Mơ thấy đánh cược: Nhận thức của bạn có thể thay đổi –
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
Bước đầu dấy nghiệp của nhà Tây Sơn gắn liền với nhiều câu chuyện phong thủy rất sống động về địa thế của vùng đất có núi non trùng điệp ở hai bờ sông Côn và luôn tồn tại song song với câu sấm truyền lịch sử vào thuở ấy: “Tây khởi nghĩa – Bắc thu công”…
Có một “Hoành Sơn” ở phương Nam
Thường mỗi khi nhắc hai tiếng “Hoành Sơn” ở phía Bắc (tỉnh Quảng Bình) người ta liên tưởng đến cơ nghiệp nhà Nguyễn. Song cũng có một “Hoành Sơn” khác nữa nằm sâu về phía Nam (tỉnh Bình Định) vốn là nơi huyệt kết phát vương của anh em nhà Tây Sơn.

Núi Hoành Sơn chạy dài và tỏa rộng về phía đường quốc lộ với hai dòng suối (Đồng Tre và Chi Lưu) đưa nước uốn quanh dưới chân (thủy tụ). Mộ của ông bà Nguyễn Phi Phúc - song thân của Tây Sơn tam kiệt, tức ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ - nằm trên đó. Song không ai biết chính xác mộ ở vị trí nào trong núi.
Đến nay, nơi huyệt táng ông bà Nguyễn Phi Phúc vẫn là điều bí ẩn thu hút các nhà nghiên cứu phong thủy. Tuy nhiên, căn cứ theo các tài liệu lịch sử cũng như dò tìm manh mối qua các nội dung truyền khẩu tại địa phương, người ta được biết ít nhất hai câu chuyện liên quan đến đại địa của nhà Tây Sơn ở đó như sau:
Chuyện thứ nhất kể rằng, vào khoảng giữa thế kỷ 18, có một thầy địa lý từ Trung Quốc không biết cách nào đã lặn lội vào tận đất Bình Định để tìm long mạch và huyệt kết vùng núi Hoành Sơn. Thầy đã dùng hai cây trúc lén cắm ở hai nơi trên triền núi Hoành Sơn để dò huyệt địa, rồi bỏ đi mất một thời gian. Những gì thầy địa lý làm đều không qua được mắt của Nguyễn Nhạc.
Nguyễn Nhạc theo dõi và thấy một trong hai cây trúc bị chết, tàn lụi, còn cây trúc kia vẫn sống tươi xanh. Ông nhổ cây trúc chết đem trồng vào chỗ cây trúc sống. Lại nhổ cây trúc sống đến trồng vào chỗ cây trúc đã chết. Chẳng bao lâu sau, thầy địa lý người Trung Hoa đến để xem kết quả thử địa ở Hoành Sơn thì thấy cả hai cây trúc đều khô chết nên thầy thất vọng thầm nghĩ đây không phải là đất phát vương nên bỏ đi biệt hẳn. Bấy giờ, Nguyễn Nhạc mới bốc mộ của cha mình là cụ Nguyễn Phi Phúc đem táng vào chỗ có cây trúc tươi mà chỉ Nguyễn Nhạc biết thôi.
Chuyện thứ hai cho rằng, thầy địa lý người Trung Hoa khi đến vùng Tây Sơn để dò tìm long mạch và chỗ huyệt kết đã ở tại nhà của Nguyễn Nhạc. Hằng ngày, thầy đi lùng kiếm khắp vùng, đem theo chiếc la bàn, tấm vải điều màu đỏ và một chiếc gậy đẽo từ gỗ của một cây đại thọ trăm năm. Hết chỗ này đến chỗ khác thầy vẫn không vừa ý, cuối cùng thầy địa lý để tâm đến hòn Hoành Sơn.
Nguyễn Nhạc dò biết nên âm thầm kín đáo theo sau thầy địa lý và phát hiện được nơi huyệt kết. Khi thầy địa lý về lại Trung Hoa để hốt cốt thân sinh của mình đem đến chỗ huyệt kết để chôn, bấy giờ Nguyễn Nhạc tìm cách đánh đổi: "Đến ngày đã chọn, thầy Tàu lén đem chiếc tráp (có hài cốt) cùng địa bàn đi lên Hoành Sơn, vừa đến chân núi thì một con cọp Tàu cau to lớn ở trong bụi, gầm một tiếng, nhảy ra vồ".
"Thầy Tàu hết hồn, quăng tráp và địa bàn (dùng dò hướng đất theo thuật phong thủy) mà chạy. Hồi lâu không thấy cọp đuổi theo, liền quay lại chỗ cũ. Thấy chiếc tráp và địa bàn còn nằm lăn lóc đó, thầy mừng như chết đi sống lại, vội trực chỉ lên nơi long huyệt đã tìm ra. Chôn cất xong xuôi, thầy hớn hở trở về Trung Quốc, không ngờ rằng chiếc tráp thầy chôn vốn đựng di hài Nguyễn Phi Phúc và con cọp kia chỉ có lớp ngoài mà thôi”.
Đó là đoạn văn kể về sự tích phong thủy Hoành Sơn của nhà thơ Quách Tấn (1910-1992), trong một tài liệu viết về di tích và truyền thuyết nhà Tây Sơn với kết luận rằng hai câu chuyện trên tuy có vài chi tiết không giống nhau, song đều đồng một điểm chính là cho biết mộ Nguyễn Phi Phúc chôn ở Hoành Sơn.
Hoành Sơn còn gọi là núi Ngang, cao hơn 360 thước, có núi Ông Bình làm hậu tẩm, núi Ông Đốc với hình dạng “giống như một con hổ phục, đầu ngó lên Hoành Sơn. Núi Ông Đốc không cao và tuy giống hình cọp, song ngó bộ hiền lành như con cọp tu hành lâu đời.
Nơi triền phía Bắc hiện có một ngôi chùa thờ Phật. Đó là điềm “hổ cứ”. Còn “long bàn” là hai nhánh của con sông Côn, một từ phía Tây chảy xuống, một từ phía Tây Nam chảy ra, hợp nhau tại địa đầu thôn Phú Phong, trông như hai cánh tay ôm choàng lấy cuộc đất của Hoành Sơn vậy”.
Một vùng núi bút non nghiên…
Hoành Sơn là nơi được các thầy địa lý của Trung Hoa cũng như của Việt Nam công nhận là đại địa “vì có, nào bút nào nghiên, nào ấn nào kiếm, nào cổ (trống) nào chung (chuông), ở bên tả bên hữu… trước mặt trên ba nổng gò, đã mọc giăng hàng giống như những toán quân đứng chầu về. Và xa xa có hổ phục long bàn”. Bằng những phân tích địa thế phong thủy, Quách Tấn chứng minh những điều nêu trên là xác thực, vì:
- Bút đó là hòn Trung Sơn ở bên Phú Lạc, xa trông phảng phất như ngòi bút chép mây.
- Nghiên đó là hòn Hội Sơn tục gọi là hòn Dũng, trong địa phận Trinh Tường về phía Nam, đứng đối trí cùng hòn Trung Sơn ở phía Bắc.
Hòn Hội Sơn cao hơn 490m nhưng trông đầy vẻ uy nghiêm “trên núi có một vũng nước vừa rộng vừa sâu, quanh năm không bao giờ cạn. Người địa phương lên đó vỡ đất làm ruộng, đất tốt không kém dưới đồng bằng (nhờ nước đầy đủ).
Vì núi có vũng nước nên đám bình dân gọi núi là hòn Vũng (thay vì hòn Dũng). Còn đám hàn mặc (nho sinh) thì coi vũng nước là nghiên mực của trời nên đặt cho núi một tên nữa là Nghiên Sơn tức hòn Nghiên vậy, hòn Nghiên và hòn Bút nằm bên hữu bên tả hòn Hoành Sơn trông cân đối”, phù hợp với câu ca:
Một vùng núi Bút non Nghiên
Trời giao ấn kiếm cho miền Tây Sơn.
Cuộc đất tốt như vậy kết hợp lời sấm truyền do thầy dạy học của ba anh em nhà Tây Sơn là cụ giáo Hiến thông báo, rằng: “Tây khởi nghĩa – Bắc thu công”, đã tạo sức mạnh tâm linh thúc giục Tây Sơn tam kiệt khởi binh. Tây khởi nghĩa tức là dựng cờ nổi dậy ở vùng núi hướng Tây - vùng Tây Sơn. Bắc thu công là thành công lớn ở hướng Bắc, lên ngôi hoàng đế ở Phú Xuân (Huế bây giờ) năm 1788 và tiến ra Bắc đánh thắng quân Thanh xâm lược năm 1789…
Trong bài này chúng tôi chọn trích dẫn phong thủy nhà Tây Sơn chủ yếu theo tài liệu của Quách Tấn là vì trước hết gia đình ông đã trải qua chín đời ở ấp Tây Sơn hạ, ông viết: “Tây Sơn là dãy núi phía Tây tỉnh Bình Định thuộc hệ thống Trường Sơn (…) vì núi mệnh danh là Tây Sơn nên các vùng sơn cước bình nguyên ở chung quanh cũng gọi là vùng Tây Sơn.
Trước kia gọi là ấp Tây Sơn với ba phần: Tây Sơn thượng, Tây Sơn trung và Tây Sơn hạ”. Những gì ông viết ra về địa lý, phong thủy của vùng đất Tây Sơn cũng như những câu chuyện truyền khẩu liên quan đều do chính ông nghe nội tổ và song thân cùng các vị phụ lão ở quê ông kể lại, giới thiệu qua cuốn tài liệu “Quang Trung – Nguyễn Huệ” của nhiều tác giả, do NXB Văn hóa Sài Gòn kết hợp tạp chí Xưa và Nay ấn hành 2008, nêu rõ trong khu vực Hoành Sơn“sát chân núi ngay phía Đông, khoảng giữa nổi lên một trảng đất.
Trong khoảng này, dáng núi lại hơi cong cong. Đứng phía trước trông vào thì giống một chiếc ghế bành vĩ đại, mà lưng và tay dựa vào núi, mặt ghế là trảng đất. Trên trảng nằm song song hai nấm mộ bằng đá, hình chữ nhật. Vua Gia Long ngờ rằng đó là phần mộ của ông bà Nguyễn Phi Phúc, song thân của Vua Tây Sơn, nên truyền quan địa phương khai quật. Nhưng khi đào lên hài cốt không thấy đâu cả, mà chỉ thấy bốn chum dầu phụng đã lưng, trong mỗi chum có một ngọn đèn chong chóng đang cháy”.
Như vậy, đến nay dấu tích về mộ của ông bà Nguyễn Phi Phúc vẫn còn mờ mịt. Những ngọn đèn dầu phụng đã bị nhà Nguyễn (Gia Long) thổi tắt, nhưng sự nghiệp của nhà Tây Sơn vẫn cháy đỏ trong lịch sử Việt Nam.
Nếu tính từ lúc dấy nghiệp vào năm Mậu Tuất 1778 là năm Nguyễn Nhạc xưng đế hiệu (niên hiệu Thái Đức), gọi thành Đồ Bàn là Hoàng đế thành, đến lúc suy vong vào năm Nhâm Tuất 1802, thì nhà Tây Sơn tồn tại 24 năm.
Nếu tính từ năm Vua Quang Trung lên ngôi thì chỉ kéo dài có 14 năm (1788-1802). Dẫu ngắn ngủi nhưng nhà Tây Sơn đã để lại một dấu ấn sâu đậm qua chiến công của thiên tài quân sự Nguyễn Huệ dẫn đại quân tiến vào Thăng Long, đánh thắng hai mươi vạn quân Thanh xâm lược vang dội đến nay – ứng đúng câu sấm truyền Tây khởi nghĩa – Bắc thu công…
1. Hãy dừng những tiếng kêu ‘cót két’ lại!
Cánh cửa ra vào nhà bạn có bao giờ phát ra những âm thanh như gió rít không? Cửa chính bao giờ cũng là thứ đầu tiên và cuối cùng bạn bước vào hoặc ra khỏi nhà. Những tiếng kêu kin kít này giống như tiếng cánh cửa đang ‘khóc’ vậy, và chắc chắn nó sẽ làm ảnh hưởng ít nhiều tới tâm trạng của bạn.
Nhiều người trở nên quen thuộc với vấn đề này nên thậm chí không bận tâm. Nhưng hãy tra dầu vào bản lề cửa và điều đó sẽ giúp bạn cảm thấy tràn đầy năng lượng khi không còn những tiếng kêu khó chịu nữa. Việc tra dầu cũng nên áp dụng với các cánh cửa khác trong ngôi nhà, nhưng cửa chính luôn là quan trọng nhất.
2. Hãy sử dụng cửa chính!
Nhiều người thường sử dụng cửa phụ để vào nhà khi họ đỗ xe trong gara hay sân sau. Có lẽ việc này mang lại sự tiện ích, nhưng trong phong thủy, hành động này sẽ giới hạn những dòng năng lượng và cơ hội có ích trong cuộc đời bạn, bởi một lần nữa, cửa chính đại diện cho con đường dẫn “Khí” vào nhà bạn.
Cách để khắc phục? Bạn chỉ cần dùng cửa chính để vào nhà ít nhất một lần một tuần. Tần suất càng cao càng tốt! Chỉ cần mở và đóng nó khi bạn đi lấy thư hoặc thậm chí là đi dạo. Hãy ghi nhớ chúng bằng cách viết lên lịch trình hằng ngày của bạn.
3. Nơi nào hợp phong thủy để đặt nguồn nước?
Theo phong thủy, nước mang lại sự thịnh vượng. Nhiều người thắc mắc rằng chỗ nào là tốt nhất để đặt nguồn nước sao cho thật hợp với phong thủy. Dựa vào luật phong thủy, nơi phù hợp nhất cho việc đặt nguồn nước là gần với lối ra vào nhà bạn. Nó có thể ở trong hoặc ở ngoài, nhưng quan trọng nhất mạch nước phải chảy qua trung tâm ngôi nhà. Điều đó có nghĩa sự thịnh vượng chảy vào nhà bạn đó!
4. Hãy đặt những chậu cây ở trên tủ treo tường nhà bếp
Hãy thử nhìn vào những chiếc tủ treo trên tường nhà bếp của bạn và kiểm tra chúng có được đặt sát trần nhà phẳng hoặc vòm hay không. Đấy là một luật phong thủy tốt khi không có không gian trống ở trên những chiếc giá, tủ treo đó. Phần không gian này sẽ tạo ra bụi và làm ứ đọng ‘khí’. ‘Khí’ sẽ bị tắc tại đó và tạo ra năng lượng chết, thứ sẽ kìm hãm cuộc sống của bạn.
Nếu nhà bạn thừa không gian trên những chiếc tủ treo tường, đây sẽ là giải pháp cho bạn. Hãy đặt những chiếc bóng đèn hoặc cây (thật hoặc nhân tạo) hay những vật dụng đáng yêu ở đó. Những vật này mang lại sức sống cho căn phòng và giúp chuyển hóa năng lượng.
5. Luôn khép cửa phòng vệ sinh
Mọi người luôn lo lắng về nhà vệ sinh khi nghĩ tới phong thủy. Vấn đề ở đây là nước sẽ chảy ra từ nhà tắm. Và ta biết rằng nước đại diện cho sự thịnh vượng, tất nhiên không ai muốn tiền chảy đi cả.
Tôi cũng được dạy rằng tiền sẽ quay trở lại khi phòng vệ sinh khô ráo, nhưng để an toàn, bạn hãy đặt nắp bệ xí xuống và khép cửa phòng vệ sinh lại.
6. Đặt giường ở đâu?
Trong phong thủy, luôn luôn tồn tại các luật bất di bất dịch để đặt các đồ gia dụng quan trọng đúng nơi đúng chỗ. Không ai có thể phủ nhận được giường là vật dụng quan trọng nhất trong căn nhà theo phong thủy bởi bạn dành hàng giờ đồng hồ để ngủ!
Để đặt giường theo hướng tốt nhất, bạn hãy đặt giường đối mặt với cửa ra vào nhưng không đặt sao cho khi ngủ hướng người ra cửa tạo thành đường thẳng. Cách lí tưởng nhất là bạn hãy đặt giường chéo với cửa ra vào. Tuy nhiên, việc này không phải lúc nào cũng làm được. Trong trường hợp đó, bạn hãy đặt một chiếc gương tại giường sao cho bạn có thể nhìn thấy cửa ra vào qua gương khi nằm. Gương đứng sẽ là lựa chọn vô cùng hợp lí bởi chúng dễ dàng di chuyển và có nhiều hiệu quả.
7. Che phủ tivi trong phòng ngủ
Hầu hết chúng ta đều để tivi trong phòng ngủ. Chuyện đó là hoàn toàn bình thường. Nhưng nếu bạn mắc chứng khó ngủ, hoặc không, thì hãy tắt hoặc che phủ tivi khi không dùng tới. Năng lượng hoạt động trong tivi (dòng điện) có thể phá vỡ dòng năng lượng yên tĩnh khi bạn ngủ và trong cả phòng ngủ. Theo tôi, hãy dùng một chiếc khăn hoặc miếng vải phủ qua chiếc tivi.
8. Lau sạch mọi chiếc cửa sổ
Dù chưa phải mùa xuân để bạn lau dọn, nhưng không có nghĩa bạn để những chiếc cửa sổ vùi trong bụi bẩn trong suốt vài tháng tới. Chiếc cửa sổ tượng trưng cho đôi mắt của bạn để nhìn ra thế giới. Chúng ta đều muốn được nhìn và trải nghiệm tất cả những gì vũ trụ tạo ra. Hãy tìm vài tờ báo, một chút giấm và nước … để phủi bay bụi bẩn. Việc này giúp bạn mở rộng tầm mắt hơn đấy.
9. Hãy dọn dẹp căn nhà bạn
Cuối cùng nhưng cũng không kém phần quan trọng, hãy giúp căn nhà bạn trở nên thoáng đãng hơn. Ngôi nhà và môi trường sống xung quanh ta đều hiện diện các dấu ấn năng lượng của những vật thể từng xuất hiện. Việc dành chút thời gian để xua đi năng lượng xấu và đón chào những làn gió và ‘khí’ mới luôn là điều thích đáng.
Các phương pháp yêu thích trong việc giúp không khí dễ chịu hơn là: sử dụng các miếng gỗ trắc xanh để đốt, hun lửa cùng với cây xô thơm trắng hoặc xịt tinh dầu cam tự nhiên hòa với nước. Gỗ trắc xanh đem lại ánh sáng và các tính năng tuyệt vời khác để sử dụng hàng ngày. Cây xô thơm có mùi mạnh hơn - thích hợp để khử các mùi nồng. Và tinh dầu cam được sử dụng để giúp tâm trạng bạn vui vẻ hơn. Dù bạn dùng bất cứ thứ gì, hãy tưởng tượng rằng căn phòng sẽ tuyệt vời ra sao với những năng lượng tích cực cũng như ước mơ cho tương lai của bạn.
Bé sinh vào mùa nào đặt tên theo tiết trời, thiên nhiên của mùa ấy là cách đặt tên vừa hay, ý nghĩa, lại hòa hợp theo phong thủy, đem lại may mắn, phát tài. Hãy thử tham khảo kiểu đặt tên con theo đúng mùa sinh và xem tên có phù hợp với con mình hay không?
Mùa xuân là mùa bắt đầu của một năm, mùa của cây cối đâm chồi nảy lộc, của muôn hoa khoe sắc thắm, mùa của những loài chim (đặc biệt là chim én) bay về làm tổ. Vì thế, có rất nhiều gợi ý thú vị cho những cái tên của bé yêu sinh vào mùa xuân:
Tên cho bé gái:
Mang ý nghĩa của mùa xuân: Minh Xuân (mùa xuân tươi sáng); Mỹ Xuân, Diễm Xuân (mùa xuân tươi đẹp); Thanh Xuân (tuổi trẻ tràn đầy sức sống); Hương Xuân (hương thơm của mùa xuân).
Các loài chim của mùa xuân: Hoàng Yến, Thanh Yến, Diệu Yến, Hồng Yến, Nhã Yến, Ngọc Yến, Bảo Yến, Phương Yến, Minh Yến, Xuân Yến, Kim Yến, Quỳnh Yến.
Các loài hoa của mùa xuân: Tú Mai, Thủy Tiên, Thanh Mai, Yến Thảo, Xuân Mai, Hải Đường, Nguyệt Mai, Cát Tường, Anh Đào, Tầm Xuân, Xuân Đào, Trà My, Thanh Đào, Anh Thảo.
Tên cho bé trai:
Mang ý nghĩa mùa xuân: Xuân Trường (mùa xuân trường tồn); Thanh Minh (tiết thanh minh của mùa xuân); Vĩnh Xuân (mùa xuân vĩnh cửu); Đông Phong (làn gió từ phương đông, gió mùa xuân); Đông Quân (vị thần của mặt trời, của mùa xuân).
Nhắc đến mùa hạ là nhắc đến sự rạo rực, sôi động và tràn đầy năng lượng từ ánh nắng mặt trời, từ những loài hoa nhiệt đới nhiều màu sặc sỡ và những cơn mưa mùa hạ tươi mát. Mùa hạ đem tới nhiều cảm hứng để đặt tên cho bé trai và bé gái:
Tên bé gái theo mùa hạ: Hạ Vy (mùa hạ nho nhỏ); Hạ Miên (giấc mơ mùa hạ); Diệp Hạ (lá cây mùa hạ); Lam Hạ (mùa hè xanh); An Hạ (mùa hè bình an); Thanh Hạ (mùa hè thanh bình); Hạ Vân (đám mây mùa hạ); Thùy Dương (án nắng rực rỡ); Thiên Thanh (bầu trời xanh)
Tên bé gá theo loài hoa mùa hạ: Đỗ Quyên, Hồng Liên, Mộc Miên, Diên Vỹ, Ngọc Phượng, Cát Phượng, Hướng Dương.
Tên bé trai theo mùa hạ: Hạ Vũ (mưa mùa hạ); Khởi Hạ (sự bắt đầu của mùa hạ); Quang Hạ (ánh nắng mùa hạ), Thái Dương (ánh mặt trời rực rỡ); Nam Phong (ngọn gió phía nam, gió mùa hạ)
Mùa thu đem đến cảm giác tươi sáng, nhẹ nhàng, lãng mạn. Đây là mùa có ngày Quốc khánh, ngày lễ vui và thiêng liêng của cả đất nước, mùa có trăng tròn đầy và viên mãn nhất:
Tên bé gái theo mùa thu: Hương Thu (hương thơm mùa thu); Diễm Thu (mùa thu đẹp); Hoài Thu (mùa thu thương nhớ); Minh Thu (mùa thu trong sáng); Bích Thu (mùa thu xanh)
Tên bé gái theo hiện tượng mùa thu: Thùy Vân (đám mây diêu bồng); Minh Nguyệt (ánh trăng sáng trong); Thu Nguyệt (ánh trăng mùa thu); Thu Thủy (làn nước mùa thu);
Tên bé gái theo loài hoa mùa thu: Thạch Thảo, Hoàng Cúc, Thanh Cúc, Hồng Cúc, Họa Mi, Vân Anh, Trúc Đào.
Tên bé trai theo mùa thu: Quốc Khánh (ngày vui của đất nước); Thanh Phong (ngọn gió mát màu thu); Vĩnh Thu (mùa thu dài bất tận)
Ấn tượng về mùa đông luôn là sự giá băng, lạnh lẽo. Vì thế, những cái tên liên quan đến các loài cây mạnh mẽ, chịu được sương gió bão tuyết cực kì thích hợp để đặt tên cho các bé trai. Những hiện tượng thiên nhiên lãng mạn như băng , tuyết cũng rất hợp để đặt tên cho bé gái:
Tên bé gái theo mùa đông: Đông Vy, Quỳnh Đông, Đông Nhi, Đông Phương
Tên bé gái theo hiện tượng mùa đông: Thanh Băng, Tuyết Nhi, Băng Di, Tuyết Ngọc, Tuyết Mai, Hải Băng, Ngọc Tuyết, Hàn Thư, Tuyết Vân, Hàn Nhi, Băng Tâm, Hàn Thanh, Khánh Băng, Minh Tuyết.
Tên bé trai theo mùa đông: Huỳnh Đông, Quang Đông, Hải Đông, Chí Đông, Giang Đông, Thụy Đông, Khả Đông.
Tên bé trai theo loài cây mùa đông: Hoàng Bách, Sơn Bách, Lâm Tùng, Thanh Tùng, Đức Tùng, Danh Tùng, Hoàng Thông, Huy Thông,
Hy Di ngưỡng quan thiên thượng tinh
Tác vi đẩu số đoán nhân mệnh
Bất y ngũ tinh phải qua tiết
Chỉ luận năm tháng ngày giờ sinh
Tiên an thân mệnh thứ định cục
Tử vi thiên Phủ bố các sao
Kiếp không thương sứ thiên khôi việt
Thiên mã thiên lộc đới sát thần
Tiền Dương hậu đà thêm Tứ hóa
Hồng loan Thiên hỉ hỏa Linh Hình (thiên hình)
Nhị chủ đại hạn và tiểu hạn
Lưu niên sau đó an đẩu quân
Thập nhị cung phân tường miếu hãm
Lưu niên họa phúc phân trong đây (miếu hãm)
Lộc Quyền Khoa kị vi tứ hóa
Duy có Kị tinh đáng sợ nhất
Đại tiểu nhị hạn nếu phùng Kị
Vi miễn người đó gặp tai ương
Khoa danh khoa giáp xem khôi việt
Văn xương văn khúc chủ công danh
Tử phủ nhật nguyệt chư tinh tụ
Phú quý đều từ trên trời sinh
Dương đà hỏa linh vi tứ sát
Xung mệnh xung hạn đều không vinh
Sát phá Liêm tham đều tác ác
Miếu mà không hãm nắm tam quân
Khôi việt xương thêm vào không ai không ứng
Nếu hoàn mệnh hạn hãm ưu sân
Còn có lưu dương đà các sao
Cái này từ thái tuế mà lưu hành
Cho thêm tang điếu bạch hổ tấu
Thương sứ có thể đoán sinh tử
Nếu có người sinh đồng năm đồng tháng
Họa phúc có thể không chuẩn bình
Không chuẩn nhưng y tam thời đoán
Giờ có sai cũng không …
Đây là chân khẩu quyết của Hi Di
Học giả phải xem xét tỉ mỉ cho tinh
Sau đó y theo tinh đồ mà luận đoán
Kì trong phối quyết thì rất rõ ràng
Nếu có thể y đây mà luận nhân mệnh
Có thể dùng cây đàn mà giảng Ngũ tinh
Tử vi
Tử vi là
Trung thiên tinh
Chủ vi tụ
Tinh chi khu (nơi của các sao)
Kéo nhân mệnh (điều khiển nhân mệnh)
Chi chủ tải
Cư thân mệnh
Quan lộc cung
Kiết có Tướng (Thiên tướng có thêm thì tốt)
Vi hữu dụng
Vô Tướng vi (không có tướng)
Cô quân
Tử vi (thổ)
Đế tọa chư cung
Là sao giáng phúc
Ngộ kiết tăng kiết
Ngộ hung bất hung
Vũ khúc
Kim số 6
Tư tài chi tinh (sao của tài bạch)
Văn khúc
Thủy số 4
Khoa giáp chi tinh (sao của khoa giáp)
Cự môn
Thổ số 2
Âm tinh chi tinh (sao của Tinh khí cõi âm)
Tham lang
Mộc số 1
Dương minh chi tinh (sao của sự vương tới ánh sáng)
Lộc tồn
Thổ số 3
Trưởng lộc chi tinh (nắm giữ tài sản)
Liêm trinh
Hỏa số 5
Đan nguyên chi tinh (đan là màu đỏ, nguyên là nguyên khí)
Phá quân
Thủy số 7
Thiên quan chi tinh (sao của cổng nhà trời)
Sao trợ giúp
Kình dương
Hỏa
Đẩu tiền tư dẫn tấu chi tinh
Sao dẫn đầu, kéo đầu tàu
Tả phụ
Thổ
Đế cực giúp đỡ chi tinh
Hữu bật
Mộc
Đế cực nắm bắt chi tinh
Đà la
Kim
Đẩu tiền tư dẫn tấu chi tinh
Thiên phủ
Thiên phủ là
Nam đẩu sinh
Tăng thọ giải ách
Tại sao là chủ quyền (tư quyền)
Vi đế chi tả phú (người trợ lý của vua)
Có Tương là có dụng
Không có Tương là cô lập
Chính tinh
Tăng thọ chi tinh
Giải ách chi thần
Thất sát
Kim số 5
Thượng tướng chi tinh
Nâm đẩu chính diệu
Thiên lương
Thổ số 3
Tư thọ chi tinh
Sinh ra cát tinh
Thiên cơ
Thủy số 1
Ích thọ chi tinh
Nam phương ích toán chi tinh
Thiên Tướng
Thủy số 2
Tư lộc chi tinh
Nâm đậu chính diệu còn gọi là Ấn tinh
Thiên đồng
Thủy số 4
Ích toán chi tinh
Văn xương
Kim số 6
Khôi danh chi tinh
Sao phụ giúp
Hỏa tinh
Hỏa
Đẩu trung đại sát tướng thần
Hỏa linh thích sao đông nam không thích tây bắc, thích Tham Tử Phủ Sát Quyền lộc sợ Dương nhận phải tọa vượng địa
Thiên khôi
Hỏa
Đẩu trung tư khoa chi tinh
Khôi việt thiên ất quý nhân
Thiên việt
Hỏa
Đẩu trung tư khoa chi tinh (chủ khoa giáp)
Linh tinh
Hỏa
Đẩu trung đại sát tướng tinh
Thiên trung chư cát tinh diệu
Thái dương nhật
Thái dương hóa quý vi hỏa chi tinh (tinh chất của lửa)
Thái âm nguyệt
Thái âm hóa lộc vi thủy chi tinh (tinh chất của nước)
Thiên mã
Thượng giới dịch mã chi tinh
Hóa lộc
Thượng giới chủ phúc đức chi thần
Sợ nhập mộ
Hóa quyền
Thượng giới chủ phán sinh sát chi thần
Hóa khoa
Thượng giới ứng thí chủ văn chi tinh
Sợ dương đà kiếp không
Thiên hỉ
Thượng giới cát diệu
Thiên tài
Chỉ tài năng
Thiên thọ
Là sao thọ
Thai phù
Chủ đài các chi tinh
Phong cáo
Phong trạng chi tinh
Ân quang
Chủ đắc thánh ân
Thiên quý
Chủ đại quý
Thiên quan
Chủ quý hiển
Thiên phúc
Chủ lộc
Tam thai
Chủ quý
Bát tọa
Chủ quý
Long trì
Chủ khoa giáp
Phượng các
Chủ khoa giáp
Trung thiên chi hung tinh diệu
Thiên thương
Hỏa thượng thiên, hư hao chi thần
Thiên sứ
Hỏa thượng thiên dịch sứ chi thần
Địa không
Hỏa thượng thiên (lửa trên trời) không vong chi thần
Địa kiếp
Hỏa thượng thiên kiếp sát chi thần
Thiên Hình
Hỏa cô khắc chi tinh
Thiên diêu
Thủy dâm
Hóa kị
Tên là vì có sao Hóa mà ra, đa quản chi thần
Ngộ kiết thì kiết, ngộ hung tắc hung
Thiên hư
Không vong chi thần
Thiên khốc
Kim hình khắc chi tinh
Cô thần
Chủ cô
Quả tú
Chủ cô
Kiếp sát
Bạo bại chi tinh
Hoa cái
Phá hao chi tinh
Không vong
Tuần trung không vong
Triệt lộ không vong
Con người có sao hợp chiếu, có sao chính chiếu, có sao củng chiếu giáp chiếu, Chính không bằng củng, hợp không bằng giáp, chính chiếu biên chiếu là họa phúc khó, Hợp chiếu và giáp chiếu là họa phúc dễ (dễ ảnh hưởng?). Chính nghĩa là gì? tức là đối cung, hợp nghĩa là sao? Nghĩa là tam hợp, Củng nghĩa là sao? Nghĩa là 4 chính, giáp nghĩa là sao? Nghĩa là tiền hậu, vì thế nên giáp cung tuy hung, nhưng bản cung gặp kiết chính tọa, thì cũng gọi là phúc, sao giáp tuy tốt, nhưng bản cung gặp ác diệu ám lâm, thì cũng là hung luận, phàm thân cung thì nên có sao thanh quý, còn cung mệnh thì nên có sao phúc thọ
Sao dương chủ văn, ở cung dương nữa, thì là văn thao thanh hoa chi sĩ, âm tinh chủ võ, tại miếu vượng, tại âm cung nữa, tắc sẽ là võ dũng cương mãnh chi nhân, phàm sao dương ở cung dương, sao âm ở cung âm, sao nào theo chỗ ấy, thì là đắc địa, nếu tương phản, âm dương thác loạn, trong 1 ngày, từ mão đến thân là dương, từ dậu đến dần là âm, cũng có âm dương phản bối, mà cũng đa phú quý, do khán củng chiếu như thế nào, nên nói, số trung nghĩa luận rất tinh vi, đoán pháp là có thể do người hoạt biến
Có 9 điều:
(Nguồn: dịch từ cuốn Tử Vi Đẩu Số Tiệp Lãm)
Bài viết của cụ Hoàng Hạc
CÓ MA TRONG CHÙA?
Lâu rồi, một lần tôi xuống Quế sơn-Mỹ Tho, vào chơi một ngôi chùa cổ, gặp vị trụ trì là Yết Ma H, một người bạn cố tri. Ngồi nói chuyện hàn huyên một lúc rồi tôi hỏi vị trụ trì:
- Ở đây sầm uất u nhàn, tôi muốn kỳ bãi trường này, xuống đây nghỉ hè, đọc sách, yết ma có vui lòng cho phép không?
- Mô phật, nghe nói mừng quá, còn quý gì bằng, nhưng …
Rồi vị yết ma im lặng. Tôi hỏi:
- Thế nào, sao yết ma lại không nói nữa?
- Ở đây thì thanh tịnh, được ông đến thì thật vô cùng là may mắn.Tất cả mọi người trong chùa đều mến tiên sinh.Nhưng tôi có việc riêng xin thành thật trình bày.
- Xin nói cho biết…
- Số là trước đây, ở đây không có việc gì quái lạ xảy ra cả. Nhưng không đầy năm nay thì lại xảy ra nhiều việc ma quái… Trong chùa, đêm nào cũng có việc trêu ghẹo phá phách.
- Nghĩa là …
- Nghĩa là có ma quỷ hiện hình.Tôi không thấy ai cả, nhưng các ni sãi trong chùa đều thấy ở cây cột giữa chùa, đêm nào cũng thấy có bóng người leo lên tuột xuống. Tôi đã làm hết phương, nhưng vô hiệu.
- Yết ma đã làm những gì?
- Ở đây có một ông thầy giỏi về Lỗ ban đến làm phép. Nhưng rồi cũng không hiệu quả gì cả.
- Sao yết ma lại làm vậy? Sao chẳng tụng kinh cầu an?
- Dĩ nhiên là đã làm việc ấy trước hết rồi, nhưng chả thấy hiệu quả gì cả. Đối đế nên tôi mới nghe lời mọi người cho mời pháp sư.
- Có cho mời thày địa lý đến xem chăng?
- Có nữa, mà chắc đều là tay mơ cả hay sao? Tôi nghĩ hoài: có lẽ là số tôi chưa đủ đức để trị chùa này…Tôi định đi chỗ khác, nhưng các ni sãi không bằng lòng. Giờ đây, có điều tôi muốn thưa, nếu không phải thì xin ông vui lòng tha thứ cho.
YÊU CẦU TRỪ MA
- Yết ma cứ nói đi.
- Thưa chẳng dấu gì ông, tôi đã từng nghe ông có nhiều vị tài, xin ông mở tài thử nhìn xem nguyên cớ gì đâu có việc như vậy. Tôi tin là có nguyên nhân, vì cách đây một năm, ở đây yên tịnh nhất.
- Ai nói với yết ma như thế?
- Nhiều người đã đồn. Lâu rồi, nhưng tôi là phận hèn, không dám đến làm rộn ông. Có mấy người bạn ở tỉnh xuống đây họ đều bảo kiếm ông thì yên.
Tôi cười:
- Ai mà phá tôi như thế. Nhưng thôi, đã bắt đầu thắc mắc và tò mò. Xin yết ma cho tôi đi xem địa thế.
Yết ma và tôi cùng đi viếng chung quanh. Nhìn địa cuộc chả có gì là đáng lo ngại.
Phần địa lý Chùa bị đặt vào một địa cảnh thiên về Âm hơn Dương, vì bị ở cung Tù Tử, nhưng không phải là cái cớ biến thành ma quái. Có điều đặc biệt là Âm thịnh mà Dương suy, nên chùa có nhiều ni hơn sãi. Phần ni, có một ni bà rất xứng đáng quản trị. Tôi bèn nghĩ: có lẽ vì lá số Tử vi của họ chăng? Tôi hỏi vị yết ma:
- Thày có thể cho tôi xem lá số tử vi của thày không? Và cả của vị Ni trưởng.
Yết ma cười to:
- À! Nhân tiện tôi cũng có nhiều thắc mắc (vị yết ma này cũng là tay giỏi tử vi, và chúng tôi quen biết nhau rất lâu). May mắn không thì tôi đã quên mất.
XEM TỬ VI ĐỂ TÌM MA
Ông đưa tôi lá số của ông, cẩn thận để trong một cái hộp bằng cây khóa kín. Là vì ông tin rằng đó là những bí mật, sợ người khác biết ngày sinh thì có thể ám hại được. Tôi hứa là giữ kín. Tôi vẫn biết ma thuật có thể làm hại, nhưng tôi lại tin rằng ông ấy sợ người khác biết những chỗ nhược điểm mà sinh ra xem thường ông đi.
Tôi xem đi xem lại lá số, chả thấy gì đáng để ý. Tôi hỏi:
- Có thể nào thày bảo Ni trưởng cho tôi xem lá số.
- Được.
Theo vị yết ma này, thì ai vào chùa ngài, ngài đều bắt buộc ghi ngày sanh tháng đẻ.
Xem xong lá số của vị Ni trưởng, tôi vẫn lặng thinh. Ni bà hỏi:
- Mấy thuở gặp ông, mà chúng tôi ngưỡng mộ bấy lâu nay, vì Thày tôi thường nói đến ông. Ông thấy xấu nói xấu, thấy tốt nói tốt. Tôi là một nhà tu, cần sống trong chân lý. Ông không nên ái ngại, dè dặt gì cả.
Tôi xem một hồi nữa, cũng chả thấy gì cả. Bỗng tôi nghĩ ra một cách khác, tôi hỏi sư bà.
- Thưa sư bà, trước đây cách năm nay, có vị ni cô nào mới vào thọ giáo không ạ?
Sư bà suy nghĩ một chút rồi nói:
- Có.
Bà đứng dậy vào trú phòng. Một hồi dẫn ra giới thiệu tôi một ni cô còn trẻ, nhưng cặp mắt có 2 quầng đen khác mắt thường. Nhìn tôi, ni cô có vẻ ấp úng và cặp mắt bất thường. Tôi hỏi:
- Ni cô có biết sanh đẻ ra năm tháng ngày giờ nào không?
- Thưa biết, đã có khai với sư bà rồi.
Tôi yêu cầu sư bà cho xem.Vị yết ma nói:
- Tôi quên để ý việc này.
Ni trưởng vào phòng lấy sổ ra cho xem và có giấy ghi rõ. Tôi hỏi ni cô có chắc là đúng không, thì ni cô quả quyết là đúng. Tôi mời tất cả đi ra, một mình trong am với yết ma, chúng tôi bèn tra lá số ấy.
Thì quả tôi nghi đúng. Cung điền trạch của ni cô đó có tụ các vì sao ma quái, nào là Đà la, Hóa kỵ, họp với Thiên cơ….còn Thân đóng ở cung Thân lại có cả Đồng –Riêu –Hình –Mộc…Đó là số của các bà bóng. Nhập các sao lại, thì những người này ở đâu là sẽ có việc ma quái quấn quýt, dựa vào mà quấy nhiễu.
Thấy tôi suy nghĩ lâu, vị yết ma sốt ruột hỏi:
- Có gì lạ mà ông suy nghĩ lâu vậy?
Tôi nói:
- Tôi thấy tướng người lạ, vì cặp mắt láo liên và có cái quầng đen ở mắt mà 2 màu. Nay xem lá số tử vi thì rõ quá.
Tôi bèn cắt nghĩa và khuyên hãy đem ni cô này đi nơi khác.
Vị tu sĩ thở ra, than:
- Tội nghiệp. Phải làm sao cứu cô ấy, chứ nói là dời cái họa này đi nơi khác thì cũng tội.
MA TRỐN LÁNH NGƯỜI
Tôi làm thinh suy nghĩ.
Chiều hôm ấy, tôi xin ở lại chùa để khám phá thêm bí mật. Tôi bảo để tôi nghỉ ở một cái ghế bố ngoài hành lang, trước phòng ngủ của ni cô.
Đêm ấy, ngồi chong đèn đọc sách đến hơn một giờ khuya.Trong chùa đều vắng lặng cả, không có động tĩnh gì, tôi bèn tắt đèn và leo lên ghế ngủ, đánh một giấc tới sáng, giựt mình dậy là đúng 7 giờ sáng.
Trong chùa đều đã thức cả rồi, đang lo dọn đồ cho tôi điểm tâm.Vị yết ma mời tôi lên phương trượng, ngồi uống trà hỏi:
- Ông nghỉ khỏe? Có thấy gì lạ không?
- Không thấy gì cả.
Lúc bấy giờ sư bà đi qua, cúi đầu chào và nói:
- Đêm nay yên lặng cả, không có lộn xộn gì. Đây là lần thứ nhất.
Vị yết ma nhìn tôi:
- Phúc đức ngài cao quá. Có mặt người, chúng quỷ không hó hé. Ngài dấu tôi chi?
Lúc này, sư ông gọi tôi bằng Ngài. Tôi chả nói gì cả. Vẫn cứ suy nghĩ. Mấy ni, mấy sãi xầm xì với nhau, còn vị yết ma thì khẩn khoản yêu cầu tôi ở lại chơi ít ngày, đồng thời tìm cách ổn định lại tình trạng bị quấy nhiễu.
Tôi từ chối, vì đó không phải chổ biết của tôi, xin thử kiếm thày giỏi để “giải” cho ni cô này. Nhưng họ không chịu. Họ quả quyết rằng tôi có quyền phép gì. Họ cương quyết biểu tình đòi tôi phải ở lại, bằng không thì phải “giải quyết vấn đề” trước khi ra về.
MẠNG THIÊN TƯỚNG
Nghĩ mình đã ăn cơm Phật, thì phải trả ơn.Tôi gật đầu ưng chịu bảo đem giấy vàng và mực để làm ít lá bùa.
Tôi vin vào lòng tin của họ, bèn nói là sẽ vẽ cho lá bùa “Ngũ lai thần tướng“ để trấn tại chính điện, và cho các ni cô, cả sư bà, mỗi người một lá. Tôi giả vờ viết bùa, đánh ấn để dông luôn cho xuôi chuyện.
Xong xuôi, tôi ra về.
Cách vài ba năm sau, bất ngờ gặp vị yết ma thơ thẩn ở Sài gòn. Mừng rỡ xong, tôi không dám hỏi việc cũ, nhưng yết ma cười bảo:
- Ngài pháp lực cao cường thật.
Yết ma tiếp:
- Từ ngày Ngài ra về đến nay, không còn ma quái nào quấy nhiễu nữa.
Tôi bèn nghĩ:
(Ừ, có lẽ mạng mình là Thiên Tướng miếu, lại có Khoa – Quyền –Tướng -Ấn, mà ma quỷ nó sợ chăng? Kỳ thật là mình chỉ vẽ loăng quăng 4 chữ Ngũ Lôi Thần Tướng, rồi thì vẽ 5-7 vòng cho có vẽ như một lá bùa, chứ có biết gì là đánh ấn. Vậy mà lại linh!
Có tin không các bạn????
Biết việc “trừ tà” bằng tử vi, bỗng dưng các bạn thân trong hàng bà con thân thiết lại đinh ninh rằng Hoàng Hạc tôi lại rành cả bùa phép. Thường lại có bạn yêu cầu trừ tà và sửa nhà sửa cửa. Mặc dù tôi đã thực tâm thú thực rằng đó là một sự ngẫu nhiên. Mà thực vậy, tôi căn cứ vào đức tin của người để trấn áp tà ma, vì tà ma (nếu có) phần nhiều là do cái tin tưởng của mình một phần lớn. Không tin tà ma và tự mình chống đối, thì không tà ma nào nhập được cả. Cũng như cái máy radio, hễ mở ra làn sóng nào thì mới thu được làn sóng ấy…nó đang tràn khắp không gian. Đồng thịnh tương ứng, đồng khí tương cầu.
DO LÒNG TIN MÀ RA
Có một người cháu gái của tôi mà chồng là một sĩ quan cao cấp. Cháu gái tôi nó tin rằng tôi có tài phù phép. Nó có một căn nhà ở (mà là nhà của Nhà nước). Ở đó, vợ chồng nó cứ lục đục mãi, và có một khi kia, chồng nó nổi cơn đập phá lung tung nhà cửa. Nội nhà tôi chạy đến tôi. Tôi xem dùm cho một quẻ. Nhưng chả thấy gì lạ cả.
Tôi có nhìn qua lá số tử vi của sĩ quan này cũng chả thấy gì là triệu chứng đau óc. Xem căn nhà, thì cũng chả có gì lạ. Tôi biết đây là một cuộc dàn cảnh để “trị” cái chị vợ. Tôi bèn bảo:
- Nếu cháu muốn cậu cứu chồng cháu thì phải nghe cậu bất cứ điều gì.
Nó hứa là nghe theo.
Tôi bèn nói nhỏ với chồng nó là tôi biết không có gì cả, thì chồng nó nói:
- Có. Cháu nghĩ là có việc gì. Tại sao nhiều khi cháu hay nổi cơn giận dữ. Mà xét lại chả có gì đáng giận.
Tôi bảo:
- Thì có, nhưng tại cái nhà chút ít thôi. Nếu cháu bằng lòng nghe lời cậu, cậu sẽ cứu.
Nó gật đầu hứa chắc.
Nhân cả hai đều có đức tin mãnh liệt, tôi bèn cho mấy lá bùa hộ mạng. Tôi bảo mỗi khi có việc xẩy ra mà ông chồng nổi nóng, thì chị vợ và ông chồng đồng thời phải niệm câu chú “mà tôi dạy” rồi cầu xin ơn trên phù hộ để trừ tà quỉ muốn nhập phá.
Té ra cái kế của tôi có kết quả hết sức mỹ mãn. Trước đây, có mấy thày cứ bảo là nhà có quỷ quái, bảo phải sửa nhà và ếm, để cho họ rút tỉa tiền bạc. Cái kế của tôi là nhắc cho chúng nó rằng mỗi khi giận, thì tin là bị tà ma ở ngoài muốn quấy nhiễu, để chế ngự đi, chứ sự thật thì tam bành lục tặc là ở nơi mình chứ tà ma nào mà vào quấy mà sợ.
Vậy nhờ chúng tin cho nên vừa giận, thì vợ bảo liền chồng:
- Này, cậu dặn tụi nó định phá mình. Mình bình tĩnh cầu nguyện đi. Em cũng vậy.
Rồi hai vợ chồng lâm râm đọc chú, thì việc giận dữ bột phát kia bỗng tan đâu mất. Hai vợ chồng lại càng tin. Tôi nói gì chúng cũng chỉ cười:
- Cậu khiêm tốn quá. Cậu tài lắm. Cậu đấu chi mấy cháu.
Kể ra thật khổ. Là vì nhiều bạn đọc thấy lại đinh ninh là tôi có nhiều phép lạ. Cái đó biến thành một cái gì thiêng liêng mà mấy cháu trong nhà từ lớn đến nhỏ đều tin là thần thánh.
Mỗi khi chúng sợ “ma”, chúng chạy đến xin tôi lá bùa hộ mạng.Tôi chỉ ký tên (dĩ nhiên bằng chữ Hán) nên chúng chỉ thấy chữ vằn vện như bùa) đứa nào cũng đeo một lá nơi mình. Nhờ vững lòng tin tưởng mà chúng hết sợ ma nữa.
Theo tạp chí Khoa Học Huyền Bí
![]() |
Hệ số quan trọng nhất trong lịch pháp phương Đông là hệ số 10 (thập can) và hệ số 12 (thập nhị chi).
10 thiên can
1. Giáp; 2. Ất; 3. Bính; 4. Đinh; 5. Mậu; 6. Kỷ; 7. Canh; 8. Tân; 9. Nhâm; 10. Quý
12 địa chi
1. Tý; 2. Sửu; 3. Dần; 4. Mão; 5. Thìn; 6. Tỵ; 7. Ngọ; 8. Mùi; 9. Thân; 10. Dậu; 11. Tuất; 12. Hợi.
![]() |
| Bảng can chi |
Sự kết hợp hàng can với âm dương - ngũ hành và 4 phương
| Giáp
|
dương Mộc |
phương Đông
|
| Ất
|
âm Mộc
|
phương Đông
|
| Bính
|
dương Hoả
|
phương
|
| Đinh
|
âm Hoả
|
phương
|
| Mậu
|
dương Thổ
|
trung ương
|
| Kỷ
|
âm Thổ
|
trung ương
|
| Canh
|
dương Kim
|
phương Tây
|
| Tân
|
âm Kim
|
phương Tây
|
| Nhâm
|
dương Thuỷ
|
phương Bắc
|
| Quý
|
âm Thuỷ
|
phương Bắc
|
Sự kết hợp hàng chi với âm dương - ngũ hành và 4 phương
| Hợi
|
âm Thuỷ
|
phương Bắc
|
| Tý |
dương Thuỷ
|
phương Bắc
|
| Dần
|
dương Mộc
|
phương Đông
|
| Mão
|
âm Mộc
|
phương Đông
|
| Ngọ
|
dương Hoả
|
phương
|
| Tị |
âm Hoả
|
phương
|
| Thân
|
dương Kim
|
phương Tây
|
| Dậu
|
âm Kim
|
phương Tây
|
| Sửu
|
âm Thổ
|
phân bố đều 4 phương
|
| Thìn
|
dương Thổ
|
phân bố đều 4 phương
|
| Mùi
|
âm Thổ
|
phân bố đều 4 phương
|
| Tuất
|
dương Thổ
|
phân bố đều 4 phương
|
Bàn về lịch vạn niên
Nhưng khuyết điểm của nó là thời gian hưng vượng lại rất ngắn ngủi, đa số chỉ phát trong khoảng 1 vận (tức 20 năm) mà thôi. Nếu muốn tiếp tục phát thì thường là cứ sau 1 vận phải tu sửa lại nhà cửa hay phần mộ, kẻo nếu không thì tai họa sẽ ập tới như trường hợp Liêu kim Tinh (tức Liêu công) thời Tống.
Liêu kim Tinh xuất thân hàn vi, phải đi ở cho nhà của 1 đại quan là Trương minh Thúc. Vợ của họ Trương là con gái của Ngô cảnh Loan, 1 danh sư Phong thủy thời đó, thấy Liêu công thông minh, tướng mạo khôi vĩ mà phải chịu cảnh cơ cực, nên mới đem những bí lục của phụ thân truyền cho. Sau khi học xong, vì quá nghèo, Liêu công bèn tìm địa huyệt đắc “Vượng sơn, vượng hướng” mà cải táng mồ mả cho tổ tiên. Từ đó, gia đình ông đinh, tài đều vượng phát, danh tiếng nổi như cồn, được dân chúng vùng đó coi như 1 vị thánh, ngày nào cũng mời ông đi xem Phong thủy. Chuyện này đến tai 1 gia đình thế phiệt, họ liền mời ông về, dùng lễ thượng khách mà hậu đãi, chỉ mong ông tìm cho họ những cuộc đất tốt. Trong 18 năm trời, Liêu công đã tìm được 74 cuộc đất quý. Lúc đó cũng đã gần hết thời hạn vượng phát mồ mả của tổ tiên mình, nên Liêu công mới muốn xin về để tìm đất tu sửa hay cải táng lại. Nhưng nhà kia tham lam, cứ nhất quyết giữ ông ở lại thêm 4 năm nữa mới cho về. Khi ông về đến nơi thì đại họa đã xảy ra, tất cả các con đều đã chết, chỉ còn bà vợ già và 2 đứa cháu nhỏ. Liêu công vì quá đau buồn nên từ đó sinh bệnh rồi chẳng bao lâu cũng tạ thế.
Nói như vậy không phải là mọi cuộc “Vượng sơn, vượng hướng” đến khi thất vận đều sẽ bị tai họa thảm khốc như thế, mà điều đó còn tùy thuộc vào địa hình và Phi tinh của từng địa huyệt. Nhưng nó cho thấy khuyết điểm của cuộc “Vượng sơn, vượng hướng” là không được lâu dài, và vì vậy những nhà Phong thủy sau này đã tìm kiếm những cách cục khác có khả năng bảo đảm sự vượng phát của 1 gia đình lâu dài hơn cuộc “Vượng sơn, vượng hướng”. Một trong những cách cuộc đó là tình huống “HỢP THẬP”.
Nói “Hợp Thập” là khi trong các vận-sơn-hướng tinh, có 2 trong 3 số đó cộng với nhau (hợp) thành 10 (thập). Có 2 tình thế “Hợp Thập” xảy ra giữa Vận, Sơn và Hướng tinh như sau:
1/ Vận tinh và Sơn tinh cộng lại thành 10: Như trong một cung có các vận-sơn-hướng tinh 9-1-3, thì vận tinh 9 + Sơn tinh 1 = 10, nên đó là tình huống “Hợp Thập” giữa Vận tinh và Sơn tinh.
2/ Vận tinh và Hướng tinh cộng lại thành 10: Như trong một cung có các vận-sơn-hướng tinh 8-6-2. Vì Vận tinh 8 + Hướng tinh 2 = 10, nên là sự “Hợp Thập” giữa Vận tinh và Hướng tinh.
Cả 2 trường hợp kể trên đều đòi hỏi tất cả các cung phải có sự “Hợp Thập” thì mới có hiệu lực. Những trường hợp này còn được gọi là “toàn bàn Hợp thập”. Nếu trong trạch bàn chỉ có sự “Hợp Thập” ở 1, 2 cung thì không đáng kể lắm.
- Thí dụ 1: Nhà tọa TÝ, hướng NGỌ (tức 180 độ), nhập trạch trong vận 7.

Nếu lấy trạch vận thì thấy tại tất cả các cung, Vận tinh và Sơn tinh đều cộng với nhau thành 10. Đây là trường hợp toàn bàn Hợp thập giữa Vận tinh và Sơn tinh.
- Thí dụ 2: Nhà tọa NGỌ hướng TÝ (tức 0 độ), nhập trạch trong vận 7.

Nếu lấy trạch vận thì thấy tại tất cả các cung, Vận tinh và Hướng tinh đều cộng với nhau thành 10. Đây là trường hợp toàn bàn Hợp thập giữa Vận tinh và Hướng tinh.
Có tất cả 12 tình huống toàn bàn Hợp thập giữa Vận tinh với Sơn tinh, cũng như 12 tình huống Hợp thập giữa Vận tinh với Hướng tinh như sau:
* Giữa Vận tinh với Sơn tinh:
- Vận 1: Tọa TỐN hướng CÀN, tọa TỴ hướng HỢI.
- Vận 3: Tọa NGỌ hướng TÝ, tọa ĐINH hướng QUÝ.
- Vận 4: Tọa CANH hướng GIÁP.
- Vận 6: Tọa GIÁP hướng CANH.
- Vận 7: Tọa TÝ hướng NGỌ, tọa QUÝ hướng ĐINH.
- Vận 8: Tọa SỬU hướng MÙI, tọa MÙI hướng SỬU.
- Vận 9: Tọa CÀN hướng TỐN, tọa HỢI hướng TỴ.
* Giữa Vận tinh với Hướng tinh:
- Vận 1: Tọa CÀN hướng TỐN, tọa HỢI hướng TỴ.
- Vận 2: Tọa SỬU hướng MÙI, tọa MÙI hướng SỬU.
- Vận 3: Tọa TÝ hướng NGỌ, tọa QUÝ hướng ĐINH.
- Vận 4: Tọa GIÁP hướng CANH.
- Vận 6: Tọa CANH hướng GIÁP.
- Vận 7: Tọa NGỌ hướng TÝ, tọa ĐINH hướng QUÝ.
- Vận 9: Tọa TỐN hướng CÀN, tọa TỴ hướng HỢI.
Ngoài hai tình huống Hợp thập giữa Vận-Sơn-Hướng tinh như ở trên thì còn một tình huống Hợp thập đặc biệt khác. Đó là khi trong một trạch bàn, Sơn tinh của một cung cộng với Hướng tinh của cung đối diện thành 10. Trường hợp này cũng đòi hỏi Sơn tinh của tất cả 8 cung (tức chỉ trừ Sơn tinh tại trung cung) đều phải “hợp” với Hướng tinh của cung đối diện thành 10. Đây là trường hợp toàn bàn Hợp thập giữa Sơn và Hướng tinh.
- Thí dụ: nhà tọa CẤN hướng KHÔN (tức hướng 225 độ), nhập trạch trong vận 5. Nếu lấy trạch vận thì ta thấy:

- Sơn tinh 5 ở phía TÂY NAM + Hướng tinh 5 ở phía ĐÔNG BẮC = 10;
- Sơn tinh 1 ở phía TÂY + Hướng tinh 9 ở phía ĐÔNG = 10.
- Sơn tinh 9 ở phía TÂY BẮC + Hướng tinh 1 ở phía ĐÔNG NAM = 10.
- Sơn tinh 4 ở phía BẮC + Hướng tinh 6 ở phía NAM = 10.
- Sơn tinh 2 ở phía ĐÔNG BẮC + Hướng tinh 8 ở phía TÂY NAM = 10.
- Sơn tinh 6 ỏ phía ĐÔNG + Hướng tinh 4 ở phía TÂY = 10.
- Sơn tinh 7 ở phía ĐÔNG NAM + Hướng tinh 3 ở phía TÂY BẮC = 10.
- Sơn tinh 3 ở phía NAM + Hướng tinh 7 ở phía BẮC = 10.
Ngoài ra nếu nhìn vào trung cung thì cũng thấy Sơn tinh 8 + Hướng 2 = 10, nên đây là cách toàn bàn Hợp thập giữa Sơn tinh và Hướng tinh.
Vì đây là cách cục đặc biệt, nên chỉ có 6 trường hợp, và đều xảy ra trong Vận 5 cho những nhà có tọa-hướng CẤN-KHÔN, KHÔN-CẤN, THÂN-DẦN, DẦN-THÂN, GIÁP-CANH, CANH-GIÁP mà thôi.
TÁC DỤNG CỦA HỢP THẬP
Hợp thập tức là dùng Thập số (số 10) để thông với Ngũ Hoàng ở trung cung mà tạo thành thế “Thiên tâm Thập đạo” của Lạc thư và Hậu thiên Bát quái. Vì Thập (10) là âm Kỷ, thuộc Địa, còn Ngũ (5) là dương Mậu, thuộc Thiên, nên khi lấy Thập (10) ở tám cung mà phối với Ngũ (5) tại Thiên tâm (chính giữa) thì sẽ tạo thành sự kết hợp giữa Thiên- Địa, Phu – Phụ, Âm - Dương, hay như Thẩm trúc Nhưng nói là “tượng trưng cho sự thần diệu, sự thần diệu dùng số để biểu hiện, một Âm, một Dương là đạo vậy. Hai khí giao cảm mà hóa sinh vạn vật, sinh sinh không ngừng, biến hóa vô tận...công dụng của Hợp thập đều ghi cho sức của Mậu-Kỷ, khí vận mà được điều này thì mọi thứ hanh thông, vận vận tốt đẹp”.
Cho nên nơi nào có Hợp thập là có thể làm cho thông khí (còn gọi là Thông quái), toàn bàn đắc Hợp thập tức có thể làm cho thông khí hết 8 cung, khiến cho toàn cục đang suy (vì không đắc vượng khí tới tọa-hướng) lại chuyển thành vượng mà phát phúc, lộc song toàn.
Tuy nhiên,không phải tất cả mọi nhà đắc cách Hợp thập đều có thể xử dụng được nó, mà phải kết hợp với loan đầu mới có thể vượng phát được, còn nếu không thì cũng chỉ tầm thường hoặc suy bại mà thôi.
Một số người cho rằng những nhà có sự Hợp thập giữa Vận tinh và Sơn tinh thì sẽ vượng về nhân đinh, nếu có Vận tinh với Hướng tinh Hợp thập thì sẽ phát về tài lộc. Điều này có lẽ chỉ là sự suy diễn theo quan điểm “Sơn quản nhân đinh, Thủy quản tài lộc” mà ra. Nhưng họ không để ý rằng 1 khi đã có tình huống Hợp thập (bất kể giữa Vận tinh với Sơn hay Hướng tinh) thì toàn bàn đã thông khí được với trung cung (tức Thiên tâm), 2 khí âm-dương Mậu-Kỷ đã tác hợp nên Sơn vượng thì Hướng cũng vượng và ngược lại. Chính vì vậy mà Thẩm trúc Nhưng mới nói ”khí vận mà được điều này thì mọi thứ hanh thông, vận vận tốt đẹp”, chứ không chỉ thuần 1 vấn đề là vượng đinh hay vượng tài không được.
Sau cùng, ngoài những cách Hợp thập của Phi tinh đã nêu trên thì còn có cách Hợp thập theo hình cục của Loan đầu. Theo cách này thì nếu lai long ở phía sau và hướng thủy ở phía trước có thể hợp với tọa-hướng của căn nhà (hay mộ huyệt) để tạo thành 1 đường thẳng, nhà lại nằm tại trung tâm của thế đất để lấy Thiên tâm, tức địa thế 2 bên đã được phân ra đồng đều thì cũng là cách Hợp thập theo địa hình. Tuy nhiên cách này đòi hỏi tọa-hướng của căn nhà cũng phải đắc vượng khí của Sơn-Hướng tinh, tức là trong thực chất cũng chỉ là 1 trường hợp “Vượng sơn, vượng hướng” mà thôi. Nhưng do hình cục đắc “Thiên tâm thập đạo” nên lúc đương vận có thể phát mạnh hơn những cuộc “Vượng sơn, vượng hướng” bình thường, mà đến lúc thất vận cũng không đến nỗi suy tàn nhanh chóng. Nhưng muốn đắc cách Hợp thập theo hình cục thì nhà cũng phải lập tọa-hướng theo đơn hướng, chứ không thể dùng kiêm hướng. Nếu kiêm hướng ắt thế Thiên tâm thập đạo sẽ bị phá bể mà phát sinh ra nhiều hung họa. Cho nên chẳng thà là lập theo nguyên tắc “Vượng sơn, vượng hướng” như bình thường, hoặc dùng phương pháp Thế quái, chứ đừng quá tham lam chọn cách Hợp thập để chuốc lấy nhiều tai họa sau này.
Nguồn Phong Thủy tổng hợp
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Minh Thư (##)
No1: Tuổi Mão
Người tuổi Mão thông minh, khôn khéo ngầm từ bên trong nên rất khó đoán nội tâm họ đang suy tính điều gì. Khả năng thích ứng của con giáp này siêu cao thủ, có thể tùy cơ ứng biến nhanh nhạy, sắc sảo.
![]() |
Trước mặt mọi người họ không bao giờ để lộ yếu điểm của mình. Dù trong tình huống cấp bách nhất, họ vẫn giả nai hồn nhiên như không có chuyện gì xảy ra. Do đó, người tuổi Mão xứng đáng đứng ngôi đầu bảng.
No2: Tuổi Thân
Là con giáp thuộc hàng tinh ranh nhất trong 12 con giáp, cộng với sự hiểu biết sâu rộng nên người tuổi Thân biết cách ăn nói và hành động khéo léo sao cho bản thân được hưởng lợi ích nhiều nhất.
![]() |
Họ biết cách giả nai sao cho thật bài bản làm hài lòng mọi người. Một phần là để che giấu suy nghĩ nội tâm của mình, phần khác để chiếm được cảm tình và sự tin tưởng của mọi người.
No3: Tuổi Tý
"Ngụy trang" đã trở thành thói quen của con giáp này từ khi mới được sinh ra. Người tuổi Tý thích ẩn mình trong thế giới của riêng họ để gây dựng hình tượng bí ẩn và có phần lạnh lùng. Họ cố chấp, ngang bướng bảo vệ bí mật của bản thân, nhưng lại thích "săm soi" người khác và lấy đó là thú tiêu khiển, giảm stress.
![]() |
Vậy nên, khi nghe người tuổi Tý nói chuyện, bạn chỉ nên tin một nửa thôi nhé, nửa còn lại bạn phải tự thân vận động, tìm hiểu rõ ngọn nguồn sự việc để có kết quả chính xác nhất.
Mr.Bull
![]() |
Con số mang lại điều tốt lành cho 12 con giáp 1 và 6 là số may mắn của người tuổi Hợi, Tý; 5 và 0 là số may mắn của người tuổi Tuất, Thìn... |
1. Màu xám
Nếu bạn không phải là người ồn ào thì màu xám chính là màu sắc hợp lý dành cho bạn. Bạn có thể thiết kế phòng ngủ với màu xám để đem lại cảm giác thoải mái và kết hợp một số màu sắc nhẹ nhàng xung quanh nó.

Mặc dù oải hương được coi là một màu pastel nhẹ nhàng, nhưng theo các nhà chuyên gia đánh giá thì đây là màu sắc khá rực rỡ, nó làm kích thích tinh thần và đánh thức các giác quan của bạn. Tuy nhiên, lại có một điều thú vị là những người yêu thích hoa oải hương thì lại cảm thấy yên tâm khi sử dụng màu sắc này trong phòng ngủ của mình. Nên màu này vẫn được đánh giá cao.

Màu mận là sự biến thể của hai màu tím và xám. Màu này hơi tối hơn màu tím nên không có tính kích thích thị giác, nhẹ nhàng cho tinh thần của bạn hơn, tạo được cảm giác an toàn trong phòng ngủ.
Màu bạc là màu gần với màu nước. Bên cạnh màu xanh dương, bạc được coi là một màu sắc sang trọng nhưng nhẹ nhàng. Đây là màu sắc được ưa chuộng sử dụng cho phòng ngủ mang lại cảm giác mát mẻ và sảng khoái.
5. Màu Sapphire
Sapphire là màu của đá quý, là một màu xanh sang trọng đem đến sự tinh tế cho mọi không gian. Nói chung, màu sắc này được các chuyên gia đánh giá là làm dịu mát cho cơ thể. Chính vì thế, những người thức dậy tại một phòng ngủ được sử dụng gam màu sapphire này thường có cảm giác rất hạnh phúc.

Màu dâu được đánh giá là màu lãng mạn và màu của sự đam mê. Nhưng có một lưu ý mà các chuyên gia mới công bố đó là nếu bạn sử dụng tông màu này quá nhiều sẽ làm phản tác dụng. Vì thế, để tạo sự cân bằng bạn nên kết hợp với màu trắng hoặc màu trung tính để tạo một luồng năng lượng tích cực.

Sau khi xem xét tâm trạng của mình, bạn lại cảm thấy màu chàm là được lòng bạn nhất vì nó nhẹ nhàng, trung tính lại có thể kết hợp với nhiều màu sắc khác đến từ vật dụng trong phòng ngủ. Chính vì thế, đây cũng được coi là màu sắc được nhiều người ưa chuộng.

Màu sắc xanh ngọc giúp bạn có được giấc ngủ yên tĩnh. Điều này giúp một số người cảm thấy rất vui vẻ. Các nhà khoa học cũng chia sẻ, xanh ngọc là màu sắc tác động đến giây thần kinh não bộ nhanh và tốt nhất, nên việc sử dụng màu xanh ngọc là rất tốt cho giấc ngủ.

9. Màu hoa cà
Nếu bạn vẫn luôn bỏ qua màu sắc hoa cà vì cảm thấy màu này là màu của bà già thì bạn đã nhầm to rồi nhé. Đây là một màu sắc trung tính đem lại sự thanh thản tối đa cho người sử dụng. Nó còn là màu tôn lên được rất nhiều màu sắc khác nên rất dễ sử dụng và phối hợp.
10. Màu gạch đỏ
Màu này là màu rất kích thích thị giác nên bạn lưu ý cần sử dụng và kết hợp nó cẩn thận. Vì tính chất này nên bạn chỉ nên sử dụng màu này ở một bức tường hoặc ở vài phụ kiện đồ dùng trang trí để đạt được hiệu quả tốt nhất.

11. Màu xanh lá
Màu xanh lá được coi là màu sắc hoàn hảo cho phòng ngủ. Màu này cũng khá đa năng phù hợp trong nhiều thiết kế từ hiện đại, đến truyền thống, hay dân dã đều có thể sử dụng được. Một số màu xanh có thể được coi là màu trung tính nên rất dễ kết hợp như một nền tảng để tôn lên những màu sắc khác.

12. Màu vàng
Trong một nghiên cứu mới đây nhất cho biết màu vàng chính là màu sắc được xếp thứ hai trong những màu nên sử dụng cho phòng ngủ. Nó là màu sắc tạo được cảm giác vui vẻ và ấm áp. Nhưng tương tự màu đỏ đây là màu được khuyến cáo là nên sử dụng vừa phải hoặc với sắc thái nhẹ nhàng hơn để tạo được sự thư giãn.
13. Caramel
Không chỉ là một món ăn ngon, caramel còn là màu sắc giúp cho phòng ngủ của bạn ấm áp và thân mật hơn. Nó còn tạo được sự lãng mạn tự nhiên cho phòng ngủ.

Cam là một màu sắc tốt nhất để tạo ra một không gian ấm áp và một bầu không khí thư giãn. Nó sẽ giúp phòng ngủ của bạn trở thành một thiên đường. Bạn sẽ có một đêm ngon giấc khi sử dụng màu sắc này cho phòng ngủ của mình.

15. Màu hồng cánh sen
Các bạn nữ nên sử dụng màu hồng cánh sen này cho phòng ngủ của mình vì màu sắc này khá nhẹ nhàng, nữ tính. Một điểm hạn chế của màu sắc này là bạn không nên kết hợp nó với màu sắc trung tính hay nổi bật khác mà chỉ nên kết hợp với màu trắng để có sự thoải mái cho các giác quan và giấc ngủ của bạn.

Hướng dẫn trình tự lễ tại đình, đền chùa và miếu phủ như sau
– Theo lệ thường, người ta lễ thần Thổ địa, thủ Đền trước, gọi là lễ trình vì đó là lễ cáo Thần linh Thổ Địa nơi mình đến dâng lễ. Người thực hành tín ngưỡng cao lễ Thần linh cho phép được tiến hành lễ tại Đình, Đền, Miếu, Phủ.
– Sau đó người ta sửa sang lễ vật một lần nữa. Mỗi lễ đều được sắp bày ra các mâm và khay chuyên dùng vào việc cúng lễ tại Đình, Đền, Miếu, Phủ.
– Kế đến là đặt lễ vào các ban. Khi dâng lễ phải kính cẩn dùng hai tay dâng lễ vật, đặt cẩn trọng lên bàn thờ. Cần đặt lễ vật lên ban chính trở ra ban ngoài cùng.
– Chỉ sau khi đã đặt xong lễ vật lên các ban thì mới được thắp hương.
– Khi làm lễ, cần phải lễ từ ban thờ chính đến ban ngoài cùng. Thường lễ ban cuối cùng là ban thờ cô thờ cậu.
– Thắp từ trong ra ngoài
– Ban thờ chính của điện được đặt theo hàng dọc, ở gian giữa được thắp hương trước.
– Các ban thờ hai bên được thắp hương sau khi đã thắp xong hương ban chính ở gian giữa.
– Khi thắp hương cần dùng số lẻ: 1, 3, 5, 7 nén. Thường thì 3 nén.
– Sau khi hương được châm lửa thì dùng hai tay dâng hương lên ngang trán, vái ba vái rồi dùng cả hai tay kính cẩn cắm hương vào bình trên ban thờ.
– Nếu có sớ tấu trình thì kẹp sớ vào giữa bàn tay hoặc đặt lên một cái đĩa nhỏ, hai tay nâng đĩa sớ lên ngang mày rồi vái 3 lần.
– Trước khi khấn thường có thỉnh chuông. Thỉnh ba hồi chuông. Thỉnh chuông xong thì mới khấn lễ.
– Khi tiến hành lễ dâng hương bạn có thể đọc văn khấn, sớ trình trước các ban, hoặc chỉ cần đặt văn khấn, sớ trình lên một cái đĩa nhỏ, rồi đặt vào mâm lễ dângcúng cũng được.
– Khi hoá vàng thì phải hoá văn khấn và sớ trước.
Sau khi kết thúc khấn, lễ ở các ban thờ, thì trong khi đợi hết một tuần nhang có thể viếng thăm phong cảnh nơi thừa tự, thờ tự.
Khi thắp hết một tuần nhang có thể thắp thêm một tuần nhang nữa. Thắp nhang xong, vái 3 vái trước mỗi ban thờ rồi hạ tiền, vàng… (đồ mã) đem ra nơi hoá vàng để hoá. Khi hoá tiền, vàng… cần hoá từng lễ một, từ lễ cảu ban thờ chính cho tới cuối cùng là lễ tiền vàng… ở ban thờ Cô thờ cậu.
Hoá tiền vàng xong mới hạ lễ dâng cúng khác. Khi hạ lễ thì hạ từ ban ngoài cùng vào đến ban chính. Riêng các đồ lễ ở bàn thờ Cô, thờ Cậu như gương, lược… thì để nguyên trên bàn thờ hoặc giả nơi đặt bàn thờ này có nơi để riêng thì nên gom vào đó mà không đem về.
Bạn tuyệt đối không nên bày cây xương rồng ngay trong nhà hay phòng làm việc vì sẽ dẫn tới gia chủ bị bệnh tật, mất mát tài sản, tình cảm trục trặc, làm ăn thất bát.

Xương rồng là một loài thực vật mọng nước, có nhiều dạng phát triển: thành cây lớn, thành bụi hoặc phủ sát mặt đất. Đa số các loài xương rồng đều mọc và phát triển từ đất, nhưng cũng có rất nhiều loài kí sinh trên các loài cây khác để phát triển.
Thông thường, người ta trồng xương rồng thành hàng rào, ở những vùng sâu vùng xa thiếu điều kiện kinh tế hoặc thiếu thốn nguồn nguyên liệu tự nhiên. Chúng ta có thể thấy rất nhiều các loại xương rồng trồng trong chậu cảnh hay làm hòn non bộ.
Trong phong thủy, hình dáng của cây xương rồng thuộc vào loại đặc biệt, thân phát triển hướng lên trên, giống như xương của con rồng với ý nghĩa mang đến sức mạnh, có tác dụng hóa giải hình sát mạnh bên ngoài. Vì thế nó là một trong những cây có tác dụng hóa hung cao nhưng lại cực kỳ cấm kỵ khi bài trí trong nhà. Bạn chỉ nên đặt xương rồng ở ngoài cửa, như vai trò của người canh gác, bảo vệ bạn khỏi những năng lượng xấu, ngăn không cho chúng xâm nhập vào nhà.

Nguyên nhân của điều này được ## lý giải theo phong thủy như sau:
Xương rồng là cây nhiều gai nhọn, những mũi nhọn của nó chĩa vào người thì sẽ tạo ra khí xấu, ảnh hưởng tới sức khỏe của gia chủ. Chưa kể việc tập trung quá nhiều gai nhọn trên thân cây khiến nó luôn bị bao bọc bởi sát khí. Đôi khi, xương rồng nở hoa (nếu trồng xương rồng mà nở hoa, được coi là điềm lành vì hoa của nó mang năng lượng tốt) nhưng không đủ sức để át đi năng lượng xấu của những chiếc gai nhọn.
Bày xương rồng trong nhà gia chủ dễ bị bệnh tật, mất mát tài sản, tình cảm trục trặc, cô đơn.
Nếu bày trong văn phòng công ty, công ty sẽ khó phát triển, người đứng đầu cũng không sáng suốt, thường bệnh tật và tài sản công ty dễ mất mát.
Hành: Thủy
Loại: Phúc Tinh
Đặc Tính: Khoa giáp, học hành, phú quý.
Tên gọi tắt thường gặp: Khúc
Là một Phụ tinh. Một trong sao bộ đôi Văn Xương và Văn Khúc. Gọi tắt là bộ Xương Khúc.
Đắc địa: Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, Tỵ, Hợi
Hãm địa: Tý, Dần, Ngọ, Thân
Tướng Mạo: Người có Văn Khúc ở Mệnh có vẻ mặt thanh tú, khôi ngô. Người nữ thì có nhan sắc.
Tính Tình: Thông minh, có học thức, hoạt bát, có năng khiếu rất sắc bén về văn chương, mỹ thuật, âm nhạc và nhiều lĩnh vực khác.
Công Danh Tài Lộc:
Văn Khúc đắc địa là bộ sao phú quý, hiển đạt, phúc thọ rất có giá trị. Nếu có Lộc Tồn đi kèm thì tài năng xuất chúng. Nếu đi với Vũ Khúc thì tài năng kiêm nhiếp văn võ, có uy danh lừng lẫy và giàu sang.
Việc giáp Mệnh cũng tốt, nhưng đắc thời nhờ hoàn cảnh bên ngoài nhiều hơn là tài năng của chính mình.
Còn Văn Khúc hãm địa, thì khốn khổ, phải bỏ làng lập nghiệp ở xa, có tật, bị tai họa, hoặc yểu tử. Đàn bà thì dâm đãng, bị u buồn vì gia đạo. Nếu gặp thêm sát tinh thì có thể là gái giang hồ, khắc chồng, ti tiện.
Văn Khúc, Hóa Khoa: Thi đỗ dễ và cao, có văn bằng cao.
Văn Khúc, Hóa Khoa, Thiên Khôi, Thiên Việt: Khoa giáp tột đỉnh, thông minh xuất chúng, có tài thao lược, được trọng dụng, được đắc thời. Nếu thêm Nhật Nguyệt sáng thì năng tài đó đạt mức quốc tế.
Văn Khúc, Thái Dương sáng: Lịch duyệt, học rộng, biết nhiều.
Văn Khúc, Thiên Lương: Quý hiển, có uy danh lớn.
Văn Khúc, Thiên Cơ: Khéo léo, tinh xảo về thủ công và ngôn ngữ.
Văn Khúc, Vũ Khúc: Tài năng văn võ, được tiếng lừng lẫy. Nếu thêm Tả Hữu thì phú quý song toàn, hiển vinh về võ.
Văn Khúc, Liêm Trinh ở Sửu, Mùi, Tỵ, Hợi, Mão, Dậu: Giảm thọ. Đặc biệt ở Tỵ Hợi, Văn Khúc gặp Liêm Trinh hay bị tai họa, tù tội, yểu tử.
Văn Khúc, Tuần, Triệt hay Hóa Kỵ: Thi cử lận đận, dang dở, gián đoạn, công danh chật vật, khốn khổ, phải tha phương, hay bị tù tội, yểu tử (gặp Phá Quân đồng cung cũng vậy).
Văn Khúc, Thiên Riêu: Lãng mạn, rất xinh đẹp.
Ý Nghĩa sao Văn Khúc Ở Cung Phụ Mẫu:
Cha mẹ là người có học, có chữ nghĩa, có chức danh, nếu không thì cũng là người có tài nghệ khéo léo.
Ý Nghĩa sao Văn Khúc Ở Cung Phúc Đức:
Được hưởng phúc đức, gia tăng tuổi thọ, sống lâu.
Ý Nghĩa sao Văn Khúc Ở Cung Điền Trạch:
Gia tăng lợi ích cho việc mưu cầu nhà cửa.
Gia tăng nét đẹp về nhà cửa, nơi cư trú.
Ý Nghĩa sao Văn Khúc Ở Cung Quan Lộc:
Làm các nghề đặc biệt, đặc sắc về khéo léo chân tay, ngôn ngữ, thủ công, mỹ nghệ, mỹ thuật, văn học nghệ thuật thì nổi tiếng và phát tài.
Ý Nghĩa Văn Khúc Ở Cung Nô Bộc:
Bè bạn, người giúp việc, là người có chữ nghĩa, hoặc có tài nghệ đặc biệt, nhưng ham vui.
Ý Nghĩa sao Văn Khúc Ở Cung Thiên Di:
Ra ngoài có nhiều bè bạn, có danh tiếng.
Ý Nghĩa sao Văn Khúc Ở Cung Tật Ách:
Ít bị bệnh, nhưng nếu có thêm các sao xấu như Linh Tinh, Hỏa Tinh, Địa Không, Địa Kiếp, Hóa Kỵ, thì bị bệnh nan y, khó chữa, giảm thọ. Tuy vậy, vẫn có thần linh che chở, thoát hiểm hoặc gặp quý nhân cứu vớt.
Ý Nghĩa sao Văn Khúc Ở Cung Tài Bạch:
Giàu có nếu có nhiều cát tinh tốt, phá tán hao tài nếu gặp nhiều sao xấu, nhưng vẫn có người giúp đỡ.
Ý Nghĩa sao Văn Khúc Ở Cung Tử Tức:
Con cái học hành tốt, gia tăng số lượng về con.
Ý Nghĩa sao Văn Khúc Ở Cung Phu Thê:
Vợ chồng danh giá, có học thức, hòa thuận, đẹp đôi.
Ý Nghĩa sao Văn Khúc Ở Cung Huynh Đệ:
Anh chị em đông, có người thành danh, nên sự nghiệp, nhưng phong lưu tài tử , tài hoa. Trong anh chị em thường người nữ cô độc, lận đận chồng con, chết non, nếu có các sao Kình Dương, Đà La, Địa Không, Địa Kiếp.
Văn Khúc Khi Vào Các Hạn:
Nếu gặp các bộ sao đi với Văn Khúc thì có ý nghĩa liên hệ.
Văn Khúc, Hóa Khoa hay Thiên Khôi, Thiên Việt: Có học hành, thi cử và đỗ cao trong hạn đó. Nếu gặp Kỵ có thể thi rớt.
Văn Khúc, Thái Tuế: Được thăng quan, viết văn nổi tiếng.
Văn Khúc Sát tinh: Tai họa lớn, bị kiện cáo, hao tài. Gặp thêm Linh, bị tù.
Văn Khúc, Liêm Trinh, Kình Dương, Đà La: Tai nạn khủng khiếp, nếu không cũng bị tù tội. Nếu đại hạn xấu thì khó thoát chết.
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
Lễ Hội Hạ Thái
Thời gian: tổ chức vào ngày 9 tới ngày 11 tháng 11 âm lịch.
Địa điểm: làng Hạ Thái, xã Duyên thái, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây cũ nay thuộc Hà Nội.
Đối tượng suy tôn: nhằm suy tôn thành hoàng làng là ông Bùi Sĩ Lượng (quan võ thời Lê, diệt Mạc) và Bà Đinh Thị Trạch (người đàn bà tự nộp mình cho hổ để cứu dân làng).
Nội dung: Mở đầu lễ hội là dựng cây nêu cạnh giếng, tiếp đó là lễ rước, lễ mộc dục, lễ cáo yết ở miếu và tế ở đình. Phần hội có: đấu vật, múa sênh tiền, múa sư tử, chạy thi, tổ tôm điếm...
Bạn muốn biết nốt ruồi sát phu là gì? Nốt ruồi sát phu có ý nghĩa như thế nào và nằm ở đâu trên cơ thể. Bài viết dưới đây, Phong thủy số sẽ giới thiệu tới bạn về nốt ruồi sát phu là gì?

Nốt ruồi sát phu có ý nghĩa rất rộng. Nốt ruồi sát phu là nốt ruồi xấu, có nghĩa là những người phụ nữ có nốt ruồi này, nhẹ thì khi lấy chồng, vợ chồng sẽ có xung đột, nặng thì có thể chồng chết sớm.
Để trả lời câu hỏi nốt ruồi sát phu nằm ở đâu thì bạn có thể xem những vị trí nốt ruồi dưới đây:
Nốt ruồi mọc ngay giữa cằm. Nhiều người quan niệm đây là nốt ruồi xấu có ảnh hướng không tốt tới người chồng của mình.
Nốt ruồi dưới mắt trái, ở vị trí xương gò má thì đàn bà có tướng sát chồng.
Ngoài những vị trí nốt ruồi sát phu thì những đặc điểm nhân tướng học trên đây cũng được gọi là người có tướng sát phu:
- Mắt lớn, lồi (nhỏ và dài mà lồi thì đỡ tai hại hơn), lông mày thưa vàng và ngắn.
- Mày thô, mắt có sát khí.
- Hai mép miệng và hai pháp lệnh đều có nốt ruồi.
- Phần sống mũi (Niên thượng, Thọ thượng) nổi gân máu.
- Trán cao, hai phần Nhật, Nguyệt giác nổi cao và hướng lên.
- Tiếng nói như nam giới hoặc oang oang như sấm động hoặc âm thanh sắc cao như xói vào tai người nghe.
- Trán vuông, mày lớn, cao và đậm.
- Xương Lưỡng quyền vừa thô vừa lộ.
- Trán lồi, cổ ngắn, hoặc trán cao mặt hãm.
- Mũi hếch thấp, mắt thuộc loại tam tứ bạch, hoặc hình tam giác mà lộ hung quang. Có đủ tất cả là tướng đại hình khắc và yểu.
- Sắc da mặt thô xạm như màu đất chết.
- Mặt chè bè về chiều ngang (phần Trung đình) mà lại sát thanh nghĩa là tiếng nói lanh lảnh như tiếng kim khí va chạm nhau khiến người nghe cảm thấy ớn lạnh xương sống.
- Trán hẹp, nhọn, tai thấp hoặc trán nhỏ, hẹp và lông mày giao nhau.
- Trán có tật bẩm sinh (vết sẹo, vằn trán thuộc loại loạn văn rất rõ lúc còn niên thiếu).
- Mũi hếch, tai khuyết hãm, mày thô và mắt có tia máu ăn lan từ tròn trắng xuyên qua tròng đen đến đồng tử, thuật ngữ tướng học gọi là Xích mạch xâm đồng.
- Sơn căn có nốt ruồi và dưới mắt có nhiều vết nhăn (đây nói phụ nữ ở trung niên trái lại).
- Xương Lưỡng quyền nổi cao và nhọn như chỏm núi.
- Tóc có phù quang (trơ trẽn không có sinh khí), da trắng và khô mốc.
Xem thêm những bài viết khác tại đây:
+ Nốt ruồi ở mông đàn ông, phụ nữ có ý nghĩa gì?
+ Xem bói nốt ruồi đoán tương lai, vận mệnh của bạn
+ Nốt ruồi vùng kín nói lên điều gì?
+ Nốt ruồi xanh, nốt ruồi son là gì?
Xem hướng nhà theo tuổi cho nữ tuổi Tuất là những hướng tốt nên chọn và hướng xấu nên tránh cho cụ thể từng năm tuổi. Bạn đọc có thể căn cứ vào những gợi ý dưới đây để xác định hướng nhà phù hợp với mình.
![]() |
![]() |
![]() |
Bộ vị Thừa thương và Bộ vị Địa các là hai bộ vị cuối cùng trong 13 bộ vị quan trọng trên khuôn mặt. Trong đó có thể xem chi tiết một số bộ vị bộ phận để biết được mộ phần, tính mạng của mình.
Dựa theo thứ tự lần lượt từ trong hướng sang phải bao gồm: Thừa tương, Tổ trạch, Tôn trạch, Ngoại viện, Lâm uyển, Hạ mộ, Trang điền, Tửu trì, Giao quách, Hoang cân, Đạo lộ. Chi tiết một số bộ vị bộ phận như sau:
Tổ trạch, chủ về sự việc liên quan đến cha mẹ, nhà cửa ruộng đất.
Vị trí này bằng sáng và trơn bóng thì nhiều tổ nghiệp, khuyết lõm thì không có nhà cửa ruộng đất. Có nốt ruồi thì bỏ gia nghiệp tổ tiên di cư đến nơi phương xa.
Ngoại viên chủ về trâu ngựa, ruộng đất.
Vị trí này đầy đặn là có nhiều trâu ngựa ruộng đất. Khuyết lõm là không có, màu sắc ác sẽ bị mất trâu ngựa.
Hạ mộ, chủ về mộ điền.
Vị trí này đầy đặn, nhuận hòa thì sau khi qua đời có mộ phần chu đáo. Nếu khuyết lõm và có màu khô thì mấy đời đều không có chỗ mai táng.
Dã thổ chủ về số lượng gà chó, lợn dê, đồng thời chủ về công danh của con cái tốt hay xấu.
Hoang cân, chủ về xuất ngoại.
Nếu đầy đặn, sáng bóng thì nên du lịch nước ngoài. Nếu ở hoàng đê vị trí này đầy đặn thì có ngoại sứ đến thăm.
Khâm khố chủ về xe cộ
Nếu vị trí này đầy đặn vuông vắn sẽ có xe ngựa, nếu khuyết lõm thì đi xe sẽ gặp tai họa.
Dựa theo thứ tự lần lượt từ trong hướng sang phải bao gồm: Địa các, Hạ xá, Nô bộc, Suy ma, Khanh trụ, Địa khố, Bì trì, Nga áp, Đại hải, Chu xa. Chi tiết một số bộ vị bộ phận như sau.
Hạ xá, chủ về có bao nhiêu nhà cửa ở nơi khác.
Vị trí này đầy đặn là nhiều nhà cửa bên ngoài, khuyết lõm và có nốt ruồi là mệnh bần cùng và không nhà cửa.
Nô bộc, chủ về nô tỳ trong nhà.
Vị trí này đầy đặn nhiều nô tỳ. Vị trí này khuyết lõm, có nốt ruồi thì cả đời thiếu kẻ ăn người ở.
Suy ma chủ về cát hung của vị trí cối xay trong nhà.
Khanh trụy, chủ về tai nạn.
Có nốt ruồi ở vị trí này sẽ bị rơi xuống hố mà khó giữ được tính mạng.
Phá đường chủ về cát hung của ao hồ.
Nếu đầy đặn thì trong nhà nhiều ao hồ, khuyết lõm thì trong nhà không có ruộng đất, phải phiêu bạt, gặp họa nơi sông hồ. Có màu sắc ác thì phát sinh chuyện thị phi.
Nga áp, chủ về cát hung của gia cầm.
Đại hải, chủ về gặp họa nơi sông nước mà khó giữ được tính mạng.
Vị trí này có màu đỏ thường vận mệnh chẳng thể dài lâu.
Có màu đen thì sau khi mất mạng nơi sông nước cũng không tìm thấy thi thể.
Màu vàng thì qua sông hồ không gặp nguy hiểm.
![]() |
| 12 con giáp |
10 can và 12 chi phối hợp với nhau để sinh ra lục thập hoa giáp (chu kỳ 60 năm còn gọi là Nguyên). Lịch can chi ở 3 đời Hạ, Thương, Chu (Trung Quốc) không giống nhau. Thời nay, người ta dùng lịch pháp đời Hạ, tức lấy tháng Dần làm khởi đầu của năm.
Việc tính giờ theo Can Chi cũng phần nào liên quan đến tập tính của các con vật.Tý (23-1h): Lúc chuột đang hoạt động mạnh.
Sửu (1-3h): Lúc trâu đang nhai lại, chuẩn bị đi cày.
Dần (3-5h): Lúc hổ hung hãn nhất.
Mão (5-7h): Việt Nam gọi mèo, nhưng Trung Quốc gọi là thỏ, lúc trăng (thỏ ngọc) vẫn còn chiếu sáng.
Thìn (7-9h): Lúc đàn rồng quây mưa (quần long hành vũ). Rồng chỉ là con vật do con người tưởng tượng ra, chứ không có thực.
Tỵ (9-11h): Lúc rắn không hại người.
Ngọ (11-13h): Ngựa có dương tính cao.
Mùi (13-15h): Lúc dê ăn cỏ không ảnh hưởng tới việc cây cỏ mọc lại.
Thân (15-17h): Lúc khỉ thích hú.
Dậu (17-19h): Lúc gà bắt đầu lên chuồng.
Tuất (19-21h): Lúc chó phải tỉnh táo để trông nhà.
Hợi (21-23h): Lúc lợn ngủ say nhất.
Theo VnExpress
Tử vi đẩu số Toàn thư khi luận về sao Thái Âm bao giờ cũng dựa trên 3 cơ sở:
a - Đứng đúng chỗ hay không? Miếu hay hãm địa?b - Sinh ban ngày hay ban đêm?c - Sinh vào thượng tuần, trung tuần hay hạ tuần trong tháng?
Thái Âm đóng Hợi Tí Sửu tốt nhất; Thân Dậu Tuất thứ nhì; ở Dần Mão Thìn thì gọi là thất huy (mất vẻ sáng); ở Tỵ Ngọ Mùi là lạc hãm. Trong chỗ tốt nhất thì Hợi tốt hơn cả, cổ nhân đặt thành cách:”Nguyệt lãng thiên môn”
Sinh ban ngày hay ban đêm chia theo 2 nhóm giờ như sau:
1. Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi.2. Thân, Dậu, Tuất, Hợi, Tí, Sửu.
Về thượng tuần hay hạ tuần thì từ 1 đến rằm là thượng tuần, từ 16 đến ba mươi là hạ tuần. Thượng tuần mặt trăng mỗi ngày mỗi tròn. Hạ tuần mặt trăng mỗi ngày mỗi khuyết. Tròn tốt, khuyết xấu. Người sinh hôm rằm trăng tròn tới cực điểm lại không đẹp bằng người sinh ngày 13, 14.
Về Thái Âm trong những câu luận đáng có một câu đáng chú ý là: “Thái Âm tại Mệnh Thân cung tuỳ nương cải giá” – nghĩa là bỏ chồng về nhà mẹ đẻ? Điều này không phải cứ Thái Âm là áp dụng. Còn phải tuỳ Thái Âm có rơi vào hãm địa không đã. Nếu Thái Âm ở Tỵ, lại sinh vào hạ tuần mà sinh vào ban ngày nữa thì lời luận đoán trên rất đúng về cái việc “tuỳ nương cải giá”, còn thêm sát tinh phụ hội thì lại càng đúng hơn, nhất là Hoả Tinh.
Cổ nhân còn viết: “Thái Âm thủ mệnh bất lợi cho những người thân thuộc về phái nữ, vào số trai mẹ mất sớm, về cuối đời goá vợ, xa chị em gái; vào số gái cũng thế, ngoài ra còn ảnh hưởng đến cả bản thân nữa”. Điều này cũng chỉ có thể áp dụng qua tình trạng Thái Âm lạc hãm, sinh thượng tuần, hạ tuần và sinh ban ngày ban đêm.Thái Âm vào cung Thân, ảnh hưởng còn nghiêm trọng hơn so với Thái Âm đóng Mệnh. Với trường hợp Thái Âm tại Tỵ mà gặp Thái Dương Thiên Lương ở Dậu, rồi bên cạnh Thái Âm còn gặp sát tinh hội tụ nữa, ảnh hưởng nặng nề hẳn
Với thời đại ngày nay, chuyện “tuỳ nương cải giá” không như ngày xưa nên khi nói về hậu quả của sự việc ấy phải rộng rãi hơn. nhiều hướng và nhiều ý nghĩa khác nữa. Nguyên tắc của Tử vi sao hay có cặp đôi thấy Thái Âm thì trước tiên hãy xem thế đứng của Thái Dương.
Trong bản số chỉ có 2 cung Thái Dương Thái Âm đứng một chỗ là Sửu và Mùi. Nếu tốt cả hai cùng tốt, mà xấu thì cả hai cùng xấu. Các sao đi cặp, hễ các sao xung chiếu bị ảnh hưởng tốt xấu đều phản xạ qua sao bên kia.
Nhật Nguyệt ở Sửu Mùi thì ở Mùi tốt hơn ở Sửu. Tại sao? Vì Thái Dương ảnh hưởng mạnh hơn Thái Âm mà Mùi cung thì Thái Dương không bị “thất huy” như ở Sửu mới có sức trợ giúp Thái Âm. Cho nên Nhật Nguyệt ở Sửu, cuộc đời khó hiển đạt và lên xuống thất thường, còn Nhật Nguyệt ở Mùi thì an định hơn.
Nhật Nguyệt đồng cung mang nhiều khuyết điểm, vì cổ ca viết: Nhật Nguyệt thủ bất như chiếu hội, tịnh minh nghĩa là, Nhật Nguyệt đóng Mệnh không bằng chiếu Mệnh hoặc đứng hai chỗ cùng sáng như Thái Âm Hợi, Thái Dương Mão hoặc Thái Âm Tuất, Thái Dương Thìn.
Phú nói:
"Nhật Nguyệt Mệnh Thân cư Sửu MùiTam phương vô cát phản vi hung."
Vậy thì cách Nhật Nguyệt Sửu Mùi cần những sao tốt khác trợ lực mới đáng kể.
Thái Âm gặp Cự Môn Hoá Kị bị nhiều phiền luỵ. Như trường hợp Mệnh Vô Chính Diệu gặp Nhật đóng ở cung Thân, Nguyệt đóng ở cung Ngọ thì lúc ấy bên cạnh Nhật có Cự mà lại thêm Kị thì phá mất cái tốt của việc hợp chiếu. Thái Âm cũng không ưa Thiên Lương, trong trường hợp Thái Âm đóng ở Tỵ mà Dương Lương từ Dậu chiếu sang thường đưa đến tình trạng vợ chồng ly tán. Trường hợp Mệnh Cự Môn Thái Dương mà cung Phu thê có Đồng Âm gặp Hoá Kị duyên cũng khó bền.
Về Thái Âm cổ nhân còn tìm thấy cách “Minh châu xuất hải” (hòn ngọc sáng rực ngoài biển khơi). Cách này đòi hỏi Mệnh VCD tại Mùi, Thái Âm đóng Hợi, Thái Dương đóng Mão. Sách viết: “Nhật Mão Nguyệt Hợi Mệnh Mùi cung. Minh châu xuất hải vị tam công” (Thái Dương Mão, Thái Âm Mùi, Mệnh lập Mùi là cách minh châu xuất hải chức vị cao, quyền thế). Nhưng cách “Minh châu xuất hải” vẫn phải cần Tả Hữu đứng cùng Nhật Nguyệt mới toàn bích, thiếu Tả Hữu mà gặp thêm hung sát tinh thì chỉ bình thường.
Luận về Thái Dương Thái Âm còn phải chú ý đến các cách giáp mệnh. Như Thiên Phủ thủ Mệnh ở Sửu, Nguyệt tại Dần, Nhật tại Tí; Thiên Phủ Mùi, Nguyệt ở Thân, Nhật giáp từ cung Ngọ.
Rồi đến Nhật Nguyệt hiệp Mệnh như Tham Vũ ở Sửu và Mùi. Tham Vũ Sửu thì Thái Âm Tí, Thái Dương Dần. Tham Vũ Mùi thì Thái Âm Ngọ, Thái Dương Thân. Mệnh lập Sửu vẫn tốt hơn Mệnh lập Mùi. Hiệp với giáp vào cung vợ chồng không mấy tốt, nếu kèm theo hung sát tinh đưa đến tình trạng hôn nhân có biến.
Trường hợp Thiên Phủ ở cái thế kho lủng, kho rỗng, kho lộ mà giáp hiệp càng gây khó khăn hơn. Thái Âm là âm thủy chủ về điền sản, tiền bạc.
Thái Âm thủ Mệnh nữ hay nam đều có khuynh hướng về hưởng thụ công việc gì cần nhẫn nại gian khổ không thể giao cho người Thái Âm. Thái Âm vào nữ mạng sinh ban đêm là người đàn bà có nhan sắc, có cả Xương Khúc nữa càng mặn mà. Thái Âm trên khả năng thông tuệ nhưng lại thiếu nhẫn nại để mà học cao đến mức hiển đạt vì học vấn.
Thái Âm hãm độc tọa thủ Mệnh vào nam mạng vào nội tâm đa nghi. Vì Thái Âm chủ về điền sản nên đắc địa vào cung điền trạch rất tốt. Thái Âm đắc địa thủ mệnh số trai dễ gần cận phái nữ không ồn ào mà âm thầm nhưng khi thành gia thất rồi, vợ nắm quyền.
Thái Âm nữ mạng đắc địa, đa tình lãng mạng, thiện lương nhưng thiếu chủ kiến, có tâm sự u uẩn phải bộc bạch ra mới yên, với bản chất qúy thủy (nước trong) nên bao giờ cũng thích làm dáng, ăn ngon mặc đẹp.
Thái Âm hãm thủ mệnh lại đứng cùng Văn Khúc hãm nữa chỉ thành tựu như một nghệ nhân tầm thường với cuộc sống phiêu bạt, kiếm chẳng đủ miệng ăn. Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư còn ghi một câu: Thái Âm cư Tí, thủy chừng quế ngạc, Bính Đinh nhân dạ sinh phú quí trung lương (Thái Âm đóng Tí như giọt sương mai đọng trên hoa quế, người tuổi Bính Đinh sinh vào ban đêm giàu sang, tâm địa trung lương vì tuổi Bính tuổi Đinh đều có gặp Lộc Quyền hay Lộc Tồn mà nên vậy)
Sau đây là những câu phú liên quan đến Thái Âm:
- Nguyệt diệu Thiên Lương nữ dâm bằng(Thái Âm gặp Thiên Lương đàn bà đa dâm và nghèo. Câu này chỉ vào trường hợp Thái Âm ở Mão hay Tỵ, hội chiếu Thiên Lương từ Mùi hoặc Dậu, Thái Âm hãm mới kể)
- Nữ mệnh dung nhan mỹ tú, ái ngộ Nguyệt Lương(Người đàn bà có nhan sắc là bởi Thái Âm Thiên Lương. Về nhan sắc thì Thái Âm hãm hay đắc địa như nhau, duy Thái Âm đắc địa dung nhan phúc hậu hơn)
- Nữ mệnh kị Nguyệt ngộ Đà(Đàn bà rất kị Thái Âm gặp Đà La. Tại sao? Vì ưa loạn dâm. Thái Âm vốn dĩ đa tình lại có Đà La tượng trưng sinh thực khí của đàn bà tức kể như nữ tính quá phần mạnh mà loạn)
- Nguyệt tại Hợi cung minh châu xuất hải tu cần Quyền Kỵ Khúc Xương hạn đáo(Nguyệt ở Hợi là cách minh châu xuất hải, để phấn phát còn cần gặp vận Khúc Xương Quyền Kỵ)
- Âm Dương lạc hãm tu cần không diệu tối kị sát tinh(Âm Dương đứng không đúng chỗ cần gặp Tuần Triệt, Địa Không ngại gặp sát tinh hãm hại)
- Thái Âm Dương Đà tất chủ nhân ly tài tán(Sao Thái Âm gặp Kình Dương Đà La thì nhân ly tài tán. Đây là nói về Thái Âm hãm thôi)
- Âm Tang Hồng Nhẫn Kỵ Riêu, tân liên hàm tiếu, hạn phùng Xương Vũ dâm tứ xuân tình liên xuất phát. (Thái Âm có Hồng Loan, Kình Dương, Riêu Kỵ người đàn bà đẹp như đoá sen mới nở, nhưng hạn gặp Văn Xương, Văn Khúc tất sa ngã vì tình)
- Thanh kỳ Ngọc Thỏ tuy lạc hãm nhi bất bần(Mệnh có sao Thái Âm dù không đắc địa, không bao giờ túng quẫn)
- Âm Dương lạc hãm gia Hình Kỵ Phu Thê ly biệt(Cung phối Nhật hay Nguyệt hãm mà thêm Hình Kỵ vợ chồng không sống đời với nhau)
- Nguyệt phùng Đà Kị Hổ Tang, thân mẫu thần trái nan toàn thọ mệnh(Thái Âm gặp Đà La, Hóa Kị, Tang Hổ thì mẹ mất sớm)
- Thái Âm đồng Văn Khúc ư Thê cung thiềm cung triết quế(Thê cung có Thái Âm đứng cùng Văn Khúc như lên cung trăng bẻ cành quế, lấy vợ đẹp và giàu sang. Nếu là Phu cung thì không được như vậy, tuy vẫn gọi là tốt)
- Duyên lành phò mã ngôi caoThái Âm đắc địa đóng vào Thê cung
- Vợ giàu của cải vô ngầnThái Âm phùng Khúc Lộc Ấn Mã đồng
- Âm Dương Tuần Triệt tại tiềnMẹ cha định đã chơi tiên chưa nảo(Phải Âm Dương đắc địa mới kể)
- Âm Dương hội chiếu Mệnh QuanQuyền cao chức trọng mới đàng hanh thông.
- Nguyệt miếu vượng trùng phùng Xương KhúcViệt Khôi Hóa Quyền Lộc Đào HồngThiên Hỉ Tả Hữu song songGiàu sang hổ dễ ai hòng giám tranh
- Thái Âm lạc hãm phải loKỵ lâm thường thấy tay vò đăm chiêu
- Nguyệt gặp Long Trì ở cùngTuy xấu nhưng cũng được phần ấm thân
- Thiên Cơ với Nguyệt cùng ngồiỞ cung hãm địa ấy người dâm bôn(Cơ và Thái Âm ở Dần, đẹp nhưng lãng mạn)
Về hai sao Thái Dương và Thái Âm còn có một luận đoán đáng kể mà không thấy ở các sách Tử Vi chính thống như sau:
Nam mạng Thái Âm thủ mệnh trên cử chỉ thái độ hao hao như nữ tử, trái lại nữ mạng Thái Dương thủ thì tính quyết liệt, động tĩnh nhiều nét nam tử
Nam mạng Thái Dương thường xung động Thái Âm ở cung đối chiếu thường có khuynh hướng tà dâm, đổi lại nữ mạng Thái Âm thủ xung động Thái Dương thường là thủy tính dương hoa (lẳng.lãng mạn) nhiều ít cũng còn phải tùy thuộc cung Phúc Đức. Nam mạng Thái Âm thủ ưa thân cận với nữ phái, ngược lại nữ mạng Thái Dương thủ thích giao du với nam phái
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Mỹ Ngân (##)
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
| ► Đoán vận mệnh, tài lộc của bạn qua việc xem bói theo tử vi khoa học |
Mỗi người có một phong cách lái xe riêng và thông qua cách cầm vô lăng có thể biết bạn là người như thế nào.
Quy tắc bói bài:
1. Nhắm mắt, giữ trạng thái tĩnh trong 30 giây.
2. Tự hỏi thầm bản thân: “Tình yêu của mình có dễ lung lay?”.
3. Chọn một lá bài theo trực giác và xem đáp án.
Lựa chọn 1: The Fool
![]() |
Lựa chọn 2: The Emperor
![]() |
Lựa chọn 3: Two of Cups
![]() |
Xem kết quả:
Lựa chọn 1: The Fool – Như ngọn đèn trước gió
Chắc chắn mối quan hệ này không bền vững vì những sự cố lớn trong thời gian gần đây đã đẩy lên đỉnh điểm. Bạn và người ấy xung khắc chỉ vì những chuyện nhỏ nhặt, ví như chọn địa điểm đi ăn, đi chơi xa với ai đó… Tuy nhiên, vì ai cũng đặt nặng cái tôi cá nhân, nên khoảng cách ngày càng xa dần, dẫn đến rạn nứt.
Đã không ít lần tình yêu của hai bạn được đưa ra phán xét là sẽ đi đến hồi kết. Sau cùng cả hai vẫn quyết định duy trì mối quan hệ ở mức độ hời hợt và không thể khẳng định sẽ kéo dài bao lâu. Chỉ cần vài yếu tố tác động nhỏ, bạn và “gấu” sẵn sàng từ bỏ tình yêu. Điều cần làm là hãy xác định lại tình cảm của bạn một cách chín chắn.
Lựa chọn 2: The Emperor – Không gì có thể xoay chuyển
Bốc được lá bài này cho thấy bạn rất kỹ tính, kiên định và sống trọng tình cảm. Tất cả những yếu tố này hòa hợp giúp bạn tinh tường trong tình yêu, từ việc lựa chọn “gấu”, vun đắp cho mối quan hệ và xác định rõ ràng tương lai của hai người. Mặt khác, người ấy luôn thể hiện thái độ nghiêm túc, chín chắn và hết lòng với bạn. Bạn càng quý trọng mối tình của mình hơn.
Mặt khác, thời gian mới yêu, mối quan hệ của bạn được thử thách rất nhiều. Thậm chí, sóng giớ lớn ập đến nhưng hai bạn vẫn vượt qua nên tình yêu càng bền chặt. Theo từng ngày, sự quan tâm lẫn nhau như chất keo dính giúp tình không bị dao động trước bất kỳ khó khăn nào.
Lựa chọn 3: Two of Cups – Tình yêu hờ hững, nhưng khó rời
Khó định nghĩa mối quan hệ giữa hai bạn ở thời điểm hiện tại. Đó không hẳn là tình yêu sâu sắc, nhưng hơn tình bạn thân thiết. Nói cách khác, bạn và người ấy dễ xao động, tuy nhiên khó để dứt khoát hoàn toàn. Vậy nên bạn thường suy nghĩ khổ tâm về người ấy, thấy mình bị tổn thương và vẫn loay hoay tìm lối thoát.
Khi gần dứt khoát, quyết tâm chia tay, nửa kia lại muốn níu kéo. Người dễ mềm lòng như bạn không thể từ chối và sẽ quay đầu lại. Ngọn lửa ấy chẳng duy trì được lâu, nhanh chóng nguội lạnh và cả hai lại rơi vào trạng thái yêu hờ.
Theo quan niệm của một số người, màu sắc xe, biển số xe ảnh hưởng trực tiếp đến tiền tài, sức khỏe của chủ nhân. Dưới đây là cách để bạn chọn được màu xe, biển số xe hợp với mệnh và năm sinh của bạn.
Người mệnh Hỏa
Người mệnh Hỏa nên chọn xe màu xanh lá cây. Có thể chọn xe màu da cam, đỏ, hồng cùng mệnh. Nếu bạn cảm thấy một chiếc xe màu xanh lá cây đôi khi quá nổi bật và không phù hơp, hãy chọn các màu như nâu, vàng đậm, trắng, bạc, vàng sáng. Cần tránh xe màu xanh nước biển, đen.
Người mệnh hỏa sinh các năm: 1934, 1935, 1948, 1949, 1956, 1957, 1964, 1965, 1978, 1979, 1986, 1987, 1994, 1995.
(Giáp Tuất 1934 & Ất Hợi 1935, Mậu Tý 1948 & Kỷ Sửu 1949, Bính Thân 1956 & Đinh Dậu 1957, Giáp Thìn 1964 & Ất Tỵ 1965, Mậu Ngọ 1978 & Kỷ Mùi 1979, Bính Dần 1986 & Đinh Mão 1987)

Người mệnh Thổ
Người mệnh Thổ nên chọn xe màu đỏ, da cam, hồng. Có thể chọn màu nâu, vàng đậm, vàng nhạt, bạc, trắng. Nên tránh màu xanh lá cây và nhớ đừng lạm dụng màu xanh da trời, đen.
Người mệnh thổ sinh các năm 1938, 1939, 1946, 1947, 1960, 1961, 1968, 1969, 1976, 1977, 1990, 1991, 1998, 1999.
(Mậu Dần 1938 & Kỷ Mão 1939, Bính Tuất 1946 & Đinh Hợi 1947, Canh Tý 1960 & Tân Sửu 1961, Mậu Thân 1968 & Kỷ Dậu 1969, Bính Thìn 1976 & Đinh Tỵ 1977, Canh Ngọ 1990 & Tân Mùi 1991.)

Người mệnh Kim
Người mệnh Kim nên chọn xe màu nâu, vàng đậm. Bạn cũng có thể mua xe màu trắng, vàng nhạt, xanh nước biển. Cần cân nhắc khi mua xe màu xanh lá cây và thận trọng với màu đỏ, da cam, hồng.
Người mệnh Kim sinh các năm 1932, 1933, 1940, 1941, 1954, 1955, 1962, 1963, 1970, 1971, 1984, 1985, 1992, 1993, 2000, 2001.
(Nhâm Thân 1932 & Quý Dậu 1933, Canh Thìn 1940 & Tân Tỵ 1941, Giáp Ngọ 1954 & Ất Mùi 1955, Nhâm Dần 1962 & Quý Mão 1963, Canh Tuất 1970 & Tân Hợi 1971, Giáp Tý 1984 & Ất Sửu 1985)

Người mệnh Thủy
Người mệnh Thủy nên chọn xe màu trắng, vàng nhạt. Có thể sử dụng màu cùng mệnh như xanh nước biển, đen hay màu xanh lá cây. Bạn cần tránh những màu như nâu, vàng sẫm. Màu đỏ, da cam là màu khắc xuất cũng nên thận trọng khi lựa chọn.
Người mệnh Thủy sinh các năm 1936, 1937, 1944, 1945, 1952, 1953, 1966, 1967, 1974, 1975, 1982, 1983, 1996, 1997.
(Bính Tý 1936 & Đinh Sửu 1937, Giáp Thân 1944 & Ất Dậu 1945, Nhâm Thìn 1952 & Quý Tỵ 1953, Bính Ngọ 1966 & Đinh Mùi 1967, Giáp Dần 1974 & Ất Mão 1975, Nhâm Tuất 1982 & Quý Hợi 1983.)

Người mệnh mộc
Người mệnh Mộc nên sử dụng xe có màu xanh nước biển, đen, tím. Có thể sử dụng màu xanh lá cây, nâu, đỏ, hồng, da cam và cần tránh các màu kim như bạc, trắng, vàng ánh kim.
Người mệnh Mộc sinh các năm 1942, 1943, 1950, 1951, 1958, 1959, 1972, 1973, 1980, 1981, 1988, 1989, 2002, 2003.
(Nhâm Ngọ 1942 & Quý Mùi 1943, Canh Dần 1950 & Tân Mão 1951, Mậu Tuất 1958 & Kỷ Hợi 1959, Nhâm Tý 1972 & Quý Sửu 1973, Canh Thân 1980 & Tân Dậu 1981, Mậu Thìn 1988 & Kỷ Tỵ 1989.)
Nhìn chung, nên rất trận trọng khi sử dụng các màu tương khắc với mệnh của bạn để có thể an tâm khi sử dụng xe. Dù sao, quan trọng hơn vẫn là việc tập trung khi lái xe, không sử dụng rượu bia và lái xe đúng luật, còn nếu không thì dù có sử dụng xe có màu phù hợp đến mấy bạn cũng phải nhận những hậu quả đáng tiếc.

| ► Xem phong thủy sim để biết số điện thoại của bạn mang lại may mắn hay vận hạn |
![]() |
![]() |
1. Nốt ruồi nằm trên đỉnh đầu
Từ trong bụng mẹ, bạn đã mang vận mệnh may mắn khiến nhiều người phải ao ước. Nếu gặp khó khăn, sẽ có quý nhân giúp đỡ bạn. Cuộc sống của bạn không cần phải lo “thiếu ăn thiếu mặc”, trong khi người ta phải phấn đấu nhiều năm, còn bạn ngay từ khi sinh ra đã có cuộc sống tốt hơn người khác.
2. Nốt ruồi nằm trong lông mày
Nó đại diện cho vận mệnh của bạn gặp nhiều phú quý, con trai dễ nắm quyền lực trong tay, con gái sẽ đem lại may mắn cho chồng con.
3. Nốt ruồi trên trán
Đây là nốt ruồi phú quý, có nhà có xe, tài vận tốt.

4. Nốt ruồi ở huyệt thái dương
Ra đường gặp quý nhân hoặc có nguồn lợi phát triển từ bên ngoài, bạn thích hợp xuất ngoại hay di cư đến nơi khác.
5. Nốt ruồi ở dái tai
Có phúc khí, số mệnh trường thọ và tài vận may mắn, vành tai có nốt ruồi biểu thị bạn rất thông minh và lễ phép, sau tai có nốt ruồi nói lên sự giàu có tiềm ẩn.

6. Nốt ruồi ở gò má
Tử vi học cho rằng, những người có nốt ruồi ở gò má trong công việc có quyền lực và địa vị, dễ trở thành một nhà quản lý thành công.
7. Nốt ruồi ở môi trên
Bạn sẽ không lo “thiếu ăn thiếu mặc”, thường được nếm đồ ăn ngon, thường xuyên nhận được lời mời ăn uống.

8. Nốt ruồi ở môi dưới
Bạn làm việc cẩn thận, dễ nhận được sự tin tưởng từ mọi người
9. Dưới cằm có nốt ruồi
Có nhà cửa hoặc bất động sản, thường nhận được sự giúp đỡ từ mọi người.
10. Trên ngực có nốt ruồi
Vận đào hoa cao, tình cảm phong phú.
11. Dưới ngực có nốt ruồi
Nốt ruồi bên dưới ngực trái là có tiền tài, nốt ruồi bên dưới ngực phải là có nhà cửa.
12. Cánh tay có nốt ruồi
Có khả năng kiếm tiền và năng lực quản lý tài chính vững mạnh.

13. Lòng bàn tay có nốt ruồi
Phú quý, có năng lực quản lý.
14. Nách có nốt ruồi
Xem tướng học cho rằng, ở vị trí này tài vận tốt, vận đào hoa cao.
15. Mông có nốt ruồi
Bạn dễ nắm quyền lực, có thể tự lập, có phúc khí.
16. Dưới bàn chân có nốt ruồi
Được xem là nốt ruồi đại cát, sự nghiệp vững mạnh.
