Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,...   Click to listen highlighted text! Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,... Powered By DVMS co.,ltd
Kính mời quý khách like fanpage ủng hộ Vạn Sự !

Vạn Sự

Vì sao nhất định phải cưới người tuổi Tỵ làm vợ?

Cưới người tuổi Tỵ làm vợ: Ở người con gái tuổi Tỵ hội tụ đầy đủ những yếu tố để có thể trở thành người vợ hiền mẹ đảm, nàng dâu hiếu thảo trong gia đình.
Vì sao nhất định phải cưới người tuổi Tỵ làm vợ?

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Ở người con gái tuổi Tỵ hội tụ đầy đủ những yếu tố để có thể trở thành người vợ hiền mẹ đảm, nàng dâu hiếu thảo trong gia đình.


► Mời các bạn: Bói tình yêu để biết nhân duyên của hai người

Không giống như những cô gái tuổi Ngọ và tuổi Thân mạnh mẽ, thích bay nhảy, các nàng tuổi Tỵ có nét đằm thắm, dịu dàng như hồ nước mùa thu. Họ luôn nhẹ nhàng, kín đáo và biết vun vén cho hạnh phúc gia đình. Kết hôn với người tuổi Tỵ là các ông chồng đã sở hữu cả kho báu trong nhà.   Vẻ ngoài duyên dáng, quyễn rũ
 
Đa phần những cô gái xinh đẹp, nổi bật thường sinh vào năm Tỵ, nên nếu bạn sinh năm Tỵ, chắc hẳn bạn sẽ có một vận mệnh tốt đẹp. Các nàng tuổi Tỵ tự tin, ung dung, thong thả luôn toát lên vẻ đẹp quyến rũ, để lại ấn tượng tốt đẹp cho người đối diện.
 
Bên cạnh đó, một người vợ biết cách ăn mặc, luôn khiến mình xinh đẹp sẽ giữ chồng giỏi hơn các cô gái khác. Vì thế, phần đông các cô gái tuổi Tỵ khi đã lập gia đình đều khiến các cô gái khác phải mơ ước vì gia đình hạnh phúc, chồng chiều chuộng, yêu thương.

Vi sao nhat dinh phai cuoi nguoi tuoi Ty lam vo hinh anh
Con gái tuổi Tỵ có vẻ ngoài duyên dáng, tính cách dịu dàng

Tính cách điềm đạm, dịu dàng và đặt gia đình lên trên hết
 
Là người con gái dịu dàng, kín đáo, yêu hòa bình và luôn đặt gia đình lên trên tất cả, nên cuộc sống của cô gái tuổi Tỵ vô cùng tĩnh tại và an lành. Nếu chàng trai nào may mắn có được người vợ như họ, bạn hãy yên tâm rằng ngôi nhà của bạn lúc nào cũng đầm ấm, hạnh phúc.    Khi yêu, người con gái tuổi Tỵ sẽ khiến bạn biết quan tâm và sống tình cảm hơn với gia đình. Cô ấy luôn làm cho bạn hiểu, trên đời này, gia đình là số 1. Đến khi cưới người tuổi Tỵ làm vợ, người con gái tuổi Tỵ lại càng dành nhiều thời gian cho gia đình, chăm lo tỉ mỉ đến tất cả mọi người nên cuộc sống gia đình luôn tràn ngập yêu thương và hạnh phúc.   Người phụ nữ thông thái, giao tiếp khéo léo, thấu tình đạt lí   Được trời phú cho sự thông thái và hiểu biết, con gái tuổi Tỵ biết trân trọng giá trị cốt lõi của cuộc sống, đó chính là hạnh phúc chứ không phải là những thứ vật chất phù du. Họ không bao giờ phải phiền muộn vì thiếu tiền mà luôn cảm thấy hạnh phúc khi có đầy đủ mọi thứ mình cần. Họ biết cách chi tiêu tiết kiệm, đúng mực, giúp người chồng của mình vô cùng yên tâm khi có một người vợ đảm.
 
Ngoài ra, con gái tuổi Tỵ nói năng chậm rãi, từ tốn. Họ thích suy tư, tính toán và có thể trình bày quan điểm của mình một cách hệ thống, ít khi bốc đồng mà nói năng rất cẩn thận, nho nhã và lịch sự. Đặc biệt trong gia đình, con gái tuổi Tỵ luôn khéo léo khi ứng xử với bố mẹ chồng và gia đình chồng. Cưới người tuổi Tỵ làm vợ, nếu cô ấy làm sai điều gì, thái độ rất mềm mỏng và có ý thức sửa sai làm đẹp lòng người đối diện. 
 
Theo Ngày nay    
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Vì sao nhất định phải cưới người tuổi Tỵ làm vợ?

Vì đâu có nhiều cách an sao khác nhau trong Tử Vi?

Bài viết vì đâu có nhiều cách an sao khác nhau trong tử vi của tác giả Ân Quang. Trong bài viết này tác giả Ân Quang đã làm sáng tỏ được câu hỏi này.
Vì đâu có nhiều cách an sao khác nhau trong Tử Vi?

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Bài của Ân Quang

- “Vì Tử Vi bị thất truyền, tam sao thất bản”

Đó là một câu trả lời buông xuôi, không rọi được một tia sáng nào, không đưa ra được một quan niệm nào làm sáng tỏ vấn đề.

- “Tôi không dám bàn đến cách an sao trong các sách khác, chỉ biết rằng theo sách gia truyền và kinh nghiệm của tôi, thì cách này đúng nhất”

Đó lại là một câu trả lời chủ quan, tự mãn, không cần nghiên cứu thêm và cũng chẳng đưa ra một quan niệm nào làm sáng tỏ vấn đề.

Không riêng gì cách an bộ sao Tứ Hóa (Lộc, Quyền, Khoa, Kỵ), không riêng gì cách tính vị trí đắc địa, hãm địa của các sao, mới có lắm cách trình bày khác nhau.

Trong nhiều lá số bằng chữ Hán, lập thành bởi các cụ thuộc nhiều thế hệ trước, mà chúng tôi có dịp sưu tầm được, còn thấy có thêm một số Thần Sát dùng trong quẻ Dịch như là Quán Sách (thông suốt, nứt ra), Hồng Diễm (chủ cực dâm). Lại có lắm lá số an sao Thiên Đức đồng cung với Thiên Hư, Nguyệt Đức đồng cung với Hồng Loan, đó là theo phép tính cách Thần Sát trong quẻ Dịch. Một số lớn các sao trong Tử Vi là những Thần Sát được dùng trong môn Bốc Dịch từ trước khi có Tử Vi.

Chúng tôi cũng đã gặp trong một số lá Tử Vi trước kia, và mới đây trong một cuốn sách Tử Vi từ Đài Loan đã không an vòng sao Thái Tuế, Thiên Không, Tang Môn… mà lại an vòng Tướng Tinh, Phan Yên, Tuế Dịch, Tức Thần, Hoa Cái, Kiếp Sát, Tai Sát, Thiên Sát, Chỉ Bối, Hàm Trì, Nguyệt Sát, Vong Thần. Tuổi Thân, Tý, Thìn khởi Tướng Tinh tại Tý; Dần, Ngọ, Tuất khởi Tướng Tinh tại Ngọ; Tỵ, Dậu, Sửu khởi Tướng Tinh tại Dậu và Hợi, Mão, Mùi thì Tướng Tinh tại Mão, cứ thế đi xuôi 12 cung. Dù là vong Thái Tuế hay vòng Tướng Tinh thì cũng là những Thần Sát đã có từ trước trong Bốc Dịch.

Lại còn lắm cách tính Lưu Nguyệt, Lưu Nhật khác nhau.

Có lắm cách tính khác nhau như vậy thì cách nào là đúng? Loạn Tử Vi hay sao?

Chúng ta không thể vội vã đưa ra một câu trả lời buông xuôi, hoặc một câu trả lời chủ quan: Sách của tôi đúng nhất!

Chúng ta cần bình tâm, kiên nhẫn, tìm hiểu, phân tích qua từng giai đoạn để, nếu không đi đến một giải quyết trọn vẹn, thì cũng có một quan niệm giải tỏa mọi thắc mắc về vấn đề này.

- Xin lấy Khoa Học ngày nay làm thí dụ dẫn chứng.

Mỹ và Nga cùng chạy đua trong việc thám hiểm, chinh phục không gian. Cùng thời điểm từ những định lý căn bản về Toán học, Vật lý, nhưng chương trình hành động có khác nhau, nước này chủ trương phòng một hỏa tiễn thật to vào không gian, nước kia lại chủ trương làm một trạm không gian quay xung quanh quả đất trước đã. Những hỏa tiễn, những phi thuyền cũng được chế tạo khác nhau. Những thành quả mà Mỹ, Nga đã đạt được, thật to lớn với nhân loại hiện nay. Nhưng, trước vũ trụ bao la, trước không gian vô tận thì những thành quả ấy cũng chưa thấm vào đâu. Cả Nga lẫn Mỹ đã có ai đi đến tuyệt đích của sự khám phá vũ trụ? Mặc dù là trong từng giai đoạn, có lúc quốc gia này thành công hơn quốc gia kia, nhưng trong đại cuộc thì đã có ai đi đến tuyệt đích của việc thám hiểm không gian đâu?

Vì vậy, chúng ta không thể vội dừng chân nhìn vào một vài thành quả giai đoạn, rồi vội vã phê phán rằng chương trình của quốc gia này, hỏa tiễn nọ, phi thuyền kia, là hoàn hảo, có thể đưa con người đến tuyệt đích của việc thám hiểm không gian. Nguyên lý căn bản vẫn giống nhau, nhưng giải pháp có khác nhau. Nào có ai đã đến tuyệt đích để biết giải pháp nào hay hơn.

- Quay về với Tử Vi.

Tử Vi có từ đời nhà Tống.

Triệu Khuông Dẫn xưng Hoàng Đế và đặt tên nước là Tống. Vào năm 950 sau Tây Lịch. Trần Đoàn đánh cờ với Triệu Khuông Dẫn, lúc Triệu Khuông Dẫn chưa xưng Hoàng Đế. Do đó, có thể luận là Tử Vi có trước đây hơn 1930 năm.

Hàng ngàn năm trước khi Tử Vi ra đời, đã có những khoa bói toán để luận sự cát hung của thời vận.

Về đời Ân, 1388 năm trước Tây Lịch, người Trung Hoa đã dùng mai rùa, xương thú, que gỗ để bồi cát hung. Qua đời nhà Chu, 1134 năm trước Tây Lịch, thì việc Bói Dịch đã được ghi rõ vào sách vở.

Những khoa bói toán của Trung Hoa xưa kia đều dựa trên những nguyên lý Âm Dương, Ngũ Hành, Bát Quái, Can Chi…

Những khoa bói toán, luận đoán thời vận, số mệnh càng ngày càng được bổ túc, và ngày giờ sinh xưa nhất, lâu đời nhất được ghi lại là giờ sinh của Đức Khổng Tử, Khổng Tử sinh khoảng 551 năm trước Tây Lịch, rồi đến ngày giờ sinh của Nhan Hồi.

Những ngày giờ sinh ấy được ghi lại tỷ mỷ, chắc không nhằm một mục đích duy nhất là kỷ niệm sinh nhật, mà còn có nhiều mục đích khác.

Tuy nhiên phải qua đến đời nhà Hán, 206 năm trước Tây lịch, mới thấy ghi lại ngày giờ sinh của nhiều nhân vật như Trương Lương, Hàn Tín, Tiêu Hà, Hạng Vũ, Lã Hậu, Quang Vũ, Giả Nghị, Chu Bột, v.v…

Nếu nho học bị nhà Tần diệt, thì qua đời nhà Hán lại trở nên thịnh. Nho Y và Lý Số là hai trọng điểm của nền nho học xưa kia. Nho Y là cái học thuộc về nhân sinh và Lý Số là cái học thuộc về vũ trụ.

Lý Số là một khía cạnh của Nho học, mà Nho học đã thịnh vào đời nhà Hán thì Lý Số cũng thịnh vào đời nhà Hán vậy.

Nhà hán bắt đầu năm 206 trước Tây Lịch, tức là trước Trần Đoàn 1156 năm.

Đến đây, chúng ta thấy rằng Trần Đoàn không phải là cá nhân độc nhất phát minh ra khoa Tử Vi.

Trần Đoàn là người có công nhiều trong việc lập ra khoa Tử Vi, chứ không phải Trần Đoàn “sáng tạo” ra Tử Vi. Chúng ta phải rời bỏ cái tập quán suy tôn cá nhân, để óc thể có một cái nhìn khoa học hơn vào vấn đề. Chúng ta không thể quan niệm một Trần Đoàn tiên ông, sau nhiều năm tu luyện, đến một phút đắc đạo nào đó bỗng đứng dậy, vươn vai, vuốt râu một cái rồi … lập ra khoa Tử Vi (từ không bỗng nhiên “sáng tạo” thành có).

Trước Trần Đoàn đã có nhiều học giả nghiên cứu Lý Số, sau Trần Đoàn cũng còn nhiều học giả nghiên cứu, bổ túc cho Tử Vi. Tiếc rằng chỉ vì tập quán suy tôn cá nhân mà tên tuổi các học giả về sau, bổ túc cho Tử Vi, lại không được nhắc đến như Huỳnh Kim Dã Hạc, Ma Thị, Thiện Can Tử, v.v…

- Chỉ vì hiểu lầm rằng có độc nhất cá nhân Trần Đoàn “sáng tạo” ra Tử Vi, cho nên, khi gặp những cách an sao, cách tính khác nhau, nhiều người đã vội vã có thái độ trả lời buông xuôi cho rằng “Tử Vi bị thất truyền tam sao thất bản” hoặc là lại có một thái độ trả lời chủ quan, tự mãn “Tôi không dám bàn đến cách an sao trong các sách khác, chỉ biết rằng theo cách gia truyền và kinh nghiệm của tôi, thì cách này đúng nhất”.

- Tử vi cũng như những khoa học khác của Trung Hoa, luận về số mệnh đều đặt trên những nguyên lý căn bản về Âm Dương, Can Chi, Ngũ Hành, Bát Quái, trên sự vận chuyển và ảnh hưởng của các thiên thể trong vũ trụ. Những nguyên lý căn bản vẫn giống nhau, nhưng có nhiều học giả nghiên cứu, có nhiều phương pháp chi tiết khác nhau. Chưa ai đạt đến cái nguồn gốc sâu xa của vũ trụ, cũng chưa ai vén hết màn bí mật từng tiểu tiết của vận số mỗi người, cho nên chugns ta không thể vội chủ quan đề cao sách gia truyền này đúng nhất cách tính kia đạt đến tuyệt đích.

Dù rằng Tử Vi hay Tử Bình, hay tính bằng cách gì chăng nữa, đã có khoa học nào tính ra sự sai thiệt về vận số của những người có cùng một ngày giờ sinh. Khi chưa luận được sự sai biệt về vận số của những người có cùng ngày giờ sinh, thì chúng ta không thể vội đề cao rằng khoa học này, cách tính này đã đến tuyệt đích.

Cũng như trong Khoa học ngày nay, đã có ai đi đến tuyệt đích của sự thám hiểm không gian để có thể phê phán về chương trình không gian của Mỹ và của Nga, chương trình nào hay hơn. Những nguyên tắc căn bản về Toán học, Vật lý vẫn giống nhau, nhưng chỉ tiếc chương trình có khác nhau. Nào có phải là vì loạn Toán học, loạn Vật lý mà có những chương trình không gian khác nhau. Chúng ta cần bình tâm chiêm nghiệm, thành công được đến đâu thì biết đến đó. Không vì một sự thành công giai đoạn mà đi đến chủ quan.

Trở về với Tử Vi, những nguyên lý Âm Dương, Can Chi, Ngũ Hành, Bát Quái, quan niệm căn bản về các vị sao vẫn giống nhau, thí dụ như không có học giả Tử Vi nào luận rằng Địa Kiếp là thiện tinh. Nhưng từ đời nhà Ân, đến đời nhà Tống và nhiều đời sau đó, trải qua hàng ngàn năm, đã có nhiều học giả, nhiều vị tu luyện, tìm ra những chi tiết, bổ túc cho Lý Số. Nguyên lý căn bản vẫn giống nhau, nhưng giải pháp, chi tiết có khác nhau, chứ nào có phải vì loạn Tử Vi, hay vì bị thất truyền mà có nhiều cách tính, nhiều cách an sao, tính thêm các Thần Sát khác nhau. Mỗi học giả đều có kinh nghiệm hoặc luận thuyết của họ, chúng ta cần bình tâm chiêm nghiệm, chưa đi đến tuyệt đích trong việc vén màn bí mật số mạng, chưa dùng khoa học nào để luận ra được sự sai biệt về vận số của những người cùng ngày giờ sinh, thì không thể vội suy tôn khoa học này hoặc phủ nhận cách tính kia.

Đó là chúng tôi tạm mượn khoa học ngày nay để trình bày lý do vì đâu có nhiều cách an sao khác nhau trong Tử Vi.

Thực ra, khoa học ngày nay khác Lý học ngày xưa rất xa ở cứu cánh. Thoạt nhìn thì thấy Tử Vi có vẻ như một môn Toán học, vì có những tài liệu Thiên Văn toán học của người xưa, vì các bộ sao vận chuyển theo những quy tắc nhất định, vì có sự ứng nghiệm khi áp dụng những bộ sao để đoán về tính tình, vận số của một người…

Nhưng khoa học ngày ngay khác Lý học ngày xưa ở điểm sau đây: Khoa học ngày nay tìm cách khắc phục ngoại vật, chinh phục không gian, chế biến ngoại vật để phục vụ bản ngã. Lý học ngày xưa chỉ nhằm mục đích khám phá tương đối, chứ không mổ xẻ đến tận cùng; tìm hiểu những quy luật của vũ trụ chứ không có khát vọng chinh phục ngoại vật. Tìm hiểu những quy luật của vũ trụ, để tổ chức phần nhân sinh cho thuận theo Thiên Lý, để “Thuận Thiên giả Tồn” chứ không chinh phục cái gì cả. Sống theo Thiên Lý, tu thân để đạt đến sự Thái Hòa, Hòa Đồng với vũ trụ.

Chính vì cái nhân sinh quan ấy mà trong khởi điểm, tuy rằng Tử Vi được đặt trên một căn bản Toán Học, Thiên Văn, nhưng Tử Vi không làm cái công việc toán học thuần túy, không nhằm chế biến ngoại vật để chiều theo bản ngã, không lấy bản ngã làm trọng điểm. Vì thế mà cần xét đến các yếu tố tương quan khi nghiên cứu một lá số.

Tử Vi, tuy đặt trên một căn bản Toán Học Thiên Văn, nhưng không làm công việc toán học thuần túy, không nhằm mục đích chế phục ngoại vật, mà lại nhằm mục đích phục vụ một nhân sinh quan Hòa Đồng với Vũ Trụ.

Chúng ta không thể khăng khăng giữ một nhân sinh quan này, để nghiên cứu một khoa học nọ. Nếu cứ khăng khăng giữ lấy cái nhân sinh quan chế phục ngoại vật để đi nghiên cứu một khoa học hòa đồng vũ trụ, thuận theo thiên lý, thì người nghiên cứu đã đi lạc hướng chẳng khác nào cứ uống thật nhiều kích thích tố, mà lại mong cho tâm hồn bình an.

Theo Tạp Chí Khoa Học Huyền Bí


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Vì đâu có nhiều cách an sao khác nhau trong Tử Vi?

Con trai mặt chữ điền thì sao?

Theo quan điểm của nhân tướng học thì những người đàn ông hay con trai sở hữu khuôn mặt hình chữ điền thường là những người cương nghị, quyết đoán và tính tự lập rất cao.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Theo quan điểm của nhân tướng học thì những người đàn ông hay con trai sở hữu khuôn mặt hình chữ điền thường là những người cương nghị, quyết đoán và tính tự lập rất cao. Vậy những khuôn mặt chữ điền là như thế nào? Con trai có mặt chữ điền có tính cách và quan điểm tình yêu ra sao? Hãy cùng Phong thủy số tìm hiểu về vấn đề này.

Con trai mặt chữ điền thì sao?

Theo nhân tướng học thì mỗi người sở hữu một hình dạng khuôn mặt khác nhau: Có người sở hữu khuôn mặt trái xoan, có người lại sở hữu khuôn mặt chữ điền, hay mặt hình ô -val, mặt hình trái tim,....Phong thủy số xin chia sẻ thông tin về nhân tướng con trai mặt chữ điền theo quan niệm nhân tướng học để các bạn cùng chiêm nghiệm.

Mặt chữ điền là như thế nào?

Hầu hết con trai mặt chữ điền có những đặc điểm là trán cao, rộng, cằm hơn nhô ra, độ dài và rộng của cằm tương đương với phần rái. Nếu có thêm hàm én, mày ngài ( râu quai nón, lông mày rậm) thì là người quý tướng, có vận khí cuộc đời tốt.

Khuôn mặt chữ điền là khuôn mặt vuông vức, cương nghị mà có phần đầy đặn. Những người con trai có gương mặt chữ điền thường là người có quý tướng, tương lai sáng lạn. Họ thường có sự nghiệp lớn.

Con trai mặt chữ điền

Đối với con trai mặt chữ điền thì đây là không mặt quý tướng. Theo ngũ hành mệnh thì khuôn mặt này thuộc ngũ hành mệnh Kim, đại diện cho sự chín chắn, quyết đoán, những người này thường có vận số rất tốt.

Những người mặt chữ điền thường có trí thực hơn người, lại giỏi giang toàn diện. Nhất là theo nghề võ như quân đội hay sĩ quan, vệ sĩ,...

Nhiều nhà nhân tướng học nhận đinh, con trai mặt chữ điền thì trung thực và giàu sang. Nhưng một trong số họ cũng là những kẻ trộm nổi tiếng hay những kẻ haker có tài năng.

Trên đây là những ý nghĩa về nhân tướng học của người con trai mặt chữ điền. Để xem thêm những bài viết khác, có thể tham khảo tại: Xem bói  - Phong thủy số.

Những cô gái có gương mặt phúc hậu nên lấy làm vợ

Xem vận mệnh của người phụ nữ mặt vuông

“Điểm danh” các Nốt ruồi phú quý ở đàn ông

Nốt ruồi có lông là tốt hay xấu

+ Những đường chỉ tay của bạn nói lên điều gì

+ Xem bói nốt ruồi đoán tương lai, vận mệnh

 


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Con trai mặt chữ điền thì sao?

Xem tướng nốt ruồi để biết tình trạng sức khỏe –

Xưa đến nay có rất nhiều người thông qua xem tướng để biết vận mệnh của một người trong đó có xem tướng nốt ruồi. Nó không những báo hiệu vận mệnh tương lai mà tướng nốt ruồi còn có ý nghĩa dự báo về sức khỏe. Chúng ta phải chú ý nốt ruồi ở trán tính

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Xưa đến nay có rất nhiều người thông qua xem tướng để biết vận mệnh của một người trong đó có xem tướng nốt ruồi. Nó không những báo hiệu vận mệnh tương lai mà tướng nốt ruồi còn có ý nghĩa dự báo về sức khỏe. Chúng ta phải chú ý nốt ruồi ở trán tính tình nóng nảy, dễ có bệnh về tim; nốt ruồi ở mũi thì nóng dạ dày, hệ tiêu hóa không tốt… Củ thể như thế nào chúng ta cùng xem tướng nốt ruồi để biết tình trạng sức khỏe của bạn như thế nào để kịp chữa trị nhé!

Nội dung

  • 1 Xem tướng nốt ruồi để biết tình trạng sức khỏe
    • 1.1 Má phải
    • 1.2 Cánh mũi
    • 1.3 Giữa hai lông mày
    • 1.4 Mũi
    • 1.5 Trán
    • 1.6 Má trái
    • 1.7 Xung quanh môi
    • 1.8 Cằm

Xem tướng nốt ruồi để biết tình trạng sức khỏe

Má phải

Chức năng phổi hoạt động không bình thường, cần lưu ý đến hệ hô hấp, hạn chế ăn xoài, khoai môn, hải sản và những thức ăn dễ gây dị ứng.

Cánh mũi

Liên quan đến chức năng của buồng trứng và cơ quan sinh sản, hạn chế sống phóng túng hoặc kiêng khem quá mức, cần ra ngoài hít thở không khí trong lành nhiều hơn.

2-3001-1414381683

Giữa hai lông mày

Dễ đau thắt ngực, rối loạn nhịp tim, tim đập nhanh, hạn chế vận động mạnh, tránh hút thuốc, đồ ăn cay.

Mũi

Nóng dạ dày, hệ tiêu hóa hoạt động không bình thường, cần hạn chế ăn đồ lạnh.

Trán

Áp lực nhiều, tính tình nóng nảy, dễ tạo nên các vấn đề về tim mạch và hệ tuần hoàn máu, nên ngủ sớm và uống nhiều nước hơn.

Má trái

Chức năng gan hoạt động không bình thường, cần lưu ý đến những thói quen hàng ngày, duy trì tâm trạng vui vẻ, cần hít thở không khí trong lành, tránh các tụ điểm quá náo nhiệt, ồn ào.

1-4831-1414381683

Xung quanh môi

Dễ táo bón, cơ thể bên trong tích tụ nhiều độc tố, nên ăn nhiều hoa quả và rau xanh, cần điều chỉnh lại thói quen ăn uống.

Cằm

Rối loạn nội tiết tố, cần hạn chế ăn đồ lạnh.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem tướng nốt ruồi để biết tình trạng sức khỏe –

Mơ thấy rồng sẽ gặp may mắn

Từ xưa, rồng được coi là linh vật, tượng trưng cho sự thiêng liêng, cao quý. Chính vì vậy, mơ thấy rồng thường là điềm báo may mắn, tốt lành.
Mơ thấy rồng sẽ gặp may mắn

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

  Từ xưa, rồng được coi là linh vật, tượng trưng cho sự thiêng liêng, cao quý. Chính vì vậy, mơ thấy rồng thường là điềm báo may mắn, tốt lành.

Mo thay rong se gap may man hinh anh
Mơ thấy rồng là điềm báo may mắn, tốt lành

Mơ thấy rồng chắn ngang qua cửa, thường là điềm vượng tài.

Mơ thấy rồng bay qua ngưỡng cửa, thường là điềm được vật quý.

Mơ thấy rồng vào bếp, thường là điềm được thăng chức.

Mơ thấy cưỡi rồng vào chợ, thường là điềm được quyền chức cao.

Mơ thấy cưỡi rồng lên núi, thường là điềm mọi kế hoạch đều thực hiện được.

Mơ thấy rồng bay lên trời, thường là điềm quyền cao chức trọng, nổi danh thiên hạ.

Mơ thấy rồng nằm dưới nước, thường là điềm thành công một cách dễ dàng.

Mơ thấy rồng nằm trên cạn, thường là điềm tài lộc nhiều nhưng địa vị, chức tước không vững.

Theo Giải mã giấc mơ


























Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Mơ thấy rồng sẽ gặp may mắn

Vị trí đặt vật phẩm phong thủy thần tài –

Trong quan niệm nhân gian của người xưa cho rằng THẦN TÀI là vị thần chuyên quản tài phúc của thiên hạ, nhận được sự chiếu cố giúp đỡ của ông nhất định sẽ “tài nguyên quảng tiến”. Cho nên rất nhiều người đặt tượng thần tài trong nhà hy vọng có thể gi

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

àu có.

Còn một số người ngày đêm thắp hương cúng thần tài, nhưng rất nhiều người có cùng một băn khoăn đó là trong nhân gian có rất nhiều loại thần tài, rốt cuộc THẦN TÀI nào bày trong nhà hoặc cúng hợp với mình đây?

THẦN TÀI lưu truyền trong nhân gian tuy nhiều nhưng có thể phân làm hai loại: THẦN TÀI VĂN và THẦN TÀI VÕ.

images1033408_than_tai_kienthuc.net.vn

1- THẦN TÀI VĂN chia làm hai: TÀI BẠCH TINH QUÂN và PHÚC LỘC THỌ TAM TINH ( TAM ĐA )

a- TÀI BẠCH TINH QUÂN: Ông này trông rất phúc hậu, là một cụ mặt trắng râu dài mặc áo bông thắt lưng ngọc, tay trái cầm thỏi vàng, tay phải cầm cuộn sớ trên sớ viết CHIÊU TÀI TIẾN BẢO, mặt giống như PHÚ GIA ÔNG.

Tương truyền ông là SAO THÁI BẠCH trên trời, thuộc KIM THẦN, chức vụ của ông trên trời là “ĐÔ THIÊN CHÍ PHÚ TÀI BẠCH TINH QUÂN” chuyên quản kim ngân tiền tài, cho nên rất nhiều người cầu tài rất tôn sùng ông, có một số người còn ngày đêm thắp hương cúng bái.

b- BA ÔNG PHÚC LỘC THỌ:

– ÔNG PHÚC tay ôm đứa trẻ tượng trưng cho phúc khí: “hửu tử vạn sự túc” ( có con cái thì vạn sự đầy đủ, mãn nguyện ).

– ÔNG THỌ: tay vác cành đào, mặt nở nụ cười hạnh phúc cát tường, tượng trưng cho an khang trường thọ.

– ÔNG LỘC: mặc áo quan, tay ôm NGỌC NHƯ Ý tượng trưng cho tăng quan tiến chức, tăng tài thêm lộc. Trong ba ông PHÚC LỘC THỌ, vốn chỉ có ông lộc mới là THẦN TÀI nhưng thường được làm liền nhau cho nên được mọi người cúng cả ba ông như thần tài.
Có ba ngôi sao PHÚC LỘC THỌ cùng chiếu thì sẽ mãn đường cát khánh, chưa cần nói đến vấn đề phong thủy, khi ta bày tam đa trong nhà chỉ cần nhìn dáng vẻ của ba ông thì trong lòng đã thấy thoải mái vô cùng.

Những người làm công viên chức, những người đi lính, các ông chủ cửa hàng nên chưng bày PHÚC LỘC THỌ TAM TINH ( TAM ĐA ) hoặc thờ TÀI BẠCH TINH QUÂN

2- THẦN TÀI VÕ có hai loại:

a- TRIỆU CÔNG MINH còn gọi là: TRIỆU HUYỀN, là một vị mãnh tướng oai phong lẫm liệt, nhân gian tương truyền rằng ông có khả năng phục yêu trừ ma và có thể chiêu tài lợi thị, cho nên ở miền bắc TRUNG QUỐC đa số các cửa hàng đều thờ cúng ông, còn miền nam đa số thờ QUAN CÔNG.

b- QUAN CÔNG tên thường gọi: QUAN VŨ, tự VÂN TRƯỜNG, là danh tướng thời TAM QUỐC, ông không chỉ trung dũng cảm động lòng người mà còn có thể chiêu tài tiến bảo, hộ gia tịch tà.

3- Hướng đặt thần phật.

a- Bàn thờ thần phật phải quay ra cửa chính. Nếu mọi người không tin thì cứ để ý tất cả chùa miếu, tượng thần phật đa số đều quay mặt ra ngoài.

b- Bàn thờ QUAN ÂM: Rất nhiều người đặt QUAN CÔNG và QUAN ÂM cùng nhau và thờ cúng, nhưng làm như thế là không đúng. Vì QUAN ÂM là thần trong PHẬT GIÁO, còn QUAN CÔNG là hình tượng anh hùng được nhân gian sùng bái.

Vả lại tấm lòng của QUAN ÂM từ bi, kỵ sát sinh, còn QUAN CÔNG giết giặc lập công, có thể nói là lập công khởi nghiệp bằng máu vì thế mà không hợp đặt hai vị này gần nhau.

QUAN ÂM thì đặt theo hướng “ tọa tây hướng đông ” ( tức là ngồi ở hướng tây, mặt quay về hướng đông ), ngoài ra vì QUAN ÂM thanh tịnh cho nên có ba hướng kỵ:

1- Không được quay về phía nhà vệ sinh.

2- Không quay về phía cửa phòng.

3- Không quay QUAN ÂM về phía bàn ăn.

c- Tổ tiên và thần phật không dược bày bằng nhau, nhiều người đặt ảnh bài vị của tổ tiên trên bàn thờ thần thánh đặt ngang bằng với QUAN ÂM, QUAN ĐẾ, HOÀNG ĐẠI TIÊN… để thờ.

Thật ra làm như thế là không đúng, bởi vì tổ tiên là gia thần ( thần trong nhà ) còn các vị kia là Thiên thần. Ta nên đặt bàn thờ tổ tiên phía dưới bàn thờ thần thánh.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Vị trí đặt vật phẩm phong thủy thần tài –

Tiết lộ vận mệnh cuộc đời qua dáng đi

Có lẽ không ai để ý nhưng mỗi người có một dáng đi riêng và dáng đi của từng người cũng sẽ nói lên được cuộc sống của người ấy hạnh phúc hay bất hạnh.
Tiết lộ vận mệnh cuộc đời qua dáng đi

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

  1. Dáng đi hình chữ (V) hai đầu bàn chân hướng ra 2 phía, hai gót chụm lại:  là người bảo thủ, cố chấp nhưng lại có óc văn nghệ.
 
2. Đi bước ngắn:: là người bạt nhược, không có óc cầu tiến, ham nhục dục.
 
3. Dáng đi chữ “bát”:  hai đầu bàn chân chụm lại, hai gót xòe ra là người thích phô trương, ưa bợ đỡ, nịnh hót. Tình tình ti tiện, ki bo nhưng có óc thông minh, có chí tiến thủ.
 
4. Đi nhanh:: người có tính nết nóng nảy, ưa hoạt động và ương ngạnh, thích kim tiền hơn là nghệ thuật, nhưng sống rất công bằng.
 
5. Đi co chân lên quá cao: là người bạc tình, thích cô độc, đầu óc giản dị, có tài nghệ giỏi nhưng không mấy tích cực.
 
6. Đi lê chân: người có tâm xảo quyệt, hẹp hòi, không có trách nhiệm, ham vật chất .
 
7. Đi bước dài bước ngắn: người có tính nết hồ đồ, không thành tín, chỉ thích những điều hào nhoáng, về lý trí bạc nhược.
 
8. Tướng đi hàng một và thẳng người: người là người xem thường sinh tử, mạnh dạn làm việc nghĩa, trọng nghĩa hơn trọng tài nhưng có hành động hấp tấp và vội vàng.
 
9. Đi cắm đầu về phía trước: là người có nghị lực dám làm dám chịu, có tinh thần mã thượng nhưng trí tuệ không được tốt cho lắm, hay suy xét sự lợi hại, quyết đoán mau lẹ nhưng hay nhầm lẫn và mau quên.
 
10. Đi hàng đôi: là hai đầu chân không thẳng hàng, đây là tuýp người thẳng thắn nhưng kiêu ngạo, háo danh. Đầu óc có tiến thủ, khẳng khái tranh đấu nhưng lại thiếu tự tin.
 
11. Đi bước dài: người sở hữu tướng đi này có  lý trí và tình cảm đầy đủ, tính tình khoan hậu, ngay thẳng không gian lận, thích khoe khoang, không chịu nhân nhượng kẻ khác, có nhiều khả năng phát triển.
 
12. Dáng đi đong đưa như vịt:: là người có tánh nết thô lậu, thích hư vinh, cảm tình hời hợt, coi trọng đồng tiền, so đo tính toán, sống không thật tâm.
 
13. Dáng đi mà phần thân dưới từ bụng tới mông hơi giao động chút ít: người có tính tình ôn hòa, kiên nhẫn, lạc quan.
 
14. Dáng đi nhẹ nhàng, nhanh nhẹn, khoảng cách giữa các bước đều đặn và hơi ngắn: đây là người hay chuộng thực tế, tính tình độ lượng, chan hòa với bạn bè, gia đình yên ổn.
 
15. Bước đi đều đặn, khoảng cách dài, chân không quá co kiểu như chân tới trước, thân hình tới sau, thẳng người không nghiêng lệch: người có tính tự phụ, có tài năng, việc làm chính xác và mau lẹ nhưng không thích bị ràng buộc và gò bó, người có uy tín
 
16. Khi đi thường có thói quen thọc hai tay vào túi quần hoặc hai tay chống nạnh, đầu hay cúi về phía trước: người này có tính khinh người, khoác lác, thích nịnh bợ.
 
17. Dáng đi mà thân hình lắc lư như rắn bò, chân bước nhúng nhảy như chim chìa vôi: người có số kiếp long đong, cuộc sống tạm bợ, ít khi được hạnh phúc.
 
18. Bước đi quá nhanh, như gấp rút một việc gì: đây là người có tính bồng bột, bộp chộp, thiếu chủ tâm, ít nhận xết, làm theo dục vọng, tính tình bừa bãi, quan niệm một chiều.
 
19. Đi cúi gầm xuống đất là người số không được thọ, thiếu hạnh phúc, cuộc sống gặp nhiều khó khăn.
 
20. Dáng đi đầu ngã về phía sau, ngực và bụng uỡn về phía trước: là người thiếu nghị lực, nhu nhiều cương ít, tính hay cầu an, hiền hòa nhưng thiếu khôn ngoan mưu kế, làm việc không nhanh nhẹn.  
► Mời các bạn tham khảo thêm: Xem tướng các bộ phận cơ thể đoán vận mệnh chuẩn xác

Theo Xemtuongnhanh
 
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tiết lộ vận mệnh cuộc đời qua dáng đi

Tài vị - trọng yếu trong tài vận của gia đình

Tài vị là một trong những vị trí đặc biệt quan trọng trong nhà, những điều tốt và không tốt cho nơi này đều nên biết để vận dụng thích hợp.
Tài vị - trọng yếu trong tài vận của gia đình

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


► Xem thêm: Những yếu tố phong thủy nhà ở ảnh hưởng đến tài vận gia đình bạn

Tai vi - trong yeu trong tai van cua gia dinh hinh anh
 
1. Các điều nên của Tài vị

_ Nơi phương Tài vị nên sáng sủa, quang minh, không để tối ám. Sáng là năng lượng Dương, thích hợp với Dương Khí. Sinh Khí không ưa nơi tối tăm, nên phương này tuyệt đối không nên để tối, nếu thiếu ánh sáng tự nhiên thì nên lắp thêm đèn.
 
_ Nơi phương Tài vị nên có Sinh Cơ, tức là chỉ nơi đây bày cây xanh là tốt, phải nhớ là trồng loại cây luôn luôn xanh tươi, nhất là các loại cây trồng bằng đất bùn (nê Thổ), không thích hợp các loại cây trồng trong nước. Nên dùng các loại cây lá to, dày, lá xanh mãi như cây Vạn Niên Thanh chẳng hạn.
 
_ Nơi phương Tài vị tốt nhất nên đặt bàn ngồi ở đấy, để cả nhà thường xuyên được hít thở không khí của Tài vị hay nói cách khác là được thấm nhuần nguồn Tài khí nơi đó, sẽ giúp ích cho Tài vận người trong nhà.
 
_ Nơi phương Tài vị nên đặt giường ngủ là rất thích hợp. 1/3 thời gian trong ngày con người nằm ngủ nơi đó, thường xuyên hít thở nguồn Tài khí cũng rất tốt cho Tài vận.
 
_ Nơi phương Tài vị nên đặt vật hay biểu tượng cát lành. Bởi phương này là nơi vượng khí ngưng tụ, nếu ta đặt thêm một biểu tượng cát lành thì tốt càng thêm tốt, như gấm thêu thêm hoa. Biểu tượng này thường là các vật khí kích hoạt tài lộc, tuỳ theo tính chất Ngũ Hành và Phi Tinh của Trạch Vận Bàn nơi đó mà lựa chọn vật đặt cho thích hợp.
 
2. Các điều kỵ của Tài vị

_ Nơi phương Tài vị tối kỵ đặt các vật nặng như tủ sách, kệ sắt, máy móc nặng sẽ làm tổn hại đến Tài vận của phòng đó.
 
_ Nơi phương Tài vị tối kỵ Thủy. Vì nơi đây là Cát Thần tọa vị, đem nước đến là Cát Thần lạc Thủy, tốt hóa thành xấu.
 
_ Nơi phương Tài vị phía sau nên có tường che chắn, không thể trổ cửa, trổ cửa sổ, có vậy mới hợp cách cục “tàng phong tụ khí” trong phong thuỷ, Tài vận mới tụ được.
 
_ Nơi phương Tài vị tối kỵ bị các vật nhọn xung xạ đến như cạnh bàn, cạnh tủ…. sẽ làm tổn hại Tài khí nơi đó.
 
_ Nơi phương Tài vị là nơi Cát Thần tọa vị nên đại kỵ ô uế, dơ bẩn. 
 
_ Nơi phương Tài vị không nên để tối tăm, vì u tối thì Sinh Khí không sinh sôi được, sẽ ảnh hưởng đến Tài vận, sinh kế.
ST
 

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tài vị - trọng yếu trong tài vận của gia đình

Bảng vợ chồng tương sinh tương khắc của người tuổi Tuất

Hai vợ chồng đều tuổi Tuất, cuộc sống tuy hòa hợp, nhưng sẽ có lúc phải trải qua giai đoạn vô cùng khó khăn trong đời.
Bảng vợ chồng tương sinh tương khắc của người tuổi Tuất

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

bang-vo-chong-tuong-sinh-tuong-khac-cua-nguoi-tuoi-tuat
Tuất - Tý Tuất - Sửu Tuất - Dần Tuất - Mão
Tuất - Thìn Tuất - Tỵ Tuất - Ngọ Tuất - Mùi
Tuất - Thân Tuất - Dậu Tuất - Tuất Tuất - Hợi

Maruko (theo Sohu)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Bảng vợ chồng tương sinh tương khắc của người tuổi Tuất

Cách lựa chọn ghế sofa phù hợp với cá tính của bạn

Sofa không chỉ là vật trang trí cần thiết cho không gian phòng khách, trong cuộc sống hiện đại, nó còn là người bạn thân thiết, thể hiện cá tính của chủ nhà.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Có nhiều tiêu chí để lựa chọn một chiếc sofa phù hợp. Ngoài việc chọn theo hình dáng, diện tích, phong cách...của phòng khách, còn có cách lựa chọn sofa theo tính cách của chủ nhà. Theo đó, hãy chọn một chiếc sofa có kiểu dáng, màu sắc, chất liệu phù hợp với bản thân để bạn luôn cảm thấy cuộc sống thật thoải mái, tiện nghi.    Dưới đây là những tiêu chí cụ thể để bạn dễ dàng lựa chọn được một chiếc sofa phù hợp với tính cách của mình:   chọn sofa

 

(Theo Vnxpress)

 


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Cách lựa chọn ghế sofa phù hợp với cá tính của bạn

Công việc phất nhanh nhờ soi bát tự chọn bạn làm ăn

Vận khí kinh doanh không chỉ dựa vào năng lực của bản thân. Soi bát tự chọn bạn làm ăn sẽ giúp bạn gặp được quý nhân, công việc phất nhanh như diều gặp gió.
Công việc phất nhanh nhờ soi bát tự chọn bạn làm ăn

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Vận khí kinh doanh không chỉ dựa vào năng lực của bản thân mà còn chịu ảnh hưởng lớn của đối tác. Soi bát tự chọn bạn làm ăn sẽ giúp bạn gặp được quý nhân, công việc phất nhanh như diều gặp gió.


Cong viec phat nhanh nho soi bat tu chon ban lam an hinh anh
 
1. Bát tự có Chính Tài, thích hợp buôn bán

Chính Tài đại diện cho việc phát đạt, lại thuộc dạng thu nhập không ổn định nhưng là đại tài, nếu gặp vận thì tiền vào như nước, không cần lao động vất vả cũng kiếm được khoản lớn.
 
Bát tự có Chính Tài, ý chí đầu cơ sinh lợi rất mạnh mẽ, không chịu làm thuê mà muốn tự mình làm chủ, có tham vọng làm giàu, rất thích hợp với việc buôn bán.
 
2. Bát tự có Chính Quan, thích hợp kinh doanh

Chính Quan đại diện cho công tác, cơ quan công vụ. Soi bát tự chọn bạn làm ăn mà người ấy có Chính Quan thì là người giao thiệp rộng, thích khai mở sự nghiệp mới, táo bạo, thích một mình tạo lập con đường cho riêng bản thân, thích hợp mở doanh nghiệp tự mình làm chủ.
 
3. Bát tự có Thương Quan,  thích hợp làm ăn tự do
 
Người có lá số này đầu óc linh hoạt, không bảo thủ, biết thay đổi cho phù hợp với thời cuộc, dễ thích nghi và có tinh thần học hỏi nhưng lại không hợp với cuộc sống công sở gò bó mà muốn bung ra ngoài làm ăn tự do. 
 
Không sớm thì muộn, người này cũng tự kinh doanh buôn bán hoặc làm về ngành tiêu thụ, thị trường, kỹ thuật sản xuất.

Khi chọn đối tác làm ăn, hãy chú ý xem bát tự của họ có nằm trong các trường hợp kia không. Nếu có, thì đích thị là người có số làm ăn phát đạt, nên chọn để cùng hợp tác, sẽ có lợi cho bạn.
► Lấy lá số tử vi và xem vận mệnh cuộc đời, công danh, tình duyên của bạn
Tâm Lan (Theo 12ky)

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Công việc phất nhanh nhờ soi bát tự chọn bạn làm ăn

Luận Bàn Cách Sao Họa Ngục Hình

Họa ngụchình, quan tụng hại đến tự do và uy tín cá nhân:
Luận Bàn Cách Sao Họa Ngục Hình

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Thiên Hình: trừ phi đắc địa, trừ phi đương số hành nghề cảnh sát, thẩm phán, tình báo, trạng sư, Thiên Hình bao giờ cũng có nghĩa hình tù. Số tốt lắm thì Hình ứng về sự điều tra của cảnh sát, của tòa án, của giám sát viện hay của cơ quan an ninh tình báo. Trong trường hợp hành nghề thẩm phán, luật sư, cảnh sát, tình báo, tố tụng, Hình chỉ nghề nghiệp, chức vụ, quyền hành bắt giam hay xét xử người khác hoặc kiện thưa kẻ khác. Đi với cát tinh, hao bại tinh, ám tinh, hình tinh khác, Hình càng có nghĩa kiện và tù và bao giờ đương số cũng là nạn nhân. Có thêm sát tinh, tù tội nặng thêm, hình ngục khó thoát, làm cho tán mạng hay tán tài vì hình ngục. Đi với hao bại tinh, đương số khốn quẫn về tinh thần lẫn vật chất như lo sợ hoang mang, chán nản, tuyệt vọng, trốn tránh, mai danh ẩn tích mà lúc nào cũng sợ bị bắt, hoặc phải nuôi chí trả thù mà khổ sở. Cũng có thể hao bại tinh có nghĩa là trong thời gian thọ hình, đương số phải chịu nhiều cực hình như tra tấn, bỏ đói, hành hạ, đầy ải, mắc bệnh nan y.
Liêm Trinh hãm địa: chỉ sự bắt bớ, giam cầm, ở tù. Dù hành nghề gì mà Mệnh, Thân, Quan có Liêm hãm thì vẫn có thể bị hình tù như thường. Do đó, Liêm  Trinh hãm địa ác hiểm hơn Thiên Hình nên đi với sát tinh rất dễ bị tù, bị kiện: Liêm, Kình, Đà, Linh, Hỏa - Liêm Hổ - Liêm, Kiếp, Hình ở Mão, Dậu - Liêm, Tham ở Tỵ và Hợi - Liêm, Kình - Liêm, Cự, Kỵ. Tuy nhiên, trường hợp Liêm Tham ở Tỵ và Hợi có Hóa Kỵ hay Tuần, Triệt đồng cung sẽ hóa giải hình tù của Liêm.
Quan Phù, Thái Tuế, Quan Phủ: chỉ bị kiện, bị điều tra, bị chỉ trích, bị vu cáo, bị nói xấu. Đi với sát tinh, khó tránh tù hay thanh toán vì tư thù, thưa kiện rất lôi thôi. Quan tụng liên hệ đến ba sao này thường là tội lường gạt, bội tín, quỵt nợ, sang đoạt. Quan Phù, Quan Phủ chỉ sự phản bội, sự lợi dụng lòng tin, sự xé lẻ, rã đám. Thái Tuế chỉ khẩu thiệt, cãi vã, chửi bới, chỉ trích, bút chiến, công kích.
Thiên La, Địa Võng: chỉ sự bắt bớ, giam cầm hoặc tối thiểu cũng gây trở ngại cho công việc, kìm hãm sự thăng tiến. Hình tụng, kiện tụng chỉ có khi La Võng đi kèm với sát hay hình tinh trong cục diện Mệnh, Thân xấu.
Hóa Kỵ: có nghĩa kiện tụng. Chất của Hóa Kỵ là ganh ghét, ích kỷ, đố kỵ, nói cấu, vu khống để hãm hại người khác một cách tiểu nhân, nhỏ mọn. Quan tụng của Hóa Kỵ tương tự như Thái Tuế. Đi với Thái Tuế, Hóa Kỵ luôn nói xấu thiên hạ, ngồi lê đôi mách, đưa đến đôi co, đối chất, kiện thưa vì ngôn ngữ bất cẩn.
Đà La: chỉ sự ngoan cố, ngỗ ngược, bướng bỉnh, hẹp hòi, câu chấp và có ý nghĩa kiện tụng. Đặc biệt đi với Kỵ, Tuế thì quan tụng rất rõ. Có Đà La, thua kiện cũng không đầu hàng, còn tìm cách chống án, chạy chọt, vận động cho được phần hơn.
Cự Môn hãm địa (ở Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, Tỵ): có ý nghĩa kiện cáo, nhất là đi chung với Hóa Kỵ, Thiên Hình hoặc sát tinh, ý nghĩa giống như Hóa Kỵ.

Cách kiện tụng và ngục hình còn do một số bộ sao dưới đây quảng diễn: Xương, Khúc ở Tỵ và Hợi - Xương, Khúc, Phá ở Dần - Nhật, Nguyệt, Riêu, Đà, Kỵ - Binh, Kỵ, Hình - Binh, Phù, Hình.

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Luận Bàn Cách Sao Họa Ngục Hình

Cách hóa giải phản quang sát –

Bạn có lo lắng người nhà gặp tai họa bất ngờ không? Bạn có biết gây nên những tai họa này là do sát khí phong thủy trong nhà không? Bây giờ hãy đối chiếu xem ngôi nhà bạn có phải bị sát khí phong thủy. - Xung sát: Ngôi nhà thường là cao đến chục tầ

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Bạn có lo lắng người nhà gặp tai họa bất ngờ không? Bạn có biết gây nên những tai họa này là do sát khí phong thủy trong nhà không? Bây giờ hãy đối chiếu xem ngôi nhà bạn có phải bị sát khí phong thủy.

–   Xung sát: Ngôi nhà thường là cao đến chục tầng, theo quan niệm của phong thủy, ở dưới tầng năm, dễ bị xung sát, bởi ngôi nhà hay bị cột đèn, cây che khuất, như thế người nhà dễ bị nhiễm bệnh.

   Cách hóa giải: Dùng thép pha lê, đồng tiền ngũ đế để hóa giải. Nếu nhà nằm hướng sát lại gặp sao xấu tại hướng đấy thì phải theo tính chất ngôi sao này, kết hợp những công cụ hóa giải khác, như rèm hạt, bình phong …

–   Thương sát: Loại sát này là một loại sát khí vô hình, một con đường cũng giống như một khẩu súng, nếu trước nhà có một hành lang thẳng và dài thì là thương sát, ngoài ra cửa sổ bên ngoài có cột phơi quần áo cũng thuộc thương sát. Nếu có một con đường đâm thẳng vào nhà hoặc có sông giống như đâm thẳng vào nhà thì cũng thuộc thương sát. Thương sát điềm tai họa huyết quang và bệnh tật …

1

Cách hóa giải: Một là treo rèm hạt chu hoặc bài trí bình phong; hai là tại chỗ cửa sổ bài trí kim nguyên báu hoặc một đôi kỳ lân, có thể hóa giải và giúp sự nghiệp phát triển.

–   Dao liềm sát: Những đường hình cong hoặc cầu vượt hướng cong đều thuộc dao liềm sát, có thể thu hút tai hoạc huyết quang. Phối hợp hung cát của huyền không phi tinh, thì có thể hóa giải được hung tinh của dao liềm sát.

   Cách hóa giải: Bài trí một đôi đồng ngựa và đồng tiền ngũ đế tại hướng cát thì có thể hóa giải loại sát này.

–   Cô phong sát: Có nghĩa là, xung quang ngôi nhà đều thấp, không có dựa, nếu gặp căn nhà như thế sẽ không có bạn bè giúp, con cái bất hiếu và xa nhà.

   Cách hóa giải: Bài trí đồng hồ lô tại hướng cát hoặc hướng có khí vượng thì có thể hóa giải.

–   Cát cước sát: Có nghĩa là ngôi nhà gần với mặt nước, tình huống này trong trung tâm thành phố ít gặp. Khi nước gần với ngôi nhà, người may mắn thì phải lợi dụng thời gian này làm việc, thì sẽ được phát tài hơn, nhưng thời gian không lâu. Đặc điểm loại sát này là khiến vận khí người khác thường, lúc may mắn thì phát tài, lúc không may mắn thì chẳng còn gì hết.

   Cách hóa giải: Tại hướng có khí vượng bài trí ngọc bát trạch hoặc loại công cụ khác có tác dụng thượng vượng.

–   Bạch hổ xuất thổ: Trong phong thủy nói “trái Thanh Long, phải Bạch Hổ” có nghĩa là bên phải của ngôi nhà, nhà mới xây hoặc phá đi sẽ xúc phạm bạch hổ. Gặp tình hình như thế thì người sống trong nhà sẽ bị đau ốm nhiều, nặng thì người bị mất.

   Cách hóa giải: Tại chỗ sát bài trí một đôi kỳ lân.

–   Có đường xuyên qua nhà: Có rất nhiều nhà xây trên đường hầm, có nhiều xe ở dưới nhà đi qua, hình sát này có ảnh hưởng lớn với những tầng nhà gần đường hầm, khiến vận khí trong nhà khác thường, vận tài kém, người sống trong nhà sức khỏe kém, dễ gặp tai họa huyết quang.

   Cách hóa giải: Bài tró hồ lô, đồng tiền ngũ đế và một đôi tháp Văn Xương tại chỗ khí vượng và hướng cát. Bài trí đồng hồ lô và tiền ngũ đế có thể hóa giải vận khí khác thường do đường xuyên qua dưới nhà; có đường xuyên qua trong nhà thì có thể bài trí ngọc tám cạnh, đồng tiền ngũ đễ và một đôi tháp Văn Xương để hóa giải.

–   Liêm trinh sát: Nếu sau lưng nhà có núi dựa, là phù hợp nguyên tắc phong thủy nhưng nếu sau lưng núi không mọc cây cỏ nào, lại nhiều đá có hình lạ, trong phong thủy gọi là liêm trinh sát. “Núi dựa” đại diện sếp và người lớn hơn mình, núi xấu có nghĩa là thị trong công việc sếp hoặc người lớn hơn mình hay làm khó mình, mà người thuộc mình quản lý đa số là những người nịnh bợ.

Cách hóa giải: Thường xuyên thả rèm xuống; tại hướng sát treo hồ lô, nếu sát nặng quá thì bài  trí 4 đôi Bỉ Hưu để hóa giải.

–   Thiên cầu sát: Một cầu vượt từ cao xuống dưới, cầu được hình dung là nước, cầu xuống thì nước chảy, là hiện tượng tài khí bị chảy đi, gọi là thiên cầu sát. Nếu cầu này thấp xuống hình cong ôm ngôi nhà là tốt, ngược lại là xấu.

   Cách hóa giải: Tại chỗ đối diện với cầu thấp xuống, bài trí voi đồng đã nhập thần hoặc bài trí một đôi kỳ lân đồng.

–   Khai khẩu sát: Cửa chính đối diện với thang máy gọi là “khai khẩu sát”. Khi bạn mở cửa nhà ra nhìn thấy cửa thang máy đóng và mở thì khí vận của nhà bạn bị thang máy mang đi, sẽ khiến nhà không  có tiền, nghèo, người sống trong nhà bị đau ốm, cùng lúc dễ bị tai họa.

   Cách hóa giải: Treo biển đồng trấn nhà, dưới ngưỡng cửa để một xuyên đồng tiền ngũ đế là hiệu quả tốt nhất; hoặc bài trí con sư tử hàm kiếm và cùng thêm một túi gấm có đồng tiền bạc; hoặc bài trí một đôi sư tử làm bằng đồng hoặc bài trí thiên thú hàn kiếm.

–   Phản quang sát: Do bị ánh sáng của ánh nắng, mặt nước, kính chiếu gọi là phản quang sát. “Phản quang sát” trong truyền thống là ngôi nhà gần biển, ánh nắng do mặt nước phản quang chiếu vào trong nhà, sẽ khiến người phản ứng lờ đờ, tinh thần không tập trung được; “Phản quang sát” trong hiện đại là nhà gần trung tâm thương mại, ánh nắng do kính phản quang chiếu vào trong nhà, sẽ khiến người gặp tai họa lớn và bị thương chảy máu.

   Cách hóa giải: Thông thường gặp phản quang sát, có thể dán giấy trên kính, sau đó treo hai xuyên hồ lô tại hai bên cửa sổ, nếu thêm một hồ lô gỗ nữa thì có thể hóa giải, nếu loại sát này nhẹ thì không cần đến hồ lô gỗ, nếu rất nặng thì phải treo hai xuyên đồng tiền ngũ đế; hoặc dùng kính lồi bát quái hoặc trên kính bát quái có kỳ lân để hóa giải.

–   Tam giác sát: Xung quanh ngôi nhà có góc nhọn, như góc nhọn của tòa nhà giống như một con dao đâm ngay vào mặt, người sống dưới tầng bị ảnh hưởng lớn nhất, khi gặp hình sát này, người nhà dễ bị thương, sức khỏe yếu, với những bệnh mãn tính, nhất là những bệnh bị đau và chảy máu thì hay bị tái phát lại.

   Cách hóa giải: Tại chỗ cửa sổ bài trí sư tử hàn kiếm

–   Đỉnh tâm sát: Đối diện nhà cửa có cột điện gọi là đỉnh tâm sát, như thế khiến chủ nhà tính cách nóng nảy, khó tính, tổn thương thị giác và gặp tai họa huyết quang.

   Cách hóa giải: Bài trí ngọc trắng và đồng tiền ngũ đế là được

–   Bích dao sát: Nếu đối diện nhà mình có một nhà rất to, một bên tường của nhà đấy giống như một con dao cắt nghiêng nhà mình gọi là bích dao sát. Loại sát này có ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe của chủ nhà, nhất là gặp tai nạn bất ngờ.

Cách hóa giải: Treo một kính lồi đối diện với tường nhà đối diện thì sẽ được hóa giải. Nếu “dao này” rất dài thì cần phải sử dụng bùa sơn hải trấn để hóa giải. Kể là kính lồi hay là bùa sơn hải trấn đều giống như một thuẫn hóa giải sát khí của nó.

–   Phản cung sát: Phản cung sát có nghĩa là phía trước nhà có đường, song hoặc kiến trúc hình phản cung. Phản cung sát có thể khiến người sống trong nhà bị gặp tai họa và phá tài.

   Cách hóa giải: Có thể bài trí hồ lô và đồng tiền ngũ đế hoặc một đôi kỳ lân đối diện với chỗ sát.

–   Dao nhẫn sát: Có những nhà phía dưới có bãi đỗ xe và phía trên đỗ xe có lều, nếu lều là hình dáng sóng nước thì sẽ thành dao nhẫn sát cho nhà đối diện, khiến người sống trong nhà gặp tai nạn bất ngờ, phần đầu dễ bị thương …

 Cách hóa giải: Có thể theo cách hóa giải truyền thống “bài trí rồng rùa”. Bài trí một con rồng rùa trên cửa sổ đối diện với lều, trong đó có nghĩa là dùng vỏ cứng của con rùa coi là thuẫn để đỡ lưới dao.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Cách hóa giải phản quang sát –

50 Tên ý nghĩa dành cho bé Trai 2016 - Đặt tên cho con - Xem Tử Vi

50 Tên ý nghĩa dành cho bé Trai 2016, Đặt tên cho con, Xem Tử Vi, xem bói, xem tử vi 50 Tên ý nghĩa dành cho bé Trai 2016, tu vi 50 Tên ý nghĩa dành cho bé Trai 2016, tu vi Đặt tên cho con

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

50 Tên ý nghĩa dành cho bé Trai 2016

Đặt tên cho con không chỉ hay mà con ý nghĩa, và là cái tên yêu thương mà cha mẹ người thân vẫn gọi hàng ngày. Cái tên dành cho con cũng chứa đựng biết bao nỗi niềm của cha và mẹ, ngầm mong cho con luôn được bình an, mau trưởng thành nên người.

Cùng tìm hiểu ý nghĩa của 50 tên dành cho các bé trong năm 2016 này nhé.

  50-ten-y-nghia-danh-cho-be-trai-2016

Tên ý nghĩa cho bé trai năm 2016

Các tên theo vần từ A – N
1. THIÊN ÂN –  Con là ân huệ từ trời cao
2. GIA BẢO – Của để dành của bố mẹ đấy
3. THÀNH CÔNG  – Mong con luôn đạt được mục đích
4. TRUNG DŨNG  – Con là chàng trai dũng cảm và trung thành
5. THÁI DƯƠNG – Vầng mặt trời của bố mẹ
6. HẢI ĐĂNG  – Con là ngọn đèn sáng giữa biển đêm
7. THÀNH ĐẠT –  Mong con làm nên sự nghiệp
8. THÔNG ĐẠT – Hãy là người sáng suốt, hiểu biết mọi việc đời
9. PHÚC ĐIỀN – Mong con luôn làm điều thiện
10. TÀI ĐỨC – Hãy là 1 chàng trai tài dức vẹn toàn
11. MẠNH HÙNG – Người đàn ông vạm vỡ
12. CHẤN HƯNG – Con ở đâu, nơi đó sẽ thịnh vượng hơn
13. BẢO KHÁNH – Con là chiếc chuông quý giá
14. KHANG KIỆN – Ba mẹ mong con sống bình yên và khoẻ mạnh
15. ĐĂNG KHOA – Con hãy thi đỗ trong mọi kỳ thi nhé
16. TUẤN KIỆT – Mong con trở thành người xuất chúng trong thiên hạ
17. THANH LIÊM – Con hãy sống trong sạch
18. HIỀN MINH – Mong con là người tài đức và sáng suốt
19. THIỆN NGÔN – Hãy nói những lời chân thật nhé con
20. THỤ NHÂN – Trồng người
21. MINH NHẬT – Con hãy là một mặt trời
22. NHÂN NGHĨA – Hãy biết yêu thương người khác nhé con
23. TRỌNG NGHĨA – Hãy quý trọng chữ nghĩa trong đời
24. TRUNG NGHĨA – Hai đức tính mà ba mẹ luôn mong con hãy giữ lấy
25. KHÔI NGUYÊN – Mong con luôn đỗ đầu.
Các tên theo vần từ N – V
26. HẠO NHIÊN – Hãy sống ngay thẳng, chính trực
27. PHƯƠNG PHI – Con hãy trở thành người khoẻ mạnh, hào hiệp
28. THANH PHONG – Hãy là ngọn gió mát con nhé
29. HỮU PHƯỚC – Mong đường đời con phẳng lặng, nhiều may mắn
30. MINH QUÂN – Con sẽ luôn anh minh và công bằng
31. ĐÔNG QUÂN – Con là vị thần của mặt trời, của mùa xuân
32. SƠN QUÂN – Vị minh quân của núi rừng
33. TÙNG QUÂN – Con sẽ luôn là chỗ dựa của mọi người
34. ÁI QUỐC – Hãy yêu đất nước mình
35. THÁI SƠN – Con mạnh mẽ, vĩ đại như ngọn núi cao
36. TRƯỜNG SƠN – Con là dải núi hùng vĩ, trường thành của đất nước
37. THIỆN TÂM – Dù cuộc đời có thế nào đi nữa, mong con hãy giữ một tấm lòng trong sáng
38. THẠCH TÙNG – Hãy sống vững chãi như cây thông đá
39. AN TƯỜNG – Con sẽ sống an nhàn, vui sướng
40. ANH THÁI – Cuộc đời con sẽ bình yên, an nhàn
41. THANH THẾ – Con sẽ có uy tín, thế lực và tiếng tăm
42. CHIẾN THẮNG – Con sẽ luôn tranh đấu và giành chiến thắng
43. TOÀN THẮNG – Con sẽ đạt được mục đích trong cuộc sống
44. MINH TRIẾT – Mong con hãy biết nhìn xa trông rộng, sáng suốt, hiểu biết thời thế
45. ĐÌNH TRUNG – Con là điểm tựa của bố mẹ
46. KIẾN VĂN – Con là người có học thức và kinh nghiệm
47. NHÂN VĂN – Hãy học để trở thành người có học thức, chữ nghĩa
48. KHÔI VĨ – Con là chàng trai đẹp và mạnh mẽ
49. QUANG VINH – Cuộc đời của con sẽ rực rỡ,
50. UY VŨ –  Con có sức mạnh và uy tín.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: 50 Tên ý nghĩa dành cho bé Trai 2016 - Đặt tên cho con - Xem Tử Vi

Bạn đã biết 13 bộ vị quan trọng trên khuôn mặt?

Khuôn mặt lấy mũi làm đường trung tâm, dựa theo thứ tự từ trên xuống dưới mà chia ra tổng cộng có 13 bộ vị, bạn đã biết chưa?

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Khuôn mặt lấy mũi làm đường trung tâm, dựa theo thứ tự từ trên xuống dưới mà chia ra tổng cộng có 13 bộ vị. Hai bên trái phải của mỗi bộ vị đều có một bộ vị tương ứng, lại thêm các bộ vị như thế tổng cộng sẽ có 146 bộ vị. Mười ba (13) bộ vị là chỉ các bộ vị quan trọng nhất theo thứ tự từ trên xuống dưới ở trên mặt. Bao gồm: Thiên trung, Thiên đình, Tư không, Trung chính, Ấn đường, Sơn căn, Niên thượng, Thọ thượng, Chuẩn đầu, Nhân trung, Thủy tinh, Thừa tương, Địa các.

13-bo-vi

Bộ vị thứ nhất là Thiên trung,

Dựa theo thứ tự lần lượt từ trong hướng sang phải bao gồm: Thiên trung, Thiên nhạc, Tả sương, Nội phủ, Cao quảng, Xích dương, Vũ khố”, Quân môn, Phù giác, Biên địa.

Bộ vị thứ hai là Thiên đình,

Dựa theo thứ tự lần lượt từ trong hướng sang phải bao gồm: Thiên đình, Nhật giác, Long giác, Thiên phủ, Phòng tâm, Thượng mộ, Tứ sát, Chiến đường, Dịch mã, Điếu đình.

Bộ vị thứ ba là Tư không,

Dựa theo thứ tự lần lượt từ trong hướng sang phải bao gồm: Tư không, Ngạch giác, Thượng khanh, Thiếu phủ, Giao hữu, Đạo trung, Giao ngạch, Mi trọng, Sơn lâm, Thánh hiền.

Bộ vị thứ tư là Trung chính,

Dựa theo thứ tự lần lượt từ trong hướng sang phải bao gồm: Trung chính, Ngạch giác, Hổ giác, Ngưu giác, Phù cốt, Nguyên giác, Phủ chiến, Hoa cái, Phúc đường, Thái hà, Giao ngoại.

Bộ vị thứ năm là Ấn đường,

Dựa theo thứ tự lần lượt từ trong hướng sang phải bao gồm: Ấn đường, Giao tỏa, Tả nhật, Tâm thất, Lâm trung, Tửu tôn, Tinh xá, Tần môn, Kiếp lộ, Cảng lộ, Thanh lộ.

Bộ vị thứ sáu là Sơn căn,

Dựa theo thứ tự lần lượt từ trong hướng sang phải bao gồm: Sơn căn, Thái dương, Trung dương, Thiếu dương, Ngoại dương, Ngư vỹ, Gian môn, Thần quang, Thiên tỉnh, Thiên môn, Huyền vũ.

Bộ vị thứ bảy là Niên thượng,

Dựa theo thứ tự lần lượt từ trong hướng sang phải bao gồm: Niên thượng, Phù tọa, Trưởng Trung nam, Thiếu nam, Kim quỹ, Cấm phòng, Tặc thiên, Du quân, Thư thượng, Ngọc đường.

Bộ vị thứ tám là Thọ thượng,

Dựa theo thứ tự lần lượt từ trong - hướng sang phải bao gồm: Thọ thượng, Giáp quỹ, Quy lai, Đường thượng, Chính diện, Cô di, Tỉ muội, Huynh đệ, Ngoại sanh, Mệnh môn, Học đường.

Bộ vị thứ chín là Chuẩn đầu,

Dựa theo thứ tự lần lượt từ trong hướng sang phải bao gồm: Chuẩn đầu, Lan đài, Pháp lệnh, Táo thượng, Cung thất, Điển ngự, Viên thương, Hậu các, Thủ môn, Binh tốt, Ấn thụ.

Bộ vị thứ mười là Nhân trung,

Dựa theo thứ tự lần lượt từ trong hướng sang phải bao gồm: Nhân trung, Tỉnh bộ, Trướng hạ, Tế trù, “Nội các, Tiểu sứ, Bộc tùng, Kĩ đường, Anh môn, Bác sĩ, Bích lộ.

Bộ vị thứ mười một là Thủy tinh,

Dựa theo thứ tự lần lượt từ trong hướng sang phải bao gồm: Thủy tinh, Các môn, Bắc lân, ủy cảng, Thông cù, Khách xá, Binh lan, Gia khố, Thương lữ, Sinh môn, Sơn đầu.

Bộ vị thứ mười hai là Thừa tương,

Dựa theo thứ tự lần lượt từ trong hướng sang phải bao gồm: Thừa tương, Tổ trạch, Tôn trạch, Ngoại viện, Lâm uyển, Hạ mộ, Trang điền, Tửu trì, Giao quách, Hoang cân, Đạo lộ.

Bộ vị thứ mười ba là Địa các,

Dựa theo thứ tự lần lượt từ trong hướng sang phải bao gồm: Địa các, Hạ xá, Nô bộc, Suy ma, Khanh trụ, Địa khố, Bì trì, Nga áp, Đại hải, Chu xa.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Bạn đã biết 13 bộ vị quan trọng trên khuôn mặt?

Phi tinh màn đàm

Một đoạn chép lại bài dịch của anh Quách Ngọc Bội trên tuvilyso.org. Mời các bạn cùng tìm hiểu.
Phi tinh màn đàm

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

1. "Quan Kị nhập Phụ xung Tật" - người nhẫn tâm

"Quan Kị phi nhập", tức là cung Quan Lộc có thiên can mà khiến cho tinh đẩu ở 1 cung nào đó hóa Kị. Ví dụ như, Quan lộc cung có thiên can là Giáp mà Phụ Mẫu cung có Thái Dương tọa thủ, thì gọi là "Quan Kị nhập Phụ". Bởi vì Kị tinh xung vào cung xung đối, mà Phụ Mẫu chính là cung xung đối với Tật Ách, nên tạo thành thế "Quan Kị nhập Phụ xung Tật".

"Quan Kị nhập Phụ xung Tật", bị coi là hành vi (của người làm Quan / trong công việc đối xử với người khác) mai một lương tâm, nhẫn tâm (đây là cái tật). Là người khẩu độc, tâm cũng độc. Gặp việc thì né tránh, đùn đẩy, thậm chí còn thừa cơ hội để lấy cớ trách mắng, vặn vẹo luôn người khác.

Tất nhiên, điều này không nhất thiết có thể khẳng định (về toàn diện) con người đó là xảo quyệt, thâm hiểm, nhưng chắc chắn khẳng định (về cư xử trong công việc) thì đó là kẻ tồi (nguyên văn đoạn này dùng từ "ác nhân" nhưng Hai Chén sửa đi thành "kẻ tồi" cho phù hợp mức độ hành vi).

Trải qua kiểm chứng thực tế, quả nhiên là không sai. Khi thấy có cách "Quan Kị nhập Phụ xung Tật", nhìn xem có (tướng mạo) điển hình của ác nhân như vẻ ngoài hung dữ, thâm hiểm hay không, hoặc là nhìn "ngoài cứng trong mềm" tức là chỉ mạnh mồm nhưng nhát gan, thì phân biệt được ngay mức độ ác hiểm hay là tồi, kém cư xử.

2. "Thời cơ mua nhà lầu" - Tài Kị nhập Điền, Điền tự hóa Lộc.

Trên đã nói về cách dùng "Kị xung" rồi nói về xem cách "kẻ nhẫn tâm". Giờ ta thảo luận tới cách "Kị nhập" nhé.

Phi Kị, bản thân nó đại diện cho ý nghĩa là "thu hồi nợ, lấy lại, dẹp bỏ nợ, hoặc là được hưởng lợi tức, được hưởng lương, lĩnh lương, thu về, hấp thụ,..."

Cho nên, nếu bạn phát giác Lưu Niên (tiểu hạn) có "Tài Kị phi nhập Điền" và "Điền tự hóa Lộc" thì đó là lúc bạn có thể được lợi nhuận lớn từ việc mua bán, giao dịch nhà đất, bất động sản.

Bởi vì "Kị nhập" đại biểu cho sự hấp thu, thụ hưởng. Vì vậy mà Tài Bạch cung phi Kị nhập Điền Trạch, lại gặp được Điền Trạch tự hóa Lộc, thì Lộc xuất tiết ra tiền tài vừa vặn đúng lúc cho cung Tài Bạch hấp thụ được.

Thế nhưng, nhất thiết phải không được sai lầm về phương hướng đi: Có người thấy thân chủ có cách "Tài Lộc nhập Điền" liền kêu thân chủ bán nhà, còn giục: "Có Lộc nhập rồi! Không ngờ sự lại tốt đến thế! Mau bán nhà nhanh đi!".

(QNB chú: "thân chủ" ở đây có nghĩa là để chỉ đương số theo cách gọi của người được thuê tư vấn mệnh lý. Giống như kiểu ông luật sư gọi người mà ông ta được thuê để bảo vệ là "thân chủ").

Thật là không may, trùng hợp làm sao mà thân chủ ấy liền gặp cách "Điền Trạch tự hóa Kị". Lộc của Tài bị Kị của Điền như tượng nước nhỏ bị cuốn phăng đi, thiết nghĩ trường hợp này không mất tiền, phá tán, thì kể cũng hơi khó.

(QNB chú: ví dụ này là để bàn đến sự phân biệt về hướng phi nhập của Kị, của Lộc.

Như cách mà Tài Bạch cung có thiên can khiến cho tinh đẩu ở Điền Trạch cung hóa Kị, đồng thời thiên can của Điền Trạch cung lại tự khiến cho tinh đẩu ở trong cung của nó hóa Lộc - đây mới là cách hấp thụ được tiền tài, là thời điểm thu được lợi lộc, hoặc là buôn bán bất động sản.

Còn cách (ngược lại) mà Tài Bạch cung có thiên can khiến cho tinh đẩu ở Điền Trạch cung hóa Lộc, đồng thời thiên can của Điền Trạch cung tự khiến cho tinh đẩu bên trong nó hóa Kị - thì đây là cách phá tán tiền tài, như kiểu gió vào nhà trống, đem ví Kị như dòng lũ cuốn phăng, nuốt chửng Hóa Lộc vừa phi nhập).

3, Mệnh Kị nhập Hữu - chính là người có nghĩa khí (can Mệnh phi Kị và cung Nô, tức Giao Hữu cung).

Nhắc lại, "Phi Kị" hay "Kị nhập" mang ý nghĩa của sự hấp thu. Cho nên "Mệnh Kị phi nhập Hữu" có ý nghĩa là sự "quan tâm", "sốt sắng" của người có nghĩa khí đối với bạn bè vậy.

Thí dụ như, "Mệnh Kị nhập Hữu", biểu hiện là coi trọng nghĩa khí, lại thêm Huynh đệ cung mà ở Khố vị (QNB chú: hiểu nôm na là ở Mộ cung) lại xung với Khố đối diện là thể hiện ý nghĩa không tiếc tiền và sẵn sàng cho bạn vay tiền tài, giúp đỡ bạn trong lúc khó khăn.

Có thực là vĩ đại như thế không? Trên thực tế, phải xét xem các yếu tố khác nữa. Còn quan trọng xét thêm tính tình của đương số qua sao chủ Mệnh và cung Mệnh để xác quyết thêm độ chắc chắn.

4. "Tài Lộc nhập Hữu, Hữu tự hóa Kị" là vì bạn bè mà sẽ gặp xui xẻo, phá tài, mất của.

Trước đã từng thảo luận qua cách người nghĩa khí chắc chắn sẽ là người đặt tình nghĩa cao hơn tiền bạc (như thành ngữ "sơ tài trượng nghĩa", "trọng nghĩa khinh tài" ), nhưng suy cho cùng thì đó cũng chính là vì bạn bè mà tốn tiền, hoặc gặp khó khăn, xui xẻo. Vậy lại yêu cầu phải xem thêm các cung vị khác và lưu niên vận nữa rồi nhỉ.

Thiên can của cung Tài mà khiến cho Hóa Lộc bay vào cung Nô (cung Hữu, Giao Hữu), cung Nô lại tự hóa Kị, có ý nghĩa là liên tục muốn/đòi hỏi bạn bè chi trả tiền bạc. Bản thân hiện tượng này chẳng có gì gây hại lớn cả, nhưng nếu như không có đúng mệnh cách của "người có nghĩa khí" mà trên lưu bàn gặp cách nói trên (tức gặp cách Tài Lộc nhập Hữu, Hữu tự hóa Kị) thì đó chính là biểu hiện của việc vì bạn mà ta bị mất của, gặp xui xẻo, phá tài,... Vào lúc đó không nên tùy tiện mà bảo lãnh cưu mang bạn bè hoặc không có đủ kiện để cho bạn bè vay tiền.

5. "Giao Hữu trùng phùng Mệnh, Thiên, Tật, Quan, Tài" - người trọng nghĩa mà lại đa tai đa nạn.

(QNB chú: chữ Thiên này là để chỉ cung Di, Thiên Di)

Tại mục thứ 3 của phi tinh mạn đàm đã nói tới cách cục của "người trọng nghĩa khí", và vì loạt bài này chỉ là "mạn đàm", cho nên không có dự định nói quá sâu thêm, cho nên bài này làm một tổng kết nhỏ.

Nếu mà bản Mệnh có hiện tượng "người có nghĩa khí", như thế cần xem Mệnh với cung Nô (giao Hữu):

- Cùng đại hạn hay lưu niên của Mệnh cung mà trùng điệp, thì sẽ chuốc lấy phiền não trong mối quan hệ với người khác.

- Cùng đại hạn hay lưu niên của Thiên Di cung mà trùng điệp, thì sẽ có thị phi hoặc là sẽ bị người ta bán đứng.

- Cùng đại hạn hay lưu niên của Tật Ách cung, Quan Lộc cung mà trùng điệp thì sẽ này sinh ra vấn đề không hay trong nhân sự.

- Cùng đại hạn hay lưu niên của Tài Bạch cung trùng điệp, sẽ bị phá tài.

6 - "Hóa nhập tái chuyển Hóa" - phi tinh chuyển di

(còn gọi là "Hóa đến rồi Hóa đi")

Đây cũng chẳng phải là bí kíp võ lâm cái quái gì cả...

Ở những bài trước, chúng ta đã thảo luận về "phi Hóa" (cụ thể là nói về cách "Kị nhập") của 2 cung, và cũng nói đến "xung chiếu" (cụ thể là nói về cách "Kị xung"). Thế nhưng đó cũng mới chỉ là mối quan hệ đơn giản của phi tinh giữa 2 cung với nhau mà thôi.

Trường hợp mà can cung Mệnh khiến cho tinh đẩu ở cung Thiên Di hóa thành Hóa Kị thì gọi là "Mệnh Kị nhập Thiên", mang ý nghĩa nghĩa hình tượng cá nhân ở bên ngoài môi trường hoặc khi ta đi ra bên ngoài thường thể hiện là người cương trực, liêm khiết, ngay thẳng. Và trường hợp "Mệnh Kị nhập Tật" cũng mang ý nghĩa chỉ tính tình của người ngay thẳng, chính trực. Loại tình huống kiểu này cùng với nơi mà có Hóa Kị gốc theo can năm sinh cũng có điểm tương tự.

Vậy nếu như mà trường hợp "Mệnh Kị nhập Tật" đồng thời lại có can cung Tật phi Kị vào Thiên Di (tức là "Tật Kị nhập Thiên") thì sao? Cách này được gọi là "Mệnh Kị nhập Tật, tái chuyển nhập Thiên), loại này ngược lại (với cách đơn thuần ở trên), nó mang ý nghĩa là lừa thày phản bạn, bất tín, bất nghĩa.

Biểu diễn dưới dạng: Mệnh -- Kị --> Tật -- Kị --> Thiên (Di).

Kỳ thực khá dễ thấy. Xét vế cuối "Tật Kị nhập Thiên", cái tật (tức là tâm tính, ưu sự) theo thiên (bản năng thiên phú) mà hành sự, với đơn thuần 2 cung như vậy thì thật khó mà thấy được bản chất vấn đề tốt xấu, bởi vì cặp 2 cung chẳng qua là hướng tới sự hỗ động của hiện tượng thôi. Nhưng mà, khi có thêm vế đầu (tức "Mệnh Kị nhập Tật") là Mệnh phi Kị vào tổ hợp này, thì nhất định việc diễn ra theo việc, mà mang ý nghĩa như trên.

Một yếu tố thêm vào tổ hợp, khiến cho có sự thay đổi lớn như vậy đấy.

7. "Theo Mệnh can của mệnh gốc mà định can cung của đại hạn" sẽ dịch chuyển thiên can của cung.

Ban đầu viết tiêu đề là "phi tinh mạn đàm" chỉ là mong muốn rằng lấy cái thú vị của hình thức đối thoại nhàn nhã một chút để trình bày kinh nghiệm cá nhân của tôi, cho bản thân có thêm hứng thú nghiên cứu "Phi tinh tử vi đẩu số". Nào ngờ lại khiến Tử Vi phi tinh gây được hứng thú với các đại gia (QNB chú: "đại gia" ở đây là là chỉ các chuyên gia, học giả, bực thầy,...), thực sự là khiến cho người ta vui mừng đó mà. (Lúc đầu) Tôi còn tưởng rằng sẽ không có ai có hứng thú với thể loại học thuyết phiền toái này.

Vốn dĩ không muốn ở trong khuôn khổ của "Mạn đàm" mà lại đi thuyết trình quá nhiều về các lý luận cơ bản, bởi vì nó có thể sẽ gây nhàm chán. Thế nhưng mà, tôi nhận thấy rằng ở các mục "phi tinh mạn đàm 2." cùng "phi tinh mạn đàm 5." của tôi nói bên trên đã đề cập tới ứng dụng của "hoạt bàn", nếu như mà chính bản thân tôi mà lại không có căn bản về lý luận của hoạt bàn theo "phi tinh phái" thì cũng rất có thể tôi đã áp dụng sai lầm mất thôi. Cho nên, tôi lại phải dài dòng mà nói sơ qua một chút về các yếu tố cơ bản. Hy vọng là các đại gia đừng chấp mà sẽ đại xá cho vậy.

Trong một số mục đã nói, tôi cũng đã bàn về sự Phi Hóa của Mệnh bàn. Bởi vì Can cung Mệnh gốc là cố định trọn đời, lại cũng không cải biến được, cho nên khỏi cần phải phiền toái với vấn đề của Can cung dịch chuyển.

Can của cung Đại Hạn cũng là dùng kiểu giống như Can của cung Mệnh gốc, ví dụ như Mệnh đóng tại cung Nhâm Ngọ, người Dương nữ Âm nam thì Đại Hạn thứ 2 sẽ đi theo hướng ngược chiều kim đồng hồ, cũng chính là 13-22 Tân Tị, như vậy là Mệnh cung của Đại Hạn thứ hai ở ngay tại Tị, có Can cung là Tân.

Theo đó thì, cung Huynh đệ của đại hạn sẽ ở Canh Thìn, cung Phu Thê của đại hạn sẽ ở Kỷ Mão,... cứ thế mà suy ra.

Lưu ý, chỉ là cung vị di động, chứ cung Can không biến đổi, cũng cùng giống như một dạng của Mệnh gốc.

(QNB chú: độc giả lưu ý, tác giả loạt bài viết này cũng dùng phép khởi đại hạn từ cung Mệnh, như ở ví dụ trên là cung Mệnh Nhâm Ngọ thì ứng đại hạn đầu tiên 3-12 của Mộc 3 Cục. Và khi xét về hạn thì họ coi cung nhập hạn chính là nơi mà Mệnh đi đến, nên mới gọi là "Mệnh cung của đại hạn", tức là họ cũng sử dụng luôn phép Lưu Cung, di cung, hay gọi như ta thường nói là cung Lưu Mệnh.

Sau đó, đối với hệ quy chiếu đại hạn thì họ coi đây là 1 tầng lá số thứ 2 với các cung vị Mệnh, Bào, Phu Thê,... đủ cả 12 cung dịch chuyển nhưng Thiên Can của các cung khi xét đại hạn thì không hề có sự biến đổi so với cung Mệnh gốc).

Cái này thì Tam Hợp Phái cũng thường đều dùng như là những lý luận cơ bản vậy. Và đại đa số các trình an lá số cũng lấy lý luận này mà coi như là cơ sở.

Thế nhưng, đối với Lưu niên, Tiểu hạn, Nguyệt hạn, Nhật hạn cùng Thời hạn thì khác, không chỉ có Cung vị biến hóa mà còn có cả sự biến hóa của Can cung nữa. Điều này thì các trình an lá số trên máy tính chưa thể hiển thị được, bởi vì chỉ có các phái Phi tinh mới đặc biệt lưu ý tới sự biến hóa của Can cung.

Sự biến đổi của Can cung (lúc đó cần) sử dụng đến phép "Ngũ Hổ độn" cùng "Ngũ Tý độn" đấy.

8. "Lưu niên Thái Tuế Can Chi định lưu niên Mệnh cung" - cần lưu ý theo phép "Ngũ hổ độn"

Mọi người đều biết rằng Mệnh cung của lưu niên thì dùng "Chi" của lưu niên mà quyết định. Tỷ dụ như Lưu niên tại Dậu thì Mệnh cung lưu niên năm nay ở ngay tại Dậu cung.

Vậy thì Can của cung ấy sẽ là gì? Có thể dùng Can của lưu niên thái tuế mà xác định. Năm nay là năm Ất Dậu, như vậy Mệnh cung ở tại cung Dậu, và Can cung là Ất. Cứ thế mà suy rộng ra, Phụ Mẫu cung là Bính Tuất, Phúc Đức cung là Đinh Hợi, Điền Trạch cung là Mậu Tý, Quan Lộc cung là Kỷ Sửu,...

Như thế thì cung Giao Hữu (QNB chú: tức cung Nô Bộc) có phải là Canh Dần không?

Không phải, theo cách sắp xếp Mệnh bàn gốc thì cùng một dạng, bời vì theo Ngũ Hổ độn thì đó chính là khởi điểm, cho nên ta đã từng lặp lại trước đó 2 Can rồi.

Cho nên theo đó mà cung Giao Hữu là Mậu Dần, Thiên Di cung là Kỷ Mão, Tật Ách cung là Canh Thìn, Tài Bạch cung là Tân Tị, Tử Tức cung là Nhâm Ngọ, Phu Thê cung là Quý Mùi, Huynh Đệ cung là Giáp Thân.

Cũng không đơn giản à nha. Cần lưu ý rằng lá số an theo trình an sao từ máy tính sẽ không cho ta kiểu Can cung dịch chuyển như thế được, bởi vì Tam Hợp phái chú trọng vào Lưu niên Mệnh cung cung Can tứ Hóa mà thôi, cho nên Can cung dịch chuyển của cung khác (đối với Tam Hợp phái mà nói thì) dẫu không dịch chuyển cũng chẳng ảnh hưởng gì. Thế nhưng dưới nhãn quan của phái Phi Tinh thì có quan hệ và ảnh hưởng lớn đấy nhé.

(Chúng ta) còn chưa chính thức sử dụng đến "Ngũ hổ độn quyết" cùng Ngũ Tý độn quyết" nhỉ. Mục dưới đây sẽ mở đầu giảng về sự biến hóa của Can trong Tiểu hạn, lưu nguyệt, lưu nhật, lưu thời hạn. Có khả năng là tương đối khó đấy, các đại gia hãy chuẩn bị tâm lý nhé.

(Người viết bài) chú: Trên thực tiễn "Phi tinh phái" có sử dụng Lưu niên Tuế can, cũng có sử dụng cả Lưu niên cung Can nữa. Cụ thể xin xem thêm ở mục "phi tinh mạn đàm 28." - cung Can độn quyết bổ chú.

Độc giả lưu ý:

Theo cách hành văn và thuật ngữ sử dụng của tác giả của loạt bài này thì "Phi tinh phái" sử dụng 2 cung để coi về vận hạn trong 1 năm. Đó là:

- Cung có Lưu Thái Tuế, được chỉ bởi cụm từ "Lưu niên" hoặc "Lưu niên Thái Tuế".

- Cung Tiểu Hạn, được chỉ bởi cụm từ "Tiểu Hạn". Cái này tương đồng ý nghĩa với "Lưu niên Tiểu Hạn" mà chúng ta vẫn thường dùng.

Ví dụ như, ở đề mục mạn đàm số 8., có nói về dùng Can-Chi của "Lưu niên Thái Tuế" để mà xác định Thiên Can của "Lưu niên Mệnh cung":

- Cụm từ "Lưu niên Mệnh cung" ở đây chính là chỉ cung Lưu Mệnh trong niên hạn 1 năm nào đó.

- Cách mà tác giả sử dụng là: lấy Địa Chi của niên hạn cần xét để mà xác định "cung nhập hạn", tức là lấy cung có "Lưu Thái Tuế" năm ấy đến đóng mà làm mốc, như xét năm Dậu thì Lưu Thái Tuế ở cung Dậu và người ta coi đây là "Lưu niên Mệnh cung" của năm Dậu. Tiếp đó, lấy ngay Thiên Can của năm đang xét mà làm Thiên Can của cung nhập hạn luôn, như đang xét năm Ất-Dậu thì lấy luôn Can Ất của năm này áp vào thành Can Ất cho cung Dậu trên lá số. Rồi từ cung Ất-Dậu ấy trên lá số, lần lượt xác định Thiên Can cho 11 cung còn lại, theo chiều thuận -> Bính Tuất -> Đinh Hợi -> Mậu Tý -> Kỷ Sửu --- đến đây phải dừng lại mà lưu ý đến quy tắc Ngũ Hổ độn, để không được chuyển liền từ Kỷ Sửu sang Canh Dần, bởi vì Dần cung luôn luôn phải được dùng làm điểm khởi đầu trong phép Ngũ Hổ Độn, cho nên phần sau đó tác giả mới giải thích về cung Dần mang Can là Mậu, rồi theo đó mà lần lượt thuận chiều Mậu Dần -> Kỷ Mão -> Canh Thìn -> Tân Tị -> Nhâm Ngọ -> Quý Mùi -> Giáp Thân -> (Ất-Dậu).

Chính vì thế cho nên tác giả cũng nói "chưa thực sự dùng đến phép Ngũ Hổ độn", mà tác giả mới nhắc nhở là khi xét Thiên Can cho cung Lưu Mệnh ở cung Lưu Thái Tuế thì đến chỗ cung Dần là cần phải lưu ý đến điểm khởi đầu trong phép Ngũ Hổ độn để mà đỡ có sai lầm thôi.

QNB lấy luôn trường hợp này làm ví dụ cho dễ hiểu:

Ví dụ, năm nay là Giáp Ngọ tại cung Ngọ là mệnh, sau đó Ất mùi = phụ mẫu.... chứ không tính can cung của đại vận đó? (Ngũ hổ độn).

Ta không cần quan tâm cung Mệnh gốc của đương số nằm ở đâu trên lá số, hễ cứ là xét hạn năm Ngọ theo Lưu niên Thái Tuế thì ta cứ lấy cung Ngọ (nơi có Lưu Thái Tuế của năm Ngọ đóng) làm "lưu niên Mệnh cung" - tức cung Lưu Mệnh.

Lại xét hạn năm nay là năm Giáp-Ngọ chứ gì, vậy thì cung Lưu Mệnh của đương số có Thiên Can là Giáp luôn.

Tức là lấy luôn Can-Chi của năm ấy mà ốp vào cung có Lưu Thái Tuế đóng.

Thế rồi lần lượt theo chiều thuận từ Lưu Mệnh là cung Giáp Ngọ -> (L. Phụ Mẫu) Ất Mùi -> (L.Phúc Đức) Bính Thân ->.... -> (L. Thiên Di) Canh Tý -> (L.Tật Ách) Tân Sửu --- tạm dừng lại nhớ đến điểm khởi đầu của Ngũ Hổ độn ---> (L.Tài Bạch) Canh Dần -> (L. Tử Tức) Tân Mão -> (L. Phu Thê) Nhâm Thìn -> (L. Huynh Đệ) Quý Tị -> (trở về Lưu Mệnh là cung Giáp Ngọ).

9. Can cung Đại Hạn gia thêm Ngũ Hổ độn quyết để xác định Can cung tiểu hạn.

Phần trước đã bàn qua về phép xác định của Can cung Đại Hạn cùng Can cung lưu niên. Còn đối với Tiểu hạn, lưu Nguyệt, cùng với lưu Nhật hạn sẽ cần dùng đến phép "Ngũ Hổ độn"; với lưu Thời hạn thì dùng đến phép "Ngũ Tý độn".

Phép khởi Tiểu Hạn, lấy Chi của năm làm chuẩn, không phân Âm Dương gì cả, cứ Nam thì thuận còn Nữ thì nghịch:

Thân Tý Thìn thì khởi tại Tuất

Hợi Mão Mùi thì khởi tại Sửu

Dần Ngọ Tuất thì khởi tại Thìn

Tị Dậu Sửu thì khởi tại Mùi.

Khi tìm được cung vị sở tại của Tiểu Hạn, cần tìm luôn Can cung nhé. Rất nhiều học thuyết đều dùng Can cung của Mệnh gốc mà tính Can cung của Tiểu Hạn, kỳ thực thì Can cung ấy lại phải dùng Can cung Mệnh bàn thông qua phép "Ngũ Hổ độn" mà xác định, chỉ có điều lần này dùng Can cung của nơi Đại hạn đóng.

Ngũ Hổ độn quyết:

Giáp Kỷ chi niên Bính Dần thủ

Ất Canh chi tuế Mậu Dần đầu

Bính Tân tiện do Canh Dần khởi

Đinh Nhâm hoàn tòng Nhâm Dần lưu

Duy hữu Mậu Quý hà phương lạc

Giáp Dần chi thượng hảo thôi cầu.

Mệnh bàn sau đây là ví dụ, năm Nhâm Tý lấy Tuất cung mà khởi Tiểu hạn đầu tiên, giả sử muốn tìm Tiểu Hạn của năm sau 34 tuổi, liền từ cung Tuất nghịch hành tới cung Sửu. Đồng thời Đại hạn 34 tuổi đang tại cung Bính Ngọ, có Can cung của Đại Hạn là Bính; với Ngũ Hổ độn quyết thì "Bính Tân tiện do Canh Dần khởi", cho nên từ cung Canh Dần khởi đếm thuận đến tận cung Sửu:

Canh Dần -> Tân Mão -> Nhâm Thìn ->... -> Kỷ Hợi -> Canh Tý -> Tân Sửu.

(Theo đó) Can-Chi của cung Tiểu Hạn năm 34 tuổi sẽ chính là Tân Sửu.

[QNB chú: độc giả lưu ý, tuy tác giả viết hơi vắn tắt nên có thể người đọc sẽ thấy lằng nhằng khó hiểu 1 chút, nhưng để ý kỹ theo suốt mạch văn thì sẽ thấy rất rõ ràng như sau:

Phía trên, ở mục 8., tác giả đang nói là "năm nay là năm Ất Dậu" thì ta hiểu rằng lúc tác giả viết loạt bài này chính là năm 2005 - Ất Dậu.

Rồi tác giả lấy ví dụ là một người sinh năm Nhâm Tý, và giả thiết muốn tìm Tiểu Hạn "năm sau" tức là Tiểu Hạn năm 2006 - Bính Tuất. Cái chữ "năm sau" là so với thời điểm tác giả đang viết bài. Và tính đến 2006 - Bính Tuất thì đương số Nhâm Tý (1972) được 34 tuổi (thực chất phải là 35 tuổi ta mới đúng).

Đương số Nhâm Tý này phải là Nữ nên Tiểu Hạn mới khởi từ cung Tuất - kể là Tý mà đi nghịch đến cung Sửu thì chính là cung Tiểu Hạn năm Tuất.

Con số tuổi 34 đưa ra chỉ là cái mốc liên quan đến Đại Hạn đang thuộc cung nào mà thôi, và tác giả cho biết Đại Hạn của đương số đang ở cung Bính Ngọ.

Sau đó, tác giả dùng ngay Can của cung Đại Hạn làm yếu tố để dùng Ngũ Hổ độn mà xác định Can của cung Tiểu Hạn năm Tuất vì cho rằng Tiểu Hạn năm 34 tuổi đó đang 1 năm thuộc về thời gian 10 năm của Đại Hạn trên cung Bính Ngọ (đẻ năm Nhâm nên cung Ngọ của lá số gốc có Can Bính).

Tóm lại, phương pháp của tác giả dùng là: Lấy Thiên Can của cung Đại Hạn (có chứa số tuổi tương ứng với năm Tiểu Hạn sẽ xét) mà dùng Ngũ Hổ độn để xác định Thiên Can của cung Tiểu Hạn năm đó].

(Tác giả) chú: Kỳ thực thì Can cung Dần Mão đồng dạng với Can cung Tý Sửu nên có thể đếm nghịch cũng tính ra được.

Nếu như mọi người còn chưa thấy chán thì dưới đây sẽ nói tiếp đến Lưu nguyệt hạn cùng với Lưu nhật hạn.

10. "Can cung Lưu niên gia thêm Ngũ Hổ độn để xác định Can cung Lưu nguyệt" - còn Lưu nhật thì sẽ xem theo Can cung lưu nguyệt.

Mấy bài trên đã từng đàm luận qua về cách xác định Can cung của Đại Hạn, rồi của Lưu Niên, cùng với của Tiểu Hạn ra sao, để lấy mà làm cơ sở cho Phi Tinh Phái có thể phi hóa trên hoạt bàn. Ngoại trừ Can cung Mệnh gốc với Can cung Đại Hạn ra thì các Can cung của Tiểu Hạn, Lưu Niên, Lưu Nguyệt, Lưu Nhật, Lưu Thời đều không ngừng biến hóa. Như vậy, để vận dụng được Phi tinh thì cần phải đặc biệt chú ý đến điểm này.

Bây giờ sẽ tiếp tục nói đến Lưu Nguyệt và Lưu Nhật.

"Khởi Can cung của Lưu nguyệt hạn"

Từ "mệnh cung lưu niên" khởi nghịch đếm đến tháng sinh, lại từ cung ấy mà đếm thuận đến giờ sinh.

Dùng mệnh tạo sau đây để mà làm ví dụ, Lưu niên mệnh cung tại Dậu, can cung Thái Tuế là Ất (vừa khéo thế nào mà lại cùng với cung Mệnh gốc cùng 1 dạng Can là Ất) đếm nghịch đến tháng sinh là tháng 9 thì tới cung Sửu, lại từ cung Sửu kể là giờ Tý mà đếm thuận đến giờ sinh là giờ Hợi thì tới cung Tý. Cung Tý này chính là chỗ của Lưu niên đẩu quân của năm Ất Dậu, cũng chính là tháng đầu tiên của Lưu nguyệt hạn. Tháng thứ hai của Lưu nguyệt là ở cung Sửu, tháng thứ ba của Lưu nguyệt là ở cung Dần,... cứ thế mà suy rộng ra.

Lấy Can cung lưu niên là Ất để làm chuẩn, áp dụng Ngũ Hổ độn "Ất Canh chi niên Mậu Dần đầu", cho nên sự phân bố của 12 cung chính là từ cung Mậu Dần. Tại ví dụ này khá cá biệt, vừa khéo thế nào mà Can cung của cung Dần theo Mệnh gốc lại cũng là Mậu. Cho nên xem như là khá dễ dàng, Can cung của tháng 4 ở cung Mão chính là Kỷ.

"Khởi Can cung lưu nhật hạn"

Cung Lưu nhật thì ngày thứ nhất chính là ở tại cung vị của Lưu nguyệt, cứ thế mà thuận hành các ngày thứ 2, 3,... vân vân. Lấy hôm nay là ngày 20 làm ví dụ, do (lưu nguyệt hạn) tháng 4 từ Mão cung mà bắt đầu đếm thuận cho đến 20 thì sẽ đến cung Tuất.

Can cung lại dùng Ngũ Hổ độn để mà xác định, lần này thì ta dùng Can cung của cung lưu nguyệt mà làm chuẩn. (Vì) Cung Lưu nguyệt có Can là Kỷ, mà "Giáp Kỷ thì Bính Dần thủ" cho nên Dần cung sẽ mang Can là Bính, đếm thuận đến Tuất cung thì chính là can Giáp. Do đó mà hạn Lưu nhật của ngày 20 tháng 4 sẽ ở trên cung Giáp Tuất.

Còn như xác định "Lưu thời hạn" thì lại phải dùng đến "Ngũ Tý độn". Bài dưới đây sẽ tiếp tục nói đến.

11. Can cung Lưu nhật gia thêm Ngũ Tý độn để xác định Can cung Lưu thời.

Ngũ thử (Tý) độn quyết:

Giáp Kỷ chi nhật khởi Giáp Tý

Ất Canh chi nhật thành Bính Tý

Bính Tân chi nhật khởi Mậu Tý

Đinh Nhâm chi nhật khởi Canh Tý

Mậu Quý chi nhật khởi Nhâm Tý

Trước là phải tìm ra Can ngày rồi mới vận dụng Ngũ Tý độn quyết. Sử dụng luôn ví dụ Mệnh bàn ở ngay bên trên đây, đã biết là ngày 20 tháng 4 là Giáp Tuất, đếm thuận tới ngày 24 tháng 4 chính là: Giáp Tuất (20) -> Ất Hợi (21) -> Bính Tý (22) -> Đinh Sửu (23) -> Bính Dần (24 - khởi điểm của phép Ngũ Hổ độn, can Bính là trùng lặp lại).

(Vậy) ngày 24 tháng 4 là tại Dần cung, có Can cung là Bính.

Lấy "Ngũ Tý độn" mà khởi Can từ cung Tý, theo câu "Bính Tân chi nhật khởi Mậu Tý", cho nên giờ Tý của ngày 24 tháng 4 là ở tại cung Tý và Can cung là Mậu; giờ Sửu ở tại cung Sửu với Can cung là Kỷ,... cư thế mà suy ra.

Liền một mạch mà nói quá nhiều về các lý luận cơ bản thì khả năng sẽ làm cho mọi người khó mà tiêu hóa được, thành thực xin lỗi vậy. Nhưng để bắt đầu thảo luận về hoạt bàn phi tinh, thì những lý luận đó đúng là không thể không biết được.

Nếu như quý vị có lưu ý, thì ta chưa hề vận dụng "Ngũ hổ độn quyết" cùng "Ngũ thử độn quyết" của Phi Tinh phái để mà phân biệt ở tại Tiểu Hạn, Lưu Nguyệt, Lưu Nhật cùng Lưu Thời.

Làm thế nào để biết thời cơ kiếm tiền? Các bài tiếp theo sẽ bàn tới ứng dụng phi tinh để biết thời cơ kiếm tiền.

(Nguồn: sưu tầm)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Phi tinh màn đàm

Xem tướng nhận diện nhân tài trong tương lai –

Theo nhân tướng học, những đặc điểm dưới đây là biểu hiện của những người có tài. Đôi mắt sâu là tướng mắt đẹp, Người có tai cao là người rất nhạy bén, … 1. Người có mũi to và thẳng Người có mũi to và thẳng, hơn nữa chóp mũi lại tròn đầy, hai bên gò

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Theo nhân tướng học, những đặc điểm dưới đây là biểu hiện của những người có tài. Đôi mắt sâu là tướng mắt đẹp, Người có tai cao là người rất nhạy bén, …

1. Người có mũi to và thẳng

tai-1

Người có mũi to và thẳng, hơn nữa chóp mũi lại tròn đầy, hai bên gò má cũng đầy đặn, đó là những người vô cùng sung sức hết lòng vì sự nghiệp. Khi quan sát tướng mạo của những người đã thành đạt, có chức có quyền thì phần lớn đều là người có tướng mũi to và thẳng, đó là tướng mạo phú quý điển hình.

Người có tướng mạo này cũng là người có tính tự chủ cao, họ là người có đầu óc rộng mở đối với sự nghiệp.

2. Người có mắt dài và sâu

tai-2

Đôi mắt sâu là tướng mắt đẹp, người có tướng mắt như vậy đều là người giàu khả năng tư duy, trí tuệ hơn người, họ không những có khả năng quan sát nhạy bén mà còn có nội tâm sắc sảo, biết cách tiến thoái, được nhiều người khen ngợi và nể phục.

Người có mắt sâu lại thêm đặc điểm mắt dài thì càng đẹp. Mắt dài chính là hình dạng của “mắt phượng” theo truyền thống, người có tướng mạo như vậy không chỉ giỏi vươn lên về địa vị cao mà còn có tài trí hơn người.

3. Người có tai cao

Hình dạng tai cao là vành tai cao quá mắt, là người có năng lực học tập nhạy bén hơn người, họ không có tính cách kỳ quái lại không thích những gì thuộc vào chủ nghĩa hư vô, là người có trí thông minh nhưng lại không đảm nhận công việc, chỉ có thể tích cực thể hiện trong học tập và sự nghiệp mà thôi.

Đây là người giàu năng lực, sáng tạo, phù hợp với công việc nghiên cứu mới hoặc có tính chất mở mang. Sự thông minh và sáng suốt của người này rất dễ có những sáng kiến đột phá để khắc phục nhiều vấn đề còn tồn tại.

4. Người có mắt to và sáng

tai-3

Người có mắt to đều là người rất thích kết bạn, cho nên bẩm sinh họ đã là nhân tài trong các mối quan hệ với cộng đồng.

Thêm một đặc điểm là mắt sáng long lanh thì chứng tỏ người này có tính cách lạc quan, rộng mở, là người biết cố gắng tìm tòi trong công việc và thành tựu trong cuộc sống.

Công việc thuộc loại kiên kết và đàm phán với bên ngoài họ cũng làm rất tốt bởi họ rất khéo thu phục lòng người. Có tài kết giao tình cảm nên họ có sự giúp ích rất lớn trong việc phát triển mối quan hệ của công ty.

5. Lông mày hình lưỡi kiếm

Cặp lông mày rộng, đồng thời đường lông mày hướng thẳng lên trên, không bị rối và gấp khúc, giống như hai thanh kiếm ở trên mắt người ta gọi đó là “lông mày lưỡi kiếm”.

Những người này rất thích hợp với công việc kinh doanh, họ không những làm việc trôi chảy mà còn rất chú tâm, rất coi trọng danh dự, tuyệt đối không dùng những hành động nhỏ nhen trái với bản chất đại hiệp quang minh, lỗi lạc.

6. Lông mày lá liễu (lông mày như trăng non)

Người sinh ra có lông mày lá liễu, cong như trăng non là người quý trọng tình cảm con người. Những người sinh ra như vậy thường có dáng vẻ đoan trang, nhã nhặn, cũng là người ăn nói nghiêm túc, cẩn trọng. Loại người này có tình cảm tế nhị, rất dễ sống cùng, thích hợp là người thân cận bên cạnh những người quản lý, chứ không thích hợp làm người quản lý.

7. Lông mày sư tử, mắt hổ

Lông mày sư tử mắt hổ, nghĩa là kiểu lông mày rậm, kết hợp với ánh mắt sắc nhọn. Người có tướng mắt và lông mày như vậy thường là người có khí phách rất lớn, có khả năng đánh trận tốt. Cách cư xử của họ cũng không đến nỗi tồi, không phải là kẻ bạc tình vô nghĩa.

Bên cạnh những mặt tích cực, họ cũn có những mặt tiêu cực như sự ham hố, rất thích công trạng. Để đạt được mục đích, họ ít nhiều cũng dùng đến thủ đoạn xấu.

8. Dái tai to và dầy

tai-4

Người có tai to, dầy, đầy đặn, vành tai rõ ràng, gần như tướng tai của phật Di Lặc chính là tướng rất đẹp. Xem tướng mạo của các doanh nghiệp, những ông chủ giàu có phần lớn đều là những người có đôi tai to và đầy đặn, điều đó chứng tỏ rằng đó là đặc trưng của sự giàu có, phú quý.

9. Lông mày dài quá mắt

Người có đôi mắt to, đồng thời có lông mày dài qua mắt là người có khí sắc trong sáng, khuôn mặt đẹp, sống có tình nghĩa. Những người có tướng mạo này là bạn tốt để kết mối tâm giao.

10. Người có môi dầy, miệng rộng

tai-5

Một đôi môi đầy đặn và đẹp có đặc điểm như sau: miệng khá rộng, môi trên và môi dưới không những đầy đặn mà vành môi còn lộ khá rõ, thêm khóe miệng luôn hé lên trên như cười. Người có tướng mạo như vậy thường là người có tình cảm tế nhị, họ có khả năng cảm nhận về nghệ thuật và văn học khá tốt.

Về phong cách làm việc, những người này thích lịch sự và nho nhã một chút. Trong công việc và xã giao, họ luôn có thái độ thông cảm và mềm mỏng, vì thế họ luôn nhận được sự đồng cảm của mọi ngườì. Có thể nói, người có tướng mạo này có tâm lòng rất bao dung, rộng lớn, là người lãnh đạo tài giỏi theo nguyện vọng của mọi người.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem tướng nhận diện nhân tài trong tương lai –

Quẻ Quan Thế Âm Bồ Tát Lục Lang Phùng Cứu

Điển tích Quẻ Quan Thế Âm Bồ Tát Lục Lang Phùng Cứu có nguồn gốc từ tiểu thuyết truyền kỳ "Dương gia tướng", chứ không phải có nguồn gốc từ chính sử.
Quẻ Quan Thế Âm Bồ Tát Lục Lang Phùng Cứu

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Đây là điển cố thứ Hai hai  trong quẻ Quan Thế Âm Bồ Tát, mang tên Lục Lang Phùng Cứu(còn gọi là Lục Lang Giải Cứu). Điển tích Quẻ Quan Thế Âm Bồ Tát Lục Lang Phùng Cứu có nguồn gốc từ tiểu thuyết truyền kỳ “Dương gia tướng”, chứ không phải có nguồn gốc từ chính sử.

Khi Tống Thái Tông đi chinh chiến lần thứ hai, Dương Nghiệp phụng mệnh yểm hộ, dân chúng bốn châu mới thu phục được di chuyển vào trong cửa ải. Trong trận kịch chiến với quân Liêu, do bị cô lập không có viện trợ, Dương Nghiệp bị vây khốn ở cốc Trần Gia. Sau khi bị trọng thương, ông vẫn gắng sức giết được hàng trăm tên địch, phá được vòng vây. Sau khi phá vòng vây, ông một mình đi theo con đường nhỏ, chưa được bao xa, thì đến một dốc núi, chỉ nghe gió thối ào ào, hổ gầm vượn hú, lại thấy lá rụng tơi bời, trùng đông treo ngược, trước mắt một màn âm u mờ mịt.

Dương Nghiệp dừng bước, ngẩng đầu lên nhìn, thấy trước mắt hiện ra một ngôi miếu cố lâu năm không được tu sửa, hoang phế và sạt lờ, trước cửa có tấm biển, tuy vàng son đã bong tróc, nhưng vẫn có thể thấy rõ được nét chữ. Ông lại gần, thấy trên biển viết ba chữ “Tô Vũ miếu”. Bên cạnh miếu có tấm bia cũ, cao hơn năm thước, ban đầu ông không chú ý, sau đó hàng chữ lớn trên đầu bia đã thu hút ông: “Bia Lý Lăng”. Bỗng từ xa vọng đến tiếng trống động trời, kèn thối vang dậy, tiếng quân Liêu hô lớn: “Nếu ra hàng sẽ miễn tội chết, được làm quan cao và hưởng nhiều lộc. Ai bắt được Dương Nghiệp, sẽ được thăng quan phong tước. Dương Nghiệp nhìn ngôi miếu Tô Vũ, lại nhìn bia Lý Lăng, ngẩng đầu lên trời cười lớn: “Thà làm ngọc vỡ chứ không làm ngói lành, phải học theo Tô Vũ, chớ có giống Lý Lăng!” ông lui ra sau mấy bước, rồi lao thẳng về phía trước, đâm đầu vào bia Lý Lăng mà chết.

Lúc này, Dương Thất Lang vâng lệnh cha, xông ra núi Lưỡng Lang, trở về đem quân giải cứu, lại trúng gian kế của Phan Nhân Mỹ, vu cho Thất Lang tự ý trốn khỏi đất Tấn, câu kết với giặc phương bắc. Thất Lang bị trói lại, treo lên cây cột trăm thước, bị tên của loạn quân bắn chết.

Dương Lục Lang đi suốt ngày đêm, thẳng đến Biện Lương ở Đông Kinh. Một hôm, Dương Lục Lang đi thuyền định qua sông Mặc Thủy, đến giữa sông, người nhà thuyền rút kiếm muốn giết. Dương Lục Lang nhìn kỹ, nhận ra người nhà thuyền, một người là Lang Thiên, một người là Lang Vạn, hai người đó nói với Lục Lang rằng: “Lục gia, nói thực, chúng tôi phụng mệnh đi tuần ven sông, chính là để bắt cậu. Hôm qua cả hai người chúng tôi đều suốt đêm không ngủ, cảm thấy việc này là thất đức! Nếu nói về người khác thì chúng ta không biết, nhưng nếu nói về cha con nhà họ Dương, thì có ai mà không khen ngợi?” Dương Lục Lang nói: Nếu đã như vậy thì xin hai vị tướng quân hãy cứu tôi!”

Hai người nói: “Lục gia! Nếu không cứu cậu, thì chúng tôi đã không chuẩn bị chiếc thuyền này. Nhanh lên, hãy theo chúng tôi!” Nói rồi, họ chèo thuyền vào bờ sông, rời thuyền lên bờ, đưa Lục Lang vào trong khu rừng ở ven sông mà nói: “Lục gia! Phan Nhân Mỹ hãm hại Thất Lang, người người đều thấy rõ. Cậu hãy đến kinh thành thưa kiện, chúng tôi sẽ làm chứng. Còn nữa, hai anh em chúng tôi đã đưa thi thể của Thất Lang đến đây. Cậu ấy chết thật thảm thương! Tống cộng đã trúng một trăm linh ba mũi tên, có bảy mươi hai mũi xuyên qua đầu. Chúng tôi đã đóng chiếc quan tài lớn, đựng cả thi thể và các mũi tên, chôn ở dưới gốc cây lớn trước miếu Hà Bá. Sau này nếu như lão tặc đó không chịu nhận tội, có thể sai người đến lấy thi thể!” Dương Lục Lang nghe xong, vội vàng dập đầu tạ ơn.

Dương Lục Lang chia tay Lang Thiên và Lang Vạn lên đường. Đường đi đến phía tây không có đường lớn, chỉ có cách xuyên rừng, trèo núi, lội suối, vượt sông, đi suốt ngày đêm. Sau đó lại được Dương Ngũ Lang đã xuất gia làm hòa thượng cứu giúp, cuối cùng đã về đến được kinh thành.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Quẻ Quan Thế Âm Bồ Tát Lục Lang Phùng Cứu

Bí quyết đặt két sắt hút tiền tài

Két sắt không chỉ là nơi để cất trữ tiền tiết kiệm cho gia đình, mà trong phong thủy nó còn là nơi thu hút được tài lộc, tiền tài cho gia chủ nhiều nhất. Do vậy, khi đặt két sắt cần đặc biệt chú ý tới phong thủy.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Vị trí đặt két sắt

Về phương vị, két sắt cần đặt ở nơi vượng khí hay đón được nhiều năng lượng nhất trong phòng. Thông thường đó là những vị trí chéo góc với cửa chính.

Trong trường hợp có nhiều lựa chọn, ưu tiên đặt két tại các cung Đông Nam (tài lộc) hoặc những cung tốt so với tuổi của chủ nhân.

Nên đặt két sắt ở hướng Sinh Khí

Một người có 4 hướng tốt và 4 hướng xấu, tùy theo tuổi mà chia ra các hướng tốt khác nhau như Sinh Khí, Diên Niên (Phước Đức), Thiên Y, Phục Vị.

Phong thuy: Bi quyet dat ket sat hut tien tai - Anh 1

Để tìm được hướng Sinh khí, gia chủ hãy lấy cung phi của mình phối với 8 Quái của 8 hướng. Các cặp Quái dưới đây phối với nhau xuôi ngược đều được Sinh khí: đó là Khảm – Tốn ; Ly – Chấn ; Cấn – Khôn ; Càn – Đoài.

Nếu không tìm được hướng Sinh Khí, gia chủ có thể mời các thầy phong thủy nào có dụng cụ đo sóng từ trường để đo và quyết định nơi nào có năng lượng mạnh nhất và hạp hướng nhất để đặt phương vi đó cho hoàn chỉnh hơn.

Nên đặt hướng mở cửa két sắt theo tuổi

Về hướng mở cửa két, tốt nhất nên quay về hướng tốt so với tuổi của chủ nhân. Trong trường hợp không quay được về hướng tốt thì nên ưu tiên quay ra cửa phòng, chú ý không trực tiếp đối diện với cửa phòng. Trước mặt két cần phải rộng rãi, sáng sủa không bị cản trở bởi đồ đạc trong phòng.

Phong thuy: Bi quyet dat ket sat hut tien tai - Anh 2

Nên đặt két sắt theo trạch mệnh, nó là yếu tố quyết định theo Bát trạch, trạch mệnh từng con người. Nếu gia chủ nào may mắn về hướng Sinh Khí (thuộc hướng Đông Nam) thì coi như quá tuyệt vời.

Bài trí két sắt trong phòng ngủ

Việc đặt két sắt trong phong ngủ về cơ bản vẫn cần tuân theo những nguyên tắc trên. Trước mặt két cần phải rộng rãi, sáng sủa không bị cản trở bởi đồ đạc trong phòng. Ngoài ra gia chủ nên đặt thêm 1 con Tỳ Hưu và 2 đồng tiền hoa mai vào trong két tiền.

Hai đồ vật này có tác dụng rất lớn trong việc thu hút tiền tài, thăng quan tiến chức và phòng tránh thị phi, tiểu nhân.

Nếu được đặt trong két sắt thì việc sinh nhập càng diễn ra suôn sẻ và thuận lợi. Đồng tiền có năm cánh, giống bông hoa mai, có tác dụng rất lớn trong con đường công danh, sự nghiệp góp phần làm thăng quan tiến chức và hóa giải kẻ tiểu nhân.

Đặt Tỳ Hưu lên két sắt

Phong thuy: Bi quyet dat ket sat hut tien tai - Anh 3

Tỳ Hưu có tác dụng hút tài lộc bốn phương về cho gia chủ.

Kinh nghiệm hàng ngàn năm của các đại sư phong thủy Trung quốc cho biết Tỳ Hưu là một loại mãnh thú hung mãnh, nhưng lại là một loại mãnh thú mang ý nghĩa tốt lành. Theo truyền thuyết, Tỳ Hưu là 1 loài thú có sừng, có bờm uốn cong rất dài nên còn có tên gọi là "hươu trời". Hai cái sừng của nó có tác dụng trừ tà, về sau nó có xu hướng phát triển thành con thú một sừng.

Người ta nói rằng Tỳ Hưu có tác dụng hút tài lộc bốn phương về cho gia chủ. Khi đặt lên két sắt, đầu Tỳ Hưu phải hướng ra cửa chính, hoặc hướng ra cửa sổ để chiêu tài khí bốn phương.

Đặt Thiềm Thử trên nóc két sắt

Phong thuy: Bi quyet dat ket sat hut tien tai - Anh 4

Ngoài ra, có thể đặt Thiềm Thử trên nóc két sắt. Tương truyền rằng, Thiềm Thừ vốn là yêu tinh xấu, được Lưu Hải Tiên Ông thu phục, cải tà quy chính, tỏa đi muôn ngả giúp đỡ người nghèo khổ bằng cách nhả tiền cho họ.

Thiềm Thừ xuất hiện vào đêm trăng tròn ở gần nhà ai, thì đó là sự báo tin gia chủ nhà ấy sẽ nhận được sự giàu có, phú quý.

Vì vậy, Thiềm Thừ được người đời tôn xưng là con vật quý, biểu tượng cho vượng tài. Khi để Thiềm Thừ trên nóc két sắt, cần chú ý hướng phần đầu của Thiềm Thừ vào trong nhà, cũng không nên đặt đối diện với cửa mà nên đặt hướng theo đường chéo cửa ra vào.

Đặt đồng tiền hoa mai

Phong thuy: Bi quyet dat ket sat hut tien tai - Anh 5

Đồng tiền có năm cánh, giống bông hoa mai, có tác dụng rất lớn trong con đường công danh, sự nghiệp góp phần làm thăng quan tiến chức và hóa giải kẻ tiểu nhân.

Việc đặt đồng tiền hoa mai lên trên két sắt sẽ thu hút được tiền tài về cho gia chủ, tốt cho con đường công danh của gia đình./.

Theo Nhật Linh (tổng hợp) / Gia đình Việt Nam


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Bí quyết đặt két sắt hút tiền tài

Nên chọn loại đèn chiếu sáng trong phòng khách như thế nào? –

Đèn trong phòng khách ngoài chức năng chiếu 182 sáng còn có chức năng trang trí. Do vậy, khi chọn đèn trong phòng khách, bạn nên chú ý đến công dụng của một ố loại đèn để có thể đạt được mục đích thiết thực nhất. Ngoài ra, còn phải căn cứ vào màu tườ

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

ng và màu trần nhà để chọn đèn chiếu sáng cho phù hợp. Khi chọn dáng đèn cụ thể nên chú ý tới chao đèn và ánh đèn để tránh sự tương phản.

Cũng giông như bức xạ sóng ánh sáng của tia mặt trời, ánh sáng đèn cũng ở dạng sóng, bởi số oát (W) của bóng đèn khác nhau mà bước sóng của chúng khác nhau. Nếu trong nhà bô” trí đèn tùy tiện, làm nhiễu loạn sự cân bằng của khí trường trong nhà sẽ không có lợi cho sức khỏe con người. Điều này cũng chính là lý lẽ nói trong đạo phong thủy học truyền thông: Quang sát không có lợi đôi với người, bởi vậy việc bố trí loại đèn và ố lượng bóng đèn trong nhà là điều không thể coi thường.

Để có thể đọc sách, xem tivi, sử dụng vi tính ngay trong phòng khách thì bạn nên dùng các loại đèn chiếu sáng thông thường, ví dụ như đèn voníram, huỳnh quang… Những loại đèn này phát ánh sáng mạnh có thể để trong hộp đèn song có nhược điểm là không thể điều chỉnh được cường độ ánh sáng.

noi-that-dep-cho-phong-khach_4644

Với một phòng khách yên tĩnh và được trang trí nhiều tác phẩm nghệ thuật, bạn nên bô” trí hai loại đèn. Một loại đèn được gọi là đèn bôi cảnh để giữ nguồn sáng nhất định trong phòng, bố trí tại nơi bạn tiếp khách. Loại đèn thứ hai là đèn triển thị, hoặc đèn chụp ánh sáng. Sử dụng loại đèn này trong trường hợp muôn đạt được hiệu quả nghệ thuật đột xuất, như chiếu tập trung vào bức bích họa hoặc một tác phẩm nghệ thuật nào đó. Sau khi làm tăng độ chiếu sáng, sẽ khiến thị giác đối với đường nét, cảnh sắc của tác phẩm tăng bội phần trước hiệu ứng quang học. Loại đèn chiếu thường dùng trong gia đình là đèn thạch anh, có nhiệt trị cao nhưng tuổi thọ ngắn, nên không thích hợp với việc bật sáng thường xuyên. Ngồi nói chuyện trong không gian nghệ thuật như vậy, câu chuyện của bạn sẽ thêm hấp dẫn và lãng mạn hơn.

Khi thiết kế đèn áp tường, bạn nên chọn bóng đèn voníram áp thấp. Loại đèn này có ánh sáng trắng, đẹp, tinh khiết, đặc biệt là khi nhiệt lượng toả ra từ đèn sẽ được chụp đèn phản quang hấp thụ ngay lập tức, do đó ánh sáng của đèn không bị nóng, rất thích hợp dùng làm đèn áp tường.

Ngày nay, có nhiều loại bóng đèn với đủ kích cỡ to nhỏ và màu sắc đa dạng, bạn có thể trang hoàng thêm cho phòng khách của mình với ý nghĩa của màu sắc như: Đèn màu hồng và màu vàng tạo cảm giác ấm áp Đèn màu xanh lam, xanh lục tạo cảm giác lạnh, hoặc tường màu đậm sẽ hấp thụ ánh sáng nhiều hơn, do vậy nên chọn đèn có ánh sáng mạnh.

Khi thiết kế lắp đặt đèn trong phòng khách, bạn cần đặc biệt chú ý đến đường dây đi chìm dưới sàn nhà hoặc đi trong tường, kể cả ổ cắm trong tường đều phải bố trí cẩn thận, tránh ảnh hưởng đến mỹ quan, đồng thời cũng để bảo đảm an toàn.

Trên trần, tường phòng khách có thể lắp đèn ống, đồng thời căn cứ vào nhu cầu ánh sáng mà lắp thêm một vài bóng đèn dây tóc hoặc bóng tiết kiệm năng lượng. Công suất của loại bóng dây tóc khoảng 15 – 60W, còn của loại bóng tuýp tiết kiệm năng lượng từ 9 – 12W.

Ngoài ra còn có thể dùng đèn treo trong phòng khách. Loại đèn này có tác dụng điều tiết và khống chế chiếu sáng, có thể cân bằng hiệu quả màu ánh sáng, điều tiết không khí trong nhà, sáng tạo phong cách, tăng lớp cảm giác.

Nếu trong nhà bố trí đèn hợp lý, thì ngoài việc đáp ứng đủ nhu cầu ánh sáng còn có thể thể hiện sự ấm cúng tao nhã, dễ chịu, hài hòa trong gia đình, thậm chí còn tạo nên không khí lãng mạn, bởi vậy khi bô” trí đèn chiếu sáng trong nhà cần hết sức chú ý sao cho thật hợp lý.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Nên chọn loại đèn chiếu sáng trong phòng khách như thế nào? –

Tiết khí với Tử Vi Đẩu Số

Một bài dịch khá hay của anh Quách Ngọc Bội. Mời mọi người cùng tham khảo.
Tiết khí với Tử Vi Đẩu Số

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Bài viết chép lại của anh Quách Ngọc Bội

Đẩu Số với Tiết Khí

Trong các thảo luận về mệnh lý tại các khu vực khác nhau, thỉnh thoảng lại có người nhắc đến vấn đề tương quan giữa Tử Vi Đẩu Số với Tiết Khí. Có thể thấy rằng, Tử Vi Đẩu Số dù muốn hay không muốn tham khảo đến vấn đề của Tiết Khí thì cho đến nay vẫn cứ đã và đang khiến nhiều học giả nghiên cứu tử vi cảm thấy có chút bối rối. Thành thực mà nói, cá nhân tôi (QNB chú: tác giả bài viết, Phan Văn Khâm, Đài Loan) cũng từng rất bối rối, có thời gian dài mà tôi thậm chí chả dám dùng Tử Vi Đẩu Số để mà toán mệnh cho người ta ấy chứ!

Suy cho cùng thì Tử Vi Đẩu Số ở trong lúc bài bố mệnh bàn (lá số) có cần hay không việc đối chiếu với Tiết Khí đây? Trước khi thảo luận nghiên cứu vấn đề này, chúng ta còn nhất thiết phải giải quyết một vấn đề tranh nghị nhiều năm từ xưa đến nay của môn Tử Vi Đẩu Số, đó chính là vấn đề của "tháng Nhuận". Bởi vì vấn đề "tháng Nhuận" và "Tiết Khí" có tồn tại mối quan hệ rất mật thiết.

Người từng học qua môn Tử Vi Đẩu Số đều biết rằng, trong việc an lá số mà đụng phải vấn đề đương số sinh vào tháng Nhuận là một vấn đề khá hóc búa (tối thiểu thì với người mới học là như vậy). Song, đối diện với thời đại trăm nhà đua tiếng về thuật số, riêng đối với phép bài bố tháng Nhuận của Tử Vi đẩu số đã có rất nhiều phương pháp khiến cho người ta phải suy nghĩ.

Có người nói, tháng Nhuận thì cứ lấy tháng sau đó mà toán; có người cho rằng lấy chính tháng đó mà toán; còn có người nói theo tháng sau đó mà khởi 2 cung Mệnh Thân nhưng mà các tinh diệu theo tháng thì vẫn lấy tháng trước đó để bài bố an định; lại thêm có người đem tháng trước đó với tháng Nhuận cộng lại khởi đến gần 60 ngày; v.v...

Các bố đó kiến giải nhiều cái cũng rối rắm khiến cho người ta bất giác hoa mày chóng mặt. Thế nhưng mà, trong đó có rất nhiều luận điệu kỳ kỳ quái quái, cứ như là chẳng ai sẵn lòng đem Tử Vi Đẩu Số để đối mặt với "Tiết Khí". Chỉ đơn giản là do một câu "Bất y Ngũ Tinh yếu quá Tiết" (chẳng giống như môn Ngũ Tinh chú trọng đến Tiết Khí) ở trong bài Tử Vi Đẩu Số Tổng Quyết.

[Xin chú ý! bài Tử Vi Đẩu Số Tổng Quyết nói trên trong hai bản cổ thư của môn Tử Vi Đẩu Số, thì chỉ có cuốn <<Thập Bát Phi Tinh sách thiên Tử Vi Đẩu Số toàn tập>> có ghi lại, còn trong một cuốn khác là <<Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư>> lại hoàn toàn chẳng thấy có ghi lại!]

(QNB chú: bản TVĐS Toàn Thư mà QNB dịch cũng không thấy ghi chép về bài quyết này, nhưng QNB có sưu tầm từ một số nguồn khác nhau và cũng đã có dịch bài Đẩu Số Tổng Quyết này đăng trên tuvilyso.org và chép lại trong quyển Tử Vi Ca Phú Tập Thành. Quý độc giả nêu chưa rõ bài này thì tham khảo thêm).

Không biết quý vị độc có từng hay không nảy ra ý nghĩ là, nhỡ may cái câu "Bất y Ngũ Tinh yếu quá Tiết" chính là "ngụy quyết" (câu quyết giả) hoặc là cả cái bài Tử Vi Đẩu Số Tổng Quyết ấy đều là "ngụy quyết" thì làm sao?

Mọi người chớ có vội cho rằng bút giả nói chuyện giật gân, từ rất lâu rồi cho tới nay trong giới Đẩu Số vẫn liên tục có tồn tại tranh luận <<Thập Bát Phi Tinh sách thiên Tử Vi Đẩu Số toàn tập>> và <<Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư>> thì quyển nào mới là "Thiên Thư" chính thống. Chỉ đơn giản là trong hai bản cổ thư đó có tồn tại rất nhiều sự khác biệt. Trong các sách của giới tiền bối mệnh lý trụ cột như Liễu Vô Cư Sĩ, Tuệ Canh, Nhật Nguyệt Đạo Nhân,... có thảo luận tỉ mỉ kỹ càng với các khảo chứng, cái gì thực cái gì hư, đọc giả có thể tự mình nhận xét đánh giá, bút giả khỏi cần phải nói rườm rà thêm!

Trở lại với nội dung chính của vấn đề, đầu tiên chúng ta nghiên cứu xem "tháng Nhuận" là cái gì?

Trước hết, chúng ta cần bắt đầu nghiên cứu một chút về "Lịch Pháp" của Trung Quốc. Ở đây chúng ta viện dẫn trong sách <<Lịch pháp tùng đàm>> (phiếm đàm về Lịch Pháp) của tiên sinh Trịnh Thiên Kiệt trước tác, do Đại Học Văn Hóa Trung Quốc xuất bản:

Trung lịch dựa theo nóng lạnh bốn mùa mà xác định năm, lấy Đông Chí làm Tuế Nguyên (bắt đầu của năm), từ Đông Chí này đến Đông Chí tiếp theo là 1 năm; Nhật Nguyệt hợp Sóc mà xác định tháng, lấy ngày Sóc làm Nguyệt Thủ (đầu mối của tháng),... Cho nên "niên vi hồi quy niên" (năm là "năm hồi quy"), còn gọi là "năm Thái Dương"; nguyệt vi hợp sóc nguyệt (tháng là tháng theo Sóc), cũng gọi là "tháng Sóc Vọng" hoặc là "tháng Thái Âm";...

Năm Trung lịch là năm Thái Dương, độ dài của năm có 365.2422 ngày, gọi là Tuế Thực, một năm dựa vào Thái Dương ở tại vị trí trên vòng Hoàng Đạo mà chia làm 12 Tiết nguyệt, tức 12 tháng Thái Dương,... Dựa vào 12 Chi làm thứ tự Tiết nguyệt, còn gọi là Thập Nhị Kiến Nguyệt.

Trung lịch căn cứ vào sự tròn khuyết của Thái Âm để tính toán tháng, mỗi một tháng Thái Âm có độ dài là 29.53058 ngày, gọi là Sóc Sách, lấy số nguyên là 30 ngày hoặc 29 ngày làm một tháng (âm) lịch.

Trung lịch lấy 12 tháng Thái Âm làm một năm (âm) lịch, số ngày của một 12 tháng Thái Âm lịch trong một năm là 354 hoặc 355 ngày;

Một năm (âm) lịch so với Tuế Thực của năm dương lịch ước chừng ít hơn 11 ngày. Cho nên một vài năm lại cần bố trí tháng Nhuận để điều chỉnh Tiết hậu. Năm Nhuận thì một năm có chứa 13 tháng (âm) lịch.

Trung lịch dựa vào tháng Thái Âm của nó cần phối hợp Nguyệt tượng, trường độ Sóc Sách của một tháng, hợp với 29.53058 ngày; dựa vào năm Thái Dương của nó cần phối hợp Tiết Khí, trường độ của một năm, Tuế Thực, hợp với 365.2422 ngày; đem trường độ của Sóc Sách với Tuế Thực đối chiếu lên để tìm ra bội số chung nhỏ nhất của chúng chính là 19 năm (tính theo năm Thái Dương) gọi là 1 Chương, trong một Chương có 235 tháng (tính theo tháng Thái Âm), số ngày của nó và số ngày của 19 năm Thái Dương là tương đồng (6939.6 ngày)... Đó là lý do mà trong 1 Chương, 19 năm, thì thiết lập có 7 tháng Nhuận....

Chúng ta nên biết rằng, biến đổi diễn hóa của bất kỳ một môn mệnh lý thuật số thì không có môn nào mà các bậc tiên hiền cổ thánh lại không căn cứ vào định luật của thế giới tự nhiên hoặc là quy luật vận hành của Nhật Nguyệt theo sự quan sát mà suy tính ra. Theo như bên trên đã nói, chúng ta có thể biết được "Tháng Nhuận" chính là vì sự phối hợp năm Thái Dương được dùng để điều chỉnh số phần tháng Thái Âm. Trong Thiên Văn, Lịch Pháp, hoặc Chiêm Tinh học, "tháng Nhuận" chỉ là chúng ta sửa đổi lại việc thiết kế an bài của "Năm". Tháng của Thái Âm lịch có thứ tự từ tháng Giêng (Chính Nguyệt), tháng Hai, tháng Ba,... tháng Mười Hai (Chạp) cũng chính là sự bài bố theo số chứ chẳng có công dụng gì khác trên thực tế, trái lại, mỗi một Thái Dương Tiết Nguyệt trong Thiên Văn học lại có một địa vị trọng yếu tương xứng với nó. Quý vị mà không ngại thì hãy xem lại ngày sinh dương lịch của bản thân mình, bởi vì mỗi năm vào ngày ấy thì vị trí Thái Dương trên Hoàng Đạo là đều tương đồng vị trí với lúc sinh ra. Nhưng mà người Trung Quốc luôn luôn chịu ảnh hưởng sâu sắc và coi trọng ngày sinh theo nông lịch (lịch âm), mà theo Thiên Văn thì nó không có nhiều điểm đặc biệt. Đó là lý do mà chúng ta không thể không nghi ngờ chất vấn trong môn Tử Vi Đẩu Số đối với vấn đề phép xem "tháng Nhuận" dường như có ý nghĩa bàn luận có giá trị đặc biệt.

Đã từng có đại sư môn Đẩu Số cho rằng phải căn cứ vào "Thái Âm lịch" mà quy định (đây cũng là quan điểm mà nhiều đại sư Đẩu Số khăng khăng giữ). Nhưng mà, chúng ta cho rằng cái quan điểm đặc biệt ấy có giá trị thảo luận, chúng ta đừng ngại nghiên cứu thêm một chút:

Trước tiên, chúng ta khảo cứu tất cả lịch pháp của Trung Quốc, ngàn năm qua đều áp dụng "Âm Dương hợp lịch", vì vậy mới có sự xuất hiện của "tháng Nhuận". Còn nếu chỉ dùng riêng mình "Thái Âm lịch" thì tựa hồ như chưa từng xuất hiện qua, dù cho trong dân gian lấy Thái Âm để tính toán tháng, cũng đều là vẫn muốn phối hợp Tiết Khí làm căn cứ, điểm này chúng ta có thể qua nông lịch thịnh hành trong dân gian mà hiểu được.

Thứ hai, cho dù nói theo quan điểm của Thiên Văn học và Vật Lý học, lực ảnh hưởng của Thái Dương (Mặt Trời) đối với Địa Cầu nếu như so với Mặt Trăng thì mạnh hơn rất nhiều. Chúng ta đều biết rằng, hết thảy các sinh vật trên Địa Cầu đều có 3 yếu tố duy trì sinh mệnh là: Ánh dương quang, Không khí và Nước. Trên Địa Cầu nếu như mà không có dương quang thì sẽ không có tồn tại sự sống, do đó, giả sử như Tử Vi Đẩu Số trong buổi thiết lập ban đầu sơ khai, mà bỏ qua Thái Dương không dùng lại chỉ dùng mỗi Nguyệt Lượng (Mặt Trăng), thì dường như lại có điểm không thể nào nói nổi. Đây cũng chính là cái mà tại làm sao hết thảy các môn thuật số Trung Quốc bao gồm: Bát Tự, Lục Hào quái, Mai Hoa dịch, Kỳ Môn Độn Giáp, Phong Thủy Dương Trạch, Tướng Mặt Tướng Tay,... đều cần tham chiếu Tiết Khí của Thái Dương lịch làm căn cứ xuất phát. Thậm chí, ngay cả thuật Chiêm Tinh phương Tây cũng đều chịu ảnh hưởng sâu sắc của Tiết Khí ấy chứ! (Trong chiêm tinh học, Thái Dương qua 12 chòm sao Hoàng Đạo chính là cái mà chúng ta gọi là Tiết Khí). Đương nhiên, Nguyệt Lượng đối với chúng ta cũng có lực ảnh hưởng tương đối lớn, điểm này, sau đây chúng ta sẽ thảo luận nghiên cứu.

Lại theo kết cấu bên trong của Tử Vi Đẩu Số để xét, giả sử nếu quả thực Tử Vi Đẩu Số chỉ khảo sát mình Thái Âm lịch hoặc năm Thái Âm, thì tại sao trong kỹ thuật Đẩu Số còn cần thiết lập một ngôi sao "Thái Dương" để làm cái gì? Trong phần "Chư Tinh vấn đáp luận" của sách Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư có ghi chép:

"Thái Dương tinh thuộc hỏa nhật chi tinh vậy, chính là biểu nghi của tạo hóa,... làm nguồn chiếu sáng ở trong số, chính là then chốt của quan lộc...

Hi Di tiên sinh viết: Độ số trải qua vòng chu thiên của Thái Dương tinh vận chuyển vô cùng...

Bạch Ngọc Thiềm tiên sinh viết: Thái Dương ti quyền quý làm văn, gặp Thiên Hình thì làm võ, tại Dần mão là sơ thăng (mới bắt đầu mọc), tại Thìn Tị là thăng điện (đã lên đến cung điện), tại Ngọ là Nhật lệ trung thiên (Mặt trời sáng rực rỡ giữa bầu trời), đại phú đại quý, tại Mùi Thân là thiên viên (xế khỏi cung viên)... tại Dậu là Tây một (lặn xuống phía Tây)... tại Tuất Hợi Tý là thất huy (mất ánh sáng)... v.v..."

Những quan điểm này đều cùng phù hợp với Thái Dương ở trong Chiêm Tinh học, có thể thấy trong buổi ban sơ thiết lập môn Đẩu Số, đích xác có suy xét khảo sát đến lực ảnh hưởng của Thái Dương.

Theo những gì đã thảo luận trong đoạn nói trên, chúng ta thực sự không tìm ra chứng cứ mạnh mẽ của việc Tử Vi Đẩu Số lấy Thái Âm lịch làm chủ. Có lẽ sẽ có người nghi ngờ chất vấn:

- Không lẽ vận hành của Nguyệt Lượng (mặt trăng) với Sóc Vọng tròn khuyết của nó lại không có ảnh hưởng tới sinh vật hay sao?

Chúng tôi có thể khẳng định chắc chắn với mọi người rằng:

- "Có"! Nguyệt Lượng thực sự cũng có lực ảnh hưởng rất lớn.

Trong Chiêm Tinh học, lực ảnh hưởng của Nguyệt Lượng là ngay kế sau Thái Dương. Trong mệnh bàn (lá số) có chiếm phân lượng tương đương. Nhưng mà then chốt của sự biến hóa thay đổi tròn khuyết của nó là ở "Nhật" (ngày) chứ không phải là ở "Nguyệt" (tháng). Chúng ta đều biết rằng ngày mồng Một âm lịch là không thấy ánh trăng, mà lúc trăng tròn thì nhất định là xảy ra xung quanh ngày 15. Cái này cũng chính là vì sao mà Tử Vi Đẩu Số khi an bài xác định sao Tử Vi cần phải theo ngũ hành Cục phối hợp với "số ngày sinh" để khởi. Ví dụ như: Trong khẩu quyết khởi Tử Vi tinh của Thủy Nhị Cục:

"Khảm thủy cung trung nhị tuế hành,

sơ nhất khởi sửu xuất nhị dần,

thuận hành nhất cung an nhị nhật,

âm dương tuy thù hành tắc đồng"

Nghĩa đen:

"Trong cung Khảm thủy hai năm chuyển

Mồng Một khởi ở Sửu, ra đến mồng Hai ở Dần

Chuyển theo chiều thuận, mỗi cung an hai ngày

Âm dương tuy có khác biệt nhưng di chuyển thì lại giống nhau"

Nôm na tức là:

"Đối với cung có Cục thuộc hành Thủy và cơ số vận hành là 2

Khởi sao Tử Vi với ngày mồng Một tại cung Sửu, mồng Hai tại cung Dần

Chuyển theo chiều thuận, cứ mỗi cung thì an hai ngày tiếp theo

Âm Dương tuy có khác biệt nhưng di chuyển lại giống nhau".

Ngoài ra thì ngũ hành cục khởi Tử Vi tinh cũng đều là tương đồng.

Trở lại, chúng ta xem phương pháp sắp đặt Mệnh Thân cung của Tử Vi Đẩu Số với phương pháp xác định cung Mệnh trong Chiêm Tinh học cũng có chút sự giống nhau. Lấy môn Quả Lão Tinh Tông (hoặc gọi là Thất Chính Tứ Dư) làm ví dụ, phương pháp an cung Mệnh của nó là lấy Thái Dương đến trong cung Hoàng Đạo mà khởi giờ sinh, thuận hành đếm đến Mão thì an cung Mệnh; còn phương thức của Tử Vi Đẩu Số thì lấy tháng sinh khởi giờ Tý, đếm nghịch đến giờ sinh thì an cung Mệnh. Phương diện này kỳ thực là có yếu tố tương tự rất to lớn, người nào mà học qua Thất Chính Tứ Dư (hoặc Chiêm Tinh) đều biết rõ, Thái Dương đến trong cung Hoàng Đạo kỳ thực chính là Tiết Khí mà chúng ta vẫn thường dùng, cũng chính là "tháng Thái Dương"; mà giải thiết là Tử Vi Đẩu Số cũng dùng Tiết Khí để phân chi Nguyệt Lệnh, như thế thì chẳng phải là cách an cung Mệnh của Tinh Tông và Tử Vi Đẩu Số là đều cùng một dạng theo Nguyệt Lệnh khởi đầu hay sao? Khác biệt chỉ ở phép đi thuận nghịch theo cung vị mà thôi. (Ở trong điều này còn liên quan tới vấn đề kết cấu của mệnh bàn Đẩu Số với Tinh Tông, có lẽ sau này sẽ trình bày ra).

Nếu như chúng ta còn bới lông tìm vết, theo cổ thư bắt đầu khảo chứng, cũng có thể tìm được một chút manh mối để thảo luận:

Hiện nay các học giả Tử Vi Đẩu Số chủ trương rằng nguyên do mà Tử Vi Đẩu Số không theo Tiết Khí là căn cứ cổ thư <<Thập Bát Phi Tinh sách thiên Tử Vi Đẩu Số toàn tập>> bên trong có bài "Tử Vi Đẩu Số Tổng Quyết" để mà lý luận. Chúng ta tạm thời trước tiên không bàn luận tới tính chân thực của nó, chỉ đơn thuần thảo luận nghiên cứu về câu bên trong bài "Tử Vi Đẩu Số Tổng Quyết":

"Tử Vi Đẩu Số Tổng Quyết" khai tông minh nghĩa có giảng rằng:

"Hi Di ngưỡng quan thiên thượng tinh,

Tác thành đấu sổ thôi nhân mệnh,

Bất y Ngũ Tinh ( yếu ) quá tiết,

Chích luận niên nguyệt nhật thì sinh

...

Hà dụng cầm đường giảng Ngũ Tinh".

=

(Ngài Hi Di ngẩng đầu ngắm sao trên trời,

Tạo ra môn Đẩu Số để suy đoán mệnh người,

Không giống với (môn) Ngũ Tinh, quá chú trọng đến Tiết khí,

(Mà) Chỉ luận về năm, tháng, ngày, giờ sinh).

...

Thì còn cần dùng phòng nhạc ("cầm đường") để giảng về môn Ngũ Tinh nữa chăng?)

và chúng ta thảo luận đến nhân tố then chốt có liên quan ở hai câu là "Bất y Ngũ Tinh yếu quá Tiết" và "Hà dụng cầm đường giảng Ngũ Tinh".

Trước tiên ta phải làm sáng tỏ hai chữ "Ngũ Tinh", bình thường dù sao vẫn cho rằng "Ngũ Tinh" chính là đại biểu cho "Quả Lão Tinh Tông" hoặc "Thất Chính Tứ Dư", nhưng kỳ thực điều này là sự hiểu lầm rất lớn. Cổ nhân giảng "Thất Chính Tứ Dư" là đem Thái Dương, Nguyệt Lượng, Thủy Tinh, Kim Tinh, Hỏa Tinh, Mộc Tinh, Thổ Tinh, mà quy làm "Thất Chính"; mà trong "Thất Chính" thì Thủy Tinh, Kim Tinh, Hỏa Tinh, Mộc Tinh, Thổ Tinh được gọi là "Ngũ Tinh"; địa vị của Thái Dương và Thái Âm là ở trên cả "Tinh". Do đó, "Ngũ Tinh" chẳng qua chỉ là một bộ phận bên trong của "Thất Chính", chứ không thể đại biểu cho toàn bộ "Thất Chính Tứ Dư".

Người mà học qua môn Chiêm Tinh học đều biết rằng trong hết thảy "Thất Chính Tứ Dư" thì chỉ có sự vận hành của Thái Dương với Thái Âm là có quy luật thời gian nhất định, còn "Ngũ Tinh" của nó đối chiếu với thời gian của Địa Cầu mà nói thì không có quy luật nhất định. Chúng ta đem quy luật biến hóa của Thái Dương diễn biến thành "Tiết Khí", còn sự trong khuyết của Thái Âm theo sự vận hành của nó thì biểu hiện sự biến hóa thay đổi theo mỗi một ngày đêm. Nhưng mà sự vận hành của "Ngũ Tinh" thì căn bản không có tuân theo quy tắc thời gian, mà hoàn toàn cần phải dựa vào quan trắc và tính toán theo số học mới có thể biết được. Cái này cũng chính là nguyên nhân vì sao mà cổ nhân học "Thất Chính Tứ Dư" cần phải học đầy đủ về diễn toán (tính toán theo công thức) số học và họ về quan trắc Thiên Văn, chỉ có như thế mới có thể hiểu rõ ràng chính xác về quy tắc vận hành của "Ngũ Tinh". Người hiện đại thì khỏi phải phiền phức như vậy, chỉ cần bấm máy tính một cái, thì toàn bộ vị trí của Thất Chính Tứ Dư đều hiển hiện rõ ràng! Bởi vậy, tại đây tôi nhất định phải nhấn mạnh rằng:

Sự vận hành căn bản của "Ngũ Tinh" với "Tiết Khí là không có sự liên quan.

Đó chính là lý do mà nếu như câu "Bất y Ngũ Tinh yếu quá Tiết" là nói Tử Vi Đẩu Số không chiểu theo quy tắc bài bố của "Ngũ Tinh" thì sẽ không cần nói đến việc khảo xét đến Thái Dương Tiết Khí. Trong toàn bộ kết cấu của câu trên, cũng có vẻ như có điểm mà nói chửa được thông.

Thứ hai, cổ nhân viết văn chương là hoàn toàn không có ngắt câu (các dấu câu chấm phẩy), do đó cái câu thoại "Bất y Ngũ Tinh yếu quá Tiết" nhỡ có thể là "Bất y Ngũ Tinh, yếu quá Tiết" (Không như Ngũ Tinh, phải chú trọng thông qua Tiết Khí) ấy chứ? Cứ kiểu như thế thì phản chuyển lại trở thành môn Tử Vi Đẩu Số lại cần chú trọng nhấn mạnh đến Tiết Khí hay sao?

Ngoài ra, quy ước an Thân Mệnh trong <<Tử Vi Đẩu Số toàn thư>> có nhắc đến:

"Đại để nhân mệnh cú tòng dần thượng khởi chính nguyệt..., hựu nhược nhuận Chính nguyệt sinh giả yếu tại Nhị nguyệt nội khởi an Thân Mệnh, phàm hữu nhuận nguyệt câu yếu y thử vi lệ."

(Đại khái là nhân Mệnh theo cung Dần khởi tháng Giêng... Lại nếu như người sinh vào tháng Giêng nhuận, thì phải từ Tháng Hai mà khởi an Thân Mệnh, phàm cứ xuất hiện tháng nhuận thì phải y theo quy tắc ấy.)

[QNB chú: độc giả lưu ý, có lẽ khi La Hồng Tiên biên soạn cuốn TVĐSTT này, năm Canh Tuất đời Gia Tĩnh triều Minh, thì chưa có sự điều chỉnh về quy ước cho tháng nhuận là "không được nhuận vào các tháng Một (11), Chạp (12), Giêng (1)”, cho nên ở trên mới đề cập tới chi tiết "tháng Giêng nhuận" như vậy. Quy ước ấy, có lẽ xuất hiện theo bộ lịch Thời Hiến, khoảng năm 1644-1674 thuộc 2 đời Thuận Trị và Khang Hi triều Thanh].

Cái đoạn thoại ở trên đây cũng chính là một trong những lý do khiến cho các đại sư môn Đẩu Số kiên trì với quan điểm Tử Vi Đẩu Số không theo Tiết Khí. Nhưng mà, quý vị độc giả đã từng khảo xét qua hay chưa, khi người viết ra cuốn sách <<Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư>> này là ông La Hồng Tiên, Tiến Sĩ của triều Thanh (QNB chú: có lẽ tác giả nhầm. La Hồng Tiên là Tiến Sĩ của triều Minh). Ở trong phần tựa mở đầu cuốn <<Tử Vi Đẩu Số toàn thư>> thì ông ấy có nói Tử Vi Đẩu Số là được một vị đạo sĩ ở núi Hoa Sơn có năm tu cỡ hai chục năm, dáng vẻ lão thành, đem tặng cuốn sách. Sau đó dựa theo sách mà học tập mà đoán ứng nghiệm như thần, bởi vì không dám giấu kín cho riêng mình nên đem công bố ra thiên hạ. Như thế thì, nói cách khác, cái bản <<Tử Vi Đẩu Số toàn thư>> này chính là sở học sở tích lũy theo quá trình tự nghiên cứu Tử Vi Đẩu Số của La Hồng Tiên, mang những điều tâm đắc mà viết thành. Cũng có thể nói, <<Tử Vi Đẩu Số toàn thư>> quy ước an Thân Mệnh kia cũng là theo sở kiến cá nhân của La Hồng Tiên, là một bộ phận trong tác phẩm của ông ấy, chứ cũng chẳng phải là chính đích thân lão thần tiên Trần Hi Di viết ra. Như thế, thì nhiều điều luận trong cuốn <<Tử vi Đẩu Số toàn thư>> này có gì cam đoan là hoàn toàn không có sai lầm hay không? Cổ nhân viết sách in sách bởi vì việc sao chép là không dễ dàng gì, cho nên thường ngày sửa lỗi in đầy rẫy, chữ tác đánh thành chữ tộ ("lỗ ngư hợi thỉ" là thành ngữ, chữ Lỗ viết thành chữ Ngư, chữ Hợi viết thành chữ Thỉ). Chúng ta có thể rất dễ dàng đưa ra nhiều chỗ nhầm lẫn trong cuốn <<Tử Vi Đẩu Số toàn thư>>. Do đó, phương thức xử lý tháng Nhuận của Tử Vi Đẩu Số ở đây cũng có thể là đại biểu cho ý kiến cá nhân của ông La Hồng Tiên mà thôi. Hơn nữa, các học giả hậu thế đều không hoàn toàn chiểu theo y như phương pháp xử lý tháng Nhuận theo quy ước an Mệnh Thân trong <<Tử Vi Đẩu Số toàn thư>>. Do đó, cái này cũng không thể được nhận định là chứng cứ hùng hồn về việc Tử Vi Đẩu Số không theo Tiết Khí. Huống hồ Tử Vi Đẩu Số lưu truyền đến nay, trong kết cấu cũng không phát sinh quá nhiều thay đổi trọng đại? Các vị không ngại thì đến tiệm sách mà xem các tác phẩm của Tử Vân tiên sinh, Liễu Vô Cư Sĩ, cùng với một số quảng cáo rùm beng về Khâm Thiên Tứ Hóa phi tinh,... ngoại trừ 14 chính tinh tương đồng với truyền thống ra thì còn lại đều không thấy nhiều bóng dáng của hình ảnh cổ thư nữa! Thậm chí ngay cả Tứ Hóa truyền thống đều biến thành ra "nhị Hóa", trong đó Hóa Quyền với Hóa Khoa bị tỉnh lược đi! Nhất thời đúng hay sai khó mà phân biện cho rõ, nhưng mà cũng đại biểu cho phép xem không chính gốc của cổ nhân lưu lại, người hậu thế từ kinh qua nghiệm chứng mà san định sửa đổi.

Thảo luận tới đây, chúng ta không ngần ngại để làm một loại "giả thiết", đó chính là nếu như "Tử Vi Đẩu Số" là sự lột xác từ "Quả Lão Tinh Tông" hoặc Chiêm Tinh học thì "Tử Vi Đẩu Số" nhất định chẳng thể nào thoát ly được cặp ảnh hưởng của Thái Dương và Thái Âm. Do đó, tiên hiền cổ thánh lúc ban sơ thiết kế môn "Tử Vi Đẩu Số", tham chiếu phỏng theo vận hành của Nhật Nguyệt âm dương với biến hóa bốn Mùa, lấy "Tiết Khí" của Thái Dương vận hành trên Hoàng Đạo mà định Thân, Mệnh cung; lại tham khảo lấy "Nhật kỳ" của Nguyệt Lượng (mặt trăng) tròn khuyết để khởi Tử Vi tinh bàn. Như thế, cái tổ hợp cấu thành của thuật số mệnh học, nhất định sẽ phải giống ở riêng việc theo "Tiết Khí" làm căn cứ của thuật số để tiên tiến và chuẩn xác hơn.

Gần đây trên mạng có người hồi đáp Nguyệt Phần (số tháng) của Tử Vi Đẩu Số là căn cứ vào "Đẩu bính" để mà xác định, tháng Giêng thì "Đẩu bính" chỉ Dần, tháng Hai "Đẩu bính" chỉ Mão, tháng Ba thì "Đẩu bính" chỉ Thìn, v.v... Cái phép suy luận này cũng có vài điểm có chỗ mâu thuẫn:

Trước tiên, cái gọi là "Đẩu bính" là cái gì? Ứng với đúng cái phần phần đuôi của "Bắc đẩu thất tinh"! Nếu như quả chính xác là vậy thì tôi nhất định phải đưa ra sự sửa chữa uốn nắn! Bởi vì vị trí của chỗ "Đẩu bính" chỉ vào vẫn cùng với Tiết Khí có quan hệ không tách rời được!

Hoài Nam Tử viết: "Đẩu bính chỉ hướng Đông, thiên hạ đều Xuân; Đẩu bính chỉ Nam, thiên hạ đều Hè; Đẩu bính chỉ Tây, thiên hạ đều Thu; Đẩu bính chỉ Bắc, thiên hạ đều Đông".

Đây chính là cổ nhân lấy Bắc Đẩu thất tinh xem như ghi chép của quan trắc thời lệnh Tiết Khí. Cổ nhân phát hiện mà đem nó ghi chép lại. Thế thì vì sao mà có cái mối quan hệ đối ứng phù hợp như vậy nhỉ? Chủ yếu nhất vẫn là bởi vì Địa Cầu quay xung quanh Thái Dương mà biến đổi mối quan hệ của vị trí Hoàng Đạo. Do đó, chúng ta có thể nói "Đẩu bính" với Tiết Khí không liên quan hay sao? Huống hồ chỗ "Đẩu bính" chỉ vào Dần, Mão, Thìn, Tị,... cũng đều căn cứ vào sở định của Tiết Khí cả, không phải hay sao? Nếu như mà chẳng phải, thế thì xin hỏi rằng vào lúc tháng Nhuận của năm Nhuận thì "Đẩu bính" nó chỉ vào chỗ nào nhỉ?

Thứ hai, vị trí của chỗ "Đẩu bính" chỉ vào còn thuộc về "hiện tượng Thiên văn" mà làm sao có thể nói Đẩu Số với Thiên Văn là không liên quan đây? Ngoài ra, theo tôi được biết, vị trí của "Đẩu bính" di động mỗi ngày, từng Thời Thần (canh giờ) đều có vị trí biến động [Nó chỉ đúng chân thực phương hướng Đông Tây Nam Bắc hay không thì tôi vẫn còn nghi ngờ]. Vì thế, tôi còn đặc biệt đi sắm về một bộ giáo cụ rất đẹp của Bộ Giáo Dục phát hành - bàn chuyển các chòm sao để quan sát sao trời nhé! Đối với cái này mà có người nghi vấn, thì đề nghị ngài đừng ngại tới tiệm sách mà mua sắm vậy, đồng thời đi để mà quan sát một phen, ngài có thể hiểu rõ hơn!

Còn có người cho rằng Tử Vi Đẩu Số sở áp dụng chính là hệ thống "Hư tinh" chứ không phải là giống như Chiêm Tinh học xét đến sự vận hành của tinh thể thực tế. Do đó, khỏi cần đi giải thích về sự vận hành biến hóa của các tinh thể như là trong Chiêm Tinh học. Nên vì thế càng không cần bàn về việc Thái Dương quá cung với vấn đề Tiết Khí!

Về cơ bản, quan điểm này cũng có trăm ngàn chỗ sơ hở, chúng ta hãy nhìn quanh xem các môn chiêm bốc tinh mệnh của Trung Quốc, ngoại trừ Thất Chính Tứ Dư với Chiêm Tinh học hiện nay là cùng áp dụng sự vận hành của các tinh thể thực tế để mà làm cơ sở đoán mệnh ra, thì xin hỏi các vị, còn có một môn học thuật nào là xét đến hệ thống "Thực tinh" hay không? Thiên Can Địa Chi của Tử Bình Bát Tự, xin hỏi là có ai nhìn thấy được không? Hệ thống cửu tinh của Kỳ Môn Độn Giáp cũng chẳng phải là hư tinh hay sao? Hệ thống bát quái chẳng có nhẽ nào lại là tinh thể thực tế đấy à? Thế mà các môn đó đều dựa vào Tiết Khí để làm căn cứ, thế ngài cho rằng Tử Vi Đẩu Số có thể là ngoại lệ hay sao?

Một số bằng hữu có trả lời rằng chẳng cần biết mèo đen hay mèo trắng, có thể bắt được chuột thì chính là mèo tốt. Ý tức là chẳng kể là môn phái nào, chỉ cần toán được đúng thì nhất định là chính xác. Cái quan điểm này, cá nhân tôi đặc biệt tán thành, nhưng mà đây lại là một công trình khó khăn đặc biệt. Bởi vì Mệnh lý học chẳng phải là Toán học, nó cũng không có đáp án chuẩn mực, hoàn toàn chiểu theo kinh nghiệm cá nhân, cảm giác để mà nhận định, tựa hồ như rất khó có đáp án khách quan. Trừ phi có thể có một tổ chức đoàn thể giám sát cùng với một kho tư liệu khổng lồ để kiểm chứng tương hỗ, bằng không thì rất dễ rơi vào cái cảnh ông nói thì cho là ông có lý, bà nói thì cho là bà có lý, ai nói theo kiểu của người đó.

Ngoài ra, cá nhân tôi tuyệt đối tin tưởng vào "Mệnh vận tuyển trạch luận", nói cách khác là con người có thể thông qua sự lựa chọn để cải biến mệnh vận. Do đó, nhân tố của ảnh hưởng mệnh vận cũng không chỉ có riêng sinh thần bát tự, mà còn bao quát cả phong thủy, hoàn cảnh lớn lên, bối cảnh giáo dục, cha mẹ, vợ con,...

Chúng ta chỉ có thể căn cứ xác định một số đáp án sự kiện đã biết để suy đoán, bởi vì thực sự rất khó có một đáp án chuẩn mực, bất quá chúng ta vẫn đều là hy vọng có thể tập hợp một số học giả có chí hướng để nghiên cứu và thống kê, hy vọng có thể tiếp cận các chiêm tinh gia nước ngoài cùng đề xuất số liệu thống kê tin cậy để làm bằng chứng, cho nên tôi nói đây là một công trình đặc biệt to lớn.

Cuối cùng, tôi còn muốn nhấn mạnh một điểm, lập trường nghiên cứu Tử Vi Đẩu Số của tôi tuyệt đối không phải là bảo thủ cứng nhắc, đứng ở lập trường người nghiên cứu mệnh lý, tôi thực sự mong muốn mở rộng tấm lòng để kiểm xét lại từ đầu các bảo vật mà Trần Đoàn lão tổ lưu lại, cái hay thì đường nhiên phải được tăng cường bảo tồn lưu giữ, có vấn đề thì chúng ta đương nhiên phải giải quyết vấn đề. Chiêm tinh thuật của người phương Tây có cục diện như ngày hôn nay cũng chính là công lao thuộc về sự phát triển của khoa học Thiên Văn cùng với sự sôi nổi của các học giả nghiên cứu, mới có thể có được hệ thống lý luận tương đối hoàn chỉnh (Tuy nhiên vẫn còn có một số vấn đề, nhưng ít ra thì trong phương diện cơ sở lý luận thì họ có rất ít tranh cãi). Trái lại thì Tử Vi Đẩu Số ở trong nước (các môn thuật số khác cũng thế) còn dừng lại ở quy mô mỗi ông nói một chút, mỗi cá nhân đều có một phần lý luận cao siêu có thể tự bào chữa, gặp lúc có ý kiến bất đồng thì choảng nhau chí chóe, cũng chẳng chịu tĩnh tâm để mà nghe ý kiến phản biện của người ta. Xin hỏi cái loại nghiên cứu học thuật như thế sẽ tiến bộ được chăng? Riêng vấn đề của Tiết Khí, Tứ Hóa, khởi Đại Hạn có ở cung Mệnh hay không, cũng đã khiến cho người nghiên cứu Tử Vi Đẩu Số đau hết cả đầu! Những cái khác càng không cần phải nói! Chúng tôi thực sự rất lo ngại, giả như có một ngày nào đó mà Đại Học trong nước (thậm chí Đại Học nước ngoài) muốn mở ra xây dựng chương trình học phần của môn Tử Vi Đẩu Số, thì không hiểu là sẽ phải giảng dạy như thế nào? Cho dù có chọn được người dạy được phù hợp, xin hỏi sẽ có bao nhiêu người tín phục nghe theo đây? Tới lúc đó, tôi có lẽ sẽ không nhịn được nếu như cứ nói đi nói lại cái luận điệu cũ rích: học tập mệnh lý cần không sợ tính toán sai lầm, chỉ sợ đến cố sống cố chết không nhận sai lầm!

Và quý vị cao nhân bậc thầy cùng chung sức. Nếu như tôi có sai lầm! Cũng hoan nghênh các cao nhân bậc thầy gửi thư đến phê bình và chỉ giáo! Tôi sẽ rất sẵn lòng hoan hỉ tiếp thu!

Phan Văn Khâm.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tiết khí với Tử Vi Đẩu Số

Xem tử vi tháng 7 âm lịch của tuổi Dậu

Tử vi tháng 7 âm lịch của tuổi Dậu vô cùng may mắn, quan hệ tam hội cục sẽ đem lại cho bạn một tháng rực rỡ so với các con giáp khác.
Xem tử vi tháng 7 âm lịch của tuổi Dậu

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tử vi người tuổi Dậu trong tháng 7 âm lịch này vô cùng may mắn, quan hệ tam hội cục sẽ đem lại cho bạn một tháng rực rỡ so với các con giáp khác, nhưng người này cũng không nên lơ là vận thế “Tử” vận, Dậu Kim lâm Tử tại Bính Hỏa trong quan hệ trường sinh.


Vậy nên, dù sự nghiệp được hỗ trợ, tài lộc dồi dào thì bản mệnh vẫn cần nhắc nhở bản thân, kiêu ngạo quá chỉ dẫn tới họa tiểu nhân mà thôi. Mặt tình cảm thì quá vượng lại lâm vận xấu, phong lưu đa tình chỉ khiến người có gia đình khốn đốn, người độc thân lại khó xác định được nửa còn lại. Sức khỏe chủ nhiều về hành Kim, người này cần lưu ý các bộ phận như Phổi, đường hô hấp…
 

Sự nghiệp 

 
tu vi thang 7 am lich cua tuoi Dau hinh anh
Ảnh minh họa

 
Chu Dịch có viết: Đại tai kiền nguyên, vạn vật chi thử, ngãi thống thiên. Tức Thân Dậu Tuất hợp Kim cục, hành Kim thì tâm tư rộng rãi, phúc quý cao xa, bản thân mạnh mẽ, sức liên kết vững vàng, có tố chất của người lãnh đạo. 
 
Tử vi tháng 7 âm lịch của tuổi Dậu sự nghiệp sẽ phất như diều gặp gió, người làm lãnh đạo thì nên mở rộng tấm lòng mình hơn, khoản đãi ưu ái thu phục lòng người. Người này có tố chất văn hóa nhất định nên chuyện đề bạt không còn bao xa. Ngoài ra, với đại cát tinh Thiên Ất thì đường công việc càng thêm thuận lợi, gặp hung hóa cát dễ dàng được đối phương giúp đỡ nhường nhịn. 
 
Tuy nhiên, vì người hành Kim luôn có suy nghĩ cao xa, coi trọng đạo đức hành vi nên có đôi khi tâm lý ham hư vinh, có phần ảo tưởng về thực tế. Bạn phải nhớ một mình kiên quyết theo đuổi vấn đề sẽ không được đám đông nhìn nhận, hãy học cách để ý tới cảm xúc, ý kiến của những người xung quanh mình.   

Tài lộc 

 
tu vi thang 7 am lich cua tuoi Dau hinh anh
Ảnh minh họa

 
Vận tài lộc của người tuổi Dậu được Thiên Ất quý nhân trợ mệnh. Nếu là người nghèo bần hàn mà có quý nhân thì vận trình sẽ trở nên dễ thở hơn, có chút sung túc hơn. 
 
Khi vận trình đi vào Tử vận, người tuổi Dậu sẽ phải chăm chỉ cần cù thì tiền bạc mới về tay. Trong lúc lâm vào tình trạng cạnh tranh thì nên hành sự quyết đoán, chớ có ngoan cố mà mất đi cơ hội lợi lộc nhé! 
 
Người lâm Tử vận, có suy nghĩ rộng rãi, hay ra tay nghĩa hiệp giúp bạn bè. Vậy nên trong tháng này bạn cần lưu ý chuyện tiền nong liên quan tới những người thân thiết. Người có chức quyền cần tránh xa việc “áo gấm đi đêm”, kẻo mất cả sự nghiệp.   

Tình cảm 

 
tu vi thang 7 am lich cua tuoi Dau hinh anh
Ảnh minh họa

 
Tử vi tháng 7 âm lịch của tuổi Dậu lâm vào cách cục “Tử” vận, dù không có ý nghĩa chết chóc, nhưng sẽ có đặc điểm đơn độc, không có sự thay đổi. Như vậy, chuyện tình cảm nam nữ sẽ có đặc điểm “tốt đẹp phô ra xấu xa đậy lại”. Người bên ngoài không biết tưởng gia đình êm ấm, tình yêu hạnh phúc; nhưng thực ra bên trong đó hai bạn đã muốn bứt ra từ lâu. 
 
Người có gia đình đề phòng chuyện chia phòng, chia nhà; người độc thân lưu ý chuyện tình cảm tan vỡ. Nữ mệnh thì dễ có biểu hiện yếu đuối, tính cách hướng nội gặp chuyện khúc mắc dễ dàng suy nghĩ tiêu cực; có điềm xấu, người nhà cần lưu ý. Nam nhân phong lưu đa tình, người trẻ tuổi thay người yêu như thay áo, người đứng tuổi thì thê thiếp đa đoan. 
 
Nếu được, bạn nên thỉnh Thiên Ất quý nhân giúp mình nâng đỡ vận trình, phù hộ nhân duyên. 

Sức khỏe 

 
tu vi thang 7 am lich cua tuoi Dau hinh anh
Ảnh minh họa
Tử vi tháng 7 âm lịch của tuổi Dậu, ngoài việc đề phòng vận khí đi xuống gây họa huyết quang tiềm tàng thì cần lưu ý các bệnh chủ về hành Kim. Theo Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận, Phương Tây sinh khí Khô, Khô sinh Kim, Kim sinh Cay, Cay sinh Phổi, Phổi sinh Lông, Da Lông sinh Thận, Phổi chủ Mũi. Như vậy người hành Kim thì cần đề phòng các bệnh về Phổi, về Da và về Mũi.    Nhìn chung tháng “cô hồn” sẽ là một tháng tương đối vất vả dành cho người tuổi Dậu. Quan hệ Nguyệt Lệnh bất Hòa, Thái Tuế vướng năm tuổi, bạn nên hạn chế đi lại quá nhiều hoặc đi đường xa. Tránh đến gần hoặc sử dụng nhiều các vật dụng bằng kim loại. Công việc thì “né” xa xô xát, tranh cãi, làm việc cẩn thận chớ để lại sai sót khiến kẻ thù dễ dàng bắt được điểm yếu mà bản thân đi tới chỗ long đong lận đận. Người này tính cách đơn thuần vô lo vô nghĩ, dễ dàng tin lời đường mật mà tự mình rơi vào khốn đốn. Nên dành nhiều thời gian nghiên cứu và bổ sung kiến thức mới. Vận trình tài lộc thì đề phòng chuyện mất mát, thất lạc đồ đạc tiền bạc vật chất.  Hành Kim chủ Phổi, bạn cần cảnh giác các bệnh về hô hấp, về da dẻ hay Thận yếu. 
► Lịch ngày tốt gửi đến bạn đọc công cụ xem bói tử vi chuẩn xác theo ngày tháng năm sinh

Lichngaytot.com

Xem tử vi tháng 7 âm lịch của người tuổi Thân Xem tử vi tháng 7 âm lịch của người tuổi Mùi Xem tử vi tháng 7 âm lịch của người tuổi Ngọ

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem tử vi tháng 7 âm lịch của tuổi Dậu

5 chòm sao nữ có khả năng cầm cương đàn ông

Thông thường, phái đẹp luôn có xu hướng “núp bóng tùng quân”, nương nhờ vào người đàn ông của mình. Nhưng 5 chòm sao nữ mạnh mẽ dưới đây thì hoàn toàn ngược
5 chòm sao nữ có khả năng cầm cương đàn ông

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

lại, họ thích cầm cương đàn ông hơn.


5 chom sao nu co kha nang cam cuong dan ong hinh anh 2
 
1. Song Ngư   Ngạc nhiên quá phải không, Song Ngư vốn rất hiền lành và yếu đuối cơ mà. Bạn nhầm to rồi. Họ chỉ giả bộ như vậy thôi, chứ thực ra thâm tâm nàng ấy luôn có tính toán và thích hướng người đàn ông theo ý muốn của mình.   Việc cư xử ngọt ngào, nhẹ nhàng và nũng nịu của Song Ngư chỉ chứng minh được một điều, họ rất biết cách lấy lòng người khác giới. Và đằng sau sự lấy lòng ấy, chính là mục đích để người đàn ông phục tùng.   2. Thiên Yết   Chòm sao nữ mạnh mẽ và lý trí như Thiên Yết không bao giờ muốn ôm chân đàn ông để nương nhờ. Họ khôn ngoan, sắc sảo, có thể làm đàn ông điên đảo, cũng có thể khiến đàn ông tự nguyện cúi đầu phục tùng vì sức hấp dẫn cũng như trí tuệ sâu sắc của mình.   Muốn khiến một cô gái Thiên Yết ngoan ngoãn và cúi mình thật khó hơn lên trời. Nàng ấy không phải con mèo nhỏ đáng yêu đâu mà là con hồ ly xảo quyệt đấy.   Infographic: 18 loại bố thí không sạch sẽ làm xấu chân lý nhà Phật
Đức Phật nói với các Tỳ Kheo, người làm việc thiện nhưng mang tâm không sạch, mưu cầu cá nhân thì không thể coi là bố thí. Dưới đây là 18

3. Kim Ngưu
  Có năng lực và có lập trường là hai điểm mấu chốt để chòm sao nữ Kim Ngưu vững vàng định đoạt những người đàn ông xung quanh mình. Vì họ không dựa dẫm nên không cần nhìn sắc mặt của ai. Vì họ có lập trường nên không bị lung lay bởi những thứ hào nhoáng phô trương.   Muốn gần bên Kim Ngưu, chỉ có một lựa chọn duy nhất là phục tùng cô nàng. Không bao giờ bạn cầm cương được cô ấy đâu, sự thật là ngược lại cơ.   4. Thủy Bình   Rất đơn giản, cung hoàng đạo nữ thông minh như Thủy Bình thì việc lãnh đạo ai đó dễ dàng hơn rất nhiều so với việc phục tùng. Nhất là khi họ có lòng kiêu hãnh cùng cái tôi độc đáo. Đối với Thủy Bình, không có điều gì qua mặt được cô ấy, nên đừng hòng lừa phỉnh họ.   Vì họ khá nhanh nhạy và sáng suốt, cũng có nhiều ý tưởng nên thường hướng người đàn ông của mình theo ý muốn cá nhân. Đó cũng là điều dễ hiểu khi Thủy Bình cảm thấy họ có trí tuệ hơn.  
5 chom sao nu co kha nang cam cuong dan ong hinh anh 2
 
5. Thiên Bình
  So với các chòm sao nữ khác, Thiên Bình khá hòa nhã và dịu dàng nhưng lại biết cách khiến người khác tự nguyện phục tùng, làm theo ý mình. Đó là nhờ sự khôn khéo, giao tiếp, hành xử một cách hấp dẫn nhưng đầy bản lĩnh.   Vì mê mẩn nàng Thiên Bình mà các chàng dù biết đang bị điều khiển cũng chẳng hé răng than thở nửa lời. Bình nhi cũng khá biết thời thế khi không bao giờ phô trương về vị thế của mình trước đám đông.   Trình Trình
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: 5 chòm sao nữ có khả năng cầm cương đàn ông

Xem tử vi trọn đời của người sinh ngày Đinh Mùi

Tử vi của người sinh ngày Đinh Mùi có điều gì đặc biệt? Hãy cùng ## cùng tìm hiểu.
Xem tử vi trọn đời của người sinh ngày Đinh Mùi

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tử vi của người sinh ngày Đinh Mùi có điều gì đặc biệt? Hãy cùng ## tìm hiểu.

 
Xem tu vi tron doi cua nguoi sinh ngay Dinh Mui hinh anh
 
Xem tử vi thấy trụ ngày Đinh Mùi lấy Đinh Hỏa làm chủ, hợp với tính chất của Mùi Thổ, Ất Mộc, Kỷ Thổ, Đinh Hỏa, tính cách trọng lễ nghĩa, giữ chữ tín, được Hồng Diệm tinh chiếu mệnh nên có tính phong lưu. Chủ ngày Đinh Mùi tương hợp với chủ ngày Nhâm Ngọ hoặc thuộc Thân Kim.   Tử vi của người sinh ngày Đinh Mùi tiền vận khó khăn, từ trung vận bắt đầu ổn định và phát đạt. Nghề nghiệp phù hợp nhất là công an, giáo viên, phân tích tài chính, pháp luật. Người sinh ngày Đinh Mùi tài giỏi nhanh nhạy, làm việc nỗ lực hết mình, nhưng cần chú ý tránh kiêu căng, nếu không sẽ khó kết bạn với đồng nghiệp. 
3 “nàng giáp” giúp chồng phát tài dễ như trở bàn tay
Người ta thường nói “Phía sau mỗi người đàn ông thành đạt là một người phụ nữ giỏi giang”. Điều này khá đúng với những cô nàng dưới đây. Họ không những đảm
Bên cạnh đó, người sinh ngày Đinh Mùi nên thận trọng, tránh để chuyện tình cảm ảnh hưởng đến bản thân, đau khổ vì tình, vì bạn trai/bạn gái mà tiêu tốn nhiều tài sản. Khi có sự cách trở về mặt địa lý giữa hai người, hôn nhân và duyên phận sẽ có sự thay đổi, hợp ly khó định.    Nữ mệnh sinh ngày Đinh Mùi có quan niệm rạch ròi về chuyện tiền bạc, nhân duyên tốt, là mẹ hiền vợ đảm, tuy nhiên cần lưu ý các mối quan hệ bên ngoài của chồng, đặc biệt phòng điềm xấu cô quả từ trung vận do chồng có thể gặp tai nạn. Nam mệnh sinh ngày Đinh Mùi hay thay đổi công việc, gia đình hòa hợp, thuận về đường con cái.   Mệnh chủ của người Đinh Mùi tính cách nóng vội, hay nổi giận. Nếu sinh từ tháng Ngọ đến tháng Mùi, là ngày hè nóng bức thì tâm hồn tự do, có chút hống hách tự cao, nghiêm trọng hơn thì nghĩ gì nói nấy, phóng túng không kiêng sợ, thuộc tuýp người dễ bị kích động, thích chạy theo trào lưu. Người sinh vào thu đông, nhận được Mùi Thổ có tác dụng hộ chủ, là người thật thà, có năng lực, cần cù chịu khó.   Người sinh ngày Đinh Mùi thích hợp kết hôn với những người sinh các ngày: Giáp Tý, Giáp Thìn, Giáp Thân, Ất Sửu, Ất Hợi, Ất Dậu, Bính Dần, Bính Thìn, Bính Tý, Đinh Sửu, Đinh Hợi, Đinh Mão, Mậu Ngọ, Mậu Thìn, Mậu Tý, Mậu Dần, Kỷ Mão, Kỷ Hợi, Kỷ Dậu, Kỷ Tỵ, Canh Thìn, Canh Tuất, Canh Ngọ, Tân Tỵ, Tân Sửu, Tân Mùi, Nhâm Ngọ, Nhâm Tuất, Nhâm Thìn, Nhâm Thân, Quý Tỵ, Quý Sửu, Quý Dậu.  
► Lấy lá số tử vi và xem vận mệnh cuộc đời, công danh, tình duyên của bạn

Chi Nguyễn (Theo Azg168)

Xem thêm Clip Ứng dụng phong thủy cho ngôi nhà thêm phúc


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem tử vi trọn đời của người sinh ngày Đinh Mùi

Hình dáng chân và tướng đi tiết lộ tính cách, số phận con người

So với các bộ phận khác trên cơ thể con người, trong Nhân tướng học thì chân ít được để ý hơn. Song qua kinh nghiệm nhiều đời, cổ nhân đã phát hiện ra mối liên quan bí ẩn giữa đặc điểm, tính cách, số phận của con người với hình dáng, kích thước của chân (cẳng chân, bắp chân, bàn chân...) và dáng đi.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Luận chung về Tướng chân

Theo quan niệm cổ nhân, chân là nơi trên chở một thân, dưới vận trăm thể, làm tượng của đất, thể dẫu rất thấp, mà dụng rất lớn, có thể phân biệt tốt, xấu, mà xét sang, hèn vậy. Lão Tử nói đại ý rằng, chân tuy ở dưới cùng của thân thể nhưng khả năng chống đỡ lớn nhất, có thể giúp chúng ta đội trời đạp đất.Tương truyền, gian thần đời Tống là Tần Cối có chân dài. Một nhà tướng pháp nhìn thấy Tần Cối liền nói: "Người này phá nước hại dân, e thiên hạ đều chịu họa, nhiều quân tướng chịu chết dưới tay ông ta", về sau lời nói của nhà tướng pháp quả nhiên ứng nghiệm.

Dưới nhãn quan tướng học Á đông, diện mạo được coi như thân cây, chân tay ví như cành nhánh. Có cây tốt thân mà xấu cành, có cây lại tốt cành mà xấu thân. Cành và thân đều tốt đã đành là quý, nhưng cành tốt thân xấu hay ngược lại thì cây đó vẫn có thể khả dụng. Cho nên, nếu Ngũ quan, Tam đình, Ngũ nhạc (trong Tướng mặt) có bị khuyết điểm đôi chút về mặt hình thức mà tứ chi hợp cách vẫn được coi là loại tướng khả dĩ có phú quý.

Trần Đạm Giã, một nhà nghiên cứu tướng pháp Trung Hoa, đã nói: "Tứ chi đối với con người cũng như bốn mùa đối với sự phát triển của vạn vật. Bốn mùa mà không điều hoà thì vạn vật khó sinh sôi nẩy nở. Tứ chi không ngay thẳng, cân xứng thì kẻ đó suốt đời khốn khổ".

Các bộ phận của chân nói gì?

Về đại thể, người đùi đẹp, chân thon dài, mềm mại, đầu gối cân xứng, đặc biệt đối với phụ nữ, là người có tướng phú quý. Chân tuy to rộng nhưng lại lệch, gầy và mỏng là tướng bần tiện. Đùi to mà đầu gối quá nhỏ, hay mắc quan tụng (kiện tụng), thua thiệt. Đầu gối nổi gân có vòng, suốt đời bôn tẩu, lao đao. Đầu gối quá nhỏ, chân lại khẳng khiu yếu đuối như không xương, tướng yểu bần. Da khô đầu gối nhỏ xương so với đùi, đến già vẫn chưa làm nên chuyện gì thành công.

Gót chân dày, bắp chân và đùi thon gọn là người có quyền thế, bắp chân ngắn và gót chân lớn thì hay gặp gian nan, vất vả. Nhìn chung, chân người sang thì nhỏ mà dày, chân người hèn thì lớn mà mỏng.

Bắp chân (bụng chân): Người có bắp chân to, chân dài, thuôn thì thường có thân hình đẹp, khí chất cao quý, tính cách dịu dàng, thanh lịch, đời sống tình dục mạnh mẽ. Bắp chân khá to, chân ngắn, người coi trọng lý trí, sống quyết đoán, vững vàng trước sóng gió của cuộc đời, giỏi xử lý công việc, dù không dịu dàng cho lắm.

Bắp chân bé, chân dài, người sáng suốt, tự tin, hành động nhanh nhẹn, có khiếu thẩm mỹ. Bắp chân đầy đặn, là mẫu phụ nữ truyền thống, tính ôn hòa, cởi mở, khiêm tốn, ưa thích tình cảm kín đáo. Bắp chân thon, chân ngắn, tính tự vệ cao, luôn cảnh giác đề phòng, thường ở trong trạng thái tâm lý căng thẳng, là người nhanh nhẹn, cần cù nhưng thường thích hư vinh và luôn muốn mình là trung tâm.

dangdi410
Người đùi đẹp, chân thon dài, mềm mại, đầu gối cân xứng, đặc biệt đối với phụ nữ, là người có tướng phú quý.

Bàn chân: Nam giới có bàn chân dày, nhiều thịt, độ dài các ngón chân đều nhau, hồng hào thì phú quý, còn nữ giới thì phải mảnh mai, nhỏ nhắn, ít thịt lộ xương mới là tốt. Bàn chân vẹo vọ, gầy yếu, người khổ ải, nghèo hèn. Nếu trong lòng bàn chân có nốt ruồi đen, đó là dấu hiệu tượng trưng cho tài lộc, phú quý. Nốt ruồi càng to càng bóng càng chứng tỏ khả năng tài chính của chủ nhân rất ưu việt.

Nếu trong lòng bàn chân có đường vân hình xoắn ốc, người hợp với những công việc trong ngành truyền thông, phim ảnh và sẽ danh lợi song toàn.

Lòng bàn chân khuyết (lõm sâu) như chiếc thuyền úp, hay mặt trăng lưỡi liềm nằm giữa là người thường hưởng cả tài lẫn phúc lớn. Chân dù lớn mà mỏng là tướng hèn hạ, dày mà rộng và ngắn là tướng nghèo khổ, lòng bàn chân phẳng như ván là tướng nghèo hèn.

Gót chân: Người có gót chân tròn đầy là tướng phú quý. Người có gót chân hồng (nhất là phụ nữ) thì là hồng phúc, cả con cháu cũng được nhờ. Người có gót chân nổi rõ thường có tài vận cực vượng. Dưới gót có lằn thớ là tướng hèn hạ. Dưới gót có lằn xoáy là có danh vọng lớn. Dưới gót thành mắt là tướng phúc tới con cháu. Gót chân nứt nẻ là người hà tiện. Gót chân bằng phẳng thì trí lực kém, nghèo khổ.

Ngón chân: Ngón chân dài và hơi thon nhọn và dài là tướng quý, người trung lương. Ngón chân ngay và bằng là người trung nghĩa, thuần hậu. Ngón vẹo vọ, người luôn bận tâm, chịu khó làm lụng, tính khí nóng nảy, hấp tấp. Nếu các ngón xòe tõe ra, người vất vả, lao tâm, nghèo khổ. Nếu ngón lại gãy, gót bè bẹt thì tính ti tiện.

Ngón chân cái ngắn dùi đục: khổ ải. Ngón thứ hai dài hơn ngón cái, người quyết đoán, có khả năng lãnh đạo và tinh thần trách nhiệm cao. Ngón thứ hai và thứ ba cách xa nhau, người có khả năng quan sát tinh tế, nắm bắt nhanh và ngụy trang tốt cảm xúc. Ngón thứ hai ngả vào ngón cái, người ủy mị, giàu cảm xúc, nhưng đôi lúc lại quá yếu đuối, dù là người khá chín chắn. Ngón út nhỏ nhắn biểu hiện cho sự ngây thơ trong sáng và là người hóm hỉnh, hài hước. Ngón út cong lại, hướng ra ngoài người thích sự tự do, phóng khoáng.

Gan (lòng) bàn chân: Người có gan bàn chân mềm mịn và nhiều đường vân là phú quý. Gan bàn chân thô cứng không có đường vân là tướng bần cùng, hạ tiện. Gan bàn chân có vân rùa thì phải gánh vác trọng trách, vân hình chim thì giữ chức quan trọng. Gan bàn chân có vân như thêu gấm thì nhiều lộc, có đường vân như hình cây thì nhiều gia tài, có vân như hình chiếc kéo thì nhiều của cải. Nếu 10 ngón chi không có đường vân chủ về người phá hại gia tài.

Móng chân: Người có móng chân hình tròn, trơn bóng, nếu là nữ, là người có tướng mệnh phu nhân. Người có móng chân mọc cụp xuống dưới có số hưởng tiền. Người có móng chân màu tráng sữa thường có vận mệnh ổn định bình yên. Móng chân màu xám báo hiệu cuộc đời sẽ gặp nhiều trắc trở, đau khổ. Móng chân có sắc hồng hào là biểu hiện sức khỏe tốt, có mệnh phú quý.

Dáng đi nói gì?

Theo quan niệm của cổ nhân, đi là động, thuộc dương thể hiện phong thái và tính cách của con người. Nội tâm, nghĩ suy thế nào thì bước đi sẽ đồng điệu như thế. Người có phúc tướng đi như nước chảy không ngừng. Người tầm thường bước đi như cây gặp gió. Muốn đánh giá dáng đi thì phải quan sát từ xa và khi người đó đi một mình tự nhiên.

Theo đó, bước đi ung dung, uy nghi, bước dài, vững trãi, khoan thai, người và đầu thẳng, mắt nhìn thẳng là tướng vua quan uy quyền, cơ mưu. Bước đi điềm tĩnh, người và đầu không động đậy, không ngó nghiêng, tướng quyền uy kiêu hãnh, tự phụ hùng mạnh, dáng của tướng soái.

Đi thư thả bình lặng là người có tính ôn hòa, cuộc đời no đủ, an nhàn. Đi chân không bén đất, phá gia sản, tha hương, tính nôn nóng, đời nghèo khổ, không thọ.Tướng đi lấp sấp vội vã thì tính tình bất ổn, suốt đời lo lắng, thiếu thốn. Đi đầu cúi gằm nhìn đất hay ngó lại phía sau là tướng tự ti, không bản lĩnh, thân phận hèn kém, xảo quyệt.

Tướng đi lắc lư uốn éo (dáng rắn bò) là người cô độc, gái sát phu (nhiều đời chồng); người không thật thà, tham lam bủn xỉn và không thọ. Tướng đi bình lặng nhưng hai bàn tay nắm chặt, tính khó đăm đăm, giữ của, tính toán chi ly.

Đi mà hai bàn tay duỗi thẳng các ngón tay, tướng hoang phí, tính xởi lởi. Đi mà hai bàn tay khum tự nhiên là tướng căn cơ nhưng thiện tâm. Đi đầu chúi về phía trước, tướng vất vả đủ đường. Đi mà đầu ngửa ra sau là tướng ngu đần, vũ phu. Đi ưỡn thân ngực, đầu cất cao, tướng tự phụ, cao ngạo, coi thường thiên hạ.

Bước đi nặng nề là người suốt đời lo nghĩ, bất hạnh khổ đau. Bước đi hai chân song song (hai hàng) người thẳng là tướng giầu bất chợt nhưng cuộc đời phải đó đây. Bước đi hai tay lăng xa quạt chéo vể sau: Nếu là con trai thì đồng tính, tầm thường, nếu là con gái thì chua ngoa. Bước đi hai tay lăng xa quạt chéo phía trước, tính đỏm dáng, xởi lởi, quan tâm mọi người...

Theo Hà Nam
Câu chuyện pháp luật


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Hình dáng chân và tướng đi tiết lộ tính cách, số phận con người

Mơ thấy cúc áo mới: Thành công trong sự nghiệp –

Cúc áo có vai trò gắn kết y phục, tượng trưng cho thành công trong sự nghiệp. Mơ thấy cúc áo mới mang hàm ý sự nghiệp thuận lợi. Mơ thấy cúc áo cũ lại là điềm xấu, có thể gặp chướng ngại trong sự nghiệp, nên phải thận trọng. Đàn ông trung niên mơ thấ

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Cúc áo có vai trò gắn kết y phục, tượng trưng cho thành công trong sự nghiệp.

81c72ff7-e78c-4087-b01e-9d318b967c2d

Mơ thấy cúc áo mới mang hàm ý sự nghiệp thuận lợi. Mơ thấy cúc áo cũ lại là điềm xấu, có thể gặp chướng ngại trong sự nghiệp, nên phải thận trọng.

Đàn ông trung niên mơ thấy quần áo cũ kết cúc áo mới, có thể họ sẽ sở hữu một ngôi nhà. Nếu người nằm mơ chưa có vợ, anh ta sẽ cưới được một cô vợ trẻ tuổi, xinh đẹp.

Mơ thấy quần áo mới đính cúc áo cũ lại là tượng trưng của điềm xấu, báo hiệu một tiền đồ ảm đạm.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Mơ thấy cúc áo mới: Thành công trong sự nghiệp –

Các lễ hội ngày 1 tháng 1 Âm Lịch - Tết Nguyên Đán

Trong ngày mùng một tháng 1 âm lịch có tổ chức ba hội lễ hội đó là: Lễ Tết Nguyên Đán, Hội Xuân Gia Lạc, Hội Xuân Chợ Gò.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Các lễ hội ngày 1 tháng 1 Âm Lịch - Tết Nguyên Đán

Các lễ hội ngày 1 tháng 1 Âm Lịch - Tết Nguyên Đán

Trong ngày 1 tháng giêng có tổ chức ba hội lễ là:

1.TẾT NGUYÊN ĐÁN

Tết nguyên đán là lễ lớn nhất trong số các lễ hội tết cổ truyền của người Việt. Tết Nguyên Đán là thời điểm chuyển giao chu kì giữa năm cũ và năm mới. Đây cũng là dịp để con cháu có thời gian sum họp: Sự sum họp của tất cả các thành viên, sự gặp gỡ của các Gia Thần: Táo Quân, Thổ công, Tiên sư; sự trở về của các vong linh Tiên tổ.

Buổi sáng ngày mùng 1 tết các gia đình thường làm cỗ cúng gia tiên, cúng Thổ công, cúng Táo quân. Các gia đình bày cỗ cúng gia tiên tại bàn thờ gia tiên, gọi là lễ Chính Đán. Lễ phẩm gồm tất cả những thứ đã chuẩn bị từ trong tết. Chính đán là lễ cúng long trọng nhất mở đầu cho cả năm nên được các gia đình rất tôn trọng.

Lệ xưa cứ vào sáng mùng một, con cháu không phân biệt xa, gần đều phải thắp nhang tổ tiên mừng tuổi ông bà sau đó người nào mới làm việc của người đó. Đặc biệt, khi đi lối nào thì về lối đó. Có câu: "Mồng một thì ở nhà cha, mồng hai nhà mẹ, mồng ba nhà thầy". Hàm ý rằng mồng một thì thắp nhang bên nội, mồng 2 cúng lễ bên ngoại, mùng 3 thì đi lễ thầy.

Ngày mồng hai mồng ba thì đi chúc tết, hoặc lễ bái vãn cảnh ở đền, chùa, từ đường... Có nhà ăn tết 1, 2, 3 ngày... Tùy theo hoàn cảnh gia đình. Có nhà theo nếp cũ ăn tết tới bảy ngày cho tới lễ Khai hạ (Hạ cây niêu).

2.HỘI XUÂN GIA LẠC

Thời gian: tổ chức từ ngày mồng một đến ngày 3 thánh 1 âm lịch.

Địa điểm: Thôn Nam Thượng, Xã Phú Thượng, Huyện Phú Vang, Tỉnh Thừa Thiên Huế.

Đối tượng suy tôn: nhằm tôn vinh Định Viễn Công - Hoàng tử thứ 6, con vua Gia Long.

Nội Dung của lễ: Hội xuân Gia Lạc trước đây được tổ chức từ thời Minh Mạn nhưng chỉ dành cho những người trong phủ về sua dần trở thành hội chợ vui xuân dành cho cả nhân dân. Chợ họp từ sáng mùng một tết. Gia Lạc cách trung tâm thành phố Huế khoảng 3km, Về phía Vĩ Dạ. Hàng hoa phong phú, thay đổi theo từng năm, từ đồ gia dụng như chén bát, cơi trầu, ấm chén, hoa quả bánh trái đến đồ chơi trẻ em.

Ngoài ra, trong ngày hội còn diễn ra nhiều hoạt động vui chơi, ca hát như hát bài chòi, bài vè, hò dã gạo, hát đối nam nữ... Du khách khắp nơi về hội chợ xuân không chỉ để vui chơi mà còn để cầu may.

3.HỘI XUÂN CHỢ GÒ

Thời gian: tổ chức vào ngày mồng 1 tháng 1 âm lịch. 

Địa điểm: Thôn Phong Thạnh, Thị trấn Tuy Phước, Huyện Tuy Phước, Tỉnh Bình Định.

Nội Dung: Mọi người đến hội xuân chợ gò chủ yếu là để mua bán và vui chơi đầu xuân.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Các lễ hội ngày 1 tháng 1 Âm Lịch - Tết Nguyên Đán
Click to listen highlighted text! Powered By DVMS co.,ltd