Mơ thấy bản thân lõa thễ: Lo sợ bị hiểu nhầm –
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
Chuyện về loài Ó
Nếu bạn đặt một con ó vào một chiếc lồng,với kích thước khoảng 2m x 2,5m, và hoàn toàn không có nóc, tức là phần trên được mở toang; thì cho dù vẫn có khả năng bay lên, nhưng con chim này sẽ hoàn toàn trở thành một ... tù nhân.
Lý do là một con chim ó luôn bắt đầu bay từ mặt đất lên,với đoạn "chạy đà" khoảng 3 - 4m.
Không có quãng đường để chạy, thì theo thói quen, chú chim thậm chí chẳng buồn cố gắng thử bay lên, mà chấp nhận bị cầm tù suốt đời, trong một "nhà giam" nhỏ chẳng hề có mái!
Chuyện về con Dơi
Một cơn dơi bình thường luôn bay ra ngoài vào buổi tối. Nó là một sinh vật nhanh nhẹn, linh lợi đến mức ấn tượng.
Tuy nhiên, nó không thể cất cánh từ một địa điểm bằng phẳng. Nếu nó được đặt trên sàn hoặc một mặt phẳng, thì tất cả những gì nó có thể làm là lê bước loanh quanh một cách vô vọng, và tất nhiên, một cách đau khổ.
Cho đến khi nó tìm được một độ cao nào đó, chỉ cần là một góc nâng nhỏ thôi, để từ đó, nó có thể tung mình vào không trung. Và, ngay lập tức,nó bay lên như một tia chớp.
Chuyện về loài Ong Nghệ
Một con ong nghệ, nếu bị thả vào một cái cốc lớn không có nắp, cũng sẽ ở đó cho đến chết, trừ phi chúng ta lôi nó ra.
Nó không bao giờ nhìn thấy đường thoát ở phía trên, mà cứ khăng khăng cố gắng tìm cách nào đó thoát ra qua các mặt bên, hoặc qua... đáy cốc. Nó sẽ tìm một con đường ở nơi mà không có con đường nào tồn tại, cho đến khi nó hoàn toàn tự hủy hoại mình.
Câu chuyện về Con Người
Theo rất nhiều cách, chúng ta cũng giống như con chim ó, con dơi và con ong nghệ. Chúng ta vật lộn với tất cả các rắc rối và tuyệt vọng của mình, mà không bao giờ nhận ra rằng rất có thể một giải pháp ở rất gần,chỉ cần chúng ta nhìn lên cao hơn - hay nhìn hướng tới phía trước.
Nhìn ngược lại có thể khiến bạn buồn bã. Nhìn quanh có thể khiến bạn lo lắng. Hãy nhìn lên cao, và nhìn tới trước,đó là cách sống lạc quan. Và tinh thần tích cực, nhiều hy vọng sẽ giúp bạn tìm ra giải pháp trong hầu hết các trường hợp.
Có một tác giả đã viết: "Khi không có giải pháp nào xuất hiện ngay trước mắt, thì con người rất dễ kết luận rằng không có giải pháp nào cả. Nhưng thực tế đã chứng minh, từ lần này sang lần khác, rằng giả thuyết đó là sai lầm."
Chỉ cần bạn nhìn lên cao hơn, rộng hơn tình huống hiện tại, rất có thể bạn sẽ thấy một lối đi ngay trước mắt mình.
Sống đơn giản, yêu thật lòng, quan tâm sâu sắc, hướng đến phía trước. Đó là bài học cuộc sống sâu sắc Chuyện về loài Ó, con Dơi, Ong Nghệ, Con Người
Hành: ThủyLoại: Ác TinhĐặc Tính: Đa sầu, đa cảm, buồn phiền, thăng trầm, kín đáo.
Sao thứ 8 trong 12 sao thuộc vòng sao Trường Sinh theo thứ tự: Trường Sinh, Mộc Dục, Quan Đới, Lâm Quan, Đế Vượng, Suy, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt, Thai, Dưỡng.
Ý Nghĩa Của Sao Tử
Các cụ xưa thường nói: “Cái răng cái tóc là góc con người” quả không sai. Không chỉ hình dạng khuôn mặt, bàn tay hay bàn chân mà hình dạng những chiếc răng cũng nói lên nhiều điều về tính cách của bạn. Mỗi người sinh ra đều sở hữu tướng răng khác biệt, nhất là cặp răng cửa. Điều đó cũng tạo nên sự khác biệt về nụ cười cho mỗi cá nhân. Hãy đứng trước gương và kiểm tra những chiếc răng cửa của bạn thuộc loại nào dưới đây để hiểu thêm về chính mình.
![]() |
![]() |
![]() |
Điều dễ phạm phải khi đi đền chùa đầu năm| ► Tra cứu: Lịch âm, Lịch vạn niên chuẩn xác tại Lichngaytot.com |
Phần lớn đàn ông đều thích chơi trò mờ ám, tình yêu trong bóng tối, trước mặt mọi người vẫn tự hào nhận mình còn độc thân. Trong bảng xếp hạng, có 4 chòm sao nam đào hòa thích nhất là hình thức này, cùng điểm danh để vạch trần ngay nào.
![]() |
![]() |
Nếu gặp đám tang ngược chiều, không ai bảo ai, dù vội đến đâu cũng đều xuống xe, kể cả người đi xe máy, xích lô đều ngả mũ nón, dắt bộ qua đám tang rồi mới lên xe. Ô tô thì chậm lại, không bóp còi.
Nếu đi cùng chiều, không tiện xuống xe thì đi chậm lại và ngả mũ.
Thân nhân đi tiễn đưa đều tự giác đi có hàng lối, trật tự. Lái xe đám tang ăn mặc theo lễ phục, tác phong cử chỉ rất nghiêm trang.
Tổng những câu nói hay về học tập. Học tập, giáo dục là yếu tố quan trọng nhất trong sự nghiệp phát triển của chúng ta. Học tập cần có ý chí, tinh thần quyết tâm để vượt qua mọi khó khăn, trở ngại.
Hãy xem những câu nói hay về học tập ngay sau đây để lên tinh thần cho một ngày học tập hiệu quả nhất nhé!
1. Học vấn do người siêng năng đạt được, tài sản do người tinh tế sở hữu, quyền lợi do người dũng cảm nắm giữ, thiên đường do người lương thiện xây dựng.
– Franklin –
—-
2. Trường học có thể hô biến những người thắng và người bại nhưng cuộc sống thì không.
– Bill Gates –
—-
3. Nhiệm vụ của một trường đại học tiến bộ không phải là cung cấp những câu trả lời thích hợp mà chính phải là đặt ra những câu hỏi thích hợp.
– Cynthia Ozick –
4. Con trai không dạy, lớn lên thành người ngu ngốc, ương gàn, con gái không dậy, lớn lên thành người lố lăng, thô bỉ.
– Thái Công –
5. Sự ngu dốt, hơn hẳn cả sự ở không, mới là mẹ của tất cả các thói xấu. Định mệnh của các thế hệ tương lai nằm ở trong nền giáo dục khôn ngoan, một nền giáo dục cần phải phổ cập để có thể có ích lợi.
– Ethel Churchill, L.E.Landon –
6. Nhà trường chỉ cho chúng ta chiếc chìa khóa tri thức, học trong cuộc sống là công việc cả đời.
– Bill Gates –
7. Tôi đã học được ba điều quan trọng ở đại học: Biết dùng thư viện, biết nhớ nhanh và chính xác, biết ngủ mọi lúc nếu rảnh 15 phút và có một mặt phẳng. Điều mà tôi chưa học được là làm thế nào suy nghĩ có sáng tạo theo một thời khóa biểu.
– Khuyết Danh –
8. Giáo dục là vũ khí mạnh nhất mà người ta có thể sử dụng để thay đổi cả thế giới.
– N. Mandela –
9. Ngủ dậy muộn thì phí mất cả một ngày, ở tuổi thanh niên mà không học thì phí mất cả một đời.
– Ngạn ngữ Trung Quốc –
10. Nếu ở Hoa Kỳ chỉ có một lời để lưu truyền từ thế hệ phụ huynh đến thế hệ của con em họ thì đó chỉ là một câu gồm hai chữ Tự tân. Và nếu ở mỗi thành phố có một ngôi đền dành cho sự tự tân, thì đó là ngôi trường học của nơi đó.
– Ellen Goodman –
11. Muốn xây dựng đất nước, trước hết phải phát triển giáo dục. Muốn trị nước phải trọng dụng người tài.
– Chiếu Lập Học –
12. Mục tiêu của giáo dục không phải là dạy cách kiếm sống hay cung cấp công cụ để đạt được sự giàu có, mà đó phải là con đường dẫn lối tâm hồn con người vươn đến cái chân và thực hành cái thiện.
– Vijaya Lakshmi Pandit –
13. Một đứa trẻ được dạy bảo tốt sẽ trở thành người tốt.
– Victor Hugo –
14. Giáo dục là một điều đáng kính trọng nhưng nên nhớ rằng đôi khi những điều được dạy là những cái không đáng biết.
– Oscar Wilde –
15. Chúng ta phải học, phải cố gắng học nhiều. Không chịu khó học thì không tiến bộ được. Không tiến bộ là thoái bộ. Xã hội càng đi tới, công việc càng nhiều, máy móc càng tinh xảo. Mình không chịu học thì lạc hậu, mà lạc hậu là bị đào thải, tự mình đào thải mình…
(Bài nói chuyện tại Hội nghị nghiên cứu lịch sử Đảng của Ban tuyên giáo Trung ương, 28-11-1959).– Hồ Chủ Tịch –
16. Còn kém thì phải học, phải tích cực học cách làm việc, tích cực học chuyên môn cho biết. Nếu vì kém mà không làm thì không được. Nhiều cái mình chưa biết, nhưng có quyết tâm học thì phải biết, nhất định biết.
– Hồ Chủ Tịch –
17. Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu.
– Hồ Chủ Tịch –
18. Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời. Suốt đời phải gắn liền lý luận với công tác thực tế, không ai có thể tự cho mình đã biết đủ rồi, biết hết rồi. Thế giới ngày ngày đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ, cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân dân.
– Hồ Chủ Tịch –
Người tuổi Tỵ và tuổi Sửu hợp tác rất khó có được thành công vì quan điểm của 2 bên thường trái ngược nhau.
Người tuổi Tỵ và tuổi Dần hợp tác không ăn ý vì hai bên không đồng nhất quan điểm, đôi lúc còn xảy ra xung đột.
Người tuổi Tỵ và tuổi Mão có thể hợp tác với nhau. Nếu cả hai bên cố gắng hiểu và hành động ăn khớp với nhau thì hợp tác kinh doanh sẽ có thành công.
Người tuổi Tỵ và tuổi Thìn có thể hợp tác với nhau. Tuy nhiên, tuổi Tỵ cần nhận phần việc cho mình nhiều hơn để duy trì mối quan hệ hợp tác.
Người tuổi Tỵ và tuổi Tỵ khó hợp tác với nhau. Họ có chung kế sách nhưng lại không phối hợp hành động được.
|
| (Ảnh chỉ mang tính chất minh họa) |
Người tuổi Tỵ và tuổi Ngọ hợp tác tốt nhất. Người tuổi Tỵ giỏi suy nghĩ nên đưa ra được những kế sách mang tính xây dựng. Người tuổi Ngọ lại chịu khó nên hoàn thành tốt được kế hoạch đặt ra.
Người tuổi Tỵ và tuổi Mùi có thể hợp tác kinh doanh. Người tuổi Tỵ linh hoạt trong việc nhận biết thái độ, dụng ý của đối tác. Tuy nhiên, người tuổi Tỵ cần đặt sự nghiệp nên hàng đầu, cố gắng giảm bớt những sai sót trong công việc.
Người tuổi Tỵ và tuổi Thân hợp tác không ăn ý. Người tuổi Thân thường quá lanh lợi khiến người tuổi Tỵ cảm thấy không an toàn.
Người tuổi Tỵ và tuổi Dậu hợp tác khó thành công. Tuy hai bên đều giao tiếp tốt nhưng nhiều khi mọi việc vẫn diễn ra không suôn sẻ chỉ vì phát ngôn không đúng lúc.
Người tuổi Tỵ và tuổi Tuất có thể hợp tác. Tuy nhiên, hai bên không nên quá kỳ vọng vào mối quan hệ này. Đôi lúc, họ gặp phải bất trắc trong kinh doanh.
Người tuổi Tỵ và tuổi Hợi có thể hợp tác. Song, người tuổi Tỵ không nên đưa ra quá nhiều ý tưởng gây bất lợi cho người tuổi Hợi.
(Theo Bách khoa toàn thư 12 con giáp)
1./ Tuổi Tuất
Những người tuổi Tuất thường có tính cách vô cùng phóng khoáng và cởi mở. Họ yêu thích sự tự do và khám phá những điều mới lạ của cuộc sống xung quanh. Tuổi Tuất cũng là những người vô cùng ngọt ngào khi yêu.

Với họ, tình yêu sẽ trở thành lẽ sống và nguồn hy vọng khi họ tìm thấy một nửa đích thực của đời mình. Thế giới của những người tuổi Tuất khi yêu sẽ chỉ có duy nhất người mình yêu bởi họ là những người vô cùng chung tình và kiên định. Trái tim và tâm trí của họ sẽ dành trọn cho người mà họ yêu thương bởi vậy họ sẽ dành tất cả những gì tốt đẹp nhất cho một nửa của mình mà không cần nhận lại.

Người được tuổi Tuất yêu thương và trao gửi trái tim chính là người mang lại niềm tin và động lực để tuổi Tuất phấn đấu và hoàn thiện bản thân mỗi ngày vì vậy họ chiếm vị trí quan trọng và khó có thể thay thế đối với những người tuổi Tuất.
>> Xem BÓI NGÀY SINH mới nhất 2016!
2./ Tuổi Mão
Ai yêu mình tuổi Mão sẽ hoàn toàn tin tưởng về lòng chung thủy và độ kiên định của con giáp này.

Họ biết đâu là thế mạnh và điểm yếu của mình, nên sẽ cực kỳ chăm chút nửa kia để bù đắp cho những thiếu khuyết. Hơn nữa, người cầm tinh con mèo còn khó bị lung lay trong những quyết định, nhờ vậy mà “gấu” càng có cơ sở để tin tưởng vào tình yêu.

Ngoài ra, người tuổi Mão quan niệm tình yêu phải dựa trên sự tôn trọng lẫn nhau, tình cảm chân thành nên trước khi quyết định sóng đôi với ai đó, họ nâng lên, đặt xuống rất kỹ lưỡng. Họ càng không lo ngại điều gì đó ảnh hưởng tới tình duyên của mình.
>> Bạn và "Gấu" có hợp tuổi? Cùng XEM TUỔI VỢ CHỒNG mới nhất 2016 nhé!
3./ Tuổi Hợi
Người cầm tinh con lợn vô cùng thận trọng khi yêu, nhưng đã yêu lại rất mãnh liệt.

Họ lãng mạn, tỉ mỉ và tinh tế, nên người yêu lúc nào cũng có cảm giác tình cảm rất nồng nàn, không muốn rời xa. Hơn nữa, con giáp này thường xác định chuyện tương lai lâu dài nên một mực kiên trì theo đuổi mục tiêu.

Cuối cùng, trong tình yêu, tuổi Hợi rất mạnh mẽ, dứt khoát. Nếu hai người phải chia tay, đó là vì đối phương chưa đủ trân trọng con giáp này.
>> Tên người "ấy" có ý nghĩa gì? Xem BÓI TÊN mới nhất 2016!
4./ Tuổi Dần
Những người tuổi Dần bẩm sinh đã sở hữu tính cách vô cùng lãng mạn, ngọt ngào. Họ luôn muốn dành những điều tuyệt vời nhất cho người mình yêu vì thế không có gì ngạc nhiên khi người tuổi Dần bỏ nhiều công sức, thời gian và tiền bạc để chiều theo ý muốn của người yêu.

Sở hữu trái tim của những người tuổi Dần có thể coi là điều hạnh phúc lớn lao trong cuộc đời của mỗi người. Tuổi Dần sẽ vừa là tri kỷ, là người thân, là người thầy, là đối tác tin cậy của người yêu khi luôn dành cho một nửa của mình sự quan tâm và chăm lo mọi lúc mọi nơi với vai trò là người quan trọng nhất.

Tình yêu của những người tuổi Dần vô cùng sâu sắc và tròn đầy bởi họ sẽ luôn cố gắng khiến người yêu trở thành người hạnh phúc nhất thế gian. Họ sẽ chung thủy nắm tay người yêu đi hết con đường hạnh phúc cho dù bất kỳ khó khăn nào xảy ra. Với họ tình yêu quan trọng như hơi thở và họ sẽ là người sống hết mình cho tình yêu đến giây phút cuối cùng.
>> Nhận diện người chung thủy qua khuôn mặt. XEM TƯỚNG mới nhất 2016 nhé!
5./ Tuổi Ngọ
Người tuổi Ngọ nhan sắc có thể có hạn, nhưng tự tin thì có thừa. Họ chắc chắn về bất kỳ quyết định nào của mình. Hơn nữa, người cầm tinh con ngựa còn suy nghĩ sâu sắc, chín chắn nên hiếm khi họ thay đổi hay hối hận. Nguồn năng lượng dồi dào còn giúp con giáp này luôn kiên định với mối tình, đủ sức, tâm để vun đắp cho nó lớn dần.

Con giáp này còn tự tin khẳng định mình là lựa chọn hoàn hảo cho nửa kia, nên chỉ có chuyện bạn nói chia tay trước, không bao giờ “gấu” nghĩ tới chuyện sẽ rời xa mình.

Người cầm tinh con ngựa vô cùng thận trọng khi yêu, nhưng đã yêu lại rất mãnh liệt. Họ lãng mạn, tỉ mỉ và tinh tế, nên người yêu lúc nào cũng có cảm giác tình cảm rất nồng nàn, không muốn rời xa. Hơn nữa, con giáp này thường xác định chuyện tương lai lâu dài nên một mực kiên trì theo đuổi mục tiêu.
Điều tạo nên sự bền chặt trong tình yêu luôn là sự chung thủy từ những người trong cuộc, những người có cuộc sống tình yêu hạnh phúc bởi lẽ họ hiểu rõ được giá trị của sự trân trọng và luôn một lòng một dạ vun vén cho tình cảm của mình.
![]() |
![]() |
Ngũ tức là số 5, đây chính là số quả trong mâm tượng trưng cho sự sống. Trong phong thủy, số 5 tượng trưng cho năm yếu tố ngũ hành: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Ngoài ra, số 5 là số lẻ tượng trưng cho sự phát triển, sinh sôi, nảy nở.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet
Ở hai miền Nam Bắc, việc trưng mâm ngũ cũng có một số khác biệt do quan niệm mỗi miền, và ngày nay cũng không quá khắt khe trong việc chỉ chọn 5 loại quả. Tuy nhiên, nếu chọn đúng sao cho hài hòa âm dương ngũ hành, bên cạnh việc mang lại vẻ đẹp thẩm mỹ cho bàn thờ ngày Tết còn giúp thúc đẩy sinh khí, hưng vượng cho gia chủ trong năm mới.
Xét về mặt âm dương ngũ hành, mâm ngũ quả hài hòa nên có các yếu tố bổ sung, tương hỗ cho nhau, giống như bản chất cuộc sống trong tự nhiên và xã hội. Cần cân đối giữa những trái cây có màu xanh hay màu nhạt, dịu mát - tượng trưng cho âm với các màu nóng như đỏ cam, vàng rực - tượng trưng cho dương.
Người Việt cũng chuộng hành thổ (sinh kim, tiền tài) và mộc (phát triển, nảy lộc, bám rễ lâu bền) nên mâm ngũ quả chủ yếu là các trái có vị ngọt (thuộc thổ) như lê, dưa hấu, đu đủ, xoài.... và những trái có vị chua (thuộc mộc) như bưởi, cam.
Ý nghĩa một số loại quả trong mâm ngũ quả:
Lê: ngọt thanh ngụ ý việc gì cũng trơn tru, suôn sẻ.
Lựu: nhiều hạt, tượng trưng cho con đàn cháu đống, đông đúc.
Phật thủ: giống như bàn tay Phật, che chở cho con người.
Táo đỏ: phú quý.
Hồng, quýt: tượng trưng cho sự thành đạt.
Thanh long: ngụ ý rồng mây gặp hội.
Bưởi, dưa hấu: căng tròn, mát lành, hứa hẹn sự ngọt ngào, may mắn.
Nải chuối: che chở, bảo bọc. Tuy nhiên, người miền Nam không trưng chuối vì phát âm giống từ "chúi" có nghĩa đi xuống.
Quả trứng gà: có hình như trái đào tiên - lộc trời.
Dừa: có âm tương tự như là "vừa", có nghĩa không thiếu.
Sung: sung túc, sung mãn về sức khỏe và tiền bạc.
Đu đủ: mang đến sự đầy đủ, thịnh vượng.
Xoài: có âm như "xài", cầu mong tiêu xài không thiếu thốn.
“Giới là lộ trình sống thực của chân lý, được kết tinh từ nhân cách phẩm chất đạo đức, nhằm nuôi dưỡng lớn công hạnh tự lợi, lợi tha, một yếu tố tác thành Phật quả. Giới cũng chính là cơ năng nòng cốt để xây dựng trật tự kỷ cương, một con người toàn diện trong sáng, nâng cao trí thức, phát triển trí tuệ”.
Đức Thế Tôn đã là bậc Chánh Đẳng Chánh Giác làm bất cứ việc gì cũng cẩn thận chu đáo, không sơ sót dù là một chuyện nhỏ. Trong 12 năm đầu khi giáo đoàn thành lập chúng tăng hầu hết phần đông là căn cơ trình độ giáo pháp cao siêu là những bậc thánh A- la- hán, thành phần tu tập đoạn dứt lậu hoặc. Những vị căn cơ còn thấp kém chỉ nghe đức Thế Tôn khai thị vài lần liền chứng ngộ. Vì thế nếp sống của chư Tăng thuở ấy hoàn toàn thanh tịnh. Tuy đức Thế Tôn chưa chế Giới luật nhưng Giới vẫn có, chỉ giới hạn được trình bày dưới dạng những hình thức đơn giản tổng quát về mặt hộ trì các căn.
Thế Tôn dạy: “Tỳ kheo khi mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, lưỡi nếm vị, mũi ngửi hương, thân xúc chạm, ý duyên pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, cũng không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì khiến cho các căn không được duyên theo, không bị sinh tâm tham ái, ưu bi và các bất thiện pháp khởi lên, nếu có khởi lên Tỳ kheo liền chế ngự nguyên nhân ấy sống thực hành hộ trì các căn”.
Đức Thế Tôn thực hành qua giai đoạn thực hành Trung Đạo Đế, hành Bát chánh đạo dưới hình thức, Tỳ kheo nên giữ Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định. Qua sự trình bày như trên chúng ta thấy Giới luật tuy có mà chưa rõ ràng.
Trong Ngũ Phần Luật quyển 1, Ngài Xá Lợi Phất trình thưa Phật: “Bạch đức Thế Tôn làm sao để Chánh Pháp của đức Như Lai, sau khi Như Lai diệt độ rồi Chánh Pháp ấy được tồn tại lâu dài”.
Ngài Xá Lợi Phất thưa: “Bạch Thế Tôn tại sao con không thấy Thế Tôn chế giới mà chỉ nói Pháp?”
Đức Phật nói: “Này Tôn giả, ta biết thời phải làm gì, nay chưa đến thời ta chưa chế giới. Khi nào trong Tăng chúng có việc vì danh lợi, vì hữu lậu xảy ra thì Như Lai mới chế giới”.
Ngài còn dạy rằng : “Nếu Ta chế Giới trước khi vi phạm, thì người đời sẽ phỉ báng ta. Họ sẽ bảo rằng tôi không có gây tội, sao lại cưỡng chế ra Giới luật. Đây không phải là nhất thiết trí. Như thế là Như Lai không có tâm từ bi, không lợi lạc, không bảo bọc chúng sanh. Như người không có con lại nói rằng sẽ sanh con vào giờ ấy. Chuyện ấy không thể tin, vì không chân thật. Nếu là sự thấy đứa con người ta mới tin được, cũng thế hữu lậu chưa sanh, tội chưa làm, trời người chưa thấy làm sao chế Giới được. Cho nên cần phải thấy rõ phạm tội, rồi sau đức Thế Tôn mới chế Giới, đây là đúng thời. Này Xá Lợi Phất như y sĩ biết là nguyên nhân tật bịnh và biết thuốc nào ngọt để trị bịnh ấy”.
Từ đó, dần dần về sau trong Giáo đoàn Tăng sinh các hữu lậu với mục đích tâm họ không chân chánh. Do đó tăng đoàn đã xảy ra nhiều trường hợp nhiều Tỳ kheo thiếu kỷ cương nề nếp, đời sống buông lung phóng túng, vi phạm tịnh hạnh … khiến cho Giáo đoàn của Phật bị mang tiếng xấu lây, lại có nhiều ý kiến mâu thuẫn. Để giải quyết những vấn đề đó, Thế Tôn bắt đầu chế Giới để đối trị những lỗi lầm đã xảy ra, ngăn ngừa hành vi bất thiện pháp sắp vi phạm hay đã phạm thì phải sám hối, đồng thời duy trì uy tín của Tăng đoàn.
Giới luật được đức Thế Tôn chế vào khoảng năm thứ 13 sau khi đức Phật thành đạo, nhưng tùy phạm tùy kiết, những Giới không nhất định phải chế Giới từ 3 – 4 lần mới thành một Giới. Đây là một trường hợp điển hình nói lên tính linh động và tầm mở rộng của Giới Luật. Trường hợp khác điển hình giới dâm, phải trải qua ba giai đoạn mới thành:
– Giai đọan thứ nhất : Tôn Giả Tu Đề Na con trai của thôn trưởng Ca Lan Đa, do sự yêu cầu của người mẹ phải để lại đứa con trai để nối dõi tông đường, nên Tôn giả đã hành dâm với người vợ cũ. Sau sự việc xảy ra Tôn Giả bị lương tâm cắn rứt, cảm thấy hổ thẹn với những Tỳ kheo thanh tịnh nên thú nhận tội với chư Tăng, chư Tăng bạch Phật, Phật quở trách rồi chế giới: “Tỳ kheo ấy là kẻ Ba La Di không được ở chung”.
– Giai đoạn thứ hai : Một Tỳ kheo chán nản đời sống phạm hạnh, về nhà hành dâm với vợ cũ. Vì trong Giới Phật chế không cho trường hợp chán nản đời sống phạm hạnh. Do đó, Thế Tôn chế thêm “Tỳ kheo nào đã trì học xứ và chấp nhận đời sống của Tỳ kheo, chưa hoàn giới sút kém nhưng không phát lồ, hành dâm dục Tỳ kheo ấy là kẻ Ba La Di không được sống chung”.
– Giai đoạn thứ ba : Một Tỳ kheo sống trong rừng, bị thiên ma nhiễu loạn, nên đã hành dâm với con vượn cái. Nghĩ rằng Giới luật đức Thế Tôn dạy không có trường hợp cùng với loài súc sanh, thêm lần nữa Đức Thế Tôn bổ túc thêm Giới trên cho đầy đủ “Tỳ kheo nào đã thọ trì học xứ và chấp nhận đời sống của Tỳ kheo chưa hoàn giới, giới sút kém những không phát lồ mà hành pháp dâm dục, cho đến cùng với loài súc sanh, Tỳ kheo ấy là kẻ Ba La Di không được sống chung”.
Đức Thế Tôn thị hiện trên cõi đời vị mục đích giải thoát chúng sanh ra khỏi dòng sanh tử, nên Giới luật của Ngài không có tính cách cưỡng chế, bó buộc mà hoàn toàn vì an lạc của chúng đệ tử. Chính nhờ những Giới pháp đó mà Đức Thế Tôn đã tu hành đạt thành Chánh giác và đem sự sáng suốt truyền lại cho chúng sanh coi như Giới thân Huệ mạng của chính mình. Bởi thế trước khi nhập Niết Bàn, đức Thế Tôn đã ân cần Di giáo: “Sau khi ta diệt độ, các ngươi phải tôn trọng giữ gìn Ba-la-đề-mộc-xoa, như người nghèo gặp được của báu, như qua sông đặng ghe, như người bệnh gặp thầy thuốc v.v… phải biết pháp này là Thầy của các ngươi, dù ta có trụ thế cũng không ngoài pháp ấy”. Đức Phật là vị thầy thuốc chữa bệnh cho chúng sanh, nếu người không bệnh mà ra toa bốc thuốc thì người ấy sẽ phản kháng, họ sẽ nhất định không chịu, còn người mắc bệnh nếu được trị liệu họ sẽ cảm kích vô cùng, đây là tâm lý thông thường của mọi chúng sanh.
Như chúng ta nhận xét qua lời giải trong các kinh đức Thế Tôn giảng dạy xong lại nói rằng: “Tất cả pháp ta nói ra chỉ là phương tiện khi tu hành xong hãy buông bỏ”. Nếu hành giả đang thời hành đạo Giới thể đã mất, thời Giới thân Huệ mạng cũng không còn.
30 câu nói hay nhất về nghị lực cuộc sống. Cuộc sống của chúng ta rất phức tạp, nhiều khi nó không đơn giản như mình nghĩ, nó có bao phong ba bão tố mà dường như con người không thể biết trước được.
Cuộc sống nhiều lúc làm chúng ta muốn buông xuôi tất cả, không còn động lực để vượt lên chính mình và đưa đẩy mình vào cuộc sống bế tắc. Nhưng đôi khi, chỉ cần một câu nói, một câu châm ngôn hay là bạn đọc được ở đâu đó những câu triết lí về cuộc sống thì bạn sẽ cảm thấy mình có động lực để làm việc và học tập tiếp.
Qua bài viết này, bạn sẽ cảm nhận được những câu nói hay nhất về cuộc sống. Hãy đọc và suy ngẫm nhé.
1. Nếu tỏ ra khoan dung sẽ có người cho bạn là dễ dãi. Dẫu thế, bạn hãy cứ bỏ qua cho họ.
——-
2. Thành công không tự tại, tự tại không thành người.
———
3. Người chưa từng có nỗi hoảng sợ tuyệt đối không có hy vọng.
——–
4. Những ký ức và kỉ niệm đẹp đẽ sẽ giúp con người vượt qua thách thức của cuộc sống.
——–
5. Thật dễ té ngã khi vấp phải một hòn đá nhưng sẽ rất khó đứng dậy và mạnh dạn bước đi tiếp.
6. Cuộc sống không cho bạn tất cả những gì bạn mơ ước, nhưng cuộc sống cho bạn quyền được lựa chọn ước mơ và quyền được thực hiện nó
7. Thật dễ thốt ra 1 lời hứa với ai đó nhưng sẽ rất khó giữ được lời hứa của chính mình
8. Niềm tin vào chính mình có sức mạnh xua tan bất kỳ hoài nghi nào của người khác
9. Hãy luôn đặt mình vào vị trí của người khác, nếu điều đó làm tổn thương bạn thì nó cũng sẽ làm tổn thương người khác
10. Nếu thật sự muốn yêu thương ta phải học cách tha thứ
11. Thật dễ nói lời yêu thương 1 ai đó nhưng sẽ rất khó làm cho người đó cảm nhận được tấm chân tình của bạn
12. Không có đức tính nào vĩ đại hơn tình yêu không kỳ thị
13. Đừng bao giờ quá bận rộn để quên nói lời “làm ơn” hay “cảm ơn”
14. Tình yêu là sự trao tặng và đón nhận với lòng tự nguyện chân thành nhất
15. Thật dễ làm tổn thương 1 người mà chúng ta hết mực yêu thương nhưng sẽ rất khó hàn gắn lại vết thương đó
16. Bạn trao tặng cho cuộc đời tất cả những gì tốt nhất của bạn, nhưng thường thì người đời vẫn chưa cảm thấy hài lòng. Dẫu thế, bạn hãy cứ trao tặng những gì tốt đẹp nhất
17. Thật dễ đặt ra những nguyên tắc nhưng sẽ rất khó tuân theo những nguyên tắc do chính mình đặt ra
18. Có những lần tình cờ gặp nhau đơn giản chỉ để biết mặt rồi nhanh chóng lãng quên, nhưng sẽ có lúc bạn nhận ra rằng những người bạn gặp trong đời không phải là sự ngẫu nhiên mà là có duyên sắp đặt
19. Có những cuộc tìm kiếm gần như vô vọng, nhưng nhờ có nó, bạn biết được sức mạnh và điều kì diêu của tình yêu
20. Thật dễ bộc lộ những cảm xúc khi chiến thắng nhưng sẽ rất khó nhìn nhận những thất bại của bản thân
21. Có những sai lầm không bao giờ sữa chữa được, nhưng chúng sẽ làm bạn biết suy nghĩ cẩn trọng hơn trước khi đưa ra những quyết định sau này
22. Chính trong lao động và chỉ có lao động, con người mới trở nên vĩ đại và có niềm tin trọn vẹn
23. Thật dễ nuối tiếc về 1 điều gì đó đã mất đi nhưng sẽ rất khó nhận ra và trân trọng những gì ta đang có
24. Đừng bao giờ cau mày hay nhăn mặt thậm chí khi bạn đang buồn, chắc chắn sẽ có ai đó yêu bạn chỉ vì nụ cười của bạn thôi. Với thế giới bạn chỉ là một cá nhân nhưng đối với một ai đó, bạn là cả thế giới
25. Có những ước hẹn mãi chỉ là hẹn ước với 1 người đã ra đi, nhưng nhờ có nó, bạn mới thấy được giá trị của hạnh phúc khi có người trở về
26. Đừng để cuộc sống đi qua mắt bạn chỉ vì bạn đang sống trong quá khứ hay tương lai. Bằng cách sống của mình ngày hôm nay, vào lúc này, bạn đang sống tất cả mọi ngày trong cuộc đời. Hãy sống bằng tất cả tâm hồn, tình cảm của bạn.
27. Nếu tim bạn bị vỡ vụn, hãy can đảm cầm mảnh còn lại đi tiếp con đường của mình.
28. Khi tự nhìn nhận cuộc sống mình đã là hoàn hảo, không còn mục đích lớn lao gì nữa thì có nghĩa là cuộc sống của bạn đang mất đi rất nhiều ý nghĩa
29. Nếu chỉ nhìn vào vẻ bề ngoài của một người thì có lẽ bạn sẽ thất vọng, nhưng nếu nhìn theo cánh mà bạn mong muốn thì nhất định họ sẽ trở thành người bạn mong đợi
30. Thật dễ phê bình những lỗi lầm của người khác nhưng sẽ rất khó tự hòan thiện nhưng khuyết điểm của chính mình
![]() |
![]() |
Những đại kị phong thủy nhà ở chia cắt tình cảm vợ chồng 1. Đeo nhẫn để chiêu tài
Theo quan điểm phong thủy, ngón tay áp út là vị trí giúp tụ tài tốt nhất. Nếu đeo nhẫn ở ngón tay này sẽ tăng thêm tài lộc và gặp nhiều may mắn về tiền bạc.
Tuy nhiên, một vài quan điểm cho rằng, đây là ngón tay đeo nhẫn cưới, nếu vẫn độc thân mà đeo nhẫn ngón này sẽ dễ bị lỡ mất cơ hội kết thân với người khác giới.
Do đó, với những người độc thân, có thể sử dụng các loại nhẫn có hình dáng khác với nhẫn cưới để giúp chiêu tài, tụ khí lại không làm lỡ mất cơ hội tình cảm.
Trên thực tế, trong thời gian đang yêu hoặc đã đính hôn, việc đeo nhẫn ở ngón tay này sẽ giúp tình cảm lứa đôi thêm gắn kết, sớm “ra hoa kết trái”.
2. Đeo nhẫn để khai vận và duy trì hạnh phúc
![]() |
| Đeo nhẫn chuẩn phong thủy hút tài lộc và vận đào hoa |
Pháp Chính (176 - 220), tự Hiếu Trực, người huyện Mi, Thiểm Tây ngày nay, là một trong những mưu sĩ hàng đầu của thế lực quân phiệt Lưu Bị thời Tam Quốc.
Ban đầu, Pháp Chính là thủ hạ của Lưu Chương - quân phiệt Tây Xuyên. Sau này, khi Lưu Bị vào đất Thục, Pháp Chính về làm mưu thần cho Bị, được bị rất tín nhiệm và kính trọng.
Bỏ Lưu Chương, theo Lưu Bị
Những năm đầu thời Kiến An, thiên hạ đói nghèo, Pháp Chính cùng đồng hương Mạnh Đạt cùng vào Thục, đầu quân cho Lưu Chương.
Tuy nhiên, Chương không phải người biết trọng dụng nhân tài, cho nên rất lâu sau Pháp Chính mới "leo" lên được chức Huyện lệnh Tân Đô, sau đó được phong làm Quân nghị hiệu úy.
Pháp Chính có tài mà không gặp thời, lại thường xuyên bị người Thục ghẻ lạnh vì là "kẻ ngoại lai". Ông vì điều này mà thường tỏ ra buồn khổ.
Quan Biệt giá Ích Châu Trương Tùng là bằng hữu của Pháp Chính, cũng cảm thấy Lưu Chương không phải nhân vật có thể thành đại sự. Trương cũng chung tâm trạng với Pháp Chính.
Năm Kiến An 13 (208), Trương Tùng đi sứ Tào Tháo, trở về khuyên Lưu Chương đoạn tuyệt với Tào mà quay sang giao hảo với Lưu Bị.
Cùng năm đó, liên minh Lưu Bị - Tôn Quyền đại thắng Tào Ngụy tại Xích Bích, thế lực cùng thanh danh Lưu Bị vang dội, khiến Lưu Chương rất tin tưởng cử ngay Trương Tùng đi sứ sang gặp Lưu Bị.
Trương Tùng nhân cơ hội này tiến cử Pháp Chính cho Bị. Ban đầu Chính còn thoái thác, nhưng rồi cũng phải "bất đắc dĩ" tới diện kiến Lưu Bị.
Lưu Bị gặp được Pháp Chính thì "dùng ân đức thu nạp", khiến Pháp Chính cảm thấy Bị xứng đáng là minh chủ "hùng tài đại lược", có thể theo phò tá.
Pháp Chính trở về Ích Châu, âm thầm mưu tính cùng Trương Tùng, quyết định "ngầm" tôn Lưu Bị làm chủ.
Pháp Chính là một tài năng quân sự hiếm có
Năm Kiến An 16 (211), Lưu Chương nghe tin Tào Tháo chuẩn bị chinh phạt Trương Lỗ, Chương vô cùng lo sợ Tào "nuốt" xong Hán Trung sẽ nhòm ngó ích Châu.
Trong lúc này, Trương Tùng khuyên Lưu Chương "đón" Lưu Bị vào Thục, để Bị thảo phạt Trương Lỗ, chiếm Hán Trung.
Pháp Chính nhận lệnh làm sứ giả sang "mời" Lưu Bị đưa quân vào Thục. Đây cũng là thời điểm Pháp Chính "chính thức" phản lại Lưu Chương, hiến kế cho Bị.
"Các hạ (Lưu Bị) là anh tài cái thế, Lưu Chương vô năng không thể làm minh chủ.
Nay Trương Tùng làm nội ứng, giúp đoạt Ích Châu.
Dùng Ích Châu trù phú làm căn cơ, lấy địa thế hiểm trở làm chỗ dựa mà thành đại nghiệp, dễ như trở bàn tay".
Chính sách "Long trung đối" của Gia Cát Lượng nhận định rằng, Lưu Bị muốn đoạt thiên hạ thì buộc phải chiếm được Kinh Châu và Ích Châu.
Bọn Pháp Chính, Trương Tùng "trở mũi giáo với Lưu Chương" chính là cơ hội trời ban. Lưu Bị lập tức chớp lấy thời cơ, thống lĩnh đại quân vào Thục.
Năm Kiến An 17 (212), Lưu Bị vờ bằng lòng với Lưu Chương thảo phạt Trương Lỗ, dẫn quân tiến vào Gia Manh (tên địa danh).
Sự việc bại lộ khiến Trương Tùng bị giết, Lưu Bị hoàn toàn "trở mặt" với Lưu Chương, xua quân tấn công Thành Đô.
Quan Tòng sự Trịnh Độ hiến kế Lưu Chương dùng kế cố thủ "khiến quân Lưu Bị không đánh mà tan". Bị vô cùng lo lắng.
Tuy nhiên, Pháp Chính nêu ra nhận định, Lưu Chương mặc dù bất tài, nhưng cũng là quan Châu mục yêu dân, cho nên sẽ không sử dụng kế sách phương hại đến dân chúng.
Quả nhiên, Lưu Chương nói - "Ta nghe nói đánh địch để an dân, chưa nghe nói dùng dân để chống địch", và bác bỏ phương án của Trịnh Độ.
Pháp Chính được Lưu Bị vô cùng ưu ái
Trọng thần của Lưu Bị
Sau khi Lưu Chương đầu hàng, Lưu Bị độc chiếm Ích Châu, nhờ có Pháp Chính bày mưu hiến kế mà nhanh chóng tạo được quan hệ tốt với giới phú hào địa phương.
Pháp Chính được Bị phong làm Thái thú Thục quân - Dương Vũ tướng quân.
Bị lại lệnh Pháp Chính cùng 4 Gia Cát Lượng, Lưu Ba, Lý Nghiêm, Y Tịch chế định ra "Thục khoa" - bộ pháp luật cai trị Ích Châu, thay đổi tình trạng lỏng lẻo dưới thời Lưu Chương.
Giai đoạn này, Pháp Chính vừa kiểm soát đại quyền hành chính Thục quận - thủ phủ Ích Châu, vừa là đại thần "cốt lõi" bên cạnh Lưu Bị.
Tính cách Pháp Chính ân oán phân minh. Sau khi nắm giữ quyền lớn đã không quên báo đáp những người giúp đỡ mình, song cũng không bỏ qua tư thù với những người có mâu thuẫn trong quá khứ.
Đây cũng là điểm khiến sử gia Trần Thọ - tác giả "Tam Quốc Chí" - đánh giá ông là "phẩm đức không vẹn toàn".
Có người tố cáo với Khổng Minh, hy vọng ông có thể vạch tội Pháp Chính với Lưu Bị, không để Chính "tác oai tác quái".
Nhưng bản thân Gia Cát Lượng hiểu rõ, Lưu Bị được Tây Xuyên là công lớn của Pháp Chính. Chính được Bị tin tưởng tuyệt đối, cho nên Lượng cũng không tiện nói nhiều.
Đoạt Hán Trung - Tào Tháo cảm thán
Năm Kiến An 22 (217), Tào Tháo sau khi dễ dàng hàng phục Trương Lỗ, không tiếp tục xua quân đánh Ích Châu, mà chỉ để lại Hạ Hầu Uyên, Trương Hạp cố thủ Hán Trung.
Pháp Chính lập tức hiến kế lên Lưu Bị, nêu rõ nhận định Tào Ngụy chắc chắn có vấn đề nội bộ, và chỉ ra ý nghĩa của việc đoạt Hán Trung - "Thượng, có thể thảo phạt 'quốc tặc' (chỉ Tào Tháo), tôn vinh Hán thất, chiếm lấy 2 châu Ung - Lương, mở rộng quốc thổ.
Hạ, đoạt được địa bàn 'cốt lõi', phục vụ chiến lược lâu dài".
Lưu Bị rất tán đồng quan điểm của Pháp Chính, bèn dẫn quân đánh Hán Trung.
Năm Kiến An 24 (219), Lưu Bị dẫn quân hạ trại ở Định Quân sơn, đối đầu với tướng Ngụy Hạ Hầu Uyên.
Khi ấy, Hạ Hầu Uyên trấn thủ cứ điểm phía Nam là Tẩu Mã cốc, Trương Hạp trấn thủ cứ điểm phía Đông là Quảng Thạch.
Pháp Chính dùng kế "dương Đông kích Tây", để Lưu Bị lĩnh hơn 10.000 tinh binh phân thành 10 đội, luân phiên tấn công Quảng Thạch trong đêm.
Trương Hạp đối kháng với Lưu Bị, dù không để mất cứ điểm nhưng cũng khó chống cự với đòn "xa luân chiến" của Bị. Hạp cầu viện Hạ Hầu Uyên.
Hạ Hầu Uyên buộc phải chia một nửa lực lượng chi viện cho Trương Hạp, trong khi bản thân tiếp tục cố thủ tuyến nam.
Binh lực của Uyên vừa giảm, Thục quân lập tức tập kích Tẩu Mã cốc, phóng hỏa thiêu Lộc Giác - công sự phòng vệ của Ngụy.
Hạ Hầu Uyên bất đắc dĩ phải lĩnh 400 quân ra cứu hỏa, tu bổ công sự.
Thời điểm này, Pháp Chính "ngắm chuẩn" cơ hội, đề xuất Lưu Bị tổng lực tấn công Uyên.
Lưu Bị lập tức lệnh Hoàng Trung đột kích từ hậu phương. Hạ Hầu Uyên trở tay không kịp, chết dưới tay lão tướng Hoàng Trung.
"Kế trảm Diệu Tài (Hạ Hầu Uyên)" là một trong những chiến tích có công lao của Pháp Chính
Thất bại của Hạ Hầu Uyên khiến Tào Ngụy để mất thế chủ động trong chiến dịch Hán Trung vào tay Lưu Bị.
Không lâu sau, Tào Tháo đích thân Tây chinh, nghe tin Pháp Chính là người hiến kế cho Lưu Bị, cảm khái nói - "Ta đã biết Huyền Đức không có khả năng thực hiện việc này, tất phải có người bày mưu hắn".
Chiến sự sau đó, mặc dù binh lực của Tào chiếm ưu thế, nhưng Lưu Bị luôn chọn phương án an toàn, không giao chiến với quân Tào.
Về sau, Tào Tháo bất đắc dĩ phải lui quân, để cho Lưu Bị "thoải mái" chiếm cứ Hán Trung.
Năm Kiến An thứ 24 (219, Hán Hiến Đế), Lưu Bị tự lập làm Hán Trung Vương, phong Pháp Chính làm Thượng thư lệnh, kiêm Hộ quân tướng quân.
Lấy được Hán Trung là một trong những chiến thắng trọng yếu của Thục Hán, giúp Thục hình thành cục diện "tam phân thiên hạ" với Ngô - Ngụy về sau.
Pháp Chính là một tài năng quân sự bẩm sinh, được Lưu Bị vô cùng ưu ái.
Trong một chiến dịch đối đầu với Tào Ngụy, tình thế quân Thục bất lợi, vốn dĩ phải lui quân, song Lưu Bị tức giận kiên quyết không nghe.
Lúc này, Pháp Chính lao ra chặn trước loạn tiễn, khiến Lưu Bị phải hốt hoảng can ngăn - "Hiếu Trực tránh tên".
Pháp Chính đáp lại - "Minh công cũng mạo hiểm trước mưa tên, huống chi hạ thần?".
Lời Pháp Chính khiến Lưu Bị đành phải nghe lời ông mà rút quân, đủ thấy Bị trọng vọng Pháp Chính tới mức nào.
Khổng Minh đã phải cảm thán - "Nếu Pháp Chính còn, trận Di Lăng đã không thua".
Qua đời
Năm 220, Pháp Chính qua đời, thọ 45 tuổi. Cái chết của ông khiến Lưu Bị vô cùng thương cảm, than khóc nhiều ngày.
Sau khi mất, Pháp Chính được Lưu Bị phong làm Dực Hầu, là vị đại thần duy nhất được truy phong thụy hiệu dưới thời Lưu Bị.
Pháp Chính lớn hơn Khổng Minh 4 tuổi, mặc dù tính cách cũng như đời sống cá nhân 2 ông có nhiều khác biệt, nhưng có điểm chung là cả 2 đều "lấy việc công làm trọng".
"Tiên chủ truyền nói: Gia Cát Lượng là trọng thần, Pháp Chính là mưu chủ".
Gia Cát Lượng chưởng quản nội vụ, hậu cần, còn Pháp Chính làm quân sư theo quân đội chinh phạt.
Sau này, vụ lùm xùm Quan Vũ - Tôn Quyền khiến liên minh Ngô - Thục trở mặt thành thù, Lưu Bị quyết Đông chinh phạt Ngô, bất chấp quần thần can gián.
Năm Chương Vũ thứ 2 (222), quân Thục Hán thảm bại ở trận Di Lăng, Bị lui về thành Bạch Đế, 2 năm sau thì mất.
Gia Cát Lượng đau khổ cảm thán - "Nếu Pháp Hiếu Trực còn, ắt có thể can gián Chủ thượng.
Cho dù Đông chinh, cũng không thể thất bại".
Trên thực tế, Gia Cát Khổng Minh cũng rất khâm phục tài năng hiếm có trên lĩnh vực quân sự của Pháp Chính.
Giai đoạn chiến tranh trước khi Lưu Bị qua đời, nhóm Pháp Chính, Bàng Thống được đánh giá cao hơn Gia Cát Lượng, một phần cũng do bọn họ xuất hiện nhiều hơn trên lĩnh vực quân sự, trong khi Gia Cát Lượng quản lý hậu phương.
Sử gia Trần Thọ khen ngợi năng lực quân sự của Pháp Chính là "có thể sánh với 'thiên tài' Quách Gia của Tào Ngụy".
theo Trí Thức Trẻ
Sao Thất Sát thuộc chòm sao nam Đẩu Tinh, tên thường gọi là Sát (thuộc tính Dương kim).
Sao Thất Sát miếu địa tại: Dần, Thân, Tý, Ngọ.
Vượng địa tại: Tỵ, Hợi.
Đắc địa tại: Sửu và Mùi.
Hãm địa tại: Mão, Dậu, Thìn, Tuất.
Cung mệnh có sao Thất Sát tọa thủ là người có thân hình nở nang, hơi cao nhưng da hơi thô xấu, mặt thường có vết, mắt to và lồi. Tính cách ương ngạnh và nóng nảy, làm việc gì cũng chỉ muốn cho nhanh xong.
Thất Sát miếu địa, vượng địa hay đắc địa là người rất can đảm dũng mãnh và thông minh, có nhiều mưu cơ lại thêm tính cương nghị, hiếu thắng và hay nói đại ngôn. Nhưng được nhiều người tín phục, tuy được hưởng giàu sang và sống lâu nhưng trên đường đời cũng gặp không ít những thăng trầm.
Sao Thất Sát miếu địa tại cung Dần và Thân là một quý hiển, nhưng tuổi Giáp, Canh, Đinh, Kỷ mà cung mệnh có cách này thì thật là tài quan và song mỹ.
Cung mệnh có sao Thất Sát hãm địa là một người hung bạo, gian quyệt, hay nói khoác lác, thường làm đồ tể, bán thịt, thợ rèn, nếu giàu có cũng không thể sống lâu được.
Thất Sát hãm địa tại Mão, Dậu tuy mờ ám xấu xa nhưng ứng với tuổi Ất, Tân mà cung mệnh có cách này thì vẫn được hưởng phú quý, gia tăng tuổi thọ.
Thất Sát hãm địa gặp Tả Phù, Hữu Bật, Long, Phượng, Quang, Qúy hội họp là người hay chuyên về chế tác vàng bạc.
Thất Sát hãm địa gặp Thiên Hình đồng cung tọa thủ nếu không mắc tù tội, tất cũng bị giết hoặc mắc tai nạn không ngờ.
Cung mệnh an tại Tỵ có Thất Sát và Tử Vi tọa thủ đồng cung tất được hưởng nhiều phú quý và có uy quyền hiển hách. Nếu 2 sao này gặp thêm Hỏa, Tuyệt hợp lại lại là người tàn nhẫn "Khát Máu".
Nếu Thất Sát gặp Hỏa Tinh và Tuyệt hội họp cùng với Bật, Khoa, Mã, Ấn, Hồng, Sinh người này tất hiển đạt về võ nghiệp, thường lập được chiến công một cách dễ dàng, và được vinh thăng lên hàng võ quan cao cấp.
Sao Thất Sát có Liêm Trinh đồng vị an tại Sửu và Mùi tất phải chết nơi đường xá.
Âm nam tuổi Ất, Kỷ mà cung mệnh an tại Sửu, Mùi, có Thất Sát, Liêm Trinh tọa thủ đồng cung là bậc anh hùng, trí dũng hơn người. Các tuổi khác mà cung mệnh an tại Sửu, Mùi có Sát, Liêm tạo thủ đồng cung cũng là người can đảm và có tài thao lược.
Cung mệnh có sao Thất Sát tọa thủ và đồng cung (hay có Phá Quân hãm địa tọa thủ), tất phải lìa bỏ gia đình và đi làm ở phương xa. Có cách này là người hiểu biết nhiều nghề nhưng không giỏi.
Cung mệnh có Thất Sát tọa thủ gặp Kình, Đà, Hỏa, Linh hội họp tất bị gù lưng. Hay có tật ở lưng và nếu ra trận chắc chắn là vong.
Cung mệnh an tại Ngọ có Sát, Kình tọa thủ đồng cung gặp thêm nhiều sát tinh hội họp thì hay mắc những tai họa, thường là vè xe cộ. Tuổi Bính, Mậu mà cung mệnh có cách này chắc chắn là phải chết một cách thê thảm, thân thể không được toàn vẹn. Nhưng tuổi Giáp, Kỷ mà cung mệnh có cách này thì lại là một bậc anh hùng cái thế.
Cung mệnh an tại Tuyệt có Thất Sát tọa thủ gặp Kình, Đà hội họp, tất bị yểu tử như ông Nhan Hồi học trò đức thánh Khổng. (Trong số của ông Nhan Hồi có cung mệnh an tại Tuyệt có Thất Sát tọa thủ, gặp Kình, Đà hội họp, nên ông đã chết sớm).
Sao Thất Sát ở cung mệnh hãm địa gặp Hỏa, Kình hội họp là người nghèo hèn.
Cung mệnh an tại Ngọ, Tý có Thất Sát tọa thủ, đàn ông lấy được vợ hiền. Nếu gặp Sát, Riêu, Kiếp hội họp lại là người ghét đàn bà và thích cuộc sống độc thân.
Nữ mệnh có cung mệnh an tại cung Ngọ và Tý có Thất Sát tọa thủ gặp Kiếp, Riêu hội họp tất bị mắc vào lưới tình mà lụy. Trong đời phải gặp nhiều phen khổ sở vì tình.
Ăn uống là sinh hoạt hằng ngày, đáp ứng năng lượng của mỗi con người chúng ta. Ăn uống diễn ra hằng ngày, vậy ăn uống có xuất hiện trong giấc mơ của bạn hay không?

– Ăn cơm ở nhà là điềm sắp có chuyện vui cho cả gia đình.
– Ăn cơm ở nơi khác nên đề phòng hao tài tốn của vì có kẻ lừa gạt, tình cũng như tiền.
– Ăn bánh cuốn, chả, chả giò, gỏi cuốn v.v… nên đề phòng tai tiếng hoặc có sự cải vã.
– Ăn hạt bí và các loại hạt, đậu v.v… nếu có thai tức sắp sinh con quí tử, nếu không thai sẽ gặp sự may mắn về đường con cái.
– Ăn ổi, cam, hồng là điềm bất thường.
– Ăn táo, dâu, sắp có tài bất ngờ.
– Ăn lê, sắp hao tài có kiện tụng thì thất kiện.
– Ăn đào, mận, lý v.v… gia đình sẽ sum họp, người đi xa sẽ trở về đoàn tụ.
– Ăn các thứ rau mùi như hành, hẹ, tỏi, củ kiệu v.v… là điềm thật xấu, mọi việc đều bất thành và có thể bị tai họa.
– Ăn thịt trâu bò tức sắp có điềm lành trong một ngày rất gần.
– Ăn thịt chó là điềm sắp có chuyện bất ngờ.
– Ăn thịt heo thì sắp sửa bị bệnh.
– Ăn thịt nấu chín là điềm tốt, ăn thịt sống là điềm xấu, ăn thịt những con vật chết sình là điềm chia ly trong gia đình.
– Ăn thịt ngỗng, vợ hay chồng sắp có bệnh.
– Ăn thịt gà vịt, sắp có lợi vào.
Các con số liên quan đến giấc mơ:
Ăn cá to: 05 – 60
Ăn chay: 86 – 85
Ăn chua: 93 – 39
Ăn chuối: 34 – 64
Ăn cỗ: 93 – 67
Ăn cơm: 74 – 85
Ăn củ đậu: 38 – 39
Ăn hàng: 03 – 04 – 52 – 19
Ăn hoa quả: 84 – 68
Ăn khoai: 75 – 85 – 58
Ăn no quá: 95 – 79
Ăn thịt mèo: 19 – 91
Ăn thịt người: 83 – 85
Ăn tiệc: 83 – 87
Ăn tiệm: 26 – 56 – 21
Ăn tôm: 83 – 89
Ăn trưa: 01 – 02 – 92
Văn Xương chủ về khoa giáp (đỗ đạt) hãm địa là ba cung Dần, Ngọ, Tuất thuộc âm kim, còn có tên là Văn Quí liên hệ đến thanh danh con người Thái Âm. Ở các cung khác thì thông minh, ít nhiều dính líu tới “văn”
Nếu có đủ cả Văn Xương, Văn Khúc vào Mệnh cung mà sao Thiên Tài thủ Mệnh tất trí tuệ vượt thiên hạ, gặp luôn Tấu Thư, Bác Sĩ rất thuận lợi trên thi cử. Nếu như Mệnh cung chỉ có Văn Xương, không Văn Khúc cũng không có Hóa Khoa thì chỉ thông minh thôi, không nhất định dễ dàng với khoa danh thi cử.
Xương Khúc hội Long Trì Phượng Các tay nghề khéo, kỹ năng giỏi. Xương Khúc tại Mệnh cung thường dễ được người khác phái mến chuộng do duyên dáng, tinh anh, tán hay. Nếu Xương Khúc đi với Thiên Đồng, Thiên Cơ, Tử Vi càng gần cận nữ phái.
Văn Xương khởi từ Tuất vì Tuất là hỏa khố, kim được hỏa luyện mà nên thép tốt khiến cho lời nói lập luận sắc bén hay dùng ẩn ý. Văn Xương đóng Sửu Mùi (hai cung mộ khố) thì tài hoa với khả năng tổ chức chu đáo, phản ứng và quyền biến. Nhưng Văn Xương cũng mang cái bệnh ảo tưởng hoặc quá lý tưởng, vì ảo tưởng quá lý tưởng mà đôi khi tâm tình lãnh đạm trong việc đối xử giữa người với người. Văn Xương đi cùng với Hóa Kị lại chuyển ra ngôn quá kỳ thực mặc dầu trước sau vẫn là có tài cán.
Văn Xương đi cặp với Thái Dương Thiên Lương Hóa Lộc Lộc Tồn tức cách Dương Lương Xương Lộc rất lợi với việc thi cử khoa danh. Trường hợp thiếu Lộc lại gọi bằng Thái Dương Ấm Phúc, Thiên Lương là Ấm còn Thiên Đồng là Phúc thì vấn đề đỗ đạt cũng dễ dàng.
Cách Dương Lương Xương Lộc chỉ ở hai cung Mão Dậu mới là chính, nếu ở Thìn Tuất không kể là chính chỉ là thiên cách vì Văn Xương Tuất Thìn lạc hãm, thiên cách không bằng chính cách. Nhỡ mà gặp luôn cả Hóa Kị thì thành phá cách, có tài mà không có phận, cuộc đời lưu ly vất vả và sinh bất phùng thời.
Về sao Văn Xương có một cách cục thật xấu ấy là: “Linh Xương Đà Vũ”. Sách Đẩu Số Toàn Thư viết: “Linh Xương Đà Vũ hạn chí đầu hà” (Vận gặp Linh Tinh, Văn Xương, Đà La, Vũ Khúc đâm đầu xuống sông mà chết). Cách này thường hiện lên ở hai cung Thìn Tuất ý chỉ sự thất bại dữ dội, mấy chữ đâm đầu xuống sông mà chết chỉ cốt vẽ nên hình tượng đáng ngại của thất bại ấy vậy. Nếu không Đà thì bị Hóa Kị, nếu không phải Vũ Khúc mà bị Liêm Trinh cũng ảnh hưởng tai hại như nhau.
Như trên đã nói, Văn Xương khả dĩ biến thành đào hoa, bởi vậy cổ nhân mới nói nữ mạng kị gặp Xương Khúc. Văn Xương không hợp với Liêm Trinh hay Tham Lang. Cốt Tủy phú ghi: “Xương Tham cư Mệnh phấn cốt toái thi” (Mệnh thấy Tham Lang Văn Xương thịt nát xương tan) ý nói về tâm ý quá đam mê tình ái mà vướng lụy tình. Không hiểu tại sao câu phấn cốt toái thi qua Việt Nam lại biến thành “phấn cốt túy thi” theo cái nghĩa mặt lang beng? Về lang beng sách chỉ ghi rằng: “Văn Xương tại vượng cung đa dị chí hãm địa đa ban ngân, nghĩa là ở vượng cung thì có nốt ruồi lạ, đóng hãm địa da có vết loang, không hẳn là lang beng hay bạch tạng gì cả.
Đàn bà Xương Khúc lãng mạn, đa tình hiếu sắc, cổ nhân nói: Dương phi hiếu sắc tam hợp Văn Khúc, Văn Xương (Dương Quí Phi đa dâm bởi vì tam hợp vào Mệnh có Xương Khúc)
Còn một câu khác: “Văn Xương Văn Khúc hội Liêm Trinh táng mệnh yểu niên” nghĩa là Văn Xương Văn Khúc gặp Liêm Trinh không thọ. Không thọ vì mê đắm hoan trường mà khó tạo sự nghiệp rồi sức lực suy vi. Liêm Trinh ở câu này là Liêm Trinh ở Tỵ Hợi đứng cùng Tham Lang chứ không phải Liêm Trinh đứng với những sao khác hay đứng một mình. Văn Xương Văn Khúc gặp Liêm Phá không gây ảnh hưởng hoại mạnh như gặp Liêm Tham Tỵ Hợi.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Mỹ Ngân (##)
Trước hết, khoa Tử – Vi sống động vì nó quan tâm đến nhiều yếu tố cùng một lúc. Mặt khác, chính mỗi yếu tố cũng là một ý niệm sống động rồi: Một sao, ngoài giá trị cơ hữu của nó, còn có giá trị tùy theo vị trí của nó trong một cung và tác dụng hỗ tương với các sao khác trong cung, chưa kể giá trị đối nội và đối ngoại đó còn thay đổi cường độ tùy theo thời gian nữa.
Khoa Tử – Vi còn sống động ở chỗ nó khảo sát cả con người riêng rẽ lẫn con người trong các môi trường sinh hoạt khác nhau, từ gia đình đến xã hội. Mặt khác, nó còn khảo sát cả đời người, tức là diễn biến của các giai đoạn phức tạp của một quá trình sinh hoạt.
Khoa Tử – Vi sống động ở chỗ nó còn nới rộng tham vọng tìm hiểu cả về những người có liên hệ trực tiếp đến mình trong đại gia đình, tiểu gia đình, trong bang giáo với xã hội, nghề nghiệp.
Nói lên bấy nhiêu khía cạnh sống động đó tức là gián tiếp nói rằng khoa Tử – Vi trong lúc khảo sát con người và đời người, đã cố gắng gói ghém đến tối đa các yếu tố ảnh hưởng đến con người và đời người trong một lá số. Lá số đó vừa dùng căn bản triết lý về Âm Dương Ngũ Hành, vừa dùng các “sao” biểu tượng nhiều đặc tính của con người và của biến cố để diễn đạt các đặc trưng của nhân sinh từ lúc đứa bé mời chào đời cho đến khi nó quá vãng.
Chính vì khoa Tử – Vi quan tâm đến nhiều yếu tố như vậy, cho nên người luận đoán Tử – Vi không thể bỏ qua sự phức tạp để chọn sự đơn giản. Kết luận của Tử – Vi là một kết luận tổng hợp. Đặc tính tổng hợp đó được diễn tả bằng 1 ý niệm hàm số.
Vậy, hàm số quả là một phương pháp mà khoa Tử – Vi áp dụng để khảo sát con người và đời người, đồng thời cũng là một phương pháp lý giải lá số thích đáng nhất. Mà đã dựa vào hàm số để lý giải Tử – Vi, vì thế tất phải tổng hợp các yếu tố riêng rẽ liên quan đến một khía cạnh để tìm hiểu các uẩn khúc, đánh giá về lượng và phẩm của biến cố. Vì vậy, quan niệm lý giải bằng hàm số là quan niệm tổng hợp, quan niệm đề cao sự tương quan giữa các yếu tố. Nhãn quan Tử – Vi chú trọng đến liên hệ nhân quả giữa các yếu tố. Nó không bao giờ xem một yếu tố như một thành phần biệt lập. Trái lại sự liên đới với các yếu tố khác, khung cảnh bao quát của nhiều yếu tố gọp lại, chính là những điểm phải khám phá. Mỗi yếu tố được quan niệm như một biến số trong bối cảnh các biến số khác. Không bao giờ chúng ta nên xem bất cứ yếu tố nào như một vật tĩnh, mà phải nhìn vào nó như một dữ kiện động, biến chuyển trong khung cảnh rộng lớn hơn và tác động trên những dữ kiện khác trong khung cảnh đó, cũng như bị những dữ kiện này chi phối lại. Mỗi vì sao trong Tử – Vi vừa có giá trị cơ hữu, vừa có giá trị liên đới. Mỗi cung trong Tử – Vi vừa có ý nghĩa cơ hữu vừa có ý nghĩa trong bối cảnh 3 cung phối chiếu, đồng thời trong bối cảnh hai cung tiếp giáp hay nhị hợp. Ý nghĩa của một sao một cung là ý nghĩa đa diện. Cho nên việc giải đoán sao, cung không bao giờ bỏ qua tính cách đa diện đó.
Có những người lạc quan muốn tìm trong hàm số Tử Vi một công thức giúp khám phá những ẩn số về con người và đời người. Thật sự, thì hàm số không phải là công thức, hay ít ra không phải là một công thức toán học hay lý hóa. Tử – Vi vốn là bộ môn nhân văn, một khoa khảo sát về con người. Mà phản ứng của con người tất nhiên không giống phản ứng của một vật thể. Con người vốn là một sinh vật sống động, biến hóa theo qui luật của biến số thay vì theo qui luật của định số. Vì vậy, không thể có công thức trong khoa Tử Vi mà chỉ có hàm số trong Tử Vi mà thôi. Trong hàm số tiềm ẩn ý niệm ẩn số, biến số. Người giải đoán phải tìm cách khám phá ra ẩn số đó, nhất là ẩn số phúc đức thực tại. Họ phải tổng hợp các yếu tố để tìm cách hình dung ẩm số một cách chính xác nhất. Cho nên vấn đề giải đoán Tử – Vi phải sử dụng đến phương pháp suy luận rất nhiều. Chính điều này cho thấy kết luận Tử Vi tùy thuộc vào một phần giá trị, trình độ của người xem số. Và chính điều này cho thấy hàm số Tử Vi không phải là một công thức. Tùy theo trình độ của tác giả giải đoán cao thấp, hàm số Tử – Vi sẽ có một kết luận khác.
|
| (Ảnh mang tính minh họa) |
Người xưa quan niệm rằng, những ngày này mà thần Tam Thanh được cử xuống hạ giới để xem xét công việc làm nông của dân tình và sau đó về tâu với Ngọc Hoàng. Vì vậy mọi gia đình đều phải làm lễ để thần Tam Thanh ban phúc lành, tránh tai họa.
Nhân tết này, mọi người đều mua quà và gạo nếp cùng những đặc sản lúc giao mùa thu - đông biếu ông, bà, cha mẹ và những bậc được tôn kính để tỏ lòng hiếu thuận, biết ơn bề trên.
Theo phong tục từ xưa, ngày này nhà nhà đều nấu xôi gạo mới, sắm sửa hương hoa, đèn nến cùng mâm lễ mặn thơm ngon để cúng tổ tiên.
(Theo Nghi lễ thờ cúng của người Việt)
Xa: Thật thà, mau miệng, tính tình cương quyết. Trung niên vất vả bôn ba, cuối đời cát tường.
Xã: Thanh nhàn, đa tài, cần kiệm lập nghiệp, danh gia lẫy lừng, cuối đời vất vả.
Xảo: Thiếu niên vất vả, kỵ xe cộ, tránh sông nước. Trung niên khó khăn, nên kết hôn muộn, cuối đời sẽ cát tường.
Xí: Gia cảnh tốt, trung thực, ôn hòa, trung niên thành công, phát tài, phát lộc, thanh nhàn phú quý.
Xích: Đa tài, nhanh trí, cuộc đời thanh nhàn, bình dị. Trung niên lắm tai ương, cuối đời cát tường, vui vẻ.
![]() |
| Một cái tên quyết định cả vận mệnh |
Xuân: Là người lanh lợi, xuất ngoại đại cát, trung niên có thể gặp nhiều tai ương, tuy phú quý nhưng hiếm muộn con cái, cuộc đời gặp nhiều vất vả.
Xuất: Tính cách quyết đoán, trung niên gặp nhiều tai ương, cuối đời cát tường, kỵ xe cộ, tránh sông nước.
Xung: Khó hòa hợp với người xung quanh, ít may mắn, cả đời bệnh tật, khó được hạnh phúc.
Xương: Thật thà, mau miệng, tính tình quyết đoán, kỵ xe cộ, tránh sông nước, trung niên vất vả, cuối đời thành công, hưng vượng phú quý.
Xuyến: Là người nhạy cảm, hay ốm đau, sự nghiệp không thành, trung niên có thể gặp tai ương, cuối đời hưởng phúc.
Xuyên: Khắc bạn đời, khắc con cái, số 2 vợ, trung niên thành công, cuối đời ưu tư, lo nghĩ nhiều.
Theo Tên hay thời vận tốt
![]() |
Ăn chay - hình thức dưỡng tâm, dưỡng thân đơn giản mà hiệu quả| ► Cùng đọc châm ngôn cuộc sống, ý đẹp lời hay và suy ngẫm |
Kinh văn có đoạn: " Thái dương tại cung Ngọ là " Nhật lệ trung thiên" (Mặt trời giữa trời), hiển quý có quyền lực, giàu có nhất nước, " Cự Môn, Thái Dương củng chiếu là cách cục rất tốt".
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Đoan Trang(##)
Khi treo tranh trong nhà, gia chủ nên chọn hướng theo bát quái đồ. Củ thể như thế nào? Tại sao lại chọn hướng theo bát quái đồ? Chúng ta cùng dọc bài viết dưới đây để biết được hướng treo tranh phong thủy nhé!

Nội dung
Hướng chính Đông và Đông-nam, theo ngũ hành thuộc Mộc, có thể treo tranh sông nước vì theo mối tương quan của ngũ hành thì Thủy sẽ hỗ trợ Mộc. Tuy nhiên, tránh treo tranh thác nước (Thủy quá vượng) sẽ làm hại Mộc.
Hướng chính Nam, theo ngũ hành thuộc Hỏa, thích hợp treo tranh núi cao, rừng rậm. Mộc có thể sinh Hỏa khiến cho gia đình hòa thuận, hạnh phúc.
Hướng Đông-bắc và Tây-nam, theo ngũ hành thuộc Thổ, là phương vị Tài tinh tốt nhất, nên treo 1 bức tranh vẽ 8 con ngựa, còn gọi là bức “Bát mã đồ”. Vì ngựa theo ngũ hành thuộc Hỏa, Hỏa sinh Thổ, rất có lợi cho tài vận của gia chủ.
Hướng chính Bắc, theo ngũ hành thuộc Thủy, nên treo tranh 9 con cá còn gọi là bức “Cửu ngư đồ”, có lợi cho tài vận của gia chủ.
Hướng Tây-bắc và hướng chính Tây, theo ngũ hành thuộc Kim, có thể treo tranh Vạn Lý Trường Thành khung vàng khiến tài vận, sự nghiệp thành công và phát triển vững vàng.