Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,...   Click to listen highlighted text! Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,... Powered By DVMS co.,ltd
Kính mời quý khách like fanpage ủng hộ Vạn Sự !

Vạn Sự

Phong thủy văn phòng –

Phong thủy đối với người Á Đông luôn hữu ích với mọi không gian sinh hoạt và làm việc. 20 nguyên tắc phong thủy văn phòng sau sẽ giúp bạn tạo một cơ sở tốt nhất cho sự phát triển của mình cũng như công ty. 1. Nên dựa vào người có quyền hành cao nhất

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Phong thủy đối với người Á Đông luôn hữu ích với mọi không gian sinh hoạt và làm việc. 20 nguyên tắc phong thủy văn phòng sau sẽ giúp bạn tạo một cơ sở tốt nhất cho sự phát triển của mình cũng như công ty.

409-real120

1. Nên dựa vào người có quyền hành cao nhất để tính toán phong thuỷ cho văn phòng.

2. Cổng văn phòng nên to hơn bất kỳ chiếc cổng đối diện nào.

3. Nền nhà hay tường trong công sở bị thấm nước, dột, rạn nứt là tượng trưng cho sự “rơi lọt tiền tài” bởi vậy cần sửa chữa ngay nếu có những hiện tượng trên.

4. Nền nhà văn phòng nên cao, tránh trường hợp nền quá thấp sẽ không đem lại may mắn trong làm ăn, đồng thời ảnh hưởng đến việc thông gió cho văn phòng.

5. Cổng văn phòng tối kị đối diện cột điện, ống khói hoặc gốc cây to.

6. Bên cạnh phòng của sếp không nên có vòi nước nhằm tránh “dột tiền tài”, nên tựa vào “núi” (tường) nhằm tạo sự vững chắc, có lợi cho công việc phát triển.

7. Cầu thang trong văn phòng cũng nên tránh đối diện cổng bởi như vậy luồng khí đến và đi sẽ xung đột, không tốt cho vận may và sức khỏe.

8. Vị trí tài lộc chính là góc chéo đối diện ngay cửa đi vào trong phòng. Vị trí này cần ánh sáng và sạch sẽ, kiêng đặt hoa và cây cảnh giả.

9. Cổng văn phòng tối kị có nhà vệ sinh ngay bên cạnh. Do nhà vệ sinh sẽ chặn luồng không khí mới vào văn phòng, ảnh hưởng vận may và sự nghiệp.

10. Văn phòng không có cửa sổ đặc biệt tối kị vì không khí không thể lưu thông, “khí chết” nặng nề.

11. Bàn làm việc trong văn phòng đối diện nhà vệ sinh sẽ bị ảnh hưởng không khí xú uế, công việc sớm muộn cũng thất bại.

12. Bàn làm việc trong văn phòng không nên nứt vỡ, tổn hại đường công danh.

13. Bàn làm việc tốt nhất nên làm bằng gỗ, tránh bằng kim loại.

14. Phía trên bàn làm việc không được có xà ngang hay đèn treo, nếu không sẽ ảnh hưởng đến việc thăng quan tiến chức.

15. Phía sau bàn làm việc tối kị cửa thông cửa (cả cửa ra vào lẫn cửa sổ), như vậy vừa không an toàn vừa dễ mất tập trung khi làm việc.

16. Nhà vệ sinh nếu đối diện với bàn làm việc của sếp có thể ảnh hưởng tới sự phát triển của cả công ty.

17. Bàn làm việc tốt nhất nên có 1 góc dựa vào tường, tối kị đặt chéo.

18. Phía sau văn phòng nên là không gian tĩnh, tối kị là hành lang và nhiều người đi lại ồn ào.

19. Phía sau văn phòng nên tựa vào “núi”, nghĩa là tường vững chắc.

20. Ánh sáng trong văn phòng phải chan hòa, tốt nhất là lấy ánh sáng tự nhiên hơn là ánh sáng của đèn điện.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Phong thủy văn phòng –

Sao Vũ Khúc trong tử vi - Chu Vũ Vương Cơ Phát

Chu Vũ Vương Cơ Phát lật đổ Trụ Vương nhà Thương, sáng lập nên nhà Tây Chu tồn tại hơn 800 năm được phong là sao Vũ Khủ chủ về tiền tài, giàu có, giỏi quản lý tiền

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Sao Vũ Khúc trong tử vi lấy hình tượng từ Chu Vũ Vương Cơ Phát (hay Tây Bá Phát) - người lật đổ vua Trụ tàn bạo của nhà Thương, sáng lập nên nhà Tây Chu.

Tây Bá hầu Cơ Xương bị Trụ Vương giam lỏng tại Dữu Lý suốt bảỵ năm trời. Con trai trưởng của ông là Bá Ấp Khảo quá lo lắng cho cha, nên đã giao lại việc triều chính cho em trai là Cơ Phát, lên đường đến Triều Ca và không còn trở về. Sau khi kiếp nạn bảy năm của Cơ Xương đã chấm dứt, ông trở về dốc sức chấn chỉnh Tây Kỳ, khiến cho việc cai trị càng thêm hoàn chỉnh. 

sao vũ khúc trong tử vi chu vũ vương cơ phát

Ông còn chú ý trọng dụng người tài, cuối đời gặp được Khương Tử Nha, tôn làm thừa tướng, khiến Khương Tử Nha có thể phát huy trọn vẹn tài năng, đưa đất nước phát triển đến mức thịnh trị. Khi còn sống, Cơ Xương theo tham mưu của Khương Tử Nha dẫn quân vượt sông Hoàng Hà đi về phía đông, diệt các chư hầu thân Trụ Vương, chiếm cứ phần lớn vùng đất phía nam của sông Vị. Nhờ đó hình thành cục diện "ba phần thiên hạ có hai". Nhưng vẫn xưng thần với Trụ Vương, chờ đợi thời cơ chính muồi. Lúc lâm chung, Cơ Xương căn dặn con trai là Cơ Phát phải tôn Khương Tử Nha làm Tướng phụ. Trong thời kỳ Vũ Vương phạt Trụ, Khương Tử Nha chính là người trù tính mưu lược, trợ giúp đắc lực cho sự nghiệp diệt Trụ của Vũ Vương.

Vũ Vương Cơ Phát bản tính nhân từ, yêu dân như con. Trong giai đoạn trù bị cho sự nghiệp diệt Trụ, ông dốc lòng chăm lo kiến thiết Tây Kỳ, khiến cho trăm họ ấm no, dân giàu nước mạnh. Ông đặc biệt chú trọng phát triển kinh tế, đưa ra nhiều công trình kiến thiết thu hút nhân dân tham gia, và trả thù lao xứng đáng cho họ. Trị an được đảm bảo, của rơi ngoài đường không ai nhặt. Pháp luật nghiêm minh, nhân dân phạm pháp chỉ cần vạch đất làm nhà tù, người dân ai ai cũng tuân thủ. Dưới sự cai trị của Cơ Phát, Tây Kỳ ngày càng trở nên cường thịnh.

Đến một ngày, trước đông đủ bá quan văn võ, Cơ Phát trao quyền cho Tướng phụ Khương Tử Nha chức Thống lĩnh Đại nguyên soái, Binh mã Nguyên soái Hoàng Phi Hổ (sao Thất Sát), Lý Tịnh (sao Thiên Lương), Na Tra (sao Hoả), Dương Tiễn (sao Kình Dương), Hoàng Thiên Hoá (sao Đà La) làm tướng tiên phong, chọn ngày lành xuất quân tiến thẳng về Triều Ca.

 Từ lúc vượt ải chém tướng, phá trận hạ thành, cho đến khi tiến sát chân thành Triều Ca, Cơ Xương luôn nghĩ đến sự an nguy của nhân dân, không nỡ tổn thương đến dân chúng trong thành Triều Ca. Trụ Vương tự thiêu chết trên lầu Trích Tinh, trọng trách thảo phạt Trụ Vương đã hoàn thành tốt đẹp, mở đầu cho cơ nghiệp của vương triều Chu, một vương triều với thời gian trị vì lâu dài nhất trong lịch sử Trung Quốc, kéo dài suốt hơn tám trăm năm.

Chu Vũ Vương tại vị 19 năm, một đời cần cù việc chính, yêu thương nhân dân, hết lòng vì quốc thái dân an, xây dựng nền kinh tế. Khi sống hết tuổi đời, linh hồn ông bay về đài Phong Thần, được phong làm chủ nhân sao Vũ Khúc, chủ về vũ dũng và giàu có, trở thành nhân vật tượng trưng cho tài phú trong Tử Vi Đẩu số.

Vũ Khúc là sao thứ 6 trong chòm sao Bắc Đẩu, ngũ hành Âm Kim, hóa khí là tài, chủ cung Tài bạch. Sao chính tài Vũ Khúc nếu nhập cung Tài bạch thì chủ về vượng tiền tài, giỏi quản lý tiền bạc.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Sao Vũ Khúc trong tử vi - Chu Vũ Vương Cơ Phát

Giải mã giấc mơ lời chào tạm biệt –

Lời chào tạm biệt trong giấc mơ là điềm báo có sự thay đổi cực lớn trong cuộc đời của bạn. Ngoài ý nghĩa về sự thay đổi, lời chào tạm hay sự biệt ly còn ám chỉ bạn sẽ mất đi sự ủng hộ của bạn bè hoặc phải xa người thân của mình trong nỗi luyến tiếc v

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Lời chào tạm biệt trong giấc mơ là điềm báo có sự thay đổi cực lớn trong cuộc đời của bạn.

Ngoài ý nghĩa về sự thay đổi, lời chào tạm hay sự biệt ly còn ám chỉ bạn sẽ mất đi sự ủng hộ của bạn bè hoặc phải xa người thân của mình trong nỗi luyến tiếc và nhớ nhung da diết. Có lúc giấc mơ này lại báo hiệu về sự điều chuyển công tác của bạn, rất có thể bạn sẽ phải đi học hoặc làm việc ở một nơi rất xa như nước ngoài chẳng hạn.

Mơ thấy mình nói lời từ biệt với bạn bè có ý nghĩa bạn đang vô cùng hoài niệm về những ngày tháng vui vẻ đã qua và mong muốn có cơ hội được gặp gỡ họ thêm một lần nữa trong cuộc đời.

Nếu trong giấc mơ thấy bạn thân của mình đang vẫy tay từ biệt, bạn cần chuẩn bị tâm lý sẵn sàng để đón nhận sự ra đi của ai đó nhé.

Con trai mơ thấy lời từ biệt của bạn gái mình nên thận trọng về vấn đề sức khỏe, có thể mắc bệnh nào đó khiến tinh thần của bạn trong trạng thái hoang mang, kiệt sức.

images813452-tambiet-5009-1397056839

Con gái mơ thấy mình và người yêu nói lời biệt ly, là dấu hiệu cho thấy bạn đang lo lắng về vấn đề tình cảm. Cần phải sáng suốt đưa ra lựa chọn đúng đắn để không làm tổn thương cả hai.

Mơ thấy bản thân chào tạm biệt bạn học của mình, biểu thị bạn đang nhớ nhung về thời còn cắp sách tới trường. Hoặc có thể do hai bạn đang bất đồng quan điểm, có mâu thuẫn nào đó chưa được giải quyết.

Nếu trong mơ thấy mình chào tạm biệt một nhóm người nào đó ám chỉ có kẻ xấu đang âm mưu hại bạn. Người này đang tìm mọi cơ hội để có thể gây rắc rối cho bạn. Bạn cần hết sức cẩn trọng nhé.

Mơ thấy mình tuyên bố lời từ biệt trước một đám đông, là điềm báo tốt lành về địa vị của bạn. Rất có khả năng bạn sẽ được thăng chức hoặc địa vị được củng cố và nâng cao hơn nữa.

Nếu mơ thấy bản thân rời khỏi đất nước đang sinh sống, báo hiệu tài sản sẽ bị tiêu hao, công việc kinh doanh gặp trở ngại lớn, có thể dẫn đến phá sản.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Giải mã giấc mơ lời chào tạm biệt –

Nối ruồi ở đầu gối mang ý nghĩa gì?

Bạn có nốt ruồi ở đầu gối? Bạn muốn biết nốt ruồi ở đầu gối thì có ý nghĩa gì? Nếu bạn đang sở hữu một nốt ruồi như vậy, chắc chắn bạn thuộc nhóm những người có nốt ruồi ở vị trí hiếm gặp nhất hành tinh này rồi.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Bạn có nốt ruồi ở đầu gối? Bạn muốn biết nốt ruồi ở đầu gối thì có ý nghĩa gì? Nếu bạn đang sở hữu một nốt ruồi như vậy, chắc chắn bạn thuộc nhóm những người có nốt ruồi ở vị trí hiếm gặp nhất hành tinh này rồi. Cùng Thư viên Xem bói tìm hiểu về ý nghĩa của nốt ruồi ở đầu gối tại bài viết dưới đây:

Nối ruồi ở đầu gối mang ý nghĩa gì?

Nốt ruồi là gì?

Nốt ruồi là một lạo sản sắc tố da khu trí, mang tính chất bẩm sinh. Y học xếp nốt ruồi vào các nhóm sắc tốt naevi  mà dân gian gọi là bớt. Nốt ruồi biểu hiện trên da bằng những sắc thái khác nhau như sần lên, nổi cục nhỏ, có gờ cao màu nâu sẫm, đen hoặc đỏ.

Mỗi nốt ruồi trên cơ thể xuất hiện đều thể hiện tính cách, nhân duyên của bạn trong tương lai. Nếu bạn có nốt ruồi trên đầu gối thì thật may mắn vở ít ai có thể sở hữu nốt ruồi ở vị trí này.

Nốt ruồi nổi ở đầu gối

Những người có nốt ruồi trên đầu gối thường nhận được nhiều may mắn hơn người khác. Bên cạnh đó, những người có sở hữu nốt ruồi mọc ở vị trí chính giữa đầu gối còn là người có lòng nhân từ, bác ai, thường hay giúp đỡ người có hoàn cảnh khó khăn, là các nhà hảo tâm. Cúng chính vì lòng từ bi bác ai của họ mà hay được người khác đền ơn, giúp đỡ.

Với những người có nốt ruồi nổi mọc ở đầu gối trái hay phải thì đây là tướng tốt, luôn thể hiện tình cảm với người thân và coi trọng tình cảm gia đình.

Nốt ruồi chìm ở đầu gối trái hoặc phải:

Đối với những người có nốt ruồi chìm mọc ở đầu gối thường là những người thô tục, tàn bạo, cũng là người ưa sự chú ý nên rất tự ái và cố chấp.

Trên đây là những ý nghĩa về vị trí nốt ruồi ở trên đầu gối trái và đầu gối phải. Để tham khảo thêm những bài viết hữu ích khác, bạn có thêm xem thêm dưới đây:

+ Nốt ruồi giàu sang trên cơ thể phụ nữ

+ Nốt ruồi ở chân có ý nghĩa gì?

+ Nốt ruồi ở lòng bàn chân nói lên điều gì?

+ Nốt ruồi ở ngón chân mang ý nghĩa gì?


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Nối ruồi ở đầu gối mang ý nghĩa gì?

Mơ thấy chào hỏi người khác: Sẽ thăng quan tiến chức –

Một quân nhân đã xuất ngũ kể lại giấc mơ của mình: Trong mơ, tôi tìm về quân đội xưa, trở lại doanh trại với màu xanh quen thuộc, lòng tôi dâng tràn cảm xúc! Vài người lính nhiệt tình dẫn tôi đi thăm vị thủ trưởng già năm xưa. Vừa trông thấy ông, tô
Mơ thấy chào hỏi người khác: Sẽ thăng quan tiến chức –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Mơ thấy chào hỏi người khác: Sẽ thăng quan tiến chức –

Tình yêu của người tuổi Tuất nhóm máu A

Người tuổi Tuất thuộc nhóm máu A thường thẳng thắn, bộc trực trong tình yêu. Họ không có tài ăn nói mà thường thể hiện bằng hành động, điều này dành được nhiều
Tình yêu của người tuổi Tuất nhóm máu A

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Người tuổi Tuất thuộc nhóm máu A thường thẳng thắn, bộc trực trong tình yêu. Họ không có tài ăn nói mà thường thể hiện bằng hành động, điều này dành được nhiều thiện cảm từ đối phương.

(Ảnh chỉ mang tính minh họa)

Họ biết cách gần gũi, quan tâm và chăm sóc cho nửa kia của mình. Vì người yêu, họ sẵn sàng hy sinh tất cả những sở thích của bản thân. Tuy nhiên,  đôi khi họ cũng cảm thấy mệt mỏi thậm chí muốn đi tìm tình yêu mới. Chính vì vậy mà những ai muốn gắn bó cả cuộc đời với người này cần điều chỉnh bản thân để có cuộc hôn nhân hạnh phúc, viên mãn.

Việc kết hôn của người tuổi Tuất thuộc nhóm máu A cũng diễn ra nhanh chóng. Để được cuộc sống hạnh phúc như mong muốn, nam giới tuổi tuổi Tuất thuộc nhóm máu này nên chọn bạn đời là những người phụ nữ hiền thục, dịu dàng và có sức lôi cuốn hấp dẫn. Chính yếu tố hấp dẫn của người vợ sẽ có thể kéo người chồng ở bên gia đình và duy trì hạnh phúc lâu dài. Với nữ giới, họ nên "chấm" những người đàn ông lạc quan, hài hước. Sự kết hợp này chắc chắn sẽ mang lại cuộc sống gia đình hạnh phúc.

(Theo 12 con giáp về tình yêu hôn nhân)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tình yêu của người tuổi Tuất nhóm máu A

xem bói tử vi tuổi Dậu

Xem bói tử vi tuổi Dậu qua tính cách, tình yêu theo nhóm máu, các cột mốc sự nghiệp của tuổi Dậu, bói tử vi theo tháng sinh & giờ sinh, hợp khắc 12 con giáp

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Chuyên đề tử vi 12 con giáp tuần này bàn về xem bói tử vi tuổi Dậu qua tính cách, tình yêu theo nhóm máu, các cột mốc sự nghiệp của tuổi Dậu, sự xung khắc của tuổi Dậu với các con giáp còn lại. Chi tiết vận mệnh của Quý Dậu, Tân Dậu, Kỷ Dậu, Đinh Dậu, Ất Dậu theo tháng sinh và giờ sinh.

Con gà tượng trưng cho sự tự tin, kiêu ngạo và tích cực. Những người tuổi Dậu là người sôi nổi và có vẻ bề ngoài lòe loẹt. Tuy nhiên, họ cũng là người trung thành, đáng tin cậy với tính cách trung thực và thẳng thắn.

xem bói tử vi tuổi Dậu
1. Tính cách người tuổi Dậu

Những người tuổi Dậu thường là những người cứng rắn, kiên cường, ý chí mạnh mẽ, họ cũng là những người khá nóng nảy và không đủ kiên trì với những ai không theo kịp nhip độ của họ. Do họ quá thật thà thẳng thắn, đôi khi họ không để ý đến cảm giác của người khác, dễ làm tổn thương người khác. Thực tế, những người tuổi Dậu lại là những người rất phức tạp và có đôi chút phù phiếm. Đặc biệt, họ là những người dí dỏm tràn trề sức sống.

Những người tuổi Dậu thường có xu hướng tỉ mỉ, chi tiết, và cầu toàn. Họ cũng có thể là những nhà quản lý giỏi. Đối với những người cầm tinh con gà, vị trí của họ trong cộng đồng là hết sức quan trọng, vì thế họ sẵn sàng bỏ thời gian và công sức để tiến thân theo cách của mình, chậm rãi mà có phương pháp.

Họ thích sự phô trương, thích những nơi sang trọng lộng lẫy, và những dịp lớn khi họ có thể mặc những bộ cánh sang trọng và thời thượng nhất của mình. Nhưng sự đam mê thật sự của họ là hòa mình với thiên nhiên.

Những người tuổi Dậu thường rất hãnh diện về gia đình của mình và họ là những người quản lý gia đình rất hiệu quả. Họ thích sự ngăn nắp gọn gàng, nhà cửa lúc nào cũng phải tươm tất. Đối với họ, sự sạch sẽ vệ sinh luôn được đặt ở vị trí hàng đầu. Họ thuộc tuýp người ưa chuộng truyền thống, những người này thường thích trang trí đồ gỗ nội thất trong nhà.

Trong số những người cầm tinh con gà, có nhân vật là đại biểu với tính cách “giàu ảo tưởng, hành động vì trượng nghĩa”. Ông ta tự cho mình là “anh hùng không hề biết sợ”, sẽ làm thay đổi thế giới. Thật ra, đặc trưng của người tuổi Dậu có bề ngoài là người cấp tiến, tự cho mình là tài giỏi nhưng trong lòng lại rất bảo thủ, cố chấp.

Họ là người ưa tranh luận mà bất chấp người khác có cảm giác thế nào. Họ luôn cho rằng mình đúng và không thừa nhận bất kì một khuyết điểm nào. Người tuổi Dậu thích được người ta khen ngợi, khoa trương. Khi bị một ai đó phê bình, họ sẽ dùng đủ mọi cách phản bác, không thừa nhận sai lầm của mình. Song dù như thế nào thì mọi người vẫn yêu mến họ bởi tính cần cù, chịu khó. Trong lĩnh vực kinh tế họ là nhà quản lý có tài, họ biết làm sao để cân đối các khoản thu chi một cách đúng đắn nhất.

Tính cách của người tuổi Dậu cơ bản được phân thành hai loại: một loại thích nói chuyện phiếm, hay nói lung tung, tính cách sôi nổi; còn loại kia là những người giỏi quan sát, biết đoán ý người khác qua lời nói, sắc mặt. Hai nhóm người này rất khó sống với nhau. Người tuổi Dậu có không ít những phẩm chất tốt để bù đắp những khiếm khuyết của bản thân. Họ rất tinh nhanh, năng nổ, khả năng tổ chức cao, nghiêm túc, chăm chỉ, thẳng thắn, biết cách giải quyết khó khăn.

Họ dám đứng ra vạch trần những hành vi xấu xa, nghiêm khắc phê bình người khác. Cùng đi với những ưu điểm này là khuyết điểm thích tranh cãi, luôn muốn khoe khoang những kiến thức uyên bác của mình, không hề quan tâm đến cảm giác của người khác. Nhưng một khi gặp thất bại, họ cũng không sa sút tinh thần, phương pháp của họ là nói quan điểm của mình cho từng người một để mọi người tin họ, đứng về phía họ.

Người tuổi Dậu cầu toàn, luôn mưu cầu sự tận thiện tận mỹ. Họ khá nhạy cảm với những vấn đề có tính lý luận, khi xử lý, giải quyết một vấn đề họ luôn hành động theo một khuôn khổ định sẵn. Cũng chính vì thế mà khi gặp bất kì một điều gì ngoài dự tính họ đều lúng túng, thậm chí không thể xử lý được. Tuy nhiên, họ là người tài giỏi, chịu khó, có năng lực tổ chức cao, thẳng thắn, trung thực, làm việc dứt khoát quyết đoán.

Người sinh năm Dậu có tướng mạo thu hút người khác, đặc biệt là nam giới khôi ngô tuấn tú, mạnh mẽ kiên cường. Họ cũng rất tự hào về tướng mạo của bản thân, muốn thể hiện mình. Mọi người không thể thấy được sự lười biếng của họ vì họ thường có vẻ ngoài được tôn kính, đoan trang, đàng hoàng. Cho dù trong số họ có ai là người thẹn thùng nhất thì trước mặt mọi người, người đó vẫn tỏ ra là tháo vát, nhanh nhẹn, thể hiện hết khí chất tính cách của mình.

Người sinh năm Dậu là những diễn viên tuyệt vời, họ thường là nhân vật trung tâm trong mọi hoạt động, thường là vẻ đẹp lấp lánh thu hút mọi người. Tính cách của họ sẽ để lại ấn tượng sâu sắc cho người khác, mỗi một cử chỉ, hành động đều được mọi người chú ý. Họ mang tâm tư vui vẻ, cử chỉ tính cách nhạy bén, thường không bỏ bất cứ một cơ hội nào để đưa bản thân vượt qua nguy hiểm và đạt thành công. Họ có tài năng diễn xuất và khả năng viết lách. Họ có thể tranh luận bất cứ vấn đề nào và bất cứ lúc nào. Nếu bạn muốn tranh luận với họ về một vấn đề nào đó thì bạn rất dễ gặp thất bại.

Nếu bạn muốn hiểu rõ hơn người tuổi Dậu, bạn nhất định phải chịu đựng tính ưa thích tranh luận của họ, tranh luận với người khác là thiên tính, không thể lay chuyển được họ. Vì vậy, về điểm này có làm bạn khó tiếp nhận đến đâu thì bạn vẫn phải khống chế bản thân, không được nổi cáu. Nếu không, chẳng may bạn chạm phải “ngòi nổ” lúc nào cũng sẵn sàng của họ thì nhất định sẽ xảy ra một “trận chiến”.

Khi người tuổi Dậu rơi vào trạng thái tiêu cực, họ sẽ nghĩ ra mọi cách để giữ nguyên ý mình vì họ tin mình là đúng, chỉ công nhận ưu điểm của bản thân. Thế nhưng nếu chúng ta phân tích kỹ một chút nội tâm của họ thì sẽ phát hiện ra mục đích mà họ làm như vậy chỉ là muốn xác định giá trị của họ, cho nên họ không muốn nhận thức chân thật về bản thân; cũng không nên khoe khoang, khoa trương với họ mà gặp bất lợi.

Nếu người tuổi Dậu sinh đúng vào lúc tảng sáng hay hoàng hôn thì họ sẽ có đặc điểm nói dai. Càng không may là những người này thường thổi phồng, khuếch trương lời nói của họ, không hề nhận ra sai lầm, không có một đề tài nào mà họ đưa ra mang ý nghĩa đứng đắn. Người tuổi Dậu sinh vào ban đêm thì hoàn toàn ngược lại, họ cực kỳ nghiêm túc, không giỏi giao tiếp, lãnh đạm với mọi người giống như một con mọt sách, thậm chí tính tình hơi lập dị, khó đoán trước.

Hầu hết người tuổi Dậu đều quản lý tài chính trong gia đình, họ tính toán tỉ mỉ, biết cân bằng thu chi. Họ rất coi trọng tay hòm chìa khóa, tính toán rất cẩn thận mỗi việc phải làm và cũng rất quí trọng thời gian của mình. Con cái của người tuổi Dậu cũng có thể nhận chức vụ “nhân viên bảo quản tài sản” để bố mẹ gửi cho chúng từng đồng tiền nhỏ với mục đích để bọn trẻ tăng thêm vốn cho “ngân hàng nhỏ”. Nếu như bạn có tật tiêu vung tay quá trán thì hãy gửi tiền cho những người tuổi Dậu, họ sẽ giúp bạn lên kế hoạch chi tiêu chính xác, nghiêm túc, và tật xấu của bạn sẽ dần mất đi. Dưới sự quản lý của các chuyên gia kinh tế tinh nhanh là họ, tiền của bạn xuất ra sẽ được dùng ở những chỗ hợp lý, thu nhập của bạn cũng được tích góp lại, giúp bạn có tiền đồ trong cuộc sống. Có được người quản lý tài chính tuổi Dậu bảo hộ cho bạn thì những chủ nợ sẽ không ngày đêm đến làm phiền bạn nữa. Bạn cần biết rằng nếu không có họ - vị cứu tinh về tài chính của bạn, bạn sẽ rơi vào cảnh tồi tệ.

Chúng ta hãy suy nghĩ rộng hơn về vấn đề này, mỗi khi bạn được họ cứu ra khỏi hoàn cảnh khó khăn, lời trách móc của họ đối với bạn sẽ là: “Muốn làm người tốt hay tình nguyện trở thành con người sa đọa đây?” Câu nói này có thể giúp bạn tự kiểm điểm mình. Dưới sự giúp đỡ của họ, tình hình của bạn sẽ tốt dần lên, nhưng cuộc sống của bạn sẽ không tách rời họ, có họ ở bên cạnh, không bao giờ bạn phải thất vọng.

Người tuổi Dậu là người giỏi giữ mình và thích giải quyết, xử lý các vấn đề hay công việc, nhưng đừng hi vọng họ làm những việc mang tính cải cách, họ có thể sắp xếp mọi việc để làm tốt hơn nhưng lại thiếu tính sáng tạo. Họ rất khó nhận nhân vật mang tính cải cách. Nếu như người tuổi Dậu biết những kiến nghị mà họ đề xuất được ủng hộ thì họ sẽ đưa ra những suy nghĩ mới, sáng tạo trong công việc và sẽ đạt được thành tích.

Tuy những người tuổi Dậu đôi lúc cũng tiêu tiền vung tay quá trán nhưng số tiền này chỉ tiêu cho bản thân họ. Họ rất nghiêm khắc trong việc chọn lựa ăn mặc và rất thích thu hút sự chú ý của mọi người, có lúc họ còn trang trí nhà và phòng làm việc của họ rất đẹp. Bản thân họ cũng thích trang điểm. Người tuổi Dậu còn đặc biệt xem trọng chức tước và bằng khen, họ bao giờ cũng cố gắng để có được ít nhất một cơ hội đoạt huy chương hoặc chức vị trong công việc. Tiền của họ ngoài việc tiêu cho gia đình nhỏ, còn dùng để theo đuổi tình yêu hoặc giành được tình cảm tốt của đồng nghiệp, chỉ có một thứ mà bạn có thể nhận được từ họ miễn phí, đó chính là: kiến nghị.

Tất cả những người tuổi Dậu đều rất cẩn thận trong mọi việc, là người cầu toàn, họ rất nhạy cảm với những vấn đề có tính lý luận mạnh mẽ. Khi xử lý bất kỳ vấn đề gì đều thực hiện sau khi đã phân định rõ ràng kế hoạch, đối với những người làm việc không theo qui tắc, họ sẽ cảm thấy khó hiểu.

Phụ nữ tuổi Dậu luôn là người thực tế, cần cù chăm chỉ, chịu khó và hay giúp đỡ mọi người, họ là người vợ đảm đang, người mẹ dịu hiền.

Người tuổi Dậu là những kẻ năng động, vì thế họ có sức khỏe tốt. Nếu bị bệnh thì họ cũng có khả năng hồi phục nhanh chóng. Đôi khi, họ đảm nhận quá nhiều việc khiến họ bị stress và trái tính trái nết.

2. Người tuổi Dậu và tình yêu

Nói chung, tính cách của người sinh năm Dậu là thẳng thắn và hơi kỳ lạ, phần lớn trong số họ đều thích được mọi người chú ý. Không những như vậy, cách nhìn của người tuổi Dậu với sự việc hơi bảo thủ, mặc dù có lúc xem ra họ có chút ngượng ngùng nhưng vẫn có lòng dũng cảm. Những lúc cần, họ sẽ đứng ra không chút do dự.

Người tuổi Dậu là người chân thành nhưng lại thể hiện bên ngoài là một kẻ hống hách nên khi tiếp xúc với người khác thì khó gây thiện cảm, đặc biệt là đối với những người nhạy cảm. Họ cần một người bạn đời có thể tiếp nhận trực tiếp cách xử sự như thế. Đây là kiểu người có khả năng thấu hiểu được những người có vẻ bề ngoài cứng rắn và nhìn nhận họ theo đúng bản chất thực sự.

Người tuổi Dậu tự hào về chính họ và không thấy e ngại về thái độ huênh hoang của mình. Lý do là họ luôn luôn hoàn hảo và họ tập trung hết sức để làm tôn lên vẻ ngoài của mình. Đôi lúc họ là người hống hách và khó sống chung. Nhưng nếu bạn có thể vượt qua điều đó thì bạn sẽ hiểu ra rằng người tuổi Dậu cũng là người biết quan tâm, tình cảm và lãng mạn. Bạn bè và người yêu của những người tuổi Dậu cần trang bị sẵn tâm lý khi ở bên họ, vì họ đôi khi rất thẳng thắn thậm chí trở nên hơi lạnh lùng vô cảm mặc dù thật sụ họ vốn là người luôn có ý tốt. Gian xảo là điều mà họ cực ghét.

Đối với bạn bè, người tuổi Dậu thường rất hào phóng và chân thành. Đối với những người thân yêu, họ là những người rất chu đáo và luôn chung thủy.

Người tuổi Dậu luôn vun đắp cho ngôi nhà nhỏ bé của mình. Với họ, gia đình có yên vui, đầm ấm thì sự nghiệp mới có nền tảng để phát triển. Người vợ hay người chồng tuổi Dậu cũng đều biết cách quan tâm, chăm sóc cho mái ấm của mình. Dù hành động thể hiện sự quan tâm ấy có hơi vụng về nhưng đó là tình cảm chân thành xuất phát từ trái tim của họ.

Thông thường, nam giới sinh năm Dậu hay thích những phụ nữ ưa hoạt động bởi vì họ thích thể hiện bản thân, muốn người khác biết được tài năng và trí tuệ của mình, vì thế họ thường nhận được sự coi trọng của nữ giới. Tuy thích thể hiện bản thân nhưng họ sẽ không quá đà hoặc làm những chuyện nổi loạn, bởi lòng tự trọng khống chế rất mạnh ý thức của họ.

Nam giới tuổi Dậu thường thích để tình cảm, tình yêu nảy nở một cách tự nhiên. Họ thích thể hiện và cũng biết cách để người khác thấy được tài năng, trí tuệ của mình. Chính vì thế, họ thường được nhiều cô gái yêu mến và theo đuổi. Tuy nhiên, nam giới tuổi Dậu cũng giống các chàng tuổi Hợi, thường dễ dao động trong tình yêu.

Người đàn ông tuổi Dậu rất yêu gia đình nhỏ của mình. Họ thường giúp vợ việc nhà để tạo nên bầu không khí hòa thuận, ấm êm. Nhiệm vụ chính mà họ đặt ra và phấn đấu là xây dựng một sự nghiệp vững vàng và chăm lo tốt cho gia đình.

Khác với các cô gái tuổi Mùi, nữ giới tuổi Dậu có tính cách khá mạnh mẽ. Họ chủ động trong tình yêu. Sức hấp dẫn từ những người con gái tuổi Dậu khiến cho rất nhiều đàn ông phải... ngẩn ngơ. Họ được nhiều người khác phái theo đuổi. Không như các cô gái tuổi Thìn, các cô gái tuổi Dậu rất coi trọng hình thức của bản thân và của đối phương. Trong tình yêu, họ có thể chấp nhận sự bó buộc nhưng không được đi quá giới hạn. Vì vậy, những người đàn ông theo chủ nghĩa nam quyền không phải là đối tượng thích hợp của các nàng tuổi Dậu.

Nữ giới tuổi Dậu khá thông minh khi sắp xếp việc gia đình. Họ là người vợ thủy chung, biết sẻ chia với chồng; người mẹ biết chăm sóc và yêu thương con cái. Tuy nhiên, họ lại không có khả năng tự tạo lập cuộc sống nên luôn cần một chỗ dựa vững chắc. Do đó, những người phụ nữ này thường kết hôn với người đàn ông có tiềm lực vững vàng về kinh tế để cùng chồng xây dựng cuộc sống gia đình đầm ấm, hạnh phúc.

Thế nhưng người tuổi Dậu thường gặp trắc trở trên đường tình cảm. Bạn luôn tốn nhiều sức lực để giành lấy tình cảm của người mà bạn yêu, để đạt được tình yêu mà đánh mất bản thân và làm những việc không muốn làm, vì thế người chịu nhiều mất mát nhất lại chính là bạn, đem đến cho bạn những phiền phức khó thoát ra nổi.

Điều này chỉ trách chính bạn bởi vì bạn là người quá chú trọng tình cảm. Phần lớn những người tuổi Dậu đều muốn hưởng thụ nhưng bạn nên biết, sự phát triển tình cảm phải có giai đoạn, mặc dù bạn vô cùng yêu đối phương nhưng không nên quá nóng vội. Thất bại đã qua của bạn chính là do bạn quá nhiệt tình khiến người khác khó thở.

Nói chung, phụ nữ sinh năm Dậu là những người hoạt bát, mạnh bạo, phóng khoáng, che lấp cả đàn ông. Trong tình yêu bạn luôn chủ động, nhưng những lúc cần thiết bạn lại biến thành một thục nữ trầm tính, đáng yêu, sự sung mãn của bạn đã thu hút đàn ông khiến cho nhiều người phải điên đảo. Bạn không thể chịu được sự ràng buộc trong tình yêu, một khi đối phương có ý định chiếm hữu thì bạn sẽ quyết tách khỏi anh ta. Trong cuộc sống gia đình, bạn là người vợ tốt, bề ngoài là người hướng ngoại, không muốn ru rú trong nhà nhưng trên thực tế bạn lại rất quan tâm đến gia đình.

Nam giới sinh năm Dậu có thái độ với tình yêu là sùng bái sự tự do. Trong tình yêu, phần lớn những nam giới tuổi Dậu đều là những cao thủ, tính cách sôi nổi, cởi mở khiến cho bạn luôn chiến thắng trên tình trường, có thể trong thời gian rất ngắn giành được tình cảm của đối phương.

Bạn luôn yêu cầu phải tuyệt đối bình đẳng, cho rằng tình yêu nên tôn trọng nhau tức là không được quát mắng đối phương và càng không chịu được cảnh bị đối phương la mắng. Trong cuộc sống gia đình, những phụ nữ ưa hoạt động là đối tượng kết hôn tốt nhất dành cho bạn, hơn nữa người có khả năng nhiều nhất trở thành vợ bạn sẽ là người cùng chung sống với bạn như bạn học, bạn chơi lúc nhỏ vì cả hai đã có cơ sở tình cảm sâu đậm.

Tóm lại, người tuổi Dậu rất hợp với người tuổi Sửu, tuổi Thìn, tuổi Tỵ, cả hai sẽ đại cát đại lợi, nhưng lại khó hợp với người tuổi Mão bởi vì cả hai ăn nói không hợp nhau, dễ sinh cãi vã, nhưng sau thời gian lâu dài chung sống sẽ có bình yên hạnh phúc.

Tình yêu của người tuổi Dậu nhóm máu A

Sự đa cảm và dễ rung động dường như là điểm dễ nhận thấy ở người tuổi Dậu thuộc nhóm máu A. Tuy nhiên để ngỏ lời yêu với người mà mình thương mến là cả một khó khăn đối với họ. Hình ảnh một chàng trai, cô gái tuổi Dậu giỏi ăn nói và có tài thuyết trình bỗng nhiên biến mất, thay vào đó là một kẻ si tình vụng về bên người mà họ thầm yêu. Tạo khoảng không gian lãng mạnh trong những giây phút bên nhau là điều mà người tuổi Dậu thuộc nhóm máu A cảm thấy thật không dễ dàng. Thay vào những lời âu yếm, ngọt ngào, họ say sưa với những câu chuyện về công việc, về học tập hay những dự định quá xa xôi. Không khí tẻ nhạt và đơn điệu dường như là điều không tránh khỏi trong buổi hẹn hò. Mặc dù là những kẻ si tình đáng yêu nhưng họ vẫn rất thận trọng khi lựa chọn bạn đời. Họ vẫn có thể làm chủ được tình cảm của mình để hướng đến sự cân bằng giữa tình yêu và những đòi hỏi thực tế của cuộc sống sau khi kết hôn.

Tình yêu của người tuổi Dậu nhóm máu B

Với người tuổi Dậu mang nhóm máu B, tuổi trẻ thường gắn với những khoảng thời gian vui chơi tự do. Sự nông nổi trong suy nghĩ và hành động cũng là điều dễ thấy ở họ. Tuy nhiên, khi con tim rung động vì yêu, họ lại có những thay đổi tưởng chừng như kỳ diệu. Họ tự hoàn thiện bản thân, chăm lo cho công việc, sự nghiệp và hơn thế, họ biết dành tình cảm cho người thân, bạn bè và nhất là người mình yêu thương. Đó thực sự là tình cảm trong sáng và đáng trân trọng. Không ít người trở nên lãng mạn hơn với những bức thư tình, những bông hồng tươi thắm gửi tặng người yêu. Nếu tìm được một người có tâm hồn đồng điệu chắc chắn tình cảm của họ sẽ ngày càng sâu đậm và đơm hoa kết trái. Tình yêu chân thành và trong sáng là nền tảng cho một mái ấm bình yên và hạnh phúc của người tuổi Dậu thuộc nhóm máu B. Đôi khi họ hoài tưởng lại quãng thời gian đã qua và mỉm cười khi thấy mình đã tìm được con đường đi đúng đắn trong cuộc sống. Họ càng trân trọng hiện tại và càng thêm cố gắng vun đắp cho hạnh phúc lứa đôi.

Điều đáng tiếc là một số người tuổi Dậu thuộc nhóm máu B có phần thiếu chung thủy. Con tim của họ vẫn có thể rung lên ngay cả khi họ đã có một gia đình hạnh phúc. Chính vì điều này mà họ cần ở người bạn đời không chỉ tình yêu mà hơn thế là lòng độ lượng, bao dung. Những sóng gió trong đời sống vợ chồng sẽ sớm qua đi khi họ biết hướng về giá trị của tình yêu và hôn nhân đích thực. Nữ giới tuổi Dậu thuộc nhóm máu B nên chọn bạn đời là những người đàn ông có chí tiến thủ, năng động và chín chắn. Nam giới nên kết hôn với những người phụ nữ dịu dàng và biết thông cảm với người khác

Tình yêu của người tuổi Dậu nhóm máu AB

Người tuổi Dậu thuộc nhóm máu AB luôn muốn mang lại tình yêu nồng nàn cho "nửa kia" của mình. Những người này khá lãng mạn. Họ luôn hy vọng sẽ mang lại một không gian riêng thật đặc biệt cho hai người. Được tận hưởng một tình yêu như vậy là hạnh phúc mà ai cũng khát khao. Tuy nhiên, sự nồng nhiệt quá mức đôi khi kèm theo tâm lý ghen tuông, khiến người yêu của họ cảm thấy ngột ngạt và cũng vì thế tình cảm của họ lai bớt đi phần lãng mạn. Để có được cuộc sống gia đình hạnh phúc, nữ giới tuổi Dậu mang nhóm máu này nên kết hôn với những người đàn ông trưởng thành, chín chắn và có chí tiến thủ. Nam giới tuổi này thường hài hước, lạc quan, nhanh nhẹn. Họ nên chọn bạn đời là những người phụ nữ trầm tính, cẩn trọng và biết cảm thông. Sau khi kết hôn, cuộc sống gia đình của người tuổi Dậu thuộc nhóm máu AB rất hòa thuận và hạnh phúc. Cả hai vợ chồng cùng chung tay xây dựng tổ ấm. Những khi rảnh rỗi, họ muốn tự mình trang trí, sắp xếp lại nhà cửa.

Tình yêu của người tuổi Dậu nhóm máu O

Người tuổi Dậu thuộc nhóm máu O vốn nho nhã và tài trí hơn người. Nhờ tính cách cởi mở và hòa đồng, họ tạo được nhiều mối quan hệ tốt đẹp trong công việc và trong cuộc sống. Tuy nhiên trong tình yêu, đây là những người khá cầu toàn. Với họ, người bạn đời phải là hình mẫu lý tưởng và được nhiều người ngưỡng mộ. Một cô gái xinh xắn và hiền thục, một chàng trai hào hoa và thông minh... với tình yêu chân thành và tấm lòng thủy chung son sắt là mẫu người mà họ kiếm tìm. Đối với một số người tuổi Dậu thuộc nhóm máu O, duyên số là điều mà họ tin tưởng và mong đợi nhưng không vì thế mà họ bỏ qua sự lựa chọn kỹ càng của bản thân. Mái ấm gia đình của người tuổi Dậu sẽ tràn ngập tiếng cười nếu họ biết lựa chọn được những người hòa hợp với mình. Sự hiền dịu, thủy chung của người vợ và sự thông minh, nhanh nhẹn của người chồng sẽ là bến đỗ bình yên cho những người tuổi Dậu thuộc nhóm máu O.

3. Người tuổi Dậu và sự nghiệp

Người tuổi Dậu không quá quan tâm đến tiền bạc và là mẫu người có tinh thần tự lập cao. Họ luôn biết trân trọng những gì đã đạt được và biết vượt qua khó khăn trong cuộc sống để vươn lên. Tính cách này có thể mang đến cho họ sự phù hợp khi bước chân vào lĩnh vực chính trị. Bên cạnh đó, họ còn là người có tư duy nhạy bén và lòng dũng cảm. Nếu hoạt động ở lĩnh vực an ninh, quân đội họ sẽ mau chóng được đề bạt lên chức vụ cao.

Ngoài ra, người tuổi Dậu còn có thể lực tốt, sức khỏe dẻo dai, ưa thích các hoạt động thể thao, nếu trở thành vận động viên cũng rất phù hợp với họ.

Khả năng thuyết phục tốt, tài tạo lập quan hệ, người cầm tinh con gà hoàn toàn có thể đảm đương công việc ngoại giao. Đó là lĩnh vực mà họ nên thử sức mình nếu muốn trở nên nổi tiếng và có cơ hội làm giàu.

Người tuổi Dậu còn rất khéo tay, tỷ mỷ, cẩn thận và cần mẫn, đặc biệt là nữ giới. Do vậy, họ cũng nên tìm đến những công việc như liên quan đến hóa trang, may mặc hay lĩnh vực giải trí.

Doanh nhân tuổi Dậu tài giỏi, có năng lực tổ chức và lãnh đạo. Đa số doanh nhân tuổi Dậu là người khá cầu toàn, do đó họ luôn đặt ra yêu cầu cao đối với bản thân cũng như với người xung quanh. Thế nhưng họ thường hành động theo một khuôn thức định sẵn trong tư duy khi giải quyết một vấn đề nào đó. Vì tính cách cứng nhắc này, khi gặp những vấn đề mới ngoài dự kiến, họ đều lúng túng, thậm chí không xử lý được. Tuy nhiên, nếu biết linh hoạt, mềm dẻo khi nhìn nhận và giải quyết vấn đề thì công việc của họ sẽ tiến triển thuận lợi hơn.

Doanh nhân tuổi Dậu thường thích nghe lời khen ngợi của mọi người hơn là những lời góp ý, phê bình thẳng thắn, ngay cả khi họ biết những ý kiến đó sẽ giúp ích cho họ. Không ít lần họ tỏ ra bảo thủ, cố chấp. Nhưng điều đáng ghi nhận ở họ là sự chăm chỉ trong công việc và lòng nhiệt tình giúp đỡ người khác. Cũng vì điều này, người tuổi Dậu luôn được mọi người yêu mến. Trong lĩnh vực kinh doanh, người tuổi Dậu rất biết cách quản lý tài chính, biết cân đối giữa thu và chi.

Tận tụy tích cực và chăm chỉ làm việc là hai đặc điểm của người tuổi Dậu giúp họ thành công trong sự nghiệp. Họ cũng có xu hướng đặt sự nghiệp làm mục tiêu hàng đầu trong cuộc đời. Có thể nói cuộc đời của người tuổi Dậu gặp phải khá nhiều khó khăn, trắc trở. Vào những thời điểm quyết định, nếu xử lý công việc không tốt họ sẽ gặp phải nhiều khó khăn, thất bại trên con đường sự nghiệp.

Họ không phải là những người luôn có cuộc sống sung túc nhưng cũng không đến mức nghèo khổ, chật vật. Tuy gia cảnh từ nhỏ có thể gặp nhiều khó khăn hơn người khác nhưng với ý chí kiên cường chắc chắn họ sẽ vượt qua. Nếu biết nhìn nhận thực tế và luôn giữ vững tinh thần lạc quan, không chạy theo hư vinh thì cơ hội thành công dành cho họ sẽ rất lớn.

Với óc sáng tạo, tầm nhìn xa, trông rộng, biết định hướng cho tương lai, thái độ làm việc nhiệt tình, chu đáo, người tuổi Dậu luôn đi trước người khác một bước trong mọi việc. Cũng chính vì những ưu điểm đó mà tuy có tài nghệ thuật, âm nhạc, văn học nhưng rất ít người tuổi Dậu hứng thú khi theo đuổi những ngành nghề này.

Ngay từ nhỏ, người tuổi Dậu đã có nhiều ước vọng lớn lao. Họ sống có lý tưởng cao đẹp nên họ thường được rất nhiều người yêu mến, giúp đỡ, tạo cơ hội tốt để phát triển sự nghiệp. Là những người thiên về tính thực tế, logic, rõ ràng, không ủy mỵ hay dễ xúc động vì thế họ rất thích hợp với những ngành nghiên cứu, thống kê. Họ là những người rất giỏi và tài năng trong những việc như kế toán, quản lý tiền bạc, tài chính. Họ còn là những người có khả năng tổ chức cao.

Về cuộc đời, sinh tiêu Dậu thông minh, hiếu nghĩa, hiếu học, biết phân biệt phải trái, nhưng sống cô lập, duyên phận nhạt nhẽo với anh em; không đông con. Thời trẻ vận khí tốt đẹp, trung niên không hay, vãn niên lại có phúc phận có thể phú quý. Có thuyết cho rằng, người Dậu suốt đời có tài lộc, nhưng có bệnh mãn tính, phải chú ý dưỡng sinh, nên làm việc từ thiện thì trường thọ.

Theo tình hình thông thường, trong lịch trình sinh mệnh của người tuổi Dậu từ thời niên thiếu đến khi về già đều xuất hiện sóng gió rất lớn và sẽ có sự lên cao, xuống thấp rất rõ. Đương nhiên những sóng gió và khó khăn này thường không ảnh hưởng lớn đến bạn lắm. Nhưng vào những lúc gấp rút mà bạn xử lý không đúng thì sẽ làm hỏng một số cơ hội rất tốt hoặc để lại cho bản thân những phiền muộn lớn, thậm chí còn làm cho mình ngã không đứng dậy được, hối hận đến suốt đời.

Thời niên thiếu, cuộc sống của bạn không được bằng phẳng lắm, có thể bạn vừa vươn lên được bằng người thì đã đứng trước biết bao khó khăn. Hoàn cảnh gia đình không giàu có gì, để sinh sống, bố mẹ bạn phải đi xa để làm ăn và không thể chăm sóc bạn đầy đủ. Bạn lúc no lúc đói, phải dựa vào sự giúp đỡ của những người tốt bụng để lớn lên. Nhưng nói chung, vận số của bạn không hoàn toàn xấu.

Mặc dù bạn cả đời vất vả nhưng kết quả lại không tầm thường. Chỉ cần bạn chú ý thật nhiều vào việc thực hiện mọi việc, không nên quá theo đuổi những điều huyễn hoặc thì cơ hội thành công sẽ rất lớn. Về phương diện vận tài, với tính cách đặc hữu của người tuổi Dậu sẽ giúp bạn biến hi vọng nhỏ thành rất lớn và với lí tưởng cao cả đó, cả đời bạn sẽ có tài vận rất tốt. Mỗi khi bạn cảm thấy túi cạn tiền là tự nhiên sẽ có con đường thu nhập khác giúp bạn giải quyết được mọi vấn đề.

Bạn không giỏi việc chèn ép người khác để kiếm tiền cho có thu nhập ổn định, hy vọng sau này có thể tự lập nghiệp. Vì thế, tuy bạn có chuyên tâm vào công việc mà bạn yêu thích, nhưng rất khó tránh khỏi thu nhập thấp làm bạn cảm thấy đau khổ. Nhưng nhìn về lâu dài thì tài vận của bạn khá tốt.

Ngoài ra, bạn có tính xa xỉ bẩm sinh, rất muốn có những đồ vật quí hiếm nên thường không tiếc tiền bỏ ra số tiền lớn để mua. Vì thế việc chi tiêu thường vượt quá mức thu nhập. Hơn nữa, cùng với việc thu nhập tăng cao thì số tiền chi tiêu cũng tăng cao. Nếu bạn muốn để dành tiền, chi bằng hãy dùng tiền để mua cổ phiếu chứng khoán, bất động sản hoặc món hàng nghệ thuật, đó là phương pháp vận dụng để giữ tài sản tốt nhất.

4. Vận mệnh người tuổi Dậu với tháng sinh

Sinh tháng giêng

(Đầu xuân), mặc dù mọi thứ đều đang hồi sinh, băng tuyết bắt đầu tan nhưng nguồn thức ăn mới chưa xuất hiện, lương thực khó khăn, tuy nhiên có sức khỏe và tinh thần khỏe mạnh, tự do đi lại.

Sinh tháng hai

(Kinh trập), vạn sự bắt đầu sinh sôi, nguồn thức ăn tươi mới, ra vào tự do, tinh thần nhanh nhẹn, sảng khóai, cả đời làm việc đều vững tinh thần, bình tĩnh thì làm việc gì cũng thuận lợi, thanh cao nho nhã, giàu lòng mến khách.

Sinh tháng ba

(Thanh minh), tính cách nhanh nhạy, thông minh năng động, giỏi ứng biến, thành danh sớm, thăng chức nhanh, lương bổng cao, ăn lộc trời, nhờ phúc tổ tiên, cuộc sống yên ổn giàu có, đông con cháu.

Sinh tháng tư

(Lập hạ), có tài chỉ huy, chí khí tuy cao nhưng quyền lực ít, có năng khiếu văn học nên sinh kiêu ngạo, mọi người không ưa, hay gặp nguy hiểm, có thời kỳ bị phá sản, tinh thần sa sút, không chuyên tâm vào làm việc chỉ còn lại danh tiếng một thời. Hậu vận cát ít, hung nhiều, một đời vất vả.

Sinh tháng năm

(Mang chủng), nếu được phúc cuả tổ tiên thì không làm mà cũng thành, xây dựng cơ nghiệp, nhưng sự phồn vinh chỉ trong chốc lát rồi lại thất bại. Hậu vận vất vả, danh lợi bình thường, cơm áo đủ dùng, có tài trọng dụng, biết làm vui lòng mọi người, công việc không đắc ý, làm ăn dễ mắc nợ.

Sinh tháng sáu

(Tiểu thử), nóng nực, mây đen nhiều, đây là thời điểm có nhiều bệnh truyền nhiễm, ảnh hưởng đến bản thân. Giữ gìn bản thân sẽ tránh được nhiều nguy hiểm. Trong lòng có nhiều ưu buồn.

Sinh tháng bảy

(Lập thu), cơm ăn áo mặc đầy đủ, đến đâu cũng sống được. Tính tình thông minh, nhạy bén, ý chí và hành động kiên quyết, cố gắng không ngừng sẽ giàu có, thu nhập cao, có thể thấy trước sự no đủ.

Sinh tháng tám

(Bạch lộ), thông minh nhạy bén, vượt qua mọi trở ngại mà tiến lên phía trước, mọi dự tính đều như ý, sẽ thành công danh lợi vẹn toàn.

Sinh tháng chín

(Hàn lộ), thu hoạch ngũ cốc, khắp nơi đầy hoa màu, vừa ăn vừa làm, tự mình làm việc thì con đường tiền tài sẽ thông, vui vẻ, cả đời không lo vất vả.

Sinh tháng mười

(Lập đông), tài lực bình thường,gặp việc khó một mình làm chưa đủ mà phải cùng mọi người dựa vào nhau, ít bệnh tật, nhiều chuyện buồn.

Sinh tháng mười một

(Đại tuyết), có tài năng, chỉ quan tâm đến hoàn cảnh bên ngoài mà ít chú ý bên trong, khó tránh khỏi vất vả, nhiều bất lợi, bệnh tật khó tránh, gặp nhiều trở ngại, công việc không tiến triển, có cơ hội ra nước ngoài, mỗi lần gặp khó khăn đều phải tự mình vượt qua.

Sinh tháng mười hai

(Tiểu hàn), trời đất đổi thay, không có đường ra, khỏe mạnh nhưng không giỏi việc, nhiều khó khăn, có lộc, mệnh ngắn, khó được hạnh phúc.

5. Người tuổi Dậu và vận mệnh

Sinh năm Quý Dậu - 1993: Gà trong chuồng (thuộc mệnh Kim trong Ngũ hành)

Đây là người có khả năng làm việc độc lập rất tốt. Họ cũng có thể kiên trì đến cùng với một công việc nào đó. Người này rất tự tin nhưng cũng tương đối tự phụ. Họ rất coi trọng lợi ích cá nhân. Với họ, đó chính là thước đo khi tiến hành giải quyết công việc và tạo lập các mối quan hệ xã hội. Đây cũng là người có lòng tự tôn rất cao. Trong công việc hay cuộc sống, cho dù gặp thất bại, họ ít khi chịu thừa nhận. Chính vì thế, người xung quanh thường cho rằng họ quá kiêu ngạo. Điều này ảnh hưởng không tốt đến các mối quan hệ mà họ đã tạo dựng được. Họ cũng thường khó tạo được sự hòa đồng, thân thiện với mọi người trong môi trường sống và làm việc mới.

Sinh năm Ất Dậu - 1945: Gà gáy trưa (thuộc mệnh Thủy trong Ngũ hành)

Là người mau mồm, ngay thẳng, chí khí hiên ngang, tiền lộc đủ dùng, phúc thọ song toàn, anh em tuy có đủ nhưng khó được như nhau, họ hàng hòa thuận, là phụ nữ thì mang mệnh làm cho tiền tài đến lâu, ổn định.

Người này nổi bật bởi tính cách nhanh nhẹn cùng tài ăn nói và khả năng thuyết phục người khác. Khả năng xử lý và ứng biến với công việc của họ khá tốt. Chính vì thế họ ít khi để xảy ra sai sót. Song sự đắc ý và chủ quan quá đà lại khiến họ để tuột khỏi tay những thành quả đáng lẽ ra là của mình. Họ thường rất chú trọng đến suy nghĩ và đánh giá của người khác về bản thân mình. Khi ở chỗ đông người, họ tỏ ra có tài ăn nói và dường như không có gì là không biết. Đây cũng là người thường xuyên... giấu dốt, không bao giờ hỏi về những việc mà mình không biết. Chính vì đặc điểm này mà họ thường xuyên bị người khác coi nhẹ.

Sinh năm Đinh Dậu - 1957: Gà sống độc lập (thuộc mệnh Hỏa trong Ngũ hành)

Là người vui vẻ, đa tình, được nhờ quan. Lúc nhỏ vất vả gian khổ nhưng hậu vận cảnh nhà khấm khá lên. Là phụ nữ mang mệnh thanh tú, xinh đẹp, có cả thành công và thất bại, hậu vận rất may mắn, hưng thịnh.

Cũng giống người tuổi Dậu mệnh Thổ, người tuổi Dậu mệnh Hỏa có óc phán đoán khá tốt song họ lại thiếu ý chí để hành động. Họ ít khi đặt ra yêu cầu cao đối với bản thân. Những khi gặp thất bại hay mắc phải sai lầm, họ tự tìm ra nhiều lý do để khoan dung, tha thứ cho mình. Điều này có vẻ như đối lập với tính cách mạnh mẽ của những người mệnh Hỏa khác. Nhờ tài ăn nói khéo léo, người tuổi Dậu mệnh Hỏa thường thu hút được sự chú ý của nhiều người.

Họ cũng thích trở thành nhân vật trung tâm, thích hư vinh. Người tuổi Dậu mệnh Hỏa thường không giỏi kiềm chế, thậm chí không ít người rất nóng tính hoặc thường gây chuyện đố kỵ, thị phi hãm hại người khác. Điều này nhiều khi ảnh hưởng không tốt tới công việc cũng như các mối quan hệ của họ. Quan niệm sống thiếu thực tế cũng là điều mà người tuổi Dậu mệnh Hỏa cần khắc phục nếu không muốn mất đi những cơ hội tốt đẹp trong cuộc đời.

Sinh năm Kỷ Dậu - 1969: Gà gáy sáng (thuộc mệnh Thổ trong Ngũ hành)

Là người thông minh, tài lộc đầy đủ, họ hàng khó nhờ, sớm có con cái, làm việc như ý, mọi việc đều thông, rộng lượng với mọi việc, coi sự quan tâm là may mắn. Là phụ nữ thì nhiều phương kế, mang mệnh không hề gặp đại họa, nguy khốn.

Không chỉ với công việc mà cả trong cuộc sống thường ngày, họ đều rất cẩn thận. Đây cũng là người có đầu óc tổ chức rất tốt và khả năng nắm bắt sự việc nhanh nhạy. Nhờ khả năng này, họ đạt được thành công trong nhiều lĩnh vực. Tuy nhiên, sự cẩn thận, cầu kỳ quá mức lại khiến họ trở nên bảo thủ và chậm tiến. Họ có những phẩm chất tốt đẹp, tư tưởng kiên định và là một người người coi trọng đời sống tâm linh, tín ngưỡng.

Họ không thích dựa dẫm vào người khác trong bất kỳ việc gì nên đôi lúc có thể trở nên tự tư. Người này thích công việc điều tra nghiên cứu cũng như thích sự chính xác và tỉ mỉ. Điều đó một phần xuất phát từ bản tính cẩn thận của họ. Đôi khi, họ có thể tin tưởng thái quá vào những lời đồn đại và có thể "đọc hiểu" được hết những suy nghĩ của người khác. Họ cần cố gắng để điều chỉnh cách ăn nói của mình tốt hơn, tránh vướng vào chuyện rắc rối không đáng có.

Sinh năm Tân Dậu - 1981: Gà long tàng (thuộc mệnh Mộc trong Ngũ hành)

Họ là người rất cẩn thận và công bằng trong mọi việc. Họ cũng thường được cấp trên và đồng nghiệp quý trọng, tin tưởng vì sự nghiêm túc và quy củ trong công việc. Với họ, bất cứ một sai sót nhỏ nào cũng đều khó có thể tha thứ. Quan điểm này khác hẳn với người tuổi Dậu mệnh Hỏa, thường dễ dàng cho qua những lỗi lầm của bản thân. Người tuổi Dậu mệnh Mộc khá linh hoạt, biết cách nắm bắt và lý giải tâm lý người khác.

Vì vậy, họ thường có được những mối quan hệ hợp tác tương đối thuận lợi. Trong quan hệ giao tiếp, họ luôn thể hiện được sự cởi mở, thân thiện của mình. Chính vì thế, họ cũng thường thu hút được sự chú ý của người khác giới. Người tuổi Dậu mệnh Mộc có ý chí phấn đấu và biết dựa trên năng lực thực tế của bản thân. Những mục tiêu họ đề ra thường không quá lớn và có khả năng thực hiện được. Điều này giúp cho họ tránh được những thất bại do chủ quan.

6. Tương hợp và xung khắc giữa người tuổi Dậu và các tuổi khác

Tuổi Dậu và tuổi Tý

Tí và Dậu chỉ hợp khi họ hiểu được mục tiêu cuộc sống của nhau. Tuổi Tí thông minh và sắc sảo nhưng đôi khi không đánh giá hết được sự trung thành, thẳng thắn đáng quý của tuổi Gà. Trong khi đó, tuổi Gà chuộng cuộc sống theo lối truyền thống, thích sự ổn định, thỉnh thoảng không tán thành với một số quan điểm của tuổi Chuột; vì vậy, giữa hai tuổi này sẽ xảy ra khẩu chiến. Người cầm tinh con Gà khá ưa sự hoàn mỹ, đôi khi họ cằn nhằn hoặc “chỉnh” tuổi Tí vì mong muốn tuổi Tí nghiêm túc hơn. Tuy nhiên, thực tế không hoàn toàn như tuổi Gà nghĩ vì Chuột không hề sống phù phiếm mà ngược lại rất thực tế, hào phóng và dí dỏm.

Tuy nhiên, nếu là hai người yêu nhau, người tuổi Dậu sẽ rất ít phàn nàn về tuổi Tí. Họ thường rất hài hước khi ở bên nhau. Cả hai cùng thích đi chơi và vui vẻ bên bạn bè. Gà thỉnh thoảng bi quan, cần được vỗ về và động viên. Chuột hiểu điều này và sẵn sàng làm cho Gà vui. Biết được tình cảm của tuổi Tí dành cho mình, tuổi Gà chung thủy và tận tâm hết mình vì tình yêu của hai người.

Khi là đối tác làm ăn, khi hai con giáp này đã đặt niềm tin vào nhau, họ kết hợp khá ăn ý. Họ cùng tiết kiệm và cùng nhau xây dựng. Bình thường tuổi Chuột rất hào phóng và tiêu tiền khá “mạnh tay”, nhưng trong kinh doanh, người tuổi này rất biết tính toán. Điều này làm tuổi Gà tâm phục khẩu phục. Vì vậy, họ sẽ cùng nhau xây dựng và phát triển.

Tuổi Dậu và tuổi Sửu

Mối quan hệ giữa tuổi Trâu và tuổi Gà gần như đạt tới mức hoàn hảo dù là người thân, anh em hay bạn bè. Nếu có sự khác biệt giữa họ thì đó cũng là những điểm bổ sung và hỗ trợ cho nhau.

Sửu và Dậu đều khá thận trọng trong cách tiếp cận cuộc sống. Hai “hành tinh” này đều chọn cách giải quyết thực tế và ít khi thích mạo hiểm. Những đặc điểm của hai con giáp này sẽ giúp họ kết hợp rất ăn ý trong công việc. Bởi vậy, nếu là đối tác kinh doanh, Sửu và Dậu sẽ tạo thành một tập thể khá vững mạnh đó. Khi đó, tuổi Sửu sẽ là “xương sống” của tổ chức, còn tuổi Dậu sẽ là người thúc đẩy cho sự nghiệp của hai người phát triển theo hướng tích cực.

Nếu là cặp đôi uyên ương, họ rất tin tưởng và thành thực với nhau. Chẳng ai trong số họ phải thể hiện sự ghen tuông hay sở hữu nào cả. Bởi đơn giản, họ thấy họ hoàn toàn thuộc về nhau. Tuổi Trâu thường nhút nhát, nghiêm túc và ít khi bộc lộ tình cảm một cách thái quá nhưng rất sâu sắc và hết lòng với tuổi Gà. Điều đáng quý hơn cả là người cầm tinh con Trâu luôn biết cách tránh mâu thuẫn và tạo được không khí hài hòa trong cuộc sống tình cảm. Đặc biệt hơn nữa là tuổi Trâu có xu hướng lý tưởng hóa người yêu của mình. Còn tuổi Gà thì luôn sống tốt và thậm chí còn hơn nhiều so với sự mong đợi của tuổi Trâu. So với Sửu thì Dậu năng động hơn và thích tham gia các hoạt động xã hội hơn. Nhưng không vì thế mà Dậu xa rời Sửu; Dậu luôn tìm cách kéo Sửu ra khỏi vỏ ốc nếu Sửu chỉ biết nhút nhát và ngại ngùng. Mâu thuẫn chỉ xảy ra khi cả hai cùng bình luận hay đánh giá một ai đó và hơi có ý kiến khác nhau. Nhưng quan trọng hơn cả, hai “hành tinh” đều xuất phát từ sự chân thành và thẳng thắn nên giữa họ chẳng có điều gì phải suy nghĩ nhiều.

Tuổi Dậu và tuổi Dần

Không hiểu rõ về nhau sẽ làm phát sinh những vấn đề nghiệm trọng. Thêm vào đó, sự lấn áp lạm quyền sẽ gây ra nhiều mâu thuẫn. Để mối quan hệ bền vững, cả hai đều cần nhún nhường một chút để chiều người kia. Khi cả hai đều tỏ ra mình là người quan trọng thì mâu thuẫn khó có thể tránh khỏi. Tuổi Dậu khá cầu toàn, điều này có thể coi là đòi hỏi khá lớn đối với tuổi Dần bởi người cầm tinh con Hổ không muốn tuân theo bất kỳ sự dạy bảo nào mà luôn làm theo cách riêng của mình. Dần vốn dễ tính; ban đầu cũng nghe theo những lời của Dậu nhưng dần dần Dậu ngày càng hay la mắng và chỉ bảo nên Dần tỏ ra không chịu nổi.

Nếu là một đôi uyên ương, hai con giáp này thường xuyên xảy ra khẩu chiến. Dần không chịu tuân theo những quy tắc mà Dậu đặt ra. Điều này làm người tuổi Gà vô cùng khó chịu và luôn nghĩ rằng: Người tuổi Hổ luộm thuộm và chỉ làm theo ý mình. Còn trong con mắt tuổi Hổ thì Gà thích chuyên quyền và hay “xía” vào chuyện của người khác. Trên thực tế, tuổi Hổ thích là người dẫn đầu; còn Gà thích được tôn trọng và muốn người khác làm theo ý kiến của mình. Hai tính cách đó khó có thể hòa hợp được.

Tuy nhiên, nếu Dần và Dậu là đối tác kinh doanh, họ sẽ kết hợp với nhau khá tốt. Trong lĩnh vực này, Dần đánh giá cao Dậu về những nỗ lực cải thiện công việc và năng lực làm việc khiến Dần không thể phàn nàn. Người tuổi Gà thì vui vẻ để tuổi Hổ đứng ở vị trí dẫn đầu và tình nguyện làm hậu phương vững chắc.

Tuổi Dậu và tuổi Mão

Mão và Dậu cần nỗ lực rất nhiều để hiểu được động cơ và mục tiêu cuộc sống của nhau. Mối quan hệ của họ sẽ đối mặt với nhiều giai đoạn căng thẳng. Mâu thuẫn nằm ở chỗ, Mão và Dậu có quan điểm khác nhau về cuộc sống: Mão thường đưa ra ý kiến chủ quan và gặp khó khăn khi giải quyết các vấn đề thực tế. Còn tuổi Dậu luôn đòi hỏi sự chính xác trong từng công việc mình làm. Bởi vậy nên trong con mắt của Dậu, Mão là mẫu người “đoảng”; còn với Mão thì Dậu thường đòi hỏi cao và hay chê bai người khác. Tuy nhiên, dù không hài lòng, Mão cũng ít khi phàn nàn hoặc tỏ sự không hài lòng.

Khi là một cặp uyên ương, hai tuổi này khó mà hài lòng về nhau. Mão sẽ dành nhiều tâm huyết cho mối quan hệ. Điều này thì Dậu không có ý kiến gì. Tuy nhiên, vấn đề nổi cộm nhất đó là họ có quan điểm và cách ứng xử khác nhau trong tình yêu. Tuổi Gà thích mè nheo, đòi hỏi mọi người xung quanh kể cả người yêu phải thế này, thế kia để hướng tới sự hoàn hảo. Còn tuổi Mèo thì rất cần sự hỗ trợ về mặt tinh thần của người yêu để giữ cho cuộc sống cân bằng. Có những lúc Gà có thể đáp ứng được yêu cầu của Mèo một cách chân thành. Nhưng đôi khi Mèo lại thấy hình như mình bị xỏ mũi vì vậy nên Mèo cảm thấy tự ái.

Trong kinh doanh, tuổi Gà cũng nhanh chóng chán tuổi Mèo vì người cầm tinh con Gà cho rằng người cầm tinh con Mèo thiếu sự logic, thiếu thực tế. Dậu sẽ là người chủ động việc công việc tại cơ quan còn Mão thì khá thụ động và đi chệch những mong muốn của Dậu

Tuổi Dậu và tuổi Thìn

Thìn và Dậu dường như đối lập nhau về bản chất. Trong khi Thìn mạnh mẽ và sôi động, có lúc bốc đồng thì Dậu rất thực tế và thậm chí bảo thủ. Trong khi Thìn hành động theo cảm tính thì Dậu làm việc gì cũng dựa trên kế hoạch. Thỉnh thoảng, Thìn có thể mang đến cho Dậu không khí thoải mái nhưng điều đó còn phụ thuộc vào cảm hứng của tuổi Thìn.

Nếu là một cặp uyên ương, hai hành tinh này sẽ có những “chiêu” khác nhau để ứng xử trong tình yêu của mình. Người cầm tinh con Gà hay phàn nàn nếu không vừa ý. Người tuổi Rồng lại không thích nói nhiều nên đôi khi thấy bực bội. Bù lại, tuổi Gà lại hết sức trung thành và tận tâm với tình yêu của mình; điều này khiến tuổi Rồng đánh giá rất cao. Nhìn bề ngoài tuổi Thìn mạnh mẽ nhưng trong tình yêu lại rất nồng nàn và hết mình. Gà hay tỉ mỉ nhưng cũng biết cách hài hước để Rồng cười vui. Bởi vậy, nếu hai con giáp này sống chung một nhà, ngôi nhà của họ sẽ rất gọn gàng và có nhiều điều thú vị.

Khi Thìn và Dậu cùng làm ăn với nhau, hai con giáp này sẽ xây dựng một tập thể vững mạnh và liên tục phát triển. Đó là nhờ những may mắn của tuổi Thìn và sự sáng tạo, đức tính cần mẫn, tỉ mỉ của Dậu. Thìn chính là người sẽ mang những điều bất ngờ, tiền bạc và nguồn khách hàng dồi dào đến cho công việc kinh doanh của hai người. Về phía Dậu, Dậu sẽ là hậu phương vững chắc, lập kế hoạch và quản lý tài chính. Cả hai con giáp này đều trung thực nên họ rất tin tưởng lẫn nhau và cùng lái con thuyền kinh doanh của họ tới những bến bờ của sự thịnh vượng và phát triển.

Tuổi Dậu và tuổi Tỵ

Tuổi Tị hấp dẫn, quyến rũ và thích sự nổi tiếng. Còn tuổi Dậu thì rất thích rong chơi cùng bạn bè. Tuy nhiên, cả hai đều thích làm cho không khí gia đình thoải mái và an lành. Hai “hành tinh” này dù là bạn, người yêu, đối tác làm ăn hay các thành viên trong gia đình thì mối quan hệ của họ đều có sơ sở rất vững chắc và bền chặt.

Nếu là một cặp uyên ương, tình yêu của họ rất bền vững. Họ sẽ sống rất hòa thuận với nhau không chỉ vì sự bốc đồng mà vì điều đó có thể củng cố mối quan hệ giữa hai người. Người tuổi Dậu hay chú ý tới chi tiết của sự việc và thích giữ cho không khí gia đình luôn ấm cúng và thoải mái. Tuổi Dậu cũng đôi khi thích nhiều lời hoặc mặc cả. Người tuổi Tị lại hết sức may mắn với chuyện tiền bạc. Với Dậu, Tị chính là người mang thành công và của cải về gia đình chung của họ. Người tuổi Tị thường hay ghen và có tính sở hữu vì Tị hay cảm thấy bất an. Tuy nhiên, điều này chẳng ảnh hưởng gì tới mối quan hệ của hai người. Dậu trung thành và tận tâm sẽ chẳng để cho Tị có lý do gì để ghen cả.

Khi Tị và Dậu là đối tác làm ăn, công ty của họ sẽ phát triển thịnh vượng và có trật tự. Người cầm tinh con Gà hay chú ý đến tiểu tiết có thể đảm nhiệm tốt nhiệm vụ quản lý tài chính. Bên cạnh đó, tuổi Gà còn giúp công ty lập ra những kế hoạch ít mạo hiểm. Cả Tị và Dậu đều thích những phương thức thực tế, ít mạo hiểm hơn là các phương thức mới có tính rủi ro cao. Bởi vậy, có thể nói rằng, hai “hành tinh” này khá đồng nhất quan điểm trong chuyện làm ăn.

Tuổi Dậu và tuổi Ngọ

Mặc dù rất khác biệt, hai tuổi này vẫn có thể hòa hợp với nhau. Nếu Ngọ phóng khoáng và khó đoán định thì Dậu lại tỏ ra ưa sự chính xác và hoàn mỹ. Sự ăn ý của cặp này còn ở chỗ, Ngọ khá thoải mái và xông xênh, còn Dậu thì luôn nhún nhường và chế ngự tốt những cơn giận dữ. Tuổi Gà có đầu óc phân tích tốt, chú ý tới từng chi tiết của sự việc. Có thể đó là lý do người tuổi Gà yêu sự hoàn mỹ nhưng tuổi Gà rất cuốn hút tuổi Ngọ. Ngựa dí dỏm và thông minh, một phần vì họ có kiến thức về nhiều ngành. Đây là điểm rất hấp dẫn đối với Dậu.

Nếu hai tuổi này hợp thành một đôi, họ sẽ xung khắc, đặc biệt nếu chung sống cùng nhau. Tuổi Gà trung thành và rất đáng tin cậy nhưng khá cầu toàn. Một đặc điểm khá nổi bật của người tuổi Dậu là thích “buôn chuyện” của người khác. “Hành tinh” này thích sự gọn gàng và mọi thứ theo trật tự, nhưng Ngựa lại thường bỏ cuộc giữa chừng và tìm kiếm những điều thú vị mới. Tuổi Gà nhiều khi tỏ ra khó chịu với sự thiếu bền bỉ theo đuổi mục tiêu của tuổi Ngựa. Ngựa ít khả năng duy trì mối quan hệ lâu dài với Gà. Tuy nhiên, hai “hành tinh” đôi khi có thể khuyến khích nhau về mặt tinh thần.

Khi là đối tác làm ăn, hai tuổi này sẽ chọn công việc chiều theo lợi ích của Ngựa. Gà có khả năng quản lý tài chính. Sự thông minh vốn có khiến người tuổi Dậu rất ít khi tính toán sai. Hơn nữa, người tuổi Gà khá bảo thủ, thích mặc cả, đây chính là yếu tố rất quan trọng để tránh rủi ro trong kinh doanh. Trong khi đó, khi có hứng, Ngựa làm việc rất chăm chỉ và phát huy được tiềm năng. Điều này, làm Gà rất ngạc nhiên và hài lòng.

Tuổi Dậu và tuổi Mùi

Mùi và Dậu phải hết sức cố gắng phân định xem ai chịu trách nhiệm về phần nào nếu muốn mối quan hệ của họ được suôn sẻ. Mùi không thích những cuộc cãi vã còn Dậu thì xem những sự tranh luận là vớ vẩn, nên những cuộc cãi lộn giữa họ là ít thấy. Mâu thuẫn chính là do những nguyên tắc “bất di bất dịch” của Dậu trái ngược với những việc làm của Mùi.

Khi yêu nhau, hai người thường lâm vào trạng thái đau khổ, rầu rĩ nhiều hơn là vui vẻ. Nếu họ sống chung trong một mái nhà thì nhà cửa lúc nào trông cũng rất yên tĩnh, sạch sẽ, tinh tươm, được trang trí rất có phong cách (mặc dù Dậu thích kiểu trang trọng còn Mùi thì không). Cả hai đều rất chú ý đến những chi tiết, không gian trong gia đình. Vậy nên họ sẽ có thể gặp những bất đồng quan điểm trong việc cố gắng để làm mọi thứ theo ý mình. Tuy nhiên, tính hay để ý của Dậu đến những thứ lặt vặt trong gia đình khiến họ hay cằn nhằn với người bạn đời hoặc con mình. Dậu cấu toàn nhưng việc cằn nhằn chỉ làm cho Mùi ngày càng xa Dậu hơn. Mùi là một người lãng mạn và hào phóng, muốn người khác ngưỡng mộ. Dậu hay cằn nhằn, nhưng rất chung thủy trong tình yêu.

Mùi và Dậu có thể hợp nhau hơn khi là bạn làm ăn. Dậu là người có con mắt tinh tế và có đầu óc, rất phù hợp với việc quản lý tài chính và những công việc tương tự khác. Còn Mùi có thể đưa những ý tưởng, sáng kiến hay trong kinh doanh. Mùi khá may mắn còn Dậu khá “có duyên” với tiền, nên hai tuổi hợp lại làm ăn sẽ rất phát đạt.

Tuổi Dậu và tuổi Thân

Thân và Dậu có những sự khác biệt trong cảm nhận do đó mối quan hệ giữa họ thường không được êm đẹp. Thứ nhất, cả hai đều muốn nắm quyền kiểm soát người khác theo cách riêng của mình. Dậu thể hiện quyền lực của mình bằng cách cằn nhằn, yêu cầu mọi người phải thật hoàn hoản. Dậu quan sát thế giới một cách kỹ lưỡng và muốn thay đổi nó cho tốt hơn. Thân thì ngược lại, Thân sẽ khẳng định quyền lực của mình một cách ồn ào nhất, sẵn sàng đương đầu với mạo hiểm và luôn giành sự chú ý về mình. Dậu thấy Thân có những hành động thái quá còn Thân cho rằng Dậu chẳng có gì thú vị.

Trong tình yêu, hai tuổi này không được hợp nhau cho lắm. Họ có thể gặp gỡ nhau ở những nơi đông người vì Dậu thích ra ngoài chơi và thích nghe những lời khen ngợi. Khoảng thời gian ngọt ngào này dành cho hai con giáp sẽ rất ngắn ngủi. Ngay sau đó, Dậu sẽ sớm cằn nhằn Thân về những việc như đi dự tiệc quá nhiều, không chú ý đến sức khỏe, hãy ở nhà và đi ngủ sớm hơn, nhắc nhở về việc vứt tất bừa bộn….

Thân là người thích giao lưu và có tính hiếu kỳ nên Thân sẽ ít dành thời gian ở bên Dậu hơn nếu Dậu cứ ép Thân phải thực hiện những việc theo ý Dậu. Với Dậu, cằn nhằn là một thói quen không thể bỏ được nhưng dường như thói quen này lại được áp dụng đặc biệt với Thân. Dậu cho rằng Thân có quá nhiều thứ cần phải thay đổi.

Trong làm ăn kinh doanh, hai “hành tinh” này lại khá ăn ý với nhau. Những vấn đề cơ bản trong công ty nên để Thân làm người đảm nhiệm. Điều này sẽ giúp Thân thỏa mãn mong muốn được trở thành người đứng đầu và vận dụng hiệu quả sự khéo léo của mình cho công việc. Dậu nên quản lý bên cạnh, sử dụng đầu óc thong minh của mình vào việc quản lý tài chính và ngăn cản Thân đưa ra những quyết định thiếu khôn ngoan.

Tuổi Dậu và tuổi Dậu

Hai người cầm tinh con Gà có quá nhiều điểm giống. Tuy nhiên, hai người giống nhau không phải bao giờ cũng hợp nhau. Tuổi Dậu thích người khác sống theo nguyên tắc của riêng mình và không chịu được cảnh chung đụng quyền lực. Dậu luôn muốn người khác làm theo trật tự và kế hoạch của mình. Vậy điều gì sẽ xảy nếu hai người tuổi Gà sống cùng nhau? Tuổi Gà vốn thích để ý tới các chi tiết vụn vặn và hay soi mói những yếu điểm của người khác. Do đó, hai người cùng con giáp này sẽ có rất nhiều điểm để bàn.

Khi là hai người yêu nhau, hai người tuổi Dậu thường hay chỉ trích nhau nhiều hơn là nói với nhau những lời ngọt ngào, tình cảm. Tuy nhiên, nếu là mối quan hệ tình cảm sâu sắc thì hai người cầm tinh con Gà sẽ rất yêu và chiều nhau. Họ có thể hiểu được nhau và bỏ qua những thói xấu (hay cằn nhằn) của nhau. Nếu hai người tuổi Dậu sống cùng nhau, cả hai sẽ trang trí cho ngôi nhà của họ thật gọn gàn và sạch sẽ với phong cách khá cổ điển.

Có thể nói, nếu là đối tác kinh doanh thì hai người tuổi Dậu sẽ đảm nhiệm vai trò tốt hơn hẳn những vai trò khác. Bởi cùng làm việc với nhau, tuổi Dậu có thể tận dụng những lợi thế của mình. Dậu vốn thực tế, kiên nhẫn và cẩn thận. Bởi vậy, vấn đề tài chính trong kinh doanh của họ sẽ được đảm bảo rất tốc. Tuy tập thể chung của họ không phát triển với tốc độ lớn vì họ vốn không ưa nhiều mạo hiểm nhưng vì tài chính đảm bảo nên chuyện làm ăn sẽ không ngừng lớn mạnh.

Tuổi Dậu và tuổi Tuất

Dậu và Tuất thường có mâu thuẫn khi giao tiếp với nhau. Dậu thường muốn điều khiển mọi thứ theo ý mình. Tuất cũng tương tự như vậy với những nguyên tắc khá chặt chẽ. Đôi khi Tuất còn trở thành người võ đoán. Dậu rất hiểu điều đó và cũng biết rằng, Tuất làm điều đó để giữ vai trò trụ cột. Và cứ như vậy, sự bất đồng giữa hai hành tinh này sẽ xảy ra.

Khi là hai người yêu nhau, Dậu và Tuất có rất nhiều điểm khác nhau. Dậu khá coi trọng vẻ đẹp hình thức và luôn muốn ngôi nhà chung của họ phải sạch sẽ, gọn gàng. Bên cạnh đó, Dậu cũng rất chú ý tới hình thức của người yêu mình. Bởi vậy, chuyện giục Tuất đi đánh giày hay chỉnh tề lại trang phục là điều thường xuyên thấy. Tuất thì lại khác. Con giáp này chẳng để ý nhiều tới những điều Dậu quan tâm. Tuất có năng lượng cơ thể dồi dào và thích hành động nhiều hơn. Tuy vậy, khi đã yêu nhau sâu sắc, họ là những người bạn đồng hành rất trung thành và tận tụy. Họ sẽ cùng nhau vượt qua những khó khăn để tiến tới hạnh phúc.

Có thể nói khi là đối tác kinh doanh, Dậu và Tuất kết hợp ăn ý hơn ở các lĩnh vực khác. Cả hai con giáp này đều làm việc chăm chỉ và có kỹ năng kinh doanh. Dậu cẩn thận nên rất phù hợp với lĩnh vực tài chính. Bên cạnh đó, người cầm tinh con Gà cũng ít khi tham gia vào các công việc quá mạo hiểm. Tuất thì lại là người rất đáng tin cậy, rất đáng để Dậu đặt niềm tin. Hơn thế nữa, tài ngoại giao của Tuất sẽ giúp cho công việc kinh doanh của hai người ngày càng phát triển vươn xa.

Tuổi Dậu và tuổi Hợi

Trong con mắt của Dậu, Hợi là mẫu người chỉ thích hưởng thụ. Dậu ghét cay ghét đắng sự bừa bãi và với Dậu điều gì trên mức cần thiết đều tạo nên sự thừa thãi hoặc bừa bộn. Hợi lại là con giáp khá dễ tính và ít để ý tới những điều trên. Bởi vậy, Dậu sẽ là người chịu trách nhiệm thu dọn mọi thứ và giữ chúng nằm trong trật tự để giữ mối quan hệ hài hòa với người tuổi Hợi thích sự xa xỉ.

Nếu Dậu và Hợi yêu nhau, mâu thuẫn giữa hai con giáp này có xảy ra hay không phụ thuộc chính vào cách ứng xử của Hợi. Khi hai hành tinh này sống cùng nhau thì chuyện cãi vã xảy ra thường như cơm bữa. Hợi thích sự tiện nghi, thoải mái như thưởng thức món ăn ngon, thích thú với “chuyện ấy” và ngủ trên chiếc giường thật êm… Ngược lại, Dậu thích những điều thực tế, thích sự hoàn hảo và không chịu được sự lười biếng. Thực chất, Hợi không hề lười biếng mà trái lại, Hợi rất chăm chỉ nhưng trong con mắt của Dậu, người tuổi Hợi vẫn rất lười nhác. Điểm giữ được mối liên hệ giữa hai con giáp này là sự hy sinh trong tình yêu. Dậu rất trung thành khi yêu và Hợi thì thường rộng lượng và yêu hết mình.

Có thể nói, khi là đối tác kinh doanh, Dậu và Hợi sẽ thành công hơn ở các mối quan hệ khác bởi họ sẽ tận dụng rất tốt những điểm mạnh của mình. Tuổi Dậu sẽ đảm nhiệm các công việc tỉ mỉ hoặc liên quan đến tài chính. Hợi vốn chăm chỉ và định hướng tốt nên rất phù hợp với việc tiến hành các kế hoạch mà Dậu đã lập. Bên cạnh đó, Hợi sẽ đảm nhiệm cả những nhiệm vụ liên quan đến khách hàng bởi ở lĩnh vực này, Hợi có khả năng làm tốt hơn Dậu.

Xem thêm:

Tình yêu hôn nhân của người tuổi Dậu với các tuổi khác

Tử vi Lục thập hoa giáp

Xem tử vi năm mới


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: xem bói tử vi tuổi Dậu

Tình yêu tính cách người sinh tháng 7 - Bói tình yêu - Xem Tử Vi

Tình yêu tính cách người sinh tháng 7, Bói tình yêu, Xem Tử Vi, xem bói, xem tử vi Tình yêu tính cách người sinh tháng 7, tu vi Tình yêu tính cách người sinh tháng 7, tu vi Bói tình yêu

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tình yêu tính cách người sinh tháng 7

Cùng xem bói tình yêu tính cách những người sinh tháng 7, đề biết họ như thế nào trong mắt những người xung quanh nhé.

Bói ngày sinh thấy Sinh ra vào tháng 7 giữa cái nóng nực của mùa hè nhưng trái ngược với thời điểm bạn sinh ra bạn lại mang lại cho những người xung quanh bầu không khí vui vẻ bất cứ nơi đâu có bạn. Nhưng khi bị rơi vào cảm giác căng thằng bạn lại là người im lặng đến khó đoán có thể bạn luôn biết rằng mọi quyết định hay lời nói khi tâm trạng không được thông suốt có thể gây ra hậu quá khôn lường. Với nét tính cách này những người sinh tháng 7 được xếp vào tuýp người có lối sống nội tâm. Bạn có xu hướng ở một mình cùng vơi sự yên tĩnh, rất ít khi bạn thích đi đâu và đôi khi thường e dè không việc kết giao thêm bạn mới. Bạn có lòng tự tôn rất lớn và bạn cũng được rất nhiều người biết đến. Bạn là người chân thật và rất dễ an ủi. 

tinh-yeu-tinh-cach-nguoi-sinh-thang-7

Tình yêu, tính cách người sinh tháng 7

Bói tình yêu cho rằng đối với người xung quanh bạn luôn là người biết quan tâm tới cảm xúc của họ. Đây chính là điểm mà mọi người luôn yêu quý bạn. Bạn luôn biết cách cư xử tế nhị, thân thiện và hỏm hỉnh bên mọi người. Sự vui tính của bạn làm cho những người xung quanh cảm thấy bạn thật thân thiện dễ gân. Bạn thường không mang hận thù ai đó làm điều gì sai trái với mình nhưng tha thứ không có nghĩa là bạn đã quên. Mặc dù có lòng vị tha cao cả nhưng bạn cũng là người rất cảnh giác và vô cùng sắc sảo.

Bạn đối xử với mọi người rất công bằng. Bạn không bao giờ vội vàng đưa ra những lời nhận xét người khác một cách vội vã mà luôn quan sát trước khi đưa ra kết luận cuối cùng.

 

Nhận xét của những người xung quanh, bạn bè về bạn là một người trung thực và rất chân thành. Trong tình yêu bạn là người chung thủy. Có một người yêu sinh tháng 7 là mơ ước của nhiều chàng trai, cô gái.
Về mức độ quan tâm bạn là số 1 đấy nhé.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tình yêu tính cách người sinh tháng 7 - Bói tình yêu - Xem Tử Vi

14 tình huống cần xem phong thủy cấp tốc

Mọi người thường hay nói nhiều tới phong thủy, quan tâm tới phong thủy nhưng không hẳn đã biết những tình huống nên xem phong thủy.
14 tình huống cần xem phong thủy cấp tốc

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


► Xem phong thủy số điện thoại theo tuổi theo công cụ luận giải khoa học

14 tinh huong can xem phong thuy cap toc hinh anh
 
1. Tình hình học tập của trẻ nhỏ sa sút nghiêm trọng.
 
2. Trong thời gian gần đây, có nhiều sự việc xấu bất ngờ xảy đến mà không rõ nguyên nhân.
 
3. Khi công ty chuyển địa điểm làm việc mới hoặc và vị trí công tác trong tổ chức có sự thay đổi.
 
4. Khi hoàn cảnh xung quanh phong thủy nhà ở có nhiều thay đổi lớn như chuẩn bị xây dựng 1 cây cầu, con đường lớn; có 1 cây lớn, tảng đá to, vật thể điêu khắc lớn được chuyển đi hoặc đến…
 
5. Trước khi gia đình chuyển đến nhà mới phải xem phong thủy.
 
6. Sau khi gia đình chuyển đến nhà mới thì xảy ra nhiều sự cố.
 
7. Khi công việc đang ổn định trong thời gian dài thì bỗng nhiên nảy sinh biến động xấu là cần xem phong thủy.
 
8. Sức khỏe của các thành viên trong gia đình có vấn đề.
 
9. Cần chú ý về vấn đề xem phong thủy khi mà mối quan hệ giữa vợ chồng bạn trở nên xấu đi, liên tục xảy ra nhiều tranh cãi.
 
10. Các thành viên trong gia đình liên tiếp gặp sự cố hoặc tai nạn phải xem phong thủy ngay.
 
11. Các thành viên trong gia đình khó ngủ yên giấc.
 
12. Các thành viên trong gia đình bỗng nhiên không vui mỗi khi trở về nhà.
 
13. Mọi người trong gia đình có nhiều cảm giác không lành thì phải xem phong thủy ngay.
 
14. Không làm chủ được cảm xúc hoặc thường xuyên nóng giận.
ST
 

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: 14 tình huống cần xem phong thủy cấp tốc

12 con giáp 'đối phó' sao xấu năm bản mệnh

Năm tuổi phạm sao Thái Tuế nên hay gặp vạ vào thân.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Năm tuổi hay năm bản mệnh là những năm có con giáp đại diện giống hệt với năm mình sinh ra. Vì có 12 con giáp nên những năm bản mệnh sẽ quay lại cứ mỗi 12 năm một lần. Năm bản mệnh của bạn sẽ bắt đầu từ ngày đầu tiên của năm mới và kết thúc vào ngày âm lịch cuối cùng trong năm.

Con giáp Năm sinh

1912, 1924, 1936, 1948, 1960, 1972, 1984, 1996, 2008, 2020

Sửu

1913, 1925, 1937, 1949, 1961, 1973, 1985, 1997, 2009, 2021

Dần

1914, 1926, 1938, 1950, 1962, 1974, 1986, 1998, 2010, 2022

Mão

1915, 1927, 1939, 1951, 1963, 1975, 1987, 1999, 2011, 2023

Thìn

1916, 1928, 1940, 1952, 1964, 1976, 1988, 2000, 2012, 2024

Tị

1917, 1929, 1941, 1953, 1965, 1977, 1989, 2001, 2013, 2025

Ngọ

1918, 1930, 1942, 1954, 1966, 1978, 1990, 2002, 2014, 2026

Mùi

1919, 1931, 1943, 1955, 1967, 1979, 1991, 2003, 2015, 2027

Thân

1920, 1932, 1944, 1956, 1968, 1980, 1992, 2004, 2016, 2028

Dậu

1921, 1933, 1945, 1957, 1969, 1981, 1993, 2005, 2017, 2029

Tuất

1922, 1934, 1946, 1958, 1970, 1982, 1994, 2006, 2018, 2030

Hợi

1923, 1935, 1947, 1959, 1971, 1983, 1995, 2007, 2019, 2031

Tại sao là một năm bản mệnh lại không may mắn?

Theo chiêm tinh học Trung Quốc, mọi người trong năm bản mệnh bị sao Thái Tuế chiếu mệnh,. Trong năm tuổi, mọi người thường hay gặp tai ương bệnh tật hay cả chết chóc. Đặc biệt vào năm khoảng năm 36 - 37 tuổi, con người hay mang vận rủi thật nặng nề, có lúc nhà tan cửa nát. Lúc này, ngoài sao Thái Tuế (Mộc Tinh) chiếu mệnh, còn là năm nam gặp sao La Hầu, nữ gặp sao Kế Đô là hai ác tinh trong 9 sao hạn (Cửu diệu) hàng năm.

 12 con giap 'doi pho' sao xau nam ban menh - 1

Làm thế nào để may mắn trong năm tuổi

Theo truyền thống, có một số điều mà mọi người có thể làm để chống lại những điều không may mắn trong một năm hoàng đạo.

Sử dụng đồ màu đỏ

Màu đỏ là một trong những màu sắc may mắn nhất trong văn hóa các nước Á Đông, tượng trưng cho sự thịnh vượng, lòng trung thành, thành công và hạnh phúc. Màu đỏ có thể mang đến may mắn và xua đuổi linh hồn của quỷ dữ.

Do đó mặc màu đỏ trong năm hoàng đạo sẽ mang lại cho bạn may mắn. Bạn có thể đeo một chiếc thắt lưng màu đỏ, tất đỏ, giày đỏ, hoặc quần áo màu đỏ, và đồ lót màu đỏ. Bạn có thể đeo một chiếc vòng với dây chỉ đỏ trên tay để tăng thêm vận may cho mình.

Tuy nhiên, có một quy tắc mà bạn cần phải chú ý đến nếu không sẽ chẳng có tác dụng gì. Đồ may mắn của bạn không được tự mua cho mình mà nên được tặng bởi người yêu, người thân hay bạn bè.

12 con giap 'doi pho' sao xau nam ban menh - 2

Đeo ngọc

Bên cạnh việc mặc đồ màu đỏ, bạn cũng có thể đeo ngọc cầu an trong năm tuổi. Mặt dây chuyền, bông tai, nhẫn, vòng đeo tay,...với loại ngọc hộ mệnh cho con giáp của bạn sẽ giúp bạn tránh được nhiều tai ương.

Đặt tượng Thái Tuế

Mọi người thường nghĩ rằng Thái Tuế không mang lại may mắn. Trên thực tế, bạn có thể lợi dụng sao Thái Tuế để mang lại may mắn bằng cách xoay mặt theo hướng ngược lại. Vị trí của sao Thái Tuế cho mỗi năm được liệt kê dưới đây.

Con giáp Năm Vị trí
2020 Bắc
Sửu 2021 Đông Bắc
Dần 2022 Đông Bắc
Mão 2023 Đông
Thìn 2024 Đông Nam
Tị 2025 Đông Nam
Ngọ 2026 Nam
Mùi 2015 Tây Nam
Thân 2016 Tây Nam
Dậu 2017 Tây
Tuất  2018 Tây Bắc
Hợi 2019 Tây Bắc

Mọi người trong nhà có thể điều chỉnh hướng của giường, ghế, bàn làm việc,...xoay mặt ở hướng đối diện sao cho xa vị trí sao thái Tuế. Lúc nãy có nghĩa là "để có được Thái Tuế phía sau họ". Ví dụ, trong năm 2015, sao Thái Tuế là ở phía Tây Nam. Vì vậy, trong năm Ất Mùi, những người tuổi Dê điều chỉnh cho nội thất trong nhà xoay nhiều về phía Đông Bắc để có được may mắn. Khi làm một cái gì đó quan trọng, chẳng hạn như một cuộc đàm phán kinh doanh, người tuổi Dê phải ngồi xoay mặt về phía Đông Bắc. Lúc này, họ sẽ có nhiều cơ hội thành công.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: 12 con giáp 'đối phó' sao xấu năm bản mệnh

Những yếu tố không hợp phong thủy, mất tài lộc –

Theo phong thủy ngôi nhà bạn đang ở nếu gần các tòa nhà cao tầng, cầu vượt, khách sạn… sẽ dễ mang đến áp lực và ảnh hưởng đến tài lộc của bạn Ngôi nhà bạn đang ở nếu gần các tòa nhà cao tầng, cầu vượt, khách sạn… sẽ dễ mang đến áp lực và ảnh hưởng đ

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Theo phong thủy ngôi nhà bạn đang ở nếu gần các tòa nhà cao tầng, cầu vượt, khách sạn… sẽ dễ mang đến áp lực và ảnh hưởng đến tài lộc của bạn

Ngôi nhà bạn đang ở nếu gần các tòa nhà cao tầng, cầu vượt, khách sạn… sẽ dễ mang đến áp lực và ảnh hưởng đến khí lưu thông trong nhà. Về lâu dài, theo phong thủy nếu cứ sống trong ngôi nhà này, sức khỏe gia chủ sẽ kém dần, làm ăn gặp nhiều trở ngại.

Sống dưới tầng hầm

Rất nhiều ngôi nhà hiện nay đều thiết kế thêm vài phòng dưới tầng hầm, sâu trong lòng đất để tận dụng diện tích, nhưng ít ai ngờ điều này rất kị với phong thủy, dễ khiến kinh tế trong nhà đi xuống mà tình cảm vợ chồng cũng trục trặc.

Cách hóa giải trước mắt khi thiết kế những căn phòng dưới lòng đất như thế này, bằng mọi cách bạn tạo điều kiện cho ánh nắng mặt trời được rọi vào.

xay_nha_tiet_kiem

Đối diện cửa với nhà khác

Có rất nhiều khu chung cư mới hiện nay thiết kế cửa các nhà đối diện nhau, điều này cũng rất cấm kỵ, ảnh hưởng đến các mối quan hệ chung và mang cả sự may mắn của bạn ra đi.

Việc cần làm là bạn nên treo một cái rèm hay mành nơi cửa phòng của mình để ngăn chặn tạm thời tình trạng đối diện với nhau.

Cửa chính đối diện với cửa sổ

Có nhiều nhà gặp phải trường hợp này, mở cửa chính ra là đã nhìn thấy các cánh cửa sổ hay cửa phòng khác, điều này gây nhiều bất lợi cho gia chủ: ảnh hưởng cả sức khỏe, hôn nhân, sự nghiệp…

Cửa nhà bếp và nhà tắm đối diện nhau

Cách thiết kế này cũng khiến tài lộc trong nhà bị hao tổn nặng. Để hóa giải điều này, bạn hãy mua một cái rèm có hình hoa đào cho cửa nhà bếp.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những yếu tố không hợp phong thủy, mất tài lộc –

Vân Đài Loạn Ngữ

Một bài viết sưu tầm trên trang tuvilyso. Mời các bạn tham khảo.
Vân Đài Loạn Ngữ

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

A. Tóm tắt

Lời tựa của Trần Danh Lâm, tự Khiêm Trai, người làng Bảo Triện (Bắc Ninh), tiến sĩ khoa Tân Hợi 1691.

Vân đài loại ngữ chia làm chín quyển, phân loại rành mạch, nghị luận rõ ràng: Trên từ thiên văn, dưới đến địa lý, giữa là nhân luân, cái học cách vật, trí tri, thành ý, chính tâm, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ đều có đủ cả, có thể phát minh được nghĩa sâu xa của các bậc hiền thánh và bắc cầu chỉ bến cho kẻ hậu học. Sau Lục Kinh, và Luận Ngữ, Mạnh Tử, ông thật là người biết lập ngôn chăng?...

B. Nội dung

Lý Khí (54 điều)

1. Đạo Trời hư không, đạo Đất tĩnh mịch, người ta vừa hư vừa tĩnh mới hợp được với đạo Trời - Đất. Vì, hư thì tự minh, tĩnh thì tự định. Tâm có minh, tính có định, thì cái công hiệu tham tán trời đất mới là ở đó.

2. Đức của trời to lớn thay! Vạn vật nhờ ở trời mà bắt đầu, ấy là nói về Khí. Đức của đất mẫu mực thay! Vạn vật nhờ ở đó mà sinh nở ra, ấy là nói về Hình. Nói về trời đất, thì đều có hình có khí cả; nói về vạn vật, đều bẩm Khí ở trời mà thụ Hình ở đất.

3. Đầy rãy trong khoảng trời đất đều là Khí cả. Còn chữ "Lý" chỉ là để mà biện luận rằng đó là cái thực hữu chứ không phải hư vô. Lý không có hình tích, nhân Khí mà hiện ra, vậy Lý ở trong Khí. Âm Dương, cơ ngẫu, tri và hành, thể và dụng, thì có thể nói là đối nhau, còn như Lý và Khí thì không thể nói là đối nhau được.

4. Thái Cực là một, là một khí hỗn nguyên (lúc ban đầu hỗn độn). Từ Một sinh Hai, Hai sinh Bốn, thành ra vạn vật; thế thì Thái Cực vốn chỉ có Một.

Sách Đại Diễn dùng 50 cỏ thi để bói, mà chỗ Một thì bỏ trống không dùng để tượng trưng cho thái cực. Thế không phải là "thực", " hữu" thì là gì.

Khi mở ra khi đóng lại thì gọi là biến, qua lại khôn cùng gọi là thông; đóng lại là "không", mở ra là "có"; đi qua là "không", trở lại là "có"; cứ vậy "không" với "có" theo nhau, người và vật đều như vậy cả. Từ xưa đến nay Lý luôn luôn tồn tại, xem thế đủ biết trong chỗ hư không tĩnh lặng, nguyên vẫn có cái Lý ấy. Như thế mà Lão Tử lại bảo rằng "cái Hữu được sinh ra từ cái Vô" thì liệu có được chăng?

5. Phân tách ra mà nói thì Trời thuộc dương, Đất thuộc âm; dương chủ động, âm chủ tĩnh. Dụng của trời thường động nhưng Thể của trời vẫn tĩnh. Thể của đất vốn tĩnh nhưng Dụng của đất thường động.

Thể của Trời mà không tĩnh thì Tứ Duy (4 góc "tứ sinh", các cung Càn Khôn Cấn Tốn) sao được yên lặng vững bền, và Thất Chính (ngũ tinh & nhật, nguyệt) biết tựa vào đâu được. Dụng của Đất mà không động thì chỉ là một khối trùng trục mà sinh ý hầu như mất hết cả.

Trời thì Hình động và Khí tĩnh, đất thì Hình tĩnh và Khí động.

6. Liệt tử nói: Trời chỉ là Khí tích lại, không có định chỗ, không có hình tượng. Còn Nhật, Nguyệt và các tinh đẩu cũng chỉ là các Khí tích lại mà có ánh sáng đó thôi.

7. Kỷ Bá nói: Đất ở bên dưới người ta và ở giữa khoảng hư không, do có Khí lớn nâng lên. Như thế thì không những trời (khí dương) trong nhẹ mà nổi lên trên, mà đất (khí âm) cũng có thể nổi lên trên. Trời nổi thì bao bọc lấy cả nước và đất; còn đất nổi ở trên nước và ở giữa trời. Ấy là thuyết Hồn Thiên.

8. Sách Khôn dư đồ thuyết của người phương Tây nói: "Nếu không có Khí thì bầu trời là hư không, làm sao đất có thể lủng lẳng ở giữa hư không được?"

Sách ấy lại nói "Loài chim lấy cánh gạt gió mà bay, cũng như người lấy tay gạt nước để mà nổi lên". Cũng lại nói "người ta hướng vào chỗ không mà vỗ tay tất thấy tiếng vang, nếu ở trong đó không có Khí thì chắc chắn chẳng có gì để mà sinh âm thanh ấy được".

Sách ấy lại nói "Trong kho đang im lặng, không có tiếng, ta thấy trong luồng ánh sáng khe cửa có bụi bay lên bay xuống lung tung, chắn chắn là do Khí gây nên như thế".

Tôi kể ra vài việc ấy để chứng minh rằng Khí là có thực, thế mà một số người còn nghi ngờ cho là lạ!

Nay xét lại sách Thông Luận của Tiết Huyên đời Minh (1368-1643) có nói: "Phẩy cái quạt thấy có gió, thế đủ biết trong khoảng trời đất này không có chỗ nào là không có Khí". Sách ấy lại nói "Trong khoảng trời đất, bụi bay tơi bời không ngừng, không gián đoạn. Ấy đều do Khí sinh ra như thế. Xem ánh mặt trời chiếu qua cửa sổ thì biết". Thuyết này cũng giống như đoạn trên (thuyết của người phương Tây). Sách Tố Vấn cũng nói "Khi lên khi xuống, khi ra khi vào, ta thấy đâu cũng đều có Khí cả".

9. Dưới vòm trời, trên mặt đất, đều là gió với Khí cả, chỗ gần người không thấy gió vì nhiều vật ngăn trở và sinh khí làm tan đi. Lên cao vừa thì gió to vừa, càng cao thì gió càng to mà làm cho mọi vật trở nên ráo và cứng. Vả lại, như chỗ đất sâu dưới chân núi, nếu đào sâu xuống khoảng hơn 1 trượng (2m) mà lấy đất lên, lúc đầu còn thấy nó mềm và ướt, đem lên khỏi mặt đất thì khô cứng như đá, đấy chẳng phải là do nó gặp gió thì cứng và ráo lại đó sao?

Đứa hài nhi ở trong bụng mẹ chỉ là khối huyết bào, khi đẻ ra thì rắn chắc, cũng là lẽ ấy. Khí trên trời sa xuống, khí dưới đất bốc lên, những khí ấy đều là sinh ý của trời đất. Gió với khí quanh quẩn trong khoảng ấy, chứ chẳng phải là lúc động thì mới có còn lúc tĩnh thì không có đâu.

10. Khí trời đất vận động không gì mạnh hơn gió và sấm. Bão táp (cụ) là âm còn sấm sét là dương. Khi bão mới bốc lên mà có sấm thì bão tan vì âm bị dương át đi. Khi bão sắp tạnh thì chắc chắn có sấm cũng là dương làm tan âm đi.

11. Ở miền núi của Trung Châu ít sấm, vì đất nước ở đấy vừa sâu vừa dày, dương khí bền vững. Cho nên mùa Đông mà có sấm thì người ta coi là điềm lạ. Ở miền biển của Lĩnh Nam có nhiều sấm vì đất nước ở đây vừa nông vừa mỏng, dương khí phát tiết, cho nên mùa Đông có sấm là chuyện thường.

12. Khí táo (khô, ráo) sinh ra gió, gió tan thì trời sáng tạnh; Khí thấp (ẩm, ướt) sinh ra mây, mây bốc lên rồi làm thành ra mưa; đó đều là hòa khí tuyên dương. Khí thấp – táo lẫn lộn thì sinh ra sương mù, mà mù nhiều thì sinh ra chướng khí bốc lên, đó là độc khí uất tắc.

13. Chữ “Cụ” nghĩa là bão, trong nó thì một bên có chữ “cụ” nghĩa là đủ, tức là ý nói đủ cả bốn thứ gió đông, tây, nam, bắc. Nếu bão bắt đầu vào buổi sáng thì sẽ kéo dài tới 3 ngày, bão bắt đầu vào buổi chiều thì sẽ kéo dài 7 ngày, bão bắt đầu vào buổi trưa thì chỉ kéo dài 1 ngày. Lúc bão mới nổi lên, nếu gió từ đông bắc lại thì tất sẽ đi từ bắc sang tây. Nếu gió thổi từ tây bắc lại thì tất sẽ đi từ bắc sang đông. Rồi đều quay sang hướng nam mà tắt, gọi là “lạc tây” và “hồi nam”. Nếu không “lạc tây” không “hồi nam” thì 1 tháng sau lại có bão. Bão rất đúng giờ, nếu nổi ban ngày thì sẽ tắt ban ngày, nếu nổi ban đêm thì tắt ban đêm. Cụ phong là gió bất chính, là khí không thuận, thế mà còn có thường độ (mức độ - quy luật) như vậy!

14. Trời cao cách đất không biết mấy vạn dặm; môn thiên văn học đo lường ngang dọc thuận nghịch, thêm bớt nhân chia, chẳng qua cũng chỉ cần bỏ vào 1 nắm con toán mà biết đường đi của Thất Chính (Nhật, Nguyệt và các sao Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ) và Nhị Thập Bát Tú. Như thế chẳng phải là cái Thể thì to lớn, cái Dụng thì rất nhiệm màu, mà đường đi thì có phép “thường” (tính quy luật) hay sao? Nếu không “thường” thì sao được yên, nếu không yên thì sao được lâu dài?

Xem như gió là do Khí trời tụ lại, tán ra mà phát ra tiếng. Đời xưa có truyền lại các phép xem khí hậu, ấy là nói xem ở lục địa; còn như ngoài biển cả mênh mông không biết đâu là đâu thế mà các lái thuyền, chân sào cũng biết được ngày giờ nào không có bão thì cho thuyền đi. Như thế chẳng qua cũng do kinh nghiệm đó thôi. Trang Tử nói “Gió khởi từ phương bắc rồi sang phương đông hay tây, lại có khi lơ lửng bay trên không. Ấy ai thở ra hít vào như vậy, ấy ai ăn ngồi vô sự mà phe phẩy như vậy?” Lời nói đó có sở kiến chăng?

15. Phương Bắc nhiều âm ít dương, phương Nam nhiều dương ít âm. Cho nên ở phương Bắc trời chưa rét lắm mà nước đã thành băng, đó là vì dương thì tránh âm mà âm thì kết ở dưới vậy. Mùa đông rét, mưa tuyết là vì âm bức dương mà dương bị thúc lại ở trên.

Ở phương Nam, phần lớn âm khí bị tan ở dưới, cho nên nước không thành giá được. Phần lớn dương phát tiết ở trên, cho nên mưa không thành tuyết được.

16. Đất lấy thổ làm thịt, lấy đá làm xương, cây cỏ làm lông, sông ngòi làm mạch. Cây cỏ tươi tốt thì đó là Khí thịnh, sông ngòi đầy dãy thì đó là khí thuần, còn đất như mỡ và đá như vóc là vì có sinh khí rót vào. (Nếu) Cây khô già mà thấy vẫn còn mọc rêu, đá bị đập bị đẽo mà ở chân hòn đá tảng còn ướt thì do Khí của chúng chưa hề mất vậy.

17. Người ta cùng với trời đất là một gốc, suốt ngày cộng tác, ăn uống, càng cùng với khí đất chung đụng. Cho nên sách Gia Ngữ nói “Người sinh ở đất rắn thì tính cương cường, sinh ở đất mềm thì nhút nhát, sinh ở đất rắn đen thì tính tỉ mỉ, sinh ở đất nở thì người đẹp, sinh ở đất sưa mỏng thì người xấu”.

Sách Nhĩ Nhã nói “Người sinh ở đất Thái Bình (TQ) thì nhân hậu, sinh ở đất Đan huyệt thì khôn ngoan, sinh ở đất Thái Mông thì chắc chắn, sinh ở đất Không Động thì vũ dũng”.

Sách Hoài Nam Tử (Lưu An – Hoài Nam Vương) nói “Khí núi sinh nhiều con trai, khí đầm sinh nhiều con gái, khí nước sinh nhiều người câm, khí gió sinh nhiều người điếc, khí rừng sinh nhiều người yếu ớt, khí cây sinh nhiều người còng, khí đá sinh nhiều người khỏe, khí ở dưới thấp sinh nhiều người phù thũng, khí âm sinh nhiều người rũ tay chân, khí hang hốc sinh nhiều người có chứng tê liệt, khí đồi bốc lên sinh nhiều người cuồng, khí thoáng sinh nhiều người nhân (hậu), khí ở gò to sinh nhiều người tham, khí nắng sinh nhiều người yểu, khí lạnh sinh nhiều người thọ. Sinh ở nơi đất nhẹ thì người nhanh, sinh ở nơi đất nặng thì người chậm chạp, sinh ở nơi nước đục thì tiếng cười thô, sinh nơi nước chảy xiết thì người nhẹ, sinh nơi nước chảy chậm thì người nặng. Đất trung châu sinh nhiều thánh hiền”.

Thái sử tập đời Tống nói “Dân vùng rừng rú thì da xanh mà gầy là vì hấp nhiều khí cây, dân vùng biển sông đầm thì da đen nhuần vì hấp nhiều khí nước, dân vùng nhiều gò đống thì người lẳn mà dài vì nhiều hỏa khí, dân vùng bờ sông và đất phẳng thì khôn mà bướng vì nhiều khí kim, dân vùng ẩm thấp thì to béo mà bệu vì nhiều thổ khí”. Ấy là đều nghiên cứu vật lý (cái lý của vạn vật) đến cùng, cứ thế suy diễn ra thì không chỗ nào sai cả.

18. Nắng to thì nước nổi bọt vẩn đục 1 đêm, hễ nổi cơn gió bấc thì nước lại trong suốt muôn khoảng một màu biếc, ấy là do khí sinh ra thế. Ở chỗ núi tạnh trời đã lâu, mây khói mờ mịt, bỗng có trận mưa to làm tan nhạt hết, trời lại sáng ra và muôn cảnh đều đổi mới cả, ấy cũng là do khí. Đương lúc tối tăm, ai trông thấy mà chẳng phẫn uất, đến khi cơ trời chuyển vận, một lát trời lại trong sáng ngay, ai chẳng vui sướng; mà nào có biết đâu là trong đó có chứa biết bao sựu nhiệm màu! Cơ trời bĩ rồi lại thái, loạn rồi lại trị, chính là như thế.

19. Sấm sét vang động, gió mưa thấm nhuần, Nhật Nguyệt vẫn hành, rét rồi lại nực, phấn phát sự sinh dưỡng của vạn vật, vận động mở đóng đều là có việc cả. Suy xét cho đến cùng mà nói, chẳng qua chỉ có giản dị (thuộc tính của Dịch) mà thôi. Tính tình của trời đất, sự nghiệp của thánh hiền, đều không ngoài hai chữ giản dị ấy. Trong hai chương Thượng Truyện, Hạ Truyện đấng thánh nhân đã hai ba lần chú ý đến vấn đề đó. Vậy, bọn Nho ta theo đuổi sự học tập và đem áp dụng vào chính trị, sao lại thích làm sự hiểm lạ, chuộng phiền toái làm gì?

20. Khí rất thần diệu, rất tinh vi: Khí mà thịnh tất nhiên thư thái, khí mà suy thì phải co rút, xem nơi cây cối tươi hay khô thì biết. Khí trong thì thông, khí đục thì tắc, xem ở lòng người sáng hay mờ thì biết. Khí đầy thì lớn lên, vơi thì tiêu mòn, xem thủy triều thì biết. Hòa thì hợp, trái thì lìa tan, xem thời cục trị hay loạn thì biết.

21. Nhật thực có thường độ; nhưng việc người biến đổi cùng với nhật thực thường có liên quan. Người ta sắp làm điều bất thiện, gặp lúc mặt trăng đi vào triền độ chỗ ăn nhau, bèn che lấp mặt trời; đó là Khí của người động đến trời. Lại như, trời sắp mưa dầm, thì ngưòi nào bị đánh hay ngã bị thương, tất thấy đau buốt; đó là khí trời động đến ngưòi. Điều đó có thể chứng nghiệm rõ trời với người cùng một lẽ.

22. Sách Tịch thượng đàm của Du Diễm nói; "Muôn biết thời giờ âm dương nên phân biệt bằng mũi": hơi trong lỗ mũi, dương thưòng ở bên tả, âm thường ỏ bên hữu. Cứ đến giữa giờ Hợi, giờ Tý thì hai lỗ mũi đều thông, vì người ta cũng là một bầu trời đất nhỏ (nhân thân nhất tiểu thiên địa).

23. Sách Thiên đạo luận của Nhân Loan đời Chu có dẫn sách Tê khổ kinh,nói rằng: "Tròi đất đến kiếp vận bị cháy thiêu đi hết thì người và vạn vật không còn gì nữa". Sách ấy lại nói: "Đến lúc mạt kiếp, trời đất thay đổi, mặt trời, mặt trăng cùng các vì sao cũng không còn". Thuyết ấy cùng giống với thuyết "Tuất hội, Hợi hội" của Khang Tiết. Nhưng, những điều nói trong sách của Đạo giáo hoang đưòng không có căn cứ, chỉ có thưvết của Khang Tiết lấy hai quẻ "Cấu" và "Phục” suy tính là đúng.

24. Sách Trường lịch của Từ Chỉnh nói: "Trời đất hỗn độn như quả trứng gà. Bàn Cổ sinh ở trong ấy, thọ một vạn tám nghìn năm. Lúc khai thiên lập địa, Khí dương trong là trời, Khí âm đục là đất. Bàn Cổ ỏ trong đó, mỗi ngày biến đổi chín lần, ở trên trời là thần, ỏ dưới đất là thánh; mỗi ngày trời cao thêm một trượng, đất dày thêm một trượng, Bàn Cổ cao thêm một trượng. Vì đó, biết Bàn cổ sóng một vạn tám nghìn năm, trời rất cao, đất rất sâu, Bàn Cổ rất lớn. Sau đó kế đến Ba đời Hoàng (Thiên hoàng, Địa hoàng và Nhân hoàng). Số bắt đầu từ 1,lập ở 3,thành ở 5, thịnh ở 7,cùng cực đến số 9. Cho nên nói tròi cách đất 9 vạn dặm". Đó là thuyết hoang đường không thể tin được.

Còn như thuyết Nguyên Hội Vận Thế của Thiệu Tử thì lấy mấy quẻ Cấu, Phục, Kiền, Khôn trong đồ Tiên thiên (của Thiệu tử,theo quái hoạch Phục Hi), căn cứ vào chỗ sinh, tiêu, tiền, hậu, suy ra mà biết được.

25. Sách Quyết nghi yếu chú của Ngu chí đời Tấn nói: "Đời Hán Vũ Đế đào hồ Côn Minh rất sâu, chỉ thấy tro đen mà không thấy đất, cả triều đình không ai hiểu ra sao, mới đem việc ấy hỏi Đông Phương Sóc. Sóc tâu: ”Kẻ hạ thần ngu không biết được,xin thử hỏi đạo sĩ ở nước Tây Vực". Vua Vũ đê cho rằng Đông Phương Sóc còn không biết thì hỏi người khác cũng khó lòng biết. Đến đời Hán Minh đế có đạo sĩ ngoại quốc đến Lạc Dương, có ngưòi nhớ lời Đông Phương Sóc, bèn đem việc đào hồ thấy tro đen ra hỏi thử, thì người đạo sĩ ấy đáp rằng: "Trong kinh Phật có nói lúc trời đất sắp tan rã, thì lửa cháy thiêu hết, cái tro đen ấy là tro thừa của "kiếp thiêu”.

Cứ theo thuyết ấy thì trước đây một nguyên, mười hai hội (theo Hoàng cực kinh thế của Thiệu Khang Tiết thì 1 nguyên = 12 hội = 129600 năm), sao lại không có một lần trời đất biến đổi hỗn hợp, rồi sau lại khai sáng ra?

Chu tử nóí: "Thường thấy ở trên núi cao có xác sò hến, hoặc sinh ra ỏ trong đá, Đá ấy là đất cũ từ đời xưa; sò hến là vật ở trong nước. Vật ở dưới thấp biến làm ở trên cao, vật mềm lại biến ra rắn". Do việc đó mà suy nghĩ kỹ, thì nó có thế chứng nghiệm được lời nói trên.

26. Sách Tố vấn có bàn về Ngũ vận, Lục Khí. Chử Trừng bác thuyết ấy là không phải, ông cho là: "Nam, Tháng, Ngày, Giờ, kể từ Giáp Tí, Ất Sửu lần lượt mà tính; trời đất ngũ hành, rét, nắng, gió, mưa, thoăn thoắt biến đổi; ngưòi ta cảm phải cái Khí ấy sinh ra tật bệnh; Khí trời thay đổi không biết trước được, cho nên tật bệnh cũng khó dự định; Khí không phải cái mà ngưòi làm ra được,cho nên tật bệnh người ta cũng khó lường được; suy nghiệm phần nhiều bị sai, nên cứu chữa dễ lầm". Chử Trừng nói thế chưa hẳn là phải.

Riêng tôi thì cho là Khí của trời đất chẳng qua chỉ là âm, dương, ngũ hành mà thôi, xung khắc hay hòa hợp không đều, làm chủ hay làm khách thay đổi, coi giữ ngày tháng lưu chuyển trong tiết hậu, biến hóa rất nhiều, người ta cảm phải, chưa chắc đã ứng hết; nhưng đại khái không sai mấy. Xem ngay như chứng ôn dịch, tùy từng năm rét hay nóng, mà hình thể khác nhau. Lại như, cũng là một bệnh mà khi táo, khi thấp sinh chứng khác nhau. Như thế thì sao có thể bảo thuyết Khí vận là không nghiệm?

27. Từ khi chuôi sao Bắc đẩu chỉ hưóng Mão (tháng hai) chính là tiết Xuân phân,cho đến tiết Lập hạ, giữa tháng Tị (tháng tư), là lúc Thiếu dương quân hỏa làm chủ khí, tiết trời lúc ấy sáng sủa, là đức của vua chúa.

Từ khi chuôi sao Bắc đẩu chỉ vào hướng Tị (tháng tư) chính là tiết Tiểu mãn, cho đến tiết Tiểu thử vào giữa tháng Mùi (tháng sáu) là lúc Thiếu âm tướng hỏa làm chủ khí, tiết trời lúc ấy nóng dữ, là lúc tướng hỏa làm việc.

Từ khi chuôi sao Bắc đẩu chỉ vào hướng Mùi (tháng sáu) chính là tiết Đại thử, cho đến tiết Bạch lộ vào giữa tháng tám, là Thái âm thấp thổ làm chủ khí, tiết tròi lúc ấy mây, mưa nhiều, Khí ẩm thấp bốc lên.

Từ khi chuôi sao Bấc đẩu chỉ vào hướng Dậu (tháng tám) chính là tiết Thu phân cho đến tiết Lập đông vào giữa tháng mười, là lúc Dương minh táo kim làm chủ khí, tiết trời đến lúc ấy thì vạn vật đều khô ráo.

Từ khi chuôi sao Bắc đẩu chỉ vào hướng Hợi (tháng mười) chính là tiết Tiểu tuyết cho đến tiết Đại tuyết (vào giữa tháng mưòi hai) là Thái dương hàn thủy làm chủ khí, lúc ấy tiết trời rét quá.

Từ khi chuôi sao Bắc đẩu chỉ vào hướng Sửu (tháng mười hai) chính là tiết Đại hàn cho đến tiết Kinh trập (vào giữa tháng hai) là lúc quyết âm phong mộc làm chủ khí, tiết trời lúc ấy gió nhiều. Ấy là, mỗi một Khí tiết ở trong khoảng hơn 60 ngày, quanh khắp vòng trời, hết rồi lại quay lại.

28. Sách Thái bình quảng ký chép rằng "sách Luận hành nói: Kính Dương Toại để lấy lửa, kính Phương Chư đê lấy nước. Hai thứ kính ấy được chế ra theo hình thể khác nhau. Đúc kính Dương Toại phải chọn giờ ngọ, ngày bính ngọ tháng năm, luyện đá ngũ sắc mà làm hình như cái kính tròn, chiếu vào mặt trời thì lấy được lửa. Đúc kính Phương Chư thì chọn giò tí、nửa đêm ngày nhâm tí tháng 11, luyện đá ngũ sắc làm hình như cái chén đất, chiếu vào mặt trăng thì lấy được nước".

Sách Hoài nam tử nói: Kính Dương Toại chiếu vào mặt trời thì cháy và bốc lửa; kính Phương Chư chiếu vào mặt trăng thì ướt mà chảy nước, Sách ấy có chua nghĩa "Hai thứ kính ấy đều là tinh của đá ngũ sắc". Giữa khoảng trời đất huyền vi hoảng hốt, lấy một thứ vật trong tay đem chiếu lên trên không mà lấy được nước, lấy được lửa, đó là do sự cảm ứng của âm dương vậy.

Rượu là chất do người ta cất ra, thế mà hơi rượu cũng cảm ứng với mặt trời, vì trong đó có lý do. Sách Thái bình quảng ký chép: khi rượu cất được rồi, nước trong ở trên hũ thường chuyển theo phía mặt trời; buổi sáng thì trong ở góc đông; buổi trưa thì trong ở góc nam; khi mặt trời xế về chiều thì trong ỏ góc tây; nửa đêm thì trong ở góc bắc. Còn nước rượu trong luôn cả ngày thì không theo hướng mặt trời.

29. Phùng Triệu Trương làm sách Cẩm nang bí lục, nói: "Nhà làm nghề đánh cá sinh con tất phần nhiều có gân xương cứng rắn, vì trong khi có mang, mẹ rét con cũng rét, mẹ nóng con cũng nóng, đứa hài nhi đã từng trải gió sương, nắng nóng từ lúc còn ỏ trong bào thai. Khi nó đã được sinh ra, da thịt dày dặn, gân xương cứng rắn, tà Khí không nhiễm vào được". Thuyết ấy rất phải, vì khí còn luyện mà bền được, huống chi là tính. Cổ nhân dạy con từ trong thai, cũng là nuôi con thành tính tốt đó.

30. Ngưòi ta lúc ngủ say, hễ gọi thì tỉnh ngay; đó là Khí gọi thần hồn về. Trong lúc chiêm bao, phàm những sự gặp gỡ, nói năng, làm lụng, mừng giận khi tỉnh dậy nhớ hết cả; đó là thần động đến khí. Thần và Khí của người ta thường như thế, thì đủ biết thần và Khí của trời đất từ xưa đến nay vẫn lưu thông, không chỗ nào là không thấy có; cho nên bậc hiền đời xưa có nói rằng: "Thiên tri, địa tri” (trời biết, đất biết) là thế đó.

Lòng ngưòi bao la rộng rãi,trên thông cảm được trời đất, giữa trắc lượng được quỉ thần, dưới xét được muôn vật. Sự huyền diệu của ”tướng” và ”sô'",tản ra Hình Khí, từ chỗ không ra chỗ có, từ chỗ có vào chỗ không, trong khoảng mờ mịt hay sáng tỏ đều là đạo cả. Lòng có ngay thẳng mớí biết được đạo, mới thấy biết được cơ vi; thấy biết được cơ vi mối làm được mọi việc; làm nên được mọi việc mới thông đạt quyền biến. Người ta tạo ra vận mệnh, chứ không phải vận mệnh tạo ra người. Cái lẽ trời với người hợp nhất, chẳng qua như thế.

31. Kinh Dịch nói: “Người nhân thấy Đạo thì gọi nó là nhân; người trí thấy Đạo thì gọi nó là trí. Đạo là những điều hàng ngày nhân dân thường dùng, mằ không biết”.

Âm phù kinh nói: “Của cải và tư cơ của nó, thiên hạ không ai biết, không ai thấy. Người quân tử nắm được nó thì chịu kiên trì trong cảnh cùng khổ; kẻ tiểu nhân nắm được nó thì xem nhẹ mạng trời”.

Ý nghĩa lời nói ấy cũng là một. Cái nghĩa lý sâu xa đối nhất của Lý và Khí đã tóm hết ở trong ấy. Cái hiệu dụng đóng hay mở, quyền cổ vũ tinh vi mà bậc thánh nhân được trời trao cho, bậc thánh nhân lấy đó mà thuận theo đạo trời, làm nên muôn vật (việc) hoàn thành muôn hóa, định muôn dân, khuất phục muôn nước.

32. Chu tử nói: “Co duỗi, đi lại, là khí: Khí của người với của trời đất là cùng liên tiếp với nhau, không đứt quãng. Người ta động lòng thì động đến khí, cùng cảm thông ngay với cái Khí ấy, mà Khí ấy do co duỗi đi lại ấy mà cảm thông. Xem như việc bốc phệ (bói toán) hễ trong lòng nghĩ đến việc gì là vẫn đã có nó, chỉ cần nói động đến cái mình muốn là nó ứng ngay”.

Chu tử lại nói: "Người ta bẩm thụ Khí ngũ hành của trời đất, thì Khí ấy phải qua khắp thân thể người. Nay lấy Can Chi ngũ hành để suy tính số mệnh người, cũng như nhà địa lý (phong thủy) suy chọn phường hưổng của rừng núi, hợp hay là trái, cũng cùng một lẽ”.

Riêng tôi cho rằng, hợp cả hai thuyết ấy mà xem thì Chư tử không những chỉ trọng bốc phệ mà cả đến số mệnh, hình tượng cũng không bỏ qua. Những kẻ hiếu biện thường bác bỏ hai thuyết ấy, nhưng xét ra cũng có quan thiết với Lý, Khí, không nên lơ là.

33. Theo thuyết của nhà địa lý học (phong thủy), những người biện sĩ phần nhiều họ không tin (thuyết Lý Khí), vì họ cho là những vật đã hủ nát biến hóa đi rồi thì không biết gì nũa. Nói cho đúng, người ta với trời đất cùng một nguồn, cùng một mạch với tổ tiên. Sinh Khí của trời đất thường được thông, thì tự nhiên có thể tư nhuận được xương khô; tinh thần của tổ khảo thường được tụ, thì tự nhiên có thể giáng phúc cho con cháu.

Thanh Ô Tử (một nhà phong thủy) nói: “Tinh thần (của tổ tiên) trở về nhà, hài cốt trở về đất", Thế nghĩa là: Khí lành cảm ứng, quỷ thần giáng phúc cho người. Lý ấy rất rõ. Người lại nói: “Có Khí ở trong, (vạn vật) mới phát sinh được, còn Khí ngoài thì làm cho thành hình; trong với ngoài giao hòa nhau thành ra phong thủy (địa lý)".

Xem mấy điều ấy, không còn ngờ gì nữa.

34. Hoành Cừ vốn không tin phong thủy, nhưng người lại nói: "Người phương nam tin dùng thuyết Thanh nang kinh (pho sách phong thủy) còn có thể tin được. Họ thử đất huyệt táng tốt hay xấu, họ dùng chỉ (lụa) ngũ sắc đem chôn xuống đất độ mấy năm, rồi đào lên xem. Hễ đất tốt thì sắc chỉ không phai, đất xấu thì sắc chỉ biến màu hết. Họ lại cũng lấy đồ đựng nước, đem thả cá con vào nuôi, rồi chôn xuông đất vài năm, hễ cá sống thì là đất tốt, cá chết thì là đất xấu".

Cho nên xem cây cỏ tươi hay héo cũng biết được đất tốt hay xấu.

35. Ngày giờ có ngày tốt, ngày xấu; nếu cứ mập mờ mà không kén chọn tất có khi gặp ngày giờ bất lợi; nhưng cũng không sao, vì mình vô tâm. Người đã vô tâm thì không liên quan với quỉ thần. Nếu đã có xem ngày thì phải chọn cho cẩn thận, ngày tốt thì dùng, ngày xấu thì tránh. Nếu đã biết là ngày xấu mà cô ý phạm thì quỉ thần sẽ phạt.

Kinh Dịch nói: Thần đạo không tác động gì, không nghĩ ngợi gì, im lặng không động, có cảm thì mới thông. Việc thiên hạ, nêu không cảm thì sao có ứng. Phép bói bằng cỏ thi hay phép bói bằng mai rùa cũng đều đợi sự vật (việc) có đến thì mới có ứng. Ví như cái gương, không soi thì không thấy gì.

Các phép bói khác cũng thế.

36. Đạo Dịch biến động luôn luôn, không ở một chỗ, đi khắp lục hư (4 phía và trên dưới, hoặc nghĩa khác là 6 hào của quẻ Dịch) lên xuống không thường (không quy luật), cho nên có thể cùng tận được sự mầu nhiệm của lý số. Lý ngụ ở khí, số do ở Lý, lý số ở tâm sinh ra mà tác động đến mọi việc, đó là sự xô đẩy của khí.

Có yên định rồi sau mới lo, lo rồi sau mới được, đó là sự tài thành (làm nên) của khí. Việc đến thì đón lấy để biết ngay từ trước; việc đã qua thì theo dõi để xét về mãi sau; chỉ có đạo Dịch mới thế được. Xưa nay, trị, loạn, thay đổi đều do ở người; những điều người làm đều là những điều trời làm. Khí hòa thì lành, lành thì có điềm hay; Khí trái (gở) thì ác, ác thì có điềm gở”. Hòa hay trái đều có thời đã định mà đến với ta: cho nên đạo Dịch không ngoài một chủ Thời.

Khí có “Cơ” (then máy), nhân ở “Cơ” thấy thời. Khí nào "Cơ” hòa báo trước thì các điều thiện hợp lại làm được các việc thiện, tâm thông, chí đồng, không khó nhọc mà bình trị được. Khi nào "Cơ” trái báo trước, thì mọi điều ác xúm cả lại, làm cho tâm chí chống chọi nhau, mọi việc tơi bời, không phải một người có thể cứu vớt được.

Cho nên, biết Dịch quí ở chỗ biết đạo đầy vơi, tiêu mòn hay nẩy nở, lành hay dữ, hối hay lận, tiến hay thoái, còn hay mất, mà cốt yếu ở chỗ không mất chính nghĩa.

37. Sách Dĩ ngược biên nói: "Về thuật xem sao để đoán số mệnh thì có sổ Tử Bình, số Ngũ tinh và số* Tử vi tiền định. Các sĩ phu thích xem số Tử Bình vì nó ám hợp với lý, nó đoán cho người ta biết số giàu sang, nghèo hèn, phần nhiều được đúng. Nghe như Từ Tử Bình là một ẩn giả, người đời Ngũ quí thường cùng với Ma y đạo giả là Trần Đồ Nam, và Lã Đồng Tân cùng ẩn ở núi Hoa Sơn. Thế thì Tử Bình cũng là một người khác thường vậy.

38. Sách Tử vi đẩu số theo bài tựa của La Luân nói, mới được của Tăng Liễu Nhiên ở núi Hoa Sơn truyền cho. La Luân lại tự xưng là cháu xa đời của Hi Di (Trần Đoàn tức Đồ Nam). Nhưng xét trong sách Hoạch mạn lục của Trương Thuấn Dân, đời Tống, thì Hi Dí chỉ có sách Nhân luân phong giám lưu hành ở đời bấy giờ, là sách mà hậu nhân góp nhặt những lời nói của người làm thành ra; không nói gì đến sách Tử vi đẩu số cả. Những lý số nói trong sách Tử vi đẩu số ấy cũng hẹp hòi, hẳn là hậu nho gán nó cho của Hi Di, không phải là bản thật. Nếu quả là sách Hi Di, thì sao từ Tống đến Nguyên, trong khoảng bốn, năm trăm năm, không truyền ra đời, mà mãi đến đời Minh mới thấy xuất hiện? Những người hiểu biết nên xét kỹ lại.

39. Sách Giáp ất thặng của một nho giả đời Minh nói rằng: “Ở Kinh đô có bản sao sách số Tiền định, bàng lối thơ thất ngôn lòi lẽ quê mùa, giống như kẻ nhắm mắt nói mò ở chỗ chợ búa đời nay. Trong sách đó nói đủ các việc về cha mẹ, vợ con, anh em, sang hèn, ai nghe cũng kinh hãi cho là thần dị, dù các bậc công khanh (quan to trong triều) cũng đều tin phục, cho là Thiệu Nghiêu phu phục sinh! Có biết đâu sách ấy là của một ông thầy bói ở Kinh đô soạn tập để lừa bịp người ta: hắn dò la ngày sinh tháng đẻ và lý lịch của người ta, rồi chép sẵn thành tập, khiến người ta tự tra tìm được sang hèn, thọ yểu, khiến người ta kinh hãi đó thôi!” Nói thế rất đúng, vì trời phú mệnh cho mồi người một khác, lẽ nào chỉ đem năm nào, giờ nào ra mà tham hợp phán đoán rồi lấy một vài câu ca, định dược lành dữ, họa phúc của thiên hạ. Không nói gì văn lý thô bỉ, mà đến cả cách đoán số mệnh cũng chưa thấy ai nói lỗ mỗ như thế bao giờ! Nhưng trong sách nói đến danh lợi được hay mất, tính Khí hoãn hay cấp đường đời hiểm hay bằng, phúc đức hậu hay bạc của người ta, đều là những câu nói đầu lưỡi, người đời không chịu suy xét, cho ngay là thực mà vội quá tin.

40. Sách Thạch lâm yến ngữ nói: 'Tống Thái Tổ khi còn hàn vi, thường vào miếu thờ Cao Tân, thấy trên hương án, có một bộ chén tre xem bói, nhân lấy xuống để bói xem danh vị của mình ngày sau thế nào”. Người đời thường cho là, khi gieo quẻ thấy một cái chén sấp, một cái chén ngửa (tức là xin âm dương), gọi là thanh hào.

Sách Tính lý gia lễ nói, ngày xem bói, phải đốt hương rồi hơ bộ chén ấy vào khói hương, khấn xong gieo quẻ xuống mâm, hễ thấy cái sấp cái ngửa là tốt.

Ngày nay gọi bói thế là xin âm dương cũng vậy.

41. Sách Tựu nhật lục nói, Đào Tiềm có nói: "Trước mặt người ngây (si) không nên nói chuyện mộng; trước mặt người trí thức (đạt lý) không nên nói chuyện mệnh; phàm người ta có bụng càn dở thì bị ngũ hành làm mê hoặc, có bụng thiên tư thì bị quỉ thần kiềm chế". Nhời nói ấy rất đúng. Khi mơ mộng, điều gì trông thấy đều ảo cảnh (hão huyền) chưa hẳn tin cả được; nhưng cũng có khi sự lành sự dữ được báo cho biết trước, linh nghiêm như tiếng vang, một lời chiêm đoán, quỉ thần đã ứng ngay, quan hệ không phải là nhỏ. Nếu đem chuyện mộng nói với người ngây, lỡ họ đoán càn, tất sinh ra việc không hay. Đến như mệnh số là sự huyền diệu, người bậc trung trở xuống vị tất đã hiểu thấu được.

Sách Luận ngữ có nói: Đạo hưng hay suy đều do ở mệnh. Nghiêm Quân Bình xem bói ở chợ đô thị chỉ bảo người ta lấy điều trung hiếu. Người thường không biết sửa mình, chỉ mơ màng vào sự ích lợi mà khổ tâm cầu cạnh, không được thì đổ cho tại số" mệnh mà không xét lại mình; đối với người hiểu biết mà nói, chỉ tổ cho người ta cười.

42. Việc ở trên trời, không tiếng không hơi, nhưng khi giáng lâm rất chói lọi, mệnh lệnh không thường, mà việc lớn việc nhỏ đều định trước cả. Cái thuyết tiền định, cổ nhân đã từng nói. Những điều mà ta thấy trong Kinh, Sử; thì trên từ Vương, Công, dưới đến làng nước (nhân dân), hoặc mộng, hoặc bói, cùng là câu hát của nhi đồng, lúc mới nghe có vẻ như huyền hoặc, nhưng sau đều thấy ứng nghiệm. Ấy là Số nhưng cũng là Lý.

Sách Tả truyện chép, khi vua Thành Vương nhà Chu đóng đô ở đất Giáp Nhục, bói xem nhà Chu sẽ tồn tại được bao lâu, thì bói thấy được 30 đời và 800 năm, thế mà Vương nghiệp nhà Chu được quá lịch số đã định trưóc.

Ý Thị nước Trần bói, được câu ”Hữu vỉ chi hậu, Tương dục vu khương, Ngũ thế kì xương, Tịnh vu chính khanh, Bát thế chi hậu, Mạc chi dữ kinh"; nghĩa là: "Con cháu họ Hữu Vỉ nước Trần sẽ sinh dục ở họ Khương (nước Tề), đến năm đời thì phồn thịnh, đều làm đến chính khanh. Sau tám đời thì không ai đọ được”. Quả nhiên về sau Trần Kinh Trọng chạy sang nước Tề, rồi con cháu thôn tính nước Tề.

Thúc Tôn Trang Thúc nước Lỗ bói xem con trai là Báo sau này ra sao, bói được mấy câu sau này: “Tương hành nhi qui chủ tự, dĩ sàm nhân nhập, kỳ danh viết Ngưu, tốt dĩ trấm tử. Nghĩa là: Sắp đi mà lại quay về chủ việc tế tự, nghe đứa xiểm nịnh, tên gọi là Ngưu, rồi đến chết vì kẻ nói gièm” về sau quả nhiên như thế.

Hoàn công nước Lỗ xem bói thấy đẻ con trai, tên là Hữu phò giúp công thất. Đến khi sinh, trong bàn tay đứa bé quả có chữ Hữu, lớn lên làm đến chính khanh, đời đời cầm vận mệnh nước.

Bà Ấp Khương nhà Chu mới có mang, Thái Thúc nằm mộng thấy Thượng đế bảo rằng: “Ta cho ngươi một đứa con, đặt tên là Ngu sẽ phong cho đất Đường, thuộc về phân dã sao Sâm, con cháu sẽ phồn thịnh”. Đến lúc đẻ ra, tay đứa bé quả có chữ Ngu, rồi vua Thành vương phong làm Đường hầu, đời đời làm minh chủ các nước hoa hạ (Trung Quốc); hoa hạ là các nước có văn hóa ỏ Trung Châu so với Man Di.

Khổng Văn Tử nước Vệ nằm mộng thấy Khang Thúc bảo mình nên lập con là Nguyên (Bấy giờ Nguyên chưa đẻ) rồi ta sẽ sai cháu của Cơ là Khổng Ngữ và Sử Cẩu giúp việc cho. Sử Triều cũng nằm mộng thấy Khang Thúc bảo mình: "Ta sẽ sai con nhà ngươi là cẩu và Khổng Ngữ giúp Nguyên”. Sau người thiếp yêu của Tương công đẻ con đặt tên là Nguyên, nối ngôi, Cẩu và Ngữ đều làm thượng khanh.

Nàng hầu Trịnh Văn công tên là Yến Cật, nằm mộng thấy sứ trời cho một cành lan và bảo rằng “Đó là ta cho mày làm con”Sau nàng ấy đẻ con đặt tên là Lan, tức là Trịnh Mục công, con cháu phồn thịnh.

Có người nước Tào nằm mộng thấy: Một bọn công tử đứng ở cung mới bàn mưu làm mất nước Tào; Tào Thúc, Chấn Đạc bàn xin đợi, Công Tôn Cương bằng lòng đã. Đến khi Tào Bá Dương lên ngôi, Công Tôn Cương là người nước Trịnh làm quan Tư thành cầm quyền chính, bội nước Tào mà thông với nước Tống, nước Tống bèn diệt nước Tào.

Đời Hiến công nước Tấn, trẻ con thường hát rằng: ”Bính chi thìn, long vĩ phục thìn, quân phục chân chân, thủ Quắc chi cân; thuần chi bôn bôn, thiên sách đôn đôn; hỏa cân thành quân, Quắc công kỳ bôn”. Nghĩa là: Sáng ngày Bính Thìn, mặt trời mặt trăng gặp nhau ở phân dã sao Vĩ, cho nên sao Vĩ không hiện; quân đội ăn mặc một màu, trông rất oai vệ, đi lấy cờ cân của nước Quắc. Sao Thuần nhấp nháy sao Thiên Sách tờ mờ, sao Hỏa cân thì nên quân, Quắc công phải bỏ nước chạy, về sau Tấn Hiến công đánh nước Quắc, ngày tháng đúng như lời đồng dao trên đây.

Đời Văn Công nước Lỗ, trẻ con hát rằng: “Cồ dục chi vũ, công tại ngoại dã, vãng quĩ chi mã; cổ dục thù thù, công tại Can hầu, trưng kiến dữ nhu; cồ dục lai sào, viễn tai dao dao, Trù phủ táng lao, Tống phủ dĩ kiêu”. Nghĩa là: “Cánh chim sáo tung bay, Chiêu công ở ngoài đồng, tặng công con ngựa. Chim sáo nhảy nhót, công ở Can hầu, đòi xiêm (quần) cùng áo cánh; chim sáo làm tổ, xa lắc xa lơ. Trù phủ (Chiêu công) nhọc nhằn, Tống phủ (Định công) kiêu căng”. Rồi sau, quả có giống chim sáo đến làm tổ ở nước Lỗ, Chiêu Công (Trù Phủ) bỏ nước chạy, Định Công lên nôi ngôi, đúng như lời trẻ hát.

Cuối đời Chu Định Vương, có người nước Tấn bị yêu giáng, nói: “Chu kỳ hữu tỳ vương, diệc khắc tu kỳ chức chư hầu phục hưởng, nhị tế cung chức vương thất, kỳ hữu gián vương vị, chư hầu bất đồ nhi thụ kỳ loạn tai". Nghĩa là: Nhà Chu có ông vua, sinh ra đã có râu, cũng làm trọn chức vụ, chư hầu đều phục theo hai đời cung chức nhà Chu; có kẻ dòm ngôi vua, chư hầu không nghĩ đến, mà chịu tai loạn. Về sau, quả nhiên vua Linh Vương sinh ra đã có râu, mà chư hầu đều kính mến; con là Cảnh Vương cũng được trọn đời (ứng vào câu nhị thế...). Đến khi Kinh Vương lên ngôi thì Vương Tử Triều quả nhiên tiếm vị (ứng vào câu gián Vương vị) bị đánh bại chạy sang nước Sở.

Sách Sử ký chép: “Mục công nước Tần bị bệnh quyết (bệnh chân tay lạnh buốt) ngủ suốt năm ngày, khi mới tỉnh dậy, nói rằng: Ồng nằm mộng thấy đấng Thượng đế sai ông bình loạn nước Tấn. Rồi sau, quả nhiên ba lần Mục công lập vua cho nước Tấn.

Cuối đời Tuyên Vương nhà Chu, trẻ con hát rằng: ”Yểm hồ, cơ phục, thực vong Chu quốc”. Nghĩa là: Cung làm bằng gỗ dâu trên núi, túi đựng tên làm bằng gỗ cơ, thực làm mất nước nhà Chu. Đến sau quả nhiên có hai người bán hai thứ cung và bao tên ấy, vua sai bắt, thì họ chạy sang đất Bao, nhận nuôi nàng Bao Tự, tiến cho U Vương gây nên cái họa ở Ly Sơn.

Căn cứ nhũng việc kể trên mà nhận định, thì không những số vận lớn của nhà nưóc, hưng hay suy, mà phận mệnh thường của sĩ phu, cùng hay đạt, cũng được dự định ở trong chỗ u minh. Đến cả như họ tên, tướng mạo, đi đứng, động tĩnh cũng đều có định trước, không phải người ta được tự do muốn sao được vậy.

Sách Trung dung nói: "Đạo chi thành có thể biết trước được". Nhà nước sắp thịnh, tất có điềm lành; nhà nước sấp mất, tất có điềm dữ (yêu nghiệt), hiện ra trên quẻ bói thi hay bói rùa (thi qui), động ở chân tay. Họa phúc sắp đến, điềm lành hay không lành tất nhiên biết trước, vì một điểm linh tâm của người, quỉ thần đã cảm thông mà báo cho biết trưóc.

Cuối đời Tây Hán, các thuật sĩ truyền lại các sách Sấm Vĩ, sách ấy đoán nhà Hán sẽ lại phục hưng chép rõ tên vua Quang Vũ. Lại nói: ''Vận mệnh họ Xích Lưu đến đời thứ 9 (từ Hán Cao tổ đến Quang Vũ là 9 đời) lại thụ mệnh ở núi Đại Tông” (Thái Sơn), sách Sấm Vi nói thế thực là rõ rệt. Những người thông thái biết trước xét sau làm ra sách vở để dạy đời sau, vẫn có nhiều điều nói đúng. Duy các vua chúa thì nên giữ gìn lòng thường, đức thường không nên nói những điềm lành và thuật sô để thêm sự ngu hoặc cho dân chúng. Cho nên Lý Nghiệp Hầu nói rằng: "Người thường còn có thể nói về số mệnh trời được; đến như vua chúa và tể tướng thì không nên nói đến”.

Đó chính là Lý.

43. Trong khoảng vũ trụ chỉ có một Lý mà thôi; cái gì người ta thường thấy thì tin, cái gì chưa thấy bao giờ thì ngờ.

Sách Trúc phả của Đái Khải Chi đòi Tấn nói: "Trời đất vô biên, thương sinh vô lượng. Ngưòi ta nghe-thấy cái gì, nhân theo nếp cũ mà làm rồi mới biết”. Nói thế không đúng. Nếu cái gì mà tai không nghe thấy, mắt không trông thấy đều cho là không phải, chẳng hóa ra là ngu xuẩn lắm ru!

Sách Gia huấn của Nhan Chi Thôi đời Tề nói: "Vua Vũ đế không tin có thứ keo có thể nối liền được dây cung; Ngụy Văn hầu không tin rằng lấy lửa giặt được vải, người rợ Hồ thấy gấm mà không tin có thứ sâu ăn lá cây nhả ra tơ, tơ ấy dệt thành gấm. Xưa kia ở đất Giang Nam, người ta không tin có thứ màn bằng chiên có thể để cho hàng nghìn ngưòi nầm vừa; đến khi tới Hà Bắc lại không tin có thứ thuyền chở được hai vạn thạch (hộc).

Đó là chứng cớ rõ ràng.

Lấy thuyết ấy mà suy, ta có thể biết rằng sự vật không thể biết hết được. Trên từ bầu trời, dưới đến bờ cõi, có hình có tượng, quái lạ muôn vẻ, lấy ý mà lường thì uổng phí tinh thần, lấy lời nói mà biện bạch thì thêm điều miệng lưỡi đến chỗ thực tế thì không ăn thua gì cả.

Cho nên cái học của người quân tử chỉ noi theo lẽ thưòng mà thôi.

44. Người đời xưa bảo: ở biển Nam, Bắc, Đông, Tây có thánh nhân ra đời, bụng ai cũng nghĩ như nhau, cũng lý luận như nhau. Quốc vương nước Hồi Hồi là Mặc Đức Na dựng nước vào đời Khai hoàng nhà Tùy, có làm ra một pho sách dạy làm lịch và xem thiên văn. Người các nước Âu La Ba (Europe) ở Tây dương như Lợi Mã Đậu (tên giáo sĩ Mateo Ricci) Nam Hoài Nhân (giáo sĩ Ferdinandus Verbiest) và Ngải Nho Lược (Guiles Aleni) có sang Trung Quốc vào đời Vạn Lịch nhà Minh. Họ đàm luận về trời đất một cách sâu sắc mới lạ vô cùng, lý luận chính trị và lịch pháp của họ cũng có nhiều điều mà tiền nho ta chưa tìm ra nói ra được. Tuy tiếng nói và chữ nghĩa của hai bên không thông hiểu nhau, nhưng nghĩa lý uẩn súc ở trong tâm thân, tài thức đầy đủ về học hỏi, thì không khác gì với Trung Quốc.

45. Học thuyết của tiên gia, chuyên nói về luyện Hình; học thuyết của Phật gia, chuyên nói về luyện Thần. Hình với Thần đều nhờ có Khí mới đứng vững được: Khí tụ thì đạo mới thành, Khí tán thì đạo không thành. Lấy mặt trời, mặt trăng làm thí dụ: Tiên gia thì như chất của nó, Phật gia thì như bóng của nó, chất đi ở trên không, hạn là có; bóng tan ở trong nước, hẳn là vẫn còn.

46. Trương Trạm đời Tấn, làm bài tựa sách Liệt tử có nói: “Đại lược sách ấy nói rõ mọi tồn tại (hữu) đều lấy chỗ rất hư không làm chủ; mọi phẩm vật đều lấy chỗ tiêu diệt hết làm thể nghiệm; thần tuệ thì lấy ngưng tịch mà thường toàn, tưởng niệm thì lấy chấp nê vào vật mà tự nhiên hỏng mất; còn những tri giác và hóa mộng thì ý nghĩa cùng tham bác với kinh Phật”.

Thật đúng như vậy. Xem trong Liệt tử có chép chuyện Lâm Loại đáp Tử Cống rằng: “Cái chết với cái sống một đàng đi một đàng về; chết ở nơi này, biết đâu chẳng sinh ra ở nơi kia”. Vậy thuyết luân hồi đã có từ trước đời Hán, chứ không phải mới thấy trong kinh Phật (Trúc điển). Thánh nhân (Khổng Tử) không nói đến việc thần quái, ngài lại nói: "Chưa biết sự sống, sao biết sự chết?”. Vậy những thuyết về loại sống, chết ấy hãy cứ để đó mà không bàn đến cũng được.

47. Kinh Phật có thuyết Luân hồi mà nhà Nho thường không tin; nhưng xưa nay những sự mà người ta tai nghe mắt thấy, ghi chép cũng nhiều, thì không kể hết được, thực ra không phải không có lý ấy. Khổng Tử nói: “Đức quỉ thần rất thịnh, trông không thấy, lắng cũng không nghe, mà rờn rợn như ở trên, như ở bên tả bên hữu". Thuyết âm ti địa giới tựa như hoang đường, nhưng tóm lại là do ở sự huyền bí của tạo hóa sự chia cách giữa âm dương làm cho người ta không trông thấy, không nghe thấy đó mà thôi. Lúc tế lễ, quỉ thần giáng lâm, thể phách tuy tán đi, nhưng thần thức vẫn còn tụ lại. Những chuyện bẩm thụ hình thể, đầu thai làm người, nói trong kinh Phật, cũng là thần thức đó thôi.

Tinh mặt trời, mặt trăng giáng xuống thành nước lửa, khí nước lửa bốc lên thành sấm gió, diệu dụng biến hóa của trời, đất, đi đi lại lại không lường được, huống chi là người ta.

48. Bộ sách Tả truyện chép nhiều việc thần quái, như là Cung Thái Tử nước Cung thác vào lời đồng bóng quở phạt Huệ công, tức là thuyết “Thiên Tào phán sự". Trung Hằng Yên nằm mộng thấy kiện nhau với Lệ Công tức là thuyết "Địa ngục câu đối”. Tề hầu nằm mộng thấy con lợn to, Tấn hầu nằm mộng thấy con là ác quỉ, cùng với việc Lương Tiêu và Hồn Lương Phu làm ma về quấy, tức là thuyết "Oan quỉ đến báo thù”. Tử Dư đem mộng ra nói để bảo tồn cho Hàn Quyết. Một ông lão nhờ Ngụy Khỏa gả chồng fho con gái mình mà kết cỏ đền ơn đó là Khí với mạch của hai ngưòi cùng cảm thông với nhau. Vệ hầu nằm mộng thấy Khang Thúc cho biết Đế Tướng cướp mất sự hưởng tự, Tấn hầu nằm mộng thấy ông Cổn nhà Hạ (Bố ông Hạ Vũ) hóa làm con gấu vàng vào cửa phòng ngủ. Thế thì những người tiên viễn (tiền bố rất xa xưa) cũng còn để lại có bóng cái vang. Những việc cũ đời Chu, nay còn khảo sát được cả.

Trong khoảng vũ trụ, âm dương, tối sáng, tuy khác đường, nhưng tình vẫn là một, lẽ ấy thực có.

49. Kinh Dịch nói: Tinh Khí là vạch, Du Hồn là biến, thế cho nên biết được tình trạng của quỉ thần. Nghĩa chữ “quỉ” là khuất (co lại), nghĩa chữ “thần” là thân (duỗi ra). Co mà hay duỗi, vì thế thiêng liêng mà làm thần. Cho nên Lão Tử nói: ''Lấy đạo mà trị thiên hạ, quỉ sẽ không thiêng là nói âm với dương, tối với sáng, đều có định vị, không xâm lấn nhau".

50. Thánh nhân biết rộng, không gì là không xét rõ. Xem như sách Khổng Tử gia ngữ chép những chuyện sau này:

Tiết chuyện xa là biết được bộ xương chở đầy xe (Chuyện này thuật trong chương Biện Vạt: Lúc Ngô Phù Sai đem quân đánh nước Việt, phá núi Cối Kê, gặp một bộ xương phải chở đầy một cỗ xe mới hết. Phù Sai lấy làm lạ bèn đem hỏi Khổng Tử thì được biết đó là xương của Phòng Phong. Nguyên do là khi vua Hạ Vũ hội quần thần ở Cối Kê, Phòng Phong đến muộn nên bị chém).

Đạo khổ thỉ là nói được điển tích cái tên làm bằng gỗ khổ (Chuyện về chim duẩn - một loài cắt, ưng – đến đậu ở sân nhà Trần hầu thì chết do mũi tên gỗ khổ cắm xuyên mình. Người nhà Trần hầu hỏi Khổng Tử thì được biết đó là loại tên của Túc Thận đem cống cho Vũ vương).

Biện Quì Võng Phần Dương là biết được cái tên quái vật là Quì Võng và Phần Dương (Chuyện là, Quý Tương đào giếng nhặt được vật lạ, đem hỏi Khổng Tử thì biết đó là giống quái Mộc Thạch gọi là Quỷ Võng và thổ quái gọi là Phần Dương).

Khổng Tử không phải là không nói những sự kỳ quái, nhưng ngày thường không muốn nói đến, là không muốn làm học giả mê hoặc. Thật ra có phải những chuyện ấy cho là không có đâu.

Đáng khen Quách Phác khi làm tựa sách Sơn hải kinh có nói; ''Giữa khoảng vũ trụ mênh mông, quần sinh đầy dẫy, âm dương hun bốc, vạn vật phân biệt, tinh khí hỗn độn phun xát lẫn nhau, du hồn, linh quái xúc động mà thành tượng, lưu hình ở núi sông, để dạng ở gỗ đá, không kể xiết được”. Bài tựa ấy lại nói: “Vật gì cũng vậy, tự nó không lạ, đợi người nói đến mới hóa ra lạ; vậy cái lạ là tự ta, chứ không tự vật; vì cái gì thấy luôn thì tin, còn cái gì ít khi nghe thấy, nói đến thì cho là lạ. Đó là cái mà thường tình thường bị che lấp”. Lời nói ấy là lời bàn xác đáng cho nghìn đời.

51. Trình tử nói: "Ngày xưa xem bói là để quyết sự nghi ngờ, đời sau thì không thế: họ xem bói chỉ cốt cho biết bệnh của mình sẽ cùng hay thông, thân của mình có đạt hay không mà thôi". Riêng tôi nghĩ rằng thánh nhân đặt ra bói toán, cốt để cho người ta quyết hiềm nghi, định do dự chứ không phải để dạy người ta cầu cạnh lợi đạt. Cho nên thánh nhân đặt ra kinh Dịch, không phải để cho kẻ tiểu nhân mưu lợi. Nhưng, cũng có khi, nghi ngờ điều gì muốn hỏi quỉ thần, như Tất Vạn bói việc làm quan ở nước Tấn. Trùng Nhĩ bói việc ở ngoài về nước, tuy vì mình, nhưng không hại gì chính nghĩa.

52. Làm nhà cửa kỵ phương hướng Thái Tuế. Tông Thái Tổ nói: “Phía tây cửa đông gia tức là phía đông cửa tây gia, thế thì sao Thái tuế ở chỗ nào?” Nói thế là không phải. Thần trong một năm là một Khí thiêng; Khí thì đi trên trời, chứ không phải ở dưới đất. Cứ theo thuyết của Tống Thái Tổ thì gọi phía tây có lẽ đến tận Tây Hải mới thôi. Thế thì ngoài Tây Hải lại còn có đất nước nữa, lại phải lấy đấy làm phía đông. Làng nước dân cư đều có giới hạn: có đông, tây, nam, bắc của cả thiên hạ, có đông, tây, nam, bắc của cả một nhà.

Việc tu tạo nhà cửa, vô tâm thì thôi; nếu đã xem phương hướng, mà thấy mình phạm thần sát, hay là ngưòi ta nói phạm hướng thần sát, mà cứ làm bừa đi thế là bất kính, sao gặp được sự hay?

53. Lưu Khang Công nói: “Nhân dân được Khí trung hòa của trời đất mà sinh ra, thế gọi là mệnh; cho nên có những phép tắc về động tác, uy nghi để an định mệnh trời”. Kinh Dịch nói: "Cùng lẽ hết tính rồi đến mệnh, chữ mệnh ấy tức là Giáng trung (trời phú cho sự lành), cũng gọi là bỉnh gi (giữ đạo thường) và là minh đức (đức sáng). Còn đời sau nói đến chữ Mệnh thì họ chỉ nghĩ đến sự cùng hay đạt, được hay mất, vinh hay nhục mà thôi.

Cổ nhân xem bói, không những chỉ dùng cỏ thi. Sách Ly tao (của Khuất Nguyên nước Sở) có câu rằng: ”Sách quỳnh mao dĩ đình chuyên hề mệnh Linh Phân vi dư chiêm”… Nghĩa là: Tìm cỏ quỳnh mao để xem bói cỏ tre, sai ngươi Linh Phân bói cho ta xem.,, Sách chua: “Linh Phân là tên một thầy bói hay thời bấy giờ. Đình là tre chẻ nhỏ. Ngưòi nưỏc Sở hay kết cỏ, chẻ tre, để xem bói; gọi là chuyện”.

Nghiệm sự đã qua, xét sự sắp tới, trong đó có thần linh thông giải; đừng tưởng một thứ cỏ nhỏ nhặt là không quan hệ gì!

Kinh Phòng lấy tiền gieo quẻ, chia ra âm dương, để lấy "thế, ứng" đời sau bắt chước. Còn ỏ những nơi phương xa, tục lạ lại có cách bói ngói (gõ vào đồ gốm, sành để nghe tiếng kêu mà bói điều lành dữ - ngõa bốc), bói gà, bói quạ, bói nghe tiếng ngưòi nói (Hưởng bốc – nghe âm vang tiếng người nói đêm 30 Tết để xem điềm) cũng đều biết trước được sự lành dữ; vì rằng không có cái gì là không có lý ở trong cả.

HÌNH TƯỢNG (38 điều)

1. Về thuyết “Trời xoay về bên tả, mặt trời, mặt trăng và ngũ tinh (năm sao Thổ, Kim, Thủy, Mộc, Hỏa) chuyển về bên hữu, xưa nay cãi lộn nhau đã nhiều. Nhưng theo câu trong kinh Dịch: "Trời đất thuận chiều mà chuyển động, cho nên mặt trời, mặt trăng đi không quá độ, bốn mùa không sai” ta cho rằng cứ lấy câu ấy mà đoán cùng đủ.

Ở trên mặt đất mà xem, ta chỉ thấy thất diệu (Nhật nguyệt và ngũ tinh) đi về phía tả, chứ có thấy chuyển về phía hữu đâu? Bây giờ trở ngược lại mà suy đoán, cho hợp với trời, thì không chỗ nào không có thể bảo là thuận động.

2. Sách Chu lễ nói, họ Bảo chương lấy đất thuộc các phận sao mà phân biệt đất chín châu; mỗi khu vực phong cho chư hầu đều có địa phận từng sao để xem điềm lành dữ; nhưng sách ấy không còn truyền lại. Ban Cố đời Hán theo lịch Tam thống (phép làm lịch trong sách Tam Thống lịch phả của Lưu Hâm từ thời Thái Sơ -104BC - nhà Hán) lấy 12 triền thứ (trạm nghỉ, cung độ) phối hợp với 12 phân dã các vì sao. Trần Trác là quan thái sử nước Ngụy lại nói rõ: quận nào nước nào thuộc vào độ số các vì sao nào. Hoàn Vũ to như thế, có chắc hẳn các quận, các nước ở Trung Châu đương hết được không?

3. Sao Giốc, sao Trương, sao Cang chiếm ít độ thì phân dã hẹp. Sao Đẩu, sao Ngưu, sao Cơ, sao Tỉnh chiếm nhiều độ thì phân dã rộng. Đó là lẽ tất nhiên. Đến như Tây Vực, Bắc Minh không biết đến đâu cùng tận. Ngoài phía đông nam Minh Hải, Bột Hải còn có nhiều đất nước cách Trung châu đến mấy vạn dặm, sao không ứng vào một vì sao nào trên trời?

Cho nên, Nhan Chi Thôi nói rằng: “Lúc mới thành lập trời đất đã có tinh tú; lúc đó chưa vạch ra chín châu, chưa chia ra các nước, cất đặt ra cương giới, khu dã, có chỗ gọi là triền thứ của các sao. Từ đời Phong kiến (nghĩa cổ từ thời Hạ Thương Chu lấy đất mà phong tước Công, Hầu được 100 dặm, tước Bá được 70 dặm, tước Tử, Nam được 50 dặm) về sau, mới có qui chế cắt đặt (đến đời Tần thì đặt ra quận huyện). Số các nước có tăng có giảm, nhưng các vì tinh tú không hơn không kém. Còn sự ứng hiện của điềm lành dữ, họa hay phúc, nếu như không sai thì bầu trời to thế, tinh tú nhiều thế, phân dã từng tinh tú thế nào, tại sao lại chỉ liên hệ với Trung quôc mà thôi? Sao là sao Mao đầu (nghĩa đen là kẻ tiên phong) triền thứ của nó là nước Hung Nô. Còn các nước Tây vực, Đông Di, Điêu Đề, Giao Chỉ, thì sao lại bị bỏ rơi, không nói đến?

Cứ thế mà suy xét tìm tòi, không bao giờ xong được.

Nhà sư Nhất Hành nói rằng: “Sông núi trong thiên hạ, ỏ về phía Nam phía Bắc còn thấy mênh mông. Nay xem như Bắc Định thì thuộc vào phân dã sao Mão, Triều Tiên thì thuộc vào phân dã sao Cơ, Giao Chỉ thì thuộc vào phân dã sao Chẩn sao Quỉ, còn các bộ lạc ngoài ải xa thì tùy chỗ tính tú gặp nhau". Nói thế cũng là phỏng theo thuyết cũ mà thôi.

4. Nhà Thành Chu trước đóng đô đất Mân, đất Kỳ, sau đóng ở đất Phong, đất Cảo. Địa phận nước Tần, sau này là đất của nhà Chu. Bấy giờ nhà Chu chia đất, phong cho 18 nước chư hầu: các nước Tống, Tề, Tấn, Vệ, Hàn, Yên đều là các nước lớn cũ; các nước Tần, Trịnh đều là nước lớn mới; Ngô, Sở, Việt, Vệ, Thục đều là nươc nhỏ cũ, sau này mới lớn lên. Còn nước Triệu là một quan khanh nước Tấn, sau mới được phong, mới lấy tên họ đặt làm tên nước Tạo Phủ, nước Triệu, khi mới lập ấp ở thành chẳng qua là một nước phụ dung (phụ thuộc, do nước nhỏ, diện tích < 50 dặm vuông) mà thôi. Hai ông họ Cam, họ Thạch làm Tinh kinh (Sách xem các vì sao), trong đó có nói: “Trên Thiên Viên có các vì sao ứng vào địa phận nhà Chu và các nước Tần, Trịnh, Việt, Hàn, Ngụy, Triệu, Tề, Yên, Vệ, Thục, Ba, Lương, Sở; nước nào thấy phân dã sao có sự biến động xâm phạm thì nước ấy có sự không lành". Không biết nói thế có đúng không?

5. Trước thời Xuân Thu, các nước lớn nhỏ lẫn lộn; vua nhà Chu đóng đô hai nơi; vậy thì sách của Tinh quan (quan coi thiên văn) căn cứ vào đâu mà xem?

Theo ý riêng ta: lúc bấy giờ, họ Bảo chương lấy tinh thổ (đất thuộc các phân dã sao) chia rõ phong vực chín châu; mỗi châu đều có tinh phận nhất định, có sách ghi chép. Sách ấy nay bị mất rồi. Nhưng, cổ nhân xem Khí hậu đã có phép hay, cho nên Sĩ Văn Bá thưa với Tấn Hầu rằng: "Sáu vật (Tuế, thời, nhật, nguyệt, tinh, thần) không giống nhau; nhân dân mỗi người một dạ; thứ tự việc làm không cùng một loại; chức vụ các quan không phải có một qui tắc; trước thì giống nhau rồi sau khác hẳn, sao có bình thường được”. Vòng trời 365 độ với 1/4 độ, chia làm 12 vi thứ, dưới ứng với chín châu; muôn nghiệm lành dữ thì phải xem chỗ đất "thượng đức" và “thừa vượng" mà tiên vương đã đóng đô.

Các nước chư hầu đã được nhà Chu phong cho, lúc mới nhận chức và tên họ, dựa vào độ số, hành trình của năm vì sao Ngũ Vĩ (năm đường ngang mà ngũ tinh hành vận) mà suy tìm so đọ để làm cho cõi đất hợp với vị thứ các sao trên trời.

Xem các sách Tả truyệnQuốc ngữ (2 cuốn của Tả Khâu Minh đời Xuân Thu) ta sẽ biết được đại lược việc nói trên. Như nói: ''Vua Nghiêu dời Át bá ra đất Thương Khâu, chủ vể sao Thần. Người nhà Thương nhân đó mà theo, cho nên Thần là sao thuộc vê đất Thương. Đổi Thực Trầm ra đất Đại Hạ, chủ về sao Sâm (thuộc phân dã sao Sâm). Người nhà Đường nhân đó mà theo, cho nên Sâm là sao thuộc về nước Tấn.

Các sách lại nói: Vị thứ sao Đại Thần (ba sao Phòng, Tâm, Vĩ) thuộc nước Tống, sao Thái hiệu thuộc nước Trần, sao Chúc Dung thuộc nước Trịnh, đều là Hỏa Phòng, Vị thứ của sao Chuyên Húc ở nước Vệ, tinh của sao này là hư không, vì nó vượng về thủy".

Cũng các sách ấy lại cho biết: chức hỏa chính đời Đào Đường, là Át Bá, ở đất Thương Khâu, giữ việc thờ thần Đại hỏa, mà lấy đức hỏa chép tuế thời; ông Tướng thổ, nhân đó mà theo, cho nên nhà Thương lấy Đại hỏa làm chủ.

Lại cho biết: Tuê vận ở tinh Kỷ (tên tinh thứ ngang với sao Nam đẩu, sao Khiên Ngưu va sao Tú Nữ) mà đi trái đường vào vị thứ Huyền Hiệu, là tinh phận của nước Tống, nước Trịnh, thì đất sẽ bị nạn đói. Lại nói: Tuế tinh năm nào bỏ vị thứ mà trọ ở vị thứ năm sau, phạm vào triền thứ Điểu nô, là điềm không hay cho nhà Chu và nước Sở. Lại nói rằng: "Họ Chuyên Húc nước Trần, mà tuế tinh là Thần hỏa, thì mất nước; Tuế tinh ở vị thứ Tích mộc, thì có cơ Phục hưng. Mặt trời chiếu vào vị thứ sao Thuần hỏa thì nước Trần sẽ mất, mặt trời ra khỏi vị thứ sao Vụ, sao Nữ thì vua Tấn sắp chết; Tuế tinh ở Đai Lương thì nước Thái phục lại, nước Sở mắc nạn. Vua Vũ Vương đánh được nhà Thương vì tuế tinh ở Thuần hỏa; Văn công nước Tấn lấy lại được nước là vi tuế tinh ở vị thứ Thực trầm”.

Tất cả mọi việc kể trên đều ứng với thiên tượng cả, có phải như đời sau xuyên tạc nói dựa đâu?

6. Năm thứ ba, đời vua Nhị thế nhà Tần, (207 BC), năm sao Ngũ hành tụ họp ở vị thứ sao Đông Tỉnh, quay lưng về phía Nam đẩu, Có người nhận xét rằng: Đông Tỉnh ở về phận dã nước Tần tức là phận dã Mùi, sao Nam đẩu ở về phận dã nước Việt tức là phận dã Sửu. Sửu xung khắc với Mùi; Tần mất vượng khí, thì Việt được Bá khí; cho nên Triệu úy Đà ứng vào thiên tượng ấy mà làm nổi lên (Triệu Đà làm quan Úy nhà Tần, sau khi chiếm nước Nam Việt, thấy nhà Tần mất liền xưng là Nam Việt Vũ Vương).

7. Các nhà làm lịch xưa nay, đều có căn cứ cả: lịch Thái sơ (lịch do Đặng Bình làm, còn gọi là Luật Lịch, làm năm Thái sơ nhà Hán, 104 BC) căn cứ vào âm luật (âm nhạc); lịch Đại diễn (tăng Nhất Hành, đời Đường, làm) căn cứ vào phép bói bằng cỏ thi; lịch Thụ thời (do Hứa Hành và Quách Thủ Kính làm thời Hán Nguyên đế) căn cứ vào bóng mặt trời.

Mỗi nhà trên này chủ trương một thuyết riêng; nhưng, tóm lại, thì lịch Thụ thời hơn cả, vì tượng có trước số, số ở sau tượng; tham khảo âm luật và bói thi (chung luật, thi sách) để nghiệm tượng trời thì được, nhưng khảo sát thiên tượng để phối hợp vối âm luật và phép bói bằng cỏ thi thì không khỏi khiên cưỡng. Quĩ ảnh, lấy cọc đánh dấu, đo bóng mặt trời là thiên tượng rõ ràng nhất; dựa vào đó, lượng đo kỹ càng, để lấy Khí trung bình của trời, không nương tựa xê xích vào đâu, thế mới đúng với độ trời.

Thuyết trung tinh cơ hành (sao nào đi đến giữa trời gọi là trung tinh, còn cơ hành là 2 dụng cụ làm bằng ngọc của vua Thuấn để đo lường thiên tượng) trong Ngu thư (năm chương trong Kinh thư chép về đời Ngu, từ chương Nghiêu điển đến chương Ích Tắc) cũng suy tính dựa theo bóng mặt trời.

8. Các nhà làm lịch đều lấy nửa đêm ngày Giáp Tí, mồng một tháng Tý (Một, 11) là tiết Đông Chí làm đầu lịch. Thiệu Khang Tiết lấy ngày Giáp, tháng Tý, sao Giáp, giờ Thân làm số Nguyên hội vận thế; không kể gì ngày sóc hư và tháng nhuận, mà lấy 360 ngày làm một năm, thế là nói có chỗ căn cứ.

Hoài nam tử nói: “Mỗi luật có 5 tiếng, 12 luật là 60 tiếng, lại nhân với 6, thành 360 tiếng để đương đốì vói số ngày trong một năm”. Phép làm lịch của người Tây Dương (Âu châu) cũng lấy số 360 làm độ chu thiên, có 96 khắc làm một ngày, khiến cho mỗi giờ đều tám khắc, không có số lẻ, để tiện suy tính; phép ấy rất là giản tắt.

9. Thuyết Thanh đạo Xích đạo xuất xứ ở sách Vĩ thư Dịch kê lãm đồ (sách nói về thiên văn lịch toán, quái khí kinh Dịch và phép suy bộ mặt trời, sau tăng Nhất Hành dựa vào đó mà làm lịch). Thuyết Địa hữu tứ du xuất xứ ở sách Vĩ thư khảo linh diệu (tên một bộ sách về địa học. Sách này nói đất có tứ du thường động mà ngưới ta không biết. Nhưng sách Nhĩ nhã, chuyên nói vê thiên vẳn lại chép; ngoài nhị thập bát tú, lại có trên dưới, đông, tây mỗi phương 15.000 dặm, gọi là tứ du).

10. Trong thiên Qui tâm, Nhan Chi Thôi nói ràng: "Trời là tinh khí, mặt trời là tinh của Dương khí, mặt trăng là tinh của Âm khí, các vì sao là tinh của muôn vật. Cái mà nho gia hiểu được: mảnh ngôi sao rơi xuống là đá rơi xuống đó. Một vật ở xa và to mà người ta không đo lường được, không gì bằng trời. Sao sa xuống, nếu là đá thì không có sáng, chỉ có chất nặng, bấu víu vào đâu? Đường kính một vị sao, to đến trăm dặm; một chùm sao, đầu đuôi cách nhau đến vài vạn trăm dặm; mấy vạn ngôi sao chi chít với nhau, rộng hẹp dọc chếch thường không co nở. Vả lại, mặt trời, mặt trăng với các ngôi sao cũng một sắc sáng, chỉ có lớn nhỏ khác nhau mà thôi, thế thì mặt trời, mặt trăng cũng là đá ư? Đá đã rắn chắc, thì Kim Ô, Ngọc Thố (quan niệm xưa trên mặt trời có Quạ vàng, trên mặt trăng có Thỏ ngọc) ở vào đâu? Đá ở trong không khí, tự nó vận động sao được.

Ta thì cho rằng: sao ở trên có sáng, cái sáng đó là khí; khi vừa sa xuống bị gió lạnh buốt ở lưng chừng trời táp vào mối đọng lại thành đá, chứ không phải sẵn là đá ở trên trời rồi.

Mặt trời, mặt trăng cũng là tinh Khí tích lại mà có sáng, và to lớn đó thôi. Sao là tinh Khí của vạn vật, cho nên sa xuống hóa ra đá. Mặt trời là hỏa tinh thái dương, mặt trăng là thủy tinh thái âm; không thể viện lệ ấy mà cho cũng là đá được. Đến như phép đo lường vòng tròn, đường kính rộng hẹp của các vì sao, thì trong sách lịch tây dương nói rất tinh tưòng.

Nhan Chi Thôi lại nói: "Mặt trời, mặt trăng, các sao, đều là khí; Khí thể nhẹ mà nổi, nên liền với trời, đi lại, xoay chuyển không hề sai lẫn, mà sự mau chậm cũng phải nhất luật. Cớ sao mặt trời, mặt trăng, ngũ tinh, nhị thập bát tú, đều có độ số, di chuyển không đều, lẽ nào Khí sa xuống lại hóa đá”.

Ta xét Hách Manh đời Hán có nói: “Trời không có chất; ngửa lên mà trông, chỉ thấy cao rộng không cùng cực. Mặt trời, mặt trăng, và các vì sao, tự nhiên quây quần ở trong khoảng hư không; lúc đi lúc đứng đều nhờ có Khí cả; cho nên thất diệu lúc ẩn lúc hiện không thường, lúc tiến lúc lui không giống nhau; vì không bám bíu vào đâu cho nên thế. Cho nên chỗ không có sao, Thần Cực ở yên một chỗ, mà sao Bắc đẩu không cùng với các sao khác lăn về phía Tây. Các vì sao Nhiếp Đề (chỗ cạnh Đế đình có 3 ngôi sao như cái chân vạc), Trấn Tinh (sao Thổ) đều đi về phía Đông, mỗi ngày đi một độ, một tháng đi 30 độ, Vậy xem thế đủ biết các sao không bấu bíu vào đâu". Cát Trĩ Xuyên (Cát Hồng) nghe nói thế, chê rằng: "Nêu tinh tú không bấu víu vào trời thì trời vô dụng”.

11. Người học về thuyết Hồn Thiên (thuyết này nói hình trời như quả trứng gà, đất là lòng đỏ, trời bọc ngoài đất) lại cho rằng Tam viên (ba chòm Tử vi, Thái vi, Thiên thị) và nhị thập bát tú, cùng với trời chuyển vận nhất định, không di dịch; đó là Kinh tinh (Sao ở kinh tuyến không thay đổi vị trí); còn mặt trời, mặt trăng, năm sao Ngũ hành, cùng vận hành với các sao khác, không có chỗ nhất định; đó là Vĩ tinh (sao ở vĩ tuyến). Kinh với Vĩ lẫn lộn hiện ra thiên văn.

Các đời đều theo thuyết ấy.

Gần đây có người Tây Dương vào Trung Quốc, tinh về thuật trắc nghiệm (đo lường trời), có nói rằng: “Trời có 9 tầng: tầng cao nhất là Tôn động thiên, không có sao gì cả; mỗi một ngày, đem các tầng trời từ Đông sang Tây, quay về bên tả một vòng. Tầng thứ hai là Liệt tú thiên. Tầng thứ ba là Trấn tinh thiên (Thổ tinh). Tầng thứ tư là Tuế tinh thiên (Mộc tinh). Tầng thứ năm là Huỳnh hoặc thiên (Hỏa tinh). Tầng thứ sáu là Thái dương thiên. Tầng thứ bảy là Kim tinh thiên. Tầng thứ tám là Thủy tinh thiên. Tầng thứ chín, tầng thấp nhất, là Thái âm thiên.

Tám tầng trời, từ Trấn tinh thiên trỏ xuống, đều theo Tôn động thiên quay về phía tả. Nhưng, mỗi một tầng trời đều có độ xoay sang hữu, tự Tây sang Đông. Thuyết này cũng giống như thuyết Chu Bễ, lấy con kiến đi trên bàn xoay đá mài làm thí dụ.

Mặt trời, mặt trăng, ngũ tinh, đều có một tầng trời; những tầng ấy đều không giống với đất, cho nên cách đất cao thấp không thông nhất; cái số cao nhất, thấp nhất đểu phải lấy đường bán kính của đất làm chuẩn đích.

Thuyết này cùng giống với câu nói trong Sở từ: "Vòng tròn có chín tầng trời”.

12. Bọn Nam Hoài Nhân (Ferdinandus - Verbiest), người Tây Dương làm sách Khôn dư đồ thuyết, có nói: “Đất với biển vốn là hình tròn, hợp lại làm một quả cầu ở trong thiên cầu; thực như quả trứng gà, lòng đỏ ở trong lòng trắng; trời đã bao bọc đất thì trời với đất cùng nhau hưởng ứng”.

Sách ấy lại nói: ''Người đời bảo trời tròn bao bọc lấy đất vuông, đó là lấy nghĩa động tĩnh lý vuông tròn mà nói, chứ không phải nói hình. Họ còn đem độ số Đông, Tây, Nam, Bắc để chứng minh cái nghĩa đất tròn rất là rành mạch. Các nhà khảo về hình tượng đều bảo thuyết đó không ra ngoài thuyết Hồn Thiên của người Trung Quốc xưa.

Lại bài Thiên đạo luận của Nhân Loan, đời Hậu Chu, trong Hoằng minh tập, có nói: “Đạo gia thường nói trời tròn đất vuông; nay đem bốn góc cùng phương hướng so sánh, thì thấy trời đất đều tròn”. Thế thì cái thuyết trời đất cùng tròn, cổ nhân cũng đã có vậy. Hai quyển Đồ thuyết dịch ra chữ hán. Trong sách ấy có nói về thổ địa, sản vật, phong tục, nhân vật, khí dụng và chế độ các nước, nhiều sự quái gỏ lạ lùng, không sao biết được. Còn như bàn đến núi non, triều tịch (nước thủy triều lên xuống), sông biển, gió mây, sấm chớp, thì đều rất đúng; vì các nước ấy ở gần biển, tập quen đường biển, căn cứ vào sự biết thực, thấy thực mà suy lượng hình tượng, chứ không phải ức đoán vu vơ! Nay sách Thuyết linh (của Ngô Chấn Phương, Uông Uyển, đời nhà Thanh) cũng có chép, nhưng mười phần không còn một phần; mà sự lựa chọn cũng sai lầm nhiều lắm.

13. Trong thiên Thiên viên của sách Đại Đới lễ ký (của Đới Đức, đời Hán) có chép việc Đan Cư Ly hỏi Tăng tử rằng: "Có thực trời tròn mà đất vuông không? Tăng tử đáp: “Trời sinh ở đầu trên, đất sinh ở đầu dưới (chua: ngưòi ta đầu tròn mà chân vuông, nhân đó mà hệ thuộc trời đất). Đầu trên gọi là tròn, đầu dưới gọi là vuông; như thực trời tròn, đất vuông thì thành ra bốn góc không được che kín à? Ta nghe đức Khổng Tử có nói: ”Đạo trời tròn, đạo đất vuông (chua thêm: đó là đạo vuông tròn, chứ không phải nói hình tượng vuông tròn)".

Ta nhận thấy Khổng Tử tuy không nói rõ hình đất tròn, nhưng xem một câu nói: ‘Tứ giác chi bất yểm (bốn góc không che kín)” thì đã biết được đại ý. Vậy, lời bàn về đất tròn của người Tây Dương thật không phải là mới lạ.

14. Sách Ngọc ghi chép: “Độ mỗi nhất vạn1” và chua rằng: chia một độ làm vạn phần. Xét sách Quảng nhã (của Trương Ấp đời Ngụy) mỗi độ là 2.932 dặm, nhị thập bát tú cách nhau tích lại được 1,700.923 dặm, đường kính là 356,970 dặm. Nhưng sách Thì hậu thần khu lại nói: "Nhị thập bát tú cộng là 366 độ, mỗi độ ước 3.000 dặm; kể là vạn phân thì 10 phân là 1 tấc, 10 tấc là một thước; mỗi 1 phân quản 30 dặm, mỗi 1 tấc quản 300 dặm, mỗi 1 thước quản 3.000 dặm”. Cùng với các thuyết “Chu thiên” cộng 1.097.000 dặm, không giống nhau. Xét sách Tấn chí dẫn lời Xuân thu khảo dị có bác đi rằng: Chu thiên cộng 1.071.000 dặm, mỗi độ là 2.932 dặm.

Có lẽ thuyết này là đúng.

Ngưòi Tây Dương lại cho là vòng Chu thiên 90.000 dặm, mà mỗi độ là 150 dặm; như thế lại là khác hẳn.

15. Sách Thượng thư vĩ khảo linh diệu (nguyên là Thượng thư vi, do Trình Huyền chú giải) chép rằng: “Ngày dài thì bóng mặt trời dài 1 thước, 6 tấc; ngày ngắn thì bóng mặt trời dài 1 thước, 3 tấc”. Sách Dịch Vĩ nói: “Ngày Đông chí, trồng một cây nêu cao 8 thước đến trưa, xem bóng mặt trời dài ngắn để chiêm nghiệm có điều hòa không. Phép xem bóng ấy cho biết ngày Hạ chí bóng dài 1 thước 4 tấc 8 phân; ngày Đông chí dài 1 trượng 3 thưóc”.

Phép Chu Bễ nói: “Trong đất nhà Thành Chu, ngày Hạ chí bóng mặt trời dài 1 thước 6 tấc; ngày Đông chí dài 1 trượng 5 thước 5 tấc”.

Bài truyện về sách Hồng Phạm, Lưu Hường có nói: “Ngày Hạ chí, bóng mặt trời dài 1 thước 5 tấc 8 phân; ngày Xuân phân và Thu phân, bóng dài 7 thước 3 tấc 6 phân; bóng mặt trời ỏ kinh đô Hán, Ngụy, Tống đều khác nhau”. Phép làm lịch của bốn nhà, về cách ảnh hậu (trình độ đo lưòng bóng mặt trời) thì như nhau, nhưng về cách điều trần đường vĩ tuyến thì sợ khó mà bằng cứ được. Cái thuyết đo bóng vào hai ngày Xuân phân, và Thu phân của Lưu Hướng nói trên, là chỉ lấy sai phân mà suy ra, chứ không phải nhân biểu hậu mà định dài ngắn.

Xét các sách Linh Diệu, Chu Bễ, Linh HiếnTrịnh Huyền, chua sách Chu Lễ đều nói rằng: "Bóng mặt trời chiếu xuống đất, một nghìn dặm chỉ sai 1 tấc”.

Xét năm Nhâm Ngọ, niên hiệu Nguyên gia thứ 19 (442), nhà Tống sai sứ sang Giao Châu đo bóng mật trời thì thấy: ngày Hạ chí bóng cây nêu về phía Nam dài 3 tấc 3 phân.

Hà Thừa Thiên khảo sát bóng mặt trời ở Dương Thành có nói rằng: "Ngày Hạ chí, bóng dài 1 thước 5 tấc”. Tính ra thì Dương Thành cách Giao Châu vạn dặm, mà bóng mặt trời sai nhau có 1 thước 8 tấc 2 phân, thế là 600 dặm, chỉ sai 1 tấc thôi.

Đến đời Hậu Ngụy, Tín Đô Phương chua bôn phép xem thiên văn của phép Chu Bễ có bảo rằng: “Đất Kim Lăng cách Lạc Dương từ Nam chí Bắc độ nghìn dặm, bóng sai 4 tấc”. Vậy thì, cứ 250 dặm là sai 1 tấc.

Lưu Chưóc đời nhà Tùy, lấy bóng mặt trời ở hai ngày Hạ chí và Đông chí mà định chỗ trời cao nhất chiếu xuống. Sách Chu Quan nói bóng mặt trời ngày Hạ chí dài 1 thước 5 tấc. Bọn Trương Hành, Trịnh Huyền, Vương Phồn, Lục Tích, đều cho bóng mặt trời cứ 1.000 dặm sai 1 tấc. Lại nói về phía Nam: dưới xứ Đới Nhật 1 vạn 5 nghìn dặm, bóng cây nêu rất đúng; khi trời cao lại khác. Xét trong phép toán, không có lý nào, 1 tấc sai được 1 nghìn dặm; mà cũng không có điển nào nói thế cả. Nay Giao Châu và ích Châu, về phía Bắc, nếu không có bóng, mà về phía Nam, qua Đới Nhật, cách những 50.000 dặm, như vậy thì nghìn dặm sai 1 tấc; đó không phải là sự thực.

16. Phép Trung quĩ phúc ảnh đời Đưòng nói rằng: "về phép Trung quĩ, xưa kia, Lý Thuần Phong làm lịch lấy trung quĩ định 24 tiết khí; cùng với phép đo dài ngắn của Tổ Xung Chi khác nhau; nhưng chưa biết ai phải.

Khi Tăng Nhất Hành làm lại Đại diễn, vua Đường có hạ chiếu cho quan thái sử phải đo bóng mặt trời khắp thiên hạ, mà lấy chỗ đất giữa làm định số. Khi họp bàn có nói rằng: Chu quan (Sách) dùng thổ khuê (thước đo bóng mặt trời bằng ngọc) đo, thì lấy chỗ bóng mặt trời 1 thước 5 tấc làm trung tâm điểm của đất, mà họ Trịnh (Trịnh Huyền) thì cho là bóng chiếu xuống đất, cứ 1 nghìn dặm sai 1 tấc. Như vậy, về phía Nam xứ Đới Nhật Hạ, xa cách 15.000 dặm, thì sai mất 1 thưóc 5 tấc. Đất cùng với tinh, thần, tứ du, lên xuống trong 3 vạn dặm; lấy số ấy mà chia đôi thì thấy được chỗ địa trung, Đĩnh Xuyên quận, đất Dương thành ngày nay, tức là địa trung đó.

Trong khoảng năm Nguyên gia (424 - 454), nhà Tống đi đánh nước Lâm Ấp (Chiêm Thành); ngày tháng 5 dựng cây nêu để trông, thì thấy mặt trời ở về phía Bắc cây nêu; ở Giao Châu thì bóng mặt trời ở về phía Nam cây nêu 3 tấc. Năm Khải nguyên thứ 12 (724, đời Đường Huyền Tông), đo bóng mặt trời ở Giao Châu (tức là Thăng Long, Hà Nội ngày nay) vào ngày Hạ chí thì thấy bóng ở phía Nam cây nêu 3 tấc, 3 phân cùng với sự đo năm Nguyên gia nói trên giống nhau.

Sứ giả (nhà Đường) là Đại tướng Nguyên Thái nói: ở Giao Châu, trông hết tầm con mắt mới thấy cao hơn 20 độ. Còn sách Hội yếu (Vương Phổ đời Tống soạn) thì bảo: ra khỏi mặt đất hơn 30 độ. Vào cữ tháng Tám, người đi biển trông thấy dưới sao Lão nhân tinh có hàng sao lấp lánh sáng, vừa rõ vừa tỏ và rất nhiều, mà xưa nay chưa thấy. Đó là những sao mà nhà làm sách Hồn thiên cho là những sao thường ẩn ở trong đất.

Lại về phía Bắc nước Thiết Lặc (tên thị tộc cổ ở tây bắc Trung quốc, nay là Thanh Hải, còn gọi là Sắc Lặc) có nước Cốt Lị Cán (tên bộ lạc trong thị tộc Sắc, gần Tây Bá Lị Á – Siberia) ngày dài đêm ngắn; đêm đến, trời vàng vàng mà không đen tối; chiều tối nấu một bộ lá lách dê vừa chín thì trời đã sáng, vì chỗ ấy gần chỗ mặt trời mọc.

Sách Nam cung (viết tắt của Nam cung cố sự của Trịnh Hoằng) của Thái sử Giám nói: “Chọn nơi đất phẳng ở tỉnh Hà Nam, đặt phép đo bằng dây tẩm mực trước, rồi dựng cây nêu, kéo dây mà đo, bắt đầu từ huyện Hoạt Đài trước. Bóng mặt trời ngày Hạ chí ở thành Bạch Mã dài 1 thước 5 tấc 7 phân. Về phía Nam hơn nữa, ở huyện Tuấn Nghi và huyện Nhạc Đài (thuộc Khai Phong, tỉnh Hà Nam), thì bóng mặt trời dài 1 thước 5 tấc 3 phân. Lại về phía Nam hơn nữa, ở huyện Phù Câu, bóng dài 1 thước 4 tấc 4 phân. Lại về phía Nam hơn nữa, ở huyện Thượng Sái và huyện Vũ Tân, thì bóng dài 1 thước 3 tấc 6 phân và một nửa phân. Đại khái cứ 526 dặm, 270 bộ, là bóng sai hơn 2 tấc. Còn thuyết cũ nói chỗ kinh đô nhà vua cứ nghìn dặm thì bóng sai 1 tấc là lầm.

Nay lấy phép Câu Cổ (phép toán cổ tính theo như định lý Pytago) so với cách đo Trung quĩ ở Dương Thành, thì thấy bóng ngày Hạ chí dài 1 thước 4 tấc 4 phân, 7 hay 8 li; bóng ngày Đông chí dài 1 trượng 2 thước 7 tấc 1 phân và nửa phân; bóng ngày Xuân phân và ngày Thu phân dài 5 thước 4 tấc 5 phân; lấy cái thước vuông đo úp, mà đo chéo đến chỗ cùng đất, thì thấy 34 độ và 4 phần 10 độ (4/10).

Xem cây nêu ở các huyện Hoạt Đài, Tuấn Nghi, Thượng Thái và Vũ Tân, thì Bắc Cực cách đất, dù ngày Xuân phân hay Thu phân hơi có co giãn, nhưng cũng khó so sánh được. Đại để cứ 351 dặm, 80 bộ, sai lắm là 1 độ.

Bắc Cực khi xa khi gần mặt trời khác nhau, thì bóng ở đường Hoàng đạo cũng vì đó mà biến đổi.

Hàng năm, lấy địa đồ đo bóng mặt trời ở Vũ Lăng, định khí là 4 thước 4 tấc 7 phân. Cầm bản đồ mà trông chếch, thì thấy chỗ cực cao là 29 độ và nửa độ (1/2), sai với Dương Thành là 5 độ 3 phân. Lấy địa đồ ở Uất Hoành Dã mà đo bóng, định khí là 6 thước 6 tấc 5 phân và một nửa phân (1/2); cầm bản đồ, trông chéo, thì thấy chỗ cực cao là 40 độ, sai với Dương Thành 5 độ 3 phân.

Phàm độ số Nam, Bắc sai nhau 10 độ và nửa độ nữa (1/2); đưòng kính là 3.688 dặm, 90 bộ. Từ Dương Thành đến Uất Hoành Dã và Vù Lãng, đại khái vào ngày Hạ chí dùng với Nam Phương sai ít, vào ngày Đông chí cùng với Bắc Phương sai nhiều.

Lại lấy bản đồ, xét và so sánh, ở Việt Nam, lúc mặt trời ở trên đỉnh trời về phía Bắc 2 độ, 4 phân, chỗ cực cao 20 độ, 4 phân; vào tiết Đông chí bóng dài 7 thước 9 tấc 4 phân; nhất định như thế. Tiết Xuân phân và Thu phân là 2 thước 9 tấc 3 phân; tiết Hạ chí, bóng cây nêu về phía Nam 3 tấc 4 phân, sai với Dương Thành 14 độ, 3 phân, mà đường kính thì 5.023 dặm. So đến Lâm Ấp: lúc mặt trời ở đỉnh trời, về phía Bắc 6 độ, 6 phân hơn một ít; chỗ cực cao 70 độ, 4 phân, chu vi 25 độ; thường hiện luôn, không khi nào lấp bóng, tiết Đông chí bóng dài 6 thước, 9 tấc. Bằng nay cách Dương Thành, phía bắc đến đất Thiết Lặc củng sai mất 17 độ, 4 phân; mà cùng với Lâm Ấp ngang nhau.

Quan Trung Thường Thị nước Ngô là Vương Phồn, xét chuyện tiên nho, lấy mực 15.000 dặm ở xứ Đới Nhật Hạ làm một nửa đưòng kính chu vi, rồi theo phép toán Câu cổ tà xạ để đo độ trời, thì thấy được 1.406 dặm, 24 bộ có thừa. Nay đo bóng mặt trời, cách Dương Thành 5.000 dặm, thì thấy đã ở phía Nam nước Đái Nhật; thế là mỗi độ giảm một phần ba của độ (1/3).

Nam cực, Bắc cực, cách nhau 8 vạn dặm, mà đường kính thì 5 vạn dặm. Vũ trụ to rộng, há chỉ như thế? Cái thuật đo trời của Vương Phồn, không khác gì lấy quả bầu mà đong biển.

Năm Khai nguyên thứ 13, đo đến núi Đại Tông (theo chú trong Ngiêu điển thì Đại Tông là núi Thái Sơn) lúc bấy giờ ở chân núi hay còn đêm tốì, ở chỗ nhật quán (nơi mặt trời mọc, đông nam núi Thái Sơn) trông về phía Đông, thấy mặt trời cao dần dần. Cứ phép đo, từ lúc sớm cho đến khi mặt trời mọc, sai 2 khắc rưởi, mà nay lại sai hơn 3 khắc, lý do là người đời xưa dùng thước thổ khuê đo trời, cốt để tuyên bá hòa khí, giúp đỡ mọi vật, chứ không ở chỗ đo đưòng kính chu vi các vị trí ngôi sao. Còn như ý nghĩa trong lịch số, là lấy lòng thành kính mà ban bố thời hậu cho dân biết và tôn trọng tượng trời, chứ không phải chỗ phải trái, của các thuyết hồn thiên, cái thiên.

17. Sách Tấn thiên văn chí nói: "Đất là ở giữa trời, mà Dương Thành là giữa đất". Sách Hà đồ quát địa tượng nói: “Núi Côn Lôn là cột trời, khí núi ấy thông lên tận trời. Côn Lôn là chính giữa đất”.

Chu tử nói: "Trung tâm điểm của đất bây giờ với ngày xưa khác nhau. Đời Hán thì Dương Thành là giữa đất; đời Tống thì Nhạc Đài là giữa đất; đã thấy sai nhau nhiều”.

Tạp chí của Lưu Định Chi nhà Hán nói: “Đính tâm của trời là ỏ huyện Dương Thành ở chân núi Tung Sơn, đính tâm của đất là ở núi Côn Lôn; so le không cân nhau, là vì trong khoảng trời đất, phương Đông Nam thì nắng nóng; phướng Tây bắc thì rét lạnh, Đất ở phương rét lạnh thì rắn chắc mà cao vọt lên, cho nên phương Tây bắc có nhiều núi; đất ở phương nắng nóng thì mềm ướt mà sụt thấp xuống, cho nên phương Đông nam nhiều nước. Hợp cả chỗ Đông nam nhiều nước, Tây bắc nhiều núi, quân bình mà bàn, thì Dương Thành là giữa đất lấy chỗ đính cao thì Côn Lôn là giữa. Đó là nói về phong vực Trung Quốc.

Nhưng ta xét lời nói của Trâu Diễn, thì đất chia làm chín châu, Đông nam gọi là Thần Châu, còn tám châu nữa, là Thứ Nhung, Hấp, Ký, Thai, Tế, Bạc, Dương, đều là Xích Huyện (tức Xích Thành, ở đó đất đỏ, sắc như ráng mây). Ký châu là một trong chín châu không biết ở vào chỗ nào.

Nhà sư Ma Đằng (Kàcyapa Màtàngha) thưa với vua Minh đế nhà Hán rằng: "Nước Cà-ti-la-vệ (Kapilavastu, nơi sinh quán của Đức Phật, trung bộ Ấn Độ, Tây nam Nepal) là trung tâm "tam thiên đại thiên thế giới bách ức nhật nguyệt” và các phật tam thế đều sinh ra ở đấy cả.

Trách Dưng nói rằng: "Phật sinh ở Thiên Trúc, vì Thiên Trúc là chính giữa trời đất và là nơi trung hòa”. Ông lại nói: “Trong truyện có nói rằng: Các vì sao Bắc thần, ở trời là giữa, mà ở người là phía Bắc”.

Xem đó thì đất Hán chưa hẳn đã là giữa trời.

Nhà sư Pháp Lâm đời Đường, dẫn lời bàn ở sách Trí độ luận (kinh Phật, của Long thụ bồ tát) có nói rằng: “Thiên và thiên kể chồng lại cho nên gọi là tam thiên; thiên rồi lại mấy thiên nữa, cho nên gọi là đại thiên; nước Cà-ti-la-vệ ở đó”. Kinh Phiên thán nói rằng: “Sông Thông Hà (Rapti) trở về phía Đông gọi là Chấn Đán, lấy nghĩa là lúc mặt trời mọc sáng rọi vào góc Đông. Chư Phật ra đời đều ở trung châu, chứ không ở ngoài biên ấp”.

Pháp uyển truyện nói: Hà Thừa Thiên nước Tống cùng với Trí tạng pháp sư tranh luận về chỗ giữa trời. Nhà sư nói rằng: “Thiên Trúc là trung thiên, vì những ngày Hạ chí, Đông chí, lúc mặt trời giữa trưa, dựng nêu không có bóng. Đến đời nhà Hán, lập ra Ảnh đài (để đo bóng mặt trời), đến lúc giữa trưa ngày Hạ chí, Đông chí, dựng nêu còn hơi thấy bóng. Theo trong toán kinh, một tấc ở trên trời bằng một nghìn dặm ở dưới đất". Khi ấy họ Hà mới tỉnh ngộ.

Nói tóm lại: Trung bộ Thiên Trúc là trung tâm trái đất. Ông Thích Minh khái bác lời sớ của Phó Dịch có nói rằng: "Gọi là nước ở giữa thiên hạ thì phải là trung tâm của ba nghìn nhật nguyệt, một vạn hai nghìn trời đất". (Tam thiên nhật nguyệt, vạn nhị thiên thiên địa chi trung tâm).

Các thuyết kể trên vể trời đất sai trái nhau, không biết thuyết nào là đúng.

18. Sách của người Tây Dương ra đời sau hết; thuyết của họ lại ly kỳ. Những người Tây Dương ấy đi đường biển mười vạn dặm mới đến Trung Quốc, họ lịch duyệt đã nhiều, đo lường lại tinh, cho nên ngưòi Trung Quốc đều dốc lòng tin, không ai dám chê cả. Nay chép các thuyết của họ, nói về chia độ kinh tuyến các nước, đại lược như sau: "Tất cả các nưóc lớn hay nhỏ, hoặc ở về Nam, Bắc, hoặc về Đông, Tây, đều có độ phận. Vì đất cùng biển đã thành hình tròn như quả cầu; từ Nam đến Bắc, quả đất như cái trục có hai đầu đối với trời. Nam cực và Bắc cực của trời gọi là hai cực quả đất; nhất định thế. Hai cực ấy đều cách xích đạo, mà phía trên phía dưới xích đạo là số của vĩ tuyến thì rõ ràng lắm".

Mặt trời và mặt trăng bám vào thiên cầu đi quanh địa cầu suốt ngày đêm không nghỉ, vốn không mọc hay lặn. Duy, nước này gặp khi mặt trời sáng thì là ngày, khi trăng sao sáng thì là đêm. Vì thế, thấy vầng thái dương lên thì đó là phương Đông; thấy vầng thái dương xuống thì đó là phương Tây. Xong, phương Tây ở nước này lại là phương Đông ở nước kia, mà địa cầu vốn không có chính Tây chính Đông gì cả.

Thế thì kinh tuyến của quả đất bắt đầu kể số từ chỗ nào?

Lúc mới họa toàn đồ thì hai đại châu thổ là Âu La Ba và Lỵ Mạt Á đều ở về phía Tây nước Trung Hoa. Kỳ thủy xét trong bốn biển thì Phúc Đảo là cực tây; ngoài đảo ấy là biển; đi sang Đông mà tìm lục địa (đất liền) thì thấy từ biển về phía Đông, đất rộng mênh mông biết đâu là cùng, mà là những nước liên tiếp nhau. Trên bản đồ nhất thống, vạch một đường tuyến từ Bắc Cực qua Phúc Đảo đến Nam Cực, rồi lây đường tuyến ấy làm mốc (biểu) độ số đường ngang, thì gồm hai mối đầu đuôi của 360 độ

Có người hỏi: quả địa cầu không có Đông Tây, sao trong địa đồ lại có các địa phương Đông Dương, Tây Dương; chẳng hóa lầm ư? Xin đáp rằng: người khéo họa đồ ấy đã lấy nước lớn làm chủ, rồi xem bên tả, bên hữu nước lớn ấy, đặt tên biển và tên các địa phương, vả như: Âu La Ba (châu Âu) thì thấy Á Mặc Li Gia (châu Mỹ) làm phía Tây, lấy châu Á Tê Á (Châu Á) làm phía Đông, cho nên vẽ Á Mặc Lị Gia ở phía hữu, và Á Tê Á ỏ phía tả. Như Trung Hoa (thuộc châu Á Tê Á) thì phải vẽ Âu Ba La và Lị Mạt Á ở phía hữu mà Nam và Bác Á Mặc Lị Gia ở phía tả. Vì, nếu không vẽ thế thì tên các địa phương sẽ lẫn lộn.

Sách Sơn hải toàn đồ chú giải rằng: "Đất với biển vốn hình tròn mà hợp làm một ở trong thiên cầu, Trời đã bọc đất thì trời đất ứng nhau: cho nên trời có Nam Bắc hai cực, đất cũng có Nam Bắc hai cực như vậy; trời chia làm 360 độ, thì đất cũng chia làm 360 độ. Trong thiên cầu có đường xích đạo; từ xích đạo xuông Nam 33 độ 1/2 là Nam Hoàng đạo; từ xích đạo lên phía Bắc 33 độ 1/2 là Bắc Hoàng đạo.

Cứ như Trung Quôc ở về phía Bắc Bắc Hoàng đạo, mặt trời đi theo đường xích đạo thì ngày đêm bằng nhau; đi về nam đạo thì ngày ngắn, đi về bắc đạo thì ngày dài. Cho nên, về thiên cầu có bản đồ ngày đêm bằng nhau ở giữa, lại có hai bản đồ ngày ngắn và ngày dài ở nam và ở bắc để tỏ rõ bóng mặt trời đi. Địa cầu cũng có ba bản đồ tương ứng như thế ở dưới. Duy trời bọc ngoài đất rất to, độ rộng; đất ở trong trời rất nhỏ, độ hẹp. Do đó độ số khác nhau. Bề rộng trong thiên hạ, bắt đầu từ Phúc Đảo, gồm có 10 độ, rồi đến 360 độ lại tiếp liền nhau. Thử xét như Nam Kinh cách trung tuyến trở lên là 32 độ, cách Phúc Đảo sang Đông là 120 độ, rồi ở yên đó. Phàm các vùng trên mặt địa cầu, từ trung tuyến trở lên đến bắc cực thì thực là bắc phương, từ trung tuyến trở xuống thì thực là nam phương”.

Nhà Phật nói Trung Quốc ở Nam Thiểm Bộ châu; và kể cả số đất của Tu Di Sơn (kinh Phật nói là Tuyết Sơn - Hymalaya) ở trong ngoài mặt đất, thì đủ biết là lầm.

19. Từ sau sách Sử kýHán thư, người nói đến phân dã đều cho là sao Nữ sao Ngưu là phân dã các nước Ngô, Việt; sao Dực, sao Chẩn là phân dã các nước Kinh, Sở. Lưỡng Quảng tuy là đất Việt nhưng giới hạn có phân biệt; Địa lý chí đời Tiền Hán cho là các quận thuộc về Uất Lâm, Thương Ngô ở về phía Tây tỉnh Việt (Việt Đông là Quảng Đông, Việt Tây là Quảng Tây) thì đều thuộc phân dã sao Ngưu, sao Nữ. Các nhà học giả Đỗ Hựu, Âu Dương Tu, Tô Đông Pha đã phân biệt rõ ràng. Nhà sư Nhất Hành lại có thuyết lưỡng giới (hai cõi): lấy phía Đông bắc nước Việt tiếp giáp nước Ngô thuộc Tinh Kỷ (phân dã sao Ngưu, sao Đẩu) phía Tây nước Việt đến nước Sở thuộc sao Thuần Vĩ. Bạch Quì Kham đời Tống đà càn cứ vào đó mà khảo luận, không còn nghi hoặc gì nữa.

Thế thì tỉnh Quảng Đông là khu vực Dương Châu, mà các tỉnh Yên Quảng, Hải Dương cùng Sơn Nam Hạ Lộ nước Việt Nam ta đều thuộc về chi điều ấy, nên thuộc phân dã sao Nữ. Tỉnh Quảng Tây là khu vực Kinh Châu, mà các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Thái Nguyên, Kinh Bắc cùng Sơn Nam Thượng Lộ nước Việt Nam ta đều thuộc chi điều ấy, nên thuộc phân dã sao Chẩn.

Nơi nào gần phương Đông thì ấm nhiều, rét ít, hàng năm ruộng cấy hai mùa; nơi nào gần phương Tây thì nóng rét bằng nhau, mỗi năm ruộng chỉ cấy được một mùa; vì Khí hậu các nơi ấy khác nhau. Đến như Vân Nam là khu vực Dương Châu; các xứ ở nước ta như Tuyên Quang, Hưng Hóa đến mãi Sơn Tây, mãi đến phía hữu liên tiếp Thanh Hóa, Nghệ An, đều là dư Khí (khí dư dật) của khu vực ấy nên đều thuộc phân dã sao Quỉ.

Sách Vĩ thư khảo linh diệu có nói: “Mỗi một độ là 2.932 dặm có lẻ"; vậy phủ Thái Bình thuộc tỉnh Quảng Tây, thuộc phân dã độ thứ 13 sao Chẩn; ở về nước ta, các xứ Lạng Sơn, Cao Bằng, Thái Nguyên, Kinh Bắc, và Sơn Nam Thượng Lộ ước chừng đứng vào độ thứ 14 phân dã sao Chẩn. Phủ Liêm Châu thuộc tỉnh Quảng Đông đứng vào độ thứ 6 phân dã sao Nữ; ở nước ta thì các xứ Yên Quảng, Hải Dương, Sơn Nam Hạ Lộ ước chừng đúng vào độ thứ 7 phân dã sao Nữ.

Các loại sách thiên văn trong Minh chí cho các châu Cao, Hóa, ở tỉnh Quảng Đông thuộc phân dã sao Ngưu, sao Nữ, còn các châu Khâm, châu Liêm thuộc phân dã sao Dực, sao Chẩn. Ta nghi rằng: châu Liêm là đất quận Hợp Phố phía Nam liền ngay bờ biển phải thuộc về dư chi sao Thuần Vĩ, là phân dã sao Tinh Kỷ, mà phía hữu thì vào đến một khoảng ở giữa các phủ Thái Bình và Nam Ninh, không thể kéo ra phía ngoài biển được. Vả lại, Ngô Châu thuộc phân dã sao Nữ, còn hai huyện Bác Bạch, Lục Châu thuộc phủ ấy, đều có đường thông vào xứ Yên Quảng nước ta; Khâm Châu thuộc tỉnh Quảng Đông lại giáp giới với châu Vạn Ninh thuộc tỉnh Yên Quảng nước ta. Xem thế đủ biết nó phải đứng vào phân dã sao Nữ.

20. Sách Sơ học ký (Bộ bách khoa thư đời Đường do Từ Kiên chủ biên) chép rằng: “Việc chế tạo ra "lậu khắc” (dụng cụ đo thời giờ bằng nước rỏ giọt) có từ thời Hoàng đế, truyền đến đời nhà Hạ, nhà Thương". Theo phép ấy, sáng sớm tiết Đông chí, giọt nước chảy đến khắc 45, sau tiết Đông chí thì ngày dài, cứ 9 ngày dài thêm một khấc; sáng sớm ngày tiết Hạ chí giọt nước chảy đến khắc 65, sau tiết Hạ chí thì ngày ngắn, cứ 9 ngày giảm đi một khắc”.

Dụng cụ dùng nước xem giờ ấy có ba tầng tròn, đường kính đều một thước, để trên cái thùng hứng nước (trì chù) hình khối vuông, có con rùa vàng miệng phun nước vào thùng hứng nước, nước chảy ngang dọc lại chảy xuống cái chứa nước để ngang ở dưới, gọi là cái cừ, trên cái cừ ấy, có đặt hình người tên là quan tư thần (giữ việc giờ, khắc) đúc bằng vàng, mặc đủ áo mũ, hai tay cầm cái tên. Ấy là phép "lậu khắc” (xem giờ bằng giọt nước) của Ân Quỳ.

Còn một phép nữa: Lấy đồng đúc một con quạ khát nước, gọi là khát ô (ống đồng uốn khúc lấy hơi dẫn nước lên), hình như cái móc câu uốn khúc, dẫn nước vào mồm con rồng bạc để nó phun vào chậu đựng nước; cứ nước chảy xuống được 1 thưng, trọng lượng hai căn là một khắc. Ấy là phép "lậu khắc” của Lý Lan.

Hà Thừa Thiên đời Tống đã cải tiến phép ấy, định lại là hai ngày Xuân phân và Thu phân sớm tối, ngày đêm đều 55 khắc、

Đến đời Lương, Vũ đế cho ngày đêm có 100 khắc, đem phân phối cho 12 giờ, mỗi giờ 8 khác thì còn có phần thừa, nên chỉ lấy 96 khắc cho cả ngàv lẫn đêm, số 96 ấy chia làm 12 giờ, thì mỗi giờ chẵn 8 khắc. Đến năm Đại đồng thứ 10 (544) lại đổi làm 108 khắc. Tiết Đông chí, giờ ban ngày 48 khắc, giờ ban đêm 60 khắc, Tiết Hạ chí, giờ ban ngày 70 khắc, giờ ban đêm 38 khắc. Ngày Xuân phân, Thu phân, giờ ban ngày 60 khắc, giờ ban đêm 48. Còn các số buổi tối, buổi sáng đều là 3 khắc. Đến đời Trần lại phục hồi phép cổ cả ngày lẫn đêm là 100 khắc.

Đời Đường lại chế ra phép “Thủy hải phù tiễn" (tên nôi trong biển nước), có bôn cái thùng rót nước, lấy tên nổi lên chia ra khắc; chia ngày đêm làm 12 giờ, mỗi giờ 8 khắc, 30 phân; mỗi khắc 60 phân, cộng 48 cái ten; 2 cái tên là một khí; một năm cộng có 2,191.500 phân đều khắc ở trên cái tên; có con quạ bằng đồng dẫn nước xuống, tên nổi lên; đến chỗ phân biệt ngày đêm, chia tiết hậu, ngày chí (Hạ chí, Đông chí); mùa hạ ngày dài, mùa đông ngày ngắn, buổi sớm, buổi tốì, lúc ẩn, lúc hiện, đều đúng với cách đo bóng của sách Chu quan không sai chút nào. Cách thức chế tạo của đời Tống, đời Nguyên, không giống nhau, nhưng đều lấy 100 khắc làm phép áp dụng cả.

Sách Tam tài đồ hội (bách khoa thư, Vương Kỳ đời Minh soạn) có dẫn các sách nói về nguồn gốc Khí hậu. Sách Xuân thu nội sự nói: “Vua Phục Hi đặt ra tám tiết, vạch ra hào để ứng với tiết hậu”. Sách Tấn lịch chí nói: “Vua Viêm đế chia một năm làm tám tiết, trước hết là công việc nhà nông. Đổng Ba nói: “Vua Phục Hi đặt ra tám quẻ, mỗi quẻ ba vạch để tượng trưng 24 Khí tiết. Thiên Nguyệt lệnh trong sách Lễ ký có chua rằng: “Chu công làm ra phép xem giờ, định ra 24 khí, 72 tiết hậu. Vậy thì phép xem Khí hậu đã được đặt ra từ vua Phục Hi trước, rồi đến Chu công định lại sau: Cứ năm ngày là một tiết hậu, một tháng có sáu tiết hậu, 5 nhân với 6 là 30 ngày (6x5 = 30), ba tiết hậu là một Khí có 15 ngày.

21. Phép định tiết Khí ngày giờ

Tiền cửu niên suy hậu cửu thông,

Can thực chi xung tiết Khí đồng,

Nhuận nguyệt tất định vô trung khí,

Thử pháp ư quân tối hữu công.

Dịch nghĩa;

Suy tính chín năm trước, thì biết được chín năm sau,

Can thực chi xung, thì cùng một tiết khí,

Tháng nhuận chắc chắn được định là không có trung khí,

Phép ấy dạy người rất có công.

Thí dụ: Năm Kỷ Hợi, ngày Nhâm Tuất là tiết Lập xuân, thì (chín năm sau là) năm Đinh Mùi, ngày Giáp Thìn sẽ cũng là tiết Lập xuân. Nhâm là thủy sinh Giáp là mộc, là thực thần; Thìn xung Tuất; thế là "Can thực chi xung". Còn những tiết khác, theo đó mà tính.

22. Phép định tiết Khí thời khắc:

Kim niên Vũ thủy, mính niên xuân

Thiên can bất động gia lưỡng thần,

Dịch nghĩa:

Xuân năm nay là tiết Vũ thủy, thì sang năm là tiết Lập xuân,

Không động gì đến thiên can, chỉ gia thêm hai địa chi giờ (thời thần).

23. Tính 24 khí, cũng phỏng theo phép này.

Thời gia tam khắc vạn niên linh,

Dịch nghĩa:

“Án giờ thêm 3 khắc dẫu muôn năm cũng không sai”.

Thí dụ: Năm nay ngày mồng ba tháng Giêng là ngày Canh Thân, một khắc đầu giờ Ngọ là tiết Vũ Thủy từ ngày Canh Ngọ không động đến thiên can (là Canh) chỉ gia thêm 2 giờ là Tuất, tức ngày Canh Tuất (tháng Giêng) sang năm là tiết Lập xuân. Lại như: một khắc đầu giờ Tí, là tiết Vũ Thủy thì khắc thứ ba đầu giờ Tí, sẽ là tiết Lập xuân.

24. Phép xem giờ khắc mặt trời mọc, lặn.

Giờ Mặt Trời mọc

a. Giờ Dần:

Hạ Chí, giữa giờ Dần, 2 khắc.

Mang Chủng, Tiểu Thử, giữa giờ Dần, 3 khắc.

Tiểu Mãn, Đại Thử, giữa giờ Dần, 4 khắc.

b. Giờ Mão:

Lập Hạ, Lập Thu, đầu giờ Mão, 1 khắc.

Cốc Vũ, Xử Thử, đầu giờ Mão, 2 khắc.

Thanh Minh, Bạch Lộ, đầu giờ Mão, 3 khắc.

Xuân Phân, Thu Phân, đầu giờ Mão, 4 khắc.

Kinh Trập, Hàn Lộ, giữa giờ Mão, 1 khắc.

Vũ Thủy, Sương Giáng, giữa giờ Mão, 2 khắc.

Lập Xuân, Lập Đông, giữa giờ Mão, 3 khắc.

Đại Hàn, Tiểu Tuyết, giữa giờ Mão, 4 khắc.

c. Giờ Thìn:

Tiểu Hàn, Đại Tuyết, đầu giờ Thìn 2 khắc.

Đông Chí, đầu giờ Thìn 1 khắc.

Giờ Mặt Trời lặn

d. Giờ Thân:

Đông Chí, giữa giờ Thân, 2 khắc.

Tiểu Hàn, Đại Tuyết, giữa giờ Thân, 3 khắc.

Đại Hàn, Tiểu Tuyết, giữa giờ Thân, 4 khắc.

e. Giờ Dậu:

Lập Đông, Lập Xuân, đầu giờ Dậu, 1 khắc.

Vũ Thủy, Sương Giáng, đầu giờ Dậu, 2 khắc.

Kinh Trập, Hàn Lộ, đầu giờ Dậu, 3 khắc.

Xuân Phân, Thu Phân, đầu giờ Dậu, 4 khắc.

Thanh Minh, Bạch Lộ, giữa giờ Dậu, 1 khắc.

Cốc Vũ, Xử Thử, giữa giờ Dậu, 2 khắc.

Lập Hạ, Lập Thu, giữa giờ Dậu, 3 khắc.

Tiểu Mãn, Đại Thử, giữa giờ Dậu, 4 khắc.

f. Giờ Tuất:

Mang Chủng, Tiểu Thử, đầu giờ Tuất 2 khắc.

Đại Thử, đầu giờ Tuất 1 khắc.

25. Tiết vị lai nguyệt sóc tiết khí quyết

(Nắm lấy bí quyết xem tiết khí ngày mồng Một đầu tháng sắp tới)

Bí quyết này có 12 câu thơ thất ngôn:

Nguyệt sóc nguyên lai tự cổ hữu

Tiền cửu tương lai giữ hậu cửu.

Đại nguyệt ngũ can liên, cửu chi,

Tiểu nguyệt tứ can bát chi ngẫu.

Lục lục chi niên, tử tế suy,

Nhiệm quân tẩu tận kỷ hàn lộ;

Tiện tố kim niên lập xuân số;

Toán lai hữu bản vô sai ngộ.

Tứ thập thất niên tiền hữu nhuận,

Nhuận tiền nhị nguyệt định kim phùng,

Phân hào bất lậu chân tiêu tức

Tận tại tiên sinh chưởng át trung.

Dịch nghĩa:

Ngày sóc (mồng một đầu tháng) từ xưa nguyên vẫn có.

Chín năm trước tính đến chín năm sau,

Tháng đủ tính theo năm can và chín chi,

Tháng thiếu tính theo bốn can và tám chi.

Cái năm sáu sáu suy cho kỹ,

Trải qua mấy tiết Hàn lộ,

Thì định được ngày tiết Lập xuân năm nay.

Tính như thế đã có căn bản không thể sai lầm.

Bốn mươi bảy năm trước có tháng nhuận,

Thì năm nay nhuận, trước hai tháng;

Một phân một hào không sót tí gì,

Đều ở trong tay thầy toán số.

Giả như năm Mậu Tí, tháng Giêng là tháng thiếu, mà ngày mồng một là ngày Ất Dậu; can Ất đến can thứ tư là Mậu, chi Dậu tính đến chi thứ tám là Thìn (xem câu thơ thứ tư ở trên), thì biết ngày sóc tháng Giêng năm Bính Thân (9 năm sau) là ngày Mậu Thìn.

Tháng Hai năm Mậu Tí là tháng đủ mà ngày mồng Một là ngày Giáp Dần; từ Giáp tính đến can thứ năm là can Mậu, từ chi Dần tính đến chi thứ chín là chi Tuất (xem câu thơ thứ 3 ở trên), thì ngày Sóc tháng 2 năm Bính Thân (9 năm sau) là ngày Mậu Tuất. Còn những năm khác theo thế mà tính.

Lại có bí quyết rằng;

Chính nguyệt sơ nhất nhật thìn thuyết,

Cửu niên nhị nguyệt thập ngũ đồng.

Nhị nguyệt sơ nhất, nhật thìn vị,

Tức thị cửu niên nhị nguyệt trung.

Dịch nghĩa:

Mồng một tháng Giêng là ngày Thìn,

Thì rằm tháng Hai chín năm sau cũng là ngày Thìn.

Mồng một tháng Hai là ngày Thìn,

Thì rằm tháng Hai chín năm sau cũng là ngày Thìn,

Phép này rất đúng.

Duy có tiết Khí nào ở vào rằm tháng nhuận, thì nên tính lui lại một ngày, còn những tháng khác tương đối không sai.

26. Luận về tiết Lập xuân. Đem những thời khắc ngày tiết Hàn lộ từ 36 về trước đối chiếu với thời khắc tiết Lập Xuân năm nay không sai chút nào.

Luận về tháng nhuận. Xem tháng nhuận 47 năm về trước, lại gia thêm hai tháng, thì biết năm nay nhuận tháng nào. Thí dụ: Năm Canh Thìn trước, nhuận tháng tám, tính đến năm Bính Dần (47 năm về sau; xem câu thơ thứ chín ở trên), gia thêm hai tháng, tức là nhuận tháng Mười.

27. Sáu mươi hoa giáp chia làm đôi, từ Giáp Tí, Ất Sửu thuộc Kim, đến Nhâm Thìn, Quí Tị thuộc Thủy, cộng 30 hoa giáp. Lại từ Giáp Ngọ, Ất Mùi thuộc Kim, đến Nhâm Tuất, Quí Hợi thuộc Thủy cũng 30 hoa giáp.

Chính cung, đối cung; Kim rồi Hỏa, Hỏa rồi Thủy, đều giống nhau.

28. Về nghĩa Lục thập Giáp Tí nạp âm, trong sách Tứ thư đại toàn và tiểu chú, chương thiên thời, địa lợi, sách Mạnh Tử có dẫn thuyết Tam xa nhất lãm (xem qua đủ hiểu) nhưng chưa được minh bạch.

Xét sách Thụy quế đường hạ lục, thấy có nói: “Âm luật lấy số nhất với lục làm hành thủy; nhị với thất làm hành hỏa; tam với bát làm hành mộc; tứ với cửu làm hành kim; ngũ với thập làm hành thổ. Trong ngũ hành, chỉ kim, mộc là có âm tự nhiên, còn thủy, hỏa, thổ phải nhờ nhau mới thành âm được: thủy nhờ thổ, hỏa nhờ thủy, thổ nhờ hỏa. Cho nên: kim âm là tứ cửu; mộc âm là tam bát; hỏa âm là nhị thất; thủy âm là nhất lục; thổ âm là ngũ thập.

Giáp, Kỷ, Tí, Ngọ là số 9;

Ất, Canh, Sửu, Mùi là số 8;

Bính, Tân, Dần, Thân là số 7;

Đinh, Nhâm, Mão, Dậu là số 6;

Mậu, Quí, Thìn, Tuất là số 5;

Tỵ, Hợi là số 4.

Giáp Tí, Ất Sửu 34 số (9+9+8+8), là âm của tứ (4) kim, cho nên gọi là kim;

Mậu Thìn, Kỷ Tị 23 số (5+5+9+4), là âm của tam (3) mộc, cho nên gọi là mộc.

Canh Ngọ, Tân Mùi 32 số (8+9+7+8), nhị là âm hỏa (2), Thổ lấy hỏa làm âm, cho nên gọi là Thổ.

Giáp Thân, Ất Dậu 30 số (9+7+8+6), thập là thổ (10), thủy lấy thổ làm âm, cho nên gọi là thủy. Mậu Tí, Kỷ Sửu 31 số, nhất là số thủy, hỏa lấy thủy làm âm,cho nên gọi là hỏa.

Sáu mươi hoa giáp đều thế, vì đó mới là nạp âm. Lục thập Giáp Tí là lịch, nạp âm là luật, chi là nạp âm phân biệt ra.

(Nguồn: sưu tầm)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Vân Đài Loạn Ngữ

“Nhận dạng” tướng đàn ông trăng hoa

Nếu đàn ông có mũi quá nhỏ và gãy là biểu hiện của người nóng vội, thiếu kiên nhẫn và khó chung thủy trong tình yêu.
“Nhận dạng” tướng đàn ông trăng hoa

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


1. Xem tướng mắt
 
Mắt được coi là cửa sổ tâm hồn, là nơi truyền đạt những tâm tư tình cảm và suy nghĩ của mỗi người. Đàn ông trăng hoa thường có đôi mắt chuyển động không ngừng, liếc ngang liếc dọc. Khi nói chuyện, người này không nhìn thẳng vào mắt đối phương mà lại đung đưa, có vẻ nhìn nhìn một đối tượng khác.
 
Nam giới có tướng mắt này thường có tài ăn nói, hay nói những lời đường mật, dễ lọt tai nên thường được nhiều cô gái quý mến. Cuộc sống sau hôn nhân với người đàn ông này sẽ không được yên ổn bao lâu, bởi thói trăng hoa sẽ khiến anh chàng gục ngã vào vòng tay của bất cứ cô gái trẻ đẹp nào.

Nhan dang tuong dan ong trang hoa hinh anh
Ảnh minh họa

2. Xem tướng lông mày

 
Đàn ông có tướng lông mày lộn xộn, không có đường nét rõ ràng thường có đầu óc đơn giản nhưng lại có đời sống tình cảm phong phú. Với người này, tình yêu không phải là vĩnh cửu, nó chỉ đơn giản là nhu cầu tâm sinh lí của mỗi người.
 
Theo đó, anh chàng này rất khó chung thủy với một mối tình. Cuộc sống gia đình vô cùng phức tạp và lộn xộn bởi tính lăng nhăng của họ.
 
3. Xem tướng mũi
 
Trong Nhân tướng học, mũi là nơi cất giữ tiền tài. Sau khi kết hôn, người này có xu hướng sống dựa dẫm vào vợ, đến khi không còn là chỗ dựa an toàn, anh ta sẽ tìm đối tượng mới đáp ứng được nhu cầu đó.
 
4. Xem tướng môi
 
Đa số người môi lệch (môi trên và dưới không đồng đều) thường không đáng tin cậy. Nếu môi dưới dày, có thêm nốt ruồi là người có quá nhiều dục vọng và dễ trở thành kẻ bắt cá hai tay, phá hoại hạnh phúc chính gia đình mình và người khác.
 
5. Xem tướng răng
 
Đàn ông có tướng răng nhọn, số lượng răng ít thường nhát gan, bụng dạ hẹp hòi, hay so đo tính toán và để tâm tới chuyện vụn vặt. Nếu cộng thêm đặc điểm cười hay nói hở lợi là người có phúc phận gia đình mỏng, lại có tính trăng hoa nên cuộc sống gia đình bất hòa.
 
Đặc biệt, khi cuộc sống hôn nhân xuất hiện những mâu thuẫn lớn, người này sẽ trở mặt nhanh chóng, thậm chí công khai cặp kè với người khác để khiến vợ mình bị tổn thương.

► Lịch ngày tốt gửi tới bạn đọc công cụ xem tướng và xem bói tử vi để biết tính cách, số mệnh của mình

ST  
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: “Nhận dạng” tướng đàn ông trăng hoa

Tra cứu mức độ hợp khắc trong tình yêu của 12 con giáp

Trong số 12 con giáp có những cặp rất hợp mệnh nhau, nếu kết hợp sẽ rất ăn ý và thân thiết, nhưng cũng có một số cặp lại khắc mệnh và khi ở gần nhau sẽ rất dễ xảy ra xung đột, cãi vã.
Tra cứu mức độ hợp khắc trong tình yêu của 12 con giáp

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tuổi nào tương hợp - tương khắc, bổ khuyết cho nhau? Các bạn có thể tham khảo bảng tra dưới đây để biết mối tương quan giữa các con giáp nhé.

Trong số 12 con giáp có những cặp rất hợp mệnh nhau, nếu kết hợp sẽ rất ăn ý và thân thiết, nhưng cũng có một số cặp lại khắc mệnh và khi ở gần nhau sẽ rất dễ xảy ra xung đột, cãi vã. Qua bảng dưới đây, các bạn 12 con giáp sẽ biết được đối tượng tương khắc với mình và tránh ghép đôi cùng nhau hoặc tìm cách hóa giải tương khắc nhé.

Bảng tra mức độ hợp khắc giữa 12 con giáp

Tuy nhiên bảng này chỉ tra theo tương hợp tương khắc giữa Chi của con giáp, Nên vấn đề hợp khắc chỉ có tính tương đối, nếu xem tuổi vợ chồng hoặc xem bói tình yêu thì cũng chỉ nói lên một phần rất nhỏ trong quan hệ của hai người. Các bạn có thể dùng để tham khảo nhanh nhé

 


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tra cứu mức độ hợp khắc trong tình yêu của 12 con giáp

Giải thích quan trọng của vòng thái tuế và vị trí của mệnh và thân

Bài viết của tác giả Trần Việt Sơn về sự quan trọng của vòng Thái Tuế và vị trí của Mệnh - Thân. Đây là một bài viết rất hay!
Giải thích quan trọng của vòng thái tuế và vị trí của mệnh và thân

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Bài viết của tác giả Trần Việt Sơn

Trong kỳ trước, chúng tôi đã thuật lại những kinh nghiệm giải đoán nòng cốt của cụ Thiên Lương. Những kinh nghiệm đó khởi phát từ một cuộc khám phá rồi tiếp đó là những cuộc chiêm nghiệm lâu dài. Theo các cách giải đoán đó, chúng tôi đã xét lại nhiều lá số và thấy đúng, rồi đây chúng tôi sẽ xin trình bầy về những cuộc chiêm nghiệm đó hầu chuyện bạn đọc.

Trong kỳ này, chúng tôi xin lược ghi vài nét đã dẫn đến kinh nghiệm trên. Chúng tôi cũng xin kiểm điểm lại kinh nghiệm và nói kỹ hơn.

KHỞI ĐẦU CỦA SỰ KHÁM PHÁ

Trước hết, chúng ta ghi nhận rằng Thái Tuế là sao Vua, và vòng sao Thái Tuế hẳn phải có một sự kiện nào quan trọng khác với những điều người ta thường tưởng (từng chỉ đoán về vài sao trong vòng Thái Tuế, còn bỏ lại những sao khác).

Trong Tử vi, khi ghi các sao trong vòng Thái Tuế, chúng ta lại thấy Thái Tuế bao giờ cũng được ghi ở cung tuổi (như người tuổi Mùi thì Thái Tuế ghi ở cung Mùi). Và rồi 12 sao trong vòng Thái Tuế bao giờ cũng được ghi theo chiều thuận trên lá số, mỗi cung một sao, khác với những vòng sao khác ghi thuận hay nghịch theo âm dương của tuổi

12 sao của vòng Thái Tuế là: Thái Tuế, Thiếu Dương, Tang Môn, Thiếu Âm, Quan Phù, Tử Phù, Tuế Phá, Long Đức, Bạch Hổ, Phúc đức, Điếu Khách, Trực phù.

Những sự kiện về vòng Thái Tuế bao giờ cũng đi một chiều và Thái Tuế bao giờ cũng ở cung tuổi, khiến người tìm tòi suy nghĩ rằng vòng Thái Tuế có liên quan lớn đến vận mạng con người, ít nữa là trong đại cương, và do đấy, tự tìm tòi hướng đến việc so sánh thế sao dàn ra của vòng Thái Tuế với vị trí của cung Mạng và Thân; hay nói ngược lại là vị trí của Mạng và Thân với vòng sao Thái Tuế. Những thế, vị trí này thay đổi tùy theo năm sinh tháng sinh và giờ sinh của mỗi người.

Câu hỏi tiên khởi đặt ra là tại sao có những người mà Mệnh đóng ngay cung tuổi, tức là đóng ngay cung có Thái Tuế, và hai cung tam hợp của cung đó; có những người khác mà Mệnh lại đóng ở thế tam hợp đối nghịch với thế tham hợp của cung tuổi (xin xem tập trước). Hoặc ở một thế tam hợp lệch với thế tam hợp của cung tuổi.

Long Phượng Hổ Cái

Nhận xét có ngay là khi Mệnh (hay Thân) đóng ngay cung tuổi hoặc ở hai cung tam hợp với cung đó, thì con người được hưởng ngay bộ Long Phượng Hổ Cái.

Một chút kiểm chứng nhờ cách tính 4 sao đó là cho thấy ngay. Hoặc các bạn kiếm trên một bảng lập thành để tính sao là thấy. Như trong mấy giòng ghi đây:

Ta đã biết rằng trong vòng Thái Tuế, Bạch hổ bao giờ cũng ở thế tam hợp với Thái Tuế. Lấy 1 thí dụ theo bảng trên: tuổi Sửu, nếu mạng ở Sửu, thì có Thái Tuế ở Sửu, Long Trì ở Tị, Phượng Các ở Dậu, Hoa Cái ở Sửu. Như thế người tuổi Sửu, mạng ở Sửu, có Long Phượng Hổ Cái. Nếu Mạng ở Tị hay ở Dậu (trong thế tam hợp) thì cũng có Long Phượng Hổ Cái.

Hầu hết các vị trí Mạng (hay Thân) có Thái Tuế hay ở cung tam hợp với Thái Tuế (tức là có Quan Phù hay có Bạch Hổ), đều có Long, Phượng, Hổ, Cái. Có một vài trường hợp bị thiếu – nhưng không được đủ bộ, thì cũng được 3 (thí dụ được Long, Hổ, Cái). Bộ Long Phượng Hổ Cái là bộ quý nhất trong Tử vi, chỉ có bậc Vua mới có đủ bộ này, dĩ nhiên Vua còn phải có thêm những bộ sao khác thành: quân, thần, khanh, tướng.

Chỉ nói về người thường, thì ai mà Mạng (hay Thân) có Thái Tuế, hoặc Quan Phù, hoặc Bạch Hổ, là cũng có bộ Tứ linh Long, Phượng, Hổ, Cái, đó là quý cách, khiến con người được xứng ý toại lòng, được tự hào rằng mình có chánh nghĩa, và được sung sướng rằng việc làm của mình không sai với chánh nghĩa mà mình ấp ủ. Trong đời, thiết tưởng dù sang hay hèn, giầu hay nghèo, nếu đạt được cách đó cũng là khoái tâm hồn rồi, còn giàu sang cũng có thể khổ vì trái ý, hay vì vẫn chưa được toại nguyện.

NẾU MỆNH Ở THÁI TUẾ? Ở QUAN PHÙ? Ở BẠCH HỔ?

- Mệnh ở Thái Tuế là cái thế của con người tự hào về chánh nghĩa của mình.

- Mệnh ở Quan Phù, trong thế tam hợp với Thái Tuế, cũng là của con người tự coi mình có chánh nghĩa, những người này tính toán nhiều hơn, xét các lợi hại để hành động sao cho phải.

- Mệnh ở Bạch Hổ, trong tam hợp với Thái tuế, cũng là của người tự coi mình có chánh nghĩa, và người này ít tính toán, cứ cố gắng mà làm trong phạm vi của mình.

Được cả Thân và Mệnh đóng tại cung có Thái Tuế, Quan Phù, hay Bạch Hổ, là tốt nhất. Nếu chỉ có Mệnh đóng đó, và Thân lại đóng khác đi, thì chỉ hưởng cái thế của Mệnh trong hẳn nửa cuộc đời. Nếu Mệnh không được hưởng thế đó, mà Thân được hưởng, thì lúc đầu không được toại nguyện về việc làm của mình, nhưng sau được toại nguyện rằng đi đúng chánh nghĩa như mình quan niệm.

THẾ TAM HỢP

Để dễ ghi nhận kinh nghiệm trên và các kinh nghiệm sau, chúng tôi xin trình bầy 4 thế tam hợp mà người yêu tử vi nào cũng biết.

Thế Hợi Mão Mùi tức là thế Mộc

…(bị mất trang)

Tuổi Dần, Ngọ, Tuất (Thế Hỏa)
Thế so le đuổi theo, là khi Mạng ở Tỵ Dậu Sửu (thế Kim), Hỏa khắc Kim
Thế so le lấn lên, là khi Mạng ở Hợi Mão Mùi (thế Mộc), Mộc sinh Hỏa.

Ở các thế này cũng đoán về đại vận như trên, nghĩa là: những đại vận nào trong thế tam hợp của cung tuổi, tức là những đại vận có Thái Tuế, Quan Phù, Bạch Hổ là những đại vận tốt, khá nhất trong cuộc đời.

Một kỳ sau, chúng tôi sẽ xin trình bầy những lá số dẫn chứng mà chúng tôi nhân đó, chiêm nghiệm được cách giải đoán căn bản của cụ Thiên Lương là đúng.

Theo tạp chí Khoa Học Huyền Bí


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Giải thích quan trọng của vòng thái tuế và vị trí của mệnh và thân

Nhận diện tướng mạo chàng trai chung tình

Trước khi quyết định tiến xa hơn trong tình yêu, các girl có thể dựa vào đặc điểm nhân tướng sau đây của hội đầu keo để xem họ có coi trọng tình cảm hay không.
Nhận diện tướng mạo chàng trai chung tình

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

1. Mặt vuông chữ điền

Những chàng có khuôn mặt vuông vắn chữ điền thường rất chân thật, hiền hòa và biết chăm sóc người yêu. Họ đặc biệt hiểu tâm lý con gái, chiều chuộng bạn từng sở thích nhỏ nhất. Hơn nữa, con trai mặt vuông vắn còn là người biết lắng nghe, đồng cảm với những nỗi lòng của đối phương.

2. Mũi thẳng

Mũi thẳng, cánh mũi nhỏ vừa phải. Đặc điểm này cho thấy chàng ngay thẳng và chân thật trong các mối quan hệ. Hiếm khi bạn thấy người ấy lừa dối hay che giấu điều gì. Bù lại, bạn sẽ phải học làm quen với cá tính “thẳng như ruột ngựa” của đối phương, sẵn sàng bị góp ý cho dù chiến tranh lạnh xảy ra sau đó. Trái lại, những người sở hữu mũi cong, vẹo thường hay lừa dối trong tình cảm.

Ngoài ra, đặc điểm cánh mũi có đường nét rõ ràng, kích thước đồng đều nghĩa là chàng lựa chọn người yêu bằng tình cảm trái tim, rất cẩn thận thay vì yêu với mục đích bông đùa.

duong-yen-hanh-phuc-nhan-loi-c-1465-8118

3. Nhân trung sâu, dài

Không chỉ ám thị số mệnh giàu sang, gặp đại vận phú quý, nhân trung sâu và dài ở các boy còn cho thấy họ rất coi trọng tình cảm. Ngoài ra, nếu nhân trung mở rộng ở phía gần môi nghĩa là người ấy rất rộng lượng, phóng khoáng. Chuyện ghen tuông vu vơ sẽ hiếm khi xảy ra, tuy nhiên bạn cần phải giữ hình ảnh của mình trong mắt “gấu” luôn hoàn hảo, để bảo toàn niềm tin.

4. Lông mày đậm, dài

Lông mày cũng được xem là một trong những đặc điểm nhân tướng học ám chỉ về đời sống tình cảm ở phái mạnh. Lông mày đậm như minh chứng cho thấy người đó sống phụ thuộc nhiều vào cảm xúc. Ngoài ra, lông mày dài lại báo hiệu những mối quan hệ của họ rất bền vững vì hình thành và phát triển dựa trên tình cảm chân thành. 

Ngoài ra, teen girl cũng nên chú ý lông mày và mắt cần cách nhau một khoảng thích hợp. Lông mày nên có đường nét rõ ràng.

5. Hai mắt cân đối

Những boy chung tình thường sở hữu đôi mắt có kích thước bằng nhau, nhìn cân đối. Vị trí của hai mắt nằm trên cùng một đường thẳng. Ngược lại, nếu một mắt thấp, một mắt cao hẳn cho thấy người ấy ý chí không kiên định, rất dễ bị quyến rũ, mê hoặc bởi những cô gái xinh đẹp khác.

Mr.Bull (theo DZYX)

tuong-so-2-8909-1440114073-144-5729-4586 5 nét đặc trưng trên cơ thể chứng tỏ bạn có số giàu sang

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Nhận diện tướng mạo chàng trai chung tình

Ngó qua những con giáp vượng đào hoa vận nhất

Đào hoa vận là điều nhiều người khao khát song cũng có người tránh xa, tuy nhiên không thể phủ nhận rằng 4 con giáp sau có đào hoa vận nhất trong 12 con giáp.
Ngó qua những con giáp vượng đào hoa vận nhất

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Đào hoa vận là điều nhiều người khao khát song cũng có người tránh xa, tuy nhiên không thể phủ nhận rằng 4 con giáp sau có đào hoa vận nhất trong 12 con giáp.


Ngo qua nhung con giap vuong dao hoa van nhat hinh anh
 
Hạng 1: Tuổi Mão

Ngo qua nhung con giap vuong dao hoa van nhat hinh anh 2
 
Người tuổi Mão yêu nghệ thuật, tính cách ôn hòa. Nữ mệnh đặc biệt dịu dàng ít nói và thiện lương; nam mệnh khiêm tốn, hiểu lễ nghĩa, hài hước và có trách nhiệm. Chính vì tính cách tốt của mình, mệnh chủ thường nhận được sự yêu thích và quý mến của mọi người, đặc biệt là người khác giới. Theo tử vi, đó chính là dấu hiệu của đào hoa vượng.
Xem tử vi trọn đời cho người sinh ngày Đinh Sửu
Tử vi trọn đời người sinh ngày Đinh Sửu thấy có khả năng thuyết phục nhưng thiếu tính kiên trì, không thích hợp kinh doanh. Hôn nhân của mệnh chủ không đầm ấm,

Hạng 2: Tuổi Dậu


Ngo qua nhung con giap vuong dao hoa van nhat hinh anh 3
 
Mệnh trụ năm Dậu được chia thành hai thái cực rõ tàng: một là thích chuyện phiếm, huênh hoang khoác lác và đặc biệt nóng tính; còn lại là người có năng lực nhìn thấu sự việc, quan sát sắc mặt người khác, thích đoán tâm ý đối phương. Tuy nhiên, họ đều có điểm chung là bản tính yêu thích cái đẹp, giỏi giao tiếp, hay chăm sóc người khác giới  và biết cách chăm chút vẻ ngoài bản thân. Vậy nên, thật không có gì lạ khi họ không thiếu người theo đuổi và mến mộ.
Hạng 3: Tuổi Mùi

Ngo qua nhung con giap vuong dao hoa van nhat hinh anh 4
 
Con giáp Mùi ôn nhu, thiện lương, quan tâm người khác. Trên phương diện tình cảm, họ là người chất phác, hết lòng vì tình yêu. Mệnh chủ luôn hy vọng nhận được sự chú ý và khen ngợi của người khác giới nên luôn cố gắng hoàn thiện bản thân về ngoại hình lẫn nội tâm. Đồng thời, tính cách đa tình của họ đã mang đến không ít đào hoa cho bản thân.
Hạng 4: Tuổi Ngọ

Ngo qua nhung con giap vuong dao hoa van nhat hinh anh 5
 
Là con giáp xếp hạng 4 về vận đào hoa, hôn nhân và tình cảm của người tuổi Ngọ tương đối ổn định, trong cuộc sống thì hiếu thuận với cha mẹ, yêu thương vợ con. Tuy nhiện, đào hoa vận của họ chủ yếu là do tính cách lãng mạn tự do, không dè dặt và sức sống dồi dào.
=> Xem tử vi để biết tình yêu, hôn nhân, vận mệnh, sự nghiệp của mình

Chi Nguyễn
 

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Ngó qua những con giáp vượng đào hoa vận nhất

Sao Thiên Cơ

Phương Vị: Nam Đẩu Tinh Tính: Âm Hành: Mộc Loại: Thiện Tinh Đặc Tính: Huynh đệ, phúc thọ Tên gọi tắt thường gặp: Cơ
Sao Thiên Cơ

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Một trong 14 Chính Tinh. Sao thứ 2 trong 6 sao thuộc chòm sao Tử Vi theo thứ tự: Tử Vi, Thiên Cơ, Thái Dương, Vũ Khúc, Thiên Đồng, Liêm Trinh.
Vị Trí Ở Các Cung

  • Miếu địa ở các cung Thìn, Tuất, Mão, Dậu.
  • Vượng địa ở các cung Tỵ, Thân.
  • Đắc địa ở các cung Tý, Ngọ, Sửu, Mùi.
  • Hãm địa ở các cung Dần, Hợi.
Ý Nghĩa Thiên Cơ Ở Cung Mệnh
Tướng Mạo
Cung Mệnh có Thiên Cơ đắc địa thì thân hình cao, xương lộ, da trắng, mặt dài nhưng đầy đặn. Thiên Cơ hãm địa thì thân hình nở nang, hơi thấp, da trắng, mặt tròn.
Tính Tình
Thiên Cơ đắc địa là người nhân hậu, từ thiện, rất thông minh, khôn ngoan, có óc xét đoán, có nhiều mưu trí, làm việc gì đều có chiến lược, chiến thuật hẳn hoi.
Thiên Cơ hãm địa thì có óc kinh doanh, kém thông minh nhưng cũng là người nhân hậu, tài ba.
Công Danh Tài Lộc Phúc Thọ
Thiên Cơ đắc địa thì được hưởng giàu sang và sống lâu, nhất là khi hội tụ với nhiều cát tinh. Đặc biệt ở Thìn, Tuất thì khả năng nghiên cứu rất cao, nhất là trong ngành chính trị, chiến lược, tham mưu giỏi. Ở Mão Dậu, đồng cung với Cự Môn, người đó có tài tham mưu, kiêm nhiệm cả văn lẫn võ. Tài năng và phú quý rất hiển hách. Riêng với người nữ thì đảm đang, khéo léo, lợi chồng ích con, được hưởng phú quý và phúc thọ song toàn.
Nếu Thiên Cơ hãm địa thì lận đận, bôn ba, làm nghề thủ công. Riêng với người nữ thì vất vả, muộn gia đạo, hoặc gặp nghịch cảnh chồng con, đau đớn vì tình. Nếu gặp sát tinh như Hóa Kỵ, Thiên Hình, thì tai họa, bệnh tật rất nặng và chắc chắn không thọ.
Những Bộ Sao Tốt
  • Thiên Cơ, Thiên Lương ở Thìn, Tuất: Có tài năng, đức độ, mưu trí, phú quý song toàn, có năng khiếu về chiến lược, chính lược.
  • Thiên Cơ, Cự Môn ở Mão Dậu: Có tài năng, đức độ, mưu trí, phú quý song toàn, có năng khiếu về chiến lược, chính lược; nhưng nổi bật nhất ở chỗ rất giàu có, duy trì sự nghiệp bền vững.
  • Thiên Cơ, Vũ Khúc, Hồng Loan (nữ mệnh): Có tài năng về nữ công, gia chánh (thợ may giỏi, khéo tay, chân).
  • Thiên Cơ, Thái Âm, Thiên Đồng, Thiên Lương (Cơ Nguyệt Đồng Lương): Nếu đắc địa cả thì người đó có đủ đức tính của một bậc nho phong hiền triết. Nếu có sao hãm thì thường làm thư lại, công chức.
Những Bộ Sao Xấu
  • Thiên Cơ, sát tinh đồng cung: Trộm cướp, bất lương.
  • Thiên Cơ, Thiên Lương ở Thìn Tuất gặp Tuần Triệt hay sát tinh: Gặp nhiều gian truân, trắc trở lớn trên đường đời, có chí và có số đi tu. Nếu gặp Kình, Đà, Linh, Hỏa hội họp, có Tướng xung chiếu thì là thầy tu hay võ sĩ giang hồ.
Ý Nghĩa Thiên Cơ Ở Cung Phụ Mẫu
  • Đơn thủ tại Tỵ, Ngọ, Mùi: Cha mẹ khá giả.
  • Đơn thủ tại Hợi, Tý, Sửu: Cha mẹ bình thường. Cha mẹ và con không hạp tính nhau. Có cha mẹ nuôi, hoặc cha mẹ chắp nối.
  • Thiên Cơ, Thái Âm đồng cung tại Thân: Cha mẹ khá giả.
  • Thiên Cơ, Thái Âm đồng cung tại Dần: Cha mẹ khá giả, nhưng sớm có sự xa cách cha mẹ.
  • Thiên Cơ, Thiên Lương đồng cung: Cha mẹ giàu sang và sống lâu.
  • Thiên Cơ, Cự Môn đồng cung: Cha mẹ xa cách, thiếu hòa khí.
Ý Nghĩa Thiên Cơ Ở Cung Phúc Đức
  • Tại Hợi, Tý, Sửu: Bạc phúc, họ hàng ly tán.
  • Tại Tỵ, Ngọ, Mùi: Có phúc, họ hàng khá giả.
  • Cự Môn, Thiên Lương đồng cung hay Thiên Cơ, Nguyệt tại Thân: được hưởng phúc, sống lâu, họ hàng khá giả.
  • Tại Dần: không được hưởng phúc đồi dào nên suốt đời chẳng được xứng ý toại lòng. Họ hàng bình thường, người nữ hay trắc trở về chồng con.
Ý Nghĩa Thiên Cơ Ở Cung Điền Trạch
  • Thiên Cơ, Thiên Lương đồng cung, Cự Môn, Nguyệt ở Thân hay Cự Môn.
  • Thiên Cơ ở Mão: Có nhiều nhà đất.
  • Tại Hợi Tý Sửu Dần: Nhà đất bình thường.
  • Tại Tỵ Ngọ Mùi: Tự tay tạo dựng nhà đất.
  • Thiên Cơ, Cự Môn tại Dậu: Phá sản hay lìa bỏ tổ nghiệp, nhà đất ít.
Ý Nghĩa Thiên Cơ Ở Cung Quan Lộc
Vì Thiên Cơ chủ sự khéo léo, tinh xảo chân tay, lại có mưu trí, tháo vác, thêm sự khôn ngoan học rộng, cho nên Thiên Cơ ở Quan thường rất có lợi.
  • Thiên Cơ đơn thủ tại Tỵ, Ngọ, Mùi: Phú quý. Nhưng không được rực rỡ hiển hách. Nên chuyên về kỹ nghệ, máy móc.
  • Thiên Cơ tại Hợi, Tý, Sửu: công danh muộn màng, chật vật. Nên chuyên về doanh thương hay kỹ nghệ.
  • Thiên Cơ, Thiên Lương đồng cung: công danh hiện đạt. Bất cứ làm việc gì cũng cẩn thận, hay suy xét xa gần. Thích đàm luận về chính trị và quân sự. Có năng khiếu về chính trị, quân sự, tham mưu, dạy học, thủ công, doanh thương, kỹ nghệ, cơ khí. Đây là bộ sao đa nghệ nhất.
  • Thiên Cơ, Cự Môn đồng cung: Được hưởng phú quý vững bền. Có nhiều mưu trí và rất ưa thích máy móc.
  • Thiên Cơ, Thái Âm ở Dần, nên chuyên về y khoa hay sư phạm. Buôn bán cũng phát đạt. Nhưng muộng màng và gặp nhiều trở ngại.
  • Thiên Cơ, Thái Âm ở Thân, nên chuyên về y khoa hay sư phạm. Buôn bán cũng phát đạt.
  • Thiên Cơ, Riêu, Tướng: Làm bác sĩ rất mát tay.
Ý Nghĩa Thiên Cơ Ở Cung Nô Bộc
Thiên Cơ, Thiên Lương, Tả Phù, Hữu Bật: Có tôi tớ, bạn bè tốt, hay giúp đỡ mình, có công lao với mình.
Ý Nghĩa Thiên Cơ Ở Cung Thiên Di
  • Tại Tỵ, Ngọ, Mùi hay Cơ Lương đồng cung hay Cơ Nguyệt đồng cung ở Thân: nhiều may mắn về buôn bán ở xa, được quý nhân phù trợ, trong số đó có người quyền quý (Lương) hay chính vợ (Nguyệt) giúp đỡ mình rất nhiều.
  • Thiên Cơ, Cự Môn: Cũng giàu nhưng bị tai tiếng, khẩu thiệt vì tiền bạc.
  • Tại Hợi, Tý, Sửu: Bất lợi khi xa nhà.
  • Thiên Cơ, Tả Phù, Hữu Bật: Được người giúp đỡ.
Ý Nghĩa Thiên Cơ Ở Cung Tật Ách
Sao Thiên Cơ tượng trưng cho bệnh ở ngoài da, bệnh tê thấp, hạ bộ, chân tay bị yếu gân, da có bớt, tỳ vết, có sẹo, dễ bị tai nạn xe cộ, hoặc bị tai nạn đi đường, khó ngủ, hoặc nằm mà đầu óc hay phải suy tính, dễ bị lao tổn đến sức khỏe, hệ thống thần kinh, hệ thống hô hấp, gan, mật.
  • Cự Môn, Thiên Cơ đồng cung: Bệnh tâm linh, khí huyết.
  • Thiên Cơ,Thiên Lương đồng cung: Bệnh ở hạ bộ.
  • Thiên Cơ, Thái Âm: Có nhiều mụn nhọt.
  • Thiên Cơ, Kình hay Đà: Chân tay bị yếu gân.
  • Thiên Cơ, Thiên Khốc, Thiên Hư : Bệnh phong đàm, ho ra máu.
  • Thiên Cơ, Thiên Hình, Không Kiếp: Bệnh và tai nạn bất ngờ.
  • Thiên Cơ, Tuần, Triệt: Cây cối đè phải chân tay, bị thương.
Ý Nghĩa Thiên Cơ Ở Cung Tài Bạch
  • Thiên Cơ, Cự Môn hay Thiên Cơ, Lương hay Thiên Cơ ở Ngọ Mùi: Phát tài, dễ kiếm tiền và kiếm được nhiều tiền. Riêng với Cự Môn thì phải cạnh tranh chật vật hơn.
  • Ở các cung khác: Làm ăn chật vật, thất thường. Duy chỉ có đồng cung với Thái Âm ở Thân thì tự lực lập nên cơ nghiệp khá giả. Nếu có Lộc Mã thì đại phú.
Ý Nghĩa Thiên Cơ Ở Cung Tử Tức
  • Thiên Cơ, Lương hay Nguyệt Đức là người có từ 3 đến 5 con. Nếu Thiên Cơ đơn thủ thì ít con.
  • Cự Môn, Thiên Cơ (hay Cơ Nguyệt ở Dần Thân): Có con dị bào.
Thông thường bộ sao Cơ Nguyệt Đồng Lương ở cung Tử là chỉ dấu về con dị bào, dù không đủ bộ.
Ý Nghĩa Thiên Cơ Ở Cung Phu Thê
  • Tại Tỵ, Ngọ, Mùi: Sớm lập gia đình, vợ chồng lấy nhau lúc còn ít tuổi, hoặc người hôn phối nhỏ tuổi hơn mình khá nhiều.
  • Tại Hợi, Tý, Sửu: Vợ chồng khắc tinh, thường chậm gia đạo.
  • Thiên Cơ, Thiên Lương đồng cung: Lấy con nhà lương thiện, vợ chồng hòa hợp, thường quen biết trước hoặc có họ hàng với nhau. Gia đạo thịnh.
  • Thiên Cơ, Cự Môn đồng cung: Vợ chồng tài giỏi có danh chức. Nhưng vì ảnh hưởng của Cự Môn nên hai người thường bất hòa, thường phải hai lần lập gia đình.
  • Thiên Cơ, Thái Âm ở Dần, Thân: Gia đạo tốt. Nhưng trai thì sợ vợ trong trường hợp Thái Âm ở Thân.
  • Thiên Cơ, Thiên Lương, Tả Phù, Hữu Bật: Gái kén chồng, trai kén vợ. Cả hai rất ghen tuông.
Ý Nghĩa Thiên Cơ Ở Cung Huynh Đệ
  • Cự Môn, Thiên Cơ đồng cung: Có anh chị em dị bào, thường là cùng mẹ khác cha.
  • Thiên Cơ đơn thủ: Ít anh chị em.
Thiên Cơ Khi Vào Các Hạn
  • Thiên Cơ, Thương Sứ: Đau ốm, tai nạn, đánh nhau.
  • Thiên Cơ, Tang Khốc: Tang thương đau ốm.
  • Thiên Cơ Lương Tang Tuế: té cao ngã đau.
  • Thiên Cơ, Khốc Hỏa Hình: Trong nhà thiếu hòa khí.
  • Thiên Cơ, Kỵ Hỏa Hình Thương Sứ: Tang thương đau ốm, khẩu thiệt quan tụng.

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Sao Thiên Cơ

Lễ hội ngày 11 tháng 2 âm lịch - Hội Đình Kim Giang

Hội Đình Kim Giang được tổ chức vào ngày 11 và 12 tháng 2 âm lịch tại Đình Kim Giang, phường Đại Kim, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Lễ hội ngày 11 tháng 2 âm lịch - Hội Đình Kim Giang

Lễ hội ngày 11 tháng 2 âm lịch - Hội Đình Kim Giang

Hội Đình Kim Giang

Thời gian: tổ chức vào ngày 11 và 12 tháng 2 âm lịch.

Địa điểm: Đình Kim Giang, phường Đại Kim, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.

Đối tượng suy tôn: Các thần Cao Sơn, Diêm La, Mộc Tinh, hai vị bản thổ (hoàng cung Trịnh Thục phu nhân, Tràng Hán anh linh Đại Tướng quân).

Nội dung: Ngày 11/2 Sáng, lễ khai mạc được diễn ra sau một hồi trống tưng bừng của đội trống trong làng. Sau đó là lễ tế nhập tịch tại đình và đền do các cụ bô lão trong làng với trang phục truyền thống vào lễ cáo xin phép với Thành hoàng làng. Buổi chiều được tiếp tục với các hoạt động vui chơi dân gian truyền thống như chọi gà, chơi cờ tướng, đánh đu. Buổi tối có biểu diễn ca múa nhạc tại sân đình làng Kim Giang.

Ngày 12/2: Là ngày hội chính được bắt đầu bằng lễ rước bảng sắc phong từ nhà sắc về đình, đền. Đi đầu đoàn rước là đội múa rồng do thanh niên làng đảm nhiệm sau đó là các cháu thiếu nhi rước ảnh Bác Hồ, tiếp là đội tế lễ nam và nữ. Đội múa sinh tiền được các cháu thiếu nhi biểu diễn suốt cả đoạn đường rước kiệu mang lại không khí vui vẻ nhí nhảnh hồn nhiên của trẻ thơ. Bảng sắc phong đi cùng đoàn rước kiệu do hội phụ nữ làng đảm nhiệm, sau cùng là đội lễ của nhân dân trong làng và ngoài làng cùng tham gia lễ hội. Chương trình được tiếp tục với màn đội tế nam, tế nữ làm lễ dâng hương và đọc chúc văn tế Thánh lễ Mẫu tại đình, đền. Sau đó dân làng và du khách cùng hưởng lộc thánh. Buổi chiều được tiếp tục với các tiết mục hoạt động vui chơi trao giải thưởng cho các trò chơi đạt giải tại sân đền. Lễ tạ Thánh và tổng kết lễ hội được các cụ bô lão và dân làng tham gia tiến hành vào lúc xế chiều.

Lễ hội làng Kim Giang được tổ chức hàng năm góp phần giáo dục các con cháu trong làng không quên truyền thống giữ nước của cha ông và góp phần nâng cao tình đoàn kết của nhân dân trong và ngoài làng. Bài và ảnh Huy Hoàng


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Lễ hội ngày 11 tháng 2 âm lịch - Hội Đình Kim Giang

Các lễ hội ngày 12 tháng 3 Âm Lịch - Hội Làng Canh Hoạch

Vào ngày 12 tháng 3 âm lịch có tổ chức lễ hội: Hội Làng Canh Hoạch tổ chức tại Hà Nội và Hội Mai An Tiêm được diễn ra tại tỉnh Thanh Hóa

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Các lễ hội ngày 12 tháng 3 Âm Lịch - Hội Làng Canh Hoạch

Các lễ hội ngày 12 tháng 3 Âm Lịch - Hội Làng Canh Hoạch

1.Hội Làng Canh Hoạch

Thời gian: tổ chức vào ngày 12 tháng 3 âm lịch.

Địa điểm: xã Dân Hòa, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây cũ (nay thuộc Hà Nội).

Đối tượng suy tôn: Nhằm tôn vinh vị thành hoàng làng là: Trình Lý, Cao Hàn ( hai vị tướng thời vua Hùng thứ 18), Trần Uất (tướng thời Trần), trạng nguyên Nguyễn Đức Lượng, thường quốc công Nguyễn Quyện.

Nội dung: Mở đầu hội làng là các nghi thức lễ tế các vị thành hoàng làng, sau đó là hoạt động các trò chơi dân gian.

2. Hội Mai An Tiêm

Thời gian: tổ chức từ ngày 12 tới ngày 14 tháng 3 âm lịch.

Địa điểm: đền thờ Mai An Tiêm, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

Đối tượng suy tôn: nhằm suy tôn Mai An Tiêm - con vua Hùng.

Nội dung: đền thờ Mai An Tiêm nhỏ nhắn và đơn sơ nằm ở ngay cửa hang. Tương truyền rằng đây là nơi ở của gia đình Mai An Tiêm xưa kia.

Hàng năm cứ đến ngày này nhân dân lại tổ chức lễ hội để tưởng nhớ tới Mai An Tiêm. Ngoài phần nghi lễ tế rước kiệu và dâng hương, còn về phần hội thì có nhiều trò chơi dân gian thu hút nhiều người dân tham gia như: nấu cơm thi, ném lao, nhảy dây, kéo co, thi leo núi hái lượm, hội trại, biểu diễn ca nhạc.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Các lễ hội ngày 12 tháng 3 Âm Lịch - Hội Làng Canh Hoạch

Phong thủy 3 cửa thông nhau –

Để tránh hiện tượng 3 cửa thẳng khi đã làm cửa, bạn có thể đặt trước cửa thứ nhất hoặc cửa có gió lùa vào một tấm gương hoặc cây xanh lớn hay tảng đá.   Quan niệm tránh làm nhà 3 cửa thẳng hàng nhau là nhằm mục đích tránh gió lùa trong nhà. Lúc

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Để tránh hiện tượng 3 cửa thẳng khi đã làm cửa, bạn có thể đặt trước cửa thứ nhất hoặc cửa có gió lùa vào một tấm gương hoặc cây xanh lớn hay tảng đá.

cuathang

 

Quan niệm tránh làm nhà 3 cửa thẳng hàng nhau là nhằm mục đích tránh gió lùa trong nhà. Lúc này, gió sẽ lùa từ trước hoặc sau và thống vào các căn phòng trong nhà khiến nguy cơ gặp gió lạnh, độc của người sống trong đó là rất cao, từ đó ảnh hưởng tới sức khoẻ.

Để tránh hiện tượng này khi đã làm cửa, bạn có thể đặt trước cửa thứ nhất hoặc cửa có gió lùa vào một tấm gương hoặc cây xanh lớn hay tảng đá. Các vật này thường cao ngang tầm người để có thể cản gió. Ngoài ra, cách bố trí các vật này cũng cần đảm bảo được hai yếu tố là ngăn cản gió vào nhà nhưng không ảnh hưởng đến thẩm mỹ ngôi nhà, mà ngược lại phải tạo được cảnh quan hài hòa với kiến trúc chung giúp ngôi nhà đẹp hơn.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Phong thủy 3 cửa thông nhau –

Chọn đất đúng phong thủy giúp giàu sang phú quý, tích tụ tiền tài

Nếu mua một mảnh đất tốt, chuẩn phong thủy nó sẽ thu hút tiền bạc và thành công trong sự nghiệp cho người cư ngụ.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Những lô đất được cho là “nở hậu” thì được ví von là “túi vàng” tích trữ tài sản tốt cho gia chủ. Điều đó cũng đồng nghĩa giúp gia chủ an tâm, vững tài, phát lộc. Thuyết phong thủy không mới, nhưng người tin vào phong thủy cũng đang tăng dần bởi không chỉ “có kiêng có lành” mà “có tin cũng có an” - an bình, an tâm, an phúc.

Thế “An sinh”

Trong phong thủy nơi nào có nước là nơi đó sinh tài, phát lộc. 

1. Trái ngắn phải dài, trước rộng sau hẹp: cát trạch. Mảnh đất bên trái ngắn, bên phải dài sẽ rất tốt, vì loại địa hình này mặt sau hẹp mặt trước rộng, xây nhà ở đông thì toàn gia cát tường, con cháu đông đảo, chăn nuôi trồng trọt đều thành tựu.

2. Nơi ở có đầy đủ tứ thần là cát trạch. Đây là loại địa hình có đầy đủ tứ thần Chu Tước, Huyền Vũ, Thanh Long, Bạch Hổ. Tức là nhà ở bên trái có dòng nước chảy, bên phải có đường lớn, trước mặt có hồ nước, sau lưng có núi cao. Nếu chọn được địa hình này làm nơi ở thì nam giàu có, nữ tài giỏi. Quan tước lợi lộc không cần tìm kiếm cũng tự nhiên đến, con cháu đời sau có thể hưởng phúc trạch lâu dài.

3. Dòng nước chảy theo hướng tây nam – đông bắc là cát trạch. Đây là nơi có thể tìm kiếm để an cư lập nghiệp vì nó có dòng nước theo hướng tây nam – đông bắc chảy qua. Tuy lấy nhiều thê thiếp nhưng không có những tai họa khác, trong nhà sinh người quyền cao chức trọng.

4. Địa hình xung quanh đều cao là cát trạch. Loại địa hình giữa, chính diện, bốn phía đều cao, nếu xây dựng nhà cửa ở nơi này thì phúc đức có dư, gia súc đông đúc, gia đạo hưng vượng, con cháu nhiều anh hùng hào kiệt.

Đất có hình chữ nhật là một trong những ngoại hình nhà ở tốt lành theo phong thủy.

5. Trước có đồi, sau có núi, phía tây có nước là cát trạch. Trước nhà có đồi, sau nhà có núi, hai bên có dòng nước uốn lượn từ hướng đông dần thấp xuống, từ từ chảy qua một phần khu đất, đây chính là nơi bảo địa.

6. Trái có thanh long, phải có bạch hổ là cát trạch. Loại địa hình hướng đông có dòng nước chảy mạnh mẽ hùng hậu, hướng tây lại có đường lớn thông suốt. Nếu chọn nơi này làm chỗ ở thì sẽ giàu sang phú quý. Đây chính là loại địa hình trái có thanh long, phải có bạch hổ.

7. Trước nhà hai bên đều có rừng cây, hướng Càn có đồi, hướng Cấn có núi là cát trạch. Trước mặt nhà có rừng cây phân ra hai bên, hướng Càn (tây bắc) có gò đồi, hướng Cấn (đông bắc) có dãy núi. Nếu ở được vào nơi này thì nhất định giàu sang phú quý, con cháu đời sau danh vọng vinh hiển.

Thế “Phú Quý”

8. Phía đông bắc có khuyết thiếu: đại cát, tích tụ tiền tài, công danh hiển hách.

9. Phía đông nam có chỗ khuyết thiếu: cát trạch, gia thế hiển hách, giàu sang, phú quý, con cháu hưng vượng, gia sản đầy đủ.

10. Địa hình cao ở giữa: cát trạch, nhân khẩu đông đúc, gia tài sung túc, con cháu vinh hiển.

11. Chính bắc có gò mả là cát trạch. Loại thế nhà này có phía bắc có gò mả, người thầy phong thủy giỏi chọn thế đất này là có nguyên do. Người quân tử ở đây thì thăng quan tiến chức, kẻ bình thường ở đây thì gia đạo phồn vinh.

12. Trước sau có đồi núi: cát trạch. Nơi ở trước sau đều có đồi núi, lựa chọn nơi này để ở là không sai lầm, thường sẽ có trang viên rộng rãi, phú quý phát tài, hỷ sự liên tiếp, là ao ước của rất nhiều người.

13. Địa hình trước hẹp sau rộng: cát trạch. Xây nhà ở nơi có địa hình trước hẹp sau rộng, tất yên ổn, giàu sang, con cháu phát đạt, cơm áo dư giả, sức khỏe dồi dào, của cải sung túc.

14. Phía tây bắc có đồi núi: cát trạch. Khu đất hướng Càn (tây bắc) phía sau có đồi núi, nếu xây nhà cửa, trang viên ở đây thì gia đạo sẽ hưng vượng, con gái nhập cung sẽ có thể làm cung phí, hoàng hậu, con cháu có con đường hoạn lộ thanh vân rực rỡ, làm quan đến chức khanh tướng.

15. Phía tây nam có gò mả: cát trạch. Địa hình phía tây nam có gò mả, nếu xây nhà hoặc đặt trang trại thì nhất định luôn hưng vượng, con cháu đời đời vinh hiển, tận hưởng vinh hoa phú quý.

16. Tây cao đông thấp: cát trạch. Phía tây cao phía đông thấp, xoay lưng lại với đỉnh núi cao, loại địa hình này thích nghi xây dựng nhà cửa trang trại, con cháu đời sau có thể hưởng vinh hoa phú quý, giàu có như đại phú gia Thạch Sùng, con cháu đầy nhà, gia súc đông đúc.
17. Phía sau có núi, bắc cao nam thấp: cát trạch. Loại địa hình phía sau có ngọn núi, phía bắc cao phía nam thấp được xem là “phong thủy bảo địa”, nếu chọn được vùng đất này thì con cháu hưng vượng, chăn nuôi thành tựu, của cải dư thừa.

18. Địa hình khuyết thiếu nhưng chỉnh tể: cát trạch. Loại địa hình bên phải ngắn bên trái dài, hoặc nếu bên phải dài bên trái ngắn thì cũng không có trở ngại gì. Vì nếu phía sau tròn trịa và chỉnh tề thì càng cát lợi, chọn được đất này để ở thì nhà dân thường cũng sinh người tài giỏi.

19. Trước sau có núi, trái phải có nước: cát trạch. Địa hình trước sau đều có núi cao tương hợp với nhau, hai bên trái phải lại có cồn cát, ao hồ, nếu ở đây nhất định gia thế sẽ vinh hoa, sống thọ.

20. Trái phải đều có kênh nước, cát trạch. Là nơi hai bên trái phải đều có kênh nước chảy qua, ở lâu dài con cháu sẽ giàu sang, phú quý, của cải tiền tài sung mãn, con cháu đời sau thông minh tuấn tú hơn người.

21. Sau lưng có núi: cát trạch. Loại địa hình sau lưng có núi, là nơi thích hợp xây dựng trang viên, người ở sẽ có của cải sung túc, sức khỏe dồi dào. Nếu xây nhà ở thì nhân khẩu đông đúc, con cháu đời đời của cải dư thừa.

Chọn được thế đất có đầy đủ tứ thần thì đại cát, đại lợi

22. Phía đông bắc có gò mả: cát trạch. Loại địa hình phía đông bắc có gò mả, nếu thành gia lập nghiệp thì không có trở ngại gì. Xây dựng trang trại thì vô cùng cát lợi, vinh hoa phú quý, đời đời phồn vinh.

Các mảnh đất theo hình

23. Mảnh đất hình bình hành: Mảnh đất này được coi là một mảnh đất tốt. Trong trường hợp này, hãy xây nhà tại trung tâm mảnh đấy hay là phần phía trước sẽ giúp cho sự nghiệp phát đạt mau chóng. Nếu nhà nằm vào phần đất phía sau thì nghề nghiệp của người cư ngụ sẽ chắc chắn phát triển chậm.

24. Mảnh đất hình bán nguyệt: Mảnh đất hình dạng này là rất tốt. Trong mảnh đất này, tốt nhất là xây nhà ở giữa mảnh đất nhái theo hình dạng nửa đồng tiền cổ để đem lại tiền của dồi dào.

25. Đất có hình chữ nhật: đại cát, trong nhà xuất hiện hiền tài, con cháu có địa vị cao, tổ tông rạng rỡ.

26. Địa hình hình tròn: cát trạch. Đây là loại địa hình có hình tròn, bốn mặt hoàn chỉnh, căn cứ vào việc quan sát địa lý, loại địa hình này rất thích hợp xây dựng nhà ở. Nếu được ở vào khu đất này thì gia đình sẽ phú quý, hiển vinh, nhân khẩu hưng vượng.

Theo: Khỏe & Đẹp


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Chọn đất đúng phong thủy giúp giàu sang phú quý, tích tụ tiền tài

Bài trí phong thủy văn phòng theo mệnh để hút tài lộc

Căn cứ vào quy luật tương sinh tương khắc trong Ngũ hành mà có cách bài trí phong thủy văn phòng hợp lí để tăng vượng khí hút tài lộc và tránh điềm dữ.
Bài trí phong thủy văn phòng theo mệnh để hút tài lộc

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


 

1. Mệnh Kim: Hướng từ Tây Bắc sang Đông Nam
 
Những căn phòng thuộc mệnh Kim đồng nghĩa với việc công trình kiến trúc này hướng từ Tây Bắc sang Đông Nam. Khi bài trí văn phòng mệnh Kim, cần đảm bảo đủ ánh sáng, tạo cảm giác rộng rãi sáng sủa giống như tính chất của Kim (sáng sủa, kị ánh sáng yếu, tối tăm). 
 
Ngoài ra, dựa vào mối quan hệ tương sinh tương khắc trong Ngũ hành mà có cách chọn màu sắc phù hợp. Vì Thổ sinh Kim, nên có thể chọn màu vàng đặc trưng của Thổ làm gam màu chủ đạo, đồng thời tô điểm bằng màu trắng của hành Kim.

Bai tri phong thuy van phong theo menh de hut tai loc hinh anh
Ảnh minh họa

2. Mệnh Mộc: Hướng từ Đông sang Tây

 
Theo phong thủy văn phòng, những kiến trúc có hướng từ Đông sang Tây được gọi là mang mệnh Mộc. Bài trí văn phòng mệnh Mộc cần phải vuông vắn hào phóng về bố cục, tạo cảm giác cao và sâu giống như tính chất của Mộc. Như vậy sẽ thúc đẩy tài lộc, khiến tinh thần làm việc của mọi nhân viên lên cao.
 
Theo quy luật tương sinh trong Ngũ hành, Thủy sinh Mộc nên có thể dùng gam màu trắng hoặc đen đặc trưng của hành Thủy để tạo điểm nhấn cho văn phòng. Hoặc có thể lựa chọn các đồ nội thất có màu xanh đặc trưng của Mộc, như vậy sẽ hút nhiều vượng khí và tăng tài lộc.

3. Mệnh Thủy: Hướng từ Bắc sang Nam
 
Những công trình kiến trúc hướng từ Bắc sang Nam được gọi là mệnh Thủy. Tính chất của Thủy là trầm lắng, có tác dụng giữ gió tụ khí. Theo đó, văn phòng làm việc phải được bài trí khá kín đáo, tránh bị lộ liễu, tạo cảm giác huyền bí, như vậy mới có lợi cho sự phát triển của công ty. 
 
Ngoài ra, lợi dụng quy luật tương sinh Kim sinh Thủy trong Ngũ hành để lựa chọn các gam màu phù hợp cho văn phòng. Ở đây có thể sử dụng màu trắng đặc trưng của hành Kim kết hợp với màu đen của hành Thủy để trang trí cho văn phòng.
 
4. Mệnh Hỏa: Hướng từ Nam sang Bắc
 
Ngôi nhà mang mệnh Hỏa thường có hướng chính từ Nam sang Bắc. Khi bài trí phong thủy văn phòng mệnh Hỏa cần chú ý lựa chọn những gam màu đậm, tạo ấn tượng mãnh liệt nhưng trang trọng, mang lại cảm giác chắc chắn và ôn hòa. 
 
Có thể dựa vào quy tắc tương sinh trong Ngũ hành, ở đây là Mộc sinh Hỏa để lựa chọn cách phối màu hợp lí. Ví dụ có thể dùng tông màu xanh lá đặc trưng của mệnh Mộc kết hợp với màu đỏ, tím, hồng mang tính chất hành Hỏa để bài trí cho văn phòng.
 
5. Mệnh Thổ: Hướng từ Đông Bắc đến Tây Nam
 
Theo phong thủy văn phòng, các tòa nhà có hướng từ Đông Bắc đến Tây Nam được gọi là mệnh Thổ. Nếu văn phòng mang mệnh Thổ, cần bài trí rộng rãi, chắc chắn và có cảm giác chứa được vạn vật, phù hợp với đặc trưng của đất.
 
Khi lựa chọn màu sắc chủ đạo và các tông màu phụ để trang trí văn phòng, cần dựa vào mối quan hệ tương sinh tương khắc trong Ngũ hành. Ở dây Hỏa sinh Thổ, do đó có thể dùng màu sắc của mệnh Hỏa như đỏ, tím, hồng hoặc màu vàng đất của bản mệnh Thổ.
 
ST  
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Bài trí phong thủy văn phòng theo mệnh để hút tài lộc

Phòng thờ một góc tâm linh người Việt

Phòng thờ là góc tâm linh quan trọng của người Việt, vị trí đặt bàn thờ tốt nhất ở cung Thiên Ất Quý Nhân, thứ đến là Dương Quý Nhân, hướng bàn thờ ở cung
Phòng thờ một góc tâm linh người Việt

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Phòng thờ của người Việt vừa là một góc tâm linh quan trọng, vừa thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn truyền thống của dân tộc.

Đối với người Á Đông thì hầu hết trong mỗi một gia đình đều có một bàn thờ thần linh và tổ tiên. Bàn thờ này có thể ở dạng treo trên tường hoặc có thể ỏ dạng một kệ thờ, một tủ thờ. Bàn thờ cũng có thể được bố trí lồng vào trong không gian của một phòng nào đó như phòng sinh hoạt chung, phòng khách, phòng riêng, cá biệt có thể trong phòng ngủ với những nhà có diện tích sử dụng quá nhỏ hẹp.

Tuy nhiên, với những nhà có diện tích sử dụng đủ lớn thì đa phần bàn thờ được bố trí trong một không gian riêng gọi là phòng thờ. Vì vậy khi thiết kế kiến trúc cần phải tính đến một không gian hợp lý cho bàn thờ. Cũng như việc bố trí các Tiết Minh khác, bàn thờ cũng được bố trí theo nguyên tắc “Nhất vi, nhị hướng”. Tức là trước tiên phải xem xét vị trí đặt bàn thờ.

Vị trí đặt bàn thờ tốt nhất trong phòng thờ

Vị trí đặt bàn thờ tốt nhất là cung Âm quý nhân, vị trí đó đặt bàn thờ là đại cát khánh, luôn được âm linh phù trợ.

Thứ đến Dương quý nhân chủ gia đạo bình an, hòa thuận, hỷ khí đầy nhà, luôn gặp may mắn.

Theo quan điểm của người xưa thì Thiên Ất Quý Nhân là vị thần đứng đầu cát thần, hết sức tĩnh mà có thể chế ngự được mọi chỗ động, chí tôn mà có thể trấn được những phi phù. Vì vậy bàn thờ nên đặt ở Quý nhân là tốt nhất, sau đó mói đến Lộc vị, thứ nữa mới đến 16 cung Huyền không trạch vận. Nếu xét trong 16 cung Huyền không thì bàn thờ nên đặt tại các cung Diên thọ, Tài lộc, Tử tức đó là những cung tốt, có thể gia tăng phúc lộc, áp chế hung tinh giải trừ tai họa.

Hướng bàn thờ tốt nhất trong phòng thờ

Cũng như hướng nhà và hướng giường ngủ, hướng của bàn thờ là hướng của đường thẳng đi qua tâm bàn thờ và vuông góc với mặt bàn thờ. Như vậy hướng của bàn thờ ngược lại với hướng người đứng thắp hương.

Hướng của bàn thờ cũng cần bố trí tại tứ cát: Sinh Khí, Thiên Y, Diên Niên, Phục Vị. Tránh bố trí tại hướng hung.

Những điều cần lưu ý đối với bàn thờ

Ngoài việc bố trí hợp lý vị và hướng của bàn thờ, để có một môi trường phong thủy thật sự tốt thì việc bố trí bàn thờ còn cần phải đảm bảo một số yêu cầu sau:

  1. Bàn thờ tối kỵ xú uế: bàn thờ đòi hỏi phải hấp thụ được thanh khí rất kị xứ uế nên:
  2. Bàn thờ không được nhìn thẳng vào cửa phòng vệ sình,
  3. Phía trên bàn thờ không được bố trí phòng vệ sinh.
  4. Bàn thờ không được dựa lưng vào nhà vệ sinh hay bếp đun.

Bàn thờ nghi tĩnh bất nghi động: bàn thờ cần yên tĩnh, không cần động. Vì vậy bàn thờ nên bố trí tốt nhất là có một phòng riêng (gọi là phòng thờ) nếu không thì có thể bố trí trong phòng sinh hoạt chung hay phòng khách, không nên bố trí phòng thờ ở phòng ngủ hay phòng bếp, phòng ăn.

Trường hợp không có phòng thờ riêng thì khi bố trí bàn thờ không được đặt gần các nút giao thông trong nhà, không được đặt dưới gầm cầu thang hay áp sát vào gầm cầu thang.

Bàn thờ cũng không được tọa ở cửa sổ hay phía trên cửa sổ (tức là sau lưng bàn thờ không được bố trí cửa sổ hoặc dưới gầm bàn thờ không được bố trí cửa sổ, cửa ra vào). Bàn thờ không được đặt thẳng với cửa chính hay cửa sổ khiến gió có thể thổi xộc thẳng vào bàn thờ và ai đi qua cũng nhìn thấy. Nếu có thì phải thường xuyên đóng cửa sổ hay đặt một bức bình phong chắn gió phía trước mặt bàn thờ.

Tuy nhiên nói bàn thờ cần yên tĩnh không cần động không có nghĩa là phải chọn một chỗ khuất nấp, nhỏ bé, tôi tăm, ẩm thấp, thậm chí có nhà đặt bàn thờ trên tận tầng mái để thờ. Bỏi vì bàn thờ là thể hiện phần tâm linh của con người Việt Nam, không thể không thường xuyên quan tâm, hương khói, đó cùng còn là đạo lý uống nước nhớ nguồn mà trong mỗi con người chúng ta cần hướng tới. Vì vậy ngoài những vấn đề nêu trên, bàn thờ cũng nên thưòng xuyên quét dọn, lau chùi và chăm sóc.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Phòng thờ một góc tâm linh người Việt

Tướng người lưng dài –

Mỗi phần của cơ thể con người đều ít nhiều nói lên tính cách và vận số của đời người. Lưng (phần sau thân người, từ vai xuống thắt lưng) cũng không nằm ngoài phạm trù ấy. Lưng đẹp là lưng có chiều dài vừa phải, hình dáng cân xứng, đầy đặn, rắn chắc
Tướng người lưng dài –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tướng người lưng dài –

Viêm khớp với nằm mơ thấy nước –

Viêm khớp là khớp sưng đỏ và đau, có lúc nhiệt độ trong người tăng. Người đau nặng, khớp có thể biến dạng. Bệnh do cảm mạo, phong hàn, khớp thấp gây ra. Tâm lý là nguyên nhân gây bệnh chủ yếu. Có một người khoảng 30 tuổi thường nằm mơ thấy nước, nước
Viêm khớp với nằm mơ thấy nước –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Viêm khớp với nằm mơ thấy nước –

Phong thủy trong việc kê giường –

Kê giường hợp phong thủy giúp giấc ngủ của gia chủ sâu hơn, có được tinh lực, sức khỏe tốt để làm việc và tận hưởng cuộc sống. Theo xu hướng bài trí nội thất nhà đẹp hiện đại, giường ngủ thường được đặt ở chính giữa phòng, chỉ có đầu giường là tựa và

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Kê giường hợp phong thủy giúp giấc ngủ của gia chủ sâu hơn, có được tinh lực, sức khỏe tốt để làm việc và tận hưởng cuộc sống.

Theo xu hướng bài trí nội thất nhà đẹp hiện đại, giường ngủ thường được đặt ở chính giữa phòng, chỉ có đầu giường là tựa vào tường, còn lại ba mặt thoáng.

Tuy nhiên, theo quan điểm phong thủy, cách đặt giường này không có lợi vì một số lý do. Thứ nhất, ba mặt không có chỗ tựa tạo cảm giác thiếu an toàn. Tiếp đến, không gian phòng ngủ bị phân cách quá vụn, sử dụng bất tiện. Nếu phòng ngủ không rộng, gia chủ còn rất dễ bị va vấp chân tay.

ke-giuong-1-669109-1388745306

 

Theo phong thủy, lệch góc với cửa là tài vị, nơi tàng phong tụ khí, cả cửa ra vào và cửa sổ đều không xung được. Người ngủ ở đó sẽ có thân thể khỏe mạnh.

Một khi đã có được thân thể khỏe mạnh, đầu óc linh hoạt, tinh lực dồi dào, thì gia chủ sẽ có được tinh thần ổn định để làm việc. Theo đó, ý nghĩa của tài vị suy cho cùng thực ra là bảo đảm được sức khỏe. Vì thế, mấy kiểu kê giường dưới đây là tương đối thỏa đáng:

– Tốt nhất là kê giường ở vị trí có ba mặt tường tựa vào, nghĩa là cố tìm cách kê được ở một chỗ tàng phong tụ khí.

ke-giuong-2-907747-1388745306

– Kê giường ở góc phòng không bị xung xạ từ cửa ra vào và cửa sổ, hai mặt tựa vào tường. Nếu không được, gia chủ kê ở vị trí hướng cửa ra vào và cửa sổ, có thêm bình phong, rèm che, hoặc tủ quần áo là được. Mục đích là để chắn xung xạ từ cửa ra vào và cửa sổ, để vị trí giường được tàng phong tụ khí.

– Chú ý đầu giường không được hướng ra hành lang, thang máy, cầu thang, đường ống dẫn nước và bồn cầu nhà vệ sinh. Bởi vì, tất cả những chỗ đó là đại diện cho dương động, nơi luồng khí rất không ổn định, tuy có cách một bức tường thì cũng vẫn sẽ ảnh hưởng đến chất lượng giấc ngủ.

ke-giuong-3-441662-1388745306

– Đầu giường nhất thiết không được kê ngay dưới cửa sổ, bởi vì cửa sổ là nơi có luồng khí và luồng ánh sáng mạnh nhất, có động hướng rất lớn, ảnh hưởng nhiều đến giấc ngủ. Năng lượng của cơ thể người dễ bị tán xạ nên bất lợi cho sức khỏe.

Nếu không thể chuyển được đầu giường, thì tốt nhất bạn nên sử dụng rèm cửa dày và vải bóng để che khuất. Nhưng đây là phương pháp thứ yếu, phương pháp tốt nhất vẫn là chuyển đầu giường.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Phong thủy trong việc kê giường –
Click to listen highlighted text! Powered By DVMS co.,ltd