Đoán tướng giàu nghèo qua số lượng răng –
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Ngọc Sương (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Ngọc Sương (##)
cực không? Hay chúng càn trở bạn đạt mục tiêu và thực hiện giấc mơ của mình? Dưới đây là một số khía cạnh cụ thể mà sự bừa bộn trong nhà có thể khiến bạn buồn phiền, lo lẳng.

Cách bạn chăm sóc phòng bếp là đâu mối cho biết liệu bạn có đặc biệt quan tâm tối sự nuôi dưỡng chính mình và nguồn sung túc của mình hay không. Khi phòng bếp bừa bộn, đó là dấu hiệu cho thấy đã đến lúc phải cân bằng nhà cửa, công việc và cuộc sống gia đình tốt hơn.
Sự bừa bộn có thế biến những không gian của gia đình như phòng khách và phòng ăn thành “hang ổ” của sự cô lập, nhất là nấu tình trạng bừa bộn trầm trọng tới mức bạn không dám mời bạn bè đến ăn tối Nếu bàn ăn có nhiều thứ bừa bãi tới mức gia đình bạn không bao giờ ăn ở đó, điêu đó có thể góp phần làm cho các thành viên trong gia đình thiếu sự giao tiếp kết nối với nhau
Sự bừa bộn trong phòng ngủ có thế khiến bạn khó khởi động vào buổi sáng. Tất cả năng lượng bị mắc kẹt đó sẽ khiến bạn khó lôi mình ra khói giường.
Sự bừa bộn trong văn phòng khiến bạn khó tập trung và hoàn thành công việc, làm chậm các dự án và ngăn các cơ hội đến vối bạn. Bạn đang hy vọng tháng tiến? Hãy xóa tất cả thông tin cũ trong ngăn hồ sơ và ố cứng máy tính, điều đó sẽ tạo ra không gian cho những trách nhiệm mới mà bạn muốn chứng mình là có thể đảm nhận.
Tam thức là ba mô thức thuật số cơ bản của lý số đông phương, bao gồm: Thái Ất, Độn Giáp, Lục Nhâm đại độn.
Thái Ất được xếp đứng đầu trong tam thức , chủ yếu nghiên cứu các tính toán liên quan đến sự hưng vong của các triều đại, các trận pháp ở tầm cỡ chiến lược.
Độn Giáp (Kỳ môn Độn giáp)ứng dụng vào quân sự là chủ yếu, ngày nay với tư duy " thương trường là chiến trường" thì Độn Giáp cũng có chỗ đứng trong vấn đề kinhdoanh. Ngoài ra Độn Giáp còn là công cụ cơ bản trong tính toán địa lý "Tam Hợp" điều này cũng nói lên sự liên quan mật thiết giữa Độn Giáp với yếu tố "Địa" trong hệ thống tam tài Thiên, Địa, Nhân.
Lục Nhâm đại độn có vị trí khiêm tốn hơn cả, giải quyết những vấn đề liên quan đến chiêm bốc cát hung của người (ở đây yếu tố nhân sinh nổi trội).
Rất nhiều sách nói, nhìn trong hệ thống Tam Tài thì Thái Ất biểu hiện về "Thiên", Độn Giáp biểu hiện cho " Địa", Lục Nhâm đại độn biểu hiện cho "Nhân", xem ra cũng có nhiều ý nghĩa xác thực.
"Độn" trong tiếng Trung Quốc có nghĩa là ẩn đi, Giáp là mã đầu trong hệ thập can, một hệ mã long cốt mang tính cơ sở đo đếm Thiên, Địa, Nhân.
Các học giả cho rằng can Giáp đứng đầu trong các can, nay ẩn nó thì thì "Cát". Được rút ra theo ý nghĩa của hào dụng cửu quẻ Càn " Quần long vô thủ cát", nghĩa là bày rồng không đầu cát. Tại sao lại như vậy, trong sách dịch nói rồng tượng trưng cho người có tài có đức, cùng hợp tác với nhau mà không có người đứng đầu. Theo quan điểm về quản lý mà nói các nhóm làm việc với nhau phân ra hai hình thức hợp tác cơ bản.
+ 1. Bắt tay: Phù hợp với các nhóm làm việc có nhiều người giỏi và có phương pháp phối hợp với nhau khoa học, hiểu biết.
+ 2. Điểu khiển: Phù hợp với những nhóm người có trình độ nhận thức chưa cao, cần có sự thúc ép chỉ dẫn và trong trường hợp này thì nhu cầu có người lãnh đạo là cần thiết.
=> Phải chăng câu "Quần long vô thủ cát" ứng với trường hợp 1 và dịch lý cho rằng cát.
- Kỳ môn: tách làm 2
+ Kỳ: gồm có tam kỳ (Ất kỳ, Bính kỳ, Đinh kỳ). Trong đó: Ất kỳ tương ứng với Nhật, Bính kỳ tương ứng với Nguyệt, Đinh kỳ tương ứng với Tinh Tú.
+ Môn: là cửa, trong độn giáp bao hàm nghĩa rộng hơn là 8 phương hướngchiến lược hành động cơ bản.
Độn Giáp có tầm quan trọng theo nghĩa hẹp giúp cho quan lại trong chế độ phong kiến có được phương hướng chiến lược trong lĩnh vực quân sự. Nghĩa rộng hơn giúp cho những "yếu nhân" cai trị các mặt chính của đời sống xã hội, như chính trị, kinh tế, giáo duc....
Học thuyết Độn giáp được hình thành trên cơ sở của các mô hình : Tam tài (Thiên-Địa-Nhân), Can chi, Âm Dương Ngũ hành, Tiên thiên bát quái , Hậu thiên bát quái, Cửu cung phi tinh. Hiện nay có nhiều trường phái Độn giáp được phát triển ở Trung Hoa lục địa và rực rỡ ở Đài Loan. Nhưng thông dụng nhất vẫn là các trường phái: Thời gia kỳ môn học, Niên gia kỳ môn học, Nguyệt gia kỳ môn học, Nhật gia kỳ môn học.
- Bát môn bao gồm: Hưu, Thương, Đỗ, Cảnh, Tử, Kinh, Khai, Sinh. Trong đó phân ra tính cát hung mang tính tổng quat như sạu
+ Hưu, Khai, Sinh: Cát môn
+ Cảnh : trung tính, có trường phái cho rằng cảnh là Cát môn.
+ Kinh, Thương, Tử : Hung môn.
- Cửu tinh gồm: Bồng, Nhuế, Xung, Phụ, Tâm , Trụ, Nhậm, Anh, Tâm.
+ Hung tinh: Xung, Bồng, Nhuế, Trụ.
+ Cát tinh: Tâm, Nhậm, Cầm, Phụ.
+ Trung tính: Anh
- Bát thần bao gồm: Trực phù, Đằng xà, Thái âm, Lục hợp, Bạch hổ, Huyền vũ, Cửu địa, Cửu thiên.
4. Các thông số tính toán với trường phái Nhật gia Kỳ môn Độn giáp.
1. Ngày giờ chiêm độn
2. Tiết khí
3. Tam nguyên phù đầu
4. Âm dương cục số
5. Phù đầu nghi
6. Lập công thức
7. Tìm Trực phù Trực sứ
8. Tìm tam kỳ lục nghi, bát môn, bát thần
9. Độn giáp diễn quái
10. Tìm thế ứng
11. Nạp giáp
12. An thế ứng
13.Tìm tứ cát, tam kỳ
14.Tìm Lộc, Mã, Quí.
5. Các tài liệu nghiên cứu Độn giáp có giá trị.
A. Tiếng Hán
1.Độn giáp chỉ quy
2.Kim hàm độn giáp bí kíp toàn thư của Trương Lương, Gia cát Lượng, Lưu Bá Ôn tập.
3. Kỳ môn độn giáp pháp khiếu
4. Quỷ cốc tử bí kíp
5. Độn giáp học đại toàn
B. Tiếng Việt
1. Độn giáp giải lược. Tác giả Đỗ Quân.
2. Độn giáp. Tác giả Nguyễn Mạnh Bảo.
3. Giáo trình độn giáp. Tác giả Vũ Xuân Quang.
4. Phi bàn độn giáp yếu giải. Tác giả Vũ Xuân Quang.
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
| Giữa mày và mắt | Trong lòng mắt | Vành tai | Nhân trung |
Kunie
![]() |
Ý nghĩa 12 nốt ruồi trên trán con trai Theo nhân tướng học, nhìn nốt ruồi trên trán nam giới có thể dự đoán độ giàu nghèo của họ. |
Coi tuổi mạng và năm sinh

1-(1941, 2001, 2061) Tuổi Tân Tỵ, cung Tốn, mạng Bạch Lạp Kim (chân đèn bằng vàng), xương con cọp, tướng tinh con thuồng luồng, khắc Phúc Ðăng Hoả, con nhà Bạch Ðế-Trường mạng
2-(1940, 2000, 2060) Tuổi Canh Thìn, cung Chấn, mạng Bạch Lạp Kim(chân đèn bằng vàng), xương con rồng, tướng tinh con quạ, khắc Phúc Ðăng Hoả, con nhà Bạch Ðế-Trường mạng.
3-(1939, 1999) Tuổi Kỹ Mẹo, cung Khôn, mạng Thành Ðầu Thổ ( đất trên thành), xương con thỏ, tướng tinh con rồng, khắc Thiên Thượng Thuỷ, con nhà Huỳnh Ðế-Phú quí.
4-(1938, 1998) Tuổi Mậu Dần, cung Khảm, mạng Thành Ðầu Thổ (đất trên thành), xương con cọp, tướng tinh con thuồng luồng, khắc Thiên Thượng Thuỷ, con nhà Huỳnh Ðế-Phú quí.
5-(1937, 1997) Tuổi Ðinh Sửu, cung Ly, mạng Giáng Hạ Thuỷ( nước mù sương), xương con trâu, tướng tinh con trùn, khắc Thiên Thượng Hoả, con nhà Hắc Ðế- Cô bần
6-(1936, 1996,2056) Tuổi Bính Tý, cung Cấn, mạng Giáng Hạ Thuỷ(nước mù sương), xương con chuột, tướng tinh con rắn, khắc Thiên Thượng Hoả, con nhà Hắc Ðế-Cô bần.
7-(1935, 1995) Tuổi Ất Hợi, cung Ðoài, mạng Sơn Ðầu Hoả (lửa trên núi), xương con heo, tướng tinh con hưu, khắc Sa Trung Kim, con nhà Xích Ðế-Cô bần.
8-(1934, 1994) Tuổi Giáp Tuất, cung Càn, mạng Sơn Ðầu Hoả (lửa trên núi), xương con chó, tướng tinh con ngựa, khắc Sa Trung Kim, con nhà Xích Ðế-Cô bần.
9-(1933, 1993) Tuổi Quí Dậu, cung Chấn, mạng Kiếm Phong Kim (kiếm bằng vàng), xương con gà, tướng tinh con đười ươi, khắc Phúc Ðăng Hoả, con nhà Bạch Ðế- Phú quí.
10-(1932, 1992) Tuổi Nhâm Thân, cung Khôn, mạng Kiếm Phong Kim, xương con khỉ, tướng tinh con dê, khắc Phúc Ðăng Hoả, con nhà Bạch Ðế-Phú quí.
11-(1931, 1991) Tuổi Tân Mùi, cung Khảm, mạng Lộ Bàng Thổ (đất đường đi), xương con dê, tướng tinh con gấu, khắc Tuyền Trung Thuỷ, con nhà Huỳnh Ðế-Bần cùng.
12-(1930, 1990) Tuổi Canh Ngọ, cung Ly, mạng Lộ Bàng Thổ, xương con ngựa, tướng tinh con vượn, khắc Tuyền Trung Thuỷ, con nhà Huỳnh Ðế-Bần cùng.
13-(1929, 1989) Tuổi Kỹ Tỵ, cung Cấn, mạng Ðại Lâm Mộc(cây lớn trong rừng), xương con rắn, tướng tinh con khỉ, khắc Ðại Trạch Thổ, con nhà Thanh Ðế- Trường mạng.
14-(1928, 1988) Tuổi Mậu Thìn, cung Ðoài, mạng Ðại Lâm Mộc, xương con rồng, tướng tinh con quạ, khắc Ðại Trạch Thổ, con nhà Thanh Ðế-Trường mạng.
15-(1927, 1987) Tuổi Ðinh Mẹo, cung Càn , mạng Lư Trung Hoả(lửa trong lư), xương con thỏ, tướng tinh con gà, khắc Kiếm Phong Kim, con nhà Xích Ðế-cô bần
16-(1926, 1986) Tuổi Bính Dần, cung Khảm, mạng Lư Trung Hoả, xương con cọp, tướng tinh con chim trĩ, khắc Kiếm Phong Kim, con nhà Xích Ðế-cô bần
17-(1925, 1985) Tuổi Ất Sửu, cung Tốn, mạng Hải Trung Kim(vàng dưới biển), xương con trâu, tướng tinh con chó, khắc Bình Ðịa Mộc, con nhà Bạch Ðế-Phú quí.
18-(1924, 1984) Tuổi Giáp Tý, cung Chấn, mạng Hải Trung Kim, xương con chuột, tướng tinh con chó sói, khắc Bình Ðịa Mộc, con nhà Bạch Ðế-Phú quí.
19-(1923, 1983) Tuổi Quí Hợi, cung Cấn, mạng Ðại Hải Thuỷ(nước biển lớn), xương con heo, tướng tinh con gà, khắc Thiên Thượng hoả, con nhà Hắc Ðế-Quan lộc, tân khổ.
20-(1922, 1982) Tuổi Nhâm Tuất, cung Ðoài, mạng Ðại Hải Thủy, xương con chó, tướng tinh con chim trĩ, khắc Thiên Thượng hoả, con nhà Hắc Ðế-Quan lộc, tân khổ.
21-(1921, 1981) Tuổi Tân Dậu, cung Càn, mạng Thạch Lựu Mộc (cây lựu đá), xương con gà, tướng tinh con chó, khắc Bích Thượng Thổ, con nhà Thanh Ðế-Cô bần.
22-(1920, 1980) Tuổi Canh Thân, cung Khôn, mạng Thạch Lựu Mộc, xương con khỉ, tướng tinh con cho sói, khắc Bích Thượng Thổ, con nhà Thanh Ðế-Cô bần.
23-(1919, 1979) Tuổi Kỹ Mùi, cung Tốn, mạng Thiên Thượng Hoả (lửa trên trời), xương con dê, tướng tinh con rùa, khắc Sa Trung Kim, con nhà Xích Ðế-Cô bần.
24-(1918, 1978) Tuổi Mậu Ngọ, cung Chấn, mạng Thiên Thượng Hoả, xương con ngựa, tướng tinh con heo, khắc Sa Trung Kim, con nhà Xích Ðế-Cô bần.
25-(1917, 1977) Tuổi Ðinh Tỵ, cung Khôn, mạng Sa Trung Thổ (đất trong cát), xương con rắn, tướng tinh con cú, khắc Dương Liễu Mộc, con nhà Huỳnh Ðế-Phú quí.
26-(1916, 1976) Tuổi Bính Thìn, cung Khảm, mạng Sa Trung Thổ, xương con rồng, tướng tinh con chuột, khắc Dương Liễu Mộc, con nhà Huỳnh Ðế-Phú quí.
27-(1915, 1975) Tuổi Ất Mẹo, cung Ly, mạng Ðại Khê Thuỷ( nước khe lớn), xương con mèo, tướng tinh con dơi, khắc Sơn Hạ Hoả, con nhà Hắc Ðế-Phú quí.
28-(1914, 1974) Tuổi Giáp Dần, cung Cấn, mạng Ðại Khê Thuỷ, xương con cọp, tướng tinh con trâu, khắc Sơn Hạ Hoả, con nhà Hắc Ðế-Phú quí.
29-(1913, 1973) Tuổi Quí Sửu, cung Tốn, mạng Tang Ðố Mộc (cây dâu), xương con trâu, tướng tinh con cua biển, khắc Ốc Thượng Thổ, con nhà Thanh Ðế- Quan lộc, tân khổ.
30-(1912, 1972) Tuổi Nhâm Tý, cung Chấn, mạng Tang Ðố Mộc, xương con chuột, tướng tinh con heo, khắc Ốc Thượng Thổ, con nhà Thanh Ðế-Quan lộc, tân khổ.
31-(1911, 1971) Tuổi Tân Hợi, cung Khôn, mạng Xoa Kim Xuyến (xuyến bằng vàng), xương con heo, tướng tinh con cọp, khắc Ðại Lâm Mộc, con nhà Bạch Ðế-Phú quí.
32-(1910, 1970) Tuổi Canh Tuất, cung Khảm, mạng Xoa Kim Xuyến, xương con chó, tướng tinh con cáo, khắc Ðại Lâm Mộc, con nhà Bạch Ðế-Phú quí.
33-(1909, 1969) Tuổi Kỹ Dậu, cung Ly, mạng Ðại Trạch Thổ (đất nền nhà), xương con gà, tướng tinh con thỏ, khắc Thiên Thượng Thuỷ, con nhà Huỳnh Ðế-Quan lộc.
34-(1908, 1968) Tuổi Mậu Thân, cung Cấn, mạng Ðại Trạch Thổ, xương con khỉ, tướng tinh con lạc đà, khắc Thiên Thượng Thuỷ, con nhà Huỳnh Ðế-Quan lộc.
35-(1907, 1967) Tuổi Ðinh Mùi, cung Ðoài, mạng Thiên Hà Thuỷ (nước sông Thiên Hà), xương con dê, tướng tinh con rồng, khắc Thiên Thượng Hoả, con nhà Hắc Ðế- tân khổ.
36-(1906, 1966) Tuổi Bính Ngọ, cung Càn, mạng Thiên Hà Thuỷ, xương con ngựa, tướng tinh con thuồng luồng,khắc Thiên Thượng Hoả, con nhà Hắc Ðế- tân khổ.
37-(1905, 1965) Tuổi Ất Tỵ, cung Ðoài, mạng Phúc Ðăng Hoả ( lửa đèn nhỏ), xương con rắn, tướng tinh con trùn, khắc Xoa Xuyến Kim, con nhà Xích Ðế-Tân khổ.
38-(1904, 1964) Tuổi Giáp Thìn, cung Tốn, mạng Phúc Ðăng Hoả, xương con rồng, tướng tinh con rắn,khắc Xoa Xuyến Kim, con nhà Xích Ðế-Tân khổ.
39-(1903, 1963) Tuổi Quí Mẹo, cung Ly, mạng Kim Bạch Kim (vàng trắng), xương con thỏ, tướng tinh con hưu, khắc Lư Trung Hoả, con nhà Bạch Ðế-Phú quí.
40-(1902, 1962) Tuổi Nhâm Dần, cung Cấn, mạng Kim Bạch Kim, xương con cọp, tướng tinh con ngựa, khắc Lư Trung Hoả, con nhà Bạch Ðế-Phú quí.
41-(1901, 1961) Tuổi Tân Sửu, cung Ðoài, mạng Bích Thượng Thổ ( đất trên vách), xương con trâu, tướng tinh con đười ươi, khắc Thiên Thượng Thuỷ, con nhà Huỳnh Ðế-Quna lộc, bần cùng.
42-(1900, 1960) Tuổi Canh Tý, cung Càn, mạng Bích Thượng Thổ, xương con chuột, tướng tinh con dê, khắc Thiên Thượng Thuỷ, con nhà Huỳnh Ðế-Quna lộc, bần cùng.
43-(1899, 1959) Tuổi Kỷ Hợi, cung Cấn, mạng Bình Ðịa Mộc(cây trên đất bằng), xương con heo, tướng tinh con gấu, khắc Sa Trung Kim, con nhà Thanh Ðế-Phú quí.
44-(1958, 2018) Tuổi Mậu Tuất, cung Tốn, mạng Bình địa mộc (cây trên đất bằng), xương con chó tướng tính con vượn, khắc Sa Trung Kim, con nhà Thanh Ðế-Phú quí.
45-(1957, 2017) Tuổi Ðinh Dậu, cung Chấn, mạng Sơn Hạ Hoả (lửa dưới núi), xương con gà, tướng tinh con khỉ, khắc Thích Lịch Hoả, con nhà Xích Ðế-Cô bần
46-(1956, 2016) Tuổi Bính Thân, cung Khôn, mạng Sơn Hạ Hỏa, xương con khỉ, tướng tinh con quạ, khắc Thích Lịch Hoả, con nhà Xích Ðế-Cô bần
47-(1955, 2015) TuổiẤt Mùi, cung Khảm, mạng Sa Trung Kim (vàng trong cát), xương con dê, tướng tinh con gà, khắc Thạch Lựu mộc ,con nhà Bạch Ðế- An mạng phú quí
48-(1954, 2014) Tuổi Giáp Ngọ, cung Ly, mạng Sa Trung Kim, xương con ngựa, tướng tinh con chim trĩ, khắc Thạch Lựu mộc ,con nhà Bạch Ðế- An mạng phú quí
49-(1953, 2013) Tuổi Quí Tỵ, cung Khôn, mạng Trường Lưu Thuỷ(nước chảy dài), xương con rắn, tướng tinh con chó, khắc Thiên Thượng Hoả , con nhà Hắc Ðế- Trương mạng
50-(1952, 2012) Tuổi Nhâm Thìn, cung Khảm, mạng Trường Lưu Thuỷ, xương con rồng, tướng tinh con chó sói, khắc Thiên Thượng Hoả , con nhà Hắc Ðế- Trương mạng
51-(1951, 2011) Tuổi Ất Mẹo, cung Ly, mạng Tòng Bá mộc ( cây Tòng và cây Bá), xương con thỏ, tướng tinh con rái, khắc Lộ Bàng thổ , con nhà Thanh Ðế-Trường mạng
52-(1950, 2010) Tuổi Canh Dần, cung Cấn, mạng Tòng Bá mộc, xương con cọp, tướng tinh con heo, khắc Lộ Bàng thổ , con nhà Thanh Ðế-Trường mạng
53-(1949, 2009) Tuổi Kỹ Sửu, cung Ðoài, mạng Thích Lịch Hoả ( lửa sấm sét), xương con trâu, tướng tinh con heo, khắc Thiên Thượng Thuỷ , con nhà Xích Ðế-Phú quí.
54-(1948, 2008) Tuổi Mậu Tý, cung Càn, mạng Thích Lịch Hoả, xương con chuột, tướng tinh con chó sói,khắc Thiên Thượng Thuỷ , con nhà Xích Ðế-Phú quí.
55-(1947, 2007) Tuổi Ðinh Hợi, cung Cấn, mạng Ốc Thượng Thổ ( đất ổ vò vỏ), xương con heo, tướng tinh con dơi, khắc Thiên Thượng Hoả, con nhà Huỳnh Ðế- Phú quí.
56-(1946, 2006) Tuổi Bính Tuất, cung Tốn,mạng Ốc Thượng Thổ, xương con chó, tướng tinh con trâu, khắc Thiên Thượng Hoả, con nhà Huỳnh Ðế-Phú quí.
57-(1945, 2005) Tuổi Ất Dậu, cung Chấn, mạng Tuyền Trung Thuỷ (nước trong giếng), xương con gà, tướng tinh con cua, khắc Thiên Thượng Hoả, con nhà Hắc Ðế-Từ tánh, phú quí.
58-(1944, 2004) Tuổi Giáp Thân, cung Khôn , mạng Tuyền Trung Thuỷ, xương con khỉ, tướng tinh con heo, khắc Thiên Thượng Hoả, con nhà Hắc Ðế-Từ tánh, phú quí.
59-(1943, 2003) Tuổi Quí Mùi, cung Càn, mạng Dương Liễu mộc ( cây dương liễu), xương con dê, tướng tinh con cọp, khắc Lộ Bàng Thổ, con nhà Thanh Ðế-trường mạng.
60-(1942, 2002) Tuổi Nhâm Ngọ, cung Ly, mạng Dương Liễu mộc, xương con ngựa, tướng tinh con rắn, khắc Lộ Bàng Thổ, con nhà Thanh Ðế-trường mạng.
1. MỆNH VIÊN
Một là bàn đến Mệnh viên.
Cứ sao thủ Mệnh đoán nên tính tình.
Tử Vi trọng hậu dung hình.
Thiên Phủ tiết hạnh, thông minh ôn hòa.
Hai sao đều gặp một nhà.
Thiên tư ôn nhuận thiệt là tốt ghê.
Lòng lành tính gặp Thiên Cơ.
Vũ Tinh nhập miếu, anh kỳ tài năng.
Thái Âm viên mãn ai bằng.
Thiên Đồng phì mãn, tính hằng ôn lương.
Phá, Liêm to nhỏ khác thường.
Tính tình cương trực, kết đường tà gian.
Thiên Lương từ hậu dung nhan.
Sát - Hình miếu địa, khôn ngoan anh hùng.
Tham Lang tính bẩm thung dung.
Say miền gái đẹp, rượu nồng mùi ngon.
Thái Dương tính khí thực khôn.
Thanh kỳ bậc nhất, tư lương khác thường.
Kìa như Văn Khúc, Văn Xương.
Tư nhiên khả ái, thông đường văn chương.
Cự Môn tính khí bất thường.
Hể khi xử sự, tìm đường đảo điên.
Thiên Tướng, lòng thẳng mặt hiền.
Thiên tư mỹ lệ: Khoa - Quyền hẳn hoi.
Thanh bần ấy thật Việt, Khôi.
Lại gia Thai - Phụ là nòi khoan dung.
Phụ - Bật tuấn tú vốn dòng.
Đáng tài hơn chúng, tốt dùng chẳng không.
Phụ - Bật đơn thủ Mệnh cung.
Đoán rằng số ấy ly tông cửa nhà.
Phượng - Long đều hợp Mệnh ta.
Làm người cốt cách, ôn hòa tốt thay.
Tuế - Riêu họa xướng ư lời.
Nhận - Hư, lòng gió là người sai ngoa.
Mây mưa ấy thật Đào Hoa.
Lông kia đỏ kệch, Kỵ - Đà xấu trông.
Trán đen, tính nóng, Kiếp - Không.
Hỏa, Linh mặt mũi hình dung bi sầu
2. PHỤ MẪU CUNG
Số hai Phụ Mẫu kể tường.
Âm, Dương, ngộ hãm là đường khắc xung.
Hãm Dương, khắc phụ đã xong.
Hãm Âm khắc mẫu vào vòng chẳng sai.
Hổ, Tang, Thái Tuế cùng bầy.
Lưu Dương lại gặp đoán rày khắc cha.
Gặp sao Hóa Kỵ khiếm hòa.
Thiên Hình - Tuần Triệt mẹ cha mất rồi.
Cáo, Phong có chức, có ngôi.
Khúc - Xương, Thái Tuế thì người cũng sang.
Khôi - Khoa phát đạt hoa tràng.
Khôi - Quyền chính chướng đường đường tốt thông.
Thanh bần ấy phải Hóa - Không.
Nhược bằng Lộc - Mã phú ông ai tày.
Phụ Mẫu cung đã đoán bầy
Đoán từng phần một, cốt hay tại người.
3. PHÚC ĐỨC CUNG
Số ba Phúc Đức kể liền.
Lộc - Quyền đóng đó trong miền bản cung.
Ở đời vinh hiển đã xong.
Kiếp - Không ở đấy bần cùng khốn thay.
Nay đây mai đó càng hay.
Lại xem cung ấy sống rày được bao?
Đồng - Lương - Tử - Phủ bốn sao.
Trên tuần bát cửu thọ nào ai hơn.
Âm - Dương - Xương - Khúc - Lộc Tồn.
Với sao Thiên Tướng, Cự Môn tinh trần.
Thọ thì được ngoại thất tuần.
Miếu thì thong thả, hãm thì tân toan.
Liêm - Cự ta lại phải bàn.
Ngoại tuần lục thập mới hoàn Diêm la.
Việt - Khôi - Tả - Hữu - Quyền - Khoa.
Lộc - Tham - Đế Vượng thật là Tràng Sinh.
Đà La - Dương Nhận - Hỏa Linh.
Vào thì ba bốn rành rành, chẳng sai.
Kiếp - Không - Hư - khốc cùng bầy.
Thiên Hình - Hóa Kỵ mới loài bạch tang.
Nhị Phù tổn thọ một phương.
Thật là lạc mộ, nên dường chẳng sai.
Sát - Liêm - Tứ Sát cùng bầy.
Đoán làm bần yểu xưa nay rõ ràng.
Cao thanh, Thọ - Quý - Ân - Quang.
Những là sao ấy thọ tràng kỳ di.
Tuế - Phá lạc hãm một âu.
Tiếng tăm như sấm ra màu vẽ vang.
Kìa như nói chẳng hé răng.
Thiên Hình đơn thủ chốn đằng Mệnh cung.
Lộc - Mã khéo kiêm nàn nồng.
Phúc - Tấu bá đạo, mong trông một lòng.
Hoa Cái má phấn lưng ong.
Hỉ Thần dài giọng, tâm hung, tràng đầu.
Triệt Không tính những chẳng âu.
Hung trung vô định ra màu gian nan.
Tuế - Tham trong dạ đa đoan.
Kỵ - Riêu tửu sắc, một đoàn ngao du.
Hổ - Tang chẳng việc mà lo.
Quan Phù - Điếu Khách hay phô rộng lời.
Lưỡng - Hao nhỏ nhặt hình người.
Phi Liêm tóc tốt, có tươi mà dầu.
Quý - Ân phong độ trượng phu.
Chẳng hay quân Tử hình thù cũng xinh.
Tướng Quân chỉ thích dụng binh.
Bệnh Phù đới tật trong mình chẳng không.
Cô - Quả thiết kỵ riêng lòng.
Tràng Sinh, Đế Vượng vốn dòng thiện lương.
Đào Hoa - Mộc Dục điểm trang.
Lâm Quan tính khí dịu dàng, tinh anh.
Mộ thì chẳng được thông minh.
Thai hay mê hoặc lại hay tha tùng.
Triệt mà gặp được Kim cung.
Tinh thần thanh sảng, thung dung đế thần.
Tuyệt phùng hỏa địa một khi.
Hiên ngang chí khí, gặp thì thung dung.
Kìa Suy - Bệnh - Tử ba dong.
Gặp vào nước ấy, ai dùng? ai màng?
Hóa - Lộc tính khí dịu dàng.
Bác Sĩ tính nết tìm đường tư hoa.
Thiên Đức, Nguyệt Đức khoan hòa.
Lộc Tồn đôn hậu, thiệt là quy mô.
Phá Quân tâm tính hồ đồ.
Kiếp - Sát xử sự ba đào mênh mông.
Xem trong nhân tính đã xong.
Lại tính cho thấu các cung Ngũ Hành.
Tường chân tính, nhận chân hình.
Chẳng nên chấp nhất, lựa mình mà suy.
Ví như thuộc Thổ Tử Vi.
Tính trì mà gặp Hỏa thì lại nhanh.
Thiên Phủ vốn tính hòa lành.
Song gặp Không - Kiếp thời rằng khắc thâm.
Lại lấy Thân, Mệnh mà suy.
Nam tinh chính chiếu thọ kỳ vô cương.
Đã xem hưởng thọ đoán tường.
Lại xem Phúc Đức đoán phương âm phần.
Tràng Sinh chính phát thập phần.
Gặp sao Quan - Phúc - Quý thần chầu trong.
Phúc - Liêm nội ngoại thung dung.
Khoa - Quyền - Xương - Khúc vốn dòng văn gia.
Vũ - Tham mà gặp Hóa Khoa.
Ấy là đất phát để ra anh hùng.
Cự Môn - Lộc - Lộc tương phùng.
Đoán rằng phú quý gia phong đời đời.
Này là đoán trước mấy lời.
Được đất nằm nghiệm chẳng sai đâu là.
Lại xem hướng mạch kể ra.
Trước lấy khởi tố ấy là Tràng Sinh.
Thanh Long lấy làm long hành,
Đến đâu nhập thủ xem hình chiếu lâm.
Phải lấy chi tự (Địa chi) phân kim.
Xem cho chuẩn đích đoán tìm mới ngoan.
Trước có Dương Nhận - Hồng Loan,
Nga mi tác án yên bàn chẳng sai.
Thanh (Long) Hồng (Loan) là thủy nhập hoài.
Tùy cung mà đoán cho người mới thông.
Lại như Vũ - Khúc - Triệt - Không.
Lấy làm hành lộ khuỳnh khuỳnh trước sau.
Kìa Long với Hổ lai chầu
Xem bên Tả, Hữu mới hầu luận xong.
Bên tả có sao Thanh Long.
Lấy làm Long thủy chầu vòng tả biên.
Bên hữu Bạch Hổ đã yên.
Lấy làm Hổ thủy chầu bên hữu này.
Lại xem tinh tú yên bầy.
Thái Dương - Vũ - Tướng cùng rầy Phá Quân.
Khoa - Quyền - Khôi - Việt tinh trần,
Lấy làm dương mộ mười phần chẳng sai.
Còn như đoán mả đàn bà,
Xem sao miếu vượng gần xa, đoán đời.
Tử - Phủ, Tổ mộ chẳng sai.
Lạc nhàn thì đoán xa đời mà thôi.
Thiên Cơ dương tổ sáu đời
Vũ năm Đồng tứ chẳng sai chút nào.
Liêm Trinh bảy tám đời cao.
Thái Dương là bố lẽ nào chẳng tin.
Cha còn thì đoán ông liền,
Ấy là dương mộ đoán miền dương tinh.
Thiên Phủ viễn tổ đã đành.
Tham sáu, Cự bảy Lương rành tám thôi.
Phá Quân - Thất Sát xa đời.
Thái Âm là mẹ gần nơi đó mà.
Nếu còn thì kể đến bà.
Ấy là âm mộ thuộc tòa âm cung.
Thiên Đức, Nguyệt Đức tương phùng.
Mộ phần thiên táng ắt cùng chẳng sai.
Suy xem tình tính hẳn hòi.
Ấy là chứng nghiệm mà soi cho tường.
Đà La ngộ Dưỡng chẳng thường.
Đoán rằng đạo táng gần phương mả này.
Lại tùy Chính diệu suy bày.
Lại nhân Không - Kiếp đoán rày lạc phân.
Hoa Cái - Phượng Các tân phần.
Tấu Thư - Xương - Khúc là thần đồng ra.
Hoặc là Khôi - Việt gia Hóa Khoa.
Đại khoa sự nghiệp vinh hoa vô cùng.
Lộc Tồn, Hóa Lộc tương phùng.
Ấy là phú quý vốn dòng chẳng không.
Tử Vi nhập Miếu Vượng cung.
Phát nên có kẻ chầu trong vương kỳ.
Lương - Tham thọ khảo kỳ di.
Lại xem đất phát cung phi vẻ nào.
Bởi chưng Hoa Cái - Hồng Đào.
Gặp sao Tử, Nhật gái chầu quân vương.
Đế Vượng đóng chính cung tường.
Ắt là trong họ vượng đường nhân đinh.
Tuế - Phù tụng sự tương tranh.
Lộc Tồn, Cô quả độc đinh thường thường.
Tang Môn - Quả Tú bất thường.
Ắt là trong họ gái thường quả phu.
Phục Binh ngộ Tử phải lo.
Có người bị trận, chết con ngoài đường.
Mộ cư Phúc Đức đường đường.
Lại gia Thai - Tọa ấy Trường Sinh ta.
Hỷ Thần - Thiên Hỷ hoặc gia.
Ấy là Đắc địa chẳng hòa được đâu.
Lại bàn hình thể mọi màu. (Ngũ hành các sao).
Tổ sơn là Tử - Phủ chầu kể ra.
Mộc Tinh là Thiên Cơ gia.
Kim tinh Vũ Khúc, Mộc là Tham Lang.
Văn Khúc là Thủy đáo đường.
Liêm Trinh là Hỏa, Thiên Lương Thổ này.
Thái Dương Dương long đã hay
Âm long, Âm hướng sao này Thái Âm.
Thất Sát cũng Hỏa Tinh lâm.
Phá Quân là Thủy, Cự tầm Thổ tinh.
Thiên Đồng - Thiên Tướng đất binh.
Sao Dương là núi, sao Linh bút bầy.
Mộc Trì là giếng gần đây,
Thiên Quan, Thiên Phúc gần ngay Phật, Thần.
Kiếp - Không lộ tán dương phần.
Kỵ - Riêu là Thủy, sát nhân hoàng tuyền.
Thanh Long có suối lưu truyền.
Bạch Hổ đá trắng ở bên mộ đường.
Khoa - Quyền là bảng văn chương.
Lộc, Kỵ, Việt kiếm rõ ràng đóng đây.
Ấy là phần mộ đoán bày.
Cốt xem Phúc Đức mới hay mọi đường.
4. ĐIỀN TRẠCH CUNG
Bốn là bàn đến cung Điền.
Phủ - Vi đóng đấy, Tài, Điền Vượng thay.
Vũ - Cơ tài sản cũng hay.
Song hiềm hoán dịch ngày này nhiều phen.
Âm Dương, Miếu ấy đa điền.
Nhược bằng ngộ hãm vào miền bằng chân.
Thiên Đồng hậu dị, tiên nan.
Tham Lang tổ nghiệp phá tan lại thành.
Cự Môn tổ nghiệp tan tành.
Sinh ra đời chắc sau rành được yên.
Sát tinh bỗng chốc mà lên.
Nhược phùng hãm địa, bình yên thường thường.
Phá Quân của khéo dở dang.
Nhược bằng ngộ hãm là tuồng khó khăn.
Tướng - Lương - Tả - Hữu - Khoa văn.
Việt - Khôi - Quyền - Lộc - Mã gần Trường Sinh.
Điền viên đều vượng tậu thành.
Hỏa - Linh - Không - Kiếp - Đà - Kình lục tinh.
Nhị Hao - Kiếp Sát - Phục Binh.
Không Vong - Tang - Tú - Phù Tinh vô điền.
5. QUAN LỘC CUNG
Năm là Quan Lộc đoán ngay.
Thái Dương - Xương - Khúc ở đây cung này.
Điện rồng chầu chực đêm ngày.
Đoán rằng số ấy tốt thay lạ thường.
Việt - Khôi - Tả - Hữu - Cơ - Lương.
Khoa - Quyền - Tử - Phủ hợp cùng Trường Sinh.
Tướng - Đồng - Lộc - Mã - Vũ tinh.
Đều là cát tú cho mình hiển vinh.
Âm - Dương - Quyền - Lộc được rành.
Như bằng Hãm địa ắt hành lại hao.
Liêm Trinh vũ chức, quyền cao.
Như bằng ngộ hãm, khỏi nào hình danh.
Tham Lang mà gặp Hỏa - Linh.
Miếu thì phú quý, Hãm: bình mà thôi
Sát - Cự Tý/ Ngọ ở ngôi
Vượng thì vũ chức, Hãm thì hình thương.
Phá Quân lao khổ trăm đường.
Nhược ngôi Tý / Ngọ tài thường vượng thay.
Tham Lang - Xương - Khúc ngày rày.
Ngộ cung Tỵ / Hợi quan này làm ru.
Liêm - Tham - Đà - Nhận phải lo.
Phải mang dang díu quanh co bận mình
Phù - Tang - Không - Kiếp - Hỏa, Linh.
Khốc- Hư - Đà - Nhận - Kiếp - Kình - Nhị Hao.
Phục Binh - Phá - Tú - xúm vào.
Đoán rằng quyền lộc làm sao cũng hèn.
6. Phú Cho Cung Nô Bộc
Sáu là Nô Bộc đoán tường.
Tử, Phủ, Tả, Bật, âm, Dương, Lương Đồng.
Việt, Khôi, Tam Hóa, tương phùng.
Cáo, Loan, Cơ, Mã lại cùng Tướng tinh.
Quý, Quang, Xương, Khúc cùng lành.
Vũ tinh mà đóng rành rành bản cung.
No thì nó ở hầu ông.
Đói thì nó bước chẳng mong nói gì.
Liêm Trinh kìa nó càng ghê.
Làm ân nên oán trăm bề mỉa mai.
Tham Lang vì nó hao tài.
Cự Môn báo oán những loài thị phi.
Thất Sát sinh sự thị phi.
Phá Quân hàn khổ như thì cận quanh.
Còn như Không, Kiếp, Phục Binh.
Dương, Linh, Đà, Kỵ, Thiên Hình, Khốc, Hư.
Nhị Hao, Quan Phủ, Quan Phù.
Gặp phường trộm cắp phải lo tổn tài.
7. Phú Cho Cung Thiên Di
Bảy là bàn đến Thiên Di.
Lộc Tồn, Hóa Lộc tốt thì hòa hai.
Vũ, Lương, cự phú chẳng sai.
Khúc, Xương, Tử, Phủ, Việt, Khôi, Khoa, Quyền.
Âm, Dương, Tả, Hữu rất hiền.
Cùng là Đồng, Tướng gần miền quý nhân.
Thiên Cơ lẩn thẩn, khốn thân.
Nhược bằng ngộ Cát, mười phần tốt thay.
Liêm Trinh nội trợ, ngoại hay.
Đi thì cũng lợi, mới tầy Tham Lang.
Lại thêm dâm dục hoang tàng.
Vũ tinh xuất ngoại lại càng được yêu.
Cự Môn khẩu thiệt đảo điên.
Nhị Phù, Phá, Tú cũng miền Thiên Di.
Đoán rằng lộ thượng, mai thi.
Phá Quân, Thất Sát ắt thì chẳng yên.
Tham Lang, Hóa Kỵ hợp miền.
Luận rằng lộ tử, chẳng tuyền được đâu.
Cự Môn, Linh, Hỏa xung nhau.
Tử ư đạo lộ ra màu xo ro.
Liêm Trinh, Quan Phủ, Quan Phù.
ấy là tử nghiệp chẳng hòa được đâu.
Kìa như đạo lộ phải âu.
Bởi Liêm, Sát, Phá vào hầu Thiên Di.
Tứ Sát đóng chính cung tường.
ách nguy thêm lại hại đường tổ tông.
Vũ, Liêm chẳng khá đồng cung.
Luận rằng số ấy bần cùng ai qua.
Hỏa, Linh, Không, Kiếp, Dương, Đà.
Tham Lang, Hình, Kỵ cùng là Khốc, Hư.
Phá Quân phường ấy phải lo.
Thiên Di cung ấy đoán cho kỹ càng.
8. Phú Cho Cung Tật ách
Tám là Tật ách chẳng âu.
âm, Dương phản bội làm màu bất minh.
Mệnh cung có Địa Không tinh.
Nhan manh mục tật, rành rành phải đương.
Phá, Liêm, Hình, Kỵ, Đà, Dương.
Đã đau bên mắt, lại càng bệnh điên.
Khúc, Xương, Tả, Hữu vào miền.
Việt, Khôi, Tử, Phủ, Khoa, Quyền, Đồng, Lương.
Lộc Tồn, Hóa Lộc một phương.
ốm thì lại gặp thuốc thang sợ gì.
Thiên Cơ phải chứng thấp tê.
Nhược bằng thêm Sát mặt thì vết ngang.
Phong đàm bệnh ấy liền liền.
Bởi sao Cơ, Khúc đóng miền ách phương.
Nhược bằng gia Sát, trỉ vương.
Thái âm đau bụng, Thái Dương đau đầu.
Thêm Đà, Kỵ, Sát cũng rầu.
Đoán rằng mục tật, ấy hầu phải đau.
Phá Quân khí huyết bất điều.
Đồng, Lương, hàn, nhiệt là điều phải lo.
Tướng thì đau ở bì phu.
âm, Dương, Cự, Liêm, hình thù cơ nghinh.
Đà La, Dương Nhận ít yên.
Đau chân, nhức mắt chẳng hiền được đâu.
Dương, Đà, Phá, Kỵ mắt đau.
Bởi đường sao ấy gặp tầy Tham Lang.
Sát tinh thấp khí yếu đau.
Tử, Sát có bệnh bởi hầu Sát gia.
Tham Lang Tật ách xông pha.
Lưng, chân có bệnh, chẳng hòa được chăng.
Cự Môn mặt vết rõ ràng.
Tứ chi có tật xấu chàng hổ ai.
Kỵ, Hình đau mắt chẳng sai.
Kình, Đà, Linh, Hỏa cùng loài một phương.
Mặt kia có vết rõ đường.
Lại thêm bệnh trỉ nên thường phải e.
9. Phú Cho Cung Tài Bạch
Thứ chín kể đến Cung Tài.
Để mà thí nghiệm mấy lời kể ra.
Vũ, Lộc, Thiên Mã cùng gia.
Tử, Phủ mà gặp, phương xa nhiều tiền.
Tử Vi, Tả, Hữu rất hiền.
Lâm Quan Tài Bạch ngoài miền lợi danh.
Thái âm mà với Vũ tinh.
Luận bàn cũng phải rành rành chẳng sai.
âm, Dương, Tả, Hữu giáp lai.
Có sao Đế Vượng cùng ngồi chính trung.
Luận làm địch quốc phú phong.
Đồng, Cơ, Vũ Khúc, tay không làm giàu.
âm, Dương tài vượng khá mau.
Nhược bằng hãm địa, có hầu lại không.
Sát tinh đóng Tý, Ngọ cung.
Hoạnh tài hoạnh phát đùng đùng chứa chan.
Chủ cung phút hợp phút tan.
Lộc Tồn, Hóa Lộc giàu sang trăm đường.
Phá Quân tụ tán chẳng thường.
Việt, Khôi, Tả, Hữu, Khúc, Xương, Khoa, Quyền.
Với sao Hóa Lộc ở miền.
ấy là phát phúc, Tài, Điền vượng hay.
Liêm Trinh sao ấy luận ngay.
Lộc Tồn, Vũ Khúc đóng rầy Tài cung.
ấy là đại phát phú ông.
Kiếp, Không ở đấy, bần cùng chẳng sai.
Dương, Đà, Linh, Hỏa tán tài.
Hỏa, Hình, Hư, Khốc cùng loài như nhau.
10. Phú Cho Cung Tử Tức
Thứ mười Tử Tức kể bày.
Trước sinh nam tử, nhiều bày Nam tinh.
Bắc tinh ấy gái trước sinh.
Sinh ngày âm Kỵ chiếm rành bản cung.
Sinh đêm Dương Kỵ chiếm cung.
âm, Dương lâm Tý là vòng khắc xung.
Vắng sao chính diệu Tử cung.
Phải tìm đối chiếu luận cùng mới xong.
Phủ, Vi, Đế Vượng, Thiên Đồng.
Khúc, Xương, Tả, Hữu luận cùng năm tên.
Nhược bằng gặp Sát cũng hèn.
Dương, âm, cùng ngộ Lâm Quan một đoàn.
Tướng, Lương, Quan Đới rõ ràng.
ấy là cung được ba hàng thành thân.
Khoa, Quyền, thêm Lộc tinh trần.
Việt, Khôi, Thiên Mã mười phần quý nhân.
11. Phú Cho Cung Phu Thê
Mười một bàn đến Thê cung.
Nhân thê trí phú bởi phùng Thái Dương.
âm phùng Hao Tú một phương.
Thành hôn chẳng lọ phải đường cưới xin.
Dương, Đồng đa vợ mà hiền.
Kìa như Lộc Mã tại điền vượng thay.
âm phùng Xương, Khúc ngày rày.
Cung trăng bẻ quế xem tày lên tiên.
Tử, Phủ hòa hợp bách niên.
Đồng, Cơ trai gái kết nguyền cũng xinh.
Trai tơ gái trẻ đã rành.
Âm, Dương miếu địa sớm thành nhân duyên.
Nhược bằng hãm địa sau nên.
Vũ tinh gia Sát đôi bên khiếm hòa.
Tướng, Lương sớm nổi thành gia.
Sát gia sắc đẹp lấy nhà trưởng nhân.
Khúc, Xương, Tả, Hữu tinh trần.
Thông minh giai lão trăm phần tốt thay.
Lộc Tồn muộn vợ nhưng hay.
Tham Lang sớm lấy người rày khắc xung.
Tham mà gặp Sát tối hung.
Phá Quân sớm khắc, ít lòng chính chuyên.
Liêm Trinh phải khắc ba tên.
Cự Môn, Thất Sát luận bàn chớ quên.
Sát tinh xung khắc đã quen.
ấy người dâm dục về miền trăng hoa.
Khôi, Việt, gặp Lộc, Quyền, Khoa.
Quý nhân sánh mấy duyên ta tốt lành.
Linh Tinh, Kỵ, Hỏa, Đà, Kình.
Khốc, Hư, Không, Kiếp đã rành khắc xung.
Nhược bằng Cát Tú tương phùng.
Cùng là giúp được vào vòng thiên ninh.
Tam phương mà gặp Sát, Hình.
Ly hương kết phối rành rành chẳng sai.
12. Phú Cho Cung Huynh Đệ
Mười hai Huynh Đệ bàn liền.
Triệt, Không cũng thấy trong miền bản cung.
Bắt đầu thì đoán khắc xung.
Hoặc gia Địa Kiếp, Thiên Không chẳng nhiều.
Tướng Quân, Lộc, Mã cũng nhiều.
Anh em giàu có phú nhiêu được dùng.
Tướng Quân, Hóa Lộc tương phùng.
Anh em có kẻ ở trong cửa quyền.
Trường Sinh, Đế Vượng lâm liền.
Anh em có kẻ tất nhiên yên bài.
Thái Dương, Thái âm giáp Thai.
Sinh đôi một đối chẳng sai tí nào.
Vượng, Thai, Tuyệt, Tướng thấu vào.
Anh em ắt có dị bào chẳng không.
Đào, Riêu, Thiên Hỷ trong cung.
Phá Quân tính xử đối xung ở ngoài.
Có chị em gái theo trai.
Say mê đến nỗi hoang thai hổ mình.
Trong thì Tướng, Phá, Phục Binh.
Ngoài thì Hoa Cái cung tinh Đào, Hồng.
Tường hoa liễu ngỏ ngóng trông,
Anh em có kẻ dâm thông hẳn là.
Gặp sao Hóa Kỵ khiếm hòa.
Thiên Hình thường có trong nhà giành nhau.
Lộc, Mã buôn bán làm giàu.
Nhược bằng Cự, Tướng ra màu thổ công.
Tử, Phù, Hữu, Bật tương phùng.
Có chị em gái lộn chồng đi ra.
Thiên Khôi ba kẻ anh ta.
Thiên Việt ba kẻ em ta bày đoàn.
Xương, Khúc, Thái Tuế đều yên.
Có người xã trưởng khôn ngoan ai cùng.
Tuyệt, Không, Không, Kiếp chính cung.
Hoặc gia Cát hội lai phùng Dương tinh.
Luận làm nghĩa dưỡng anh em.
Hoặc thêm Đà, Cự, Hỏa, Linh, đoán cùng.
Link nguồn: http://tuvilyso.org/forum/topic/1597-phu-tu-vi-thong-tho-683-cau
Cuộc đời của người con gái có hạnh phúc hay không là phụ thuộc vào việc người chồng mà cô gái đó lựa chọn. Con gái sợ nhất là lấy nhầm chồng, vì thế khi lựa chọn đối tượng kết hôn phải chú ý quan sát tướng mạo của người đàn ông đó. Theo nhân tướng học có 3 kiểu tướng mạo đàn ông không nên lấy làm chồng mà các bạn nữ phải chú ý. Nếu có gặp phải một trong số 3 loại người này thì tuyệt đối phải tránh xa các nàng nhé.
1. Mũi nhỏ hoặc trên mũi có sẹo
Tuyệt đối không được lấy người có mũi nhỏ hay trên mũi có sẹo làm chồng. Vì trong nhân tướng học chiếc mũi được xem như là nơi chứa đựng tiền tài, phú quý của người đó, nếu nam nhân mà có mũi nhỏ cho thấy đường tài lộc, công danh của họ cũng chỉ hạn hẹp và bị giới hạn trong một khối nhỏ. Nếu bạn lấy những người đàn ông có đặc điểm này thì cả đời có thể phải sống trong nghèo hèn, khốn khổ. Do vậy nếu bạn chưa chuẩn bị tinh thần phải cùng anh ta sống chật vật qua ngày thì chớ chọn người đó làm đối tượng kết hôn.
Hãy thử tưởng tượng xem ví dụ chiếc mũi của anh ta là một cái bình chứa đựng tài sản bên trong, và vết sẹo trên mũi giống những đường nứt vỡ trên mặt bình, và như vậy tiền bạc của anh ta có thể dễ dàng bị rò rỉ trôi hết ra ngoài, thậm chí còn có nguy cơ bị phá sản rất cao. Tình yêu đẹp đẽ thật, lãng mạn thật, hạnh phúc thật nhưng không thể khiến bụng chúng ta không cần ăn mà vẫn no, không cần uống mà vẫn không khát. Vì thế khi lựa chọn đối tượng kết hôn bạn chớ có bỏ qua việc xem xét đến điều kiện và năng lực kinh tế của người đàn ông đó, nếu muốn một cuộc sống thoải mái về vật chất chớ có lấy người đàn ông có mũi nhỏ hay trên mũi có sẹo.

2. Mắt to không có thần sắc
Trong 5 ngũ quan của con người, mắt là quan trọng nhất. Vì thế khi muốn biết được có nên lấy người đàn ông đó làm chồng hay không thì phải đặc biệt quan sát đến mắt của anh ta. Nếu anh ta có một đôi mắt to nhưng lại không có thần sắc, hoặc là mắt một bên to một bên nhỏ, những người có tướng mạo như vậy thường sẽ không có trách nhiệm, tính cách mềm yếu, không quyết đoán. Người đàn ông như vậy không thể che chở cho bạn cả đời, càng không thể đem lại cảm giác an toàn cho bạn. Hơn nữa, anh ta còn rất biết cách tính toán kì kèo trong chi tiêu, lấy một người chồng như vậy liệu bạn có được hạnh phúc?
3. Da dẻ trắng bệch
Đối với những người đàn ông da dẻ trắng bệch cũng không nên lấy làm chồng. Những người đàn ông có đặc điểm này thường là những kẻ đạo đức giả, lòng dạ độc ác, nói giỏi hơn làm. Anh ta có thể vẽ vào đầu bạn một bức tranh viễn cảnh về một cuộc sống tự do, lãng mạn và nhiều màu sắc, khiến bạn tin tưởng rằng anh ta là người duy nhất trên thế giới có thể đem đến cho bạn hạnh phúc. Nhưng cuối cùng những người đàn ông như vậy chỉ có thể đem lại cho bạn cảm giác bị phản bội, sự thất vọng lẫn cả sự tổn thương.
Vì là những kẻ nói giỏi hơn làm nên họ sẽ dễ dàng bị nhiễm các thói hư tật xấu bên ngoài. Có thể họ sẽ bảo đảm với bạn chắc như đinh đóng cột rằng tuyệt đối sau này sẽ không tái phạm các lỗi lầm tương tự, nhưng giang sơn dễ đổi bản tính khó rời, vì thế họ sẽ nhanh chóng lao vào các tệ nạn xã hội mà khó dứt ra. Nếu bạn cứ ép anh ta tránh xa các tệ nạn đó, anh ta có thể làm bất cứ điều gì để phản kháng, cho dù là làm hại đến bạn. Vì thế bạn tuyệt đối không nên kết hôn với loại người này.
Hôn nhân đại sự là chuyện cả đời vì thế trước khi quyết định kết hôn các cô gái nên chọn lựa, cân nhắc thật kỹ đối tượng kết hôn cho mình để tránh sau này hối hận, tránh việc nhất thời nhìn vừa mắt mà đánh mất đi hạnh phúc quý giá cả đời của người con gái.
Chốn công sở với nhiều đua tranh, cũng không ít cạm bẫy, bạn có biết cách để đối phó với tiểu nhân nơi công sở nếu không may gặp phải. Hãy thử xem 12 chòm sao cần làm gì trong trường hợp này nhé. Nơi công sở tưởng chừng yên bình khi ai cũng có mục đích để đến đó làm việc nhưng kì thực lại ẩn chứa rất nhiều đợt sóng ngầm. Chúng ta không nên có tâm hại người song nên biết đề phòng là hơn. Chuyện đối phó với tiểu nhân nơi công sở nghe có vẻ ghê gớm nhưng quả thực không thể coi thường, bởi những hành động của kẻ tiểu nhân có thể ảnh hưởng trực tiếp đến công việc, thanh danh hay thăng tiến trong sự nghiệp của chúng ta.
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
Đây là điển cố thứ Hai hai trong quẻ Quan Thế Âm Bồ Tát, mang tên Lục Lang Phùng Cứu(còn gọi là Lục Lang Giải Cứu). Điển tích Quẻ Quan Thế Âm Bồ Tát Lục Lang Phùng Cứu có nguồn gốc từ tiểu thuyết truyền kỳ “Dương gia tướng”, chứ không phải có nguồn gốc từ chính sử.
Khi Tống Thái Tông đi chinh chiến lần thứ hai, Dương Nghiệp phụng mệnh yểm hộ, dân chúng bốn châu mới thu phục được di chuyển vào trong cửa ải. Trong trận kịch chiến với quân Liêu, do bị cô lập không có viện trợ, Dương Nghiệp bị vây khốn ở cốc Trần Gia. Sau khi bị trọng thương, ông vẫn gắng sức giết được hàng trăm tên địch, phá được vòng vây. Sau khi phá vòng vây, ông một mình đi theo con đường nhỏ, chưa được bao xa, thì đến một dốc núi, chỉ nghe gió thối ào ào, hổ gầm vượn hú, lại thấy lá rụng tơi bời, trùng đông treo ngược, trước mắt một màn âm u mờ mịt.
Dương Nghiệp dừng bước, ngẩng đầu lên nhìn, thấy trước mắt hiện ra một ngôi miếu cố lâu năm không được tu sửa, hoang phế và sạt lờ, trước cửa có tấm biển, tuy vàng son đã bong tróc, nhưng vẫn có thể thấy rõ được nét chữ. Ông lại gần, thấy trên biển viết ba chữ “Tô Vũ miếu”. Bên cạnh miếu có tấm bia cũ, cao hơn năm thước, ban đầu ông không chú ý, sau đó hàng chữ lớn trên đầu bia đã thu hút ông: “Bia Lý Lăng”. Bỗng từ xa vọng đến tiếng trống động trời, kèn thối vang dậy, tiếng quân Liêu hô lớn: “Nếu ra hàng sẽ miễn tội chết, được làm quan cao và hưởng nhiều lộc. Ai bắt được Dương Nghiệp, sẽ được thăng quan phong tước. Dương Nghiệp nhìn ngôi miếu Tô Vũ, lại nhìn bia Lý Lăng, ngẩng đầu lên trời cười lớn: “Thà làm ngọc vỡ chứ không làm ngói lành, phải học theo Tô Vũ, chớ có giống Lý Lăng!” ông lui ra sau mấy bước, rồi lao thẳng về phía trước, đâm đầu vào bia Lý Lăng mà chết.
Lúc này, Dương Thất Lang vâng lệnh cha, xông ra núi Lưỡng Lang, trở về đem quân giải cứu, lại trúng gian kế của Phan Nhân Mỹ, vu cho Thất Lang tự ý trốn khỏi đất Tấn, câu kết với giặc phương bắc. Thất Lang bị trói lại, treo lên cây cột trăm thước, bị tên của loạn quân bắn chết.
Dương Lục Lang đi suốt ngày đêm, thẳng đến Biện Lương ở Đông Kinh. Một hôm, Dương Lục Lang đi thuyền định qua sông Mặc Thủy, đến giữa sông, người nhà thuyền rút kiếm muốn giết. Dương Lục Lang nhìn kỹ, nhận ra người nhà thuyền, một người là Lang Thiên, một người là Lang Vạn, hai người đó nói với Lục Lang rằng: “Lục gia, nói thực, chúng tôi phụng mệnh đi tuần ven sông, chính là để bắt cậu. Hôm qua cả hai người chúng tôi đều suốt đêm không ngủ, cảm thấy việc này là thất đức! Nếu nói về người khác thì chúng ta không biết, nhưng nếu nói về cha con nhà họ Dương, thì có ai mà không khen ngợi?” Dương Lục Lang nói: Nếu đã như vậy thì xin hai vị tướng quân hãy cứu tôi!”
Hai người nói: “Lục gia! Nếu không cứu cậu, thì chúng tôi đã không chuẩn bị chiếc thuyền này. Nhanh lên, hãy theo chúng tôi!” Nói rồi, họ chèo thuyền vào bờ sông, rời thuyền lên bờ, đưa Lục Lang vào trong khu rừng ở ven sông mà nói: “Lục gia! Phan Nhân Mỹ hãm hại Thất Lang, người người đều thấy rõ. Cậu hãy đến kinh thành thưa kiện, chúng tôi sẽ làm chứng. Còn nữa, hai anh em chúng tôi đã đưa thi thể của Thất Lang đến đây. Cậu ấy chết thật thảm thương! Tống cộng đã trúng một trăm linh ba mũi tên, có bảy mươi hai mũi xuyên qua đầu. Chúng tôi đã đóng chiếc quan tài lớn, đựng cả thi thể và các mũi tên, chôn ở dưới gốc cây lớn trước miếu Hà Bá. Sau này nếu như lão tặc đó không chịu nhận tội, có thể sai người đến lấy thi thể!” Dương Lục Lang nghe xong, vội vàng dập đầu tạ ơn.
Dương Lục Lang chia tay Lang Thiên và Lang Vạn lên đường. Đường đi đến phía tây không có đường lớn, chỉ có cách xuyên rừng, trèo núi, lội suối, vượt sông, đi suốt ngày đêm. Sau đó lại được Dương Ngũ Lang đã xuất gia làm hòa thượng cứu giúp, cuối cùng đã về đến được kinh thành.
Thứ 6 ngày 13 là ngày gì mà tại sao mọi người lại ghét bỏ và sợ hãi nó đến vậy. Hãy cùng Phong thủy số nhau khám phá về ngày thứ 6 ngày 13 có ý nghĩa gì ngay sau đây.

Thứ 6 ngày 13 được mọi người quan niệm là ngay xui xẻo nhất trong năm. Nhiều người coi ngày này là nỗi ám ảnh, tuy nhiên từ đâu mà có ngày này hay chỉ là quan niệm, từ lời truyền tai nhau người này người kia mà hình thành, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu.
Xem thêm: Ý nghĩa của ngày lễ vãng vong
Nỗi ám ảnh về ngày thứ 6 ngày 13 được gọi là paraskavedekatriaphobia, bắt nguồn từ những từ móc nối vào nhau của người Hy Lạp Παρασκευή, δεκατρείς và φοβία – từ này có ý nghĩa là thứ 6, số thứ tự thứ 13 và sự sợ hãi của mỗi người. Đánh vần xen kẽ nhau các từ nói ở bên trên sẽ được tổ hợp lại thành các từ như paraskevodekatriaphobia, paraskevidekatriaphobia hay friggatriskaidekaphobia và nó được dịch là nỗi ám ảnh về con số thứ 13.
Ngoài ra, theo các nhà sử học, con số 13 được coi là 1 trong những trường hợp đặc biệt từ những năm 1780 trước công nguyên khi mà trong bộ luật Hammurabi nổi tiếng của Babylon không hề có điều luật thứ 13. Bên cạnh đó còn có rất nhiều khái niệm liên quan như 12 cung hoàng đạo, 12 tháng trong 1 năm, 12 giờ trong ngày, 12 vị thần Hy Lạp... Theo một cách nói cụ thể thì con số 13 chính là khái niệm nằm vượt ra khỏi các quy tắc thông thường ấy.
Bên cạnh đó, theo thần thoại Bắc u, con số 13 còn được bắt nguồn từ việc vị thần xảo trá Loki đã bí mật hợp tác với thần bóng tối là Hoder để ám sát vị thần của hạnh phúc. Lúc đó chỉ có 12 vị thần tham dự tiệc, Loki đã đến với tư cách vị khách không được mời, cuối cùng Balder đã chết, cả trái đất đã chìm trong bóng tối và tang tóc. Đó được xem là ngày đen đủi và bất hạnh.
Bạn để ý sẽ thấy, con số 13 được tránh ở khắp mọi nơi như nhà cao tầng không đánh số tầng 13, nhiều sân bay bỏ qua cánh cổng thứ 13 ....Vậy còn ngày thứ 6?
Thứ 6 ngày 13 là ngày gì? Chúng ta vừa tìm hiểu về ngày 13 và biết được ý nghĩa cũng như sự ra đời của nó. Vậy còn ngày thứ 6 thì sao?
Các nhà nghiên cứu sau khi tìm tòi về kinh thánh của đạo thiên chúa đã phát hiện, ngày mà eva đưa cho adam ăn trái tám cấm tại vườn địa đường rơi vào chính xác là ngày thứ 6, sự việc này khiến họ bị trục xuất khỏi đó. Từ đó, các tín đồ của đạo Thiên chúa coi thứ 6 ngày 13 là ngày tội lỗi bởi vào ngày này chúa Jesus bị đóng đinh lên cây thánh giá.
Kể từ đó đến nay, con số 13 hay thứ 6 ngày 13 luôn là nỗi ám ảnh là sự sợ hại với nhiều người.vào ngày nay, chúng ta nên hạn chế làm các công việc quan trọng để tránh sự tổn hại.
Mậu Dần nam mạng xem vận trình tử vi của bản thân hàng năm ra sao. Cuộc sống, tình duyên, gia đạo, công danh, những tuổi hợp làm ăn, việc lựa chọn vợ chồng thế nào được trình bày chi tiết trong lá số tử vi trọn đời này.
Sanh năm: 1938, 1998 và 2058
Cung CẤN. Trực KHAI
Mạng THÀNH ĐẦU THỔ (đất trên thành)
Khắc THIÊN THƯỢNG THỦY
Con nhà HUỲNH ĐẾ (phú quý)
Xương CON CỌP
Tướng tinh CON THUỒNG LUỒNG
Phật độ mạng
Đoán xem số mạng tuổi này,
Mậu Dần mạng Thổ đất thành đền vua.
Số này trước vắn sau dài,
Anh em thân thích lạc ngoài phương xa.
Số sao có số quá chừng,
Duyên tình trắc trở lòng dòng đôi ba.
Tâm cơ tân khổ những là,
Bởi vì số mạng trở ra muộn màng.
Một thân toan tính trăm đường,
Đến khi vận giữa mới yên tấm lòng.
Tuổi sau mới được hưng long,
Cây già kết trái bông hồng tốt tươi.

Cuộc sống nhiều lao đao, tuổi nhỏ không được nhiều may mắn lắm, đường công danh và sự nghiệp cũng thường hay lên bổng xuống trầm, cuộc đời không có được những số may, cam chịu cảnh ngang trái với cuộc đời, không bao giờ có sự lo nghĩ cho vẹn toàn. Tâm não hay xao động và có nhiều việc làm cho tâm trí nhiều lo buồn. Cuộc sống có nhiều chán nản vì hoàn cảnh không cho phép phát triển sự nghiệp công danh. Nên cần mẫn và kiên nhẫn mới có thể đoạt lấy sự vinh quang sau này.
Cuộc đời có thể tìm được một sự nghiệp vững vàng và từ tuổi 36 trở đi, sự nghiệp lúc đó mới vững vàng được.
Số tuổi Mậu Dần cũng có cơ hội phát triển mạnh mẽ về công danh, tài lộc và sự nghiệp nếu ăn ở hiền hòa, biết làm phước đức thì tuổi Mậu Dần hưởng thọ trung bình trên 60 tuổi,và có thể sống lâu hơn nữa theo sự tiền định của Tử Vi, vậy nếu cần có một cuộc sống lâu bền, bạn nên làm phước đức để được tăng thêm.
Trong vấn đề tình duyên, bạn cũng có thay đổi nhiều lần lắm. Số kiếp đối với tình duyên thường hay có nhiều đau khổ. Nên cẩn thận và sáng suốt hơn nữa trong vấn đề này. Bạn không nên có mặc cảm, hay những sự lo nghĩ quá nhiều, vì số kiếp, dù có tránh cũng không khi nào được cả. Cố gắng tạo lấy một hoàn cảnh thuận tiện để tạo lấy hạnh phúc, đừng buồn bực và chán nản trước một bối cảnh có liên quan rất nhiều đến cuộc đời.
Vậy thì bạn cần nên đọc kỹ dưới đây, để biết xem bạn trong cuộc đời có mấy lần thay đổi tình duyên: Sau đây là con số mà cuộc đời bạn sẽ phải thay đổi tùy theo tháng sanh của bạn. Nếu bạn sanh vào những tháng sau đây, cuộc đời bạn sẽ có ba lần thay đổi lương duyên, đó là bạn sanh vào những tháng 5, 7 và 12 Âm lịch. Nếu bạn sanh vào những tháng này cuộc đời bạn sẽ hai lần thay đổi tình duyên, đó là bạn sanh vào những tháng Giêng, 3, 4, 6, 8 và 12 Âm lịch. Nếu bạn sanh vào những tháng này thì vấn đề tình duyên bạn được chung thủy và có nhiều hạnh phúc đó là sanh vào những tháng 2, 9, và 10 Âm lịch.
Tuy nhiên, theo số của tuổi Mậu Dần sẽ có nhiều thương đau về vấn đề tình duyên. Sự não lòng khổ sở về vấn đề này đối với tuổi Mậu Dần không phải ít. Vậy bạn nên nhớ lại xem bạn sanh vào những tháng nào để biết được đời mình đối với tình duyên còn có thay đổi nữa không.
Công danh của tuổi Mậu Dần không được nhiều triển vọng tốt đẹp, tuy vậy không phải chịu nhiều bi đát lắm vì công danh, tuy không lên cao, nhưng cũng không đến nỗi tệ lắm, chỉ có thể hãnh diện đôi chút với đời. Về gia đạo có phần bê bối thường xuyên, nên không được vui vẻ cho lắm, cuộc sống về gia đạo không được may mắn lắm, thường có mặc cảm. Tuy nhiên cuộc sống phải nhờ đến gia đình mới có thể phát triển được công danh.
Công danh hễ lên thì cao, hễ xuống thì rất là thấp, không có một mức trung bình cố định, nên có thể nói rằng công danh chỉ vào ở một mức độ bình thường.
Gia đạo bê bối thì công danh không đem lại những kết quả cho cuộc đời. Đời sống luôn luôn ăn liền và nối tiếp với vấn đề gia đạo, nên cẩn thận và sáng suốt, để cho công danh vượt lên cao. Nếu không, đường công danh chỉ là một bóng mờ của cuộc đời mà thôi.
Tiền bạc sẽ có phát triển vào năm 29 và 30 tuổi, nhưng chỉ ở giai đoạn tạm thời, không được hoàn mỹ, cuộc làm ăn có nhiều kết quả tốt đẹp, tiền tài điều hòa và có nhiều lợi to, nhưng rồi chỉ trong một thời gian ngắn sẽ bị tiêu tan, số chưa nắm được nhiều tiền, muốn có một sự vững chắc về vấn đề này, phải đúng vào tuổi 34, nghĩa là phải bước qua năm 33 tuổi mới có thể phát triển về vấn đề tiền bạc. Sự nghiệp hoàn thành và vững chắc phải ở vào năm mà bạn phải được ít nhất là 36 tuổi, nhưng vững chắc nhất là năm 37 tuổi.
Năm 29 và 30, tuy có nhiều lợi to về vấn đề tiền bạc nhưng không có sự căn bản và bảo đảm được vững chắc lắm, cần phải có được một thời gian dài lo toan và suy nghĩ mới tạo được sự nghiệp và tiền bạc vẫn đi đôi với sự nghiệp, khi tiền bạc nhiều thì sự nghiệp lên cao.
Trong một cuộc sống muốn có một sự nghiệp vĩ đại, muốn cho công việc làm ăn của mình không xảy ra những điều thất bại, bạn cũng nên lựa chọn người để làm ăn. Công việc làm ăn có tiến bộ, tấn triển con người mới vui tươi và hăng hái. Muốn tạo lấy một tương lai vinh hiển, sống một cuộc đời sang cả, việc làm ăn phải tránh những tuổi khắc kỵ với tuổi mình, phải có sự trung hòa và trùng hợp mới có thể phát triển mạnh mẽ được.
Vậy trong sự làm ăn bạn phải cần lựa cho được những tuổi sau đây: Nhâm Thìn, Ất Mùi, Mậu Tuất. Ba tuổi trên đây rất hạp với tuổi Mậu Dần, có thể hùn hạp, hợp tác hay trên mọi vấn đề có tánh cách tạo lấy tiền bạc. Chắc chắn hợp tác với những tuổi này bạn sẽ nắm được nhiều thắng lợi và khỏi lo sợ bị thất bại đổ vỡ.
Việc xây dựng hạnh phúc gia đình, bạn cũng cần nên tìm cho mình những tuổi trùng hợp, những tuổi mà có thể làm cho gia đình êm, ấm, hạnh phúc vui tươi, trong sự làm ăn, gia đạo được phát triển mạnh mẽ. Đồng vợ đồng chồng, mới có thể xây dựng được một sự nghiệp lâu bền và không bao giờ có sự đổ vỡ nửa chừng. Trong việc hôn nhân và hạnh phúc, bạn cũng cần lựa chọn cho đúng những tuổi sau đây: Nhâm Thìn, Ất Mùi, Mật Tuất, Kỷ Sửu. Những tuổi này sẽ giúp bạn thành công trên cuộc đời.
Bạn kết hôn với tuổi Nhâm Thìn: Nhân Thìn giúp bạn thành công to trên đường sự nghiệp, tiền bạc được dồi dào, hào con đủ nuôi. Kết hôn với tuổi Ất Mùi: Tuổi Ất Mùi với Canh Dần rất hạp nhau về tánh tình, làm ăn được mau phát đạt, không giúp phát triển công danh, nhưng lại có nhiều tiền bạc, hào con đông đủ. Kết hôn với tuổi Kỷ Sửu: Tuổi Kỷ Sửu giúp bạn cả hai phương tiện gia đình và sự phát triển tiền bạc, lại có đủ trai đủ gái để nuôi. Kết hôn với những tuổi này đặng tốt. Tuy nhiên cũng có thể ảnh hưởng đến số mạng, vậy bạn hãy xem tuổi nào đại kỵ biệt ly hay tuyệt mạng vào những phần dưới đây.
Nếu bạn đã lỡ hay sắp kết hôn với những tuổi sau đây thì bạn chỉ có một cuộc sống trung bình về công danh cũng như về sự nghiệp mà thôi, đó là những tuổi: Tân Mão, Đinh Dậu. Hai tuổi này có số hạp về vấn đề tình cảm, nhưng không hạp về vấn đề tài lộc, công danh. Hai tuổi này chỉ được tốt và có tình thương yêu cao độ mà thôi.
Những tuổi này là những tuổi không phù hạp với tuổi Canh Dần, có thể kết hôn, nhưng không đem lại cho cuộc đời một sự sống hoàn toàn hay đẹp về vấn đề tài lộc, tình cảm lẫn công danh: Đó à những tuổi: Giáp Ngọ, Kỷ Hợi, Đinh Hợi, Mậu Tý. Những tuổi trên đây chỉ có thể kết hôn nhưng phải chịu số kiếp nghèo hèn, bần hàn, trong công việc làm ăn không được có nhiều may mắn lắm, sống thiếu thốn liên miên trong suốt cuộc đời.
Có những năm mà không nên cưới vợ hay tính chuyện lương duyên, vì gặp năm xung khắc, nếu phạm phải khó thành đôi bạn và có nhiều khắc kỵ phải chịu cảnh vắng vẻ phòng không và hay sanh ra cảnh vợ bỏ đi. Đó là những năm mà bạn ở vào tuổi này: 21, 27, 33, 39, 45 và 51 tuổi.
Những năm trên đây bạn không nên tính chuyện hiệp hôn hay có sự hiệp hôn, không được tốt cho cuộc tình duyên của bạn sau này.
Những tháng này, tuổi Mậu Dần gặp phải nhiều lần thay đổi lương duyên hay có nhiều thay đổi trong việc tình duyên gia đạo, đó là bạn sanh vào những tháng 3, 4, 5, 6, 7 và 12 Âm lịch. Nếu bạn sanh vào những tháng này chắc chắn bạn sẽ có số lưu thê hay đau khổ về đường vợ con.
Sau đây là những tuổi đại kỵ nếu bạn kết hôn hay hợp tác làm ăn thì sẽ gặp cảnh gãy gánh nửa đường hay sanh ra cảnh biệt ly, xích mích, không thuận tiện cho sự đ ào tạo lấy sự nghiệp của mình. Đó là những tuổi rất khắc kỵ với tuổi Mậu Dần như sau đây: Canh Dần, Quý Tỵ, Bính Thân, Nhâm Dần. Ất Tỵ, Mậu Thân và Giáp Thân. Tuổi Mậu Dần rất đại kỵ những tuổi trên đây, nếu có kết hôn hay hùn hạp làm ăn sẽ rất nguy hiểm đến cuộc sống và tánh mạng của mình.
Khi gặp tuổi khắc, kỵ phải cầu nguyện cho thật nhiều, cố công tu thân tích đức, làm việc ân nghĩa, cầu Trời khẩn Phật và nhất là phải cùng sao hạn hằng năm thì sẽ được giải hạn. Nên nhớ khi gặp tuổi kỵ thì công việc làm ăn sẽ không tấn phát. Cúng sao giải hạn chỉ có tánh cách không nguy hiểm đến tánh mạng mà thôi.
Tuổi Mậu Dần gặp nhằm những năm khó khăn nhất là những năm mà bạn bạn gặp số tuổi 23, 27. 31 và 37 tuổi. Bạn nên cẩn thận vào những năm này. Số bạn trong những năm này sẽ có nhiều xui xẻo không diễn tiến bình thương theo cuộc sống mà trái lại sẽ gặp những vấn đề ngang trái phũ phàng, cuộc sống có phần sao động và sôi động mãnh liệt. Nên cẩn thận trong mọi việc làm ăn, không sẽ gặp tai nạn hay bịnh hoạn bất thường.
Sau đây là ngày giờ mà bạn xuất hành hạp nhất trong suốt cuộc đời bạn. Tuổi Mậu Dần chỉ hạp vào những giờ chẵn, ngày lẻ và tháng chẵn, bất kỳ xuất hành trong ngày nào, tháng nào, hay giờ nào cũng có thể làm ăn có những thắng lợi miễn đúng với những ngày, giờ và tháng kể trên.
Việc trên đây là do sự nghiên cứu của các nhà chiết tự Âu Tây và Đông Phương phối hợp, đó là các sự huyền bí về chiêm tinh mà các chiêm tinh gia: Tào Tuyết Long, Artémidore, Nicophare và bác sĩ kiêm huyền bí gia Regnault (Pháp) nghiên cứu bằng sự khám nghiệm thi thể và ép xác chết như Kyserling ở Ai Cập.
Từ 29 đến 35 tuổi: Số tuổi còn nhiều lao đao, nhiều lo nghĩ, cuộc đời chưa hẳn làm được việc gì khả dĩ lên cao được, cho nên tuổi 29, số có nhiều đau buồn. Tuổi 30 và 31 đỡ khổ hơn đôi chút, nhưng năm 31 tuổi lại gặp nhiều sự buồn phiền về gia cảnh, nhưng tâm não và công danh có phần tiến triển đôi chút. Từ 31 đến 33 tuổi không được hoàn toàn êm đẹp, sẽ phải ở trong một tình trạng đau khổ nhất, buồn bã nhất có thể không đem lại cho cuộc đời nhiều việc may mắn hơn. Từ 34 đến 35 tuổi, số lên cao, hai năm này bạn làm ăn phát đạt, tiền bạc dư dả, công việc có thể tiến lên cao được.
Từ 36 đến 40 tuổi: Tuổi 36 gặp nhiều may mắn, nhưng cũng có lúc sẽ đau buồn nhiều, nhưng nói chung đều ở trong tình trạng phát triển mạnh mẽ về tài lộc cũng như về tình cảm. Tuổi 37 và 38 sự nghiệp khá vững vàng, sẽ có nhiều may mắn hơn nữa trong việc làm ăn, gia đình hạnh phúc được yên vui không có nhiều xáo động lắm. Năm 39 và 40 hy vọng thành công hoàn toàn về gia đạo, sự nghiệp lẫn tiền tài, có thể phát triển được nhiều công việc làm ăn cũng như về khía cạnh tình cảm. Hai năm này khá tốt đẹp trong cuộc đời, làm gì được nấy, có thể hoàn thành sự nghiệp một cách dễ dàng.
Từ 41 đến 45 tuổi: Năm 41 tuổi, gặp sao hạn nặng cuộc đời có nhiều thay đổi, việc làm ăn trở ngại lớn, nên cẩn thận làm ăn, hay lo công việc làm ăn thì mới thành công. Năm 42 và 43 tuổi tình trạng bình thường không có sôi động, hay thất bại gì cả chỉ ở trong mức độ trung bình mà thôi, nên cẩn thận trong việc giao dịch hay giao thương thì tốt. Từ 44 đến 45 tuổi, thận trọng cho lắm kẻo gặp tai nạn, hai năm này có hao tài tốn của đôi chút, việc gia đạo không được hay đẹp và tròn vẹn cho lắm, cần nên đề phòng tai nạn năm 44 tuổi. Năm 45 thì qua khỏi được chút nhưng cũng không được tốt lắm.
Từ 46 đến 50 tuổi và suốt cuộc đời: Tuổi 46 không có gì đáng gọi là may mắn, nhưng năm này lại có hoạnh tài, có chút về tài lộc, cẩn thận trong việc giao dịch thì tốt hơn. Tuổi 47 và 48 và cho đến suốt cuộc đời, công danh, sự nghiệp, gia đạo chỉ ở trong mức độ bình thường mà thôi. Không lên cao và cũng không có hao hụt nhiều về tiền bạc. Công việc vẫn điều hòa, càng phát xuất bao nhiêu, thì lại càng thâu nhiều lợi bấy nhiêu. Đừng nên phung phí tiền bạc một cách vô ích, nên cần thận cho thân thể, con cái thường hay đau bịnh thuyên chuyển, thay đổi làm ăn.
Vận trình tử vi trọn đời 12 con giáp chi tiết
Xem bói tử vi tuổi Dần
Xem tử vi năm mới
Bạn đừng nghĩ tranh phong thuy treo ở bất kì hướng nào cũng tốt hết nhé, treo tranh phong thủy phải lựa chọn tranh hợp với tuổi, với mệnh và phải lựa chọn hướng treo thì lúc đó mới phát huy được cái tốt của tranh phong thủy
1. Chính Đông theo ngũ hành thuộc Mộc, có thể treo tranh sông nước vì theo mối tương quan của ngũ hành thì Thủy sẽ hỗ trợ Mộc. Tuy nhiên, tránh treo tranh thác nước (Thủy quá vượng) sẽ làm hại Mộc.

2. Chính Nam, Đông Nam theo ngũ hành thuộc Hỏa, thích hợp treo tranh núi cao, rừng rậm. Mộc có thể sinh Hỏa khiến cho gia đình hòa thuận, hạnh phúc.
3. Đông Bắc theo ngũ hành thuộc Thổ, là phương vị Tài tinh tốt nhất, nên treo 1 bức tranh vẽ 8 con ngựa, còn gọi là bức “Bát mã đồ”. Vì ngựa theo ngũ hành thuộc Hỏa, Hỏa sinh Thổ, rất có lợi cho tài vận của gia chủ.
4. Bắc theo ngũ hành thuộc Thủy, nên treo tranh 9 con cá còn gọi là bức “Cửu ngư đồ”, có lợi cho tài lộc, may mắn của gia chủ.
5. Tây Bắc theo ngũ hành thuộc Kim, có thể treo tranh Vạn Lý Trường Thành khung vàng khiến tài vận, sự nghiệp thành công và phát triển vững vàng.
|
| Ba chữ "Phúc, Lộc, Thọ" hợp nhất |
Cách tra Thiên Đức quý nhân là lấy chi của tháng sinh làm cơ sở để tra các thiên can và địa chi khác trong tứ trụ. Nếu tứ trụ nào ở vào một trong các trường hợp dưới đây là có sao Thiên Đức nhập mệnh.
- Tháng Tý thấy chi Tỵ
- Tháng Sửu thấy can Canh
- Tháng Dần thấy can Đinh
- Tháng Mão thấy chi Thân
- Tháng Thìn thấy can Nhâm
- Tháng Tỵ thấy can Tân
- Tháng Ngọ thấy chi Hợi.
- Tháng Mùi thấy can Giáp.
- Tháng Thân thấy can Quý.
- Tháng Dậu thấy chi Dần.
- Tháng Tuất thấy can Bính.
-. Tháng Hợi thấy can Ất.
Người sinh vào ngày 6h ngày 21/9/1990 (âm lịch) có tổ hợp tứ trụ là: giờ Tân Mão, ngày Bính Tý, tháng Bính Tuất, năm Canh Ngọ.
Theo trường hợp 11, chi Tuất của tháng (Bính Tuất) gặp can Bính của ngày (Bính Tý) hoặc can Bính của tháng (Bính Tuất), do vậy tổ hợp này xuất hiện Thiên Đức quý nhân.
(Theo Dự đoán theo tứ trụ)
Tuy nhiên, không có gì hoàn hảo cả vì thế quan trọng là bạn hiểu đối phương và cả hai cùng hướng tới mục đích chung trong tương lai.
Để thuận vợ thuận chồng, gia đình hài hòa, êm ấm bạn không quên xem bói tình duyên 12 con giáp và bài viết này sẽ giúp bạn xem các tiêu chí lựa chọn bạn đời phù hợp nhất dựa theo tuổi và tháng sinh của mỗi người.
Sau đây là hôn nhân hợp duyên của nam và nữ theo tháng sinh của 12 con Giáp. Tháng sinh ở đây là tháng theo Âm lịch.
![]() |
![]() |
Thần Tài là vị thần như thế nào?
Trong tín ngưỡng Việt Nam và một số nước Phương Đông, Thần Tài là vị thần được nhiều người thờ cúng trong gia đình để cầu sự sung túc.
Theo truyền thuyết, Thần Tài chính là Triệu Công Minh, người đời nhà Thương. Ông lánh đời đi tu tại núi Chung Nam. Về sau đắc đạo, ông được phong làm Chính Nhất Huyền Đàn Nguyên Soái, coi việc đuổi trừ ôn dịch, cứu bệnh trừ tà. Hơn nữa, ai bị oan ức đến cầu cứu ông thì được giúp đỡ. Người buôn bán thì cúng cầu ông để được phát đạt may mắn. Người ông yêu là Phù Dung tiên tử.

(Ảnh: Internet)
Người ta thường vẽ ông hình một người mặt đen, râu rậm, tay cầm roi cưỡi cọp đen. Dân gian còn gọi ông là Tài Bạch Tinh Quân hay Triệu Công Nguyên Soái. Người đời vẽ ông trên một cái đĩa làm bằng kim loại trên bàn thờ để thờ cúng.
Theo tín ngưỡng dân gian, người xưa tin rằng Thần Tài chính là vị thần chuyên quản tài lộc trong thiên hạ. Vì vậy, nếu được sự chiếu cố của ông thì đường công danh rộng mở, giàu sang phú quý tự động đi vào nhà. Chính vì vậy, bên cạnh thờ Thổ Địa – thần canh quản đất đai nơi ở, thì người ta còn thường thờ Thần Tài kế bên.
Đặt để Thần Tài sao cho tốt?
Không như bàn thờ tổ tiên hay các bàn thờ Thổ Công, Thánh Sư phải đặt nơi cao ráo và trang trọng, vị trí đặt bàn thờ Thần Tài tốt nhất chính là dưới sàn, hướng thẳng ra cửa lớn.

Theo quan niệm dân gian, để tránh tài lộc trôi đi mất hoặc không tụ về gia đạo thì sau lưng bàn thờ Thần Tài tốt nhất nên là bức tường vững chãi, tránh trổ cửa hay đục lỗ vì tài vận sẽ không có chỗ tụ mà trôi đi mất.
Từ ngoài nhìn vào thì Thần Tài phải được đặt ở bên trái, còn bên phải là nơi ngồi của Thổ Địa. Bát nhang đặt ở giữa hai vị thần và tránh dịch chuyển khi lau dọn.
Khi cúng mà dâng hoa thì nên đặt bình hoa bên tay phải, đĩa trái cây ở phía trái. Nước cúng Thần Tài nên đặt 5 chén nhỏ, theo hình chữ thập để tượng trưng cho 5 phương và ngũ hành tương sinh.

Thiềm Thừ (ảnh: Internet)
Nếu muốn đặt thêm các vật phẩm phong thủy như Thiềm Thừ (dân gian hay gọi là Ông Cóc) thì để bên trái, buổi sáng cho quay mặt ra, buổi tối thì quay mặt vào. Và nhớ để dưới đất chứ không đặt lên bệ thờ chung với Thần Tài, Thổ Địa.
Có thể đặt thêm tượng Phật Di Lặc phía trên bàn thờ để Phật xem xét, trấn giữ phòng các thần làm điều sai.
(Tổng hợp)
Sau đó, ông bà cha mẹ và người lớn lì xì mừng tuổi cho trẻ con.
Lì xì đây là tặng một chút tiền, thường là tiền giấy mới tinh, gọi là chút quà đem lại may mắn cho trẻ con kèm lời chúc khuyến khích trẻ con cố gắng học và sống hòa thuận với những người chung quanh.
Thức ăn, bánh trái, kẹo mứt, rượu bia thuốc lá, hoa quả đã bày đầy trên bàn thờ, giờ đây mọi người tới lễ lạy tổ tiên, rồi khi nhang tàn hạ thức ăn xuống cả nhà cùng ăn, nói cười rộn rã.
Người khách đầu tiên bước vào nhà gọi là xông đất, được ví như là người mang đến vận hên xui cho gia chủ năm đó. Thế nên có nhiều gia đình rất cẩn thận, họ xếp đặt để chọn người khỏe mạnh tươi tắn, hợp tuổi với chủ nhà để mang nhiều may mắn đến nhà mình.
Và những ngày Tết lại tiếp tục với tràn ngập niềm vui và hạnh phúc bên người thân và bạn bè… Sẽ đem đến cho tất cả chúng ta những năng lượng mới đến ngày chúng ta khai trương công việc của một năm mới với ước mong một năm mới nhiều thuận lợi, may mắn và thành đạt.
Nguồn: Phong Thủy Tổng Hợp
Cái ngày con sinh ra, thế giới còn chưa công nhận đó là ngày Quốc tế Hạnh phúc đâu. Chỉ là, mẹ đặt tên con giống như ngày này, bởi mẹ đã ngập tràn hân hoan khi được đón tia nắng nhỏ của mẹ. Và cũng bởi vì, mẹ mong những niềm vui, những ngọt ngào sẽ vây lấy để vơi đi hết những thiệt thòi của con...
Mẹ nhớ, có lần một người bạn của mẹ đã khóc nấc và nói rằng, giống như có một con quỷ xấu xí và độc ác đã bám víu vào con - một nàng tiên xinh đẹp vậy. Đó là lý do vì sao trên làn da trắng mịn như sứ của con lại xuất hiện những vết bớt đen xấu xí, là đôi tay con co rúm khiến cử động rất khó khăn, là đôi chân bước đi một bước cũng thấy mệt nhọc, và cơ thể vô cùng yếu ớt. Dù khuôn mặt con thực sự xinh đẹp, nhưng vẫn chẳng ai muốn (dám) lại gần, còn lũ trẻ luôn gọi con là "quỷ nhỏ".
Mẹ cũng đã từng khóc, từng đau đến thắt tim vì thương con. Mẹ từng trở nên cộc cằn, đáng sợ với bọn trẻ để xua chúng tránh khỏi con càng xa càng tốt. Mẹ gồng mình để bảo vệ con khỏi bị tổn thương bởi con mắt người đời, và đôi khi, mẹ sợ hãi đến kiệt sức khi có ai đến gần con. Mẹ rất sợ họ sẽ làm con buồn, con khóc; mẹ chỉ muốn chúng ta có thể đi đến một nơi thật xa, nơi không có ai hết và sống thật vui vẻ bên nhau. Thế rồi...
Con càng lớn lên, mẹ dần nhận ra nỗi lo của mẹ hóa ra là... thừa! Những sợ hãi, thấp thỏm trong mẹ trước giờ chỉ khiến bản thân mẹ thấy mệt chứ chẳng có ý nghĩa gì với con hết. Thì, mẹ nhận ra rằng, thực sự mẹ đã sai rồi, chính những suy nghĩ trong mẹ mới "tật nguyền", chính mẹ cứ áp đặt một suy nghĩ độc ác rằng "con không bình thường như người khác" rồi cứ đi hờn trách người ta đã xa lánh, đã đối xử không công bằng với con. Trong khi, con của mẹ thực sự là cô bé hoàn hảo nhất.
Con lúc nào cũng hồn nhiên như một cái cây, dù có chỗ xù xì, có nơi xanh mướt nhưng luôn biết đung đưa trước gió và khiến cuộc đời mát lành. Mẹ nhận ra rằng cuộc sống đã chẳng bất công với con, vì đã trả lại cho con nụ cười, ánh mắt của thiên thần, và những gì thánh thiện nhất. Con chưa từng biết hờn giận, trách cứ ai. Ngày còn bé, con cứ ăn ngoan ngủ ngon, chẳng mấy khi khóc nhè. Lớn lên, con cười nhiều hơn, vui nhiều hơn, con dành cả nụ cười thân thiện cho bọn trẻ thường hay trêu chọc mình. Để dần dần, mọi người dành tình cảm cho con nhiều hơn, từ người lớn đến tụi trẻ nhỏ, ai cũng yêu mến và muốn ở cạnh con, nghe con nói thỏ thẻ và cười rạng rỡ. Và mẹ, mỗi khi thấy mệt mỏi, chỉ cần nhìn vào khuôn mặt ấy là mọi lo âu tan biến hết.
Phải rồi con nhỉ, mỗi chúng ta đều sinh ra với một hình hài, một tâm hồn khác nhau. Có người xinh đẹp, có người xấu xí, có người vui vẻ, kẻ cộc cằn,... Đó là cuộc sống nên chẳng có gì đáng phàn nàn hết. Miễn sao ta cứ nhìn cuộc sống bằng đôi mắt vui tươi, luôn nở nụ cười với tất cả mọi người, chỉ cần thế thôi là đời đã đẹp hơn biết mấy. Và con, dù thế nào vẫn là một cô bé đáng yêu nhất, chỉ những kẻ khó ưa, luôn hằn học, chê bai, cáu bẳn và xấu tính, mới là những kẻ đáng ghét phải không con?
Thu Trang
(Theo Congluan.vn)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Thanh Vân (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
![]() |
![]() |
Tử vi tháng 10 âm lịch của người tuổi Tị năm 2016

– Nằm mơ thấy tấu nhạc thì khóc than.
– Nằm mơ thấy đánh trống: có tin xa đến.
– Nằm mơ thấy múa: có chuyên kinh sợ.
– Nằm mơ thấy ca hát: có chuyện cãi cọ
– Nằm mơ thấy có người đánh đàn cầm đàn sắt: rất vui.
– Nằm mơ thấy thổi sáo: đại cát.
y chiếm quẻ định đoạt. Thầy phong thủy thường dùng một biểu làm kim chỉ nam:

Nhà máy, công ty, cửa hàng: cửa chính thích hợp chiều hướng.
Văn phòng luật sư, trung tâm chữa bệnh: Bắc hoặc Đông
Công ty thuyền bè, công ty tài chính, công ty bảo hiểm: Tây Bắc hoặc Đông Nam.
Ngân hàng, công ty kiến trúc, công ty xuất nhập khẩu: Bắc hoặc Đông.
Cửa hàng bán buôn, tiệm rượu: Bắc hoặc Đông Nam.
Bảng biểu này tuân thủ theo nguyên lý tương sinh tương khắc của Ngũ hành. Trên thực tế, sự thịnh suy của cửa hàng do khách hàng quyết định, khách hàng là tài nguyên sơ tại của cửa hàng. Khách hàng ra vào nhiều trước cửa thì cửa hàng sẽ hưng thịnh phát đạt, ngược lại cửa hàng sẽ phải đóng cửa. Cho nên, hướng cửa của cửa hàng nên quyết định do lượng khách hàng, khách hàng ở nơi nào thì cửa nên mở hướng theo nơi đó, như vậy sẽ nghênh đón được khách hàng.
Trong thế giới tâm linh của người phương Đông luôn có sự tồn tại của ma quỷ - nguồn năng lượng kì bí, vừa mang theo nỗi sợ hãi vừa gây tò mò.
![]() |
![]() |
| ► ## gửi đến bạn đọc công cụ Xem ngày cưới chuẩn xác theo Lịch vạn sự |
![]() |
| Ảnh minh họa |
![]() |
| Ảnh minh họa |
Hành: ThủyLoại: Bại TinhĐặc Tính: Thương đau, khóc buồn, ưu phiềnTên gọi tắt thường gặp: Khốc
Phụ Tinh. Một trong sao bộ đôi Thiên Khốc và Thiên Hư. Gọi tắt là Khốc Hư. Một trong 6 sao của bộ Lục Bại Tinh gồm các sao Tiểu Hao, Đại Hao, Tang Môn, Bạch Hổ, Thiên Khốc, Thiên Hư (gọi tắt là Song Hao Tang Hổ Khốc Hư).
Vị Trí Ở Các Cung
Nhà tư tưởng kiệt xuất Trung Quốc Mao Trạch Đông đã từng nói: "Con người" luôn không ngừng tổng kết kinh nghiệm, phát hiện, phát minh, sáng tạo, tiến về phía trước. Lịch sử đã phát triển của chữ số nói với chúng ta rằng, để giải quyết yêu cầu một số vấn đề, cần phải phát minh ra các con số mới và tổ hợp mới của chữ số. Sự hình thành của thuật dự đoán thông tin qua những con số là một khoa học hình thành trên cơ sở nghiên cứu lý số của người xưa.
Trên cơ sở này các nhà triết học Trung Quốc đã tiến hành nghiên cứu và làm sâu sắc thêm quan điểm này, đưa nó vào hệ quy chiếu với các trục không gian, thời gian để tính toán quá trình phát triển của thiên thời, nhân sự đòng thời tổng kết ra những quy luật ứng dụng trong cuộc sống và để đưa ra những quyết sách trọng đại.
Thần số học giới thiệu những lý luận cơ bản của thuật dự đoán thông tin qua các con số như một môn khoa học liên ngành tổng hợp. Bộ môn này lấy chủ nghĩa duy vật biện chứng làm căn cứ, lấy lý luận không gian, thời gian làm tọa độ, lấy thuật số cổ đại làm nền tảng, lấy hiệu ích xã hội, lợi ích kinh tế làm mục đích. Nó là một môn khoa học thuật số trực tiếp ứng dụng vào quyết sách phát triển mục tiêu hóa hung được cát của con người đã trải qua kiểm chứng, thực hành mà tổng kết thành. Tất cả những lĩnh vực liên quan đến đời sống con người như học hành, sự nghiệp, tài vận, hôn nhân, sinh đẻ cho đến cả vấn đề sức khỏe, tai họa, mất mát, thuyên chuyển trong công việc... tôi sẽ cung cấp phương pháp lập quẻ đoán quẻ tương ứng để có được những thông tin dự đoán chính xác.
Trương Xuân Toàn
![]() |
![]() |
| ► Lịch ngày tốt cung cấp công cụ xem tử vi số mệnh của bạn nhanh, chuẩn xác |