Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,...   Click to listen highlighted text! Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,... Powered By DVMS co.,ltd
Kính mời quý khách like fanpage ủng hộ Vạn Sự !

Vạn Sự

Nguồn gốc thần Tài qua truyền thuyết các nước Á Đông

Thần Tài là một trong những vị thần có vị trí quan trọng trong đời sống tâm linh của nhiều nước Á Đông, có nguồn gốc từ những truyền thuyết riêng của mỗi nước.
Nguồn gốc thần Tài qua truyền thuyết các nước Á Đông

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Thần Tài là một trong những vị thần có vị trí quan trọng trong đời sống tâm linh của nhiều nước Á Đông. Vị thần mang lại sự thịnh vượng, phát đạt này có nguồn gốc từ những truyền thuyết riêng của mỗi nước.


Truy tim nguon goc than Tai qua truyen thuyet cac nuoc A Dong hinh anh
 
Thần Tài có nguồn gốc đầu tiên ở Trung Quốc. Theo truyền thuyết xưa, có một người lái buôn Trung Hoa tên là Âu Minh khi đi qua hồ Thanh Thảo tình cờ gặp Thủy Thần, được Thủy Thần cho một người gia nhân tên là Như Nguyện.
 
Âu Minh đem Như Nguyện về nuôi ở trong nhà, từ đó công việc làm ăn của Âu Minh mỗi ngày một phát đạt. Trong một ngày Tết, vì một lý do nào đó, Âu Minh đánh Như Nguyện. Như Nguyện quá sợ hãi bèn chui vào đống rác và biến mất. Từ đó Âu Minh làm ăn thua lỗ, chẳng mấy chốc nghèo xác nghèo xơ.
 
Người ta cho rằng Như Nguyện là Thần Tài và lập bàn thờ. Cũng chính vì thế mà bàn thờ Thần Tài thường nằm ở góc khuất trong nhà. Theo điển tích này, trong 3 ngày Tết có tục kiêng quét nhà, hốt rác vì sợ làm mất Thần Tài ẩn trong đống rác.
 
Trong đời sống tâm linh của người Việt, Thần Tài là một dạng thổ thần kiểu Thần Đất (Thổ Địa), vị thần hộ mệnh của xóm làng, cai quản đất đai, phù hộ con người và gia súc trong xóm làng. 
 
Khi những người dân Việt đi khai hoang, bước đầu họ gặp nhiều khó khăn và ý niệm về các vị thần hình thành từ đó làm chỗ dựa tâm linh của họ trên con đường mưu sinh. Thần Đất là vị thần bảo hộ cây trái, hoa màu thể hiện tính nông nghiệp và là vị thần trông coi tiền tài, vàng bạc. Đây cũng là dấu ấn của thời kỳ kinh tế thương nghiệp.
 
Với Ấn Độ, Thần Tài nguyên là Bố Đại La Hán, còn gọi là Nhân Yết Đà Tôn Giả (là một trong thập bát La Hán). Ông là người chuyên bắt rắn, ông mang túi vải to trên lưng vào rừng bắt rắn độc, nhổ bỏ răng độc rồi thả rắn đi. Do đó có tượng Thần Tài đứng có mang túi to, hai tay đưa thẳng lên trời cười thoải mái, tượng trưng cho sự may mắn, thành công.
► Xem lịch âm và giờ hoàng đạo chuẩn xác tại Lichngaytot.com

Theo Đời sống pháp luật

 

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Nguồn gốc thần Tài qua truyền thuyết các nước Á Đông

Những lưu ý với phong thủy bàn thờ –

Trong văn hóa tâm linh truyền thống của người Việt Nam nói riêng và người phương Đông nói chung, thờ cúng là một việc hết sức thiêng liêng và hệ trọng.Vị trí đặt bàn thờ hay không gian tâm linh tưởng nhớ trong nhà ở luôn là một không gian quan trọng

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

, có ý nghĩa rất lớn trong đời sống tinh thần của con người.

Bàn thờ là nơi thể hiện lòng thành kính của con cháu đối với tổ tiên, nên bàn thờ trong nhà ở gia đình truyền thống thường được lập ở chính giữa gian giữa của ngôi nhà – là vị trí trang trọng nhất.Tuy nhiên, với những căn nhà có kiến trúc hiện đại, nhà lô phố hiện nay thì cách bố trí bàn thờ và các đồ thờ cũng có nhiều thay đổi để phù hợp hơn với cấu trúc và diện tích của ngôi nhà nhưng vẫn giữ được sự tôn nghiêm nơi thờ cúng.

phong-tho-2

Vị trí lập phòng thờ – tủ thờ

Trong giải pháp thiết kế kiến trúc dành cho những căn nhà phố hiện nay, kiến trúc sư thường bố trí bàn thờ đặt trong một phòng riêng, tầng trên cùng của ngôi nhà (tầng trên cùng thường là tầng thượng – tầng tum gồm: phòng thờ, phòng giặt + sân phơi). Vị trí này không chỉ mang đến sự trang nghiêm, kín đáo, tĩnh lặng… mà còn thuận tiện cho việc cúng ngoài trời, hóa vàng mã trên sân thượng…

Đối với các căn hộ chung cư, do bị hạn chế về diện tích sử dụng nên việc bố trí một phòng riêng lập bàn thờ là điều rất khó. Chính vì lẽ đó nên khi phân chia lại các không gian trong căn hộ chung cư, kiến trúc sư thường sắp xếp không gian thờ cúng nằm trong các không gian sinh hoạt chung, không gian sảnh – tiền phòng hay các phòng chức năng phù hợp khác.

Thư viện, phòng khách, phòng sinh hoạt chung trang trọng là những nơi phù hợp để có thể đặt bàn thờ. Tuyệt đối không nên đặt bàn thờ ở những phòng sinh hoạt chung ồn ào như phòng karaoke, phòng thể thao… Cũng không nên đặt bàn thờ trong phòng ngủ vì không gian trang trọng và khói nhang sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe người trong phòng; thêm nữa không gian thờ mang tính âm nên không phù hợp.

Ngoài ra, trong căn hộ chung cư, bạn cũng có thể bố trí góc thờ, bàn thờ trong khoảng giữa các mặt bằng căn hộ, trong khoảng đi lại ở khoảng giữa nhà và không thuộc hẳn một phòng nào, đảm bảo sự thông thoáng, không bị quẩn khói khi thắp nhang.

Dù là nhà ở truyền thống hay hiện đại, bàn thờ cũng luôn phải đảm bảo được đặt tại vị trí cao, phía trên bàn thờ là nóc nhà và bầu trời, không bị các không gian sinh hoạt khác đè lên… để khi cúng bái, con cháu trong nhà tỏ được sự ngưỡng vọng thành kính của mình với ông bà tổ tiên.

Thiết kế tủ thờ – bàn thờ phù hợp

Trong phòng thờ, hệ thống tủ – bàn thờ phải có quy mô và hình thức tương xứng để tạo nên sự trang nghiêm cho không gian đặc biệt này.Kích thước tủ thờ không nên quá to gây cảm giác hoành tráng nhưng cũng không nên “lọt thỏm”, nhỏ bé trong phòng. Nếu bàn thờ được đặt tại các không gian khác như phòng sinh hoạt chung, phòng khách… thì tủ thờ cần được thiết kế phù hợp về tỉ lệ với kích thước phòng và tương quan với các đồ nội thất khác.

Ở những không gian này, tủ, bàn thờ nên được thiết kế đơn giản, tránh cầu kỳ lạc lõng hay gây cảm giác nặng nề e sợ. Bàn thờ phải tạo được sự tôn nghiêm nhưng vẫn phải mang lại cảm giác gần gũi với các thành viên trong gia đình và các sinh hoạt chung khác.Vật liệu và màu sắc của tủ – bàn thờ cúng cũng phải phù hợp, nên sử dụng các màu trầm, tổt nhất là màu gỗ nâu sậm. Các chi tiết kiến trúc – nội thất (lát sàn, trần, chiếu sáng…), các vật dụng, đồ thờ (bát nhang, đèn nến, lọ hoa…) nên bày theo lối cân đối.

Ở các căn hộ chung cư, trong trường hợp tủ thờ để ở phòng chức năng nào đó hay không gian chung, thì có thể dùng hình thức tủ thờ kết hợp với tủ trang trí, tủ ngăn phòng, tủ bày đồ lưu niệm…

Một số điều cần lưu ý trong phong thủy phòng thờ

Khi thiết kế hay bài trí, sắp đặt cho không gian thờ cúng bạn phải lưu ý tránh đặt bàn thờ gần luồng hút gió mạnh, gây “động” và có thể thổi tàn lửa nhang ra chỗ khác gây cháy. Mặt bàn thờ nên đặt một tấm kính để đảm bảo an toàn tránh lửa bén. Tuyệt đối không được đặt bàn thờ bên dưới phòng vệ sinh, phòng trẻ em chơi đùa… làm giảm tính tôn nghiêm.

Không gian đặt bàn thờ phải đủ thông thoáng. Không nên đặt bàn thờ cao quá gây khó khăn cho việc thờ cúng, cũng không nên đặt thấp quá thiếu trang nghiêm. Trong các trường hợp bàn thờ treo hay tủ thờ cao, phải đảm bảo khoảng cách tới trần không quá gần, tránh quẩn khói và gây ám vàng trần. Để khắc phục trường hợp này, bạn có thể gắn một tấm kính phía trên trần.

Ánh sáng trong phòng thờ và trên bàn thờ không nên sử dụng ánh sáng trắng mà nên sử dụng ánh sáng vàng, có cảm giác ấm cúng; nguồn sáng gián tiếp, tránh gây chói. Bạn có thể dùng đèn hắt tường, những bóng đèn nhót, đèn thờ… Bố trí chiếu sáng nên đăng đối theo 2 bên bàn thờ; kiểu dáng, chất liệu của đèn cũng cần phù hợp với tủ thờ và không gian chung, tránh quá màu mè, lòe loẹt…


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những lưu ý với phong thủy bàn thờ –

Thực hư ngôi mộ ăn mày giúp một gia đình giàu như 'công tử Bạc Liêu'

Nói về chuyện bốc mộ, không thể không nhắc đến các giai thoại về mộ kết, vốn mang rất nhiều màu sắc kỳ bí khiến con người ta khi mừng rỡ, hân hoan, lúc sợ hãi, đau khổ.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Mộ kết (mộ phát) là những ngôi mộ khi được đắp xong hoặc chưa kịp đắp tự nhiên đất chỗ ấy đùn lên thành ngôi mộ to lớn khác thường. Những ngôi mộ này thường có kích thước lớn gấp đôi, gấp ba… lần, thậm chí được “đùn” thành gò, đống. Và gia đình, dòng họ nào có được những ngôi mộ kết này, con cháu đời đời được hưởng vinh hoa phú quý, giàu sang hơn người…            

Ngôi mộ kết của kẻ ăn mày

Tình cờ, tôi có dịp ghé qua xã Tân Dân, huyện Phú Xuyên, Hà Nội. Tại đây, tôi được người dân kể cho nghe câu chuyện về sự giàu có nổi tiếng khắp vùng của cụ Chánh Đúc tên thật là Nguyễn Đình Giám, sinh sống vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Cụ giàu có vì được hưởng lộc từ ngôi mộ phát.

Bà Thanh (65 tuổi, xã Tân Dân, Phú Xuyên, Hà Nội) cho biết: “Câu chuyện về cụ Chánh Đúc ở đây từ trẻ con đến các cụ già, ai cũng biết. Người ta còn có câu ví von “giàu như ông Chánh Đúc””. Cũng theo lời bà Thanh kể, theo câu chuyện bà được nghe từ các cụ cao niên trong làng, bố ông Chánh Đúc là một người ăn mày, bị chết trên đường đi khất thực bên Hưng Yên. Sau khi chết, ngôi mộ ấy bị mối đùn lên thành đống, từ đó ông Chánh Đúc giàu có nhất vùng.

Nghe bà Thanh kể xong, tôi tìm đường tới xã Chuyên Mỹ, nơi vẫn còn con cháu của cụ Chánh Đúc sống. Tại đây, tôi được ông Lâm Hữu Đào, cán bộ văn hóa xã Chuyên Mỹ khẳng định: “Câu chuyện về cụ Chánh Đúc là có thật. Nghe nói cụ ấy giàu có lắm”. Thế rồi chẳng quản đường sá, ông Đào dẫn tôi đến gặp ông Nguyễn Văn Lộc, 73 tuổi, cháu gọi cụ Chánh Đúc là ông cậu (bà nội ông Lộc là chị gái của cụ Chánh Đúc). Thế rồi ông Lộc kể cho tôi nghe câu chuyện liên quan đến ngôi mộ phát và sự giàu có của cụ Chánh Đúc.

 thuc hu ngoi mo an may giup mot gia dinh giau nhu 'cong tu bac lieu' - 1

Nhờ ngôi mộ kết phát mà cụ Chánh Đúc và con cháu trở nên giàu có. Ảnh minh họa.

Ông nội cụ Chánh Đúc không rõ tên gì, sinh ra trong một gia đình nghèo, không rõ lai lịch, gốc tích ở đâu. Chỉ biết rằng họ là những người hiền lành, chất phác và lương thiện. Lớn lên, ông nội cụ Chánh Đúc theo học nghề thợ xẻ. Tay nghề của ông nổi tiếng khắp vùng. Mỗi khi làng hết việc, ông mang đồ nề, dụng cụ đi đến các nơi khác làm thuê, lấy tiền về nuôi cha mẹ, vợ con. Mỗi chuyến đi như thế, có khi cả tháng, thậm chí vài tháng ông mới về nhà. Và trong mỗi chuyến đi ấy, ông nội cụ Chánh Đúc không quên mang theo chiếc hộp đựng thuốc lào được khảm trai tinh xảo. Chiếc hộp này được coi là “vật bất ly thân” của ông. “Chỉ cần nhìn chiếc hộp đựng thuốc lào ấy, con cháu, người làng nhận ra ngay. Bởi kỹ xảo khảm trai tuyệt đỉnh ấy chỉ người đạt trình độ nghệ nhân nơi đây mới tạo thành và nó còn là “biểu tượng” khi đó của làng về kỹ xảo khảm trai”, ông Lộc chia sẻ.

Lần ấy, ông nội cụ Chánh Đúc đi mãi không thấy về nhà. Vợ con, người thân của ông đi dò hỏi khắp nơi nhưng không biết tung tích ở đâu. Ông còn sống hay đã chết... không một ai biết. Một thời gian sau, tình cờ, con cháu của ông gặp “vật bất ly thân” kia. Hôm ấy, làng vào ngày mùa, ngoài đồng lúa chín vàng rực rỡ, nếu không gặt nhanh, thóc sẽ rụng. Cực chẳng đã, gia đình người cháu của cụ Chánh Đúc mới phải tìm thợ. Khi đám thợ gặt ngồi nghỉ ngơi tại đầu ruộng, một người thợ gặt liền bỏ trong túi hộp đựng thuốc lào ra hút. Nhìn chiếc hộp được chạm khắc công phu, đẹp đẽ ấy, người cháu của cụ Chánh Đúc ngờ ngợ. Người ấy liền mời người kia đến nhà cụ Chánh Đúc nói chuyện.

Vừa nhìn thấy vật, cha cụ Chánh Đúc nhận ra ngay “vật bất ly thân” của người bố thất lạc bao năm. Theo lời kể của người thợ gặt, cách đó mấy năm, có một người đàn ông ăn mày đi qua vùng đất thuộc Khoái Châu (Hưng Yên). Về đến đây, người này vào làng ăn xin và làm thuê cho dân làng. Nhìn thấy hộp thuốc đẹp quá, ông thợ gặt ngỏ lời xin, người đàn ông nọ tặng luôn. Trời tối, người đàn ông nọ ra điếm canh đê xin ngủ nhờ để sáng mai về sớm. Tuy nhiên, sáng ngày hôm sau, người đàn ông nọ bị ốm và chết. Thương cảm, dân làng gọi nhau mang người đàn ông nọ đi chôn. Mọi người bó ông trong một manh chiếu cũ, khiêng ra đồng để chôn. Vừa đi được một đoạn, mây đen kéo đến kín trời, mưa gió nổi lên. Những hạt mưa to hất xối xả vào mặt đoàn người đưa tang khiến bước chân họ siêu vẹo trên con đường đất lồi lõm, trơn trượt. Cố thêm được một đoạn, mọi người bảo nhau đặt tạm người chết xuống cái hố nhỏ ven đường, sáng mai sẽ ra mang đi chôn.

Sáng hôm sau, khi dân làng đến nơi, cái hố trâu đằm ven đường, nơi đặt người ăn mày đã bị mối đùn lên thành một ngôi mộ lớn. Nhìn ngôi mộ, dân làng bảo nhau, đây là ngôi mộ kết. Bên trong ngôi mộ này có tơ hồng quấn quanh người chết. Ngôi mộ này chỉ có thể để nguyên, nếu cải táng, con cháu người này sẽ mất lộc. Còn nếu để nguyên cho ngôi mộ “tự lớn”, con cháu người này được hưởng sự giàu sang và vinh hoa, phú quý muôn đời.

Kể đến đây, ông Lộc bảo: “Tôi đã từng sang thắp nhang ngôi mộ tổ ấy. Ngôi mộ ấy rất lớn, to gấp mấy lần so với những ngôi mộ khác. Ngay từ thời cụ Chánh Đúc, ngôi mộ ấy cũng đã to như thế. Hiện nay khu đất có ngôi mộ ấy thuộc sự quản lý của con cháu cụ Chánh Đúc. Bởi sau cái ngày gặp người thợ gặt kia, cụ Chánh Đúc đã sang tận nơi mua khu đất ấy rồi thuê người trông nom, chăm sóc”.

Sự giàu có của một dòng họ

Từ khi có mộ phát, con cháu người ăn mày ăn lên làm ra, chẳng mấy trở thành người giàu có nổi tiếng khắp vùng. Sự giàu có trên có phải nhờ được lộc trời từ ngôi mộ phát? Theo lời kể của một số người dân làng thôn Chuôn Trung, Chuyên Mỹ, thời điểm ông nội cụ Chánh Đúc chết, ngôi mộ được ăn lộc trời, trở thành mộ kết, từ một gia đình nghèo khó, gia đình cụ Chánh Đúc có của ăn, của để. Đặc biệt đến thời cụ Chánh Đúc, sự giàu có ấy nổi tiếng khắp tổng.

Đưa tay chỉ về phía cánh đồng trước mặt, bà Thanh (65 tuổi, xã Tân Dân, Phú Xuyên, Hà Nội) bảo: “Cả cánh đồng thẳng cánh cò bay này trước kia là của cụ Chánh Đúc hết đấy. Cụ ấy giàu lắm”. Rồi bà Thanh bảo: Theo lời kể của các cụ cao niên trong làng, nhà ở của cụ Chánh Đúc vô cùng rộng lớn, tráng lệ và nguy nga. Trong nhà cụ có hàng chục người ở để trông nom, dọn dẹp, lau chùi nhà cửa. Bữa ăn của cụ toàn “sơn hào, hải vị” được mua từ khắp nơi về. Mỗi khi cụ thức giấc, có người đến tận giường bưng cốc cho cụ nhổ nước bọt, người bưng thau nước ấm, người cầm khăn mặt... Mỗi lần đi xa, cụ cho hàng chục người theo hầu, hộ giá... Có thể nói, cụ là “ông vua nhỏ” ở vùng cụ cai quản (cụ làm Chánh tổng).

Dẫn tôi ra trường tiểu học của xã Chuyên Mỹ, ông Lâm Hữu Đào bảo: “Cả khu này ngày xưa là nơi vui chơi, giải trí, ăn uống của cụ Chánh Đúc. Đây cũng là nơi cụ Chánh Đúc đón các quan lớn trên huyện về. Những cái cây cổ thụ kia là dấu tích về nơi nghỉ dưỡng của cụ Chánh Đúc đấy. Những cái cây này được cụ ấy trồng mà”. Theo lời kể của ông Đào, xưa kia nơi đây là một cái hồ hình bán nguyệt lớn. Ở giữa hồ là một mặt phẳng, trải được mấy cái chiếu để cụ Chánh Đúc cùng mọi người ra đó chơi cờ, luận bàn công việc. Trên bờ là những căn phòng dành để ăn uống, nghỉ ngơi... Có thể nói, khu vui chơi, nghỉ dưỡng thời xưa của cụ Chánh Đúc được ví ngang ngửa với những khu resort hiện đại ngày nay. Bởi số lượng các quan từ nơi kéo về ăn chơi, nghỉ dưỡng rất đông. Hầu như ngày nào cụ Chánh Đúc cũng đón đoàn khách hàng chục người đến ăn, nghỉ, chơi không mất tiền... Ngoài ra, cụ Chánh Đúc cũng hay mang tiền dâng vào đình, chùa hoặc cho tiền sửa sang các nơi công cộng...

Ở miền Nam, người ta ví “giàu như công tử Bạc Liêu” thì ở đây người ta cũng ví sự giàu có của những người sau này với cụ Chánh Đúc. Cụ giàu có, biết hưởng thụ là vậy nhưng lại là một người vô cùng thương người. Cụ thường cho thuê ruộng với giá rất rẻ; nếu không may năm đó mất mùa, cụ sẵn sàng cho nợ đến sang năm trả hoặc trả dần dần. Không bao giờ cụ thúc ép người nghèo. Hay mỗi khi xảy ra hạn hán, mất mùa, dân nghèo đói khổ, cụ lại sai người nấu cháo, phát chẩn hoặc cho vay mượn thóc gạo... Chính vì thế, cụ được nhân dân khắp vùng yêu mến.

Đời cụ Chánh Đúc giàu, đời con cháu của cụ cũng giàu. Theo lời chia sẻ của ông Lộc, sau khi chiến tranh loạn lạc xảy ra, cụ mất, con cháu cụ di tản vào Nam, thi thoảng mới về nhưng ai cũng thành đạt và khá giả. Một số người cháu của cụ còn sang nước ngoài sinh sống. Có thể nói dù ở đâu, con cháu của cụ Chánh Đúc vẫn rất giàu có, sung sướng, đến nay đã là đời thứ 4, thứ 5 rồi. Nhưng tất cả sự giàu có ấy liên quan đến mộ kết cũng chỉ là tin đồn vô căn cứ mà thôi.

Lý giải về sự giàu có của cụ Chánh Đúc, ông Lộc bảo: “Tôi không biết sự giàu có ấy có phải bắt nguồn từ ngôi mộ phát của ông nội cụ Chánh Đúc không. Chỉ biết rằng từ đời cụ Chánh Đúc làm ăn luôn luôn gặp may mắn, phát đạt (ngày trước cụ Chánh Đúc làm cai thầu, nạo vét kênh mương, hồ và xây dựng...). Ngày nay, con cháu cụ cũng rất giàu sang, phú quý, ai cũng làm giám đốc này kia...”.



Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Thực hư ngôi mộ ăn mày giúp một gia đình giàu như 'công tử Bạc Liêu'

Xem tướng qua lông mày –

I. TƯỚNG LÔNG MÀY a. Các đặc tính của lông mày: Về phương diện cấu tạo cơ quan bộ vị, Lông mày được cổ tướng học gọi là Bảo thọ quan. Đem chiêm tinh thuật ứng dụng vào tướng số, Lông mày phải được mệnh danh là Kế Đô, Long mầy trái được gọi là La Hầu.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Nội dung

  • 1 I. TƯỚNG LÔNG MÀY
    • 1.1 a. Các đặc tính của lông mày:
    • 1.2 b. Các đặc thái của lông mày:
  • 2 II. CÁC Ý NGHĨA CỦA LÔNG MÀY :
    • 2.1 a) Tương quan giữa Lông mày và cá tính.
    • 2.2 c. Tương quan giữa Lông mày và gia vận:
  • 3 III. CÁC LOẠI LÔNG MÀY ĐIỂN HÌNH

I. TƯỚNG LÔNG MÀY

a. Các đặc tính của lông mày:

Về phương diện cấu tạo cơ quan bộ vị, Lông mày được cổ tướng học gọi là Bảo thọ quan. Đem chiêm tinh thuật ứng dụng vào tướng số, Lông mày phải được mệnh danh là Kế Đô, Long mầy trái được gọi là La Hầu.

Trong phép đoán lưu niên vận hạn dựa vào các bộ vị trên mặt Mày trái được gọi là Thái Hà, mày phải là Phồn Hà.

Căn cứ vào cốt cách con người để định thanh trọc (qua việc phân bố một số bộ vị thành nhiều học đường) Lông mày được gọi là Ban duẩn học đường.

b. Các đặc thái của lông mày:

1. Lông mày đúng cách.

Sợi Lông mày có đường kính tương tự như đường kính sợi tóc được coi là đúng cách về hình dạng, khoảng cách của chúng cũng tương đương với khoảng cách giữa các sợi tóc.

2. Lông mày thưa.

Sợi Lông mày lớn bằng sợi tóc, khoảng cách giữa các sợi Lông mày bằng khoảng cách của các sợi lông chân, tay thì gọi là Lông mày thưa.

3. Lông mày lạt và mỏng.

Sợi Lông mày nhỏ lại vừa ngắn như các sợi lông măng nhình xa tưởng như không có nên gọi là Lông mày lạt và mỏng.

4. Lông mầy đặm, thô.

Sợi lông mày to bằng sợi lông mũi thì gọi là sợi Lông mày thô, Thường thường nếu sợi lông mày bằng sợi tóc nhưng khoảng cách giữa những sợi lông mầy bằng nhau hơn là khoảng cách các sợi tóc thì đó gọi là Lông mày đậm. (Trường hợp này tướng pháp gọi là Trọc Trung Hữu Thanh). Cũng có trường hợp khoảng cách giữa các sợi lông mày bằng khoảng cách giữa các sợi tóc nhưng vì sợi thô nên khít lại với nhau cũng gọi là đậm. Trường hợp này mới gọi là Trọc.

3-d2d6a

II. CÁC Ý NGHĨA CỦA LÔNG MÀY :

a) Tương quan giữa Lông mày và cá tính.

Lông mày liên quan mật thiết với cặp mắt, giúp cho người ta định rõ được tinh thần con người về mặt trí tuệ. Cho nên coi tướng Lông mày không nên tách rời ra khỏi cặp mắt.

1. Thông minh tổng quát

Lông mày cong và dài quá mắt, trông bóng bẩy và không rộng. Không hẹp là biểu thị thông minh, mẫn tuệ. Nếu dài vừa phải thì cần phải có nốt ruồi ở giữa chân mày mới đắc cách.

2. Thông minh, đa tài và khéo léo

Lông mày thanh tú, dài quá mắt, hướng Lông mày mọc từ đầu mắt hướng về cuối mắt, mọc kín xương chân, không lan lên trên, không rủ xuống phía mắt, biểu thị tâm tính trung hậu, thông minh, nhãn quan rộng rãi.

Nếu mắt mờ và nhỏ: các đức tính trên chỉ có tính cách tiêu cực, chỉ biết thưởng lãm, cảm thông mà không đủ sức làm đến nơi những điều mình nghĩ.

Nếu mắt sáng lớn thì các đức tính trên trở thành tích cực, thực thì được tất cả sở nguyện. Khéo léo chân tay trong tất cả mọi công tác trí óc lẫn tay chân; đuôi Lông mày càng cao thì các đặc thái trên càng rõ.

Vẫn những đặc tính trên nhưng nếu chiều dài của Lông mày ngắn dần thì các đức tính trên cũng bị giới hạn dần lại.

3. Thông minh hiền hào

Lông mày đẹp rũ xuống phái mắt và hình dạng Lông mày như cánh cung.

4. Cứng cỏi, ngoan cố, ngu độn

Lông mày có sợi trung bình, đẹp mà mọc ngang là kẻ tínhtình cứng cỏi, hay câu nệ nhưng còn biết thị phi.

Lông mày ngắn mà mọc ngược là kẻ tính tình ngoan cố, ưa cãi lý.

Lông mày thưa ngắn (hoặc mịn nhưng xoắn lấy nhau hoặc mọc ngược chiều mà ngắn) mà ánh mắt vô thần là kẻ ngoan cố và ngu độn.

5. Cô độc, quả giao

Lông mày ngắn không tới đuôi mắt: tính nết ưa cô đôc, không thích giao du thân mật với mọi người. Do đó không có bạn tâm giao.

6. Hào sáng phóng khoáng

Lông mày mịn đen bóng, mọc che kín hết xương Lông mày mà dài hơn hoặc bằng chiều dài của mắt, đuôi Lông mày cao hơn đầu Lông mày, các sợi Lông mày xuôi theo chiều thuận và phủ lên mi- cốt như hình dạng mái ngói: giữa mi- cốt lông mọc rồi hai bên thấp dần là biểu thị tâm tình hào sáng, phóng khoáng, không cậu nệ tiểu tiết. Nếu Lông mày thưa, thô hoặc quá to bề ngang thì là kẻ cuồng phong.

7. Mềm mỏng, nhu thuận

Kẻ tính tình nhu thuận, dễ bị người thuyết phục thì Lông mày vòng cung, đầu và đuôi nhọn, nhỏ so với phần giữa hoặc hơi cong mà đầu chân mày cao, đuôi Lông mày xuống thấp hơn đầu.

8. Tham lam, dâm dật

Đặc trưng của tham lam, dâm dật là loại Lông mày hoặc mịn và rối như tơ vò hoặc nhỏ bản và cong vút như mày ngàn.

9. Tàn nhẫn, háo sắt

Lông mày thô, mọc thẳng đứng hoặc mọc hướng lên phía trên là kẻ thần khí cương bạo, tính tình tàn nhẫn, háo sắt, ưa đấu tranh bạo lực, Sách Nhân luân đại thống phú có nói : “Lông mày mọc ngược mà thô là kẻ tính hay đa sát, dữ như lang sói”. Nhưng, đặc tính trên chỉ trở thành hành động nếu nó đi đôi với mắt chó sói hoặc mắt óc lồi mà lộ hung quang. Còn không thì đó chỉ là biểu hiện của tính háo sắt tiêu cực.

Người ta thường nói “Mi thanh mục tú” là kẻ tính tình hòa nhã, thông minh. Xem như vậy, Lông mày và mắt là những nơi để phát hiện ra được cá tính của con người. Phối hợp cả hai (Lông mày và mắt) ta có tạm đủ yếu tố để quan sát cá tính con người dưới khía cạnh tinh. Ở đây soạn giả thấy cần phải đúc kết những điều thu thập được của tướng học về tương quan giữa Lông mày và cá tính thành một “biểu nhất lãm” dưới đây để độc giả tiện tham khảo.

– Lông mày dài, mịn, trông thanh nhã là biểu hiện của sự thông minh và kéo dài chân tay lẫn trong cách cư xử.
– Khoảng giữa Lông mày có nốt ruồi là kẻ thông minh có tài bắt chước.
– Lông mày đẹp, cong xuống như trăng non là kẻ thông minh nhưng tiêu cực, tính nết hiền hòa.
– Xương Lông mày nổi rõ ràng và tính theo chiều dọc thì hai bờ xuôi thấp như mái nhà là kẻ cương nghị.
– Lông mày phía trên dài hơn phía dưới và mọc lan quá mi cốt về phía trên là kẻ rất hiếu kỳ và cực đoan.
– Lông mày bóng bẩy, mọc kính mi cốt và xuôi theo chiều từ đầu đến đuôi là kẻ tính tình hào sảng.
– Lỗ chân Lông mày tương đối nhỏ và khít, Lông mày dài và có chiều thẳng hơn là chiều cong là tướng thông tuệ, hiền hậu, chung thủy.
– Lông mày cong hoặc đuôi Lông mày là kẻ tâm tính thiện lương nhưng mềm yếu không có dũng khí.
– Mày thô nhưng có thế hoặc mọc ngược mà xoắn tít ở đầu sợi là kẻ tính tình hung bạo.
– Xương Lông mày (mi -cốt) mọc quá rõ và hai bờ điều cao bằng phần chính giữa bất kể mày thanh hay trọc, đều là triệu trứng bề ngoài của hung hãn, tàn bạo, gặp việt khó thương hay gây ra đổ vỡ.
– Lông mày mà đuôi bị khuyết là kẻ hay trí trá, gian hiểm.
– Lông mày quá thưa thớt và mỏng là kẻ tài trí tầm thường, hay a dua nịnh hót.
– Lông mày thưa mà đậm, hoặc đuôi Lông mày có nốt ruồi đen là kẻ tham lam ưa trộn cắp hoặc háo dâm.
– Hai Lông mày có hình dạng hoặc sắc thái không tương xứng là kẻ tính tình cố chấp, quan niệm một chiều.
– Lông mày đa số xuôi theo chiều bình thường mà lại có một số mọc thẳng đứng hoặc mọc ngược lên hướng trên là kẻ tính tình phản trắc hoặc gặp việc khó thì mất hết khí phách con người.
– Lông mày ngắn hơn mắt, thương kém về tài giao tế.
– Đầu Lông mày có một số sợi lông mọc ngược chiều về phía Lông mày đối diện là biểu hiện của cá tính ưa tranh đấu và ưa sát sinh.
– Lông mày mọc dọc theo chiều ngang và hướng xuống phía mắt biểu thị tính nết cứng rắn, cố chấp, có tà ý.
– Lông mày đảo vị trí (chiều Lông mày xuôi theo từ đuôi mắt hướng về đầu mắt) là kẻ kiên cường, không chịu cùng người khác cộng tác.
– Lông mày trông thô và hỗn trọc là kẻ đầu óc trì độn.
– Đàn ông mà có Lông mày đàn bà (nhỏ, hẹp hoặc mảnh quá cức) là kẻ tâm tính không bình thường, hay vong ơn bội nghĩa.
– Đàn bà mà Lông mày có bề ngang quá hẹp trông như sợi chỉ. Khi nói năng mà lông mày cũng bất động như lúc im lìm là kẻ bất cần trinh tiết, dâm đãng.

b) Tương quan giữa Lông mày và phú quí, bần tiện

Lông mày cũng như mắt giúp ta biết được quý tiện, cho nên có tên là Ban duẩn học đường. Cũng vì lẽ đó, mà tướng pháp có câu Văn danh tại mi.

1. Phú quý

Lông mày dài quá mắt là tướng tổng quát về phú quý.
– Lông mày dài, mọc cao lên về phía trán, cách xa mắt là phú quý vinh đạt.
– Lông mày đẹp hướng lên phía Thiên thương là tướng có phúc khí: vừa giàu có vừa được mọi người kính nể.
– Lông mày đen, tươi, mịn, dài bằng hoặc hơn mắt là tướng quý hiển, dễ dàng thành danh hơn người.
– Lông mày đẹp, sợi nhỏ như sợi tóc là qúy tướng: đó là dấu hiệu cho biết tiến trình tiến triển vô hạn.
– Lông mày đẹp, đầu Lông mày có nốt ruồi đẹp và đen là kẻ có tướng được hưởng quan lộc cao sang hơn người.
– Lông mày cong và dài, đẹp và mịn là tướng phú quý, danh tiến vang khắt thiên hạ.

2. Bần tiện

Đặc tính tổng quát là sợi thô, quá nhỏ, lông mày ngắn.

– Lông mày quá ngắn, xấu, không tới đuôi mắt là tướng nghèo khổ, có tiền cũng không được hưởng.
– Khoảng cách giữa bờ mắt và Lông mày không có hoặc quá ít cơ hồ như Lông mày che lấp mắt hẳn mắt là tướng của kẻ luôn luôn khốn quẫn về tiền bạc.
– Lông mày mà có nhiều gân nổi lên ở phía trên là tướng khốn quẫn không bao giờ kiếm được đủ tiêu.
– Mày đậm được coi là tốt nhưng quá đậm đến nỗi nhìn không thấy chân Lông mày thì lại là tướng phá tài, dễ bị cùng quẫn.
– Hai đầu lông mày mọc liền với nhau thành một vệt dài duy nhất từ đuôi mắt phải sang đuôi mắt trái là tướng không bao giờ dư giả tiền bạc.
– Lông mày mọc ngược mà thô là tướng bần tiện. Nếu có thêm sợi dài thì tính hung dữ,
– Lông mày ngắn, mọc xoắn tít và lan sát tới bờ mắt khiến người ngoài nhìn vào thấy có vẻ sầu khổ là tướng phá tiền bạc, càng về già càng nghèo khổ.
– Đầu lông mày, trong tuổi thanh niên mà có những vằn nhỏ rõ rệt là tướng nghèo hèn, suốt đời vất vả.
– Hai đầu lông mày có hai vết sâu rõ, thành chữ bát là tướng vất vả, suốt đời không được hưởng thụ nhàn hạ về tiền bạc.
– Lông mày có sợi quá nhỏ và mảnh là tướng vừa nghèo vừa đê tiện.

c. Tương quan giữa Lông mày và gia vận:

1. Gia cảnh tốt và vui vẻ:

Đời sống gia đình lúc nhỏ cũng như lúc lớn ảnh hưởng tới gia đình và thể hiện qua tính cách của Lông mày, ta có thể biết được những nét chính yếu về gia đình vận mạng:

– Sợi Lông mày, chiều dài lông mày vượt quá mắt.
– Sợi lông mày cao dần và thanh tú
– Sợi lông mày đen đậm nhưng đen nhuận, snág sủa, hình dạng tổng quát của lông mày cong xuống như trăng thượng tuần.
– Đó là những dấu hiệu bề ngoài của kẻ có gia đình vận mạng tốt, có hạnh phúc gia đình.

Ngoài ra theo một thuyết khác khá thông dụng nhưng không được chính xác lắm là lông mày có thể cho ta biết được số anh em ruột đại khái như sau:

– Lông mày đậm dài quá mắt thì có khoảng 3 hoặc 4 anh em.
– Lông mày đẹp, đậm đều, nhưng chỉ vừa bằng mắt thì anh em tối đa là 2 người.
– Lông mày bình thường nhưng nếu đặc biệt có một sợi mọc thẳng và đặc biệt dài hơn tất cả các sợi khác thì có 1 hoặc 2 anh em, có hai sợi thì 3 hoặc 4 anh em , ba sợi thì có 4 hoặc 5 anh em .
– Sơi lông mày trông sáng sủa, đen min, không thưa, không khít khao từ đầu đén cuối có khoảng cách đều đặn quân bình kể trên là kẻ có 6, 7 hoặc 8 anh em ruột.

2. Gia cảnh xấu và bất hòa:

Hai đầu lông mày giao nhau thì anh em ruột thường hay xung khắc. Nếu có thêm loại lông mày mọc đứng thẳng thì khổ sở vì anh em , có anh em không bao giờ nhờ cậy được.
– Lông mày mọc rủ xuống hoặc hướng lên chứ không theo chiều xuôi bình thường, sợi lông mày lại dài đều đều là dấu hiệu bất hạnh trong đời sống gia đình.
– Lông mày bị đứt đoạn là kẻ không thể chung sống cùng nhà với anh em có số ly hương xuất ngoại mới khá.
– Lông mày trông có vẻ thanh tú nhưng mắt lờ đờ, thần sắc trì trệ là kẻ thường hay lụy vì đàn bàn, hoặc gây liên lụy cho con cái.
– Lông mày có hình chữ bát mà sắc hắc ám là kẻ vô duyên với quyến thuộc, có hình chữ nhất là biểu hiện của kẻ bị vợ coi thường.
– Lông mày bên phải có một số sợi mọc dài và uốn cong là dấu hiệu mà chết trước cha, Bên trái là dấu hiệu cha chết trước mẹ. Cả hai lông mày đều có dấu hiệu trên là điềm cha mẹ đều mất sớm.
– Hai lông mày đều mọc không tương xứng (hoặc một bên cao bên thấp, bên xuôi bên ngược, bên thẳng bên cong, bên đậm bên lợt, bên lớn bên nhỏ, v.v…) là biểu hiện hoặc cha hay mẹ mất sớm, hoặc anh em bất hòa hoặc thân thích thờ ơ.
– Lông mày thô, cứng thì tính tình ưa dâm dật nhưng rất hiếm con hoặc không con.
– Lông mày rủ xuống phía dưới mắt mà trong dáng mặt lúc nào cũng có vẻ nhăn nhó sầu muộn là tướng của kẻ khắc với vợ con, gia đình thưuờng gặp cảnh bất hòa.

d. Tương quan giữa lông mày và thọ yếu:

Đối với tướng pháp cổ điển lông mày là một dấu hiệu rõ rệt và khả tính nhất để đón vận mạng sống con người dài hay ngắn, vì thế, lông mày được mệnh danh là báo thọ quan.

1. Dấu hiệu trường thọ:

– Các sợi lông mày phía đuôi dài hơn phía đầu.
– Lông mày dài mà có chiều cong xuống.
– Trong tuổi trung niên mà lông mày có điểm vài sợi bạc, trong khi toàn bộ lông mày có dáng tươi nhuận
– Lông mày đa số bình thường, đột nhiên có một số sợi mọc dài hẳn ra ở khoảng giữa. Tuy nhiên, dấu hiệu này xuất hiện trước 50 tuổi là dấu hiệu sẽ chết đột ngột vì bệnh nội tạng trong vòng vài ba năm tới kể từ khi phát hiện

2. Dấu hiệu trường thọ và khoẻ mạnh:

– Mày dài, vị trí đuôi mi cốt cao dần, sợi lông mày đẹp và sáng sủa.
– Lông mày cân sứng về sắc thái, dài ngắn, lớn nhỏ, vị trí, hình dạng sợi lông mày mọc điều đặng sáng sủa.
– Mi cốt cao vừa phải, có thế, lông mày đều và phía đuôi có góc nhọn rõ ràng, tươi đẹp.

3. Dấu hiệu non yểu:

– Hai đầu lông này mọc sát vào nhau, trong xa không thể phân biệt được rõ ràng là tướng yểu mệnh tự nhiên.
– Hai bên lông mày bất tương xứng là tướng chết yểu vì bệnh tật.
– Đầu lông mày cao, cuối lông mày thấp và đầu mi-cốt cao hẳn rồi lại trũng và mất hút vào xương trán.

III. CÁC LOẠI LÔNG MÀY ĐIỂN HÌNH

1- Lông mày quỷ (quỷ mi)

Sợi lông mày thô dài, có bề ngang rất rộng. Phía cuối lông mày có một số ăn lan xuống bờ mắt. Người có loại lông mày quỷ là người rất khôn ngoan, gian hiểm, tham bạo, ưa sử dụng thủ đoạn. Trong khi giao thiệp với người thường ra vẽ nhân nghĩa, nhưng thực tâm chỉ nhằm lợi dụng.

2- Mày thưa và rời rạc (Sơ tán my)

Sợi lông mày tương đối ngắn, thưa và khoảng cách giữa các sợi lông không điều đặn. Chiều dài ngắn hơn mắt và hình dạng thô trọc. Về phương diện mạng vận, lông mày thưa biểu hiện tình bạn lạt lẽo bình thường, tiền bạc không giữ được lâu bền mà lại lên xuống theo từng chu kỳ. Hết rồi lại có, có rồi lại hết, dù hết sức cố gắng cũng không thể thay đổi trình tự kể trên.

3- Lông mày đứt đoạn (Gián đoạn mi)

Bất kể lông mày nhiều hay ít, dài hay ngắn, nếu có mọt quãng bị ngắt quãng hoặc lông ở một đoạn quá ngắn hay mờ lạt một cách bất thường đều bị coi là gián đoạn mi. Lông mày gián đoạn có ý nghĩa rất xấu về mặt mạng vận, kẻ có gián đoạn mi có của cũng không giữ được vì tiền bạc thăng trầm ngoài ý liệu, anh em vô duyên, không nhờ cậy được, tính tình xung khắc hoặc phải xa cách cha mẹ.

4- Mày đuôi én (Giao da mi)

Lông mày to bề ngang, đen và đậm, hình dạng thô và phần đuôi chẻ ra hai nhánh rõ rệt trông giống như đuôi chim én.. Về mặt mạng vận, từ trung niên trở đi rất xáu, có thể bị tù tội, gia sản tiêu hao, anh em bất hoà và ly tán.

5- Lông mày thưa và lạt (Hoàng bạc mi)

Sợi lông mày nhỏ, màu ngả vàng, khoảng cách thưa và không đều, luôn luôn ngắn hơn mắt. Nếu mắt dài mà gặp loại lông mày này thì ngay từ tuổi trẻ tuy tiền bạc có vào nhiều nhưng ra cũng lắm, không bao giờ dư dật. Nếu mắt hôn ám thì kẻ có lông mày thưa và lạt có số chết ở quê người.

6- Lông mày chổi xể (Tảo trứu mi)

Hình dạng lông mày tương tự như cái chổi quét nhà. Đầu lông mày trong thanh tú, lông mịn, càng về phía đuôi thì càng thưa dần, phía nhọn uốn cong về phía trán.Về mặt mạng vận gia đình, lông mày chổi xể tượng trưng cho sự thiếu tình cốt nhục (cả anh em lẫn con cái). Hậu vận rất xấu vè cả tiền bạc lẫn gia cảnh.

7- Lông mày chữ bát(Bát mi tự) Về loại lông mày này có hai giả thuyết:

a) Đầu lông mày bình thường nhưng cuối lông mày chia thành hai nhánh. Một nhánh hếch lên và chiều hướng của sợi lông mày cũng hướng lên; còn nhánh thứ hai tẽ xuống, chiều lông mày cũng xuôi theo. Tóm lại, hai nhánh có chiều hướng khác nhau: một thuận một nghịch. Lối phân định này được nhiều người công nhận hơn lối thứ hai.Về ý nghĩa, lông mày chữ bát chủ vè vận số long đong nhất là các lãnh vực tình cảm, tiền bạc.

b) Lông mày thuộc loại dài, đầu lông mày cao và thân lông mày thấp dần, đến đuôi lông mày thì xuống thấp gần ngang hàng với đuôi mắt. Cả hai lông mày phải trái và trái hợp với nhau thành hai nhánh trông như hai nhánh chữ bát. Loại lông mày chữ bát thường đầu mịn đuôi thưa, càng thô và càng tản mát thì ý nghĩa lại càng xấu.

8- Lông mày dao cau (Tiêm dao mi)

Lông mày nhỏ, hẹp cả bề dài lẫn bề rộng có hình dạng như loại dao têm trầu thời xưa, lông mày thô và ngắn. Kẻ có loại lông mày dao cau tâm địa gian hiểm, đầu óc tàn nhẫn, hung bạo, ngay cả đối với anh em ruột thịt cũng không vị tình. Người có loại lông mày dao cau thường chết bất đắc kỳ tử.

9- Lông mày la hán (la hán mi)

Mày đậm mà thô, bề ngang rất rộng và uốn hơi cong như lông mày các tượng La hán trong các đền chùa cổ. Đây là loại lông mày rất xấu, tượng trưng cho sự trì trệ đủ mọi phương diện. Người có cặp lông mày la hán mà được cặp mắt tốt thì vợ trễ, con muộn, tuổi trẻ gian nan vất vả. Nếu lông mày la hán đi với mắt xấu hoặc nhãn thần hôn ám là điềm báo trước chết vì hình thương ở tuổi trung niên.

10- Lông mày rồng (Long mi)

Lông mày đẹp, có dáng bóng bẩy, sợi lông mày dài và hơi thưa, đầu lông mày nhỏ, đuôi lông mày cao, hơi thô và cao hơn đầu. Về mặt mạng vận, lông mày rồng phối hợp đắc cách với các loại mắt tốt là tượng trưng cho sự đông anh em, cha mẹ sống lâu và giàu có hơn người.

11- Lông mày lưỡi kiếm (kiếm mi)

Sợi lông mày mịn, khoảng cách vừa phải, bề ngang hơi nhỏ, bề dài quá mắt. Trông xa loại lông mày này thẳng, đuôi ngược lên trông như lưỡi kiếm. Lông mày này biểu tượng cho tính nết cứng cỏi, học vấn sâu rộng.Về mặt gia đình, mạng vận, mày lưỡi kiếm tượng trưng cho phú quý lúc trung niên trở đi.

12- Mày lá liễu (Liễu diệp mi)

Lông mày dài, thon ở hai đầu, trông mường tượng như lá cây liễu. Về tính chất của lông mày này, có vẻ hơi thô trọc nhưng nhìn kỹ và lâu lại có vẽ thanh tú đặc biệt (trọc trung đới thanh). Mày lá liễu biểu tượng tâm tính trung tín nhưng cá tính nhu thuận, dễ bị người thân chi phối hoặc khinh mạn. Nếu gặp được người quyền quý đỡ đầu mới có thể hiển đạt được.

13- Lông mày sư tử (Sư tử mi)

Lông mày đậm và khá dài, thường thường bằng chiều dài của mắt, sợi lông mày thô, bề ngang khá lớn và hơi cong xuống, tuy nhiên mọc khá xa bờ mắt. Lông mày sư tử hợp với mắt sư tử hoặc cọp tượng trưng cho sự thông minh, hoạt bát, dễ thành đạt nhưng vợ trễ con muộn, vinh hoa phú quý ở buổi vãn niên.

14- Lông mày đầu mịn đuôi thưa (Tiền thanh hậu tán mi)

Vị trí lông mày đầu đuôi bằng nhau, bề ngang thuộc loại hơi lớn, đầu lông mày có sợi nhỏ, hơi khít, mịn, bắt đầu từ phần gấp khúc trở về sau lông mày dài dần dần và khoảng cách thưa dần. Hình dạng lông mày tương tự chữ nhân, trông thoáng qua thì không được tao nhã, nhưng nhìn kỹ dưới nhãn quan tướng học thì lại có vẽ thanh tú (trọc trung hữu thanh). Người có loại lông mày trên, đỗ đạt hoặc nổi tiếng sớm nhưng tiền bạc bình thường, từ trung vận trở đi tấn phát được. Nói chung loại lông mày đầu mịn đuôi thưa chủ về quý mà kém thọ.

15- Lông mày ngắn, nhỏ mà đẹp (Đoản xúc tú mi)

Lông mày mịn, đều, bề ngang hơi nhỏ và ngắn hơn mắt, dáng vẻ thanh tú, hợp với khuôn mặt, cặp mắt và râu tóc. Đắc cách nói trên thì lông mày đoản xúc nhi tú tượng trưng sự khang kiện về cả vật chất lẫn tinh thần: tính tình trung hậu, trí tuệ sáng suốt, không hay đau ốm trong buổi vãn niên.

Tóm lại, đoản xúc mi tú thuộc hạng tiểu quý, tiền tài bình thường nhưng gia đình, vận mạng hoà thuận.

16- Lông mày đẹp vừa phải (Khinh thanh mi)

Đặc tính tổng quát tương tự như loại đoản xúc tú mi ở trên, nhưng bề ngang lẫn bề dài đều lớn hơn, hơi có chiều cong uốn theo mắt và dài bằng hoặc lớn hơn mắt, đuôi mày dài và hơi thưa.

Người có loại khinh thanh mi phối hợp đắc cách với râu tóc và mắt là tướng được mọi người vị nể, thông minh, hoạt bát, lại đối xử với kẻ xung quanh có nghĩa.

17- Lông mày sâu róm (Toàn luỹ mi) 

Sơi lông mày thô, dầy, khít, phía đầu dựng ngược và ngắn, phía đuôi hoặc ngang hoặc hơi xuôi về phí đuôi mắt, hình dáng thô bạo và to bề ngang.

Kể hợp cách về ngũ quan thì dễ thành đạt về mặt võ nghiệp nhưng tính tình thô lỗ hay gây hiềm khích. Kẻ thường tục thì hoặc hình thê khắc tử hoặc bản thân lưu lạc tuỳ theo ngũ quan bị khuyết hãm hoặc xung khắc nhiều hay ít.

18- Lông mày chữ nhất (Nhất tự mi) 

Sợi lông mày mịn, đen, khoảng cách vừa phải, khá to bề ngang, dài bằng hoặc hơn mắt và đầu đuôi bằng nhau, thẳng băng thành hình dạng chữ nhất (-)Hán tự. Lông mày chữ nhất hợp với các loại mắt dài và có chân quang, biểu hiện cho tâm tình nhân nghĩa, thông tuệ.
Về mặt mạng vận, lông mày chữ nhát đắc cách tượng trưng cho sự phát đạt ngay từ thuở trẻ, gia đình thuận thảo đến bạc đầu, phú quý trường thọ ít khi có kẻ sánh kịp.

19- Lông mày trăng non (Tân nguyệt mi) 

Lông mày có sợi vừa vặn, mịn, mọc xuôi, sắc đen và rõ như nét vẽ, uống cong như hình dáng trăng mồng 2 mồng 3, dài quá mắt và dáng vẽ thanh tao. Hợp với mắt hạc hoặc mắt loan, ngũ quan toàn vẹn, tương xứng với cách cục hình hài, mày trăng non biểu tượng cho trí óc thông tuệ, nhu thuận, nổi tiếng về đường văn học và khoa bảng.

Về mặt mạng vận, gia thế, có thuyết cho rằng kẻ có mày trăng non thì cả anh em cũng điều hiển quý nhưng không có gì làm bằng.

20- Lông mày tằm (Ngoạ tầm mi) 

Sợi lông mày hơi thô, cong và to bản trông như dáng con tằm. Nếu lông mày đẹp và có vẽ tao nhã (trọc trung hữu thanh) thì đó là biểu hiện của tính nết khôn khéo, uyển chuyển, dễ thành đạt, nhưng thiếu tình thân thiết anh em.

21- Lông mày cọp (Hổ mi)

Lông mày xếch lên, to bản, dài bằng hoặc hơn mắt, sợi lông mày thô, đuôi dài và hơi thưa. Lông mày cọp thường được coi là loại mày quý nếu hợp với mắt sư tử hay cọp và chủ về các nghề có tính chất cạnh tranh(vũ nghiệp, thực nghiệm gia v.v..) Lông mày cọp chỉ nặng về tính cách quý hiển chứ không đại phú, trường thọ, ngoài ra còn khắc anh em con cái.

22- Mày đậm ngắn (Đại, đoản xúc mi) 

Mày rất ngắn, không quá mắt, nhưng dáng vẻ đậm và thanh nhã, sợi nhỏ, đen và mịn. Phía đầu lông mày có một số sợi mọc ngang.
Về phương diện mạng vận gia đình, lông mày đậm, đẹp và ngắn tượng trưng cho gia cảnh hoà thuận: anh em thân thiết, con ngoan vợ hiền…Tiền bạc khi tụ khi tán.

23- Lông mày thanh tú (Thanh tú mi) 

Hình thể hơi cong và dài quá mắt , đầu hơi nhỏ và thấp, đuôi lớn dần và cuối cùng nhọn, cao hơn đầu. Sợi lông mày không lớn không nhỏ, không quá đậm không quá lạt, trông xa như nét tranh vẽ . Tướng pháp gọi loại lông mày này là thanh tu mi vì tục ngữ có câu:” Mi tự thanh sơn”. Màu xanh tươi như cây bao phủ núi một màu xanhPhối hợp với loại mắt trong sáng, có thần, lông mày thanh tú biểu hiện cho sự thông minh, trí tuệ cao viễn, đỗ đạt sớm, danh vang thiên hạ về mặt học thuật.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem tướng qua lông mày –

Khi đốt chùa chiền có ảnh hưởng đến phong thủy không? –

Khu đất của chùa chiền chủ yếu chú ý đến mấy điểm sau: Thứ nhất: “Phát mạch”. Phong thuỷ học có câu “Thiên hạ danh sơn tăng chiếm đa” có nghĩa phần lớn chùa chiền được xây dựng trên những ngọn núi nổi tiếng, u tịch. Khu đất của ngọn núi nổi tiếng thư

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Khu đất của chùa chiền chủ yếu chú ý đến mấy điểm sau:

Thứ nhất: “Phát mạch”. Phong thuỷ học có câu “Thiên hạ danh sơn tăng chiếm đa” có nghĩa phần lớn chùa chiền được xây dựng trên những ngọn núi nổi tiếng, u tịch. Khu đất của ngọn núi nổi tiếng thường có long mạch tốt cho nên các chùa ở đó có “mạch phát”.

p49

Thứ hai: Chú trọng hình cục. Đất của chùa chiền về cơ bản đáp ứng được nhu cầu yên tĩnh, cách xa trần thế của các nhà sư, đồng thời cũng chú trọng đến môi trường phong thuỷ của các kiến trúc.

Còn có một dạng kiến trúc Phật giáo đặc thù, đó chính là tháp xá lợi. Những ngọn tháp này đặt những viên xá lợi của Phật hoặc của các nhà sư đã viên tịch.

Tóm lại, đất đai của kiến trúc Phật giáo có ảnh hưởng rất lớn đến tư tưởng của phong t.huỷ.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Khi đốt chùa chiền có ảnh hưởng đến phong thủy không? –

Đào hoa vượng vận, 3 chòm sao may mắn trong tháng 9

Số đào hoa thịnh vượng, được thần tình ái quan tâm, Nguyệt lão se duyên, 3 chòm sao may mắn trong tháng 9 này sẽ tìm được người xứng đôi vừa ý.
Đào hoa vượng vận, 3 chòm sao may mắn trong tháng 9

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Số đào hoa thịnh vượng, được thần tình ái quan tâm, Nguyệt lão se duyên, 3 chòm sao may mắn trong tháng 9 này sẽ tìm được người xứng đôi vừa ý, tình yêu thăng hoa.


► ## cập nhật thông tin Tử vi hàng ngày, Mật ngữ 12 chòm sao mới nhất gửi tới bạn đọc

Dao hoa vuong van, 3 chom sao may man trong thang 9 hinh anh 2
 

Ma Kết

 

Lo lắng rằng Ma Kết là người cuồng công việc, vì bận bịu sự nghiệp mà quên đi tình riêng nhưng chòm sao may mắn trong tháng 9 này nhờ đào hoa vượng, được số phận ưu ái nên sẽ đổi vận, trong lúc làm việc lại nhận được tình yêu. Đầu tháng 9, Ma kết dễ dàng nảy sinh mối quan hệ thân thiết với đồng nghiệp hoặc đối tác, khách hàng và có cơ hội phát triển thành tình yêu. Người này giúp đỡ Ma kết rất nhiều về công việc, cuối cùng thu về thành quả rực rỡ trong cả công danh sự nghiệp lẫn tình ái, đúng là song hỉ lâm môn.  

Kim Ngưu

  Mong muốn sự ổn định, vững vàng, trông ngóng có thể tìm người cùng bên mình trải qua sóng gió cuộc đời, về mặt tình cảm Kim Ngưu rất si tình. Ngưu chan cũng không có yêu cầu quá đáng, chỉ cần thật lòng thật dạ yêu thương nhau là đủ rồi. Ông trời không phụ lòng người, để họ là chòm sao may mắn trong tháng 9. Đầu tháng, Kim Ngưu sẽ gặp gỡ đối phương, hãy tham gia nhiều hoạt động xã giao, tụ tập, giao lưu để tăng thêm khả năng tìm thấy người xứng đôi vừa lứa. Và phải nhớ rằng, ở thời điểm động tâm, nhất định dũng cảm tiến lên, mạnh dạn thể hiện tình cảm, đừng quá thẹn thùng.
 
Dao hoa vuong van, 3 chom sao may man trong thang 9 hinh anh 2
 

Song Ngư

  Đối với chòm sao Song Ngư mà nói, tháng 9 là thời điểm đào hoa dồi dào, thịnh đạt nhất trong năm. Nếu đã có người yêu thì tình cảm tăng thêm một bậc, cả hai cảm thấy rất hợp nhau, càng ngày càng gần gũi, tâm đầu hợp ý, thấu hiệu và đồng cảm. Người còn độc thân nhờ là chòm sao may mắn trong tháng 9 mà nhanh chóng cùng người bên cạnh tiến vào giai đoạn yêu đương. Bạn thân lâu năm, bạn bè thân thiết lại chính là đối tượng khiến Song Ngư động lòng. Tình cảm đến tự nhiên, bất ngờ khiến Song Ngư không thể chống đỡ được, chỉ vui mừng đón nhận mà thôi. 
Top 3 chòm sao nam có sự nghiệp tốt nhất tháng 9 Tử vi tháng 9 của 12 cung hoàng đạo Điểm danh 4 chòm sao được thần tình yêu ưu ái nhất Tết Trung Thu
Thái Vân
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Đào hoa vượng vận, 3 chòm sao may mắn trong tháng 9

Luận giải vận số của người tuổi Tuất theo ngày sinh

Sinh ngày Tý: Là người có cuộc sống bất ổn, hôn nhân không như ý, mọi việc làm đều trắc trở.
Luận giải vận số của người tuổi Tuất theo ngày sinh

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Sinh ngày Tý: Là người có cuộc sống bất ổn, hôn nhân không như ý, mọi việc làm đều trắc trở.

Sinh ngày Sửu: Người tuổi Tuất sinh ngày này cuộc sống gia đình thường không được yên ổn, hay cãi cọ, bất đồng quan điểm. May nhờ được quý nhân phù trợ, việc xấu được hóa giải.

Sinh ngày Dần: Là người có cuộc sống không được như ý, hay gặp rủi ro bởi những lời đồn đại thị phi. Mặc dù vậy, họ vẫn luôn có suy nghĩ tích cực và sống độ lượng

(Hình minh họa)

Sinh ngày Mão: Sinh vào ngày này người tuổi Tuất hay gặp chuyện không may,  trong đời thường bị kẻ khác tranh giành quyền lợi, cãi cọ, phá tài. May nhờ có sao Nguyệt Đức chiếu mệnh nên mọi việc mới được yên ổn.

Sinh ngày Thìn: Người tuổi Tuất sinh ngày này có sao Đại Hao chiếu mệnh nên số hay gặp rủi ro, bất trắc.

Sinh ngày Tỵ: Người tuổi Tuất sinh ngày này bị sao Quan Phù chiếu mệnh nên trong đời mọi việc thường hay gặp thất bại, may nhờ có sao Tử Vi, sao Long Đức bảo vệ nên tránh được tai họa.

Sinh ngày Ngọ: Là người có số may mắn, sự nghiệp, công danh đều hiển đạt. Tuy nhiên, do bị sao Bạch Hổ phá hoại nên cần cẩn trọng trong việc bảo vệ tài sản.

Sinh ngày Mùi: Là người trong đời gặp nhiều chuyện cãi cọ rắc rối hoặc hỏa hoạn phát sinh, sức khỏe kém. May nhờ có sao Phúc Tinh cao chiếu nên gặp nạn được cứu.

Sinh ngày Thân: Là người có số tha hương, phải lập nghiệp và sinh sống xa quê.

Sinh ngày Dậu: Người tuổi Tuất sinh ngày này có số phận không may mắn, cuộc sống gặp nhiều ưu phiền, sức khỏe kém.

Sinh ngày Tuất: Là người thông minh, mưu trí, có tài văn chương, dễ trở nên nổi tiếng. Người này cần đề phòng bệnh đau đầu chóng mặt.

Sinh ngày Hợi: Người tuổi Tuất sinh ngày này bị sao Thái Dương chiếu mệnh nên nếu làm ăn kinh doanh khó thành. 

(Theo Nhân duyên & tướng cách đàn bà)

 

 

 
 
 

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Luận giải vận số của người tuổi Tuất theo ngày sinh

Văn Khấn sửa chữa lớn nhà cửa, chuyển nhà

Văn Khấn sửa chữa lớn nhà cửa, chuyển nhà dùng khi chuyển nhà, sửa chữa lớn cần phải làm lễ cúng tôn thần, gia tiên để mọi việc được hanh thông.
Văn Khấn sửa chữa lớn nhà cửa, chuyển nhà

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Văn Khấn sửa chữa lớn nhà cửa, chuyển nhà dùng khi chuyển nhà, sửa chữa lớn cần phải làm lễ cúng tôn thần, gia tiên để mọi việc được hanh thông.

Sắm lễ cúng sửa chữa lớn nhà cửa, chuyển nhà

Gà, đĩa xôi, hương, hoa quả, vàng mã, …

Văn Khấn sửa chữa lớn nhà cửa, chuyển nhà

– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.
– Con kính lạy Hoàng thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.
– Con kính lạy Quan Đương niên.
– Con kính lạy các Tôn thần bản xứ.

Tín chủ (chúng) con là:…………….
Ngụ tại: …………

Hôm nay là ngày… tháng… năm….. tín chủ con thành tâm sắm lễ, quả cau lá trầu, hương hoa trà quả, thắp nén hương dâng lên trước án, có lời thưa rằng: Vì tín chủ con khởi tạo….. căn nhà ở địa chỉ……….. ngôi đương cơ trụ trạch để làm nơi cư ngụ cho gia đình con cháu. Nay chọn được ngày lành tháng tốt, kính cáo chư vị linh thần, cúi soi xét và cho phép được động thổ.

Tín chủ con lòng thành kính mời ngài Kim Niên Đường Thái tuế chí đức Tôn thần, ngài Bản cảnh Thành hoàng Chư vị Đại Vương, ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa, ngài Định phúc Táo quân, các ngài Địa chúa Long Mạch Tôn thần và tất cả các vị Thần cai quản khu vực này. Cúi xin các ngài nghe thấu lời mời, giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, độ cho chúng con mọi chuyện thuận lợi, công việc hanh thông, chủ thợ bình an, âm phù dương trợ, sở nguyện tòng tâm.

Tín chủ con lại xin phổ cáo với các vị Tiền chủ, Hậu củ và các vị Hương linh, cô hồn y thảo phụ mộc quanh quất khu vực này, xin mời tới đây thụ hưởng lễ vật, phù trì tín chủ, cũng như chủ thợ đôi bên, khiến cho an lành, công việc chóng thành.

Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.

Những người có tuổi phạm vào năm Kim Lâu và Hoang ốc thì không nên làm nhà. Do điều kiện cấp bách những người này khi làm nhà phải mượn người có tuổi không phạm vào hai điều trên để động thổ, khởi công dựng nhà.

Khi bắt đầu khấn và lúc động thổ, gia chủ phải lánh khỏi nơi làm nhà xa từ 50m trở lên. Sau khi hoàn tất việc động thổ xong, mới trở về.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Văn Khấn sửa chữa lớn nhà cửa, chuyển nhà

Đi thăm nhà mấy ông thầy coi bói đời nay

Một bài viết rất hay của cụ Hoàng Hạc về giới thầy bói trước năm 1975. Mời bạn đọc tham khảo!
Đi thăm nhà mấy ông thầy coi bói đời nay

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Bài viết của cụ Hoàng Hạc

Nghề bói về Tử Vi thật là khó khăn hơn hết, vì nó đã chẳng những thuộc về Lí Trí mà còn rất nhiều thuộc về Trực Giác. Trực giác là để ta nhận thấy những điều bí ẩn, tuy ẩn mà hiện, nhờ nhận thấy sự liên quan mật thiết giữa các cung, các sao, và nguyên tắc đoán rất là phức tạp nhưng rất tinh vi.

Lại có những khó khăn vì dễ sai lầm. Thứ nhất là năm tháng ngày giờ phải chọn thật đúng. Sai một li đi một dặm. Người mình í tai để ý giờ sinh, nhưng nó là quan trọng nhất. Có khi những đứa trẻ sinh ra mà cha mẹ lại để ít bữa sau mới đi khai sinh. Và dĩ nhiên ngày được ghi trong giấy khai sinh không thể chắc đúng được. Giờ đã sai, ngày lại sai nữa thì lá số Tử Vi sẽ không có giá trị gì cả.

Không hiểu được những cái khó ấy của những nhà đoán số Tử Vi, đã có biết bao nhiêu người cứ la lên rằng mấy thằng cha đoán số Tử Vi nói láo.

Lại nữa, phép xem Tử Vi thật là phức tạp. Việc an sao để có lá số Tử Vi là việc dễ, nhưng đoán mới lá khó, hết sức khó. Và mỗi người có khi đoán một cách hoặc thấp, hoặc cao tùy sở học của họ.

Cụ Ba La

Ở Sài Gòn, chả ai không nghe danh cụ Ba La. Cụ hiện nay hơn 100 tuổi, có một sở học vững chắc lắm. Tiếc là cụ hư mắt, nhưng cụ có một trí nhớ đánh sợ, cụ chỉ an lá số trong trí óc mà thôi mà không thiếu một vị sao nhỏ nào. Có những sao nhỏ mà vô cùng quan hệ. Thế mà cụ thấy cả lá số như mình mở trân trân đôi mắt nhìn vào lá số vậy… mà mình nhìn còn thiếu.

Các ông bị hư mắt phải học đến nhập tâm. Nhờ thiếu đôi mắt bên ngoài mà tâm tư được tụ vào bên trong, có thể nhờ thế mà các ông ấy có cái học nhập thần. Theo chỗ tôi biết thì còn có những ông giỏi Tử Vi như cụ Ba La mà cũng bị hư mắt. Một ông là thầy Canh ở đường Nguyễn Thiện Thuật. Một ông khác ở Đà Lạt thỉnh thoảng lại về Sài Gòn, ngụ tại nhà một giáo sư dạy nữ công, vợ một vị thanh tra tiểu học ở Đà Lạt mà cũng có nhà ở Sài Gòn. Và thầy Minh Lộc ở đường Trần Quý Cáp.

Già nhưng còn minh mẫn

Cụ Ba La ngày nay coi có kém ngày trước, có thể là vì già quá cho nên suy kém. Nhưng hơn trăm tuổi mà được như thế là minh mẫn lắm rồi. Bây giờ cụ nói rất ít. Cụ cũng coi cả bói dịch. Hai cái học ấy thường phải đi đôi. Và đã là học Độn Lục Nhâm, hay là Kỳ Môn Độn Giáp hay là Tử Vi đều phải là tay giỏi về dịch học.

Tôi thán phục mấy ông hư mắt mà xem quẻ Dịch hay bất cứ kiểu xem nào. Chuyện hư mắt của các ông là một cái lợi, dù cũng là một thứ bất lợi.

Lợi là cái gì các ông đã học được lúc các ông còn sang mắt hoặc các ông được truyền khẩu thì các ông sẽ nhập tâm. Cái học được lại có bề sâu. Nhưng có cái bất lợi là các ông không thể học thêm các sách khác để cho con đường nghiên cứu được rộng rãi thêm.

Tôi có hỏi một số ông về nhiều bộ sách, các ông phải thừa nhận rất tiếc không được nghe nói đến, và khi tôi đề cập đến nhiều khía cạnh khác, các ông đã tặc lưỡi kêu trời là không có cơ hội tiếp xúc với những điều huyền vi mà con người học mãi không bao giờ hết.

Tuy vậy tôi cũng nhờ các cụ ấy rất nhiều về cái học tâm truyền.

Thầy Canh ở Nguyễn Thiện Thuật

Phần thầy Canh ở Nguyễn Thiện Thuật thì khác. ông này chưa gài, cho nnê trí nhớ chưa mờ. Ta có đến xem ở ông, nên cầm trong tay lá số của mình hay của người mình xem, để mà biết thêm và hỏi thêm – nếu bạn đã biết chút ít về Tử Vi. Thầy Canh chịu nói các cách trên lá số để mình biết.

Có vài ông có cái tệ

Có vài ông có cái tệ là khoái đặt vấn đề tiền. Người nào đến xem, có ông hỏi:

- Trả bao nhiêu?

Có nhiều giá, tùy ý muốn đưa bao nhiêu cũng được, nhưng có một giá chót. Nếu mình trả nhiều hơn thì ông nói nhiều hơn, mình trả ít thì ông nói ít hơn.

Hoàng Hạc tôi thường đi theo các bạn thích xem và thích trả tiền nhiều để học lỏm mà thôi. Trả tiền thật nhiều thì không mướn thư kí ghi vào tập sổ. Nhưng trả tiền thật nhiều thì mình tha hồ chất vấn. Có những ông giấu nghề kinh khủng, nhất là khi người chất vấn có nghề thì các ông trả lời gần như cùng một cách:

- Thì vậy đó, tôi học học sách, tôi chỉ nghĩ theo tâm linh. Thấy vậy đoán vậy.

Thế là đối với các ông đó, khó mà moi các ông được gì. Tuy vậy tôi từng học được rất khá khi tung ra chiến thuật nối móc trong quá khứ.

Một chuyện vui về một bà hay bị mất trộm

Có một người xem, nghe ông đoán:

- Bà ở đâu? Chỗ bà ở cũng toàn là nơi ăn trộm ăn cướp. Bà hãy dọn đi nơi khác là hay.
Bà kia nghe khen nức nở:

- Thầy nói quá đúng. Tôi đổi nhà có trên 3 lần rồi, tại sao đi đâu ban đầu đều thấy rõ là xóm lương thiện, nhưng rồi cũng bị trộm. Bây giờ phải dọn về đâu, xin ông chỉ cho.
ông thầy nói:

- Phải coi quẻ dịch mới được. Để ba trăm đồng cúng tổ đi.

Bà nọ nói:

- Ông coi Tử Vi thì phải biết chứ còn phải coi thêm quẻ Dịch thì mắc quá.

- Ấy, quẻ Tử Vi làm sao biết được. Phải nhờ cái khác. Nếu bà không bằng lòng thì thôi.

Nghe như vậy, tôi mới nói:

- Quẻ Dịch làm gì biết được. Nếu biết được thì Tử Vi đã sai, bởi số trong Tử Vi là cung Điền Trạch bị giáp Kiếp, Không thì chỗ ở của bà này luôn luôn bị ăn cướp, ăn trộm rình mãi.
ông thầy nghe nói mới hất hàm hỏi:

- Ông cũng biết về số Tử Vi à?

- Thì thấy lá số bà này như vậy? Đã là số thì làm sao cải số?

Ông thầy nói:

- Ông nói bậy. Số là số, nhưng mình cũng đổi số chứ.

- Nhưng cứ cái nghiệp người này thì cung Điền Trạch dù có đổi vào dinh thự lớn, có lính canh chừng, rồi thì cũng bị lính canh biến thành ăn trộm, và bà này rồi cũng bị bao vây bởi những người gian giảo. Không thế, thì cũng bị bà con họ ăn trộm. Chỉ khi nào bà đem tiền gởi nơi khác thì thôi chứ đem về nhà là có trộm rình, không trộm ngoài cũng trộm trong nhà, nhưng là bà con ở xa đến.

Bà đi xem Tử Vi cười to:

- Ông này nói đúng! Tôi giữ trộm ngoài kĩ lắm, nhưng rồi cũng bị trộm bên trong, bà con họ đến chơi, họ lấy mất. Nói vậy, số tôi sẽ bị vậy mãi sao, thưa ông?

Tôi nói:

- Bà hỏi ông thầy, chứ sao lại hỏi tôi?

Ông thầy nổi đóa:

- Xin lỗi ông, vậy theo ông phải làm thế nào cho bà này khỏi mất tiền?

Tôi trả lời:

- Có gì khó. Cung phụ mẫu của bà này có Thiên Tướng-Liêm Trinh và Sát Phá Tham hợp chiếu, thì cứ đem tiền gởi cho ông bà già là không sợ mất nữa.

- Tại sao?

- Trả tiền, tôi xin nói cho nghe.

- Ậy, giỡn hoài. ông nói thử. Nếu đúng lí, tôi kêu là sư.

- Có gì lạ. Kiếp Không chỉ sợ có Thiên Tướng, nên ăn trộm không dám lại.

Các ông này bị đụng tới là đổ quạu.

Ông thầy Đà Lạt

Còn ông thầy Tử Vi nữa, mà cũng mù mắt, là ông thầy Đà Lạt (mà có lẽ nhiều người biết tiếng). Tôi được biết nhiều ông bộ trưởng, giám đốc các công sở, các nhà chính trị đến xem số Tử Vi của ông tận Đà Lạt.

Tôi gặp ông ở Sài Gòn, nơi nhà một bá giáo sư, mà tôi đã kể. ông ấy cũng có biệt tài là nhớ dai. Nhưng đặc sắc là ông lại xem tay nữa, nhưng hư mắt thì thấy gì mà xem? ông nắm tay mình, ông mò trên các chỗ nổi chìm của bàn tay… Vậy mà ông đoán nghe dễ chịu quá. Sau khi đó, ông lại hỏi tuổi, hỏi về tháng sinh và ngày giờ sinh. ông lấy Can Chi sắp theo lối xem Bát Tự.

Tôi nói thật cái lối rờ bàn tay mà nói tương lai, hiện tại… nhất là quá khứ và hiện tại, thì phải nhận là tài.

Một câu chuyện rờ tay đoán quẻ

Hồi thuở tôi được hai mươi, một người bạn thân của tôi rủ tôi đi qua Xóm Củi xem ông thầy hư mắt mà chuyên coi tay. ông này có hai cách xem: một là bói dịch, hai là coi chỉ tay.

Tôi và bạn tôi đến nhà, thấy ông đang nằm trên võng. Hỏi thì ông nói tôi là một người bà con hay anh em gì đây.

- Đúng! rồi sao nữa?

Thú thật, tôi học được ở ông thầy “mò” này nhiều cái hay về khoa học coi tay. Trước giờ coi tay tôi út chú ý đến các “gò” nổi của bàn tay. Chỉ biết rằng các “gò” có tính cách làm nổi lên khả năng của “gò” thôi, thật sự chả có ý nghĩa gì quan trọng hơn.

Đối với ông thầy này thì “gò” rất hệ trọng mà sách Tây Phương không đề cập. Gò Mộc Tinh, gò Hỏa Tinh, gò Thủy Tinh, gò Thổ Tinh, chẳng những có ý nghĩa nhiều về tánh tình, mà theo Trung Hoa, nó lại có ý nghĩa nhiều về số mạng.

Ông Thầy mò mò cái gò Thủy Tinh của ông bạn tôi, thở ra:

- Ông già, bà già ông thì sang cả, giàu có, nhưng ông thì chả hưởng bao nhiêu. Và sau này sự nghiệp tiêu tan cả.

Bạn tôi nói:

- Hay lắm. Cha mẹ tôi giàu. Cha tôi ngồi Quận (thuở ấy, ngồi Quận là số dách về uy quyền và tiền bạc). Nhưng sao ông biết?

- Thì tại tôi “thấy” trên bàn tay ông.

Tôi để ý nhìn. Thấy ông đang mò cái gò Thủy Tinh. Thấy gò ấy cao nhất trên bàn tay, nhưng nếu gò ấy cao là có gia tài to, mà có gia tài to thì dĩ nhiên cha mẹ giàu to. Nhưng sao lại biết rằng về sau gia tài ấy tiêu tan tất cả, mà anh ấy không được thụ hưởng?

Tôi xen vào để hỏi:

- Tại sao ông biết rằng về sau sạt nghiệp? Coi tay người này mà biết được người kia?
ông cười:
- Ông này hỏi kì quá. Tôi thấy sao nói vậy.

Tôi biết là không hỏi gì được ông này.

Đến lúc sau, coi qua bàn tay của tôi, lúc ông mò đến gò Thủy tinh, ông nói:

- À, ông này thì khác. Cha mẹ thì nghèo, đủ ăn vậy thôi, ông không nhờ được gì cả, và sau này “thân lập thân”.

Nói khích để đi tìm sự thật

Tôi hỏi:

- Nói vậy, nếu gò này cao thì cha mẹ giàu, mà thấy thì cha mẹ nghèo. Vậy tại sao cao thì giàu nhưng lại cho rằng giàu không bền? Nói vậy thì mâu thuẫn, anh bạn tôi đây có gò này cao lắm kia mà, tôi không phục.
Bị nói khích, ông hất hàm bảo:

- À, thì tôi nói ông biết. Phải ông là tay biết xem tay không?

- Vâng, tôi là nhà coi tay mà thiên hạ coi là “đại tài”.

Bị nói khích, ông ta tức quá nói:

- Xin lỗi ông. ông tài coi tay, nhưng chỉ biết có một mà chẳng biết có hai. (ông bảo bạn tôi đưa bàn tay cho ông nắm rồi ông rờ chỗ gò ấy). Đây này, gò này tuy cao mà nghiêng về góc cạnh, này chỉ lăng nhăng cắt nát hết, kể là “lúa” rồi. Cho nên làm gì mà không sạt nghiệp? Cái bàn mà nghiêng như thế này, tiền bạc để đó làm gì mà chẳng đổ? Tôi nói “đổ” bể, bởi chỉ lăng nhăng loạn xạ đã phá nát đi rồi. Cho nên tôi đoán tiền phú hậu bần là vậy đó.

Tôi mừnh quá. Bèn nói:

- Xin lỗi ông, tôi quả là kẻ “tri nhất nhi bất tri nhị”. Quả là “múa búa trước cửa Lỗ Ban”. Vậy xin thầy bỏ lỗi. Xin bái phục tôn sư.

Trở lại chuyện ông thầy Đà Lạt

Nhờ câu truyện trên, tôi mới hiểu cái ông thầy bói hư mắt Đà Lạt không phải là không có cơ sở. ông này mò tay, lại thêm cả khoa Tử Vi nữa, nên ông đoán hay. Nhất là khi mình nghe ông có mùi rượu, thì ông có những cái “ông ứng” rất tài. Có nhiều ông lớn hồi bấy giờ có đến xem. Mà nói là “đến xem” thì sai, mà phải nói rằng các ônh cho mời đến tư thất để xem. ông coi bói Dịch cũng khá.

(Câu chuyện kể về ông thầy Đà Lạt đã từng được kể trong một kỳ trước).

Theo tạp chí Khoa Học Huyền Bí


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Đi thăm nhà mấy ông thầy coi bói đời nay

Tướng chỉ tay đường sinh mệnh phụ –

Đường sinh mệnh phụ song song với đường sinh mệnh chính. Đường này có bàn tay có, có bàn tay không có. Nó chỉ hỗ trự thêm nên được xếp vào một trong năm đường bổ trự. Nếu ở bàn tay người nào mà có đường này thì tăng sức khỏe và tuổi thọ. Đường này đ
Tướng chỉ tay đường sinh mệnh phụ –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tướng chỉ tay đường sinh mệnh phụ –

Tại sao phải cải táng ? Những trường hợp nào không nên cải táng ?

Chúng tôi xin trích "Việt Nam Phong tục" của Phan Kế Bính trang 39. "...Người mất, sau ba năm đoạn tang rồi hoặc một vài năm nữa thì con cái lo việc cải táng".
Tại sao phải cải táng ? Những trường hợp nào không nên cải táng ?

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Trước hôm cải táng làm lễ cáo từ đường. Đến hôm cải táng, lại làm lễ khấn thổ công chỗ để mả mới táng.

Trước hết khai mả, nhặt lấy xương xếp vào một cái tiếu sành, rẩy nước vang vào rồi che đậy thật kín, không cho ánh sáng mặt trời lọt vào được. Nhà phú quý thì dùng quan quách liệm như khi hung táng.

Đoạn, đem cải táng sang đất khác. Còn quan tài cũ nát thì bỏ đi, tốt thì đem về dùng hoặc làm cầu, hoặc làm chuồng trâu chuồng ngựa, để trâu ngựa đứng cho khỏi sâu chân.
Tục lại tin rằng: Hễ ai đau tức thì lấy mảnh ván thộ (mảnh ván quan tài nát) đốt lên, để gầm giường mà nằm thì khỏi đau tức.


Cải táng có nhiều cớ.


Một là vì nhà nghèo, khi cha mẹ mất, không tiền lo liệu, mua tạm một cỗ ván xấu, đợi xong ba năm thì cải táng, kẻo sợ ván hư nát thì hại đến di hài.


Hai là vì chỗ đất mối kiến, nước lụt thì cải táng.


Ba là vì, các nhà địa lý, thấy chỗ mả vô cớ mà sụt đất hoặc cây cối ở trên mả tự nhiên khô héo, hoặc trong nhà có kẻ dâm loạn điên cuồng, hoặc trong nhà đau ốm lủng củng, hoặc trong nhà có kẻ nghịch ngợm, sinh ra kiện tụng lôi thôi, thì cho là tại đất mà cải táng.


Bốn là, những người muốn cầu công danh phú quý, nhờ thầy địa lý tìm chỗ cát địa mà cải táng. Lại có người thầy nhà khác phát đạt, đem mả nhà mình táng gần vào chỗ mả nhà kia, để cầu được hưởng dư huệ.


Trong khi cải táng, tục lại có ba điều là tường thuỵ (tức là mả phát tốt đẹp) mà không cải táng.
Một là, khi đào đất thấy có con rắn vàng thì cho là long xà khí vật. Hai là, khi mở quan tài ra thấy có dây tơ hồng quấn quýt thì cho là đất kết. Ba là, hơi đất chỗ đó ấm áp, trong huyệt khô ráo không có nước hay là nước đóng giọt lại như sữa đều là tốt. Khi nào gặp như thế thì phải lập tức lấp lại ngay.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tại sao phải cải táng ? Những trường hợp nào không nên cải táng ?

Xem tử vi cho người có Thương Quan ở Tứ trụ

Xem tử vi bản mệnh có Thương Quan ở Tứ trụ thì trong họa có phúc, trong phúc có họa, nguy nan khó đoán định.
Xem tử vi cho người có Thương Quan ở Tứ trụ

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Xem tử vi bản mệnh có Thương Quan ở Tứ trụ thì trong họa có phúc, trong phúc có họa, nguy nan khó đoán định.


Xem tu vi cho nguoi co Thuong Quan o Tu tru hinh anh 2
 
Trong tử vi, Tứ trụ bao gồm giờ sinh, ngày sinh, tháng sinh và năm sinh, quyết định nhiều tới số mệnh của cuộc đời một người.    Xét về Thương Quan trong tử vi:   Hàm nghĩa: người bà, vận động, tài ăn nói, nghệ thuật, sáng tác, thanh danh, con cái.   Ưu điểm: dũng cảm, lãng mạn, tự do, thông minh, to gan, linh hoạt, tranh luận   Nhược điểm: mất chức, thi trượt, vô kỷ luật, tùy hứng, thị phi, phản loạn, khắc chồng.   Năm sinh có Thương Quan thì chủ tổ tiên có cuộc sống gian nan, cha không bằng ông, người có tâm lý phản loạn, dễ phải bươn chải từ sớm, không kế thừa tổ nghiệp.    Năm làm Thương Quan vượng mà không có gì khắc chế thì người cha có tính tình táo bạo. Năm làm Thương Quan hỉ dụng thì ngày nhỏ gia đình tốt; vi tắc thì ngày nhỏ gia cảnh bần hàn. Thân nhược đặc biệt kị Thương Quan, người có cố tật, nếu không sửa được sẽ giảm thọ, có Kiêu Ấn thì sẽ hóa giải được. Năm xưa phạm Thương Quan thì khó có con. Tổ vượng phụ suy, đời cha không bằng đời ông.   Năm thượng thương Quan khắc cha mẹ, không quá tuổi 25 thì mệnh ngạch cha mẹ không còn, trừ khi cả đời vất vả.    Hướng dẫn xác định số mệnh có Cát thần Phúc Tinh Quý Nhân tốt lành
Trong khoa học tử vi, Cát thần Phúc Tinh Quý Nhân sẽ mang tới may mắn và hứa hẹn một tương lai tốt đẹp, nhiều thành công. Cùng

Thương Quan ở tháng sinh thì là người có thiên phú nghệ thuật, tài buôn bán, thông minh trí tuệ, năng lực hành động vượt trội. Nguyệt lâm Thương Quan, anh em bất hòa, hôn nhân bất lợi, nữ mệnh có can của tháng sinh vướng Thương Quan thì duyên phận cực kém. Thương Quan cường vượng, dễ đắc tội với người khác, giúp người mà không được báo đáp. 
  Thương Quan được lệnh thì không đủ ôn nhu, thêm Kiêu Ấn chủ lời nới không có thiện ý. Người này cao ngạo, lập dị, thích phủ định người khác, cậy mạnh hiếu thắng, tâm phục khẩu không phục. Thương Quan áp chế thân quá mức thì nghèo khó, tự cho là thông mình. Anh em ít, có anh em cũng không giúp đỡ được nhiều. Thái độ làm người thanh cao ngạo mạn, khôn khéo, tháng sinh lâm Thương Quan có Thân vượng thì có vận tài lộc tốt.  
Xem tu vi cho nguoi co Thuong Quan o Tu tru hinh anh 2
 
Thương Quan ở ngày chủ sự nghiệp tốt nhưng hôn nhân kém, người nữ dễ ly hôn. Tính cách thanh cao, tự phụ, gấp gáp, nhạy bén, quết đoán nhưng quan trường lại không có lợi. Nữ mệnh vô cùng nữ tính nhưng lại không khuất phục bạn đời, khắc chồng. Sinh vào ngày bản khí Thương Quan , nam mệnh dễ ly hôn. Sinh ngày Thương Quan có Kiêu Ấn là mệnh quý, có Kiếp Tài thì nghèo khó.
  Như vậy, ngày lâm Thương Quan nhìn chung là không tốt, nữ khắc phu nam khắc thê, tai họa bất ngờ. Trần Hồng
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem tử vi cho người có Thương Quan ở Tứ trụ

Xếp hạng độ lơ đễnh của 12 chòm sao

Xếp hạng tính cách của 12 chòm sao, xem ai là người lơ đãng, cẩu thả nhất nào!
Xếp hạng độ lơ đễnh của 12 chòm sao

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Xếp hạng tính cách của 12 chòm sao, xem ai là người lơ đãng, cẩu thả nhất nào!


Xep hang do lo denh cua 12 chom sao hinh anh 2
 
Hạng 1: Nhân Mã   Trời sinh bản tính của Nhân Mã là vô tâm, vô tư, làm gì cũng ngó đông ngó tây, ra ngoài nhất định phải quên thứ gì mới được.   Hạng 2: Song Tử   Vì hay làm nhiều việc một lúc nên đôi khi Song Tử không tránh khỏi việc đi ngang về tắt, nhầm cái này, lẫn cái kia.   Hạng 3: Song Ngư   Nổi danh mơ hồ mờ mịt, Song Ngư thường tự mình quên béng mất những chuyện quan trọng.   Hạng 4: Bạch Dương   Theo tính cách của 12 chòm sao, Bạch Dương là người mà làm việc thường không quá nghĩ ngợi, nhất thời xúc động, nông nổi bồng bột nên lơ đễnh là đương nhiên.   Tiết lộ câu chuyện khởi nguồn thú vị của 12 con giáp
Cùng với sự tiến triển của lịch sử quan niệm tín ngưỡng dân gian dần dung hòa với khái niệm tương sinh tương khắc trong 12 con giáp. Mỗi chi

Hạng 5: Cự Giải
  Bình thường thì Cự Giải khá cẩn trọng, nhưng mỗi khi gặp chuyện là cua lại phản ứng đặc biệt khác thường, cứ ngơ ngơ ngẩn ngẩn.   Hạng 6: Thiên Bình   Đôi lúc chòm sao Thiên Bình cũng có điểm lơ đãng, để xảy ra một số lỗi lầm nho nhỏ.   Hạng 7: Thủy Bình   Nếu đang nói chuyện mà thấy Thủy Bình nói sai, nói vu vơ thì đích thị là trong đầu họ đang nghĩ tới chuyện khác.   Hạng 8: Kim Ngưu   Nguyên nhân khiến Kim Ngưu làm việc không đến nơi đến chốn chỉ có thể là do động tác quá chậm chạp.   Hạng 9: Sư Tử   Lúc Sư Tử không cẩn thận chỉ có là đang được khen, đắc ý quá mà quên hết cả.  
Xep hang do lo denh cua 12 chom sao hinh anh 2
 
Hạng 10: Ma Kết
  Mọi sự đều nằm trong tầm kiểm soát, đã được lên kế hoạch tỉ mỉ từ trước, không xảy ra sai sót quá lớn.   Hạng 11: Xử Nữ   Chòm sao cẩn thận nổi danh như Xử Nữ thì hiếm có khi nào bắt được lỗi.   Hạng 12: Bọ Cạp   Không bao giờ cho phép bản thân gặp sai lầm nên chòm sao Bọ Cạp cực kì kĩ lưỡng trong từng đường đi nước bước, xứng danh “thiên hạ đệ nhất cẩn trọng”.   Trình Trình
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xếp hạng độ lơ đễnh của 12 chòm sao

Kinh nghiệm tử vi của cụ Thiên Lương: sao Thiên Mã tại Mệnh, Thân

Bài viết trình bày kinh nghiệm của cụ Thiên Lương về sao Thiên Mã tại Mệnh và Thân. Bài viết được Trần Việt Sơn diễn giải rất dễ hiểu.
Kinh nghiệm tử vi của cụ Thiên Lương: sao Thiên Mã tại Mệnh, Thân

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Trần Việt Sơn

Có thể người học Tử vi tìm rất nhiều mà không đạt. Đó là trường hợp mà chúng tôi gặp phải. Có những lá số mà Mệnh rất tầm thường, ấy thế mà đương số lại thành đạt lớn, không biết vì đâu, trong khi điểm mọi cách khá về Mệnh, Thân mà không thấy sao Thiên Mã có tại Mạng, phải chăng vì thế mà đương số được tốt? Nhưng lấy gì chứng thực? Có hai lá số tương trợ nhau, cùng có Thiên Mã – nhưng lại chỉ có 1 đương số thành đạt. Một là số khác có Thiên Mã tại mệnh, ở Hợi: thế là Mã cùng đường, theo tất cả các sách cổ. Thế nhưng đương số này cũng thành đạt nữa. Cho nên tất phải có một cái gì đặc biệt về sao Thiên Mã, một sao rất quan trọng trong việc giải đoán Mệnh Thân, nhưng những nguyên tắc chưa được nêu ra đầy đủ.

Chúng tôi xin trình bầy sau đây kinh nghiệm của cụ Thiên lương về sao Thiên Mã tại Mệnh, Thân. Kinh nghiệm này, chúng tôi đã kiểm chứng trong một số lá số có trong tay, thấy rằng đúng.

Cách an sao Thiên Mã

Chúng ta an sao Thiên Mã theo hàng chi của tuổi

Tuổi Dần Ngọ Tuất, Thiên Mã tại Thân
Tuổi Tị, Dậu, Sửu, Thiên Mã tại Hợi
Tuổi Thân Tý Thìn, Thiên Mã tại Dần
Tuổi Hợi, Mão, Mùi, Thiên Mã tại Tỵ

Nhưng vậy tùy từng bộ ba tam hợp tuổi mà an Thiên Mã. Để cho dễ nhớ, chúng ta có từng bộ ba tam hợp tuổi, mỗi bộ ba có một Chi đứng đầu, thì Thiên Mã ở cung đối diện của Chi ấy. Thí dụ: các tuổi Dần Ngọ Tuất (có Dần đứng đầu), vậy Thiên Mã ở cung đối diện với Dần, tức là cung Thân.

Những cách thông thường về Thiên Mã

Các sách cổ giải đoán về Mã thường ghi những điểm như sau:

  1. Mã thuộc Hỏa, vạy là Mã tốt ở Tị, Dần và hãm ở Hợi (Thủy) Mã mà ở Hợi là hỏng, là Mã cùng đồ (ngựa hết đường chạy, ngựa ở biển thì liệt bại). Gặp Mã ở Hợi thì thất bại. Như thế chẳng lẽ cứ 3 tuổi Tị, Dậu, Sửu là đương nhiên mất sao Thiên Mã và chịu họa hại vì 3 tuổi này. Mã đóng tại Hợi. Không lẽ giản dị như vậy?
  2. Mã tại Mệnh, ứng vào sự mau lẹ hay di chuyển, hay thay đổi. Mã còn ứng vào công danh, tài lộc và phúc thọ. Thông minh và làm nên cũng là nhờ Thiên mã.
  3. Tại Dần Thân, đồng cung với Tử Phủ, là Phù du Mã (ngựa vua chúa): tài giỏi, uy quyền, giầu sang, phúc thọ.
  4. Thêm Nhật, Nguyệt sáng sủa là Thư hùng mã: tài ba, giầu sang, vinh hiển.
  5. Gặp Lộc tồn đồng cung: công danh tốt, tài lộc tốt
  6. Gặp Lộc tồn xung chiếu (Lộc Mã giao trì): công danh và tài lộc tốt đẹp.
  7. Mã đồng cung Hỏa, hay Linh (chiến mã): Công danh tốt đẹp về binh nghiệp.
  8. Mã khốc khách hội họp (ngựa có nhạc hay, có người cưỡi giỏi) người có tài năng, có công danh về binh nghiệp.
  9. Mã Hình đồng cung: gặp tai họa
  10. Mã Đà đồng cung: chiết túc mã, ngựa què. Công danh gãy đổ (kinh nghiệm của cụ Ba La: người tuổi Âm, Kình ở trước lộc tồn, Đà ở sau Lộc tồn, nhưng theo chiều nghịch).
  11. Mã Tuyệt đồng cung là cùng đồ Mã. Mã tại Hợi cũng là cùng đồ Mã: hỏng, suy bại, gặp tai họa.

Đi tìm ảnh hưởng của Mã

Cũng như đối với mọi sao quan trọng, cụ Thiên lương đã luận về Thiên Mã bằng cách lấy hành của cung Mệnh, hành của sao Thiên Mã và hành Mệnh của đương số mà so sánh với nhau rồi quyết định sự hay dở. Đó là giai đoạn đầu để tìm kinh nghiệm. Giải đoạn sau là kiểm chứng, áp dụng các kết quả của những suy luận vào những lá số có Thiên mã tại Mệnh, Thân để tìm xem có đúng không.

Nhưng trước hết, xin ghi rằng Thiên Mã đây là tại Mệnh và Thân. Thiên mã ở Quan lộc hay Tài bạch cũng có ảnh hưởng vào mệnh (vì hai cung này chiếu mệnh), nhưng ảnh hưởng kém hơn Thiên Mã tại Mệnh. Nếu Thiên Mã ở cung Thiên Di, thì lại không kể vào mệnh là vì Mã tại Thiên Di là xung chiếu chứ không phải hợp chiếu.

Thiên Mã tại cung Dần

Thiên Mã hỏa, ở cung Dần Mộc là được Mộc sinh Hỏa, Thiên Mã mạnh và tốt. Nhưng cái mạnh và tốt này không phải cho bất cứ mạng nào.

Như người mạng Kim, thì càng bị Hỏa khắc, không lợi. Người mạng Thủy cũng không được lợi lộc gì, vì cái Thủy đó không thắng nổi cái Hỏa đương vượng của Mã. Mã hỏa ở đây có thể lợi cho người mạng Hỏa và càng hợp với người mạng Mộc. Người ta thường cho rằng mạng Mộc mà gặp Hỏa, thì bị hỏa đốt cháy, nhưng mạng là Mộc, cung Mạng lại ở Dần tức là tại Mộc thì không e ngại gì, tài năng nhờ chỗ Mã được nuôi dưỡng (do Mộc) mà càng vượng lên.

Vậy Mã tại Dần:

  • Rất tốt cho người mạng Mộc
  • Lợi cho người mạng Hỏa
  • Không lợi gì cho người mạng Kim, Thổ và Thủy.

Thiên Mã tại cung Tị

Thiên Mã đứng đây cũng tốt vì là Hỏa ở cung Hỏa. Mã ở đây là con ngựa chiến. Mã là Hỏa, cung là Hỏa, thì người Mộc gặp Mã và cung Mạng tại đây, tuyệt nhiên là không tốt (hai cái Hỏa đốt cháy thân xác). Người mạng Kim, không được tốt, vì hai cái hỏa đều khắc Kim. Người mạng Thủy, cũng không được hưởng gì, vì Thủy yếu, không thể ngự được cái Hỏa của Mã (nếu kể như trường hợp Mã gây họa hại), còn bình thường, Mã không gây họa hại vì người Thủy cũng không được hưởng.

Chỉ có người Hỏa được hưởng cái tốt của Mã tại Tị.

Thiên Mã tại cung Thân

Thiên Mã là Hỏa, ở tại cung Thân là Kim, ấy là Thiên Mã đã kém. Thiên Mã không bị khắc là Thiên Mã mạnh, và tốt nhưng Thiên Mã lại khắc Kim.

Nếu là người mạng Mộc, thì mạng này vừa bị Hỏa đốt, vừa bị cung khắc, không được lợi lạc gì. Người mạng Thủy đỡ được chút đỉnh, nhờ cung Kim sinh Thủy, và cái mạng Thủy của mình còn khá mạnh để chế ngự lại Mã. Người mạng Kim là ăn nhất về con Mã tại cung Kim, nhưng vì Mã Hỏa khắc Kim mạng, cho nên mình tuy được hưởng Mã mà có tài năng, nghị lực, nhưng mình lại bị khắc, thì sức khỏe của mình cũng phải bị hao tổn.

Vậy Mã tại Thân:

  • Tốt cho người Kim
  • Khá cho người Thủy
  • Không lợi gì cho người Mộc và Hỏa

Thiên Mã tại cung Hợi

Thiên Mã là Hỏa, ở cung Hợi Thủy, thì Hỏa phải bế khắc (ấy là Mã cùng đồ, Mã đến biển là hết đường chạy).

Người Hỏa mà gặp Mã ở cung hợi thì chẳng được lợi lạc chi. Người Kim gặp Mã ở cung Hợi cũng vậy, có khi còn mệt hơn, là vì mạng mình bị sinh xuất, còn bị hỏa của Mã khắc. Nhưng người Thủy lại khác: xét ra người Thủy lại có mạng ở Thủy, thì cái Thủy này rất mạnh, có thể chế ngự được những cái họa hại của Mã mà thắng được Mã, tức là có tài ba để thắng. Người Mộc nhờ có cung Thủy sinh Mộc, mà được lợi phần nào.

Vậy Mã tại Hợi:

  • Tốt cho người Thủy
  • Khá cho người Mộc
  • Không lợi gì cho người Hỏa và Kim

Còn người mạng Thổ

Vậy tóm lại, Mã ở cung có hành nào, thì người nào mạng có hành đó là được hưởng.

  • Mã tại cung Mộc (Dần) người mạng Mộc hưởng
  • Mã tại cung Hỏa (Tị) người mạng Hỏa hưởng
  • Mã tại cung Kim (thân) người mạng Kim hưởng
  • Mã tại cung Thủy (Hợi) người mạng Thủy hưởng

Thế còn người mạng Thổ? Xin thưa rằng người mạng Thổ cũng hưởng được Thiên Mã ở cung Thủy (tại Hợi)

Một thí dụ:

Lá số Khổng Minh, Mã ở Hợi Thủy (cung Quan). Khổng Minh mạng Mộc, cho nên không được hưởng trọn con Mã này. Nhưng Thủy dưỡng cho Mộc, nên Khổng Minh cũng chỉ được hưởng Mã một phần.

Mã ngộ Triệt và Mã ngộ Tuần
Mã gặp Triệt trấn ngay cung thì hỏng cả
Mã ngộ Tuần còn đỡ hơn.

Sau đây là kinh nghiệm đặc biệt về Mã ngộ Tuần. Sao Tuần ở những vị trí Tí Sửu Dần Mão, Thìn Tị, Ngọ Mùi, Thân Dậu, Tuất Hợi, và có thể được coi là sao đánh dấu một giai đoạn để chuyển sang giai đoạn khác.

Do đấy, nếu sao Thiên mã ngộ Tuần, chúng ta đoán thêm như sau:

  1. Thiên Mã tại Hợi (Thủy) gặp Tuần ngay tại đó người mạng Mộc cũng được hưởng (thông mình, lanh lợi, học hành, công danh, tài lộc) nhưng hưởng chậm, phải gặp nhiều khó khăn lúc đầu và phải có tranh đấu cố gắng nhiều.
  2. Thiên Mã tại Dần (Mộc) gặp Tuần tại đó: người mạng Hỏa cũng được hưởng nhưng chậm và có những khó khăn lúc đầu, phải cố gắng nhiều mới đạt được.
  3. Thiên Mã tại Tị (Hỏa) gặp Tuần tại đó: người mạng Kim cũng được hưởng, nhưng chậm, gặp khó lúc đầu và phải cố gắng nhiều mới đạt được
  4. Thiên Mã tại Thân (Kim) gặp Tuần tại đó: Người mạng Thủy và Thổ cũng được hưởng, nhưng chậm gặp khó lúc đầu và phải cố gắng nhiều mới đạt được.

Thí dụ: tuổi Kỷ tị, mạng Mộc, Thiên Mã tị Hợi, gặp Tuần tại Tuất Hợi, cung Mạng cũng tại Hợi: người này cũng được hưởng Thiên Mã, nhưng hưởng chậm, lúc đầu gặp khó, phải cố gắng nhiều sau mới đạt thành.

KHHB số 74D1


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Kinh nghiệm tử vi của cụ Thiên Lương: sao Thiên Mã tại Mệnh, Thân

Điều kiêng kỵ cho con giáp xung khắc năm Mùi

Người tuổi Mùi, Sửu, Tý và Tuất đều xung khắc với năm Mùi và họ nên kiêng việc đưa ra những thay đổi lớn trong năm tới.
Điều kiêng kỵ cho con giáp xung khắc năm Mùi

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Trong năm Ất Mùi, người tuổi Mùi, Sửu, Tý và Tuất đều phạm thái tuế (có sự xung khắc về tuổi). Dù điều đó không có nghĩa là họ gặp nhiều chuyện xấu, đơn giản, đó chỉ là những bất lợi về vận thế. Những con giáp này chuẩn bị tâm lý sẵn sàng “nghênh chiến” với những thách thức đang đợi mình phía trước để nắm bắt cơ hội thành công. Một trong những điều cần phải kiêng kỵ trong năm 2015 này, các bạn cần hết sức lưu ý nhé.

1. Không nên tham dự tang lễ

Phạm thái tuế không nhất thiết là vận thế xấu, nhưng vận mệnh của những con giáp này có sự biến đổi lớn về sự tương sinh, tương khắc trong ngũ hành. Trong suốt năm Ất Mùi này, những người tuổi Mùi, Sửu, Tý và Tuất nên hạn chế tham dự các đám tang để xua đi tà khí, ảnh hưởng đến vận thế của mình trong suốt một năm.

Trường hợp bất đắc dĩ phải tham dự lễ tang, nhóm con giáp này nên tránh bước cuối cùng, tức là khi hạ huyệt. Nếu có thể, bạn nên đứng từ xa nhìn hoặc quay mặt đi nơi khác. 

hinh-nen-dep-tet-2015-16547d6e-7519-2252

2. Không nên dự tiệc đầy tháng các em/ cháu nhỏ

Theo quan niệm cổ xưa, đi thăm bà đẻ là chuyện không may mắn hoặc có thể mang lại nhiều xui xẻo. Đặc biệt, trong năm Ất Mùi này, khi bạn đang phạm thái tuế, không nên tham dự bất cứ tiệc đầy tháng nào.

Trường hợp nhất định phải tham dự, bạn nên chuẩn bị sẵn một bao lì xì có để sẵn tiền trong đó để mừng tuổi cho em bé. Có như vậy, vận thế trong năm 2015 của bạn mới được “bảo toàn” thuận lợi.

3. Không nên đưa ra những quyết định trọng đại 

Thay vì chọn năm xung tuổi với mình để có những quyết định trọng đại trong cuộc đời như kinh doanh, đầu tư, du học…, bạn nên nhẫn nại “tu luyện” thêm một năm nữa, để tránh những xui xẻo hy hữu xảy ra.

Đặc biệt là người tuổi Sửu, sinh tháng 9 hoặc tháng 6 âm lịch, cần hết sức thận trọng trong năm nay. Những việc gì không nên làm hoặc có thể kìm hãm tới năm sau, bạn nên kiên trì, đừng vì sự nóng vội mà hỏng chuyện đại sự.

4. Hạn chế liên quan pháp luật hoặc làm vai trò giám hộ

Nhằm hạn chế tối đa những vận xui xẻo xảy đến với mình, những con giáp này nên tránh “xuất đầu lộ diện” trong những “phi vụ” liên quan đến pháp luật hoặc giải quyết tranh chấp.

Thay vì giúp mọi người hòa giải mâu thuẫn, bạn sẽ “tự tìm dây buộc mình”, việc đã rối càng thêm rối. Thậm chí, có kẻ tiểu nhân lợi dụng lòng tốt của bạn để làm điều sai trái. Bạn cần hết sức lưu ý đến vấn đề này đó nha!

Mr.Bull (theo Dyxz)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Điều kiêng kỵ cho con giáp xung khắc năm Mùi

Văn khấn thần linh trong nhà ngày mồng một Tết

Văn khấn thần linh trong nhà ngày mồng một Tết. Đầu năm chí giữa, nửa năm chí cuối, sự nghiệp hanh thông, sở cầu như ý.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Văn khấn thần linh trong nhà ngày mồng một Tết

Văn khấn thần linh trong nhà ngày mồng một Tết

Nam mô A di đà Phật (3 lần)

Kính lạy:

- Đức Đương Lai hạ sinh DI LẶC Tôn Phật.

- Phật Trời, Hoàng Thiên Hậu Thổ.

- Chư vị Tôn Thần. 

Hôm nay là ngày mồng 1 tháng Giêng, nhằm ngày Tết Nguyên Đàn đầu xuân, giải trừ gió đông lạnh lẽo, hung nghiệt tiêu tan, đón mừng Nguyên Đán xuân thiên, mưa móc thấm nhuần, muôn vật tưng bừng đổi mới. Nơi nơi lễ tiết, chốn chốn tường trình. 

Tín chủ con là

....................................................................................................................  

Ngụ tại

....................................................................................................................

Nhân tiết minh niên sắm sửa hương hoa, cơm canh lễ vật bày ra trước án, dâng cúng Thiên Địa Tôn Thần. Thiết nghĩ Tôn Thần hào khí sáng loà, ân đức rộng lớn.  Ngôi cao vạn trượng uy nghi, vị chính mười phương biến hiện. Lòng thành vừa khởi, Tôn Đức càm thông. Cúi xin giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành thụ hưởng lễ vật. 

Nguyện cho chúng con mọi người hoan hỷ vinh xương, con cháu cát tường khang kiện. Mong ơn Đương Cảnh Thành Hoàng, đội đức Tôn Thần Bản xứ. Hộ trì tín chủ, gia lộc gia ân, xá quá trừ tai. Đầu năm chí giữa, nửa năm chí cuối, sự nghiệp hanh thông, sở cầu như ý.

Dãi tấm lòng thành cúi xin chứng giám.

Cẩn cáo.

Nam mô A di đà Phật (3 lần)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Văn khấn thần linh trong nhà ngày mồng một Tết

Tướng người đàn ông giàu có –

1. Tướng đàn ông mũi to, thẳng, đầy đặn. Tướng người đàn ông có mũi không hếch, không lệch, đầu mũi đầy đặn là tướng mũi đẹp. Đặc biệt, đàn ông có mũi cao và cánh mũi đầy đặn rất có khả năng kiếm tiềm, việc làm ăn kinh doanh rất thuận lợi. Họ cũng là
Tướng người đàn ông giàu có –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tướng người đàn ông giàu có –

Vì sao cửa hàng không hài hòa với cảnh trí tự nhiên sẽ mang đến sát khí? –

Kiến trúc cửa hàng không hài hoà với cảnh trí tự nhiên là chỉ kiến trúc của của hàng không tương thích, không hài hòa với cảnh sắc xung quanh. Kiến trúc cửa hàng không hài hoà với cảnh trí tự nhiên sẽ phá vỡ cái đẹp vốn có của giới tự nhiên, giống n

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

hư trên một bức họa đẹp xuất hiện những chấm đen.

Theo lý thuyết của phong thủy, kiến trúc cửa hàng không thuận với khí của khu vực tự nhiên, làm nhiễu loạn đến khí tự nhiên của không gian vũ trụ, khiến cho sự lưu thông không khí của không gian vũ trụ bị trở ngại. Sinh khí vũ trụ bị trở ngại sẽ sản sinh sát khí, sinh khí vốn có sẽ biến thành sát khí. Kiến trúc cửa hàng mang đến đồng thời sát khí, cùng chịu sự bao vây của sát khí. Cửa hàng chịu sự bao vây của sát khí thì làm ăn sẽ rất khó khăn, doanh thu thấp.

030913 chuoi ca phe 1

Kiến trúc bề ngoài của cửa hàng không hài hoà với cành sắc tự nhiên xung quanh. Đặt một cửa hàng có hình thức xấu vào những nơi cảnh quan đẹp sẽ có hậu quả xấu như: Phá vỡ hình tượng của cửa hàng, gây phản cảm với khách hàng, từ đó ảnh hưởng đến doanh thu, lợi nhuận. Nhưng không có nghĩa là tìm đặt cửa hàng ở những nơi có cảnh quan hoang tàn.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Vì sao cửa hàng không hài hòa với cảnh trí tự nhiên sẽ mang đến sát khí? –

Tết Hạ Nguyên (Tết Cơm mới) và ý nghĩa của nó trong truyền thống dân tộc.

Thu sắp tàn, Đông sắp đến, gió lạnh thổi về, đánh đấu ngày hội lễ Hạ nguyên gần kề. Trong khi mỗi gia đình, cũng như chùa chiền, đang sửa soạn cho ngày lễ Tết Hạ Nguyên, chúng ta hãy tìm hiểu ý nghĩa của ngày lễ hội thuần túy này của dân tộc.
Tết Hạ Nguyên (Tết Cơm mới) và ý nghĩa của nó trong truyền thống dân tộc.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

1. Tết Hạ Nguyên.

Theo phong tục dân gian Tết Hạ Nguyên được tiến hành vào ngày mồng Một hoặc mồng Mười, cũng có thể là ngày Rằm tháng 10 Âm lịch hàng năm.

Theo quan niệm của ông bà ta ngày xưa, những ngày này Thiên Đình cử thần Tam Thanh xuống trần gian để xem xét việc tốt xấu về tâu với Ngọc Hoàng. Do vậy, mọi nhà phải tiến hành làm lễ để thần Tam Thanh ban phúc lành, tránh tai họa, vận hạn và cũng là dịp "'tiến tân" cơm gạo mới cúng tổ tiên.

Tết Hạ Nguyên (Tết Cơm mới) và ý nghĩa của nó trong truyền thống dân tộc.

Tết Hạ Nguyên cũng là ngày con cháu "tiến tân" cơm mới dâng lên ông bà tổ tiên

Nhân Tết Hạ Nguyên mọi người đều mua quà và gạo nếp ới cùng những đặc sản lúc giao mùa Thu Đông biếu ông, bà, cha mẹ và những bậc được tôn kính để tỏ lòng hiếu thuận, biết ơn bề trên

2./ Ý nghĩa của Tết Hạ Nguyên trong văn hóa dân gian.

Thu sắp tàn, Đông sắp đến, gió lạnh thổi về, lá vàng rơi lác đác để lại những thân cây trụi lá, đánh đấu ngày hội lễ Hạ nguyên gần kề. Trong khi mỗi gia đình, cũng như chùa chiền, đang sửa soạn cho ngày lễ Tết Hạ Nguyên, chúng ta hãy tìm hiểu ý nghĩa của ngày lễ hội thuần túy này của dân tộc.

Từ trong cội rễ văn hóa dân gian Việt Nam, rằm tháng Bảy hay ngày lễ Hạ nguyên, rằm tháng Mười, đều là ngày lễ cổ truyền quan trọng:

“Rằm tháng Mười, mười người mười cởi

Rằm tháng Bảy, người cởi người không”

Tết Hạ Nguyên (Tết Cơm mới) và ý nghĩa của nó trong truyền thống dân tộc.

Các đồng bào dân tộc Tây Nguyên trong ngày Tết Cơm mới (Tết Hạ Nguyên)

Theo phong tục tập quán Việt tộc, rằm tháng mười hàng năm được tổ chức trọng thể, vượt thoát phạm vi gia đình và trở thành một lễ hội tâm linh của dân tộc Việt, một sinh hoạt tín ngưỡng mang đậm tính nhân văn nơi chốn già lam tịnh địa. Đây cũng chính là điều mà nhà thơ Huyền Không đã khẳng định trong bài thơ Nhớ chùa:

“Mái chùa che chở hồn dân tộc,

Nếp sống muôn đời của tổ tông.”

Mái chùa xưa và nay, dù ở nơi đất Tổ hay trời phương ngoại vẫn là nơi hội tụ của muôn ngàn con dân đất Việt chung dòng máu Lạc Hồng, chung một ý niệm đồng bào ruột thịt. Và rằm tháng Mười giờ đây không chỉ mang ý nghĩa đơn thuần là Tết Hạ nguyên mà trở thành một nếp sống tâm linh của người con Phật. Trong ngày lễ Hạ nguyên, người Phật tử dâng trọn tấm lòng tưởng niệm ân đức sâu dày của chư Phật, chư Bồ tát, chư Hiền Thánh Tăng, đã từng khai sáng và trùng hưng huyết mạch của Đạo Phật tại thế gian này.

Hàng đệ tử chúng ta, những người mang sứ mệnh truyền thừa chánh pháp của Thế Tôn, mang đuốc tuệ vào lòng thế cuộc, vận chuyển bánh xe chánh pháp giữa rừng đời phải chọn một ngày thích hợp như lễ Hạ nguyên để “Tiên tri Tam đức, hậu báo tứ ân” nhằm thắp sáng tiền đồ hoàng dương Phật pháp.

Tết Hạ Nguyên (Tết Cơm mới) và ý nghĩa của nó trong truyền thống dân tộc.

Lễ Hạ nguyên ở chùa tuy hình thức có phần đơn sơ hơn so với các lễ hội Phật giáo khác như Đại lễ Phật đản, Đại lễ Vu Lan, nhưng về nội dung vẫn phản ánh đậm nét mầu sắc tâm linh, và nhắc nhỡ người con Phật hãy sống như chánh pháp, hành xử theo chánh pháp theo gương các bậc Tiên hiền cổ thánh ngàn xưa.     

>> Xem TUỔI XÔNG ĐẤT 2016 mới nhất!

>> Xem TỬ VI HÀNG NGÀY 2016 mới nhất!

3./ Sắm lễ ngày Tết Hạ Nguyên

Theo phong tục từ cổ xưa, ngày tết Cơm Mới (tết Hạ Nguyên) nhà nhà đều nấu xôi gạo mới, sắm sửa hương hoa, đèn nến cùng mâm lễ mặn thơm ngon tinh khiết để cúng tổ tiên.

Tết Hạ Nguyên (Tết Cơm mới) và ý nghĩa của nó trong truyền thống dân tộc.

4./ Văn khấn tổ tiên (Ngày Tết Cơm mới)

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

- Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

- Con kính lạy Hoàng thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.

- Con kính lạy ngài Bản cảnh Thành hoàng, ngài Bản xứ thổ địa, ngài Bản gia Táo quân cùng chư vị Tôn thần.

- Con kính lạy Cao Tằng Tổ khảo, Cao Tằng Tổ Tỷ, Thúc Bá, Đệ Huynh, Cô Di, Tỷ Muội họ nội họ ngoại.

Tín chủ (chúng) con là:..................................................................................................

Ngụ tại:.......................................................................................................................

Hôm nay là ngày mồng Một (mồng Mười Rằm) tháng Mười là ngày Tết Cơm Mới, tín chủ con thành tâm sắm lễ, quả cau lá trầu, hương hoa trà quả, nấu cơm gạo mới, thắp nén tâm hương dâng lên trước án.

Trộm nghĩ rằng:

Cây cao bóng mát

Quả tốt hương bay

Công tài bồi xưa những ai gây

Của quý hóa nay con cháu hưởng

Ơn Trời Đất Phật Tiên, Chư vị Tôn thần

Sau nhờ ơn Tổ tiên gây dựng, kể công tân khổ biết là bao

Đến nay con cháu dồi dào, hưởng miếng trân cam

Nay nhân mùa gặt hái

Gánh nếp tẻ đầu mùa

Nghĩ đến ơn xưa

Cày bừa vun xới ,

Sửa nồi cơm mới

Kính cẩn dâng lên

Thường tiên nếm trước

Mong nhờ Tổ phước

Hoà cốc phong đăng

Thóc lúa thêm tăng

Hoa màu tươi mới

Làm ăn tiến tới

Con cháu được nhờ

Lễ tuy đơn sơ

Tỏ lòng thành kính

Chúng con kính mời ngài Bản cảnh Thành hoàng Chư vị Đại Vương, ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân, Ngũ phương, Long Mạch, Tài thần. Cúi xin các Ngài giáng lâm trước án chứng giám lòng thành thụ hưởng lễ vật.

Chúng con kính mời các cụ Tổ khảo, Tổ Tỷ, chư vị Hương linh gia tiên nội ngoại họ........................................., cúi xin thương xót con cháu linh thiêng hiện về chứng giám tâm thành thụ hưởng lễ vật.

Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô a di Đà Phật

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

>> Xem thêm NGÀY TỐT XẤU 2016 mới nhất!

>> Xem thêm TỬ VI 2016 mới nhất!

Theo Phong tục truyền thống Việt Nam


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tết Hạ Nguyên (Tết Cơm mới) và ý nghĩa của nó trong truyền thống dân tộc.

Bí quyết đoán mệnh của Vương Đình Chi

Một bài viết trình bày bí quyết đoán mệnh của Vương Đình Chi rất hay! Vương Đình Chi là một bậc thầy tử vi!
Bí quyết đoán mệnh của Vương Đình Chi

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Vương Đình Chi phái Trung Châu có phong cách đoán mệnh khá đặc biệt, thường căn cứ vào tinh thần của mệnh tạo (cung Phúc đức), đạo "xu cát tị hung", và nhấn mạnh sự quan trọng của nỗ lực Hậu thiên, để đưa ra lời giải.

Đẩu Số có thể luận đoán xu hướng vận thế Tiên thiên (Thiên vận) của một người, nhưng quyết định những tao ngộ thực tế trong cuộc đời một con người, còn có "Địa vận" và "Nhân vận".

"Địa vận" có quan hệ đến bối cảnh xã hội, điều này cá nhân không kiểm soát được.

Nhưng, "Nhân vận" thì không phải là như vậy. Mỗi cá nhân đều chịu ảnh hưởng từ Cha Mẹ, Thầy, bạn bè,.v.v... lúc lâm sự, sẽ có những phản ứng khác nhau. Đạo "xu Cát tị Hung" (theo cát tránh hung) thực ra chỉ là kiểm soát phản ứng và quyết định của bản thân, để tìm kết quả có lợi hơn cho mình. Vì vậy hành động của con người thuộc Hậu thiên, thường có thể thay đổi vận thế Tiên thiên. Đây chính là Tinh hoa của Tử vi tinh quyết mà Vương Đình Chi được bí truyền.

Cho nên, người nghiên cứu phải tìm hiểu rõ tính chất "hợp Cục nhập Cách" này của Tử Vi Đẩu Số, lúc luận đoán nhất thiết không được chú trọng hoàn toàn vào những hiển thị vận thế Tiên thiên, mà bỏ qua bối cảnh xã hội (Địa vận) và chủ chương hành động của con người (Nhân vận) thuộc Hậu thiên.

Có một người từng viết thư hỏi Vương Đình Chi rằng, nếu nói mệnh vận có thể dựa vào hành động của con người thuộc Hậu thiên để thay đổi, thế có thể chứng minh mệnh vận đã từng thay đổi không? Ví dụ như, dùng Tử Vi Đẩu Số luận đoán, thấy một người năm nào đó bị họa lao ngục, bèn khuyên người này đừng làm việc gì trái pháp luật. Kết quả người này đã bình an vượt qua, nhưng làm sao chứng minh được, nếu anh ta không nghe lời khuyên, thì nhất định sẽ gặp họa lao ngục?

Vấn đề này đúng là rất thâm sâu, nhất là đối với người không biết Tử Vi Đẩu Số, rất dễ nảy sinh nghi vấn này. Vương Đình Chi đã kể một ví dụ thực tế để chứng minh phép "theo cát tránh hung" là sự thực như sau:

Năm 1984, Vương Đình Chi luận đoán cho một thư ký ngân hàng, phát hiện cô ta vào năm 1996 gặp phải một nhóm sao chủ về bệnh ung thư tử cung, bèn khuyên cô ta đi kiểm tra, kết quả trải qua 3 lần xét nghiệm, mới phát hiện có tế bào ung thư ở giai đoạn đầu, lập tức phẫu thuật cắt bỏ. Vương Đình Chi nghĩ, nếu cô ta không làm phẫu thuật vào năm 1985, thì năm 1986 chắc chắn bệnh sẽ phát, nhưng hiện giờ cô ta đã vượt qua được sự hung hiểm của căn bệnh hiểm nghèo. Có lẽ đây chính là ý nghĩa đích thực của việc nghiên cứu Tử Vi Đẩu Số.

Nếu như nhất định muốn truy cứu câu hỏi nói trên, liên quan tới ví dụ thực tế chứng minh việc tránh được vận xấu như phạm pháp, phá tài, đương nhiên sẽ khó giống như trường hợp tránh bệnh tật, nhưng đương sự cũng không phải là không còn cách nào để tránh.

KỸ THUẬT LUẬN ĐOÁN THIÊN BÀN

1- Lấy bối cảnh văn hóa xã hội làm nên tảng

Bối cảnh văn hóa xã hội ảnh hưởng đến "cách" luận đoán, đó là điều rất quan trọng cần phải lưu ý khi dùng Đẩu Số để đoán mệnh.

Vương Đình Chi nói: "Nữ mệnh có Thất Sát tọa thủ cung mệnh của Lưu niên, nếu như cung Tử tức của nguyên cục gặp lục sát tinh: Hỏa tinh, Linh tinh, Kình dương, Đà la, Địa không, Địa kiếp, mà các sao của Lưu niên lại không tốt, chủ về sinh đẻ có nguy cơ". Nhưng luận đoán này đã khiến cho Vương Đình Chi bị hố, ông xem mệnh bàn của người phụ nữ này, hỏi bà ta năm ngoái có sinh con không? Lúc sinh con có bị phiền phức nhiều không? Người phụ nữ trả lời: "Vâng, năm ngoái có sinh con, nhưng sinh đẻ thuận lợi", Vương Đình Chi nhíu mày, người phụ nữ nói thêm: "Có điều tôi dùng phương pháp gây tê toàn thân để sinh con". Thực sự, Ông không biết có phương pháp gây tê toàn thân để sinh con. Chiếu theo lý, "gây tê toàn thân" cũng là có vấn đề rồi, nhưng lúc sinh con người phụ nữ không cảm thấy đau khổ và đau đớn, nên không cho rằng có phiền phức mà thôi.

Sinh con không ưa gặp Phá Quân, chủ về sinh con khó dưỡng. Đây cũng là thuyết của cổ nhân, nhưng Vương Đình Chi cũng bị hớ, đứa con của người phụ nữ này, lúc mới sinh ra được các Bác sỹ dùng kỹ thuật hiện đại chữa trị khiếm khuyết bẩm sinh về Tim cho đứa bé, nhưng người ta không cho đó là tai nạn, cũng không cho rằng đứa bé khó nuôi.

Do đó có thể biết, Tử Vi Đẩu Số chỉ có thể luận đoán xu hướng của một vận mệnh, Hậu thiên có thể thay đổi tính chất của xu hướng này. Nhất là ngày nay khoa học tiến bộ, vốn có thể xoay chuyển vận thế Tiên thiên, những xu hướng mà cổ nhân đã lập thành định luận.

Có thể cử một số ví dụ để chứng minh Tử Vi Đẩu Số không phải là "túc mệnh luận", tức chẳng thể luận đoán ra chuyện "không thể thay đổi được". Bởi vì khuynh hướng Tiên thiên tuyệt đối có thể dùng việc làm Hậu thiên của con người để bổ cứu (như mệnh bàn vừa kể trên, y học hiện đại có thể cứu sống một đứa bé, khiến cho luận đoán "sinh con khó dưỡng" không còn chính xác). Cổ nhân căn cứ bối cảnh xã hội cổ đại để đưa ra luận đoán, rất nhiều trường hợp không còn phù hợp với xã hội hiện đại.

Cổ nhân nói: "Tham lang Liêm trinh đồng cung, nam mệnh phần nhiều phóng đãng, nữ mệnh phần nhiều đa dâm", nếu cứ y như sách mà nói thẳng, ngày nay như vậy là quá cứng nhắc. Vương Đình Chi kể: ông có quen biết một nhà thiết kế quảng cáo có địa vị khá, cung mệnh là hai sao "Tham lang Liêm trinh" tọa thủ, nếu nói phóng đãng, tính chất cũng chính xác, bởi vì người này "có máu" nghệ thuật, đã từng phiêu bạt khắp nơi, nhưng sự nghiệp lại thành tựu.

Cho nên đặc tính của một đời người tuyệt đối không thể dùng hai chữ "phóng đãng" để khái quát. Đây là do xã hội cổ đại khác với xã hội ngày nay. Thời cổ, những người thích phiêu bạt giang hồ, dù có tài năng cũng khó phát huy, bởi vì xã hội ngày xưa bảo thủ, không ai dám làm "lãng tử", lại không có nghề nghiệp nào tạo cơ hội cho người ta phát huy tài năng nghệ thuật. Nhưng xã hội ngày nay đã khác, có nghề thiết kế quảng cáo để phát triển, đo đó biến thành không phải là "phóng đãng".

Năm xưa, Vương Đình Chi học Đẩu Số với thầy là Huệ Lão, Huệ Lão đã chỉ điểm cho Vương Đình Chi một điều rất hay, ông nói: "Theo kinh nghiệp luận đoán của thầy trong những năm gần đây, nữ mệnh có Phá Quân hóa Lộc ở cung mệnh, dường như đều có khuynh hướng giải phẫu thẩm mỹ". Đương nhiên thời cổ đại không có giải phẫu thẩm mỹ, vì vậy Huệ Lão chỉ nói nhẹ nhàng một câu, mà đã gợi mở rất lớn cho Vương Đình Chi. Sau nhiều năm nghiên cứu vô số mệnh bàn, ông cũng phát hiện ra một số tính chất mới của các tinh hệ.

Năm xưa, Huệ lão rất tán dương hai vị Đẩu Số gia, một vị là Lục Bân Triệu, từng mở lớp dạy Đẩu Số, trước tác Tử Vi Đẩu Số giảng nghĩa, có tặng cho Huệ lão một bộ, Vương Đình Chi lúc đó có chép lại. Một vị khác là Bắc phái cao thủ Trương Khai Quyền, với bộ Tử Vi Đẩu Số nghiên cứu, tác phẩm của tiên sinh vào thập niên 50 của thế kỷ trước đã có tác dụng mở đường. Phương pháp đoán mệnh của hai vị danh gia đương nhiên đều có sắc thái đặc biệt, họ không giữ bí mật mà công khai sở học, là tài liệu tốt để nghiên cứu Đẩu Số.

Những điều Huệ lão truyền lại cho Vương Đình Chi, có nhiều chỗ khác với Lục Bân Triệu và Trương Khai Quyền. Như Thái âm ở cung Tai Ách, Lục tiên sinh cho rằng chủ về bệnh tiêu chảy kiết lị; còn Huệ lão thì cho rằng chủ về táo bón, hoàn toàn tương phản. Huệ lão từng bảo Vương Đình Chi sưu tập tư liệu để nghiên cứu thêm xem sao.

Do đó có thể thấy, phong cách của bậc danh sư là không khiến cho đệ tử phải sùng bái điều mình bí truyền, như vậy mới khiến cho Tử Vi Đẩu Số phát triển theo hoàn cảnh xã hội.

2- Quan sát toàn diện 12 cung

Kỹ thuật luận đoán thực ra rất đơn giản, trước tiên phải vượt ra khỏi khái niệm "tam phương tứ chính", sau đó phải lưu ý phản ứng giữa các tinh hệ với nhau, tinh hệ A gặp phải tinh hệ B sẽ xảy ra một số tình hình đặc thù nào đó, đây là căn cứ dùng để luận đoán.

Thông thường khi đối mặt với một tinh bàn, người mới học hay mắc một bệnh, đó là xem trọng việc luận đoán "tam phương tứ chính" của cung mệnh, cung Thiên Di, cung Tài bạch, cung Quan lộc một cách thái quá, mà không quan sát tinh bàn một cách tổng hợp. Bởi vì con người ngày nay phần lớn đều có tâm lý chú trọng vấn đề tiền tài và sự nghiệp, xem đó là ưu tiên hàng đầu.

Phương pháp luận đoán như vậy rất dễ rời vào luận đoán vụn vặt. Vương Đình Chi cho bết kinh nghiệm rằng, cần phải tuần tự theo các bước sau đây để quan sát tinh bàn, mới có thể lý giải mệnh vận của mệnh bàn một cách toàn diện.

3- Các bước luận đoán mệnh bàn

Học Tử Vi Đẩu Số, thực ra chỉ cần nắm vững 3 điều:

3.1- Phương pháp an sao
3.2- Tính chất cơ bản của tinh hệ
3.3- Căn cứ vào tinh bàn như thế nào để đoán vận trình.

Tiết này sẽ bàn về điểm sau cùng, mục đích để tạo hứng thú cho người mới học luận đoán, bởi vì rất nhiều người sau khi đọc rất nhiều sách Đẩu Số vẫn không luận đoán được tinh bàn.

3.1- Trước tiên xem cung Phụ Mẫu, rồi xem cung Điền trạch

Từ cung Phụ Mẫu và cung Điền Trạch, có thể luận đoán xuất thân của đương số, và mức độ được hưởng sự che trở của cha mẹ. Như vậy, đến khi quan sát cung mệnh, mới có thể quyết định đương số thích nghi với vận thế sáng lập sự nghiệp "tay trắng làm nên", hay là thích nghi với vận thế giữ gìn, bảo thủ cái đã có.

Điểm này rất trọng yếu, bởi vì, giả dụ một người có cung Phụ Mẫu và cung Điền trạch đều tốt, nhưng khi trong vận bàn lại hiện rõ vận trình "tay trắng làm nên", điều này chứng minh gia đình của đương số rất có thể xảy ra một lần suy sụp. Ngược lại cung Phụ mẫu và cung Điền trạch đều xấu, liên tiếp hai ba vận trình đều có tính bảo thủ, không có sự đột phá, thì rất khó luận đoán đương số có cơ hội tốt để xoay chuyển hoàn cảnh.

3.2- Đồng thời quan sát cung Mệnh và cung Phúc đức

Thông thường sao hiển thị ở "tam phương tứ chính" của cung Mệnh, là vận trình khá thực chất, như hưởng thụ vật chất, tài phú nhiều ít, sự nghiệp thuận lợi hay trở ngại. Còn sự hiển thị ở "tam phương tứ chính" của cung Phúc đức là hưởng thụ về hoạt động tinh thần và tư tưởng của một người.

Nếu tính chất của hai cung vị đều tốt, người này đương nhiên chẳng có gì bất lợi, hơn nữa còn có thể luận nhất định đương số có một gia đình tốt. Trái lại, nếu cung Mệnh tốt, còn cung Phúc đức lại khá tệ, như vậy cần phải chú ý hôn nhân của đương số có thể không như ý, hay có khả năng đương số chỉ dựa vào may mắn mà giầu có, nên sự hưởng thụ tinh thần của đương số chẳng cao thượng, hoặc cảnh ngộ của đương số tuy khá tốt, nhưng bị bệnh tật đeo đẳng.

3.3- Căn cứ vào sự quan sát hai hạng mục trên để tìm ra cung nào có điểm đặc biệt đáng chú ý

Nếu nghi ngờ đương số hôn nhân bất lợi, thì cần phải kiểm tra cung Phu Thê, nghi ngờ đương số mắc bệnh mãn tính khó khỏi thì cần phải kiểm tra cung Tai Ách, nhất định phải tìm ra một số tinh hệ từ tinh bàn, đủ để giải thích tính chất phối hợp của cung Mệnh và cung Phúc đức, sau đó mới có thể đưa ra luận đoán.

Xin đưa ra một ví dụ thực tế:

- Nữ mệnh, cung mệnh Thiên cơ Thái âm, trong đó Thiên cơ hóa Khoa, Thái âm hóa Lộc tại cung Thân
- Hội Thiên đồng hóa Quyền ở cung Tài bạch tại Thìn, là "Hóa Lộc Hóa Khoa Hóa Quyền hội", trong Đẩu Số là một kết cấu tốt.
- Cung Phúc có Cự môn hóa Kị, hội hợp với Phu thê gặp Hồng Loan, Hàm trì, đối cung lại gặp Thiên diêu (tức cung Tài)
- Kết cấu tinh hệ này, biểu thị khả năng do sinh hoạt hôn nhân gây nên sự đau khổ tinh thần, vì vậy cần phải kiểm tra tổ hợp tinh hệ ở cung Phu Thê.
- Thái dương Lộc tồn tọa thủ cung Phu ở Ngọ, chồng chẳng nghèo, nhưng hội Cự môn hóa Kị ở cung Phúc tại Tuất, xấu nhất còn hội hợp Thiên lương, Thiên hình, thêm sao Hỏa tinh ở đối cung (tức cung Quan ở Tý), tổ hợp tinh hệ này biểu thị không có duyên vợ chồng
- Nhưng không có duyên vợ chồng có mấy loại tính chất. Ví dụ như Phu và Thê không cùng chí hướng, gặp nhau ít mà xa nhau nhiều, chồng có tình nhân bên ngoài, chồng mắc nhiều bệnh,.v.v... Muốn quyết định thuộc loại tính chất nào, chỉ xem 12 cung của mệnh bàn, thì không có cách nào giải quyết được, mà càn phải xem Đại vận và Lưu niên.

3.4- Căn cứ tình hình của các cung để luận đoán vận hạn

Xem xét vận thế của Đại hạn và Lưu niên, thường thường có thể bổ sung cho luận đoán, và có cái nhìn tinh bàn một cách tổng hợp. Như trong ví dụ trên, chỉ cần xem xét mỗi một Đại hạn của cung Phu Thê, là có thể đưa ra luận đoán chuẩn xác.

Đại hạn Canh Tuất từ 25 - 34 tuổi, cung Tuất biến thành cung Mệnh của Đại hạn, cho nên cung Mậu Thân (vốn là cung mệnh của nguyên cục, tức thiên bàn) biến thành cung Phu Thê của Đại hạn.

Sao Lộc tồn của Đại hạn bay vào cung Phu Thê (tức lưu Lộc, bởi vì Lộc tồn của Đại hạn Canh Tuất ở cung Thân), nhưng đồng thời cũng có lưu Kình và lưu Đà của Đại vận giáp cung (gọi tắt là vận Kình vận Đà).

Cung Phu thê của nguyên cục có hiện tượng giáp Kình giáp Đà, thấy khéo trùng hợp, nhưng khéo trùng hợp như vậy tất phải có lý lẽ của nó. Vả lại, cung Phu thê của Đại vận còn hội hợp Thiên đồng hóa Kị, do đó có thể khẳng định, trong Đại hạn này vợ chồng tất có vấn đề.

Xem xét tiếp, thì phát hiện vào năm Quý Hợi 1983, cung Phu thê của Lưu niên có vấn đề lớn. Cung Phu thê của Lưu niên ở cung Dậu, "Tử vi Tham lang" tọa thủ, nhưng Tham lang hóa Kị vào năm Quý, đồng thời có lưu Kình của Đại hạn đồng cung. Sát diệu hội hợp Đà la của cung Tị, lưu Kình của cung Sửu, cho tới các sao Vũ khúc, Phá quân, Liêm trinh, Thất sát. Kết cấu tinh hệ kiểu này, có tính chất là "không có niềm vui gia đình", xấu nhất tức là "lưu Kình của Lưu niên" xung động "lưu Kình của Đại hạn", đồng thời xung khởi Hóa Kị của tinh hệ "Tử vi Tham lang".

Do đó luận đoán sơ bộ là: sinh hoạt vợ chồng của người này hoàn toàn không hòa hợp. Sau khi hỏi thăm thì biết năm Quý Hợi kết hôn, sau khi kết hôn một tháng thì phát hiện người chồng bị mắc chứng rối loạn khả năng tính dục.

Kiểm tra cung Tai Ách của người chồng, thì thấy "Thiên cơ Thái âm" tọa thủ, có Linh tinh Đà la đồng cung, hội hợp Thiên lương và Xăn xương hóa Kị, đồng thời "tam phương tứ chính" lại có các sao Hàm trì, Hồng loan, Đại hao, còn có thêm Âm sát. Tổ hợp tinh hệ dạng này, theo kinh nghiệm từ Vương Đình Chi, là thuộc chứng quá túng dục mà dẫn đến âm phận hư tổn. Có thể luận đoán, thời kỳ trước hôn nhân, người chồng này đã rất trác táng. Vì vậy, Vương Đình Chi đề nghị người chồng gặp một vị lương y trứ danh để chữa trị, dưỡng âm bồi nguyên khí. Kết quả đầu năm Ất Sửu 1985, đôi vợ chồng nọ tìm đến Vương Đình Chi để cám ơn đã cữu vãn cuộc hôn nhân sắp đổ vỡ của họ.

3.5- Kỹ thuật quan sát tình hình Cát Hung của các cung

Dựa vào các bước quan sát đã thuật ở trên, thông qua một ví dụ thực tế, tin rằng bạn đọc đã có cái nhìn sơ lược về phép tắc luận đoán tinh bàn, nhưng còn cần phải thành thục một số kỹ thuật.

Dưới đây, tôi xin trình bầy các kỹ thuật quan sát để bạn đọc tham khảo

- Mượn sao an cung

Khi một cung vị không có chính diệu, cần phải mượn sao của đối cung nhập vào bản cung, gọi là "mượn sao an cung". Về điểm này, thông thường các sách Đẩu Số chỉ đề cập sơ qua, nhưng có hai then chốt mà lâu nay không có ai bàn tới.

Khi "mượn sao an cung", ắt cần phải mượn toàn bộ tinh hệ của đối cung để đưa vào bản cung (vô chính diệu), mà không chỉ đưa chính diệu để an cung mà thôi, đây là then chốt thứ nhất.

Ví dụ tinh bàn của một Nam mệnh: cung Phu Thê ở Thìn, vì vô chính diệu có Tả phụ Đà la đồng độ, nên phải mượn tinh hệ của đối cung, đó là cung Quan có Cơ Lương, Hỏa tinh, Hữu bật đồng độ tại cung Tuất, sau khi "mượn sao an cung", kết cấu của cung Phu Thê biến thành Thiên lương, Thiên cơ hóa Kị, Hỏa tinh, Đà la, Tả phụ, Hữu bật.

Nhưng điểm này có quan hệ không lớn, bởi vì tính chất tinh hệ của đối cung vốn đã đủ gây ảnh hưởng đến bản cung. Tức dù không "mượn sao an cung", tính chất tinh hệ của bản cung và đối cung hợp chiếu, đại khái cũng giống tính chất sau khi "mượn sao an cung". Nhưng có một then chốt khác, đó là khiến toàn bộ cung Phu Thê phát sinh biến hóa.

Khi tìm "tam phương tứ chính" của một cung vị, nếu cung vị nào đó không có chính diệu tọa thủ, thì cung vị này vẫn phải "mượn sao an cung", sau đó mới hội hợp với bản cung. Đây là then chốt thứ hai. Nhiều người sau khi đọc rất nhiều sách Đẩu Số, vẫn không cách nào luận chuẩn xác, là do không biết then chốt này.

Vẫn từ ví dụ trên, cung Phu thê ở cung Thìn, hội hợp với hai cung Thân - Tý, lại xung hợp với đối cung (Tuất), cấu tạo thành "tam phương tứ chính". Hai cung Thân Tuất đều có chính diệu, không xảy ra vấn đề gì. Nhưng cung Tý chỉ có một sao Văn Khúc, không thuộc nhóm chính diệu, do đó cần phải nhìn đến đối cung của cung Tý là cung Ngọ để "mượn sao an cung", mượn Thiên đồng, Thái âm, Linh tinh, Kình dương.

Tới đây, toàn bộ tinh hệ của cung Phu Thê biến thành cách: "tứ sát kèm sát", tức là Hỏa tinh, Linh tinh, Kình dương, Đà la, lại có thêm tổ hợp chính diệu Thiên cơ (hóa Kị), Thiên lương, Thiên đồng Thái âm, Thái dương (hóa Khoa), Cự môn. Có thể luận đoán sinh hoạt hôn nhân không được tốt đẹp, tuy không nhất định là phải ly hôn, nhưng có khả năng dị mộng đồng sàng. Thái dương hóa Khoa còn có thêm Cự môn, chủ về vợ chồng giữ gìn thể diện, cho nên dù có oán trách chồng, nhất định cũng không nói lời chia tay.

Từ ví dụ trên có thể thấy, "mượn sao an cung" là một đại pháp môn trong phép luận đoán Đẩu Số. Nhất là hai then chốt kể trên, điều mà xưa nay cổ nhân xem là "bí pháp", không dễ gì truyền ra ngoài.

Các sao của Thiên bàn và Nhân bàn ảnh hưởng lẫn nhau

Cần chú ý, tính chất của một nhóm tinh hệ, thường thường có thể bị tính chất của một nhóm tinh hệ khác phá hoại, đây gọi là "tinh diệu hỗ hiệp".

Về điểm này có thể đơn cử một ví dụ thực tế để chứng minh:

Nữ sinh trung học, sinh năm Giáp Tý 1994 tham dự cuộc thi Trung học, mệnh tại Tý có tinh hệ "Thiên phủ Vũ khúc", Linh tinh, Hàm trì, Đại hao đồng độ tọa thủ, hiện đang ở Đại vận Quý Mão.

Chiếu theo Lưu niên của năm Giáp Tý, cung mệnh ở Tý có "Thiên Phủ Vũ khúc", hơn nữa còn có Vũ khúc hóa Khoa năm Giáp, ở hai cung Thân và Ngọ, hội hợp Tả phụ, Hữu bật, Văn xương, Văn khúc, lại có thêm Lộc tồn của cung Ngọ trùng điệp với lưu Lộc của Đại vận ở bản cung. Đây là cách Lộc tinh và Văn tinh hội hợp, tạo thành cách là "Lộc Văn củng mệnh". Theo phép luận đoán thông thường, cuộc thi năm nay sẽ không thất bại.

Ở đây cần chú ý "cung Mệnh của lưu niên" (cung Tý), có hai tạp diệu Hàm Trì và Đại Hao, chúng cùng đồng độ ở một cung, sức mạnh khá lớn, chủ về tình cảm nam nữ mang lại tình cảm không tốt.

Lúc này, cần phải kiểm tra "cung Phúc đức của lưu niên" của cô gái này (tức nguyên tắc đồng thời xem xét cung Mệnh và cung Phúc đức). Cung này ở cung Dần có Tham Lang độc tọa, nhưng đang ở Đại hạn can Quý nên Tham lang hóa Kị; đối nhau với Liêm trinh, cũng đối nhau xa xa với Hồng loan (cung Thân).

Lại thấy cung Dần hội hợp với các sao phụ tá ở hai cung Thân và Ngọ, là Tả phụ, Hữu bật, Văn xương, Văn khúc, có thể nói là "đào hoa" tụ về cung Phúc đức.

Trong tình hình này, Vương Đình Chi luận đoán, cô nữ sinh này tuy thành tích học tập không tệ, nhưng đáng tiếc là năm đó đã rơi vào tình huống yêu đương, vì vậy ảnh hưởng đến thành tích thi cử. Cô nữ sinh này cũng vì thi cử thất bại nên mới tìm đến Vương Đình Chi.

Thông qua thí dụ này có thể biết, chỉ vì "cung mệnh của lưu niên" xuất hiện các tạp diệu Hàm trì, Đại hao, khiến cho tính chất của tinh hệ "Lộc Văn củng mệnh" phát sinh biến hóa. Đây là một ví dụ tốt về nguyên tắc: "các sao ảnh hưởng lẫn nhau".

"Sao đôi" xuất hiện thì sức mạnh tăng thêm

Khi luận đoán Đẩu Số, một nguyên tắc quan trọng mà ít người biết, đó là "Kiến tinh tầm ngẫu". Đây là kỹ thuật luận đoán bí truyền của phái Trung Châu, mà Vương Đình Chi được truyền thừa.

Gọi là "Kiến tinh tầm ngẫu" (gặp sao thì tìm đôi), bởi vì trong Đẩu Số có nhiều cặp "sao đôi", khi gặp một mình thì sức mạnh hữu hạn, nhưng khi xuất hiện thành đôi, thì sức mạnh được tăng cường. Về điều này, thực ra cổ nhân cũng đã tiết lộ đôi chút.

Ví dụ cổ nhân đưa ra nguyên tắc: "phùng Phủ khán Tướng" (gặp Thiên phủ thì phải xem Thiên tướng), "phùng Tướng khán Phủ" (gặp Thiên tướng thì phải xem Thiên phủ), bởi vì Thiên Phủ và Thiên Tướng là cặp "sao đôi". Nhưng cổ nhân thích giữ "bí mật", cho nên thường thường chỉ nói sơ qua mà thôi.

Liệt kê một số cặp "sao đôi" để tham khảo:

+ Chính diệu:
- Thiên phủ và Thiên tướng
- Thái Dương và Thái Âm
- Thiên Đồng và Thiên Lương
- Liêm Trinh và Tham Lang

+ Phụ diệu:
- Tử Phụ và Hữu Bật
- Thiên Khôi và Thiên Việt

+ Tá diệu:
- Văn Xương và Văn Khúc
- Lộc Tôn và Thiên Mã

+ Tạp diệu:
- Hồng Loan và Thiên Hỷ
- Hàm trì và Đạo hao
- Long Trì và Phượng Các
- Ân Quang và Thiên Quý
- Tam Thai và Bát Tọa
- Cô Thần và Quả Tú
- Thiên Khốc và Thiên Hư
- Thiên Phúc và Thiên Thọ
- Đài Phụ và Phong Cáo.

Nhưng, như thế nào mới gọi là "sao đôi" xuất hiện? Sức mạnh lớn nhỏ của nó có thể dựa vào nguyên tắc dưới đây để định.

- Loại tình huống có sức mạnh nhất là "sao đôi đồng cung". Ví dụ như tình huống "Thái dương Thái âm" đồng cung tại Sửu, cùng thủ một cung, kết cấu tinh hệ kiểu này có sức mạnh tuyệt đối không thể xem thường.

- Kế đến, loại tình huống có sức mạnh khá nặng là "sao đôi chiếu nhau", ví dụ ở hai cung Thìn và Tuất, thì Thái dương và Thái âm chiếu vào nhau, sự phát huy sức mạnh lẫn nhau của chúng cũng không thể xem thường.

- Tiếp đến nữa là tình huống hội hợp "Song phi hồ điệp thức", tức là "sao đôi" chia ra ở hai bên "hợp cung", ví dụ lấy cung Ngọ làm bản cung, đi nghịch cách 3 cung đến cung Dần gặp Thiên Khốc, đi thuận cách 3 cung đến cung Tuất gặp Thiên Hư, là cặp "sao đôi" Khốc Hư lấy tư cách "song phi hồ điệp" hội hợp với cung Ngọ (là bản cung), đối với cung Ngọ phải chịu sức ảnh hưởng cũng nặng. Nhưng đối với hai cung Dần Tuất mà nói, sự hội hợp của Thiên khốc và Thiên hư so với cung Ngọ thì không có gì quan trọng, bởi vì chúng không thuộc loại hội hợp "Song phi hồ điệp thức".

- Cuối cùng là hội hợp "Thiên tà thức" (kiểu đối lệch). Ví dụ lấy cung Tý làm "bản cung", tương hội với Văn khúc ở cung Thân, và Văn xương ở đối cung (cung Ngọ), đối với cung Tý là "bản cung" mà nói, hai cung vị Thân và Ngọ có vị trí đối nhau không chuẩn, do đó hình thức xuất hiện "sao đôi" kiểu này có sức mạnh hơi kém.

Tóm lại, sức mạnh của các tình huống xuất hiện "sao đôi" theo thứ tự giảm dần như sau:

Đồng cung => Đối nhau.=> Tam hợp hội chiếu => Một ở tam hợp một ở đối cung hội chiếu => Các sao tương hội ở tam hợp cung (như Thiên khốc và Thiên hư ở hai cung Dần và Tuất).

Như đã nói, nguyên tắc vừa thuật được người xưa xem là "bí truyền". Cho nên dựa theo sách cổ để học Đẩu Số, thường thường sẽ biết được sự hội hợp một số sao có tác dụng rất mạnh, nhưng có lúc lại thấy sự hội hợp của chúng không hiển thị tác dụng mạnh như vậy. Đây là vì không biết các hình thức hội hợp vừa kể trên để tính toán sức mạnh hơn kém của chúng.

"Tá cung an sao", "Tinh diệu hỗ thiệp", "Kiến tinh tầm ngẫu", là Vương Đình Chi được sư phụ bí truyền, đây là ba kỹ thuật trọng yếu, dùng để luận đoán tinh bàn của phái Trung Châu. Tiền bối của phái Trung Châu là Lục Bân Triệu khi soạn bộ Tử Vi Đẩu Số giảng nghĩa cũng không chịu tiết lộ những bí truyền này.

KỸ THUẬT LUẬN ĐOÁN ĐỊA BÀN

Địa bàn tổng cộng có 14 chính diệu. Về cách an, toàn bộ giống như Thiên bàn, trong đó thì phép an sao Tử Vi có khác.

Tử vi của "Thiên bàn" là lấy thiên can của Năm sinh và ngũ hành Dần thủ, để tìm Nạp âm của cung mệnh, rồi lấy Nạp âm ngũ hành để tra Cục số, thì xác định được cung vị của Tử Vi.

Tử Vi của "Địa bàn" cũng vậy, ta lấy thiên can của Năm sinh, và ngũ hành Dần thủ, nhưng không phải để tìm ngũ hành nạp âm của cung Mệnh, mà là tìm ngũ hành Nạp âm của cung Thân. Do đó "Địa bàn" lấy cung Thân làm chủ. Sau đó tra được nạp âm của cung Thân, chiếu theo phương pháp của "Thiên bàn", căn cứ ngũ hành Cục số, để tìm cung vị Tử vi.

Sau khi đã biết "Địa bàn", ta rất dễ xem xét được căn nguyên của thiên tính và bản chất Tiên thiên của mệnh tạo. Nhờ vậy, ta sẽ hiểu tại sao rất nhiều người có địa vị cao quý trong xã hội, nhưng họ lại có những hành vi nhỏ mọn rất là hạ lưu. Đây là vì các sao của cung mệnh tại "Địa bàn" rất tốt, nhưng các sao của cung mệnh ở "Thiên bàn" tiên thiên lại không cao quý cho lắm.

Trái lại, có rất nhiều người nghèo nàn, hoặc không được hưởng một sự giáo dục tốt, nhưng họ lại có tư tưởng rất thanh cao, và hành vi rất đáng khâm phục. Đây là do các sao ở cung mệnh ở "Thiên bàn" phần nhiều là sao xấu, nhưng ở "Địa bàn" lại có nhiều sao rất tốt cung hội chiếu.

Các sao của "Địa bàn" cũng vậy, cần phải chú ý xem chúng nhập miếu hay lạc hãm, sinh vương hay tử mộ, để phân biệt sự cao thấp của chúng.

Xin đơn cử ví dụ, người sinh giờ Tị, ngày 17 tháng 5, năm Quý Sửu, Vương Đình chi tôi chú giải như sau: (sách Tử Vi Đẩu Số giảng nghĩa bổ chú )

Lục tiên sinh chủ trương dùng "Địa bàn" để tìm "căn nguyên tiên thiên". Đây là điểm rất đáng chú ý, không phải là phát biểu của một người hiểu biết nửa vời. Nhưng dùng "Địa bàn" để tính "giao thế thời" thì Lục tiên sinh hoàn toàn không có nhắc đến.

Theo Vương Đình Chi, thì mỗi giờ sinh của một người có thể chia thành "tam bàn" Thiên - Địa - Nhân. Điều này, cần phải căn cứ vào Tổ đức để phân biệt, chứ không nhất định giới hạn trong "giao thế thời".

Liên quan đến phương pháp an sao ở "Địa bàn" và "Nhân bàn", điều mà xưa nay vẫn được coi là "bí truyền", thực ra rất là đơn giản.

Trước tiên, cứ theo phương pháp an sao của mệnh bàn, mệnh bàn này tức là "Thiên bàn", rồi lấy cung Thân của "Thiên bàn" đổi thành cung mệnh, dùng can chi của cung Thân để định Cục và Ngũ hành, an Tử vi và Thiên phủ, như vậy là được thêm một bàn khác, gọi là "Địa bàn".

Nếu không dùng cung Thân, thì lấy cung Phúc Đức của "Thiên bàn" đổi thành cung mệnh, rồi dùng can chi của cung Phúc Đức để định cục ngũ hành, sau đó an Tử vi và Thiên phủ, như vậy là được thêm một mệnh bàn khác nữa, gọi là "Nhân bàn", nói một cách chính xác thì đây là "nhân bàn của địa bàn".

Nếu cung Mệnh và cung Thân đồng cung, thì "Thiên bàn" và "Địa bàn" hoàn toàn giống nhau. Nếu cung Thân và cung Phúc đức đồng cung, thì "địa bàn" và "nhân bàn của địa bàn" hoàn toàn giống nhau.

Chú ý phân biệt, "Thiên bàn" - "Địa bàn" - "Nhân bàn", chỉ có cung Mệnh là khác cung độ, trong đó 14 chính diệu được bài bố khác nhau, còn các sao khác ở các cung viên đều không thay đổi.

KỸ THUẬT LUẬN ĐOÁN NHÂN BÀN

1- Cung phi động và tác dụng giao thoa của lưu diệu

Nguyên cứu Tử Vi Đẩu Số, nếu chỉ quan sát các sao ở 12 cung "Thiên bàn", thì chỉ có thể luận đoán cách cục cơ bản của mệnh tạo (tức khuynh hương Tiên thiên). Nhưng người có cách cục tốt, chưa chắc Năm hạn nào cũng tốt ; người có cách cục xấu, chưa chắc Năm hạn nào cung xấu. Do đó cần phải mang tinh bàn "phi động" ra để nghiên cứu tỷ mỉ, xem vận thế của Mệnh tạo trong mỗi một Năm hạn. Đây mới là chỗ tinh hoa của Đẩu Số. (Thuyết "phi động" người đầu tiên nói đến là Quan Vân Chủ Nhân trong Tử Vi Đẩu Số tuyên vi).

Đẩu số giống với khoa Tử Bình, cứ 10 năm được coi là một Đại hạn. Đại hạn khởi đầu từ cung mệnh, dương nam âm nữ đi thuận, âm nam dương nữ đi ngược, đếm đến cung vị nào thì đó là cung Mệnh đại hạn 10 năm. Rồi cũng khởi đầu từ cung mệnh của Đại hạn đếm theo chiều nghịch (của chiều kim đồng hồ), bày lần lượt 11 cung còn lại, mà không cần chú ý đến tên gọi gốc của "Thiên bàn".

Giả thiết mệnh tạo là Dương nam, thuộc mộc tam cục, Mệnh lập tại Dần, xét Đại hạn Mậu Thìn 23 - 32 tuổi, cung mệnh của Đại hạn ở cung Mậu Thìn, tức là cung Phúc đức của Thiên bàn tại Thìn, thế là từ cung Mậu Thìn, bầy bố theo chiều nghịch

- Cung Đinh Mão là cung Huynh đệ của Đại hạn
- Cung Bính Dần là cung Phu thê của Đại hạn
- Cung Ất Sửu là cung Tử Tức của Đại hạn
...v.v...
- Cho đến cung Kỷ Tị là cung Phụ Mẫu của Đại hạn

Tới đây, có thể căn cứ vào tổ hợp sao của các cung, tham khảo những điều đã luận thuật ở chương trước để luận đoán, thì có thể biết mệnh tạo trong đại hạn 23 - 32 tuổi sẽ gặp các tình huống cát hung thế nào.

Tinh bàn gốc đã bài bố chỉ là "Thiên bàn", hoặc Địa bàn cố định bất động, lúc muốn luận đoán 12 cung của Đại hạn, còn phải thêm vào các "Lưu diệu" thuộc đại hạn đó. Lưu diệu được dùng trong phái Trung Châu có mấy loại như dưới đây:

1)- Lưu diệu dựa vào thiên can của cung mệnh (đại hạn) để an: lưu Hóa Lộc, lưu Hóa Quyền, lưu Hóa Khoa, lưu Hóa Kị, lưu Lộc (lộc tồn), lưu Dương (kình dương), lưu Đà (đà la), lưu Khôi (thiên khôi), lưu Việt (thiên việt), lưu Xương (xăn xương), lưu Khúc (văn khúc)

2)- Lưu diệu dựa vào địa chi của cung mệnh (đại hạn) để an: lưu Mã (thiên mã)

Theo ví dụ trên:
- Cung mệnh của Đại hạn từ 23 - 32 tuổi là ở cung Mậu Thìn, cho nên can Mậu là can của cung mệnh Đại hạn
- Vì vậy trong Đại hạn này, căn cứ vào can Mậu, thì lưu hóa Lộc là Tham Lang, lưu hóa Quyền là Thái Âm, lưu hóa Khoa là Thái Dương (??? kiểm), lưu hóa Kị là Thiên Cơ, lưu Lộc ở cung Tị, lưu Dương ở cung Ngọ, lưu Đà ở cung Thìn.
- Lại vì Thìn là chi của cung mệnh Đại hạn, cho nên lưu Mã ở cung Dần.

Người mới nghiên cứu Đẩu Số, tốt nhất nên điền các "lưu diệu" vào một tinh bàn mới (Nhân bàn), còn đối với người đã thuộc phương pháp an sao, thì các lưu diệu ở đâu chỉ nhìn một cái thì biết liền, không cần điền vào tinh bàn. Nhất là lúc luận đoán "Lưu niên", "Lưu nguyệt", "Lưu nhật", giả dụ như điền hết các Lưu diệu vào thì cả tinh bàn chi chít toàn sao, sẽ làm rối mắt, đồng thời sẽ làm ảnh hưởng đế sự suy nghĩ tính toán. Do đó thuộc lòng phương pháp an sao là rất quan trọng. Nếu không thì nên lập nhiều tinh bàn - tức là nhân bàn của từng thứ loại.

Khi luận đoán Lưu niên - Lưu nguyệt - Lưu nhật, thì có một nguyên tắc cần phải biết như sau:

1) Phàm có các Lưu diệu thì lấy Lưu diệu làm chủ, các sao ở mệnh bàn gốc (thiên bàn) không xung thì không sinh ra tác dụng (xin nhắc lại là nếu không xung thì không sinh ra tác dụng). Ví dụ như, tinh bàn gốc có Lộc tồn ở cung Tị, lưu Lộc ở cung Thân, cả hai chẳng ở phương vị tam phương tứ chính. Hay như Kinh dương gốc ở cung Ngọ, lưu Dương ở cung Dậu, còn Đà là gốc ở cung Thìn, lưu Đà ở cung Mùi, cung không có quan hệ hội hợp với các sao ở tam phương tứ chính. Cho nên khi luận đoán, Kình dương, Đà la, Lộc tồn của tinh bàn gốc tuy có ảnh hưởng đối với 12 cung của Đại hạn, nhưng tác dụng không lớn. Trái lại, lưu Lộc, lưu Dương, lưu Đà sẽ có tác dụng khá lớn.

2)- Nếu các sao ở trong tin bàn gốc, xung hội với "Lưu diệu" ở tam phương tứ chính, thì sác mạnh tăng thêm, hai bên sẽ phát huy tác dụng. Ví dụ như Lộc tồn nguyên cục ở tại cung Tị, lưu Lộc ở cung Hợi, nguyên cục "Lộc" và "Lưu Lộc" hai bên đối xứng. Hoặc như Kình dương ở cung Ngọ mà lưu Dương ở cung Tí, Đà la ở cung Thìn mà lưu Đà ở cung Tuất, như vậy nguyên cục và Lưu hai bên cũng đối xứng, làm cho tổ hợp các sao mạnh thêm nhiều. Do đó khi luận đoán 12 cung của Đại hạn, toàn bộ 6 sao trong đó 3 sao của nguyên cục và 3 sao "lưu" đều có tác dụng.

3)- Các sao xung động với "lưu diệu" thì lấy trường hợp đồng cung là mạnh nhất ; trường hợp tương xung ở đối cung là kế đó ; trường hợp hội chiếu ở cung tam hợp là cuối cùng.

4)- Khi luận đoán Đại hạn, cần lưu ý quan hệ xung hội của tinh bàn gốc với "lưu diệu" của Đại hạn.

Lúc luận đoán Lưu niên, cần lưu ý quan hệ xung hội giữa lưu diệu của Đại hạn với lưu diệu của lưu niên. Các sao tương đồng ở tinh bàn gốc có ảnh hưởng rất nhỏ, trừ trường hợp có hai "lưu diệu" đồng thời xung động, nếu không, về căn bản không cần lưu ý. Theo như ví dụ trên, lúc luận đoán Lưu niên, Lộc Tồn của tinh bàn gốc ở cung Tị, không có Lộc Tồn của Đại hạn ở tam phương tứ chính hội chiếu, cũng không có Lộc Tồn của Lưu niên hội chiếu. Nên khi luận đoán Lưu niên, có thể không cần lưu ý gì thêm.

Nhưng Kình dương, Đà là, Lộc tồn của đại hạn thì có Kình dương, Đà la, Lộc tồn của lưu niên ở đối cung của chúng xung đột, sức mạnh của hai bên mạnh thêm. Do đó khi luận đoán Lưu niên, chỉ cần xem xét Kình dương, Đà la, Lộc tồn của Đại hạn và Lưu niên.

Như tình huống ví dụ đã nói trên, Lộc tồn gốc tại cung Tị, Lộc tồn của đại hạn ở cung Tý, Lộc tồn của Lưu niên ở cung Hợi, theo đó Lộc tồn gốc tuy không hội chiếu với Lộc tồn của đại hạn ở cung Tý, nhưng xung hội với Lộc tồn của Lưu niên ở cung Hợi, do đó vẫn có thể phát sinh sức mạnh.

Có điều, giả dụ Lộc tồn của Đại hạn ở cung Dậu, như vậy lại tương hội với Lộc tồn gốc tại cung Tị, thì sao Lộc Tồn này, do đồng thời có lưu Lộc của Đại hạn ở Dậu và lưu Lộc của Lưu niên ở Hợi, tam phương hiệp trợ, nên sức mạnh của nó tuyệt đối không được xem thường.

Lúc luận đoán Lưu nguyệt, chỉ xem trọng lưu diệu của Lưu nguyệt và lưu diệu của Lưu niên. Chỉ khi nào lưu diệu của Đại hạn cũng ở trong tình huống bị xung động mới có sức mạnh, các sao tương đồng trong tinh bàn gốc (Thiên bàn), sức ảnh hưởng rất nhỏ, có thể không cần lưu ý gì thêm.

Lúc luận đoán Lưu nhật, sức mạnh lần lượt giảm thêm, thông thường lưu diệu của Đại hạn, và các sao tương đồng của tinh bàn gốc có thể không cần lưu ý gì thêm.

Các nguyên tắc kể trên rất quan trọng, khi luận đoán Đại hạn, Lưu niên, Lưu nguyệt, Lưu nhật, không được xem thường. Nếu không sẽ rối mắt, mà không cách nào luận đoán. Nhất là khi luận đoán Lưu nhật, trong tinh bàn đầy dẫy lưu diệu, hơn nữa, nhất định tình trạng Cát Hung sẽ lẫn lộn, nếu không biết nguyên tắc cái nào lấy cái nào bỏ, thì sẽ không biết định tính chất Cát Hung của các sao hội hợp như thế nào.

2)- Quy tắc quan sát các sao của Đại hạn và Lưu niên

Sau khi biết rõ các nguyên tắc thuật ở trên, và đã tìm hiểu về "tinh bàn phi động", cho tới cách nhập thêm lưu diệu, tốt nhất ta nên bắt đầu từ Đại hạn và lưu niên, để nghiên cứu phương pháp luận đoán.

Để tiện cho việc thuyết minh, tốt nhất tôi xin đơn cử một ví dụ thực tế:

Mệnh bàn của một phụ nữ, âm nữ, kim tứ cục, mệnh chủ Văn khúc, Thân chủ Thiên đồng, mệnh lập tại cung Ất Mùi vô chính diệu gặp Tuần Không.

Điều đáng chú ý là cung Phu ở Tị có Thiên cơ, Hữu bật, Thiên mã đồng độ, hội tinh hệ Thiên đồng, Cự môn hóa Lộc ở cung Tân Sửu (Di), Thái âm ở cung Kỷ Hợi, cung Đinh Dậu vô chính diệu (Phúc), vì vậy mượn Thiên lương, và Thái dương hóa Quyền ở cung Tân Mão để "nhập cung an sao" cho cung Đinh Dậu. Các sao có tổ hợp dạng này thoạt nhìn thấy rất tốt, Hóa Lộc, Hóa Quyền và Lộc tồn cùng chiếu, có vẻ như có thể lấy được người chồng giầu sang.

Nhưng Thiên cơ ở cung Phu vốn có tính chất hiếu động, trôi nổi, thêm vào đó còn có Thiên mã đồng độ, tính chất hiếu động trôi nổi càng tăng. Cung Phu không ưa Tả phụ Hữu bật, nhưng hai sao này lại đồng độ và hội hợp cung Phu. Ngoài ra, Thái dương và Thiên lương, Thiên đồng và Cự môn đều chẳng phải là tổ hợp sao có lợi cho cung Phu, cho nên cung Phu trong mệnh bàn có thể nói là cát - hung lẫn lộn. Cát hay Hung thì ảnh hưởng của Đại vận là tất lớn.

Lúc vào Đại hạn Bính Thân từ 14 - 23 tuổi, cung Phu ở cung Giáp Ngọ, thấy Tử vi xung chiếu Tham lang ở Tý, gặp thêm các sao đào hoa Hồng loan, Thiên hỷ, Hàm trì, Thiên diêu, nhưng đáng tiếc lại hội chiếu Văn xương hóa Kị ở cung Mậu Tuất, sao Kị này lại xung khởi Liêm trinh hóa Kị của Đại hạn ở đồng cung ; sao Văn xương là sao lễ nhạc, Liêm trinh là sao chủ về tình cảm, cùng lúc đều Hóa Kị, cho nên trong đại hạn này, tìm không được người bạn đời ký tưởng là điều có thể thấy trước. Huống hồ Kình dương và Linh tinh ở cung Mậu Tuất lại xung khởi lưu Dương của đại hạn cung Giáp Ngọ, cho nên ắt sẽ có sóng gió, trắc trở về tình cảm.

Đến đại hạn Đinh Dậu từ 24 - 33 tuổi, cung Phu của đại hạn ở cung Ất Mùi, vô chính diệu, mượn Thiên đồng và Cự môn ở đối cung để "nhập cung an sao" cho cung Mùi. Trong đại hạn Đinh Dậu thì Cự môn hóa Kị, cùng với sao Hóa Lộc của nguyên cục tổ hợp thành tinh hệ "Kị xung Lộc", đồng thời có Thái âm hóa Lộc ở cung Kỷ Hợi, Thái dương hóa Quyền ở cung Tân Mão hội chiếu. "Âm Dương Lộc Quyền" hội hợp, vì vậy đây là vận trình kết hôn, nhưng có lưu Dương của đại hạn ở cung Ất Mùi và Cự môn hóa Kị cùng thủ cung Phu của đại hạn, nên đã ngầm phục nguy cơ; thêm vào đó "Thái dương Thiên lương" có Thiên nguyệt đồng độ, là tinh hệ chủ về bệnh mãn tính thuộc hệ thần kinh, mà cung Kỷ Hợi lại có Địa kiếp, do đó cuộc tình duyên này thực tình không dám khen ngợi, tâng bốc.

Năm Mậu Ngọ 1978, cung Mệnh của lưu niên và cung Phu của lưu niên cùng hội hợp Tham lang hóa Lộc ở cung Canh Tý, lại thêm các sao "đào hoa" đồng độ, vì vậy chủ về "thành hôn mà không có nghi lễ chính thức". Tốt nhất ta xem tình huống cung Phu của lưu niên (cung Nhâm Thìn) có lưu Đà đồng độ, xung hội với Đà là của mệnh bàn, cũng chẳng thể khen.

Cho nên sau khi kết hôn năm Kỷ Mùi 1979, vào năm Quý Hợi 1983 cung Phu của lưu niên mượn tổ hợp "thái dương Thiên lương" và Thiên nguyệt ở cung Tân Mão, để "nhập cung an sao" cho cung Đinh Dậu, bị Kình dương của lưu niên ở cung Tân Sửu hội chiếu, dẫn động lưu Đà của đại hạn ở cung Quý Tị, thế là tình cảm vợ chồng đổ vỡ, nguyên nhân là do chồng sử dụng ma túy (bệnh mãn tính thuộc hệ thần kinh).

Lại xem cung Phúc (Kỷ Hợi) của đại hạn Đinh Dậu, bị lưu Dương và lưu Đà của đại hạn hội chiếu, ở tinh bàn gốc lại có Địa không, Địa kiếp (Kỷ Hợi), thêm vào đó lại xung chiếu Thiên cơ, Thiên mã, Hữu bật từ cung Quý Tị, cho tới mượn phép "an sao nhập cung" của cung Tân Sửu là tinh hệ "Thiên đồng Cự môn" cho cung Ất Mùi, và "Thái dương Thiên lương", đều là nhóm sao chủ về điều tiếng thị phi.

Còn trùng hợp một điều nữa là, cung mệnh của đại hạn Đinh Dậu cũng hội hợp với tinh hệ đồng dạng, đây chính là tượng trưng cho tinh thần của mệnh tạo ở trong tình huống rất bối rối khó xử.

Năm Giáp Tý 1984, "Vũ khúc Thiên tướng" ở cung Phúc (Canh Dần) bị Thái dương hóa Kị ở cung Tân Mão và Kình dương của lưu niên, cùng với Cự môn hóa Kị ở cung Tân Sửu và Đà la của lưu niên giáp cung. Đây là tổ hợp tam trùng "Hình Kị giáp ấn", "song Kị giáp", "Dương Đà giáp", mà còn là cách xấu "Linh Xương Đà Vũ". Vì vậy năm đó đã từng có ý không còn muốn sống, nhưng may mắn được Lộc tồn của đại hạn ở cung Giáp Ngọ, nên không chết.

Từ phân tích ở trên, thiết nghĩ bạn đọc đã có cái nhìn nhật định về phương pháp luận đoán các sao của mệnh bàn.

Bây giờ ta xem thêm một ví dụ khác, đồng thời nghiên cứu vài quy tắc về cách quan sát các sao.

Nữ mệnh, âm nữ, Mệnh chủ Tham lang, Thân chủ Hỏa linh, mệnh nguyên cục ở cung Giáp Tý có Tham lang tọa thủ. Trong mệnh bàn, cung vị xấu nhất là cung Đinh Tị (tức cung Nô), cung vị này có Kình dương và Đà la giáp cung, trong cung có Thiên cơ hóa Kị tọa thủ, cấu tạo thành cách xấu "Kình Đà giáp Kị", mà Thiên cơ lại có Hỏa tinh đồng độ, cũng đồng dạng bị Kình Đà giáp cung, tính cứng rắn hình khắc, cũng vì vậy mà mạnh thêm. Mở mệnh bàn ra, trước tiên nên tìm ra cung vị xấu nhất hoặc tốt nhất, là quy tắc 1 của phép quan sát các sao.

Có 3 cung vị bị cung Đinh Tị gây ảnh hưởng, đó là Tân Dậu, Quý Hợi, Ất Sửu, trong đó có cung Tân Dậu là xấu nhất, bởi vì nó đồng thời tương hội với Linh tinh của cung Ất Sửu, tức là bị 2 sao Hỏa tinh và Linh tinh cùng chiếu xạ theo kiểu "song phi hồ điệp"

Cung Tân Dậu là cung mệnh của đại hạn từ 34 - 43 tuổi (Tử nữ). Sau khi tìm ra cung vị xấu nhất hoặc tốt nhất, tiếp đến phải tìm ra "tam phương ức hiếp" mà nó bị ảnh hưởng, tức là vì bị chúng ảnh hưởng mà biến thành cung xấu hay biến thành cung tốt, đây là quy tắc 2 của phép quan sát các sao.

Do cung mệnh của đại hạn có khuyết điểm, vì vậy cần  tiếp tục tìm ra cung vị nào xấu hơn trong đại hạn. Ta có thể lưu ý cung Bính Thìn (quan lộc), trong cung nguyên cục có Thất sát và Đà la tọa thủ ; lúc vào đại hạn Tân Dậu thì Đà là của nguyên cục tương xung với lưu Đà của đại hạn của cung Canh Thân (Tài bạch), do đó tính cứng rắn hình khắc được phát động, hơn nữa còn đối diện với lưu Dương của đại hạn ở cung Nhâm Tuất, tính cứng rắn hình khắc càng mạnh thêm. Cung Bính Thìn là cung Tai Ách của đại hạn Tân Dậu, cho nên ta cần lưu ý xem trong hạn có vận xấu gì về phương diện cung Tai Ách hay không.

Sau khi tìm ra vận hạn tốt xấu, ta lại tìm cung vị tốt xấu của vận hạn này, để quyết định vận hạn này tốt thế nào, xấu thế nào, là quy tắc 3 của phép quan sát các sao.

Đến đây, ta quay trở lại cung Đinh Tị (cung Nô) của nguyên cục được xem là xấu nhất, cung vị này là cung mệnh của lưu niên Nhâm Tuất, có "Liêm trinh Thiên phủ" và Thiên hình đồng độ, lại có lưu Dương của đại hạn và lưu Đà của lưu niên bay vào. Hai lưu diệu này chia ra cùng hội chiếu với Kình dương và Đà la của mệnh bàn gốc, sức mạnh hai bên mạnh thêm. Càng xấu hơn là, vào năm Nhâm Tuất có Vũ khúc hóa Kị ở cung Giáp Dần đến hội chiếu; toàn bộ tinh hệ ở cung mệnh của lưu niên biểu thị có tổn thương thuộc kim. Sau khi tìm ra cung vị xấu nhất của đại hạn, tiếp theo là tìm lưu niên xấu, là quy tắc 4 của phép quan sát các sao.

Rồi ta lại truy tìm tiếp, xem năm Quý Hợi kế tiếp ở cung Tai Ách, là năm bị Văn xương lưu Hóa Kị của cung Kỷ Mùi, và Thiên cơ hóa Kị của cung Đinh Tị hội chiếu. Cung Mậu Ngọ là cung Tai Ách của lưu niên, có Tử vi và Kình dương đồng độ, Kình dương này bị Kình dương của đại hạn xung động, hội hợp với "Liêm trinh Thiên phủ" và Thiên hình của cung Nhâm Tuất, còn bị Tham lang hóa Kị của lưu niên tương xung, thêm vào đó còn có Thiên Hư và Thiên Khốc đồng độ, lại hội Địa kiếp của cung Giáp Dần. Cho nên có thể luận đoán, mệnh tạo vào năm Quý Hợi phải bị phẫu thuật. Sau khi tìm ra sự kiện, tiếp tục truy xét của năm kế tiếp, là quy tắc 5 của phép quan sát các sao

Sau đây ta tiếp tục phân tích một tinh bàn của nam mệnh làm ví dụ. Dương nam, Thủy nhị cục, Mệnh chủ Tham lang, Thân chủ Hỏa tinh.

Mệnh bàn nguyên cục:

- Cung mệnh lập tại cung Quý Hợi, có Thiên cơ (Hóa Kị) Hỏa tinh, Thiên tài, Thiên nguyệt, Lâm quan tọa thủ.
- Phụ mẫu lập tại cung Giáp Tý, có Tử vi ngộ Tiệt không, Vượng
- Phúc đức lập tại cung Ất Sửu, có Văn xương, Văn khúc, Thiên khôi, Thiên không, Tiệt không, Suy
- Điền trạch lập tại cung Giáp Dần, có Phá quân, Thiên mã, Địa không, Cô thần, Nguyệt giải, Thiên vu, Âm sát, Bệnh
- Sự nghiệp lập tại cung Ất Mão, vô chính diệu, có Thiên quan, Thiên phúc, Hồng loan, Thiên hình, Tử.
- Giao hữu lập tại cung Bính Thìn, có Thiên phủ, Liêm trinh, Đà la, Hữu bật, Hoa cái, Mộ.
- Thiên di lập tại cung Đinh Tị, có Thái âm, Lộc tồn, Thiên thọ, Kiếp sát, Phá toái, Nguyệt đức, Tuyệt
- Tật Ách lập tại cung Mậu Ngọ, có sao Tham lang (Hóa Lộc) Kình dương, Bát tọa, Tuần không, Thiên khốc, Thiên hư, Thai
- Tài bạch lập tại cung Kỷ Mùi, có Thiên đồng, Cự môn, Linh tinh, Thiên việt, Tam thai, Long đức, Dưỡng
- Tử tức lập tại cung Canh Thân, có Vũ khúc, Thiên tướng, Địa kiếp, Tam thai, Phỉ liêm, Trường sinh
- Phu thê lập tại cung Tân Dậu, có Thái dương, (Khoa) Thiên lương, Thiên hỉ, Hàm trì, Thiên đức, Mộc dục.
- Huynh đệ lập tại cung Nhâm Tuất, có Thất sát, Tả phụ, Phượng các, Ân quang, Thiên quý, Quả tú, Giải thần, Quan đới.

Mệnh bàn này, điều khiến ta chú ý nhất là cung Mệnh có Thiên cơ hóa Kị đồng độ với Hỏa tinh, nhưng cung Di (Đinh Tị) lại là Thái âm hóa Quyền đồng độ với Lộc tồn, vì vậy có thể luận đoán, mệnh tạo lợi về tiền tài nếu rời xa quê hương.

Nhưng Thái âm lạc hãm, hội Thái dương hóa Khoa ở cung Dậu cũng rơi vào nhược địa, thêm vào đó còn bị tinh hệ "Thái dương Thiên lương" ở Dậu và Thiên cơ ở Hợi xung chiếu, cung Sửu hội hợp lại vô chính diệu, phải mượn "Thiên đồng Cự môn", Linh tinh, Thiên việt của cung Mùi để "an sao nhập cung" cho cung Sửu. Vì vậy có thể luận đoán mệnh tạo ở nơi xa, tuy có thể phát tài, nhưng điều tiếng thị phi, thậm chí phạm pháp.

Vận trình sáng sủa nhất là từ 32 đến 41 tuổi vào đại hạn Giáp Dần, cung Di của đại hạn này là cung Canh Thân có Vũ khúc hóa Khoa, cung mệnh của đại hạn này là cung Giáp Dần có Thiên mã có lưu Lộc tồn của đại hạn, thành cách "Lộc Mã giao trì", lưu Lộc còn xung động Tham lang hóa Lộc của cung Ngọ, vì vậy trong đại hạn này mệnh tạo có thể phát tài ở nơi xa.

Nhưng cũng trong đại hạn này, cung Phụ mẫu của đại hạn (cung Ất Mão) vô chính diệu, phải mượn thái dương hóa Kị (vốn là hóa Khoa) và Thiên lương để theo phép "an sao nhập cung" cho cung Phụ mẫu, dẫn đến tình hình có lưu Dương và Thiên hình đồng độ, cho nên không những chủ về cha mất trong hạn này, hơn nữa, lưu niên đến hai cung Mão và Dậu còn sợ rằng sẽ có sự cố phạm pháp.

Năm Canh Thân 1980 cung mệnh của lưu niên này có Vũ khúc (đại hạn thì hóa Khoa, lưu niên thì hóa Quyền), có Thiên tướng và Lộc tồn của lưu niên đồng độ, thêm vào đó, cung Di của lưu niên lại có Thiên Mã của lưu niên bay vào, thành cách lưỡng trùng "Lộc Mã giao trì", vì vậy chủ về năm đó thu hoạch rất khá.

Nhưng năm kế tiếp, cung mệnh lưu niên tới cung Tân Dậu có Thái dương (đại hạn thì Hóa Kị) và Thiên lương, hội hợp Văn khúc (lưu niên thì Hóa Khoa) và Văn Xương (lưu niên thì Hóa Kị) của cung Sửu, lại hội hợp với Thiên đồng và Cự môn (lưu niên thì Hóa Lộc) mượn của cung Mùi để an sao, còn hội hợp với Thái âm hóa Quyền và Lộc tồn của tinh bàn gốc. Ta nên chú ý cung Dậu, có lưu Dương lưu Đà của đại hạn cùng chiếu, thêm vào đó còn có Thiên hình từ cung Mão và Kiếp sát từ cung Tị đến hội. Cho nên năm đó (1981), tuy có Lộc tồn của lưu niên xung khởi Lộc tồn của tinh bàn gốc, nhưng vẫn chủ về có dính dáng đến pháp luật, kiện tụng và phá tài.

Đến năm Ất Sửu, cung mệnh lưu niên là cung Sửu vô chính diệu, mượn "Thiên đồng Cự môn" và Linh tinh, Thiên việt của đối cung để nhập cung, lại có Đà la của đại hạn đồng độ, rồi lại hội hợp với Thái âm lạc hãm (lưu niên thì Hóa Kị) và Thái dương (đại hạn thì Hóa Kị), vì vậy mà bị cuốn vào vòng thị phi, bất hòa, tranh chấp.

Tương lai đến năm Đinh Mão, cung mệnh lưu niên là cung Mão, vẫn là cung vô chính diệu, lại mượn Thái dương hóa Kị từ cung Dậu là đối cung, để "an sao nhập cung" cho cung Mão, lại hội hợp với Cự môn (lưu niên thì Hóa Lộc) và Thiên cơ hóa Kị, mà còn kèm theo Đà la của lưu niên, nguyên cục lại có Hỏa tinh, Linh tinh cùng chiếu, lại gặp thêm các sao hung Thiên hình, Đại hao, Thiên nguyệt, nên cẩn thận, nếu không e rằng sẽ vì phạm pháp mà phá tài lớn.

Ghi chú về phép định Tiểu hạn

Tiểu hạn là chủ về Cát - Hung của một năm. Do phái Trung Châu không dùng Tiểu hạn, mà chỉ dùng Lưu niên để luận đoán, nên Tôi không trình bày phép định Tiểu hạn trong chương này.

3)- Cách luận đoán Lưu nguyệt

Dùng Đẩu Số để luận đoán Lộc Mệnh, không nên thường xuyên luận đoán cát - hung của lưu Nguyệt, bởi vì quá tỉ mỉ, bất kể cát hay hung cũng đều sẽ ảnh hưởng đến tâm trạng của mệnh tạo. Nhưng cũng có một số tình huống, thí dụ như năm đó dễ xảy ra tai nạn giao thông, thì tốt nhất là luận đoán lưu Nguyệt để trợ giúp thêm, xem vào tháng nào có hung hiểm để cố tránh đi xa bằng xe cộ. Bởi vì trên thực tế khó mà hoàn toàn không đi xa trong vòng một năm, cho nên luận đoán lưu Nguyệt để bổ trợ.

Đơn cử một ví dụ:
Mệnh tạo bị tai nạn giao thông, vì vậy mà gãy xương, Vương Đình Chi tôi căn cứ vào mệnh bàn để truy tìm điềm báo của sự cố: Âm nữ, Thủy nhị cục, Mệnh chủ Cự môn, Thân chủ Thiên cơ. Mệnh lập tại cung Ngọ, có Cự môn (hóa Kị), Lộc tồn tọa thủ.

Vào tháng 5 năm Ất Mão 1975, cung mệnh của đại hạn ở cung Mậu Thân, có "Thiên đồng Thiên lương" đồng độ, có Địa không và Địa kiếp đối củng, hội hợp Thiên cơ, Hỏa tinh ở cung Nhâm Tý (vốn là hóa Khoa, đại vận thì hóa Kị), với Thái âm (hóa Lộc) Thiên hình đồng độ ở cung Giáp Thìn.

Cung Di của lưu niên ở Giáp Dần vô chính diệu, mượn sao của cung Mậu Thân để "an sao nhập cung", biến thành Địa không và Địa kiếp đồng cung (cung Dần) hội hợp với Cự môn hóa Kị (còn gọi là "Kình Đà giáp Kị"), còn hội hợp với Thái dương lạc hãm ở cung Canh Tuất.

Kết cấu của tinh hệ đã hiển thị điềm hung hiểm trong đại hạn này, vì vậy cần phải tìm năm nào xảy ra.

Mệnh tạo vào năm Tân Hợi 1971 và năm Quý Sửu 1973 đều đã từng lái xe đi xa, nhưng chưa bị thương gì (bạn đọc thử luận đoán xem tại sao). Nhưng đến năm Ất Mão 1975, cung mệnh của lưu niên ở cung Ất Mão, trùng hợp với tình hình Kình dương của lưu niên và Đà la của lưu niên giáp cung (tuy chẳng phải "giáp Kị", nhưng do Thiên phủ ở cung Mão không hóa Kị, nên cũng thuộc tính chất không cát tường), hội cung Hợi vô tính diệu, nên mượn "Liêm trinh Tham lang" của cung Tị để an sao, hai sao lại bị lưu Dương và lưu Đà của đại hạn giáp cung. Ngoài ra, ở đối cung là cung Dậu có "Vũ khúc Thất sát", cung Mùi là Thiên tướng của "Hình Kị giáp ấn".

Điều xấu nhất là, cung Tai Ách của lưu Niên bay đến cung Tuất có Thái dương lạc hãm ở đây, tương chiếu Thái âm (vốn gốc hóa Lộc, lưu Niên thì hóa Kị), Đà la của đại hạn, Kình dương của lưu Niên và Thiên hình; hội hợp với "Thiên đồng Thiên lương", Đà la của lưu niên ở cung Dần, và hội hợp với Cự môn hóa Kị (Hóa Kị này xung khởi Thiên cơ hóa Kị của đại hạn) và lưu Dương của đại hạn ở cung Ngọ. Các sao sát - kị đều nặng, nên năm đó chủ về có tai nạn.

Sau đó mới xem đến lưu Nguyệt.

Năm Mão, Đẩu Quân tại cung Hợi, tức tháng Giêng khởi từ cung Hợi, đến tháng Năm thì cung mệnh của lưu Nguyệt đến cung Mão, tức là trùng với cung mệnh của lưu Niên. Tính phép độn can, năm Ất Mão khởi Mậu Dần (tháng Giêng), tháng Năm thì can chi của cung mệnh là Nhâm Ngọ, vì vậy cung Di có Vũ khúc Hóa Kị (cung Dậu), cung mệnh của lưu Nguyệt lại có Kình Đà của lưu Niên giáp cung, hơn nữa Kình Đà của lưu Nguyệt còn xung khởi Đà la Kình dương của lưu Niên, xung khởi Đà la Kình dương của đại hạn, toàn bộ đồng loạt bắn vào cung Tai Ách của lưu Nguyệt ở cung Tuất. Cung Tuất còn bị Đà la của lưu Nguyệt đối nhau với Thiên hình ở cung Thìn, còn bị Thái âm hóa Kị từ cung Thìn vây chiếu. Do đó luận đoán vào tháng 5 mà xuất hành sẽ có hung hiểm.

Vũ khúc hóa Kị và Thất sát đồng độ ở cung Di (Dậu) đã hiển thị tính chất bị thương tổn thuộc Kim.

Từ ví dụ này có thể biết, muốn luận đoán lưu Nguyệt, cần phải bắt đầu tìm từ đại hạn, sau đó tìm lưu Niên, tiếp sau đó rồi tìm lưu Nguyệt, thì mới có ý nghĩa ứng dụng thực tế. Bởi vì, mục đích luận đoán lưu Nguyệt chỉ là trợ giúp trong việc "xu cát tị hung". Nếu cứ tìm loạn xạ một tháng để luận đoán, do không có mục đích nên quá mông lung, sẽ dễ lạc vào mê cung.

Thêm một ví dụ về Cách luận đoán lưu nguyệt

Bé gái sinh năm Nhâm Tuất 1982, dương nữ, Thổ ngũ cục, Mệnh chủ Lộc tồn, Thân chủ Văn xương.

- Mệnh lập tại cung Kỷ Dậu, có Vũ khúc (khóa Kị), Thất sát

- Năm kế tiếp mắc bệnh không thuyên giảm, cha mẹ của bé gái mời Vương Đình Chi luận đoán. Vương Đình Chi cho rằng: có thể đường hô hấp có khối u, khuyên nên mời bác sỹ chuyên khoa kiểm tra thật kỹ lưỡng. Cha mẹ liền mang bé gái nhập viện kiểm tra, đã chứng thực là khí quản có khối u, may mà chưa ác hóa, có hy vọng trị khỏi.

- Cung Tai Ách mệnh bàn này là Thái âm tọa thủ tại cung Giáp Thìn, nhưng có tứ sát Linh tinh, Kình dương ở Điền trạch cư Tý tam phương ức hiếp, mắc bệnh là điều không còn nghi ngờ, vấn đề là mắc bệnh gì. Thái âm vốn chủ về bệnh âm phần hao tổn, nhưng cung Tai Ách của mệnh bàn nhiều lúc chẳng hiện thị bệnh tật khi còn bé, trái lại, có thể thấy ở cung mệnh.

- Một tuổi chưa vào hạn cung Dậu trong tinh bàn, lưu Niên Nhâm Tuất Vũ khúc hóa Kị ở tiểu hạn một tuổi (tức cung mệnh của thiên bàn), cho nên luận đoán là đường hô hấp có khối u.

- Hạn 2 tuổi của bé gái ở cung Tài bạch tại cung Ất Tị, là năm Quý Hợi, gặp Kình Đà của lưu Niên của tam phương hội chiếu tiểu hạn tại cung Ất Tị, trong cung Tị lại có Tham lang hóa thành sao Kị, còn hội hợp với tạp diệu Thiên hình ở Sửu, Kiếp sát, Đại hao, chủ về mắc bệnh có tính chất hao tổn. Trong thực tế, năm đó bé gái tiếp nhận xạ trị, thể chất đương nhiên bị hao tổn.

- Hạn 3 tuổi ở cung Tai ách tại Thìn, lưu Niên là năm Giáp Tý, trong hạn Thái âm tọa thủ mà có Thái dương hóa Kị tại Tuất vậy chiếu, còn có tứ sát tinh cùng chiếu, bệnh tình rất nguy hiểm, sau may mắn có thể vượt qua là nhờ sức của Thiên lương và Hoa cái hội chiếu. Hơn nữa, Kình Đà của thiên bàn chưa bị Kình Đà của lưu Niên xung khởi, sức ảnh hưởng chưa mạnh mà thôi.

- Đến hạn 4 tuổi dần dần khởi sắc, được Thiên thọ vây chiếu nên không có tai biến gì. Mệnh này rất khó xác định có yểu mạng hay không, bởi vì có liên quan đến Tổ đức, cha mẹ của bé gái đều đôn hậu hiền hành, nên đại hạn lúc 3 tuổi đã an nhiên vượt qua, có thể nói là sự may mắn trời ban

Phụ lục: phương pháp tính tiểu hạn cho trẻ con

Cách tính tuổi để khởi Đại hạn là căn cứ vào ngũ hành cục số, tối thiểu là thủy nhị cục hai tuổi mới vào vận, tối đa là hỏa lục cục phải sáu tuổi mới vào vận. Vì vậy từ lúc sinh ra cho tới khi vào vận có một khoảng trống, phải lấy phương pháp tính tiểu hạn cho trẻ con để bổ xung.

Tính hạn của trẻ con tổng cộng có 6 cung, nhưng khi ứng dụng thì căn cứ vào tuổi khởi đại hạn để làm chuẩn, ví dụ 3 tuổi khởi vận thì chỉ đi 3 cung. Các cung tính hạn từ khi sinh ra cho tới khi vào đại hạn như sau:

- Một tuổi ở cung Mệnh
- Hai tuổi ở cung Tài bạch
- Ba tuổi ở cung Tật ách
- Bốn tuổi ở cung Phu thê
- Năm tuổi ở cung Phúc đức
- Sáu tuổi ở cung Sự nghiệp (quan lộc)

Khi xem tính hạn cho trẻ con, chỉ xem "tam phương tứ chính" của bản cung, không bày bố thêm 11 cung còn lại. Nói cách khác, chỉ luận đoán cung Mệnh (tức bản cung), không luận đoán kèm lục thân và hoàn cảnh xung quanh. Đây là chỗ giới hạn của phương pháp tính hạn cho trẻ con.

4)- Cách luận đoán lưu nhật

Vương Đình Chi không chủ trương luận đoán lưu Nhật, bởi vì "nước trong quá thì không có cá, người xét nét quá thì không có bạn", không nên mang vận trình ra luận đoán quá chi li. Nhưng trong một số tình hình cá biệt, thì luận đoán lưu Nhật có lúc lại cần thiết. Ví dụ trường hợp luận đoán "tử kỳ" cho một người bệnh sắp chết, để gia đình chuẩn bị hậu sự, hoặc là Tháng có thể xảy ra tai nạn giao thông, mà có chuyện cần thiết nhất định phải đi, bất đắc dĩ không còn cách nào, buộc phải chọn Ngày để đi.

Luận đoán lưu Nhật là khởi ngày mồng 1 từ cung mệnh của lưu Nguyệt, ngày muốn luận đoán rơi vào cung vị nào đó, thì cung đó là cung mệnh của lưu Nhật, sau đó tham chiếu vạn niên lịch để tìm "can chi" ngày muốn luận đoán, thông qua can chi này để tính lưu diệu của lưu Nhật.

Ví dụ như tháng 4 cung mệnh (của lưu nguyệt) ở Tuất, tức là khởi ngày mồng 1 ở cung Tuất, đi thuận, nếu muốn tìm cung mệnh của lưu nhật ngày mồng 4, thì đếm thuận đến cung Sửu là được. Tra vạn liên lịch, tháng 4, năm Ất Sửu, can chi của ngày mồng 4 là ngày Nhâm Tuất, do đó lấy can chi "Nhâm Tuất" để tìm lưu diệu, như Thiên lương hóa Lộc, Tử vi hóa Quyền, Thiên phủ hóa Khoa, Vũ khúc hóa Kị, Lộc tồn ở cung Hợi, Mã nhật ở cung Thân,.v.v...

Nếu có tháng Nhuận, thì lấy nửa tháng đầu tính thuộc tháng trước, nửa tháng cuối tính thuộc tháng sau. Lưu nhật thì vẫn luân chuyển theo chiều thuận. Năm Giáp Tý đó Nhuận tháng Mười, từ ngày mồng 1 đến ngày 15 của tháng 10 nhuận là thuộc tháng Mười, từ ngày 16 đến ngày 29 của tháng 10 nhuận là thuộc tháng 11.

Ví dụ như lưu Nguyệt tháng 10 ở cung Dậu, tức cung này khởi ngày mồng 1 đếm thuận đến ngày 13 và ngày 25 thì trở về cung Dậu, đến cung Dần là ngày 30, vẫn đếm tiếp theo chiều thuận đến ngày mồng 1 của tháng 10 nhuận, tức là cung Mão làm cung mệnh của ngày mồng 1 tháng 10 nhuận. Muốn an lưu diệu thì phải tra vạn niên lịch để biết ngày mồng 1 là ngày Tân Dậu, vì vậy lấy can Tân để tra lưu diệu.

Còn ngày 16 của tháng 10 nhuận, thì khởi từ cung mệnh của tháng 11, tức là cung Tuất, đi theo chiều thuận. Lưu nguyệt dùng can chi của tháng 11, tức tháng Bính Tý, đối với lưu nhật đương nhiên vẫn dùng can chi của ngày đó.

Đơn cử một nhật bàn làm thí dụ:

- Dương nữ, mộc tam cục, Mệnh chủ Vũ khúc, Thân chủ thiên tướng.
- Mệnh lập tại cung Mậu Tuất, có Liêm trinh (hóa Kị) Thiên phủ
- Phụ mẫu tại cung Kỷ Hợi, có Thái âm, Thiên khôi, Thiên hỉ
- Phúc đức tại cung Canh Tý, có Tham lang, Văn khúc
- Điền trạch tại cung Tân Sửu, có Thiên đồng (hóa Lộc), Cự môn, Thiên hình, Phá toái.
- Sự nghiệp tại cung Canh Dần, có Vũ khúc, Thiên tướng, Đài phụ, Long trì
- Giao hữu tại cung Tân Mão, có Thái dương, Thiên lương, Địa không
- Thiên di tại cung Nhâm Thìn, có Thất sát, Đà la, Thiên hư
- Tật ách tại cung Quý Tị, có Thiên ơ, Lộc tồn, Đại hao, Thiên vu, Thiên diêu, Hồng loan
- Tài bạch tại cung Giáp Ngọ, có Tử vi, Hữu bật, Linh tinh, Kình dương
- Tử tức tại Ất Mùi, có Thiên nguyệt, Địa kiếp
- Phu thê tại cung Bính Thân, có Phá quân, Tả phụ, Thiên mã, Thiên khốc
- Huynh đệ tại cung Đinh Dậu, có Hỏa tinh, Thiên việt.

Đương số đang ở trong đại hạn Ất Mùi, cung Mùi vô chính diệu, mượn các sao của cung Sửu để an. Thế là biến thành Thiên hình và Thiên nguyệt đồng độ, có Địa kiếp và Địa không tương hội.

Thiên đồng và Cự môn chủ về bệnh liên quan đến thần kinh cột sống. Cho nên trong đại hạn này, mệnh tạo có thể mắc bệnh này, mà còn là mãn tính. Bởi vì Thiên hình và Thiên nguyệt là điềm bệnh tật triền miên, kéo dài khiến cho người bệnh giống như bị tra tấn. Có Thái dương và Thiên lương hội hợp, làm mạnh thêm tính chất này.

Tra lưu niên, đến năm Nhâm Tuất, cung mệnh của lưu niên ở Tuất, có Liêm trinh hóa Kị hội Vũ khúc (lưu niên thì hóa Kị) ở Dần, Đà là của lưu niên bay vào cung Tuất, xung động Đà la và lưu Dương của đại hạn ở cung Thìn, còn xung động cả lưu Đà của đại hạn. Lại còn gặp Kình dương của lưu niên ở cung Tý và lưu Đà của đại hạn ở cung Dần, lại xung khởi Kình dương Linh tinh ở cung Ngọ đến hội, cho nên có thể đoán định năm đó ắt sẽ có tai ách.

Tính chất của Tai ách là gì? Do Vũ khúc hóa Kị xung khởi Liêm trinh hóa Kị, thông thường đều chủ về tai nạn chảy máu, có điều, năm đó cung Thiên di (Nhâm Thìn) là Thất sát tọa thủ, nên không phải tai ách chảy máu ở nơi khác.

Có nhiều loại tai ách chảy máu, nữ mệnh có thể là đường sinh dục, trụy thai, cũng có thể là vết thương có mủ, đương nhiên cũng có thể là bị thương do kim loại. Thế là phải truy tìm đến cung Tai ách của lưu niên.

Cung Tai ách của lưu niên ở cung Quý Tị, có Thiên cơ tọa thủ, bị hai sao Kình dương Đà la đều xung động giáp cung, và Thái âm hóa Kị ở Hợi xung chiếu, chủ về tổn thương, Thái âm và Thiên cơ tương hội, chủ về bệnh liên quan đến hệ thần kinh, còn tương hội với tinh hệ "Thiên đồng Cự môn" và Thiên hình ở cung Sửu, lại hội hợp với "Thái dương Thiên lương" mượn ở cung Mão nhập cung Dậu, tam phương ứng hiếp, dó đó có thể đoán định là bị thương bát ngờ gây ảnh hưởng đến thần kinh cột sống.

Tra đến lưu nguyệt, năm Nhâm Tuất tháng Giêng khởi Nhâm Dần, mà Đẩu quân năm Tuất cũng trùng hợp ở cung Dần, cho nên lấy cung Dần làm cung mệnh của lưu Nguyệt.

Tháng Nhâm Dần thì Vũ khúc lại hóa Kị, trùng điệp với lưu niên hóa Kị, sức mạnh rất lớn, lại tương hội với lưu niên Đà, nguyệt Đà của cung Tuất, còn tương hội với Kình dương và Linh tinh ở cung Ngọ (tam phương tứ chính của hai sao này bị vận Đà, niên Đà, nguyệt Đà, niên Dương, nguyệt Dương xung khởi, nên, tuy là Kình dương và Linh tinh của nguyên cục, nhưng vẫn có tác dụng [ví lưu nguyệt của cung mệnh), vì vậy có thể đoán vận trình của tháng này không được tốt.

Tra lưu nhật đến ngày mồng 5 là ngày Nhâm Tý, cung mệnh của lưu Nhật ở cung Ngọ, vì can của ngày là Nhâm, nên Vũ khúc của cung Dần lại hóa Kị lần nữa, thành Vũ khúc ba lần hóa Kị, xung động Liêm trinh hóa Kị ở cung Tuất. Ở tam phương tứ chính tổng cộng gặp 8 sát tinh Kình dương Đà la và Linh tinh, cực kỳ nghiêm trọng.

Thêm vào đó, cung Tai ách của lưu nhật, là cung Sửu có "Thiên đồng Cự môn" và Thiên hình, còn bị lưu nhật hóa Kị và lưu nhật Kình dương giáp cung. Vì vậy ngày hôm đó (ngày 5 tháng Giêng, năm Nhâm Tuất 1982) khó tránh tai nạn giao thông, chảy máu, gãy xương, sau trị khỏi vẫn còn bị tổn thương thần kinh cột sống, phải vật lý trị liệu.

Người phụ nữ này sau khi bị tổn thương, ảnh hưởng đến sinh hoạt tính dục, chồng vì vậy mà thay đổi, đến năm 1985 Ất Sửu có nguy cơ phải ly hôn. Bạn đọc thử xem xét cung Phu của bà ta từ lưu niên Nhâm Tuất xem sao.

5)- Cách luận đoán lưu thời

Tử Vi Đẩu Số tuy có phương pháp luận đoán "lưu thời", nhưng khi luận đoán lưu thời, sẽ rơi vào tình trạng chi ly thái quá, nên phái Trung Châu ít dùng đến.

Phép tính lưu thời là khởi cung mệnh của giờ Tý ở cung Tý, khởi cung mệnh của giờ Sửu ở cung Sửu,.v.v... đến khởi cung mệnh của giờ Hợi ở cung Hợi. Nhưng can chi thì dùng ngũ Thử độn như sau:

- Ngày Giáp Kỷ khởi giờ Giáp Tý
- Ngày Ất Canh khởi giờ Bính Tý
- Ngày Bính Tân khởi giờ Mậu Tý
- Ngày Đinh Nhâm khởi giờ Canh Tý
- Ngày Mậu Quý khởi giờ Nhân Tý

Như đối với ví dụ trên, ngày Nhâm Tý khởi giờ Canh Tý, đến giờ Ngọ độn can là Bính, cung mệnh của lưu thời ở Ngọ, có Liêm trinh hóa Kị, còn có Kình dương bay vào cung mệnh, cho nên tai nạn giao thông xảy ra vào lúc 12 giờ 20 phút, là thuộc giờ Ngọ.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Bí quyết đoán mệnh của Vương Đình Chi

Thờ Tam đa đúng chuẩn để Phúc - Lộc - Thọ vào nhà

Tam đa Phúc Lộc Thọ là vật phẩm phong thủy may mắn thường được người Việt bày trong nhà. Nhưng bày thế nào cho đúng thì không phải ai cũng biết.
Thờ Tam đa đúng chuẩn để Phúc - Lộc - Thọ vào nhà

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tam đa Phúc Lộc Thọ là vật phẩm phong thủy may mắn thường được người Việt bày trong nhà. Nhưng bày thế nào để hạnh phúc, sức khỏe, tài lộc đều bay vào nhà thì không phải ai cũng biết.

21 thần khí phong thủy chiêu tài nạp phúc 2016: Bát tụ bảo Tuyệt chiêu phong thủy tấn tài tấn lộc cho 12 con giáp Những điều nhất định phải biết khi thắp nhang cầu tài cầu lộc cúng Ông Địa - Thần Tài
Tho Tam da dung chuan de Phuc - Loc - Tho vao nha hinh anh
Tam đa Phúc - Lộc - Thọ

Tam đa cầu tam tinh, cho ba thứ tốt đẹp nhất là phúc đức, tài lộc, sức khỏe đến với gia đình. Nhưng bày sai, đặt trái thì tốt đâu không thấy, chỉ thấy họa. 5 lưu ý khi bày vật phẩm phong thủy may mắn này sẽ giúp bạn không phạm phải sai lầm. 
 
1. Tam đa được xem là một trong các thần Tài, vì thế, phải lập ban thờ đàng hoàng, có hương khói, đồ lễ. Nếu chỉ mua tượng về mà không thờ cúng thì cũng chỉ như vật trang trí bình thường mà thôi.
 
2. Thờ Tam đa nên dùng tượng đồng. Vị trí lần lượt Lộc Tinh – Phúc Tinh – Thọ Tinh từ trái qua phải.
 
3. Tượng Tam đa phải thờ ở một trong hai vị trí bên cạnh của chính, mặt hướng vào trong nhà. Tượng mà đặt đối diện cửa chính thì thần tiên đi mất. Tượng quay ra ngoài thì bao nhiêu phúc phần, tiền của của gia đình đội nón ra đi.
 
4. Tượng Tam đa nên đặt ở vị trí may mắn để thờ cúng. Tượng Thần Phật kỵ đặt ở vị trí hung, kị với tuổi của chủ nhà, sẽ hao tài tốn của và dính vào nhiều chuyện thị phi.
 
5. Nếu muốn Tam tinh phù hộ thì nhất định nên dùng tượng đã được chính thức khai quang. Nếu không, chẳng khác gì một món đồ trang trí cả. Khi rước tượng về nhà thì chọn một miếng vải đỏ mới, sạch sẽ phủ lên mặt tượng. Tới ngày đẹp, tháng tốt thì làm lễ bỏ lớp vải đỏ, chính thức xin thờ cúng.
Theo Khám phá

 
Khéo đặt bình uống nước, tài lộc gia tăng không ngừng Một số phương pháp trấn trạch an gia trong phong thủy
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Thờ Tam đa đúng chuẩn để Phúc - Lộc - Thọ vào nhà

Mơ thấy cây cao su: Kế hoạch sẽ thành công –

Nếu mơ thấy cây cao su hay quả của nó, bạn sẽ thoát khỏi khó khăn, tất cả những kế hoạch về sau của bạn sẽ thành công lớn. Trong mơ, nếu xuất hiện những vật dụng gia đình, đồ gỗ, khung chịu lực nhà hay cửa sổ v.v, làm từ cây cao su thì đó là hình ảnh
Mơ thấy cây cao su: Kế hoạch sẽ thành công –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Mơ thấy cây cao su: Kế hoạch sẽ thành công –

Không khó để nhận biết tướng người kiếm bội tiền

Nếu sở hữu một trong những đặc điểm dưới đây, chắc chắn bạn sẽ kiếm được bội tiền trong tương lai và trở thành người giàu có.
Không khó để nhận biết tướng người kiếm bội tiền

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


► Lịch ngày tốt gửi tới bạn đọc công cụ xem tướng và xem bói tử vi để biết tính cách, số mệnh của mình
  1. Cổ tay tròn trịa và đầy đặn   Người có cố tay tròn trịa, đầy đặn thường rất vượng về tài lộc. So với những người cùng trang lứa, người này gặp nhiều may mắn về tiền bạc hơn. Đa phần trong số họ đều được thừa hưởng di sản tổ tiên hoặc được sinh ra trong gia đình có nền tảng kinh tế vững chắc. Chỉ cần người này nỗ lực và kiên trì tới cùng thì công thành danh toại, cuộc đời giàu sang phú quý.   2. Khuỷu tay lõm lại, đầy đặn   Khi giơ thẳng cánh tay gần như không nhìn thấy xương khuỷu tay lồi ra mà chỉ thấy phần khuỷu tay lõm lại, đầy đặn, nhiều thịt. Người có đặc điểm này thường có đầu óc thông minh, nhanh nhạy, biết chớp lấy thời cơ để gặt hái thành công một cách dễ dàng.

Khong kho de nhan biet tuong nguoi kiem boi tien hinh anh
Ảnh minh họa
  Tuy nhiên, người này có nhược điểm là tính cách nóng vội, dễ bị ảnh hưởng bởi các tác động bên ngoài. Nếu biết cách điều chỉnh và tiết chế cảm xúc bản thân, suy nghĩ lí trí và hành động quyết đoán hơn, chắc chắn người này sẽ lập nên nghiệp lớn, sống cuộc đời giàu có, thành đạt.   3. Cổ dài   Trong Nhân tướng học, độ dài chiếc cổ cũng cho biết phần nào ý chí tiến thủ và tham vọng về quyền lợi của mỗi người. Người có chiếc cổ dài hơn so với mức bình thường thì làm việc tỉ mỉ, chăm chỉ, tài vận tốt, có tài làm quản lí hoặc lãnh đạo.   Trong bất cứ hoàn cảnh nào, người này đều kiên trì tới cùng, đối mặt với thách thức, khó khăn để chinh phục mục tiêu và trở thành người tiên phong trong mọi hoạt động. Đây là một trong những đặc điểm thường thấy ở tướng người giàu sang phú quý.   4. Cẳng chân chắc nịch   Cẳng chân hoặc bắp chân chắc nịch ý chỉ người có sức lực bền chặt, dẻo dai, tính cách ổn định và chân thành. Người có đặc điểm này có lập trường vững vàng, ý chí kiên định nên làm gì cũng gặt hái được thành công. Khi đã xác định hướng đi đúng đắn, người này chỉ việc tiến hành đúng kế hoạch và kiên trì tới cùng là đã có những thắng lợi bước đầu.   5. Vòng ba đẫy đà   Người có vòng ba đẫy đà rất thích hợp với việc đầu tư, kinh doanh. Họ khá “mát tay” với những dự án tài chính lớn nên cuộc sống sung túc, không bao giờ phải lo tiền bạc vật chất. Bất luận là hình dáng vòng ba ra sao, chỉ cần đẫy đà thì cơ hội kiếm tiền nhiều hơn hẳn so với những người có vòng ba “khiêm tốn”.    6. Bàn chân không có vân   Hai bàn chân đầy đặn, không hoặc ít đường vân ngang dọc là người có năng lực thực thụ và giỏi giang. Tuy người này gặp không ít khó khăn, trở ngại trong cuộc sống, nhưng bằng chính thực lực và tài trí của mình, họ kiếm được bội tiền, không phải lo lắng về đời sống vật chất.   An Khánh (Theo MGSP)  
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Không khó để nhận biết tướng người kiếm bội tiền

Môi trường sống ảnh hưởng đến hình tướng?

Sông núi và khí hậu khác nhau, hình thể, tính cách của con người ở những khu vực khác nhau cũng có dày mỏng, nặng nhẹ, thanh đục khác biệt.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Sông núi và khí hậu khác nhau, hình thể, tính cách của con người ở những khu vực khác nhau cũng có dày mỏng, nặng nhẹ, thanh đục khác biệt.

khuon-mat-dep

Theo người xưa, núi non thanh tú và cao, phong cách người nơi đó cứng cỏi, kiên cường; nơi nhiều nước đất mỏng, người ở đó thường trọng tình nghĩa. Điều này chủ yếu là do ảnh hưởng của môi trường sống ở khu vực khác nhau, luận tướng cần phải chú ý tới điểm này.

Môi trường sống lại ảnh hưởng khá lớn đến khí sắc. Đường Cử luận tướng không thích luận ngôn hình mà thích luận sắc, luận khí. Ý nghĩa sâu xa của nó là ở hình thể, giọng nói thông thường không thế thay đổi mà hơn nữa lại rất dễ phân biệt, còn khí sắc thì do thường xuyên thay đổi nên khó nắm bắt.

Theo như tiên sinh Đường Cử thì phải nắm được chỗ tinh yếu của nó, đó là chỗ khác với người thường.

Tác phẩm Luận khí sắc của ông có viết:

“Khí sắc của người phát ra từ tâm, quấn quanh phổi, tiếp xúc với gan, tán ra ở thận, phát triển ở tì. Vì vậy, khí sắc sáng thì thần tĩnh, huyết mạch thông thuận, dễ tiêu hóa, khiến con người vui vẻ. Nếu khí sắc u tối thì tâm loạn mà huyết không thông khiến con người buồn bã. Vui vẻ và buồn bã thể hiện ra bên ngoài thì như mây mỏng che mặt trời, còn nếu không rõ ràng thì như tỳ vết ẩn trong bích ngọc. Nếu có thể nghiên cứu một cách thông suốt thì có thể nhận biết được sự buồn vui của mỗi người”.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Môi trường sống ảnh hưởng đến hình tướng?

Kiến giải vận trình tình duyên của người sinh giờ Dần

Giờ Dần là khoảng thời gian từ 3h đến 5h. Về vận trình tình duyên của người sinh giờ Dần, xin tham khảo bài viết dưới đây để biết thêm chi tiết.
Kiến giải vận trình tình duyên của người sinh giờ Dần

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Giờ Dần là khoảng thời gian từ 3h đến 5h. Người sinh giờ Dần tương khắc với người thân, một đời nhiều dằn vặt nhưng có đại tài nên trưởng thành muộn, hậu vận đắc cách, xem như là khổ tận cam lai. Về vận trình tình duyên của người sinh giờ Dần, xin tham khảo bài viết dưới đây để biết thêm chi tiết.

Kien giai van trinh tinh duyen cua nguoi sinh gio Dan hinh anh 2
 

1. Tổng luận vận trình chung của người sinh giờ Dần

  Giờ sinh được chia thành 12 canh, nguyên tắc phân chia các canh giờ đã có từ xa xưa. Sinh giờ nào sẽ có những điểm đặc trưng về mọi phương diện của cuộc đời tương ứng. Người sinh giờ Dần không hợp với anh chị em cha mẹ, hay bị làm phiền, khó kế thừa tổ nghiệp, phải lang thang tha hương. 18 tuổi tổn hao tài chính, 40 tuổi phát tướng, hậu vận thuận lợi sung túc.   Người sinh đầu giờ Dần thì khắc cha, thông minh lanh lợi, một đời tự làm tự ăn, tâm tình thường xuyên biến động, chưa thể an tĩnh được. Tài lộc có thừa, nhanh trí nên phát đạt, tự thành lập doanh nghiệp, lý trí nhưng hiếu thắng, mệnh chưa thật có phúc. Xét chung trong vận trình tình duyên của người sinh giờ Dần thì nữ mệnh có đường hôn nhân tốt, trung niên tài lộc vượng, về già an khang.   Người sinh giữa giờ Dần được sống gần cha mẹ, làm việc luôn nắm quyền chủ động, gia đình phúc lộc đầy đủ, được thừa kế điền sản của cha ông. Có phúc có thọ, tự thành gia lập nghiệp, chủ về vinh hoa phú quý nhưng mệnh chưa an. Dần bên trong có Cát Xương, thông minh sôi nổi, một đời nên hướng về tổ nghiệp thì rạng danh tứ phương. Con cháu đầy đàn nhưng khắc bạn đời, cần vững vàng, tài vượng điền sản nhiều.   Người sinh cuối giờ Dần thì khắc mẹ, gia đình không giúp đỡ được gì, anh em bất hòa nên nhiều phiền khổ. 36 tuổi vận trình mới phát tài. Cách xa tổ nghiệp thì một đời chịu khổ, lao tâm khổ tứ, khắc bạn đời thì kéo dài tuổi thọ. Mệnh này chưa bình an, không noi tổ nghiệp, đời nhiều tai ách. Nên kết hôn muộn, cuộc hôn nhân đầu tiên không có duyên; anh em không thể dựa, con cái phải dạy dỗ.   Những nghề nghiệp nên theo là bác sĩ, nhạc sĩ, họa sĩ, nghệ nhân, nghề tự do. Kị Kim. Năm thất bát là 26 tuổi, 29 tuổi, 33 tuổi, 39 tuổi, 49 tuổi, 66 tuổi.  

2. Hôn nhân của người sinh giờ Dần

  Vận trình tình duyên của người sinh giờ Dần xem theo tháng sinh cung cấp thông tin tương quan về những điểm đáng lưu ý nhất của những người sinh cùng giờ nhưng khác tháng. Tháng sinh là dữ liệu quan trọng để luận đoán về số mệnh, ví dụ như: Dựa vào tháng sinh tìm ra người dư dả tiền bạc từ trung vận.
Kien giai van trinh tinh duyen cua nguoi sinh gio Dan hinh anh 2
 

Người sinh tháng 1

  Vợ chồng như đôi chim liền cánh, vô cùng yêu thương hòa hợp. Nên nhớ tới ân nghĩa của cha mẹ, anh em thì vợ chồng càng thêm gắn bó hòa quyện, sống cuộc đời vô ưu vô lo, sớm chiều ngao du sơn thủy. Nhưng vẫn có nỗi sầu về chuyện gia tộc, nặng gánh lo lắng, dẫu sao thì nhà cũng có phúc, quây quần đầm ấm nên không quá đáng ngại.    Vợ chồng nghĩa tình trọn vẹn, thuận lợi tiến bước cùng nhau, thông minh nhanh nhẹn, có thể hóa giải những mất mát, thất bại một cách nhanh chóng, không tốn nhiều thời gian, công sức.  

Người sinh tháng 2

  Ân đức sâu xa, xứng đôi vừa lứa, ái tình một dạ, vô cùng an tâm. Vợ chồng hòa thuận, thân thiện, cùng đồng cam cộng khổ, có Thiên Hỉ giúp đỡ nên càng thuận lợi, sống với nhau không chút nghi kị. Gia đình hợp như vậy giúp ích rất nhiều cho việc gia tăng sản nghiệp, cần kiệm mưu sinh.   Giữa vận trình tình duyên của người sinh giờ Dần vào tháng 2 có phong ba, ngăn trở, trước hung sau cát, gia tộc hưng vượng, phải bình tĩnh trước mọi sóng gió. Vợ chồng tương xứng, tạo phúc cho nhau, con cái đều vinh hiển, rạng danh dòng họ gia đình.  

Người sinh tháng 3

  Kết hôn vợ chồng ân ái, mặn nồng; xứng đôi vừa lứa như đá vàng và bảo ngọc, mừng vui khôn kể. Sau khi kết hôn viên mãn, tráng lệ, cuộc sống đẹp đẽ, tốt lành. Nhưng nên thận trọng, có hai lần tai họa, không nên quá cứng nhắc, cố chấp, mỗi bên nhường nhịn nhau một chút.   Người này hăng hái làm ăn sẽ phát tài, thành gia nghiệp, phụ giúp gia đình ngày càng phát triển. Kiếp trước không tu nên thiếu nhân duyên, nếu kết hôn sớm sẽ dễ li hôn, không trọn vẹn, xung đột với nhau như phường hổ báo; biết gạt bỏ mà vượt qua thì khắc được như long phượng. Xem thêm bài viết: Xem tháng sinh biết ngay tính cách để có cái nhìn toàn diện hơn về vận trình.  

Người sinh tháng 4

  Vợ đối với chồng tương kinh như tân, lúc nào cũng giữ lễ như ngày mới cưới; hôn nhân lấy báo hiếu làm đầu, lấy nghĩa làm trọng. Vào nhà hòa hợp, cai quản tề gia, sớm sinh trai gái đủ đầy. Kết hôn sớm cũng không hại gì, tiêu biểu cho trường hợp “phu xướng phụ tùy”, chồng hát vợ khen hay, gắn bó trọn đời.   Khổ tâm cật lực kiếm tiền, không hợp với người nhà, người thân mất sớm, trước khổ sau sướng, phúc lộc đện muộn. Không phải số vinh hoa thanh thản nhưng càng về sau càng tốt, tình hình cải thiện dần dần.  

Người sinh tháng 5

  Vô duyên vô cớ lại gặp oan gia, chuyện nhỏ cũng nảy sinh tranh chấp, cãi vã. Dẫu vậy nhưng lại sống nương tựa vào nhau, cần giữ hòa khí, nếu chấp nhặt sẽ rất khó chịu đựng được. Kiếp trước ghét nhau, kiếp này tới trả nợ cho nhau nên hai người thường xuyên không vui vẻ.   Trước mắt tuy là sóng gió trắc trở nhưng tương lai khá tốt đẹp, đáng mong chờ. Duyên này là nghiệt duyên nhưng cố gắng, nỗ lực sẽ có phúc lộc kéo dài, không hề phải thất vọng chút nào.  

Người sinh tháng 6

 

Tính tình kiêu ngạo, không chịu khuất phục, ý chí ngoan cường nhưng thiếu định hướng. Dễ lầm đường lạc lối mà tương thân tương ái với kẻ thù, nhiều khi ngây thơ như trẻ nhỏ, lúc đủ đầy thì cãi vã không ngừng nhưng gặp nguy nan thì vợ chồng chung lưng đấu cật, hài hòa dựa dẫm vào nhau. Nếu muốn giảm bớt hình khắc của vợ chồng thì nên dành thời gian, tâm sức để vun đắp cho gia đình, không nên kết hôn sớm. Trong hoạn nạn mới thấy chân tình, mối duyên này nên giữ không nên bỏ.
Kien giai van trinh tinh duyen cua nguoi sinh gio Dan hinh anh 2
 

Người sinh tháng 7

  Vợ chồng xa cách, có nhiều ngày phải chia ly, ngóng đợi nhau. Ngày đoàn tụ về tình cảm lại mặn nồng như thưở ban đầu. Nếu biết giữ mình, chung thủy nhất nhất chắc chắn sẽ cát tường, phản bội vô tình sinh tai họa, khó mà lường trước hết hậu quả. Phối hợp với bạn đời kiên cường thì không hình khắc, nên lấy hiền lương làm chủ.   Vợ chồng lâu dài, kết hôn sớm sẽ không thấu hiểu được lẫn nhau. Làm nhiều việc thiện tất sẽ có nghiệp lành, chung sống đến trăm năm. Nên cùng nhau tích phúc đức cho chính bản thân và con cháu.  

Người sinh tháng 8

  Trời đất chúc phúc, nhân từ hòa hợp. Người này có căn quả ở Phật đường, nên năng đi lễ cầu an khang, khỏe mạnh, tốt lành. Con cháu đầy đủ, học hành tới nơi tới chốn, đường tương lai rộng mở. Số mệnh từ nhỏ đã không gặp thời, nhân duyên tuy nhiều nhưng hỉ sự đến muộn, nếu làm việc tốt sẽ được độ mệnh sinh quý tử.   Xem ngày tốt để cưới hỏi nên thận trọng vì nó có ảnh hưởng nhiều tới vận trình tình duyên của người sinh giờ Dần tháng 8. Về nhà có của ăn của để, vợ chồng cũng có tai hình nhưng không nặng.  

Người sinh tháng 9

  Ly hợp là chuyện thường tình, trong vận trình không phải lúc nào vợ chồng cũng gần nhau nhưng tách ra lại tốt. Dẫu lòng sầu lo nhưng mỗi người đều có con đường rất phát triển. Vợ chồng duyên cạn, tình không sâu, có lẽ sẽ có thêm người khác ở bên ngoài. Đến khi tiêu trừ nợ nần, họa đi phúc đến lại mừng vui như thường.   Không sợ đường xá gian khổ, chỉ cần có tâm chịu được vất vả, có chí muốn vượt qua thì sẽ như ý. Nữ mệnh mạnh mẽ, làm chủ gia đình, là người tướng đàn bà nhưng tính đàn ông, át quyền chồng.  

Người sinh tháng 10

  Nữ mệnh tề gia nội trợ, đảm đang, có tiếng nói trong gia đình. Được thừa hưởng phúc ấm từ tổ tiên, có phúc thọ, biết cách dạy dỗ con cái. Vợ chồng chung sống đến bạc đầu, nếu có lòng mưu sự nghiệp thì tương trợ lẫn nhau, không chút nề hà. Giữa vận trình có tiểu nhân quấy nhiễu, nên tìm cách gạt bỏ, không vướng bận làm gì.

Người sinh tháng 11

  Cả nhà viên mãn song toàn, có phúc đức, hiếu kính, trên bảo dưới nghe, vô cùng hòa hợp. Con cháu thông minh nhanh nhẹn, không khiến bố mẹ phải bận tâm nhiều. Đây là mối lương duyên mà phải tích thiện mới có, dài lâu hưởng lạc, tựa như tháng năm không thay đổi.  

Người sinh tháng 12

  Sinh giờ Dần lại vào tháng 12 thì tình sâu như biển, nghĩa nặng như núi, ai cũng phải ngưỡng mộ. Vợ chồng đối xử với nhau lễ nghĩa, khoan dung như bạn bè, thường xuyên trò chuyện thấu hiểu, gia tộc hưng vượng, Tuy giữa vận trình cũng có sóng gió nhưng không lớn, sau cơn mưa trời lại sáng.

Xem giờ sinh dự đoán tình cảm vợ chồng sau khi kết hôn Luận giải mối quan hệ giữa tình yêu và giờ sinh theo tử vi Xem ngay cách tránh lỗi mùa sinh trước khi có em bé Coi số mệnh sướng khổ qua giờ sinh theo mùa

Trần Hồng

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Kiến giải vận trình tình duyên của người sinh giờ Dần

Phong thủy bếp ăn: 6 TỐI KỴ phải tránh

Bạn đang có một nhà bếp cho tổ ấm của mình nhưng vẫn băn khoăn chưa biết bố trí những vật dụng thường ngày như thế nào để chúng vừa hợp với thuật phong thuỷ, vừa tiện lợi khi sử dụng. Dưới đây là những gợi ý nho nhỏ giúp bạn...

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Bàn ăn

Cách chọn bàn ăn: Theo phong cách truyền thống, người ta thường sử dụng bàn hình tròn, biểu thị sự sum họp. Ngoài ra, bàn có thể là hình vuông, hình chữ nhật hoặc elip, tránh chọn bàn ăn có góc nhọn, nhiều cạnh hoặc hình bình hành. Bàn ăn nên đặt ở chỗ khuất, không nên đặt gần cửa ra vào. Bàn ăn cũng không nên đặt đối diện với bàn thờ tổ tiên hay thờ thần. Vì diện tích hẹp phải đặt như vậy thì nên đặt bàn ăn ra xa một chút và lùi ra hai bên, tránh trường hợp bàn ăn và bàn thờ ở trên một đường thẳng.

 Phong thủy bếp ăn: 6 TỐI KỴ phải tránh - 1

Điều tối kỵ khi đặt bàn ăn ở phòng có xà ngang treo lơ lửng trên đầu dẫn đến chủ nhà bất minh, nhân khẩu hao hụt. Nếu vì diện tích hẹp mà phải đặt như vậy thì nên treo quả cầu tròn với màu sắc phù hợp bên dưới xà ngang với hàm ý: quả cầu đã hứng chịu hết cho gia chủ.

Đặt bếp

Theo thuật phong thủy không nên đặt bếp nấu ăn nhìn thẳng ra cửa chính hay phía sau bếp là cửa sổ vì gió sẽ thổi vào bếp từ những cửa này, đặc biệt không nên đặt bếp nấu ở cạnh cửa sổ có mặt trời phía tây chiếu vào vì nếu bạn đun bằng bếp dầu hay ga gió không chỉ thổi tắt bếp ma mùi dầu, ga còn gây độc hại cho người. Nếu bạn đun bằng bếp than củi lúc gió thổi lửa liếm ra 4 phía có khi còn gây ra hỏa hoạn. Ngoài ra, không nên đặt bếp ở gần phòng ngủ vì bếp nóng bức, hơi dầu mỡ, người hít phải nhiều hơi này sẽ có hại cho sức khỏe.

 Phong thủy bếp ăn: 6 TỐI KỴ phải tránh - 2

Tránh đặt bếp nấu ăn kẹp giữa hai vật dụng mang theo nước như máy giặt, tủ lạnh, bồn chậu rửa bát vì thuỷ kị hoả. Nhà bếp là nơi rất quan trọng trong một gia đình do đó bạn nên đặt ít đồ để tạo không khí thoáng. Bạn cũng nên đặt quạt thông gió hoặc máy hút khói dầu để làm sạch không khí sau khi nấu ăn. Hơn nữa, phòng bếp cần có đủ ánh sáng, do vậy bạn nên lắp đèn tuýp hoặc đèn chùm là tốt nhất.

Hướng bếp tránh đặt đối điện với cửa nhà vệ sinh vì khu vực này được xem là nơi dẫn các uế khí. Nếu thiết kế nhà không thể thay đổi được thì có thể làm một vách ngăn che chắn.

Bồn rửa bát

Như đã nói ở trên, chúng ta không nên để bồn rửa bát quá gần bếp nấu ăn nhưng cũng không nên đặt bồn rửa ở phía đối diện với bếp vì sẽ gây nhiều điều bất tiện cho người nấu. Cách bố trí bếp phổ biến nhất là theo nguyên tắc hình tam giác, nghĩa là bếp - bồn rửa - tủ lạnh. Bồn rửa được đặt ở độ cao vừa phải để tránh cho người sử dụng phải cúi hay kiễng.

 Phong thủy bếp ăn: 6 TỐI KỴ phải tránh - 3

Hũ gạo

Ngày nay, thùng đựng gạo thường đặt kín đáo trong các ngăn tủ ngay dưới bếp.

Theo phong tục tập quán, trong bữa ăn của người phương Đông không thể thiếu cơm gạo. Thế chúng ta có thể đặt hũ gạo ở đâu là tốt nhất? Nên đặt nó tại nơi kín đáo ở hướng Tây Nam hay Đông Bắc của bếp và được kê lên để chống ẩm. Tránh đặt nó ở hướng Đông và đặt quá cao.

 Phong thủy bếp ăn: 6 TỐI KỴ phải tránh - 4

Tủ lạnh

Ngày xưa, ông cha ta chưa có tủ lạnh nên trong các tài liệu về phong thủy của người xưa để lại chưa đề cập tới vấn đề này. Nhưng theo quan điểm được nhiều người đồng tình nhất về cách đặt tủ lạnh là nên đặt nó ở hướng lành (Bắc, Đông Nam), vì tủ lạnh là loại máy móc vận hành liên tục 24h/ngày. Nếu như đặt ở hướng dữ sẽ làm chấn động đến các sao dữ, và kích động nó gây rối.

 Phong thủy bếp ăn: 6 TỐI KỴ phải tránh - 5

Thờ táo quân

Là người Việt Nam chắc hẳn ai cũng biết về sự tích ông Công, ông Táo. Tục lệ thờ những vị thần này được gìn giữ và lưu truyền cho tới ngày nay. Nên thờ Táo quân ở đâu là phù hợp nhất? Các vị thần này nên được đặt phía trên bếp nấu ăn, nếu không đủ chỗ thì đặt ở góc nhà bếp phía Nam, bởi vì ngũ hành Táo quân thuộc "Hoả", cho nên Táo quân cần được đặt ở phía Nam "Hoả" vượng. Tránh đặt gương hoặc tủ kính đối diện tượng do gương có thể phản xạ hương khói nơi thờ cúng gây bất lợi về mặt phong thủy.

Theo Eva


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Phong thủy bếp ăn: 6 TỐI KỴ phải tránh

Bí quyết phong thủy trong tình yêu

Những bí quyết phong thủy trong tình yêu chỉ ra những cách cụ thể để thu hút tình cảm và sự lãng mạn trong cuộc sống của bạn.
Bí quyết phong thủy trong tình yêu

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Áp dụng những bí quyết phong thủy trong tình yêu được chỉ ra khá cụ thể dưới đây để thu hút tình cảm lãng mạn, tình yêu viên mãn trong cuộc sống của bạn.     Tình yêu đẹp là điều mà ai trong chúng ta cũng mơ ước, mong muốn và tưởng rằng ai cũng xứng đáng có được. Tuy nhiên sự thật là trong khi có những người có tình yêu hạnh phúc thì lại có những người mải miết tìm kiếm và phấn đấu không mệt mỏi để tìm tình yêu nhưng vẫn không thể với tới. Vì đâu mà có sự khác biệt đến vậy?
 
Có phải ông trời phân biệt đối xử hay là ngẫu nhiên mà người này gặp may người kia xui xẻo? Thay vì cam chịu hay than vãn số phận thì tại sao không thử áp dụng một số mẹo về phong thủy trong tình yêu để nhờ những năng lượng tích cực này mang lại cuộc sống hạnh phúc và lãng mạn cho mình?
 
Nếu bạn đã có gia đình cũng cần phải nuôi dưỡng tình yêu đôi lứa hay thậm chí bạn đang đi tìm một nửa đích thực cũng hãy thử áp dụng những mẹo nhỏ sau để may mắn hơn trong chuyện tình cảm.  

 

Bí quyết phong thủy trong tình yêu – Nên
 

Để cải thiện cuộc sống hôn nhân, giảm căng thẳng và mâu thuẫn trong gia đình cần kiểm tra môi trường sống xung quanh mình và áp dụng các bí quyết phong thủy trong tình yêu để cuộc sống thêm phần thăng hoa, lãng mạn.
 
1. Nên treo những bức hình tươi cười, vui vẻ của vợ chồng hoặc gia đình ở hành lang, nhà bếp và những chỗ hay qua lại. 
 
2. Trong phòng ngủ, chỉ nên treo hình ảnh của vợ chồng hoặc các đôi lứa (nếu bạn chưa kết hôn).
 
3. Để có tình yêu nhiều hơn, phòng ăn là không gian quan trọng thứ hai sau phòng ngủ. Sắp xếp bàn ăn để mọi người có thể nhìn thấy nhau, đặt ghế đủ cho tất cả mọi người ngay cả khi gia đình không thể ăn cùng nhau mỗi tối.
 
4. Nên đóng kín bất cứ căn phòng liền kề như phòng tắm, phòng làm việc, phòng tập… nếu không có cửa, hãy thay nó bằng rèm. 
 
5. Nên có khu dành riêng ngồi tán gẫu, xếp ghế gần nhau. Khi không gian trở nên lớn hơn, con người sống xa nhau và tình cảm cũng xa rời.   6. Màu sắc rất quan trọng trong phong thủy. Màu hồng là một trong những màu sắc tốt nhất để trang trí phòng ngủ vì nó tượng trưng cho tình yêu, niềm vui, hạnh phúc và lãng mạn.    7. Không quên bố trí đèn màu đỏ hoặc vàng ở góc Tây Nam của phòng ngủ.
 
8. Nếu giường hiện tại đang hơi chật thì nên chọn mua một chiếc giường lớn cho thoải mái.
 
9. Không khí trong phòng ngủ phải thật trong lành và có ánh sáng mặt trời chiếu vào.
 
10. Luôn duy trì sự cân bằng năng lượng âm - dương trong phòng ngủ. Vì thế, nếu sơn phòng ngủ thì không nên hoàn toàn màu hồng hoặc màu xanh mà phải có sự pha trộn hài hòa hai màu sắc này.
 
11. Phải đảm bảo rằng những đồ đạc trong phòng của hai vợ chồng phải ở thế cân bằng. Ví dụ không gia cho đồ dùng cá nhân, tủ quần áo, tủ đứng, kệ để đồ... đều phải tương đương nhau.   12. Mọi đồ vật trong phòng ngủ phải có đôi có cặp: Ví dụ như có 2 đèn, 2 gối,... điều này tạo nên cảm giác bình đẳng.
 
13. Luôn đảm bảo góc Tây Bắc nhà của bạn sạch sẽ, không được luộm thuộm, vứt đồ linh tinh và đủ ánh sáng và thông thoáng. Trong thực tế thì toàn bộ nhà cửa phải sạch sẽ, gọn gàng.
 
14. Hãy để quá khứ chôn vùi quá khứ, vì thế, đừng quên tặng, bán hoặc cho đi tất cả mọi thứ liên quan đến người yêu cũ, không để cho bất cứ thứ gì khiến bạn gợi nhớ về người yêu cũ.

15. Những con ngỗng là biểu tượng của tình yêu vĩnh cửu. Đối với những người đã lập gia đình, hãy mua một đôi ngỗng trang trí, còn đối với những người còn chưa tiến tới hôn nhân, hãy treo một bức tranh đôi ngỗng ở phòng ngủ của mình để gia tăng sự gắn kết tình cảm và đưa mối quan hệ bước lên một giai đoạn mới.

16. Nếu nữ đang độc thân nên tăng cường năng lượng dương để lôi kéo phái mạnh đến với mình. Hãy treo một bức tranh mặt trời và đảm bảo thắp thật nhiều đèn trong nhà.

17. Cho dù là nam hay nữ, bạn nên thắp sáng góc Tây Nam trong phòng để giúp mối quan hệ luôn ấm áp và đem tình duyên đến cho bạn.

18. Nếu phòng ngủ quá tẻ nhạt nên thêm vào những đồ vật khiến bạn mỉm cười ví dụ như bức ảnh một cặp đôi đang cười vui vẻ. Những thứ này sẽ mang lại năng lượng tích cực vào căn phòng và cải thiện các mối quan hệ.
   
 

Bí quyết phong thủy trong tình yêu - Không nên
 

1. Cắm vài bông hoa trong nhà sẽ giúp ích trong việc đem đến vận may đào hoa tuy nhiên nên tránh dùng hoa giả, dễ gặp phải người không thật lòng.   2. Trong nhà tránh đặt những bình hoa rỗng. Nếu không cắm hoa, tốt nhất nên đặt những bình hoa rỗng ấy ở những nơi khuất tầm nhìn. Bình hoa rỗng tượng trưng cho sự ảo tưởng, vận đào hoa sẽ tiêu tan, chuyện tình cảm dễ vấp phải tình đơn phương.   3. Nhà vệ sinh đối diện với giường ngủ rất dễ khiến vận đào hoa suy yếu. Cho dù bạn may mắn gặp vận đào hoa thì những mối tình đều không có kết cục tốt đẹp. Vì thế, trong tình huống này nên thay đổi vị trí của giường là tốt nhất
 
4. Không bao giờ mua hoặc thuê một ngôi nhà khuyết góc Tây Nam hoặc Tây Bắc.
 
5. Không nên mua hoặc thuê căn nhà có bếp đặt ở vị trí góc Tây Bắc. Bạn có thể tham khảo thêm về phong thủy nhà bếp để áp dụng cho ngôi nhà của mình nhắm thu hút vượng khí vào nhà.
 
6. Không được treo ảnh gia đình, bạn bè hoặc hình ảnh liên quan tới tôn giáo trong phòng ngủ 
 
7. Ánh sáng trong phòng ngủ nên điều chỉnh thích hợp. Quá u tối sẽ khiến tình yêu của bạn mất đi những cung bậc cảm xúc, tình cảm giữa hai bên sẽ có nhiều phiền muộn. Quá sáng sẽ khiến mối quan hệ giữa đôi bên mất đi sự cân bằng, tình cảm dễ nảy sinh xung đột. Vì thế phòng ngủ có đèn mờ ảo, tạo cảm giác gợi cảm là tốt nhất.
 
8. Gam màu xanh nước biết có thể làm giảm ham muốn của hai bạn trong chuyện chăn gối vì thế tránh màu sắc này trong phòng ngủ.
 
9. Tránh sử dụng màu sắc thuộc hành thủy như đen, xám, xanh sẫm vì chúng có xu hướng gây ảnh hưởng xấu đến chuyện tình duyên.   10. Nếu đang độc thân không nên ngủ giường đơn mà thay vào đó hãy sử dụng giường đôi.
 
 
Bi quyet phong thuy trong tinh yeu hinh anh
 
11. Treo những bức tranh/chân dung miêu tả sự cô đơn như một cô gái nhìn chằm chằm trên bầu trời sẽ chỉ thu hút cảm giác cô đơn hơn. Vì thế tuyệt đối không nên treo những hình ảnh này trong nhà.

12. Không được treo tranh miêu tả cảm xúc tiêu cực như giận dữ, nỗi buồn, khóc, đấu tranh, chiến tranh,...
 
13. Hãy chỉ giữ lại những hình ảnh đẹp, vừa ý, mang lại cảm hứng và nâng cao tinh thần. Bên cạnh đó, hãy loại bỏ tivi, máy tính xách tay, điện thoại hay các thiết bị điện tử ra khỏi giường ngủ. Hãy để phòng ngủ là nơi dành cho đam mê và sự trẻ hóa. Tránh treo những hình ảnh hoặc đồ nội thất liên quan tới người ngoài gia đình trên tường.   14. Phòng ngủ nên bài trí đơn giản và lãng mạn. Không nên trang trí quá phức tạp. Phòng ngủ càng bừa bộn càng khiến con người có tâm lý buồn phiền, do đó cũng khiến chuyện tình cảm ít nhiều nảy sinh xung đột.   15.  Phòng ngủ tránh đặt bể cá vì tình yêu vốn là sự ấm áp. Nếu đặt bể cá trong phòng ngủ chẳng khác nào dập tắt lửa yêu, dễ khiến tình cảm rơi vào sự bấp bênh, thậm chí còn nảy sinh nhiều vấn đề trong tình cảm.   16. Trụ cột trong phòng ngủ tránh ép chặt vào giường. Lý do chính là không có lợi cho người ngủ, ảnh hưởng đến sức khỏe tâm lý.   17.  Gương trong phòng ngủ tránh đặt đối diện với giường. Gương vốn là phản chiếu lại một mặt khác, và điều này nghĩa là nó phản ánh theo chiều hướng ngược lại. Nó sẽ dẫn đến những hiểu lầm, khiến chuyện tình cảm nảy sinh lòng hoài nghi.

18. Khi đi ngủ không nói chuyện công việc
  19. Nếu bạn muốn bắt đầu một mối quan hệ, đừng để xung quanh mình là hình ảnh của những thứ đơn độc. Tránh đặt một chiếc ghế lẻ loi trong góc phòng, bức họa gợi tới sự cô đơn. Đó là điều quan trọng để tạo ra năng lượng cho mối quan hệ xung quanh. Vì thế, hãy để đồ đạc xung quanh hay trên giường có đôi có cặp.

HaTra
Hiểu ý nghĩa con số trong phong thủy sẽ đem lại tài lộc vô biên Phong thủy cho cửa chính: Những điều nên và không nên 3 mẫu phòng ngủ phạm phong thủy tuyệt đối phải tránh
 
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Bí quyết phong thủy trong tình yêu
Click to listen highlighted text! Powered By DVMS co.,ltd