Xem tướng cằm đẹp và tốt –
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Yến Nhi (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Yến Nhi (##)
Về thăm làng rèn Hiền Lương, không thể không đến thăm chùa Giác Lương – một ngôi chùa được xếp hàng cấp quốc gia sớm nhất trong hệ thống chùa ở Thừa Thiên Huế. Chùa Giác Lương có tên gọi khác là chùa Hiền Lương, chùa nằm cách thành phố Huế 21km về phía Tây Bắc, gần cầu An Lỗ (làng Hiền Lương, xã Phong Hiền, huyện Phong Điền, Thừa Thiên Huế). Chùa thuộc hệ phái Bắc tông.
Chùa do bà Hoàng Thị Phiếu vận động thành lập vào đầu đời Lê Trung hưng ở Cầu Bệ. Sau dân làng dời chùa đến xóm Phước Tự. Chùa được trùng tu vào những năm 1806, 1924, 1969, 1987… Chùa còn giữ nhiều pho tượng cổ thời Hậu Lê. Đại hồng chung ở chùa đúc năm 1819 có khắc tên một số nghệ nhân về nghề rèn và cơ khí như ông Hoàng Văn Lịch, Trần Văn Đắc, Dương Phước Thiệu, Trương Quang Sừng…, là niềm tự hào cho người dân làng xưa nay.
Chùa Giác Lương quay về hướng Nam, mặt bằng kiến trúc chùa là hình chữ nhật, chùa gồm hai gian và bốn chái, sân vườn chùa rộng, xung quanh có la thành bao bọc dài. Mặt trước của la thành xây 4 trụ, hai cột cao ở giữa, hai cột thấp hai bên.
Kiến trúc Tam Quan chùa Giác Lương rất đặc biệt, xây hai tầng với mái giả, quy mô đồ sộ, to lớn nhất trong các tam quan chùa ở Huế hiện nay. Nội thất chùa, từ bộ khung đến hệ thống liên ba, cửa bảng khoa đều trang trí, chạm nổi hình bát bửu, tứ linh, tứ thời, và các kiểu hoa văn tinh xảo.
Trong chùa bài trí 8 án thờ, trong đó 3 án thờ chính là án thờ Phật, án thờ thánh Quan Công và án thờ “Nhị thập tôn phái”. Trên các hàng cột đều có treo đối liễn xưa. Sau khi Văn chỉ làng Hiền Lương bị chiến tranh phá huỷ, dân làng đã rước ảnh đức Khổng Tử đến thờ ở gian tiền hữu. Chái sau khá rộng là nơi lưu giữ nhiều sắc phong và các tài liệu thư tịch cổ của chùa và của làng Hiền Lương. Ở chái trước, bên trái đặt giá treo chuông đồng, bên trên đặt giá treo trống, theo nguyên tắc “tả chung, hữu cổ”.
Hiện nay chùa còn lưu giữ quả chuông lớn, đúc năm 1819, thân chuông đúc tên những người thợ rèn tài ba, những quan lại và những người giàu có đã cúng tiền đúc chuông và trùng tu chùa. Trong khuôn viên chùa còn có các Miếu: Cao các thành hoàng, Đặc tấn phụ quốc thượng tướng quân Trần Quý Công và hai vị Dương Đại Lang. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử – văn hóa quốc gia.
và xã hội của dân tộc Việt trên con đường mở đất, mở nước về phương Nam – xứ đàng Trong. Mặt khác, nó còn góp phần nghiên cứu những đặc điểm riêng biệt về kiến trúc, cách thức thờ tự của một ngôi chùa làng cuối thời Lê, đầu thời Nguyễn ở vùng bắc Trung bộ cũng như lịch sử hình thành phong cách kiến trúc chùa xứ Huế, trong dặm dài của nền kiến trúc Phật giáo Việt Nam.
hí. Có một số cửa vào của các văn phòng làm việc dùng một bức bình phong, như vậy có thể khiến cho hung khí chuyển hướng, không trực tiếp chuyển vào trong phòng. Nghệ thuật này trong các gia trạch được người Bắc Kinh (Trung Quốc) cũng thường áp dụng.

Bàn làm việc của giám đốc và két đựng tiền của kế toán công ty là những vật dụng chủ yếu nhất trong phòng làm việc, phải được đặt theo vị trí liền cạnh của ông chủ tịch công ty. Bàn làm việc cần có những kích thước cát lợi. Trong một số công ty, chân bàn là cố định như vậy, vận khí sẽ không thể chạy mất. Đặt bàn theo hướng cửa sổ, sẽ đem lại những điều không tốt về phong thủy, chính là thiết kế cố hữu và cứng nhắc của phong thủy, bởi lẽ ánh sáng chiếu bên ngoài vào trong phòng sẽ làm lóa mắt. Ở nơi gần cửa sổ nhất sẽ có nhiều bức xạ ánh sáng mà thậm chí lại càng mạnh mẽ hơn. Đặt bàn ghế của giám đốc ở chính cửa sổ lớn, là cách làm không tốt, bởi vì ban ngày với ánh sáng chiếu rọi, sẽ khiến cho khách hàng khó có thể nhìn rõ giám đốc, hơn nữa khuôn mặt của giám đốc cũng bị tối đi.
Nếu cần thiết thì nên dùng rèm cửa, trên rèm cửa nên có những hình vẽ như cây trúc, hoa cúc… hoặc kèm theo một số chữ Hán nói lên vận tốt. Một số nhà phong thủy còn kiến nghị rằng: Những địa điểm văn phòng có ý nghĩa lớn đặt những cây trúc hoặc những bồn hoa cúc, những tượng ngựa (tượng trưng cho hiệu quả và sức sống) và rùa (tượng trưng cho sự trường thọ), hay những bể cá, cây sáo lớn, để làm giảm đi tử khí. Phải chú ý rằng: cần nắm rõ sự phân bố trung bình không khí, để tránh khiến cho nhân viên làm việc trong văn phòng gặp phải những cơn gió lạnh tấn công (Gió lạnh sẽ khiến cho người ta sinh bệnh, sẽ làm thay đổi sự cân bằng của dòng khí).
Khi thiết kế hoặc sắp xếp nội thất trong phòng làm việc, cần phải đặt giám đốc được lựa lưng vào những bức tường cố định, chắc chắn. Khư vậy, giống như bảo vệ sơn khâu của trú trạch hoặc bảo vệ sơn mạch của thành phố, tường ngăn cách là nơi để giám đốc có thể tựa. Các bức tường ngăn cách khác của văn phòng cũng cần phải bố trí một cách thỏa đáng, để tránh sự phá hỏng dòng lưu động của khí. Ví dụ: Không nên đặt những bức tường ngăn cố định, như vậy sẽ ngăn cản sự giao lưu của mọi người trong môi trường chung.
Theo cách nói của một số nhà phong thủy: Những cầu thang máy sơn màu đen và có tiếng lung lung cũng đều là những phong thủy không tốt. Vòi phun nước phía bên ngoài công ty cần thiết phải căn cứ vào phương vị của khí để xếp đặt, hơn nữa, độ cao của vòi phun nước củng phải phù hợp với kích thước cát lợi đem lại.
hiều gia chủ thường bổ sung khu sân vườn một lớp cỏ xanh mềm len giữa các phiến đá và lối mòn lát đá mát lạnh. Màu gạch đá trắng kết hợp với màu xanh non đầy sức sống của cỏ và đất nâu làm cho sân vườn mộc mạc hơn. Tuy nhiên, theo chuyên gia phong thủy, trang trí sân vườn bằng cách lát đá này chưa phải là tốt bởi có thể làm cho khu vườn có nhiều âm khí.
![]() |
| Chuyên gia phong thủy cho rằng, lát đá sân vườn mang đến nhiều âm khí |
Dưới góc độ phong thủy, Kiến trúc sư Phạm Cương (Công ty CP Nhà Xuân) cho biết: "Thông thường cả trong phong thủy hay trong kiến trúc hiện đại thì sử dụng bất cứ chất liệu gì thái quá cũng không tốt. Phong thủy thường hướng con người ta đến sự cân bằng." Vì thế, việc dùng chất liệu đá quá nhiều ở trong sân vườn có thể khiến cho những chất liệu khác ít được dùng.
Lát đá sẽ thu hẹp đất trồng cây và diện tích đất cho các vi sinh vật phát triển cũng sẽ không còn nhiều. Những thổ khí, dương khí tốt nên không phát huy được tác dụng. Điều đó làm cho khu vườn có nhiều âm khí, điều này không có lợi.
![]() |
| Khu vườn trở nên lạnh lẽo hơn vào mùa đông khi lát đá sân vườn |
Bên cạnh đó, đá là chất liệu hấp thụ nhiệt rất cao nếu xét về tính chất vật lý. Khi mùa hè đến, nhiệt độ lên đến 39-40 độ C, nhiệt độ của những hòn đá dưới ánh nắng mặt trời có thể lên đến 90 độ C. Tới đêm, các hòn đá đã được tích tụ nhiệt vào ban ngày sẽ toả hơi nóng làm cho không khí mát mẻ xung quanh cũng bị ảnh hưởng rất nhiều.
Còn mùa đông thì ngược lại, các hòn đá này khiến khu vườn trở nên lạnh lẽo hơn. Do đó, trong sân vườn, các gia chủ không nên dùng chất liệu đá tràn lan, vừa không hiệu quả vừa lãng phí. Các gia đình hãy xen kẽ cỏ cây và đá nhằm tạo ra sự cân bằng cho không gian xung quanh. Đó cũng là xu hướng hiện đang được kiến trúc ngày nay sử dụng.
(Theo VietQ)
Hệ số quan trọng nhất trong lịch pháp phương Đông là hệ số 10 (thập can) và hệ số 12 (thập nhị chi).
10 thiên can
1. Giáp; 2. Ất; 3. Bính; 4. Đinh; 5. Mậu; 6. Kỷ; 7. Canh; 8. Tân; 9. Nhâm; 10. Quý
12 địa chi
1. Tý; 2. Sửu; 3. Dần; 4. Mão; 5. Thìn; 6. Tỵ; 7. Ngọ; 8. Mùi; 9. Thân; 10. Dậu; 11. Tuất; 12. Hợi.
![]() |
| Bảng can chi |
Sự kết hợp hàng can với âm dương - ngũ hành và 4 phương
| Giáp
|
dương Mộc |
phương Đông
|
| Ất
|
âm Mộc
|
phương Đông
|
| Bính
|
dương Hoả
|
phương
|
| Đinh
|
âm Hoả
|
phương
|
| Mậu
|
dương Thổ
|
trung ương
|
| Kỷ
|
âm Thổ
|
trung ương
|
| Canh
|
dương Kim
|
phương Tây
|
| Tân
|
âm Kim
|
phương Tây
|
| Nhâm
|
dương Thuỷ
|
phương Bắc
|
| Quý
|
âm Thuỷ
|
phương Bắc
|
Sự kết hợp hàng chi với âm dương - ngũ hành và 4 phương
| Hợi
|
âm Thuỷ
|
phương Bắc
|
| Tý |
dương Thuỷ
|
phương Bắc
|
| Dần
|
dương Mộc
|
phương Đông
|
| Mão
|
âm Mộc
|
phương Đông
|
| Ngọ
|
dương Hoả
|
phương
|
| Tị |
âm Hoả
|
phương
|
| Thân
|
dương Kim
|
phương Tây
|
| Dậu
|
âm Kim
|
phương Tây
|
| Sửu
|
âm Thổ
|
phân bố đều 4 phương
|
| Thìn
|
dương Thổ
|
phân bố đều 4 phương
|
| Mùi
|
âm Thổ
|
phân bố đều 4 phương
|
| Tuất
|
dương Thổ
|
phân bố đều 4 phương
|
Bàn về lịch vạn niên
– Phòng ngủ cạnh phòng thờ, phía ngay sau bàn thờ, trang thờ thần, Phật, Tổ tiên… đều là một trong những điều tối kỵ về mặt phong thủy cũng như phong tục truyền thống dân gian. Nếu đã phạm, cần nhanh chóng hóa giải kẻo không sẽ ảnh hưởng tới sức khỏe, quan hệ gia đình và cả tài lộc của gia chủ.
Trong văn hóa tâm linh của người Việt, bàn thờ, phòng thờ là nơi cung kính, nhạy cảm và mang màu sắc tâm tinh. Bài trí bàn thờ sao cho hợp lý với không gian sống là điều mà người ta quan tâm hàng đầu khi chuyển về một ngôi nhà mới. Dù trong nhà có chật chội đến mấy cũng không nên bố trí phòng ngủ cạnh phòng thờ, phía sau ban thờ, tranh thờ thần phật, tổ tiên. Bởi điều này sẽ gây ra nhiều bất lợi, điềm xui xẻo về cả phương diện khoa học, tâm linh cũng như dân gian. Trong phong thủy phong ngủ cũng như phong tục truyền thống dân gian, không được cư trú trước mặt các vị thần linh hoặc phía sau miếu tự, nếu phạm phải, đó là điều đại kỵ.
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
| Ảnh minh họa |
Hành: HỏaLoại: Ác TinhĐặc Tính: Cô độc, khó tánh, ngăn nắp, giữ của lâu bền
Ý Nghĩa Đẩu Quân Ở Cung Mệnh
Tính Tình
Đẩu Quân có nghĩa là nghiêm nghị, chặt chẽ, khắc kỷ. Người có Đẩu Quân thủ Mệnh thường cô độc, ít bạn do sự khó tính hoặc câu chấp. Về điểm này, Đẩu Quân giống đặc tính của Cô Thần, Quả Tú. Nếu gặp sát tinh thì gian xảo, quỉ quyệt.
Công Danh Tài Lộc
Đẩu Quân chủ sự gìn giữ của cải lâu bền. Do đó, sao này rất đắc dụng ở cung Tài, Điền và biểu tượng cho sự cầm của, giữ của.
Ý Nghĩa Đẩu Quân Ở Cung Quan Lộc
Thường làm việc cố định, ít dời chỗ, làm chỗ nào rất lâu. Duy trì được chức vụ, quyền hành. Tuy nhiên, vì Đẩu Quân là sao cô độc nên đóng ở Quan sẽ ít được người giúp việc.
Ý Nghĩa Đẩu Quân Ở Cung Thiên Di Hay Nô Bộc
Cô bé: Anh ơi, em nhờ anh việc này một chút ạ ! Anh thấy người này thế nào hả anh?

Ảnh mộc không chỉnh sửa
Hải Triều: - Có mỗi một tấm hình thế này thì làm khó cho anh rồi !
Cô bé: - Em có mỗi tấm ảnh của chị ấy thôi, thông tin ngày giờ sinh không có anh ạ !
Hải Triều: - Người này mắt to, trong sáng, đen trắng phân minh, trán cao, chắc là người thông minh lắm !
Cô bé: - Thông minh. Còn chuyện sức khỏe chị ấy em không được rõ lắm. Em muốn hỏi sâu hơn về tính cách của chị ấy?
Hải Triều: - Người này mắt lồi, xếch, lưỡng quyền cao thế kia chắc hẳn tính tình góc cạnh, đanh đá, đáo để, ghê gớm, phách lối, thích lấn lướt người khác và ham quyền hành, thích chỉ huy, đoạt quyền chồng, có đúng không em?
Cô bé: Like, chuẩn rồi anh ! Chị này ghê gớm lắm.
Hải Triều: - Chị này sống mũi không lộ, chuẩn đầu tươi sáng, tai trắng hơn mặt, thùy châu triều miệng, với cá tính như thế này chắc không chịu làm trong cơ quan, hoặc làm nhân viên cấp thấp đâu. Nhiều khả năng người này làm kinh doanh, vì không chịu khuôn khổ, phép tắc, mà hăng hái, nỗ lực kiếm tiền, ham sáng tạo, đột phá, máu mê kinh doanh. Sự nghiệp của chị này cũng cạnh tranh nhiều sóng gió. Chị này có tinh thần vượt khó, ít chịu nhường ai, những kẻ nào kình chống, ương ngạnh với chị ấy thì chị ấy đều đấu lại đến cùng. Nhưng lại là người ưa nịnh, nếu tâng bốc, hoặc có thái độ nhã nhặn, hoặc yếu hơn thì thì ấy sẽ tìm cách giúp đỡ. Nói chung là chịu mềm, không chịu cứng
Cô bé: - Like, ối trời ơi, có một tấm ảnh mà anh khai thác ra nhiều vấn đề quá.
Hải Triều: - Chị này trước đây từng có lần dang dở chuyện nhân duyên tình cảm. Vì phụ nữ cá tính mạnh thường dễ va chạm, xung đột. Lưỡng quyền cao hẳn sẽ phiền muộn về chuyện nhân duyên tình cảm. Đặc biệt hồi trẻ, trước khi đến với anh này. Có đúng không em?
Cô bé: - Dã man quá anh. Anh đoán chuẩn luôn.
Hải Triều: - Em về nói với chị ấy, nên bình tĩnh, cư xử mềm mỏng, hạn chế nóng giận, xung đột va chạm, nhất là phải tôn trọng chồng, bố mẹ, bề trên trưởng bối bên chồng. Trong công việc, sự nghiệp, nên cạnh tranh lành mạnh.
Cô bé: - Vâng, em cảm ơn anh ạ
Hải Triều
| ► Mời các bạn xem Tử vi 2017 đã được cập nhật tại Lichngaytot.com |
![]() |
![]() |
![]() |
Biến động trong vận trình của 12 con giáp tiết Lập Đông
Bài viết của tác giả Anh-Việt
Lời giới thiệu:
Chúng tôi xin được hân hạnh cống hiến quý bạn tập tự điển Tử Vi, các bạn có thể giải đoán các nét căn bản Tử Vi một cách giản dị, từ đây mà tạo thêm các kinh nghiệm. Sở dĩ ghi thành tự điển theo thứ tự A, B, C, là để các bạn tìm tòi cho dễ lúc thực dụng.
Nhiều bạn có hỏi về các cách giải đoán Tử Vi trong những chi tiết, chúng tôi xin trả lời trong bài “Trả lời Tử Vi” do ban chuyên viên Tử Vi của chúng tôi. Những câu nào có hỏi đến cụ Hoàng Hạc, chúng tôi cũng sẽ ghi rõ.
Bây giờ xin tiếp tục nêu lên những nguyên tắc giải đoán lá số Tử Vi
VĂN XƯƠNG VĂN KHÚC
Là văn tinh, chủ về văn chương, mỹ thuật, cũng chủ về công danh, thi cử.
Ở Mệnh có Xương, Khúc là người đẹp đẽ, thông minh, học giỏi, thích văn chương, nghệ thuật. Ở Mệnh các cô gái, là biểu hiện vừa sự thông minh, vừa sự dâm đãng. Nhưng có những cách xấu thêm vào mới thật là dâm đãng, được các cách tốt chế hóa đi thì lại khá.
Gặp các sát tinh Kỵ, Riêu, mới thật là dâm đãng.
Đến hạn, gặp Xương, Khúc mà không bị phá cách, là thi đậu, thêm danh vọng.
THIÊN KHÔI, THIÊN VIỆT
Là văn tinh, cũng là quý tinh, chủ về công danh, khoa cử, quyền tước.
Ở Mệnh là người thông minh, thích văn chương, học giỏi, nhân hậu. Gặp Hỏa, Linh, Hình lại hỏng, thêm tai họa.
Thiên khôi ngộ Triệt bị giảm nhiều thành cách xấu biểu hiện nạn lớn.
TẢ PHỤ, HỮU BẬT
Là trợ tinh, chủ về quyền, về sự phò tá, sự giúp đỡ. Gặp những sao tốt thì làm cho tốt đẹp thêm. Nhưng bị những sao xấu thì lại làm cho xấu hơn.
LỘC TỒN
Vừa là tài tinh, vừa là quý tinh, phúc tinh. Biểu hiện quyền, lộc, và phúc. Được Lộc Tồn tại Mạng là người thông minh, học giỏi, nhân hậu, ở Tài Lộc, và tránh được các tai họa. Tuy nhiên, Lộc Tồn thường chỉ có một thứ ảnh hưởng. Thí dụ: Tránh được tai họa, thì không giầu… Làm cho thêm phúc thọ và tài lộc.
Người nào có những cách dâm đãng (như Đào, Hồng) được Lộc Tồn thì sự dâm đãng bị chế ngự.
HÓA LỘC
Cũng như Lộc Tồn, vừa là tài tinh, vừa là phúc tinh. Giảm chế các tai họa, làm cho nhiều tài lộc. Ở Tài Bạch và Điền Trạch mà có Hóa Lộc là giầu có.
Ở cùng cung với Lộc Tồn lại kém, vì khắc nhau. Một sao đóng, một sao chiếu là song Lộc, thì tốt. Hoặc hai sao chiếu Mệnh thì tốt.
Gặp Tham, Vũ đồng cung thì tốt.
Gặp các sao xấu như Hao, Kiếp, Không, Thiên Không thì lại hao tán, suy bại, Hóa Lộc mất ảnh hưởng.
HÓA QUYỀN
Chủ về quyền tướng. Có Hóa Quyền tại Mạng là người có quyền.
Gặp các sao tốt thì làm tốt thêm.
Nhưng Quyền gặp các sao xấu, chẳng hơn gì.
HÓA KHOA
Là sao chủ về thi cử và là phúc tinh.
Có Hóa Khoa tại Mạng là người có công danh khoa bảng, thông minh, học giỏi, lại tránh được các tai họa. Hạn gặp Hóa Khoa là được thi đậu, hoặc giải được tai họa. Hóa Khoa cùng với Xương, Khúc, Khôi, Việt là những văn tinh, hướng con người vào nghiệp văn hoặc vào chức nghiệp không phải là võ. Được cả bộ Khoa, Quyền, Lộc là được phú, quý, nhiều công danh và tài lộc. Hóa Khoa không sợ sát tinh.
Tam Hóa liên châu là bộ ba Khoa-Quyền-Lộc đi trong ba cung liền nhau, do đây gặp Mạng, Thân hay một hạn nào đó mà chỉ dính đến một trong ba sao đó, cũng được ảnh hưởng của ba sao. Hóa Khoa không bị sát tinh giảm.
THIÊN MÃ
Thiên Mã là ngựa trời. Chủ về sự lanh lẹ, thay đổi, di chuyển, và có ý nghĩa tài lộc, công danh, phúc thọ. Nhưng Mã sẽ tốt hay xấu là do những sao khác gặp phải.
Mã đóng tại Mạng là người tài. Nếu lại thêm Tử, Phủ đồng cung, là có uy quyền, giầu sang, có phúc thọ. Gặp Nhật, Nguyệt chiếu, hoặc có Lộc Tồn đồng cung, hoặc Lộc Tồn chiếu (Lộc Mã giao trì) cũng có những cái tốt về công danh, tiền tài, phúc thọ.
Mã, Khốc, Khách gặp nhau là ngựa có nhạc, có người cưỡi giỏi, là một cách của người có công danh võ nghiệp, hạn gặp Mã, Khốc, Khách là thăng tiến. Mã gặp Hỏa hay Linh cũng tốt vậy.
Mã gặp Đà thì hỏng, đó là ngựa què, ở Mạng hay ở Quan Lộc thì công danh hay bị gãy. Mã gặp Hình là hiệu báo tai nạn, tai họa. Mã tại Hợi là ngựa cùng đường, hoặc gặp Tuyệt, đều là hiệu bế tắc. Mã gặp Tuần, Triệt là ngựa chết, là tai họa.
LONG TRÌ, PHƯỢNG CÁC
Cặp sao này chủ sự thông minh, nhân hậu, vui vẻ, nếu ở Mạng. Gặp tại Hạn là được gia đạo yên vui, được sáng láng cửa nhà, may mắn, danh tài hưng vượng, có sự cưới hỏi hoặc sự sanh nở tốt.
Cùng với Xương, Khúc, Khôi, Việt, Tả, Hữu, tạo thành quần thần tốt phò tá cho Tử, Phủ.
Gặp Phi Liêm có may mắn và vui mừng nhanh chóng.
TAM THAI, BÁT TỌA
Cặp sao này chủ sự thông minh và thành công. Gặp tại Hạn là được sự may mắn, nhà cửa thêm rộng rãi.
ÂN QUANG, THIÊN QUÝ
Chủ sự thông minh, vui vẻ, nhân hậu, ân nghĩa, từ thiện, và giải được các tai ương, có những may mắn không bị sát tinh giảm chế. Được cặp sao này, thì chế ngự được tánh chất dâm đãng của Đào, Hồng
ĐÀO HOA, HỒNG LOAN
Chủ sự vui vẻ, sự thành công, gia cảnh hưng vượng. Nhưng cũng chủ về sự lẳng lơ của đàn bà, sự đa tình. Chủ về đàn bà con gái: gặp tại Hạn là sự báo hỉ hôn nhân, hoặc sự sanh nở con gái. Cũng chủ về sự thi cử tốt, được công danh, được vui mừng.
Được Đào, Hồng, Hỉ thêm cho Nhật, Nguyệt, càng sáng ra. Đào Hồng đi với Tử, Phủ hay Nhật, Nguyệt thì các sao này tốt thêm.
Cung Mệnh, Thân có Đào, hay Hồng tọa thủ, hai đời vợ hay hai đời chồng. Nhưng có nhiều cách để phá đi. Hoặc gia thêm sát tinh, là kém thọ, nửa đường gẫy cánh. Đàn và có Đào hay Hồng tọa thủ, gia thêm Riêu, Đà, Kị, là người bất chính về tình ái. Hoặc thêm Binh, Tướng, Thai là bị hãm h…, chửa hoang.
THIÊN HỈ
Chủ sự vui vẻ, may mắn. Gặp tại Hạn, là có vui mừng về công danh, thi cử, sanh đẻ, cưới hỏi.
THAI PHỤ, PHONG CÁO
Chủ về công danh, bằng sắc. Gặp tại Hạn, là có lợi về thi cử công danh
QUỐC ẤN
Chủ về công danh, chức vị và quyền hành (có ấn là có quyền). Gặp tại Hạn có lợi cho thi cử và sự cầu công danh. Nhưng gặp Tuần, Triệt lại hỏng việc, vị mất chức, xuống chức.
ĐƯỜNG PHÙ
Chủ sự thành đạt về công danh và về nhà đất cao đẹp hơn. Nhưng gặp Bạch Hổ đồng cung lại chủ sự bắt bớ, tù đầy.
THIÊN THỌ
Chủ sự nhân hậu, từ thiện, thêm phúc thọ.
BÁC SĨ
Chủ sự thông minh, nhân hậu, cứu giải bệnh tật. Gặp tại Hạn là được lợi về sự thi cử, học hành.
LƯU NIÊN VĂN TINH
Chủ về văn chương, sự học, sự thi cử, sự thông minh. Gặp tại hạn là có lợi cho sự thi cử và công danh.
HOA CÁI
Chủ sự thành công, sự quyền quý, lợi cho việc thi cử, và cầu công danh.
Tại Mạng mà gặp Hổ, Long, Phượng, hợp thành bộ Tứ Linh (4 con vật linh), là dấu hiệu phú quý, được công danh, uy quyền.
Nhưng Hoa Cái gặp Mộc Dục, Thiên Riêu là chủ sự dâm đãng.
Mệnh có Hoa Cái, Tấu Thư tọa thủ đồng cung là người thanh cao và thành công.
THIÊN TRÙ
Chủ về sự ăn uống và tài lộc.
THIÊN QUAN, THIÊN PHÚC QUÝ NHÂN
Chủ về sự đức độ, nhân hậu, từ thiện. Là những sao cứu tật bệnh, họa hại, giải trừ nguy nan, gia tăng phúc thọ.
THIÊN GIẢI, ĐỊA GIẢI, GIẢI THẦN
Là những sao giải trừ tật bệnh, tại họa, và gia tăng phúc thọ. Chủ sự nhân hậu, từ thiện… Người già gặp Giải Thần tại Hạn, thì dễ chết (Giải cái khổ là làm cho mau chết). Điền Trạch, Tài Bạch có Giải Thần thì nghèo (của bị Giải đi).
THIÊN ĐỨC, NGUYỆT ĐỨC
Chủ sự đức độ và ngay chính. Giải trừ tật ách nhỏ. Chế ngự được tánh dâm đãng của Đào, Hồng.
THIÊN Y
Chủ sự cứu giải bệnh tật. Nhiều bác sĩ có Thiên Y tại Mạng, Thân, Thiên Di, Quan Lộc. Thêm Thiên Hình là bác sĩ chuyên giải phẫu.
THIẾU DƯƠNG, THIẾU ÂM
Là những sao song hành với Thái Dương, Thái Âm, nhưng chỉ là những trung tinh. Chủ sự thông minh, vui vẻ, nhân hậu, giải trừ tật ách. Thiếu Dương gia thêm sức sáng cho Thái Dương, Thiếu Âm gia thêm sức sáng cho Thái Âm, và phải đồng cung mới được vậy.
Được một trong hai sao đó cộng với Khoa đồng cung, hoặc xung chiếu là được bộ sao giải trừ tai ách, bệnh tật, gia tăng phúc thọ.
LONG ĐỨC, PHÚC ĐỨC
Chủ sự đức độ, nhân hậu, giải trừ các bệnh tật, tai họa nhỏ. Cũng Thiên Đức, Nguyệt Đức, tạo thành Tứ Đức chế được tánh dâm đãng của Đào, Hồng
LỰC SĨ
Chủ về sức khỏe và sự lanh lẹ, uy lực. Đi với những sao tốt làm cho tốt thêm, sự may đến mau hơn. Đi với sao xấu, làm cho xấu thêm và sự xấu đến mau.
THANH LONG
Chủ sự vui vẻ công danh, thi cử, sự cưới hỏi, sanh nở.
Thanh Long tại Tứ Mộ (Thìn, Tuất, Sửu, Mùi) gặp Kỵ đồng cung là rồng trong đám mây ngũ sắc: đó là cách tốt ở Mạng, chủ về phú quý và may mắn, Gặp Lưu Hà đồng cung là rồng ở sông lớn, cũng tốt đẹp, lợi cho thi cử và sự cầu danh.
TƯỚNG QUÂN
Chủ sự dũng mãnh, uy quyền, chủ tánh ưa quyền hành, gặp lại bạn là tốt cho sự cầu công danh, thi cử (Tướng thường đi với Ấn). Cũng là sao của nhà binh.
Gặp Thiên Tướng, thêm sự uy quyền.
Đàn bà, Mạng có Tướng tọa thủ thì ghen và lấn át chồng.
Tướng ngộ Triệt hoặc Tuần (ngay cung) là tướng mất đầu, bị giáng chức hoặc tai vạ lớn lao, nguy đến tánh mạng, nếu không có gì giải cứu.
TẤU THƯ
Chủ về văn chương, sự vui vẻ, khôn khéo.
HỈ THẦN
Chủ sự vui vẻ, việc mừng, sự cưới hỏi. Gặp tại hạn cùng với Long, Phượng là cửa nhà vui vẻ. Hoặc tốt về thi cử, cầu công danh, cưới hỏi, sanh đẻ.
TRƯỜNG SINH
Gia tăng phúc thọ, tốt cho sanh nở, chủ sự tốt đẹp lâu dài. Tọa thủ tại Dần, Thân, Tỵ gặp Mã là Thiên Mã ngộ Tràng Sinh, chủ sự may mắn, tốt đẹp, có công danh tốt. Gặp Mã tại Hợi lại hỏng, chủ sự trắc trở về thi cử, công danh. Trường Sinh tại Tật Ách, thêm các sao xấu là xấu (duy trừ tật ách).
(Theo Tạp Chí Khoa Học Huyền Bí)
Đã từ lâu hình tượng Thần Tài chiếm lĩnh vị trí quan trọng trong đời sống tâm linh của nhiều quốc gia. Đó là hình ảnh rất đỗi quen thuộc, nhất là với những người kinh doanh, buôn bán. Thế nhưng không phải ai cũng tường tận về nguồn gốc cũng như những đức hạnh bố thí của hình tượng này trong Phật giáo.
![]() |
![]() |
![]() |
Infographic: 18 loại bố thí không sạch sẽ làm xấu chân lý nhà Phật
Tóm tắt các ý chính của các nạp âm tác động với nhau gây lên tốt và xấu
(Qua một số sách mà các cổ nhân để lại)
1 – Giáp Tý, Ất Sửu – Kim đáy biển : ?
2 – Bính Dần, Đinh Mão - Lửa trong lò : ?
3 - Mậu Thìn, Kỷ Tị - Gỗ rừng xanh : ?
4 – Canh Ngọ, Tân Mùi - Đất ven đường : Gặp gỗ rừng là mệnh quý. Gặp Kim là mệnh phú quý.
5 – Nhâm Thân, Quý Dậu – Kim lưỡi kiếm : Chỉ sợ lửa trong lò và lửa sấm sét
6 – Giáp Tuất, Ất Hợi - Lửa đỉnh núi : Là mệnh quý hiển nếu có thêm Mộc và Hỏa. Sợ Thủy nhất là gặp nước biển tương khắc thì hung thần tới nơi.
7 – Bính Tý, Đinh Sửu - Nước khe núi : Gặp Kim rất tốt, nhất là kim trong cát và kim lưỡi kiếm. Mệnh gặp nước suối cực quý. Sợ Thổ và Hỏa.
8 - Mậu Dần, Kỷ Mão - Đất trên tường : Gặp Thủy và Thổ là quý hiển trừ nước biển và lửa sấm sét.
9 – Canh Thìn, Tân Tị - Kim giá đèn : Thích Hỏa nhất là Ất Tị, thích Thủy nhất là Ất Dậu, Quý Tị, đó là các mệnh quý. Sợ Mộc khắc trừ khi gặp Hỏa yếu (chắc là lửa của ngọn đèn).
10 – Nhâm Ngọ, Quý Mùi - Gỗ liễu : Nó , thích Thủy và gặp đất mái nhà là tốt trừ nước biển. Nó gặp gỗ lựu cực xấu và gặp Hỏa dễ chết yểu.
11 – Giáp Thân, Ất Dậu - Nước ngầm : Gặp Kim trong cát hay Kim trang sức rất tốt, gặp Thủy và Mộc cũng tốt. Nếu trụ năm giờ đều có Thủy và tháng ngày đều có Mộc là mệnh cực quý.
12 – Bính Tuất, Đinh Hợi - Đất mái nhà : Cần có Mộc làm khung và Kim trang hoàng cực quý, Kim quý nhất là nhũ kim và kim lưỡi kiếm.Sợ gặp Hỏa trừ lửa mặt trời lại là mệnh phú quý.
13 - Mậu Tý, Kỷ Sửu - Lửa sấm sét : Gặp Thổ, Thủy hay Mộc có thể tốt hoặc không có hại.
14 – Canh Dần, Tân Mão - Gỗ tùng : Sợ lửa lò, nước biển. Gặp Kim đại quý .Trụ tháng ngày và giờ đều có Nhâm, Quý, Hợi và Tý là mệnh cực quý.
15 – Nhâm Thìn, Quý Tị - Nước sông : Gặp Kim là tốt gặp Thủy là xấu (dễ vỡ đê). Gặp đất mái nhà hay đất trên tường khó tránh khỏi tai họa cần có Kim để giải cứu. Gặp lửa đèn, lửa trên núi cực quý ngoài ra đều xấu.
16 – Giáp Ngọ, Ất Mùi – Kim trong cát : Nó là mệnh thiếu niên phú quý nếu gặp lửa trên núi, lửa dưới núi hay lửa đèn (để luyện nó thành vật dụng) nhưng nó cần gặp Mộc (để kiềm chế nếu Kim quá vượng) và Thủy như nước khe núi, nước suối và nước mưa (để khống chế Hỏa nếu Hỏa vượng). Nó sợ nước sông, nước biển, đất ven đường, đất dịch chuyển và cát trong đất (bởi vì nó dễ bị vùi chôn).
17 – Bính Thân, Đinh Dậu - Lửa dưới núi : Gặp Thổ và Mộc rất tốt, không thích lửa mặt trời, lửa sấm sét và lửa đèn.
18 - Mậu Tuất, Kỷ Hợi - Gỗ đồng bằng : Sợ nhất gặp kim lưỡi kiếm, thích Thủy, Thổ và Mộc. Sinh mùa Đông trong mệnh lại gặp Dần và Mão là mệnh quý.
19 – Canh Tý , Tân Sửu - Đất trên tường : Có Mộc là mệnh quý, gặp Thủy cũng quý trừ nước biển. Kim chỉ thích nhũ kim. Sợ Hỏa sẽ cháy nhà (vì tường này là tường của nhà được làm bằng rơm với đất bùn).
20 – Nhâm Dần, Quý Mão – Nhũ kim : Gặp đất trên thành, đất trên tường mới tốt như gặp Mậu Dần, riêng Quý Mão gặp Kỷ Mão đều là mệnh quý hiển.
21 – Giáp Thìn, Ất Tị - Lửa đèn : Nó là mệnh rất quý nếu nó gặp Mộc và Thủy như nước ngầm, nước khe núi và nước sông (dầu để thắp đèn) hay Kim lưỡi kiếm. Nó sợ gặp lửa mặt trời (đèn là vô dụng), lửa sấm sét (làm tắt đèn) và đất trừ đất mái nhà.
22 – Bính Ngọ, Đinh Mùi - Nước mưa : Sợ đất trên tường, đất mái nhà, đất trên thành, đất ven đường và đất dịch chuyển.
23 - Mậu Thân, Kỷ Dậu - Đất dịch chuyển : Nó thích nước tĩnh như nước ngầm, nước mưa và nước sông. Nó sợ nước biển, lửa trên núi và lửa dưới núi, gặp lửa sấm sét phải dùng Thủy để hóa giải lại là mệnh quý.
24 – Canh Tuất, Tân Hợi – Kim trang sức : Nó sợ gặp Hỏa, gặp Thủy cũng quý trừ nước biển, nó thích cát trong đất.
25 – Nhâm Tý, Quý Sửu - Gỗ dâu : Gặp cát trong đất, đất ven đường, đất dịch chuyển, nước ngầm, nước khe núi, nước sông đều tốt. Gặp gỗ tùng, gỗ liễu, gỗ rừng xanh đều quý. Sợ gỗ đồng bằng và gỗ lựu.
26 – Giáp Dần, Ất Mão - Nước suối : Gặp Kim rất tốt. Sợ gặp Thổ và Mộc trừ gỗ cây dâu là mệnh cực quý.
27 – Bính Thìn, Đinh Tị - Cát trong đất : Gặp Kim và Thủy là quý cũng như lửa mặt trời, gỗ dâu, liễu, ngoài ra các loại Mộc, Hỏa khác đều không tốt.
28 - Mậu Ngọ, Kỷ Mùi - Lửa mặt trời : Thích gặp Thủy, Mộc và Kim. Chỉ thích lửa đèn còn các loại lửa khác đều tương khắc. Thích gặp Thổ có thêm Kim và Mộc là mệnh quý. Lửa mặt trời đơn độc với Thủy là xấu.
29 – Canh Thân, Tân Dậu - Gỗ lựu : Gặp Thổ, Thủy, Mộc, Kim có thể thành tốt trừ nước biển sẽ bần cùng bệnh tật. Lửa mặt trời và lửa sấm sét có thể tốt nhưng cũng có thể xấu. Sinh tháng, năm, ngày hoặc giờ có Hỏa hoặc gặp gỗ liễu là mệnh quý.
30 – Nhâm Tuất, Quý Hợi - Nước biển : Gặp các loại nước cực tốt, nhất là Nhâm Thìn cực phú quý. Thích lửa mặt trời, kim đáy biển, gỗ dâu, gỗ liễu, đất dịch chuyển, đất trên tường, đất ven đường ngoài ra đều xấu nhất là lửa sấm sét.
(Các đoạn được tô đậm của các Nạp Âm trên đã đúng khi áp dụng vào các ví dụ trong thực tế.)
Các câu hỏi trọng tâm :
1 – Theo bạn, cách đây 3 đến 4 nghìn năm con người của chúng ta đã biết đến hệ mặt trời có 9 hành tinh hay chưa?
2 – Cách giải thích vì sao có 10 can và 12 chi liệu có thỏa mãn tính tò mò của bạn không? Cách giải thích này đã có tính chất khoa học (duy vật) hay nó vẫn còn mang nặng tính chất huyền bí (duy tâm) ? Bạn có cách nào giải thích khác không?
3 - Có một cao thủ về dịch lý bên Lý Học Ðông Phương cho rằng có 4 mùa trên trái đất là do quỹ đạo của trái đất quay quanh mặt trời theo hình elip. Theo bạn điều này có đúng hay sai, vì sao? Có cách nào chứng minh đơn giản hơn cách chứng minh ở trên hay không?
4 - Bạn thử kể ra các lực tương tác mà bạn biết của 10 vật thể được đưa ra ở trên lên con người nói riêng và các vật thể khác trên mặt đất nói chung là gì?
5 - Giả sử có 2 người cùng sinh ra tại một thời điểm của thời gian (cứ giả sử thời điểm họ sinh ra được tính chính xác tới 1/tỷ giây hay cứ cho là tuyệt đối - tức không có sự sai lệch về thời gian) thì họ có cùng sinh ra tại 1 vị trí trong không gian của vũ trụ hay không ?
Nguồn Sưu tầm
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
|
|
|
|
||||
| Tý | Sửu | Dần | Mão | ||||
|
|
|
|
||||
| Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi | ||||
|
|
|
|
||||
| Thân | Dậu | Tuất | Hợi |
Maruko (theo QQ)
Đây cũng là tình huống tạo ra nhiều bất ngờ để các bạn bộc lộ tính cách thật của mình.
Mục lục (Click vào đây để tới nội dung muốn xem nhanh nhất)
Khi 12 chòm sao gặp ma, bạn có biết phản ứng của Bạch Dương thế nào không? Với tính cách thường ngày, nhiều người sẽ tưởng Bạch Dương nhà ta là người can đảm lắm. Miệng luôn tỏ mạnh mẽ thậm chí còn hùng hổ hô hào đi dọa ma mọi người hay đầu têu những trò bắt ma.
Nhưng thực ra, nếu có ma thật hiện nguyên hình, chòm sao này sẽ là người bỏ chạy đầu tiên. Bạch Dương có biết Những điều nên tránh để không bao giờ gặp ma.
![]() |
Kim Ngưu sống khá thực tế, thực dụng và vốn chỉ tin vào những vấn đề mang tính khoa học, nghiên cứu. Nhưng nếu bị dọa ma bất ngờ, Kim Ngưu có thể mất bình tĩnh và phản ứng đầu tiên là hét toáng lên theo phản xạ và cũng để đuổi con ma đi xa.
Là một trong 12 cung hoàng đạo khi gặp ma rất thích thú, luôn tìm tòi ma hình thành ra sao. Vì vậy khi chạm mặt con ma, Song Tử chắc chắn sẽ ngắm nghía "độc" vật này từ đầu đến chân, thâm chí đưa nó về nhà để nghiên cứu thêm và khoe khoang với mọi người.
Nếu bị dọa ma bất ngờ chắc chắn Cự Giải yếu đuối sẽ lăn đùng ra ngất. Nhưng nếu may mắn gặp một con ma hiền lành thần thiện, có khi Cự Giải lại nhẹ nhàng và hành động đúng như bản chất luôn biết quan tâm, chăm sóc cho mọi người, đối với một con ma cũng không phải ngoại lệ. Có thể bạn chưa biết Trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam có những loại "MA" nào?
![]() |
12 chòm sao làm gì khi gặp ma, cụ thể là Sư Tử? Những người thuộc cung Sư Tử thường rất dũng cảm, đây là tố chất bẩm sinh mà hiếm cung hoàng đạo nào khác có thể sở hữu. Nếu bị dọa bất ngờ rất có thể Sư Tử sẽ la hét, gào rú theo phản xạ. Nhưng ngay cả trong trạng thái ấy, Sư Tử cũng rất sẵn sàng chiến đấu với con ma bằng cách quờ quạng chân tay, còn hơn là chịu nhục trước sinh vật này.
Miệng thì lúc nào cũng xem ma mãnh là mấy trò nhảm nhí, nhưng nếu gặp thần thì hồn bay phách lạc chính là từ miêu tả đúng nhất phản ứng của Xử Nữ. Vốn là người nhút nhát, việc gặp ma đối với họ còn khủng khiếp hơn cả ngày tận thế. Nhưng không giống như các chòm sao khác bỏ của chạy lấy người, Xử Nữ sẽ cẩn thận ôm theo hết tư trang rồi mới thoát thân. Có thể bạn chưa biết: Sự thật về MA QUỶ.
Thiên Bình vốn ít lo lắng, thoải mái, vô tư, nhưng khi gặp ma thì chắc chắn cũng sẽ cứng đơ người bất động, nhắm tịt mắt mặc cho con ma muốn làm gì thì làm, chỉ mong được tha mạng mà thôi.
![]() |
Bọ Cạp thường ngày vốn thích tìm hiểu mấy trò bí ẩn, huyền ảo về tâm linh nên với họ ma quỷ không phải chuyện qua bất ngờ. Giả sử có bị bất ngờ thì họ cũng sẽ đụng chân đụng tay vì thấy bực mình khi bị hết hồn mà thôi.
Nếu gặp ma bất ngờ có thể Nhân Mã sẽ hơi shock và giật mình lúc ban đầu. Tuy nhiên với bản tình tò mò và ham vui vốn có, Nhân Mã sẽ định thần lại và coi đây là cơ hội được chơi đùa hiếm hoi, có khi còn cùng con ma đi dọa dẫm người khác.
![]() |
Phản ứng của 12 chòm sao khi gặp ma như thế nào, nhất là Ma Kết? Cung hoàng đạo này vốn là những người thông minh, bình tĩnh, thản nhiên. Nên khi gặp ma, họ cũng trơ mặt ra không biểu hiện. Mặc dù sợ đến mức mềm chân tay nhưng vẫn cố tỏ ra lạnh lùng, không quan tâm để khiến con ma nản chí mà bỏ đi.
Thông minh là vậy nhưng Ma Kết đã biết cách phân biệt Vong hồn, ma quỷ, yêu tinh và Thần Phật khác nhau như thế nào hay chưa?
Bảo Bình là con người của những tính cách độc đáo với cái đầu lạnh và trái tim thép, có khi chính con ma lại phải chạy thật nhanh nếu không muốn trở thành đối tượng bị Bảo Bình dọa lại bởi những gì chòm sao này đang tính toán.
![]() |
Song Ngư là đối tượng không con ma nào dù thật hay giả muốn dọa dẫm. Bởi Song Ngư trước tình huống bất ngờ và đau tim này có lẽ sẽ khóc không ngừng nghỉ đến mức con ma chẳng biết xử lý thế nào, nên dọa tiếp hay không.
Trên đây là những phát hiện vui vui dựa trên tính cách của của các chòm sao trong tình huống khi 12 cung hoàng đạo gặp ma. Dù bạn thấy đúng hay không thì cũng nên đọc kỹ và cẩn thận nếu định thử áp dụng dọa ma bạn bè nhé!
Hoài An
Muốn hạnh phúc, hãy chọn người yêu như 4 chòm sao nam chung tình 3 chòm sao đáng ghét, dễ bị bỏ ngoài mọi cuộc chơi Có thể bạn chưa biết về những chòm sao thuộc nhóm Đất
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Đoan Trang(##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
Thời gian: tổ chức vào ngày 1 tháng 7 âm lịch.
Địa điểm: xã An Đức, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.
Đối tượng suy tôn: nhằm suy tôn nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu.
Nội dung: Phần lễ được tổ chức long trọng với lễ dâng hương và lễ mít tinh tại khu di tích Nguyễn Đình Chiểu. Sau khi bài “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” được xướng lên trong không khí trang nghiêm là các hoạt cảnh diễn lại tích Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga trong tác phẩm “Lục Vân Tiên” nổi tiếng của nhà thơ.
Phần hội cũng không kém phần sôi nổi với nhiều hoạt động như: bốc thuốc miễn phí, thi nấu ăn, kéo co, đập niêu, biểu diễn trống hội, Liên hoan đờn ca tài tử, thi hóa trang các nhân vật trong truyện “Lục Vân Tiên”, ngâm thơ, múa lân, thi đấu võ thuật,…
Đến với Lễ hội truyền thống văn hoá tỉnh Bến Tre, du khách còn có dịp tham quan triển lãm ảnh về thành tựu kinh tế - xã hội của tỉnh Bến Tre và các tác phẩm văn thơ của Nguyễn Đình Chiểu cũng như tìm hiểu về thân thế và sự nghiệp văn chương của nhà thơ.
Lễ hội Nguyễn Đình Chiểu được tổ chức hàng năm gắn với ngày sinh của ông là một ngày hội lớn, niềm tự hào của người dân xứ dừa. Qua lễ hội nhằm tuyên truyền, học tập, kế thừa những giá trị tư tưởng, nhân cách, đạo đức của nhà giáo, thầy thuốc, nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu, góp phần tích cực vào việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, truyền thống văn hóa địa phương.
Như vậy, đối tượng của khoa Tử-Vi bao gồm hai yếu tố có liên quan chặt chẽ với nhu: thứ nhất là con người, thứ hai là đời người.
Con người cuả Tử-Vi có những đặc tính gì?
Đời người trong lá số Tử-Vi có những yếu tố nào?
1. – Con người trong khoa Tử-Vi
Khoa Tử-Vi phân tích sây rộng đặc tính của con người, nhưng thật sự chú ý nghiên cứu con người còn sống, con người toàn diện và con người thế tục mà thôi.
a) Con người còn sống
Con người còn sống ở đây là cn người lúc sinh thời, tức là từ lúc đứa bé chào đời cho đến khi ó quá vãng. Nói như thế có nghiã là lúc cá nhân chết đi thì khoa Tử-Vi không lý tới nữa. Khoa này không ngiên cứu âm hồn, không hề nói đến sự tái sinh dưới một kiếp khác, không đề cập luân hồi như trong phật học. Khoa Tử-Vi đứng trong phạm vi của hình nhi hạ học, gạt bỏ cái gì siêu hình, không bàn đến hậu kiếp cá nhân trên thiên đàng hay âm thế. Trái lại, cái gì thuộc cõi dương, bao giờ cá nhân còn sống thì khoa Tử-Vi mới khảo sát.
Tuy thế, cũng cần đặt thêm một giới hạn khác trong đối tượng của khoa Tử-Vi. Lúc nào con người nghiên cứu. Thành thử, cái bào thai dù là tiền thân của con người sống, không phải là đối tượng của khoa.
Có quan điểm chặt chẽ hơn cho rằng, lá số Tử-Vi chỉ thật sự ứng dụng cho con người từ 13 tuổi trở đi. Lý do đưa ra là trước tuổi này, kiếp sống của trẻ rất bấp bênh, lệ thuộc vào thời tiết, vào bệnh tật, sống hay chết tuỳ sự chăm sóc của cha mẹ, đứa trẻ cũng chưa chín mùi về nhân tính, chưa hội đủ điều kiện để sinh tồn như một con người toàn vẹm: tri thức, thể xác, tình cả, lương tri của nó chưa nảy nở đầy đặn, nó cũng chưa có một sự nghiệp theo đúng nhiã của danh từ vì, trước tuổi 13, trẻ con chỉ mới tập sự vào đời.
Quan điểm này xét khả chấp vì khoa Tử-Vi khi chọn người làm đề tài đã quan niệm cuộc sống đó theo một nhaĩa toàn vẹn: con người sống phải là một cá nân trưởng thành ít nhiều về thể xác, tinh thần, tình cảm, lương tri, đạo đức, có một khởi đầu sự ngiệp, một khởi đầu vận mệnh. Đó là con người tự lập, tự túc, tương đối lam2 chủ ít nhiều hành động của mình, nó khác đi đó là con ngừơi toàn vẹn về nhân tính. Dy có điều cần lưu ý rằng, đối với trẻ con dưới 13 tuổi, việc xem Tử-Vi cho nó chỉ chuyên chú vào khả năng tồn tạ của nó, cụ thể là xét xem nó có sống được hay không, bệnh tật như thế naò. Như vậy, khía cạnh phải cứu xét là khiá cạnh thọ, yểu bệnh, tật nói chung là sức khỏe. Còn những khía cạnh khác như quan trường, tài lộc, điền sản, gia đạo, con cái chưa ứng dụng.
Nói tóm lại, khoa Tử-Vi là con người toàn diện. Điều này co nghĩa là khoa Tử-Vi khảo sát con người dưới mọi khía cạnh, bao hàm cả phần xác lẫn phần hồn, trí tuệ và tình cảm, sinh lý và tâm lý, ý thức và tiềm thức v.v … Không bao giờ con người bị bẻ mẻ, hoặc bị chiết nhỏ ra từng mảnh biệt lập. Khoa Tử-Vi đã tổng hợp con người một cách đầy đủ và phong phú, kết tinh hết yếu tố phối trí toàn thể các thành phần, chớ không đánh giá cn người qua một bộ vị, một giác quan hoặc một cơ năng.
Điều này phản ánh rõ rệt trong bố cục của lá số Tử-Vi. Mặc dù là số này có phân tích co người qua 12 cung, nhưng mỗi cung riêng rẽ không hề được xem là đầy đủ để diễn tả toàn thể cá nhân. Cá nhân chỉ được thể hiện qua toà thể lá số, trên một loạt 12 cung. Đó là con người nhất trí trong một lá số nhất trí. Việc giải đoán Tử-Vi vì thế không thể bỏ qua sự tổng hợp để chỉ đứng trong thế phân tích. Trái lại, phải phân tích để tìm sự tổng hợp.
Sở dĩ khoa Tử-Vi xem con người như một tổng thể toàn diện là vì, nếu chiết nhỏ ra từng bộ phận riêng, con người sẽ không còn sống như một đơn vị toàn vẹn: làm như thế là giết chết một đối tượng sống phủ nhận đắc tính sinh động trong đặc tính toàn diện của con người.
Vì khảo sát con người toàn diện, cho nên cái gì của con người cũng được khoa Tử-Vi để ý tìm tòi. Khoa này lưu tâm nghiên cứu, từ những yếu tố lớn như ảnh hưởng của vật chất, của xã hội, của huyết thống trên cá nhân, cho đến các yếu tố nhỏ hơn như cơ thể, bệnh trạng, trí tuệ, tình cảm, bản năng, ký ức, nguyện vọng, phản ứng, bản ngã, nhân cách trong các môi trường sinh hoạt. Những phạm vi cuả nhân học Tây phương đều được Tử-Vi học tìm hiểu, từ cơ thể học (anatomie), bệnh lý học (pathologe) cho đến tâm tính học (carac-térologle), tướng mạo học (morphonlogie). Lẽ dĩ nhiên, với một địa hạt khảo cứu rỗng rải như thế, Tử-Vi học không thể đi vào chuyên khoa. Những ý nghĩa cơ thể, bệnh lý, tính tình, tướng mạo … Trong Tử-Vi chỉ có tính cách tổng quát, hoặc niều lắm là chỉ đạt đến một trình độ cụ thể nào mà thôi. Nhưng chính khảo hướng đại cương đó nói lên quan niệm con người toàn diện của khoa này.
b) Con người thế tục
Khoa Tử-Vi chọn con người ở đời làm đối tượng, nghĩa là con người phàm tục, có cá tính phàm tục và cuộc đời phàm tục.
Cá tính phàm tục đây là cá tính của trung bình nhân loại (I’homme moyen), của đại đồng chứng sinh (I’homme universel). Đó là loại người có đầy đủ thất tình lục dục, bị chi phối bởi nó cũng như bị chi phối bởi bản năng: con người trong Tử-Vi không tiêu diệt dục vọng, không chống đối bản năng, vị kỷ hơn là vị tha, tham sống và không chống lại sự sống, dù phải chịu nhiều khổ cực. Họ tìm cách né tránh khổ cực chớ không tìm cái chết để đoạn tuyệt với gian truân.
Cuộc đời của con người trong Tử-Vi cũng là cuộc đời đầy tục lụy. Họ chạy theo nhu cầu cá nhân, của gia đình, của xã hội, tham danh, hám lợi, theo đuổi hạnh phúc vật chất và phú qý vinh hoa đến cùng cực. Đa số sợ chết, sợ khổ, sợ nghèo, sợ họa, sợ bệnh và chỉ nhận các bất hạnh này khi đối cùng. Vì tính cách tụclụy của kiếp sống cho nên nhân sinh quan của con người trong Tử-Vi rất thường tình, thiên về hiện sinh. Và trong kiếp này, họ là con người tại thế xu thời chớ không xuất thế thoát thời. Con người trong Tử-Vi không đi tu. Tu sĩ là người trốn đời, thoát phàm và siêu phàm, lấy niết bàn làm hạnh phúc, tự đặt mình ra khỏi cuộc đời, xem cuộc đời như tạm bợ. Con người trng Tư-Vi cũng không phải là thuật sĩ(fakir). Thuật sĩ là kẻ cay61p nhận khổ nh5c, ép xác, hành xác, chống lại bản năng, tiêu diệt cảm xúc, chế ngự cảm giác để mong vượt khỏi thường tình.
Con người torng Tử-Vi không cao siêu như vậy. Nhãn quan Tử-Vi là nhãn quan thế tục. Điểm này được minh chứng rõ rệt trong quan niệm phúc đức, trong quan niệm gia đạo, tong quan niệm Mệnh Thân và trong ý nghĩa các vì sao.
Quan niệm phúc đức thế tục
Khoa Tử-Vi chỉ chú ý đến hạnh phúc của con người trần gian. Hạnh phúc này lệ thuộc vào tiền bạc, gia đạo và thời thế. Trong lá số Tử-Vi, cung Phúc bao giờ cũng được hội chiếu với 3 cung Tài, Phu Thê và Thiên Di.
Cung Tài chỉ tiền bạc, gia sản hoặc nói rộng ra là yếu tố vật chất của một cuộc sống vật chất. Vì cung Tài trực ciếu vào cung húc cho nên có nghĩa là tiền bạc, sinh kế là yếu tố quan trọng của hạnh phúc. Nói khác đi, cái phúc của cá nhân được đo bằng tiền tài. Những ai có nhiều tiền, nhiều điền, nhiều xe, nhiều hoa màu thì tốt phúc.
Cung Phu Thê chỉ gia đạo. Trong lá số, cung này cũng chiếu vào cung Phúc. Điều này phản ảnh quan niệm cho rằng hạnh phúc cá nhân tuỳ thuộc vào một gia đạo tốt. Vì có cung PhuThê cho nên con người coi như phải sống chung với gia đình. Noí khác đi, đó là phàm nhân, có nhu cầu sinh lý, có ái tình, có vợ, có chồng, chớ không phải con người tiệt dục, xa lánh chuyện nam nữ, tách rời với vợ con. Văn hóa thời đại nhà Tống còn chấp nhận cả đa thê, xem việc có nhiều con cái là phúc lộc.
Cung Thiên Di chỉ thời thế, hoàn cảnh xã hội, được coi như yếu tố của hạnh phúc. Ai sinh phùng thời, được xã hội ưu đãi thì tốt phúc. Vì có cung Thiên Di nên có thể nói rằng con người của khoa Tử-Vi là con người sống ở đời, chung đụng với xã ội, nhập thế và tại thế chớ không xuất thế, không thoát tục. Bối cảnh môi sinh là điều kiện ngoại tại có ảnh hưởng đến hạnh phúc thế tục.
Tóm lại, nhìn vào cách cấu tạo phúc đức trong lá số, ai ai cũng thấy rằng đây là loại hạnh phúc trần gian, đo bằng tiền bạc, bằng lợi điểm của gia đạo và của xã hội ban cho mình. Không có phần phúc đức duylinh, siêu thoát của linh hồn. Tử-Vi quan là một nhân sinh quan, cụ thểlà nhân sinh quan thế tục. Đối tượng của khoa Tử-Vi là con người và đời người trần thế, không phải là người đạo, cõi đạo hay phúc đạo. Phạm vi khảo sát của Tử-Vi học chỉ là Đời.
Quan niệm gia đạo
Lá số Tử-Vi nào cũng có hai cung Phu Thê và Tử Tức để chỉ gia cảnh. Điểm này ngụ ý rằng đây là lá số của người ở đời, có vợ, có chồng, có con, co đời sống gối chăn, có tình nghiã phụ tử. Con người trong lá số không chối bỏ cõi trần, vẫn bị chi phối bởi nợ trần và tạo thêm nợ trần bằng bầu đoàn thê tử.
Lẽ dĩ nhiên, cũng có những người không có gia đình, không có con cái. Nhưng, nếu họ còn ở đời, chia xẻ khát vọng, xu hướng người đời thì họ vẫn là đối tượng của khoa Tử-Vi. Bao giờ họ thoát đời đi tu, bấy giờ họ không thuộc phạm vi khảo sát của Tử-Vi nưã. Nhãn quan Tử-Vi phân biệt rất rõ hai phạm vi đạo và đời.
Quan niệm Mệnh – Thân
Cơ cấu của Mệnh và Thân thể hiện rất rõ quan niệm thế tục của khoa Tử-Vi. Mệnh hay Thân, bao giờ cũng được xét chung với 3 cung Thiên Di, Tài Bạch và Qan Lộc.
Cung Thiên Di chỉ thời thế, hoàn cảnh xã hội. Cung Tài Bạch chỉ tiền bạc, sinh kế. Cung Quan Lộc chỉ sự nghiệp, quan trường. Đã l2 con người thế tục, vị tất phải sống với xã hội, phải có phương tiện sinh nhai, phải có nghề nghiệp. Chí hướng con người lúc nào cũng vọng về 3 mục tiêu đó. Hạnh phúc thế tục của họ được đo bằng mức độ giàu nghèo, sang hèn, phùng thời thế. Đó là 3 yếu tố của vinh hoa, vật chất, giúp đánh giá sự thành bại của người đời
Quan niệm thế tục của các vì sao
Trong Tử-Vi, có rất nhiều sao noí lên cuộc sống thế tục, chẳng h5n như sao phú, sao quý, sao họa, sao bệnh, sao phúc. Những sao này hiển nhiên không có ích lợi gì cho tu sĩ vì người đạo không màng đến phú quý, bệnh họa. Như vậy các sao đó chỉ để áp dụng vào vận mệnh đời người.
Nhiều sao kết hợp thành cục và cách. Khoa Tử-Vi chia các cục thành nhiều loại: phú cục, quý cục, bần tiện cục. Cách cũng có thượng cách, trung cách, hạ cách và phi thường cách. Trong cục cũng như trong cách, đã hàm chứa ý nghĩa thế tục của sinh hoạt cá nhân.
Tất cả dẫn chứng trên đây giúp ta tổng kết được quan niệm và con người của khoa Tử-Vi và thế giới Tử-Vi.
Con người trong Tử-Vi là con người trong gia đình, không thoát ly gia đình, là con người trong xã hội, không xa lánh xã hội, là con người trong môi trường sinh hoạt vật chất, không từ bỏ tiền bặt, danh quyền: là con người bằng xương bằng thịt, không chối bỏ sinh lý. Đó là con người lấy đức Sinh của vũ trữ làm lẽ sống, thụ nhận sự sinh tử cha mẹ và tạo sinh thế hệ mới con cái.
Còn thế giới Tử-Vi là thế giới trần gian, là nhân thê, không phải là thiên đàng hay niết bàn, tiên cảnh. Đó là khung cảnh sống của nhân loại chớ không phải của thần linh.
Còn thế giới Tư-Vi là nhân sinh quan chứ không phải là vũ trụ quan, cũng không phải là phật tử quan. Khoa Tử-Vi là một bộ môn của hình nhi hạ học, không phải là siêu hình học. Đối tượng của khoa Tử-Vi là người đời chớ không phải người đạo. Tinh thần Tử-Vi là tinh thần nhân bản thế tục, không phải nhân bản thoát tục.
Đời người trong khoa Tử-Vi
Học về con người, khoa Tử-Vi còn học về đời người, nói khác đi là vận mệnh, kiếp số, hạnh phúc, hoạn nạn, hên xui, các biến cố xảy ra. Về điểm này, ta thấy khoa Tử-Vi đã chọn một đối tượng rất táo bạo. Trong khi nhân học Tây Phương dừng lại trên cá tính con người thì khoa Tử-Vi Đông phương lại đi xa hơn, khảo cứu luôn định mệnh, tức là kết quả của sự va chạm và của cá tính với môi sinh.
Khoa này khảo sát rất nhiều về môi trường sinh sống của nhân loại, khung sinh hoạt của cá nhân. Làm sao Tử-Vi có rất nhiều cung mô tả ngoại cảnh.
Trước hết, ngoại cảnh của đại gia đình nằm trong ba cung Phúc, Phụ, Bào, mô tả lần lượt ông bà, cha mẹ, anh em, tức là mối liên hệ huyết thống trong dòng họ, ảnh hưởng của huyết thống đó trên con người và kiếp sống thiếu niên.
Kế đến là ngoại cảnh tiểu gia đình qua hai cung Phu Thê và Tử Tức, noí lên tình chảnh vợ chồng, con cái và ảnh hưởng của gia đạo trên con người, trong đời người.
Khung cảnh ngoại gia đình cũng không bị bỏ qua. Cung Nô, cung Di mô tả đời sống ngoại hôn với nhân tình bồ bịch.
Khung cảnh xã hội được khảo sát trong cung Thiên Di, chỉ hoàn cảnh, thời thế.
Môi trường nghề nghiệp thì do cung Quan phô diễn.
Môi trường sinh kế thì do hai cung Tài và Điền.
Như vậy, đời người được mô tả rất phong phú qua ngoại cảnh, được coi như khuôn khổ hoạt động và yếu tố chi phối kiếp sống. Con người vừa bị đóng khung trong bối cảnh sinh hoạt, vừa biến dịch trong khuôn khổ ngoại cảnh đó. Khoa Tử-Vi không tách con người rời khỏi cảnh sống, mà đặt con người trong kiếp sống, trong chỗ đứng cố hữu của nó. Tử-Vi học ví con người như con cá phải sống chung với nước và khảo cứu con cá trong nước. Vớt con cá ra khỏi nước là nghênh cứu không thực tiễn, từ đó những kết luận về con cá hẳn phải sai lệnh. Khoa Tử-Vi đặt con người trong bối cảnh thiên nhiên, không sửa đổi con người, không sửa đổi bối cảnh. Đây là một phương pháp nhên cứu rất thực tế, rất thích đáng và rất sống động: nhìn một động vật trong bối cảnh động.
Khảo hướng động này đòi hỏi khoa Tử-Vi phải xét kiếp sống con người qua thời gian. Về điểm này, cuộc đời con người cũng đưọc hân tích rất tỷ mĩ, trong từng chu kỳ ngắn và dài hạn.
Ngắn hạn thì có chu kỳ từng ngày, từng tháng, từng năm với những biến cố, hên, xui, họa phúc liên hệ.
Dài hạn thì có chu kỳ từng 10 năm, chu kỳ tiền vận (30 năm đầu) và chu kỳ hậu vận (30 năm sau).
Con người được khảo sát trong toàn đời, trên những bước sống lần lượt, torng những lúc thành bại, thăng trầm, qua các biến cố khác nhau, lúc phúc, lúc họa, lúc bệnh, lúc may, lúc rủi, lúc chết, qua những khúc quanh khác nhau trong nghề nghiệp, trong gia đạo, trong sinh kế …
Lấy đời người làm đối tượng, khoa Tử-Vi có một tham vọng hết sức lớn lao và táo bạo. Lớn lao vì tham vọng đó muốn tiên đoán tương lai một cách khẳng định, không phải cho cá nhân mà cho cả mọi người thế tục. Khoa Tử-Vi cố gắng giải quyết tham vọng đó qua hai phương pháp phân tích và tổng hợp. Điều này sẽ được bày trong chương kế tiếp của khoa Tư-Vi.
Riêng về các đối tượng của khoa Tử-Vi, ta thấy vì khoa này quan niệm con người sống, toàn diện và thế tục cho nên sẽ không ứng dụng được cho vài loại người. Nói như thế là có một số ngoại lệ trong đối tượng, khiến cho phạm vi áp dụng bị thu hẹp.
Ngoài ra, vì có một số người quá ư đặc biệt, vì cách lấy số Tử-Vi rất đặc thù, cho nên, ngay cả với các đối tượng thật sự của khoa Tử-Vi, ta thấy sự áp dụng cũng bị hạn chế đi nhiều.
Ta sẽ lần lượt khảo sát những ngoại lệ và những giới hạn của đối tượng Tử-Vi.
Lược trích "Tử vi tổng hợp" của Nguyễn Phát Lộc
Hiện sách E-book có bán tại đây.
![]() |
| Ảnh minh họa |
Bác Vật Vựng Biên ghi rằng: Thủy của Bính Tí, Đinh Sửu thì vượng ở Tí, suy ở Sửu. Vượng rồi Suy ngay tất nhiên không thể thành sông ngòi, cho nên gọi bằng Giàn Hạ Thủy.
Giản Hạ Thủy là dòng nước lạch suối, không rõ nguồn gốc và cũng không có hướng nhất định để chảy đi, lòng lạch lòng suối lúc nông lúc sâu.
Cổ nhân có câu: "Dục tấn dục thoái sơn khê thủy, Dục phản dục phúc tiểu nhân tâm" Nghĩa là lúc tiến lúc lui như nước lạch, lúc phản phúc lúc lật như lòng tiểu nhân.
Số ai có Phục Binh hay Phá Quân Địa Kiếp hoặc Tử Phá hoặc Linh Hỏa hãm địa mà thêm nạp âm Giản Hạ Thủy nữa thì cái lòng phản phúc lật lọng càng ghê gớm. Đứng ngôi chủ như vậy bộ hạ hãy lo giữ đầu, đứng vai thần tử mà như vậy kẻ đứng chủ chỉ việc chờ ngày bị phản.
Tâm chất thâm hiểm, tình ý nhỏ nhen nhưng rất thực tế và sắc bén. Trường hợp số bình thường ắt nhu nhược bất quyết mà thêm Giản Hạ Thủy nạp âm nữa thì hoàn toàn vô tích sự, lúng túng, hoảng loạn trước công việc.
Giữa Bính Tí và Đinh Sửu thì Bính Tí nguy hiểm hơn Đinh Sửu thổ khắc thủy khiến cho nhuệ khí bị tước giảm.

Thời điểm xem nhà: thích hợp nhất là khi ánh nắng chiếu rọi khắp ngôi nhà, có thể quan sát rõ ràng môi trường bên trong và bên ngoài ngôi nhà. Nếu trời u ám, chiều muộn hoặc buổi tối thì khó có thể phán đoán chuẩn xác quang cảnh ngôi nhà.
Quan sát từ cửa ra vào: trước khi vào nhà nên đứng lại vài phút trưóc cửa ra vào, chăm chú quan sát quang cảnh trong nhà, khi vào nhà nên chú ý ánh sáng, nhiệt độ, sự tập hợp và phân tán trong phòng, từ đó sẽ biết được ngôi nhà này có ấm về mùa đông và mát mẻ về mùa hè hay không, có tác dụng “tàng phong tụ khí (giữ gió, tập hợp được khí) hay không.
Địa thê bên ngoài: quan sát địa thế sông núi bên ngoài xem thuộc môi trường phong thủy nào. Nếu dễ dàng quan sát thấy núi thì nên chú ý xem là núi đẹp hay đá lởm chởm…
Thuyết phong thủy có nói: “Sơn quản nhân đinh thủy quản tài”, có nghĩa là nếu thế núi đẹp chắc chắn sẽ sinh văn nhân nhã sĩ, thế núi hùng vĩ, có khí thế thì sẽ sinh đại tướng dũng mãnh; ngược lại nếu núi có hình dáng bằng phẳng, không có khí thế thì sẽ sinh đàn ông yếu đuối, không có khí phách.
Nếu núi phía sau nhà có hình dáng lồi lõm không bằng phẳng lại có nhiều đá thì núi đó thuộc núi hung trong phong thủy, có thể treo rèm cửa dày để hóa giải.
Vài điều chú ý khi quan sát hình thê đất:
(1) Nhà xây dựa vào núi nghiêng thường là biệt thự cách biệt với xung quanh, coi trọng cảnh quan, tầm nhìn, do đó địa thế sau lưng ngôi nhà nên cao hơn, địa thế trước mặt thì thấp hơn, tuy nhiên địa thế thấp trước mặt nên nghiêng dần, tối kỵ tầng tầng dốc xuống, độ dốc lớn thậm chí là vách núi, khiến cho người ta có cảm giác như nước sông chảy xiết ngàn dặm.
(2) Trái ngược với phần 1, biệt thự lại xây dựng trên nền đất trước cao sau thấp, điều này là hoàn toàn không phù hợp, nếu sau lưng ngôi nhà độ dốc lớn hay vách núi thì càng không tốt, khiến người ta có cảm giác sợ hãi, luôn lo lắng cho sự an nguy của mình.
(3) Đất trước hẹp sau rộng hay trước rộng sau hẹp thì khí thế đều yếu đi, không để lại ấn tượng tốt.
(4) Nơi xây dựng mà xung quanh đều thấp dần thì khi mưa xuống dễ tập trung hơi nước, ngoài ẩm ướt ra thì còn tạo cảm giác không thoáng đãng.
(5) Biệt thự xây trên núi, vốn dĩ có thể xa rời sự ồn ào và hưởng thụ sự yên tĩnh an nhàn, nhưng nếu địa thế càng cao thì lại càng heo hút, người dân cũng thưa thớt, nếu xung quanh trống trải không có hàng xóm thì loại này tuyệt đối không phải mục tiêu tốt cho việc đầu tư đảm bảo giá trị.
Vị trí của căn nhà: không nên đối diện với bệnh viện, đền miếu, cục phòng cháy chữa cháy, cục cảnh sát.
Ngoài ra, còn phải chú ý đến quan hệ giữa nhà với đường, sông ngòi:
(1) Đường hay sông trước nhà uốn cong theo hình chữ U, nếu ngôi nhà nằm một mình trong chữ U đó thì giống như thành lũy bên trong sông, tâm lý thì thiên về vững vàng và có lòng tin; nếu nhà xây bên ngoài chữ U giống như bị gạt bỏ ra ngoài, thiếu cảm giác yên ổn.
(2) Móng nhà có hình tam giác và nhà xây phù hợp với móng như vậy cũng thành hình tam giác và có góc nhọn, lại nằm trên đoạn đường có hình chữ Y, xe cộ ra vào qua lại hai bên sưòn nhà, xe cộ quá hỗn loạn, gây phiền nhiễu, không phù hợp với nguyên tắc Tứ bình bát ổn (xung quanh phải yên ổn).
(3) Trước nhà gặp đoạn đưòng hay sông hình chữ T mà nhà lại xây ở điểm giao nhau giữa các con đường hoặc các con sông thì cũng ở vào trạng thái bị gây phiền nhiễu quá mức, không hợp với nguyên tắc Tứ bình bát ổn.
Khí của ngôi nhà: phải chú ý khí của ngôi nhà, ngoài việc quan sát hình dáng bên ngoài của ngôi nhà ra thì còn phải dựa vào cảm giác cá nhân, do giác quan thứ 6 của trẻ con nhạy bén hơn người lớn nên rất nhiều người khi xem nhà mới đều cho trẻ con đi trước, từ biểu hiện của đứa trẻ mà phán đoán khí tốt hay xấu. Nếu đứa trẻ vừa mới vào phòng đã gào lên đòi đi ra, làm thế nào cũng không chịu ở lại, điều này thể hiện ngôi nhà đó không phải nhà cát, không nên ở, nếu đứa trẻ ở trong nhà mãi mà không chịu đi thì ngôi nhà đó chắc chắn là nhà cát.
Có khi chúng ta cũng có thể dựa vào cảm giác của chính mình để phán đoán được khí của ngôi nhà. Khi chúng ta đi vào một ngôi nhà, bên trong mặc dù không có ngưòi nhưng dưòng như nghe thấy hoặc ngầm cảm nhận thấy bên trong hình như có rất nhiều người, rất nhộn nhịp, điều này cho thấy ngôi nhà này sau này chắc chắn sẽ rất thịnh vượng.
Ngoài ra, nếu chúng ta ở trong nhà mà dưòng như cảm nhận thấy một luồng khí đen tràn ngập trong phòng thì điều này rất hung, là điềm báo vận ngôi nhà này có xu hướng yếu đi, tai họa sắp ập đến. Tuy nhiên nếu trong luồng khí đen đó có một chút màu sắc khác thì có nghĩa là tai họa sẽ bị đẩy lui, hóa hung thành cát. Nếu chúng ta cảm thấy luồng khí có màu trắng tức là trong ngôi nhà này có thể sắp hoặc đã xảy ra chuyện chết chóc. Nếu luồng khí trắng có mang một chút màu sắc thì tức là trong chuyện tang tóc sẽ có chuyện mừng, là tượng trưng cho sự đau khổ và vui mừng cùng xuất hiện một lúc. Nếu là luồng khí màu vàng nhạt thì đó là khí cát, sẽ tăng tiền tài trong tương lai.
Thế nhưng trên thực tế hiếm khi các bạn có được cơ hội đó bởi nhiều yếu tố sau:
- Căn nhà hợp với chủ cũ khác tuổi tác của mình nên vấn đề phong thủy cũng có phần sai biệt.
- Sự thiết kế của căn nhà không phù hợp với nhu cầu hạnh phúc của gia đình trong mỗi giai đoạn cuộc đời.
Vì thế khi vào ở một căn nhà chúng ta phải biết rõ khuyết điểm của căn nhà và khoa phong thủy có tác dụng điều chỉnh hay hóa giải những khuyết điểm kể trên để cuộc sống ngày càng tươi đẹp hơn.
Phương cách hóa giải phong thuỷ thì nhiều và đa dạng phong phú. Thế nhưng để chọn lựa phương cách hóa giải phong thuỷ phù hợp với mức độ ảnh hưởng xấu để không gây ra những ảnh hưởng phụ khác đó là điều nên thận trọng. Và để hóa giải phong thủy của một căn nhà chúng ta cần phải nghiên cứu từng bước một.
Nghiên cứu toàn bộ khuyết điểm Phong thuỷ căn nhà:
Ðây là bước đầu tiên cũng là bước quan trọng nhất quyết định thành công hay thất bại trong việc hóa giải. Nếu công việc này làm không hiệu quả hay thiếu sót thì việc hóa giải chỉ nửa vời không đạt được kết quả mong muốn.
Nhiều người cho rằng gia chủ có một căn nhà hợp hướng là tốt đủ rồi, không cần quan tâm đến những điều khác. Ðây là một điều sai lạc vô cùng. Một căn nhà tốt phải hội đủ và hài hòa tất cả yếu tố phong thủy trong căn nhà chứ không chỉ riêng phương hướng là đủ. Ví dụ một căn nhà vượng Sơn vượng Hướng nhưng tọa tạc trên một mảnh đất tam giác, đất nghiêng trủng, hay là ở trong nhà có bếp lò, nhà cầu, cầu thang nằm sai vị trí các Cung (Linh Thần hoặc Chính Thần) thì cũng không tốt. Tóm lại có rất nhiều điều cần phải quan tâm đến khi muốn biết một căn nhà hợp phong thủy hay không.
Khi xem phong thủy một căn nhà là phải tổng hợp tất cả các yếu tố trong và ngoài căn nhà chứ không nên dựa vào một vài đặc điểm nào đó mà bỏ quên đặc điểm khác (Phong thuỷ Hình Thế và Phong thuỷ Lý Khí tương hợp).
Tìm biết hết tất cả khuyết điểm của căn nhà là một điều cần thiết, vì có như vậy chúng ta mới có thể hóa giải triệt để những ảnh hưởng xấu đối với căn nhà. Có thể tạm phân loại các khuyết điểm về phong thủy như sau :
- Hình thể nhà và đất: Do khuyết điểm của thế đất không bằng phẳng, hình dáng khuyết tật, nhà cửa xây dựng mất cân đối, các cung vị bát quái bị lồi lõm.
- Những tác hại xấu do bên ngoài: như là ngã ba đâm vào, đòn dông, cột đèn, cây cổ thụ, biển báo, độ dốc, ao hồ sông rạch, núi đồi cản trở.
- Âm dương (Linh & Chính): Một căn nhà gặp khuyết điểm về âm dương thường rơi vào trường hợp cô dương hay cô âm: Trường hợp cô dương (hay dương thịnh) như sáng quá, chói lòa, màu sắc rực rỡ, ồn ào, náo nhiệt. Hay cô âm (hay âm thịnh) như u tối, thiếu ánh sáng, trống vắng, thiếu sinh khí, màu sắc ảm đạm, âm u, ẩm mốc bẩn thỉu mang nhiều âm khí đều không tốt cho gia chủ, ảnh hưởng đến hạnh phúc vợ chồng.
- Những tác hại xấu từ bên trong: Thường do sự bài trí các công nămg không đúng phương vị (Cung) hoặc như là kê bàn, ghế, tủ, góc nhà tạo nhiều cạnh đâm vào cửa chính, phòng ngủ, xà nhà chắn ngang đầu… Những yếu tố xấu này thường ảnh hưởng đến sức khỏe của những người sống trong nhà.
- Ngũ hành: Một căn nhà phạm khuyết điểm về ngũ hành thường do việc bố trí phòng ốc hay trang trí không thích hợp như là phối trí màu sắc, bông hoa, cây cỏ, bàn thờ, bếp, bồn cá, lò sưởi không đúng phương vị. Nếu có sự xung khắc thường mang lại sự xung đột bất hòa trong cuộc sống.
- Phòng ốc: Sự bố trí phòng ốc trong căn nhà được hài hòa thuận vị là điều tốt đẹp. Thế nhưng nếu bố trí nghịch vị thì cần phải có sự hóa giải đúng mức và kịp thời. Ví dụ như cửa phòng ngủ trực diện với phòng tắm; phòng ngủ nằm ngay trên bếp, bàn thờ; cầu thang trổ ra cửa vv. Phòng tắm nằm ngay trên, phía trước cửa chính; cầu thang đổ ra cửa; ba cửa nhà thông thương; nhà hay phòng có hai lối rẽ; nền nhà cao thấp hay khuyết góc.
Nhu cầu hạnh phúc của gia đình:
Ðây là bước thứ hai cũng không kém phần quan trọng. Cần biết đâu là nhu cầu hạnh phúc của gia đình trong đại vận hiện tại thì mới có thể đề ra những biện pháp hóa giải hữu hiệu. Ví dụ: Một gia đình lớn tuổi nhu cầu hạnh phúc chính yếu nhất là sức khỏe và tuổi thọ. Nếu có hóa giải khuyết điểm căn nhà thì phải chọn lựa những biểu tượng mang tính hòa hợp tươi vui nhưng trầm mặc như là rùa, hồ lô, sáo trúc, tùng, tượng ngư tiều canh độc.
Trái lại vợ chồng son trẻ có làm ăn ở nhà, không muốn bị quấy nhiễu hạnh phúc có thể hóa giải phong thủy bằng những biểu tượng mang thể loại mạnh mẽ hơn như thú dữ, xương rồng, thanh kiếm, mũi tên sắc, súng đại bác.
Trường hợp vợ chồng gay cấn, xung đột mong muốn có hạnh phúc thì nên chọn những biểu tượng phong thủy như Long Phụng hòa minh, đôi chim tỉa cánh, bông hoa mang màu sắc tươi mát và thích hợp với ngũ hành của hai người.
Trở lại ví dụ đầu tiên, nếu căn nhà xấu đối với người lớn tuổi mà dùng các biểu tượng như thú dữ, hay vật dụng hung hãn, chẳng những không có tác dụng tốt lại còn gây thêm áp lực nặng nề hay tạo thêm cảm giác lo ngại cho người lớn tuổi.
Chúng ta có thể phân loại nhu cầu hạnh phúc của gia đình như sau : Tiền tài, hạnh phúc – sức khỏe, tuổi thọ – con cái (Phú - Quý - Gia Đạo). Tùy theo nhu cầu hạnh phúc của gia đình để chọn lựa những biểu tượng hóa giải thích hợp.
Phương cách hoá giải phong thuỷ:
Có nhiều phương cách hóa giải thế nhưng trước khi quyết định chọn lựa một phương cách hóa giải thích hợp cần phải quan tâm đến 2 điểm:
1) Khi dùng hóa giải tại cung nào nên chú ý đến ngũ hành của cung đó, để sử dụng các biểu tượng phong thủy thích hợp với hành của cung đó. Ví dụ khi muốn thay đổi hay phát triển công việc, thì công việc đầu tiên phải tăng cường cung Tài Lộc căn nhà, cung đó thuộc hành gì?, do Sao nào quản?. Do vậy những vật dụng tăng cường cung này phải tương sinh với Cung đó.
2) Khi hóa giải một khuyết điểm của căn nhà nên sử dụng đúng mức biện pháp hóa giải, để tránh những ảnh hưởng phụ do hóa giải quá độ gây ra. Ví dụ: khi hóa giải một phòng tắm xấu ở giữa nhà (trung cung) có thể che kiếng là đủ, chứ không nên vừa dùng kiếng, lại thêm cây kiểng hay dùng súng đại bác để bắn tiêu khuyết điểm này.
Ngoài hai yếu tố trên, chúng ta cũng không phải dễ dàng để chọn lựa một biểu tượng thích hợp vì rằng có nhiều biểu tượng hóa giải có cùng tác dụng thì biết chọn biểu tượng nào. Vì thế một biểu tượng hoàn hảo nhất để hóa giải phong thủy phải đạt được các tiêu chuẩn sau đây:
* Hợp Phong Thủy: Ðây là tiêu chuẩn quan yếu đầu tiên, cần phải đạt được. Trong trường hợp có nhiều biểu tượng có cùng tác dụng thì biết chọn lựa thứ nào. Ví dụ: để hóa giải một cái đòn dông đâm vào cửa chính chúng ta có thể dùng nhiều phương pháp như: trụ phun nước, dời cửa chính,... nhưng chúng ta chỉ nên chọn lựa một biểu tượng thích hợp nhất mà thôi. Do vậy trước khi quyết định chúng ta phải dựa đến tiêu chuẩn thứ hai.
* Hợp nhu cầu hạnh phúc gia đình: Như trên đã nói, đối với người lớn tuổi mong muốn bình an dĩ hòa vi quý thì nên chọn lựa những biểu tượng nhẹ nhàng, không gây tác hại cho người khác mà cũng có thể đạt mục đích yêu cầu của mình. Trở lại ví dụ trên, chúng ta có thể chọn lựa biện pháp trụ phun nước. Thay vì chúng ta chọn những biểu tượng công phá có thể gây hại cho người khác và cho chính mình mà thôi. Trường hợp có nhiều biểu tượng đạt được hai tiêu chuẩn trên thì biết chọn biểu tượng nào. Chúng ta nên chọn biểu tượng phù hợp với tiêu chuẩn thứ ba.
* Hợp thẩm mỹ, nhu cầu văn hóa gia đình: Ngoài những biểu tượng căn bản chúng ta cũng có thể sáng tạo những biểu tượng khác đạt được mục đích trên lại phù hợp với nhu cầu thẩm mỹ, hay địa vị gia chủ trong xã hội nữa. Ví dụ: ở khu vực kinh doanh người Mỹ có khi chúng ta dùng những vật dụng đầy thẩm mỹ khác chẳng hạn.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Ngọc Sương (##)
![]() |
![]() |
80, 1981, 1988, 1989, 2002, 2003.

Nhìn chung, nên rất trận trọng khi sử dụng các màu tương khắc với mệnh của bạn để có thể an tâm khi sử dụng xe. Dù sao, quan trọng hơn vẫn là việc tập trung khi lái xe, không sử dụng rượu bia và lái xe đúng luật, còn nếu không thì dù có sử dụng xe có màu phù hợp đến mấy bạn cũng phải nhận những hậu quả đáng tiếc.
![]() |
Tiêu diệt tiểu nhân với các mẹo phong thủy đơn giản![]() |
![]() |
| ► Xem phong thủy để tiến hành mọi việc đều thuận lợi |
Những người tuổi Thân thường thông minh, nhanh nhẹn, tháo vát và hoạt bát. Bất cứ lĩnh vực nào họ tham gia cũng đều đạt được thành công lớn, họ ít khi gặp kỳ phùng địch thủ. Do đó, trên thương trường, mọi người đều đánh giá cao các doanh nhân tuổi Thân. Chúng ta cùng tìm hiểu bí quyết thành công của họ là gì nhé?
1./Nhận diện doanh nhân tuổi Thân
Doanh nhân tuổi Thân là những người sinh năm 1944, 1956, 1968, 1980, 1992... Họ thông minh, nhanh nhẹn, tháo vát, hoạt bát. Bất cứ lĩnh vực nào họ tham gia cũng đều đạt kết quả lớn, họ ít khi gặp kỳ phùng địch thủ.
Họ cũng là người có tính kiên định dù phải đối mặt với tình thế khó khăn, nguy hiểm, nhưng không hề dao động mà tiến hành sự việc đến cùng. Họ ưa tranh đấu, nhưng lại rất bí mật kế hoạch hành động của bản thân, khiến đối phương dễ bị bất ngờ. Họ là những người đa tài, đa nghệ và hoạt động xã hội xuất sắc. Khi tiến hành công việc, họ luôn có phương pháp tiến hành hợp lý mà hiệu quả cao. Họ là những người sòng phẳng trong cuộc sống.
Do bản tính thông minh tài giỏi, nên người Thân cũng có lúc chủ quan, nên cuộc sống và tình yêu cũng phải gặp thất bại, vận hạn lớn.
Trong số 12 con giáp, họ hợp với người tuổi Tý, Thìn; không hợp với người Tỵ.

Lá số tử vi 2016 cho rằng, người Thân cá tính có khinh suất nhưng có tài, tiền của từ bốn phía quy tụ lại; thường dễ xuất ngoại, làm việc liên miên.
Nếu là nữ thì cả đời sung túc, giúp chồng.
Nam giới suốt đời lao lực, quá 50 tuổi mới giàu có.
2./Doanh nghiệp sinh tuổi Thân (Doanh nghiệp được thành lập vào năm Thân)
Công ty ôtô General: Thành lập năm 1908 - Mậu Thân, là một công ty chế tạo ôtô lớn nhất thế giới. Năm 1991 có số vốn 180 tỷ 300 triệu USD, lợi nhuận thu được trên 1 tỷ USD. Năm 2005, doanh số bán ra 3 tỷ USD, lợi nhuận 1 tỷ 200 triệu USD.
Công ty Hitachi: Thành lập năm 1932 - Nhâm Thân, là công ty sản xuất động cơ tổng hợp lớn nhất nước Nhật. Năm 1991, có số vốn 61 tỷ 724 triệu USD, doanh số bán ra 56 tỷ 12 triệu USD; lãi ròng thu danh dự là 1 tỷ 665 triệu USD. Năm 2005, lãi ròng thu danh dự là 1 tỷ 800 triệu USD.
Công ty điện báo điện thoại quốc tế: Thành lập năm 1920 - Canh Thân, là công ty liên hợp tổng hợp lớn nhất nước Mỹ hiện nay. Năm 1991 có số vốn 49 tỷ 40 triệu USD. Năm 2005, số vốn tới 62 tỷ USD. Mặt hàng sản xuất chính là thiết bị vô tuyến và cung ứng phục vụ tín hiệu vô tuyến, các sản phẩm điện tử thông tin, sản phẩm công trình, hàng tiêu dùng và đồ dùng bảo hiểm...
3./ Bí quyết thành công của doanh nhân tuổi Thân.
a) Nhất biến vạn hoá.
Doanh nhân Hoàng Tuấn (Giáp Thân - 1944) khi 18 tuổi từ Trung Quốc lục địa sang Hong Kong với hai bàn tay trắng nay thành tỷ phú.
Năm 1974, anh bước vào kinh doanh hải sản tươi, kiêm quay nướng cá, thịt sấy khô. Học được kỹ xảo làm viên thịt nướng khô, anh biến hoá thành viên cá mực đặc biệt được khách hàng rất ưa chuộng.
Năm 1975, cửa hàng của anh mang hiệu " Đại vương cá mực", sau đó phát triển nhiều cửa hàng khắp Hong Kong, lợi nhuận thu về rất cao.
Năm 1984, phán đoán nhịp độ kinh doanh và nhịp sống ở Hong Kong sẽ rất cao, anh đưa ra ý tưởng kinh doanh cơm ăn nhanh, thế là kiểu cơm hộp - ăn kiểu Tây, thức ăn Trung Quốc ra đời. Với kiểu ăn tuỳ ý gọn nhẹ bất kỳ nơi nào, nên bán ra rất chạy, lợi nhuận rất cao.
Chưa dừng ở đây, anh còn sáng chế ra "Cơm rang Trung Hoa", đem kinh doanh thu lợi rất lớn.

b) Đi trước người một bước.
Doanh nhân Devis Thomas (Nhâm Thân – 1932), có tính cách tranh cường, chỉ sau 11 năm, từ một cửa hàng ăn, ông phát triển thành 200 khách sạn, doanh thu trên tỷ USD, bí quyết thành công là "nhanh tay đi trước".
Vào thập kỷ 60 thế kỷ 20, ông học được kỹ thuật gà quay, đem ra kinh doanh khắp mọi cửa hàng ăn của mình. Lại đem món ăn này quảng cáo rầm rộ, kết quả từ 4 cửa hàng phát triển thành 8 cửa hiệu.
Năm 1986, ông đem bản quyền sáng chế gà quay bán cho công ty mẹ, bản thân đi vào kinh doanh khách sạn. Lúc này Davis Thomas thành tỷ phú 35 tuổi .
c) Ôm ấp chí lớn.
Doanh nhân Erkelstun (Bính Thân – 1956) ở Bruney ở thập kỷ 50 thế kỷ 20 chỉ là người tiêu thụ môtô xe đạp, sau khi phát tài, ông có chí thành lập đội đua ôtô công thức I.
Năm 1971, ông chen chân vào Hội chế tạo ôtô công thức I. Phát hiện thấy quảng đại quần chúng xem truyền hình cuộc đua ôtô này, ông đã giành quyền quảng cáo trên truyền hình đua ôtô công thức I, nên thu nhập hàng năm hàng tỷ USD.

d) Đối ngoại có tính thuyết phục.
Tổng giám đốc công ty dược Muke (Bính Thân – 1956) có sức thuyết phục cao về tiêu thụ sản phẩm, bằng cách cho nhân viên bán hàng khi gặp bác sĩ bao giờ cũng mang theo máy tính cá nhân có chương trình giới thiệu các loại y dược chữa bệnh hiệu quả.
Năm 1988, công ty đã cung cấp miễn phí cho dân nghèo vùng châu Phi, Trung Đông, Nam Mỹ để giảm bớt chứng mù thuốc và qua đó quảng cáo thương hiệu của mình. Sau việc này, sản phẩm của công ty tiêu thụ nhiều và nhanh trên thị trường thế giới.
e) Chú trọng sáng chế phát minh.
Bà Lansing (Giáp Thân - 1944), năm 1980 được bổ nhiệm làm tổng giám đốc hãng sản xuất phim lớn Fors, do năm 1979, bà đã thành công cho ra đời những bộ phim nhiều tập ăn khách. Bằng sáng tạo trong kịch trường, bà đã tổ chức cho ra đời bộ phim "Sự tranh chấp của vợ chồng Claymuk", phim giành 5 giải thưởng Osca.
Tổng giám đốc công ty dược Muke, như đã đề cập bên trên, cũng rất chú ý đến phát minh sáng chế. Hàng năm đã đầu tư tới 460 triệu USD cho nghiên cứu khoa học. Năm 1998, con số này đã lên tới 755 triệu USD. Với việc làm này, công ty đã sản xuất ra nhiều biệt dược mới, mỗi loại khi tiêu thụ đạt doanh số hơn 100 triệu USD. Có người nói, công ty ông là "Vườn truờng đại học trong thiên đường".
4./ Chọn đối tác kinh doanh của doanh nhân tuổi Thân.
Tử vi 2016 của doanh nhân tuổi Thân khuyên họ nên chọn các đối tác kinh doanh, làm ăn sang năm mới như sau:

Doanh nhân Giáp Thân:
Nam giới nên chọn Giáp Thân, Bính Tuất, Đinh Sửu;
Nữ giới nên chọn Giáp Thân, Mậu Tý, Canh Dần.
Doanh nhân Bính Thân:
Nam giới và nữ giới đều nên chọn Đinh Dậu, Canh Tý, Quý Mão.
Doanh nhân Mậu Thân:
Nam giới nên chọn Kỷ Dậu, Quý Sửu, ất Mão;
Nữ giới nên chọn Kỷ Dậu, Quý Sửu, Đinh Mão, Đinh Mùi, Ất Mão.
Doanh nhân Canh Thân:
Nam giới nên chọn Nhâm Tuất, Mậu Thìn, Kỷ Dậu;
Nữ giới nên chọn Nhâm Tuất, Ất Sửu, Mậu Thìn.
Doanh nhân Nhâm Thân:
Nam giới và nữ giới đều nên chọn Nhâm Thân, Giáp Tuất, Mậu Dần.