cho rằng là người trung tín, chính nghĩa.v.v thì có phải là hại chết cái môn Tử Vi hay không…

Đây chỉ là một ví dụ cụ thể, một hạt đậu ” bí quyết ” nhỏ nhoi của Trung châu phái, xưa nay vẫn cất kỹ, đến như ” MÂN PHÁI Tử Vi ” tuy rằng có biết, nhưng lại dựa vào sự Đắc Hãm của Thiên tướng tại các Cung để phán đoán, e rằng vẫn chưa đúng với tinh thần của câu ” Phùng Tướng khán Phủ… ”, anh chàng Vương đình Chi trong Tử Vi Đẩu Số giảng nghĩa cũng vậy…

Gần Tử Vi Việt nhất theo tôi thấy là phái Trung Châu kiểu ông Lục Bân Triệu (không phải chi phái ông Vương Đình Chi, vì ông này Tứ Hóa ra khác hẳn).

Còn muốn thấy thật gần Tử Vi Việt thì tìm quyển Đẩu Số Đàn Vi (trọn bộ hai tập in chung một quyển, không dày lắm). Quyển này xuất hiện 1928, 1935 ở hoa Lục, và là một trong vài sách gối đầu giường của làng Tử Vi Đài Loan giữa thập niên 70. Giờ coi như bị lãng quên vì phái tứ Hóa nổi lên mạnh quá. Nhà xuất bản Vũ Lăng (Woolin, Đài Bắc) đã in lại.

10 Nam Phái Tử Vi Đẩu Số

Nam phái Tử Vi Đẩu Số là 1 môn phái chuyên dùng Tính chất của chư Tinh để luận Mệnh, vì phương pháp dùng Tinh luận Mệnh là truyền thống nguyên thủy của Tử Vi, cho nên ai nghiên cứu Tử vi cũng phải học tập các Kinh điển loại này.

Cho đến hiện nay (không kể Việt Nam), phái này chỉ còn di lưu lại 2 Bản cổ tịch, đó là Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư và Thập Bát Phi Tinh Sách Thiên Tử Vi Đẩu Số Toàn Tập. Hai bản này được (giới Tử Vi Đẩu Số Trung/Đài/Cảng..) xem là Chính tông, tối nguyên thủy, là chứng cứ tối sơ có thể tìm thấy được về Tử vi Luận Mệnh Pháp.

Tại Việt Nam môn Tử vi tuy không có giai đoạn bột phát mạnh mẽ như tại Đài/Cảng nhưng vẫn tiềm tàng phát triển trong dân gian 1 thời gian khá lâu trước thập niên 70, còn Trung, Đài, Cảng thì lưu mạch của Tử Vi Đẩu Số dường như hoàn toàn bị đứt đoạn, mãi đến các năm 70 mới được phục hồi. Đây là nhánh tử vi chính của Việt Nam.

Sở dĩ những người thực sự thấu hiểu cơ cấu môn Tử Vi Đẩu Số thì không có là bao, để tiện cho các vị sơ học, xin đưa ra các trọng điểm của Môn phái này như sau:

  • Trọng thị Chư tinh lạc hãm Tinh diệu cư Hãm địa có ảnh hưởng lực không đồng đều, Thập CAN niên sinh nhân (mỗi người có Niên CAN năm sinh khác nhau) thì TỬ VI tại 12 Cung có tác dụng BẤT ĐỒNG (Chẳng hạn GIÁP niên sinh nhân Tử vi cư MÃO là Hung, hoặc người sinh năm Giáp gặp Tử vi tại Mão, ắt nhập Mão niên thì Hung!), nhưng ẤT niên sinh nhân có Tử vi tại Mão thì Cát (tốt), như vậy Giáp niên sinh nhân có Tử vi tại Mão nếu hành Ất Mão niên thì luận là có Cát lẫn Hung.
  • Tiểu Nhi khắc Thân: Chẳng hạn, con nít sinh vào các Năm: THÌN, TỴ, MÙI, SỬU mà sinh ra nhằm những giờ: TÝ, NGỌ, MÃO, DẬU, TỴ, HỢI, THÂN thì bị khắc Mẹ. Ngoài ra còn có Đồng Hạn và giờ Kim xà…
  • Nam Bắc Đẩu và Nam Bắc Hạn Luận Đoán: Dương nam âm nữ lấy NAM ĐẨU làm Cát, khi nhập hạn thì Nam đẩu chủ 5 năm về sau. Nếu là LƯU NIÊN thì chủ về hạ bán niên. Âm Nam Dương nữ lấy BẮC ĐẨU làm Cát, nhập Hạn chủ 5 năm trước, Lưu niên thì Thượng bán niên.
  • Trọng Cách cục: Tử vi CÁCH CỤC lớn nhỏ lên đến mấy trăm Cách, đây là 1 món “gân gà” (khó nuốt) của môn Tử Vi, học Tử Vi thì không thể không biết Cách cục, nhưng biết rồi thì cũng không có chỗ đại dụng. Để tóm lược Nam phái cuối cùng phân làm 6 ĐẠI CÁCH, lại lấy 6 đại cách phối hợp trên 12 Cung tạo thành 1 Tổ hợp 144 CUỘC và hệ thống thành 1 dạng đồ biểu, đây là chỗ Tinh hoa của Nam phái.
  • Mệnh Cung Cung Khí: 60 Giáp Tý khi lập Mệnh tại 12 Cung có chỗ Cát Hung bất đồng, chẳng hạn như Lập Mệnh tại THÌN cung, thì MẬU THÌN Mộc tam cục KỴ nhập NGỌ Hạn và CANH THÌN Kim tứ cục KỴ nhập TÝ Hạn. (Tại Việt Nam vấn đề Cung Khí cũng như Tinh diệu di cung Miếu Lạc dường như được giữ kín không cho tiết lộ thì phải.?.)
  • Tổ Hợp Tinh Diệu Luận Hung Cát: Chẳng hạn Tử vi kiến Phủ – Tướng thì tốt, kiến Hỏa – Linh / Không – Kiếp là Hung…
  • Tiểu Hạn: Thập Can sinh nhân khi nhập 12 Cung địa chi kiến 14 CHỦ TINH đều có những chỉ dẫn minh xác về mặt Cát Hung. (Tử vi Việt Nam không thấy nói đầy đủ về mặt này, như vậy là có sự dấu nghề?)
  • Trọng Thị Tinh Tính, Không Trọng Tứ Hóa: Chỉ trọng Niên Can Tứ Hóa đối với Mệnh Tài Quan luận đoán mà thôi, dối với các Cung Can TỨ HÓA cũng như vận hạn tứ hóa thì rất giản lược. Đối với Đại vận cũng vậy, chỉ dùng Chư Tinh Nhập Hạn làm chủ phối hợp với Tứ Hóa mà đoán.

11 Tiên Tông Phái

NGƯỜI Sáng lập Tiên tông phái là CHÍNH HUYỀN SƠN NHÂN, pháp hiệu là HUYỀN CHÂN TỬ, là người Miêu lật, tự xưng là có Linh tu (linh Thần dựa vào mà dạy) mà học được Tử Vi Đẩu Số! Ông còn học với LƯ SƠN TIÊN TÔNG ĐẠO TRƯỞNG. Các sách của ông gồm có:

  • Thiên Địa Nhân Tử Vi Đẩu Số Đại Lưu Niên Pháp Quyết Yếu
  • Thiên Địa Nhân Tử Vi Đẩu Số Huyền Không Tứ Hóa Tật Nạn Tử Vong Tuyên Vi
  • Thiên Địa Nhân Tử Vi Đẩu Số Huyền Không Tứ Hóa
  • Thiên Địa Nhân Bàn Chân Cơ
  • Thiên Địa Nhân Tử Vi Đẩu Số Huyền Không Tứ Hóa Tâm Linh Học Áo Bí Tuyên Vi
  • Thiên Địa Nhân Tử Vi Đẩu Số Huyền Không Tứ Hóa Tiên Thiên Mệnh Cách Cuộc Tuyên Vi
  • Thiên Địa Nhân Tử Vi Đẩu Số Huyền Không Tứ Hóa Bí Giải
  • Thiên Địa Nhân Hôn Nhân, Luyến Ái Chuyên Luận
  • Thiên Địa Nhân Linh Điện Sinh Hóa Tam Giới Nhân Quả Huyền Uẩn

Trong đó quyển ” Thiên Địa Nhân Tử Vi Đẩu Số Phi tinh Kỳ phổ bí truyền ” được coi là ” tinh hoa ” của môn phái, quyển này nói rằng đã đưa ra rất nhiều những kiến giải chưa từng được ai đề xuất!!! Cách hành văn trong những bộ sách này chứa đầy những thuật ngữ và luận điệu của Đạo giáo, Chính huyền sơn nhân còn có phương pháp Bài Bàn theo Nhuận nguyệt, dùng Thiên số của Tháng trước Tháng Nhuận và xuất sinh Nhật số cùng với Tử vi định vị Công thức mà tính ra được lá số chính xác, ông chủ trương Tinh – Bình hội tham, nói rằng như vậy mức dự đoán có thể chính xác đến 75%, ông tuyên bố mình thuộc giới Địa Tiên, và ở Đài loan thì chiếm địa vị Thứ Nhất trong giới Thuật số!!!

Về những Kiến giải trong bộ ” Tử Vi Đẩu Số Phi tinh Kỳ phổ bí truyền ” gồm có:

  • 12 Trường sinh Tứ hóa: Dùng 12 Trường sinh để luận sự Cường Nhược của Tứ Hóa.
  • Đề xuất làm sao phân biệt sự Chân Giả của Tứ Hóa.
  • Đề xuất về vấn đề Nạp Âm của Tứ Hóa. Như đồng nhất Can Tứ Hóa nhân có Nạp âm Tứ hóa bất đồng, Sự Cường Nhược của Tứ hóa cùng quá trình và kết luận cũng bất đồng, chẳng hạn như đồng là Mậu Thiên cơ-Hóa kỵ, nhưng Mậu Tý và Mậu Dần của Mậu-Hóa kỵ có bất đồng quá trình cũng như kết luận.
  • Đề xuất Niên Can Tứ Hóa, 12 Cung Tứ Hóa, Vận Can Tứ Hóa mỗi thứ đều có chỗ Sở tại nhưng bởi khác nhau vì Cường Nhược do đó sản sinh ra những Kết luận bất đồng.

12 Thẩm Thức Tinh Hóa Tử Vi Đẩu Số

Tác phẩm

Nhân vật sáng lập ra môn phái này là THẨM BÌNH SƠN, phái này có 1 mô thức luận Mệnh khác lạ so với các Môn phái truyền thống, nên trong lãnh vực Tử vi cũng chiếm được 1 vị trí độc đặc riêng của mình. Phái này có vài quyển trứ tác như:

  • Tử Vi Mệnh Phổ (2 cuốn)
  • Tử Vi Chiêm Bệnh Đoán Quyết Thiệt Lệ
  • Tử Vi Đẩu Số Lưu Niên Tai Họa Tổng Luận
  • Tử Vi Đẩu Số Lưu Niên Tai Họa Chuyên Tập…

Ngoài ra ông Thẩm Bình Sơn có ra một quyển khổ to ” Tử Vi Đẩu Số đương đại Trung Quốc danh nhân phổ ”, gọi là ” Trung quốc danh nhân ” thực ra là ” Đài Loan danh nhân ”.

Về cách xem của ông Thẩm, tôi chỉ dám nói là ” lạ lùng ” vì có quá nhiều bí quyết không ăn nhậu gì đến các phép luận truyền thống của Tử Vi cũng như Tử Bình. ” Tử Vi mệnh phổ ” có mấy lá số rõ ràng sai, có số sai cả năm khiến ta phải hồ nghi độ khả tín của những lá số còn lại trong sách này.

” Tử Vi Đẩu Số lưu niên tại họa tổng luận ” thu thập nhiều lá số người thật việc thật và dùng các tổ hợp sao để nghiệm lý tại sao tai họa xảy ra và tại sao xảy ra như thế. Vấn đề là chẳng ai biết những lá số trong sách này có chính xác hay không. Cách đoán lại quá ” lạ lùng ”, chẳng phải là đại đồng tiểu dị mà phải nói là tiểu đồng đại dị so với kiến thức Tử Vi mà tôi đã biết.

Trong đó ông đã tiên đoán thời gian mất của Tưởng Thống Chế, Mao Xếnh Xáng, Tưởng Kinh Quốc, Đặng Lệ Quân, Tưởng Hiếu Vũ, chuẩn xác đến nỗi làm chấn kinh cả thế giới Mệnh lý và ngay cả những phần tử cao cấp trong Chính quyền cũng phải chú ý. Thẩm đại sư đồng thời phát kiến ra Tử Vi Đẩu Số Tinh hóa, Trung Hạn, nghịch cung, Phi tinh, Trực giác Chiêm pháp.v.v làm hoanh động nhất thời, tứ phương Hiền sĩ, Đạt nhân phân phân đăng môn cầu vấn, cao đồ mãn tọa, tạo thành 1 phong trào đưa Mệnh lý Trung quốc nâng cao lên 1 bước nhảy vọt!

Về sau, lại xuất bản ” Đương đại Danh nhân phổ ”, trong có có dự ngôn (tiên đoán) về Thị trường Cổ phiếu Đài loan, Đại gia Lạc phong hảng về việc Tinh vân pháp sư nghênh đón Phật nha, Tạ trường Đình phát sinh phong ba và việc Đặng tiểu Bình sẽ chết, Trần thủy Biển có thể đắc cử Tổng thống, nhưng trong Vận sẽ gặp Hung nguy… Những tiên đoán như trên thật là Thần bút linh kỳ, làm cho người ta phải tán thán.

Theo bài viết của Môn sinh của Thẩm bình Sơn, thì khoảng năm 1975, họ Thẩm đầu tiên xuất hiện giang hồ, trương bảng truyền thụ ” Phòng trung thuật ” (nghệ thuật tình dục), sau đấy vì nổi đình đám quá nên nhà nước nhảy vô can thiệp, dẹp bảng… Thế là Họ Thẩm thất nghiệp quay sang ” tiềm nghiên ” môn Kỳ môn độn Giáp và khám phá về thế giới kỳ ảo của Thiên văn.

Ban ngày thì ông chơi với Lục giáp thần tướng, họ chuyên hộ vệ ông cũng như rỉ tai báo cho biết trước những gì sắp xẩy ra, ban đêm thì ông chơi với.. Lục Đinh. Lục Đinh là 6 Cô Ngọc nữ chân dài và đẹp bá chấy, nhưng không nói ông học cái gì ở họ… thỉnh thoảng ông thấy như bản thân mình nhập vào..Thái hư, có vô số tia bức xạ chạy xuyên qua xương sống cũng như não môn, về sau hình như có 1 vị nhập vào người ông để..xem bói. Mỗi khi xem bói cho ai thì não bộ lại xuất hiện hình ảnh của người đấy.

Thẩm bình Sơn tướng Sư xem bói có khi không cần lá số, có khả năng vạn lý tri nhân Mệnh, lại có thể đoán được ngày giờ năm sinh của 1 người lạ hoắc, từng đưa ra ngày giờ sinh chân chính của Trần thủy Biển, Vương Kim Bình, Lý Đăng Huy, thậm chí thọ kỳ (năm chết) của Hoàng tín Giới, Lư tu Nhất, Chương hiếu Từ,,, cũng không thoát khỏi Diêm vương khẩu lệnh của Tổ sư gia.

Tổ sư đã sáng biện ra rất nhiều Tử vi Huyền Cơ cũng như chú thích vô số những chỗ tinh vi áo nghĩa trong các môn Kham dư, Tính danh, Khí tượng, và Quốc gia đại sự, có khả năng dự trắc sự lên xuống của Cổ phiếu mỗi ngày, dự đoán chính xác thời gian và địa điểm phát xuất của Toàn phong bão lốc cũng như những cơn địa chấn, ngoài ra còn biết nhập Thần, chữa Bệnh nhờ dị năng, Phòng trung thuật, Ảo giác vũ thuật.v.v

Thẩm Tôn sư đã khai sáng ra lãnh vực Thần học làm người người phải khâm phục, thật là 1 Dị sĩ Kỳ nhân nghìn năm có một tại Trung quốc vậy…

Các Kỹ Thuật Chính

Thẩm bình Sơn thường che giấu cách thức luận Mệnh ” đặc biệt ” của mình. Phương thức luận của ông gồm 2 phần:

  • Truyền thống Tử Vi Đẩu Số chiêm pháp: Cũng dùng Cách cục, Ngũ Hành, Nam Bắc đẩu, Tứ Hóa, 12 Trường sinh, Tuế kiến, Tuế Tướng.
  • Thẩm thức Tử Vi Đẩu Số: Dùng Phi tinh, Tinh hóa, Luận cuộc, Biến cuộc, Tam hạn pháp, Quá Cung pháp…

Họ Thẩm không dùng Tứ Hóa Phi tinh mà dùng TINH HÓA gia thêm TAM HẠN PHÁP hoặc PHI TINH PHÁP làm chính.

PHI TINH PHÁP

Cách phi tinh của thẩm thức khác với tứ hóa pháp, phương pháp này tương tự như cách thức ” tinh tinh hổ đạp ” của Vương Đình Chi, chẳng hạn mệnh cung có vũ khúc, hành hạn nhập thê cung thất sát, thì dùng vũ – sát phối hợp mà luận, 12 cung đều ” hổ đạp ” như vậy.

TINH HÓA PHÁP

Tức lấy các tinh chính và phụ hóa làm chứng tượng trong phép đoán, chẳng hạn đang luận tật bệnh thì lấy thất sát hóa thành ngón tay, mật. đang luận về hung nạn thì thất sát sẽ hóa thành khai đao (giải phẩu),

TAM HẠN PHÁP:

  1. Đại Hạn: Dùng như thường pháp
  2. Trung Hạn: Đại Hạn được phân làm 4 Trung Hạn, mỗi một Trung Hạn hành 2.5 niên. Trung Hạn theo thứ tự là: Đại Thiên 2.5 năm, Đại Mệnh 2.5 năm, Đại Tài 2.5 năm, Đại Phúc 2.5 năm.
  3. Tiểu Hạn: Không giống như Truyền thống, Thẩm thị Tiểu Hạn dùng Ngũ Hành cục Trường sinh Cung làm điểm chính để khởi Tiểu Hạn: Thủy/Thổ cục 1 Tuổi Tiểu Hạn tại Thân. Hỏa cục khởi tại Dần, Mộc cục tại Hợi, Kim cục tại Ty.

13 Tử Vi Nhật Bản

Người Nhật cũng đang nghiên cứu Tử Vi Đẩu Số như chúng ta, sau đây là một đề số sách:

  • Tử Vi Đẩu Số Suy Mệnh Thuật
  • Tử Vi Đẩu Số Suy Mệnh Hợp Hôn Pháp
  • Tử Vi Đẩu Số Giám Pháp Toàn Thư
  • Tử Vi Suy Mệnh Thiệt
  • Mệnh Phổ Tử Vi Tứ Hóa Tinh
  • Dụng Pháp Tứ Trụ
  • Tử Vi Thiệt Chiêm Giải Minh
  • Tử Vi Cứu Minh Dữ Thiệt Đoán
  • Tử Vi Ngũ Thuật Diện Chưởng Thiên.

Phong trào Tử Vi của Nhật tương đối mới, trước chỉ có bát tự. Họ còn coi trọng phép coi nhóm máu (huyết hình). Đài Loan bị Nhật chiếm đóng 50 năm (1895-1945) nên cũng chịu ảnh hưởng cách xem huyết hình.

Về Tử Vi thì Đài Loan có ảnh hưởng ngược lại Nhật Bản. Ngay Phan Tử Ngư viết rất lộn xộn mà đã có sách được dịch sang tiếng Nhật.

14 Phụ Lục

14.1 Thập Bát Phi Tinh

Vương đình Chi nói về một trong những Tiền thân của Tử Vi Đẩu Số, đó là thập bát phi tinh.

Thập bát phi tinh tuyệt đối không phải là Tử Vi Đẩu Số, và trên mặt lịch sử mà nói thì không hề có môn thuật số nào gọi là ” Thập bát phi tinh Tử Vi Đẩu Số ”, sở dĩ tại Minh Phúc kiến ấn bản còn truyền lại thấy đề là ” Hợp tính 18 phi tinh Tử Vi Đẩu Số ” hoặc ” HỢP TÍNH 18 PHI TINH SÁCH THIÊN Tử Vi Đẩu Số ”, có nghĩa là tập hợp 18 phi tinh cùng với Tử Vi Đẩu Số trong cùng một ấn bản.

Hiện tại, giới nghiên cứu Tử Vi Đẩu Số tại Đài loan (dường như) thấy thích thú trong việc xảo lập danh mục, sở dĩ đã tự tiện bỏ đi hai chữ ” Hợp tính ” nên biến thành cái gọi là ” 18 phi tinh Tử Vi Đẩu Số ” Điều này làm cho lịch sử Tử vi bị hỗn loạn, ngay cả nguồn gốc của môn Đẩu số cũng bị đứt đoạn.

Môn 18 phi tinh hiển nhiên thoát thai từ ” NGŨ TINH ”, và được đơn giản hóa mà hình thành, chẳng hạn như tên các Tinh diệu: Thiên Quý, Thiên Ấn, Thiên Thọ, Thiên Lộc.. là những danh từ chuyên dùng của giới Ngũ tinh, nhưng 18 phi tinh lại có thêm vào một số Tạp tinh như Mao đầu, Thiên Nhận..

Theo suy tưởng của Vương Đính Chi (thích xưng tên như vậy), thì vào khoảng thời kỳ nhà Tống, sự suy đoán dựa trên Ngũ tinh đã không còn chuẩn xác, giới tôn sùng Bắc đẩu là các Đạo sĩ bèn nghĩ đến việc giản hóa môn Ngũ tinh thành ra một môn giản lậu thuật toán là 18 phi tinh, chỗ tuơng đồng duy nhất giữa hai môn đó là Mệnh bàn được phân làm 12 cung.

Tại sao gọi là 18 Phi tinh?

18 Phi tinh lấy Tử vi làm chủ tinh, sau đó đến Thiên Hư, Thiên Quý, Thiên Ấn, Thiên Thọ, Thiên Không, Hồng loan, Thiên Khố, Văn Xương, Thiên Phúc, Thiên Lộc tất cả gồm 11 Chính diệu, theo Tử vi mà phân bố khắp 12 Cung, mỗi cung một Chính diệu, không như Tử Vi Đẩu Số là có Cung có hai Chính diệu và có Cung vô Chính diệu, và để tránh né sự phân phối ngây ngô này, họ lại gia thêm Thiên Trượng, Thiên Dị, Mao Đầu, Thiên Nhận, Thiên Hình, Thiên Riêu, Thiên Khốc tổng cộng 7 Phúc tinh, cứ theo khởi lệ mà phân phối một Chính một Phó dùng làm tiền đề cho việc suy đoán nhân sinh mạng vận.

Ngoại trừ Tử vi ra, bỡi có 11 Chính diệu và 7 Phó diệu, do đó hợp xưng là ” 18 Phi tinh ”, về sau lại thêm vào Tam Thai, Bát Tọa, Long Trì, Phượng Các tứ diệu, đại khái là dùng để bổ khuyết chỗ bất túc của 18 Phi tinh!

Phương thức suy luận đoán Mệnh kiểu này có vẻ cứng ngắt, nhân bởi chỉ suy toán từng cung một, không có sự liên kết giữa các cung và giữa các Tinh hệ như Tử Vi Đẩu Số, thực tế mà dùng thì cũng như các loại tạp nhạp ” Tam thế thư ”, hay ” Lưỡng đầu kiếm ” mà thôi, vì chẳng có căn cứ lý luận và kinh qua việc thống kê hay tu đính mà phát triển, chung quy chỉ làmột loại toán thuật thô thiển trên giang hồ, không thể đâng đại nhã chi đường, cũng chẳng thể cùng sánh vai với môn Tử bình.. “

Vương Đình Chi cho rằng: Tử Vi Đẩu Số là do Thập bát Phi tinh phát triển mà hình thành, do đó từ tính chất của Tinh diệu hai Môn, chúng ta có thể tìm thấy mạch lộ của sự phát triển.

Sao TỬ VI (của 18 Phi Tinh): còn gọi là Cận thị quý nhân. Tinh này cư bên trong Đế viên, chí tôn chí quý, tại Hợi Thiên môn gọi là củng Bắc thần, độc lâm bộ vị gọi là Xuất thần, cách chủ đại quý, nếu Mệnh/Thân chiếu lại hội cát tinh, gọi là Thanh quang cách. Tỵ Dậu nhập miếu, Thân Hợi Lạc, Tý vượng gọi là Giao cung cách, Thân Mệnh có sao này chủ về đa tài chức, y tử yêu kim (phú quý), người người tôn trọng, tiểu nhân khó bề thân cận, tính từ thiện, thích học đạo thuật lại có duyên tu theo giới Thần tiên. Nếu không nhập Miếu vượng gọi là Cô thần, thích tăng đạo, thủ trai giới, nếu hội Ám diệu thì tính hiếu sắc, cương quả vô thân, nếu là phụ nhân thì phòng Phu tổn tử. Nếu Thất địa thì Suy, nếu lâm nguy thì được cứu!, là cửu lưu chi nhân (giới Thuật sỉ), đến Vận hạn thì được diện kiến Nhân quân (vua).

Theo kiểu thuyết pháp bên trên thì thấy tương đồng với (tính chất)của Sao Tử vi trong môn Tử Vi Đẩu Số…

Ngoài ra, Thiên Ấn phát triển thành sao Thiên Tướng.

Thiên Thọ = Thiên Lương

Thiên Khố = Thiên Phủ

Thiên Quý = Vũ Khúc

Thiên Lộc = Lộc tồn

Thiên Dỉ = Hỏa Linh

Mao Đầu = Phá Quân

Thiên Nhận = Thất Sát

14.2 Phan Tử Ngư NHẤT DIỆP TRI THU THUẬT Tử Vi Đẩu Số:

PHAN TỬ NGƯ nhận là truyền nhân của Môn này, sinh năm 1930 tại Phúc châu, lúc nhỏ nhận NHẤT TRẦN HÒA THƯỢNG tại Cổ sơn Dõng tuyền làm sư phụ và học môn Nhất diệp tri thu, loại Tử Vi Đẩu Số này có chỗ bất tương quan với tông phái của Trần Đoàn lão tổ vì thừa nhận vị Tôn sư của họ là Tôn tư Mạo (chứ không là Trần Đoàn). Phan tử Ngư viết rất nhiều, gồm:

  1. Tử Vi Đẩu Số Thiệt Lệ Phân Lệ
  2. Tử Vi Đẩu Số Nghiên Cứu
  3. Tử Vi Đẩu Số Ấn Chứng
  4. Tử Vi Đẩu Số Khán Bệnh
  5. Tử Vi Đẩu Số Khán Tứ Hóa 1, 2
  6. Tử Vi Đẩu Số Tâm Đắc
  7. Tử Vi Đẩu Số Tinh Áo
  8. Tử Vi Đẩu Số Độn Hoàn Luận
  9. 9. Phan Tử Ngư Bốc Mệnh Thư

Sáng lập Tạp chí Tử vi Thiên địa, Phan tử Ngư có cách thức luận Mệnh đa tạp và phiền phức, ý mới không có nhiều, thường chú tâm hạ thủ ở những chỗ nhỏ nhặt, đối với những kẻ sơ học thì có ích, còn đối với những kẻ đã có căn bản thì vô dụng, bỡi vì tính ứng nghiệm suất không cao…

14.3 Vài dòng về ông Vương Đình Chi

Trong hai người bị ông Tam Thai đả kích thì một người đã chết một người còn sống. Người còn sống là ông Vương Đình Chi, được coi là một cột trụ của làng mệnh lý Hồng Kông. Thiết tưởng ta cũng nên biết một chút về nhân vật khá quan trọng này. Sau đây là lời giới thiệu của nhà xuất bản Bác Ích Hồng Kông, dịch nghĩa từ một quyển sách phát hành năm 1995: “Vương Đình Chi húy là Đàm Tích Vĩnh, quê Nam Hải, Quảng Đông. Tuy học hóa học, nhưng xuất thân nho học, từ nhỏ luyện cầm thi thư họa và các khoa y bốc tinh tướng; (ngoài ra) tử bình, dịch học đều có nghiên cứu. Tuy làm việc tài chính nhưng thích văn sử triết học, tín ngưỡng phật giáo. Sau theo ông Lưu Huệ Thương của phái trung châu học Tử Vi, được chân truyền và rồi phát huy phái này quang đại ở Hồng Kông, thâu 40 môn đồ, thành lập hội Tử Vi tùng sự nghiên cứu. ” (Nhưng) cái sở học bình sinh của ông là phật học. Từ thời đại học đã bỏ nhiều công nghiên cứu (phật học), năm 28 tuổi nhờ một cơ duyên theo mật tông Tây Tạng, ẩn cư Di đảo (?) 6 năm, phối hợp kinh luận tu tập. Những năm gần đây biên soạn “Phật giáo kinh luận đạo luận tùng thư”, được đánh giá cao.

14.4 Đăng Hạ Thuật

Đăng Hạ Thuật đề cập đến những đề mục tạp nhạp mà các môn khác không thấy nói đến, như:

  • Cung Thiên di có âm/dương nên đi về hướng Đông Bắc để phát triển sự nghiệp, hướng Tây bất lợi.
  • Người có văn xương tại Ngọ địa thì kỵ hành hướng Nam.
  • Sao nào thì nên ăn mặc màu nào,,
  • Bàn về cá tính, chẳng hạn Thiên hỉ: lúc nhỏ mặt mũi trông rất khả ái, nên ai cũng thích bồng bế, khi lớn lên, sẽ bị trầm mê vào một môn nào đó, như câu cá, đánh cờ, uống rượu, nghe nhạc, shopping, một điều nữa là ưa chia tình cảm làm nhiều mảnh.

Theo chính ông Phan viết trong sách thì một phần của Đăng Hạ Thuật có cái tên là “Nhất diệp tri thu”! “Nhất diệp tri thu” nghĩa đại khái là chỉ thấy một chiếc lá từ cây rơi xuống mà biết là mùa thu đã đến! Từ tên đã có thể mài mại đoán được, với phép này từ một dữ kiện nhỏ ta có thể đoán được rất nhiều chuyện.

Có thể thấy rằng phép “nhất diệp tri thu” (NDTT) toàn là bí quyết. Nên nếu phân biệt khí tông kiếm tông thì NDTT đúng là chiêu số của kiếm tông. Và vì phép xem Tử Vi của ông Phan Tử Ngư hoàn toàn dựa trên bí quyết, ông là một nhân vật thuộc phe kiếm tông. Rõ ràng hơn và ngắn gọn hơn, ông Phan Tử Ngư là một trưởng lão kiếm tông cao cấp của Đài Loan đảo.

  • References 1. Phiên Thư Tựu Năng Toán Tử Vi Lâm Kim Lang 2008
  • References 2. Đại Sư Giáo Nễ 36 Thiên Học Hội Tử Vi Đẩu Sổ Phụ Đức Lục 2008
  • References 3. Tử Vi Chư Tinh Cư Mệnh Cung Xiển Thích Hóa Sơn Cư Sĩ
  • References 4. Tử Vi Đẩu Sổ Mệnh Phổ Khảo Chứng Hồng Lăng
  • References 5. Tử Vi Kinh Điển Tử Vi Tinh Quyết Nhất Sáo Tứ Sách
  • References 6. Tử Vi Quốc Bảo Tạ Hân Nhuận
  • References 7. Nhân Duyên Thiên Chú Định Thụ Hoan Nghênh Đích Luận Hôn Nhân Đại Tác Ngô Dật Trung
  • References 8. Sơ Học Tử Vi Đẩu Sổ Trịnh Cảnh Phong
  • References 9. Thiên Võng Sưu Kì Lục Tử Vi Dương
  • References 10. Tử Vi Đẩu Sổ Luận Mệnh Kĩ Xảo Đạo Độc Hoàng Tứ Minh
  • References 11. Tử Vi Gian Thoại Tử Vi Dương
  • References 12. Đẩu Sổ 144 Sanh Mệnh Đồ Giải Thích Tú Dân
  • References 13. Tử Vi Tân Ngữ Tử Vi Dương
  • References 14. Tử Vi Đẩu Sổ Cổ Phiếu Chiến Lược Lục Tại Điền
  • References 15. Tử Vi Đẩu Sổ Thập Nhật Thông Lục Tại Điền
  • References 16. Lục Bân Triệu Tử Vi Đẩu Sổ Giảng Nghĩa Bình Chú Lục Tại Điền
  • References 17. Linh Tu Đẩu Sổ Tâm Pháp Vương Minh Dương 1996
  • References 18. Tử Đẩu Tinh Thuật Học Chu Tiến Lượng
  • References 19. Cao Đoạn Tử Vi Đẩu Sổ Huyền Cơ Trương Bảo Đan
  • References 20. Phi Tinh Tử Vi Đẩu Sổ – Thập Nhị Cung Lục Thất Nhị Tượng Lương Nhược Du
  • References 21. Tử Vi Đẩu Sổ Mệnh Vận Học Lý Thiết Bút
  • References 22. Tử Vi Đẩu Sổ Thôi Mệnh Thư Văn Tứ Lang
  • References 23. Tử Vi Đẩu Sổ 72 Chủng Lưu Niên Phân Giải Trương Phong Quốc, Tân Tú Mẫn
  • References 24. Tử Vi Đáp Vấn Lục (Thôi Luận Thiên) Lại Minh Hiền
  • References 25. Phá Giải Mệnh Lý Trá Phiến – Luận Tử Vi Đẩu Sổ Dữ Tính Danh Học Tạ Sĩ Nguyên 2008
  • References 26. Cửu Thiên Phi Tinh Phi Tinh Phái Tử Vi Đẩu Sổ Áo Nghĩa Cửu Thiên Trứ 2008
  • References 27. Đẩu Sổ Hộ Pháp Ông Phúc Dụ
  • References 28. Tử Bạch Quyết Triệu Cảnh Nghĩa
  • References 29. Đẩu Sổ Can` Khôn – Giải Bàn Thiên Lưu Vĩ Vũ
  • References 30. Đẩu Sổ Can` Khôn – Khảo Vận Thiên Lưu Vĩ Vũ
  • References 31. Đẩu Sổ Chấp Pháp Ông Phúc Dụ
  • References 32. Tử Vi Đẩu Sổ Khai Vận Toàn Tập 1 -7 Toàn Tập Tuệ Canh
  • References 33. Tử Vi An Tinh Biểu Trần Nhạc Kỳ
  • References 34. Tam Hiệp Phái Tử Vi Đẩu Sổ Tinh Tình Tường Giải
  • References 35. Tử Vi Đẩu Sổ Trần Đoàn Lão Tổ Kinh Điển Chi Tác Trần Hy Di
  • References 36. Tử Vi Đẩu Sổ Toàn Thư Trần Hy Di
  • References 37. Thập Bát Phi Tinh Sách Thiên Tử Vi Đẩu Sổ Toàn Tập (Minh Triều Cổ Bổn) Trần Hy Di
  • References 38. Tử Vi Tứ Hóa Nhất Học Tựu Thông (Thượng Hạ -) Phụ Đức Lục
  • References 39. Tử Vi Tiến Giai Khuyến Học Chủ
  • References 40. Tử Vi Sơ Giai Khuyến Học Chủ
  • References 41. Tử Vi Cao Giai Chi 2- Tứ Hóa Tích Thiên Tủy Khuyến Học Chủ 08 Bản
  • References 42. Tử Vi Cao Giai Chi 1- Tinh Diệu Thiết Quan Đao Khuyến Học Chủ
  • References 43. Hiện Đại Tử Vi 1-7 Tập Liễu Vô Cư Sĩ (Cuon Naỳ Mac Tien Lam)
  • References 44. Tử Vi Luận Mệnh Bất Cầu Nhân Liễu Vô Cư Sĩ
  • References 45. Tinh Không Xán Lạn – Tử Vi Kĩ Thuật Phân Tích Thiên Liễu Vô Cư Sĩ
  • References 46. Đẩu Sổ Tuyên Vi – Hiện Đại Bình Chú Liễu Vô Cư Sĩ
  • References 47. Đẩu Sổ Nghi Nan 100 Vấn Đáp – Cổ Điển Thiên Liễu Vô Cư Sĩ
  • References 48. Đẩu Sổ Nghi Nan 100 Vấn Đáp – Hiện Đại Thiên Liễu Vô Cư Sĩ
  • References 49. Sách Xuyên Thiết Toán Bàn Liễu Vô Cư Sĩ
  • References 50. Mệnh Vận Giải Mã Chi Trần Hy Di Đương Án Liễu Vô Cư Sĩ
  • References 51. Tử Vi Luận Mệnh Liễu Vô Cư Sĩ
  • References 52. Thanh Triều Mộc Khắc Trần Hy Di Tử Vi Đẩu Sổ Toàn Tập Hiện Đại Bình Chú Liễu Vô Cư Sĩ
  • References 53. Chính Thống Phi Tinh Tử Vi Đẩu Sổ Trần Nhạc Kỳ
  • References 54. Tử Vi Đẩu Sổ Bất Truyện Tâm Pháp Sở Hoàng
  • References 55. Tử Vi Đẩu Sổ Toàn Sáo Hàm Thụ Giáo Trình 1–4 Sách – Tào Nghiễn Minh (Mắc Lắm Àh:-))
  • References 56. Đẩu Sổ Tư Quá Nhai Liễu Xuyên Hiệp Ẩn
  • References 57. Cổ Kim Thất Chánh Ngũ Dư Tích Nghĩa Quách Trung Hào, Cao Thủ Tất Độc
  • References 58. Tử Vi Đẩu Số Học Lỗ Dương Tài
  • References 59. Tử Vi Đại Chiến Tham Lang — Hiện Đại Đẩu Sổ Dữ Sanh Nhai Quy Hoa Như Lý Cư Sĩ
  • References 60. Tử Vi Khán Nhân Sanh Hoàng Hiểu Vi
  • References 61. Lạc Dương Dịch Nguyên Độc Bộ Tứ Hóa Tử Vi Đẩu Sổ Phi Tinh Bộ Thiên Thông Hội Nhất Tứ Tứ Quyết Lý Tử Dương
  • References 62. Tử Vi Đẩu Sổ Khán Bệnh Phan Tử Ngư
  • References 63. Phan Tử Ngư Tử Vi Đẩu Sổ Ấn Chứng
  • References 64. Phan Tử Ngư Bổ Mệnh Thư (1-6), Tử Vi Đẩu Sổ Vi Đống, Ngũ Trụ Thập Tự Vi Lương
  • References 65. Phan Tử Ngư Tử Vi Đẩu Sổ Tham Ngộ Thượng Hạ Sách (Sách Của Ông Phan Tử Ngư Sao Mắc Quá!!!)
  • References 66. Trung Quốc Tuyệt Học Đệ 7 Tập Phương Ngoại Nhân
  • References 67. Trung Quốc Tuyệt Học Đệ 2 Tập Phương Ngoại Nhân
  • References 68. Trung Quốc Tuyệt Học Đệ 1 Tập Phương Ngoại Nhân
  • References 69. Hà Lạc Tử Vi Đẩu Sổ Phương Ngoại Nhân
  • References 70. Tục Hà Lạc Tử Vi Đẩu Sổ Phương Ngoại Nhân
  • References 71. Phương Ngoại Nhân Khai Quán Nhân Tử Vi Đẩu Sổ Nhất Nhị Sách, Cao Nhân Nhị Thập Niên Luận Mệnh Tâm Đắc
  • References 72. Tử Vi Đẩu Sổ Xiển Vi Bạch Y Tú Sĩ
  • References 73. Tử Vi Đẩu Sổ Phong Thủy Học Trương Diệu Văn, Tá Đằng Lục
  • References 74. Tử Vi Đẩu Sổ Lưu Niên Tốc Đoạn Pháp Vương Sĩ Văn
  • References 75. Tử Vi Đẩu Sổ Doanh Thương Thiên Tuệ Tâm Chủ
  • References 76. Tử Vi Đẩu Sổ Nghênh Phú Thiên Tuệ Tâm Chủ
  • References 77. Tử Vi Đẩu Sổ Xu Cát Tị Hung Pháp Tuệ Tâm Chủ
  • References 78. Tử Vi Đẩu Sổ Khán Hôn Nhân Tuệ Tâm Chủ
  • References 79. Tử Vi Đẩu Sổ Tân Thuyên Tuệ Tâm Chủ
  • References 80. Như Hà Thôi Toán Mệnh Vận – Tử Vi Đẩu Sổ Dữ Tứ Hóa Tinh Tuệ Tâm Chủ
  • References 81. Tử Vi Đẩu Sổ Đạo Độc Tử Vi Đẩu Sổ Nhập Môn Thư Tuệ Tâm Chủ
  • References 82. Tử Vi Đẩu Sổ Khán Công Thương Nhân Tuệ Tâm Chủ
  • References 83. Tử Vi Đẩu Sổ Toàn Tập (Tam Sách) Tuệ Tâm Chủ
  • References 84. Tử Vi Đẩu Sổ Khai Phát Tiềm Năng Nhất Nhị Sách Tuệ Tâm Chủ
  • References 85. Ngã Môn Đô Thị Hữu Duyên Nhân – Tử Vi Đẩu Sổ Khán Giao Hữu Cung Tuệ Tâm Chủ
  • References 86. Chu Nhất Tử Vi Dự Trắc Học An Dương Chu Dịch Nghiên Cứu Viện Giáo Tài
  • References 87. Trần Thế Hưng Tử Vi Đẩu Sổ Phú Văn Tinh Tích
  • References 88. Trần Thế Hưng Tử Vi Đẩu Sổ Tinh Diệu Giải Thuyết Thiên
  • References 89. Trần Thế Hưng Đẩu Số Cá Án Nghiên Cứu – Vi Hà Bất Hôn Thiên
  • References 90. Trần Thế Hưng Đẩu Số Cá Án Nghiên Cứu – Hôn Ngoại Tình Thiên
  • References 91. Trần Thế Hưng Tử Vi Đẩu Sổ Đạo Độc – Mệnh Bàn Giải Thuyết Thiên
  • References 92. Trần Thế Hưng Tử Vi Đẩu Sổ Đạo Độc Tiến Giai Thiên
  • References 93. Trần Thế Hưng Tử Vi Đẩu Sổ Đạo Độc Nhập Môn Thiên
  • References 94. Trần Thế Hưng Tử Vi Đẩu Sổ Đạo Độc Giải Bàn Thiên
  • References 95. Tử Vân Đẩu Số Luận Nhân Duyến Tuyệt Bản Phát Thụ, Luận Thuật Phu Thê Cung Tối Kinh Điển Chi Tác
  • References 96. Tử Vân Tòng Đẩu Sổ Khán Nhân Sanh
  • References 97. Tử Vân Phái Khán Bàn Phương Pháp
  • References 98. Tử Vân Phái Cơ Sở Giảng Nghĩa
  • References 99. Tử Vân Đẩu Số Luận Tử Nữ
  • References 100. Tử Vân Đẩu Số Luận Sự Nghiệp
  • References 101. Tử Vân Đẩu Số Luận Cầu Tài
  • References 102. Tử Vân Đẩu Sổ Khán Nhân Tế Quan Hệ
  • References 103. Tử Vân Đẩu Số Luận Điền Trạch
  • References 104. Tử Vân Đẩu Số Luận Mệnh Thật Tế Mệnh Lệ Đích Thôi Luận Dữ Vận Dụng
  • References 105. Tô Phỉ Nhã Tử Vi Ái Tình Diy
  • References 106. Lý Ngọc Bội Tử Vi Khai Vận Hảo Đào Hoa
  • References 107. Khuyến Học Chủ Tinh Diệu Thiết Quan Đao Tử Vi Cao Giai
  • References 108. Trần Thế Hưng Tử Vi Đẩu Sổ Đạo Độc Ngoại Ngộ Thiên
  • References 109. Tử Vân Phái Bài Bàn Cập Lịch Pháp Giảng Nghĩa
  • References 110. Ngô Dật Trung Đẩu Số Luận Bệnh
  • References 111. Tạ Vũ Đằng Đẩu Sác Tứ Hóa Thâm Nhập
  • References 112. Trần Thế Hưng Tử Vi Đẩu Sổ Đạo Độc Độc Thân Thiên
  • References 113. Chung Nghĩa Minh Tử Vi Nhất Đắc Chung Nghĩa Minh Phong Bút Lục Niên Hậu Đích Siêu Cấp Đại Tác
  • References 114. Chung Nghĩa Minh Tử Vi Kinh Điển Tử Vi Tùy Bút Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh Cộng 4 Tập
  • References 115. Lý Bằng Tử Đẩu Tâm Kinh
  • References 116. Pháp Vân Cư Sĩ Giản Dịch Tử Vi Đẩu Sổ
  • References 117. Pháp Vân Cư Sĩ Tử Vi Diện Tương Học
  • References 118. Pháp Vân Cư Sĩ Tử Vi Thủ Tương Học
  • References 119. Vương Đình Chi Trung Châu Phái Tử Vi Đẩu Sổ Giảng Nghĩa Luyện Tập Đề Phụ Đáp Án
  • References 120. Tạ Thiên Thuyên Tử Vi Đẩu Sổ Khán Đổ Vận
  • References 121. Trần Vũ Tử Vi Đẩu Sổ Sơ Cấp Ban Tử Vi Đẩu Sổ Sư Tư Ban Giảng Nghĩa Bút Kí
  • References 122. Bạch Hạc Minh Tử Vi Đẩu Sổ Đoạn Sự 168 Cục
  • References 123. Trần Tuyết Đào Phu Thê Cung Bí Truyền Chân Quyết Tử Vi Luận Thuật Phu Thê Cung Kinh Điển Trứ Tác
  • References 124. Trần Tuyết Đào Tử Vi Minh Kính Ngoại Thiên
  • References 125. Trần Tuyết Đào Tử Vi Minh Kính (Cuốn Này Hơi Mắc)
  • References 126. Trần Tuyết Đào Tử Vi Xiển Vi Lục Chi Khóa Đường Giảng Kí
  • References 127. Trần Tuyết Đào Tử Vi Xiển Vi Lục – An Tinh Quyết Dữ Tinh Tình Bí Pháp
  • References 128. Trần Tuyết Đào Tử Vi Xiển Vi Lục — Khóa Đường Giảng Kí
  • References 129. Trần Tuyết Đào Tử Vi Giảng Nghĩa
  • References 130. Trần Tuyết Đào Tử Vi Khải Thị Lục
  • References 131. Vương Đình Chi Trung Châu Phái Tử Vi Đẩu Sổ Thượng Hạ Thiên
  • References 132. Vương Đình Chi Bình Chú Tử Vi Đẩu Sổ Giảng Nghĩa Nhất Nhị Sách (Cuốn Này Hơi Mắc)
  • References 133. Vương Đình Chi Vương Đình Chi Đàm Tinh Tử Vi Đẩu Sổ Tinh Diệu Tổng Đàm
  • References 134. Vương Đình Chi Đẩu Sổ Tuyên Vi – Đẩu Sác Tứ Hóa Đoạn Quyết
  • References 135. Vương Đình Chi An Tinh Pháp Cập Thôi Đoạn Thật Lệ
  • References 136. Vương Đình Chi Đẩu Sác Tứ Thư (Nhất) Thái Vi Phú Dữ Hình Tính Phú
  • References 137. Vương Đình Chi Đẩu Sác Tứ Thư (Nhị) Cốt Tủy Phú Dữ Nữ Mệnh Cốt Tủy Phú
  • References 138. Vương Đình Chi Đẩu Sác Tứ Thư (Tam) Bát Hỉ Lâu Sao Bổn Cổ Quyết Dữ Đẩu Sổ Cách Cục
  • References 139. Vương Đình Chi Đẩu Sác Tứ Thư (Tứ) Đẩu Sổ Linh Đàm
  • References 140. Vương Đình Chi Vương Đình Chi Đàm Đẩu Sổ
  • References 141. Vương Đình Chi Tử Vi Đẩu Sổ Chưởng Ác Mệnh Vận Thượng Hạ Sách
  • References 142. Vương Đình Chi Trung Châu Phái Tử Vi Đẩu Sổ Thâm Tạo Giảng Nghĩa Thượng Hạ Sách
  • References 143. Vương Đình Chi Thật Dụng Tử Vi Đẩu Sổ
  • References 144. Vương Đình Chi Tử Vi Thiên Cơ
  • References 146. Vương Đình Chi Trung Châu Phái Tử Vi Đẩu Sổ Sơ Cấp Giảng Nghĩa
  • References 147. Vương Đình Chi Trung Châu Phái Tử Vi Đẩu Sổ Sơ Cấp Giảng Nghĩa
  • References 148. Tử Vi Đẩu Sổ Toàn Thư Giảng Nghĩa Hà Trọng Tài,
  • References 149. Tử Vi Đẩu Sổ Tinh Thành Thượng Biên 150. Tử Vi Đẩu Sổ Tinh Thành Hạ Biên
  • References Đẩu Số Tuyên Vi (Trọn Bộ, 248 Trang), Vương Bổn San, Vũ Lăng (Woolin), Đài Bắc, 2002 (Tái Bản).
  • References Phan Tử Ngư, Tử Vi Đẩu Số Thiệt Lệ Phân Lệ
  • References Phan Tử Ngư, Tử Vi Đẩu Số Nghiên Cứu
  • References Phan Tử Ngư, Tử Vi Đẩu Số Ấn Chứng
  • References Phan Tử Ngư, Tử Vi Đẩu Số Khán Bệnh
  • References Phan Tử Ngư, Tử Vi Đẩu Số Khán Tứ Hóa 1, 2
  • References Phan Tử Ngư, Tử Vi Đẩu Số Tâm Đắc
  • References Phan Tử Ngư, Tử Vi Đẩu Số Tinh Áo
  • References Phan Tử Ngư, Tử Vi Đẩu Số Độn Hoàn Luận
  • References Phan Tử Ngư, Phan Tử Ngư Bốc Mệnh Thư
  • References Đẩu Số Đàn Vi (Trọn Bộ Hai Tập), 1928, 1935 Nhà Xuất Bản Vũ Lăng (Woolin, Đài Bắc) In Lại.
  • References Thiên Địa Nhân Tử Vi Đẩu Số Đại Lưu Niên Pháp Quyết Yếu
  • References Chính Huyền Sơn Nhân, Thiên Địa Nhân Tử Vi Đẩu Số Huyền Không Tứ Hóa Tật Nạn Tử Vong Tuyên Vi
  • References Chính Huyền Sơn Nhân, Thiên Địa Nhân Tử Vi Đẩu Số Huyền Không Tứ Hóa
  • References Chính Huyền Sơn Nhân, Thiên Địa Nhân Bàn Chân Cơ
  • References Chính Huyền Sơn Nhân, Thiên Địa Nhân Tử Vi Đẩu Số Huyền Không Tứ Hóa Tâm Linh Học Áo Bí Tuyên Vi
  • References Chính Huyền Sơn Nhân, Thiên Địa Nhân Tử Vi Đẩu Số Huyền Không Tứ Hóa Tiên Thiên Mệnh Cách Cuộc Tuyên Vi
  • References Chính Huyền Sơn Nhân, Thiên Địa Nhân Tử Vi Đẩu Số Huyền Không Tứ Hóa Bí Giải
  • References Chính Huyền Sơn Nhân, Thiên Địa Nhân Hôn Nhân, Luyến Ái Chuyên Luận
  • References Chính Huyền Sơn Nhân, Thiên Địa Nhân Linh Điện Sinh Hóa Tam Giới Nhân Quả Huyền Uẩn

Nguồn: WhiteBear


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Các môn phái Tử Vi

Những điều kiêng kỵ về dùng gương trong gia đình –

1. Kích cỡ gương và căn phòng phải có tỉ lệ hợp ý Gương treo trong nhà nên đủ để người soi nhìn thấy cả khuôn mặt. Nếu là gương hình dài đủ cho người soi nhìn thấy toàn thân là tốt nhất 2. Gương không được đặt ở trung đường (giữa nhà) Trung đường phò

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

1. Kích cỡ gương và căn phòng phải có tỉ lệ hợp ý

Gương treo trong nhà nên đủ để người soi nhìn thấy cả khuôn mặt. Nếu là gương hình dài đủ cho người soi nhìn thấy toàn thân là tốt nhất

10_4

2. Gương không được đặt ở trung đường (giữa nhà)

Trung đường phòng khách mà đặt gương sẽ làm tiêu hao tinh lực, tinh thần người trong nhà, bất lợi cho sửc khỏe cơ thể.

3. Gương không được đối cửa sổ

Nếu bên ngoài cửa sổ có người lạ thì như vậy là bất lợi cho người ta, nếu không có người mà chỉ có khoảng không thì bất lợi cho người trong nhà mình, hơn nữa trong nhà có ánh sáng chiếu vào làm cảm quan cảm thấy khó chịu.

4. Gương không nên chiếu đầu giường

Có người rất thích treo gương lớn trong phòng ngủ để có thể nhìn thấy tư thế kiểu diễn của mình, thực ra như vậy là không nên, bởi vì khi con người chìm vào giấc ngủ. khí trường là yêu nhất, lúc này gương sẽ làm cho năng lượng của cơ thể phản xạ ra ngoài, làm cho đau đầu, chóng mặt, hoa mắt. Có khi nửa đêm tỉnh dậy nhìn thấy hình ảnh người trong gương dễ làm cho giật minh kinh hãi.

5. Kiêng kỵ hai tấm gương chiếu vào nhau bởi vì như vậy sẽ làm cho khí trường bị đảo loạn, quay đi quay lại không ổn định.

6. Sau ghế sôpha kiêng kỵ treo gương

Sau ghế sôpha không được đặt gương, như vậy không lành.

7. Cửa chính kiêng kỵ gắn gương kính

Nếu không phải gặp trường hợp có đường xông thẳng vào chính giữa cửa thì cửa tốt nhất không được khảm gương.

8. Gương kiêng kỵ đối cửa

Trong những trường hợp bình thường, gương không thể chiếu thẳng vào bất cứ cửa nào, rất dễ bị khẩu thiệt (lời tiếng thị phi) và bệnh tật. Nếu đối với cửa chính sẽ làm cho tài khí của người trong nhà bị phản xạ ra ngoài.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những điều kiêng kỵ về dùng gương trong gia đình –
Click to listen highlighted text! Powered By DVMS co.,ltd