Tướng người không có con –
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
![]() |
Điều gì quyết định nên vận may của bạn?![]() |
| => Xem tướng các bộ phận cơ thể đoán vận mệnh chuẩn xác |
Bình hoa phòng ngủ chuẩn phong thủy, chị em tươi phơi phới hoa dịp 8/3
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
Trong cuộc sống rất khó để đạt được sự hoàn hảo trong không gian cho dù bạn có là một kiến trúc sư tài ba, tuy nhiên bạn vẫn có thể có được một không gian lý tưởng bằng cách bày biện và bố trí sắp xếp đồ đạc cũng như các đồ vật trang trí hợp lý.
Không gian làm việc đòi hỏi sự tập trung tối đa, tránh bị ảnh hưởng bởi các yếu tố bên ngoài đồng thời đòi hỏi những nguồn năng lượng tốt để mang lại may mắn cũng như thành công trong công việc. Khi vị trí không gian làm việc không may gặp phải vị trí không thuận lợi khiến bạn gặp khó khăn trong cộng việc, bạn có thể tham khảo những ý kiến sau từ Công ty CP Kiến trúc và Đầu tư Xây dựng Hà Nội A&More để hóa giải không gian làm việc của cá nhân mình.

Ảnh hưởng tiêu cực từ máy tính
Máy tính là vật dụng không thể thiếu của người đi làm dù thuộc bất cứ ngành nghề hay vị trí nào, đặc biệt đối với dân công nghệ thông tin hay dân văn phòng, tuy nhiên sử dụng máy móc thường xuyên dễ gây ảnh hưởng không tốt tới tinh thần, sức khỏe của người làm việc, khiến người làm việc trực tiếp dễ rơi vào tình trạng bực bội, khó gần, nóng nảy, tập trung khó… Khi gặp phải trường hợp đó bạn có thể hóa giải bằng cách đặt một cốc nước để hỗ trợ làm giảm tính kim của máy tính, từ đó giảm bớt sự tiêu cực trong quá trình hoàn thành công việc.
Khu vực làm việc gần nhà vệ sinh
Việc sắp xếp vị trí bàn làm việc gần như bạn khó có khả năng thay đổi mà chịu sự sắp xếp của nhân viên quản lý, nếu vị trí ngồi của bạn là gần nhà vệ sinh thì vị trí đó thường xuyên chịu ảnh hưởng bởi các luồng không khí xấu từ nhà vệ sinh hướng ra cũng như từ chính sự đi lại của người làm việc trong văn phòng. Trong trường hợp này, bạn có thể hóa giải không gian bằng cách đặt một chậu cảnh có nhiều lá cây, cây có tán rộng vào vị trí giữa bạn và nhà vệ sinh để ngăn chặn luồng khí xấu này ảnh hưởng tới bạn.
Vị trí ngồi đối diện cửa chính
Tại các văn phòng của các công ty nhỏ dễ gặp phải trường hợp lãnh đạo công ty không có phòng làm việc riêng mà ngồi cùng các nhân viên tại văn phòng, tuy nhiên dù trong trường hợp nào bạn cũng nên tránh không đặt vị trí bàn làm việc đối diện với cửa ra vào hoặc vị trí ngồi mà lưng quay ra cửa, hai vị trí này đều nhận được nguồn năng lượng lớn hướng từ phía cửa chính từ đó mà bạn có thể bị chiếu hậu, bị chọc xấu khiến công việc gặp nhiều rắc rối, khó khăn và không ổn định, nếu do bắt buộc phải ngồi tại vị trí đó bạn có thể sử dụng bình phong để ngăn cách giữa chỗ bạn ngôi và cửa chính. Vị trí ngồi thích hợp nhất cho vị trí lãnh đạo của công ty là vị trí ngồi không đối diện với cửa chính đồng thời có thể quan sát hết được nhân viên làm việc trong văn phòng.
Có rất nhiều yếu tố cần phải chú ý trong phòng làm việc để không gian khu vực làm việc trở nên thoải mái, con người có thể tập trung cao trong công việc từ đó nhanh chóng hoàn thành được chỉ tiêu, nhanh chóng hoàn thành được công việc được giao. Chúng tôi hy vọng một vài lưu ý trên sẽ giúp bạn có không gian làm việc tốt hơn và đạt được hiệu quả cao hơn.
Với các nước phương Tây, mọi người nô nức vui chơi ở nơi công cộng trong đêm giao thừa để chờ đón giây phút chuyển giao giữa năm cũ và năm mới. Những quả bóng được thả rơi trong giây đầu tiên của năm mới, pháo hoa bắn sáng rực đất trời, mọi người cùng nâng ly chúc tụng nhau trong niềm vui mới.
Tết Dương lịch đã có từ lâu đời, biến đổi qua nhiều thiên kỷ trong lịch sử tiến hóa, mang dấu ấn lịch sử văn minh của con người và tồn tại đến ngày nay.
Hiện nay thế giới đón Tết Dương lịch vào ngày 1 tháng Giêng. Trong 400 năm qua, rất nhiều quốc gia đã chấp nhận ngày này là ngày New Year.
Tết Dương lịch là thời điểm đánh dấu một năm mới bắt đầu
La Mã là quốc gia đầu tiên chọn ngày 1 tháng Giêng làm ngày New Year trong năm đầu tiên 153 trước Công nguyên. Trước đó, 25/3 là ngày xuân phân (vernal equinox) được chọn là ngày đầu năm. Ngày năm mới này đã được đa số những quốc gia Cơ đốc giáo ở châu Âu chấp nhận (khoảng thời Trung cổ 1.100-1.400 trước Công nguyên).
Trải qua một thời gian khá lâu những quốc gia này mới chấp nhận sự thay đổi ngày tháng cho New Year bởi vì đầu óc cố hữu của họ. Với ngày tháng tính toán cho New Year không được phổ thông như những phong tục đang được bảo giữ, nó cũng không phải là thời điểm hoa màu hay những vụ mùa đặc biệt gắn liền với ngày tháng đó.
Cho nên người ta nghĩ đây chỉ là một ngày bình thường sau mùa bầu cử, sau thời gian các đại biểu trúng cử bắt đầu nhận nhiệm vụ mới trong chính quyền Đế quốc La Mã.
Muốn thay đổi ngày tháng New Year đã có từ trước là một việc làm to lớn đầy khó khăn cho việc tính toán làm Lịch.
Thời Đế quốc La Mã, sự thay đổi ngày tháng cho năm mới của họ đã tính ngược lại ba tháng tới tháng Giêng (tức là tháng Ba trở thành tháng Giêng). Do không có qui tắc nào của Lịch, trước đây nguyên gốc tháng 9, 10, 11, 12 đã đổi thành 7, 8, 9, 10 rồi xếp theo tuần tự.
Thời gian sau này các vị Hoàng đế La Mã của mỗi chính thể đã đặt tên mới cho các tháng, ví dụ như tháng Chín gọi là “Germanucus”, “Antonius” và “Tacitus”, tháng 11 có tên khác là “Domitianus”, “Faustinus” và “Romanus”.
Những sự bất tiện đó đã thúc đẩy vua Julius Caesar thiết lập nên bộ Lịch mới. Lịch này được phát minh bởi nhà Thiên văn học người Hy Lạp Alexandria (tính hệ thống thời gian cho Lịch theo mặt trời). Caesar muốn thay đổi ngày đầu năm từ ngày 1 tháng Giêng mà ông cho là hợp lý nhất, sẽ phù hợp với một trong những điểm chí (Solstices) hay điểm phân (Equinoxes) và tiết khí.
Để tưởng nhớ tới ông, Thượng nghị viện đã dùng tháng sinh nhật của ông (Quintilis) đổi tên thành tháng Bảy (July). Đến đời cháu của vua Caesar là Hoàng đế Augustus cũng có một tưởng thưởng danh dự tương tự để trao tặng cho ông được đổi tên Sextilis thành tháng 8 “August” , vì ông có công sửa sai trong sự tính toán của năm nhuận.

Lịch này không có những sửa đổi quan trọng nào cho đến năm 1582 khi Giáo hoàng Gregory XII nhậm chức, ông đã hợp nhất phương pháp tính Lịch hiện đại để phân chia tháng năm. Giáo hoàng sửa đổi và xác nhận ngày của năm mới là ngày 1 tháng Giêng bất chấp mọi chống đối của các hiệp hội tín đồ Cơ đốc giáo.
Những quốc gia Công giáo tiếp nhận ngày “New Year” sớm nhất, sau đó đến các nước theo đạo Tin lành, Đức chấp nhận ngày “New Year” năm 1700, Anh (1752) và Thụy Điển (1753).
Những nước phương Đông ảnh hưởng của nhiều tôn giáo như Hindus, đạo Lão, Phật giáo, Hồi giáo nhưng họ cũng dùng lịch giống Cơ đốc giáo. Nhật Bản chấp nhận ngày “New Year” Dương lịch vào năm 1873 và Trung Quốc (1912).
Những tôn giáo dòng chính thống của phương Đông cũng nhận ngày Tết Dương lịch muộn hơn vào năm 1924 và 1927. Nước Nga chấp nhận nó trong hai lần, lần đầu tiên năm 1918 và lần thứ hai 1924.
Các quốc gia như: Bulgaria, Cyprus, Egypt, Greece, Poland, Romania, Syria và Turkey đều ăn Tết vào ngày 01 tháng Giêng.
Người Trung Hoa tính theo hệ thống quay của mặt trăng cho nên ngày New Year đều rơi vào tháng bắt đầu có trăng khoảng trước bốn hay tám tuần khi mùa xuân đến. Ngày chính xác có thể vào khoảng giữa ngày 21 tháng Giêng hay ngày 21 tháng Hai của lịch “Gregorian Calendar”. Lịch Trung Hoa thiết lập không giống như lịch “Gregorian Calendar”, bởi vì phạm vi của mùa thay đổi. Và mỗi năm có một ký hiệu tượng trưng với 12 con Giáp theo qui tắc Ngũ hành với chu kỳ 60 năm.
Đối với Việt Nam, trước khi dùng Dương lịch, người Việt dùng Âm lịch. Lịch do triều đình soạn và ban hành, dĩ nhiên có chịu ảnh hưởng của khoa thiên văn và phép làm lịch của Trung Quốc. Tết Nguyên đán ở Việt Nam từ xưa cũng theo Lịch Trung Hoa.
Đời vua Lê và chúa Trịnh (thế kỷ 16-18) tên gọi cơ quan làm lịch của triều đình là Tư Thiên Giám. Hàng năm, Tư Thiên Giám soạn sẵn lịch cho năm sau, đến tháng 6 Âm lịch thì viết hai bản thảo, rồi dâng lên vua Lê và chúa Trịnh xin tiền in. Vua xem bản thảo xong, giao cho Trung Thư Giám viết lại, có Tri Giám trông coi việc khắc bản in. Tư Thiên Giám kiểm tra lại các bản khắc rồi mới cho đem in. Trong tháng Chạp, Tư Thiên Giám dâng vua Lê bản lịch mới in xong. Sáng ngày 24 tháng Chạp các quan vào triều làm lễ tiến lịch theo nghi thức do Bộ Lễ quy định rất tỉ mỉ. (Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, tập II, Hà Nội: NXB KHXH, 1992, tr. 69.)
Thời nhà Nguyễn, năm Minh Mạng vừa lên ngôi (1820), Bộ Lễ tâu vua xin chọn ngày mồng 1 tháng Chạp thiết đại triều ở điện Thái Hòa để làm lễ ban lịch. Lịch do Khâm Thiên Giám (trực thuộc Bộ Lễ) soạn ra. Năm 1833 triều đình quy định vào tháng 5 Âm lịch, Khâm Thiên Giám ở Huế gửi lịch mẫu ra Hà Nội in để cấp phát cho địa bàn từ tỉnh Ninh Bình trở ra Bắc. Quảng Bình, Quảng Trị, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh do Huế cấp phát. Năm 1940, vua Minh Mạng thay đổi địa điểm ban lịch: thay vì trong điện Thái Hòa thì tổ chức trước Ngọ Môn. Lịch giao về tới làng xã sẽ do các lý trưởng gìn giữ để dân chúng xem chung. (Theo Nguyễn Thị Chân Quỳnh, tại http:/vietsciences.free.fr).
Lễ ban lịch đời Nguyễn còn được gọi là lễ ban sóc hay chính sóc. Ngày rằm tức 15 Âm lịch gọi là vọng; ngày mùng 1 Âm lịch gọi là sóc; chính sóc là mùng 1 tháng Giêng.
Dù bạn là chủ một công ty, một doanh nghiệp, hay là chủ của một cửa hàng nhỏ thì trước khi khai trương ta phải chuẩn bị kỹ càng để cho mọi sự được như ý. Thì không thể thiếu được bàn thờ thần tài, vì bàn thờ thần tài chủ yếu là bàn thời để ở xó nhà, xó cửa mà không được để nơi trang nghiêm như bàn thờ gia tiên. Tuy nhiên bàn thờ thần tài vẫn chiếm một phần rất quan trọng.
Dù là ai thì khi mở cửa hàng hay khai trương công ty nhỏ đều muốn lộc làm ăn tới nhanh và luôn được mọt người quan tấm tới để có tài lộc dồi dào. Bàn thờ thần tài không thể thiếu và nhiều khi vượng khí và tài lộc mang lại cho gia chủ chính là nhờ những vượng khí từ bàn thờ thần tài. Riêng các vị Thần Tài, Ông Địa chỉ thờ dưới đất, trong góc hẹp, được lý giải bởi một truyền thuyết sau: Ngày xưa, có một người lái buôn tên là Âu Minh khi đi qua hồ Thanh Thảo được Thủy Thần cho một con hầu tên là Như Nguyệt. Âu Minh đem Như Nguyệt về nuôi, trong nhà làm ăn phát đạt, chỉ vài năm là giàu to. Người ta bảo Như Nguyệt là Thần Tài và người ta lập bàn thờ Như Nguyệt. Từ đó, ngày tết ta có tục kiêng hốt rác ba ngày đầu năm vì sợ hốt mất Thần Tài ẩn trong đống rác đổ đi, sự làm ăn sẽ không phát đạt, tiến tới được. Cũng có quan niệm cho rằng Thần Tài là một phiên bản của Thần Đất (Thổ Địa) – vị thần hộ mệnh của xóm làng, cai quản vùng trời, đất đai, phù hộ con người và gia súc trong xóm làng, mùa màng bội thu. Khi những cư dân từ miền Trung vào khai khẩn vùng đất Nam bộ, họ gặp phải rất nhiều khó khăn (thiên nhiên khắc nghiệt, thời tiết thất thường, thú dữ hoành hành…) và ý niệm trông mong vào các vị thần bắt đầu hình thành để giúp họ trấn an trên con đường mưu sinh. Thần Đất cũng là một trong các vị thần bản địa được họ mang vào phương Nam để thờ phụng, cầu mong cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Dần dà về sau, thương nghiệp phát triển, kinh tế hàng hóa phổ biến, nhu cầu mua bán, trao đổi phát triển, người ta cần vàng và tiền bạc hơn. Lúc đó, vàng, tiền bạc là thước đo của cuộc sống sung túc và nghèo hèn nên Thần Tài xuất hiện Không chỉ sửa soạn cho bàn thờ thần tài những ngày bình thường mà vào cả những ngày lễ tết, người ta luôn lo sắm sửa, lau dọn bàn thờ thần tài để ông mang những điều may mắn đến cho gia chủ hoặc mang tài lộc tới cho cửa hàng đó.
Nội dung chính của chúc thư thường là việc chia gia tài. Nhà có bao nhiêu ruộng đất, nhà cửa, chia cho con trai con gái, ai được hưởng khoảnh nào, mấy mẫu, mấy sào ở đâu, còn lại bao nhiêu dành cho mẹ làm của dưỡng lão, giao người nào chăm nom. Nếu còn bao nhiêu nợ làng, nợ họ cũng giao phó cho con nào phải đòi, phải trả. Quy định giành bao nhiêu làm ruộng hương hỏa, giao cho con trưởng hoặc cháu đích tôn. Di chiếu của nhà vua giao cho ai là đại thần có mệnh phò thái tử lên ngôi. Nếu ngôi thái tử chưa định thì chuyền chỉ cho hoàng tử nào nối ngôi...
Thời nay, nam nữ bình quyền, nếu cha mất trước đã có mẹ nắm toàn bộ quyền hành. Thời trước, người mẹ, người vợ sau 3 năm tang chồng nếu muốn tái giá thì đi tay không, nếu ở lại nuôi con cũng không được nắm toàn quyền, còn phải lệ thuộc các ông chú, ông bác trong họ. Nếu còn có nợ thì phải trả hết.
Thế nên, có những gia đình giàu có nhưng vô phúc, bạc đức: Cha mẹ nằm xuống anh em đùn đẩy nhau, chưa lo việc chôn cất, chỉ chăm chú tranh giành tài sản, để thiên hạ xỉ vả. Vì vậy, khi còn khoẻ, các cụ đã phải lo xa: Chia gia tài trước, định trách nhiệm sẵn, mua sắm bộ hậu sự (áo quan) có người còn dặn trước cả việc chôn cất, tang chế, cỗ bàn, đình đám..
Trích di chúc của Chủ Tịch Hồ Chí Minh:
| "...Suốt đời tôi hết lòng phục vụ Tổ quốc, phục vụ Cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa. Sau khi tôi qua đời, chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình, để khỏi lãng phí thời giờ và tiền bạc của nhân dân..." |
Ngày 10-5-1969 |
Di chúc của Tam nguyên Yên Đổ:
| "Kém hai tuổi xuân đầy chín chục Số thầy sinh phải lúc dương cùng Đức thày đã mỏng mòng mong Tuổi thầy lại sống hơn ông cụ thầy Học chẳng có rằng hay chi cả Cưỡi đầu người kể đã ba phen Tuổi là tuổi của gia tiên Cho nên thầy được hưởng niên lâu ngày. ấy thủa trước ông mày chẳng đỗ Hoá bây giờ cho bố làm nên Ơn vua chửa chút báo đền Cúi trông hổ đất, ngửng lên thẹn trời Sống không để tiếng đời ca thán Chết được về quê quán hương thôn Mới hay trăm sự vưông tròn Sống lâu đã trải chết chôn chờ gì? Đồ khâm niệm chớ nề xấu tốt Kín chân tay đầu gót thời thôi Cỗ đừng to lắm con ơi Hễ ai chạy lại con mời người ăn |
Tế đừng có viết văn mà đọc Trướng đối đừng gấm vóc làm chi Minh tinh con cũng bỏ đi Mời quan đề chủ con thì không nên Môn sinh chớ bỏ tiền đạt giấy Bạn của thầy cũng vậy mà thôi Khách quen chớ viết thiếp mời Ai đưa lễ phúng con thời chớ thu Chẳng qua nợ để cho người sống Chết đi rồi còn ngóng vào đâu Lại mang cái tiếng to đầu Khi nay bày biện, khi sau chê bàn Cờ biến của vua ban ngày trước Khi đưa thày con rước đầu tiên Lại thuê một lũ phường kèn Vừa đi vừa thổi mỗi bên dăm thằng Việc tống táng nhung nhăng qua quýt Cúng cho thầy một chút rượu hoa Đề vào mấy chữ trong bia, Rằng: "Quan nhà Nguyễn cáo về đã lâu" |
![]() |
![]() |
![]() |
Nữ mệnh sinh năm 1998, năm Mậu Dần, tuổi con Cọp, cung Khảm, mạng Thành đầu Thổ (Đất trên tường).
.jpg)
Cuộc đời có phần sung túc về vấn đề tình cảm, hoàn cảnh của cuộc đời tuổi nhỏ không đem lại nhiều niềm vui. Muốn tròn vẹn và có hạnh phúc, tiền bạc đầy đủ và dồi dào thì phải qua tuổi 30 trở đi mới có thể làm ăn được. Tiền vận còn nhiều vất vả gian nan vì cuộc sống hoặc nghề nghiệp. Trung vận mới có cơ hội tạo lấy sự nghiệp và hậu vận mới có thể sống an nhàn.
Xem tử vi của nữ mệnh Mậu Dần vào năm 2016
Vấn đề tình duyên của tuổi Mậu Dần có nhiều khe khắt, số sống về tình duyên như sóng gió ba đào, như ngọn thủy triều lên, xuống vô chừng không nắm được phần thắng lợi. Về vấn đề tình yêu được chia làm 3 giai đoạn:
Nếu bạn sinh vào những tháng 4, tháng 9 âm lịch thì cuộc đời có 3 lần thay đổi về tình duyên. Nếu bạn sinh vào những tháng 1, 2, 5, 8, 10 và 12 âm lịch thì bạn sẽ có hai lần thay đổi về vấn đề tình duyên và hạnh phúc. Còn nếu bạn sinh vào những tháng 3, 6, 7, 11 âm lịch thì cuộc đời của bạn được hoàn toàn hạnh phúc.
Trên đây là những diễn biến về tình duyên của tuổi bạn,tùy theo tháng sinh mà quyết định cuộc đời.
Phần gia đaoh có nhiều thắc mắc, không sống êm đềm mà trái lại thường nghi kỵ và có nhiều buồn tẻ. Vào hậu vận mới được yên vui, công danh nếu có cũng chỉ ở mức độ trung bình không phát triển được. Nếu không theo đuổi công danh thì việc làm ăn, buôn bán có cơ hội phát đạt, thuận lợi về giao thương, buôn bán.
Tiền bạc dễ dàng có được, nhất là từ năm 30 tuổi trở lên cuộc sống có phần vững chắc. Sự nghiệp tầm thường, không hoàn toàn giữ được sự nghiệp bền lâu. Thường hay gặp trở ngại trong sự nghiệp, mãi đến năm 40 tuổi mới vững chắc được.
Trong việc kết hôn hay lựa chọn người để được trao thân, gửi phận, muốn sống một cuộc sống đầy đủ, có thể tạo nên sự nghiệp và được hưởng sự sung sướng trên đời, bạn cần kết hôn với những tuổi sau đây, rất hợp về vấn đề tình duyên và còn hợp cả đường tài lộc nữa. Đó là các tuổi: Kỷ Mão (1998), Quý Mùi (), Ất Dậu (2005), Đinh Hợi (2007), Đinh Sửu (1997), Ất Hợi (1995).
Nếu bạn kết hôn với tuổi Kỷ Mão, Quý Mùi thì cuộc sống được thêm phần sung túc, về phần tài lộc được đầy đủ, cuộc đời được sung sướng hoàn toàn.
Nếu bạn kết hôn với tuổi Ất Dậu, Đinh Hợi: hai tuổi này có cơ hội phát triển cả về công danh lẫn sự nghiệp, cuộc sống hoàn toàn được hạnh phúc và êm đẹp.
Nếu nữ Mậu Dần hết hôn với nam tuổi Đinh Sửu, Ất Hợi thì cuộc sống được phát triển tới mức giàu sang phú quý, con cái được sum vầy hạnh phúc.
Những năm mà tuổi Mậu Dần không nên kết hôn là khi bạn ở các độ tuổi: 20, 26, 32, 38, 44, 50, 59 tuổi. Vào những năm này thì rất xung kỵ với tuổi của bạn, không nên kết hôn vì nếu kết hôn thì có thể gặp phải cảnh xa vắng, chia lìa trong cuộc đời.
Với những bạn sinh vào tháng 1, 2, 4, 5 âm lịch thì có số đa phu ( nhiều chồng), hoặc có phần đa đoan về chồng con.
Từ năm 19 đến năm 25 tuổi:
Năm 19 tuổi có nhiều điều tốt đẹp về việc làm ăn, vào những tháng 6 và 9 âm lịch thì có nhiều tài lộc, nên cẩn thận vào tháng 4 âm lịch. Năm 20 tuổi thì năm này cũng tương đối tốt, làm việc gì cũng thu được nhiều thắng lợi, toàn năm nắm chắc được phần thắng lợi trong tay. Vào năm 21 tuổi, năm này có 3 tháng tốt đẹp là tháng 3, 7 và 11 âm lịch, ba tháng này nên khuếch trương việc làm ăn, giao dịch tiền bạc thu được nhiều kết quả, với những tháng khác thì bình thường. Vào năm 22, 23 tuổi thì hai nă này trung bình, làm ăn phát triển dần, thu được ít thắng lợi và không có hao tài. Vào năm 24 và 25 tuổi, năm 24 tuổi thì có nhiều chuyện may mắn về đường tình cảm, về đường tài lộc thì kém may mắn hơn, năm này không nên đi xa có hại; năm 25 tuổi kỵ và xung khắc vào những tháng 4, 6 và 8 âm lịch. Ba tháng này có hao tài, những tháng khác bình thường.
Từ năm 26 đến năm 30 tuổi:
Năm 26 tuổi gặp nhiều may mắn trong việc phát triển sự nghiệp, công danh hay việc làm ăn có cơ hội tốt đẹp cho cuộc đời bạn. Năm 27 tuổi, năm này giao thương vào những tháng 3 và 7 âm lịch là tốt nhất, tháng 9 và tháng 11 âm lịch không nên đi xa hay giao dịch về tiền bạc. Năm 28 tuổi có đau bệnh làm hao tài tốn của vào những tháng 4 và tháng 6 âm lịch. Năm 29 tuổi tròn vẹn, mọi công việc đều có thể làm được những không thu được nhiều kết quả lắm. Năm 30 tuổi, năm này có hoạnh tài, hay có nhiều việc tạo nên sự nghiệp, tiền bạc bất ngờ.
Từ năm 31 tuổi đến năm 35 tuổi:
Năm 31 tuổi toàn vẹn, việc làm ăn bị ngưng trệ đôi chút, những tháng 8 và tháng 12 âm lịch thì kỵ đi xa. Vào năm 32 tuổi thì năm này hoàn toàn yên tĩnh không có sự thay đổi hay biến động về nghề nghiệp cũng như về cuộc đời. Năm 33 tuổi, việc làm ăn có nhiều sự vững chắc và quyết định. Năm này tao lộc khá dồi dào. Vào năm 34 và 35 tuổi, hai năm có thể hoàn thành sự nghiệp vĩ đại một cách dễ dàng không có một sự thất bại hay hao hụt về tiền bạc.
Từ năm 36 đến năm 40 tuổi:
Năm 36 tuổi trung bình, không có sự việc gì ảnh hưởng quan trọng đến cuộc đời. Vào năm 37 tuổi thì năm khá tốt đẹp cho tuổi đi xa, giao dịch về tiền bạc, nhất là tháng 9 và tháng 10, kết quả tốt đẹp về tiền bạc. Vào năm 38 tuổi thì được bền vững về tình cảm hạnh phúc hôn nhân gia đình. Năm 39 tuổi có hy vọng thành công về đường con cái và tài lộc lẫn tình cảm. Năm 40 tuổi là một năm toàn vẹn, năm này có sự vui mừng trong gia đạo, tài lộc bình thường.
Từ năm 41 đến năm 45 tuổi:
Khoảng thời gian này việc tài lộc được trung bình, việc làm ăn khá tốt, tuy nhiên việc bổn mạng hơi suy kém vào số tuổi 42. Năm 43 tuổi kỵ tháng 10. Năm 44 tuổi năm này vững về bổn mạng, nhưng hao kém về tài lộc, năm 45 tuổi thì kỵ 3 tháng đầu năm.
Từ năm 46 tuổi đến năm 50 tuổi:
Những năm này có số tốt, không có những thu hoàng nhiều về tình cảm, tài lộc mà gia đình có nhiều vui vẻ. Năm 46 tuổi, bổn mạng vững chỉ kỵ tháng 10. Năm 47 tuổi có phần tốt đẹp, những lại có bệnh tật hay hao hụt tiền bạc, tình cảm không được dồi dào. Năm 48 tuổi, năm này hơi xấu, nên cẩn thận về sực khỏe, tiền bạc trung bình. Năm 49 tuổi thì những tháng 2, 7 âm lịch là tháng tốt, riêng tháng 11 có xung kỵ. Năm 50 tuổi bổn mạng không được toàn vẹn, nên cẩn thận về con cái và tiền bạc.
Sinh năm 1998 vào năm 2016 gặp sao chiếu mệnh là sao Kế Đô. Vào năm 2017 thì gặp sao chiếu mệnh là sao Vân Hán cần phải cúng giải hạn sao Vân Hán vào ngày 29 hàng tháng âm lịch.
Hướng bếp hợp người sinh năm 1969:

– Ngũ hành: Đại Trạch Thổ (Đất nền nhà)
– Thuộc Đông Tứ Mệnh, nhà hướng Bắc, thuộc Đông Tứ Trạch
– Hướng tốt: Bắc (Sinh Khí); Đông (Diên Niên); Đông Nam (Phục Vị); Nam (Thiên Y);
– Hướng xấu: Tây Bắc (Hoạ Hại); Đông Bắc (Tuyệt Mệnh); Tây Nam (Ngũ Quỷ); Tây (Lục Sát);
Đại vận trong lá số tử vi là chỉ cát hung họa phúc trong 10 năm của mỗi người. Trong lá số tử vi đại vận được ghi rõ mang các con số ở góc phải trên cùng của mỗi cung.
Thí dụ: Đại vận ở cung Thê số 22, là Đại vận trong thời gian từ 22 đến 31 tuổi.
Các yếu tố để tính Đại vận trong tử vi gồm có Thiên Thời, Địa Lợi và Nhân Thời.

1. Địa thời trong tử vi
Yếu tố này là yếu tố thông thường, các sách đều có ghi.
Lấy hành của cung Đại vận, đem so với hành của Mạng mình. Như tuổi Kỷ Sửu Mạng Hỏa, Đại vận đến cung Hợi, hành Thủy, là mạng bị cung Đại vận khắc. ’
Sau đây là các trường hợp:
- Tốt nhất Cung Đại vận sinh cho Mạng
- Tốt nhì Cung Đại vận đồng hành với Mạng
- Tôt 3 Mạng khắc cung Đại vận
-Xấu - Mang sinh cung Đại vận (sinh xuât)Xấu - Cung Đại vận khắc Mạng Yếu tố này nhẹ, được xếp hàng thứ ba. Tuy nhiên, nếu 2 yếu tố' kia mất được yếu tố Địa Thời này, thì còn gỡ được.
Nhân thời được tính bằng các sao tốt hay xấu trong Đại vận, gồm có chính tình trung tinh và hung tinh.
a - Trước hết phải ghi những sao nào có ảnh hưởng trong Đại vận.
- Đó là những sao trong chính cung Đại vận và các sao ở cung tam hợp về cung xung chiếu, thì tam hợp cung Đại vận có khắc được tam hợp cung xung chiếu, thì mới đạt được những sao tốt và khước từ những sao xấu. Ngược lại, tâm hợp cung xung chiếu khắc được tam hợp Đại vận, thì Đại vận bị gán cho những sao xâu mà không dành được những sao tốt.
- Về cung nhị hợp, tam hợp cung nhị hợp có sinh cho tam hợp Đại vận, thì Đại vận mới có được các sao nhị hợp. Nếu không sinh cho thì Đại vận không được.
b Kế đó, xét các sao trong Đại vận (cung tam hợp, cung xung chiếu, cung nhị hợp).
-Chính tinh đắc địa là tốt; hãm địa là xâu; hãm địa phải có Tuần, Triệt mới tốt;
đồng hành và Mạng hay sinh cho Mạng càng tốt hơn; khắc hành Mạng lại là xấu.
- Trung tinh tốt là được tốt, hợp chính tinh càng tốt.
- Gập hung tính hãm là xấu; hung tình có hành khắc Mạng hay khắc hàng Can của năm sinh càng xấu: Hung tinh đắc địa thì tốít gặp đúng quan thầy trong bộ Sát, Phá, Tham càng tốt hơn (phát mạnh).
Đại vận đi đến cung nào, các biến cố thường xảy ra liên quan đến sự kiện chinh ở cung đó (đại vận đến cung Phối hay tam hợp Phối, thường cưới xin; đến cung Tài thường có việc liên quan tiền bạc; đến cung Ách, thường gặp tai ách).
Các thế sao ở Đại vận thường cho biết về chi tiết biến cố:
- Hỷ Thần, Thiên Hỷ, Đào, Hồng, Long Phương: Hôn nhân
- Xương, Khúc, Khôi, Việt, Khoa, Phụ Cáo, Tướng An, Tứ linh: Long Phượng Hổ Cái, Thai Tọa, Quang Quý; Khoa Quyền Lộc, Tả Hữu, Đào Hồng Hỷ, Thiên Mã, Mã ngộ Tràng sinh: Thi đậu, thành đạt công danh.
Chú ý:
Thứ tự quan trọng của 3 yếu tố Thiên Thời, Địa Thời, Nhân Thời:
- Đại vận được cả 3 yếu tố thì rất tốt
- Được hai yếu tố còn tốt
- Được một yếu tô'còn vớt vất được
- Mất cả ba yếu tố thì rất khó
Phần I các bạn có thể xem tại đây: Đại vận 10 năm trong lá số tử vi của bạn (P1 Thiên thời)
Xem Tướng chấm net chúc mọi người năm mới an khang thịnh vượng !
Kết thúc tết, theo tập quán của dân gian ta thì đây được gọi là lễ hóa vàng. Thường được tổ chức vào ngày mồng 3 hoặc ngày hạ mồng 7 âm lịch. Cứ hàng năm, vào ngày này thì mọi gia đình làm lễ Tạ năm mới, hóa vàng cho tổ tiên, người đã khuất để họ trở về âm phủ.
Tùy theo mỗi gia đình và phong tục của từng miền thì có sự chuẩn bị mâm cỗ khác nhau. Theo quan niệm dân gian thì lễ tạ năm mới còn được gọi là lễ tạ gia tiên, gia thần và chư vị thành thần, phật. Sau khi lễ xong, các gia chủ sẽ thực hiện hóa vàng. Khi hóa vàng cần phải theo trình tự sau: Tiền, vàng của gia thần phải được hóa trước, tiền vàng, đồ dùng của tổ tiên hóa sau.

Xem thêm: Văn khấn thần linh và gia tiên cho ngày rằm tháng giêng
Na mô A DI Đà Phật
Na mô A DI Đà Phật
Na mô A DI Đà Phật
Kính lạy:
+ Hoàng thiên Hậu thổ chư vị Tôn thần
+ Ngài Đương niên, Ngài Bản cảnh Thành hoàng, các ngài Thổ địa, Táo quân, Long mạch, Tôn thần.
+ Các cụ Tổ khảo, Tổ tỷ, nội ngoại tiên linh.
Hôm nay là ngày mồng 3 tháng giêng năm Đinh Dậu
Tín chủ con là ……………………..
Ngụ tại ……………………………….
Thành tâm sửa biện hương hoa phẩm vật phù tửu lễ nghi, cung trần trước án. Kính cẩn thưa trình: tiệc xuân dã man, nguyên đán đã qua, nay xin thiêu hóa kim ngân, lễ tạ Tôn thần, rước tiễn tiên linh trở về âm giới.
Kính xin: Lưu phúc, lưu ân, phù hộ độ trì, dương cơ âm hộ, mọi chỗ tốt lành. Con cháu được chữ bình an, gia đạo hưng long thịnh vượng. Lòng thành kính cẩn, lễ bạc tiến dâng, lượng cả xét soi, cúi xin chứng giám.
Cẩn cáo.
Khi gửi đồ vàng mã cho vong linh nên ghi vào giấy đầy đủ như các đồ hiến cúng bao gồm những gì, gửi cho ai, mộ táng tại đâu. Giống như ta gửi ở trần sau thì âm vậy, phải có tên địa chỉ người gửi, người nhận. Khi hóa mã xong, nên đọc câu kinh xin tôn thần kính rước vong linh về nơi âm giới.
Bài văn khấn dưới đây có thể áp dùng có tất cả trường hợp hóa vàng như cho ngày Tết, ngày lễ, ngày mồng 1 và rằm hàng tháng,ngày giỗ chạp, ….
Na mô A DI Đà Phật
Na mô A DI Đà Phật
Na mô A DI Đà Phật
Kính lạy:
+ Hoàng thiên Hậu thổ chư vị Tôn thần
+ Thần Vũ Lâm sứ giả
Hôm nay là ngày………
Tín chủ con là……………..
Ngụ tại số nhà …………………………….
Này nhân tiết (nhân ngày) ………………………….
Âm dương cách trở, ngày tháng vắng tăm. Lòng con cháu tưởng nhớ khôn nguôi., đã sắm sanh quần áo, dụng cụ, tiện nghi khác chi lúc sống, nhưng xin theo lỗi đường âm, báo đáp ân thâm, tỏ lòng hiếu kính. Xin được kính dâng Hương Linh gia tiên chúng con là:
1.Hương linh: ……………………………..
Mộ phần táng tại:…………………..
Đồ mã gồm:……………….
2.Hương linh: …………………………….
Mộ phần táng tại: ……………………
Đồ mã gồm:………………………………..
Mọi thứ kể tên rành rõ trong giấy vong nhận, không lo ngại quỷ, chứng kiến chúng con trình lên trên xét, hội trí nhờ Đức Vũ Lâm. Kính ngài cho phép vong linh được nhận.
Cẩn cáo
Đừng bỏ lỡ: Xem ngày tốt mở cửa hàng đầu năm 2017
Trong cuộc sống vật chất gay go, đầy thử thách, và biến động, nhất là thời cổ đại, con người luôn luôn lo lắng cho tương lai, và tìm mọi cách để tìm hiểu bí mật của nó, và thường tin tưởng ở sự chỉ dẫn của Thần Linh.
Ngày nay, khoa học đã tiến bộ một bước dài với nhiều phát minh, khám phá kỳ diệu, có tầm vóc lớn lao ..nhất là thế kỳ 20, nhưng thực ra, còn nhiều điều khoa học chưa giải thích nổi, những sự bất công, bất như ý..còn đầy rẫy trong xã hội ..nên người ta còn cần tìm hiểu , kiếm giải đáp để dược yên tâm một phần nào,- những môn bói toán ..phát nguyên từ đó.
Ở phương Đông hay ở phương Tây, những môn bói toán được nhiều người biết đến là : Tử Vi đẩu số, Tứ Trụ, Bát Tự (Tử Bình), Mai Hoa, Lục Nhâm..Bói Bài Ai Cập (Tarot) ,Chiêm Tinh, Tướng Tay, Số học (Numerology) vv..
Gần đây, cả thế giới (Đông Tây) lại chú ý đến quyển Kinh Dịch của Trung Quốc, một cổ thư ra đời cách cả 5 ngàn năm, mà trước đây có một số người coi
thường vì cho nó chỉ là một sách bói toán.
Đa số những người trong giới khoa học (hay tự cho mình là văn minh, tiến bộ),
đều không tin giá trị của môn bói toán, lẽ giản dị vì họ chưa kiểm nghiệm, chứng minh được như các bộ môn (khoa học) khác: toán, lý, hóa, sinh vật học.. và, dĩ nhiên, họ cho những người tin bói toán là mê tín..
Sự thật thì-như trên đã viết, với trình độ hiện thời, có nhiều điều khoa học chưa- (hay không bao giờ) giải đáp được, mà khi chưa hiểu rõ, không cắt-nghĩa được.. thì không thể hoàn toàn phủ nhận những sự kiện của người khác nêu ra hay đã kinh qua
nhiều lần (để có thể tin tưởng).
Vậy, những môn bói toán, những phương thuật tìm hiểu tương lai có giá trị gì không và có thể tin tưởng được phần nào không. Câu trả lời sẽ không thể là toàn diện và đồng nhất, vì sẽ tùy theo sự cảm nhận, và kinh nghiệm của mỗi người, cũng như kẻ tu hành đã chứng quả tối thượng thì chỉ có họ nhận biết thôi!
Trong tập thơ “ Ta thấy hình ta những miếu đền”, nhà văn, nhà thơ Mai Thảo đã
có một nhận xét chí lý, khi ông viết (đại ý): Thế gíới có triệu điều không hiểu và ông hi vọng sẽ khám phá ra được, khi đã nằm xuống..
Riêng chúng tôi, cũng như một số bạn đồng chí hướng, từ thủa nhỏ đã nhiều lần thắc mắc về những vấn đề siêu thực (huyền bí) trong đó có bói toán, mà thịnh hành nhất ở Việt Nam là môn Tử Vi đẩu số, Độn Lục Nhâm..
Với những sự nghiên cứu và khảo nghiệm riêng từ nhiều năm, chúng tôi tin tưởng ở giá trị của môn bói toán, nếu những kẻ hữu quan tuyệt đối thành tâm, và người đoán số hay quẻ có đủ bản lãnh và kinh nghiệm.
Trong các môn bói toán (hay xem số) thì Bốc Dịch là môn khó vận dụng nhất, bởi vì những giải thích (quẻ hay hào từ) thường mù mờ, nước đôi..không trả lời dứt khoát vào câu hỏi của đương sự . Kẻ viết đã lưu tâm tìm kiếm được quyển Bốc Dịch lập thành, truyền là của nhà số học Trần Đoàn (đời Tống) sọan ra, đã thử thì thấy khá ứng nghiệm (nếu có dịp, sẽ xin trình bày cặn kẽ).
Bói toán cần có lòng tin, mà khi tâm đã thành và tịnh thì hình như bói cách nào cũng ứng, bởi thế mới có Bói Kiều ..và vô số phương pháp khác. Dưới đây là một kinh nghiệm mới nhất mà kẻ-viết mới trải qua, xin trình bày để quí bạn độc giả nhận xét.
Trong dịp bàu Tổng Thống Mỹ (ngày 7/11/20) vừa qua, một vài bạn có nhắc chúng tôi thử bói (Dịch) xem kết quả thế nào. Thực sự, kẻ-viết rất bận, và cũng không quan tâm đến cuộc bàu cử này lắm, nên cứ ngần ngừ..đợi cho hết việc, mới làm. Đến gần 12 giờ đêm, thấy mọi người đều đã mệt mỏi chờ kết quả bàu cử (25 phiếu cử tri đoàn của Florida), kẻ-viết chợt nghĩ ra một cách bói đơn giản, để mọi người tạm yên tâm đi ngủ.
Sau khi tĩnh tâm giây phút để cảm thông với Vô Hình lực, kẻ-viết đã dùng (một) đồng Quarter của Mỹ để xin bói thử, với ước định mặt có hình người là ứng cử viên Bush và mặt kia là ứng cử viên Gore. Sau khi xóc vài vòng, đồng tiền được tung lên, rồi rơi xuống với hình người lật ngửa, có ý nghĩa là Bush sẽ thắng, và quả nhiên độ nửa giờ sau, có tin Bush đã lượm 25 phiếu cử tri đoàn Florida.
Qua nhiều lần bói quẻ theo sách Bốc Dịch lập thành, kẻ-viết nhận thấy 80% số câu hỏi đã dược giải đáp rõ ràng, và kết quả đúng như lời giải đoán. Kẻ viết còn giữ lại ký lục của những Quẻ (Dịch) và Hào đã bói theo lối gieo đồng tiền (6 lần, mỗi quẻ)
để chiêm nghiệm, và sẽ trình bày lại đầy đủ, nếu có cơ hội thuận tiện.
Nhân tiện đây, chúng tôi cũng xin góp vài ý kiến về tìm hiểu Kinh Dịch, một tác phẩm để bói toán từ lâu đời, đang được các giới học giả Đông Tây nghiên cứu, bàn luận ..để tìm hiểu ý nghĩa chính xác và sự áp dụng của nó trong việc dự (tiên) đoán tương lai.
Dự đoán học nhằm đoán trước tương lai , tức là xu thế phát triển hoặc kết cục tương lai của sự vật, gần hay xa . Chu Dịch có thể là bộ sách chuyên môn ra đời sớm nhất trên hoàn vũ , và chiêm bốc (đoán) là một phần của Chu Dịch (Tượng,Số, Lý, Chiêm). Có thể nói, Chu Dịch lấy chiêm bốc làm hình thức thực hiện.
Quái từ (quẻ) và hào từ chứa đựng những tin tức, qui nạp từ thực tế xã hội
và nhân sinh. Chu Dịch được coi là sách dự đoán cấp cao vì nội dung chứa đựng những nguyên lý dự đoán rất ảo diệu, phương pháp đa dạng, giá trị dự đoán rất cao qua nhiều thời đại về nhiều mặt, thời tiết, phong thủy, cát hung, họa phúc ..
Ngoài phương pháp dự đóan thường thấy như Bốc Dịch theo tượng quẻ, theo lục hào, còn có Kỳ môn độn giáp, Lục nhâm thần toán, Tứ trụ (Bát tự) Tử Bình, Thiết bản thần số ..là những trường phái chiêm phệ khác nhau .
Đã một thơi gian dài, Chu Dịch chỉ được một thiểu số để tâm nghiên cứu ( giơi Nho sĩ cầm quyền ở Trung Quốc, Việt Nam..) và dưới một số chế độ mới, nó từng bị coi là mê tín dị đoan, nếu không phải là bị cấm kỵ.
Thời gian gần đây, ở Trung Quốc, việc nghiên cứu Chu Dịch như được sống lại, ngày càng trở nên rộng rãi, do công lao của các đại Dịch học gia như Thiệu Vĩ Hoa.-.cháu nhiều đời của nhà lý số Thiệu Khang Tiết ( đời Tống), truyền là tác giả sách Mai Hoa Dịch Số,- đã đem dự đoán Chu Dịch ứng dụng vào thực tế, được kiểm chứng vớI khoa học, nên được nhiều tầng lớp trong xã hội tôn trọng, độc giả trong, ngoài nước (Trung Quốc) hoan nghênh .
Nguyên lý Âm Dương được thể hiện trong Chu Dịch qua tượng quẻ và các hào, đó là tính cách Cương Nhu của hào và quẻ với hai ký hiệu __ và _ _để gọi tên các
Hào Dương và Hào Âm.
Trong thiên Thiên Hà, Trang Tử nói: Dịch lấy âm dương làm Đạo . Lại nữa,
Trong Dịch truyện, Hệ từ nhắc lại: Nhất âm, nhất dương chi vị Đạo, có ý nói là
Mâu thuẫn biến động của âm dương (hai cực đối lập) là động lực phát triển của sư vật và xã hội.
Ngoài ra, quan niệm về Ngũ hành sinh khắc , phôi thai từ triều Ân (Trung quốc), đã có mầm mống trong Chu Dịch qua yếu tố Thủy Hỏa .Cổ nhân chia vạn vật ra làm 2 loại lớn là Âm và Dương, còn Kim, Mộc, Thủy ,Hỏa, Thổ là những vật chất cơ bản để tạo thành thế giới.
Sách Hà Lạc nguyên lý nói: Thái Cực sinh ra âm dương, âm dương hợp hóa
ra ngũ hành, các hành vừa là mầm mống , vừa là thành tố của vạn vật.
Dự đoán Chu Dịch gắn liền với ngũ hành, âm dương, và Bát quái của Chu Dịch lại là sự vận dụng qui luật ngũ hành, giải thích và nói rõ mối quan hệ và sự biến hóa của các sự vật và hiện tượng trên thế giới
Giữa ngũ hành có luật tương sinh, tương khắc, cũng như âm dương, là hai
mặt gắn bó-với-nhau của sự vật. Có sinh khắc mới duy trì được sự cân bằng và điều hòa trong quá trình phát triển và biến hóa của sự vật. Mối quan hệ trong âm có dương, trong dương có âm, trong sinh có khắc, trong khắc có sinh, tương phản, tương thành, dựa vào nhau đã duy trì và thúc đẩy vạn vật sinh trưởng, phát triển, biến hóa bình thường.
-Về Ngũ hành tương sinh. Mộc sinh Hỏa Hỏa sinh Thổ Thổ sinh Kim
Kim sinh Thủy Thủy sinh Mộc
Theo Mệnh lý thám nguyên, Mộc tính ấm, do Hỏa phục mà sinh ra nên nói là Mộc sinh Hỏa .
Hỏa nhiệt có thể đốt cháy mộc thành tro, nên nói là Hỏa sinh Thổ .
Thổ sinh Kim vì kim loại ẩn tàng trong núi (đá hay đất).
Kim sinh Thủy vì có khí thiếu âm chảy thành nước.
Thủy sinh Mộc vì cây cốI nhờ có nước mớI sinh trưởng..
-Về Ngũ hành tương khắc.
Đó là Mộc khắc Thổ Thổ khắc Thủy Thủy khắc Hỏa Hỏa khắc Kim Kim khắc Mộc.
Trong quan hệ tương khắc có hai mặt, khách khắc chủ là (hại), và chủ khắc khách, trái lại, là tốt.
GIEO QUẺ
Thông qua tượng quẻ để đoán cát hung, muốn thế cần phải học cách gieo quẻ .
Gieo quẻ sai, tất cả sẽ sai dù bản lĩnh cao, mà muốn bản lĩnh cao, cần nắm vững các kiến thức cơ sở liên quan đến việc gieo quẻ.
Theo một số tài liệu hướng dẫn, muốn gieo quẻ trước hết cần :
- Có Lịch âm dương, tức là lịch Vạn niên dù đoán theo Tượng quẻ,. theo 6 hào, hoặc theo Tứ trụ Tử Bình. Mà ở lịch âm dương, chúng ta cần biết rõ thời điểm các Tiết Khí giao nhau .
Năm âm lịch có 12 tháng và 24 tiết khí, đó là: Lập Xuân, Vũ Thủy, Kinh trập, Xuân Phân, Thanh Minh, Cốc Vũ- Lập Hạ,Tiểu mãn, Mang Chủng, Hạ Chí, Tiểu Thử, Đại Thử- Lập Thu, Sử Thử, Bạch Lộ, Thu Phân, Hàn Lộ, Sương Giáng-Lập Đông,Tiểu Tuyết, Đại Tuyết, Đông Chí, Tiểu Hàn, Đại Hàn ..
Những tiết khí mang số lẻ (như 1,3..) gọi là Tiết khí, các tiết có số chẵn gọi là Trung khí. Trong vài ba năm có 1 tháng không có Trung khí, được gọi là Tháng Nhuận, mang tên tháng đứng trước mình. Tuy nhiên, trong dự đoán, thì 12 trung khí và tháng Nhuận không có tác dụng trực tiếp, chỉ cần đến 12 tiết khí như Lập Xuân,Thanh Minh..Lập Hạ, Lập Thu..
Trong dự đoán, dùng 12 Tiết Khí để phân ranh giới Nguyệt Lệnh giữa các tháng. Lập Xuân là Nguyệt lệnh thứ nhất trong 12 tiết khí của mỗi năm, nên được coi là ngày Đầu tiên của một năm, và cũng là ngày phân ranh giới giữa hai năm (trước và sau) . Nguyệt lệnh là một trong những tiêu chuẩn để đo lượng mức độ thành, bại của sự dự đoán.
Trong sách Nhập môn Chu Dịch của nữ sĩ Trần Viên (Trung quốc) biên soạn có chỉ dẫn một cách tính số theo ngày Lập Xuân-rất quan trọng-xin được tóm tắt ở đây:
“..Lập Xuân năm 1991 bắt đầu từ 16giờ 09 phút ngày 20 tháng 12 năm âm lịch của năm 1990 (Ngọ). Người sinh trước giờ này(16.09) thuộc về năm Ngọ, còn những người sinh sau 16.09 tính thuộc về năm 1991(Mùi) ..”
Vận dụng Thiên Can (10) Địa chi (12) đế miêu tả chu kỳ vận hành của mặt trăng và mặt trời, và định âm, dương, ngũ hành, phương vị của chúng. Cách tính can chi ngày giờ khá phức tạp, cần có Lịch Vạn niên mới thực hiện được đầy đủ. Nhân đây cũng xin ghi lại ý nghĩa của Can Chi để cùng mở rộng kiến thức. Theo sách “Ngũ Hành đại nghĩa”, Can Chi do Đại Náo (?) đặt ra. Ban đầu, ông lấy Giáp Ất làm tên ngày gọi là Can., lấy Tý, Sửu làm tên tháng , gọi là Chi. Việc nào liên quan đến Trời thì dùng hàng Can để tính, việc liên hệ với Đất thì dùng Chi, tóm lại là những ước hiệu được đặt ra để dùng vào việc dự đoán.
Về ý nghĩa của từng Can, theo sách “Quần thư khảo dị”,
-Giáp có nghĩa là Tách ra (khỏi vạn vật)
-Ất: : Bật ra (chỉ trạng thái sơ sinh)
-Bính: tỏ rõ
-Đinh: Mạnh, trưởng thành
-Mậu: Rậm rạp, phát triền
-Kỷ: ghi nhớ, thành hình, phân biệt rõ ràng..
-Canh: cứng rắn (có cốt lõi)
-Tân: mới (sinh)-không phải là tân khổ, như có người giải thích.
-Nhâm: gánh chịu ( sự nuôi dưỡng vạn vật)
-Quý : vỡ nát (sau khi đã chín)-chứ không phải là quí trọng, như một số người nói.
Ngoài ra, để có thể suy đoán quẻ, người học cần biết cách gieo quẻ, hiểu rõ ý nghĩa các tượng quẻ...một việc đòi hỏi thời gian, kinh nghiệm và trí thông minh của mình..không dễ gì đạt được trong một sớm, một chiều.
Dù sao, đây chỉ là vài ý kiến sơ lược đóng góp vào việc dự đoán tương lai, điều màchúng tôi tin tưởng có thể làm được một phần, nếu có sự học hỏi nghiêm túc và nghiên cứu kỹ càng,-sẽ được trình bày ở những phần sau.
Tháng 12/2000 Thái Uyển
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Trúc Loan (##)
Bởi vậy, không phải cứ một bộ sofa đẹp hay đắt là đủ. Người sử dụng sofa phòng khách cần chú ý tới các quy tắc phong thủy để mang lại sự may mắn, thịnh vượng cho ngôi nhà.
Vậy, đâu là điểm cần lưu ý cho một bộ sofa phòng khách đẹp cả về hình thức và ý nghĩa?
Các bộ sofa phòng khách thường ở giữa phòng hoặc được đặt ở một góc phòng tạo vẻ ấm cúng, tùy thuộc vào tính cách của chủ nhà. Tuy nhiên, phải đảm bảo các nguyên tắc về vị trí như sau:
Sofa nên được đặt tựa vào tường.
Theo phong thủy, đó là thế “hạo sơn”, tức tựa lưng vào vách núi. Điều này ngầm ý xây dựng một chỗ dựa vững chắc cho người ngồi, từ đó vận mệnh cả căn nhà cũng bền vững, không biến động.
Nếu không thể đặt sofa dựa tường, bạn có thể dùng tủ hoặc kệ sách lớn thay thế, miễn sao không để sofa trôi giữa phòng.
Nên đặt sofa dựa vào tường
Sofa nên kê ở hướng cát của nhà để mang lại sự bình an.
Tuyệt đối không đặt sofa ở hướng đối diện cửa chính. Điều này sẽ dẫn tới việc gia chủ ly tán theo góc độ tâm lý.
Sofa nên hướng vào hướng vượng, gồm có hướng chính Đông, hướng Đông Bắc, hướng chính Tây và hướng chính Nam. Đảm bảo điều này đồng nghĩa sẽ đem lại tài lộc cho bạn.
Khi chọn sofa phòng khách, nên chọn 1 bộ hoàn chỉnh, cân đối về kích thước và đồng màu. Ngoài ra, cần chú ý kích thước phù hợp cho sofa, cân đối với độ lớn căn phòng, điều này làm điểm tựa tâm lý cho một sự hài hòa.
Về màu sắc, kích cỡ, bạn có thể lên các diễn đàn rao vặt bất động sản, đồ trang trí nội thất… để tham khảo hình dáng, mức giá.
Một bộ sofa đẹp cách mấy nếu không tương xứng với màu sắc, chất liệu đồ đạc trong nhà thì cũng không đẹp về thẩm mỹ và không hợp phong thủy.
Tuyệt đối không đặt sofa ở hướng đối diện cửa chính
Về kiểu dáng, dù chọn sofa hình chữ gì cũng phải đầy đủ một bộ. Không nên dùng sofa nửa bộ, hoặc thay thế vài phần của sofa lấy từ bộ khác, sẽ tạo sự bất ổn về mặt phong thủy.
Để đảm bảo sofa vẫn là một bộ khi lỡ hư vài phần, bạn có thể tìm mua lại ở các cửa hàng nội thất giá rẻ.
Sofa phòng khách khi được đặt chắc chắn sẽ phải kết hợp với các dụng cụ khác để phối cho diện mạo phòng. Tuy nhiên nên chú ý không đặt những thứ sau đây vào lưng sofa để đảm bảo phong thủy phòng khách.
Kể cả khi đặt sofa dựa lưng vào tường, vẫn phải đảm bảo sát tường, không để lộ khoảng không.
Sau lưng sofa không đặt bể cá hoặc bể nước trang trí. Phong thủy cho thấy nước là đặc trưng cho sự luân chuyển, ngược lại hoàn toàn với quy tắc cần sự vững chắc cho lưng sofa.
Sau lưng sofa không đặt gương soi. Thứ nhất phần gáy của gia chủ sẽ lộ, tạo tâm lý bất an. Thứ hai, sự phản xạ của gương không tốt cho các buổi nói chuyện, không phù hợp để tiếp khách.
Thứ ba về góc độ tâm linh, người chủ sẽ không muốn ai thấy tất tần tật những điều họ không muốn đưa ra ngoài.
Khi đặt sofa dựa lưng vào tường, vẫn phải đảm bảo sát tường, không để lộ khoảng trống
Phía trên sofa không được có ảnh đèn trực tiếp rọi xuống. Về sức khỏe, đèn chiếu thẳng vào đầu trong thời gian dài là không tốt. Chưa kể sofa còn có tác dụng nằm ngủ, và đèn rọi thẳng mặt không hề tốt.
Về mặt thẩm mỹ, bạn cũng sẽ thấy khó chịu nếu chiếc đèn đặt lệch trung tâm - khoảng không của bộ sofa.
Về phong thủy, đèn chiếu thẳng vào đầu gọi là có sát khí, sẽ khiến gia chủ căng thẳng thần kinh.
Sofa phòng khách cũng đặc biệt chú ý không nên để sofa ở vị trí có xà ngang trên đầu. Phong thủy cho rằng điều này sẽ ảnh hưởng xấu đến toàn bộ thành viên trong gia đình.
![]() |
| Người tuổi Dần sinh năm 1950, 1962, 1974, 1986 |
Tuổi Bính Dần (1986)
- Ngày, giờ nên tránh: Bính Dần, Bính Thân, Nhâm Dần
- Ngày, giờ đặc biệt cần tránh: Nhâm Thân
Tuổi Mậu Dần (1938, 1998)
- Ngày, giờ nên tránh: Mậu Dần, Mậu Thân, Giáp Dần
- Ngày, giờ đặc biệt cần tránh: Giáp Thân
Tuổi Canh Dần (1950, 2010)
- Ngày, giờ nên tránh: Canh Dần, Canh Thân, Bính Dần
- Ngày, giờ đặc biệt cần tránh: Bính Thân
Tuổi Nhâm Dần (1962)
- Ngày, giờ nên tránh: Nhâm Dần, Nhâm Thân, Mậu Dần
- Ngày, giờ đặc biệt cần tránh: Mậu Thân
Tuổi Giáp Dần (1974)
- Ngày, giờ nên tránh: Giáp Dần, Giáp Thân, Canh Dần
- Ngày, giờ đặc biệt cần tránh: Canh Thân.
Theo Đời người qua 12 con giáp
![]() |
Hiện tượng: Cửu phòng ngủ chính đối với cầu thang đi lên cùng là bất cát. nhưng ảnh hưởng chủ yếu lại là làm cho không khí trong phòng bị ngưng trệ, âm dương không thể điều hòa. hơn nữa còn làm cho người trong nhà sinh ra tâm lý không tốt như mất hết ý chí, lưu luyến không muốn đi đâu xa nhà…

Phương pháp hóa giải: Trên cửa phòng ngủ có thể treo tấm rèm vải dài và nởi ngưởng cửa đặt một chuỗi đồng tiền Ngũ Đế để khí xông từ trên cầu thang xuống bị chộn ừ ngoài.
Trong thuyết ngũ hành bao gồm Kim, Thủy, Mộc, Hỏa, Thổ, người thuộc mệnh Kim sẽ tượng trưng cho loại kim khí và kim loại trong đất trời, "Kim" được nuôi dưỡng bởi đất trời, được thiên nhiên, được khoáng vật đất đá nuôi dưỡng, tôi luyện và kết tinh. Vì vậy, chúng ta có thể nói rằng Kim được sinh ra từ Thổ. Như vậy người thuộc mệnh Kim sẽ có những đặc điểm, đặc trưng, những nét tính cách nào nổi bật. Chúng ta sẽ cùng đi tìm hiểu nhé.
Hành Kim chỉ về mùa Thu và sức mạnh. Đại diện cho thể rắn và khả năng chứa đựng. Mặt khác, Kim còn là vật dẫn. Khi tích cực, Kim là sự truyền đạt thông tin, ý tưởng sắc sảo và sự công minh. Khi tiêu cực, Kim có thể là sự hủy hoại, là hiểm họa và phiền muộn. Kim có thể là một món hàng xinh xắn và quý giá mà cũng có thể là đao kiếm. Màu sắc đặc trưng của Kim là vàng đồng hoặc trắng bạc. Kim còn là biểu tượng chân khí, hư âm, chi môn, và sắc thái. Thuộc tính Kim thường mang giá trị tìm ẩn, nội lực vững chắc, gia cố bền bỉ
Người mệnh Kim có những nét tính cách đặc trưng sau: Mệnh Kim có tính độc đoán và cương quyết. Họ dốc lòng dốc sức theo đuổi cao vọng. Là những nhà tổ chức giỏi, họ độc lập và vui sướng với thành quả riêng của họ. Tin vào khả năng bản thân nên họ kém linh động mặc dù họ tăng tiến là nhờ vào sự thay đổi. Đây là loại người nghiêm túc và không dễ nhận sự giúp đỡ.
Tích cực – mạnh mẽ, có trực giác và lôi cuốn.
Tiêu cực – cứng nhắc, sầu muộn và nghiêm nghị.
3. Người mệnh kim sinh năm nào?
Mệnh Kim gồm các tuổi:
Nhâm Thân – 1932, 1992
Ất Mùi – 1955, 2015
Giáp Tý – 1984, 1924
Quý Dậu – 1933, 1993
Nhâm Dần – 1962, 2022
Ất Sửu – 1985, 1925
Canh Thìn – 1940, 2000
Quý Mão – 1963, 2023
Tân Tỵ – 1941, 2001
Canh Tuất – 1970, 2030
Giáp Ngọ – 1954, 2014
Tân Hợi – 1971, 2031
Tất cả các kim loại.
Hình dáng tròn bầu.
Mái vòm
Vật dụng kim khí
Cửa và bậc cửa
Đồ dùng nhà bếp
Màu trắng, xám, bạc và vàng ươm.
Tiền đồng
Đồng hồ
Đồ điện tử
– Tương sinh thì hợp: Mệnh Kim sinh ra bởi Thổ vậy mệnh Kim hợp Mệnh Thổ.
– Cùng mệnh thì hợp: Lưỡng thổ thành sơn, Lưỡng mộc thành lâm
– Cũng có trường hợp tương khắc cũng tốt cũng hợp (nhưng ít) ví dụ : Mệnh Đại Hải Thủy mà gặp mệnh Thổ là rất tốt, vì nước lớn và nhiều thì có bờ sẽ không bị tràn lan thất thoát. Nhưng gặp Thổ yếu thì không đủ lực mà Thổ lại bị khắc ngược lại.
– Tương khắc với mệnh Kim là mệnh Hỏa. (Hỏa thiêu đốt nung chảy Kim).
– Xung mệnh với mệnh: Lưỡng Kim ( Kiếm Phong Kim ) gặp nhau thì khắc nhau.
Mệnh Kim nên mang đồ vật gì?
Kim được bao bọc bởi đất đá , người mệnh Kim nên đeo trang sức làm từ đá, nhất là đá quý. Các loại đá có màu nâu đất, vàng sẫm …
- Màu tương sinh: Bạn là người mệnh kim điều kiện tốt nhất có thể có được là được tương sinh. Thổ sinh Kim. Đất bao bọc và sinh ra, và nuôi dưỡng tất cả các kim loại. Do vậy, người mệnh Kim nên sử dụng các màu của đất mẹ, là màu nâu đất, màu vàng hoàng thổ.
Cũng như các mệnh khác, người mệnh Kim sẽ tốt nếu dùng màu tương hợp. Hợp với mệnh Kim chính là Kim. Màu của kim là màu trắng, màu ghi.
- Màu tương khắc: Nếu bạn thuộc mạng Kim, thì tốt nhất là nên tránh những màu như màu hồng, màu đỏ, vì những màu này ứng với hành Hỏa, mà Hỏa thì khắc Kim.
Màu hợp với mệnh Kim hợp nhất là màu vàng, trắng
Người mệnh kim nên lựa chọn những gam màu sáng và những sắc màu ánh kim vì màu trắng là Màu sắc của người mệnh Kim. Ngoài ra nên kết hợp với các tông màu nâu, màu vàng trong việc lựa chọn xe, màu sơn nhà, nội thất, hay trang phục hằng ngày. Vì đây là những màu sắc sinh vượng (Hoàng Thổ sinh Kim). Những màu này luôn đem lại niềm vui, sự may mắn đến cho gia chủ.
Những người thuộc mệnh Kim có những đặc điểm tính cách khá rõ nét như sự sắc sảo, thông minh, khả năng truyền đạt ý tưởng tốt. Nhưng cũng có những lúc kim trở nên khá khó hiểu và nhiều phiền muộn. Bài viết trên đã cho chúng ta thấy được những đặc trưng cơ bản, cũng như sự kết hợp của Kim với các mệnh khác, các màu sắc, số, hướng phù hợp nhất. Hy vọng sẽ giúp bạn có được cái nhìn tổng quát về Kim.
Những thông tin hấp dẫn về tử vi 2017 người mệnh Kim:
Nữ Nhâm Thân hợp với tuổi nào?
Xem tử vi tuổi Nhâm Thân nam mạng 1992
Xem tử vi 2017 tuổi Ất mùi nam mạng 1955
Trán cao, rộng và đầy
Nếu phái nữ có trán cao, nhẵn và rộng thì rất có thể sẽ được gả vào nhà giàu có. Người có trán cao rất tài hoa và tương đối thông minh. Trán nhẵn và rộng thể hiện sự phóng khoáng, cao quý. Những người có tướng mạo thế này rất hợp với cuộc sống trong gia đình quyền quý. Họ có khả năng ứng khó với các quy tắc mà không thất lễ với những người trong gia đình.
Những người con gái có tướng mạo thế này cũng rất được cánh mày râu ưa thích. Có thể nói họ là những mỹ nhân có khí chất, và rất có ưu thế trong các mối quan hệ giao tiếp.
Mắt to, mày dài, lông mi cong
Những người phụ nữ có tướng này rấy quyết tâm làm một việc gì đó đến cùng, rất ít khi từ bỏ và lùi bước. Một đôi mắt to, sáng, mày dài lông mi cong trong thật hút hồn bởi sức sống mãnh liệt. Rất nhiều đàn ông bị thu hút vì đôi mắt này của nàng, đương nhiên trong số đó không thể thiếu những bậc công tử vương gải theo đuổi. Vì thế, những người con gái này rất thuận lợi trên phương diện tình cảm.

Mũi to
Theo nhân tướng học, những người mũi to thường có tính tự chủ lẫn ý chí phấn đấu vì sự nghiệp. Những người này có mối nhân duyên tốt đẹp, tài vận cũng vô cùng mỹ mãn. Đặc biệt hơn, bạn rất có khả năng quản lý tiền bạc và đầu tư tài chính.
Gò má cao vừa phải
Với quan niệm những người phụ nữ có hai bên má cao vừa phải sẽ là những người nội trợ đảm đang, là hậu phương vững chắc cho người chồng sau những giờ làm việc căng thẳng, mệt mỏi. Do đó những người phụ nữ có khuôn mặt hài hòa, gò má đối xứng luôn được xem là chuẩn mực của khuôn mặt đẹp và được hưởng phú quý.
Ngón tay dài
Những phụ nữ có ngón tay dài thon thả thường rất khéo léo và đảm đang. Không chỉ trong giao tiếp mà trong công việc nội trợ nàng cũng là một mẫu người phụ nữ của gia đình hết sức tuyệt vời.
Tai hồng, rủ xuống vai
Tai hồng mà nhuận là tướng người có công danh. Tai có màu sắc ửng hồng pha lẫn màu trắng ngà hoặc tai có đường nét cong tròn là tướng người được hưởng thụ cuộc sống an nhàn.
Tai rủ xuống vai là tướng phú quý vô cùng, nếu hướng về miệng lại càng tốt hơn.
Hai cằm
Rất nhiều cô gái có hai cằm nhưng đã giảm cân vì muốn xinh đẹp hơn, thậm chí còn đi phẫu thuật thẩm mỹ để bỏ hai cằm. Nhưng họ không biết rằng hai cằm chính là biểu tượng cho sự phú quý của phái nữ. Cằm giống như kho của cải của người phụ nữ, càng dày thì càng có nhiều tiền tài. Những người con gái có hai cằm còn được gọi là những người có tướng giúp chồng. Nó không chỉ đem lại may mắn cho bản thân, mà còn giúp cho sự nghiệp của chồng. Những người con gái có tướng mạo như vậy thì sẽ luôn có tài vận tốt.
Theo Khỏe & Đẹp
Tình cảm là thứ khó dự đoán mà đời sống tình cảm của mỗi người cũng khó lường, thần bí. Tuy rằng, ai cũng khát khao có được tình yêu ngọt ngào say đắm nhưng nếu vận trình không tốt, bản thân không cố gắng thì chắc chắn sẽ không được như ý nguyện. Cùng điểm danh 6 chòm sao có vận trình tình cảm tốt nhất tháng 5 này nhé
![]() |
![]() |
Hai tướng tinh Thất sát và Phá quân có đặc tính khác nhau, cổ nhân ví Phá quân là tướng tiên phong trong quân, còn Thất sát là chủ soái trong quân, khi so sánh, Thất sát chủ về “lao tâm”, Phá quân chủ về “lao lực”. Thất sát chủ về hành động một mình, đơn phương độc mã. Phá quân chủ về phải đợi hiệu lệnh, mệnh lệnh ở chủ soái.
Khi tình hình Tử vi đồng độ cùng với Phá quân, trở thành tinh hệ “Tử vi Phá quân” lại có xung đột quyền lực. Tử vi lấy tư cách tôn quý của hoàng Đế để xung trận, còn Phá quân chịu sự điều khiển của Tử vi, nhưng lại đảm đương trọng trách tiên phong, nhiều lúc khó tránh tình huống công thủ, tiến thoái bị mâu thuẫn. Thất sát thì không như vậy, lúc Tử vi và Thất sát đồng độ, thành tinh hệ “Tử vi Thất sát”, lúc này, Thất sát nhận lệnh trực tiếp từ quân vương, quyền lực càng lớn, “hóa sát làm quyền” liêm khiết chuyên chính, nên không xảy ra tình huống xung đột quyền lực.
Thất sát có tính “cứng rắn và hình khắc”, là sắc thái đặc biệt của Thất sát. Do tính “cứng rắn và hình khắc”, nên không ưa Văn xương, Văn khúc, khí chất hai bên không hợp, để tương hợp văn tinh và võ tinh, cần có điều kiện, đó là khi có Tả phụ Hữu bật hoặc Thiên khôi Thiên việt đồng thời hội hợp. Đặc biệt là khi “Tử vi Thất sát” đồng cung, có các Phụ diệu và Tá diệu “triều củng” sao Tử vi, sẽ trở thành đại cách.
Cổ nhân có thuyết “Thất sát thủ mệnh, thừa vượng nhập miếu, chủ về có mưu lược. Gặp Tử vi lại thêm sao Cát, ắt là đại tướng” (Thất sát thủ mệnh miếu vượng hữu mưu lược. Kiến Tử vi gia kiến chư cát, tất vi đại tướng). Còn có thuyết “Thất sát thủ mệnh, thừa vượng nhập miếu, được Tả phụ Hữu bật Văn xương Văn khúc vây chiếu, chủ về nắm quyền sinh sát, phú quý hơn người” (Thất sát thủ mệnh miếu vượng đắc Tả Hữu Xương Khúc củng chiếu, chưởng sinh sát chi quyền, phú quý xuất chúng).
Thất sát gặp các sao Sát Kị Hình, càng làm mạnh thêm tính “cứng rắn và hình khắc” của nó, do đó cũng làm mệnh cách thường gặp cảnh ngộ gian nan. Cổ nhân nói “Thất sát và Phá quân, chuyên theo tai vạ của Kình dương và Linh tinh” (Thất sát Phá quân, chuyên y, Dương Linh chi ngược), “Thất sát mà gặp bốn sao sát Kình dương, Đà la, Hỏa tinh, Linh tinh, chủ về chết ở trận tiền” (Thất sát trùng phùng tứ sát, yêu đà bối khúc trận trung vong).
Lúc đại hạn và lưu niên gặp lưu Sát tinh, cũng chủ về không cát tường, cổ nhân nói “Thất sát và lưu Kình dương gặp Quan phù, chủ về xa quê hương” (Thất sát lưu Dương ngộ Quan phù, li hương tao phối), cổ nhân còn nói “Thất sát đến cung Thân hay cung Mệnh, gặp lưu niên Kình dương Đà la, chủ về tai họa tổn thương” (Thất sát lâm thân mệnh, lưu niên Dương Đà, chủ tai thương); “Thất sát gặp Kình dương và Linh tinh có lưu niên Bạch hổ, chủ về bị tai kiếp ở biên cương” (Thất sát Dương Linh, lưu niên Bạch hổ, hình lục tai biên); kết cấu hung hiểm nhất là “Thất sát thủ mệnh có Kình dương của niên hạn chiếu, người sinh năm Ngọ an ở Mão hoặc Dậu, chủ về hung” (Thất sát thủ chiếu tuế hạn Kình dương, Ngọ sinh nhân an Mão Dậu cung, chủ hung vong), đây là nói về kết cấu “Kình dương Đà la trùng điệp”.
Phàm các thuyết liên quan đến việc Thất sát gặp Sát tinh, đều cho rằng Thất sát không nên gặp thêm tứ Sát và Địa không, Địa kiếp.
Thất sát được cách nổi tiếng nhất là “Hùng tú kiền nguyên”, tức là khi Thất sát và Liêm trinh đồng cung tại Mùi, hoặc Thất sát ở Ngọ và Liêm trinh ở Thân, hai cung chia ra một ở cung Thân và một ở cung Mệnh. Thất sát đồng độ với Liêm trinh, tính chất biến hóa rất lớn. Cùng một cung mệnh, nhưng cách cục cao thấp có mức độ chênh lệch rất lớn (Mân phái cho rằng ở Sửu tốt hơn ở Mùi), Tam hợp phái cho rằng, có nhiều loại phối hợp ở Mùi mà có sự thành tựu lớn hơn rất nhiều so với ở Sửu. Cách nổi tiếng này ưa gặp sao Lộc, Văn xương, Văn khúc, bởi vì âm Hỏa của Liêm trinh tôi luyện âm Kim của Thất sát, cho nên không ưa gặp các sao “dương cương” gây rối loạn đầu cuối và làm tình thế khó ứng xử, lại sợ có Hỏa tinh cùng bay đến là phá cách, vì cổ nhân ví sự đồng độ của “Liêm trinh Thất sát” là Hỏa luyện Kim, gặp thêm Hỏa tinh bay đến phá hoại, thì hỏa hầu bị mất điều hòa.
Thất sát độc tọa ở Dần, cung đối diện có “Tử vi Thiên phủ”, gọi là “Thất sát ngưỡng đẩu”. Khi Thất sát độc tọa ở Thân, cung đối diện có “Tử vi Thiên phủ” gọi là “Thất sát triều đẩu”. “Triều đẩu” và “ngưỡng đẩu” đều chủ về cuộc đời gặp nhiều cơ hội, còn chủ về năng lực quản lý tốt. Nếu gặp “tam cát hóa” có thêm Cát tinh chủ về đại quý; nếu đồng thời có thêm Sát tinh chủ về theo nghề sản xuất hoặc theo những nghề mà tài năng quản lý được phát huy.
Bất kể là nhập cách hay không nhập cách, người có Thất sát độc tọa thủ mệnh, cuộc đời sẽ gặp nhiều sóng gió, trắc trở; dù có chính diệu khác đồng độ, ắt cũng phải trải qua một thời kỳ khốn khó, nếu gặp Sát tinh tụ hội thì khốn khó trắc trở càng nặng hơn, chủ về phá tán gẫy đổ. Cho nên cần phải “hành động thiết thực” để giữ vững hiện trạng, không nên đầu cơ may rủi. Nếu gặp Tả phụ, Hữu bật, Thiên khôi, Thiên việt, Lộc tồn, Hóa Lộc, chủ về cuộc đời sẽ được bạn bè hiệp trợ và trợ lực, nhờ đó mà vượt qua ải khốn khó.
Khi đánh giá tình huống cát hung của Thất sát độc tọa, cần phải chú ý tính “cứng rắn và hình khắc” của Thất sát ở mức độ nào. Nhất là nữ mệnh, quá “cứng rắn và hình khắc” ắt sẽ “hình phu khắc tử”, đời người khó tránh cô tịch.
Thất sát tối kị Kình dương Đà la, cũng không ưa gặp sao Tuyệt và không ưa ở vào tình thế hãm địa, Cổ nhân nói “Thất sát mà đến đất Tuyệt, hội hợp với Kình dương Đà la, tuổi trời như Nhan Hồi” (Sát lâm tuyệt địa hội Dương Đà, thiên niên thiên tự Nhan Hồi), “Tuyệt địa” ở đây tức là vị trí sao Tuyệt trong “Ngũ hành Trưởng sinh thập nhị thần”, thuyết này tuy nói quá nghiêm trọng, nhưng cũng chủ về cuộc đời nhiều âu lo, nạn tai, bệnh tật. Hơn nữa, kết cấu tinh hệ kiểu này có cách cục không cao, chỉ thích hợp theo ngành công nghệ, khoa học kỹ thuật hoặc những nghề chuyên nghiệp thông thường.
Cổ nhân nói “Thất sát hãm địa, chủ về nên dùng tay nghề khéo để mưu sinh” (Thất sát hãm địa, xảo nghệ mưu sinh). Gặp tinh trạng này, rất nên gặp các sao Văn xương, Văn khúc, Long trì, Phượng các, Thiên tài, chủ về làm tăng thêm thông minh tài trí trong nghề nghiệp. Nếu gặp Sát tinh thì nên theo Võ nghiệp hoặc những nghề nghiệp có “sát khí”, tức chọn những nghề dính dáng đến kim loại, công cụ bén nhọn để mưu sinh. Cổ nhân nói “Thất sát có Kình dương Đà la hội hợp mệnh đồ tể” (Thất sát Dương Đà hội sinh hương đồ tể chi nhân) là nói về lý này. Nhưng nếu gặp Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa hội chiếu, lại có Tả phụ Hữu bật hoặc Thiên khôi Thiên việt đồng độ hay hội hợp, thì lại chủ về có địa vị cao trong xã hội.
“Thất sát Liêm trinh” đồng độ ở cung Mệnh hoặc cung Thiên di, gặp Kình dương Đà la và Hóa Kị, hơn nữa còn có lưu Kình, lưu Đà, lưu Kị xung khởi, đây là cách cục nổi tiếng “Sát củng Liêm trinh cách”, chủ về đi xa có chuyện bất trắc. Có thuyết “Liêm trinh Thất sát đồng cung, chủ về chôn thây trên đường” (Liêm Sát đồng vị, lộ thượng mai thi), gặp Vũ khúc Hóa Kị và Liêm trinh Hóa Kị thì càng nghiệm. Thất sát có Phá quân, Liêm trinh hội hợp, cũng chủ về tai nạn giao thông. Tổ hợp Thất sát ở 12 cung ắt sẽ đối diện với Thiên phủ, tính vững vàng của Thiên phủ và tính xung kích của Thất sát sẽ hình thành sự xung đột, khi luận giải cần phải xem xét kỹ sự ảnh hưởng lẫn nhau của chúng.
Thất sát độc tọa ở Tý hoặc Ngọ, sẽ đối diện với “Vũ khúc Thiên phủ”. Ở Mão hoặc ở Dậu thì “Thất sát Vũ khúc” đồng độ; cho nên bốn cung Tý Ngọ Mão Dậu là tổ hợp “Vũ khúc, Thất sát, Thiên phủ”.
Thất sát độc tọa ở Thìn hoặc ở Tuất sẽ đối củng với “Liêm trinh Thiên phủ”; ở Sửu hoặc ở Mùi có “Thất sát Liêm trinh”, cho nên bốn cung Thìn Tuất Sửu Mùi là tổ hợp “Liêm trinh, Thất sát, Thiên phủ”. Thất sát độc tọa ở Dần hoặc ở Thân sẽ đối củng với “Tử vi Thiên phủ”, ở Tị hoặc ở Hợi có “Tử vi Thất sát” đồng độ, cho nên bốn cung Dần Thân Tị Hợi là tổ hợp “Tử vi, Thất sát, Thiên phủ”.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Thanh Vân (##)
Văn Khấn Lễ Đức Thánh Trần thường dùng theo tập tục văn hoá truyền thống, ở mỗi tỉnh thành, làng, xã Việt Nam đều có các Đình, Đến, Miếu, Phủ là nơi thờ tự Thần linh, Thành Hoàng, Thánh Mẫu.
Các vị thần linh, Thành Hoàng, Thánh Mẫu là các bậc tiền nhân đã có công với cộng đồng làng xã, dân tộc trong lịch sử đấu tranh giữ nước và dựng nước của người Việt Nam.
Ngày nay, theo nếp xưa người Việt Nam ở khắp mọi miền đất nước hàng năm vẫn đi lễ, đi trẩy Hội ở các Đình, Đền, Miếu, Phủ vào các ngày lễ, tết, tuần tiết, sóc, vọng và ngày Hội, để tỏ lòng tôn kinh, ngưỡng mộ biết ơn các bậc Tôn thần đã có công với đất nước.
Đình, Đền, Miếu, Phủ cùng với sự lưu truyền sự linh diệu của các thần trong nhiều trường hợp đã đi vào trang sử oai hùng của dân tộc Việt Nam góp phần không nhỏ vào việc duy trì tình cảm yêu nước. Nơi thờ tự Đình, Đền, Miếu, Phủ còn là những nơi sinh hoạt tâm linh, tín ngưỡng. Con người hy vọng rằng bằng những hành vi tín ngưỡng, có thể cầu viện đấng Thần linh phù hộ cho bản thân, cùng gia đình, cộng đồng được an khang, thành đạt và thịnh vượng, yên bình, biến hung thành cát, giải trừ tội lỗi…
Theo phong tục cổ truyền khi đến Đình, Đền, Miếu, Phủ nên có lễ vật có thể to, nhỏ, nhiều, ít, sang, mọn tuỳ tâm. Mặc dù ở những nơi này thờ Thánh, Thần, Mẫu nhưng người ta vẫn có thể sắm các lễ chay như hương hoa quả, oản,… để dâng cũng được.
– Lễ Chay: Gồm hương hoa, trà, quả, phẩm oản… dùng để lễ ban Phật, Bồ Tát (nếu có).
Lễ chay cũng dùng để dâng ban Thánh Mẫu.
– Lễ Mặn: Nếu Quý vị có quan điểm phải dùng mặn thì chúng tôi khuyên mua đồ chay hình tướng gà, lợn, giò, chả.
– Lễ đồ sống: Tuyệt đối không dùng các đồ lễ sống gồm trứng, gạo, muối hoặc thịt tại các ban quan Ngũ Hổ, Bạch xà, Thanh xà đặt ở hạ ban Công Đồng Tứ phủ.
– Cỗ sơn trang: Gồm những đồ đặc sản chay Việt Nam: Không được dùng cua, ốc, lươn, ớt, chanh quả… Nếu có gạo nếp cẩm nấu xôi chè thì cũng thuộc vào lễ này.
– Lễ ban thờ cô, thờ cậu: Thường gồm oản, quả, hương hoa, gương, lược… Nghĩa là những đồ chơi mà người ta thường làm cho trẻ nhỏ. Nhưng lễ vật này cầu kỳ, nhỏ, đẹp và được bao trong những túi nhỏ xinh xắn, đẹp mắt.
– Lễ thần Thành Hoàng, Thư điền: Phải dùng chay mới có phúc và những lời cầu nguyện được linh ứng.
Sau khi kết thúc khấn, lễ ở các ban thờ, thì trong khi đợi hết một tuần nhang có thể viếng thăm phong cảnh nơi thừa tự, thờ tự.
Khi thắp hết một tuần nhang có thể thắp thêm một tuần nhang nữa. Thắp nhang xong, vái 3 vái trước mỗi ban thờ rồi hạ sớ đem ra nơi hoá vàng để hoá.
Hoá sớ xong mới hạ lễ dâng cúng khác. Khi hạ lễ thì hạ từ ban ngoài cùng vào đến ban chính. Riêng các đồ lễ ở bàn thờ Cô, thờ Cậu như gương, lược… thì để nguyên trên bàn thờ hoặc giả nơi đặt bàn thờ này có nơi để riêng thì nên gom vào đó mà không đem về.
Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)
– Con kính lạy Tứ phủ Công Đồng Trần Triều
– Con kính lạy Nguyên Từ Quốc Mẫu Thiên Thành Thái Trưởng Công.
– Con kính lạy Đức Trần Triều hiển thánh Nhân vũ Hưng Đạo Đại Vương Đại Nguyên soái, Tổng quốc chính, Thái sư Hương phụ Thượng quốc công tiết chế, Lịch triều tấn tặng khai quốc an chính hồng đồ tá trị hiện linh trác vĩ, Minh đức trĩ nhân, Phong huân hiên liệt, Chí trung đại nghĩa, Dực bảo trung hưng, Thượng đẳng tôn thần, Ngọc bệ tiền.
– Con kính lạy tứ vị Thánh tử đại vương, Nhị vụ vương cô Hoàng Thánh.
– Con kính lạy Đức ông phạm điệu suý tôn thần, tả quan Nam Tào, Hữu quan Bắc Đẩu, Lục bộ thượng từ, chư vị bách quan.
Hương tử con là:…………………..Ngụ tại:……………….
Hôm nay ngày…. tháng….. năm…….. Hương tử chúng con chấp kỳ lễ bái xin các vị phù hộ độ trì cho hương tử con cùng toàn gia quyến được luôn mạnh khỏe. Đầu năm chí giữa, nửa năm chí cuối được tai quan nạn khỏi, điều lành mang đến, điều giữ giải đi, cầu tài đắc tài, cầu lộc đắc lộc, cầu bình an đắc bình an. Xin cho con được có người có cửa, được nhân an vật thịnh đi đến nơi về đến chốn, làm ăn được thuận buồn xuôi gió, vạn sự như ý.Hương tử con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.
Nam mô a di Đà Phật! (3 lần)
Thế đất trước cửa hàng cao mà đằng sau thấp, hoặc là kiến trúc trước mặt cửa hàng xây cao còn đằng sau xây thấp, phong thủy gọi là trước cao sau thấp hoặc là “Thoái long cách”.

Lựa chọn cửa hàng như trên sẽ bất lợi trong kinh doanh, tài vận dần dần tiêu tan. Nếu như kinh doanh ở cửa hàng này, có thể dùng 36 đồng tiến cổ treo ờ giữa hoặc sau cửa hàng để hóa giải.
Xem tử vi mệnh khuyết Kim là người có những thế mạnh, ưu điểm riêng nhưng cũng không ít điểm cần khắc phục. Tham khảo bài viết dưới đây để hoàn thiện mình hơn trong cuộc sống, tự mang tới số phận tốt đẹp.
![]() |
![]() |
![]() |
No1. Người cầm tinh con Ngựa
Bước sang tháng 3, cả chính tài và phụ tài của những chú Ngựa đều có dấu hiệu khởi sắc mạnh. Sự nỗ lực và cống hiến không biết mệt mỏi của bạn trong suốt thời gian qua đã được đông đảo mọi người thừa nhận.
![]() |
![]() |
![]() |
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
Dưới đây là những gợi ý nho nhỏ để gia đình bạn có thể chọn cho quý tử nhà mình một cái tên đầy ý nghĩa

|
|||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||