Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,...   Click to listen highlighted text! Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,... Powered By DVMS co.,ltd
Kính mời quý khách like fanpage ủng hộ Vạn Sự !

Vạn Sự

Kiêng kỵ trong nhà đặt hai bếp –

Hiện tượng: Trong nhà nếu đặt hai bếp (bếp ga), ngoài việc ảnh hưởng đến sự đoàn kết của các thành viên trong gia đình ra, còn có thể làm phát sinh những sự việc ngoài ý muốn. Phương pháp hóa giải: Không có cách nào khác là nhanh chóng bỏ đi một bếp

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Hiện tượng: Trong nhà nếu đặt hai bếp (bếp ga), ngoài việc ảnh hưởng đến sự đoàn kết của các thành viên trong gia đình ra, còn có thể làm phát sinh những sự việc ngoài ý muốn.

20130510164042-image002

Phương pháp hóa giải: Không có cách nào khác là nhanh chóng bỏ đi một bếp để hóa giải.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Kiêng kỵ trong nhà đặt hai bếp –

Những chòm sao khó tính chẳng ai muốn lại gần

Những chòm sao khó tính nhất vòng tròn hoàng đạo dưới đây mỗi người một vẻ, mỗi người một cách thể hiện khác nhau nhưng đều không dễ chung sống
Những chòm sao khó tính chẳng ai muốn lại gần

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Nước trong quá thì không có cá, người xét nét quá thì không có bạn, những chòm sao khó tính nhất vòng tròn hoàng đạo dưới đây mỗi người một vẻ, mỗi người một cách thể hiện khác nhau nhưng đều không dễ chung sống, không được ưa thích. Người khác dè chừng bạn, bạn cũng nên tiết chế chính mình một chút nhé.  

Bạch Dương: không giữ thể diện cho người khác


Nhung chom sao kho tinh chang ai muon lai gan hinh anh
 
Nhìn chung, ai cũng tưởng rằng Bạch Dương là chòm sao dễ tính, phóng khoáng và không hay để bụng. Điều này hoàn toàn chính xác nhưng chưa đầy đủ. Ở nhiều thời điểm, vì thẳng thắn, thích gì nói nấy mà họ trực tiếp biểu đạt tình cảm, suy nghĩ của chính mình mà không hề để ý tới cảm nhận của những người xung quanh, không quan tâm điều ấy có thể làm tổn thương người khác hay không.   Đây là điển hình của tuýp người sống vì mình, điểm khó tính nhất ở họ là coi trọng bản thân, không quản rằng việc ấy có quan hệ tới mình hay không, cứ thích là nói, dễ dàng hại người. Vì thế không ít người rất ghét ở cùng một chỗ với Bạch Dương, ấn tượng khá xấu, tránh được lúc nào là tránh ngay.
Xem thêm bài viết Điểm mặt 4 chòm sao nói giỏi, làm dở
 

Xử Nữ: xoi mói tính toán, thích giảng đạo lý

  Chòm sao khó tính chắc chắn không thể bỏ qua Xử Nữ, phẩm chất tính toán, tỉ mỉ, tự cho mình là đúng của họ mạnh tới nỗi vô địch thiên hạ, không ai chống đỡ được. Chỉ cần là chuyện thấy “ngứa mắt” là trực tiếp xen vào, không màng rằng đấy có phải việc của mình không, mình lên tiếng có thích hợp hay không. Trong lòng có cảm giác là vô tư thể hiện, trực tiếp nói ra, cách làm này của Xử Nữ thật là không để lại mặt mũi cho người khác nên người ta chẳng ưa cũng có lý thôi. Mà cách nói chuyện của bạn thì đâu có nhẹ nhàng dễ chịu gì cho cam, lúc nào cũng giáo điều, chỉ trích, lên lớp giống như cô giáo giảng dạy học sinh vậy, cực kì mất mặt.   Thông thường, Xử Nữ hay sống một mình hoặc sống trong tập thể nhưng bị cô lập cũng vì lý do này. Nếu bạn không cải thiện được thì chắc chắn không có ai tình nguyện ở bên cả, hãy áp dụng nguyên tắc hoàn mĩ cho chính mình thôi nhé.
Xem thêm bài viết 5 cung hoàng đạo trong ngoài bất nhất

Hổ Cáp: tâm cơ sâu kín, không thành thật


Nhung chom sao kho tinh chang ai muon lai gan hinh anh
 
Người khéo quá thì khó ở chung, người giỏi bày binh bố trận quá thì không thể tự nhiên thẳng thắn được. Trường hợp của Hổ Cáp chính là không cùng một thế giới, dè chừng lẫn nhau, tốt nhất là không qua lại. Nhiều người thấy vẻ lạnh lùng, tính toán, mưu sâu kế hiểm của chòm sao khó tính này thì lập tức tự động tránh xa để giữ an toàn cho chính mình.   Tâm cơ nhiều, tâm sự nặng nề, chơi với ai cũng tính toán, làm việc gì cũng cân nhắc, thời điểm nào cũng có thể mang người khác ra làm quân cờ để đạt được mục đích. Hổ Cáp là đối tượng rất khó chung sống, ít bạn bè vì không ai muốn làm bạn với người có thể trở mặt nhanh như trở bàn tay.   Tình cảm cần nhất là sự chân thành, ở bên nhau không thể vô tư được thì rất khó để lâu dài. Có những người không thể tính toán và không nên tính toán, mình đối với người thế nào thì người sẽ đối lại mình như thế, Hổ Cáp nhớ nhé. 
Xem thêm bài viết 5 chòm sao "kín miệng" nhất vòng tròn hoàng đạo
 

Song Ngư: tâm tình phức tạp, làm việc tùy tiện

  Ở thời điểm Ngư nhi hài lòng, họ sẽ vô cùng vui vẻ, vô cùng hiền hòa nhưng lúc không vui thì điên loạn, bộc phát, bất chấp hậu quả như cả thế giới này đều đắc tội với họ vậy. Nói Song Ngư là chòm sao khó tính thì hơi oan những họ là điển hình của tuýp người tâm tình phức tạp vui buồn thất thường, tùy tiện hứng chí, không ai chiều được.   Trên thế giới này, không có ai phải chịu đựng sự khó chịu của bạn ngoài chính bản thân bạn cả. Vì thế chỉ một hai lần sau khi Song Ngư làm loạn, người ta cũng lập tức né bạn thật xa, người ta đâu phải bao cát để khi giận thì bạn đấm chơi đâu. Gây chuyện bất chấp tình huống cũng sẽ mang tới không ít phiền toái, rắc rối cho mọi người nên người ta chọn cách tránh ra để không bị liển lụy đấy.   Bạn đã là người trưởng thành, phải tự chịu trách nhiệm với cuộc đời của mình, bao gồm cả niềm vui và nỗi buồn chứ, phải không nào Song Ngư.
Chỉ mặt những bạn cùng phòng đáng sợ nhất vòng tròn hoàng đạo 3 chòm sao đặc biệt khó ở chung
Trần Hồng

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những chòm sao khó tính chẳng ai muốn lại gần

Chỉ ra tướng phụ nữ khắc chồng, không nên lấy làm vợ

Từ xưa, cổ nhân đã có những tiêu chuẩn xác định tướng phụ nữ khắc chồng, mang đến vận hạn cho gia đình nên không phù hợp lập chính thất chỉ được làm thiếp,
Chỉ ra tướng phụ nữ khắc chồng, không nên lấy làm vợ

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Từ xưa, cổ nhân đã có những tiêu chuẩn xác định tướng mạo phụ nữ khắc chồng, mang đến vận hạn cho gia đình nên không phù hợp lập chính thất chỉ được làm thiếp, vợ kế.

 

1. Cằm nhọn mỏng

  Xem tướng phụ nữ khắc chồng, chiếc cằm tượng trưng cho vận khí, phúc lộc của con người khi về già. Cằm tròn đầy đặn thì chủ nhân có cuộc đời sung túc, về già hưởng phúc dồi dào. 
 
Người cằm nhọn, mỏng chứng tỏ cả đời phiêu bạt, gặp nhiều trắc trở vận hạn lên xuống. Đối với phụ nữ mang tướng mạo khắc chồng này thì càng không thể yên bình gia thất, khắc chồng nên chỉ có thể làm thiếp, làm vợ lẽ.

Chi ra tuong phu nu khac chong, khong nen lay lam vo hinh anh
Không nên lấy những phụ nữ tướng khắc chồng làm vợ 


2. Xương gò má cao

  Trong nhân tướng học, xương gò má được gọi là lưỡng quyền tượng trưng cho uy quyền, vận số, tính cách của con người. Phụ nữ có xương gò má cao dễ đạt được sự giàu có nhưng quyền hành cao, nóng tính, cương nghị, thậm chí thủ đoạn, tiểu nhân. Tường này cực kỳ sát chồng nên rất khó lập gia đình.  

3. Mắt to tròn

  Đôi mắt phụ nữ càng to, càng ướt thì càng quyến rũ, nữ tính nên nhiều người theo đuổi, số hưởng vinh hoa phú quý. Đuôi mắt cong tròn, nhãn cầu linh hoạt là người mang đến cảm giác lịch sự và được cưng chiều hết mực. Chính vì vậy, họ dễ nảy sinh nhiều tình cảm ngoài lề, gây bất an cho người chồng.  

4. Miệng rộng

  Người xưa có câu "Đàn ông miệng rộng thì sang, phụ nữ miệng rộng tan hoang cửa nhà". Nguyên nhân từ quan niệm phụ nữ miệng rộng là người không giỏi quan xuyến chu toàn việc gia đình. Ưu điểm của họ là tích cực hoạt động xã hội, sống thân thện, cởi mở và được nhiều người yêu mến nên ít thời gian dành cho chồng con.
 

5. Chóp mũi nhọn, sống mũi dẹt
 

Tiền tài quyền thế thể hiện rõ trên mũi. Nữ nhân có chóp mũi nhỏ thấp, dẹt thường có cái nhìn thiển cận, đa tình đa cảm, dễ thỏa mãn, bị dụ dỗ và chi phối. Cho nên người xưa không chọn họ làm chính thất mà phù hợp làm thiếp hay vợ kế hơn. Đặc biệt, phụ nữ có chóp mũi nhọn như kiếm khắc chồng, không tương trợ cho chồng con trong đời sống.

Chi ra tuong phu nu khac chong, khong nen lay lam vo hinh anh 2
Tướng phụ nữ khắc chồng
 

6. Răng mọc không đều
 

"Cái răng, cái tóc là góc con người", cổ nhân đã có câu như thế. Phụ nữ hàm răng mọc lộn xộn, không đều làm cho khuôn mặt phá tướng, không thành thực, tính gian ngoan, hay reo rắc thị phi. Đàn ông dễ bị họ lừa tình vì người kiểu này hay giả nghèo, giả khổ chuộc lợi. 

 

7. Giọng nói trầm đục
 

Nữ nhân có giọng nói uyển chuyển, mềm mại, có khí chất, đa phần có tính cách thân thiện, hiền hòa, chắc chắn là người vợ đảm đang, người mẹ tốt. Ngược lại, nếu như âm giọng quá trầm kiểu đàn ông là có khả năng sát chồng, có hại đến con cái và thường dễ nổi giận mặc dù họ cũng dễ mang đến phúc đức cho gia đình, bản thân. 
 

8. Một số đặc điểm khác
 

Phụ nữ có tướng mạo khắc chồng còn có những đặc điểm sau:
- Trán vuông, mày lớn cao và đậm
- Trán lồi, cổ ngắn, hoặc trán cao mặt hãm - Sắc da mặy thô xạm như màu đất chết - Trán hẹp, nhọn, tai thấp hoặc trán nhỏ nhọn hẹp và lông mày giao nhau - Xương che lỗ tai (mạng môn cốt ) nổi cao - Hai mép miệng và hai phát lệnh đều có nốt ruồi
* Bài viết chỉ mang tính chất nghĩa tham khảo
 
Những nét tướng phụ nữ bất hạnh trong hôn nhân
Chất tóc khô cứng, môi miệng cong, mắt lộ hung quang... là một trong những nét tướng phụ nữ dễ gặp bất hạnh trong hôn nhân.
 
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Chỉ ra tướng phụ nữ khắc chồng, không nên lấy làm vợ

Lộ diện 4 con giáp yêu không sợ nghèo khổ

Cô nàng tuổi Sửu chính là con giáp yêu không sợ nghèo khổ, sức mạnh tình yêu sẽ
Lộ diện 4 con giáp yêu không sợ nghèo khổ

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

– Dẫu có phải “một túp lều tranh, hai trái tim vàng”, cô nàng tuổi Sửu vẫn bằng lòng “nâng khăn sửa túi” cho nửa kia, miễn sao đó thực sự là tình yêu chân chính.
 


 
Những con giáp thích hợp ăn chay để tăng vận khí

1. Cô nàng tuổi Sửu
  Bản tính chân thành, biết tích lũy tiền bạc, chăm chỉ làm ăn nên các nàng tuổi Sửu chẳng hề lo sợ hay e ngại về cuộc sống nghèo khổ, nhất là khi đã có người tâm đầu ý hợp kề bên.   Khi đã yêu, con giáp này không cần phải đắn đo quá nhiều về mặt kinh tế của đối phương. Bởi với họ, tiền bạc chỉ là thứ phòng thân, người làm ra tiền chứ tiền chẳng thể làm ra người.   Dẫu có phải “một túp lều tranh, hai trái tim vàng”, họ vẫn bằng lòng “nâng khăn sửa túi” cho nửa kia, miễn sao đó thực sự là tình yêu chân chính. Đây chính là con giáp yêu không sợ nghèo khổ, sức mạnh tình yêu sẽ "thổi bay" mọi nỗi sợ hãi, lo toan về vật chất.    
Lo dien 4 con giap yeu khong so ngheo kho hinh anh
 
2. Cô nàng tuổi Thân   Trong 12 con giáp, tuổi Thân thường ngày thông minh, lanh lợi, có tài ứng biến linh hoạt, xử lý khéo léo là thế, nhưng hễ rơi vào lưới tình, cô nàng tuổi Thân lại chẳng thể tỉnh táo được. Họ bất chấp tất cả để được bên cạnh người mình yêu thương, kể cả sau ngày phải trả giá bằng cuộc sống nghèo khó.   Trong suy nghĩ thường trực của con giáp này, tình yêu có sức mạnh vượt qua mọi sóng gió, trở ngại. Huống chi nghèo khó chỉ là thiếu đi đôi chút về mặt vật chất. Họ sẽ dùng sức mạnh tinh thần, khát vọng của trái tim để biến những điều tưởng như không thể thành có thể.    
Lo dien 4 con giap yeu khong so ngheo kho hinh anh 2
 
3. Cô nàng tuổi Hợi   Ai cũng biết những người tuổi Hợi có suy nghĩ lạc quan trong mọi hoàn cảnh. Nhất là trong tình yêu, dù phải cùng nhau trải qua muôn trùng sóng gió, họ vẫn cảm thấy hạnh phúc vì bản thân mình dám làm, dám đương đầu thử thách.   Con giáp này luôn nghĩ theo kiểu “thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt, còn hơn buồn le lói suốt trăm năm”. Khi bản thân mỗi người dám làm dám chịu, cuộc sống mới thực sự trở nên ý nghĩa. Họ không hề nghèo khó, trái lại tâm hồn lại rất giàu niềm vui và hạnh phúc.   4. Cô nàng tuổi Mùi   Dịu dàng, lương thiện là ưu điểm trời cho của những cô nàng tuổi Mùi. Đây cũng là mẫu mẹ hiền vợ đảm lý tưởng trong gia đình. Bởi họ coi trọng tình cảm hơn vật chất, sẵn sàng hy sinh bản thân mình vì người thân yêu.   Vậy nên, dù đời sống vật chất có khó khăn, nghèo khó, đó cũng chỉ là trạng thái tạm thời. Bởi niềm tin yêu, nỗ lực phấn đấu vì một gia đình hạnh phúc của họ cực mạnh, có thể biến những điều không thể thành hiện thực.   Ngân Hà   Điểm mặt con giáp phải đau đầu vì phú quý khi tới Tứ tuần
Mốc 40 tuổi là lúc con người đã được những thành tựu nhất định trong cuộc sống. Hãy điểm mặt những con giáp phải đau đầu vì phú quý khi đến tuổi Tứ tuần.

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Lộ diện 4 con giáp yêu không sợ nghèo khổ

Ông Bà Tổ Tiên

Giá trị văn hóa, phong tục tập quán của người Việt liên hệ với việc truyền giáo Lm Vũ Kim Chính, SJ Giáo sư Ðại Học Công Giáo Phụ Nhân, Ðài Loan
Ông Bà Tổ Tiên

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Ðề cập tới văn hóa, phong tục của một dân tộc là một đề tài hết sức phức tạp, vì mỗi dân tộc không ít thì nhiều là một đơn vị đặc thù, dầu vậy tính cách đặc thù văn hóa này không khải là cô lập, nhưng là kết tinh vừa tế nhị vừa phức tạp qua sự giao tiếp với các dân tộc khác, với những nền văn minh khác. Văn hóa, phong tục tập quán của nfười Việt cũng thế, là những tinh hoa đã được gạn lọc, biến hóa qua cuộc sống dân tộc của biết bao nhiêu thời đại, qua việc tiếp xúc với nền văn minh, những nguồn tư tưởng sâu rộng nhất, mạnh mẽ nhất của nhân loại như Hoa-Ấn, Hy-La. Ở đây khi chọn đề tài "Ông bà tổ tiên" liên hệ với việc truyền giáo, chúng ta đã thu hẹp phạm vi không thảo luận những liên hệ Lão giáo và Phật giáo, nhưng chỉ chú tâm vào Nho giáo và Kitô giáo có liên quan tới vấn đề "lễ nghi" đối với ông bà tổ tiên. Trước tiên chúng ta truy xét lý do tại sao người Việt thành kính ông bà tổ tiên, thứ tới thảo luận lý do người Việt Công giáo trong quá trình lịch sử gặp phải những khó khăn khi bầy tỏ lòng thành kính này theo như phong tục tập quán của mình. Cuối cùng chúng ta tự hỏi có thể học được gì trong kinh nghiệm lịch sử này để hy vọng có thể suy tư về một thần học bản vị hóa việc thành kính ông bà tổ tiên?

1. Nguồn Gốc Tôn Kính Ông Bà Tổ Tiên

Tuy ai cũng biết mỗi người, mỗi gia đình đều có ông bà tổ tiên riêng, nhưng nói tới việc tôn kính ông bà tổ tiên cách chung là chấp nhận những điểm tương đồng của những nền văn hóa Viễn Ðông trong lịch sử ít nhiều đã chịu ảnh hưởng của Nho học, như Trung Hoa, Ðại Hàn, Nhật Bản, Việt Nam. Nên ở dây khi bàn về nguồn gốc tôn kính ông bà tổ tiên hay ở phần sau thảo luận những tranh chấp về "lễ nghi" thì những tài liệu của các quốc gia trên đều có thể dùng để bổ túc cho nhau để hiểu rõ vấn đề.

Việt ngữ dùng danh từ "tôn giáo" để chỉ chung các tín ngưỡng. Chữ "tôn" cũng còn một âm nữa là "Tông" nguyên ủy chỉ ông "thứ tổ" (ông tổ thứ hai), rồi dùng rộng hơn nữa để chỉ nơi thờ kính tổ tông, cũng như chỉ các giáo phái, học phái. Như vậy, "tôn giáo" theo ngữ văn là thực hiện lòng hiếu kính đối với tổ tông, tổ tiên. Lòng hiếu kính này được biểu tỏ nôm na theo lối bình dân như:

"ăn quả nhớ kẻ trồng cây,
uống nước nhớ tới nguồn"
, hoặc:

"Công cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra,
Một lòng thờ mẹ kính cha,
Cho tròn đạo hiếu mới là đạo con"
.

Hay Nguyễn Du viết trong truyện Kiều:

"Tâm thành đã thấu đến trời,
Bán mình là hiếu, cứu người là nhân"
.

hay ở đoạn khác:

"Lấy tình thâm, trả tình thâm,
Bán mình đã động hiếu tâm đến trời"
.

Như vậy căn nguyên tôn kính ông bà tổ tiên ở đâu? Phải chăng là một sự tôn kính "Thần Thánh" theo phẩm trật? Như sách Lễ Ký, thiên Khúc-lễ-hạ đã chép: "Thiên tử tế thiên địa, tế tứ phương, tế sơn xuyên, tế ngữ tự, chư hầu phương tự, tế ngũ tự (tức là tế Thần cửa, ngõ, giếng, bếp và giữa nhà), chư hầu tế phương mình ở, tế ngũ tự, quan đại phu tế ngũ tự, kẻ sĩ tế tổ tiên). Thực ra đây là những phương châm cho những nền văn hóa chịu ảnh hưởng Khổng học, nên dù ở Thiên An Môn bên Trung Hoa hay ở Ðàn Nam Giao tại Huế, việc tế trời chỉ có nhà vua mới có quyền đứng chủ tế. Trong lễ tế Nam Giao, trên Viên-Ðàn ở giữa là bàn Thời Trời Ðất, hai bên có hai hàng hương án song hành thờ các Tiên Ðế. Xem như thế, thừ Vua quan tới thứ dân, tế tự là việc rất quan trọng, lễ nghi được minh định có trật tự, chung qui vào hai nguyên ủy là Trời và Tổ, vì "vạn vật bản hồ Thiên, nhân bản hồ Tổ" (Lễ ký) (dịch: muôn vật gốc ở Trời, người gốc ở Tổ). Nhưng thực ra hai nguyên ủy này chỉ bắt nguồn bởi một mà thôi, vì các Tổ Tiên tuy sinh ra người, nhưng tất cả đều do Trời sinh dưỡng, như Kinh Thi chép: "Thiên sinh chưng dân, hữu vật hữu tắc dân chi bỉnh di, hiếu thị ý đức" (Trời sinh ra dân, có hình phép, dân giữ tính thường, mới có đức tốt).

"Ông Trời" là nguyên ủy của muôn loài, nên tế Trời là quan trọng nhất, do đó không phải ai cũng được phép mà chỉ có Thiên Tử, dân chi phụ mẫu, mới được trực tiếp hành lễ mà thôi. Ông Trời tuy rất gần kề đại chúng trong cuộc sống, khi vui khi buồn đều có thể gọi "Trời ơi" được, nhưng họ không được phép trực tiếp cúng tế, nên thường kêu cầu tới Tổ Tiên hay cúng tế các thiểu thần. Chính vì thế mà Trần Trọng Kim đã viết: "Việc thờ Trời, thờ quỉ thần và tổ tiên, tuy là phân biệt, nhưng kỳ thực cũng là theo một lý cả, và chính là cái tôn giáo đặc biệt của những dân tộc theo văn minh Tầu ở Á đông". Dù được trực tiếp tế tự "Trời" hay chỉ gián tiếp qua Thần Thánh, tổ tiên, người Việt đều tin tưởng vào sự liên đới "Thiên nhân tương dữ". Theo đó con người được phú cho nhân tính để nhận ra thiên lý, để mô phạm Thiên tính, để trong cuộc sống họ thực thi nhân đạo hợp với Thiên đạo. Nói cách khác: "Trời đối với quần chúng như một nguyên ủy tiền định con người, nhưng vượt trên con người, định đoạt sinh tử, phúc họa, giầu nghèo. Họ kêu Trời vì Trời không xa ta. Trời thấu suốt tất cả, cả những tâm tư thầm kín. Họ kêu Trời vì Trời toàn năng, không mù quáng trong việc xét xử. Trời công minh vì thưởng kẻ lành, phạt kẻ dữ".

Nho gia thừa hưởng tư tưởng Khổng tử tin Trời là chủ tể vũ trụ, điều hòa mọi biến hóa bởi vậy tri Thiên mệnh là nguồn gốc và lý tưởng của tu tâm và dưỡng tính của bậc quân tử". "Bất tri mệnh vô dĩ vi quân tử dã" (Luận Ngữ; Nghiêu viết, XX) (dịch: không biết mệnh Trời thì không lấy gì làm quân tử). Khi bậc quân tử quyết tâm học biết và tuân theo mệnh Trời tức là sống trong tâm tình Kính và Thành. Mặc dù khi họ cúng tế thì biểu tỏ lòng chân thành: "tế thần như thần tại" (Luận Ngữ: Bát dật, III) (dịch: tế thần như có thần ở đó); nhưng đồng thời "kính quỉ thần nhi viễn chi" (Luận Ngữ: Ung giả, VI) (dịch: quỉ thần thì kính mà xa ra), vì theo Khổng tử con người làm sao biết được thế giới quỉ thần cao xa, u ẩn, nếu có tưởng tượng ra không khỏi bầy ra những điều huyền hoặc, dẫn đường cho mê tín. Như vậy, Khổng tử tuy rất trọng lễ, coi nghi thức là bày tỏ lòng Thành Kính, nhưng đồng thời cũng coi thực hành đạo Nhân là sống Thành Kính hợp với Thiên mệnh là rất quan trọng. "Quân tử thể nhân túc dĩ trưởng nhân, gia hội túc dĩ hợp lễ, lợi vật túc dĩ hòa nghĩa, trinh cố túc dĩ sự" (Kinh Dịch:Văn Ngôn truyện) (dịch: quân tử lấy cái nhân làm thể là đủ làm trưởng thành cho người, hợp các cái tốt đẹp là đủ làm cho hợp lễ, lợi cho vạn vật là đủ làm hòa cái nghĩa, biết cái trinh-chính mà cố giữ là đủ lam gốc cho mọi sự). Vậy đạo Nhân là gì? "là Cung, khoan, tín, mẫn, huệ". Khổng tử giải thích thêm: "Cung thì không khinh nhờn, khoan thì được lòng người, tín thì người ta tin cậy được, mẫn thì có công, huệ thì đủ khiến được người" (Luận Ngữ: Dương Hóa, XVII). truy ngồn năm cái kết quả diễn đạt đạo Nhân này, chúng ta sẽ tìm ra cái Nhân Tâm Thành Kính. Tam đạo là quan trọng như thế, nên sau này, mặc dù Mạnh tử và Tuân tử mỗi người phát huy Khổng học theo đường hướng riêng, một người coi trọng "Nhân" là bảo tồn tính bản thiện của con người, một người trọng "Lễ" để chế ngự tính bản ác của người, nhưng tất cả hai đều công nhận sự trọng yếu của tâm đạo: bảo tồn lương tâm (Mạnh Tử), tu dưỡng tâm tri (Tuân tử). Ði xa hơn nữa, Mặc tử phê bình chỉ trích Nho đạo cũng vì trong thực tế tâm đạo đã bị nghi lễ tha hóa làm mất tính cách phổ biến của tâm đạo vậy.

Ðạo hiếu là một đặc tính của đạo tâm, làm cho con người tỏ lòng Thành Kính đối với cha mẹ, tiền nhân, nên chỉ nuôi dưỡng cha mẹ mà không có lòng hiếu thảo thì làm sao gọi là hiếu được! Lòng hiếu thảo này phụng sự cha mẹ lúc các ngài còn sống, tang lễ nếu các ngài quá cố: "sống thì lấy lễ mà thờ, chết thì lấy lễ mà táng, lấy lễ mà tế" (Luận Ngữ: Vi chính II). Hiếu đễ đối với cha mẹ tức là kính những người cha mẹ đã tôn trọng, yêu những người cha mẹ đã yêu mến, lễ tế những bậc cha mẹ đã lễ tế. Ðó là nguồn gốc của tôn kính tổ tiên vậy. Bởi đó Tăng tử nói: "Thận chung, truy viễn, đức qui hậu hĩ" (Luận Ngữ: Học Nhi, I) (dịch: cẩn thận lúc cha mẹ chết, nhớ đến tổ tiên xa, thì cái đức của dân trở nên hậu).

Tư tưởng đạo hiếu đã thấm nhuần vào lòng người Việt trở thành một phần quan trọng của Việt tính. Kính bái tổ tiên là chân nhận giới vô hình và hữu hình luôn luôn có sự liên lạc mật thiết với nhau. Ðó là cách diễn tả sự hiệp thông giữa ông bà cha mẹ và con cháu, giữa người sống và cả chết, là dịp đoàn tụ của đại gia đình. Quan niệm vong hồn gia tiên luôn gần gũi với con cháu được diễn tả bằng nhiều cách khác nhau. Ðại đa số quần chúng Việt Nam được coi là theo "đạo Ông Bà" thường có phong tục làm lễ cáo gia tiên, trong mọi tuần tiết, hoặc ngày kị giỗ, hoặc khi có việc hiếu hỉ, tang chay. Toan Ánh diễn giải thêm: Những biến cố quan trọng trong gia đình, lẽ tất nhiên gia trưởng đều có lễ cáo gia tiên, như: sinh con cái, con cái đầu cữ, đầy tháng, đầy năm, con cái bắt đầu đi học, sửa soạn đi thi, thi đỗ, dựng vợ gả chồng cho con... hay nhiều khi chỉ sửa sang lại nhà cửa, nhất là những di sản của tiền nhân để lại. Vui đã thế, buồn cũng khấn trình tổ tiên để các ngài biết và phù hộ, như việc làm ăn thua lỗ, có người đi xa, có người mệnh một... Ngoài những biến cố trong gia đình ra, gia trưởng cũng kính cáo những việc quan trọng khác xẩy ra trong làng nước, như làng có cướp tới, đất nước sinh loạn lạc hay những tin vui trong thôn xã,... Tất cả những kính cáo, trình khấn trên mục đích để tổ tiên hiệp thông hay phù trợ trong những khi vui cũng như lúc buồn. Tùy từng trường hợp, tùy từng gia cảnh mà sửa soạn lễ. Nhiều khi gia chủ chỉ cần sửa soạn cái lễ nhỏ, như chén trà, đĩa xôi, nải chuối. Cũng có khi lễ lạc linh đình. Toan Ánh kết luận: "Con cháu nhớ đến tổ tiên thì cúng, năng cúng bái càng tỏ rõ lòng hiếu thảo của mình đối với các cụ. Sống khôn chết thiêng, các cụ thấy con cháu hiếu kính, ất vong hồn cũng vui mừng".

Nói tới cúng vái tổ tiên tức là phải nói tới bàn thờ gia tiên. Bàn thờ này mặc dù trang trí có khác nhau, nhưng đại để đều có bài vị, bình hương, nến sáp... Nếu là bàn thờ họ thường đặt trong miếu đường, chính giữa có bàn thờ riêng thờ ông "Thủy Tổ" của dòng họ. Còn các bàn thờ biệt tông, biệt phái khác trong mỗi ngày giỗ kỵ của tông, phái mình mới được bày ra. Trên bàn thờ Thủy Tổ luôn có cuốn gia phả ghi rõ danh tánh các chi nhánh dòng họ. Nhiều khi gia phả này được ghi khắc trên tường sau bàn thờ Thủy Tổ.

Quần chúng tuy một đàng muốn bày tỏ lòng hiếu kính mình đối với tổ tiên, nhưng họ không thể phân biệt rõ ràng như những nho sĩ "vụ dân chi nghĩa, kính quỉ thần nhi viễn chi", nên thực hành đạo hiếu và thờ quỉ thần đã trở thành lẫn lộn. Vì muốn bảo vệ phần mộ ông cha, nên nhớ tới Thần Thổ Công, Thần Hà Bá. Ngoài ra còn có những thần tại gia khác như: Thần Tài, Thần Tiên Sư (hay Thánh Sư, Nghệ Sư, tức là ông tổ mỗi nghề), Ðức Quan Thánh... để bảo vệ che chở mình hay giúp phát tài,... Chính vì thế mà khi các nhà truyền giáo Tây Phương tới Việt Nam hay Trung Hoa gặp phải những khó khăn làm sao thấu hiểu tinh thần, nhất là về tinh thần "lễ nghi" tôn kính ông bà tổ tiên.

2. Tôn Kính Tổ Tiên Liên Hệ Tới Việc Truyền Giáo:

Lịch sử truyền giáo ở Việt Nam cũng như ở Trung Hoa bắt đầu bằng những bước dò dẫm, va chạm những khó khăn về phiên dịch, vì hai loại ngôn ngữ biểu tả hai văn hóa quá khác nhau, nên không biết phải làm sao mới có thể đạt tới việc "bản vị hóa" chân chính được. Thoạt đầu những nhà truyền giáo tiên khởi dùng ngôn ngữ địa phương để phiên âm những từ căn bản của Kitô giáo, như thánh Phanxicô Xavier đã Nhật âm hóa tiếng Latinh: Deus Pater, Deus Filius, Deus Spiritus Sanctus là: Deusu Patere, Deusu Hiiruo va Deusu Spiritusu Santa (có khoảng 50 ngữ vựng căn bản như thế). Nhưng cách phiên âm này đã gặp những khó khăn lớn, vì hoặc là âm đó có một nghĩa khác trong ngôn ngữ là "Deusu" làm trò cười cho nhiều Phật đồ Nhật, vì họ liên tưởng tới một âm tương tự là "daiuso", có nghĩa là "Nói dối đại tài". Thấy cách phiên âm này không ổn, nên các nhà truyền giáo kế vị các bậc tiên khởi này như A. Valignano, M. Ricci, A. Schall, A. de Rhodes v.v... đã học hỏi ngôn ngữ và tư tưởng địa phương để Kitô giáo được thích ứng với môi trường mới. Trong lúc phiên dịch và thích ứng này đã xảy ra cuộc tranh chấp về "lễ nghi". Cuộc tranh chấp này mặc dù đầu tiên là bàn về hai phương pháp truyền giáo được hai phe (một bên là dòng Tên, một bên là dòng Ðaminh, dòng Phanxicô và hội Thừa Sai Balê) chủ trương, nhưng dần dần đã vượt qua phạm vi thuần túy truyền giáo và tôn giáo trở thành một tranh chấp bị những ảnh hưởng chính trị, quyền bính chi phối, nên đã trở thành một tấm bi kịch của lịch sử truyền giáo ở Viễn Ðông. Ở đây chúng ta chỉ có thể chú tâm tới những dự kiện chính yếu mà thôi.

Trước tiên chúng ta bàn về vấn đề phiên dịch. Sau khi thảo luận những khả thể dịch chữ, "Deus", các nhà truyền giáo đã đồng ý dùng chữ "Thiên Chúa". Nhưng dùng cách thế nào để giải thích chữ "Thiên Chúa" thì hai phe có những lập trường khác nhau. Một bên cho rằng dùng chữ "Thiên Chúa" để chỉ Deus thì phải hiểu hoàn toàn khác, hoàn toàn độc lập, không thể dùng một từ ngữ nào như "Thiên", "Thượng Ðế" để diễn giải được, vì "Thiên" theo ý họ "chỉ có nghĩa là bầu trời" (ciel materiel et visible), còn quan niệm "Thượng Ðế" là quan niệm dân ngoại thường dùng, nếu ta dùng sẽ rơi vào giới "vô thần" như dân ngoại. Một bên khác cho rằng chữ "Thiên Chúa" mặc dù là chữ ghép mới để chỉ Deus, nhưng có thể dùng những quan niệm sẵn có trong kinh điển Trung Hoa xưa như "Thiên", "Thượng Ðế" để người Trung Hoa có một mấu cứ để thăng hóa, nhờ đó mới dễ dàng hiểu rõ nghĩa thực sự của "Thiên Chúa" được. Thực ra, hai bên dùng hai phương pháp thần học cổ điển vẫn dùng là: phương pháp "phủ nhận" (via negotiva) và phương pháp "sánh loại" (via analogia). Ðứng trên phương pháp học không có chi đáng bàn cãi, nhưng động lực nao khiến họ chọn hai phương pháp này để nói lên thái độ của họ đối với nền văn hóa địa phương. Ðó mới là điều quan trọng. Dù sao đi nữa, sự kiện xẩy ra trong lịch sử là: Giám Mục Charles Maigrot, đặc sứ tông tòa ở Phúc Kiến đã nhân danh Thánh Bộ truyền giáo tuyên bố: từ ngữ "Thiên Chúa" phải được dùng để chỉ chữ "Deus" còn những tiếng khác như "Thiên" và "Thượng Ðế" thì không được dùng.

Ðối với người Công Giáo Việt Nam hiện nay, ta dùng chữ "Thiên Chúa" trong văn chương, nhưng cũna dùng chữ "Ðức Chúa Trời" theo nghĩa bình dân để chữ "Deus". Trong khi đó những người không Công Giáo thường dùng "Ông Trời" (Trung Hoa dùng chữ Lão Thiên) để chỉ Ðấng Tối Cao. Thực ra, quan niệm "Trời" không phải chỉ là "bầu trời", nhưng cũng là "Hóa Công", đấng sinh thành vũ trụ, vì vậy tại sao chúng ta không thể dùng những quan niệm đã có sẵn trong kinh điển Trung Hoa, đã được nhiều người biết tới để giải thích một quan niệm chí ư "trừu tượng", đối với họ hoàn toàn mới lạ như Deus. Phải chăng phản đối dùng những quan niệm như "Thượng Thiên", "Hiển Thiên", "Hoàng Thiên", "Thượng Ðế" để giải thích chữ "Thiên Chúa", vì các nhà truyền giáo sợ người Trung Hoa, Việt Nam không hiểu xác thực được nghĩa Deus của Kitô giáo, hay là các nhà truyền giáo đó đã không hiểu rõ được những quan niệm trên trong tư tưởng Trung Hoa? Trần Văn Hiến Minh còn đi xa hơn nữa, khi ông quả quyết: "Quan niệm một Tiên Chúa có ngôi vị, Thượng Ðế là một trực giác đầu tiên của người Trung Hoa từ xa xôi bao ngàn năm trước. Tất cả cuộc sống Trung Hoa cổ kính đều qui hướng vào đó". Ðề mục họ Trần nêu ra có thể là một đề tài thảo luận hào hứng, nhưng vượt qua phạm vi của bài nói chuyện này. Dù "Thượng Ðế" theo người Trung Hoa hiểu có "ngôi vị" hay không, cũng không thể là lý do chính đáng không dùng những quan niệm đó để "giải thích" tiếng "Thiên Chúa" được.

Như vậy ta thấy được tranh luận về mấy danh từ trên không phải chỉ là một cuộc thảo luận lý thuyết thần học hay ngôn ngữ, văn chương, nhưng là tỏ rõ đường hướng của hai phe đối với vấn đề truyền giáo: giáo hội có thể dùng di sản văn hóa của địa phương để diễn đạt giáo lý, nghi lễ của mình hay không? Mà được phép dùng tới mức nào? Tại sao có thể dùng hay bị cấm dùng như vậy?

Bây giờ chúng ta trực tiếp đề cập tới cuộc tranh luận "lễ nghi". Vấn đề chính của cuộc tranh chấp này là câu hỏi: lễ nghi đối với tổ tiên là "tôn thờ" tổ tiên vì nghi thức này có tính cách tôn giáo. Tôn thờ tổ tiên là những người theo "đạo Ông Bà". Nói cách khác, nghi lễ tôn thờ này được cử hành trong những nơi nhất định (chủ đường hay tông đường hoặc tại gia, trước bàn thờ tổ), có những qui định riêng (thành văn hoặc bất thành văn) và đối tượng của đạo này là "tôn thờ Bài Vị" của những người quá cố, Bài Vị này là chỗ của các Hồn người quá cố "cư ngụ". Khi hành lễ gia trưởng chắp vái hay quì lạy, dâng hương, báo cáo, cầu xin trước bàn thờ vong linh có đốt nến và bày những lễ cúng như hoa quả, bánh rượu... lễ nghi này cũng giống như lễ nghi trước phần mộ khi mai táng hay trong các dịp kỵ lễ. Sau khi đã mô tả những chi tiết trên, cộng thêm sự ghi chú những tính cách tôn giáo của đạo ông bà, các vị thừa sai này đã đặt những câu hỏi xin thánh bộ giải quyết, như: xin hỏi người Kitô hữu có được phép cử hành những nghi lễ và dâng cúng trước bài vị theo như tập tục ở chủ đường hoặc nơi phần mộ hay trước linh cửu? Và nếu họ được phép làm như vậy thì họ có thể tham dự với dân ngoại hay hành lễ một mình? Hay câu hỏi: Người Kitô hữu có được dựng bài vị tổ tiên ở trong nhà mình với chữ khắc "Thần Chủ" không? Dĩ nhiên những câu hỏi này đã được sửa soạn bằng những "mô tả" hàm xúc một câu trả lời phủ nhận. Có người còn đi xa hơn nữa, coi việc "Tôn thờ tổ tiên" ở Trung Hoa giống hệt như việc thờ phượng các thầ Manes xưa ở Hy lạp hay La Mã: "Theo lịch xưa của người La Mã khi thời thờ ẩu thần còn hiển trị, có nhắc tới một dịp lễ gọi là "Feralia", bắt đầu từ 20 tháng 2 kéo dài tới cuối tháng 2. Lễ này là dịp tôn thờ các Thần Manes. Dân ngoại đem thịt đặt trên mộ các người quá cố để họ hưởng, như tiến sĩ Varron đã giải thích. Ðó cũng là những việc mà những người Trung Hoa hành lễ ở các chùa chiền, trên phần mộ hay trong tư thất trước bài vị tổ tiên". Sự so sánh này đặt người hữu trách trước một sự lựa chọn không thể chối được: Nếu xưa giáo hội đã hủy bỏ phong tục thờ tà thần Manes, tại sao ngày nay lại có thể cho phép làm như thế ở trung Hoa. Lý chứng này càng ảnh hưởng tới người hữu trách khi người đó không hiểu thấu hiện trạng phức tạp ở miên Viễn Ðông.

Trong khi đó, phe khác coi nghi lễ đối với ông bà tổ tiên là sự "tôn kính" bày tỏ lòng hiếu đễ của con cái đối với bậc tiền nhân, dù khi còn sống hay đã quá cố. Trước tiên họ nhận định những nghi lễ trong các chùa chiền hay trước những thần tượng bày rải rắc khắp nơi là có tính cách tôn giáo và nhuốm nhiều màu sắc mê tín, dị đoan. Họ cũng công nhận thái độ mê tín này có thể ảnh hưởng tới việc tôn kính tổ tiên, nếu không được giải thích minh bạch giữa nơi tôn thờ và tôn kính: Ngược với "chùa miếu" là nơi tôn thờ các thần thánh, "đường" nơi có tính cách "trung tính" (có thể dùng liên quan tới tôn giáo hay không). Do đó, "chủ đường" hay "tông đường" (hay nói nôm na là "chỗ dành cho tổ tiên") là "nơi" kính nhớ ông bà tổ tiên để tỏ lòng biết ơn với những người quá cố, cũng như phong tục tập quán địa phương có những "nơi" riêng trọng kính các vị tiền bối lúc sinh thời. Còn Bài Vị thực ra không phải là "bàn thờ" thực, nhưng thường là một thanh gỗ được sửa soạn tươm tất ở trên đó có ghi danh tánh ông bà tổ tiên được bày trên án hương. Tuy Bài Vị "là biểu tượng" cho vong linh người quá cố, nhưng không phải là chỗ "cư ngụ" của hồn linh đó. Các vị này giải thích: trong quá khứ người Trung Hoa có thói quen tìm một người "thay thế" cho một người thân quá cố. Phong tục này được chuyển hóa bằng việc dùng bài vị như là biểu tượng của người quá cố ở giữa con cái. "Bài vị được dựng nên không phải để đánh dấu sự hiện hữu của một linh hồn mà người ta tin rằng linh hồn đó cư ngụ ở bài vị, nhưng đúng hơn là để thức tỉnh một thái độ luân lý và sự biểu tượng này có thể coi như sự hiện diện của một thân xác". Trong khi đó, việc "hóa" vàng giấy, đốt những đồ vật làm bằng giấy cho tổ tiên dùng là những điều mê tín, dị đoan cần cấm bỏ. Ngược lại, những cử chỉ bái lạy hay quỳ gối là những cung cách người Trung Hoa thường dùng để tỏ lòng tôn kính đối với bậc trên, dù những người này còn sống hay đã qua đời. Ðiều đáng chú ý là, chính vua Khang Hy ngày 30.11.1700 đã tự tay chứng thực bản văn do các cha dòng tên thảo nói những lễ nghi tôn kính Khổng Tử, tổ tiên là những hình thức bày tỏ lòng thành kính mà thôi: "Nói là Khổng Tử được thờ phượng để xin sự khôn ngoan hay để xin được thăng chức hay thêm bổng lộc là không đúng... Dựng bài vị tiền nhân quá cố không có nghĩa là linh hồn tổ tiên được nghĩ là thực sự ngự trị trong miếng gỗ này... Mục đích thực sự của nghi lễ tôn kính tổ tiên là con cháu trong một dòng tộc không được phép quên, nhưng luôn luôn tưởng nhớ tới tổ tiên cho đến muôn đời". Nhưng lời chứng thực của vị hoàng đế trung Hoa, người có thẩm quyền nói lên ý nghĩa thực sự của phong tục tập quán, đã không được tòa thánh thời đó lưu ý tới.

Trên đây là lược thuật tổng quát lập trường của hai phe phái về vấn đề đối với tổ tiên có liên hệ đến việc truyền giáo. Cuộc tranh chấp "lễ nghi" này đã tạm thời kết thúc khi Ðức Giáo Hoàng Clement XI ngày 20.11.1704 đã quyết định:

- Cấm dùng chữ "Thiên" hay "Thượng Ðế" để giải nghĩa "Thiên Chúa". Theo đó không được dùng "mensa seu altare" (bàn thờ) để "kính Thiên" trong nhà thờ.

- Người Kitô hữu không được phép tổ chức hay tham gia những lễ nghi theo như phong tục đối với Khổng Tử hay những người quá cố. Do đó cũng không được phép lập "chủ đường", miếu đường", cũng không được phép dâng lễ vật trong miếu đường hay gia thất vì những nghi thức này liên hệ tới mê tín ("tamquam superstitione inseparabilia"). Tông huấn (Ex illa die) đã được quyết định, đã được đặc sứ tòa thánh, Hồng Y De Tournon mang sang Trung Hoa để ban hành. Sau ba lần De Tournon hội kiến với Hoàng Ðế Khang Hy, Tông huấn đã không được chính thức ban hành cho tới ngày 19.3.1715 mới được Giám Mục đầu tiên của địa phận Bắc Kinh Charles Castorano ban hành. (Trong khi đó De Tournon đã mất ngày 8.6.1710 ở Macao). Tông huấn "Ex illa die" được chính thức ban hành gây ra nhiêu phản ứng khác nhau, nhưng khi phải quyết định phát thệ "chống lễ nghi" theo chỉ thị của tòa thánh, các nhà truyền giáo đã anh dũng bỏ lập trường riêng để chấp nhận tông huấn "Ex illa die". Về phần Khang Hy, ông thấy Công Giáo chống đối lễ nghi và tập tục Trung Hoa đối với Khổng Tử và tổ tiên, đã đổi thái độ từ thân thiện sang nghịch thù. Nhưng cuộc tranh chấp chưa kết thúc, vì chính Ðức Clement XI lại sai một đặc sứ khác là Charles Ambrose Mezzabarba, tân giáo phụ của Alexandria tới Bắc Kinh ngày 26.12.1720. Sau khi đã hội kiến, lắng nghe các nhà truyền giáo báo cáo và đã được tiếp kiến Hoàng Ðế, C. A. Mezzabarba đã trở về Maccao và thảo một bức thư mục vụ ca ngợi tinh thần phục tùng và thống nhất của các nhà truyền giáo, đồng thời đã liệt kê "Tám điều được phép" để dễ dàng thực hành mục vụ. "8 điều được phép này" đã được ban hành ngày 4.11.1721, nới rộng những điều cấm ngặt của tông huấn "Ex illa die". Tỉ dụ: được lập "bài vị" trên đó chỉ được phép ghi tên người quá cố. Tất cả các lễ nghi trung Hoa đối với tổ tiên nếu không pha trộn mê tín mà chỉ có tính cách "dân sự" (Civil) thì đều được phép tổ chức hay tham dự. Hay là: được phép dùng nến, hương, hoa quả, để tỏ lòng tôn kính và biết ơn đối với người quá cố... "8 điều được phép này" đã làm sống lại cuộc tranh chấp "lễ nghi" một lần nữa, nhất là sau khi đặc sứ C.A. Mezzabarba đã trở về Âu Châu. Một đàng khác, Dũng Thành kế vị Khang Hy được một năm thì ra chỉ thị trục xuất những nhà truyền giáo trừ những người được mời ở lại. Tình trạng hỗn độn này cuối cùng đã được chấm dứt với Tông huấn "Ex Quo Singulari" do Ðức Benedictus XIV ban hành ngày 11.1.1742. Tông huấn này là tông huấn cuối cùng cấm ngặt "lễ nghi" đối với tổ tiên và rút lại tất cả những điều cho phép trước kia. Ðức Benedictus XIV đã minh định: "không phải xấu vì bị cấm, nhưng bị cấm vì xấu".

3. Bàn Về Việc Tranh Chấp "Lễ Nghi"

Trong quá trình tranh chấp như chúng ta thấy ở trên khó mà phân định được "bị cấm vì xấu" hay "xâu vì bị cấm". Ngay cả khi đã bị cấm nhưng trên thực tế chỉ là tránh né vấn đề hơn là giải quyết vấn đề. Bằng chứng là sau gần 200 năm bị cấm ngặt, ngày 8.12.1939 thánh bộ truyền giáo đã hủy bỏ việc bắt các nhà truyền giáo phải tuyên thệ chối bỏ "lễ nghi" mà tông huấn năm 1742 đã đòi buộc và đồng thời tuyên bố các Kitô hữu và các nhà truyền giáo ở trung Hoa, Việt Nam... đối với việc tôn kính Khổng Tử và tổ tiên cần có một cái nhìn "mới". Cái nhìn mới này sau công đồng Vaticanô II đã trở thành một khía cạnh quan trọng để thành lập một nền thần học bản vị hóa. Như vậy Bản vị hóa không những chỉ được phép mà phải được khuyến khích. Ðứng trên một thái độ mới này nhìn lại lịch sử tranh chấp chúng ta dễ có cái nhìn khách quan hơn.

Trước tiên chúng ta nhận định "mạch sống" của hai phe. Một bên đứng trên quan điểm của người trí thức, của tân nho gia đời Minh, để tìm hiểu ý nghĩa của các nghi lễ. Nếu lễ nghi đối với hổng Tử, tổ tiên thuộc về tôn kính hơn là tôn thờ thì hiển nhiên thuộc về phạm vi luân lý hơn là tôn giáo. Quả thực các nhà trí thức Trung Hoa đã hiểu như thế, vì vậy lập trường của các nhà truyền giáo này đã được Hoàng Ðế Khang Hy chứng thực. Chúng ta thấy hiện nay những "lễ nghi" tưởng niệm Khổng Tử hay các vị tiên đế đã mang một ý nghĩa hoàn toàn "dân sự". Các nhà trí thức Việt Nam như Trần Văn Chương, Hồ Ðắc Diễm, Nguyễn Văn Huyên, Trần Trọng Kim v.v... cũng cho những nghi lễ tôn kính ông bà là bày tỏ lòng con cái hiếu thảo đối với tổ tiên, là hành động muốn luôn tưởng nhớ tới tổ tiên mà thôi. Vì thế cúng bái ông bà tổ tiên theo như tập tục không phải là hành động của "niềm tin", nghĩa là qua đó cắt nghĩa một sự mầu nhiệm liên quan tới sự sống và sự chết, cũng không phải là hành động "phi lý" nhưng là những củ chỉ "tự nhiên" (theo phong tục tập quán của một nền văn hóa) do tấm lòng hiếu thảo thôi thúc. Cũng vì thế những việc dâng hương cúng quả, tiến rượu bày cỗ trước Bài vị không mang một ý nghĩa phụng dưỡng vật chất nào cả. Quan trọng nhất là vì nhớ tới ông bà tổ tiên nên con cái cháu chắt thấy họ có bổn phận phải sống như một người tốt, một tôi trung, một đệ tử thành tín, một người chồng gương mẫu, một người vợ hiền, một người con thảo... để khỏi làm nhơ danh tiền nhân. Ðây là quan niệm tôn kính tổ tiên trong mạch suấng của trueỳn thống nho học đặt nặng trên bổn phận luân lý.

Trong khi đó các nhà truyền giáo khác đứng trên phương diện của giới bình dân coi việc tôn kính ông bà tổ tiên là một lễ nghi tôn giáo, vì vậy họ nghĩ rằng cho phép cử hành những nghi thức này tức là hỗn hợp các tôn giáo, làm tha hóa, làm tha hóa Kitô giáo và làm hoang mang lòng các tín hữu. Do đó, họ xin tòa thánh qui định rõ ràng để dễ thực hành mục vụ. Ở đây ngôn ngữ là vấn đề then chốt. Nhưng để giải quyết nạn ngôn ngữ thiếu minh bạch mà cấm dùng ngôn ngữ đó thì không phải là giải pháp thỏa đáng, vì nếu không dùng chữ "Thiên" để giải thích "Thiên Chúa" thì khi dùng chữ "Thiên Chúa" người địa phương cũng không thể hiểu khác hơn mạch sống văn hóa của họ được. Cũng vậy, gọi Khổng Tử là "Thần nhân" thì ý nghĩa của chữ "Thần" này không thể hiểu theo một mạch văn hóa khác được (tỉ dụ như thánh nhân theo nghĩa hẹp của Giáo Hội Công Giáo). Cũng thế, những hạn ngữ như "Altare", "Sacrificium", genuflectio, templum... là những từ ngữ tùy theo nền văn hóa Âu Châu hay Trung Hoa, Việt Nam mà mang một ý nghĩa khác nhau. Nếu dùng cái nhìn của nền văn hóa Âu châu phán đoán những hiện trạng của nền văn hóa Á Châu tức là đã tách những dự kiện, hình ảnh tượng trưng ra khỏi mạch sống văn hóa. Nếu hai nền văn hóa đó quá khác nhau và chưa hiểu nhau được, thì làm sao tránh khỏi được những ngộ nhận. Nếu quyền phán quyết dành cho một phía khi chưa thấu triệt vấn đề thì phán đoán đó làm sao tránh khỏi những thiên kiến?

Tóm lại, cuộc tranh chấp "lễ nghi" nói lên những khó khăn mà một thần học bản vị hóa trong một môi trường cụ thể đã gặp phải và dần dần vượt qua. Cuộc tranh chấp trên không những chỉ bộc lộ hai phe đứng trên hai phạm vi khác nhau để nhìn một vấn đề mà cũng đứng trong những giai đoạn tiến tới thần học bản vị hóa khác nhau, nên gặp nhau trong đối thoại. Sự tranh chấp lễ nghi trở thành một thảm kịch trong lịch sử truyền giáo ở Viễn Ðông, vì giải quyết sự tranh chấp đã không nằm trong mạch sống đó, nhưng ở ngoài và ở trên mạch sống văn hóa, nên không thấu đáo được những nhu cầu sống của giáo hội địa phương.

Như vậy, đề cập tới vấn đề "Ông Bà Tổ Tiên" có liên quan tới việc truyền giáo tức là phản tỉnh một nền thần học bản vị hóa. Bản vị hóa không có nghĩa là chỉ hội nhập và chấp nhận những gì có sẵn trong nền văn hóa đó, nhưng đồng thời cũng thăng hóa những giá trị đó. Vậy theo đó ý nghĩa của lễ nghi đối với ông bà tổ tiên là gì? Nếu chỉ coi lễ nghi đối với tổ tiên là cách bày tỏ lòng hiếu đễ, tức là thực thi một bổn phận luân lý, thì chưa chứng minh lý do tại sao con người đòi buộc phải thực hành luân lý như vậy. Nếu ta coi sự đòi buộc đó là một sự tự minh (self-evident) thì hoặc là rơi vào chủ nghĩa độc đoán (dogmatism) hoặc chủ trương thuyết "vô tri thức" (agnosticsm) như khuynh hướng của một số nhà nho tân thời ở Ðài Loan hiện nay. Cả hai khả thể trên chỉ là né tránh vấn đề mà không giúp chúng ta hiểu tại sao con người phải thi hành bổn phận luân lý với tổ tiên. THực ra khi những nhà truyền giáo dòng Tên chủ trương coi lễ nghi tôn kính ông bà thuộc phạm vi luân lý, họ tin rằng một khi đã tìm ra ý nghĩa nguyên ủy và chính yếu của lễ nghi này, họ có thể giáo dục quần chúng gọi bỏ những mê tín mọc rườm rà bên ngoài và cuối cùng có thể biến hóa những bổn phận luân lý đó cho họp với niềm tin Kitô giáo. Như vậy, mặc dù học nhấn mạnh "lễ nghi" này thuộc phạm vi luân lý, nhưng ngầm xác định cn bản của luân lý không thể tách rời khỏi niềm tin tôn giáo được. Mối liên hệ giữa luân lý và tôn giáo này có thể dùng tư tưởng sẵn có trong kinh điển Trung Hoa như niềm tin "Thiên nhân tương dữ" và "vạn vật bản hồ thiên, nhân bản hồ tổ" để giải thích. Theo đó tôn kính ông bà không thể độc lập với việc Kính Thiên, nhưng cũng không thể đặt ngang hàng với việc Kính Thiên, nhưng cũng không thể đặt ngang hàng với việc kính Thiên được, vì con người cũng là thành phần của vạn vật mà nguyên ủy của vạn vật là Thiên. Hiểu như thế, việc tôn kính ông bà tổ tiên không những không phản với đạo Công Giáo mà còn bộc lộ được tính cách đặc biệt đông phương, đạo hiếu của người Việt, đồng thời qua việc đưa hành động tôn kính này hòa hợp với tinh thần Kitô giáo, chúng ta vừa thăng hóa vừa qui tụ những giá trị luân lý và những hình thức bày tỏ trên về cội gốc của muôn loài: chúng ta hiếu thảo cha mẹ vì Chúa là Cha chúng ta đã dậy như thế. Nói cách khác, một khi việc tôn thờ "Trời". "Thượng Ðế"... những danh từ chỉ Thiên Chúa ẩn hình (Deus absconditus) được niềm tin do Ðức Kitô mặc khải soi chiếu, canh cãi và hoàn hảo hóa, thì những hành động có tính cách nhân bản của một nền văn hóa cũng được xác định và thăng hóa theo đúng mức nahn bản của nó.

4. Kết luận

Thảo luận việc tôn kính ông bà tổ tiên liên hệ tới việc truyền giáo là dịp may hiếm có để chúng ta suy tư về một khía cạnh của nền thần học bản vị hóa Việt Nam. Trong bài học lịch sử trên chúng ta nhận ra hậu quả của một cuộc tranh chấp lễ nghi mà đã bị tách rời khỏi mạch sống văn hóa và bị phán quyết do những người chưa thấu đáo ý nghĩa của nó. Tấm bi kịch này là một điển hình của bước khó khăn trong cuộc gặp gỡ của hai nền văn hóa cổ truyền, mạnh mẽ nhưng khác nhau, khi hai nền văn hóa đó thiếu uyển chuyển nên ngăn cản việc thăng hóa tới một hợp đề bao gồm một nền nhân bản phong phú hơn. Sau công đồng Vaticanô II việc tích cực tìm hiểu nền văn hóa địa phương, xác định những giá trị nhân bản chân chính của những tôn giáo khác, những luồng tư tưởng khác trở thành một nhu cầu thường nhật của mỗi giáo hội địa phương. Chúng ta nghiên cứu việc tôn kính ông bà tổ tiên liên hệ với việc truyền giáo ở Việt Nam, ở Trung Hoa, không phải để nuối tiếc một dịp may đã qua, nhưng quan trọng hơn là tìm thấy những ý nghĩa có liên quan tới cuộc sống đạo hiện tại của chúng ta. Nói cách khác sau khi đã nhận định lòng hiếu thảo là một giá trị nhân bản căn bản của nền văn hóa ảnh hưởng nho học, và ý thức được những lễ nghi tôn kính khác với những mê tín dị đoan, chúng ta tự hỏi, chúng ta có thể thực hiện những hình thức, "lễ nghi" nào để biểu tỏ lòng thành kính, hiếu đễ của chúng ta? Nhưng để những nghi thức đó không rơi vào trạng thái "vụ hình thức" "cố chấp" chiếu lệ. điều quan trọng nhất là tấm lòng người Việt thành kính mà chúng ta có thể gọi là "Tâm Việt". Tâm Việt đối với ông bà tổ tiên là một khía cạnh biểu lộ của Tâm Việt. Khía cạnh này không thể tách rời khỏi lòng thành đối với Thượng Ðế được, nếu không Tâm Việt này sẽ thiếu nguồn sống và trở thành độc đoán. Bởi đó Tâm Việt là nguồn sống của "Việt tính". Dĩ nhiên Tâm Việt này còn có thể biểu lộ theo những cách thế khác tùy theo ta nhìn từ Phật Giáo hay Lão Giáo mà trong bài này chúng ta không có dịp để bàn tới. Có Tâm Việt như vậy chúng ta mới có thể bước thêm một bước nữa là đi tìm một hợp đề của Tâm Việt trong môi trường cụ thể mà chúng ta đang sống ở hải ngoại này. Hợp đề này là một mức độ nhân bản cao hơn vì nó được cải hóa và bổ túc do hai nền văn hóa khác nhau. Tiên chuẩn canh cải và hoàn thiện này không gì khác hơn là một nhân bản thuần túy: Hiện Thân của một mẫu mực Thiên Nhân tương dữ, Thiên Nhân hợp nhất, Thiên Chúa Nhập Thể.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Ông Bà Tổ Tiên

Phong thủy dọn nhà mới –

Chuyển đến một ngôi nhà mới không phải lúc nào cũng là một trải nghiệm thú vị, mới mẻ mà ngược lại nó có thể mang lại những điều vô cùng khó chịu, và mệt mỏi nếu như bạn không biết cách xử lý. Trước khi chuyển đến một ngôi nhà mới, bạn cần tập trung

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Chuyển đến một ngôi nhà mới không phải lúc nào cũng là một trải nghiệm thú vị, mới mẻ mà ngược lại nó có thể mang lại những điều vô cùng khó chịu, và mệt mỏi nếu như bạn không biết cách xử lý.

Trước khi chuyển đến một ngôi nhà mới, bạn cần tập trung vào việc xử lý, sắp xếp nó sao cho có thể khai thác được tối đa những ưu điểm và khắc phục những điểm xấu,đặc biệt là về mặt phong thuỷ. Để thực hiện được điều đó, bạn nên nghiên cứu và ứng dụng một số mẹo phong thủy sau.

mot-so-luu-y-khi-chuyen-den-nha-moi

 

– Một không gian trống hoàn toàn sẽ là một nền tảng phong thuỷ tốt nhất. Từ đó bạn có thể nghiên cứu để sắp xếp đồ đạc , bố trí để dẫn các nguồn năng lượng tốt theo đường mình muốn. Hãy cố gắng dọn dẹp, vất bỏ hết những thứ đồ cũ còn lại trong ngôi nhà, chỉ giữ lại những gì mà bạn cảm thấy thật sự cần thiết và có thể tận dụng được. Tuy nhiên, ngay cả những đồ dùng này cũng nên hạn chế một cách tối đa có thể.

– Đừng mang theo những rắc rối từ ngôi nhà cũ của bạn đến ngôi nhà mới. Cân nhắc việc loại bỏ những đồ dùng mà bạn không, hoặc ít khi dùng đến. Như thế vừa tiết kiệm được công sức khi bạn chuyển đồ sang nhà mới, đồng thời tránh được nguy cơ mắc phải những rắc rối không đáng có.

– Việc bạn lựa chọn những đồ vật sử dụng, trang trí càng kỹ lưỡng và sự gắn kết giữa bạn với chúng càng cao thì nguồn năng lượng mà bạn đạt được càng dồi dào và tinh khiết. Nếu bạn tích trữ quá nhiều những đồ không cần thiết, trang trí quá rườm rà cho ngôi nhà mới thì chính chúng sẽ trở thành những trở ngại, phiền phức, và gây ra những ảnh hưởng không tốt đến cuộc sống của bạn và gia đình.

– Dù ở ngôi nhà cũ hay nhà mới thì phòng ngủ cũng luôn là căn phòng quan trọng nhất, vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ và việc hồi phục năng lượng của bạn. Hãy nghiên cứu thật kỹ các bài trí phòng ngủ sao cho phù hợp nhất với nguồn năng lượng của chủ nhân căn phòng.

– Cũng giống như con người, mỗi ngôi nhà đều có những kỉ niệm. Nguồn năng lượng của tất cả các sự kiện xảy ra trong không gian đó đều sẽ vẫn lưu lại trong một thời gian nhất định. Đa phần những nguồn năng lượng đó đều không tốt vì nó có tính ảm ảnh và tù đọng, vì vậy bạn nên loại bỏ một cách triệt để. Cách tốt nhất để thực hiện công việc này là cần phải làm sạch, dọn dẹp ngôi nhà mới đó trước khi bạn chuyển đến. Để ngôi nhà trống hoàn toàn trong một khoảng thời gian ngắn, có thể là một ngày hoặc vài tiếng đồng hồ để các nguồn năng lượng mới có thể tràn vào nhà, thanh lọc và thay thế cho các nguồn khí tích tụ lâu ngày.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Phong thủy dọn nhà mới –

Sao Thanh Long

Hành: Thủy Loại: Thiện Tinh Đặc Tính: Vui vẻ, may mắn về công danh, hôn nhân, giải trừ được bệnh tật, tai họa nhỏ Tên gọi tắt thư...
Sao Thanh Long

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Hành: ThủyLoại: Thiện TinhĐặc Tính: Vui vẻ, may mắn về công danh, hôn nhân, giải trừ được bệnh tật, tai họa nhỏ Tên gọi tắt thường gặp: Long
Phụ tinh. Sao thứ 3 trong 12 sao thuộc vòng sao Bác Sĩ theo thứ tự: Bác Sĩ, Lực Sĩ, Thanh Long, Tiểu Hao, Tướng Quân, Tấu Thư, Phi Liêm, Hỷ Thần, Bệnh Phù, Đại Hao, Phục Binh, Quan Phủ.

Ý Nghĩa Thanh Long Ở Cung Mệnh
Tướng Mạo
Sao Thanh Long ở Mệnh thì gương mặt tuấn tú, phương phi, cốt cách sang trọng.
Tính Tình

  • Vui vẻ, hòa nhã.
  • Lợi ích cho việc cầu danh, thi cử.
  • May mắn về hôn nhân.
  • May mắn về sinh nở.
  • Giải trừ được bệnh tật, tai họa nhỏ.
Ý Nghĩa Thanh Long Với Các Sao Khác
  • Long, Kỵ ở Tứ Mộ: Thanh Long được ví như rồng xanh ẩn trong mây ngũ sắc, nghĩa là như rồng gặp mây, người gặp thời rực rỡ, có lợi cho phú quí, hôn nhân, sinh nở, thi cử.
  • Thanh Long, Lưu Hà: Người gặp thời rực rỡ, có lợi cho phú quí, hôn nhân, sinh nở, thi cử (được ví như rồng xanh vùng vẫy trên sông lớn).
  • Thanh Long, Bạch Hổ, Hoa Cái: Cách này gọi là Long Hổ Cái, cũng rực rỡ về tài quan.
  • Thanh Long, Bạch Hổ, Hoa Cái, Phượng Các: Cách này gọi là Tứ Linh, cũng rực rỡ về công danh, tài lộc.
  • Thanh Long, Quan Đới: Người gặp thời, đắc dụng.
  • Thanh Long, Sát tinh: Mất hết uy lực, trở thành yểu và hèn nhát.
Ý Nghĩa Thanh Long Ở Các Cung
  • Thanh Long rất đẹp nếu ở hai cung Thủy là Hợi, Tý, hoặc ở cung Thìn (Long cư Long vị) cũng rực rỡ như trường hợp Long Kỵ, Long Hà.
  • Ngoài ra, các cách tốt kể trên, nếu có tại cung Mệnh, Thân, Quan, Di, Tài hay Hạn đều đắc dụng, đắc lợi cho đương số.
  • Mặt khác, nếu Mệnh hay Quan giáp Long, giáp Mã thì cùng hiển đạt về công danh, chức vị.
Tóm lại, tuy là sao nhỏ nhưng Thanh Long vốn là bản chất rồng xanh nên rất uy dũng, cao thượng, đem lại sự may mắn về nhiều phương diện thi cử, công danh, hôn nhân, sinh nở. Kết hợp phong phú với nhiều cát tinh và ở một số cung thuận vị, Thanh Long càng phát đạt rực rỡ cho phái nam cũng như phái nữ miễn là đừng gặp sát tinh.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Sao Thanh Long

Các mẹo phong thủy đơn giản giúp tránh tiểu nhân

Tiểu nhân thường được cho là gây hại cho gia chủ, ảnh hưởng sự nghiệp, làm tiêu tài tốn của. Để tránh tiểu nhân, gia chủ cần có những mẹo phong thủy.
Các mẹo phong thủy đơn giản giúp tránh tiểu nhân

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tiểu nhân thường được cho là gây hại cho gia chủ, ảnh hưởng sự nghiệp, làm tiêu tài tốn của. Để giải quyết hết tiểu nhân, gia chủ cần phải thực hiện theo các mẹo phong thủy dưới đây.


Cac meo phong thuy don gian giup tranh tieu nhan hinh anh
 
1. Chuẩn bị tâm thái
 
Thông thường bản thân gia chủ tự nhận định người nào đó có phải là tiểu nhân hay không, đó là do người đó có ác ý hoặc cố ý gây khó khăn cho bản thân, làm cho bản thân khó làm được việc như ý muốn. Vậy nên, điều chính tâm thái của bản thân là điều vô cùng quan trọng, coi điều đó là cơ hội để tôi luyện.
Giúp vợ chồng hiếm muộn cầu tự thành công với 4 mẹo phong thủy
Phong thủy phòng ngủ không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe, tài vận và sự nghiệp của chủ nhân mà còn quan hệ chặt chẽ với việc mang thai của người vợ. Sau đây là 4

2. Hành vi đoan chính, làm việc đúng đắn
Khi gia chủ không nghe ý kiến của người khác, tự nhiên tiểu nhân sẽ không ngừng kéo đến. Để tránh tiểu nhân, gia chủ nên có hành vi đoan chính, làm việc đúng đắn, học chắc mềm mỏng, "lấy nhu chế cương".   3. Sử dụng các biện pháp phong thủy
- Trên bàn làm việc hoặc ngăn kéo đặt giày phòng tiểu nhân và đá Tourmaline Nhờ công hiệu của đá Tourmaline để trừ tà, trị tiểu nhân, cùng với giày phòng tiểu nhân có ngụ ý "giẫm đạp tiểu nhân", đồng thời thường xuyên kiểm tra nhằm có tác dụng điều chỉnh tâm trạng bản thân, thay đổi cách nhìn của tiểu nhân, từ đó đẩy lui thị phi tiểu nhân đem lại.
Cac meo phong thuy don gian giup tranh tieu nhan hinh anh 2
 
- Đeo bên người đá đen hoặc thạch anh Ngoài các loại đá đen có công hiệu phòng tiểu nhân, thạch anh cũng là vật phẩm phong thủy có công hiệu. Nếu gia chủ kết hợp với nguyên tắc phong thủy thì hiệu quả càng được nâng cao.   - Tại lục sát phương trong nhà treo tranh hoa hướng dương Treo tranh hoa hướng dương tại huyền quan, phòng khách hoặc trạch vị trong nhà, lục sát phương chính là nơi tài vị không tốt, chịu thương tổn mà phá sản. Vậy nên, khi treo tranh hoa hướng dương nâng cao vận thế cho gia chủ, thu hút khách quý đến nhà, tránh tai nạn. 
Dự đoán hung cát dựa vào cách bói lúc tai phát nóng Chi Nguyễn
 

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Các mẹo phong thủy đơn giản giúp tránh tiểu nhân

Tử vi Bính thân Phân tích nạp âm lục thập hoa giáp

Sơn hạ Hỏa Bính Thân là khỉ trên núi, tính cách thông minh, nhanh nhẹn, tài cán hơn người, Sơn hạ Hỏa rực rỡ trong cây cỏ ánh sáng nơi lạnh

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Sơn hạ Hỏa Bính Thân là khỉ trên núi, tính cách thông minh, nhanh nhẹn. Người này biết trước biết sau, biết tiên lượng, tài cán hơn người, tính tình khảng khái. Sơn hạ Hỏa rực rỡ trong cây cỏ, ánh sáng nơi rừng lạnh. Nếu sinh vào mùa thu là được quý cách, có thể làm quan lớn. Mệnh này là Hỏa ưa Thủy, như: Gặp Địa chi Hợi, Tý hoặc nạp âm Thủy, lại ở vào các tháng Thân, Dậu.

Sơn hạ Hỏa thích có núi và cây, như được gió tăng thêm sự sáng, là mệnh cách  quý, như: Mậu Thìn, Kỷ Tỵ Đại lâm Mộc là gió, Quý Sửu Tang đố Mộc, canh Dần, Tân Mão Tùng bách Mộc, Mậu Tuất, Kỷ Hợi Bình địa Mộc đều là cát lợi. Nhưng cần tránh trường hợp có gió quá nhiều sẽ tản mát khí, không còn được cát lợi.

Bính Thân Mệnh này gặp được Giáp Thân, Ất Dậu Tịnh tuyền Thủy, Bính Tý, Đinh Sửu Giản hạ Thủy, lại có Mộc đến tương trợ chủ về có thể làm quan lớn, danh vị hiển hách. Cần tránh gặp Đại hải Thủy nhưng nếu có núi lại là quý cách. Lúc đó dù có gặp Giáp Dần Đại hải Thủy cũng trở nên cát lợi.

Nếu không có Hỏa, không có núi, lại thêm Mậu Tý, Kỷ Sửu Tích lịch Hỏa chủ về yểu thọ. Bính Ngọ, Đinh Mùi Thiên hà Thủy là mưa tụ, không nên gặp Bính Thân. Nếu mệnh này có sơn Thủy tương trợ thì có thể hóa giải được.

Các trụ khác có Kim, lấy sự thanh tú làm cát lợi. Ât Sửu Hải trung Kim chủ về sang quý. Bính Thìn, Đinh Tỵ Sa trung Thổ, có gió, nếu được thêm sơn Thủy tương trợ chủ về sang quý. Nếu không có chỉ là hư danh mà thôi.

Bính lộc tại Tỵ, Địa chi khác không thể có Dần, Thân, lộc gặp hình, chủ về một đời thiếu thốn tiền bạc, nên cần kiệm trong chi tiêu.

Thân mã tại Dần, Địa chi khác không thể gặp Tỵ, Thân, là Mã phạm hình. Người này không nên kinh doanh, có thể mất ở nơi đất khách quê ngưòỉ.

Bính Thân Không vong tại Thìn, Tỵ. Địa chi khác không nên có Thìn, Tỵ. Địa chi khác cần tránh có Dần, Tỵ, vì đó là phạm hình. 

Địa chi khác nên gặp Hợi, được quý nhân. Tuy nhiên khi gặp Hợi thường có tổn thương về ngũ quan trên cơ thể. Làm việc nên chủ động, tích cực, biểu hiện được khả năng làm việc cao.

Vào các năm Thân, Dần mệnh Bính thân trong nhà thường không được yên ổn. Tuy bản thân không bị tổn thương nhưng người trong nhà khó tránh khỏi họa.

Bính thân thì bạn đời không nên lấy người sinh năm Nhâm, Quý. Nên chọn người sinh năm Canh, Tân.

Các trụ khác có Hỏa, thưòng xảy ra nhiều biến động lớn, chủ về trước nghèo sau giàu. Nhật chi có Thìn, khắc thương vợ hoặc chồng. Thời chi có Thìn nên hiến thân cho tôn giáo.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tử vi Bính thân Phân tích nạp âm lục thập hoa giáp

Vu Lan báo hiếu, ngẫm về đạo làm con

Vu Lan báo hiếu, mỗi năm một lần nhưng hiếu thảo với cha mẹ, một đời không hết. Nhân ngày lễ Vu Lan, xin mạn bàn đôi chút về thái độ của con cái đối với cha mẹ.
Vu Lan báo hiếu, ngẫm về đạo làm con

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


► Tra cứu Lịch âm dương, Lịch vạn sự nhanh chóng và chuẩn xác nhất

Vu Lan bao hieu, ngam ve dao lam con hinh anh 2
 
Phật dạy trong trăm điều thiện, thì hiếu thảo là cái thiện hàng đầu, trong trăm phúc báo, thì hiếu thảo là phúc báo số 1. Cha mẹ cho hình hài, cho thân thể, cho yêu thương, con cái đáp đền bằng lòng hiếu thảo, ấy là cái lễ ở đời. Thế nên mới có ngày lễ Vu Lan báo hiếu – Rằm tháng 7, gợi nhắc về ý thức, tình cảm của con cái đối với cha mẹ.   Lễ Vu Lan nào phải cúng bái, lễ lạt gì mới đủ thành tâm, chỉ cần hàng ngày, hàng giờ ghi nhớ đôi điều sau đây là đủ:   1. Cha mẹ dạy bảo, con cái lắng nghe, ở thời điểm cho mẹ khuyên giải, nhất định phải cung kính tiếp nhận. Ở thời điểm cha mẹ trách phạt, nhất định phải khiêm tốn ăn năn, kiểm điểm bản thân, sửa đổi chính mình. Vì bậc làm cha làm mẹ nào trên thế gian này cũng đều một lòng mong con cái trưởng thành đức hạnh, mà con cái cãi lời chính là không có tâm cung kính.    2. Kiên nhẫn lắng nghe, trò chuyện cùng cha mẹ. Cha mẹ hiểu lầm, không giải thích cũng không sao, nhún một bước, nhẫn một chút, nóng nảy qua đi, cha mẹ con cái lại hòa bình. Trên đời này, bất cứ ai cũng có thể đến rồi đi, bất cứ ai cũng có thể từ quen thuộc trở thành xa lạ, từ gần gũi trở nên người dưng nước lã. Chỉ có cha mẹ với con cái là dù xa cách bao nhiêu cũng vẫn là người thân, người yêu nhất, không thể chối bỏ.
Vu Lan bao hieu, ngam ve dao lam con hinh anh 2
 
3. Yêu thương bản thân, yêu thương cha mẹ. Cha mẹ đánh con, cha mẹ đau, con đánh cha mẹ, cha mẹ đau. Vì thế, trong mối quan hệ cha mẹ - con cái, êm ấm thì cả hai hạnh phúc, bất hòa thì cha mẹ chịu khổ. Người làm cha làm mẹ luôn chịu thiệt thòi, nhường nhịn và bao dung với con cái. Cha mẹ nuôi con không kể tháng ngày, con nuôi cha mẹ con đếm từng ngày. Muốn hiếu với cha, với mẹ thì tốt với mẹ cha thôi chưa đủ, tốt với chính mình mới là sáng suốt, vì con hạnh phúc, cha mẹ khắc yên lòng. 
  Vu Lan báo hiếu, bông hồng màu đỏ cài áo những ai còn đang còn mẹ để báo hiếu, bông hồng trắng trên những khuôn ngực không thôi nỗi đau mất mẹ. Dù là bất kì ai, ngày này hãy một lần ngẫm về chữ hiếu, hướng đến đấng sinh thành, tự thấy mình đã là đứa con ngoan?
Chớ nhầm lẫn giữa lễ Vu Lan và lễ cúng Cô hồn Tháng 7 âm lịch - tháng của tâm linh Tiết Trung Nguyên
Tâm Lan
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Vu Lan báo hiếu, ngẫm về đạo làm con

Thiên Địa Nhân của Tứ trụ

Các Can và Chi trong tứ trụ tượng trưng cho khí âm dương của ngũ hành của trời và đất. Thiên tức là thiên can chủ về trời, là Thiên nguyên (tức là các nguyên nhân này do ông trời quyết định.
Thiên Địa Nhân của Tứ trụ

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

I – Thiên địa nhân 

Các Can và Chi trong tứ trụ tượng trưng cho khí âm dương của ngũ hành của trời và đất. 
Thiên tức là thiên can chủ về trời, là Thiên nguyên (tức là các nguyên nhân này do ông trời quyết định – tức bởi 10 vật thể lớn nhất trong hệ mặt trời gây ra). Chúng chính là các can đã lộ ra trong tứ trụ của từng người.
Địa tức là địa chi chủ về xã hội mà con người đang sống trên mặt đất, là Địa nguyên. 
Nhân tức là con người được tạo ra trong trời và đất, do vậy trong mỗi địa chi của tứ trụ có chứa từ 1 đến 3 can, đó chính là các thần đặc trưng cho khả năng chủ quan của người có tứ trụ, là Nhân nguyên
Sự dự đoán tổng hợp của tam nguyên (Thiên Địa Nhân) là một thể thống nhất trong mệnh lý học, nó có một ý nghĩa vô cùng quan trọng bởi vì nó có thể chỉ ra toàn bộ tiền đồ, cát, hung, họa, phúc ....của cả một đời người. Nếu kết hợp tứ trụ với tướng tay và tướng mặt để dự đoán thì điều dự đoán có thể đạt đến sự chính xác, chi tiết đến kỳ diệu. 

II – Thiên nguyên 

Thiên nguyên trong tứ trụ chính là các can của trụ năm, tháng và giờ, đó là ba thần. Đối với tứ trụ có một tổ hợp trong sáng và đẹp thì ba thần này thường sẽ là : Thực hay Thương sinh Tài, Tài sinh Quan hoặc Sát, Quan hay Sát sinh Ấn, Thực thần chế Sát, Thương quan hợp Sát, Thương quan hoặc Thực thần mang Ấn, Tài Quan Ấn đều có... Những tổ hợp này thường là các yếu tố báo hiệu những mệnh phú quý.

1 – Ngũ hợp của thiên can 
Vì các thiên can là khí của ngũ hành nên chúng có hai tính chất tương sinh và tương khắc với nhau (như đã nói ở trên) ngoài ra chúng còn có các tính chất hợp và biến đổi để tạo ra các hóa cục. 
Thiên can chỉ có thể hợp với nhau khi chúng ở gần nhau. Gần ở đây có nghĩa là can trụ năm với can trụ tháng, can trụ tháng với can trụ ngày, can trụ ngày với can trụ giờ, các can trong tứ trụ với can đại vận và lưu niên, can đại vận và can lưu niên với can tiểu vận.

2 – Tính chất của ngũ hợp 
Giáp hợp với Kỷ, tức là hợp với người hay sự việc là sự hợp trung chính.
Ất hợp với Canh, tức là hợp với người hay sự việc là hợp nhân nghĩa.
Bính hợp với Tân, tức là hợp với người hay sự việc là sự hợp có uy lực để chế ngự. 
Đinh hợp với Nhâm, tức là hợp với người hay sự việc là sự hợp dâm loạn. 
Mậu hợp với Quý, tức là hợp với người hay sự việc là sự hợp vô tình. 

5 tổ hợp này được gọi là ngũ hợp.

3 - Thiên can hợp với nhau có thể hóa cục
Giáp hợp với Kỷ có thể hóa được thành Thổ.
Ất hợp với Canh có thể hóa được thành Kim.
Bính hợp với Tân có thể hóa được thành Thủy.
Đinh hợp với Nhâm có thể hóa được thành Mộc.
Mậu hợp với Quý có thể hóa được thành Hỏa.

Các hóa cục này có khả năng sinh, phù hay khắc chế Thân. 

4 – Quy tắc hợp và hóa của các thiên can trong tứ trụ 
Các thiên can trong tứ trụ hợp được với nhau chỉ khi chúng ở gần nhau. Cần phân biệt hai trường hợp, các can hợp với nhau hóa được hay chỉ hợp mà không hóa. 
a – Can ngày chỉ hợp được với can tháng và can giờ. Nếu can ngày chỉ hợp với can tháng hay can giờ thì chúng không thể hóa được cục nếu trong tứ trụ xuất hiện hành quan-sát của hóa cục này (nghĩa là hành khắc hành của hóa cục này, kể cả hành quan-sát này chỉ có các can tàng phụ (?)) mặc dù có hành của chi tháng hay hành của hóa cục của chi tháng là hành dẫn hóa, còn nếu 2 can hợp với 1 can thì ngũ hợp này không bao giờ có thể hóa được cục. 

b – Ngũ hợp của can trụ năm với can trụ tháng có thể hóa cục chỉ khi hành của chi tháng hay hành hóa cục của chi tháng là hành dẫn hóa hay còn được gọi là thần dẫn (nó giống như chất xúc tác trong các phản ứng hóa học). 

Ví dụ : Mậu ở trụ năm hợp với Quý ở trụ tháng hóa thành Hỏa cục chỉ khi chi tháng (chi của trụ tháng) là Tị, Ngọ (vì hành của Tị và Ngọ là Hỏa) hay chi tháng đã hóa thành Hỏa cục, vì vậy các chi Tị, Ngọ hay Hỏa cục ở chi của trụ tháng được gọi là các thần dẫn cho các hóa cục của các thiên can. 

5 – Quy tắc hợp và hóa của các can giữa tứ trụ, tuế vận và tiểu vận 

a – Ngũ hợp chỉ có 2 can
1 - Ngũ hợp của các can trong tứ trụ (kể cả can ngày bởi vì khi nó hợp với tuế vận, nó được xem như các can khác và nó không làm cho hành của Thân thay đổi khi nó hóa thành các hành khác nếu hành của Thân chỉ có can ngày) với can đại vận hóa cục chỉ khi hành của chi tháng hay chi đại vận (mặc dù các chi này đã hóa cục có hành khác với hành của các chi này) cũng như hành của hóa cục của chi tháng hay chi đại vận (nếu chúng hóa cục) có khả năng dẫn hóa cho ngũ hợp này (nghĩa là hành của thần dẫn giống với hành của ngũ hợp này).
2 - Ngũ hợp của can trong tứ trụ với can lưu niên hóa cục...nó tương tự như câu trên khi thay đại vận thành lưu niên, chỉ có khác là hành của chi lưu niên cũng có khả năng dẫn hóa nếu chi lưu niên là động (khi nó bị xung, khắc hay hợp hóa cục hay không hóa cục bởi các chi khác). 
3 – Ngũ hợp của can đại vận với can tiểu vận hóa cục.... nó tương tự như can trong tứ trụ hợp với can đại vận nhưng có thêm chi tiểu vận (nghĩa là hành của chi tiểu vận) cũng có khả năng dẫn hóa như chi đại vận nếu nó là động (tức là nó bị xung, khắc hay hợp hóa cục hay không hóa cục bởi các chi khác).
4 - Can lưu niên hợp với can tiểu vận hóa cục tương tự như can trong tứ trụ hợp với can lưu niên hóa cục nhưng có thêm chi tiểu vận cũng có khả năng dẫn hóa như chi đại vận nếu nó là đông (tức là nó bị xung, khắc hay hợp hóa cục hay không hóa cục bởi các chi khác.
5 – Can đại vận hợp với can lưu niên hóa cục chỉ khi hành của các chi trụ tháng, đại vận hay lưu niên (riêng chi lưu niên phải động) cũng như hóa cục của các chi này (nếu chúng hóa cục) là thần dẫn. 

b – Ngũ hợp có từ 3 can trở lên
Các ngũ hợp này được gọi là tranh hợp nên chúng không có khả năng hóa cục. Do vậy các can của chúng luôn luôn khắc nhau nếu là tranh hợp giả và không khắc được nhau nếu là tranh hợp thật.
1 - Tranh hợp thật của thiên can chỉ xẩy ra khi có 2 can giống nhau có hành là chủ khắc ở tuế vận hợp với can tiểu vận hay hợp với 1 hay nhiều can giống nhau trong tứ trụ hoặc hợp với can tiểu vận và các can giống với can tiểu vận ở trong Tứ Trụ.
2 - 2 can là chủ khắc giống nhau ở trong tứ trụ hợp với 1 can của tuế vận hay 2 can của tuế vận nếu chúng giống nhau. 
Giải thích về tranh hợp thật của thiên can giống như tranh hợp thật của địa chi (xem phía dưới).

Khi các thiên can hợp với nhau hóa cục có hành mới thì ta phải lấy hành mới này để luận, như vậy thì hành cũ của các can trong hóa cục này đã hoàn toàn mất đi tác dụng của chúng, còn nếu chúng hợp với nhau mà không hóa thì chỉ có các can trong tổ hợp mới có khả năng tác dụng được với nhau nhưng chúng không có khả năng tác dụng với các can khác ngoài tổ hợp này (trừ các chi cùng trụ với chúng sẽ nói sau).

III - Địa nguyên 

Các địa chi trong tứ trụ là địa nguyên. Địa nguyên đại diện cho xã hội của con người nên rất phức tạp. Đủ thứ phát sinh trong cái xã hội này, như đâm, chém, giết nhau... người ta gọi là xung, khắc. Tụ tập thành từng nhóm, từng hội thành các đảng phái, tôn giáo... khác nhau người ta gọi là hội, hợp. Người này lừa đảo, hãm hại người kia người ta gọi là hình, hại. Tự mình làm khổ mình người ta gọi là tự hình,…..Sự hình, xung, khắc, hại, hội và hợp của các địa chi có ảnh hưởng rất lớn đối với Thân.
Giữa các địa chi với nhau các sách cổ chỉ nói đến hình, xung, khắc, hóa, hội, hợp và hại mà không nói đến sự tương sinh (phải chăng địa chi không có khả năng sinh cho nhau (?)). 

Tôi đã chứng minh được thiên can và địa chi trong cùng trụ có thể sinh cho nhau và một ví dụ có thể chứng minh được các thiên can cũng có thể sinh được cho nhau (?) (xem ví dụ số 148). 

1 - Lục hợp của địa chi 
Tý....hợp với Sửu có thể hóa thành Thổ cục.
Ngọ...........Mùi..................Thổ cục.
Dần...........Hợi..................Mộc cục.
Mão...........Tuất.................Hỏa cục.
Thìn..........Dậu..................Kim cục.
Tị............Thân.................Thủy cục.

Sáu tổ hợp trên được gọi là lục hợp chỉ có khi các chi của chúng ở gần nhau (gần của địa chi tương tự như gần của thiên can). Lục hợp chủ yếu đại diện cho quan hệ vợ chồng hay giữa nam với nữ. 

2 – Tam hợp của địa chi 
Thân Tý Thìn hợp với nhau có thể hóa thành Thủy cục.
Hợi..Mão Mùi ..........................................Mộc cục.
Dần..Ngọ Tuất..........................................Hỏa cục.
Tị..Dậu Sửu............................................Kim cục.

Tam hợp không cần các chi của chúng phải gần nhau. Tam hợp chủ yếu đại diện cho các tổ chức, đoàn thể, đảng phái chính trị....

3 - Các bán hợp của địa chi 
Thân bán hợp với Tý hay Tý bán hợp với Thìn có thể hóa thành Thủy cục.
Hợi......................Mão hay Mão............Mùi.......................Mộc cục.
Dần......................Ngọ hay Ngọ............Tuất......................Hỏa cục.
Tị.........................Dậu hay Dậu............Sửu.......................Kim cục.

Bán hợp chỉ có khi các chi của chúng ở gần nhau. Bán hợp chủ yếu đại diện cho các tổ chức nhỏ phi chính trị. 

Trong tứ trụ có lục hợp, tam hợp hay bán hợp là chủ về người đó có dung nhan đẹp, tính cách thanh lịch, thần khí ổn định, yêu cuộc sống, lòng dạ thẳng thắn, linh lợi, thông minh hoạt bát (xét về hợp). Nếu các tổ hợp này hóa thành (cục) hỷ dụng thần là tốt (trừ chúng gây ra Đại Chiến), còn hóa thành kỵ thần là xấu (xét về hành của hóa cục).

4 – Tam hội của địa chi 
Tam hội của Dần Mão Thìn..về phương Đông có thể hóa thành Mộc cục. 
Tam.............Tị Ngọ Mùi....về phương nam..có thể hóa thành Hỏa cục. 
Tam.............Thân Dậu Tuất.về phương Tây..có thể hóa thành Kim cục. 
Tam.............Hợi Tý Sửu....về phương Bắc..có thể hóa thành Thủy cục. 

Tam hội không cần các chi của chúng phải gần nhau. Tam hội chủ yếu đại diện cho các tổ chức tôn giáo.

Vì khí của tam hội cục sẽ hội tụ về một phương (tôn thờ một vị thánh), cho nên khí âm dương ngũ hành của nó là vượng nhất, sau đó mới đến tam hợp, bán hợp rồi mới đến lục hợp. Các sách cổ thường nói trong tứ trụ có từ 3 tổ hợp trở lên thường là người có tài đối với nam, còn là dâm loạn đối với nữ (thời nay câu này là sai với nữ). 

5 - Lục xung của địa chi 
Tý....với..Ngọ...là tương xung
Mão........Dậu................ 
Dần........Thân............... 
Tị...........Hợi................ 
Thìn.......Tuất...............
Sửu.........Mùi................ 

Trong đó: 
Tý với Ngọ, Tị với Hợi là sự xung-khắc của Thủy với Hỏa. 
Dần với Thân, Mão với Dậu là sự xung-khắc của Kim với Mộc. 
Duy chỉ có thìn với Tuất và Sửu với Mùi là giống nhau về hành, vì vậy chỉ nói đến xung không nói đến khắc.

Trong đó:
Các lực xung-khắc của Tý với Ngọ và Dậu với Mão là các lực xung-khắc mạnh nhất, vì chúng đại diện cho các lực xung-khắc chính phương là Đông (Mão) với Tây (Dậu) và Nam (Ngọ) với Bắc (Tý). Sau đó mới đến lực xung-khắc của Dần với Thân và Tị với Hợi vì phương xung-khắc của nó không đúng chính phương, cuối cùng mới là lực xung của Thìn với Tuất và Sửu với Mùi.

6 – Tương hại của địa chi 
a - Tý.....và...Mùi...hại với nhau, tức là Tý....hại...Mùi, .Mùi...hại...Tý 
b - Sửu...............Ngọ........................Sửu.........Ngọ, .Ngọ.........Sửu
c - Dần.................Tị...........................Dần...........Tị,.....Tị..........Dần
d - Mão................Thìn.......................Mão.........Thìn, Thìn........Mão
e - Thân...............Hợi........................Thân........Hợi,..Hợi.........Thân 
f - Dậu.................Tuất.......................Dậu ........Tuất,.Tuất........Dậu

Lục hại trên được sinh ra từ lục hợp :
Ví dụ 1: Lục hợp (gia đình) của Ngọ với Sửu bị phá tan khi có Tý đến xung Ngọ, vì vậy Tý đã hại Mùi (làm cho gia đình của Ngọ với Mùi bị tan vỡ). 
Ví dụ 2 : Lục hợp của Tý với Sửu có thể bị phá tan khi có Mùi đến xung Sửu, vì vậy Mùi đã hại Tý (làm cho gia đình của Tý với Sửu có thể bị tan vỡ).....

Người gặp các hại trên, sợ nhất ở trụ ngày và trụ giờ. Thường đối với người như vậy thì về già hay bị tàn tật hoặc không có nơi nương tựa. Nếu còn gặp Kình dương thì không chúng phải mũi tên, hòn đạn cũng dễ gặp phải hổ (?). Hình, tự hình và hại nói chung là xấu nhưng nếu bị hợp hóa cục, hoặc bị khắc có thể giải được, còn bị xung (kể cả thổ) thì chỉ giảm đi một phần. 

7 – Tương hình của địa chi 
Tý hình Mão, Mão hình Tý là hình phạt do vô lễ mà dẫn đến.
Dần hình Tị, Tị hình Thân, Thân hình Dần là hình phạt do đặc quuyền đặc lợi dẫn đến.
Sửu hình Mùi, Mùi hình Tuất, Tuất hình Sửu là hình phạt do cậy quyền cậy thế gây lên . 
Tương hình chủ yếu được gây ra từ tam hợp, nó nghĩa là những người trong cùng hay khác các đoàn thể, đảng phái chính trị lừa đảo, hãm hại nhau.

8 - Tự hình của địa chi 
Thìn tự hình Thìn, Dậu tự hình Dậu, Ngọ tự hình Ngọ, Hợi tự hình Hợi là do tự mình gây lên. Các sách cổ có viết: “Tự hình sợ nhất là năm và tháng lại có thêm sát thì nhất định bị tổn thương, hoặc không bị giam cầm thì cũng bị chết cháy, hay gặp nạn binh đao mất đầu “.

9 - Tứ hình của địa chi 
Thìn, Ngọ, Dậu, Hợi được gọi là tứ hình. Trong tứ trụ phải có ít nhất 3 chi khác nhau của tứ hình và đến năm có thái tuế là chi thứ 4 thiếu thì tứ hình này mới được coi là xấu, còn ngoài ra cho dù tứ trụ với tuế vận có đủ tứ hình cũng không có tác dụng gì cả.

10 - Tứ trự hình của địa chi

Tứ Tự Hình là phải có ít nhất 4 chi giống nhau của Tự Hình là Thìn, Dậu, Ngọ hay Hợi.

(Cách giải cứu cho tất cả các loại hình, tự hình và hại này là giống nhau.) 

11 – Quy tắc hợp và hóa của các địa chi trong tứ trụ 
Ta gọi các tổ hợp của các can chi trong tứ trụ chưa có tuế vận vẫn hóa được cục là hóa cục có từ khi mới sinh

a - Các bán hợp hay lục hợp của các địa chi trong tứ trụ hợp được với nhau chỉ khi 2 chi này phải ở gần nhau trong tứ trụ, trừ tam hợp và tam hội. Các bán hợp, lục hợp, tam hợp hay tam hội hóa thành cục chỉ khi trong tứ trụ hay ở tuế vận có thần dẫn.
Các thần dẫn cho các tổ hợp của các địa chi hóa cục chính là các can lộ trong tứ trụ hay ở tuế vận cũng như các hóa cục của thiên can có hành giống với hành của hóa cục mà các tổ hợp của các địa chi đó sẽ hóa thành (chú ý can tiểu vận chỉ dẫn hóa được cho tổ hợp của chi tiểu vận).

Ví dụ: Trong tứ trụ có Tý trụ năm và Sửu trụ tháng ở gần nhau, vì vậy chúng có thể hợp được với nhau và tổ hợp này được gọi là lục hợp, nhưng lục hợp này hóa được Thổ cục chỉ khi có thần dẫn là các can lộ xuất hiện trong tứ trụ hay ở tuế vận như Mậu, Kỷ hoặc các Thổ cục của các can (nếu gặp Tý hay Sửu ở tuế vận thì Thổ cục này được xem là mạnh hơn).

b - Nếu bán hợp hay lục hợp có 3 chi liền nhau mà 2 chi bên ngoài giống nhau hợp với chi ở giữa thì được coi là tranh hợp nên không thể hóa cục được (trừ khi 1 liên kết của chúng bị phá).
c - Nếu bán hợp hay lục hợp có 3 chi liền nhau trong đó 2 có chi liền nhau là giống nhau thì chỉ có chi ở gần chi thứ 3 mới có thể hợp với nó và hóa cục. 

12 – Quy tắc hợp và hóa giữa các địa chi giữa Tứ Trụ với tuế vận và tiểu vận 
a - Tất cả các tổ hợp của các địa chi giữa tứ trụ, tuế vận và tiểu vận có thể hợp được với nhau và hóa cục nếu có thần dẫn.
b – Các chi trong tứ trụ hợp với chi đại vận hay thái tuế (được xem như hợp gần) nhưng chúng không thể hợp trực tiếp được với chi tiểu vận.
c – Chi tiểu vận chỉ hợp được với chi đại vận và thái tuế (cũng được xem là hợp gần) hay nó cùng với các chi giống nó ở trong tứ trụ hợp với các chi tuế vận thì can tiểu vận cũng có thể làm thần dẫn cho tổ hợp này hóa cục, nhưng chi tiểu vận không thể hợp trực tiếp được với các chi trong tứ trụ.

f – Địa chi tranh hợp thật : 
1 - Nếu chỉ có 2 chi giống nhau mang hành chủ khắc cùng ở trong tứ trụ hợp với chi đại vận hay thái tuế hoặc hợp với cả chi đại vận và thái tuế (nếu chúng giống nhau) thì tổ hợp này được gọi là tranh hợp thật nên chúng không thể hóa được cục.
2 – Nếu chi đại vận và thái tuế giống nhau có hành là chủ khắc hợp với chi tiểu vận hay hợp với một hay với nhiều chi giống nhau trong Tứ Trụ cũng như hợp với chi tiểu vận và các chi trong Tứ Trụ giống với chi tiểu vận thì tổ hợp này cũng được gọi là tranh hợp thật nên nó cũng không thể hóa được cục.

Giải thích :
Nếu trong tứ trụ có 2 Thìn hợp với Tý ở đại vận hay thái tuế thì 2 Thìn là Thổ khắc được Tý là Thủy nên 2 Thìn mang hành chủ khắc, còn chi Tý mang hành bị khắc. Hiểu đơn giản như 2 ông làm sao lấy chung một bà bao giờ đâu. Nhưng 2 Tý trong tứ trụ hợp với Thìn ở đại vận hay Thìn thái tuế vẫn có thể hóa Thủy được (nếu có thần dẫn), vì thực tế có nhiều bà vẫn lấy chung 1 ông. 
Vì sao 2 chi chủ khắc này phải cùng ở tuế vận hay cùng ở trong Tứ Trụ ? Bởi vì chỉ có như vậy thì thế lực của chúng mới tương đương với nhau để cho cuộc chiến mới không phân thắng bại, chính vì vậy mà chúng mới không có thì giờ rảnh để hợp với cô gái kia hòng tạo ra được sản phẩm (hóa cục).

3 - Nếu 4 chi hợp với 1 chi, trong đó chỉ có 2 chi giống nhau ở trong tứ trụ hợp với chi ở đại vận hay thái tuế là tranh hợp thật thì tổ hợp của 5 chi này không hóa cục được (?) (ví dụ 155). 
4 - Nếu có từ 3 chi giống nhau trở lên (trừ câu 2) là chủ khắc hợp với 1 hay nhiều chi giống nhau thì không phải là tranh hợp thật nên vẫn có thể hóa cục (?) (xem ví dụ 165).

Giải thích :
Bởi vì khi 2 thằng đàn ông đánh nhau thì thằng thứ 3 được tự do có thể “hợp” với cô gái đó..., vì vậy cả 3 thằng này đều có cơ hội để “hợp” được với cô gái đó tạo ra… (điều này khác với thiên can, vì người trần mắt thịt khác với các vị thần ở trên trời chăng ?) 

13 - Thiên Khắc Địa Xung 

A - Thiên khắc địa xung 
Có 3 loại thiên khắc địa xung (TKĐX): 
1 – TKĐK và TKĐX có chi không phải là Thổ.
2 – TKĐX có chi là Thổ. 
3 – TKĐK* và TKĐX* có chi là Thìn và Tý chỉ khi các chi của chúng ở gần nhau.
TKĐK là trong 1 trụ có cả can và chi đều là chủ khắc, còn TKĐX thì trong 1 trụ chỉ có can chủ khắc còn chi chỉ là chủ xung. 

B – Các can và chi là chủ xung hay chủ khắc 
1 - Các can chủ khắc, nó nghĩa là can đó phải khắc được can khác như : 
Giáp....khắc...Mậu..............Ất......khắc....Kỷ 
Bính...............Canh.............Đinh............Tân 
Mậu................Nhâm.............Kỷ..............Quý 
Canh ..............Giáp.............Tân..............Ất
Nhâm...............Bính.............Quý.............Đinh. 

2 - Các chi chủ khắc, nó nghĩa là chi đó phải khắc được chi khác như:
Tý.....khắc....Ngọ
Dậu..............Mão
Hợi...............Tị
Thân..............Dần 
Thìn..............Tý

3 - Các chi chủ xung, nó nghĩa là chi đó chỉ xung được chi khác như : 
Ngọ....xung....Tý................Thìn....xung.....Tuất
Mão...............Dậu...............Tuất.............Thìn
Tị...................Hợi...............Sửu..............Mùi
Dần...............Thân..............Mùi..............Sửu 
Tý...................Thìn. 

Ta thấy số trường hợp TKĐX nhiều hơn TKĐK, do vậy ở đây chúng ta gọi chung hai loại này là TKĐX và ở đây quy ước nói trụ nào trước cũng được vì lực của TKÐX được tính cả 2 chiều.

Ví dụ : 
1 - Trụ Giáp Tý TKĐK với trụ Mậu Ngọ bởi vì trụ Giáp Tý có Giáp khắc Mậu và Tý khắc Ngọ.
2 - Trụ Giáp Ngọ TKĐX với trụ Mậu Tý bởi vì trụ Giáp Ngọ chỉ có Giáp khắc Mậu còn Ngọ chỉ xung Tý. 
3 - Trụ Giáp Thìn TKĐX với Mậu Tuất bởi vì trụ Giáp Thìn chỉ có Giáp khắc Mậu còn Thìn chỉ xung Tuất.

14 – Thời gian của các trụ trong tứ trụ mang vận hạn 

Trụ năm mang vận hạn từ khi mới sinh đến tròn 15 tuổi.
Trụ tháng mang vận hạn từ 15 tuổi đến tròn 30 tuổi.
Trụ ngày mang vận hạn từ 30 tuổi đến tròn 45 tuổi.
Trụ giờ mang vận hạn từ 45 tuổi tới tròn 65 tuổi.
Từ 65 tuổi trở đi trụ năm mang vận hạn (hay là ở cả 4 trụ ?). 

Nếu lưu niên và trụ đang mang vận hạn TKĐX với nhau thì điểm hạn của tất cả các lực xung hay khắc vào trụ này đều phải tăng gấp đôi, trừ can chủ khắc của nó ở lưu niên nhược ở tuế vận. 
Xem các giả thiết từ số 166/ tới 168/ ở chương 14.

IV - Nhân nguyên 

Địa chi tàng chứa từ 1 đến 3 can, các can tàng này được gọi là Nhân nguyên (các nguyên nhân của người). Các can tàng này chính là 10 thần, là các thần nắm sự việc,.... chúng đại diện cho các yếu tố chủ quan của người có tứ trụ. Do vậy chúng ta rất khó dự đoán được các yếu tố này khi nào sẽ phát sinh và biểu hiện ra bên ngoài. Thiên can đã lộ ra trong tứ trụ (can năm, can tháng và can giờ) cũng có các đặc tính như vậy nhưng vì nó đã lộ ra ngoài nên dễ nhận biết được để dự đoán.

1 – Các can tàng trong địa chi 
Quý....................tàng trong Tý...........Kỷ, Tân và Quý.....tàng trong Sửu 
Giáp, Bính và Mậu ..............Dần..........Ất....................................Mão 
Mậu, Quý và Ất..................Thìn.........Bính, Canh và Mậu................Tị 
Đinh và Kỷ.........................Ngọ..........Kỷ, Ất và Đinh.....................Mùi 
Canh, Nhâm và Mậu...........Thân.........Tân...................................Dậu 
Mậu, Đinh và Tân................Tuất.........Nhâm và Giáp........................Hợi 

Chú ý : Can tàng có cùng hành với hành của địa chi mà nó tàng được gọi là can tàng bản khí hay chính khí (bởi vì nó có lực mạnh hơn các lực của các can tàng khác trong địa chi đó) còn các can tàng khác trong địa chi này (nếu có) được gọi là can tàng phụ.

Ví dụ 1 : Tị tàng chứa các can Bính, Mậu và Canh trong đó Bính là can tàng mang bản khí hay khí chính (tức là hành Hỏa là hành chính của Tị), vì vậy Bính có lực mạnh hơn lực của Mậu và Canh chỉ mang hành là tạp khí hay khí phụ là Thổ và Kim. Mậu và Canh được gọi là can tàng phụ. 
Ví dụ 2 : Dậu chỉ có chứa 1 can tàng Tân là bản khí, không có tạp khí.

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Thiên Địa Nhân của Tứ trụ

Luận về cách giải đoán một lá số tử vi

Bài viết chia sẻ về cách luận về cách giải đoán một lá số tử vi của cụ Hoàng Hạc. Mời bạn đọc cùng tham khảo!
Luận về cách giải đoán một lá số tử vi

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Bài viết của cụ HOÀNG HẠC

Cái khó của phép đoán tử vi

Phép đoán số Tử vi chẳng phải lấy năm, tháng, ngày, giờ lật sách ra mà ghi vào. Rồi nhìn vào đó, coi Miếu, Vượng…hay lạc hãm mà cho là tốt, xấu. Cái học về Tử vi là cái học Trương Đối Luận, tất cả đều chung vào một cái lý chung. Nhất là phải rành luật Âm Dương và Ngũ hành sinh khắc chế hóa. Quí bạn phải thật rành Dịch học trước đã, rồi mới đi vào Tử vi, nó gồm cả Dịch lý. Nhất là mấy đạo (trung) làm gốc, tức là lấy luật quân bình làm chính yếu. Nói đến những luật căn bản ấy thật là dài dòng, ít ra phải cần một quyển sách cả nghìn trang mới có thể nói sơ sơ những nguyên lý chính, lại còn phải biết áp dụng nữa là khác. Biết áp dụng là cả một nghệ thuật mà tôi đã nhiều lần bàn bạc với các cụ giỏi về Tử vi. Họ cũng đã thú thật là vô cùng khó khăn. Ngay cả sự thuận nghịch của Âm Dương là vô cùng khó khăn rồi, diệu dụng cực kỳ phức tạp. Hiểu nó, đâu phải bậc thường thường là hiểu nổi, và như thế cần nhiều công phu nghiền ngẫm mới có thể hiểu lần lần mà thôi.

Tất cả mọi khoa bói toán của Trung hoa đều căn cứ vào Dịch học nhưng khoa Tử vi có thể gọi là khoa gồm nắm cả Dịch học trong đó nhiều nhất, cả các khoa Nhâm độn cũng không lìa khỏi. Nó là cả một Vũ trụ quan gồm cả quá khứ hiện tại và vị lai

Nói thế không phải để cho quí bạn ngán. Nhưng là để quí bạn thận trọng. Các khoa khác đều chỉ biết một khía cạnh nào của hiện tại, để đoán một khía cạnh nào của tương lai kế cận, chớ không như lá số Tử vi có thể bao gồm cả tiền kiếp, hiện kiếp…và cả tương lai gần và xa đến hơi thở cuối cùng. Các bậc tu hành chính cống không một ai là không biết xem lá số của mình, không phải để mong cầu được phú quý mà mừng…hay chỉ để xu kiết tị hung mà thôi đâu. Mục đích của họ là để tu. Tôi chỉ nói sơ qua cái công dụng cao cả của nó.

Xét về năm, tháng và ngày, giờ sanh, âm hay dương.

Như đã nói: trước khi xem lá số nào, cần phải rõ Âm Dương, Ngũ hành của cái tuổi, cái tháng sinh cái ngày sanh và cái Giờ sinh trước hết.

Xin thử lấy một thí dụ là dễ nói hơn.

Đây là lá số của một người đàn ông, tuổi Mùi. Bạn thử tra rồi rõ. Trước hết phải biết cả Thiên can Địa chi của năm tháng, ngày giờ của tuổi này. Tôi thí dụ: Tuổi Đinh mùi, tháng 6, tức là tháng Đinh Mùi. Ngày mùng 2, tức là ngày Tân Dậu. Giờ sửu, tức là giờ Quý Sửu.

Giờ Ngày Tháng Năm
Quý Tân Đinh Đinh
Sửu Dậu Mùi Mùi

Cứ nhìn qua và để ý đến Âm Dương ngũ hành ta thấy cả 8 chữ ấy đều thuộc Âm cả, mà tuổi này là tuổi âm nam.

Theo phép, cả thảy thuần âm hay thuần dương là hay nhất. Bọn người Thuần Dương hay Thuần âm là những tay đáo để nhưng nếu đàn ông mà Thuần Dương, không hay bằng Thuần Âm. Và trái lại đàn bà Thuần Âm, không hay bằng Thuần Dương.

Đó là điều đầu tiên phải ý thức. Như ta đã thấy trong hàng giờ, ngày, tháng, năm ghi trên. Thời hàng Thiên Can là Âm cả, mà hàng Địa chi cũng thuộc về Âm cả. Nếu là đàn bà thì không mấy hay, nhưng là đàn ông thì hay nhất. Ta biết liền người này trong đời ít bị tai nạn dữ dằn, vì Âm thì nhu thuận. Theo phép đoán Năm sanh thuộc Âm thì Tháng sinh phải thuộc Âm mới thuận; Ngày sinh thuộc Dương, tháng sinh thuộc Âm là nghịch. Nếu cả thảy đều thuộc Âm hay thuộc Dương thì rất tốt. Đó là điều thứ nhất phải biết qua thì sự thuận nghịch giữa năm sinh, tháng sinh, ngày sinh và giờ sinh…

Năm, tháng, Ngày, Giờ tương sinh, tương khắc

Điểm thứ hai: Xem về lẽ tương sinh tương khắc của năm và tháng ngày giờ. Như năm Thủy, tháng phải là Mộc hay Thủy là tốt. Ngày sinh thuộc Hỏa, giờ sinh thuộc Thổ là tốt. Trái lại, khắc nhau là xấu. Lấy theo thứ tự nếu được năm sinh tháng, tháng sinh ngày, ngày sinh giờ thì rất tốt. Bằng không thì chỉ hai cặp Năm sinh tháng, Ngày sinh Giờ cũng tốt

Mạng và Cục

Điểm thứ ba: xem Mạng và Cục. Mạng sinh Cục tốt hơn Cục sinh Mạng. Còn về twowg khắc thì Cục khắc Mạng, tuy xấu nhưng không bằng Mạng khắc Cục, rất xấu, vì nó làm cho suy giảm độ số rất nhiều, dù số tốt bực nào.

Cung an mệnh

Điểm thứ tư: Coi tuổi Dương mà an Mạng tại cung Dương là thuận, còn tại cung Âm là nghịch. Suốt đời thường không được vui vẻ, có nhiều công việc bất đắc chí, nghĩa là thường bất mãn, gặp nhiều ngang trái.

Tuy vậy không phải thuận cảnh là hay đâu. Gặp nghịch cảnh để làm cho mình vượt bực và có nhiều cố gắng đã thành công.

Các vĩ nhân cần có nhiều cảnh Còn thành công hay chăng còn tùy lá số và các chi tiết khác. Nhìn sơ qua Bổn mạng…và cung An Mạng là biết sơ đại khái về cuộc đời người ấy rồi.

Coi ngũ hành các chính tinh

Đến khi lập thành lá số rồi, phải nhìn đến ngũ hành các chính tinh (tức là của vòng sao Tử vi) coi được miếu vượng hay hãm địa. Nhất là coi có hợp mạng của người xem không?
Kỵ nhất là chính tinh và Mạng khắc nhau

(….mờ quá không nhìn được, mất trang)

Hành Thủy sinh Mộc, là nguyên ý nhưng có khi Thủy chả sinh gì được Mộc cả là như trường hợp Đại hải Thủy thì làm gì sinh Dương liễu mộc hay bình địa mộc. Nước biển mà tưới cây…thì không thành vấn đề, hơn nữa nó là nước biển thì làm sao chảy vào cản cây cối trên đồng bằng để thấm nhuần gốc rễ? Nếu là “giang hà, thủy hoặc là “thiên hà thủy” (tức là nước trời mưa) thì tự nhiên có thể giúp ích cho cây cối sởn sơ.

CÒn như nhiều người cho rằng Mộc khắc Thổ, nhưng nếu là “thổ” (đất) trên thành, thì Mộc khắc thổ ấy làm gì – Huống chi Thổ là để nuôi Mộc: Cây mà không đất làm sao sống, như cây thiếu nước cũng vậy. Vì vậy mà Thổ và Thủy là điều kiện tất yếu của Mộc, và thổ với Thủy cùng đồng một nguồn gốc Trường sinh, đâu có khác nhau. Thổ khắc Thủy là nhờ Thủy thấm vào Thổ mà Thổ được nhuận mềm và trở thành hữu dụng, nhưng Thủy mà nhiều quá thì Thổ bị lấp đi…, cũng không dùng được.

Chồng mạng Thổ mà là “bích thượng thổ” gặp vợ mạng Kim cũng đâu có ích gì? Là bởi “đất ấy” làm sao sinh ra vàng; cũng như “phú đăng hỏa (lửa trong đèn)” giúp ích gì được “Thổ ở khu đất to (Đại dịch thổ)”…Cho nên cần hiểu cái lý chứ đừng cố chấp trong sự sinh khắc máy móc. Nhiều người yên trí rằng được sinh (về ngũ hành) thì tỏ ra sai lầm to vậy

Theo tạp chí Khoa Học Huyền Bí


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Luận về cách giải đoán một lá số tử vi

Đặc điểm nổi bật về tính cách của người tuổi Bính Dần

Bính Dần có tính cách như lửa, trong nháy mắt thiêu đốt tiêu diệt mọi thứ. Còn điều gì về tử vi của người tuổi Bính Dần, xin mời độc giả theo dõi.
Đặc điểm nổi bật về tính cách của người tuổi Bính Dần

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Trong Lục Thập Hoa Giáp, Bính Dần có tính cách như lửa, trong nháy mắt thiêu đốt tiêu diệt mọi thứ. Ngoài ra, bởi tự nhận tài trí hơn người nên thành lười biếng, coi rằng mình đã ngập tràn nhiệt tình rồi, không cần phải tiếp tục nỗ lực nữa. Còn điều gì về tử vi của người tuổi Bính Dần, xin mời độc giả cùng theo dõi.

Dac diem noi bat ve tinh cach cua nguoi tuoi Binh Dan hinh anh
 
Theo Lục Thập Hoa Giáp, người tuổi Bính Dần nhiệt tình phóng khoáng, tự tin hiếu thắng, hay nói hay cười, thiếu bình tĩnh, tâm tình bất ổn, dễ kích động tức giận, khuyết thiếu cẩn thận chăm chú. Luận giải dựa trên kiến thức tử vi thì Bính là Thái Dương, tọa Trường Sinh, có ánh sáng sắc bén nên chủ nhân thông minh nhưng lại tọa Kiêu Thần đoạt Thực nên không may mắn.   Người sinh vào khoảng thời gian sau Đông Chí, trước Hạ Chí là Mậu Thổ Trường Sinh với Dần, Thực Thần vượng, chủ nhân thông minh, cát lợi. Người sinh vào khoảng thời gian sau Hạ Chí trước Đông Chí thì Mậu Thổ Trường Sinh ở Thân, Thực Thần yếu, vận trình kém hơn một chút. Để xác định thời gian, xin mời tham khảo bài viết: 24 tiết khí đánh dấu thời gian trong năm.   Tuổi Bính Dần thiếu thành thục, tâm tình không ổn định, nhanh mồm nhanh miệng, ngay thẳng chân thật, ưa vận động, lợi Quan gần Quý. Nữ mệnh hiền lương, lanh lợi, nếu cần cù sẽ có thu hoạch lớn. Bính là Dương Hỏa ưu thế mãnh liệt, hừng hực thiêu đốt, có thể làm sắt nóng chảy.    Bởi vậy người sinh vào năm Bính tinh lực dồi dào, đến đâu cũng có thể giành được quyền uy và danh tiếng, nhiệt tình theo đuổi lý tưởng của chính mình. Quang minh chính đại không che giấu bất kì khuyết điểm hay thiếu sót nào nên có lúc sẽ ồn ào tâm sự, thổ lộ những điều trong lòng mình với người khác.   Người tuổi Dần có uy lực, là con hổ dũng mãnh nên cá tính có phần cương ngạnh, cần có người thuần phục. Tính hoang dã trong con người tràn trề, nhiều khi khiến những người xung quanh cảm thấy sợ nhưng thực chất bạn hiền lành và thẳng thắn, không câu nệ tiểu tiết, thích làm thân với mọi người và có tinh thần nghĩa hiệp, sẵn sàng tương trợ lúc khó khăn, hoạn nạn.    Tuổi Bính Dần có tính cách như lửa, trong nháy mắt thiêu đốt tiêu diệt mọi thứ. Ngoài ra, bởi tự nhận tài trí hơn người nên thành lười biếng, coi rằng mình đã ngập tràn nhiệt tình rồi, không cần phải tiếp tục nỗ lực nữa. Công việc vì thế cũng phập phù, lúc tốt lúc xấu, nếu có thể toàn tâm toàn ý phấn đấu cho sự nghiệp thì đảm bảo thành quả không hề nhỏ, khiến người khác phải ngưỡng mộ.
Dac diem noi bat ve tinh cach cua nguoi tuoi Binh Dan hinh anh
 
Có khi như mặt trời mọc thoải mái trong sáng, có khi lại gây mâu thuẫn xung đột với những người xung quanh, cần phải biết cách khống chế tính cách của chính mình. Người sinh ngày Bính đều nhiệt tình trong tình yêu, một khi đã yêu thích ai sẽ không do dự, tích cực theo đuổi đến cùng, có thể coi là một hình thức quả cảm, không mấy ai sánh kịp.    Lần đầu gặp mặt chỉ cần phán đoán đó chính xác là đối tượng lý tưởng, bạn lập tức viết thư, gọi điện, tìm cách liên lạc hoặc trực tiếp đến trước mặt người đó đưa ra lời mời hẹn hò. Nam mệnh đa tình, có khuynh hướng năm thê bảy thiếp, vượt quá phạm vi chuẩn mực cho phép. Người này cũng có thể yêu nhiều người không cùng tính cách, kỹ xảo đạt tới mức thượng thừa.   Tuổi Bính Dần là người ăn nói dễ nghe, dễ lấy lòng người khác, thực tế chỉ khó vượt qua Hỏa tính trong lòng mà thôi. Một khi xác định mối quan hệ thì rất nhiệt tình, quan tâm nhưng vẫn không ngừng theo đuổi người con gái khác gây ảnh hưởng tới tình cảm hiện tại. Có thể bạn không thích các cô khác lắm đâu, rất yêu người yêu hiện tại nhưng bản tính thích chinh phục làm bạn không thể ngừng lại được.    Gieo rắc đào hoa khắp nơi cuối cùng không cẩn thận lại bị lửa đốt, chịu tổn thương, Bính Dần bị tình yêu chi phối, đi theo đường trái tim chỉ dẫn, cháy hừng hực như lửa, trời sinh có sức thuyết phục rất tốt. Họ sẽ được tha thứ nhưng có nắm bắt được cơ hội, làm lại từ đâu, trân trọng người mình đang có hay không thì chỉ có thể dựa vào chính bản thân bạn mà thôi.

Ngoài ra, bạn đọc có thể xem thêm một góc nhìn khác về số mệnh của người này thông qua bài viết: Giải mã vận mệnh người tuổi Bính Dần theo Lục Thập Hoa Giáp.

Xem tuổi xông nhà 2017 cho gia chủ tuổi Bính Dần Xem tử vi trọn đời cho người sinh ngày Bính Dần
Trần Hồng
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Đặc điểm nổi bật về tính cách của người tuổi Bính Dần

Xem tướng mặt đoán cát hung vợ chồng

Bộ vị Niên thượng gồm 10 bộ vị bộ phận. Trong đó, khi xem tướng ở bộ vị bộ phận Phù tọa có thể biết được cát hung vợ chồng.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Bộ vị Niên thượng trên khuôn mặt, xét theo thứ tự lần lượt từ trong hướng sang phải bao gồm: Niên thượng, Phù tọa, Trưởng Trung nam, Thiếu nam, Kim quỹ, Cấm phòng, Tặc thiên, Du quân, Thư thượng, Ngọc đường. Trong đó, xem tướng ở bộ vị bộ phận Phù tọa có thể biết được cát hung vợ chồng.

bo-vi-nien-thuong

Phù tọa, nữ bên trái thì gọi là Phu tọa, nam bên phải thì gọi là Thế tọa. Chủ quản sự cát hung giữa vợ chồng.

Nếu bộ vị này sáng láng và đoan chính, tròn đầy, nam có vợ tốt, nữ có chồng tốt; nếu có nốt ruồi đen thì nam thì khắc vợ, nữ lại có tướng khắc chồng.

Trưởng nam, chủ vị trí của con trai trưởng, ảnh hưởng tới sự tốt xấu của con trai trưởng.

Nếu có nốt ruồi đen thì phương hại con trưởng.

Trung nam, chủ vị trí của con trai thứ, ảnh hưởng tới cát hung của con thứ.

Nếu xuất hiện chấm màu hồng thì người vợ có thể tranh cãi với người khác.

Thiếu nam, chủ vị trí của con trai út, định cát hung của con út.

Nếu con gái mà ở bộ phận này có nốt ruồi đen thì phương hại chồng.

Ngoại nam, chủ vị trí của cháu nội, cháu ngoại hay còn gọi là ngoại trạch.

Nếu có nốt ruồi đen thì không tốt cho cha mẹ. Nếu vị trí này tròn đầy, màu sắc tốt thì nam lấy được người vợ tốt, nữ được gả cho người chồng giỏi giang.

Nếu trong 3 tháng mùa xuân mà bộ phận này có màu xanh vàng là tướng có con cháu đầy nhà; có màu vàng thì nam dễ sinh con gái, có màu vàng ở nữ dễ sinh con trai. 

Nếu vị trí này có màu trắng thì người con dễ mang mệnh yểu vong; có màu hồng thì con sẽ gặp tai nạn. Những điều này đều phải căn cứ theo lý luận của tứ thời Ngũ hành để suy đoán.

Nếu có nốt ruồi đen thì phòng con cái gặp nạn, dưới mắt mà đoan chính bằng phẳng, sáng láng thì có thể sinh nhiều con.

Kim quỹ, chủ về vàng bạc.

Nếu vị trí này bằng đầy, sáng láng thì có rất nhiều tiền tài, nếu khô lõm xuống thì thiếu tiền tài, nếu có nốt ruồi đen thì tiền tài dễ bị người khác lấy cắp.

Tặc thiên, chủ về trộm cắp.

Nếu vị trí này bằng đầy thì không vì trộm cắp mà bị làm hại, sắc hung thì dễ bị trộm cắp. Cấm phòng, chủ thị phi khẩu thiệt của con người. Nếu vị trí này bằng đầy thì hay tham dự chuyện thị phi, nếu có khuyết hoặc có nốt ruồi đen thì sẽ bị người khác bàn tán sau lưng.

Du quân, chủ vị trí ở biên cương hoặc nơi xa xôi.

Nếu vị trí này có màu tốt mà lại ngay ngắn, sáng láng thì thích hợp làm quan ở khu vực biên cương, sắc ác thì ngược lại.

Thư thượng, chủ học thức.

Nếu vị trí này không sáng bóng hoặc có nốt ruồi đen, khiếm khuyết chủ kiến thức nông cạn, không có học vấn.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem tướng mặt đoán cát hung vợ chồng

Cha mẹ có để tang con không ?

Tang phục là thể hiện tình nghĩa, có phân biệt thân sơ "Họ đương 3 tháng, láng giềng 3 ngày", thể hiện lòng thương xót giữa kẻ mất người còn. Vì thế, chẳng những thân thích mà người ngoài đến phúng viếng cũng nên đeo băng tang. Theo "Thọ mai gia lễ" thì chẳng những cha mẹ để tang con mà ông bà và cụ kỵ cũng để tang hàng cháu, hàng chắt.
Cha mẹ có để tang con không ?

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

"Thọ mai gia lễ" quy định như vậy nhưng một số địa phương Bắc bộ quan niệm "Phụ bất bái tử" (cha không lạy con), Con chết trước cha mẹ là nghịch cảnh, là bất hiếu, con chưa kịp báo hiếu cha mẹ đã chốn nợ đời, chẳng những cha mẹ không để tang con mà khi khâm liệm con còn phải quấn trên đầu tử thi một vòng khăn trắng. Nếu là đàn bà mà tứ thân phụ mẫu còn cả thì phải quấn đến hai vòng, có nghĩa là ở dưới cõi âm cũng để tang báo hiếu sẵn cho cha mẹ đang ở trên dương trần.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Cha mẹ có để tang con không ?

Xem tử vi trọn đời cho người tuổi Quý Mão

Tử vi tuổi Quý Mão: Người có bát tự trụ Quý Mão nhanh trí, nhưng tài vận không ổn định, gặp nhiều phong ba trong tình duyên.
Xem tử vi trọn đời cho người tuổi Quý Mão

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Người có bát tự trụ tuổi Quý Mão nhanh trí, nhưng tài vận không ổn định, gặp nhiều phong ba trong tình duyên. Để hiểu rõ hơn về tử vi trọn đời của họ, hãy tham khảo bài viết dưới đây.


Xem tu vi tron doi cho nguoi tuoi Quy Mao hinh anh
 
Trụ ngày tuổi Quý Mão có Quý Nguyên, hóa giải Nạp Âm nên đa mưu túc trí, nhân hậu lương thiện, trượng nghĩa. Bên cạnh đó, Mão Mộc của người có bát tự ngày Quý Mão là thần thực tạo nên tính cách cởi mở, hòa nhã. Mệnh chủ nên kết hợp Mậu Tuất, trong cuộc sống tất gặp Tý Thủy. 
  Mệnh trụ ngày Quý Mão có tài năng và sự nhanh nhạy, được quý nhân phù trợ, tuy nhiên, tài vận không ổn định, càng lớn tuổi càng thất thoát nhiều, thành công trên đường học vấn và sự nghiệp liên quan đến kỹ thuật.
Bí kíp phong thủy “ thoát FA” mới nhất 2016
Để thúc đẩy vận đào hoa cho bản thân, sớm thoát khỏi kiếp FA thì bạn cần xây dựng một hình tượng rõ ràng về “người trong mộng” hoặc có những sự thay đổi nho
Người tuổi Quý Mão khổ về đường tình duyên do gặp phải nhiều phong ba, dễ gây ưu sầu, nhưng về lâu về dài đều đạt được ước nguyện. Nam mệnh có thể tìm được nhân duyên tốt, tuy nhiên cần phải vừa chú trọng về vẻ bề ngoài vừa phải bồi dưỡng tinh thần. Nữ mệnh có gia vận tốt đẹp, tình duyên như ý.    Bát tự trụ ngày Quý Mão thích hợp kết hôn cùng những người sinh ngày: Giáp Tý, Giáp Tuất, Giáp Thìn, Giáp Thân, Ất Sửu, Ất Hợi, Ất Dậu, Bính Dần, Bính Tý, Bính Thân, Đinh Hợi, Đinh Dậu, Đinh Sửu, Đinh Mão, Mậu Thìn, Mậu Tuất, Mậu Ngọ, Mậu Dần, Kỷ Mão, Kỷ Hợi, Kỷ Mùi, Kỷ Tỵ, Canh Thìn, Canh Ngọ, Canh Tuất, Canh Thân, Tân Hợi, Tân Mùi, Tân Mão, Tân Dậu, Nhâm Ngọ, Nhâm Tuất, Nhâm Tý, Quý Tỵ, Quý Mùi.  
► Tra cứu tử vi năm 2016 của bạn theo Lịch vạn sự

Chi Nguyễn (Theo Azg168)
Xem thêm Clip về Nhân quả ba đời


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem tử vi trọn đời cho người tuổi Quý Mão

Xem bói mê tín hay trí tín

Xem bói mê tín hay trí tín, bản chất của xem bói là gì và tại sao bói toán lại tồn tại từ ngàn xưa cho đến nay, nó khuyên bảo con người nên làm gì, tránh điều gì

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

xem boi

Vào những năm Đường Thái Tông ở Trung Quốc có một người tên là Lý Thuần Phong, người Ung Châu, tinh thông thiên văn lịch pháp, có thể “dự đoán cát hung” cực kỳ chuẩn xác, từng nhậm chức Thái Sử Lệnh. Đến những năm Càn Nguyên thời Đường Túc Tông, dòng họ ông có một cụ già tên là Lý Tri Vi, rất giỏi thuật chiêm tinh, xem bói, xem mệnh, bói quẻ, dự đoán họa phúc cát hung, thì ắt nói trúng cả ngày, không sai tý nào. Lão Lý sống tại chợ Tây thành Trường An.

Đương thời có một người họ Lưu, đến kinh thành Trường An muốn nhờ vả cầu quan, nhưng mấy năm không được. Năm nay, họ Lưu thông đồng với bộ lại (cơ quan hành chính cấp bộ thời xưa), dựa vào quan hệ cửa sau, tự cho là có chí thì ắt nên chuyện. Nghe nói lão Lý xem bói cực chuẩn, bèn đến chợ Tây tìm lão.

- Ông lão bốc một quẻ và mỉm cười, nói: “Năm nay cầu mà không được, sang năm không cầu mà tự được.” Họ Lưu không tin, đợi đến khi bộ lại niêm yết danh sách, quả nhiên không có tên. Sang năm lại đến kinh thành tham gia đợt thi của bộ lại, nhớ lại lời của lão Lý, ông không nhờ vả quan hệ nữa, nhưng không đủ tự tin, lại đến chợ Tây hỏi lão.

- Lão Lý phán rằng: “Năm ngoái ta đã nói rồi, chức quan của ông tất thành, không phải ngờ vực.”

- Lưu Sinh hỏi: “Nếu được làm quan, thì nhậm chức tại đâu?”

- Ông lão phán rằng: “Làm quan tại đất Đại Lương, làm quan rồi hãy đến gặp ta, ta có lời muốn nói.” Khi bộ lại niêm yết danh sách, quả nhiên tuyển chọn Lưu Sinh làm huyện úy phủ Khai Phong. Lưu Sinh kinh ngạc mừng rỡ, xem lão Lý như thần, rồi lại đi gặp lão.

- Lão Lý phán rằng: “Ông đi làm quan, không cần tiết kiệm, cứ tùy ý thu nạp, ắt không gặp trở ngại. Khi nào sắp mãn nhiệm, ông có thể xin một chức quan, rồi vào kinh thành, ta muốn gieo cho ông một quẻ.”

Lưu Sinh ghi nhớ lời dặn, đến phủ Khai Phong làm huyện úy. Bởi vì xuất thân từ quan gia, được quan trên yêu mến, nhớ lời của lão Lý, ông thỏa sức vơ vét tiền tài mà không lo nghĩ gì. Quan lại trên dưới đều rất yêu mến ông. Hết nhiệm kỳ, ông tích lũy được tới một nghìn vạn quan tiền, bèn đến gặp quan Thích Sử, xin làm quan áp giải tô thuế đến kinh đô. Khi đến Trường An, ông lại tới gặp lão Lý.

- Lão phán rằng: “Trong vòng 3 ngày, ông sẽ được thăng quan.”

- Lưu Sinh không tin, lão phán tiếp: “Tuyệt nhiên không sai, thăng quan cũng tại quận này, đắc được chức quan rồi, ông có thể quay lại gặp ta.” Lưu Sinh rời đi, trong lòng bán tín bán nghi.

Ngày hôm sau ông áp tải tiền thuế đến nộp vào ngân khố, đến trước ngân khố chỉ thấy ở phía Đông Nam có một chú chim ngũ sắc bay lên trên nóc nhà, màu sắc rực rỡ, hàng trăm chú chim xôn xao, kéo đến che kín cả bầu trời.

- Lưu Sinh thốt lên: “Thật kỳ lạ! Thật kỳ lạ!” Nhất thời làm kinh động thái giám trong cung, người trên kẻ dưới đều vây quanh.

- Có người cho rằng: “Đây là chim phượng hoàng!” Chú chim ngũ sắc nghe thấy tiếng ồn ào liền bay đi mất, hàng trăm chú chim cũng dần tản đi.

- Chuyện đến tai Hoàng đế, Hoàng đế cho rằng đây là điềm đại cát, liền truyền lệnh: “Tìm xem ai là người thấy trước tiên, nếu là quan thì thăng một bậc.”

Tra ra thì Lưu Sinh là người thấy trước tiên, liền lệnh cho bộ lại, thăng Lưu Sinh làm tri huyện phủ Khai Phong. Quả đúng nội trong 3 ngày, cũng tại châu này. Lưu Sinh phục lão Lý sát đất, lại đến hỏi lão Lý nên làm quan thế nào.

- Lão phán rằng: “Chỉ cần giống như ngày trước.” Sau khi Lưu Sinh đến nhận chức, vẫn tham lam vơ vét tiền của, lại có được một nghìn vạn quan tiền, sau khi mãn nhiệm tới kinh thành nghe lệnh thuyên chuyển.

- Ông lại đến gặp lão Lý, thì lão phán rằng: “Lần này phải làm một vị quan liêm chính, một đồng cũng không được nhận. Cẩn trọng! Cẩn trọng!”

Lưu Sinh quả nhiên được phong làm huyện lệnh huyện Thọ Xuân. Vì đã quen tham lam vơ vét, sao có thể nhẫn nại được? Đảm nhận chức vụ chưa được bao lâu, bản tính lại nổi lên, ông ta bỏ mặc ngoài tai lời của lão Lý. Không lâu sau, quan trên tước chức của ông, tịch thu tài sản vì tội tham ô.

- Ông lại đến hỏi lão Lý: “Hai lần trước lão chỉ tôi thỏa sức vơ vét, nhưng nay lại bảo không được nhận hối lộ, hai lần đều ứng nghiệm, ấy là duyên cớ làm sao?” 

- Lão Lý phán rằng: “Đời trước ông là một thương nhân lớn, có hai nghìn vạn quan tiền. Ông qua đời tại Biện Châu, số tiền đó lưu lạc tại nhân gian. Giờ ông ra làm quan, vốn là lấy lại tài sản của mình xưa kia, nên không coi là tham ô, và được bình an vô sự. Người dân huyện Thọ Xuân không nợ nần ông, hà cớ gì ông lại tham lam quá mức? Nên giờ ông vẫn tham lam vơ vét cho bằng được, thì coi như làm chuyện xấu rồi.” Lưu Sinh khắc cốt ghi tâm lời lão Lý, rời đi mà vô cùng hổ thẹn.

Bói toán không phải là mê tín, vốn đã có từ thời xa xưa. Vì cuộc đời một người đã được định sẵn, người tinh thông Chu Dịch, Bát quái có thể bấm tay mà bói ra được. Bói toán tồn tại chính vì muốn bảo cho con người biết rằng nên sống thuận theo tự nhiên. Các việc tốt, việc xấu con người gặp trong đời đều do nhân duyên, không phải chuyện vô duyên vô cớ. Nếu muốn kiếp sau được sống hạnh phúc, kiếp này phải làm nhiều việc thiện tích đức, không làm việc xấu việc ác. Kỳ thực đây là một bộ phận của văn hóa Thần truyền.

Kỳ thực, xem bói là dùng tiểu đạo thế gian của Đạo gia, suy đoán dựa vào tướng tay, tướng mặt, số mệnh gắn với ngày sinh (sinh thần bát tự), các tín tức mang trên thân người và thường bị hạn chế. Có thể nhìn thấy được tương lai và quá khứ một cá nhân, thậm chí là thấy được những quy luật phát triển của toàn xã hội, hoặc quy luật biến hóa của toàn thiên thể là điều có thực. Muốn vậy phải có công năng mà người ta gọi công năng đặc dị hay công năng túc mệnh thông, đây là một trong sáu công năng đã được thế giới công nhận.

Trong lịch sử có rất nhiều người thấy được thịnh suy, thay đổi của xã hội và viết thành sách, gọi là sách tiên tri, lưu truyền cho đến ngày nay. Chẳng hạn thời kỳ Tam quốc có “Mã Tiền Khóa” của Gia Cát Lượng, triều Tống có “Mai Hoa Thi” của Thiệu Ung, triều Minh có “Thiêu Bính Ca” của Lưu Bá Ôn. Trong lịch sử có những bài thơ tiên tri của các vị hòa thượng, đạo sĩ tu hành đắc Đạo. Họ đều tiên tri rất chính xác về những sự kiện lớn sau này xảy ra trong các triều đại lịch sử. Trong đó đều nói đến giai đoạn mạt kiếp ngày nay khi đạo đức nhân loại bại hoại, dẫn đến cảnh tượng hỗn loạn như ngày nay… Bia đá trên núi Thái Bạch tỉnh Thiểm Tây của Lưu Bá Ôn nói rõ: “Trên đời có người hành đại Thiện, Gặp phải kiếp này không phải bói.”

 Ở Việt Nam có các vị Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Qúy Đôn , Phan Bội Châu , Huỳnh Thúc Kháng , Ngô Tất Tố v v uyên thâm nho học , uyên bác Dịch Lý Số … đã dự đoán quốc vận , mệnh nhân vô cùng ảo diệu…


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem bói mê tín hay trí tín

10 lời khuyên phong thủy giúp dân công sở dễ dàng thăng quan tiến chức

Phong thủy có vai trò rất lớn trong cuộc sống, đặc biệt là trong sự nghiệp, cùng làm vài thay đổi nhỏ về phong thủy để xem vận thế của bạn nơi công sở có khác đi không nhé.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

1. Sau lưng có điểm tựa vững chắc mới dễ thăng tiến
Khi bố trí bàn làm việc nên ngồi xoay lưng lại với tường hoặc vách chắc chắn, nếu sau lưng có đường đi thì con đường thăng tiến không được ổn định lắm, tinh thần cũng dễ bất an, lo lắng. Nếu sau lưng không có tường, vách có thể đặt bàn hoặc tủ sau lưng để hóa giải.     2. Trước mặt thoáng đãng, tiền đồ rộng mở
Phía trước bàn làm việc cần có khoảng trống rộng rãi, tránh không gian bí bách, nhỏ hẹp, như vậy thì càng dễ thăng quan tiến chức. Nếu trước mặt là bức tường thì tiền đồ của bạn giống như bị bức tường chặn đứng, vận khí rất khó để mở rộng.   3. Bên cạnh không có lối đi thì con đường thăng chức thuận lợi
Bên trái và bên phải bàn làm việc không được có lối đi nếu không con đường công danh sẽ gặp nhiều trắc trở, khó khăn.     4. Chính diện đối diện với cột trụ, làm việc dễ gặp sai sót
Nếu bàn làm việc của bạn trực diện với cột trụ thì vận khí bị chặn đứng, làm việc rất dễ gặp sai lầm, phán đoán thiếu chính xác và cũng dễ mắc bệnh đau đầu.
5. Chỗ ngồi cách cửa quá gần, hiệu suất kém

Trong văn phòng những người có chức vụ càng cao thì càng ngồi cách xa cửa ra vào. Vị trí làm việc không nên quá gần cửa ra vào nếu không hiệu suất sẽ không cao, khó phát huy được năng lực của bản thân và công việc dễ bị tác động không tốt bởi ngoại cảnh.     6. Tránh ngồi đối diện với cửa ra vào
Bàn làm việc tránh đặt đối diện với cửa ra vào, ngồi ở vị trí này sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe, dễ bị đau đầu. Công việc cũng gặp phải những tai ương không ngờ đến. Nên đặt một bức bình phong hoặc tủ thấp để ngăn cách giữa bàn làm việc với cửa ra vào để giảm bớt luồng khí tiêu cực.   7. Tránh ngồi dưới dầm ngang trên xà nhà
Nếu bàn làm việc đặt ngay dưới dầm ngang thì công việc dễ bị xáo trộn, làm việc dễ gặp sai sót. Nên dịch chuyển vị trí tránh xa xà ngang để công việc thuận lợi và suôn sẻ hơn.   8. Tránh ngồi ở chỗ bị đường đi cắt góc
Chỗ ngồi không nên đặt ở chỗ bị đường đi cắt vào, ngồi những vị trí như vậy sẽ ít gặp thuận lợi trong công việc, quan hệ với đồng nghiệp cũng không được tốt, dễ mâu thuẫn.   9. Phòng tài vụ nên ở nơi kín đáo, ít người qua lại
Những vị trí có lượng tiền mặt xuất nhập hàng ngày nên đặt ở nơi kín đáo, ít người nhòm ngó như vậy thu nhập mới ổn định, ít chịu tác động xấu, tránh thất thoát.     10. Bàn làm việc của sếp phải to hơn bàn làm việc của nhân viên
Thông thường bàn làm việc của cấp trên cần to, rộng hơn bàn làm việc của cấp dưới, như vậy sẽ mang lại nhiều tài lộc cho cấp trên và sẽ thuận lợi hơn trong việc chỉ đạo nhân viên. Nếu bàn không đủ rộng, có thể đặt vài tủ nhỏ bên cạnh để tăng vận khí.

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: 10 lời khuyên phong thủy giúp dân công sở dễ dàng thăng quan tiến chức

Khoảng cách giữa hai đầu lông mày tiết lộ điểm mạnh của bạn

Khoảng cách giữa hai đầu lông mày của bạn dài bằng độ rộng bao nhiêu ngón tay (theo bề dọc ngón tay)?
Khoảng cách giữa hai đầu lông mày tiết lộ điểm mạnh của bạn

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

khoang-cach-giua-hai-dau-long-may-tiet-lo-diem-manh-cua-ban

Bấm vào hình hoặc chữ để xem đáp án

khoang-cach-giua-hai-dau-long-may-tiet-lo-diem-manh-cua-ban-1 khoang-cach-giua-hai-dau-long-may-tiet-lo-diem-manh-cua-ban-2 khoang-cach-giua-hai-dau-long-may-tiet-lo-diem-manh-cua-ban-3
1 ngón (không tính ngón cái) 2 ngón  3 ngón trở lên

Alexandra V (theo vonvon)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Khoảng cách giữa hai đầu lông mày tiết lộ điểm mạnh của bạn

Quý Sửu mệnh gì –

Người sinh 1973, Quý Sửu, có Ngũ hành năm sinh là Tang Đố Mộc, nhưng Mệnh Cung của Nam và Nữ khác nhau: 1. Nam Cung LY, hành HOẢ, hướng Nam, quái số 9, sao Cửu Tử, Đông tứ mệnh (Nhà hướng tốt: Đông, Đông Nam, Bắc, Nam ). Đeo đá màu Xanh lá cây để đư
Quý Sửu mệnh gì –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Quý Sửu mệnh gì –

Kỳ bí thôn bát quái của hậu duệ Gia Cát Lượng

Thôn này có tên là thôn Gia Cát hay Bát Quái, tọa lạc tại thị trấn Lan Khê, tỉnh Triết Giang, được mệnh danh là "Trung Quốc đệ nhất thôn". Đây cũng chính là trung tâm sinh sống của hậu duệ của cao nhân trong lĩnh vực xem phong thủy , tử vi là Khổng Minh Gia Cát Lượng nổi tiếng thời Tam Quốc.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

1. Dựa theo Bát quái trận đồ lập nên thôn

Vào cuối đời Tống, đầu nhà Nguyên (khoảng năm 1300), hậu duệ đời thứ 27 của Gia Cát Lượng là Gia Cát Đại Sư bắt đầu xem ngày tốt xấu để lập thôn Bát Quái tại Lan Khê, Triết Giang.

Theo sử chép, Gia Cát Lượng từng lập ra một trận pháp thần kỳ gọi là Bát trận đồ, biến ảo khôn lường, uy lực vô cùng, từng vây khốn cả 10 vạn tinh binh của đại tướng Đông Ngô Lục Tốn.


Kỳ bí thôn bát quái của hậu duệ Gia Cát Lượng
(Thôn nhìn từ trên cao)

Gia Cát Đại Sư đã vận dụng học thuyết Kham dư (phong thủy) vào Bát quái trận đồ của ông tổ mình, thiết lập thôn trang án theo Cửu cung bát quái.

Thôn lấy cái hồ lớn hình thái cực làm trung tâm, 8 con đường từ hồ toả ra thành "nội bát quái".

Phía ngoài thôn lại đắp 8 tòa núi nhỏ hình thành "ngoại bát quái" bao bọc. Các sảnh, đường, nhà ở phân bố dọc theo 8 đường. Gia Cát Đại Sư trước khi qua đời có để di huấn là không được thay đổi nguyên dạng.

Trải qua hơn 800 năm dâu bể, lượng người trong thôn tăng lên nhiều, nhưng tổng thể cửu cung bát quái không hề thay đổi.

Trong thôn có đền thờ Thừa tướng Gia Cát Lượng, hoa viên, 3 nhà bia, 18 sảnh đường, 18 giếng, 18 ao, hơn 200 phòng ốc đều là kiến trúc cổ đời Minh, Thanh rất độc đáo.

Con cháu Gia Cát đời đời đều theo lời giáo huấn của tổ phụ "không làm lương tướng, tất làm lương y" nên nhiều đời theo nghề thuốc.

Trong thôn có cả Nhà triển lãm trung y dược, vườn thảo dược... Nơi đây, riêng đời Minh, Thanh đã có 5 tiến sĩ, 11 cử nhân, hàng trăm tú tài. Các chuyên gia, học giả Trung Quốc đang đề nghị đổi Lan Khê thành TP Võ Hầu.

"Đêm không cần đóng cửa, ngoài không nhặt của rơi"

Theo nhiều nhà nghiên cứu, kiến trúc bát quái này có công năng phòng vệ và cải tạo môi trường rất cao. Thôn Gia Cát đặc biệt mát mẻ, sạch sẽ, thông thoáng.

2. Kiến trúc trong thôn.

Nhà kiến trúc Từ Quốc Bình cho rằng, kiểu kiến trúc của thôn này hoàn toàn khác với phong cách thôn trang truyền thống Trung Quốc, không lấy trung tuyến làm chủ mà bức xạ ra 8 hướng.

Các nhà trong thôn mặt đối nhau, đuôi liền nhau, đường nối nhau, rất thoáng mà kỳ thực kín đáo. Địa hình xung quanh nhìn giống như cái nồi, bốn phía cao, giữa thấp. Người ngoài vào thôn, nếu không có người quen dẫn đường thì lẩn quẩn không biết lối ra.

Nhà thư pháp Gia Cát Cao Phong, cháu đời thứ 42 của Gia Cát Lượng cho biết, trong thôn "đêm không cần đóng cửa, ngoài không nhặt của rơi".

Năm 1925, chiến tranh ác liệt, quân đội của Quốc dân đảng là Tiêu Kính Quang đánh nhau với quân phiệt Tôn Truyền Phương 3 ngày dữ dội sát bên thôn Bát Quái nhưng không có viên đạn nào lọt vào thôn.

Khi quân Nhật tấn công xuống phía nam, đại quân kéo qua đại lộ Long Cương nhưng không phát hiện ra thôn này. Duy có 1 lần máy bay Nhật ném bom trúng 1 phòng trong thôn.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Kỳ bí thôn bát quái của hậu duệ Gia Cát Lượng

Phản ứng của 12 chòm sao khi được hỏi “Bạn đang làm gì đó?”

Cự Giải là người trung thực và không có thói quen nghĩ nhiều. Nên khi được hỏi thì nhanh chóng trả lời chân thực nhất và trong lòng chẳng có gợn sóng nào.
Phản ứng của 12 chòm sao khi được hỏi “Bạn đang làm gì đó?”

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Cự Giải là người trung thực và không có thói quen nghĩ nhiều. Nên khi được hỏi thì nhanh chóng trả lời chân thực nhất và trong lòng chẳng có gợn sóng nào.


► Xem thêm: Mật ngữ 12 chòm sao, Horoscope được cập nhật mới nhất

Phan ung cua 12 chom sao khi duoc hoi Ban dang lam gi do hinh anh
 
Bạch Dương
  Bạch Dương vốn là người lương thiện, nhưng khi được hỏi những lời này thì tâm tư miên man bất định, thầm suy nghĩ: “Chắc là gặp phải chuyện gì khó khăn nên mới cần mình giúp đỡ, tuy rằng mình cũng đang bận nhưng bạn bè gặp nạn thì không thể không giúp”.

Kim Ngưu
 
Kim Ngưu là đại ích kỷ, khi được hỏi chợt chột dạ lo lắng: “Bình thường chẳng bao giờ hỏi tới mình, nay bỗng dưng lại hỏi, chắc là định vay tiền”. Và đối phương sẽ nhận được câu trả lời là: “Thực sự xin lỗi, hiện giờ mình cũng khó khăn, bạn có thể nhờ người khác”.
 
Song Tử
 
Song Tử là người sống “tình cảm”, nên bất cứ câu hỏi nào từ đối phương (người khác giới) đối với Song Tử cũng là dấu hiệu “đèn xanh”. Song Tử không coi đây là câu nói bình thường. Có thể đây chỉ là một câu hỏi đơn giản nhưng Song Tử sẽ nghĩa là người ấy có nhiều điều muốn nói sau câu nói này, có thể là thổ lộ tình cảm, chắc là đối phương đã có tình ý gì với mình, đã thầm ngưỡng mộ mình từ lâu nên hôm nay thổ lộ.
 
Cự Giải
 

Sư Tử
 
Sư Tử là người bận rộn, chẳng bao giờ có cảm giác nhàn rỗi, không ngừng phấn đấu vì sự nghiệp. Nên khi được người khác hỏi vậy họ liền nghi ngờ không biết đối phương có tình ý gì? Chẳng lẽ thấy mình rảnh rỗi nên có thể đùa cợt chăng? Tốt nhất là nên lơ đi và tiếp tục công việc của mình.
 
Xử Nữ
 
Xử Nữ là người hiểu chuyện nên khi nhận được câu hỏi như vậy thì ngay lập tức nghĩ rằng đối phương có chuyện khó nói nào đó và Xử Nữ sẽ tỏ ra quan tâm và có thể lắng nghe người ấy tâm sự hàng giờ liền.

Phan ung cua 12 chom sao khi duoc hoi Ban dang lam gi do hinh anh
 
Thiên Bình
 
Thiên Bình vui tính thường hay đùa cợt nên khi được hỏi vậy sẽ nghĩ là đối phương đùa giỡn thôi. Thiên Bình sẽ trả lời ngay mà không cần suy nghĩ. “Tớ đang làm việc, cậu muốn hỏi gì nào?”
 
Hổ Cáp
 
Hổ Cáp khá tập trung vào công việc và không có thời gian để lắng nghe câu hỏi của người khác. Nên khi được hỏi vậy thì Hổ Cáp cũng có suy nghĩ một chút nhưng ngay lập tức sẽ bỏ qua.
 
Nhân Mã
 
Nhân Mã có chút “phong tình” nên khi được hỏi sẽ nghĩ rằng đối phương có ý định trêu trọc nên sẽ nháy mắt, “đá lông nheo” và đáp lại bằng một câu trả lời đầy thâm ý nhưng lại tỏ vẻ vô cùng ngây thơ.
 
Ma Kết
Ma Kết sẽ nhìn đối phương trong một giây và nghĩ rằng chắc đối phương có cảm tình với mình nên bỗng dưng tìm tới mình, chủ động bắt chuyện, Ma Kết cảm thấy ấm lòng và tâm hồn hơi bị xao xuyến một chút.
 
Bảo Bình
 
Bảo Bình tính tình phóng khoáng, lạc quan nên chẳng suy nghĩ nhiều. Khi được hỏi thì trả lời ngay và rất thẳng thắn. 
 
Song Ngư
 
Song Ngư khá đa nghi nên khi bỗng dưng có người hỏi vậy thì sẽ nghĩ rằng người ta đang có một âm mưu nào đó. Mặc kệ đối phương có ý gì hay không họ đều chọn cho mình một giải pháp an toàn là không liên quan – “Mình không rảnh lắm”!   Minh Hà 5 cung hoàng đạo có máu Trương phi trong ngày hè Học hỏi 4 cô nàng hoàng đạo biết cách khiến chàng mê mệt Điểm tên chòm sao nữ lụy tình sinh vào tháng nào? Top 5 chòm sao kết hợp với Bảo Bình sẽ làm nên cặp đôi tuyệt đẹp
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Phản ứng của 12 chòm sao khi được hỏi “Bạn đang làm gì đó?”

Chọn đất táng mộ tránh thế mộ hung hiểm bổn thân đoạn pháp

Phong thủy âm trạch chọn đất táng mộ có ảnh hưởng lớn tới cuộc sống của con cháu trong nhà. Mộ phần phạm bổn thân đoạn pháp là một trong 10 thế mộ hung hiểm.
Chọn đất táng mộ tránh thế mộ hung hiểm bổn thân đoạn pháp

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Phong thủy âm trạch có ảnh hưởng đặc biệt tới cuộc sống của con cháu trong nhà, nên nhìn vào mộ phần có thể luận đoán cát hung sau này. Mộ phần phạm bổn thân đoạn pháp là một trong 10 thế mộ hung hiểm.


Chon dat tang mo tranh the mo hung hiem bon than doan phap hinh anh
 
Phần mộ phạm bổ thân đoạn pháp tức là thế mộ hung hiểm rất hay gặp phải, xuất phát từ cách chôn cất, chọn đất táng mộ hay một số yếu tố bên ngoài tác động trực tiếp, ảnh hưởng tới hài cốt trong mộ phần. 
  - Phần mộ bị trúng tên: nếu vị trị đặt mộ thường xuyên có người qua lại, tạo thành lối đi tắt thì sẽ ảnh hưởng tới phong thủy âm trạch, vong linh không thể bình an, con cháu trong xã hội luôn ở vào vị thế “khuất chỗ thấp hèn", khó có thể nổi bật, thường bị người khác khinh thường, lợi dụng, cả đời khó ăn nên làm ra.   - Có hài cốt, không phần mộ: vì chạy nạn, khốn khổ nên khi qua đời được chôn tạm, không có ván quan hay lễ nghi đầy đủ tươm tất, lâu ngày bị quên lãng, không có phần mộ, không có người tế bái, vong linh phiêu bạt vô y. Con cháu nhà này cũng vô định bất an, sự nghiệp không thuận, chìm nổi lênh đênh, đường đời nhiều thất bại.   - Đỉnh mộ bị cột trụ chèn ép: có trường hợp do vô tình hay cố ý mà dựng cọc, cột, trụ chèn vào đỉnh mộ. Bị như vậy thì vong linh như tim bị đâm ngang, con cháu có thể thương vong hoặc bị giết ngoài ý muốn.    - Phần mộ ngập nước: có nơi do ở vùng chiêm trũng, gần ruộng, hồ, ao hoặc gặp mưa lớn mà nước ngấm vào áo quan, không thoát ra gây úng ngập. Tình trạng này thì vong linh bị hàn khí xâm nhập, ảnh hưởng tới sức khỏe của con cháu, thân thể suy yếu, sợ lạnh, phong thấp, hen suyễn, cảm mạo. Nghiêm trọng hơn thì có người chết đuối, chết vì uống rượu.   - Phần mộ bị chèn ép: có thể ban đầu vị trí đặt mộ rất thoáng đãng, nhưng sau có nhiều mộ mới xây vây quanh, tạo thành bức tường vây hãm, mộ trình bị chiếm, tử linh không có nơi thở, nên con cháu nơi ở bất an, vướng họa kiện tụng vì điền sản.   - Phần mộ bị khối đá đè ép: ví dụ như bên cạnh có công trình xây dựng, vô ý để đất đá đè áp lên mộ phần thì vong linh thương tổn, con cháu bị trúng gió hoặc sống đời sống thực vật, không dậy nổi. Nếu trước mộ loạn khí thì con cháu tay chân tàn phế, loạn ở sau mộ thì ảnh hưởng vào đầu, nổi điên hoặc tê liệt thần kinh.   Đại kị trong phong thủy âm trạch
Người Việt có quan niệm “âm phù dương trợ” nên phong thủy âm trạch đặc biệt được coi trọng. Dưới đây là một số thế đất đại kị khi chọn đặt đất huyệt cho người

- Phần mộ bị trộm: nhà giàu có mà chôn nhiều đồ vật có giá trị theo người chết hoặc xây mộ xa xỉ rất dễ gặp nạn trộm đạo, hài cốt bại lộ, vong linh tan biến, ảnh hưởng khiến con cháu chết nơi đất khách quê người, lui tổ diệt tông.
  - Hài cốt rải rác: vùng mộ hoang vu, hoặc người mất mà hài cốt tản mát, không được chôn cất cùng một nơi thì con cháu sự nghiệp không thuận, vướng phải thị phi, kẻ xấu hãm hại.   - Phần mộ xuống cấp: mộ lâu ngày không được sửa sang thì vong linh bất an, con cháu ngã nhà cao tầng, trượt chân hoặc tai nạn xe cộ.   - Trước mộ chồng chất cát đá: con cháu mắc bệnh dạ dày, sỏi thận.   - Mộ bị kiến xông, rắn chuột đào khoét: phá hư hài cốt, vong linh hoảng sợ, con cháu làm lưu manh, đánh giết, chết trong lao tù.   - Mộ chồng lên mộ: có những mộ cũ, qua lâu ngày bị vùi lấp thành bình địa, người sau không biết lại táng mộ vào là mộ chồng lên mộ, khiến vong linh bất an. Mộ phần ở dưới thì con cháu cả đời thấp kém, không an cư; mộ phần ở trên thì con cháu mưu sự không thuận, gian nan khổ cực liên miên. Trần Hồng
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Chọn đất táng mộ tránh thế mộ hung hiểm bổn thân đoạn pháp

Cương Thi - xác chết sống dậy

Câu chuyện kỳ bí về Cương Thi – những xác chết sống lại được truyền tai nhau cho đến tận ngày nay.
Cương Thi - xác chết sống dậy

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Cuong Thi - xac chet song day hinh anh
 
Trong văn hóa dân gian Trung Quốc, người ta quan niệm một người vừa chết nhưng trong lòng còn nhiều oán hận hoặc xác chết bị yểm bùa, chôn một thời gian dài mà không thối rữa sẽ biến thành Cương Thi.
  Những câu chuyện bí ẩn về Cương Thi được ghi chép lại nhiều nhất là vào triều đại nhà Thanh, trong hai quyển sách “Tử bất ngữ” và “Bút ký nghiệp vi thảo đường”.    Theo truyền thuyết, Cương Thi còn được gọi là Di linh (linh hồn di động), có nguồn gốc ở Tương Tây, Trung Quốc. Những người đi làm ăn xa mong muốn sau khi chết sẽ được đưa về quê quán để chôn cất. Chính vì vậy, những pháp sư yểm bùa biến xác chết thành Cương Thi để đưa về quê an táng khi thi thể chưa thối rữa.    Tương truyền rằng, các pháp sư thường dẫn 3 đến 5 Cương thi một lúc, dùng chạc để trói, dán lá bùa màu vàng lên trán của chúng, vừa đi vừa đánh chuông, đi vào ban đêm. Vì Cương Thi sợ ánh sáng mặt trời nên khi trời sáng pháp sư sẽ tìm nơi nghỉ ngơi, đến ban đêm lại tiếp tục đi.   Theo truyền thuyết, Cương Thi phân làm 3 loại: Cương Thi vô thức, thuộc dạng Cương Thi hạ đẳng, hành động dựa vào bản năng; Cương Thi có ý thức, hành động giống như người bình thường và quỷ, loại Cương thi mạnh nhất chuyên hút máu người để lấy sinh khí. 
 
Theo quan niệm dân gian, để chống lại Cương Thi có thể dùng gương vì chúng sợ nhìn thấy hình ảnh phản chiếu của mình. Cương Thi cũng sợ bị cành đào hoặc kiếm gỗ đâm vào. Hiệu nghiệm nhất là dùng bùa dán vào trán của chúng.
 
Hiện nay, có giả thiết cho rằng đa số trường hợp Cương Thi không phải là xác chết thật mà là người sống giả chết. Theo đó, pháp sư đã chuẩn bị một loại thuốc để làm cho nạn nhân bị chết giả, xong trộn vào thức ăn, khi thuốc ngấm thì tim của nạn nhân đập chậm không nghe thấy, huyết áp hạ thấp, hơi thở rất yếu, tứ chi cứng đờ. Khi đó mọi người tưởng nạn nhân đã chết nên sẽ mang đi chôn. Vì đã có chuẩn bị trước, nên quan tài và mộ được thông hơi tối thiểu để nạn nhân không chết thật.   Khi mọi việc xong xuôi, không ai chú ý, pháp sư sẽ đào mộ đưa nạn nhân lên rồi lấy thuốc giải để cứu sống. Lúc đó nạn nhân bị thôi miên, không còn biết mình là ai, chỉ nghe theo lời dạy bảo của pháp sư. Người ta cho rằng vì ngày xưa, quan binh kiểm soát gắt gao nên những kẻ buôn bán hàng cấm phải tìm cách giấu hàng trong xác chết, lợi dụng Cương Thi để che mắt mọi người.   Những câu chuyện về Cương Thi đều rất thần bí. Vì chưa có bằng chứng xác thực giả thiết trên nên đến nay, thực hư về cương thi vẫn là bí ẩn chưa có lời giải.
ST
 
   
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Cương Thi - xác chết sống dậy

Các loại hình ngôi nhà cấm kỵ trong phong thủy

Các nhà phong thủy phái Loan Đầu rất xem trọng hình thế của căn nhà, họ cho rằng hình thế ngôi nhà phải đầy đặn, không được khuyết hãm, vì nếu khuyết sẽ làm ảnh hưởng hung hại đến người trong nhà.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo



CÁC LOẠI HÌNH NGÔI NHÀ CẤM KỴ TRONG PHONG THỦY   Các nhà phong thủy phái Loan Đầu rất xem trọng hình thế của căn nhà, họ cho rằng hình thế ngôi nhà phải đầy đặn, không được khuyết hãm, vì nếu khuyết sẽ làm ảnh hưởng hung hại đến người trong nhà.   1.     Nhà bị khuyết cạnh Nam Bắc -         Nhà cửa ở các thành phố hiện nay lâm vào tình trạng bị khuyết cạnh nhiều hơn thời xưa. Khuyết hai cạnh Nam, Bắc là khuyết hai phương thuộc hành thủy và hành hỏa. Cả thủy và hỏa đều thiếu thì đây là vấn đề nghiêm trọng. Khi mà hung tinh của Lưu niên bay đến khu vực phía bắc và phía nam thì nhà chủ về việc hao tài, mất của, bệnh tật, kiện tụng, thị phi, bất lợi…                       
                   
                  

2.     Nhà bị khuyết cạnh Đông, Tây -         Chính tây là hành Kim, chính Đông là hành Mộc. Hai phương này bị khuyết hãm lại có ảnh hưởng yếu hơn khuyết hãm Nam, Bắc. Nhà khuyết Đông, Tây thì chủ về nhà làm việc vất vả, gian nan, khó tụ tài, chí lớn khó thành và không thành công.                      
                    
                       
3.     Nhà bị khuyết góc Đông Bắc -         Góc đông bắc thuộc thổ, chủ về bất lợi sức khỏe, nhất là bệnh về đường tiêu hóa. Bất lợi cho thiếu nam.                   
4.     Nhà bị khuyết góc Đông Nam -         Góc Đông Nam thuộc Mộc. chủ về bất lợi đối với con gái đầu; về sức khỏe thì chủ về bệnh gan mật, hệ thống thần kinh.                
5.     Nhà bị khuyết góc Tây Nam -         Góc Tây nam thuộc thổ, chủ bất lợi về sức khỏe, nhất là bệnh về đường tiêu hóa, ngoài ra còn bị các chứng hư nhược. Người mẹ và nữ chủ nhân là hai người phải chịu nhiều bất lợi nhất.                        
6.     Nhà bị khuyết 4 góc -         Nhà bị khuyết cạnh 4 góc là phạm kỵ rất nghiêm trọng, không nên ở nhà này. -         Nhà phạm khuyết góc sẽ chủ về việc tai họa ngoài ý muốn, tài khí không tụ, tù tội, kiện tụng.                                 
7.     Quy đầu ngọ -         Quy đầu ngọ là nhà bị khuyết hai góc tây nam và đông nam. -         Loại nhà này sẽ xảy ra nhiều biến cố, ngoài ý muốn, cho nên thường xuyên phải di chuyển chỗ ở.                          
  Lưu ý: Cách hóa giải cho các loại hình nhà bị khuyết góc -         Dùng gương kính để cân bằng lại năng lượng, khí trường tại vùng bị khuyết -         Đặt một chậu hay bể nước có nuôi cá (số lượng cá tùy thuộc vào từng cung vị) tại vị trí bị khuyết. -         Đặt một khối đá phong thủy hay đá thạch anh để cân băng lại năng lượng. ( Đá cần phải được tẩy rửa năng lượng trước khi đặt) -         Treo hồ lô bằng đồng tại cung khuyết.

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Các loại hình ngôi nhà cấm kỵ trong phong thủy

Mơ thấy con trai: Sự nghiệp phát triển- làm ăn hưng thịnh –

Mơ thấy con trai là điềm lành, dự báo hạnh phúc như ý, sự nghiệp phát triển và làm ăn hưng thịnh. Nếu nam giới mơ thấy vợ mình sinh con trai có nghĩa là sẽ phát tài, có nguồn lợi trên phương diện kinh tế. Nữ giởi mơ thấy mình sinh con trai vởi hàm ý
Mơ thấy con trai: Sự nghiệp phát triển- làm ăn hưng thịnh –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Mơ thấy con trai: Sự nghiệp phát triển- làm ăn hưng thịnh –

Xem tình duyên của người tuổi Thìn nhóm máu AB

Những người này đến với tình yêu bằng tình cảm chân thành và trong sáng. Vì người yêu, người tuổi Thìn nhóm máu AB sẵn sàng hy sinh tất cả.
Xem tình duyên của người tuổi Thìn nhóm máu AB

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Những người này đến với tình yêu bằng tình cảm chân thành và trong sáng. Vì người yêu, họ sẵn sàng hy sinh tất cả. Họ mong muốn "nửa kia" đáp lại tấm chân tình của họ.

Một số người thuộc nhóm máu này khá tin tưởng vào duyên số. Khi tìm kiếm được người lý tưởng, họ cho rằng định mệnh đã đưa họ đến với nhau. Họ sẽ chủ động tiếp cận và gây dựng tình cảm với người ấy. Đợi thời điểm thích hợp. họ sẽ ngỏ lời yêu.


nguoi tuoi Dan coi tinh yeu la tren het
 

Trong tình yêu, họ khá lãng mạn. Họ luôn làm vừa lòng người ấy bằng những lời nói ngọt ngào, tràn đầy tình yêu thương. 

Người tuổi Thìn nhóm máu AB luôn coi gia đình là nền tảng quan trọng. Họ rất yêu thương, tôn trọng người bạn đời của mình và luôn tạo không khí gia đình đầm ấm, hạnh phúc.

Để mọi thành viên trong gia đình được hòa thuận, vui vẻ, nam giới tuổi này nên tìm bạn đời là những người phụ nữ chín chắn, độ lượng và biết cảm thông. Người vợ như vậy sẽ giúp chồng xoá bỏ những ưu phiền và có được thành công trong sự nghiệp. Nữ giới nên kết hôn với những người đàn ông trầm tính và có chí tiến thủ.

(Theo 12 con giáp về tình yêu hôn nhân)

 

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem tình duyên của người tuổi Thìn nhóm máu AB
Click to listen highlighted text! Powered By DVMS co.,ltd