Thói quen ngồi rung chân nói lên điều gì –
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
Bài viết của tác giả Thiên Khôi
Tôi đến thăm nhà tướng số Yên Phụ vào một buổi trưa. Con đương Nhiêu Tứ, một con đường nhỏ trong ấp Đông Ba Gia Định quả là một con đường khó tìm, sau cơn mưa sớm, mặt đường còn lầy từng vũng nước lớn, không khí ở đây là không khí của một vùng quê với những hàng tre già trồng thành lũy, những bờ giậu có những giây leo nở hoa trắng.
Gian nhà số 21 là gian nhà của ông Yên Phụ, gian nhà khiêm tốn nép sau một bờ giậu xanh cũng như chủ nhân của nó khiêm tốn trong nếp áo mầu lụa ngà, nhà tướng số Yên Phụ có cái phong thái của một vị ẩn sĩ, ở cái tuổi ngoại lục tuần, biết trước được mệnh trời rồi, người ẩn sĩ có thể kéo tấm mảnh trúc xuống ngăn bụi lợi danh để thanh thản nghiên cứu những sự chuyển dịch của những con sao trong những lá số Tử vi, xem sự chuyển dịch ấy nó ảnh hưởng vào đời sống của những con người đã mang sẵn cái định số ấy như thế nào.
Tuy mang danh một nhà tướng số, nhưng có lẽ ông Yên Phụ đã không coi việc giải đoán lá số cho những ai thắc mắc về cuộc đời mình làm một mưu hồ khẩu, vì đường vào nhà ông cũng khó như đường Ba Thục, mấy ai đã có thể tìm tới!
Căn phòng nhỏ thật gọn gàng, những trang sách thơm tho, chỉ còn thiếu lư trầm, bộ khay trà và khóm trúc nơi khu sân nhỏ, thì ở đây quả đã thật đầy không khí của Trình, Chu. Nhưng dù chưa đủ lượng, cái không khí đó cũng đã khiến tôi lúc tới cũng như lúc về chỉ xí dài chủ nhân chứ không dám bắt tay, và chủ nhân dù tuổi hạc đã cao, nhưng cũng cung tay chào lại, cách xử thế của người xưa chợt giậy ở nơi đây. Ngay trong buổi sơ kiến mà đã có cái gì thật thâm giao. Thông hiểu Hán tự, ông Yên Phụ đã có thể tìm về những suy luận của cổ nhân trong lãnh vực Tử vi đẩu số một cách dễ dàng, và trong lúc mạn đàm về Tử vi, tôi đã được học thêm ở ông rất nhiều cách luận đoán. Ông có trong tay hầu hết các lá số của các danh nhân Đông Tây kim cổ để suy luận cuộc đời, sự nghiệp, và ngay cả cuộc đời tình ái của các danh nhân, chánh khách ấy, ông Yên Phụ đã nói rằng: “Những lá số tử vi thật đã an bài sẵn cuộc đời của con người một cách chính xác lạ lùng!”.
Lá số Đào hoa phạm chủ
Đã coi từ nhiều năm nay và đã coi cho nhiều người ông Yên Phụ cho biết trong cuộc đời coi tướng số, ông ít gặp những lá số tử vi khó đoán, trừ một lần ông thấy trong lá số của một người đàn ông có số Đào hoa phạm chủ, tức Mệnh cung của người ấy có Tử vi và sao Đào hoa hội cùng nhiều dâm tinh mà nhìn tướng mặt người đó, ông lại thấy có dáng nghiêm cẩn, đoan chính, ông nghĩ là người đó cho sai giờ, nhưng khi nhìn trong bàn tay ông ta, ông Yên Phụ lại thấy những đường chỉ tay, những chỉ hôn nhân, kết hợp có những dấu hiệu cho biết quả ông khách có số Đào hoa phạm chủ, tức người có số “loạn luân”. Ông đã lựa lời hỏi và ông khách đã thú nhận trong quá khứ…
Tôi cũng đã nghiên cứu Tử vi nhưng chưa hề gặp một lá số nào có cách “Đào hoa phạm chủ” nên điều ông Yên Phụ nói có tính cách mới lạ với tôi, nhưng trên tướng tay, tôi đã đọc trong một cuốn sách Pháp có nói tới những đường chỉ trong bàn tay của những người loạn luân, nhưng đó lại không phải là đường hôn nhân, kết hợp như ông Yên Phụ nói, mà là đường tâm đạo chạy cắt ngang bàn tay, có một đường trí đạo mờ nhạt chạy dính liền với tâm đạo đâm xuongs gò Thái âm, và thêm vào đó là một vòng Kim tinh đứt quãng, cùng một gò Kim Tinh dày. Tôi cũng đã coi tay cho một phụ nữ (bà ta tuổi Quý Dậu) và bà ta có một bàn tay y như lời tôi ghi trên, bà ta là người trí thức và tôi sau khi xem tướng tay bà, đã nói thẳng là bà đã phạm vào một lỗi mà luân lý không thể tha thứ được. Bà ta đã im lặng mãi cho tới một ngày gần đây, bà ta trở lại nhờ tôi coi lại, và mới thú nhận là ba ta đã bỏ chồng để chung sống với một người khác, còn chuyện bà phạm cái tội mà luân lý không thể tha thứ được, bà đã cho biết, chính là người anh họ của chồng cũ bà ta.
Cũng trong chuyện “Đào hoa phạm chủ” này, tôi có hỏi là Tây Phương có nơi cho phép anh chị họ xa lấy nhau, liệu có là có số Đào hoa phạm chủ không? Nhà tướng số Yên Phụ đã lặng lẽ suy nghĩ và ông cũng nói tới trường hợp bên Tây Tạng, hai, ba anh em ruột lấy chung một cô gái làm vợ thì có là loạn luân không? Như vậy phong tục có làm đảo lộn sự suy đoán một lá số Tử vi hay một bàn tay của những người có “số” loạn luân không? Chúng tôi chưa tìm được câu trả lời.
Chén trà đã nguội từ lâu, màu vàng héo hắt như nắng chiều bên ngoài, tôi đứng dậy xin cáo từ, ông Yên Phụ tiễn tôi ra cổng, khung trời xám thấp xuống báo hiệu một cơn mưa tới, tôi ra về và miên man suy nghĩ về cái số Đào hoa phạm chủ. Con đường đất đỏ trải đầy xác lá tre khô.
(1) Ông Yên Phụ ở số 21 đường Nhiêu Tử Gia định, ông xem tử vi và coi tay, coi bài. Nhà văn Nguyễn Thụy Long và nhà thơ Trần Đức Uyển tức Tú Kêu cũng đã từng tới coi ông nhiều lần
Theo tạp chí Khoa Học Huyền Bí
![]() |
| Ảnh minh họa |
| ► Xem tướng các bộ phận cơ thể đoán vận mệnh chuẩn xác |
![]() |
| Nhà bác học Albert Einstein |
![]() |
| Ma quỷ trong những giấc mơ |
| ► ## giải mã giấc mơ theo tâm linh chuẩn xác gửi tới độc giả |
Vấn đề đáng nói là đối với những người con tuy có hiếu, mong muốn được thể hiện đạo hiếu nhưng rồi cũng không làm được gì nhiều cho các đấng sinh thành
Một thời, Thế Tôn trú tại Rajàgaha, trên núi Gijjhakùta. Rồi Thế Tôn lấy một ít đất trên đầu móng tay và bảo các Tỷ kheo:
Các ông nghĩ thế nào, này các Tỷ kheo, cái nào là nhiều hơn, một ít trên đầu móng tay hay là quả đất lớn này?
Bạch Thế Tôn, cái nhiều hơn là quả đất này, còn ít hơn là đất trên đầu móng tay.
Cũng vậy, này các Tỷ kheo, ít hơn là các chúng sinh có hiếu kính với mẹ, với cha và nhiều hơn là các chúng sinh không hiếu kính với mẹ, với cha.
(ĐTKVN, Tương Ưng Bộ V, chương 12, phẩm Bánh xe lược thuyết, phần Hiếu kính mẹ-Hiếu kính cha [trích], NXB Tôn Giáo 2002, tr.675)
Hiếu kính với cha mẹ là một lẽ đương nhiên, gần như bất cứ người con nào cũng biết niệm ân và hết lòng hiếu dưỡng song thân để đáp đền ân nghĩa sinh thành. Thế thì vì sao Thế Tôn lại khẳng định “ít hơn là các chúng sinh có hiếu kính với mẹ, với cha và nhiều hơn là các chúng sinh không hiếu kính với mẹ, với cha”?
Có thể nói từ trong tâm khảm, không ai mà không thương kính cha mẹ. Nhưng để thực hiện song hành tâm hiếu và hạnh hiếu một cách trọn vẹn thì không mấy ai làm được. Ở đây, chúng ta không bàn đến hạng người mang tội đại nghịch (giết cha, giết mẹ) hay những kẻ nghịch tử chỉ báo hại và làm khổ cha mẹ. Vấn đề đáng nói là đối với những người con tuy có hiếu, mong muốn được thể hiện đạo hiếu nhưng rồi cũng không làm được gì nhiều cho các đấng sinh thành.
Vì sao? Có đến 1001 lý do để biện giải cho điều ấy. Cho dù những lý do ấy có xác đáng đến mấy và dẫu cho cha mẹ hoàn toàn thông cảm, hy sinh thì chúng ta vẫn phải thừa nhận rằng những gì mình đã làm cho cha mẹ thật sự quá ít so với thâm ân sinh dưỡng như biển trời. Sống ở đời, có lòng hiếu đã khó, thực hiện nó lại càng khó hơn bởi không phải ai cũng có đầy đủ phước duyên để phụng dưỡng và kính thờ cha mẹ như ý của mình.
Cuộc sống vốn phức tạp và đầy biến động, mải lao theo những việc quan trọng, cấp thiết hơn nên niềm riêng về cha mẹ tạm thời gác lại. Điều này cũng dễ dàng cảm thông nhưng trớ trêu thay là không có cái gì chờ đợi chúng ta cả. Rồi chuyện sẽ đến đã đến và chúng ta không kịp trở tay, chỉ còn ôm niềm ân hận là chưa làm được nhiều cho cha mẹ thì người đã đi rồi. Tư duy và chiêm nghiệm về lời dạy của Thế Tôn để thấy mình vẫn chưa tròn câu hiếu đạo.
1. Hội Kén Rể
Thời gian: tổ chức vào ngày mùng 2 tháng 2 âm lịch.
Địa điểm tổ chức: làng Đường Yên, xã Xuân Nộn, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội
Đối tượng suy tôn: nhằm suy tôn nữ tướng Lê Thị Hoa thời hai Bà Trưng
Nội dung: Theo truyền thuyết xưa, nữ tướng Lê Thị Hoa từng tham gia đánh giặc Nam Hán và được hai Bà Trưng sắc phong "Nữ sử anh phong". Bà trở về làng cùng nhân dân lập ấp, phát triển canh nông. Để ghi nhớ công lao của bà, nhân dân Đường Yên đã tổ chức hội kén rể với nghi thức và những trò chơi dân gian hết sức độc đáo để chọn rể hiền cho nữ tướng. Mở đầu hội là lễ vinh quy bái tổ của nữ tướng Lê Hoa. Sau phần lể là màn trình diễn độc đáo của 2 chàng trai trong phần thi kén rể. Họ phải trổ tài kể vè, giới thiệu bản thân, cấy lúa, cày ruộng, câu ếch, bắt lợn, "chõng chó" (chọc cho chó sủa vang lên).
2. Hội Đánh Cá Làng Me
Thời gian: tổ chức vào ngày mùng 2 tới ngày mùng 10 tháng 2 âm lịch (chính hội vào ngày 4 tháng 2).
Địa điểm: làng Me, xã Tích Giang, huyện Phúc Thọ, tỉnh Hà Tây cũ (nay thuộc Hà Nội).
Đối tượng suy tôn: nhằm suy tôn Thần Tản Viên (hay gọi là Đức thánh Tản).
Nội dung: trong hội, người dân làng Me tổ chức hội thi đánh cá để dâng tiến lên Ngài. khi chuẩn bị thi người trực tiếp dự thi sẵn sàng nơm, chũm, vó... Trên tay chờ hiệu lệnh xuống ao thi tài. sau khi một cụ cao niên có uy tín trong làng làm lễ khấn xin phép thành hoàng làng, lập tức lệnh đánh cá được bắt đầu với một hồi trống ngũ liên làm hiệu. Chỉ chờ có vậy, những người dự thi nhất loạt nhảy xuống ao đánh cá. Tiếng trống thúc, tiếng reo hò trên bờ, cộng với tiếng xé nước ùm ùm dưới ao tạo nên không khí tưng bừng của ngày hội. Cuộc thi đánh cá diễn ra đến qua 1 giờ chiều thì kết thúc. Sau khi công bố giải thưởng, số cá đánh được trong hội thi được đem chia đều cho tất cả người dân trong làng để làm tiệc cá. Theo tâm niệm của người dân, phần cá được chia chính là phần lộc đem lại may mắn trong suốt một năm trong mỗi gia đình.
3. Hội Miếu Ông Địa
Thời gian: Tổ chức vào ngày 2 tháng 2 âm lịch.
Địa điểm: 125 đường Lê Lợi, phường 3, quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh.
Đối tượng suy tôn: Vía Thổ địa Phúc Đức Chính Thần và nhiều vị Thần dân gian khác.
Nội dung: Miếu Ông Địa là lễ hội tiêu biểu trong các lễ hội miếu ở thành phố Hồ Chí Minh và Nam bộ với các nghi thức:"gióng trống khai trang" thông báo vào lễ, "mời trầu" bằng điệu hát bóng rỗi để thỉnh Thần vè dự lễ, diễn tuồng hài "Địa Nàng" với nhân vật ông Điah và nàng tiên với ý nghĩa phê phán thói hư tật xấu trong xã hội hương thôn xưa. Tiếp đó các nghệ nhân dân gian trình diễn các màn múa mâm vàng, mâm bạc và múa đồ chơi. Kết thúc hội là nghi thức phát lộc.
Nhóm máu A rất quan tâm và hiểu người khác, ngoài ra rất thận trọng khi làm bất cứ việc gì. Củ thể như thế nào các bạn hãy cùng chúng tôi tìm hiểu con người thuộc nhóm máu A trong bài viết dưới đây nhé!

Nhóm máu A chiếm khoảng 41% dân số. Người thuộc nhóm máu này có tính tự chủ rất cao. Họ không bao giờ thích nổi giận hay trả đũa, và nếu không tự kiềm chế được, đêm đó họ sẽ mất ngủ vì tự trách mình.
Nội dung
Người nhóm máu A tự đặt ra cho mình những qui tắc sống mang tính chuẩn mực. Họ luôn tỏ ra lịch sự và giàu tham vọng, luôn cố gắng vươn tới một hình mẫu lý tưởng.
Người nhóm máu A dễ thành đạt trong công việc vì họ có khả năng chế ngự tình cảm và sống lý trí, luôn chọn con đường thẳng và ngắn nhất để dẫn tới thành công.
Người nhóm máu A giọng nói dịu dàng, tao nhã lịch sự, thái độ thành thật, thích sạch sẽ, phục tùng, tinh tế, cảnh giác, tình cảm, biết chia sẻ, có đức tính hi sinh, bao dung độ lượng. Nghề thích hợp cho những người này là nhân viên kế toán, thủ thư, nhà kinh tế học, nhà văn và lập trình viên.
Đàn ông mang nhóm máu A là người rất chăm chỉ, cần cù, làm việc đầy trách nhiệm. Họ cũng là người sống có trách nhiệm. Đàn ông nhóm máu A rất được phụ nữ ưa thích vì họ đáp ứng gần đủ các tiêu chuẩn của một người chồng mẫu mực. Vợ của đàn ông nhóm máu A phải là người phụ nữ đáng yêu, dịu dàng. Phụ nữ tự tin, mạnh mẽ sẽ không phù hợp. Đàn ông nhóm máu A được đồng nghiệp và cấp trên tin tưởng nhưng lại hay bị đố kỵ vì thành công khá sớm.
Phụ nữ nhóm máu A đa số có xu hướng chọn sự nghiệp hơn gia đình, họ không thích bị bó buộc bởi hôn nhân tuy nhiên với những quy tắc của chính mình họ sẽ luôn tỏ ra là một người vợ tốt.
Họ có xu hướng để bụng những mâu thuẫn trong cuộc sống mà không muốn giải tỏa chúng. Chính vì vậy họ dễ bị căng thẳng khi cố ép mình vào một hình mẫu hoàn hảo, hay lo lắng vì những chuyện nhỏ nhặt. Bạn sẽ ngạc nhiên khi biết rằng người nhóm máu A thực ra sống khá nội tâm và lãng mạn bên trong sự lý trí của mình.
Đặc điểm nổi bật của người thuộc nhóm máu này là thích cuộc sống ổn định, ở nơi yên tĩnh, ít ánh sáng chói. Họ coi trọng lao động sáng tạo, rèn luyện trong trạng thái tĩnh nhiều hơn động, ngủ 8 tiếng trở lên mỗi ngày và không thức quá 11 giờ đêm.
Những người nhóm máu A cho dù bề ngoài tỏ ra bạo dạn, rộng rãi thế nào, nhưng tận sâu thẳm trong lòng luôn ngờ vực về vô vàn chuyện trên đời.
Trong tình yêu, nhóm máu A là những người rất bảo thủ, khăng khăng cho mình đúng, khó thay đổi. Họ cũng rất khó yêu, con tim cứ khép suốt nên thường thấy cô đơn. Họ không thích người yêu chưng diện và rất cứng nhắc, khó tha thứ nếu người ấy phạm lỗi. Người nhóm máu A kết hôn với người nhóm máu O sẽ có cuộc sống thoải mái, vui vẻ. Người nhóm máu A kết hôn với người cùng nhóm máu sẽ hòa thuận như hai người bạn tốt hơn là một cặp tình nhân.


Những người có nhóm máu A thường rất dễ bị stress kể cả khi có những nhân tố nhỏ nhặt nhất và thường có hàm lượng cortisol trong máu cao.
Những người thuộc nhóm máu A có sức chịu đựng rất tốt, bình thường họ ít khi mắc bệnh, nhưng lại có duyên với bệnh mạch máu não , đặc biệt là nhồi máu não. Lý do là vì độ nhớt của máu ở nhóm máu A cao hơn các nhóm khác, nên nguy cơ viêm nhiễm cũng lớn hơn. Ngoài ra, người thuộc nhóm máu A cũng dễ bị đột quỵ, ung thư.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
1. Người có một đôi tai vừa dày vừa hồng hào sẽ khỏe mạnh và sống thọ.
2. Tai lớn là người thông minh và may mắn.
3. Dái tai phẳng là người có phong cách của các nhà triết học.
4. Thềm thịt ở tai mỏng là người khiêm tốn.
5. Tai lớn là người nhiệt tình và tràn đầy năng lượng.
6. Tai nhỏ là người nhanh nhẹn và phản ứng mau lẹ trong mọi tình huống. Tuy nhiên, khả năng chịu áp lực của họ không cao.
![]() |
7. Người có lông ở tai thích tự bảo vệ mình, ích kỷ và hay bỏ qua cảm xúc của người khác.
8. Tai lớn, dái tai chảy xệ là người có cuộc sống giàu sang.
9. Tai nhiều lông là biểu tượng của sự trường thọ.
10. Tai cứng và hồng hào là người rất giàu có.
11. Màu sắc của tai trắng hơn mặt là người có tướng nổi tiếng.
12. Vành tai không rõ ràng là người thiếu chân thành.
13. Người có tai đậm màu, không tươi dễ mắc bệnh về tim.
Hạnh Yunnie (theo Meig)
![]() |
ọng trong lá số. Nhưng nay ta biết rằng chúng có vai trò cực kỳ quan trọng với Mệnh vô chính diệu. Điều này là hợp lý bởi đã có 6 cường cung quan trọng rồi, thì 6 nhược cung phải có chỗ dụng nào đó, thế mới hợp lẽ âm dương, mới hợp đạo, không có gì là thừa, là kém ý nghĩa trên một tổng thể 12 cung như vậy. Và một trong các ý nghĩa đó là dụng 6 nhược cung để giải mệnh vô chính diệu. Chỉ cần tìm cách làm động các cung đó lên để giáng Tuần Triệt vào Mệnh, như đổ bê tông cho vững cái nền móng trống rỗng ngả ngiêng.

Động cung Tật lên không phải là bị bệnh tật nặng nề, mà là rèn luyện để có sức khỏe, thể lực tốt. Cung Tật chỉ thẳng vào tình trạng thể chất, tinh thần nên để động nó chỉ việc tập thể dục đều đặn, chú ý tập các môn ảnh hưởng tốt tinh thần như Yoga, 5 thức Tây Tạng. Đặc biệt 5 thức Tây tạng rất hiệu quả và lành, nó đơn giản nhưng có tác dụng mạnh. Để tự động viên, chỉ cần nghĩ rằng ta tập luyện cơ thể thế này tức là đang gây áp lực lên cái Mệnh vô chính diệu ngả nghiêng để làm nó vững lại. Thực tế, bất cứ người vô chính diệu nào mà từng đi bộ đội, tức là đã chịu sự rèn luyện thì thường đều rất lợi, chính vì đã được đóng áp lực lên Mệnh rồi.
Động cung Nô tức là hãy có quan hệ xã hội tốt, luôn biết rằng lợi cho người thì tức là lợi mình, cho đi cái gì thì nhận lại cái đó. Người vô chính diệu tại sao lại nên nhờ người khác ra mặt, đứng đầu, còn mình phụ giúp hoặc đứng sau thôi ? Đó chính là động cung Nô, cái người khác mà ta nấp sau lưng kia chả phải đang động để chèo chống đứng đầu đó ư. Người vô chính diệu tự nhiên hay ganh ghét so bì với người khác nên nếu cung Nô có người năng động, thành công, khiến mình phải ganh tỵ cũng hay, vì người đó sẽ tạo áp lực lên Mệnh để bản thân phải phấn đấu, cố gắng. Thậm chí nếu có kẻ cừu địch khi dễ mình thì càng tốt, biết đâu nhờ thế bản thân mới biến thành siêu Xayda !
Động cung Điền thì rõ rồi, sửa nhà, dọn nhà thường xuyên, đổi nhà, chuyển phòng, dịch giường. Nếu có nhà cửa cho thuê, đất đai kinh doanh thì chính là có cái dụng thần đại cát rồi. Cung Điền rất quan trọng, phong thủy có sức mạnh ghê ghớm. Một bí kíp phong thủy đơn giản là hãy luôn giữ nhà cửa gọn gàng, vứt hết các đồ cũ không dùng đến, vì chúng gây ra sự bừa bộn, tích tụ năng lượng âm gây ảnh hưởng tiêu cực. Nên học phong thủy huyền không, nó mạnh hơn hẳn đám Bát trạch, cung phi vớ vẩn. Đọc các sách dịch của Lý Cư Minh, thầy phong thủy Đài Cảng. Ông ta có tinh thần rất khoáng đạt, ông ta nói là : “Nếu bạn định học huyền học chỉ để lợi cho mỗi mình thì thôi đừng học nữa, cái biết của mình phải có lợi cho người khác thì mới đáng học“. Sách của ông ta dù về Tử bình, Phong thủy hay Mật tông đều có nhiều thông tin rất hữu ích.
Động cung Phụ như thế nào, khi đó là đối tượng ta không thể động vào được. Khi Mệnh vô chính diệu lục hại cung Phụ mẫu thì luôn nhớ là càng xa gia đình càng hay, vì Tuần Triệt chính là có ý xa cách. Có thể là đi học, đi làm, miễn cứ xa gia đình là được. Một điều nữa là nếu bố mẹ vất vả, hoặc là người năng động, hoạt động nhiều thì tự nhiên cũng có tác dụng như động vậy. Tốt nhất vẫn là xa gia đình, tự đóng Tuần Triệt vào Mệnh và Phụ.
Động cung Huynh cũng như với cung Phụ, xa cách anh em. Nếu cung Huynh vốn đã động nhiều, ví dụ có anh em năng động, thành công thì tự nó đã gây áp lực có lợi lên Mệnh rồi.
Động cung Tử tức hơi khó, đó là bắt buộc phải có con. Tục ngữ Trung Quốc có câu : “Có con vạn sự đủ”, Mệnh vcd lục hại Tử tức khi có con thì tình hình sẽ trở nên tốt hơn hẳn. Ngoài ra, cung Tử tức còn chỉ quan hệ tình dục, nếu có cuộc sống tình dục tốt thì cũng lợi rất nhiều (điều này có thể giải thích từ phương diện sức khỏe, sinh học). Cung Tử tức còn động khi làm việc trong các ngành nghề liên quan đến trẻ con, lớp người ở vai con cháu mình, kém mình một vài thế hệ…
Đó là cách thứ nhất, dùng cung lục hại để giải Mệnh vô chính diệu, tuy nhiên không phải lúc nào cũng dùng được. Như không thể xa gia đình, xa anh em, hoặc chưa có con thì lấy gì nghịch ngợm phá phách trong nhà !
Cách tiếp theo, luôn dùng được, đó là dụng cung Di.
Để hiểu tại sao cung Di lại có thể giải Mệnh vô chính diệu thì cứ đọc lại ngay sách vở kinh điển. Sách viết: Mệnh vô chính diệu thì “xem chính tinh xung chiếu như chính tinh tọa thủ”, câu này có vẻ đơn giản, sai, xung chiếu là xung chiếu chứ coi như tọa thủ thế nào được. Nhưng trong đó ẩn chứa cái lý sâu xa, câu ấy thực ra có nghĩa là dùng cung xung chiếu, trong đó coi trọng sao chính. Do Sao thì phải ở trong Cung, nên vấn đề không phải là coi chính tinh xung chiếu như tọa thủ mà là dùng cung kia thế nào, vận dụng để các sao trong cung phát lên, nổi lên, động lên thì tự khắc sẽ gây ảnh hưởng điền đầy cho cung vô chính diệu. Cái lý này tương tự như việc giải phá Tuần Triệt, vì Tuần Triệt là một dạng Không vong, vô chính diệu cũng là một dạng Không vong, nên dụng đối cung để giải cung vô chính diệu là hợp lý. Mệnh Di vốn là một cặp không thể tách rời, cung Di đó không phải là xã hội khách quan mà chính là xã hội đối với ta. Tức là nếu hai người cùng sống trong môi trường giống nhau, họ có cung Di khác nhau thì sự tương tác của họ với xã hội cũng khác nhau. Mệnh và Di có thể ví như đòn cân và quả cân. Mệnh có chính tinh giống như cái cân có đòn dài, chỉ cần quả cân (tức cung Di) bé bé là đã đủ cân bằng mà dụng rồi. Mệnh vô chính diệu như cái cân có tay đòn quá ngắn, rất khó mà dụng được (nên khó có kết quả tốt). Vì thế phải dùng quả cân (cung Di) thật nặng mới có thể cân bằng được. Động cung Di để giải Mệnh vô chính tức là làm nặng quả cân lên, để cho cái cân đòn ngắn có thể kham được hàng tấn hàng tạ như cái cân đòn dài.
Việc dùng sự “động” này cũng lại có ngay trong sách vở kinh điển. Sách viết: Cung vô chính diệu “ tối ái Nhật Nguyệt sáng “, tại sao không là chính tinh nào khác mà chỉ là Nhật Nguyệt, chính vì Nhật Nguyệt là hai nguồn năng lượng động phát xạ liên tục, nên tại cung có Nhật Nguyệt sáng chả cần làm gì thì nó cũng đã động phát năng lượng ra xung quanh rồi. Và đó chính là điều mà vô chính diệu rất thích, như khoảng sân rộng chỉ cần đứng im ngửa mặt ngắm trăng sáng lan tràn khắp nơi, như căn phòng trống mở cửa sổ cho ánh mặt trời rọi vào. Vô chính diệu thích sự động liên tục ở tất cả các cung chiếu đến nhưng đối cung là quan trọng nhất vì đó là đối tác cân bằng, là quả cân đem đến cái Dụng tối thượng cho bản cung.
Dụng cung Di để giải Mệnh vô chính diệu tức là làm động cung Di lên, y như đối với Mệnh bị Tuần Triệt, ở đây không nhắc lại. Chỉ đưa ra một nghiệm lý cụ thể về một người quen Mệnh vcd, cung Di có Nhật sáng thêm cát tinh nhưng bị Triệt, theo sách thế là bị phá nặng rồi. Nhưng người đó đã vô tình hóa giải theo cách cực kỳ hợp lý. Đó là thứ nhất dùng Mệnh để phá giải Triệt ở cung Di, tức là người đó phát huy nội lực, cố gắng học tập tốt, thi đỗ đại học dù cả nhà chả ai tin có thể đỗ. Cung Mệnh lục hại Phụ mẫu, đi học đại học xa bố mẹ là tự đóng Tuần Triệt lên Mệnh rồi, thêm một cái lợi. Sau khi tốt nghiệp được giữ lại làm giảng viên, tiếp theo được cử đi học tiến sỹ ở nước ngoài với học bổng toàn phần. Như vậy người này thứ nhất dùng Mệnh, dù là vô chính diệu, nỗ lực âm thầm động Mệnh lên hết sức có thể để giải Triệt ở Thiên Di, sau đó khi cung Di mở ra thì nó tác động trở lại, Nhật sáng chiếu Mệnh vô chính diệu, kết quả có thể coi là mỹ mãn…
Văn Khấn bán khoán tại chùa được dùng vào lễ bán khoán là lễ cầu xin chư vị Phật Thánh nhận trẻ nhỏ làm con bán và phù hộ cho chúng được khỏe mạnh, thông minh đến tuổi trưởng thành.
Trẻ nhỏ từ khi mới sinh đến tuổi trưởng thành phải nhờ sự nuôi dưỡng, dạy dỗ chăm sóc của cha mẹ. Thông thường làm lễ bán khoán cho đến tuổi 13 (hết 1 giáp) hoặc bán cho đến trọn đời.
Đến Chùa ghi tên tuổi cha mẹ và con và hẹn ngày làm lễ. Sau khi sắm lễ (theo sự hướng dẫn) làm lễ xong gia đình (mại chủ) nhận được và giữ một tờ khoán (vải hoặc giấy đều được) cho đến khi làm lễ chuộc lại (lễ bán khoán).
Phúc tinh vô lượng thiện tôn.
Kim cứ: Việt Nam quốc ! …. tỉnh …. huyện …. y vu …. tự cư. Phụng Phật Thánh hiến cúng … Thiên, tiến lễ khất mại đồng tử, lập khoán văn kỳ bình an diên thọ sự. Kim thần mại chủ … thê … đồng phu thê đẳng. Hỷ kiến ư … niên …. nguyệt …. nhật …. thời, sinh hoạch nam (nữ) tử niên phương … tuế. Lự kỳ hình xung, tướng khắc, quỉ mị vi nương. Tất bằng.Thánh đức dĩ khuông phù; hạt ký duyên sinh vu tính mạnh. Vị thử, ý dục thọ tràng. Đẩu vu: Phật Thánh tọa hạ mai quy.
Cung duy:
Nam mô thập phương vô lượng thường trụ Tam bảo kim liên tọa hạ.
Nam mô Đại từ đại bi, linh cảm Quán Thế Âm Bồ Tát, Hồng liên tọa hạ.
Bản tự thập bát long thần già lam chúa tể vị tiền. Vọng vi Thánh tộc chi môn; nguyện vi Minh linh chi tử. Kim khất ải tính danh vi … Cấm trừ chủ Quan sát sự.Thần phục vọng:
Đức đại khuông phù – Ân hoằng bảo hựu. Vận thần thông lực, tiễu trừ tà quỷ vu tha phương; khử chúng hung đồ tốc phó doanh châu ư ngoại cảnh. Tự tư hưởng hậu, bất đắc vãng lai. Nhược ngoan tà đẳng chúng bất tuân pháp luật chiếu lý thi hành.Túc mại chủ … cử tấu:
Thánh tiền y luật trị tội. Tu chí khoán giả.
Hữu khoán ngưỡng.
Tả thiên thiên lực sĩ.
Hữu vạn vạn hùng binh.
Trung sai ngũ hổ đại tướng quân.
Đẳng quan, chuẩn thử.
Kê: nhất phó phụ mẫu sở sinh dưỡng dục chí …. tuế thục khoán, tái mại bách tuế như nghi vi chiểu dụng giả.Nhị viên chứng kiến:
Tả đương niên vương hành khiển chí đức Tôn thần. Hữu đương cảnh Thành hoàng bản thổ đại vương từ hạ vi bằng.Tuế thứ … niên … nguyệt … nhật … thời lập khoán. Thích Ca như Lai di giáo đệ tử thần phụng hành.
Cách hành văn của văn khoán có vài bản khác nhau đôi chút nhưng nội dung là một: Tên tuổi cha mẹ địa chỉ năm tháng ngày giờ sinh con trai (gái). Hôm nay làm lễ Phật giao ước xin trẻ nhỏ tên là … làm con cái Phật Thánh và xin đổi họ tên thành … Nhờ ơn chư vị phù hộ độ trì cho trẻ nhỏ mạnh khoẻ, thông minh. Đến bao nhiêu tuổi xin lễ chuộc lại. Nếu thần ác quỷ nào xâm phạm đến mại tử (con bán) thì Phật Thánh chiếu theo pháp luật trị tội.Chứng minh lễ khoán có:
– Vua … cai trị năm nay.
– Thần Thành hoàng Thổ Địa làm chứng
Lễ bán khoán tổ chức vào ngày ….. tháng ….. năm ……
Vị chủ lễ tên là ……… thực hiện.Sớ bán khoán được đốt sau khi hành lễ. Mại chủ (người bán con) giữ văn khoán. Nơi làm lễ được giữ văn tự (nếu có). Đến khi làm lễ chuộc lại, lễ sắm như lúc bán và đốt văn tự cùng tờ khoán.
Văn khấn vào những ngày tuần hết :
Nam Mô A Di Đà Phật!
Nam Mô A Di Đà Phật!
Nam Mô A Di Đà Phật!Đệ tử mại chủ và mại tử chúng con thành tâm cúi lạy 9 phương trời 10 phương chư Phật.
Con cúi lạy đức Chúa ông bản tự thập bát long thần già lam chúa tể.
Hôm nay là ngày …… tháng ……. năm ……..
Mại chủ con là: ………….
Vợ ……………………..
Mại tử con là …………….Chúng con chí thành chí thiết dâng lên lễ bạc hương hoa kim ngân phẩm vật. Cúi lạy Đức chúa ông linh thiêng soi xét xá tội xá lỗi, phù hộ độ trì cho gia đình chúng con cùng mại tử (con bán) ……………….. bốn mùa được yên vui tám tiết không vận hạn, thân tâm an lạc, gia đình bình yên, an khang thịnh vượng … cúi mong Ngài chứng minh, chứng giám cho chúng con được sở cầu như ý, sở nguyện tòng tâm. Chúng con xin chí thiết, chí thành, nhất tâm bái tạ.
Cẩn nguyện.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
Muốn tính năm âm lịch có tháng nhuận hay không, ta lấy năm dương lịch chia cho 19, nếu chia hết hoặc cho các số dư 0, 3, 6, 9, 11, 14, 17 thì năm đó sẽ có tháng nhuận.
Lịch tính thời gian theo mặt trăng gọi là âm lịch. Tháng mặt trăng trung bình có 29,5 ngày. Một năm âm lịch có 354 ngày, ngắn hơn năm dương lịch 11 ngày. Cứ 3 năm lại ngắn hơn 33 ngày (hơn 1 tháng).

Để âm lịch vừa chỉ được tuần trăng, vừa không sai lệch nhiều với thời tiết 4 mùa, cứ 3 năm âm lịch người ta phải cho thêm một tháng nhuận để năm âm lịch và dương lịch không sai nhau nhiều. Tuy nhiên, như vậy vẫn chưa đủ, năm âm lịch vẫn chậm hơn so với năm dương lịch. Người ta khắc phục tình trạng trên bằng cách cứ 19 năm lại có một lần cách 2 năm thêm một tháng nhuận.
Trong 19 năm dương lịch có 228 tháng dương lịch, tương ứng với 235 tháng âm lịch, thừa 7 tháng so với năm dương lịch, gọi là 7 tháng nhuận. Bảy tháng trước đó được quy ước vào các năm thứ 3, 6, 9 hoặc 8, 11, 14, 17, 19 của chu kỳ 19 năm.
Với năm âm lịch, muốn tính năm nhuận chỉ việc lấy năm dương lịch tương ứng với năm âm lịch chia cho 19, nếu số dư là một trong các số: 0, 3, 6, 9 hoặc 11, 14, 17 thì năm âm lịch đó có tháng nhuận.
Ví dụ:Năm nhuận chỉ là một thủ pháp của các nhà làm lịch nhằm làm cho năm âm lịch và dương lịch không sai lệch nhau nhiều, không có hàm ý gì về thời tiết, khí hậu.
| ► Lịch ngày tốt gửi đến độc giả những câu chuyện về thế giới tâm linh huyền bí có thật |
![]() |
| Ảnh minh họa |
![]() |
Nắm bắt số lượng cá cảnh cải thiện tài vận gia chủ![]() |
![]() |
![]() |
| ► Tham khảo thêm: Những vật phẩm phong thủy giúp phát tài, phát lộc |
|
|
| (Ảnh minh họa) |
Nếu được sao tốt tương trợ, họ sẽ tài hoa hơn người thường làm nhiều việc nghĩa và được thăng quan tiến chức nhanh chóng. Nếu không có sao tốt tương trợ trong cung mệnh, họ vẫn có thể được hưởng cuộc sống tương đối đầy đủ nhưng cũng phải chịu đựng nhiều nỗi ưu phiền; hoặc tuy là quan chức nhưng vì quản lý thường không yên ổn; hoặc sẽ thuộc dạng "đục nước béo cò", tuy có 1 số lợi nhuận ngoài ý muốn nhưng cũng tồn tại khá nhiều điều nguy hiểm và khi biết sai thì cũng đã quá muộn.
Họ là những người linh hoạt, có khả năng giao tiếp xã hội tốt. Họ cũng có trực giác nhạy bén và nếu tập trung vào lĩnh vực đầu tư thì sẽ thu được nhiều nguồn lợi lớn.
Người này rất có đầu óc kinh doanh nhưng lại khá tiêu cực và bị động trong việc quản lý tài sản. Trừ khi người khác có đầy đủ lý do và thuyết phục được họ 1 cách tuyệt đối, nếu không họ sẽ không bao giờ chịu mở hầu bao của mình.
Đường tài vận của họ khá hanh thông, thường nhờ vào sự giúp đỡ của người khác mà thu được nhiều tiền tài. Về cơ bản, họ là người coi trọng tình cảm, 1 số người dễ mắc vào lưới tình. Họ có thể dốc hết tâm sức vì người mà mình thực sự yêu thương.
(Theo 12 con giáp về sự nghiệp và cuộc đời)
1. Không nên đặt đầu giường ngay bên cạnh cửa ra vào. Theo phong thuỷ, điều này ảnh hưởng không tốt đến giấc ngủ. Nếu giường kê không sát tường thì nguồn năng lượng âm càng gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng hơn. Quan hệ giữa hai vợ chồng ngủ ở vị trí này sẽ không được bền vững.
2. Cửa ra vào không nên mở trực tiếp vào giường ngủ, và hậu quả sẽ nghiêm trọng hơn nếu như cùng lúc có hai cửa ra vảo mở trực tiếp vào hai bên giường. Khắc phục tình trạng này bằng cách đặt một tấm ngăn hoặc bình phong giữa tường và cửa ra vào.
3. Không nên đặt giường thẳng hướng vào cửa ra vào (đầu giường hoặc chân giường hướng thẳng ra cửa). Điều này sẽ khiến cho vợ hoặc chồng bị ảnh hưởng trực tiếp bởi luồng khí luân chuyển nhanh, mạnh. Vị trí nằm ngủ chỉ thẳng cửa ra vào là vị trí chết chóc.
4. Không nên đặt giường ngay bên dưới xà nhà bởi vì theo phong thuỷ, sát khí từ xà nhà sẽ phóng xuống người nằm bên dưới. Xà nhà ở trên đầu thường gây ra những mâu thuần trong cách mối quan hệ tình cảm. Giải pháp tốt nhất là lặp đặt trần nhà để che khuất xà nhà.

5. Trong phòng ngủ không nên treo gương chiếu thẳng về phía gường ngủ, vợ chồng hay cãi vã bất đồng quan điểm. Không tốt
Hỏi họ về điều phải lẽ trái để xem chí hướng của họ.
Muốn trọng dụng một người, trước tiên phải biết được ý chí, lập trường của người ấy ra sao. Nếu như đối phương lẫn lộn giữa điều phải lẽ trái hoặc mơ hồ giữa cái đúng cái sai, lập lờ trắng đen thì quyết không thể giao phó trọng trách. Bởi lẽ con người này không vững vàng, không kiên định về lập trường, dễ đổi trắng thay đen và dễ phản trắc.
Chí hướng là động lực thúc đẩy con người tiến lên. Người không có chí hướng thì không thể làm nên việc lớn. Bởi vậy, biết rõ được chí hướng của con người thì sẽ đánh giá được ý chí của họ. Không chỉ Trung Quốc, tại nhiều nước trên thế giới, phần lớn những nhà chính trị, nhà chiến lược, nhà quân sự nổi tiếng đều có chí hướng ngay từ khi tuổi còn nhỏ.
Sự khác biệt giữa những người thành công và những người thất bại không phải là ở sức mạnh, kiến thức hay sự hiểu biết, mà chính là ở ý chí.
Nghĩa là đưa ra nhiều câu hỏi, lý lẽ dồn họ vào thế đường cùng để xem khả năng ứng biến đối phó với các tình huống của họ.
“Biến” ở đây là chỉ khả năng ứng phó, năng động. Khi chọn người, người có khả năng ứng biến giỏi, nhất là các tướng cầm quân khi bị dồn vào thế đường cùng, họ ắt sẽ biết cách ứng phó, biết chuyển bại thành thắng, biết mở cho mình con đường sống.
Nghĩa là dùng mưu kế của mình để tham khảo những mưu kế, sách lược của đối phương, thông qua đó có thể đánh giá những kiến thức của đối phương.
4/ DŨNG
Nghĩa là đặt ra những tình huống gian nguy, khó khăn để đánh giá sự dũng cảm của đối phương.
Khi lựa chọn hiền tài, Gia Cát Lượng thường đưa ra những nghịch cảnh, khó khăn gian nguy để thử thách sự dũng cảm của họ, bởi lúc lâm nguy tinh thần dũng cảm vô cùng quan trọng. Khắc phục một khó khăn có thể dễ dàng nhưng khắc phục 10 hay 100 khó khăn, gian nguy liên tiếp đòi hỏi con người phải có tinh thần dũng cảm vô song.
Một nhà triết học người Đức từng nói:
“Chỉ có con người nào đã từng trải qua sự giày vò của địa ngục thì mới có sức mạnh để xây dựng được thiên đường”.
5/ TÍNH
Gia Cát Lượng cho đối phương uống rượu say để đánh giá tính tình, thực tâm của họ. Rượu là chất kích thích, khi bị say thì vỏ đại não bị tê dại, con người khi ấy bị mất lý tính, không còn ý thức được những hành vi của mình. Nên lời nói của họ không chút giấu giếm mà rất thực lòng. Từ đó Gia Cát Lượng đánh giá đúng thực chất tâm tính của đối phương.
Nghĩa là dành cho họ nhiều tiền tài, bổng lộc, thậm chí hứa giao cho trọng trách để đánh giá sự liêm khiết hay lòng tham lam của họ.
Bản tính của con người thường có máu tham, hám lợi, tham tiền, nhất là những người làm quan và giữ trọng trách lớn. Thực tế cũng cho thấy, cổ kim đông tây, người nào vượt lên sự cám dỗ của tiền tài danh vọng thường là những quan thanh liêm, được lòng dân và góp phần làm cho đất nước hưng thịnh.
7/ TÍN
Tức là giao việc cho họ để xem lời họ hứa so với thực tế làm việc ra sao, từ đó đánh giá chữ “Tín” của họ.
Gia Cát Lượng cho rằng một người chỉ biết nói suông không đi đôi với việc làm, là người không có chữ tín. Một đất nước mà không có chữ tín với các nước thì không thể hưng thịnh, một người không có chữ tín với mọi người thì không thể lập nghiệp.
Thời gian: tổ chức vào ngày mùng 7 tháng 9 âm lịch.
Địa điểm: làng Thắng, xã Đức Thắng, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.
Đối tượng suy tôn: nhằm suy tôn Khổng Minh Không (nhà sư thời Lý), Dương Tự Minh (tướng nhà lý).
Nội dung: mở đầu lễ hội làng Thắng là hoạt động tế lễ. Bên ngoài đình là nơi triển lãm các công cụ nghề rèn. Tiếp đó là các cuộc thi chạy cướp cờ, cướp cầu, lễ khao quân giữa đình.
Tỳ Hưu là một loại mãnh thú hung mãnh, nhưng lại là một loại mãnh thú mang ý nghĩa tốt lành. Đặc biệt là Tỳ Hưu không có hậu môn, nghĩa là chỉ có “ăn” mà không có “nhả”.
Theo kinh nghiệm hàng ngàn năm của các đại sư phong thủy Trung quốc, Tỳ Hưu là một loại mãnh thú hung mãnh, nhưng lại là một loại mãnh thú mang ý nghĩa tốt lành. Đặc biệt là Tỳ Hưu không có hậu môn, nghĩa là chỉ có “ăn” mà không có “nhả”.
– Chất liệu tạo hình con Tỳ Hưu này rất nhiều: làm bằng gỗ, đồng, nhựa thông, bột đá… nhưng có năng lượng phong thuỷ mạnh nhất làm bằng đá ngọc. Về hình dáng Tỳ Hưu hiện đang lưu hành từ trước đến nay, vẫn là loại Tỳ Hưu trên đầu có một cái sừng, có bờm, có một số con có hai cánh, lông đuôi có tua. Tỳ Hưu còn có tên gọi khác là Thiên Lộc.
Tác dụng của Tỳ Hưu trong Phong thủy:
– Tỳ Hưu còn có tác dụng trấn nhà để tránh tà khí, ta đặt Tỳ Hưu ở các hướng tốt trong nhà như: Sanh khí, Thiên y, Diên niên, Phục vị. Nhất là hướng “sanh khí”, thì Tỳ Hưu có thể làm cho vận mệnh các thành viên trong gia đình chuyển biến tốt, vận mệnh tốt được nâng cao, đuổi tà khí đi và có tác dụng trấn nhà, vì vậy Tỳ Hưu đã trở thành thần bảo vệ cho gia đình, bảo vệ sự bình yên cho ngôi nhà của ta.
– Tỳ Hưu còn có tác dụng mang lại điều tốt lành: như màu đen đem lại tài lộc, màu đỏ bảo trợ sức khỏe hạnh phúc gia đình, màu xanh đem đến may mắn thuận lợi trong con đường công danh, sự nghiệp.
– Tỳ Hưu còn có tác dụng hóa giải “Ngũ hoàng đại sát”. Ngũ hoàng đại sát là một sát tinh trong phong thủy, khi nó vào nhà thì tác dụng của nó thật vô cùng đáng sợ: mang đến những điều bất lợi cho những thành viên trong gia đình về sức khỏe và tài vận.
– Nếu ở phương vị ngũ hoàng đại sát bay đến, ta đặt hai con Tỳ Hưu phía sau cửa chính, đầu Tỳ Hưu hướng về phía trước, thì có thể hóa giải sát khí của ngũ hoàng đại sát.
– Tỳ Hưu khi đặt, đầu Tỳ Hưu phải hướng ra cửa chính, hoặc hướng ra cửa sổ để chiêu tài khí bốn phương.

Hình tượng Tỳ Hưu:
– Tỳ Hưu đầu như Kỳ Lân, có một sừng, thân của gấu, lại như của hổ báo, có cánh trên lưng. Tỳ Hưu là giống cực kì hung dữ, chuyên cắn hút tinh huyết của các loài yêu quái ma quỷ nên còn gọi là con Tịch Tà. Tỳ Hưu xa xưa vốn gốc là con gấu được thần kỳ hóa, các tướng võ oai dũng được gọi là Tỳ Hưu.
– Tỳ Hưu không chỉ hút tinh huyết ma quái, mà còn hút vàng bạc, báu vật trong trời đất, bởi thế về sau Tỳ Hưu lại là con linh vật phong thuỷ giữ Tài lộc. Khi đó Tỳ Hưu có các đặc điểm: miệng to, ngực to, mông to, nhưng không có hậu môn (để chỉ hút của cải vào mà không làm mất đi cái gì). Tỳ Hưu từ đời Đường ngực mông càng to nữa.
– Tỳ Hưu nếu có hai sừng thì gọi là Thiên Lộc, thu giữ của cải cho gia chủ, nếu một sừng là giống Tịch Tà, chống lại ma quỷ bảo vệ gia chủ. Nếu có hai con thì con đực gọi là Tỳ, con cái là Hưu.
– Ở Trung Quốc, nổi tiếng nhất là con Tỳ Hưu bằng ngọc trên Đức Thắng Môn tại Bắc Kinh. Theo truyền thuyết, vì con Tỳ Hưu quay miệng ra Sơn Hải quan, nên người Mãn đánh mãi nhà Minh không được. Đến khi người Mãn lập mưu hiểm, xui vua Sùng Trinh quay đầu Tỳ Hưu về nam, thì Sơn Hải quan mới vỡ, nhà Minh mất nước. Nhà Thanh sùng kính con Tỳ Hưu đó, bắt dân gian không ai được giữ Tỳ Hưu.
– Giờ thì ai cũng đều có thể mua Tỳ Hưu dùng đeo tay, đeo nhẫn, đeo cổ hoặc trưng trong nhà, văn phòng. Muốn bày Tỳ Hưu lấy lộc phải để Tỳ Hưu ngoài trời cho hưởng tinh khí thật lâu, khi bày thì miệng quay ra cửa, và gia chủ không bao giờ được để tay vào miệng Tỳ hưu, vì e nó hút hết tài lộc của chính mình; ngược lại, khách nào mà sơ ý để tay vào miệng con Tỳ hưu đó, thì sẽ mất hết lộc.
Lưu ý: thỉnh Tỳ Hưu cho mình là việc rất quan trọng, dáng Tỳ Hưu phải đẹp, sắc xảo, chất liệu phải bằng đá ngọc như đá thạch anh, ngọc bích… thì mới tích trữ tài lộc may mắn một cách đầy đủ trọn vẹn. Những Tỳ Hưu này chỉ có ở những cửa hàng phong thuỷ uy tín, chuyên về trang sức đá riêng biệt.
Người tuổi Ngọ và tuổi Sửu hợp tác tương đối ăn ý. Họ đều cố gắng hết sức để xây dựng cho sự nghiệp chung giúp cho việc kinh doanh phát triển thuận lợi.
Người tuổi Ngọ và tuổi Dần có thể hợp tác. Hai bên đều có ý tưởng của riêng mình. Họ cũng biết hướng đến công việc chung nên có thể gắn bó chặt chẽ với nhau.
Người tuổi Ngọ và tuổi Mão có thể hợp tác. Mèo thích quậy phá nhưng ngựa lại biết tự chăm sóc mình.
Người tuổi Ngọ và tuổi Thìn có thể hợp tác trong thời gian ngắn. Nếu hợp tác lâu dài đôi bên sẽ nảy sinh mâu thuẫn. Họ cũng không thể chung sức gánh vác công việc lớn.
Người tuổi Ngọ và tuổi Tỵ hợp tác ăn ý nhất. Hai bên đều có nhiệt huyết với sự nghiệp. Tuổi Tỵ giỏi tính toán, tuổi Ngọ cần cù, chịu khó, đôi bên hợp tác nhất định sẽ thành công.
|
| (Ảnh chỉ mang tính chất minh họa) |
Người tuổi Ngọ và tuổi Ngọ không dễ hợp tác vì họ không hợp tính cách của nhau.
Người tuổi Ngọ và tuổi Mùi hợp tác khá mạo hiểm. Mặc dù ngựa có tài nhưng khi hợp tác với dê sẽ gặp rủi ro.
Người tuổi Ngọ và tuổi Thân khó hợp tác kinh doanh. Ngựa biết mình sẽ thiệt thòi nên không chọn khỉ để hợp tác. Khỉ thông minh nhưng cũng không chi phối được ngựa.
Người tuổi Ngọ và tuổi Dậu có thể hợp tác. Tuy nhiên, người tuổi Dậu không nên dựa dẫm quá nhiều vào tuổi Ngọ. Nếu người tuổi Ngọ thấy được sự lười biếng của tuổi Dậu, hợp tác sẽ chấm dứt.
Người tuổi Ngọ và tuổi Tuất hợp tác khá vui vẻ. Song, hai bên thường có những cải tiến trong công việc nên kế hoạch thường xuyên thay đổi.
Người tuổi Ngọ và tuổi Hợi khó hợp tác thân thiết trong sự nghiệp. Cả hai đều có ý tưởng riêng và xu hướng thích đi xa mà không đồng nhất được quan điểm.
(Theo Bách khoa toàn thư 12 con giáp)
![]() |
![]() |
![]() |
| => Xem thêm: Tử vi trọn đời theo ngày tháng năm sinh |
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
Thời tiết xấu sẽ làm cho con người ta khó chịu, cơ thể mất cân bằng, làm việc kém minh mẫn và hiệu quả. Trái lại nếu thời tiết thuận lợi sẽ làm cho cơ thể khoẻ mạnh, trí não hưng phấn và là tiền đề cho công việc trôi trảy, hiệu quả lao động cao. Nếu việc chọn ngày giờ theo Âm lịch là sai thì chắc nó đã không thể tồn tại cho đến ngày nay trải qua mấy nghìn năm xã hội Nông nghiệp.
Trong Thiên Văn học hiện đại cũng chỉ ra rằng vũ trụ thường xuyên xảy ra những vụ va chạm giữa các thiên hà, làm phát sinh những bức xạ, những tia vũ trụ mà ảnh hưởng của nó đến trái đất là rất lớn, chi phối đời sống của sinh vật nói chung và con người nói riêng. Vì vậy tránh ngày xấu cũng chính là trành những thời điểm không tốt của sự vận động vũ trụ và khí quyển. Nói rộng ra, việc sử dụng lý thuyết Âm Dương Ngũ hành hợp lý trong Âm lịch nhằm chọn ra thời điểm tốt tránh thời điểm xấu là việc vô cùng cần thiết. Muốn thành công phải hội tụ cả ba yếu tố Thiên thời - Địa lợi - Nhân hoà mà Thiên thời là một trong những yếu tố quan trọng đảm bảo làm việc thành công, cải thiện đời sống con người.
Việc chọn ngày tốt phải sử dụng đúng lý thuyết Âm Dương Ngũ hành trong Âm lịch tức hệ lịch mã hoá thời gian theo hệ quy chiếu Can Chi. Tránh những hủ tục chọn ngày lạc hậu, mê tín dị đoan thường thêu dệt trong dân gian, không những không mang lại kết quả gì mà trái lại gây tâm lý hoang mang, làm lỡ mất thời điểm tốt cần thực hiện công việc.
Ứng dụng chọn ngày tốt xấu
Những điều cần tránh khi chọn ngày để làm những việc lớn :
- Ngày có can chi trùng với can chi tuổi của người cần xem. Ví dụ tuổi Đinh Tỵ không nên dùng ngày Đinh Tỵ
- Ngày có can trùng với can tuổi của người cần xem, còn chi xung với chi tuổi. Ví dụ tuổi Đinh Tỵ không nên dùng ngày Đinh Hợi (Chính xung rất độc).
- Ngày có can xung với can tuổi của người cần xem, còn chi trùng với chi tuổi hoặc chi xung của tuổi. Ví dụ tuổi Đinh Tỵ không nên dùng ngày Quý Tỵ hoặc Quý Hợi.
- Ngày Nguyệt Kỵ : Mồng 5, 14, 23 hàng tháng. Tổng các số trong 3 ngày trên là 5, 5 tượng trưng cho sao Ngũ Hoàng Thổ ở trung cung rất tối kỵ cho mọi việc.
- Ngày Tam Nương : Thượng tuần là ngày mùng 3, mùng 7. Trung tuần là ngày 13,18. Hạ tuần là ngày 22,27.
Không nên kiêng những ngày này vì truyện kể có một bà gì ghẻ đi cưới vợ cho con chồng, lựa trúng ngày Tam Nương để hại con ghẻ. Nào ngờ khi đám cưới lại gặp đúng lúc vua Càn Long đi ngang qua nên bỗng dưng hoá tốt. Vì vậy chúng ta không nên kiêng kỵ ngày này, nên chăng chỉ kiêng cho những vị đứng đầu đất nước.
- Ngày Thọ Tử :

- Ngày Chi khắc Can (Đại hung) : Canh Ngọ, Bính Tí, Mậu, Dần, Tân Tỵ, Quý Mùi, Giáp Thân, Ất Dậu, Quý Sửu, Nhâm Tuất.
- Ngày Ngũ Ly (Đại Hung) : Nhâm Thân, Quý Dậu, Giáp Thân, Ất Dậu, Mậu Thân, Kỷ Dậu
- Ngày Can khắc Chi (Tiểu Hung) : Ất Sửu, Giáp Tuất, Nhâm Ngọ, Mậu Tí, Canh Dần, Tân Mão, Quý Tỵ, Ất Mùi, Đinh Dậu, Kỷ Hợi, Giáp Thìn.
Những yếu tố của ngày tốt - Chủ yếu căn cứ theo yếu tố Ngũ Hành của ngày sau đây :
- Ngày Can sinh Chi (Đại Cát) : có vai trò rất quan trọng khi tiến hành đại sự : Đinh Sửu, Bính Tuất, Ất Tỵ, Đinh Mùi, Giáp Ngọ, Mậu Thân, Chanh Tí, Nhâm Dần, Kỷ Dậu, Tân Hợi, Quý Mão, Bính Thìn.
- Ngày Chi sinh Can (Tiểu Cát) : cũng là những ngày tốt : Giáp Tí, Bính Dần, Đinh Mão, Tân Mùi, Nhâm Thân, Quý Dậu, Canh Thìn, Tân Sửu, Canh Tuất, Tân Hợi, Nhâm Tí, Mậu Ngọ.
- Ngày Thiên Giải :
+ Từ Lập xuân đến trước Lập Hạ : Nhâm Dần, Quý Mão
+ Từ Lập Hạ đến trước Lập Thu : Ất Tỵ, Giáp Ngọ
+ Từ Lập Thu đến trước Lập Đông : Mậu Thân, Kỷ Dậu
+ Từ Lập Đông đến trước Lập Xuân : Canh Tí, Tân Hợi
Ngoài ra cần chú ý kết hợp với các yếu tố sau để cân nhắc sự tốt xấu của ngày cần xem :
1. Bảng 28 vị tinh tú quản ngày chi phối cát hung : Nên tra trong lịch vạn niên Dịch Học
2. Theo 12 chỉ trực : Ngày Dần đầu tiên của tháng Giêng là trực Kiến, rối theo thứ tự an trực Kiến, Trừ, Mãn, Bình, Định, Chấp, Phá, Thành, Thu, Khai, Bế.

3. Theo Lục Diệu :
Tháng 1, 7 : Ngày 1 là Tốc Hỉ : Tốt vừa, sáng tốt chiều xấu, cần làm nhanh
Tháng 2,8 : Ngày 1 là Lưu Liên : Hung , mọi việc khó thành
Tháng 3, 9: Ngày 1 là Tiểu Cát : Cát, mọi việc tốt lành, ít trở ngại
Tháng 4, 10: Ngày 1 là Không Vong : Hung, mọi việc bất thành
Tháng 5, 11: Ngày 1 là Đại An : Cát, mọi việc đều yên tâm hành sự
Tháng 6, 12: Ngày 1 là Xích Khẩu : Hung, đề phòng miệng lưỡi, cãi vã.
Rồi theo thứ tự 1 Đại An, 2 Lưu Liên, 3 Tốc Hỉ, 4Xích Khẩu, 5 Tiểu Cát, 6 Không Vong tiếp theo các ngày trong tháng.
4. Theo vòng Hoàng Đạo :
Bảng giờ Hoàng Đạo trong ngày, ngày Hoàng Đạo trong tháng

5. Các ngày Sát chủ cũng không nên làm việc lớn :
Bảng các ngày Sát chủ trong tháng :
Hung Niên và Tam Tai: Phàm từ xưa đến nay, cứ đến năm tuổi là người ta tránh sự cưới hỏi trong năm này, tránh dựng vợ gả chồng vì cho là bị ở lứa tuổi Hung niên. Đúng ra năm 20 tuổi thì chẳng có gì là xung kỵ cả, có điều xét đoán thì năm 20 tuổi cưới vợ thì sớm lắm.
Do đó người ta bày ra cách kéo dài thời gian qua tuổi 20 để thuận tiện, ngoại trừ tam tai và đại hạn mà nhiều sách đã chứng minh là đúng.
Tam Tai: Kỵ cất nhà hoặc cưới gả
- Tuổi Thân - Tý - Thìn thì tam tai nên tránh các năm Dần - Mẹo - Thìn
- Tuổi Dần - Ngọ - Tuất thì tránh tam tai ở các năm Thân - Dậu - Tuất
- Tuổi Sửu - Tỵ - Dậu thì tránh tam tai tại các năm Tỵ - Ngọ - Mùi
- Tuổi Hợi - Mão - Mùi thì tránh tam tai tại các năm Tỵ - Ngọ - Mùi
Theo lịch sách cổ truyền chứng minh là đúng là hễ vào tuổi nào gặp tam tai không những cất nhà mà cả cưới gả cũng là chuyện xấu. Nên các bạn nên tránh vào những năm hung niên nói trên dù muốn dù không thì cũng đỡ đi được phần nào.
Ngày Nguyệt Kỵ: Kỵ xuất hành hoặc khai trương vào các ngày mùng năm(5), mười bốn(14) và hai mươi ba.
Ngày Tam Nương: Tránh mở cửa hàng khai trương vào các ngày mùng 3, mùng 7, 13 và ngày 22
Giờ sát chủ:
| Tháng Giêng Tháng Hai Tháng Ba Tháng Tư Tháng Năm Tháng Sáu Tháng Bảy Tháng Tám Tháng Chín Tháng Mười Tháng Mười Một Tháng Mười Hai |
Giờ sát chủ Giờ sát chủ Giờ sát chủ Giờ sát chủ Giờ sát chủ Giờ sát chủ Giờ sát chủ Giờ sát chủ Giờ sát chủ Giờ sát chủ Giờ sát chủ Giờ sát chủ |
Giờ Dần - Tý Giờ Tỵ Giờ Thân Giờ Thìn Giờ Dậu Giờ Mẹo Giờ Dần - Tý Giờ Tỵ Giờ Thân Giờ Thìn Giờ Dậu Giờ Mẹo |
g Quốc xa xưa lâu đời, nó không chỉ đơn thuần tồn tại trong phạm vi phong thủy học, mà còn tồn tại trong triết học truyền thống của Trung Quốc cổ đại.

Ví dụ cho rằng: Mặt trăng là âm, mặt trời là dương: buổi tối là âm, ban ngày là dương; yếu là âm, khỏe là dương; thấp là âm, cao là dương; lạnh là âm, nóng là dương; sau lưng là âm, trước mặt là dương; ẩn là âm, lộ là dương, cứ từ đó mà suy luận ra, không có gì là không tổn tại.
Sự bắt đầu của học thuyết Ngũ hành lại không bị lẫn lộn trong âm dương, nó có sự phát triển độc lập, đến một trình độ nhất định, lại kết hợp với học thuyết âm dương, biến thành học thuyết âm dương Ngũ hành, trở thành lý luận hạt nhân của phong thủy Trung Quốc.