Mũi khoằn, nhọn hoắt là người có tính tình hiểm độc, xảo trá. Họ luôn khiến người đối diện phải cảm giác dè dặt ngay từ lần tiếp xúc đầu tiên. Đây cũng là những người hay toan tính và sống có dã tâm.
2.Người ác khẩu
Các cụ có câu: "Khẩu xà tâm Phật". Tuy nhiên, ác khẩu cũng cần có chừng mực, bởi lời nói sắc nhọn có thể là vũ khí hủy diệt lớn hơn cả dao kéo. Những người ác khẩu cũng là người "chửi đổng" giỏi chứ chưa chắc bắt tay vào làm việc đã làm tốt.
3.Bàn tay lạnh
Người có bàn tay lạnh bất kể thời tiết nào chăng nữa thường sẵn sàng bất chấp mọi thứ để có được điều mình muốn. Đây là người không thật tâm, miệng nghĩ một đằng nhưng ngoài mặt lại nói một kiểu. Họ cũng sẵn sàng luồn cúi và có thể dùng mọi thủ đoạn để lên chức.
4.Người hay chê bai
Hay chê bai thường được biết đến như những người khó tính, nhưng cũng có thể vì bản thân họ chẳng có gì nên mới chê người khác. Những người này luôn có một chuẩn mực ngầm rất cao mà dường như khó ai có thể đạt tới, nên việc gì với họ cũng là xấu, là không tốt. Người từng trải qua nhiều biến cố lớn trong cuộc sống, không thể vượt qua được rào cản tâm lý thường có tính cách này.
5.Hay lườm
Những người này khi nói chuyện mà ánh mắt vẫn lườm, liếc nhằm đánh giá người đối diện và những người xung quanh. Đây là những người có nhiều thủ đoạn, hay tính toán, nhỏ mọn và lòng dạ lại hẹp hòi. Với những người này, dù miệng lưỡi họ có hay nói những lời ngọt ngào thì cũng khiến mọi người có cảm giác không muốn đến gần.
Hạnh Yunnie
Những chàng trai có tướng mạo không tốt
Con trai có làn da trắng, 'mặt hoa da phấn' thường không đáng tin cậy.
Từ xưa đến nay, ngọc trai luôn đi kèm với sự quý trọng và đáng giá. Một viên ngọc trai trong mơ thông thường có liên quan ít nhiều đến cá nhân. Đa số những người mơ thấy ngọc trai đều biết nguồn gốc xuất thân của ngọc trai và xem ngọc trai là một bảo
Xem tướng mũi và đoán chỉ là một phần theo quan niệm của người xưa, tuy nhiên tướng mũi cũng thể hiện khá đúng về tính cách và số phận con người. Chưa tính tới việc mũi có ảnh hưởng tướng số, mũi đẹp cũng là một trong những yếu tố giúp bạn có khuôn mặt hài hòa, ưa nhìn hơn.
Năm mới 2016 của bạn như thế nào? Hãy xem ngay TỬ VI 2016 mới nhất nhé!
Xem tướng mũi và đoán chỉ là một phần theo quan niệm của người xưa, tuy nhiên tướng mũi cũng thể hiện khá đúng về tính cách và số phận con người. Chưa tính tới việc mũi có ảnh hưởng tướng số, mũi đẹp cũng là một trong những yếu tố giúp bạn có khuôn mặt hài hòa, ưa nhìn hơn. Hãy cùng lịch vạn niên 365 xem bạn có tướng mũi phú quý, giàu sang không nhé.
1./ Mũi là cơ quan thẩm định
Mũi phải đầy đặn, không méo lệch, không ngắn quá, không quá to, quá nhỏ, mũi cao và có thịt, sắc hồng hào. Đó là tướng quý của mũi vì nó thể hiện thông minh, giàu sang.
Mũi mà không đủ đầy như trên, thiếu mặt này mặt kia thì hoặc kém cỏi hoặc nghèo hèn. Các tướng thuật cho rằng mũi còn là trung nhạc (gò trung) sao Thể (thổ tinh) hay Thể súc (thổ giác) và rằng tướng mũi thể hiện khí chất, tính tình và tài lộc.
Song dù sao thì mũi, cụ thể là tướng mũi cũng chỉ thêm phần tham khảo để khẳng định tính chính xác của thông tin dự báo. Nó không phải là yếu tố hoàn toàn quyết định về giàu, sang hay tuệ, ngu. Ví như để khẳng định người giàu có còn liên quan đến tướng tai, cằm, mày, trán v.v… Mũi chỉ để góp thêm như “áo gấm thêu hoa”. Ta không thể thấy mũi có dáng “mật treo” đầu mũi mà bảo ngay “bạn sẽ giàu có” hoặc “ông là người giầu có”. Như vậy quả hồ đồ, mà nên xem thêm các bộ phận khác ở mặt và hình thể nữa. Bởi lẽ bộ phận này phá bộ phận kia. Bộ phận chính đạo sẽ lấn áp bộ phận phụ đạo. Ví như mũi thì đẹp đấy nhưng ấn đường có rộng thẳng, ngay ngắn, sắc tươi hồng, nhuận nhị không và tại tai có “giữ của” được không v.v… rồi hãy kết luận số giàu có.
2./ Tướng mũi cần phải cần quan tâm đến các phần
Kiểu mũi (dáng hình mũi) Sắc khí (màu da mũi) Biệt tướng mũi (mũi đặc biệt khác thường). - Kiểu mũi. + Mũi dọc dừa (sống mũi khum, cao thẳng, dáng đẹp): Tướng thông minh, tính khoáng đại, đàng hoàng. + Mũi cao nhỏ phần sát ấn đường bé nhỏ, tối: Tướng hãm tài khó thành đạt, tính ích kỷ, nhỏ nhen, tán tài sản. + Mũi cao thường, khum đều đầu tròn cánh mũi dầy vừa: Tướng giàu có, tính nhân hậu, người hiền lương. + Mũi nhọn (cao đầu nhọn bé): Tướng nghèo, tính kiêu ngạo, hách trạc, hăng hái. + Mũi nhòm mồm (đầu mũi cong xuống nhìn nhân trung): Tướng kiêu kỳ, tự cao, tự đại, bản tính háu ăn, nghèo. + Mũi diều hâu (sông mũi cao cong gồ đầu mũi nhọn): Tướng nhỏ nhen, sâu mưu, quỷ quyệt, nhẫn nhục, nhưng tính bạo tàn, bất nghĩa (khi khổ cùng nhau, lúc sướng bạc tình phũ phàng). + Mũi tẹt (sông mũi thấp, đầu mũi bé): Tướng nghèo, trí tuệ kém.
3./ Biệt tướng mũi.
Mũi có hình dạng khá đặc biệt như: + Mũi như một cái ống tròn, 2 cánh mũi không nổi rõ ràng. Tướng: Trí tuệ khá, nhưng không giàu có. + Mũi hếch (như mũi khỉ) trông thấy lỗ mũi thì yểu tướng và cơ hàn (nghèo khổ). + Mũi có ba ngấn thì cô độc và phá sản. + Mũi có ba chỗ lõm xuống ở sống mũi thì anh em bô” mẹ ly tán, mỗi kẻ một phương. + Mũi mà đầu mũi (chuẩn mũi) nổi hẳn cao sáng tươi thì giàu có, vinh hiển. + Mũi như củ tỏi để lên mặt (cuông mũi bé thấp tẹt). Nếu hai gò má thấp tức Gò Đông (Đông Nhạc) và Gò Tây (Tây Nhạc) mà cao đầy thì giàu có lắm. Đó gọi là tướng “hai lính gác canh kho của”. Nếu hai gò Đông, Tây thấp thì xấu. + Mũi to đùng, đầu mũi to dày quá khổ, quá đáng thì “tiền phú, hậu bần”. Trước có trung niên trở đi nghèo. + Đầu mũi mỏng nhỏ, hai cánh khép lại thì không may, khốn đốn; có phen cơ hàn; có lúc mất chức. + Mũi mà xương lộ ra hết (mũi xương sẩu) thì là kẻ nhát gan, hèn yếu. + Đầu mũi xa xuống thì hoang dâm vô độ (kẻ tham dâm dục). + Mũi cao thẳng ngang thiên đình (trán trên) thì oai vang dội khắp nơi, danh nổi như đình (người nổi danh thiên hạ). + Mũi trcíng lộ cao quá (lỗ mũi lộ to) hếch lên tướng chết đường, chết chợ. + Mũi đầu mũi (chuẩn) thấp tẹt thì tâm tư thường rốì loạn, vất vả, nghèo. Tóm lại, về hình thể mũi đương nhiên quy nạp lại chỉ hai dạng: + Đẹp: Không quá cao mà cao bằng ấn đường, đầu mũi tròn đầy, cánh mũi không dầy quá, sắc tươi sáng thì “phú quý khả cầu” giàu, sang, quan, lộc được dễ dàng, sống thọ. + Xấu: Thì thiếu, khuyết, vênh, vẹo, không bình thường thì không nghèo cũng khổ cực; không lao tâm, hung bạo, quỷ quyệt, cũng bất nhân, bất nghĩa; không ngu hèn cũng chết yểu, bỏ xác ở đường chợ. Vì vậy khi xem qua nên xác định ngay mũi đẹp, xấu.
>>> Năm mới 2016 AI xông đất nhà bạn? Sẽ mang lại nhiều may mắn tài lộc?
Xem ngay XEM TUỔI XÔNG ĐẤT 2016 mới nhất>>>
4./ Sắc khí của mũi.
Sắc khí cũng quan trọng, sắc khí mũi thuộc “duy biến” và “thường biến”. Duy biến theo vận. + Sắc khí mũi hồng tươi là quý đang quan quyền. + Sắc khí sạm nhạt khô là tồi đang vận xấu. Đầu mũi đỏ tía điềm tiến phát đến nơi. - Ngoài ra tướng mũi còn được Đông y xem xét tham khảo về mặt bệnh tật của một người như: + Mũi có màu vàng thì ngực (phổi) nhiều hàn (lạnh). + Mũi có màu trắng nhạt là người bị mất máu nhiều. + Mũi có màu xanh thì đau ở vùng bụng, chết vì lạnh (hàn). + Mũi có màu đen người đọng nước (như phù thũng; hơi thở nhiều nước). + Mũi sưng bị phổi hư. + Mũi khô là chứng hàn nhiệt. + Mũi có màu trắng bệch nghĩa cơ thể có chỗ bị chấn thương nặng. + Mũi đỏ trong bụng nhiều giun sán. Hay như tướng mũi cho nhận định thể trạng. Ví dụ: Mũi to thì khí thừa. Mũi tròn thì lợi phổi. Mũi nhỏ thì thiếu khí, phổi kém, người yếu.
5./ Các nhà tướng thuật xưa còn đem mũi của các loài thú và súc vật để đặt tên cho mũi của con người
+ To như mũi trâu thì giầu. + Hếch như mũi tinh tinh thì nghèo, chết yểu. + Thẳng như mũi chó thì thính, tính nhạy cảm. + Hai cánh mũi cá ngao: Hèn kém, nghèo. + Mũi sư tử thì hách trạc, giàu. + Mũi tê giác thì thọ. + Mũi vượn thì kém cỏi, tự ti. + Mũi hươu nai sang, thông minh. + Mũi lợn: Thì nghèo, yểu tướng, trí tuệ kém cỏi, tính bảo thủ. Người Hoa còn lấy kiểu chữ (tượng hình) để đặt như: Mũi chữ “xuyên” cuộc sông luôn bình yên v.v…
6./ Một số tướng mũi phú quý
Mũi lân
Sống mũi không cao không thấp, đầu mũi dày, nở to nhưng không nhìn thấy lỗ mũi, da đầu mũi mịn và hồng hào. Người mũi lân có kiến thức rộng, sức khỏe tốt, về sau sống thanh thản.
Mũi rồng
Là chiếc mũi của tham vọng chính trị, quyền lực và đa nghi. Sống mũi rồng cao, dáng thẳng, khoảng cách giữa hai chân cánh mũi rộng, đầy đặn. Chóp mũi hơi phẳng, đầu hơi khoằm nhẹ nhưng không phải mũi két.
Mũi mật
Là chiếc mũi đầy, tròn đỏ ửng, thể hiện sự giàu sang quyền quý của phái nữ, sóng mũi cao, cong nhẹ ở gốc mũi trán. Đầu mũi kín và tròn (nhưng không to) ôm trọn từ đầu mũi đến hai chân cánh mũi.
Mũi củ tỏi
Chóp mũi đầy và căng phồng, có ngấn ngăn cách nhẹ với hai cánh mũi như hình củ tỏi bổ dọc. Mũi này tuy không đẹp nhưng tốt tướng, là chiếc mũi của giàu có, thành công, thể hiện cho những người thích danh vọng.
>> Đã có VẬN HẠN 2016mới nhất. Hãy xem ngay, trong năm 2016 vận mệnh bạn như thế nào nhé! >>
Hưởng thụ đời người có phải là ăn ngon mặc đẹp, giàu sang sung sướng? Có lẽ là phải. Nhưng hưởng thụ bằng cách nghe kinh niệm Phật thì không những nhàn thân nhàn tâm trong hiện tại mà còn thanh thản cả ở tương lai.
=> Đọc thêm: Chuyện tâm linh huyền bí bốn phương có thật
10 việc nên làm khi đi tảo mộ có khả năng tăng phần phúc đức 1. Nghe kinh niệm Phật là nhất đẳng hưởng thụ của đời người, không gì so sánh được. Bởi không cần tốn tiền, không phải đua tranh, chỉ cần chân tâm.2. Kinh Phật triết học là toàn bộ thế giới triết học cao thâm nhất, sâu sắc nhất. Học Phật chính là cách thức tiếp cận với thế giới, nhân sinh và là cách hưởng thụ tri thức toàn diện.12 loại nhân quả báo ứng ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc đời con người 12 loại nhân quả báo ứng có ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc đời của mỗi người. Đó là gì, hãy cùng ## xem nhé! 3. Phật giáo không đơn thuần là tôn giáo, không phải mê tín, nếu chỉ coi như đây là nơi gửi gắm tâm hồn, bày tỏ ước vọng thì thực sự học Phật chưa đủ tín tâm, đọc kinh Phật chưa đủ chuyên chú.4. Niệm Phật là niệm điều thiện, có điều thiện chính là hưởng thụ. Nghe Phật pháp là thấu lẽ phải ở đời, có lẽ phải chính là hạnh phúc.5. Đến chùa miếu không cầu hòa thượng, chỉ cầu kinh Phật, vì có kinh là có Phật, có kinh là có tư tưởng, đạo lý, cầu kinh là thấm nhuần học thuật, hiểu lẽ nhà Phật. Kinh sách chính là nơi Phật giáo tồn tại.Phật nhập cõi Niết Bàn để lại 4 câu trả lời cho mọi vấn đề 6. Hiểu kinh sách thì ắt học theo, học theo ắt thành người hiền đức, là người hiền đức chính là đãi ngộ lớn, hưởng thụ cao mà đời người có được.
7. Tri thức là vô biên, học cả đời không hết, biển kinh là vô sở, muốn hiểu thấu trọn đời cũng không thông. Vì thế, giữa vui buồn nhân gian, không ngừng tìm kiếm chân giá trị, không ngừng để bản thân mở mang và sâu rộng hơn, thì so với điều gì cũng cảm thấy tốt hơn.Tâm Lan Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Thanh Vân (##)
5 dấu hiệu trên lòng bàn tay chứng tỏ bạn dễ lấy chồng đại gia
Nếu có hình chữ thập ngay dưới đường tâm đạo, bạn dễ có cuộc sống gia đình hạnh phúc, giàu sang, không bao giờ phải lo lắng về các vấn đề tiền bạc, vật chất.
Đây là dấu hiệu điển hình của những cô nàng có số "vượng phu" - không những lấy được chồng giàu, mà cuộc sống hôn nhân cũng rất hạnh phúc, viên mãn.
2. Dưới đường tâm đạo có hình chữ thập
Hình chữ thập đại diện cho tình yêu, hôn nhân và hạnh phúc. Nếu có hình chữ thập ngay dưới đường tâm đạo, bạn dễ có được cuộc sống gia đình hạnh phúc viên mãn, cuộc sống giàu sang, phú quý, không bao giờ phải lo lắng về các vấn đề tiền bạc, vật chất.
3. Trên ngón tay có vân tiền tài
Vân tiền tài nhỏ, mảnh, nằm ở giữa ngón út và ngón vô danh. Những người có vân tiền tài thường lấy được chồng đại gia, tài sản kếch xù, cuộc sống giàu sang phú quý, không phải lo nghĩ gì chuyện tiền nong.
4. Lòng bàn tay sáng mịn và hồng hào
Những người có lòng bàn tay sáng mịn, hồng hào thường tính cách tốt bụng, nhiệt tình. Mọi chuyện xảy ra với họ đều thuận buồm xuôi gió, dữ hóa lành... Không những thế, họ còn dễ lấy được người chồng vừa có tài lại có đức - lúc nào cũng yêu chiều, chăm sóc, cuộc sống trôi qua yên bình, nhẹ nhàng.
5. Lòng bàn tay có nốt ruồi
Nốt ruồi trong lòng bàn tay là đại diện cho sự thông minh và tài lộc - cuộc sống an nhàn, dễ lấy chồng giàu sang, môn đăng hộ đối.
Trong tử vi thì Sao Thiên đồng chủ về phúc thọ, hóa khí là phúc, có khả năng kéo dài tuổi thọ, giải ách, chế hóa; lại chủ về mệnh giỏi văn chương, âm nhạc
Trong tử vi thì Sao Thiên đồng chủ về phúc thọ, hóa khí là phúc, có khả năng kéo dài tuổi thọ, giải ách, chế hóa; lại chủ về mệnh giỏi văn chương, âm nhạc nhưng khả năng truyền đạt không tốt.
Khi thiếu niên hoặc về già chủ về muôn sự cát lợi, được cha mẹ yêu quý, che chở từ nhỏ, an hưởng tuổi già, con cái hiếu thuận, cuộc sông thoải mái.
Trong Lá số Tử vi, Thiên đồng ưa nhất gặp Thái âm ở chỗ Tý, là cách cục Thủy trừng quế ngạc, chủ về làm quan thanh liêm, có bất động, có cha mẹ mẫu mực, mệnh nữ nên làm vợ lẽ. Nếu Thiên đồng, Thái âm ở Ngọ thì mệnh nam đào hoa, mệnh nữ có cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc.
Thiên đồng ưa tọa cung Điền trạch, có tiền tài.
Thiên đồng, Thiên lương tại Thân, Dần, mệnh nữ nên làm vợ lẽ.
Mệnh nữ có Thiên đồng tọa Mệnh rất đáng yêu, được chồng yêu chiều.
Thiên đồng và Đà la đồng cung dễ phát phì.
Thiên đồng và Dương nhẫn đồng cung dễ bị thương bên ngoài.
Thiên đồng tọa cung Mệnh, cung Thân trong lá số tử vi , dù nam hay nữ đều có khuyết điểm là quá tùy tiện, không biết phân biệt chính tà phải trái.
Ngưòi có Thiên đồng tọa thủ cung Mệnh nên mập không nên gầy, mập sẽ có phúc, gầy thì mệnh khổ; cũng không thể quá mập. Mệnh nữ có tư tưởng cam chịu, phó mặc cho sô" phận.
Thiên đồng ưa tọa cung Phúc đức, chủ về hưởng phúc.
Thiên đồng tọa cung Phu thê hoặc tổ hợp sao Thiên đồng như Thiên đồng, Thiên lương; Thiên đồng, Thái âm; Thiên đồng, Cự môn tọa cung Phu thê nên kết hôn muộn.
Trong tử vi Thiên đồng không ưa đồng cung vối Cự môn, dù tọa cung nào đều không cát lợi, chủ về nội tâm đau khổ, tinh thần dày vò, u uất.
Mông nhỏ, hẹp hơn so với vai? Bạn là cô gái đẹp và duyên dáng. Tuy nhiên, cuộc sống của bạn không gặp nhiều may mắn cho lắm bởi vòng 3 đại diện cho sự ổn định. Bạn đủ mạnh mẽ để vượt qua mọi khó khăn, tuy nhiên khó giữ tiền của được lâu bền.
2.Kích thước vòng 3 vừa phải
Kích thước mông rộng tương đương vai được xem là vừa phải. Nhìn từ phía sau, cặp mông đầy đặn và linh hoạt được gọi là “tiêu chuẩn”. Sở hữu vòng 3 này, bạn khá “mắn đẻ”, giỏi kiếm tiền cũng như tiết kiệm tiền.
3.Vòng 3 quá lớn
Bạn có dáng người hơi “đậm”, khá lười và chậm chạp. Chuyện tình yêu của bạn không hoàn mỹ. Tuy nhiên, đời sống hôn nhân của bạn lại tốt.
4.Vòng 3 võng
Mông của bạn võng, xệ xuống? Bạn làm ít hưởng nhiều. Cuộc sống của bạn thiên về tận hưởng nhiều hơn là làm việc chăm chỉ ^^.
5.Vòng 3 lép
Mông đại diện cho sự ổn đinh. Mông quá lép, bạn sẽ gặp khó khăn trong việc sinh nở, làm giàu cũng như sự nghiệp của bạn khó thành công hơn những người khác.
6.Vòng 3 hếch
Bạn lãng mạn, đa tình, có xu hướng coi tình yêu như trò chơi. Bạn có khả năng kiếm tiền, nhưng lại khó có thể giữ tiền lâu dài.
7.Vòng 3 căng tròn
Bạn khéo léo, có khả năng kiếm tiền tốt nhưng không giỏi trong việc kiểm soát chi tiêu. Bạn có thể kết hôn với người chồng tốt và sinh được những đứa trẻ kháu khỉnh.
Căn nhà thế nào mới có thể thu nạp bốn đại khí trường của phong thủy? –
Mỗi một căn nhà đều chịu ảnh hưởng của bốn đại khí trường Tý, Ngọ, Mão, Dậu (Đông, Tây, Nam, Bắc). Người Trung Quốc rất thích xây dựng nhà theo kiến trúc tứ hợp viện, lý do là có thể cân bằng được năng lượng của bốn đại khí trường của ngũ hành. Căn n
Mỗi một căn nhà đều chịu ảnh hưởng của bốn đại khí trường Tý, Ngọ, Mão, Dậu (Đông, Tây, Nam, Bắc). Người Trung Quốc rất thích xây dựng nhà theo kiến trúc tứ hợp viện, lý do là có thể cân bằng được năng lượng của bốn đại khí trường của ngũ hành.
Căn nhà “tứ chính” mà chúng tôi thường xuyên đề cập ở trên được coi là căn nhà có phong thuỷ tốt nhất. Cũng có thể nói, tứ hợp viện là căn nhà cát hấp thụ được năng lượng ngũ hành của đại khí trường.
Trong ngày lễ Vu lan, chư Tăng thường tổ chức các buổi lễ cầu nguyện cho người đã quá cố. Những khóa lễ đặc biệt được tổ chức ở các chùa suốt cả ngày lẫn đêm trong mùa Vu lan để cầu nguyện cho các vong linh đã quá vãng,
Các nước theo Phật giáo trên thế giới đều có cách thể hiện riêng tấm lòng hiếu nghĩa trong ngày lễ Vu lan.
Ngày lễ Vu lan bắt nguồn từ sự tích ngài Mục Kiền Liên, một trong mười vị đại đệ tử của Đức Phật Thích Ca, nhờ vào phước đức cúng dường phẩm vật lên chư Tăng trong ngày Tự tứ và sức chú nguyện của Tam bảo mà mẹ của ngài thoát được kiếp khổ ngạ quỹ, sinh về thiên giới.
Noi gương hiếu hạnh của ngài Mục Kiền Liên, ngày nay những người đệ tử của Phật, đặc biệt là tại những quốc gia theo truyền thống Phật giáo Bắc truyền, chịu ảnh hưởng từ Phật giáo Trung Hoa, đều tổ chức lễ Vu lan để hồi hướng phước đức, cầu nguyện cho cha mẹ hiện tại và cha mẹ trong quá khứ.
Lễ hội Vu lan ở mỗi quốc gia đều có nét đặc trưng riêng của quốc gia đó, điển hình như là lễ hội Vu lan ở Trung Hoa, Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia, Việt Nam...
1. Lễ Vu lan tại Trung Quốc
Ở Trung Quốc, đến mùa Vu Lan, người ta đi thăm viếng phần mộ của người thân đã quá cố và sửa sang, quét dọn lăng mộ. Họ cúng thực phẩm và giấy tiền, vàng mã cho những người đã khuất.
Họ đốt giấy tiền, vãng mã để cúng cho người quá cố và tin rằng, khi đốt những đồ hàng mã ấy thì linh hồn người mất sẽ nhận được, nhờ vậy mà các vong linh ấy đỡ khổ, đỡ vất vả, đồng thời không quấy rầy đến các công việc làm ăn, sinh sống của người còn sống, ngược lại còn phò hộ cho người sống được ăn nên làm ra.
Lễ Vu lan ở Trung Hoa
Trong ngày lễ Vu lan, chư Tăng thường tổ chức các buổi lễ cầu nguyện cho người đã quá cố. Những khóa lễ đặc biệt được tổ chức ở các chùa suốt cả ngày lẫn đêm trong mùa Vu lan để cầu nguyện cho các vong linh đã quá vãng, cho những vong hồn đang bị đói khát dày vò nơi cảnh giới địa ngục, ngạ quỷ được ấm no, an lành. Thường thì người Phật tử ở Trung Hoa tổ chức lễ Vu lan từ ngày 15 tháng 7 cho đến ngày 30 tháng 7 âm lịch.
2. Lễ cúng cô hồn và nghi thức cài hoa hồng đặc sắc tại Việt Nam
Ở Việt Nam chúng ta, cùng với sự hồi sinh và phát triển của Phật giáo, lễ Vu lan ngày càng được tổ chức quy mô và trọng thể hơn. Cũng trong ý nghĩa báo hiếu công ơn của tổ tiên, ông bà, cha mẹ và cứu giúp cho các vong linh, người Phật tử ở nước ta thường đến chùa tụng kinh, cầu nguyện, cúng dường Tam bảo để hồi hướng công đức cho ông bà, cha mẹ và cho pháp giới chúng sanh.
Nhiều nơi còn tổ chức đại lễ trai đàn chẩn tế để cúng dường, bố thí và cầu nguyện cho chư vị âm linh, vong linh cô hồn.
Có một nghi thức rất đặc biệt, rất riêng, chỉ có người Việt mới tổ chức trong ngày lễ Vu lan, đó là nghi thức cài hoa hồng. Chính nghi thức cài hoa hồng này đã khiến cho nhiều người phải thổn thức khi trân trọng cài hoa lên ngực áo, đã khiến cho không biết bao nhiêu người rơi nước mắt khi phải ngậm ngụi cài lên ngực áo một đóa hồng màu trắng; và thông qua lễ cài hoa hồng này mà có không ít người đã hồi tâm tỉnh giác, trở nên hiếu thảo với cha mẹ hơn, sống tốt hơn.
3. Lễ Obon của người Nhật Bản
Nếu như ở Việt Nam có lễ Vu Lan diễn ra vào ngày 15 tháng 7 âm lịch hàng năm, thì ở Nhật Bản cũng có lễ Obon báo hiếu diễn ra vào tháng 8 dương lịch hàng năm. Obon hay còn được gọi là Bon (Ngày của người chết), là một phong tục truyền thống của người Nhật theo Phật giáo. Lễ hội này dược tổ chức để tưởng nhớ những người thân đã qua đời. Trải qua thời gian dài, phong tục này đã phát triển thành lễ đoàn tụ gia đình, là thời điểm mọi người trở về quê cha đất tổ thăm viếng, dọn dẹp phần mộ của tổ tiên. Đây cũng là thời điểm mà họ tin rằng linh hồn của những người đã mất được phép trở về thăm con cháu.
4. Tại một số quốc gia khác
Ngoài ra, tại Malaysia, ngày lễ Vu lan còn gọi là Ngày Tổ Tiên, hay là Lễ hội tháng Bảy. Theo phong tục, vào ngày lễ Vu lan thì người dân nghỉ làm tất cả các công việc đồng áng và cử hành nghi thức siêu độ vong linh.
Một góc lễ hội Vu lan ở Malaysia
Tại Ấn Độ, tuy không có ngày lễ Vu lan, nhưng tinh thần hiếu đạo trong những người con Phật thì từ xưa cho đến này đều luôn tỏ rõ. Rất nhiều bia ký được tìm thấy tại các di tích Phật giáo ở khắp Ấn Độ đều cho thấy rằng, trong suốt nhiều thế kỷ, các nhà sư cũng như tín đồ Phật giáo, từ hoàng tộc cho đến dân chúng đã xây chùa, dựng tháp, tạc tượng, dâng y... để cúng dường Tam bảo ngõ hầu hồi hướng công đức cho cha mẹ, tổ tiên và pháp giới chúng sinh.
Người xưa cho rằng, nếu một người có đủ cả 5 yếu tố của ngũ hành (về mặt tính cách) đồng thời phát triển đồng đều thì người đó sẽ rất hoàn thiện. Trên thực tế
Tuy nhiên bạn vẫn có thể cải thiện, bù đắp cho bát tự của mình theo các bước sau:
Bước 1: Đầu tiên tra thiên can và địa chi của tuổi mình trong cuốn lịch vạn niên. Ví dụ bạn sinh năm 1987 thì tuổi của bạn là Đinh Mão (can Đinh và chi Mão). Chú ý là phải căn cứ theo lịch âm.
Bước 2: Theo quy luật âm dương ngũ hành của can chi để tìm ra thuộc tính âm hay dương của thiên can và địa chi.
Can Giáp và Ất theo ngũ hành thuộc hành Mộc nhưng phân chia tiếp theo âm dương thì Giáp là dương Mộc còn Ất là âm Mộc; Bính thuộc âm Hỏa, Đinh thuộc dương Hỏa; Mậu thuộc dương Thổ, Kỷ thuộc âm Thổ; Canh thuộc dương Kim, Tân thuộc âm Kim; Nhâm thuộc dương Thủy, Quý thuộc âm Thủy.
Bước 3: Nắm vững quan hệ sinh khắc của ngũ hành. Trước tiên, cần nắm vững các quy luật sinh, khắc, chế, hóa của các hành với nhau xem sự thúc đẩy phát triển và kìm hãm lẫn nhau như thế nào để phán đoán và bổ khuyết cho mình.
Bước 4: Tìm hành có quan hệ tương sinh, tương khắc với mình. Nếu thiên can của bạn thuộc Mộc, theo ngũ hành thì Thủy sinh Mộc và Kim khắc Mộc. Bạn nên học tập những ưu thế của người thuộc hành Thủy đó là những đức tính linh hoạt, khiêm tốn; nên học hỏi người hành Kim phẩm chất quả cảm, quyết đoán và kiên định. Bởi vì những đức tính đó là chỗ mạnh của người khác, nhưng là cái mà bạn thiếu.
Vận trình 12 con giáp trong tiết Đại Tuyết báo hiệu một cuối năm bận rộn và có những tín hiệu mừng với ai đã cố gắng chăm chỉ suốt năm dài.
Tiết khí Đại Tuyết bắt đầu từ ngày 6 hoặc 7 tháng 12 kéo dài tới ngày 21 hoặc 22 tháng 12. Khoảng thời gian cuối năm này, tất cả các đều dồn sức để hoàn thành mục tiêu, cùng xem 12 con giáp trong tiết Đại Tuyết có thể thực hiện được nguyện vọng của mình hay không.
Tuổi Tý
Không phải tuổi Tý quá mẫn cảm mà quả thật có dấu hiệu cho thấy người thứ ba xuất hiện, ảnh hưởng tới hạnh phúc của bạn. Lúc này không thể kích động, chỉ trích đối phương mà căn cứ vào tình huống thực tế để chọn biện pháp đối phó thích hợp nhất, bảo vệ mối quan hệ.
Tuổi Sửu
Có thể người tuổi Sửu muốn thử sức trong một lĩnh vực mới những chưa chắc đã thành công nên đừng vội vàng nghe người khác thuyết phục mà đầu tư hết vào đó. Thực tế vẫn luôn hữu hiệu hơn, chăm chỉ làm tốt việc của mình, không sinh tham lam thì tránh được rủi ro.
Tuổi Dần
12 con giáp trong tiết Đại Tuyết, người tuổi Dần được giúp đỡ nên khá suôn sẻ, tận dụng đắc lực sức ảnh hưởng của quý nhân để nắm chắc cơ hội, thu về thành công. Cũng từ đó vận trình tài lộc của bạn thăng hoa theo.
Tuổi Mão
Biện pháp tốt nhất để đối phó với tiểu nhân chính là tránh xa, không cho họ có cơ hội lại gần, thân thiết và bày trò hãm hại. Tuổi mão sẽ đối mặt với sự quấy nhiễu khá lớn, đừng quá để ý cũng đừng kinh ngạc tự trách, bình tĩnh để sáng suốt vượt qua.
Tuổi Thìn
Làm người không thể lúc nào cũng theo ý mình được nên khó tránh khỏi các mối quan hệ xã giao, cần giữ chừng mực. Đối mặt với những tình cảm mê hoặc, tán tỉnh, tuổi Thìn không nên xao lãng mà đánh mất chính mình, để bản thân phạm phải sai lầm.
Tuổi Tị
Vận trình quan hệ xã hội của tuổi Tị không tốt lắm, muốn rộng mở đường sự nghiệp cần quan tâm tới cảm xúc, thái độ của lãnh đạo, ăn nói cẩn trọng, không nhiề lời, tránh ảnh hưởng tới may mắn của bản thân.
Tuổi Ngọ
Phương diện công việc không thuận lợi, áp lực tăng cao làm cho tuổi Ngọ tinh thần lo lắng, lúc nào cũng bồn chồn, sốt sắng, không nghỉ ngơi đầy đủ khiến sức khỏe suy giảm nghiêm trọng. Đề nghị người tuổi Ngọ quan tâm tới giấc ngủ hơn, bảo vệ thân thể mới có sức giải quyết công việc.
Tuổi Mùi
12 con giáp trong tiết Đại Tuyết thì tuổi Mùi là khổ cực nhất, mọi mặt đều không có chuyện gì tốt đẹp, bốn bề là kẻ địch, bất ổn ngập tràn, việc này chưa qua việc khác đã tới. Bạn luống cuống chân tay, mệt mỏi mà ứng phó.
Tuổi Thân
Vận trình tốt đẹp đến bất ngờ nên khi tuổi Thân nhận ra mình đang may mắn thì đã bất ngờ và vui mừng rất nhiều. Việc chưa đến tay đã có người giúp đỡ, tình duyên nở rộ, đào hoa thịnh vượng, nhận lời hẹn ước với người ta, bắt đầu mối quan hệ ngọt ngào.
Tuổi Dậu
Không chỉ chú ý tới sự nghiệp, hạnh phúc gia đình cũng là việc rất quan trọng đấy tuổi Dậu nhé. Nếu bạn khiến đối phương có cảm giác lạc lõng, thiếu quan tâm thì ắt sẽ phiền phức to, chấn chỉnh lại ngay đi thôi.
Tuổi Tuất
Chúc mừng tuổi Tuất, tiết Đại Tuyết là dịp thảnh thơi, nhàn nhã và vui vẻ nhất của bạn trong thời gian gần đây. Muốn gì có nấy, làm gì cũng hanh thông, không gặp trở ngại lại còn toàn điều may, tuổi Tuất đếm tiền mỏi tay, thu tình đầy tim.
Tuổi Hợi
Bất luận ngoại cảnh biến hóa như thế nào thì trong lòng mình cũng phải vững vàng, có chính kiến riêng, tránh tự mình dọa mình. Vận trình tuổi Hợi quan trọng nhất là tâm thái, nói cách khác tâm thái sẽ quyết định vận trình của bạn trong tiết Đại Tuyết. Nguyên tắc dưỡng sinh trong tiết Đại TuyếtTiết Đại Tuyết sương giăng, đông giáThái Vân Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Bích Ngọc (##)
Quẻ dịch bao gồm có quẻ đơn và quẻ kép (trùng quái), quẻ đơn gồ có 3 hào, và không nằm ngoài 8 quẻ: Càn, Đoài, Ly, Chấn, Tốn, Khảm, Cấn, Khôn. Trùng quái bao gồm 2 quẻ đơn đặt trên dưới liền nhau tạo thành 1 quẻ kép có 6 hào. Quẻ tren gọi là thượng quái, quẻ dưới gọi là hạ quái. Vì là có 8 quẻ đơn chồng lên nhau theo quy luật thứ tự biến các hào, nên sẽ có 8 * 8 = 64 quẻ.
Lập quẻ dịch theo thời gian: Năm, tháng, ngày, giờ:
Các bước lập trùng quái:
1. Xác định số cho thời gian: a/ Giờ: - Giờ tí là số 1 - Giờ sửu là số 2 - Giờ dần là số 3 - Giờ mão là số 4 - Giờ thìn là số 5 ...... - Giờ hợi là số 12
b/ Ngày (âm lịch) - Ngày mồng 1 là số 1 - Ngày mồng 2 là số 2 - Ngày mồng 3 là số 3 ........ - Ngày 30 là số 30
c/ Tháng (âm lịch) - Tháng giêng là số 1 - Tháng 2 là số 2 ...... - Tháng 12 là số 12
d/ Năm - Năm tí là số 1 - Năm sửu là số 2 - Năm dần là số 3 ...... - Năm hợi là số 12
Chú Thích: - Khi dự đoán vận mệnh cuộc đời thì lấy giờ, ngày, tháng, năm sinh. Trong đó năm sinh lấy theo hàng can với các số tương ứng như sau: Giáp=1, ất =2, bính =3, đinh =4, mậu = 5, kỷ = 6, canh = 7, tân =8,nhâm = 9, quý =10. - Lấy thời điểm trước lập xuân và sau lập xuân để tính năm tháng lập quẻ. lập xuân thường là ngày 4 hoặc ngày 5 tháng 2 dương lịch. nếu sinh sau ngày đó thì tính là năm mới, nếu sinh trước ngày đó thì tính là năm cũ.
2. Mã hóa 8 quẻ đơn theo số dư tính toán Cụ thể như sau:
3. Tính toán lập quẻ - Quẻ chủ: + Quẻ thượng: Lấy tổng gồm các số của ngày + tháng + năm rồi chia cho 8, được số dư tra theo số của quẻ đơn bên trên. + Quẻ hạ: Lấy Tổng gồm các số: Giờ + ngày + tháng+ năm rồi chia cho 8 lấy số dư, tra số quẻ bên trên. Nếu mà chia hết thì lấy số 8 để tra quẻ.
- Quẻ biến: Xác định hào động biến: lấy tổng số của : Giờ + ngày + tháng + năm rồi chia cho 6 lấy số dư nếu không có số dư thì hào 6 là hào động biến Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Mỹ Ngân (##)
Ưu, khuyết điểm phong thủy của các loại cầu thang thường dùng
Trong phong thủy nhà ở, cầu thang không chỉ để lên xuống mà còn lưu thông khí, ảnh hưởng tới vận trạch. Dưới đây là ưu khuyết điểm của các loại cầu thang
Trong phong thủy nhà ở, cầu thang không chỉ là nơi lên xuống mà còn là vùng lưu thông khí, ảnh hưởng tới vận trạch. Dưới đây là một số ưu khuyết điểm của các loại cầu thang thường dùng, bạn đọc tham khảo để chọn cầu thang phù hợp nhất với gia đình.
Những chú ý trong phong thủy cầu thang mà ai cũng biết là cầu thang nên dựa vào tường và tuyệt đối không đặt ở trung tâm ngôi nhà. Cầu thang là nơi tụ khí và dưỡng khó, tối kị cầu thang đối cửa, sẽ làm thất thoát tài vận và trạch vận. Cầu thang giúp lưu thông khí, dưỡng khí trong nhà nên độ dốc càng nhỏ thì hiệu quả càng cao. Mỗi loại cầu thang đều có ưu điểm và khuyết điểm riêng, xin liệt kê một số loại thường dùng để bạn đọc lựa chọn loại tốt nhất với phong thủy nhà ở của mình.
Bố trí cầu thang hợp mệnh gia chủ (phần 1)Phương pháp chọn đúng bậc cầu thang Sinh, tránh bậc Lão, Bệnh, TửBố trí cầu thang hợp mệnh gia chủ (phần cuối)1. Thang xoắn ốc
Ưu điểm của loại thang này là tiết kiệm không gian và có tính nghệ thuật, cũng có tác dụng phong thủy khá tốt. Thang xoắn ốc tốt nhất là xoay trong 270 độ, nếu độ xoay quá nhỏ thì vợ chồng trong nhà không hòa thuận. Khuyết điểm của loại thang này là không phù hợp với nhà có người già và trẻ nhỏ.2. Thang gấp khúc
Loại cầu thang này ưu điểm là ngắn gọn, dễ tạo hình và phong phú về thể loại, có loại gấp khúc 90 độ, 360 độ hay có 2 lần gấp khúc. Khuyết điểm là tốn diện tích. Hơn nữa, phong thủy nhà ở cũng không khuyến khích loại thang này vì ngụ ý vận thế khấp khệnh, tài khí không liền mạch.3. Thang vòng cung
Đây là loại cầu thang lý tưởng vì có vẻ đẹp thẩm mĩ lại an toàn, trên phương diện phong thủy cũng rất được, thông suốt, khí tụ khí lưu đều được nên gia trạch phúc ấm. Song loại thang này lại tốn diện tích, cần có không gian rộng mới bố trí được.
► Xem phong thủy và những điều ảnh hưởng đến vận mệnh của bạn
Ba yếu tố mấu chốt trong phong thủy cầu thangĐặt bể cá dưới gầm cầu thang - biện pháp phong thủy lợi cả đôi đườngHành lang dẫn khí và cách hóa giải khi sai phạm (phần 1)Trần Hồng Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Ngọc Sương (##)
Gợi ý những cái tên hay cho bé trai, bé gái sinh vào mùa hè rực rỡ đầy nắng và gió.
Mùa hè là mùa của sự sôi động và cuồng nhiệt, mùa của nắng và gió mạnh mẽ, của những loại hoa quả nhiệt đới ngọt ngào, thơm ngon, của biển xanh mây trắng vẫy gọi. Với những em bé sinh vào mùa rất đặc biệt này, có những cái tên cực kì ý nghĩa và tuyệt hay để đặt cho các bé. Dưới đây là một số tên đẹp cho bé sinh vào mùa hè để bố mẹ tham khảo khi đặt tên cho con.
Đặt tên cho bé có chữ "Hạ", đánh dấu kỷ niệm mùa hè đáng nhớ
Tên cho bé gái:
Hạ Thảo: Loài cỏ mùa hạ
Hạ Vân: đám mây mùa hạ
Hạ Miên: giấc mơ mùa hạ
Hạ Vy: mùa hạ nho nhỏ
Lam Hạ: mùa hè xanh
An Hạ: mùa hè an lành
Thanh Hạ: mùa hè thanh bình
Diệp Hạ: lá cây mùa hạ
Tên cho bé trai:
Khởi Hạ: sự bắt đầu của mùa hạ
Hạ Vũ: mưa mùa hạ
Quang Hạ
Tuấn Hạ
Vương Hạ
Đặt tên cho con theo các loài hoa nở vào mùa hè
Mùa hè là mùa của vô vàn loại hoa sặc sỡ và quyến rũ. Đây là ý tưởng rất hay để đặt tên cho các bé gái.
Hoàng Anh (hay còn gọi là Huỳnh Anh): loài hoa trông như chiếc loa kèn nhỏ, màu vàng rực rỡ
Mộc Miên: hoa gạo đỏ chói
Bích Phượng: hoa phượng xanh
Hồng Phượng: hoa phượng hồng
Kim Liên: hoa sen vàng
Bích Liên: hoa sen xanh
Hồng Liên: hoa sen hồng
Bạch Liên: hoa sen trắng
Dạ Hương: loài hoa trắng, tỏa hương thơm ngát vào ban đêm
Hoàng Yến: loài hoa vàng rực rỡ, còn có tên khác là Bò Cạp Vàng
Ngọc Lan: loài hoa trắng, nở thơm ngát
Đỗ Quyên: loài hoa rừng đẹp quyến rũ
Đặt tên cho con theo hiện tượng thiên nhiên mùa hè
Mùa hè là mùa biển xanh, mây trắng vẫy gọi, mùa của những ngọn gió nam hiền hòa, của cái oi nồng nắng cháy, của những cơn mưa mùa hạ dịu mát. Bố mẹ có thể dựa vào những hiện tượng thiên nhiên phong phú để đặt tên cho con:
Mùa hè là mùa biển xanh, mây trắng vẫy gọi, mùa của những ngọn gió nam hiền hòa, của cái oi nồng nắng cháy, của những cơn mưa mùa hạ dịu mát.
Hải An: biển yên bình, dịu êm
Hải Miên: giấc mơ của biển
Đại Dương: biển cả bao la
Minh Hải: vùng biển sáng
Long Hải: con rồng biển
Thanh Hải: biển xanh
Nam Phong: ngọn gió mùa hè
Thanh Phong: ngọn gió mát lành
Thái Dương: vầng mặt trời rực rỡ
Thùy Dương: ánh nắng chan hòa, dịu dàng
Ánh Dương: ánh mặt trời
Minh Nhật: mặt trời sáng sủa
Hạ Vũ: mưa mùa hạ
Trọng Vũ: đi qua những ngày nắng cháy mới thấy trân trọng những ngày mưa mát lành
Phong Vũ: gió mưa
Thùy Vân: đám mây phiêu bồng
Bích Vân: đám mây xanh
Hồng Vân: đám mây hồng
Bạch Vân: đám mây trắng
Đặt tên cho bé theo các loài cây cỏ vào mùa hạ
Nhắc đến mùa hè, người ta liên tưởng ngay đến những loại cây như tùng, bách, trúc,... tỏa bóng xanh mát và mạnh mẽ, vững vàng. Một số tên hay cho bé theo các loại cây cỏ mùa hạ:
Bích Thảo: cỏ xanh
Diệp Thảo: lá cỏ xanh
Thảo Nguyên: đồng cỏ xanh
Tùng Lâm: rừng tùng xanh tốt
Thanh Trúc: cây trúc xanh
Nhắc đến mùa hè, người ta liên tưởng ngay đến những loại cây như tùng, bách, trúc,... tỏa bóng xanh mát và mạnh mẽ, vững vàng.
Những điều kiêng kỵ về dùng gương trong gia đình –
1. Kích cỡ gương và căn phòng phải có tỉ lệ hợp ý Gương treo trong nhà nên đủ để người soi nhìn thấy cả khuôn mặt. Nếu là gương hình dài đủ cho người soi nhìn thấy toàn thân là tốt nhất 2. Gương không được đặt ở trung đường (giữa nhà) Trung đường phò
Gương treo trong nhà nên đủ để người soi nhìn thấy cả khuôn mặt. Nếu là gương hình dài đủ cho người soi nhìn thấy toàn thân là tốt nhất
2. Gương không được đặt ở trung đường (giữa nhà)
Trung đường phòng khách mà đặt gương sẽ làm tiêu hao tinh lực, tinh thần người trong nhà, bất lợi cho sửc khỏe cơ thể.
3. Gương không được đối cửa sổ
Nếu bên ngoài cửa sổ có người lạ thì như vậy là bất lợi cho người ta, nếu không có người mà chỉ có khoảng không thì bất lợi cho người trong nhà mình, hơn nữa trong nhà có ánh sáng chiếu vào làm cảm quan cảm thấy khó chịu.
4. Gương không nên chiếu đầu giường
Có người rất thích treo gương lớn trong phòng ngủ để có thể nhìn thấy tư thế kiểu diễn của mình, thực ra như vậy là không nên, bởi vì khi con người chìm vào giấc ngủ. khí trường là yêu nhất, lúc này gương sẽ làm cho năng lượng của cơ thể phản xạ ra ngoài, làm cho đau đầu, chóng mặt, hoa mắt. Có khi nửa đêm tỉnh dậy nhìn thấy hình ảnh người trong gương dễ làm cho giật minh kinh hãi.
5. Kiêng kỵ hai tấm gương chiếu vào nhau bởi vì như vậy sẽ làm cho khí trường bị đảo loạn, quay đi quay lại không ổn định.
6.Sau ghế sôpha kiêng kỵ treo gương
Sau ghế sôpha không được đặt gương, như vậy không lành.
7. Cửa chính kiêng kỵ gắn gương kính
Nếu không phải gặp trường hợp có đường xông thẳng vào chính giữa cửa thì cửa tốt nhất không được khảm gương.
8. Gương kiêng kỵ đối cửa
Trong những trường hợp bình thường, gương không thể chiếu thẳng vào bất cứ cửa nào, rất dễ bị khẩu thiệt (lời tiếng thị phi) và bệnh tật. Nếu đối với cửa chính sẽ làm cho tài khí của người trong nhà bị phản xạ ra ngoài.
Một ưu điểm dễ nhận thấy ở người tuổi Ngọ là rất tự tin. Họ luôn tin tưởng vào những gì mình đã lựa chọn. Những công việc có thể giúp họ phát huy được hết tiềm năng và dễ thành công nhất là: kiến trúc sư, nhân viên tiếp thị, diễn viên, nhà doanh nghiệp hoặc nhà khoa học.
Người tuổi Ngọ có tính cách rất phức tạp, khó hiểu, nhiều mặt tiêu cực và cũng có nhiều mặt tích cực. Tuy nhiên, họ vẫn có thể để lại nhiều ấn tượng tốt đẹp trong lòng mọi người. Nhờ đặc điểm này mà họ có thể theo đuổi các công việc có liên quan đến nghệ thuật biểu diễn.
Ngoài ra, họ còn có khả năng tùy cơ ứng biến rất tốt. Họ thông minh và có đầu óc phán đoán giỏi. Điều này dễ khiến họ trở thành chính trị gia hay một nhà lý luận, phê bình.
Ở Sài Gòn trước năm 1975 có hai công trình hình bát giác được cho là biểu tượng phong thủy để trấn yểm long mạch, đó là hồ Con Rùa và khám Chí Hòa, với
Có giai thoại kể rằng, sau khi nhậm chức, ông tổng thống nổi tiếng mê tín Nguyễn Văn Thiệu đã cho người mời thầy địa lý từ Hồng Kông sang Việt Nam để trấn yểm Dinh Độc Lập. Thầy này phán rằng Dinh Độc Lập được xây trên long mạch, trấn ngay vị trí đầu rồng. Đuôi rồng rơi vào vị trí Công trường Chiến sĩ trận vong. Cần phải dùng một con rùa lớn trấn yểm đuôi rồng lại thì sự nghiệp của tổng thống mới mong bền vững.Nguyễn Văn Thiệu lập tức cho xây hồ nước theo hình bát giác, phỏng theo bát quái đồ, có 4 đường đi bộ xoắn ốc đều hướng đến khu vực trung tâm là đài tưởng niệm và hình tượng con rùa bằng hợp kim đội bia đá. Khu vực trung tâm còn có một cột cao được xem như một chiếc đinh lớn đóng xuống giữa hồ để ghim đuôi rồng lại. Vào đầu năm 1976, tấm bia và con rùa bị phá hủy trong một vụ nổ. Tuy con rùa không còn nhưng người dân vẫn quen gọi là hồ Con Rùa, thay cho tên gọi chính thức.Một giai thoại khác về hồ Con Rùa gắn liền với nguồn gốc xây Dinh Độc Lập, lấy núi giả trong Thảo Cầm Viên làm bình phong, sông Thị Nghè làm lưu thủy, tạo thế long chầu, hổ phục. Người Pháp biết điều này, liền cho xây nhà thờ Đức Bà mặt trước bên phải Dinh, hòng phá chữ. Do vậy mà sau này thổng thống Thiệu đã xây thêm hồ Con Rùa để phá thủy, làm nước phun lên.Một kiến trúc khác được cho là biểu tượng phong thủy thứ hai của Sài Gòn là trại giam Chí Hòa, được người Pháp cho xây dựng từ năm 1943. Kiến trúc của Khám Chí Hoà rất đặc biệt, do một kiến trúc sư người Nhật thiết kế và xây dựng theo ngũ hành bát quái. Nó cao ba tầng lầu có hình bát giác với 8 cạnh đều, 8 góc A, B, C, D, E, F, G, H, tượng trưng cho 8 quẻ trong Kinh dịch.Một vài tài liệu nghiên cứu cho rằng, khám Chí Hòa được xây dựng dựa trên bát quái trận đồ của Khổng Minh. Ngay tâm của bát quái trận đồ cũng có một đài phun nước như cột cao của hồ Con Rùa, gọi là “tru tiên kiếm”, có tác dụng khiến những tên tội phạm dù có xảo quyệt, tinh ranh đến đâu cũng không thể trốn được. Nếu tru tiên kiếm bị nhổ lên thì toàn bộ bát quái trận đồ được thiết kế công phu sẽ tự vỡ.Chính lối kiến trúc nhuốm màu sắc huyền linh này khiến người ta gọi lối vào duy nhất của khám Chí Hòa là cửa Tử. Nghĩa là đã vào rồi thì không có cách nào để nhận biết đường ra nếu không thông lý số, kinh dịch. Có lẽ đó là lý do mà lịch sử khám Chí Hòa chỉ có 2 trường hợp vượt ngục thành công. Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Đoan Trang(##)
Do trong quá trình xây cất, đào đất, khai mương rãnh, nói chung quy là đào xẻ xuống đất, do người ta không xác định chính xác được đó là nơi Long Nhập Thủ (điều này bao gồm cả việc biết đó là Long Mạch nhưng Phân Kim sai lệch), và vô tình làm tổn thương đến Long Mạch. Nhẹ thì tán gia bại sản, nặng thì người chết của hết, rất nguy hiểm.
Nhân vụ "Thánh vật sông Tô Lịch" có nói đến việc cúng hàn địa mạch, chúng tôi xin giới thiệu luôn cách các thầy Phật Tử dùng để Bồi Hoàn Địa Mạch. Do trong quá trình xây cất, đào đất, khai mương rãnh, nói chung quy là đào xẻ xuống đất, do người ta không xác định chính xác được đó là nơi Long Nhập Thủ (điều này bao gồm cả việc biết đó là Long Mạch nhưng Phân Kim sai lệch), và vô tình làm tổn thương đến Long Mạch. Nhẹ thì tán gia bại sản, nặng thì người chết của hết, rất nguy hiểm. Để giải cúng, người ta phải dùng Tam giang thủy và Ngũ linh thổ để nhào nặn thành hình Thần Quy, cho Kim Chỉ ngũ sắc vào trong mình Rùa. Lấy nước Tam Giang Thủy nấu lên, cho vào đó CHU SA, đợi nước nguội, CHÚ vào đó 2 chữ ÁN LAM. Chuẩn bị thêm 5 loại đậu (5 màu), 5 loại hoa (5 màu), 5 sắc cờ, 1 ít cát ở nơi ngã 3 sông. Tiếp đến chọn các ngày: Thiên Xá, Thiên Nguyên, Địa Nguyên, hoặc Tứ Mậu, Tứ Kỷ. Đặc biệt là các ngày có các Đại Kiết Tinh như Thiên Đức, Thiên Đức Hợp, Nguyệt Đức, Nguyệt Đức Hợp, Tam Đại Kỳ Môn phi đến vị trí LONG NHẬP THỦ, các ngày có Quý nhân-LộcMã- của gia chủ và Thái Tuế phi đến vị trí LONG NHẬP THỦ đó. Bày trận Ngũ Hành nơi đàn tràng đó mà vái cúng. Ngay trung tâm trận đó, đào sẵn 1 hố nhỏ. Chờ cho khấn vái xong, dùng nước Tam Giang Thủy đã chuẩn bị đó rưới xuống hố đó, sau đó đặt Thần Quy xuống hố, dùng cát ở bãi nước ngã ba sông trộn với 5 thứ đậu mà lấp hố đó lại, rồi hóa giấy vàng bạc. VĂN KHẤN BỒI HOÀN ĐỊA MẠCH. NAM -MÔ A-DI-ĐÀ PHẬT ! KÍNH LẠY : - ĐỨC U MINH GIÁO CHỦ ĐỊA TẠNG VƯƠNG BỒ TÁT. - HOÀNG THIÊN, HẬU THỔ chư vị TÔN THẦN. - CÁC NGÀI NGŨ PHƯƠNG, NGŨ ĐẾ, NGŨ NHẠC THÁNH ĐẾ, NHỊ THẬP BÁT TÚ TINH QUÂN, ĐỊA MẠCH THẦN QUAN, THANH LONG, BẠCH HỔ TÔN THẦN - Cùng các ĐẠI KIẾT TINH.......... ĐẠI KỲ MÔN TRẤN THỦ.....PHƯƠNG.
Hôm nay là ngày.....tháng.....năm...... Tín chủ con là........ ngụ tại........ thành tâm sửa biện hương hoa lễ vật xin bồi hoàn địa mạch. Do trước đây tâm tính mờ mịt, thần trí u mê ,........( nguyên nhân) đã làm tổn thương LONG MẠCH, mạo phạm LONG UY, ảnh hưởng đến Nguyên Khí vùng đất này. Nay muốn cho phong thổ an hòa, gia đình chúng con người người được chữ bình an tiêu tai giải họa, nên nay TRƯỢNG UY ĐẠI SĨ, nương đức Tôn Thần, cung thỉnh triển lộng Thần Oai nối giòng Long Khí. Cúi xin liệt vị Tôn Thần chứng minh tâm thành, giá đáo đàn tràng thụ hưởng lễ vật. Tín chủ con xin chí thành cúng dâng Ngài U minh Giáo Chủ Địa Tạng Vương Bồ Tát, Ngài Kiên Lao Địa Thần Bố Tát, Các Ngài Ngũ Phương - Ngũ Đế -Hậu Thổ Nguyên Quân -Sơn Nhạc Đế Quân -Đương Phương Thổ Địa -Thổ Phủ Thần Kỳ -Nhị Thập Bát Tú Tinh Quân, Nhị Thập Tứ Long Mạch Thần Quan, Nhị Thập Tứ Địa Mạch Thấn Quan, Nhị Thập Tứ Sơn Hướng Địa Mạch Long Thần, Thanh Long -Bạch Hổ Tôn Thần, Thổ Bá-Thổ Hầu-Thổ Mạnh- Thổ Trọng-Thổ Quý Thấn Quan, Thổ Mẫu -Thổ Thổ Phụ -Thổ Tử-Thổ Tôn -Thổ Tướng -Thổ Gia Thấn Quan , Thổ Cấn-Thổ Khôn, Thổ Kỳ Ngũ Phương -Bát Quái liệt vị Tôn Thần, Kim niên Đương cai Hành khiển Thái Tuế chí đức Tôn Thần, Ngài Bản Cảnh Thành Hoàng chư vị Đại Vương cùng tất cả chư vị ĐẠI KIẾT TINH hiện Tọa Trấn nơi đây. Cúi xin chư vị Tôn Thần thương xót tín chủ, nhận lời thỉnh cầu, giáng phó án tiền, trợ cho Phong Thổ phì nhiêu, Khí Mạch sung vượng, Tài Khí hưng long, Nhân Đinh an lạc, Sở nguyện tòng tâm. MÔ PHẬT ! Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Minh Tuyết (##)
Bạch Ðức Thế Tôn, con xem ở đời phàm là con trai mang đai hia mão, ai cũng nhận ra, đấy là nam giới, những người con gái hương hoa phấn sáp, kiềng xuyến nhẫn hoa, ai cũng nhận ra, đó là nữ giới. Nay người đã chết, xương trắng một mầu, chúng con biết đâu mà phân biệt đựơc.
Này A-Nan con, về bên nam giới trong lúc bình sinh, thừơng lui tới những chốn chùa chiền, nhờ có nhân duyên nghe Kinh lễ Phật, kính mến Tăng-già, nợ trần đã qua, hồn về cõi Phật, bao nhiêu xương trắng, nhắc thấy nặng hơn là xương nam giới còn như nữ giới trong lúc bình sinh, nhiều lần sinh nở, nuôi nấng con thơ, tổn hao khí huyết, mỗi một kỳ sinh, máu đặc trong mình chảy ra sáu đấu, mỗi người con bú, tám thùng bốn đấu, sửa ở trong mình giảm bớt tinh anh, cho nên xương nhẹ và có sắc đen. Tôi nghe Phật nói thương xót vô cùng, như dao cắt ruột, nứơc mắt chứa chan, hai hàng châu lệ, mà bạch Phật rằng:
Tôi nghe thế nầy : một khi Phật ở, trong một Tinh Xá, vườn Cấp-cô- độc, cây của Kỳ-Ðà, cùng các Tăng-già, có trên hai vạn, thêm tám nghìn người , cùng chư Bồ-Tát. Bấy giờ Thế-Tôn, cùng với Ðại chúng, nhân buổi nhàn du đi về phía nam, thấy đống xương khô chất cao như núi Ðức Phật Thế Tôn liền sụp lạy ngay đống xương ấy. Tôi bạch Phật rằng : Lạy Ðức Thế Tôn, Ngài ở trên ngôi chí Tôn, chí Qúy, Thầy cả ba cõi Cha lành bốn loài thiên thựơng nhân gian thảy đều tôn kính, sao Ngài lại lễ đống xương kia.
Nầy A-Nan ơi! Ngươi tuy xuất gia theo ta tu học, trong bấy nhiêu lâu, những sự thấy nghe đã rộng rãi, đống xương khô ấy hoặc là ông bà, hay là cha mẹ, thân trứơc của ta, ngàn muôn ức kiếp, đời đã cách xa, bởi thế nay ta chí thành kính lễ. Ngươi đem xương nầy chia làm hai phần, một là đàn ông, hai là đàn bà, phân biệt cho ta.
Bạch Ðức Thế Tôn, con xem ở đời phàm là con trai mang đai hia mão, ai cũng nhận ra, đấy là nam giới, những người con gái hương hoa phấn sáp, kiềng xuyến nhẫn hoa, ai cũng nhận ra, đó là nữ giới. Nay người đã chết, xương trắng một mầu, chúng con biết đâu mà phân biệt đựơc.
ÐÂY LÀ LỜI PHẬT
Này A-Nan con, về bên nam giới trong lúc bình sinh, thừơng lui tới những chốn chùa chiền, nhờ có nhân duyên nghe Kinh lễ Phật, kính mến Tăng-già, nợ trần đã qua, hồn về cõi Phật, bao nhiêu xương trắng, nhắc thấy nặng hơn là xương nam giới còn như nữ giới trong lúc bình sinh, nhiều lần sinh nở, nuôi nấng con thơ, tổn hao khí huyết, mỗi một kỳ sinh, máu đặc trong mình chảy ra sáu đấu, mỗi người con bú, tám thùng bốn đấu, sửa ở trong mình giảm bớt tinh anh, cho nên xương nhẹ và có sắc đen.
Tôi nghe Phật nói thương xót vô cùng, như dao cắt ruột, nứơc mắt chứa chan, hai hàng châu lệ, mà bạch Phật rằng:
Lạy Ðức Thế Tôn, công ơn cha mẹ như non như bể, thăm thẳm nghìn trùng, lấy gì báo đáp, cúi xin Ðức Phật dủ lòng thương xót, dạy bảo chúng con.
Nầy A-Nan con, Về ân đức mẹ, trong vòng mười tháng đi lại nặng nề, cưu mang nhọc mệt, khổ không xiết :
Khi vừa một tháng, ở trong thai mẹ, khác gì hạt sương dính trên ngọn cỏ, sớm còn tụ đọng, trưa đã tan, khó lòng giử được.
Khi được hai tháng, ở trong thai mẹ, hình như sữa đặc, đã chắc gì đâu.
Khi được ba tháng, ở trong thai mẹ, ví như cục máu, đông đặc đỏ ngầu, vô tri vô giác.
Khi được bốn tháng, ở trong thai mẹ, mới dạng hình người.
Khi được năm tháng, ở trong thai mẹ,mới đủ năm hình, chân tay đầu tóc.
Khi được sáu tháng, ở trong thai mẹ, sáu căn mới đủ, mắt tay mũi lưỡi thân hình và ý.
Khi được bảy tháng, ở trong thai mẹ, mới sinh đầy đủ, ba trăm sáu mươi những cái đốt xương, cùng là tám vạn, bốn nghìn chân lông.
Khi được tám tháng, ở trong thai mẹ, phủ tạng mới sinh, ý chí mới đủ, chín khiếu mới thông.
Khi được chín tháng, ở trong thai mẹ, mới đủ hình người ngồi trong bụng mẹ, khát uống nguyên khí, không ăn hoa quả, cùng là ngũ cốc, sinh tạng rủ xuống, thực tạng hướng lên, có một dãy núi gồm có ba quả; một là Tu Di hai là núi Nghiệp, ba là núi máu, núi nầy đồng thời hoá ra dòng máu, rót vào trong miệng.
Ở trong thai mẹ, trong vòng mười tháng, trăm phần toàn vẹn, mới đến ngày sinh, nếu là con hiếu, chắp tay thu hình, thuận lối mà ra, không đau lòng mẹ; nếu là con bạc, dẫy giụa bải bơi khiến lòng mẹ, buốt chói từng hồi, như đâm như xỉa, như cấu như cào, như nghìn mũi dao, đâm vào gan ruột, đau đớn vô cùng, nói sao cho siết, sinh được thân nầy, mừng thay vui thay, yêu thay mến thay.
Phật bảo A-Nan : công ơn cha mẹ, gồm có mười điều, phàm kẻ làm con, phải lo báo hiếu .
Những gì là mười điều?
Nhớ ơn mẹ ta, chín tháng mười ngày, cưu mang nặng nhọc.
Nhớ ơn mẹ ta, khi sinh lúc nở, đau đớn vô cùng.
Nhớ ơn mẹ ta, khi sanh lúc nở, quên cả âu lo.
Nhớ lại công ơn, mẹ ăn miếng đắng, lại nhả miếng ngon, dành dụm cho con.
Nhớ lại công ơn, chỗ ướt mẹ nằm, chỗ ráo xê con.
Nhớ ơn mẹ ta, ba năm bú mớm, nuôi nấng thuốc thang, trong khi sài đẹn.
Nhớ ơn mẹ ta, giặt diệm hong phơi áo quần dơ dáy, ô uế tanh hôi mẹ đành cam chịu .
Nhớ ơn mẹ ta, khi đi đâu xa, vì thương nhớ con, trong lòng cầy cậy, một phút chẳng ngơi .
Nhớ công ơn mẹ, vì sanh nuôi con, mà mẹ cam lòng tạo bao nhiêu ác nghiệp.
Nhớ công ơn mẹ, lòng rất thương con, trọn đời yêu dấu, không phút nào ngơi.
ÐỆ NHẤT ÂN: CHÍN THÁNG MƯỜI NGÀY CƯU MANG NẶNG NHỌC
Bao kiếp, duyên cùng nợ;
Ngày nay, mới vào thai
Ðầy tháng, sanh ngũ tạng;
Bảy bảy, sáu tinh khai
Thân trọng, như non Thái
Ðộng tĩnh, sợ phong tai
Áo the, đành xốc-xếch,
Gương lược, biếng trang đài.
ÐỆ NHỊ ÂN: KHI GẦN SANH NỞ
Khi gần ngày sanh nở
Nặng nhọc, khổ vô cùng,
Cưu mang, trong mười tháng
Sanh nở, sắp đến ngày
Ðứng ngồi coi nặng nhọc;
Dáng vẻ, tựa ngô ngây,
Sợ hãi lo, cùng lắng;
Tử sanh giờ phút nầy!
ÐỆ TAM ÂN: SANH NỞ
Mẹ ta, khi sanh nở,
Thân thể đều mở toang!
Tâm hồn như mê mẩn,
Máu me chan hòa đầy,
Chờ nghe, thấy con khóc;
Lòng mẹ mừng rỡ thay!
Ðương mừng lại lo đến
Rầu rĩ ruột gan nầy.
Cúi xin chư Phật, soi xét kẻ phàm, phóng Ngọc hào quang, ra tay cứu vớt, làm sao báo được, ân đức mẹ cha .
ÐỆ TỨ ÂN: ĂN ÐẮNG NHẢ NGỌT
Mẹ ta lòng thành thực,
Thương con chẳng chút ngơi
Nhả ngọt nào có tiếc!
Ăn đắng nói cùng ai?
Yêu dấu như vàng ngọc.
Nâng niu tay chẳng rời
Những mong con ấm no;
Mẹ đói rách cũng vui .
ÐỆ NGŨ ÂN: XÊ CON TỰ THẤP
Tự mình nằm chỗ ướt,
Chỗ ráo để xê con,
Hai vú phòng đói khát;
Hai tay ủ gió sương.
Thâu đêm nằm chẳng ngủ;
Nâng niu tựa ngọc vàng
Những mong con vui vẻ;
Lòng mẹ mới được yên.
ÐỆ LỤC ÂN: BÚ MỚM NUÔI NẤNG
Ðức mẹ dày như đất;
Công cha thẳm tựa trời
Chở che coi bình đẳng;
Cha mẹ cũng thế thôi!
Chẳng quản, câm mù, điếc!
Chẳng hiềm, quắt tay chân!
Bởi vì con ruột thịt,
Trọn đời dạ chẳng khuây.
ÐỆ BÁT ÂN: ÐI XA LÒNG MẸ THƯƠNG NHỚ
Từ biệt, lòng khôn nhẫn;
Sanh ly dạ đáng thương;
Con đi đường xa cách
Mẹ ở chốn tha hương,
Ngày đêm thường tưởng nhớ;
Sớm tối vẩn vấn vương
Như vượn thương con đỏ
Khúc khúc đoạn can trường?
ÐỆ CỬU ÂN: VÌ SANH CON MÀ CAM LÒNG TẠO BAO ÁC NGHIỆP
Mẹ trải qua bao nhiêu gian khổ,
Công lao tựa vực trời
Bồng bế cùng nuôi nấng;
Mong sao con ăn chơi
Nhường cơm cùng xẻ áo;
Mẹ đói rách dũng vui!
Khôn lớn tìm đôi lứa
Gây dựng cho nên người
ÐỆ THẬP ÂN: MẸ TRỌN ÐỜI THƯƠNG YÊU CON
Công cha cùng đức mẹ
Cao sâu tựa vưc Trời
Mẹ già, hơn trăm tuổi,
Vẫn thương con tám mươi!
Bao giờ ân oán hết?
Tắt nghỉ cũng chẳng thôi !…
Phật bảo A-Nan: Ta xem chúng sanh, dẫu làm được người lòng còn ngu muội chẳng nghĩ mẹ cha, công đức kể ra, như non như bể, chẳng cung chẳng kính, chẳng hiếu chẳng từ, mẹ mang thai con, trong vòng mười tháng, ngồi đứng không yên, như mang gánh nặng, ăn uống chẳng ngon, như người mang bệnh, ngày tháng thoi đưa, dến khi sanh nở, chịu khổ mọi đường, phút giây hay dở, kinh sợ vô cùng, như giết trâu dê, máu me lai láng, còn nhiều khổ nữa, mới được thân nầy, ăn đắng nuốt cay, nhả bùi nhả ngọt, nâng niu dưỡng dục, giặc giũ dáy dơ, không nề gian khổ, bức bối nồng nàn, rét mướt cơ hàn, lầm than tân khổ, mẹ nằm chỗ ướt, ráo để xê con, ba năm bú mớm, bồng bế nâng niu, dạy bảo đủ điều, lễ nghi phép tắc, cho ăn đi học, tìm đủ mọi nghề, đưa đón đi về, cần lao chăm chú, chẳng kể gì công.
Trái nắng dở Trời tuần trăng cuối gió, bệnh nọ chứng kia, bông hoa sài đẹn, thang thuốc đâu đâu, một mình lo lắng, chạy ngược chạy xuôi năm canh vò võ, bệnh con có khỏi lòng mẹ mới yên, mong con lớn lên, con thảo con hiền, để mà trông cậy.
Không ngờ ngày nay, hóa con bất hiếu, mẹ già cha yếu, con chẳng đỡ đần, cãi vã song thân, nói năng cắn cẩu, giương đôi mắt chẫu, khinh rẻ mẹ cha, chú bác ông bà, cô dì chẳng nể, anh em cũng kệ, đánh lộn xẩy ra, ô nhục nước nhà, bất trung bất nghĩa, bất hiếu bất lương, phép nước coi thường, mẹ cha cũng kệ, xóm giềng chẳng nể, chửi bới nhau luôn, sớm tối ra vào, chẳng thưa chẳng gởi nói năng càn rỡ, tự ý làm bừa, cha mẹ cũng thừa, thầy trên cũng mặc!
Bé thì ai chấp, người những nâng niu, dần dần khôn lớn, gai ngạnh mọi điều, chẳng hòa chẳng thuận, thường hay sân si bỏ cả bạn lành, giao du bạn ác, tập thói xa hoa, chơi khắp gần xa, thất thường điên đảo, bị kẻ dổ dành, mất cả thân danh, bỏ làng trốn mất, trái ý mẹ cha, ly biệt quê nhà, chẳng nhìn quê quán, hoặc vì buôn bán, hoặc bởi tòng quân, tiêm nhiễm dần dần, trở nên lưu luyến, vợ nọ con kia, chẳng thiết đi về, quê hương bổn quán, ở đất nước người lại hay rong chơi bị người lưà gạt, tai vạ liên miên, pháp luật gia hình, tù loa cấm cố, cực khổ mọi điều, chẳng may yếu đau, chứng kia tật nọ, ở chốn tha hương, ai kẻ thích thân, ai người thang thuốc, mẹ cha cách biệt, thân thích biết đâu, cam chịu ưu sầu, quê người đất khách; khốn khổ gầy còm, không người trông nom, bị khinh rẻ, lang thang đường ngõ, vì thế chết đi; không người mai táng, chương phềnh thối nát, giãi bừa, chó cầy nhai xé!….
Mẹ cha thân thuộc, khi được tin buồn, luống những đau thương, ruột như dao cắt, hai hàng nước mắt, lã chã chứa chan, hoặc vì quá thương, kết thành bệnh khí, hoặc là đến chết, làm quỷ ôm thây, chẳng để cho ai khư khư giữ mãi. Hoặc là vì con, chẳng chăm học tập, chỉ mải rong chơi nay đây mai đó, cùng bạn vô loài làm điều vô ích, giao du trộm cắp, chẳng sợ lệ làng, chè rượu nghênh ngang, đánh cờ đánh bạc, gian tham tội ác, lụy đến tôn thân, nay Sở mai Tần, lên đồn xuống phủ, mẹ cha ủ rũ, khốn khổ vì con.
Nào con có biết, cha mẹ khổ đau, trăm não nghìn sầu, mùa Thu mùa Ðông, rét run bức bối chẳng nhìn sớm tối; ấp lạnh quạt nồng, chẳng viếng chẳng thăm, chẳng hầu chẳng hạ, mẹ cha già cả, hình vóc gầy còm, hổ mặt người con, dầy vò mắng nhiếc, mẹ cha hoặc góa, trơ trọi một mình, luống những buồn tanh, như người ngủ trọ, chiếc gối một phòng, năm canh vò-võ, mùa đông sương gió, rét mướt cơ hàn, trai gái các con, nào ai hỏi đến, đêm ngày thương khóc, tự thán tự thương !
Khi đem thức ăn, dâng lên cha mẹ, thì lại giữ kẽ, rằng ngượng e, sợ kẻ cười chê; ví đem quà bánh, cho vợ cho con, mặt dạn mày dầy, không hề xấu hổ, vợ con dặn bảo, phải đúng như lời cha mẹ hết hơi không hề hối cải .
Ðây là con gái khi chưa gả chồng, hãy còn ở chung, tỏ ra hiếu thảo; khi đã gã bán, về ở nhà người một ngày một lười thiết gì cha mẹ, những ngày giỗ tết, có đảo về qua, ví dù mẹ cha, có gì sơ ý, liền sinh giận dữ, tỏ vẻ oán hờn, chồng chửi nhơn nhơn, đành cam lòng chịu, khác họ khác làng, tình nghĩa keo sơn, hóa ra thâm trọng, mẹ cha máu mủ, thì lại sơ tình. Hoặc đi theo chồng, quê người đất khách, quận nọ tỉnh kia, cha mẹ xa lià. Làng không tưởng nhớ, chẳng viếng chẳng thăm, thư tín cũng không, tuyệt không tin tức, mẹ cha thương nhớ, rầu rĩ ruột gan, luống những bàng hoàng, sớm chiều mong mỏi công đức cha mẹ, vô lượng vô biên, con chẳng hiếu hiền, ở đời cũng lắm.
Khi ấy Ðại chúng, nghe Phật nói ra, công đức cha mẹ, cao tầy non Thái đều cùng đứng dậy, hoặc tự gieo mình, đập đầu lăn khóc, máu me trào trạt, lai láng cả nhà, chết ngất cả ra, hồi lâu mới tỉnh, mà nói lời nầy, khổ thay khổ thay ! đau lòng đứt ruột, lũ con ngày nay, tội ác ngập đầu, xưa có biết đâu, mờ như đêm tối ngày nay biết hối thì sự đã rồi đau đớn lòng tôi trót đà bội bạc, cúi xin chư Phật, soi xét kẻ phàm, phóng Ngọc hào quang, ra tay cứu vớt, làm sao báo được, ân đức mẹ cha .
Phật liền nói ra, đủ đầy tám giọng, bảo Ðại chúng rằng :
Ví có kẻ nào, hai vai kiệu cõng, cha mẹ đi chơi suốt cả mọi nơi trên rừng dưới biển, hai vai nặng trễ, mòn cả đến xương, máu chảy cùng đường, không hề ân hận, cũng chưa báo được công đức mẹ cha, kể trong muôn một.
Ví lại có người. Gặp khi đói kém, cắt hết thịt mình, cung nuôi cha mẹ, khỏi lúc nguy nàn, riêng mình cam chịu, thịt nát xương tan, trăm nghìn muôn kiếp, để báo thâm ân, chẳng được một phần, kể trong muôn một.
Ví lại có người trải trăm nghìn kiếp, tự tay cầm dao, khoét đôi mắt mình, luyện làm thang thuốc, chữa bịnh mẹ cha, như thế cũng là, chưa trả được ân, kể trong muôn một.
Ví lại có người trải trăm nghìn kiếp, đều tự tay mình, cầm dao khoét ruột, móc lấy tim gan, luyện thành thang thuốc, chữa bịnh mẹ cha, như thế cũng là, chưa trả được ân, kể trong muôn một.
Ví lại có người trải trăm nghìn kiếp, vì tội mẹ cha, trăm nghìn vòng dao, băm vằm thân thể, thịt nát xương tan, như thế cũng là, kể trong muôn một.
Ví lại có người trải trăm nghìn kiếp, vì báo ơn mẹ, lấy mình đốt lên, làm cây đèn thịt, cúng dàng chư Phật, như thế cũng là, chưa trả được ân, kể trong muôn một.
Ví lại có người trải trăm nghìn kiếp, vì bệnh mẹ cha, đập xương lấy tủy, để làm thang thuốc, chữa bệnh mẹ cha, như thế cũng là, chưa trả được ân, kể trong muôn một.
Ví lại có người trải trăm nghìn kiếp, vì cứu mẹ cha, trải trăm nghìn kiếp, nuốt viên sắt nóng, cháy sém cả mình, như thế cũng là, chưa trả được ân, kể trong muôn một.
Bấy giờ Ðại chúng, nghe Phật nói rồi trong dạ bồi hồi ruột đau như cắt, hai hành nước mắt, tầm tả như mưa, mà bạch Phật rằng : con muốn đền ơn, công đức mẹ cha, cúi xin Phật đà, rủ lòng chỉ bảo ?
Ðức Phật liền bảo : Cặn kẽ mọi lời này chúng sinh ơi muốn đền ân mẹ, nhất là một lẽ, nên chép Kinh nầy, kính biếu gần xa, cho nhiều người tụng. Hai vì cha mẹ, đọc tụng Kinh này, chuyên cần chớ đoạn. Ba vì cha mẹ, sám hối làm chay. Bốn vì cha mẹ, cúng dường Tam Bảo, tùy sở dùng. Năm vì cha mẹ, trong sáu ngày Trai phải nên nhớ giữ. Sáu vì cha mẹ, thường hay bố thí.
Làm được như thế, thực là con hiếu, cứu được cha mẹ, siêu thăng Cưc Lạc, phúc đẳng Hà sa.
Phật bảo A-Nan, ở trên thế gian, những người bất hiếu, sau hết duyên trần, nguyên cái xác thân, chôn vùi dưới đất : còn phần Linh giác, là cái chân thân, phải vào Ðiạ Ngục, Chính ngục A-Tỳ, vuông rộng tứ vi tám ngàn cây số, bốn mặt có tường sắt, tường đồng, lửa cháy tứ tung, toàn dây thép điện, thường có lửa bén, cháy đỏ hồng hồng, bốc cháy tứ tung, thấy mà kinh sợ; hơn như thế nữa, sấm chớp đùng đùng, chó sắt rắn đồng, phun ra khói lửa, đốt cháy tội nhân.
Lại còn nước đồng đun sôi sùng sục, rót ngay vào miệng những kẻ tội nhân, vì tội bất hiếu, cãi giả mẹ cha, cam chịu cực hình, ở trong ngục ấy, gươm dao sào gậy, đâm chém suốt ngày, như hạt mưa bay, trên không rơi xuống, trải nghìn muôn kiếp, không phút nào nguôi hết hạn ấy rồi lại vào ngục khác; Ðầu đội chậu máu, xe sắt nghiến mình, mình mẩy chân tay, dập dừ tan nát, một ngày phải chết, tới nghìn vạn lần, khổ sở gian truân, vì chứng bất hiếu. Phật lại dạy rằng : ví có Thiện nam hay là Tín nữ, thật là hiếu tử, trả nghĩa mẹ cha, in Kinh nầy ra, biếu cho người tụng, in được một quyển, được một công đức, in được mười quyển, được mười công đức, in được trăm quyển, được trăm đức Phật, in được muôn quyển, được muôn đức Phật, phù hộ độ trì, lại tiếp hồn đi về phương Cực Lạc, đây là lời Phật, chớ có coi thường, Ðiạ ngục vấn vương, khó lòng thoát khỏi !
Bâý giờ A-Nan cùng chư Ðại chúng, Trời Rồng, Thần, Quỉ, Dạ Xoa, La Sát, người cùng phi nhân, được nghe Phật nói đều phát nguyện rằng :
Chúng con tận tâm, chí thành chí kính, dù trăm nghìn kiếp, thịt nát xương tan, nhỏ như vi trần, cũng chẳng dám quên lời chư Phật dạy. Thà rằng lấy kìm, cặp lưỡi rút ra, dài trăm do tuần, cho trâu sắt cày, máu chảy chan hòa, thành sông thành suối con thề chẳng trái lời Phật dạy răn.
Chúng con thề rằng: Thà lấy trăm nghìn vòng dao giáo mác, đâm chém thân này, nhỏ như vi trần, cũng chẳng dám quên lời chư Phật dạỵ
Chúng con thề rằng: Thà lấy lưới sắt, quất chặt vào thân trăm nghìn muôn kiếp, chẳng tháo cho ra, cực khổ vô cùng, cũng chẳng dám quên lời chư Phật dạy.
Chúng con thề rằng: Thà đâm thà chém, thà mổ thà xả, thà xay thà giã, nhỏ như vi trần, đem cái xác thân nầy, làm nghìn muôn thứ, nào da nào thịt, nào gân nào xương, rơi rác ngoài đường, trong nhà, ngoài ngỏ; trải trăm nghìn kiếp, chịu khổ như thế, cũng chẳng dám quên lời chư Phật dạỵ
Khi ấy A-Nan, liền bạch Phật rằng : Lạy Ðức Thế Tôn, đây là kinh gì, lũ chúng con đây đều muốn tụng trì, có được hay chăng. Ðức Phật dạy rằng, chúng con nên biết :
Kinh nầy là Kinh Ðại Báo Phụ Mẫu Trọng Ân chi Kinh, tất cả chúng sinh thảy đều nên tụng. Khi ấy Ðại chúng nghe Phật nói rồi tin, kính phụng lành, lễ tạ mà lui.
Chấm dứt Kinh Phật Nói Kinh Ðại Báo Phụ Mẫu Trọng Ân
Kính lạy Ðại Báo Phụ Mẫu Trọng Ân kinh.
Kính lạy Ðức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính lạy chư Phật đã đền ân cha mẹ.
Kính lạy Ðức Ma Gia Ðại Thánh Mẫu.
Kính lạy Ngài Quang Mục Ðại Thánh Nữ.
Kính lạy Ngài Diệu Thiện cắt tay cứu Phụ Vương.
Kính lạy Ngài Mục Kiền Liên vào ngục cứu mẫu thân.
Trong phong thủy, màu sơn của phòng ngủ có một yếu tố kích thích giấc ngủ. Cũng theo các nhà nghiên cứu màu xanh dương đã từ lâu gắn liền với cảm giác bình yên giúp giảm huyết áp và nhịp tim để chúng ta ngủ sâu hơn.
Các nhà nghiên cứu cho rằng đó là do màu xanh dương từ lâu đã gắn liền với cảm giác bình yên – màu nước, màu bầu trời… là tông màu giúp chúng ta thư giãn trước khi chìm vào giấc ngủ.
Ngoài ra, màu xanh da trời hay xanh nước biển còn được cho là giúp giảm huyết áp và nhịp tim, để chúng ta ngủ sâu hơn. Hơn một nửa số người được hỏi có phòng ngủ màu xanh dương cho biết họ thường thức dậy vào buổi sáng trong tâm trạng rất vui vẻ và thoải mái.
Màu vàng
Các tông màu vàng xếp thứ hai trong việc thúc đẩy giấc ngủ ngon hàng đêm: trung bình 7 tiếng 40 phút mỗi đêm.
Màu vàng ấm áp sẽ giúp cơ thể chúng ta thư giãn hơn bằng cách tác động vào hệ thần kinh và xoa dịu tâm trạng lo lắng, phiền muộn.
Màu xanh lá cây
Màu xanh lá cây cũng mang lại cảm xúc thư thái và dễ chịu, đó là lý do tại sao gam màu này là gam màu đứng thứ ba trong việc giúp chúng ta ngủ nhiều hơn.
Những người ngủ trong các căn phòng màu xanh lá cây có giấc ngủ đêm kéo dài khoảng 7 tiếng rưỡi, và 22% trong số họ nói rằng họ thức dậy lúc bình minh với tâm trạng “lạc quan và tích cực”.
Màu bạc dịu nhẹ
Phòng ngủ màu bạc dịu nhẹ cũng có tác dụng tương tự với giấc ngủ như màu xanh lá cây, với thời gian ngủ trung bình của các chủ nhân là 7 tiếng rưỡi mỗi đêm.
Màu sơn bạc trông giống như ánh trăng, khiến não chúng ta nhận biết rằng đã đến đêm và đến lúc cho cơ thể nghỉ ngơi và chìm vào giấc ngủ. Ngoài ra, một số người tham gia khảo sát còn nói rằng họ cảm thấy có động lực tập thể dục trong những phòng ngủ màu bạc.
Màu cam
Những người thường ngủ trong căn phòng màu cam lại ngủ ít hơn một chút, trung bình 7 tiếng 28 phút mỗi đêm. Tông màu ấm này cũng tạo ra một bầu không khí “ổn định và vỗ về, ngoài ra còn giúp ích cho quá trình tiêu hóa nữa, đặc biệt là nếu bạn ăn tối muộn hoặc ăn quá nhiều” - nghiên cứu cho biết.
Màu cam cũng được cho là giúp chúng ta thư giãn cơ bắp, do đó cảm thấy buồn ngủ nhanh hơn. Những người làm trong ngành ngân hàng và bất động sản có xu hướng chọn phòng ngủ màu vàng và cam nhiều hơn.
Màu xám và nâu
Mặc dù khá giống với màu bạc, nhưng tông màu xám lại có vẻ không hỗ trợ nhiều cho giấc ngủ bằng màu bạc. Những người được hỏi ngủ trong phòng màu xám chỉ ngủ trung bình 6 tiếng 12 phút mỗi đêm. Ngoài ra, những người này còn dành rất nhiều thời gian mua hàng online ngay trên giường ngủ!
Màu xám và màu nâu có vẻ hơi ảm đạm và u ám, đặc biệt là nếu được sử dụng nhiều trong phòng ngủ, và có thể khiến chủ nhân cảm thấy bị cô lập về mặt cảm xúc và không thực sự thoải mái, dẫn đến ngủ không ngon giấc.
Những người có phòng ngủ màu nâu, màu kem hoặc trắng thường có xu hướng “nghiện việc” hơn và có thể mang công việc lên tận… giường ít nhất ba lần mỗi tuần. Đa số họ là những người làm nghề bán hàng.
Màu tím
Màu tím dường như là màu “tệ hại” nhất cho giấc ngủ. Trung bình, những người tham gia khảo sát ngủ trong các căn phòng màu này chỉ ngủ chưa đầy 6 tiếng mỗi đêm.
Mặc dù khá thanh lịch, sang trọng và nghệ thuật, nhưng màu tím lại có vẻ kích thích tinh thần hơi thái quá. Những người vừa có một ngày bận rộn khi trở về với căn phòng ngủ màu tím sẽ khó thoát khỏi tâm trạng căng thẳng để chìm vào giấc ngủ.
Màu caramel
Nhưng có lẽ điều thú vị nhất của nghiên cứu này là những cặp vợ chồng có phòng ngủ trang trí tông màu caramel là những cặp có tần suất “ân ái” nhiều nhất, trung bình 3 lần mỗi tuần.
Các nhà nghiên cứu không đưa ra lý do tại sao, nhưng phải chăng tông màu này gợi nhớ tới những thanh socôla và kẹo đường ngọt ngào, khiến họ cảm thấy hứng thú hơn với chuyện “chăn gối”?
Còn những phòng ngủ màu đỏ chỉ là nơi diễn ra “chuyện ấy” trung bình một lần mỗi tuần. Có lẽ họ nên dùng thêm những bóng đèn màu caramel chăng?
Mỗi người đều có một lần sinh duy nhất trong Trời Đất này. Nói theo người Tiền sử là trong Thiên và Địa, nói theo cách của thời hiện đại là trong Vũ trụ và trên Trái đất. Người Tiền sử đã đo được vị trí sinh trong Vũ trụ (Thiên) là thời sinh Thiên Can, thời sinh Can có thể gọi là tọa độ Không gian; còn thời sinh Trái đất (Địa) là thời sinh Địa Chi, thời sinh Chi có thể gọi là tọa độ Thời gian.
Có tất cả 10 vị trí sinh Thiên Can là : Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý và 12 vị trí sinh Địa Chi là: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Vì thế giới mà chúng ta đang sống là thế giới Âm Dương, nên Không - Thời gian cũng mang tính Âm và tính Dương. Vị trí Thiên Can Dương thì đi với Địa Chi Dương, vị trí Thiên Can Âm thì đi với Địa Chi Âm. Như nói năm Giáp Tý, Giáp Dần, Giáp Thìn..., năm Ất Sửu, Ất Mão, Ất Tỵ.... Nghĩ là cứ vị trí sinh Can Dương thì đi với vị trí sinh Chi Dương, vị trí sinh Can Âm đi với vị trí sinh Can Âm.
Vì Không gian và Thời gian bao giờ cũng đi song hành đồng thời, do vậy khi mô tả thời sinh một người bao giờ cũng nơi đầy đủ cả Can và Chi, như sinh năm Nhâm Thìn, Quý Tỵ, Giáp Ngọ....
II. Tứ trụ thời sinh của một người
Tứ trụ thời sinh của một người là: Năm, Tháng, Ngày, giờ sinh. Ví dụ sinh ngày: 7 tháng 5 năm 2012, lúc 9 giờ 20 sáng theo lịch Dương, nhưng khi dự đoán thi phải quy đổi ra lịch âm là: ngày 17, tháng 5, giờ Tỵ, năm Nhâm Thìn.
Theo lịch âm cũng như vậy, nhưng mỗi một thời sinh lại khác ở chỗ có 2 yếu tố: yếu tố thời sinh trên Trái đất, điều mà người xưa gọi là Địa Chi và yếu tố thời sinh Vũ trụ, điều mà người xưa gọi là Thiên Can. Như sinh năm Nhâm Thìn, Tháng Quý Mão (tháng 2), ngày Đinh Mùi, giờ Bính Thìn.
Ta xếp thời sinh của người này thành 4 cột thời gian hay Tứ trụ như sau:
Thời sinh theo lịch Can Chi của một người được thể hiện qua vị trí sinh trên Trái đất (gọi là Địa Chi) và cùng lúc với vị trí sinh trong Vũ trụ (trên Trời) gọi là Thiên Can có tính chất khác nhau, đó là tính Âm Dương và tính Ngũ hành. Tại sao vậy? Vì thế giới mà chúng ta sinh ra và tồn tại là thế giới Ngũ hành Âm Dương. Mỗi chúng ta từ lúc sinh ra đến lúc về già, luôn luôn bị chi phối bởi tính Ngũ hành và Âm dương của thế giới này. Nếu nắm được tính Ngũ hành và tính Âm Dương của Bát Tự thời sinh, thì biết trước phần nào cuộc đời của người đó trong hiện tại cũng như trong tương lai. Xuất phát từ nguyên lý của Trời Đất (Thiên Địa àThiên Can Địa Chi) đó, mà người Tiền sử đã lập ra cách dự báo số phận một người gọi là Tứ Trụ Bát Tự. Cũng có thể gọi vắn tắt là dự báo theo Tứ Trụ hay theo Bát Tự.
III. Tính chất thời gian can chi
Theo học thuyết Âm Dương, nhân loại trên Trái đất sống trong thế giới Ngũ hành (thế giới có 5 loại chất) và luôn bị Ngũ hành chi phối mọi hoạt động sống của mình. Do vậy, thời gian trên Trái đất cũng là thòi gian theo Ngũ hành. Để phân biệt được tính Ngũ hành của thời gian Trái đất, ta phải xem xét qua thời gian Can Chi.
Việc xem xét tính chất thời gian Can Chi nhằm mục đích phân tích thực trạng của đối tượng dự báo theo Tứ trụ, đặc biệt là tính Ngũ hành của thời gian Can Chi được xem xét nhiều nhất. Sau đây là những tính chất đó.
1. Tính Âm Dương của thời gian Can Chi
Thời gian vận động trên trái đất này theo nhịp âm dương. Cứ một ngày (hay tháng, năm giờ) khởi đầu là dương thì thời gian tiếp theo là âm. Cứ khởi đầu là một toạ độ không gian (thập can) dương thì toạ độ không gian tiếp theo là âm, rồi lại dương. Quy luật vận động của toạ độ thời gian (địa chi) cũng như vậy. Một quy luật khác của thời gian là: Toạ độ không gian Dương kết hợp với toạ độ thời gian Dương, toạ độ không gian âm kết hợp với toạ độ thời gian âm. Để có cách nhìn toàn cục quy luật này, ta có thể tìm nhanh thời gian can chi qua bảng sau:
Nhìn vào bảng trên, các can dương phối với Can Dương, Âm phối với Âm. Ví như chỉ có những năm (tháng ngày hay giờ) là Giáp Tý, Giáp Dần, Giáp Thìn, Giáp Ngọ, Giáp Thân, Giáp Tuất.., Ất Sửu, Ất Mão, Ất Tỵ, Ất Mùi, Ất Dậu, Ất Hợi... Các trường hợp khác tính thời gian can chi tương tự như cách trên.
Cũng từ bảng trên, các Can: Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm là dương, còn Ất, Đinh, Mậu, Tân, Quý là âm. Vậy năm nào có Can Dương là năm Dương, năm Can Âm là năm Âm, như năm Bính Tuất (2006) là năm Dương vì Bính Dương... Người sinh năm Dương thì nữ là Dương nữ, nam là Dương nam; sinh năm Âm nữ là Âm nữ, nam là Âm nam. Đối với thời gian tháng, ngày, giờ cũng tính tương tự.
2. Tính Ngũ hành của thời gian Can Chi
Đây là diễn giải: thời gian Can và Chi hay Can Chi thuộc loại chất nào, chúng quan hệ với nhau ra sao trong thế giới Ngũ hành này.
a. Thuộc tính Ngũ hành của Thập Can và Địa Chi
Theo dịch lý, trong không gian 4 chiều nơi loài người đang tồn tại, vạn vật, con người, thời gian... có 5 thuộc tính khác nhau là: Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ. Các thuộc tính này khi kết hợp với nhau có thể tạo ra sự phát triển, điều mà dịch học gọi là tương sinh; cũng có thể kìm hãm nhau trong phát triển hoặc tiêu diệt nhau, điều mà dịch lý gọi là tương khắc hay không làm gì cho nhau gọi là tỵ hoà. Sư tương sinh và tương khắc như sau:
Ví dụ:Tý khắc Tỵ nhưng Tý sinh Mão và sinh Dần... Dậu và Kim sinh Tý và sinh Hợi...
Đối với 12 địa Chi hay 12 Tọa độ thời gian (TĐTG), thuộc tính ngũ hành như sau:
Đối với 10 thiên Can hay 10 Tọa độ không gian (TĐKG), thuộc tính ngũ hành như sau:
b. Xác định Can cho tháng Giêng để tìm Can các tháng khác
Trên thực tế nhiều khi chỉ biết Chi của tháng, không biết Can tháng đó là gì, người ta đưa ra luật Ngũ Dần để tính Can cho tháng Giêng (bao giờ cũng là tháng Dần), qua đó để biết can của tháng cần tìm. Luật Ngũ Dần như sau:
Ví dụ như tháng Tám năm Bính Tuất (2006) là Can gì? Tra bảng trên, tháng Giêng năm Bính Tuất là Canh Dần, tháng Tám là tháng Dậu, từ Canh, Tân, Nhâm... tính đi đến thứ tám là Đinh. Vậy tháng 8 âm năm Bính Tuất là Đinh Dậu.
c. Xác định Can giờ khi biết Can ngày
Trên thực tế, có trường hợp cần biết Can giờ sinh, người xưa đưa ra luật Ngũ Tý, nghĩa là qua Can của ngày để xác định Can của giờ Tý hôm đó, qua đây để tìm các can giờ tiếp theo cần tìm. Luật Ngũ Tý được mô tả qua bảng sau:
Ví dụ:ngày 1/9 âm năm Bính Tuất (2006) giờ Thìn Can gì? Nhìn lịch 2006 - Bính Tuất tháng 9 âm ngày 1 là ngày Mậu Dần. Vậy giờ Tý hôm đó là giờ Nhâm Tý, đếm đi tiếp là Sửu, Dần... đến giờ Thìn là Bính Thìn. Các trường hợp khác tính tương tự.
IV. Tháng xem tứ trụ là tháng tiết khí
Khi dự báo theo Tứ trụ Bát tự, điều cần biết là tháng sinh của một người thuộc tháng nào của tháng Tiết khí.
Tháng của lịch Âm Dương hay lịch Can Chi được dựng theo tiết khí, nghĩa là ngày bắt đầu của tháng căn cứ vào ngày chuyển tiết sang tháng đó. Như tháng Giêng bắt đầu từ ngày Lập xuân, nghĩa là ngày 1 tháng Giêng (tết Nguyên đán) chưa hẳn đã là ngày của tháng Giêng. Ngày của tháng Giêng bắt đầu từ ngày Lập xuân. Lập xuân có thể đến sớm trong tháng Chạp, ví dụ Lập xuân rơi vào ngày 26 tháng Chạp, thì từ ngày này trở đi như ngày 27, 28, 29... tháng Chạp đã là ngày của tháng Giêng. Khi dự báo, nếu người sinh vào ngày 28 tháng Chạp, coi như là đã sinh vào tháng Giêng của năm sau, mặc dù chưa đến tết nguyên đán. Để xác định vị trí tháng và ngày của từng tháng trong năm, người xưa đã đưa ra cách xác định như sau:
Ví dụ:xem người sinh ngày 25 (Nhâm Dần), tháng Chạp (Qúy Sửu) năm Nhâm Thìn (2012); theo lịch Âm, năm Qúy Tỵ 2013, lập Xuân vào ngày 24 tháng Chạp năm Nhâm Thìn, nghĩa là ngày 24 tháng Chạp năm Nhâm Thìn đã là ngày đầu tiên của năm Qúy Tỵ. Vậy tháng xem Tứ trụ phải là tháng Giêng Giáp Dần năm Qúy Tỵ (chứ không phải là tháng Chạp năm Nhâm Thìn). Sơ đồ Tứ trụ thời sinh người này phải như sau:
V. Ngũ hành thời gian can chi
Thời gian không đứng biệt lập với không gian, mỗi một vị trí không gian đều có một vị trí thời gian tương ứng đi kèm. Mọi vật chuyển động trong không gian theo 60 vị trí lặp đi lặp lại như một vòng tròn không mối nối từ Giáp Tý, Ất Sửu, Bính Dần... rồi lại quay về Giáp Tý... Mỗi một vị trí thời gian như vậy có một tính ngũ hành riêng, điều mà Dịch lý gọi là nạp Giáp. Để tiện tra nhanh tính ngũ hành trong từng vị trí thời gian của một chu kỳ thời gian (năm, tháng, ngày , giờ) có thể đối chiếu qua bảng sau:
Qua bảng trên, ta có thể xác định tính Ngũ hành một cách nhanh chóng bất kỳ một đối tượng nào qua thòi gian sinh. Ví dụ sinh năm Bính Tuất (2006) là Thổ, Giáp Thân là Thủy, Nhâm Thìn là Thuỷ...
VI. Tính chất của thiên can
Toạ độ không gian mà các nhà mệnh lý gọi là Thiên Can hay Thiên nguyên. Thiên nguyên hay thập Can có thể là Can năm, Can ngày, Can giờ. Mỗi một vị trí thời gian sinh của một người nào đó có 4 TĐKG là Can năm, Can tháng, Can ngày, Can giờ. Những Can này phối hợp với nhau có thể tạo ra một vị trí thuận lợi hay bất lợi cho cuộc sống một người nếu sinh vào thời điểm đó. Trong dự báo theo Tứ trụ, người ta lấy Can ngày sinh (gọi là Nhật chủ) để đối chiếu với các Can khác trong tứ trụ để tìm các Thần (10 Thần), tìm sự hợp sự hoá mà dự báo sơ bộ.
1. Quy luật hợp hoá và Ngũ hợp của Thiên Can
Các Can từng cặp liên kết với nhau có hợp, có tất cả 5 cặp Can hợp nhau rồi hóa thành là:
Trong dự báo qua Tứ trụ hay 4 cột thời gian, lấy Can Ngày làm chủ để so với Can Tháng hoặc Can Giờ kế hai bên có hợp hay không. Còn Chi tháng nếu thấy Ngũ hành giống sự hóa thì mới gọi là hợp hoá.
Ví dụ:Can ngày là Giáp, Can tháng hay Can giờ là Kỷ là có hợp hoá, vì Giáp hợp Kỷ hoá Thổ. Nếu Can ngày là Kỷ, Can tháng hoặc Can giờ là Giáp, mà Chi tháng hay Chi giờ là Thìn, Tuất, Sửu, Mùi (đều tính Thổ) có ngũ hành giông nhau đều Thổ nên sự hợp này có hoá.
Sơ đồ Tứ trụ có hợp hóa:
2. Mức độ sinh khắc của Thiên Can
Thứ hai: Can ngày hợp với Can tháng hoặc Can ngày hợp với Can giờ, Chi tháng không hoá, nhưng Ngũ hành mà nó hoá ở trong ba Chi còn lại hợp thành cục thì đây cũng coi là sự hợp có hoá. Ví dụ: Can ngày là Canh, Can tháng là Ất hợp hoá Kim, Chi tháng không phải là Thân hay Dậu (Kim), nhưng 3 Chi của năm, ngày , giờ tam hợp là: Thân Tý Thìn thì sự hợp có hoá.
Trong các cột thời gian, sự sinh khắc của 2 can đứng cạnh nhau mới đáng xét và mối mạnh. Như ngày sinh là Bính Hoả khắc Can năm Canh Kim, nhưng Can tháng đứng giữa hai Can này là Kỷ thổ, mà Thổ sinh Kim, nên lúc này Bính lại “sinh” Canh (Kim) chứ không khắc.
Trong khắc có hợp, sự hợp mất sự khắc thì không còn là khắc nữa. Ví dụ Bính Hoả khắc Canh (Kim), nhưng trong 4 cột thời gian có Tân Kim, mà Tân hợp Bính hoá Thuỷ, Thuỷ khắc Hoả, nên Bính Hoả độc lập không khắc nổi Canh Kim nên sự khắc không còn.
Can ngày sinh bị Can khác khắc, Can khắc đó lại bị Can khác khắc, do đó Can ngày không còn bị khắc nữa. Ví dụ Can ngày là Canh Kim bị Can tháng Bính Hoả khắc, Bính hoả lại bị Can giờ (hay năm) Nhâm Thuỷ khắc, lúc này Can Canh không còn bị khắc. 3. Sự hợp hóa của Can ngày cho biết điều gì?
Trong dự báo theo Tứ trụ Bát tự, lấy Can ngày sinh làm chủ, so với Can tháng và Can giờ sinh kế bên Can ngày để tìm sự hoá hợp. Qua sự hợp hóa này, sơ bộ cho ta số phận khái quát một người. Sau đây là quan điểm của các nhà mệnh lý xưa đưa ra để tham khảo.
Can ngày Giáp hợp Kỷ hoá Thổ: người xưa cho rằng đây là mệnh trung chính, chủ về yên phận thủ thường, trọng tín nghĩa. Nếu trong mệnh cục (cách xác định mệnh cục xin xem phần dưới đây) không có Thổ mà có Thất sát thì đó là người thiếu tình nghĩa, người giảo hoạt, tính thô thiển (chú ý: Kỷ ở đây có thể là Can tháng hoặc Can giờ, các trường hợp dưới đây xét tương tự). Trường hợp này như sơ đồ Tứ trụ có hợp hóa nêu trên đây.
Sơ đồ Tứ trụ ngày Giáp gặp Kỷ:
Can ngày Giáp hợp Kỷ: nếu gặp Ất mộc thì thể tài có hao tổn, nếu gặp Đinh hoả thì được lộc cũng như không, nếu gặp Tân Kim thì cao sang, nhà cao cửa rộng, nếu gặp Mậu Thổ thì giàu sang, nhà cao lộng lẫy, nếu gặp Quý Thuỷ thì cuộc đời sẽ hạnh phúc, nếu gặp Canh Kim thì gia thế hưng thịnh, nếu gặp Bính Hoả thì hưởng lộc nhiều.
Sơ đồ Tứ trụ Giáp hợp Kỷ gặp Tân Mão:
Can ngày Kỷ hợp Giáp: nếu gặp Đinh hoả thì bị người khác chèn ép, nêu gặp Ất Mộc thì tự mình gây hoạ, nếu gặp Tân thì giàu sang phú quý, nếu gặp Canh thì cô đơn nghèo khó, nếu gặp Qúy Thuỷ thì chức cao trọng vọng.
Sơ đồ Tứ trụ Kỷ hợp Giáp gặp Đinh:
Can ngày Ất hợp Canh hoá Kim: cho biết là người trọng nhân nghĩa, ứng xử cương nhu đúng mức. Nếu trong 4 cột thời gian có Thiên quan hoặc vận kém rơi vào Tử, Tuyệt thì là người cố chấp, thiếu nhân nghĩa.
Sơ đồ Tứ trụ ngày Ẩt hợp Canh:
Can ngày Ất hợp Canh: nếu gặp Bính Hoả thì khó khăn trong cuộc sống, nếu gặp Nhâm Thuỷ thì vinh hoa phú quý, gặp Đinh Hoả thì vui vẻ trong cuộc sống, nếu gặp Kỷ Thổ thì nhà nhiều của, nếu gặp Tân Kim thì gió sương, nếu gặp Giáp Mộc thì lúa gạo đầy nhà.
Sơ đồ Tứ trụ ngày Ất hợp Canh gặp Bính:
Can ngày Canh hợp Ất: nếu gặp Tân Kim thì có hao mòn, nếu gặp Bính Hoả thì trì trệ, nếu gặp Đinh Hoả như rồng gặp nước, nếu gặp Quý Thuỷ thì tài sản trôi nổi và người sẽ sống lâu, nếu gặp Nhâm Thuỷ thì tài lộc ngày cành phát triển, nêu gặp Mậu Thổ thì không giàu sang cũng nổi tiếng.
Sơ đồ Tứ trụ ngày Canh hợp Ất gặp Tân:
Can ngày Bính hợp Tân: nếu gặp Mậu thổ thì công thành danh toại, nếu gặp Ất mộc thì quyền cao chức trọng, nếu gặp Quý thuỷ hay Kỷ Thổ thì cửa nhà danh giá, nếu gặp Nhâm Thuỷ thì dễ gặp tai hoạ.
Sơ đồ Tứ trụ ngày Bính hợp Tân gặp Mậu:
Can ngày Tân hợp Bính: nếu gặp Mậu Thổ và Canh Kim thì công thành danh toại.
Sơ đồ Can ngày Tân hợp Bính gặp Mậu: Can ngày Đinh hợp Nhâm hoá Mộc: sự hợp này chủ về nhân nghĩa và sống lâu, người tính nhân từ, tuổi thọ cao. Nữ giới nếu trong mệnh Thuỷ cực vượng quá làm Mộc suy thì sự hợp không hay. Nếu đóng ở Tử, Tuyệt thì phá tán tài sản vì tửu sắc.
Can ngày Đinh hợp với Nhâm: nếu gặp Bính Hoả thì số nhàn, gặp Tân thì cuộc đời hay gặp may và phú quý, nếu gặp Mậu Thổ thì cuộc sống an nhàn, nếu gặp Quý Thuỷ thì cô đơn nơi tha hương, nếu gặp Ất Mộc thì không giàu, nếu còn có Canh Kim nhiều trong các cột thời gian thì cuộc đời không danh vọng, nếu gặp Giáp hoặc Thìn thì chức vị và lộc dồi dào, vẹn toàn.
Sơ đồ Tứ trụ ngày Đinh hợp Nhâm gặp Tân:
Can ngày Nhâm hợp với Đinh: nếu gặp Giáp Mộc thường hay thất bại, nếu gặp Tân Kim thì ruộng vườn bát ngát, nếu gặp Bính Hoả thì thành anh hùng hào kiệt, nếu gặp Quý Thuỷ thì kinh doanh vất vả, nếu gặp Kỷ Thổ thì có chức quyền, nếu gặp Mậu Thổ thì bồng bềnh trôi dạt, nếu gặp Canh Kim thì mọi việc khó thành, nếu gặp Ất Mộc thì không thọ.
Sơ đồ Tứ trụ ngày Nhâm hợp Đinh gặp Bính:
Can ngày Mậu hợp Quý hoá Hoả: thể hiện sự vô tình vô nghĩa, có dáng vẻ bề ngoài thanh cao nhưng nội tâm mờ ám. Nếu là nam giới là người nay đây mai đó, ham chơi hơn làm, nếu là nữ giới thì lấy chồng đẹp.
Sơ đồ Tứ trụ ngày Mậu hợp Quý: Can ngày Mậu hợp với Quý: nếu gặp Ất Mộc thì cuối đời thành đạt, nếu gặp Nhâm Thuỷ thì tự thân làm giàu, nếu gặp Bính Hoả thì khó có phúc lộc, nếu gặp Canh Kim thì thường gặp điều hanh thông, nếu gặp Kỷ Thổ thì không hay cho vợ con, nếu gặp Tân Kim là người mưu mẹo.
Sơ đồ Tứ trụ ngày Mậu hợp Qúy gặp Nhâm: Can ngày Quý hợp với Mậu: nếu gặp Bính, Tân thì cuộc đời có nhiều thành đạt và cũng có nhiều thất bại. Nếu gặp Giáp, Kỷ thì suốt đời vất vả, nếu gặp Đinh Hoả thì của nhiều, nếu gặp Canh Kim thì đất đai của cải nhiều, nếu gặp Ất Mộc thì chức cao quyền quý, nếu gặp Nhâm Thuỷ thì tài lộc song toàn, nếu gặp Tân Kim thì tài lộc lúc được lúc mất, nếu gặp Kỷ Thổ thì tiền đồ học hành phát triển:
Sơ đồ Tứ trụ ngày Qúy hợp Mậu gặp Bính:
Lưu ý:trên đây là dự báo Tứ trụ theo sự hợp hóa của Can ngày sinh, trên thực tế không phải ai cũng rơi vào cách hợp hóa nói trên.
VII. Tính chất của địa chi
Địa Chi còn gọi là Địa nguyên, có thể nói đó là Toạ độ thời gian trên Trái đất. Trong dự báo qua 4 cột thời gian, sự hình xung, hại hợp của địa chi ảnh hưởng rất lớn đối với nhật chủ. Sự ảnh hưởng này có vị trí đặc biệt trong dự báo về số phận một người. Khi có sự liên kết của địa Chi trong 4 cột thời gian, sẽ xảy ra những mức độ quan hệ như sau:
1. Sự hợp của Địa Chi
Có 6 khả năng hợp của các địa Chi, như:
* Tý hợp với Sửu thành Thổ. * Ngọ hợp với Mùi thành Thổ.
* Dần hợp với Hợi thành Mộc * Mão hợp với Tuất thành Hoả.
* Thìn hợp với Dậu thành Kim. * Tỵ hợp với Thân thành Thuỷ.
2. Tam hợp của Địa Chi
Trong thế giới Âm Dương trên trái đất, ba yếu tố kết hợp với nhau tạo ra cái mới. Nói cách khác, số 3 là số sinh, sinh ra một cái mới từ 3 cái ban đầu. Tính chất này thể hiện rõ qua địa Chi, như:
Thân + Tý + Thìn (hợp) thành Thuỷ cục. Hợi + Mão + Mùi (hợp) thành Mộc cục.
Dần + Ngọ + Tuất (hợp) thành Hoả cục. Tỵ + Dậu + Sửu (hợp) thành Kim cục.
Trong 4 cột thời gian, nếu có lục hợp hoặc tam hợp cục là cho biết người đó có dung nhan đẹp, thanh lịch, thần thái ổn định, thẳng thắn, thông minh linh lợi. Hợp cục thành cát thần là tốt, hung thần là xấu, hợp thành tương sinh thì tốt, tương khắc thì không hay, hợp thành Tử, Tuyệt thì cuộc đời bất đắc chí. Trong tam hợp hoá cục hoá cát là tốt, hoá hung là xấu.
3. Lục xung của Địa Chi
Xung có nghĩa là bất hoà. Sự tương xung của 12 địa Chi như sau:
Trong các cặp tương xung này, duy nhất có Thìn Tuất Sửu Mùi có tương xung nhưng không tương khắc vì chúng đều là Thổ. Còn lại vừa tương xung vừa tương khắc.
Kỵ thần bị tương xung là tốt, Hỷ thần bị xung là xấu. Trong dự báo theo Tứ trụ, qua sự tương xung của địa Chi phần nào cũng cho những thông tin nào đó, như:
* Tý, Ngọ tương xung thì người thường không yên ổn.
* Mão, Dậu tương xung chỉ tính người thất tín, bội ước, hay lo buồn, tình cảm dễ bị chia rẽ.
* Dần, Thân tương xung là người đa tình, hay can thiệp vào những chuyện không đâu.
* Sửu, Mùi tương xung, thường hay gặp trắc trở trong công việc.
* Chi cột năm xung Chi cột tháng: người sống xa quê hương.
* Chi cột năm xung Chi tháng, Chi ngày, Chi giờ: người tàn nhẫn hoặc hay ốm đau.
* Chi cột ngày xung Chi tháng: hay xúc phạm cha mẹ anh em.
* Nếu trong tứ trụ có gặp xung, thường không được hưởng nhà của cha mẹ.
* Nếu trong tứ trụ có Tý Ngọ Mão Dậu tương xung là người hay đổi chỗ ở.
* Nếu có Dần Thân Tỵ Hợi tương xung là không hợp nghề, hay đổi nghề và chỗ ở.
* Nếu có Thìn Tuất Sửu Mùi tương xung trong tứ trụ thì cũng không hợp nghề và hay đổi nghề. 4. Tương hại của 12 Địa Chi
* Nếu trong Tứ trụ có Tý Mùi tương hại thì da thịt không mượt mà. Còn Sửu Ngọ, Mão Thìn tương hại thì tính người hay giận dữ, sự kiên nhẫn kém.
* Dần Tỵ tương hại: nếu trong 4 cột thời gian (Tứ trụ) nhiều hành Kim thì người hay mắc bệnh.
* Chi ngày Chi giờ tương hại: về già đề phòng bị tật. (xem đồ hình Dần Tỵ tương hại
trên)
5. Tương hình của Địa Chi
a. Dần hình Tỵ, Tỵ hình Thân, Thân hình Dần:gọi là trì thế hình. Những người trong 4 cột thời gian có tương hình của cát địa Chi loại này, hoặc trong tuế vận (năm) có tương hình thì tính tình lãnh đạm, tình cảm lạnh lẽo, khô khan, thiếu nghĩa hiệp, hoặc hay bị người hại hoặc gặp điều xấu.
Nếu các địa Chi xung đó lại ở vị trí Tử, Tuyệt thì càng không hay, nữ giới không nên gặp trường hợp này, nếu gặp tụng kinh niệm Phật thì mọi việc sẽ qua.
b. Mùi hình Sửu, Sửu hình Tuất, Tuất hình Mùi gọi là vô ân chi hình. Người trong tứ trục có loại hình này báo có sự tranh giành quyền lợi, là người cậy quyền làm quá đi nên dễ thất bại. Nhưng nếu rơi vào các vị trí Trường sinh, Mộc dục, Quan đối, Lâm quan, Đế vượng thì tinh thần cương nghị. Nếu trong 4 cột thời gian có Tử, Tuyệt tương ứng vị trí thì đó là người thấp kém, tính tình giảo quyệt, dễ gặp điều không hay, nữ giới dễ bị cô đơn.
c. Mão hình Tý, Tý hình Mão gọi là vô lễ chi hình. Người trong tứ trụ có loại hình này cho biết là người thiếu tự tin và không có khả năng làm việc độc lập, nhưng lại hay cố chấp, làm việc không đến nơi đến chôn, có tính thành kiến, nội tâm bất thiện, dung mạo không đẹp. Nếu các Chi này ở vị trí Tử, Tuyệt thì nông cạn trong suy nghĩ. Nếu ngày sinh gặp tương hình thì vợ hay chồng không khoẻ, nếu giờ sinh tương hình thì đề phòng con cái có bệnh. Trong 4 cột thời gian có hai loại tương hình thì điềm xấu có thể thêm xấu, nếu mệnh trong Tứ trụ tốt thì càng tốt lên.
d. Thìn, Ngọ, Dậu, Hợi tự hình lẫn nhau, nhưng kiêng nhất là Thìn gặp Thìn, Ngọ gặp Ngọ, Dậu gặp Dậu, Hợi gặp Hợi. Các nhà mệnh lý xưa có câu: “Tự hình có thêm sát” là không hay. Họ cho rằng nếu Chi năm sinh và Chi tháng sinh tự hình thì trong cuộc đời dễ bị tổn thương. Thìn, Ngọ, Dậu, Hợi tự hình thì đến tuổi trung niên mọi việc diễn ra không rõ ràng, khó đoán định.
Người Mệnh Càn Hợp Với Hướng Nào Trong Phong Thủy Xây Dựng
Phương vị: Người mệnh càn Kim có có 4 hướng tốt đó là Tây Bắc (Phục Vị), Tây Nam (Thiên y), Đông Bắc (Diên niên), và Tây Bắc (Sinh Khí).
Trong đó có bốn hướng xấu đó là: Bắc (Họa Hại), Đông (Tuyệt mệnh), Đông nam (Lục Sát), và Nam (Ngũ Qủy).
Để phân biệt trên hình trên những chỗ có hướng tốt là Tây phục vị chúng tôi khoanh màu đỏ.
Chọn hướng cửa nhà: (hướng về phương vị tốt), loại người này khi chọn hướng cửa làm nhà, nên lấy tọa Tây Nam hướng Đông Bắc (trường tồn, bền vững), tọa Đông hướng Tây (bình ổn); tọa Đông Bắc hướng Tây Nam (sức khỏe, mau lành bệnh) hoặc tọa Đông Nam hướng Tây Bắc (phát triển).
Màu cửa hợp với người cung càn mệnh kim gồm: Trắng, vàng, bạc, xanh da trời, xanh lục, nâu.
Chọn hướng phòng ngủ: (nằm ở phượng vị tốt, hợp với bản mệnh) cũng như vậy nên chọn phòng ngủ ở các hướng Tây Nam, Tây, Tây Bắc và Đông Bắc.
Hướng đầu nằm khi ngủ: cũng nên đặt theo các hướng này thì tinh thần sẽ sảng khoái, dễ đi vào giấc ngủ. Còn nếu quay đầu về các hướng Bắc, Đông, Đông Nam rất dễ mất ngủ, đặt đầu quay hướng nam sẽ hay ngủ mê.
Hướng đặt bếp: Hướng cửa bếp cũng như hướng cửa, phải quay về phía tốt, miệng bếp tốt nhất là quay về hướng Tây Bắc, làm như vậy có thể khiến tinh thần sung mãn, tăng thêm sức sống , nếu gia chủ mắc bệnh lâu năm khó chữa, nên chuyển hướng cửa bếp sang phía Tây Nam, như vậy sẽ giúp người đó mau lành bệnh.
Có một điều cần chú ý, là chọn hướng nhà, cửa thường là áp dụng cho đàn ông, trừ khi nhà không có đàn ông mới lấy tuổi phụ nữ; còn hướng bếp và giường ngủ đa phần dữa vào tuổi phụ nữ.
Hướng bàn làm việc tốt cho người mệnh càn (kim):
Quay lưng hướng Đông Nam, mặt hướng Tây Bắc.
Màu sắc:
Màu hợp: hành Thổ (vàng cà phê) - hành Kim (Vàng đồng, Trắng).
Màu kỵ: hành Hỏa (Đỏ, tím, cam), hành Thủy (Đen, xanh lam).
Màu trung tính: hành Mộc (Xanh da trời và xanh lục).
Màu khai vận: Màu vàng, màu trắng. (Ngũ hành thuộc kim, thổ sinh kim là sinh khí, Kim với Kim là vượng khí, cho nên hai màu vàng và trắng là không thể thiếu đối với những tuổi này.)
Màu suy: màu đỏ. (Hỏa khắc kim, vì vậy những ai muốn tránh xa vận đen thì nên hạn chế dùng những đồ vật liên quan tới màu đỏ.)
Con số khai vận: tốt nhất là số 0 và 5, kế đến là số 4 và 9.
Số suy: 2 và 7.
Con số và số tầng thích hợp trong xây dựng: 1, 4, 5, 6, 9, 10 ,11, 14, 15, 16, 19, 20, 21, 24, 25, 26, 29, 30, 31...
Phong thuỷ đầu năm mới đối với mỗi gia đình là điều rất quan trọng vì nó ảnh hưởng tới tài lộc, sức khỏe, công danh… của gia chủ cũng như các thành viên khác
trong gia đình. Dưới đây là một số mẹo để bạn có được sự hỗ trợ tốt nhất từ phong thủy.
1. Bài trí thêm vật phẩm chiêu tài
Phong thủy đầu năm mới rất coi trọng vật phẩm phong thủy có ý nghĩa chiêu tài lộc. Bài trí thêm bể cá là một trong những lựa chọn của nhiều người gia đình. Sẽ là rất thích hợp về mặt chiêu tài nếu bạn chọn nuôi cá vàng, con vật tượng trưng cho sự dồi dào về tài chính. Tuy nhiên không nên nuôi quá nhiều cá trong bể và cũng tránh nuôi cá theo từng cặp.Bạn cũng có thể bày một chú mèo chiêu tài với màu sắc tươi sáng để giúp tăng tài lộc cho gia đình. Thêm vào đó bạn cũng có thể thử mua các món đồ trang sức có ý nghĩa. Ý nghĩa phong thủy của chúng sẽ giúp bạn phần nào cải thiện tình hình tài chính trong năm mới.
2. Quan tâm các hướng có lợi cho tài lộc
Điều đặc biệt nhất trong phong thủy đầu năm mới để chiêu tài lộc là không được bỏ qua các hướng và khu vực có khả năng giúp vượng tài lộc cho gia đình. Hướng tài lộc nằm ở hướng Đông Nam của căn nhà và nằm ở phía trên. Nếu nhìn từ cửa vào thì nó nằm ở bên trái của một căn phòng.Với phương vị tài lộc bạn nên đặt những vật dụng thuộc các hành Thủy, Mộc, Thổ nhằm mục đích chiêu tài lộc. Sở dĩ như vậy là vì Mộc tương ứng sự giàu có, Thủy tương ứng với tài lộc, Thổ tương ứng sự no ấm.
3. Luôn mở cửa
Cửa nẻo được mở giúp cho không khí lưu thông, là một trong những yếu tố tích cực về mặt phong thủy. Đây cũng được xem là mẹo phong thủy đầu năm mới giúp vượng tài lộc. Bởi lẽ khi ngôi nhà có không khí trong sạch và luôn thông thoáng thì nguồn năng lượng trong nhà cũng trở nên tích cực hơn. Hãy chú ý nhiều tới không gian phòng khách để luôn được sáng sủa, giúp ích cho tài lộc và đường công danh sự nghiệp của bạn.
4. Trang trí khu vực ngoài cửa, cổng
Nhớ đừng bỏ qua không gian ngoài cửa nhà, bởi nó cũng là một trong những mẹo phong thủy đầu năm mới đón tài rước lộc. Hãy làm sạch và trang khí lại không gian cổng, ngoài cửa nhà thật đẹp mắt, gọn gàng. Sơn sửa cổng, tường rào, bài trí thêm cây hoa cảnh có màu sắc tươi sáng vừa giúp tăng mỹ quan cũng như tăng sinh khí cho toàn bộ ngôi nhà của bạn.
► Mời các bạn xem ngày khai trương, xem ngày xuất hành theo tuổi để phát đạt, may mắn
Lichngaytot Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Quỳnh Mai (##)
Phật dạy người trí tuệ, Phật dạy người giác ngộ, sửa đổi bản thân, tu nhân tích đức, hoàn thiện bản thân. Người có duyên tu hành thì thần vững tâm an, thế nhưng
Phật dạy người trí tuệ, Phật dạy người giác ngộ, sửa đổi bản thân, tu nhân tích đức, hoàn thiện bản thân. Người tới cửa Phật thì thần vững tâm an, thế nhưng không phải ai phải cũng có duyên với chốn cửa chùa.
Ảnh minh họa
1. Người có đường trí tuệ cong xuốngNgười có đường trí tuệ dài lại cong xuống thời trẻ rất có hứng thú với chuyện tu hành và tìm hiểu tôn giáo, mà người này lại sớm gặp nhiều chuyện không như ý, tinh thần suy sụp về những chuyện như chuyện gia đình, chuyện công danh sự nghiệp hay chuyện tình cảm… Người này thường mang cảm xúc bi quan nên sẽ tìm tới chốn cửa chùa để nương náu, để tĩnh tâm.2. Người có ấn đường cao và nổi hẳn lên Người này thích hợp với chuyện tu hành, hai lông mày lớn hoặc ấn đường cao hơn người thì có cơ hội tới chốn cửa Phật lớn hơn, bản thân có mối thâm giao rất lớn với nhà Phật. 3. Người có nốt ruồi giữa trán Thời trẻ, người này mang tinh thần quá bi quan, suy sụp, trong nhà bất ổn, trong sự nghiệp gặp nhiều thất bại, chuyện tình cảm không thành… thì rất nhanh chóng tìm tới chốn cửa chùa nương náu để trốn tránh cuộc sống hiện thực.4. Người có vết gạch ở chính giữa trán
Ảnh minh họa
Người có nếp nhăn chạy dọc từ trên xuống dưới ngay giữa trán, nếu lấy tay sờ thì có thể thấy một cái khe. Nếu khe này rõ rệt thì chính là “Khai thiên nhãn”. Người có vết gạch kéo dài xuống tận Ấn đường thì là người có một chút căn khí.5. Người có dái tai to Người này tâm an từ nhỏ, sớm tiếp xúc với nhà Phật, dái tai to và kéo dài. Người này được hưởng phúc mấy đời, cuộc sống xung quanh người này cũng đều liên quan tới nhà Phật. 6. Người có búi tóc dày và lớnXem tướng người có duyên tu hành thì tâm kinh ảnh hướng tới tóc, tóc và tâm lại tương hỗ với nhau. Nhịp tim của Phật tổ khác người thường nên tạo hình tóc cũng khác, là hình xoắn ốc. Người có tóc mềm mại là người tính tình hiền hòa, biết nghe kinh giảng đạo.7. Người có bàn tay mềm mại Phật giáo có câu: "Chỉ tiêm, thủ phì, phú hậu thính kì". Người có ngón tay tròn trịa là vận tài tốt và có thể nắm bắt được những thông tin độc đáo. Người đàn ông tay mềm mại, phụ nữ tay tròn búp thì dễ vướng phong trần. Cả đời không thể quên đi mối tình đầu, cũng không hết hôn, dễ dàng vì tình yêu mà tuẫn tiết. 8. Người có giọng nói tốtNgười có giọng nói tốt có 2 loại: một là người nhỏ mà tiếng lớn, hai là người có giọng nói trầm ấm nhưng vang vọng, rõ ràng. Đây đều là những âm thanh giống như âm thanh của Phật. Lichngaytot.comDung mạo và khí chất theo quan điểm Phật giáo Dung nhan không chỉ là biểu hiện của sự đẹp hay xấu mà còn ẩn tàng khí chất. Khí chất là thứ tô điểm cho dung nhan, khiến dung nhan trở nên sâu sắc và nội hàmThái độ của Phật tử đối với tà ác nên thế nào? Ý nghĩa của câu chuyện về 5 vị đạo nhân ở trong một miếu am vào lúc đêm khuya cho chúng ta biết cách mà người tu hành nên đối phó với tà ác Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Mỹ Ngân (##)
Mưa là một hiện tượng thiên nhiên khá bình thường nên không có gì lạ khi chúng bất ngờ xảy đến trong giấc mơ của bạn. Mưa là thứ giúp xoa dịu mọi thứ mọi điều trong cuộc sống. Nhưng bạn lại vô cùng băn khoăn và không biết mơ thấy mưa mang đến điềm là
Xuất phát từ trung tâm thành phố Hưng Yên, xuôi theo đê sông Hồng về phía đông khoảng 3km, ta sẽ thấy một ngôi đền toạ lạc trên gò đất cao, quay về hướng đông nam. Bên phải là dòng sông Hồng cuộn chảy, bên trái là con đê bao quanh như một bức tường thành. Phía trước là cánh đồng, phía sau là xóm làng, thấp thoáng nhà mái ngói, mái bằng trong những vườn nhãn xum xuê xanh mướt. Đó là Đền Hoàng Bà, xã Quảng Châu, thành phố Hưng Yên.
Lịch sử đền Hoàng Bà
Đền Hoàng Bà được tạo dựng từ đầu thế kỷ XVII, thờ bà Trần Mã Châu, một vị nữ tướng tài ba đã có công lao to lớn, cùng Hai Bà Trưng đánh tan quân Tô Định, giành lại độc lập cho đất nước.
Tương truyền, sau Trưng Vương lên ngôi được 3 năm thì quân Nam Hán lại sang xâm lược nước ta. Trần Mã Châu được lệnh ra quân quyết chiến với giặc. Quân giặc bao vây tứ phía. Trên mình ngựa, tay cầm song kiếm, bà tả xung hữu đột, thấy giặc ngổn ngang. Được nửa ngày, gió thổi làm lộ thân hình, tướng giặc biết đó là nữ liền hô to: “Sĩ tốt khoả thân mà đánh” khiến bà lúng túng, bị thương, quay ngựa chạy về đến Bảo Châu thì hoá. Đó là ngày 3/3 năm Ất Mùi (năm 43 sau CN)
. Dân làng nơi đây đã lập đền thờ, tế lễ để ghi công đức của Hoàng Bà. Cảm phục và thương xót bậc lương thần đã quên mình vì nước, Trưng Vương truy phong cho Bà là “Thượng đẳng Phúc thần” và chuẩn phê cho làng Bảo Châu là nơi đền chính, phụng sự tế tự.
Tương truyền đền Hoàng Bà rất linh thiêng. Các triều đại nối tiếp về sau đứng lên dẹp giặc, gây dựng cơ đồ đều được Châu Nương linh thiêng hiển ứng, âm phù giúp nước, nên lại được phong: “Thượng đẳng tối linh anh linh hiển ứng” . Đến nay đền còn giữ được 7 sắc phong qua các triều đại. Triều Lê Thái Tổ phong cho Bà là: “Phương Dung trinh thục mĩ nga nhân Uyển Huệ Hoà công chúa.” Gần đây nhất là triều Khải Định năm thứ 4 (tháng 7 năm 1919), sắc phong cho Bà là: “Trinh tĩnh Trung đẳng thần”.
Kiến trúc đền Hoàng Bà
Trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử, đền Hoàng Bà đã nhiều lần phải trùng tu tôn tạo, song vẫn luôn giữ được nét xưa; uy nghi, giản dị, thanh tao. Hiện đền còn giữ được khá nhiều hiện vật quý giá, như: kiệu bát cống, kiệu võng, kiệu Bà, đại tự, hoành phi, câu đối, ca ngợi công đức Hoàng Bà với nhiều nội dung sâu sắc. Đặc biệt, đền còn giữ được bức tượng Hoàng Bà bằng gỗ quý rất đẹp từ thời Bà còn sống.
Hàng năm, đền mở hội từ ngày 1 đến ngày 3 tháng 3 âm lịch. Con em quê hương ở khắp mọi nơi cùng khách thập phương nô nức về dự hội, tưởng nhớ người nữ tướng anh hùng của dân tộc và ôn lại truyền thống chống ngoại xâm của ông cha ta.
Năm 1997, Đền Hoàng Bà đã được Nhà nước công nhận là di tích lịch sử văn hoá cấp quốc gia. Đây mãi sẽ là nơi tôn vinh, tri ân công đức của Hoàng Bà – vị nữ anh hùng dân tộc trong buổi đầu dựng nước, nơi bồi đắp lòng yêu nước, niềm tự hào về truyền thống vẻ vang của dân tộc cho muôn đời con cháu mai sau.