Mơ thấy bản thân lõa thễ: Lo sợ bị hiểu nhầm –
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
Abstract: Lấy Chủ mệnh an vào vị trí của sao chủ thân, gọi đó là sao treo.
Lúc trước có nghe nói về vụ treo sao này và được biết nó phát nguồn từ dòng Tử Vi Phúc Tông.
3 điểm quan trọng nhất của Tử Vi dòng Phúc Tông là: Trục, Vòng Tràng Sinh bay, và đỉnh cao nhất, thủ pháp tột đỉnh của Tử Vi Phúc Tông là Treo Sao”.
Vừa rồi qua người quen, được đệ tử “ruột” của Giáo Sư Trần Quốc Vượng xét cho lá số và sau đó có xem qua. Trong lúc xem thì có nói cung Tài đắc Song Lộc, trong khi Tài tại Ngọ mà Hóa Lộc tại Dần, Lộc Tồn tại Hợi nên hỏi lại thì được nói đó là do treo con sao Lộc Tồn nên Tài đắc được Song Lộc.
| Tỵ | Ngọ Tài Bạch
Văn xương |
Mùi | Thân |
| Thìn | Dậu | ||
| Mão | Tuất | ||
| Dần Hóa Lộc | Sửu | Tý | Hợi Lộc Tồn |
Chủ mệnh và chủ thân của người tuổi Tuất là Lộc Tồn và Văn Xương. Lấy Chủ mệnh an vào vị trí của sao chủ thân.
Không biết sao treo nó có tác dụng thế nào, ảnh hưởng ra sao, phối hợp vào luận số thế nào, và cái quan trọng nhất là cái nguyên tắc để chọn con sao nào để treo.
“Treo sao là trong toàn bộ lá số tìm ra được nhiều nhất là 3 sao chủ đạo đại diện cho mệnh số của đương sự.
Trong Lá Số có 3 sao quan trọng đại diện cho đương số:
1-Sao Chủ
2-sao huyệt của sao chủ thể, còn gọi là sao rung. Khi hạn chạm tới nó là xảy ra ngay một việc gì đó,
3-sao đắc thất của chủ thể, quyết định được hay mất của hạn đó”
Chỉ có bấy nhiêu “Treo, Rung, Bay” thì có gì đáng ngạc nhiên đâu.
Bạn chỉ cần lấy sao chủ mệnh và chủ thân rồi treo nó vào lá số của bạn thì thành “sao treo” liền chứ gì. Thí dụ như lá số Nhâm Tuất ở trên: Chủ mệnh và chủ thân của người tuổi Tuất là Lộc Tồn và Văn Xương —-> Vậy thì bạn lấy Lộc Tồn an vào sao Văn Xương cố định trong cung tài bạch của lá số này là thành “Sao Treo” liền chứ gì.
Xét thấy dùng sao Chủ Mệnh/Chủ Thân cũng phù hợp với trường hợp trên, nhưng nó không đơn giản vậy chứ???Theo đệ tử của cố GS Vượng nói rằng Lộc Tồn và Hóa Lộc đều CHIẾU vào cung an Thân. Hỏi “Lộc Tồn ở Hợi mà sao chiếu về cung an Thân tại Ngọ được”, thì được trả lời là nó nhị hợp vào Quan. Rồi hỏi tiếp “nếu vậy thì Mệnh, Thê cũng có Lộc Tồn rồi”, rồi thì mới đề cập về vụ sao treo và có giải thích sơ về nó nhưng người nghe tuy cũng có hiểu biết chút chút về Tử Vi mà không hiểu gì luôn và sau đó có nói là nó không chiếu lung tung kiểu vậy được.
Như vậy không biết có liên quan gì đến sau Chủ Mệnh, Chủ Thân không nữa. Nếu chỉ đơn giản dùng sao Chủ Mệnh và Chủ Thân thì đâu có gì lạ và cũng đâu có gì cao siêu, có khó khăn gì đâu mà việc định sao treo lại “phức tạp” và cần phải trải qua sự tích lũy lâu dài.
Cứ theo cách luận của sách Đẩu Số Đàn Vi* mà suy diễn thì mệnh chủ thân chủ cũng có thể coi là hai “sao treo”. Theo sách này mệnh chủ thân chủ đều dựa vào năm sinh, như sinh năm Tí thì Tham là mệnh chủ, Linh là thân chủ. Hễ một trong hai sao này hoặc Lộc Tồn ở vào vị trí Thiên Không (trước Thái Tuế) thì -bất luận mệnh ở đâu- đều hết sức nguy hiểm. Sách ấy có hẳn 4 câu thơ Hán Việt như sau:
Giá tiền nhất vị thị Thiên Không
Thân mệnh nguyên lai bất khả phùng
NHỊ CHỦ** Lộc Tồn nhược trị thử
Diêm Vương bất phạ nễ anh hùng.
*Soạn giả Quán Vân Chủ Nhân Trương Bổn San, hai tập. Tập 1 xuất bản 1928, tập 2 xuất bản 1935.
**Sách Đẩu Số Đàn Vi giải thích rõ ràng rằng “Nhị Chủ” là hai sao Mệnh Chủ và Thân Chủ.
Trong “Tử Vi Tinh Điển” của ông Vũ Tài Lục sưu khảo có nói về 4 câu thơ trên, nguyên văn như sau:
Sách Tử Vi Đẩu Số toàn thư có ghi một câu ở mục Thái Vi phú chú giải: “Không vong định yêu đắc dụng Thiên Không tối vi khẩn yếu” nghĩa là tác dụng không vong mạnh hơn hết là Thiên Không. Nhưng trong Bí kinh lại ghi mấy câu:
“Giá tiền nhất vị thị Thiên Không
Thân Mệnh nguyên thị bất khả phùng
Nhị chủ Lộc Tồn nhược phùng thủ
Diêm Vương bất phạ, hưu anh hùng”
Nghĩa là: Trước Thái Tuế một cung là Thiên Không. Thân với Mệnh không nên gặp nó. Tử Vi, Thiên Phủ hay Lộc Tồn mà gặp Thiên Không thì kể như đi vào đất chết.
câu “Nhị Chủ Lộc Tồn nhược phùng thủ (hoặc trị thử)” theo cách giải của ông Vũ Tài Lục thấy hợp lý hơn vì Tử Vi là chủ tinh của hệ Bắc Đẩu và Thiên Phủ là chủ tinh của hệ Nam Đẩu. Hơn nữa trong câu trên, “Nhị Chủ Lộc Tồn”, nó đi liền với nhau nên càng có ý nói “Tử Vi Thiên Phủ Lộc Tồn …” hơn là “Mệnh chủ Thân chủ Lộc Tồn …”
Sách vở có nói Phủ phùng Không thì không hay, Lộc Tồn là sao Lộc nên gặp Không cũng không tốt … nhưng tại sao Phủ và Lộc Tồn kỵ Không (Thiên Không)??? Không biết có phải vì câu “Không vong định yêu đắc dụng, Thiên Không tối vi khẩn yếu”??? Nếu vậy thì Thiên Không cũng là Không Vong???
Cần ghi rõ là quyển Đẩu Số Đàn Vi ra làm hai lần. Phần đầu năm 1928, phần 2 năm 1935. Là một trong những “bí kíp” cận đại nhưng khá cũ của làng tử vi thế giới.Bốn câu này được tin là bắt nguồn từ Đẩu Số Đàn Vi (trong có ghi chú rõ “nhị chủ” là Mệnh Chủ và Thân Chủ), rồi sau đó tam sao thất bản, tôi đã đọc qua 3 bản khác nhau. Những gì tôi trích là từ ngay Đẩu Số Đàn Vi, còn về quan điểm thì dĩ nhiên mỗi người một ý, cứ việc giữ lấy.
Chữ Hán ngày xưa viết không chấm, không phẩy (giờ thì đã cải cách, thêm chấm, phẩy rồi) nên “Nhị chủ Lộc Tồn” hoặc “Nhị chủ, Lộc Tồn” cái nào đúng chỉ có cách đoán mà thôi.
Còn Tử Vi ngộ Thiên Không tôi chưa thấy sách nào nói là tối kỵ cả. Vả nói thế thì mâu thuẫn với cách “Tử Vi cư Ngọ vô Hình, Kỵ; Giáp Đinh Kỷ vị chí công khanh”, bởi tuổi Đinh Tỵ, Kỷ Tỵ thì Tử Vi cư Ngọ sẽ gặp Thiên Không.
các câu Phú trong Tử Vi nó không có tính tuyệt đối, nếu hội càng nhiều thì càng rõ nét hơn. Ngược lại nếu bị vài cái xấu hội lại thì giảm đi. Cũng như câu phú bác đưa ra “Tử Vi cư Ngọ vô Hình Kỵ, Giáp Đinh Kỷ vị chí công khanh”. Nếu Tử Vi cư Ngọ thì …
– Giáp: đắc Khoa Lộc + Lộc Tồn (Tuớng Ấn ==>> Lưỡng Tướng) + Quyền cư Thân (Phúc)
– Đinh: Tử Vi Lộc Tồn đồng cung (Tướng Ấn ==>> Lưỡng Tướng)
– Kỷ: Tử Vi Lộc Tồn đồng cung (Tướng Ấn ==>> Lưỡng Tướng) + Lộc Quyền
Nếu vậy, theo câu Phú trên, dù Tử Vi có bị Tuần hay không (3 tuổi – Giáp Thân, Đinh Hợi, Kỷ Sửu thì Tử Vi bị Tuần), cũng vẫn “vị chí công khanh”. Cho nên dù Tử Vi hội Thiên Không có xấu hay không, nhưng đắc được mấy cách trên cũng rất đẹp rồi.
Theo nguyên tắc, 3 tuổi Giáp Thân, Đinh Hợi, Kỷ Sửu thì Tử Vi gặp Tuần nên phải luận giảm đi một phần. Còn Tử Vi gặp Thiên Không có giảm tốt hay không thì không rõ …
Cũng như được biết thì Tử Vi miếu vượng mà bị Tuần Triệt thì giảm uy lực, nhưng trong câu Phú thì không đề cập tới. Cũng một thể ấy, nên 2 tuổi Đinh Tỵ / Kỷ Tỵ – Tử Vi gặp Thiên Không có xấu không thì cũng có thể ngoài sự đề cập của câu Phú vì các câu Phú thì đơn giản, ngắn gọn nên có giới hạn của nó khi đề cập đến vấn đề. Cho nên PL không nghĩ rằng, (nếu phải) nó không có mâu thuẫn với câu Phú trên.
** Về cách trên thì thấy tuổi Giáp có phần tốt hơn tuổi Kỷ, Kỷ tốt hơn Đinh. chọn Giáp tốt hơn vì nam giới, nam giới mà tuổi Giáp thì là Dương Nam, vậy để đắc được vòng Thái Tuế (cũng có nghĩa là không bị Thiên Không) và thuận lý Âm Dương. Còn 2 tuổi Đinh Kỷ là tuổi Âm, vậy không đắc được vòng Thái Tuế, lại phạm Thiên Không.
Sao Treo, có nhiều quan niệm về sao Treo khác nhau, nhưng có thể nói nôm na là sao chủ quan một tiêu chí hay một việc xác định nào đó. Sao treo không phải là sao chủ, cũng không phải là sao nòng cột. Nhưng muốn xác định nó, cũng có nhiều phương pháp, một trong các phương pháp hay dùng từ xưa đến nay là dùng cảm ứng nhân định.
Quan niệm về sao treo, theo như tôi được biết thì phổ biến từ thời nhà Trần ở nước ta, nhưng xa hơn nữa, theo những gì Tôi được truyền lại thì ngay Hy Di Trần Đoàn khi giải đoán cũng đã dùng phương pháp sao Treo rồi, và những giải đoán của ông ta, ngày nay còn ghi lại, nhưng không nói ông đã dùng phwuơng pháp luận đoán cụ thể nào, mà chỉ phân tích sơ qua cách cục ứng, thì chính xác đến diệu kỳ, thậm chí chính xác và hiểu sự việc còn rõ hơn cả người trong cuộc.
Lần hồi, qua nghiên cứu, Tôi mới thấy rằng, việc tồn tại sao Treo, chỉ là hệ quả tất yếu – một trong những hệ quả tất yếu – của các quy tắc lập thành lá số và an sao trên địa bàn mà thôi. Thậm chí, đáng tiếc, trong hệ luận này, lại có thể bác lý luận về cái gọi là sao nòng cột.
Thực ra, lý luận về sao nòng cột cũng có thể thấy được sự bất cập của nó một cách trực tiếp, mà không cần đến hệ lý luận cấu trúc lá số. Thật vậy, theo đúng định nghĩa, sao nòng cột là sao có hành cùng với hành của bản mệnh. Chúng ta thấy rằng, Tử vi có 14 chính tinh, hành của chúng phân bố không đều nhau, thêm nữa, theo quan niệm coi Tử vi là đế toà, khi Tử vi ở ngôi miếu địa, không bị xung sát, nếu là nòng cột thì người mạng Thổ mới được hưởng, vậy thì rõ ràng mạng Thổ được ưu tiên tuyệt đối, đã thế lại còn hưởng thêm cả Thiên phủ. Do việc phân bố hành không đều, nên có hành như hành Hoả rất thiệt thòi. Điều này là phi thực tế, cũng là phi lý khi chúng ta biết rằng, trên căn bản nền tảng của Tử vi, không có sự ưu tiên cho bất cứ hành nào.
Thế nhưng, lý thuyết về nòng cột lại được thấy khá đúng trong luận đoán, và đặc biệt là trong vấn đề về sinh giờ Kim sà thì khá đúng đắn. Đây là một lý do thực tế, người ta cứ chấp nhận lý thuyết này mà dẫu có nghi ngờ cũng ít chịu khó đào bới, rồi dần cho nó thành phương pháp, để khi luận đoán là cứ dùng nó để tìm sao và cách cục ứng hợp với tiêu chí, đặc biệt là khi nghiệm lý. Chỉ đến khi, nếu chúng ta dùng thường lý phân tích để tìm cho ra bản chất của biến cố, sau đó mới nghiệm lý thì mới thấy bất cập.
Sao treo, nền tảng lý thuyết của nó bao trùm cả lý thuyết về sao nòng cột, nó có những bổ sung xác đáng, khắc phục được những bất cập của sao nòng cột gây ra. Nhưng tìm sao treo, lại không phải xuất phát từ sao nòng cột, mà phải xuất phát từ những nguyên tắc cấu trúc an sao và cấu trúc của địa bàn lá số.
Trong ví dụ của đại gia lâm nạn này, sao Treo là Phục binh. Thân cư Thê, sao Treo sẽ ngự trên hai cung, một là toạ Thân, hai là ở Thê. Sao Phục binh, vốn là Tiểu nhân. Phù Thịnh chứ không phù Suy, nên có tính a dua, khi mạnh thì theo, khi bại thì phản, nên nó rất nhạy cảm với Vận. Thê lại xung chiếu với Quan, nên Phục binh trực chiếu, là mối lo trong tim gan của sụ nghiệp.
Phục binh tại Thân, hội Đào Riêu cho thấy người này chẳng chung thuỷ chút nào, hay vụng trộm, nếu ở xã hội nam nữ không bình quyền, việc năm thê bảy thiếp là đương nhiên thì Phục Đào Riêu không đáng để bị lên án, nhưng cái khó là Mệnh chủ có Thất sát cương quá, thì khó chịu về sự ăn vụng của mình, nên chỉ muốn trêu ngươi với vợ, tuy là úp úp mở mở, nhưng chỉ là che đậy thiên hạ, chứ với vợ thì ông ta đâu có ngán. Nhưng Phục binh thì vẫn là Phục binh, bởi thế, mãi năm 1994 ông ta mới bỏ DNNN, và vẫn là ĐVCS, nên không thể bồ nhí hoành tráng được, tình trạng vẫn là vụng trộm, và cái vụng trộm mà lại ngông ngênh, nửa ăn vụng, nửa phô trương thì tránh sao khỏi tan vỡ hạnh phúc, và sao Treo này lại cho thấy tình trạng khó xử, tính vụng trộm của số đào hoa này.
Thê cung có Phục binh, lại dính thêm Cô Quả thì vợ đau khổ lắm, đêm trong đèn mắt mở trừng trừng “nhìn” ông chồng hú hý với cái “con mất dạy nào đó” mà đau khổ, thì còn thiết gì nữa, đau quá thì hoá thù, dù là ân nghĩa đi nữa. Thì cái tiểu nhân của Phục binh làm sao bỏ qua mà tha cho ông này, nó như bó rơm khô, chỉ cần mồi lửa nhỏ là bùng cháy dữ dội, vì thế, chỉ đợi khi nhập vận, có điều kiện là bùng cháy, – đó chính là ý nghĩa của sao Treo.
Thê cung người này có Quan Phúc, đã được ông trời mách bảo, đã dính Phục binh, thì ăn vụng là đương nhiên, nhưng phải biết chùi mép, phải thương lấy vợ, phải chịu nhún, nếu phải thiệt thòi thì cũng phải chấp nhận, không thì đến khi to chuyện, vỡ lở, vẫn phải chịu nhún, thua thiệt với vợ, chứ có thoát đâu. Nay thì ôi thôi!vẫn phải nhún với bà ta, mà sự nghiệp cơ đồ cũng vẫn bị thâp phần nguy nan – Phục trực chiếu Quan là vậy đó.
Trong Tử vi, người xưa đưa vào các hệ sao có tính chất cứu giải, nhưng muốn nắm được nó, phải hiểu tường tận lý của an sao và lý của cấu trúc lá số, rằng phải hiểu thế nào là Bản mệnh, tại sao người ta không ghi là Mệnh mà lại phải ghi là Hành của Bản mệnh, rồi Cục nữa, phải hiểu Cục chi phối về cái gì với Mệnh, hành của bản Mệnh chi phối lên chuyển vận của sao hay cách cục thông qua cái gì, phải “bắt” được sao treo, mới thấy hết được những cứu giải, cứu ra sao, cứu vào đâu của Mệnh. Rồi từ đó, mới thấy cái Đạo nó ngấm vào đời sống của chúng ta được chiếu trên Tử vi như thế nào?.
Đại vận và LN đại vận này, sao Treo của đại gia nọ chính là Liêm trinh, có thế mới dính đến luật pháp, công quyền, và cái đó mới là đáng sợ, chính Phục binh châm ngòi cho Liêm trinh phát nổ. Đáng tiếc, nó lại nằm ngay trong vận, nên cứu giải không thể trông chờ trực tiếp ở vận, mà phải trông vào cái lý hoàn Không ở Mệnh của ông ta. Biết được thì gỡ qua nạn này chẳng khó gì, chỉ ngại nạn sau mà thôi, qua đại vận này, ông ta mới giác ngộ, thật cũng là muộn mằn.
Sao treo chính là sao có thể thay đổi cục diện hoặc tương quan lực lượng trong một lá số tử vi, vì trong một lá số ở các cung bao giờ cũng có những thế lực đối kháng với nhau, mạnh thì được, yếu thua, giữa các thế lực này luôn có nhưng sao có thể làm thay đổi tương quan lực lượng, biến lá số thành bài toán mở, đó là sao treo. Cũng giống như đi tìm dụng thần trong tử bình.
Thế nào gọi là “ăn”? Chính yếu “ăn ” là được hưởng, thí dụ mệnh Mộc có Thái Âm cư Thê tức đuơng số ăn vào thê, được lợi về vợ. Nếu lại là người mạng Hỏa lại bị khổ sở vì Thái Âm hành Thủy. Một lá sô quen biết, mạng Hỏa cung Quan có Thái Duơng lu mờ bởi Tuần Triệt, bên kia có Thái Âm sáng chiếu qua làm anh ta khó chịu thêm thôi (tự ái đàn ông mà). Người ngoài cho rằng Âm sáng thì vợ giỏi khôn ngoan hiền thục: đúng vậy, nhưng xét về mặt “ăn” thì không vui chút nào, có vẽ hưởng bề ngoài nhưng bề trong khổ sở! Điều này được các tiền bối trong miền Nam phẩm bình trong các bài xa xưa!
Còn 1 nghĩa của chữ Ăn, đó là kiếm cho được một sao hay cách bộ nào đó làm nồng cốt cho mình lỡ khi trong tam hợp mệnh không có những sao cùng hành hay trợ sinh cho mệnh. Đó là lí thuyết định sao ăn vào, tức ứng vào mệnh. Dĩ nhiên các cụ VN biết thừa sao bản mệnh nằm trấn ngay cung mạng sẽ làm chủ nhân của người đó, không thể chối cãi được nhưng có làm lợi cho người đó hay không thì phải xét về ngũ hành. Người Hỏa gặp Cự Môn rất lao đao, khó lòng phú quí, có khi khổ sở! Đâu khác gì Mộc mạng cư Dần Mão trúng Thiên Hình, trước khi làm thẩm phán luật sư e rằng cũng bị tai bay vạ gió hỏi thăm mình rồi.
Vì vậy đừng ngạc nhiên khi thấy một số cụ ngày trước (trong đó có Thiên Lương) cho rằng khi tam hợp mệnh không có sao chánh cùng hành / trợ sinh với mệnh thì cho là VCD. Chúng ta phải hiểu rằng các cụ đó có ý phê lá số kém, không so được với tiêu chuẫn đề ra là kiếm cho được sao đồng hành! Dĩ nhiên kiếm được sao đồng hành nhưng lại là hãm và lại là sát tinh thì cụ cũng biết đó là sự oan nghiệt áp đặt cho đuơng số, là những gì độc hại vô bờ bến!
(Nguồn: Sưu tầm)
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
| ► Xem thêm: Những câu nói hay về tình yêu cảm động lòng người |
Thế nhưng, việc chuẩn bị có khi bắt đầu từ những ngày đầu tháng Chạp và phải hoàn tất trước buổi trưa ngày 30. Đây cũng là cách con cháu thể hiện sự tưởng nhớ, lòng biết ơn đối với ông bà, tổ tiên của mình.
Tùy vào điều kiện mỗi gia đình mà sắp xếp chuẩn bị mâm cỗ lớn cúng đón rước ông bà vào buổi trưa hoặc buổi chiều 30, và mâm cỗ vào ngày mồng 3 hoặc mồng 4 Tết để tiễn ông bà đi gọi là cúng đưa.
Do điều kiện địa lý, thói quen trong ăn uống, phong tục của từng miền. Nên mỗi miền có mâm cỗ Tết khác nhau. Ở miền Bắc gọi là mâm cỗ, miền Trung gọi là mâm cộ, miền Nam gọi là mâm cơm cúng ông bà.
1. Mâm cỗ miền Bắc:
Mâm cỗ Tết miền Bắc theo đúng bài bản, thường thì 4 bát, 4 dĩa. Cỗ lớn thì 6 bát, 6 dĩa hoặc 8 bát, 8 dĩa…có khi mâm cỗ lớn phải xếp cao đến 2, 3 tầng. Trước khi dâng cúng tổ tiên thì dùng giấy trang kim đậy các bát, đĩa thức ăn lại cho vệ sinh, tinh khiết và đẹp mắt.Bốn bát, bốn dĩa gồm: bát giò heo hầm măng lưỡi lợn, bát bóng thả, bát miến, bát mọc. Bốn dĩa gồm: dĩa thịt gà, dĩa thịt heo, dĩa giò lụa, dĩa chả quế.
Rồi có thể thêm những dĩa như: dĩa thịt đông, dĩa giò thủ, dĩa xào hạnh nhân, dĩa lạp xưởng khô, dĩa trứng muối, dĩa cá kho riềng, dĩa nộm sứa hoặc nộm rau quả….
Bánh Tết ở miền Bắc phổ biến nhất là bánh chưng ăn kèm dưa hành.
Món tráng miệng đặc trưng thì có mứt sen, mứt quất, mứt gừng, hồng khô, ô mai mơ gừng….Đặc biệt món chè kho có tính giải độc và giả rượu.
Mâm cơm cúng ông bà ngày 30 Tết ở miền Nam, luôn luôn có thịt heo kho nước dừa với trứng hoặc cá lóc kèm dưa giá, canh khổ qua nhồi thịt (khổ qua là mướp đắng, nhưng người Nam bộ muốn chơi chữ đồng âm theo nghĩa Tiếng Việt).
Theo dân gian thì khổ qua là món ăn mong muốn sự khổ cực trong năm cũ qua đi, để tiếp đón điều tốt đẹp trong năm mới.
Các món nguội như gỏi ngó sen, tai heo ngâm dấm, tôm khô-củ kiệu, giò heo nhồi, lạp xưởng tươi,phá lấu,nem, chả.
Món tráng miệng: có các loại mứt trái cây như: mứt dừa, mứt me, mứt khoai, mứt ổi, mứt mảng cầu, mứt củ năng,bánh ít ngọt, kẹo thèo lèo và kẹo chuối,…
Ngoài ra còn có món tráng miệng rất đặc sắc là cơm rượu.
Mâm cộ Tết miền Trung thì có các món nước như: gà tiềm hạt sen, canh hoa Kim Châm với tôm thịt, giò heo hầm. Các món mặn như: tôm rim, thịt kho tàu, cuốn ram, thịt heo, gà rán, thịt phay, nem, chả, tré,thịt ngâm nước mắm…Rồi có thêm các món đồ mộc như: măng khô xào thịt, mít trộn, giá xào nham…
Món tráng miệng rất phong phú, có mứt cam quật, mứt sen, mứt gừng như miền Bắc,có mứt me, mứt dừa…như miền Nam. Ngoài ra có thêm mứt củ bình tinh, mứt củ khoai mài, mứt củ sen, mứt chanh, mứt khế. Bánh thì có bánh sen tán, bánh măng, bánh mận, bánh bó mứt, bánh thuẩn, bánh phục linh, bánh nổ, bánh tổ….
3. Mâm cỗ miền Trung:
Mâm cỗ miền Trung trong dân gian thì có cả bánh chưng và bánh tét. Nhưng mâm cỗ tiến cúng ở miếu điện trong cung đình thì chỉ dâng cúng bánh chưng chứ bánh tét thì không dùng làm vật phẩm để dâng cúng tổ tiên.Khác với mâm sinh soạn để cúng tế trời đất, thần thánh, vua chúa...Như vào những dịp nhà vua tế Trời ở đàn Nam Giao hoặc tế các vị Tiên đế ở Thế miếu…Vật phẩm là bộ tam sinh (trâu, heo,dê) để nguyên con chưa qua chế biến, lễ vật này còn gọi là cỗ thái lao. Hoặc ngoài dân gian khi cúng Đất thì bộ tam sinh là miếng thịt heo, con cua, cái trứng chỉ luộc chín chứ không chế biến.
Còn mâm cơm để cúng ông bà trong 3 ngày Tết là mâm cỗ có nhiều món ăn được chế biến, gồm đủ các thành phần : Thượng cầm: các loại gia cầm biết bay như chim, gà, vịt,…Hạ thú: các gia súc trên mặt đất như: heo, bò, gà..Rồi các loài thủy tộc dưới nước như: tôm, cua, cá… trong dân gian mâm cơm như vậy được gọi là hào soạn
Trong cung đình mâm cỗ để tiến cúng ở miếu điện gọi là ngọc soạn, gồm các món ăn được chế biến từ các thành phần sơn hào hải vị quý hiếm trong cả nước, được chế biến công phu và trình bày kiểu cách tỉ mỉ.
Các món ăn như là: chim sâm cầm nhồi yến, hải sâm nấu độn, vi cá nấu rối, món nấu bong bóng cá đường, món nấu cửu khổng, gân nai, nem công, chả phượng,…
Món tráng miệng có các loại mứt như mứt nhân sâm, mứt bát bửu làm từ các loại mứt quý và thịt heo quay.Mứt cam sành còn nguyên trái, mứt các loại củ quả như bí đao, đu đủ, gừng,…gọt tỉa thành hình bát bửu hoặc các con vật trong tứ linh như long, lân, qui, phụng…rim khô.
Bánh ngọt thường là loại bánh khô, làm từ bột ngũ cốc đóng trong khuôn chữ nhật có in hình hoa mai, hoa đào, hoặc chữ phước, lộc , thọ…gói trong giấy ngũ sắc-như mang lời chúc tốt lành đầu năm.
Ngoài ra có loại bánh bắt hình các nhánh lộc, hoa mai, hoa đào, các loại trái cây như trái phật thủ, trái lựu, trái đào, nhân sâm…đem sấy khô được xếp thành hình tháp trên quả bồng sơn son thếp vàng, hoặc bằng sứ men lam để dâng cúng tổ tiên.
Bên cạnh những mâm hào soạn ở ngoài dân gian và ngọc soạn trong chốn cung đình, thì ở miền Trung vào những ngày đầu năm những gia đình theo Phật giáo có mâm cơm chay ngày mồng một gọi là mâm trai soạn để cúng tổ tiên.
Mâm cỗ miền Trung trong dân gian thì có cả bánh chưng và bánh tét. Nhưng mâm cỗ tiến cúng ở miếu điện trong cung đình thì chỉ dâng cúng bánh chưng chứ bánh tét thì không dùng làm vật phẩm để dâng cúng tổ tiên.
Khác với mâm sinh soạn để cúng tế trời đất, thần thánh, vua chúa...Như vào những dịp nhà vua tế Trời ở đàn Nam Giao hoặc tế các vị Tiên đế ở Thế miếu…Vật phẩm là bộ tam sinh (trâu, heo,dê) để nguyên con chưa qua chế biến, lễ vật này còn gọi là cỗ thái lao. Hoặc ngoài dân gian khi cúng Đất thì bộ tam sinh là miếng thịt heo, con cua, cái trứng chỉ luộc chín chứ không chế biến.
Còn mâm cơm để cúng ông bà trong 3 ngày Tết là mâm cỗ có nhiều món ăn được chế biến, gồm đủ các thành phần : Thượng cầm: các loại gia cầm biết bay như chim, gà, vịt,…Hạ thú: các gia súc trên mặt đất như: heo, bò, gà..Rồi các loài thủy tộc dưới nước như: tôm, cua, cá… trong dân gian mâm cơm như vậy được gọi là hào soạn
Trong cung đình mâm cỗ để tiến cúng ở miếu điện gọi là ngọc soạn, gồm các món ăn được chế biến từ các thành phần sơn hào hải vị quý hiếm trong cả nước, được chế biến công phu và trình bày kiểu cách tỉ mỉ.
Các món ăn như là: chim sâm cầm nhồi yến, hải sâm nấu độn, vi cá nấu rối, món nấu bong bóng cá đường, món nấu cửu khổng, gân nai, nem công, chả phượng,…
Món tráng miệng có các loại mứt như mứt nhân sâm, mứt bát bửu làm từ các loại mứt quý và thịt heo quay.Mứt cam sành còn nguyên trái, mứt các loại củ quả như bí đao, đu đủ, gừng,…gọt tỉa thành hình bát bửu hoặc các con vật trong tứ linh như long, lân, qui, phụng…rim khô.
Bánh ngọt thường là loại bánh khô, làm từ bột ngũ cốc đóng trong khuôn chữ nhật có in hình hoa mai, hoa đào, hoặc chữ phước, lộc , thọ…gói trong giấy ngũ sắc-như mang lời chúc tốt lành đầu năm.
Ngoài ra có loại bánh bắt hình các nhánh lộc, hoa mai, hoa đào, các loại trái cây như trái phật thủ, trái lựu, trái đào, nhân sâm…đem sấy khô được xếp thành hình tháp trên quả bồng sơn son thếp vàng, hoặc bằng sứ men lam để dâng cúng tổ tiên.
Bên cạnh những mâm hào soạn ở ngoài dân gian và ngọc soạn trong chốn cung đình, thì ở miền Trung vào những ngày đầu năm những gia đình theo Phật giáo có mâm cơm chay ngày mồng một gọi là mâm trai soạn để cúng tổ tiên.
![]() |
Phật chỉ ra hai đại bi kịch của con người| ► Cùng đọc những câu nói hay về cuộc sống, những câu nói hay về tình bạn và suy ngẫm |
| ► Lịch ngày tốt gửi tới độc giả công cụ tra cứu: Tử vi trọn đời theo ngày tháng năm sinh |
![]() |
Đã là công chức nhà nước hay đang kinh doanh trên thương trường, chắc bạn không thể tránh khỏi nạn “tiểu nhân” trong công việc. Làm sao có thể vừa thoát khỏi kẻ ám hại mình một cách ngoạn mục, vừa giúp mình thăng tiến, chiêu tài trong công việc?
1. Rồng: thăng quan tiến chức, thoát nạn tiểu nhân
Rồng là con vật linh thiêng theo truyền thuyết từ xa xưa của người Phương Đông (1 trong tứ linh: Long, Lân, Quy, Phượng), được coi là con thú tốt lành, mình rồng dài, trên thân có nhiều vẩy, trên đầu có sừng như sừng hươu, chân có móng vuốt, rồng có nhiều tài như bay trên trời, bơi dưới nước…
Rồng có tác dụng trừ khử tiểu nhân, đặt biệt là rồng có màu xanh
Nếu đặt rồng xanh ở hướng rồng của ngôi nhà thì những kẻ tiểu nhân không dám gây sự quấy nhiễu, hoặc khi hướng bạch hổ của ngôi nhà khí vận phong thủy quá xấu, thì nên bày rồng xanh ở hướng rồng, để hóa giải tai ách do bạch hổ gây ra.
Là con vật đứng đầu trong các loài thú lành, nên ngoài việc hóa sát nó còn tăng cường phát huy quyền lực, người có chức vụ cao dùng nó có hiệu quả càng lớn. Ngoài ra rất phù hợp cho người làm việc hành chính , hoặc hoạt động chính trị , giúp chống lại những lời dèm pha và tăng cường quyền uy. Có thể đặt Rồng Xanh bằng ngọc (tốt nhất), bằng đá, bột đá…ở góc trái bàn viết tượng trưng cho Tả Thanh Long. Và để loại bỏ hết những khó khăn, trở ngại do bọn tiểu nhân gây ra thì rồng xanh còn có thể bày ở bên trái nhà ở, như vậy hiệu quả sẽ càng tốt hơn.
Sách có câu: “Tiểu nhân hưng ba trở trệ đa, thanh long nhất điều khứ kỳ ác” nghĩa là nếu bị kẻ tiểu nhân tác oai tác quái gây khó khăn ách tắt, thì hãy dùng một con rồng xanh trừ khử hết mọi điều xấu do nó gây ra.
Vì thanh long được coi là một loại thú lành, người ta đồn rằng nếu như người đàn bà nào trước khi sinh nở mà nằm mơ thấy rồng, thì đứa bé trai được sinh ra chắc chắn sẽ hơn người.
Tuy nhiên muốn chưng rồng xanh để tránh tiểu nhân thì phải chưng vào dịp ngũ long nhật, cụ thể là các ngày “giáp thìn”, “bính thìn”, “mậu thìn”, “canh thìn” và “nhâm thìn” thì hiệu quả mới nổi bật.
Khi chưng bày không nên đặt hướng đầu Rồng về phòng ngủ , nhất là phòng ngủ trẻ em.
Rồng là biểu tượng của Hoàng đế, của người quân tử. Rồng có khả năng dùng hơi thở thổi ra nguyên khí trời đất, nguyên khí này chính là nền tảng của học thuật Phong Thuỷ.
Hình dạng của núi sông, thung lũng, các khối nhà, đường xá đều có liên quan đến các bộ phận của Rồng như đầu, mình, thân, đuôi, móng vuốt và viên ngọc rồng từ đó ảnh hưởng đến vị trí Phong Thuỷ.
Rồng có sức mạnh tạo ra tiết khí, mưa giông, ánh sáng từ mặt trời, gió biển và đất đai. Rồng biểu trưng cho năng luợng của đất trời, là vật siêu phàm của Phong Thuỷ.
Rồng bằng ngọc, đá quý mang nguyên khí Thổ, trong vận 8 là cát khí đem lại sự may mắn về công danh, tài lộc. Bày ở các hướng Tây Nam hoặc Đông Bắc trong phòng khách hoặc phòng làm việc,ở cửa hàng kinh doanh buôn bán.
2. Sư tử đá – Uy nghiêm và quyền lực
Trên bàn làm việc đặt một đôi Sư Tử nhỏ, nhất đinh cần nhớ là “Tả Công Hữu Mẫu – Trái Cha Phải Mẹ” tức là luôn đặt con đực ở bên trái của con cái, bởi vì Sư Tử Cha là Dương, Sư Tử mẹ là Âm đặt như vậy mới đúng với câu “Dương theo bên trái vòng vòng chuyển; Phải theo đường phải chuyển tương thông”. Mặt Sư Tử hướng thẳng với hướng mặt mình ngồi.
Nhưng lưu ý nếu ở kiểu bàn làm việc phổ biến hiện nay có chia từng ngăn ô thì lại đặt xoay về hướng đối diện với mặt mình. Tức cặp Sư Tử sẽ nhìn hướng về phía sau lưng mình ngồi. Có một điểm nhỏ nhưng quan trọng là cần chọn loại có nét mặt vui vẻ, dễ thương, tránh chọn loại mà mắt lộ hung quang, mặt đầy hung khí. Nên được Khai Quang thì tốt.

Vương trượng (Gậy như ý) là những vật hình cong đầu rất lớn. Ý nghĩa của biểu tượng là cầu mong đạt được mọi ước nguyện, việc gì cũng tốt đẹp, vừa ý. Trong tâm linh Phúc – Lộc – Thọ, thì Ông Lộc trong tay cũng cầm Vương Trượng. Đa phần, Vương Trượng được chế tác bằng ngọc nhưng cũng có thể làm bằng chất liệu khác như vàng, bạc đồng, sứ…
Vương trượng là vật đại diện cho quyền lực mà ngày xưa các vị quan lại vua chúa luôn sở hữu. Nó là vật khí rất quan trọng trong Phong Thủy chuyên dùng để củng cố địa vị và quyền lực, chống lại kẻ tiểu nhân; tăng thêm công danh, uy quyền, sự tôn nghiêm cho người sở hữu.
Vương trượngđược mạ vàng, kèm thêm những viên ngọc nên cát khí của nó rất lớn, không những hoá giải được hung khí của sao Ngũ Hoàng, Nhị Hắc vốn gây tai họa mà còn đem lại uy quyền và công danh tài lộc.
Vương trượng rất thích hợp dùng cho người mệnh cao, giữ trọng trách lớn. Đặt trên bàn làm việc, trong phòng khách, văn phòng.
4. Tiền hoa mai

Đồng tiền hoa mai còn gọi là Mai hoa kim tiền là đồng tiền bằng đồng hình hoa mai năm cánh. Một mặt chạm ngũ tự gồm : THỌ (sống lâu), MỆNH (số mạng), THỦ (đứng đầu), PHÚ (giàu có)và QUÝ (thăng tiến) trên mỗi cánh hoa. Mặt còn lại chạm hình ĐÀO TIÊN (trường thọ), CHIM KHÁCH (cát tường), THỎI VÀNG (của cải), DƠI (phúc) và TUẦN LỘC (lộc).
Mai hoa kim tiền có công dụng giải trừ tiểu nhân tránh thị phi, hỗ trợ quan vận kích vượng phú quý và may mắn tài lộc.
Thường đặt đồng tiền hoa mai trong ngăn bàn làm việc, để trong ví, trong ngăn kéo tài liệu, sau lưng ghế tựa của mình hoặc treo trên bức tường phía sau lưng mình đều với mong muốn đạt thành những ý nguyện trên.

Thời xa xưa, những gia đình giàu có thường táng theo người chết một viên ngọc bích chạm khắc hình con ve sầu, đặt trên nắp áo quan, mong cho người đã khuất có được một cuộc sống tốt đẹp ở thế giới khác.
Đối với người đang sống, ve sầu được xem là một biểu tượng của cuộc sống lâu dài, hạnh phúc và tuổi trẻ bất diệt.
Căn nguyên của biểu tượng này được bắt nguồn từ truyền thuyết xưa kia. Tương truyền rằng: Có một nữ hoàng làm rất nhiều việc tốt cho dân, khi qua đời đã đầu thai thành con ve sầu. Khi đã trở thành ve sầu, bà không bao giờ già vì luôn lột xác sau mỗi mùa hè. Vì thế, loài ve sầu đã trở thành một biểu tượng cho sự trẻ trung của con người.
Bên cạnh ý nghĩa đó, loài ve sầu còn được coi như một một lá bùa hộ mệnh. Khi đeo trên mình một vật có dáng ve sầu, bạn sẽ được bảo vệ khỏi những nguy hiểm, tiểu nhân và kẻ thù.
Một miếng ngọc bích hình con ve sầu có tác dụng bảo vệ tốt. Những nhân viên trong công ty muốn tìm kiếm sự bảo vệ trước một đồng nghiệp không đáng tin cậy hay người quản lý có mưu đồ xấu có thể tìm một miếng ngọc bích hình con ve sầu như mặt dây chuyền để đeo.
Còn về hướng của két sắt, tốt nhất nên quay về hướng tốt so với tuổi của chủ nhân. Xét theo chiều sâu, thì nên để cửa két mở về hướng Sinh Khí theo tuổi của chủ nhà là tốt nhất.
Phong thủy học cho rằng, một người có 4 hướng tốt và 4 hướng xấu, tùy theo tuổi mà chia ra các hướng tốt khác nhau như Sinh Khí, Diên Niên (Phước Đức), Thiên Y, Phục Vị. Để tìm được hướng Sinh khí, gia chủ hãy lấy cung phi của mình phối với 8 Quái của 8 hướng. Các cặp Quái dưới đây phối với nhau xuôi ngược đều được Sinh khí: đó là Khảm – Tốn ; Ly – Chấn ; Cấn – Khôn ; Càn – Đoài.
Trường hợp không tìm được hướng Sinh Khí của mình, gia chủ có thể mời các thầy phong thủy nào có dụng cụ đo sóng từ trường để đo và quyết định nơi nào có năng lượng mạnh nhất và hạp hướng nhất. Để đặt phương vị đó cho hoàn chỉnh hơn.
Còn nếu không thể chọn được vị trí để quay được két sắt về hướng tốt thì nên ưu tiên quay ra cửa phòng, chú ý không trực tiếp đối diện với cửa phòng. Đồng thời, trước mặt két cần phải rộng rãi, sáng sủa không bị cản trở bởi đồ đạc trong phòng.
Có thể đặt két sắt trong phòng ngủ được, nhưng vẫn nên chọn vị trí và hướng theo nguyên tắc như trên. Ngoài ra, chủ nhà cũng có thể đặt thêm 1 con Tỳ Hưu hoặc Thiềm Thừ và 2 đồng tiền hoa mai trên vào trong két để thu hút thêm tài lộc.
(Theo Gia Đình Việt Nam)
Nếu em bé sinh năm Rồng, trước hết các bậc cha mẹ cần tìm hiểu đặc tính của Rồng thì mới có thể hiểu được những điều tốt xấu trong tên họ.
Rồng thích tinh hoa của nhật nguyệt, có thể bay lên trời, lượn trong chín tầng mây nên khoác áo màu, đội mũ là đẹp, lại có thể xưng vương nên nắm quyền bính càng hay, gặp nước vẫy vùng thì quá tuyệt. Rồng mà gặp Chuột, Khỉ thành tam hợp. Vì vậy, cái tên muốn đặt mà phù hợp với các điều kiện sau là tốt nhất:
1. Nên lựa chọn những chữ Hán có bộ Thủy (氵, 水), vì Rồng thích sống nơi sông nước, gặp nước là có thể vẫy vùng muốn gì được nấy, suốt đời có thể phát huy sở trường, đã làm là thành công.
2. Nên lựa chọn các bộ hoặc chữ như Vương (王), Đại (大), Quân (君), Chúa (主), Đế (帝), Nhất (一), Lệnh (令), Trưởng (長), Thượng (上), Thủ (首), Thiên (天). Vì Rồng trong quan niệm truyền thống phương Đông có địa vị cao nhất, được xưng là Long Vương, có thể phát hiệu lệnh, cho nên không được đặt chữ ngầm chỉ ý “nhỏ bé”, như thế mới có thể trở thành quý nhân của người khác, được người ta tôn sùng.
3. Nên đặt tên có các bộ hoặc chữ như Thân (申), Viên (爰), Viên (袁), Tí (子), Mã (馬), Ngọ (午), Phượng (鳳), bởi vì Thân-Tí-Thìn tam hợp, tạo thành bộ ba Rồng-Chuột-Khỉ. Còn Rồng và Ngựa đi với nhau lại tạo ra “Long Mã tinh thần” chỉ ý chí, sức khỏe thịnh vượng. Rồng đi với Phượng thì thành “Rồng bay Phượng múa”, như thế sẽ tích cực cố gắng khai sáng tiền đồ.
4. Nên đặt tên có các bộ chữ nằm trên đầu như Trảo (爫), Đầu (亠), vì Rồng thích đứng đầu, có thể thi triển oai phong, dễ trở thành người lãnh đạo.
5. Trong tên cũng nên có các bộ chữ Nhật (日), Nguyệt (月) vì Rồng cũng rất yêu thích nhật, nguyệt trên bầu trời cao rộng, như thế có thể tăng cường thế giới nội tâm, cảm giác chắc đầy và tinh hoa của người cầm tinh con Rồng, ngầm chỉ ý vô cùng tài hoa trong cuộc đời của mình.
6. Cũng nên lựa chọn các chữ hoặc bộ chữ như Tinh (星), Vân (雲), Thần (辰), vì Rồng thích bay lượn trên trời, bản thân hợp với Nhật, Nguyệt, Tinh, Thần là năm, chỉ ý được quý nhân phù trợ.

Bên cạnh đó, cũng cần chú ý đến những yếu tố mà Rồng không thích để tránh khi đặt tên. Người cầm tinh con Rồng không nên đặt tên có bộ Nhân (亻,人) vì giống như Rồng bị đày xuống nhân gian. Trong truyền thuyết cổ đại, Rồng không ăn thịt, cũng không ăn ngũ cốc, lại càng không muốn nhìn thấy Hổ, Mèo, Trâu (bò), Dê, Chó hoặc những động vật chân chạy. Những chữ có liên quan đến vũ khí cũng không được. Chữ có liên quan đến động, huyệt chỉ mang cảm giác khốn khó. Chữ có liên quan đến cây cỏ, rừng rú càng không được. Chỉ cần trong tên có một trong các bộ chữ hoặc chữ dưới đây thì tên sẽ bị phá cách, mang điềm không tốt lành.
1. Người cầm tinh con Rồng tránh các bộ chữ Dẫn (廴), Cung (弓), Xuyên (川), Kỷ (几), Tị (巳), Ấp (邑), Trùng (虫), vì như thế sẽ có cảm giác Rồng bị hạ cấp xuống làm Rắn, từ to biến thành nhỏ, địa vị thấp kém thì không xứng tầm, đem lại cảm giác nhỏ bé, yếu ớt, không có trợ giúp.
2. Cần tránh các bộ chữ Miên (宀), Hộ (戶), Môn (門) vì Rồng không thích hang động, có cảm giác bị gò bó, tù túng, tài năng không thể phát huy.
3. Cần tránh các chữ như Thảo (艸), Bình (平), Sách (冊) vì Rồng không thích rơi xuống đám cỏ bụi, có ý bị mắc nạn, tài năng không được phát huy.
4. Cần tránh các chữ như Điền (田), Phủ (甫) vì Rồng không thích xuống ruộng, có ý bị khốn cùng (thiếu nước), dễ bị người ta hãm hại. Hơn nữa, cổ nhân cũng có câu “hổ lạc đồng bằng bị chó đuổi, rồng rơi xuống ruộng bị tôm trêu”.
5. Cần tránh các chữ hoặc bộ chữ như Tuất (戌), Thành (成), Khuyển (犬, 犭), Quốc (國), vì Thìn Tuất tương xung. Phạm phải chính xung như vậy trong tên họ rất dễ tranh chấp với người khác, trong đời gặp toàn phải những người mà mình không ưa.
6. Cần tránh những chữ hoặc bộ chữ như Sơn (山), Khâu (丘), Hổ (虍), Cấn (艮), Dần (寅), dễ phạm phải tình huống “Long tranh Hổ đấu”, trong cuộc đời dễ hay phải đấu đá với người khác.
7. Cần tránh các chữ có bộ Vi (囗), vì sẽ có ý khốn khó, gò bó cả về sự nghiệp, tình cảm.
8. Cần tránh các chữ như Mão (卯), Thố (兔) vì địa chi Mão-Thìn tương hại, suốt đời hay bị tiểu nhân quấy nhiễu.
9. Cần tránh các chữ hoặc bộ chữ như Tâm (心, 忄), Nhục (月, 肉), vì Rồng không ăn uống những đồ trong nhân gian, đồ thịt hôi tanh lại càng nguy hại.
10. Cần tránh các chữ như Thần (臣), Sĩ (士), Tướng (相), Nhân (人), Tiểu (小), Thiếu (少), Công (工), Tốt (卒) vì Rồng là bậc tôn quý, không thể bị hạ xuống làm bộ hạ, tiểu tốt, con người. Từ cao xuống thấp, tôn hạ thành ti, khí thế giảm sút, ý chí mài mòn.
Cần lưu ý thêm là, các chữ và bộ chữ trên đây chỉ có ý nghĩa tham khảo nhất định. Để chọn được tên hay, tên đẹp còn cần phải xem xét nhiều yếu tố khác nữa như âm dương, ngũ hành, âm vận…chứ không đơn giản chỉ vận dụng yếu tố con giáp vào đặt tên, đổi tên.
| Nếu em bé sinh năm Rồng, trước hết các bậc cha mẹ cần tìm hiểu đặc tính của Rồng thì mới có thể hiểu được những điều tốt xấu trong tên họ. | |
| Rồng thích tinh hoa của nhật nguyệt, có thể bay lên trời, lượn trong chín tầng mây nên khoác áo màu, đội mũ là đẹp, lại có thể xưng vương nên nắm quyền bính càng hay, gặp nước vẫy vùng thì quá tuyệt. Rồng mà gặp Chuột, Khỉ thành tam hợp. Vì vậy, cái tên muốn đặt mà phù hợp với các điều kiện sau là tốt nhất: 1. Nên lựa chọn những chữ Hán có bộ Thủy (氵, 水), vì Rồng thích sống nơi sông nước, gặp nước là có thể vẫy vùng muốn gì được nấy, suốt đời có thể phát huy sở trường, đã làm là thành công. 2. Nên lựa chọn các bộ hoặc chữ như Vương (王), Đại (大), Quân (君), Chúa (主), Đế (帝), Nhất (一), Lệnh (令), Trưởng (長), Thượng (上), Thủ (首), Thiên (天). Vì Rồng trong quan niệm truyền thống phương Đông có địa vị cao nhất, được xưng là Long Vương, có thể phát hiệu lệnh, cho nên không được đặt chữ ngầm chỉ ý “nhỏ bé”, như thế mới có thể trở thành quý nhân của người khác, được người ta tôn sùng. 3. Nên đặt tên có các bộ hoặc chữ như Thân (申), Viên (爰), Viên (袁), Tí (子), Mã (馬), Ngọ (午), Phượng (鳳), bởi vì Thân-Tí-Thìn tam hợp, tạo thành bộ ba Rồng-Chuột-Khỉ. Còn Rồng và Ngựa đi với nhau lại tạo ra “Long Mã tinh thần” chỉ ý chí, sức khỏe thịnh vượng. Rồng đi với Phượng thì thành “Rồng bay Phượng múa”, như thế sẽ tích cực cố gắng khai sáng tiền đồ. 4. Nên đặt tên có các bộ chữ nằm trên đầu như Trảo (爫), Đầu (亠), vì Rồng thích đứng đầu, có thể thi triển oai phong, dễ trở thành người lãnh đạo. 5. Trong tên cũng nên có các bộ chữ Nhật (日), Nguyệt (月) vì Rồng cũng rất yêu thích nhật, nguyệt trên bầu trời cao rộng, như thế có thể tăng cường thế giới nội tâm, cảm giác chắc đầy và tinh hoa của người cầm tinh con Rồng, ngầm chỉ ý vô cùng tài hoa trong cuộc đời của mình. 6. Cũng nên lựa chọn các chữ hoặc bộ chữ như Tinh (星), Vân (雲), Thần (辰), vì Rồng thích bay lượn trên trời, bản thân hợp với Nhật, Nguyệt, Tinh, Thần là năm, chỉ ý được quý nhân phù trợ. |
Bài của Nghi Nghi - Trần Nhật Tường
Bài sau đây có những ý tưởng lạ khác với những cách giải đoán cũ, kính xin quý vị cao thủ thấy không thể tán đồng, cho chúng tôi ý kiến… Những người trẻ đi tìm Tử vi ngày nay khá đông, nghĩ sao là cứ nêu ra – nhưng còn vấn đề kinh nghiệm nữa.
Trước khi trình bầy lá số của Thạch Sùng tôi xin giải thích một câu phú ghi trong tập Tử vi đẩu số toàn thư của đức Hi Di Trần Đoàn sau đây thì mới thấy cái hay, cái lạ và cái vô cùng lý thú của Tử vi được:
“Cự môn Tý Ngọ: Khoa Quyền Lộc, Thạch trung ẩn ngọc, Phúc hưng long”
Nghĩa chính của câu phú thế này “Mệnh ở Tý Ngọ có Cự Môn tọa thủ gia thêm Khoa Quyền Lộc nữa là cách:
“Thạch trung ẩn ngọc” (Ngọc ẩn trong đá) sẽ được hưởng phúc lớn”.
Đó là ý chính còn muốn hiểu cho rõ ngọn nguồn và cho chính xác câu phú trên, ta phải tự hỏi: Cự môn là một sao thuộc hành Thủy, đóng tại cung Tý là Thủy địa hay vào cung Ngọ là Hỏa hướng, tại sao lại được coi như “Ngọc ẩn trong dá? Ngọc ở đâu và đá ở đâu? Trong khi chỉ thấy có Thủy, Hỏa. Nước với lửa không lẽ thành ngọc, thành đá được!
Để trả lời cho thỏa đáng câu hỏi này, tôi phải ghi lên đây một vài nhận xét mà trong dân gian thường dùng làm biểu tượng hay để ví von… Như câu:
“Song long tranh châu” chẳng hạn, thức là nói đến hình vẽ hai con rồng tranh ông mặt trời hoặc “Ngọc thổ thanh kỳ” là con thỏ ngọc trong đẹp lạ lùng: ý chỉ mặt trăng sáng sủa rực rỡ…
Từ đó nói chung: Châu, Ngọc là hình tượng của Mặt trời, Mặt trăng (Nhật, Nguyệt) theo quan niệm của Á đông ta vậy.
Hiểu như trên rồi, câu phú mới có thể giải thích được:
A)Trường hợp thứ nhất:
Cự môn ở Tý, Cự môn ở tý luôn luôn kết hợp với Thái Dương (ngọc) ở Thìn (Thổ thạch) để thành cách Cự, Nhật (Mệnh sẽ chịu ảnh hưởng sự chi phối của hai sao này).
Chú thích:
Ngọc: là hình tượng của Thái Dương
Thạch: là đá, thuộc Thổ, là cung Thìn
Cho nên: Thái Dương ở cung Thìn mới chính là “Ngọc ẩn trong đá” (Thạch trung ẩn Ngọc) vậy.
Sao Cự môn (Thủy) trong mạng chính là cái mầm mống dùng để câu hút Thái Dương (Hỏa) ở cung Thìn cho bản Mệnh được sáng sủa, không có nó không xong. Một Thủy một Hỏa một Âm một Dương thu hút lẫn nhau.
Suy rộng ra giống như luật hấp dẫn vũ trụ. “Attraction d’univers” của Newton ngày xưa vậy.
Cự môn ở Tý theo các sách Tử vi khác: “Nếu Mạng được Tuần triệt án ngữ hoặc Hóa lộc đồng cung (Kỵ ngộ Lộc tồn) thì vẻ đẹp sáng sủa tốt đẹp mới được rõ rệt, cũng như đá đã được phá vỡ, ngọc lộ hẳn ra ngoài”
Câu này được rút trong sách Tử vi Đẩu số tân biên của cố Biên giả Vân Đằng Thái thứ lang trang 56, nói về sao Cự môn. Hay nói chung các cụ ta cũng đều giảng như thế cả. Không hiểu các cụ đã căn cứ vào đâu để giảng giải như vậy? Theo tôi thấy thì nó có hơi kỳ cục! Nếu nói: “Gặp Tuần, Triệt án ngữ hoặc Hóa lộc đồng cung thì ngọc mới lộ được ra ngoài và đã coi như đã bị phá vỡ…” Một khi ngọc đã bị lộ ra ngoài là hết còn ẩn nữa rồi, mà hết còn ẩn thì coi như cách “Thạch trung ẩn ngọc” đã hỏng cho nên theo sự hiểu biết riêng của tôi thì: chữ Ẩn trong câu phú này chỉ có một dụng ý cho ta biết vị trí của sao Thái Dương đóng vào cung Thìn mà thôi. Còn điều cốt yếu trong cách này là: bản Mệnh có nhận được sức sáng của Thái Dương hay không? (do sao Cự môn câu hút). Để được tốt đẹp hơn, có thể thêm vào những phần phụ sau đây:
- Cần được Tuần, Triệt án ngữ ở Mệnh (trường hợp Cự môn ở Tý) để làm giảm, mất đi cái tính chất Ám (che, khuất) của Cự môn, Mạng mới sáng được.
- Kỵ ngộ Lộc tồn: không phải sao này làm cho ngọc cứ mãi mãi chìm trong đá. Mà vì nó có đặc tính giữ chặt lấy (Tồn) tính chất ám của Cự môn nên không có lợi cho bản Mệnh.
- Không cần sao Hóa Lộc trong trường hợp này để cho vào trường hợp sau, ở Ngọ.
B)Trường hợp thứ hai:
Cự môn ở Ngọ. Theo tôi thấy, Cự môn ở Ngọ tuy vẫn là cách “Thạch trung ẩn ngọc” song trường hợp này đã mất đi hết cái hay của cách rồi. Mấy điểm xấu có thể kể ra là:
1. Cự môn ở Ngọ bị sai vị: thất cách vì Cự môn là Bắc đẩu thủy tinh cư vào cung Ngọ thuộc Hỏa là Nam vị. Mặc dầu Thủy Hỏa vẫn kết hợp được theo nguyên tắc của Âm, Dương, Cự môn, vốn Vượng địa ở đấy nhưng…
2. Đưa đến tình trạng Thái Dương ở Tuất thất huy (không sáng sủa) nên không thể ghi “Phúc hưng long” được.
3. Khi cho Hóa lộc đồng cung: Không giải thích nổi tại sao lại tốt?
Vậy, tôi xin đưa ra một đề nghị: sửa lại câu này một chút như sau:
“Cự Cơ, Tý Ngọ Khoa Quyền Lộc.
Thạch trung ẩn ngọ, Phúc Hưng long”
Bỏ chữ Môn đi thay bằng chữ Cơ để giải thích cặp sao Cơ, Cự ở bốn vị trí: Tý, Ngọ, Mão, Dậu
Bắc đẩu tinh Cự Môn vào Bắc vị mới hay và Nam đẩu tinh Thiên Cơ của Nam vị mới đúng. Khi đó cặp Nhật
Nguyệt mới sáng sủa tốt đẹp được.
Ghi chú thêm: Cơ, Cự ở Mão mới đúng cách: “Chúng thủy triều đông”. Còn ở Dậu không phải, có chăng chỉ là:
Cơ Cự Dậu thượng hóa cát giả
Túng ngộ Tài Quan dã bất vinh
Cũng như Cự ở Tý mới tốt, Cơ ở Ngọ mới hay còn ngược lại Cự ở Ngọ và Cơ ở Tý thì cũng quá, cũng lại “dã bất vinh” mà thôi, không thể “phúc hưng long” được
Vậy bây giờ xét trường hợp: Thiên Cơ ở Ngọ. Khi Thiên Cơ ở Ngọ thì bao giờ cũng vậy, Thái Âm (Ngọc) ở Tuất (Thổ thạch)
Chú thích:
Ngọc: là hình tượng của Thái Âm.
Thạch: là đá, thuộc Thổ, là cung Tuất, cho nên: “Thạch trung ẩn ngọc” cũng là cách của Thái Âm đóng vào cung Tuất vậy.
Tính chất của Mộc là thu hút Thủy nên Nam đẩu Thiên Cơ (Mộc) với Bắc đẩu Thái Âm (Thủy): Một Nam một Bắc, Một Âm, Dương: Thiên Cơ (Mộc) thu hút lấy Thái Âm (Thủy) để biến sinh, nuôi dưỡng bản Mệnh vậy.
Phần phụ thêm
Bây giờ nếu thêm vào sao Hóa Lộc đồng cung nữa sẽ thấy cái rất hay của cách phú:
Khi có Hóa Lộc đồng cung thì Thiên Cơ (Mộc) được Hóa Lộc (Thổ) bồi đắp Thái Âm (Thủy) dinh dưỡng, sẽ đâm chồi, nẩy lá (Hóa Lộc).
Cái cảnh cây xanh lá non với trăng sáng giữa trời còn gì đẹp bằng.
Đến đây coi như ta đã hiểu được thế nào là cách “Thạch trung ẩn ngọc rồi. Bây giờ chỉ còn một đoạn chót phải tìm hiểu thêm tại sao với cách này, Lão tổ Hi Di lại không ghi chẳng hạn như “Quan cư Hầu Bá” hoặc “Cự thương Cao Mại”… mà lại ghi là “Phúc hưng long”!
Ta thấy, vì trong thiên “Đẩu số cốt tủy” Lão tổ Hi Di dậy rằng: “Âm Dương duyên thọ tăng bách phúc”
Mà ảnh hưởng chính của cách này lại do cặp Âm Dương ở hai cung Thìn Tuất tạo nên. Do đó, bắt buộc ngài phải ghi thêm vào cái đuôi “Phúc hưng long” vậy.
Sở dĩ tôi phải giải thích câu phú trên là chỉ có một mục đích, muốn nêu lên một minh chứng rõ rệt để xác định về hình tượng của Nhật Nguyệt: đến khi giải thích sang lá số của Thạch Sùng, quý vị mới thấy cái linh diệu và cái vô cùng lý thú của Tử vi được.
KHHB số 74L2
Có những thói quen dù nhỏ nhưng cũng ảnh hưởng rất lớn đến tài lộc của bạn, khiến tiền bạc thất thoát mà không rõ nguyên nhân. Nếu bạn có những thói xấu này, hãy bỏ ngay để đón Thần Tài nhé. Trong cuộc sống hàng ngày, có thể bạn có những thói quen nhỏ nhưng vô tình khiến tiền bạc thất thoát, tán tài tán lộc. Nếu không sớm sửa đổi thì dù bạn có vất vả cả đời, Thần Tài vẫn mãi tránh xa bạn.
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
| ► Bói tử vi khoa học để biết tình yêu, hôn nhân, vận mệnh, sự nghiệp của mình |
Sau khi đã thiết lập được tinh bàn (hay trạch vận) cho 1 căn nhà thì điều trước tiên là phải xác định được những khu vực nào có sinh –vượng khí, cũng như những khu vực nào có suy - tử khí của căn nhà đó. Điều này cũng rất dễ dàng, vì chỉ cần căn cứ vào thời điểm lúc đang coi Phong thủy cho căn nhà là thuộc vận nào, rồi lấy vận đó làm chuẩn mốc. Kế đó nhìn vào hết 9 cung của trạch bàn.
Hễ thấy cung nào có Hướng tinh cùng 1 số với đương Vận (tức vận hiện tại) thì khu vực đó được xem là có VƯỢNG KHÍ. Những cung nào có 2 số tiếp theo sau vượng khí thì được xem là có SINH KHÍ. Những cung nào có số trước số của vượng khí thì bị coi là có SUY KHÍ. Còn những cung nào có những số trước vượng khí từ 2 số trở lên thì đều bị coi là có TỬ KHÍ. Những điều này được áp dụng cho cả Hướng tinh lẫn Sơn tinh, còn Vận tinh thì không mấy quan trọng nên không cần phải xét tới.

Thí dụ 1: Nhà tọa TÝ hướng NGỌ, xây xong và vào ở trong vận 8.

Nếu lập trạch vận thì sẽ thấy Hướng tinh 8 tới phía NAM, nên phía NAM được xem là đắc VƯỢNG KHÍ (vì hướng tinh cùng 1 số với đương Vận, tức Vận 8). Còn phía ĐÔNG BẮC có hướng tinh số 9, phía TÂY có hướng tinh số 1, tức là 2 số tiếp theo sau số 8 (vì sau 8 là 9, sau 9 lại trở về 1) nên là 2 khu vực có SINH KHÍ. Còn phía BẮC có hướng tinh số 7, trước số 8 (đương vận) 1 số nên là khu vực có SUY KHÍ. Những phía còn lại có những hướng tinh 6, 5, 4, 3, 2, tức là những số trước số 8 tối thiểu là 2 số nên đều là những khu vực có TỬ KHÍ. Đó là mới chỉ xét về Hướng tinh. Sau đó lần lượt làm như vậy với Sơn tinh để tìm ra những khu vực có Sinh- Vượng khí hay Suy-Tử khí.
Thí dụ 2: Cũng nhà tọa TÝ hướng NGỌ, xây xong và vào ở năm 2000 (tức vận 7).
Đến năm 2007 mới coi Phong thủy. Vì nhà còn mới, chưa tu sửa gì nhiều, chủ nhà cũng chưa bao giờ đi xa quá 1 tháng, cho nên khi lập trạch vận thì vẫn phải dùng Vận 7 để lập Vận bàn. Sau đó lấy Tọa, Hướng bàn thì sẽ thấy Hướng tinh 7 tới phía BẮC, Hướng tinh 8 tới phía TÂY NAM. Hướng tinh 9 tới phía ĐÔNG, Hướng tinh 1 tới phía ĐÔNG NAM. Vì nhà này nhập trạch trong vận 7, nên lúc đó phía BẮC có Hướng tinh số 7, nên là 1 khu vực tốt (đắc VƯỢNG KHÍ). Còn phía ĐÔNG NAM có Hướng tinh số 1, lúc đó trong Vận 7 còn là Tử khí nên là 1 khu vực xấu. Nhưng đến năm 2007 mới coi Phong thủy thì đã qua Vận 8, nên lúc đó khu vực phía BẮC có số 7 là bị SUY KHÍ, nên đã biến thành xấu. Còn khu vực phía TÂY NAM có hướng tinh số 8, lúc này đã trở thành VƯỢNG KHÍ, nên là khu vực tốt nhất của căn nhà. Rồi Hướng tinh số 1 đang là TỬ KHÍ của vận 7 trở thành SINH KHÍ của vận 8, nên khu vực phía ĐÔNG NAM cũng đang từ xấu mà biến thành tốt.
Cho nên sự biến đổi của Sơn, Hướng tinh: từ Sinh-Vượng thành Suy-Tử, rồi từ Suy-Tử trở thành Sinh-Vượng là điều mà người học Huyền Không cần để ý, và nó cũng là 1 trong những yếu tố giúp cho việc giải đoán Phong thủy thêm phần linh hoạt và uyển chuyển, chính xác hơn.
Sau khi đã phân biệt Cửu khí thành SINH-VƯỢNG-SUY-TỬ cho mỗi vận thì mới xét tới mức độ ảnh hưởng của chúng như sau:
- SINH KHÍ: có tác dụng tốt, tuy ảnh hưởng lâu dài và trong tương lai, nhưng cũng cần được phát huy.
- VƯỢNG KHÍ: có tác dụng tốt đẹp và mau chóng, nhất là trong lúc còn đương vận, cho nên cần được phát huy càng sớm càng tốt.
- SUY KHÍ: vì chỉ là khí suy nên tác dụng cũng chưa đến nổi xấu lắm (ngoại trừ các khí 2, 5, 7) cho nên tuy cần phải né tránh nhưng cũng không phải là tuyệt đối.
- TỬ KHÍ: là những khí xấu cần phải né tránh, nếu không sẽ có tai họa về nhân sự, sức khỏe hoặc tiền bạc.
Kế đó lại còn phải phân biệt những khí SINH-VƯỢNG-SUY-TỬ đó là Sơn tinh hay Hướng tinh. Nếu là Sơn tinh thì sẽ có ảnh hưởng đến nhân sự (số lượng người nhiều, ít, tài giỏi hay không...trong nhà). Nếu là Hướng tinh thì sẽ có ảnh hưởng đến sức khỏe và tài lộc của gia đình đó.
Trong “Thiên ngọc kinh Ngoại thiên” của Dương công Chẩm có viết: “Sơn quản nhân đinh, Thủy quản tài lộc”. Chữ “Sơn” ở đây không chỉ có nghĩa là “núi”, mà còn là Sơn tinh của 1 trạch vận. Cũng như chữ “Thủy” không chỉ có ý nghĩa là “sông nước”, mà còn là Hướng tinh (do quan niệm phương tọa cần có núi, phía trước cần có thủy). Cho nên Sơn tinh chủ về nhân đinh, còn Hướng tinh chủ về tài lộc.
Vì đã gọi là “Sơn”, nên Sơn tinh nếu muốn phát huy tác dụng (hay đắc cách) thì cần phải có núi cao (hay nhà hoặc cây cao...). Vì đã gọi là “Thủy”, nên Hướng tinh nếu muốn phát huy tác dụng thì cần phải gặp nước (thủy). Nhưng không phải Sơn tinh nào cũng cần phải gặp núi, mà chỉ có những Sơn tinh đang là khí Sinh, Vượng mà thôi. Chẳng hạn như trong vận 1 thì các Sơn tinh 1 (vượng khí), 2, 3 (sinh khí) đóng ở khu vực nào thì cần có núi hay nhà cao ở tại khu vực đó. Có như vậy thì gia đình đó nhân đinh đông đúc, lại chủ xuất hiện người tài giỏi, có danh, có tiếng. Ngược lại, những khu vực có những Sơn tinh là Suy khí hay Tử khí thì lại cần thấp, trống hay bằng phẳng. Nếu tại những khu vực đó mà có núi hay nhà cao... thì sẽ có tai họa về nhân đinh như hiếm người, con cái khó lấy chồng, lấy vợ, hoặc trong nhà xuất hiện cảnh chia ly, góa bụa, cô quả...
Đó chỉ là riêng đối với các trường hợp khí SINH, VƯỢNG, SUY, TỬ của Sơn tinh. Còn đối với các trường hợp của Hướng tinh cũng thế. Tuy rằng Hướng tinh cần có Thủy, nhưng chỉ những khu vực nào có Sinh khí hay Vượng khí của Hướng tinh mới cần có Thủy như sông, hồ, ao, biển hoặc buồng tắm, nhà vệ sinh, đường xá, cửa ra vào... Nếu được như thế thì tài lộc dồi dào, của cải sung túc, công việc làm ăn ổn định... Ngược lại, nếu những khu vực có Suy, Tử khí của Hướng tinh mà lại có “THỦY” thì nhà đó tài lộc túng thiếu, dễ bị hao tán tiền của, công ăn việc làm lụn bại...
Thí dụ: nhà hướng 30 độ, tức tọa MÙI hướng SỬU, vào ở trong vận 8.

Nếu lập Trạch vận thì sẽ thấy các Hướng tinh 8 (Vượng khí), 9, 1 (Sinh khí) ở các khu vực phía ĐÔNG BẮC, TÂY và TÂY BẮC. Cho nên những khu vực này (bên trong hay bên ngoài nhà) cần có thủy của sông hồ, ao biển, buồng tắm, cửa ra vào ... Còn khu vực phía NAM có hướng tinh 7 (Suy khí) nên không nên có thủy, nếu có tất nhà sẽ dễ bị trộm cướp quấy phá. Những khu vực còn lại cũng toàn là Tử khí của Hướng tinh nên đều không nên có thủy hoặc cửa ra vào.
Kế đó lại xét tới những trường hợp của các Sơn tinh. Vì các Sơn tinh số 8 (Vượng khí), 9, 1 (Sinh khí) nằm tại các khu vực phía TÂY NAM, BẮC và NAM, nên nếu những khu vực này mà có núi hay nhà cao... thì nhà này sẽ đông con, nhiều cháu, con cái tài giỏi, nên người... Các khu vực còn lại thì chỉ toàn là Suy khí hay Tử khí của Sơn tinh, nên nếu có núi hay nhà cao tất sẽ làm phương hại tới nhân đinh của căn nhà này.
Sau khi đã biết và phân biệt được những yếu tố trên rồi mới có thề xét tới trường hợp cơ bản đầu tiên của Phong thủy Huyền Không là Vượng sơn, Vượng hướng. Như chúng ta đã biết, Phong thủy bắt đầu từ Hình tượng, rồi sau này mới phát triển lên tới Lý khí và Vận số. Mà Hình tượng phái (tức Loan đầu phái) thường chủ trương nhà cần có núi bao bọc, che chở nơi phía sau (Huyền Vũ), còn phía trước thì cần phải trống thoáng, có sông, hồ phản chiếu ánh sáng để tích tụ Long khí (Chu Tước), đồng thời có cửa ra vào để hấp thụ Long khí. Còn đối với Phong thủy Huyền không thì khi cất nhà phải chọn hướng như thế nào cho Vượng khí của Hướng tinh tới Hướng (tức phía trước), còn Vượng khí của Sơn tinh tới phía sau. Phối hợp giữa Hình tượng với Lý khí (tức phi tinh) thì nhà này sẽ có Vượng khí của Hướng tinh tới phía trước, đắc Thủy của sông hồ, lại có lối ngõ, cửa nẻo vào nhà nên tài lộc đại vượng. Còn Vượng khí của Sơn tinh tới phía sau gặp núi nên chủ vượng nhân đinh, con cháu đông đúc, nhân tài xuất hiện nên là cách cục “phúc lộc song toàn”. Cho nên Vượng Sơn, Vượng Hướng (còn gọi là ĐÁO SƠN, ĐÁO HƯỚNG, vì vượng khí của Sơn tinh tới tọa, vượng khí của Hướng tinh tới hướng) là cách cục cơ bản của Phong thủy và Huyền Không. Những nhà có cách cục như vậy còn được gọi là những nhà có “Châu bảo tuyến” (hướng nhà quý như châu báu). Điểm quan trọng của những trường hợp này là giữa hình thế bên ngoài (Loan đầu) và phi tinh có sự tương phối thích hợp. Ngược lại, nếu 1 căn nhà phía trước cũng có sông hồ, phía sau cũng có núi cao. Nhưng do việc chọn hướng không thích hợp, hoặc do xây dựng không đúng lúc mà khi lập Trạch vận thì Vượng khí của Sơn tinh lại tới hướng (phía trước), còn vượng khí của Hướng tinh lại tới tọa (phía sau) thì tuy hình thế chung quanh của ngôi nhà là tốt, nhưng do không ứng hợp được với phi tinh nên lại chủ phá tài, tổn đinh, tan cửa nát nhà mà thôi. Đây còn gọi là cách cục “Thượng sơn, Hạ thủy” sẽ nói ở 1 phần khác.
Một điểm cần chú ý trong cách cục “vượng Sơn, vượng Hướng" (hay "Đáo Sơn, Đáo Hướng”) này là tuy trên lý thuyết thì các nhà Phong thủy thường coi những nhà có vượng khí của Hướng tinh tới phía trước, còn vượng khí của Sơn tinh tới phía sau nhà là cách cục “vượng Sơn, vượng Hướng”. Nhưng điều quan trọng là ngoại hình bên ngoài của căn nhà (Loan đầu) có phù hợp với vượng khí của Sơn và Hướng tinh hay không? Nếu phù hợp thì mới thật sự là cách cục “vượng Sơn, vượng Hướng”, và nhà mới phát phúc, phát lộc. Còn nếu ngoại hình không phù hợp thì sẽ biến thành cách cục “Thượng Sơn, Hạ Thủy” mà gây ra hung họa đầy dãy. Nhưng thế nào là phù hợp hay không phù hợp? Như chúng ta đã biết, Sơn tinh mà muốn đắc cách thì phải đóng ở những khu vực có núi cao. Còn Hướng tinh mà muốn đắc cách thì phải đóng ở những khu vực có Thủy như sông biển hoặc đường đi hay cửa nẻo ra vào nhà... Cho nên những nhà mà có vượng khí của Hướng tinh tới phía trước thì còn đòi hỏi khu vực phía trước của nhà đó phải trống, thoáng, có thủy hay đường đi, cửa ra vào... Còn vượng khí của Sơn tinh đến phía sau cũng đòi hỏi khu vực phía sau nhà có núi hay nhà cao... Có như thế mới được coi là thật sự đắc cách “Đáo Sơn, Đáo Hướng” mà đinh, tài đều vượng. Ngược lại, nếu như nhà đó có vượng khí của Hướng tinh tới phía trước, nhưng phía trước nhà lại có núi hay nhà cao, hoặc bị gò đất nhô lên, hay bị cây cối rậm rạp, um tùm che chắn... tức là vượng khí của Hướng tinh không gặp “Thủy” mà lại gặp “Sơn”. Còn vượng khí của Sơn tinh tuy tới phía sau, nhưng phía sau nhà lại không có núi hay nhà cao, mà lại có sông, hồ, ao, biển, hoặc cống rãnh..., tức là vượng khí của Sơn tinh không gặp “Sơn” mà lại gặp “Thủy”. Đó đều là những cách cục suy bại về tài lộc và nhân đinh. Cho nên mới nói giữa phi tinh và ngoại hình Loan đầu bên ngoài phải có sự phù hợp là như vậy. Nếu phù hợp thì mới thật sự là “vượng”, và mọi sự mới được tốt đẹp. Còn nếu như trái ngược (tức không phù hợp) thì dù có “vượng” cũng sẽ thành “suy” và phát sinh ra muôn vàn tai họa.
Đây là điển cố thứ Ba hai trong quẻ Quan Thế Âm, mang tên Lưu Bị Cầu Hiền (còn gọi là Lưu Bị Tìm Người Tài). Quẻ Quan Thế Âm Lưu Bị Cầu Hiền có bắt nguồn như sau:
Cuối thời Hán, quân khởi nghĩa Hoàng Cân nổi dậy, thiên hạ đại loạn, Tào Tháo “uy hiếp thiên tử để hiệu lệnh chư hầu”, Tôn Quyền thống lĩnh quân đội Đông Ngô. Quan Mục ở Dự Châu là Lưu Bị, vốn là tông thất của nhà Hán, phải lang thang phiêu bạt, không có căn cứ địa cố định. Lúc này, Lưu Bị dựa vào Lưu Biểu, đóng quân ở Tân Dã. Trong một lần đến thăm Tư Mã Huy, nghe Tư Mã Huy nói: “Rất nhiều Nho sinh đều là những người kiến thức nông cạn, sao có thể hiểu được thế cục hiện thời? Biết thời thế mới là trang tuấn kiệt, chỉ có Ngọa Long (Gia Cát Lượng), Phượng sồ (Bàng Thống) mà thôi”. Sau này Từ Thứ cũng tiến cử Ngọa Long với Lưu Bị, Lưu Bị muốn Từ Thứ đưa Ngọa Long đến gặp, nhưng Từ Thứ nói: “Người này có thể đi gặp, nhưng không thể lệnh cho anh ta chịu khuất phục để đến đây. Tướng quân nên hạ mình đến thăm!”
Vì thế, Lưu Bị liền cùng với Quan Vũ, Trương Phi mang theo lễ vật, đến núi Ngọa Long ở Long Trung (nay là phía nam thành Nam Dương, tỉnh Hà Nam, cũng có thuyết cho là phía tây nam của thành Tương Dương, tỉnh Hồ Bắc) mời Gia Cát Lượng xuống núi phò tá cho mình. Nhưng đúng hôm đó Gia Cát Lượng lại đi ra ngoài, Lưu Bị đành thất vọng quay về.
Không lâu sau, Lưu Bị lại cùng Quan Vũ, Trương Phi đội gió dầm tuyết mà đi, không ngờ Gia Cát Lượng lại đi ra ngoài du ngoạn. Trương Phi vốn không muốn đi tiếp, thấy Gia Cát Lượng không ở nhà, liền giục trở về. Lưu Bị đành để lại một bức thư, thể hiện sự cung kính của mình đối với Gia Cát Lượng, mời Gia Cát Lượng ra trợ giúp cho mình.
Vài ngày trôi qua, Lưu Bị ăn chay ba ngày, chuẩn bị tiếp tục đi mời Gia Cát Lượng. Quan Vũ nói rằng, Gia Cát Lượng có lẽ chỉ là kẻ hư danh, chưa hẳn đã có tài năng thực sự, không cần phải đi nữa. Còn Trương Phi nói rằng, hãy để một mình mình đi gọi, nếu Gia Cát Lượng không đến, thì sẽ dùng dây thừng trói lại giải đến. Lưu Bị bèn trách móc Trương Phi, kiên quyết cùng hai người đi mời Gia Cát Lượng lần thứ ba. Khi đến căn nhà cỏ mà Gia Cát Lượng ở, Gia Cát Lượng đang ngủ, Lưu Bị không dám làm kinh động, cứ đứng chờ trong tuyết, đợi sau khi Gia Cát Lượng tỉnh dậy mới cùng ngồi xuống nói chuyện.
Lưu Bị hỏi Gia Cát Lượng rằng: “Hiện nay nhà Hán suy bại, gian thần giả mượn lệnh vua để mưu sự, hoàng đế không có quyền lực. Ta không biết tự lượng đức hạnh và sức lực của mình, chỉ muốn lấy đại nghĩa để chấn hưng lại thiên hạ, nhưng vì trí tuệ và mưu lược không đủ, cho nên luôn bị thất bại, cho đến tận hôm nay. Nhưng chí hướng của ta vẫn chưa nguôi, ngài có mưu kế gì có thể giúp ta được không?” Gia Cát Lượng liền trình bày với Lưu Bị về kế sách chia ba thiên hạ, phân tích tình hình thế Tào Tháo không thế tin, Tôn Quyền có thể tiếp viện, lại nói về sự nhu nhược của bậc quân chủ ở hai châu Kinh và ích, chỉ khi có được hai châu này mới có thể giành được thắng lợi, tức là giảng giải về sự tất yếu và khả năng chiếm được hai châu này. Cuối cùng, ông trình bày với Lưu Bị chiến lược tấn công Trung Nguyên. Lưu Bị nghe xong rất tán thưởng.
Sau đó Lưu Bị thường cùng Gia Cát Lượng bàn bạc, mối quan hệ ngày càng thân mật. Bọn Quan Vũ, Trương Phi đều cảm thấy không vui, Lưu Bị giải thích với họ rằng: Ta có được Khống Minh, là giống như cá gặp được nước, hy vọng mọi người đừng nói thêm gì!” Từ đó, Quan Vũ, Trương Phi mới không trách móc nữa.
Quẻ Quan Thế Âm Lưu Bị Cầu Hiền là quẻ thẻ Trung Bình trong quẻ thẻ quan âm !
Việc sắp đặt nhà vệ sinh như thế nào cho đúng phong thuỷ là vấn đề luôn được các gia chủ quan tâm để ngôi nhà của mình có bố cục lý tưởng nhất.
Dưới đây là ba trong số rất nhiều những thắc mắc mà các gia chủ thường gặp khi chọn vị trí cũng như bố trí các thiết bị bên trong nhà vệ sinh:
* Có đúng là không được đặt phòng vệ sinh trên lầu đè lên cửa ra vào chính dưới trệt và có nhất thiết phòng vệ sinh các lầu phải thẳng hàng với nhau không?
* Có người quen nói rằng khi làm nhà không nên xoay bàn cầu và các đường ống ra phía trước nhà vì khi xả nước sẽ… cuốn trôi tiền tài và an khang của nhà đi hết (!?) Thực hư điều này ra sao?
* Hướng ngồi bàn cầu và hướng lavabo có nên xem theo tuổi của gia chủ hoặc người sử dụng thường xuyên phòng vệ sinh đó không?

Ví dụ về la bàn phong thuỷ phân cung điểm hướng cho một nhà phố, trong đó chỉ rõ các khu vực bố trí vệ sinh (màu xám) và khu vực đặt bếp, cửa chính, hồ nước ngầm… tách biệt nhau.
Thực tế cũng chứng minh nếu gia chủ quá kiêng kỵ các vấn đề liên quan đến phong thuỷ mà không có ưu tiên chính phụ và quan niệm “đa cát thắng thiểu hung” (nhiều cái tốt thắng ít cái xấu) thì hầu như sẽ rất dễ bị rối khi làm nhà.
Theo nguyên tắc bố trí cát hung trong nhà ở thì khu vệ sinh nên đặt vào các hướng xấu, các hướng bất lợi về khí hậu đồng thời đảm bảo hợp lý về hệ thống kỹ thuật. Hung gặp hung hóa cát, đặt khu vệ sinh vào vị trí xấu (theo tính toán về tuổi gia chủ phối hợp với hướng nhà) sẽ hợp hơn là đặt vào vị trí tốt.
Đây chính là sự phân biệt rạch ròi và ưu tiên các khu nào nằm về vùng nào. Nếu các chức năng cơ bản (cửa chính, bếp, phòng khách, phòng ngủ, bàn thờ…) được đặt các vùng tốt, thì dĩ nhiên nhưng vùng còn lại là bố trí không gian vệ sinh, và các chức năng phụ khác.
Trong ngôi nhà xưa thì khu vệ sinh là một dạng khu phụ, chứ không có tiện nghi cao như bây giờ. Vì thế, ngoài việc phân cung điểm hướng tốt xấu, cha ông ta vẫn hay đưa khu “nhà xí” ra xa nhà chính. Còn hiện nay phong thuỷ và kiến trúc hiện đại đã dung hòa với nhau, tuy vẫn xếp khu vệ sinh vào nhóm phải đặt ở hung phương (cùng với kho, chỗ giặt phơi, nhà xe…) nhưng không hề là là một khu phụ phải “giấu” ở nơi tối tăm ẩm thấp nữa.
Những thắc mắc của gia chủ về kiêng kỵ khi bố trí khu vệ sinh có thể lý giải dưới góc độ khoa học phong thuỷ và kiến trúc như sau:
* Khu vệ sinh đè lên trên cửa ra vào chính của nhà lầu: Theo nguyên tắc phân cung điểm hướng, luôn ưu tiên cho môn, rồi đến táo, sau đó mới đến các không gian khác, nghĩa là vị trí và hướng của bộ cửa chính rất quan trọng. Do vậy theo la bàn phong thuỷ thì vị trí cửa chính (vùng khai môn) không bao giờ trùng với vị trí đặt khu vệ sinh (tác xí) cả.
Nếu nhà có lầu mà đặt khu vệ sinh trên lầu trùng với vị trí bộ cửa chính dưới trệt thì hoặc là khu vệ sinh đó đặt sai vị trí, hoặc là bộ cửa chính của ngôi nhà đặt sai vị trí nhưng do nhà phố nhỏ nên không thay đổi được. Khi đó nếu vị trí và hướng bộ cửa chính (cũng là hướng của nhà) hợp với mệnh trạch gia chủ rồi thì khu vệ sinh nên dời sang vị trí khác. Còn nếu ngược lại thì bộ cửa chính nên dời đi sao cho không bị khu vệ sinh ở trên “đè lên” nữa.

Việc bố trí lavabo và bàn cầu không phụ thuộc vào hướng nữa, chỉ cần lưu ý sao cho thuận tiện, tránh gió lùa, tránh tia nhìn xoi mói, thoải mái dễ chịu, không bị va vướng vào các thiết bị khác khi sử dụng.
* Trường hợp khác, nếu nhà có chiều ngang rộng thì khi phân cung điểm hướng vẫn có thể đặt khu vệ sinh về phía mặt trước của nhà theo ý đồ của kiến trúc sư. Mỗi mặt bằng đều có những vùng đặt được khu vệ sinh và những vùng không thể, phụ thuộc bố cục và phân cung điểm hướng như đã nói, do vậy không nhất thiết vệ sinh các tầng phải trùng nhau.
Tuy nhiên các khu vệ sinh trùng nhau sẽ thuận lợi hơn cho hệ thống kỹ thuật. Vấn đề là gia chủ và người thiết kế nên xác định ngay từ đầu các vùng nào có thể bố trí khu vệ sinh, xem xét trên – dưới các vùng ấy là không gian gì để quyết định bố cục mặt bằng, và tránh để khu vệ sinh ở bên trên chỗ bếp nấu, bàn thờ (thuỷ khắc hoả) và cửa chính như đã nêu, còn lại đều có thể xử lý được.
* Về hướng của bàn cầu: khi đã xác định các vấn đề chính phụ thì hầu như chuyện hướng của lavabo, bàn cầu là không đáng kể nữa. Vì theo thứ tự ưu tiên xác định hướng thì từ hướng nhà, hướng cửa chính, hướng bếp cho đến hướng bàn thờ, hướng giường ngủ của gia chủ và các thành viên, hướng bàn ngồi làm việc… là đã quá chi tiết và đầy đủ cho các sinh hoạt cơ bản của một ngôi nhà.
1. Vị trí
Phòng khách nên được đặt ở nơi có ít nhất hai bức tường bao quanh, tránh sử dụng căn phòng nằm sâu trong nhà. Một phòng khách hợp phong thủy sẽ giúp nguồn năng lượng sống, năng lượng tài năng đi vào nhà mà không bị ngăn trở hoặc dần tiêu tan vì phải đi qua các phòng khác trước khi đến nơi. Vị trí này còn đảm bảo các nguồn năng lượng trên luôn được tươi mới, mạnh mẽ, giúp cho phòng khách tràn đầy sinh khí.
![]() |
| Phòng khách phải có đủ ánh sáng, đồ đạc được kê gọn gàng. Ảnh: Home Advisor. |
2. Diện tích và nội thất
Trước khi xây nhà hoặc mua nhà mới, gia chủ nên chú ý đến diện tích của phòng khách. Một căn phòng rộng rãi, thoáng mát phù hợp làm nơi tụ họp cho gia đình và khách mời. Khi đó, các nguồn năng lượng bổ trợ sẽ có cơ hội đi vào phòng và lan tỏa ra không gian xung quanh.
Hãy bày trí đồ đạc tránh bị rối mắt, không kê quá nhiều đồ làm không gian căn phòng bị chật chội. Tránh kê đồ đạc vướng lối đi khiến nguồn năng lượng tốt bị trì trệ. Nên đặt bộ bàn ghế tựa lưng vào tường, không nên đặt ở giữa phòng để tránh những cảm giác thiếu an toàn ở khoảng trống sau lưng. Ngoài ra, bạn có thể lắp đặt một quả cầu pha lê trên trần nhà phòng khách để vô hiệu hóa những năng lượng tiêu cực.
Bạn nên chọn màu sắc đồ đạc trang nhã, hài hòa với sơn tường và thảm. Có thể đặt những bình hoa tươi hay phấn thơm để căn phòng thêm tươi sắc và thơm mát. Riêng với đồ điện tử như tivi, máy tính (chứa năng lượng dương tốt) thì hãy đặt chúng ở vị trí bạn muốn bổ trợ, như hướng bắc (hỗ trợ sự nghiệp), hướng nam (công danh và sự công nhận).
3. Bày trí nội thất theo la bàn phong thủy
Với hướng bắc (đại diện cho năng lượng thủy), gia chủ có thể treo tranh thác nước, suối nguồn hoặc hình ảnh con thuyền hướng về phía người xem. Bạn có thể đặt một bình thủy sinh hoặc chậu cá cảnh bên trong nuôi 8 chú cá vàng và một cá đen, đặt một hòn non bộ nhỏ có dòng nước chảy về hướng căn phòng. Sử dụng sắc lam và đen chủ đạo trong đồ đạc tại hướng này cũng là lựa chọn phù hợp.
Đối với hướng nam (năng lượng hỏa), bạn nên đặt những cây nến lớn, đẹp mắt; sử dụng đồ đạc bằng gỗ và có màu sắc như đỏ, hồng, da cảm và lục. Với hướng đông và đông nam (năng lượng mộc, thổ), gia chủ nên treo những bức tranh có khung gỗ, kê giá sách bằng gỗ, sử dụng màu lục và nâu là chính.
Ở hướng tây và tây bắc (năng lượng kim), gia chủ nên sử dụng tất cả đồ đạc bằng kim loại như khung tranh, đế nến và sử dụng các màu sắc chủ đạo như màu đồng, lam, vàng, xám. Đối với hướng đông bắc và tây nam (năng lượng thổ), gia chủ nên đặt những loại đá quý, khoáng sản, đồ gốm sứ hoặc thủy tinh, pha lê và sử dụng các tông màu như màu đất sét, nâu vàng, đỏ.
4. Sử dụng các biểu tượng bổ trợ sự thịnh vượng
Để gia tăng thịnh vượng, giàu có cho gia đình, trên bàn khách, gia chủ có thể đặt những vật như tiền xu mạ vàng hay thỏi vàng, đặt tượng Phật ở nơi trang trọng, tránh đặt dưới sàn nhà hoặc bên trái phòng. Ở phía đông của phòng nên đặt đồng xu cùng một dải ruy băng màu đỏ hoặc bức tượng một con rùa đầu rồng ngậm tiền xu, hướng nhìn vào phòng ở phía đông nam.
Ngoài ra, có thể treo bức tranh hình con rồng ở phía đông hay đặt một tượng voi cũng sẽ mang đến may mắn và tài lộc cho gia đình. Ở hai bên cửa ra vào phòng khách, hãy đặt hai bức tượng khuyển canh giữ nhà.
5. Thiết kế ánh sáng phù hợp
Hệ thống đèn điện, ánh sáng tự nhiên và cách sử dụng ánh sáng đóng một vai trò quan trọng trong việc thu hút nguồn năng lượng tốt cho phòng khách. Gia chủ nên bố trí phong phú các nguồn sáng như đèn bàn, đèn trần, đèn ốp tường và cửa sổ hợp lý để hứng ánh sáng và không khí tự nhiên. Cần lưu ý, tránh thiết kế hai hay nhiều cửa sổ trong phòng khách cùng một lúc để các nguồn năng lượng không bị tiêu hao hoặc gây nên tình trạng quá nhiều nguồn năng lượng ồ ạt, xung khắc nhau.
Nguyên tắc phòng khách hợp phong thủy quan trọng là hướng, cách bày trí đồ nội thất hợp lý và trên hết là tạo tâm lý thoải mái cho đại gia đình. Chỉ như vậy, không gian trong phòng khách mới thực sự là nơi gặp gỡ vui vẻ và đầy ắp tiếng cười của gia đình, bạn bè và người thân.
Đăng Linh
Formaldehyde (HCHO) là một loại thể khí không màu, có mùi có tinh kích thích mạnh, dễ tan trong nước, ở nhiệt độ bình thường là thể khí, thông thường xuất hiện dưới hình thức là dung dịch nước. Điểm sôi của dung dịch này là 190c . Với nhiệt độ trong phòng rất dễ bị bay hơi, tốc độ bay hơi tăng theo nhiệt độ.
Nó có tác dụng là đông cứng protein, dung dịch nước 35% ~ 40% thường được gọi là dung dịch Formalin, thường dùng làm dung dịch ngâm tiêu bản. Formaldehyde là chất có độc tính tương đối cao, trong bảng danh sách những chất hóa học có độc thì Formaldehyde (Metal) đứng thứ 2.

Formaldehyde trong môi trường nhà ở chủ yếu có nguồn gốc từ các sản phẩm công nghiệp hóa chất như vật liệu xây dựng, vật phẩm hoàn thiện nhà và đồ dùng gia đình. Đồng thời cũng bao gồm cả một số nhân tố chủ yếu là nhiên liệu đốt và lá thuốc lá chưa cháy hết hoàn toàn.
Formaldehyde (Metal) có tính kết dính mạnh, đồng thời còn có thể tăng cường độ cứng, chống ăn mòn, chống mọt cho các vật liệu, vì thế các loại tấm gỗ dán, tấm gỗ ép, tấm sợi ép… trên thị trường đã sừ dụng các loại keo kính, keo nhựa mà thành phần chủ yếu chính là Formaldehyde (Metal), do đó không thể tránh khỏi chứa Formaldehyde (Metal). Ngoài ra, trong những thiết bị phụ trợ hoàn thiện cho đồ gia dụng kiểu mới, tường nhà, nền nhà đều có sử dụng chất keo dán, vì vậy nhìn nơi nào dùng keo dán thì nơi đó sẽ giải phóng ra khí Formaldehyde (Metal), gây nguy hại cho môi trường.
Vật liệu cách nhiệt nhựa xốp có chứa Formaldehyde (Metal) và ure có tác dụng cách nhiệt rất tốt, vì thế thường được chế thành kết cấu bao quanh vật kiến trúc để nhiệt độ trong phòng không bị chịu ảnh hưởng của nhiệt độ bên ngoài. Ngoài ra, Formaldehydc (Metal) còn có thể có nguồn gốc từ đồ mỹ phẩm, chất tẩy rửa, chất sát trùng, chất khử trùng tiêu độc, chất chống rữa nát, mực in, giấy viết…
Chính vì vậy, nói một cách tổng thể, nguồn gốc của Formaldehyde (Metnl) trong môi trường nhà ở rất rộng. Bình thường nhà mới xây xong, hàm lượng Formaldohyde (Metal) có thể đạt đến 0,40mg/m3 , cá biệt có nơi lên đến 1,50mg/m3 . Hàm lượng Formaldehyde (Metal) trong môi trường nhà ở có mối quan hệ mật thiết với các nhân tố: thời gian sử dụng, nhiệt độ, độ ẩm và tình trạng thông gió trong nhà.
Trong những trường hợp bình thường, thời gian sử dụng nhà càng dài thì hàm lượng Formaldehvde (Metal) còn lưu lại càng ít, nhiệt độ càng cao, độ ấm càng lớn thì càng có lợi cho việc giải phóng Formaldehyde (Metal), điều kiện thông gió càng tốt thì sự giải phóng Formaldehyde (Metal) trong các đồ gia dụng, vật liệu xây dựng… càng nhanh, càng có lợi cho sự trong sạch môi trường nhà ở. Đối với một ngôi nhà mới xây dựng xong, trong trường hợp bình thường, sau 5 tháng nồng độ Formaldehyde (Metal) có thể thấp hơn 0,1mg/m3: sau 7 tháng hoàn thiện có thể giảm xuống còn 0,08mg/m3 trở xuống.
Formaỉdehyde (Metal) đã được Tổ chức Y tế Thế giới xác định là chất có thế dẫn đến bệnh ung thư và gây ra dị hình, là nguồn gốc của phản ứng biến thái ở con người, cùng là một trong những chất tiềm ẩn gây đột biến mạnh. Formaldehyde (Metal) có khả năng gây ung thư rất mạnh và thúc đấy bệnh ung thư nặng thêm. Biểu hiện chủ yếu ảnh hướng của Formaldehyde (Metal) đến sức khỏe cơ thể người là khứu giác dị thường, kích thích, dị ứng, chức năng phổi dị thường, chức năng gan dị thường và chức năng miễn dịch dị thường.
Khi nồng độ Formaldehydc (Metal) đạt đến 0.06 ~ 0.07 mg/m3 , trẻ nho sẽ bị hen suyễn nhẹ; Khi hàm lượng Formaldehyde (Metal) trong không khí nhà ở từ 0,1mg/m3 thì sẽ có mùi dị thường và cảm giác khó chịu; Khi đạt đến o.5mg/m3 có thể kích thích đến mắt, gây chảy nước mắt; Khi đạt đến 0.6mg/m3 có thể làm cho cổ họng khó chịu hoặc đau. Khi nồng độ cao hơn nửa thì có thể gây buồn nôn, nôn mửa, tức ngực, hen suyễn; Khi nồng độ đạt trên 65mg/m3 thể gây viêm phổi, phù thũng phổi…, thậm chí có khi dẫn đến tử vong.
Lâu ngày tiếp xúc với Formaldehyde (Metal) có hàm lượng thấp có thể dẫn đến các bệnh mãn tính về đường hô hấp, dẫn đến ung thư mũi họng, ung thư kết tràng, u não, rối loạn kinh nguyệt, đột biến gien nhân tê bào, chuỗi xoắn DNA đơn, xoắn DNA và protein, ức chế sự phục hồi tổn thương DNA, chứng tổng hợp thai sản, dẫn đến nhiễm sắc thể dị thường ở trẻ sơ sinh, bệnh máu trắng, dẫn đến trí nhớ và trí lực ở thanh thiếu niên giảm. Trong tất cả những người tiếp xúc, trẻ em và phụ nữ mang thai cực kỳ mẫn cảm với Formaldehyde, và nguy hại càng lớn.
| ► Cùng bói tình yêu theo cung hoàng đạo để biết hai bạn có hợp nhau không |
![]() |
![]() |
con người không? Vết chàm, vết bớt trên cơ thể sinh ra do rối loạn sắc tố da hay tế bào sắc tố trong mạch máu xuất hiện hiện tượng dị thường gây nên. Nó có thể xuất hiện ngay khi đứa trẻ mới ra đời, cũng có thể vài tháng sau khi sinh mới dần hiện rõ. Hầu như đứa trẻ nào cũng có ít nhất một vết bớt trên mình.
![]() |
![]() |
![]() |
Thời xưa, những gia đình có học, có tiền, hoặc là quan chức, khi làm nhà cần xem phong thủy rất cẩn thận. Vị trí đặt ngôi nhà thường chọn nơi có dòng nước uốn quanh, đằng sau xa xa có đồi hoặc là núi thấp án giữ.
Ngôi nhà gắn liền với thiên nhiên, có màu xanh cây lá, có dòng nước mát dịu, nhà tôn cảnh, cảnh làm nổi bật nhà. Địa thế làm nhà như vậy là để nhận khí thiêng sông núi, tinh hoa của mặt trời, mặt trăng.
Không gian khoáng đạt thuận lợi cho việc di dưỡng tinh thần, rèn luyện ý chí. Những chuyện như thế, ngày nay tìm đâu ra với cảnh đất chật, người đông ?!
Vị trí làm nhà ngày xưa chọn nơi: "Núi Cửu Hoa, chùa ẩn trong mây, sông Thanh Qua, cầu vờn nhành liễu". Thôn xóm nằm gọn trong vòng ôm của hàng liễu, có dòng nước uốn lượn, phía Bắc xa xa có núi xanh như bình phong chắn ngữ. Động và tĩnh hài hòa làm cho con người sinh sống ở trong môi trường thật là dễ chịu

Phong thủy có cả một kho lí thuyết dài dòng để chỉ dẫn cách tìm đất làm nhà. Nhà làm trên vùng núi thì xem thế núi, luận long mạch để xác định đúng vị thế nhà. Vùng gò đồi ở nơi rộng thoáng thì bốn phía phải như quy chầu. Không được quá trống trải, không có vực hoặc thế đất trụt, trượt. Vùng đồng bằng phải có long mạch, có đường quanh bên phải, có ngòi nước bên trái, trước nhà có sân và vườn rộng, xa nữa là hồ, là ao. Sau nhà đất tạo thế như mây đùn, khói tỏa.
Một cách khái quát thì luận về nhà cửa cũng cần dựa vào lí thuyết cơ bản của phong thủy là Khí và lí khí. Thuyết khí về nhà ở chủ yếu là thuyết nạp khí và thuyết sắc khí. Nạp khí gồm địa khí và môn khí. Địa khí là khí trong đất tại nơi làm nhà. Môn khí là khí từ cổng đưa vào, từ cửa vào nhà. Sắc khí là màu sắc cảm nhận được qua ngôi nhà.
Cần nói rõ cho khách quan là chúng ta chưa phân tích đúng sai mà chỉ mới đưa ra những luận điểm cơ bản của phong thủy sử dụng khi làm nhà. Để luận ra địa khí trong thôn ấp hay phố xá là điều mơ hồ. Khi làm nhà không thể bỏ qua phương vị. Địa khí luận được từ phương vị dẫn khí. Chẳng hạn như Mộc tinh, Kim tinh, Thổ tinh, làm nhà ở đây thì con cháu làm nên, ăn ra. Hỏa tinh là long thần cần bác hoán (di dịch, hoán cải), nếu không, ở chẳng ra gì. Thủy tinh cần tụ hội thì của cải đến nhà.
Minh đường (trước nhà) cần rộng và bằng phẳng. Từ phương vị (vị trí theo hướng), từ luận về thanh long (mạch nước), bạch hổ (đường cái cạnh nhà), minh đường, chu tước (đất đai, hồ nước trước nhà), huyền vũ (đất sau nhà), phong thủy có những điều lưu ý quan trọng như: Lối ra vào của sườn núi hoặc thung lũng, tránh làm nhà.
Điều này dễ hiểu vì những lối này thường bị hạn chế về kích thước chiều rộng. Gió thổi qua những lối này có vận tốc lớn hơn những chỗ khác nên tuy được cái mát mẻ nhờ gió lưu thông tốc độ cao nhưng cũng dễ vì thế mà cơ thể con người trong nhà dễ bị nhiễm lạnh. Gió luồn lách vào nhà tạo ra luồng gió lùa, y học cổ truyền đã nhận định, như vậy, dễ tạo ra cảm mạo phong hàn.
Trước nhà phải có minh đường rộng, thoáng. Điều này có thể hiểu là trước nhà có không gian rộng để đón nắng, làm rộng tầm mắt cho con người thoải mái, Huyền vũ không được quá cao, sau nhà không bị chắn cản làm cho khi mưa, nước không đe dọa xối xuống sau nhà, thậm chí đất có thể sập úp kín ngôi nhà ta ở. Tuy thế, sau nhà cũng không được có hố sâu. Có hố sâu sau nhà, phong thủy rất kiêng kị.
Bên trái nhà có dòng nước quanh co, nước không bị tù túng mà cũng không được chảy xiết. Bên phải nhà có đường đi đủ rộng nhưng cũng không phải là lối đi tấp nập, ồn ào, náo nhiệt. Nhà không làm trên nền giếng lấp.
Nhà làm trên giếng lấp sợ đất lấp chưa hoàn thổ sẽ lún sụt trong nhà hoặc ít ra tạo vùng ẩm thấp do đất xốp chứa nước nhiều hơn chỗ đất nguyên.
p/s: Xem Tướng chấm net có công cụ tra cứu trực tuyến về Xem hướng nhà theo học thuyết phong thủy. Mời bạn ghé qua.
|
| (Ảnh minh họa) |
Mỗi máy tính khi sử dụng còn cần có thêm 1 con chuột. Con chuột này đại diện cho yếu tố Thủy (vật duy nhất thuộc Thủy của máy tính).
Người cần Thủy nhất thiết không được sử dụng loại chuột vi tính phản quang. Vì chuột phản quang sẽ khiến Thủy duy nhất ở máy tính "bốc hơi". Người thiếu Hỏa sử dụng chuột phản quang liên tục nhấp nháy có thể làm tăng tính Hỏa. Hỏa thêm Hỏa không ổn.
Người kỵ Hỏa nhưng lại phải thường xuyên sử dụng máy tính thì nên đặt 1 cốc nước ở bên cạnh máy tính hoặc treo tranh có nội dung về nước, băng tuyết... để giảm nhẹ tính Hỏa.
Khi máy tính hoạt động thì mặt bàn cũng quyết định thuộc tính ngũ hành của nó. Người cần Kim thì mặt bàn cần chứa yếu tố tượng trưng cho núi tuyết. Người cần Thủy thì mặt bàn nên có màu sắc và hình ảnh của nước. Người cần Mộc thì có thể dán cỏ cây, hoa lá lên mặt bàn hoặc bày chậu cây cảnh. Người cần Hỏa thì mặt bàn nên có màu lửa. Người cần Thổ thì mặt bàn nên có màu sắc và hình ảnh của sa mạc.
Khi thiết lập mật khẩu cho máy tính cũng cần dựa vào ngũ hành. Người cần Mộc có thể chọn số 1 và 2 (1 - Giáp Mộc, 2 - Ất Mộc); người cần Hỏa chọn số 3 và 4 (3 - Bính Hỏa, 4 - Đinh Hỏa); người cần Thổ chọn số 5 và 6 (5 - Mậu Thổ, 6 - Kỷ Thổ); người cần Kim chọn số 7 và 8 (7 - Canh Kim, 8 - Tân Kim); người cần Thủy chọn số 9 và 0 (9 - Nhâm Thủy, 0 - Quý Thủy).
(Theo Phong thủy rước lộc vào nhà)
|
Theo quan điểm truyền thống, cây phát lộc đem lại vận khí tốt cho sức khỏe, tình yêu và sự thịnh vượng.
Được coi là loại cây mang lại may mắn trong cuộc sống, cây phát lộc có sức sống mạnh mẽ, rất dễ chăm sóc. Tuy nhiên, để có cây phát lộc hợp phong thủy, bạn cần có sự đầu tư công sức, giúp nó phát triển tốt và có được hình dáng như ý.

Tại sao cây phát lộc là cây may mắn
Cây phát lộc có thể tự sinh tồn trong môi trường khắc nghiệt và luôn giữ được dáng thẳng, hiên ngang. Chính vì thế, theo thuyết phong thủy, nếu để chúng trong nhà sẽ giúp mang lại năng lượng dồi dào và rất yên bình. Hơn nữa, cây phát lộc có nhiều đốt rỗng nên tinh thần của gia chủ theo đó cũng dễ lưu thông, tâm hồn được tự do, thăng hoa.
Nếu trồng được cây phát lộc trong vườn là thích hợp nhất, lúc đó vượng khí đem lại càng nhiều. Ngoài ra, tiếng gió lùa qua bụi cây còn trở thành một loại chuông gió độc đáo mang năng lượng phong thủy.
Sử dụng thế nào cho hợp phong thủy
Một chậu cây phát lộc hợp phong thủy phải hội đủ năm yếu tố trong Ngũ Hành: Mộc – bản thân cây phát lộc; Thổ – đất mà cây được trồng; Thủy – nước dùng tưới cây; Hỏa – thông thường, mỗi chậu cây phát lộc cảnh đều có buộc một dải ruy băng đỏ; Kim – chậu đựng cây phát lộc thường bằng kim loại.
Trong trường hợp chậu cây làm bằng thủy tinh, gốm sứ hay đất sét thì bên trong phải đặt một vài đồng tiền kim loại hoặc để một bức tượng bằng kim loại lên trên.
Số lượng cây khác nhau mang lại tác dụng phong thủy khác nhau, cụ thể như sau:
2 cây: Tình yêu và Hôn nhân.
3 cây: Hạnh phúc.
5 cây: Sức khỏe.
| Tên sao | Đẩu phận | Âm dương - ngũ hành | Chủ | Bị khảo |
| Địa kiếp | Trung thiên đẩu (thứ nhất) | Dương hỏa | Kiếp sát, phá tán | Rất bất lợi về tiền tài |
Thuộc tính âm dương ngũ hành của sao Địa Kiếp là dương hỏa, là sát tinh thứ nhất trong chòm sao Trung Thiên Đẩu, là một trong số lục sát tinh, chủ về sao cướp (kiếp sát), phá tán, là sao bất lợi nhất về tiện tài trong lục sát tinh, đồng thời cũng khá bất lợi về tình cảm. "Kiếp" (cướp) của sao Địa Kiếp là "Kiếp tài" (cướp của). Nó không phải từ lúc sinh ra đã vậy, là phần lớn có rồi mới mất mát, thâm chí mất nhiều hơn được, khiến phải gánh vác nợ nần gây ảnh hưởng tới đời sống thường ngày, khiến cho người ta phải chịu áp lực về vật chất lẫn tinh thần, hoặc vì vậy mà vướng vào kiện tụng phiền toái. Về tình cảm cũng gặp nhiều kiếp nạn, nên có thể nói sao Địa Kiếp là vua của các sát tinh, khiến đời người tựa như con thuyền trong giông bão, bấp bênh bất định.
Nếu sao Địa Kiếp độc tọa tại cung mệnh, chủ về một đời thăng trầm bất định, tâm tính cũng không có nguyên tắc, có lối suy nghĩ và nhân sinh quan khác người, đầu óc thông minh và linh hoạt, hành vi thì kì quặc lập dị, không theo lệ thường, không giỏi nă nói, không thể tụ tài. Nếu đại hạn, tiểu hạn gặp phải, chắc chắn sẽ phá tài.
Theo phong thủy, con người có thể chế ngự nhà tán khí và tụ khí tốt bằng các giải pháp đơn giản trong kiến trúc và đời sống như dọn dẹp nhà sạch sẽ, thiết kế nhà hợp lý…
Thế nào là nhà tụ khí/tán khí?
Minh đường (khoảng không gian trước nhà) là nơi nạp khí cho cả căn nhà. Khí tụ ở minh đường là một trong các điều kiện quan trọng để đảm bảo cho ngôi nhà được vượng khí. Vì khí có khả năng tụ trong nước nên thủy tụ ở minh đường sẽ giúp khí tụ. Để tăng cường khả năng hấp thụ khí ta có thể làm đài phun nước tuần hoàn. Các hạt nước nhỏ phun lên làm tăng diện tích tiếp xúc với khí, giúp tụ được nhiều khí hơn. Bên cạnh đó, để khí mang lại điều tốt cũng cần kiêng kỵ đường đi, dòng sông, suối đâm vào nhà. Bởi khí chuyển động dọc theo đường đi, sông suối tạo thành một dòng khí hẹp có tốc độ chuyển động lớn. Theo quán tính, dòng khí này giống như luồng nước ra khỏi vòi phun nước cứu hỏa bắn mạnh về phía trước. Xung lực của dòng khí này cành mạnh khi đường càng đông người qua lại với tốc độ cao (xe cơ giới) hoặc sông suối chảy siết, càng trở nên nguy hiểm. Tương tự như vậy, khe hẹp giữa hai nhà cao tầng cũng làm tăng tốc xung khí khi có gió thổi qua và gây nguy hiểm.
“Khí” là yếu tố quan trọng hàng đầu, cốt tủy trong phong thuỷ; là động lực của sự hình thành và phát triển của vạn vật. Khí được ví như nhiên liệu cho động cơ. Để động cơ hoạt động hiệu quả cần có nhiên liệu phù hợp với cấu trúc vận hành của động cơ. Trong cổ thư để lại khái niệm khí rất trừu tượng. Do sự trừu tượng này, mỗi nhà nghiên cứu phong thủy có cảm nhận khác nhau, không có tiêu chí để phân định đúng sai, gây nhiều tranh cãi. Tuy nhiên, khoa học hiện đại cũng đã ghi nhận sự tồn tại của một dạng vật chất đặc biệt bao quanh vật thể sống, có thể chụp ảnh bằng thiết bị đặc biệt. Đó cũng là một hình thức của khí theo quan điểm của nhiều phong thủy gia. Có thể định nghĩa như sau: Khí là một dạng tồn tại của vật chất, được hình thành bởi sự tương tác và vận động của những vật thể vật chất, đồng thời tương tác lên các vật thể vật chất ấy. Tính chất của khí phụ thuộc vào tính chất cấu trúc và tương tác của các vật thể vật chất. Sự vận động của khí được định hình tùy theo vị trí các dạng cấu trúc vật thể vật chất tương tác hình thành nên nó.
Theo quan niệm phong thủy, khí trong nhà bao gồm khí âm và khí dương. Khí dương được sinh ra do những tương tác giữa con người với đồ vật, ví dụ như bố trí, di chuyển đồ nội thất. Còn khí âm chính là cấu trúc và thiết kế ngôi nhà sinh ra. Trong phong thủy, tụ khí là hiện tượng những dòng khí, dòng năng lượng tập trung tại một vị trí hay một khoảng không gian nhất định. Thông thường, nhà tụ khí tốt cho gia chủ. Ngược lại, tán khí chính là sự phân tán của các dòng năng lượng ra môi trường xung quanh, không tập trung tại vị trí nhất định. Theo đó, ngôi nhà dễ tụ khí thường được bao bọc xung quanh. Tuy nhiên việc tập trung nhiều hay ít năng lượng lại phụ thuộc vào vị trí của ngôi nhà đó so với môi trường xung quanh. Ngoài ra, cấu trúc bên trong ngôi nhà cũng ảnh hưởng một phần. Ví dụ, một căn nhà có con đường đâm vào, dưới sự tác động mạnh mẽ của các dòng năng lượng dương do xe cộ đem đến sẽ khiến căn nhà nhận được khí. Nhưng việc đón quá nhiều khí lại hóa thành “lợi bất cập hại”. Vì nếu nhà không được thiết kế chống ồn có thể khiến người trong nhà sinh bệnh, ốm đau.
Ngoài những trường hợp tụ khí còn có thể kể đến những căn nhà không tụ khí, hoặc tụ năng lượng xấu. Điều này không có lợi cho người ở. Lâu dần sẽ phát sinh hiệu ứng không tốt lành. Theo đó, những ngôi nhà có thiết kế các cửa trong nhà đều thẳng ra cửa chính hay nhà ẩm thấp, không khí ngột ngạt cũng không thể tụ khí tốt được. Bên cạnh đó, con người sống cần nhiều năng lượng dương, năng lượng tốt để có thể phát triển được thuận lợi hơn (cũng như cá cần nước sạch để sống và sinh tồn được) bởi con người là sinh vật ưa sự vận động và sinh sống ở những nơi cao ráo sạch sẽ, chứa nhiều dương khí. Vì những lẽ đó nếu ngôi nhà tụ nhiều khí dương, năng lượng tốt thì cuộc sống của những người trong căn nhà đó sẽ trở nên tốt đẹp hơn, cuộc sống không chịu nhiều áp lực, tỉnh táo trong suy nghĩ, tư duy từ đó dẫn đến hiệu quả công việc của họ trở nên tốt hơn.
Giải pháp điều chỉnh “Khí” trong nhà
Theo phong thủy, con người có thể chế ngự nhà tán khí và tụ khí tốt bằng các giải pháp đơn giản trong kiến trúc và đời sống như dọn dẹp nhà sạch sẽ, thiết kế nhà hợp lý… Để chống hiện tượng tán khí nhà ở, trong phong thủy có nhiều cách khác nhau, tuy nhiên việc cốt yếu của vấn đề tụ khí hay tán khí chính là cấu trúc và vị trí của căn nhà với môi trường xung quanh nó. Một việc đơn giản và hiệu quả cao để chống tán khí chính là việc dọn dẹp sạch sẽ, tạo một môi trường sống lành mạnh cho không gian sinh hoạt của chính mình. Chính việc sắp xếp những đồ đạc trong căn phòng ngăn nắp và thuận tiện trong sử dụng là một biện pháp hiệu quả để dẫn những nguồn năng lượng tốt tiến vào ngôi nhà cũng như loại bỏ được những nguồn năng lượng không tích cực đến từ những tương tác lộn xộn của đồ vật trong căn phòng đó.
Sách Kinh xưa có viết: “Khí gặp gió (phong) ắt tán, gặp nước (thủy) thì dừng. Cổ nhân làm sao cho khí tụ chứ không tán, nước chảy có chỗ dừng”. Theo đó, khí nhẹ, lẫn vào không khí nên bị gió cuốn đi. Nếu gió nhẹ vừa phải sẽ có tác dụng dẫn khí lưu thông, được coi là tốt. Còn gió mạnh làm tán khí, mất khí lại là không tốt. Đồng thời, khí trong tự nhiên vận động dựa theo sức mang của không khí, khi gặp vật cản sẽ đổi hướng theo dòng khí. Khí gặp nước thì dừng, nghĩa là nước có khả năng giữ khí lại, nói một cách mang tính hình tượng hơn là nước có khả năng hút khí, hòa tan khí. Nước chảy chậm rãi, có chỗ dừng là rất tốt vì mang được khí tươi mới đến và lưu lại ở đó. Đó là nguyên nhân để các chuyên gia phong thuỷ nhìn dòng nước chảy để dự đoán khí vận trong lòng đất mà từ chuyên môn gọi là “Long mạch”. Tính chất của khí sẽ khác nhau tuỳ theo sự tụ thuỷ, sức chảy mạnh yếu trong lưu thông của dòng nước… Như vậy, việc sử dụng hiệu quả nguồn nước, tạo những tiểu cảnh sinh động trước mặt nhà hoặc những không gian sống cũng là một trong những biện pháp cải tạo môi trường cũng như giúp “tụ khí”. Ví dụ dùng bể cá trong nhà, khu tiểu cảnh ngoài sân vườn… Tuy nhiên, cần chú ý là các khu tiểu cảnh phải bố trí và sử dụng hợp lý để tránh độ ẩm, tiếng ồn, vệ sinh… ảnh hưởng ngược lại đến những người trong nhà.
Để nghiên cứu và xác định được những vị trí tụ khí và tán khí cần nhiều công sức. Đã có một số nhà nghiên cứu áp dụng mô hình hóa khí phong thủy bằng mô hình cơ học chất lưu và thu được những kết quả đáng kể. Sau những nghiên cứu về khí, người ta đã rút ra nhiều kết luận có tính hệ thống. Dựa vào cấu trúc cụ thể của từng căn nhà khác nhau có thể đưa ra được kết luận căn bản căn nhà đó có tụ khí hay không. Một ví dụ điển hình về căn nhà không tụ khí, đó là cửa chính nhà và cửa sau của nhà đối nhau và thông ra phía sau nhà. Những căn nhà có cấu trúc cửa như vậy sẽ tạo ra một luồng khí đi dọc từ cửa chính nhà đi ra sau nhà và không tụ lại tại các phòng trong ngôi nhà. Những nguồn năng lượng dương từ môi trường sẽ di chuyển thẳng từ cửa trước ra cửa sau khiến năng lượng không nạp vào trong phòng sinh hoạt, dẫn tới cuộc sống của những con người nơi này trở nên không tốt lành.
Hay trường hợp nhà có cầu thang thẳng ra cửa chính cũng không tốt cho người trong nhà. Theo quan niệm phong thủy, ngôi nhà có cấu trúc này tài sản, tiền của trong nhà dần dần “đội nón ra đi”. Để khắc phục tình trạng này, phong thủy đã đưa ra một số biện pháp như di chuyển cửa lệch nhau để những căn phòng trong nhà, cầu thang nên có bước ngoặt vào trong mà không nên thẳng ra cửa chính… Căn nhà tiếp cận được với những dòng năng lượng tốt, giữ năng lượng này tích tụ lại trong nhà, giúp cho những người sinh sống trong đó trở nên tích cực hơn.
Theo Việt Hà (Gia đình và xã hội)
![]() |
Cự Giải
3 chòm sao nữ sẵn sàng đổi tình lấy tiền![]() |
Đầu năm mua muối… Muối là biểu tượng của tình cảm thắm thiết, mặn nồng, gắn kết, no đủ, đồng thời nhắc nhở mọi người sống giản tiện chắt chiu như hạt muối để mong có sự sung túc.
![]() |
| Đầu năm mua muối (Ảnh minh họa) |
Ý nghĩa của việc “mua muối đầu năm” là để cha mẹ nhắc nhở con cái “ăn dè, ăn nhịn”, tiết kiệm để dành tiền “cuối năm mua vôi” xây nhà. Sở dĩ, câu nói này có ý nghĩa như vậy bởi, đối với người Bắc Bộ, “tậu trâu, lấy vợ, làm nhà” là 3 việc quan trọng nhất của đời người. Và cứ truyền đời như vậy, tục mua muối đầu năm đã trở thành phong tục văn hóa tốt đẹp của người Việt. Để mỗi độ đầu năm, người người lại ngóng chờ tiếng rao “Ai muối nào…”, mua lấy một chút mặt mà, hào phóng lì xì thêm vài đồng lấy may cho những người “đi làm sớm nhất năm” để đổi lấy ước mong một năm mới đậm đà, an khang.
Cuối năm mua vôi…
Lời chúc mừng nhân ngày nhà giáo Việt Nam dành cho thầy giáo. Truyền thống của Việt Nam ta là tôn sư trọng đạo. Để tri ân công ơn to lớn của thầy cô trong sự nghiệp ngàn năm trồng người, bạn hãy gửi đến thầy cô của mình những lời chúc hay nhất.
Đặc biệt, với những học trò cũ thì xa trường, xa thầy cô với mỗi người học sinh luôn là những kỷ niệm đẹp không thể nào quên. Chỉ có những dịp lễ, tết hay dịp đặc biệt nhân ngày Nhà giáo Việt Nam mỗi chúng ta mới lại được chở lại những kỷ niệm êm đềm ấy. Nhưng để có những lời chúc ý nghĩa nhất dành cho thầy cô giáo cũ không phải ai cũng có thể biết. Tổng hợp những lời chúc 20/11 tốt đẹp và ý nghĩa nhất dành tặng thầy giáo được đánh giá là hay nhất. Hãy tham khảo những gợi ý sau đây nhé bạn.
Lời chúc mừng nhân ngày nhà giáo Việt Nam dành cho thầy giáo
Dẫu đi khắp 4 phương trời, cũng không quên nổi lời thầy khắc ghi “tiên học lễ, hậu học văn”. Con không thầy con không lớn nổi thành người. Kính chúc thầy ngàn lời tốt đẹp, con mong thầy mạnh khỏe để chở thêm những chuyến đò sớm mai.
——–
Dù ngày hôm nay trò đã ở vị trí không phải là một người học sinh, nhưng trò vẫn luôn hướng về một nơi, một mái ấm gia đình thân yêu nhất và trong mỗi bài giảng của thầy dành cho học sinh, sinh viên, trò vẫn nhớ đến những người thầy của mình, nhớ về mái trường đã cho trò vững bước vào đời, với niềm tự hào, lòng biết ơn vô hạn.
Tháng 11 đầy ưu tư nhung nhớ, nhớ ký ức của một thời nhỏ dại. Nhớ thầy của những buổi đến trường, chúc cho thầy thân yêu của con mãi mạnh khỏe và thanh đạt.
Ngày 20/11 em xin được dành những lời chúc ý nghĩa nhất, những bó hoa tươi thắm nhất của mình, và tất cả những lời chúc đó, đều là dành cho thầy, em cũng như bao bạn khác được như ngày hôm nay đó là kết quả của thầy mang lại cho chúng em.
Tháng năm dầu dãi nắng mưa, con đò trí thức thầy đưa bao người. Qua sông gửi lại nụ cười, tình yêu xin tặng người thầy kính thương. Con đò mộc – mái đầu sương. Mãi theo ta khắp muôn phương vạn ngày
Dù đi khắp bốn phương trời, mãi nhớ về Người! Thầy như ánh nến soi tỏ đêm khuya. Như tấm bảng đen vẽ nên kiến thức trong mỗi học trò Dẫu mai đi bốn phương trời Những lời thầy dạy đời đời khắc ghi . 20 tháng 11 đã đến em chúc thầy sức khỏe dồi dào, hạnh phúc!
Con biết khóc trước những tấm lòng hi sinh cao cả, con biết đau trước những số phận éo le của đời người, con biết nhặt lấy chông gai trên đường để bảo vệ những người đi sau… Tất cả đều nhờ công ơn của thầy, 20/11 con xin gửi tới cô lời chúc tốt đẹp nhất.
Cứ mỗi mùa 20/11 về, những kỉ niệm về thầy cô, bè bạn, mái trường lại ùa về trong tâm trí con. Gương mặt gầy gầy, xương xương, giọng nói ấm áp và những lời dạy của thầy luôn in sâu trong trí nhớ con. Con cảm ơn thầy vì đã hết lòng dạy dỗ.
Mọi lời hay ý đẹp đều chẳng đủ để nói hết được công ơn của thầy dành cho chúng em. Dù đã khôn lớn, đã trưởng thành nhưng con luôn là cậu học trò bé nhỏ của ba trong ngôi nhà thứ hai đầy yêu thương ấy.
Một mùa 20/11 nữa lại về, xa thầy hàng trăm ki-lô-met nhưng vẫn muốn gửi đến thầy một lời chúc sức khỏe, chúc thầy luôn vui vẻ và tràn đầy nhiệt huyết để tiếp tục đưa thế hệ trẻ cập bến tương lai.
Lại một mùa 20 -11 để em có cơ hội gửi đến thầy những gì tốt đẹp nhất. Chúc thầy luôn trẻ trung vui tươi để mãi là người thầy, người chỉ đường gần gũi nhất với mọi học sinh. Chúc thầy luôn mạnh khỏe và luôn được các học sinh yêu quý. Mong thầy luôn tự hào và nhớ tới em. Ký tên: (Học sinh nguy hiểm và xuất sắc nhất của thầy).
Ơn dạy dỗ cao dường hơn núi, nghĩa Thầy như nước biển khơi, công Cha Mẹ con luôn tạc dạ, ơn Thầy con mãi ghi lòng. Nhân ngày nhà giáo Việt Nam con xin kính chúc thầy thầy mạnh khỏe, thành công trong sự nghiệp trồng người.
Thầy! thầy giống như ông em vậy, em chỉ muốn nói với thầy điều này thôi: Chúc thầy luôn luôn hạnh phúc đến tận giây phút cuối cùng của cuộc đời.Và một “1” trong 10000 điều hạnh phúc của thầy là chúng em!! những học sinh khóa cuối của thầy!
Happy smile :))
Ngày 20 đã đến, tháng 11 thân thương, kỷ niệm ngày hiến chương của các thầy giáo, em nay xin kính chúc các thầy cùng các thầy mạnh khỏe, thầyng tác tốt để dìu dắt chúng em thành con ngoan trò giỏi.
Là một đứa học trò cá biệt trong lớp, em đã làm thầy buồn thật nhiều. Đã có lần em bật khóc khi nhìn vào ánh mắt nặng trĩu của thầy. Nhân ngày nhà giáo Việt Nam em xin kính chúc thầy thật nhiều sức khỏe, thật nhiều thành thầyng. Em xin hứa sẽ không quậy phá, trốn tiết để thầy phải buồn nữa!
Em xin chúc tất cả các thầy giáo luôn mạnh khoẻ, trẻ trung, vui tính, luôn luôn giữ vững niềm tin và ngày càng nâng cao sự dũng cảm trước những đứa học trò nghịch như quỷ sứ chúng em. Happy Vietnam’s teacher day!
Nhân ngày nhà giáo Việt Nam em xin kính chúc thầy, gửi đến thầy lời chúc tốt đẹp nhất. Chúc các thầy hoàn thành nhiệm vụ cao cả của mình trong sự nghiệp trăm năm trồng người, trong công cuộc đổi mới của đất nước. Em chân thành cám ơn thầy.
Em không là học trò xuất sắc nhất của Thầy, nhưng Thầy là người mà em yêu quý nhất. Nhân ngày 20/11, kính chúc Thầy luôn mạnh khỏe, hạnh phúc và gặt hái được nhiều thành công trong sự nghiệp trồng người!
20 – 11 là một ngày thật sự ý nghĩa và em thật sự cảm thấy hạnh phúc khi nhìn thấy những nụ cười rạng ngời của thầy cùng những bó hoa tươi thắm. Càng trưởng thành em lại càng thấy thấm thía những gì thầy đã chỉ dạy! Nhân ngày 20 – 11 em xin chúc thầy sức khỏe, luôn tràn đầy nồng nàn nhiệt huyết với sự nghiệp ” Trồng người” của đất nước.
Những lời chúc ý nghĩa còn quý hơn những món quà đắt tiền gửi đến thầy
Nhân ngày nhà giáo Việt Nam 20-11, với tất cả tấm chân tình mà con muốn gửi đến thầy, kính chúc tất cả thầy luôn vui vẻ tràn ngập niềm tin trong cuộc sống, ngày nào cũng luôn gặp may mắn và thành thầyng trên con đường dạy học của mình, dìu dắt những học trò của mình thật tốt để sau này giúp đời.
Thầy là đốm lửa đã nhen nhóm lên ngọn lửa tâm hồn của chúng em. Thầy là những bậc thềm đá để chúng em bước từng bước tiến lên phía trước. Nhân ngày 20-11 con xin chúc thầy manh khỏe, công tác tốt!
Nếu hỏi: “Thành công bắt nguồn từ đâu?”
Em sẽ trả lời rằng: “Là thầy – người đã mang đến cho chúng em kiến thức, hành trang bước vào đời”.
Tháng 11 đã về, còn nhớ ngày này năm trước con được diện áo dài đi dự lễ kỷ niệm Ngày nhà giáo Việt Nam và được trông thấy nụ cười tươi giòn của thầy. Năm nay không được về nhà, con xin được gửi thật nhiều nắng gió của phương Nam, thật nhiều lời chúc mừng sức khỏe và hạnh phúc đến thầy nhân ngày 20/11!
Chúc mừng thầy nhân ngày Nhà giáo Việt Nam 20-11. Chúc các thầy luôn đủ tâm – trí – lực để ngày càng cống hiến nhiều hơn nữa cho sự nghiệp “trồng người”!
Chúc mừng ngày nhà giáo Việt Nam 20-11. Ở nơi phương trời xa, em xin kính chúc thầy, thầy luôn vui khỏe, hạnh phúc, chúc cho mọi lời chúc của tất cả học trò dành cho thầy thầy đều trở thành hiện thực
Mỗi ngày qua đi, thầy lại cầm tay dìu dắt chúng em đến gần hơn với chân trời kiến thức. Nhân ngày Nhà Giáo Việt Nam 20-11, em xin kính chúc thầy luôn luôn mạnh khỏe và hạnh phúc để mang đến cho chúng em thật nhiều những bài học hay và bổ ích!
Nghề giáo bao đời nay luôn được xem là nghề cao quý nhất – nghề “trồng người”. Người thầy, dù ở đâu cũng là những người được kính trọng nhất. Nhân ngày Nhà giáo Việt Nam, con xin gửi lời chúc mừng tốt đẹp nhất đến thầy!
Chúc mừng thầy nhân ngày Nhà giáo Việt Nam 20-11. Chúc thầy luôn đủ tâm, trí và lực để ngày càng cống hiến nhiều hơn nữa vì các em học sinh thân yêu.
Thầy là một biển lớn kiến thức, em lái con thuyền nhỏ, thả sức quăng lưới đánh bắt!
Xin gửi những lời chúc 20/11 hay nhất chân thành nhất từ đáy lòng đến thầy:
– Luôn giữ vững tình cảm: yêu trò, yêu nghề
– Giữ vững hơn nữa bản lĩnh nghề nghiệp: làm việc tận tâm, tận lực.
– Không ngừng trau dồi, học hỏi, nâng cao năng lực giảng dạy và sẵn sàng cách tân, đổi mới sáng tạo phương pháp giảng dạy.
Vui vẻ và hạnh phúc trong ngày này, luôn là tấm gương sáng về đức và tài trong mắt học trò và được hết thảy mọi người yêu quý!
Ở phương xa theo đại ngàn mây gió, con gởi niềm tôn kính đến thầy yêu.
Thầy ơi! Thầy đứng trên cương vị thiêng liêng đó, như một tháp chỉ đường chỉ dẫn hết lớp người này đến lớp người khác, hướng về phía trước, hướng về phía trước!
Thầy ơi! Tuổi tác đã hằn sâu những vết nhăn trên trán thầy, làm tóc mai thầy thêm sợi bạc, nhưng tấm lòng yêu thương của thầy đối với chúng em, mãi mãi không cạn kiệt.
Thầy ơi! Thầy đã dùng tình cảm cao cả nhất của nhân loại – tình yêu, để gieo hạt giống mùa xuân, gieo hạt giống ý tưởng, gieo hạt giống sức mạnh.
Xin chúc mừng thầy, thầy hãy cứ tin rằng, dù là 10 năm, 20 năm… hay bao nhiêu năm trôi qua đi chăng nữa, học trò vẫn luôn nhớ về mái trường thân yêu, nhớ những bàn tay đã dìu dắt trò những bước đi đầu tiên của cuộc sống tự lập.
Chúc thầy ngày nhà giáo Việt Nam siêu vui vẻ, siêu đẹp đẽ. Cám ơn sự quan tâm và giúp đỡ tận tình của thầy trong suốt những ngày đầu chập chững bước vào lớp. Chúng em yêu thầy nhiều nhiều lắm, siêu nhiều ạ!
Thời gian dẫu bạc mái đầu. Tim trò vẫn tạc đậm ơn thầy. Chúc mừng ngày nhà giáo Việt Nam 20/11. Chúc thầy mạnh khỏe và luôn chăm lo cho thế hệ tương lai
Mừng ngày nhà giáo Việt Nam 20/11. Kính chúc thầy cùng gia đình luôn mạnh khỏe và đạt nhiều thành tích xuất sắc trong sự nghiệp
Em chúc tất cả các thầy giáo luôn mạnh khỏe, trẻ trung, vui tính, luôn luôn giữ vững niềm tin và ngày càng nâng cao sự dũng cảm trước những đứa học trò nghịch như quỷ sứ bọn em. Happy Vietnam’s teacher day
Ngày 20 tháng 11 đến rồi!
Hôm nay em có vài lời tặng thầy:
Một là sẽ có ô tô
Nhà cao cửa rộng xài đô tiêu vàng
Hai là phú qúy an khang
Tăng cường sức lực sánh ngang võ tòng
Ba là vẻ đẹp xanh trong
Không bị lão hóa theo dòng thời gian
Cuối cùng là có nhiều “Fan”
Ùn ùn kéo đến tràn lan túi tiền !!!