Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,...   Click to listen highlighted text! Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,... Powered By DVMS co.,ltd
Kính mời quý khách like fanpage ủng hộ Vạn Sự !

Vạn Sự

Chu Dịch với Thể Thao

Ngày đưa lên mạng: 1-2-2003 Cử nhân Kinh tế: Dương Kiện Toàn (Saigon, Việt Nam) KINH DỊCH - KHẢ NĂNG PHÁT HIỆN Tác giả giữ bản quyền. Tout droits réservés. All rights reserved. Mọi trích dịch vui lòng ghi tên tác giả. Rất cám ơn !
Chu Dịch với Thể Thao

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Thiệu Vĩ Hoa, Dịch Sư số 1 của Trung Quốc hiện nay có giới thiệu hai phương pháp dự đoán: Dự đoán theo Tượng- Hào & Dự đoán Sáu Hào. So với các phương pháp dự đoán theo Chu Dịch hiện có tại Việt Nam, hai phương pháp này tỏ ra vượt trội về mặt lý luận.

Xem xét 2 phương pháp của Ông, tôi đưa ra vài nhận xét sau :

1. Ngoài dự đoán về con người và sự việc, ông đã cố gắng đưa khả năng ứng dụng của 2 phương pháp này vào các lãnh vực khác: Thời tiết, Thể thao, Y Học, Thiên Văn, Địa Chất.
2. Tác giả áp dụng các nguyên lý Âm Dương Ngũ Hành vào 2 phương pháp này khá thành thục và hợp lý.
3. Tuy nhiên, tác giả đã hiểu các nguyên lý Âm Dương Ngũ Hành theo lối cổ xưa, vì vậy, khi đưa ra các kết quả dự đoán, tác giả thường phải sử dụng đến kinh nghiệm dự đoán của bản thân. Rõ nhất là ở phương pháp dự đoán theo Tượng- Hào. Tác giả dùng nhiều đến các biểu tượng của Bát Quái. Khi dự đoán các trận đấu thể thao phức tạp như đá banh trên sân trung lập, tác giả phải đặt ra các qui tắc ngoại lệ.
4. Phương pháp Dự Đoán Sáu Hào được tác giả giới thiệu rất công phu, chi tiết và tỉ mỉ. Tuy vậy, nó vẫn tỏ ra phức tạp quá ! Quá nhiều các khái niệm và nguyên lý ! Các nguyên lý và khái niệm này thường chồng chéo và phủ định lẫn nhau khi lập luận dự đoán, khiến cho nhà dự đoán phải có kinh nghiệm để biết chọn nguyên lý nào cho từng trường hợp dự đoán cụ thể. Cách thức lập quẻ căn cứ vào Chu Dịch, nhưng cách dự đoán thì dựa hoàn toàn vào ngũ hành & hệ thống Can Chi. Điều này cho thấy phương pháp dự đoán sáu hào của Thiệu Vĩ Hoa đã biến hình và xích lại gần với môn dự đoán Tứ Trụ. Phương pháp Dự Đoán Sáu Hào cũng đòi hỏi người dự đoán phải có kinh nghiệm.

Có phương pháp nào không buộc người học phải có kinh nghiệm dự đoán ?
Bằng việc sử dụng Hệ Thống Lý Luận Đông Y hiện đại, tôi thiết lập một phương pháp dự đoán mới. Phương pháp này được phát triển từ phương pháp dự đoán theo Tượng-Hào.

Phương pháp mới có 3 lợi điểm sau :
1. Nó không đòi hỏi người dự đoán phải có kinh nghiệm dự đoán.
2. Nó không đòi hỏi người học phải biết rõ về Chu Dịch.
3. Về mặt ứng dụng, nó dễ sử dụng như khi ta giải phương trình bậc 2 có 1 ẩn số. Nghĩa là, đã có sẵn công thức, chỉ cần áp dữ liệu vào là có ngay kết quả.
Để có thể áp dụng phương pháp này vào thực tế, bộ Chu Dịch phải được mã hoá thành 2 ký hiệu (+) & (-). Về lý thuyết, công việc này thực hiện được.
Vòng chung kết bóng đá tháng 6-2002 tại Hàn Quốc, tôi đem phương pháp ra thử nghiệm. Kết quả dự đoán như sau: Đúng 63 trận, sai 1 trận ( Hàn Quốc >< Hoa Kỳ)
Tôi chưa lý giải được vì sao phương pháp cho kết quả dự đoán sai trận Hàn Quốc >< Hoa Kỳ, nên cần phải có thêm thời gian để xem xét lại.

Nhận xét:
1. Để kiểm nghiệm khả năng dự đoán của phương pháp mới, tôi chọn 64 trận bóng đá vòng chung kết vì nó mang tính hệ thống, thể thức thi đấu chặt chẽ.
2. Số lượng thử nghiệm nhỏ, 64 trận, nên con số 99,4% dự đoán đúng không mang giá trị thống kê.
3. Không mang giá trị thống kê, nhưng đã gợi mở rằng: Phương pháp được xây dựng đúng & kết quả dự đoán xác định được giá trị của từng nhóm đối tượng tham gia sự kiện.
4. Giá trị của từng nhóm đối tượng được xác định theo giá trị cặp Yes-No: Đúng-Sai, Phải-Trái, Có-Không.... Vì thế, phương pháp mới còn có thể áp dụng rộng rãi trong các lãnh vực khác.
5. Khi ứng dụng vào các lãnh vực khác, người dự đoán cần phải có trình độ với những hiểu biết nhất định trên lãnh vực ấy nhằm chọn các thông số phù hợp cho việc lập bài toán dự đoán.

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Chu Dịch với Thể Thao

5 người phụ nữ xấu 'ma chê quỷ hờn' thời Trung Quốc xưa

Nói đến 4 nàng tứ đại mỹ nhân Trung Quốc xưa, chắc hẳn ai cũng biết. Nhưng có lẽ, nói về những người phụ nữ xấu thì chẳng mấy ai để ý.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Bởi, cái đẹp thường lấn át cái xấu. Tuy vậy, những người phụ nữ được cho là xấu nhất này lại làm nên những kì tích, những câu chuyện rất hay trong lịch sử.

Vậy 5 người phụ nữ xấu nhất Trung Quốc xưa này là ai, và có những câu chuyện gì gắn với cuộc đời họ…

1. Hoàng Nguyệt Anh - vợ của Khổng Minh Gia Cát Lượng

Người ta đọc, xem Tam Quốc Diễn Nghĩa, vốn chỉ biết đến cái tên Khổng Minh Gia Cát Lượng là người tài trí, mưu lược, không mấy ai để ý tới người vợ bên cạnh ông. Bởi trong phim ảnh cũng không nhắc nhiều tới người phụ nữ này.

Tương truyền, bà là người phụ nữ hình dáng thô kệch, thấp bé đen gầy, khuôn mặt đầy rỗ, tuy nhiên lại tài giỏi phi thường. Khổng Minh đã bất chấp mọi tin đồn không hay về nhan sắc của bà và đến cầu hôn! Dù ngoại hình xấu xí nhưng bà lại là người phụ nữ cực kỳ chu đáo, ân cần với chồng.

 5 nguoi phu nu xau 'ma che quy hon' thoi trung quoc xua - 1

Chính vì có người vợ là Hoàng Nguyệt Anh mà Khổng Minh đã luôn luôn yên tâm phò tá Lưu Bị, trăm trận trăm thắng. (ảnh minh họa)

Cũng có giai thoại đồn rằng, Hoàng Nguyệt Anh, vợ Khổng Minh là người phụ nữ xinh đẹp mỹ miều nhưng vì muốn thử lòng quân tử, muốn tìm được một đấng phu quân như ý nên đã phải đeo mặt nạ xấu xí. Thật ra, bà là người có nhan sắc nhiều người phải ghen tị. Và qua nhiều lần thử thách, cuối cùng bà đã chọn được Gia Cát Lượng, là người mà bà nguyện cả đời nâng khăn sửa túi. Sau này, khi ra ngoài, bà vẫn mang mạng che mặt nên người ta cũng không biết thực hư thế nào… Nhưng một điều mà ai cũng phải thừa nhận đó chính là sự thông minh, tài trí, sắc sảo và sự chu toàn với chồng của mình.

Chính vì có người vợ là Hoàng Nguyệt Anh mà Khổng Minh đã luôn luôn yên tâm phò tá Lưu Bị, trăm trận trăm thắng.

2. Mô mẫu được cho là xấu nhất trong lịch sử Trung Quốc

Mô Mẫu là người phụ nữ được cho là xấu nhất trong lịch sử Trung Quốc. Tương truyền, bà xấu xí vô cùng, đến người khác nhìn cũng phải khiếp sợ, xấu như quỷ Dạ Xoa (vốn là nhân vật được ví với sự xấu tột cùng, không còn lời nào để nói). Nhưng xét về đức hạnh, người phụ nữ này lại được ca ngợi vô cùng vì cách ứng xử, đối nhân xử thế với người đời. Không những vậy, bà còn là người phụ nữ có trí tuệ, hiền đức vô cùng. Vì thế bà đã được Hoàng Đế cưới làm vợ. Hoàng Đế là ông vua đầu tiên của dân tộc Trung Hoa, tương truyền Hoàng Đế đánh bại Viên Đế, diệt Si Vưu đều nhờ có bàn tay giúp sức của Mô Mẫu. Tương truyền, bà còn là người sáng tạo nên chiếc gương đầu tiên trên Thế giới!

 5 nguoi phu nu xau 'ma che quy hon' thoi trung quoc xua - 2

Mô Mẫu là người phụ nữ được cho là xấu nhất trong lịch sử Trung Quốc. (ảnh minh họa)

3. Chung Vô Diệm xấu ma chê quỷ hờn

Chung Vô Diệm (tên thật là Chung Li Xuân), người nước Tề thời Chiến Quốc. Do dung mạo xấu xí: đầu bẹt, mắt sâu, bụng to, mũi hếch, da đen như bồ hóng…, 40 tuổi bà chưa lấy được chồng.

Vua Tề Vương vốn là người ham chơi, chỉ biết hưởng lạc, không chịu quan tâm chính sự, quốc gia. Trong một lần vua Tề đang mải vui chơi với quần thần, Vô Diệm đã xin yết kiến, dùng những hành động kì quặc và những lời can gián muốn nhà vua bỏ thói ăn chơi, đuổi các quan xu nịnh, giữ lại trọng thần. Ban đầu nhà vua còn không nghe lời, định cho chém đầu Vô Diệm. Nhưng chính sự bình tĩnh của bà đã khiến nhà vua bị thuyết phục.

 5 nguoi phu nu xau 'ma che quy hon' thoi trung quoc xua - 3

Do dung mạo xấu xí: đầu bẹt, mắt sâu, bụng to, mũi hếch, da đen như bồ hóng…, 40 tuổi bà chưa lấy được chồng. (ảnh minh họa)

Sau đó, vua Tề đã lấy bà làm vợ, lập làm hoàng hậu. Bà dùng tài trí của mình đã giúp vua trị quốc, làm cho đất nước phồn thịnh, không có quân xâm lăng…

4. Nguyễn Nữ xấu nhưng tài đức vẹn toàn

Hứa Doãn đời Đông Tấn lấy con gái Nguyễn Đức Uy, tên Nguyễn Nữ làm vợ. Đêm động phòng hoa chúc, Hứa Doãn phát hiện ra con gái nhà họ Nguyễn xấu quá, vội chạy khỏi tân phòng, từ đấy trở đi không dám vào phòng vợ nữa.

Sau đó Hằng Phạm là bạn của Hữa Doãn đến thăm, nói với ông rằng “Nhà họ Nguyễn gả con gái họ cho anh là có lý do, anh thử hỏi xem”. Hứa Doãn nghe lời Hằng Phạm, cuối cùng đã chịu vào phòng. Nhưng vừa nhìn thấy dung mạo xấu xí của vợ, Hữa Doãn lại chạy ra ngoài, Nguyễn Nữ giữ chồng lại. Hứa Doãn vừa giật tay áo vừa hỏi “Trong tứ đức thì nàng có mấy đức?” Nguyễn Thị trả lời “Thiếp chỉ thiếu đức dung. Người quân tử có 100 đức, chàng có được bao nhiêu đức?” Doãn Hứa trả lời: “Ta có đủ 100 đức”. Nguyễn Nữ nói “Trong một trăm đức, chữ đức đứng đầu. Chàng ham sắc mà khinh tài, vậy có thể coi là đủ một trăm đức không?” Hứa Doãn không nói được gì. Từ đó về sau chàng rất yêu mến và quý trọng vợ. Vì vợ ông dù ngoại hình xấu xí nhưng lại có được tấm lòng và sự thông minh trí tuệ khiến ông phải nể phục.

 5 nguoi phu nu xau 'ma che quy hon' thoi trung quoc xua - 4

Đêm động phòng hoa chúc, Hứa Doãn phát hiện ra con gái nhà họ Nguyễn xấu quá, vội chạy khỏi tân phòng, từ đấy trở đi không dám vào phòng vợ nữa. (ảnh minh họa)

5. Mạnh Quang, người vợ xấu nhưng chiều chồng

Tương truyền, Mạnh Quang là người phụ nữ xấu xí, vừa béo vừa đen, khỏe đến mức có thể bê được cối đá. Chồng nàng là Lương Hồng, là người rất có danh tiếng. Trước khi lấy vợ, rất nhiều nhà danh giá muốn gả con gái cho ông nhưng ông đều không đồng ý.

Trung Quốc có câu “Cử án tề mi” (dâng mâm lên ngang mày) chính là câu chuyện mỗi lần Lương Hồng đi làm về, nàng Mạnh Quang lo cơm nước chu tất, dâng thức ăn ngang mày mời chồng ăn. Sau ngày cưới, Mạnh Quang bỏ khăn che mặt, mặc quần áo hàng ngày để làm việc nhà. Sau đó, nàng cùng chồng lên núi ở, chồng cày cấy, vợ dệt vải, ngày ngày ngâm thơ đàn hát, sống cuộc sống thanh bần mà hạnh phúc.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: 5 người phụ nữ xấu 'ma chê quỷ hờn' thời Trung Quốc xưa

Tại sao có thủ tục hú hồn trước khi nhập quan ?

Vì đã có những trường hợp bị choáng, ngất, bất tỉnh nhân sự. Người ta dùng mọi thủ thuật để kích thích thì hồi tỉnh, trong đó có thuật hú hồn hú vía. Cũng có trường hợp đã tắt thở, tưởng là đã chết rồi nhưng sau một thời gian bỗng nhiên sống lại.
Tại sao có thủ tục hú hồn trước khi nhập quan ?

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Do đó với một hy vọng dầu mỏng manh, mặc dầu trong muôn một, người sống tiếc thương muốn cứu vãn... nên cầm chiếc áo quần của người đã tắt thở, leo lên mái nhà chỗ cao nhất hú "Ba hồn bảy vía ông...", hoặc "Ba hồn chín vía bà..." về nhập xác. Hú ba lần không được thì cũng đành lòng chịu khâm liệm mà tin rằng như vậy hồn đỡ vất vưởng, biết tìm đường về nhà. (Khâm liệm xong vẫn chưa nỡ đóng chốt áo quan). Đây là một phong tục chủ yếu để thoả mãn tâm linh.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tại sao có thủ tục hú hồn trước khi nhập quan ?

Tuyệt chiêu chọn đồ trang trí bàn làm việc hợp cá tính và phong thủy

Căn cứ vào cung mệnh, cá tính của mỗi người mà có cách trang trí văn phòng phù hợp với bản mệnh cũng như chuẩn phong thủy.
Tuyệt chiêu chọn đồ trang trí bàn làm việc hợp cá tính và phong thủy

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Căn cứ vào cung mệnh, cá tính của mỗi người mà có cách lựa chọn đồ đạc phù hợp với bản mệnh cũng như chuẩn phong thủy, mang lại nhiều may mắn và hưng thịnh cho bạn.


► Tham khảo thêm những thông tin về các Vật phẩm phong thủy giúp phát tài, phát lộc

1. Bạn hướng nội, coi trọng tình cảm


Theo quan điểm phong thủy, tính cách hướng nội mang tính âm. Chủ nhân của tính cách này thường sống tình cảm, giàu lòng trắc ẩn và khá trầm tính.

Do đó, để có được sự hài hòa và cân bằng âm dương, bạn nên để cửa phòng làm việc hay cửa sổ phòng ngủ luôn mở hoặc dùng nến để trang trí nhằm đón nhận nguồn năng lượng dương từ bên ngoài. Điều này giúp tâm trạng bạn thư thái, vui vẻ hơn, theo đó công việc càng thêm suôn sẻ, thuận lợi.

2. Bạn hướng ngoại, hài hước và phóng khoáng

Tuyet chieu chon do trang tri ban lam viec hop ca tinh va phong thuy hinh anh
 
Những ai có tính cách hướng ngoại, hài hước và phóng khoáng có thể treo tranh biếm họa và luôn để phòng làm việc của mình ngập tràn ánh sáng tự nhiên. Điều đó sẽ giúp não bộ của bạn luôn được kích thích, dễ đưa ra những ý tưởng sáng tạo độc đáo, theo đó mỗi ngày làm việc là một ngày vui tươi, tràn đầy hứng thú trong công việc.

3. Bạn quan tâm đến mọi người xung quanh

Để các mối quan hệ xã giao thêm hài hòa, thúc đẩy công việc thuận buồm xuôi gió, nếu bạn hay quan tâm tới người khác hoặc chưa đều có thể treo tranh bột màu hoặc trang trí bàn làm việc của mình bằng bình đất nung có kiểu dáng đơn giản nhưng đáng yêu.

4. Bạn thuộc tuýp chân thành, thật thà


Những màu sắc như xanh đậm hay màu đen sẽ giúp bạn cảm thấy an vui, chân thật và có thể yên tâm tập trung vào công việc. Do đó, tại bàn làm việc của mình, bạn có thể treo tranh sông, biển.

5. Bạn cẩn thận, tỉ mỉ, thích sự ngăn nắp gọn gàng


Chủ nhân của cá tính này có thể dùng các vật trang trí màu trắng, họa tiết gồm nhiều đường thẳng hay các cấu trúc hình học. Những họa tiết này luôn nhắc bạn nhớ đến tính cẩn thận, khéo léo của mình.

Tuyet chieu chon do trang tri ban lam viec hop ca tinh va phong thuy hinh anh
 
6. Bạn giàu trí tưởng tượng và kiên trì theo đuổi ước mơ

Trong trường hợp này, bạn có thể bài trí cây tre hoặc một loại cây xanh nào đó trong phòng làm việc. Màu xanh là màu của nghị lực. Cây xanh lớn lên từng ngày sẽ nhắc bạn cố gắng vươn lên, nỗ lực để được mọi người ghi nhớ.

7. Bạn có khả năng làm việc theo nhóm hoặc lãnh đạo nhóm


Nếu có khả năng làm việc theo nhóm hoặc muốn nhận được sự tương trợ từ phía mọi người xung quanh, bạn có thể trang trí 3 vòng hoa hay 3 vòng tròn ở bàn làm việc. Điều này sẽ làm bạn thấy được mình luôn ở trong một tập thể, giữa mọi người có sự tương tác và hỗ trợ lẫn nhau.

Trong trường hợp bạn có tài lãnh đạo nhóm, có thể dùng màu xanh lục làm tông màu chủ đạo trong phong cách bài trí. Chọn các vật thể có dáng cao, thẳng đứng. Những hình ảnh này sẽ tiếp thêm lửa để bạn tự tin dẫn đầu trong mọi hoạt động học tập cũng như công việc của mình.

Theo Khám phá



 

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tuyệt chiêu chọn đồ trang trí bàn làm việc hợp cá tính và phong thủy

Tuổi hạn-năm xung tháng hạn-cách hóa giải

1-Hỏi :Vì sao lại có quan niệm về “tuổi hạn”? (tuổi hạn chung cho mọi người) - Đáp : Theo từ điển Hán Việt thì Hạn là vùng đất nguy hiểm, ranh giới, phạm vi quy định, kỳ hạn quy định, ngưỡng cửa ...Từ xưa tới nay hễ nghe đến hạn là mọi người đều nghĩ tới những điều xấu không may mắn tới với mình, nhưng thực tế không phải Hạn nào cũng xấu.
Tuổi hạn-năm xung tháng hạn-cách hóa giải

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Thí dụ : đến Hạn lên lương, thăng quân hàm, nhận lãi tiết kiệm, kỳ phiếu, gia hạn vay vốn, CTTN hữu hạn....Thậm chí Hạn sao Mộc đức, Thái dương.v.v. lại rất tốt nhưng mọi người vẫn gọi là Hạn. Nên mới có chuyện đầu năm nhiều người vất vả nhờ Thầy cậy Thợ cắt giải hết cả sao Tốt đi thì con gì Phúc nữa. Sao xấu (hung tinh,ác tinh..) thì mới cắt giải, nhương tinh(nhượng) chuyển đổi đi, còn Cát tinh, sao tốt thì phải Nghênh tinh (đón rước về) thì mới tốt chứ.
Tóm lại Hạn là 1 cái Mốc, Ngưỡng (limited) ,đến khi đó ta sẽ gặp sự kiện xấu hoặc tốt đến với bản thân hoặc gia đình.

2-Hỏi : Những tuổi nào được cho là “hạn”, cùng với 49, 53? Dựa vào đâu để tính được những tuổi đó là “hạn”? (Cách tính cụ thể như thế nào ạ?)
-Đáp : Đây là cách tính Cửu diệu tinh quân rất nhanh và đơn giản nhưng chính xác. Lấy số tuổi (tuổi Mụ) cộng dồn lại trừ cho 9 còn lại : 1 nam La hầu Nữ Kế đô, 2 Nam Thổ tú, Nữ Hoả đức, 3 Nam Thuỷ diệu, Nữ Mộc đức.v.v.

Sao La hầu
Nam giới tuổi : 10-19-28-37-46-55-64-73-82
Nữ giới tuổi : 06-15-24-33-42-51-60-69-78-87

Sao Thổ tú
Nam giới tuổi : 11-20-29-38-47-56-65-74-83
Nữ giới tuổi : 05-14-23-32-41-50-59-68-77

Sao Thuỷ Diệu
Nam giới tuổi : 12-21-30-39-48-57-66-75-84
Nữ giới tuổi : 09-18-27-36-45-54-63-72-81

Sao Thái Bạch
Nam giới tuổi : 04-13-22-31-40-49-58-67-76-85
Nữ giới tuổi : 08-17-26-35-44-53-62-71-80

Sao Thái Dương
Nam giới tuổi : 05-14-23-32-41-50-59-68-77
Nữ giới tuổi : 07-16-25-34-43-52-61-70-79

Sao Hoả Đức
Nam giới tuổi : 06-15-24-33-42-51-60-69-78
Nữ giới tuổi : 11-20-29-38-47-56-65-74-83

Sao Kế đô
Nam giới tuổi : 07-16-25-34-43-52-61-70-79
Nữ giới tuổi : 10-19-28-37-46-55-64-73-82

Sao Thái âm
Nam giới tuổi : 08-17-26-35-44-53-62-71-80
Nữ giới tuổi : 04-13-22-31-40-49-58-67-76-85

Sao Mộc đức
Nam giới tuổi : 09-18-27-36-45-54-63-72-81
Nữ giới tuổi : 03-12-21-30-39-48-57-66-75-84

3-Hỏi :(Nếu có thì phân chia tuổi hạn và những việc làm tương ứng như thế nào?). Hay là đều không được làm việc lớn đó?
-Đáp : Khi gặp hạn sao xấu thì nên mua đất, xây nhà, sửa chữa nhà cửa, mua xe hoặc sắm tài sản có giá trị, thuyên chuyển công tác,xây dựng gia đình, sinh con v.v. Nhưng phải xem có sao Long đức, Phúc đức, Hồng loan thiên hỷ,Trạch : Phúc, Đức, Bảo, An và thời vận của các thành viên trong nhà. Lưu ý các hạn khác đi kèm và Hoang ốc, Kim lâu.

4-Hỏi : Có phải hai tuổi 49, 53 là gặp hạn nặng nhất? Nếu đúng thì vì sao? Con số 49, 53 có ý nghĩa gì?
- Đáp : Trong thực tế cho thấy bất cứ thời gian nào trong cuộc đời đều có thể gặp vận hạn xấu, nhưng tỷ lệ thấp hơn tuổi 49, 53.

-Lý do thứ nhất :

Cộng dồn số 49 và 53 ta thấy:
4+9=13 1+3= 4 Nam Thái bạch, Nữ Thái âm
5+3=8 Nữ Thái bạch, Nam Thái âm
Thái là quá, Bạch là trắng (chủ về tang chế, tai nạn, xương cốt).v..Âm là tối, đen nước, hiểm trở (chủ về ốm đau, dao kéo,xe cộ, sông nước) .v.v.

Thái âm vận xấu than ôi
Thái âm thái bạch đi đôi khác gì

Do đó tính chất của 2 sao như nhau, nhưng có 2 cách gọi.Giống như người thì gọi cái Bát, người gọi là cái Chén vậy thôi.

-Lý do thứ 2 :
Chòm sao Thái tuế quản 12 năm hàng Chi như sau: 1 tuổi Thái tuế, 2 tuổi Thiếu dương, 3 tuổi Tang môn, 4 tuổi Thiếu âm, 5 tuổi Quan phù, 6 tuổi Tử phù, 7 tuổi Tuế phá, 8 tuổi Long đức, 9 tuổi Bạch hổ, 10 tuổi Phúc đức, 11 tuổi Điếu khách, 12 tuổi Trực phù.
Do đó cứ vòng 12 năm là gặp sao Thái tuế (năm tuổi).

Cụ thể là những năm có số tuổi chia cho 12 dư 1 như: 13, 25, 37, 49, 61, 73, 85.

Thái tuế chủ về quan sự, khẩu thiệt, hao tốn, ốm đau, tang chế.v.v.
Trước Thái tuế có Thiên không, Sau Thái tuế có Quán sách, đôi sao này thuộc hoả không lợi.
Đối diện sao Thái tuế là Tuế phá
Tuế phá là hạn dữ hung
Tự người mất của hãi hùng nhiều phen.

-Lý do thứ 3 :
Theo quy luật của tạo hoá thì từ khi thai nghén đã theo chu kỳ 7*7. Các mốc có số 7 như 7 giờ, 7 ngày, 7 tuần, 7 tháng, 7 năm.v.v đều đánh dấu sự thay đổi quan trọng .

Thí dụ :
7 năm thứ nhất phát triển chiều ngang
7 năm thứ hai phát triển chiều cao
7 năm thứ ba phát dục
7 năm thứ tư phát triển cơ bắp
7 năm thứ năm phát triển trí tuệ
7 năm thứ sáu phát triển toàn diện
7 năm thứ bảy dừng lại, ổn định, dần suy giảm.
7 * 7 = 49

Hết chu kỳ này sẽ là 49, 53.
Đó là sự sinh, còn sự tử thì sao ?
"Sự tử như sự sinh"

Khi con người mất đi cũng theo luật tạo hoá cái gì sinh trước sẽ mất trước, sinh sau mất sau. Nên người ta mới lễ Tứ Cửu (49 ngày), còn gọi là thất thất lai tuần (7*7=49).Cứ thứ tự hàng tuần(7 ngày) thì phần thể xác lại mai một đi 1 phần tương ứng với sự sinh. Cho đến ngày thứ 49 thì Bụng nổ, Đầu rơi, khi bụng nổ và đầu rơi khỏi thân mình (từ thời điểm này phần thân xác sẽ không còn cảm giác đau đớn nữa) thì phần hồn sẽ cư ngụ về Hoa Cái (Hộp sọ) để chờ tới 100 ngày (Bách nhật) thì hồn lìa khỏi xác, xuất ra khỏi Mộ đi khắp nơi.
Cũng theo quy luật đó thì hết vòng 49,53 thì mọi sự lại tốt đẹp, hồi xuân .

5- Hỏi :Thực tế, nhiều người gặp hạn nặng (bệnh tật nguy kịch, thậm chí bỏ mạng) ở tuổi hạn, nhất là lúc 49 hoặc 53 tuổi, nhưng cũng có những người chỉ bị nhẹ. Lý giải điều đó như thế nào? Có phải tất cả mọi người khi đến tuổi đó thì cũng bị hạn chung hay là còn phụ thuộc vào căn, bản mệnh… nữa? Cái gì là yếu tố quyết định người ta bị hạn nặng hay nhẹ khi vào tuổi hạn?
-Đáp : Cũng tuổi 49, 53 hoặc cùng tuổi hạn như nhau nhưng mức độ ảnh hưởng không giống nhau. Người thì nhẹ, người gặp nặng, người không sao, có người còn thành công nữa.
Bởi vì hạn có 2 cách ảnh hưởng :
Chiếu Bản Mệnh và chiếu Gia sự.
Nếu 1 người đau mắt đau răng thì chỉ bản thân họ đau thì gọi là chiếu Bản Mệnh.
Nếu cháy nhà, có tang ..v.v.. thì ảnh hưởng đến cả nhà thì gọi là chiếu Gia sự.
Khi xem gia sự thì cần quan tâm đến tuổi và vận hạn của chủ nhà.
Nếu các thành viên trong nhà cùng tuổi hạn nhiều thì xấu hơn. Nhưng nếu ngược lại thì thành ra tốt.
Ngoài tuổi hạn và 49,53 ra rồi cần phải xem những hạn khác có đi kèm không, Thí dụ:
Hạn Tam tai
Hạn Huỳnh tuyền, Tam kheo, Ngũ mộ, Thiên tinh, Toán tận,Thiên la, Địa võng, Diêm vương.
Hoang ốc
Kim lâu
Trạch : Bại, Hư, Khốc, Quỷ, Tử.
Vận khăn xám
Vận làm nhà
Vận sang cát .v.v.
Những yếu tố trên sẽ quyết định Hạn xấu tốt của con người .

6-Hỏi : Có cách nào để giảm mức độ của “hạn” không? Cúng bái giải hạn có phải là một việc cần làm và hiệu quả nhất?
Đáp : Bí quyết giải hạn tống ách trừ tai ,cải hung hoá cát, cải hoạ vi tường :
-Sống hoà nhập thiên nhiên, tuân thủ quy luật tạo hoá.
-Không tham, sân, si.
-Năng làm việc thiện, giúp đỡ người tàn tật, khó khăn.
-Sinh hoạt điều độ, không hút thuốc, uống rượu, cẩn thận khi tham gia giao thông.
-Lễ dâng sao giải hạn, cầu Quốc thái Dân an là việc tốt, nên làm.Riêng việc Nhương tinh giải hạn, Nghênh tinh tiếp phúc tuy không tốn kém nhưng phải đúng ngày giờ giáng hạ, chữ viết bài vị, đủ số đèn, đúng hình sao, đúng hướng, đọc đúng tên vị Thần quản sao, chọn lễ đúng màu, lễ trung thiên thì mới có giá trị . Nếu không lập đàn được như trên thì thành tâm lễ Chùa hoặc lễ Thần linh + Gia tiên trong nhà mình là đủ .

7. Chú có lời nhắn nhủ hay khuyên giải gì với những người bước vào tuổi hạn?
-Đáp : Phật dạy rằng : “Ở đời đừng cầu không khó khăn, vì không khó khăn dễ kiêu sa nổi dậy”
Thầy trò Đường tăng đi thỉnh kinh còn gặp 81 kiếp nạn.
Cũng chính con người từ thủa khai sinh đến nay đã vượt qua rất nhiều kiếp nạn để đạt được biết bao thành quả và công trình kỳ vỹ.
Thực ra những năm xung tháng hạn, 49, 53 chỉ là kỳ kiểm tra ( test) thông thường, Qua khó khăn con người sẽ trưởng thành, để rồi tới tuổi 70 ta muốn làm đều gì đều đúng, không sai quy củ.

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tuổi hạn-năm xung tháng hạn-cách hóa giải

Sự tích Đức Quan Thế Âm Bồ Tát

Quán Thế Âm Bồ Tát là danh hiệu của một vị Phật đáng lẽ đã chứng quả Phật, nhưng còn nguyện lẫn lộn ở cõi ta bà để cứu độ chúng sinh
Sự tích Đức Quan Thế Âm Bồ Tát

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Quan Thế Âm Bồ Tát là danh hiệu của một vị Phật đáng lẽ đã chứng quả Phật, nhưng còn nguyện lẫn lộn ở cõi ta bà để cứu độ chúng sinh. Người ta cũng gọi Ngài là Quan Âm Phật, Quan Âm Bồ Tát, Quan Âm Như Lai, Quan Thế Âm, Quan Âm Nam Hải, Phổ Đà Phật Tổ, v.v…

Quyển kinh nói về Ngài, mà hiện nay phái Bắc Tôn (Trung Hoa, Cao Ly, Nhật Bổn, Việt Nam) còn truyền tụng là quyển “Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Quan Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm”. Theo lời kinh Phổ Môn bất cứ là hạng nào trong chúng sanh, bất cứ là ở vào tình cảnh nào, lúc nào, hễ cầu đến Ngài, niệm danh hiệu Ngài thì đặng cứu ngay. Ngài dùng huyền diệu cứu vớt chúng sanh không biết muôn ức nào mà kể. Nếu cầu Ngài với danh hiệu thuộc về một phân thân nào của Ngài thì Ngài xuất hiện y theo phân thân ấy để cứu độ. Kinh Phổ môn có biên rành 12 điều đại nguyện của Ngài.

Theo kinh truyện để lại, Ngài phân thân giáng trần 33 kiếp, khi thì mượn xác nam nhi, khi thì làm thiếu nữ, khi thì ở vào cảnh quyền quý cao sang, khi thì vào hàng bần cùng cơ khổ, khi thì sanh làm đạo sĩ, khi thì làm tỳ khưu, v.v…

Hiện nay đời còn truyền tụng hai kiếp giáng trần làm phụ nhơn của Ngài là: kiếp thứ mười làm bà Thị Kính, kiếp chót làm bà Diệu Thiện. Sau khi thoát kiếp chót này Ngài được chứng quả Phật Tổ tại Phổ Đà Sơn (Nam Hải).

Truyện Quan Âm Thị Kính

Trước kia Đức Quan Âm Bồ Tát tu đã đặng tám kiếp rồi. Qua tới kiếp thứ chín Ngài phân thân nam nhi đi tu chứng bực tỳ khưu. Khi kiếp thứ chín của Ngài gần mãn thì Đức Thích Ca giáng xuống thử lòng. Đấng Thế Tôn hiện ra một người con gái tới lần khân ép nài vị tỳ khưu kia kết duyên với mình. Vị này mới thốt rằng: “Có chăng họa may là kiếp sau, chớ kiếp này vì lời thề nguyện tu trì thì không thể nào đặng”. Vì lời hứa ấy mà sau khi mãn kiếp thứ chín rồi vị tỳ khưu kia phải giáng trần đầu thai làm thiếu nữ, suốt đời phải chịu trăm điều cay đắng về vấn đề tình duyên để thử lòng Ngài coi ra sao.

Vâng lệnh của Đức Phật Tổ chơn linh vị Bồ Tát kia bèn giáng trần đầu thai làm con gái nhà họ Sùng là Sùng Ông, một nhà giàu có ở xứ Cao Ly lại là nhà từ tâm chưởng đức. Hai ông bà tuổi đã cao mà không con nên đi cầu tự và sanh ra nàng Thị Kính, dung nghi đẹp đẽ, tướng mạo đoan trang. Hai ông bà mừng được chút gái để có người hôm sớm trong lúc tuổi già. Khi nàng đã đúng tuần cập kê thì gần đó có chàng Thiện Sĩ, con nhà quyền quý trâm anh cậy mai đến nói. Vợ chồng Sùng Ông thấy phải đôi vừa lứa bèn chịu gả con gái mình.

Đến ngày nạp thái vu quy nàng Thị Kính buồn tủi muôn phần! Buồn là vì thấy mình là con một, một khi đã xuất giá rồi thì bề nhà sau trước quạnh hiu, lấy ai mà thần tỉnh mộ khang thế cho mình! Tủi là lỡ sanh làm con gái thì đúng tuổi phải xuất giá tòng phu rủi may phải chịu và ơn sanh thành không sao trả đặng! Cha mẹ nghe nàng than thở làm vậy bèn kiếm lời khuyên giải và nói rằng: “Cha mẹ sanh con là gái, thì khôn lớn có nơi có chốn làm đẹp mặt nở mày mẹ cha đó là đủ rồi”. Con chẳng nên lo điều chi khác nữa! Vả lại nhà bên chồng con cũng gần đây thì sự thăm viếng cũng thuận tiện. Nghe vậy nàng mới an lòng chiều ý muốn của cha mẹ. Từ khi về nhà chồng, nàng giữ một mực tôn kính, phụng sự nhà chồng, trong êm ngoài ấm, ai nấy đều khen.

Một ngày kia nàng đương ngồi may, chàng Thiện Sĩ sau khi đọc sách mỏi mệt mới ra gần chổ nàng may mà nằm nghỉ, luôn dịp ngủ quên. Từ khi về nhà chồng đến giờ nàng chưa có dịp nhìn chàng cho chính đính. Nay có cơ hội đưa đến nàng, nhơn lúc chàng ngon giấc mà nhìn kỹ mặt đức lang quân. Chợt thấy dưới cầm chàng có mọc một sợi râu và biết coi tướng ít nhiều, nàng thấy quả là sợi râu bất lợi! Nhơn cầm sẵn cái kéo trong tay nàng mới đưa kéo ra cắt lấy. Đương lúc ấy, chàng Thiện Sĩ giựt mình thức dậy, thấy vợ cầm kéo đưa ngay cổ mình, vụt la hoảng lên rằng: “Vợ tôi muốn giết tôi.”

Trong nhà vỡ lở, cha mẹ gia tướng chạy đến gạn hỏi. Nàng tình thật cứ nói ngay, không ngờ cha mẹ chồng quá ư nghiêm khắc bắt tội nàng có ngoại tình và mưu giết chồng. Nhơn cớ ấy cha mẹ chồng buộc chàng Thiện Sĩ làm tờ để vợ và mời vợ chồng Sùng Ông đến lãnh con về. Vợ chồng Sùng Ông hơ hãi tới nơi mới tường tự sự. Hai ông bà kêu con ra hỏi, rầy la than trách một hồi rồi lãnh con về.

Lúc ấy Thiện Sĩ lòng như dao cắt, tưởng là việc đáng bỏ qua không dè đến nỗi rẽ thúy chia loan thì chàng ăn năn vô ngần, châu rơi lã chã. Khi nàng Thị Kính lạy từ công cô và chàng ra về, vì sợ uy cha mẹ chàng chẳng dám hở môi nói bào chữa nàng một lời nào.

Về nhà, nàng Thị Kính buồn bã muôn phần. Một là buồn cho số phận long đong, tình duyên trắc trở; hai là buồn cho cha mẹ phải mang điều phiền não trong lòng.

Vì nàng là một người đàn bà chân chính may rủi một chồng mà thôi, nàng khăng khăng không chịu “ôm cầm thuyền ai”. Nàng than rằng nếu có anh em đông thì nàng cũng đành nhắm mắt cho rồi để khỏi mang tiếng nhơ. Nhưng vì nàng là con một, nàng không nỡ hủy mình, sợ e thất hiếu, mà ở như vậy thật rất khổ tâm cho nên nàng quyết chí xuất gia, noi gương Phật Tổ, tu hành cho đắc đạo rồi trở về độ lại mẹ cha.

Một hôm, nàng lén cải trang nam tử, rồi bỏ nhà trốn đi. Hay tin cha mẹ nghi nàng vì buồn tình xưa mà sanh nhẹ dạ theo người và sai người đi kiếm cùng nơi mà không gặp.

Từ khi nàng lìa gia đình ra đi thì nàng có ý tìm một cảnh chùa để gởi thân. Đến ngôi chùa được chọn nàng gặp giờ sư cụ đang thuyết pháp. Nàng trộm xem tướng mạo thì thấy rõ đó là một bậc chơn tu, đạo pháp khá lớn. Nàng bèn xin thọ pháp quy y. Sư cụ ban đầu rất nghi ngờ nàng, bèn ngọn hỏi ngành tra vì sợ e trang thiếu niên kia sau này bán đồ nhi phế mà đắc tội với Phật Trời. Nàng thì một mực nói mình là một thư sanh, con nhà quyền quý, lòng chán công danh nên vào nương nhờ cửa Phật để gột rửa lòng phàm. Thấy chí quả quyết của vị thiếu niên, sư ông mới vui nhận cho làm đệ tử và ban pháp danh là Kính Tâm.

Vì sãi Kính Tâm là nữ trá hình cho nên dung mạo khôi ngô kiều mị, làm cho hàng tín nữ trầm trồ, nhất là nàng Thị Mầu, con của một vị phú ông trưởng giả vùng ấy. Mượn cớ ra vô trong chùa, nàng Thị Mầu lắm khi đưa tình trêu ghẹo sãi Kính Tâm, nhưng nàng vẫn trơ trơ như không hay không biết. Thất vọng, Thị Mầu mới quay lại tư tình với đứa ở của nàng. Khi thai đã gần già, khí sắc nàng đổi, làng xã thấy thế mới đòi phú ông và nàng ra hỏi.

Chịu đòn không kham, Thị Mầu túng phải cung xưng. Trong khẩu cung Thị Mầu quả quyết rằng mình có tư tình với sãi Kính Tâm nên mới ra cớ đỗi và xin làng rộng lượng cho sãi Kính Tâm hoàn tục kết duyên với mình.

Trống mõ inh ỏi, cửa thiền xưa nay êm lặng phút chốc trở nên huyên náo, sóng dậy ba đào. Người nhà làng đến chùa đòi sư ông và sãi Kính Tâm ra nghe dạy việc.

Thầy trò cùng dắt nhau đi. Đến nơi mới hay tự sự! Tá hỏa tâm thần, thầy hỏi trò có sao nói thiệt. Trò một mực kêu oan chớ không nói điều chi thêm nữa. Hương đảng đông đủ tra hỏi sãi nhỏ đủ điều, khi dọa, khi khuyên nhủ rằng: Nếu nói thật thì làng cũng chứng cho để lập gia thất. Kẻ thì mai mỉa: Sãi kia tu có trót đời không? Rốt cuộc vì không chịu xưng tội tình và một mực kêu oan cho nên sãi Kính Tâm phải bị đem ra tra tấn.

Đứng trước cảnh thịt nát máu rơi và thấy trò bất tỉnh, sư ông mới động mối từ tâm đứng ra xin bảo lãnh cho trò để sau này về nhà khuyên nhủ dạy răn.

Thấy thế hương đảng cũng niệm tình ưng thuận cho sư tiểu cùng về. Đến chùa, Sư ông dạy tiểu ra ở ngoài tam quan để tránh tiếng không tốt cho chùa.

Thời gian qua, Thị Mầu đến ngày mãn nguyệt khai hoa, hạ sanh đặng một mụn con trai. Nàng bèn bồng hài nhi đến cửa tam quan bỏ đó rồi về, nói rằng: “Con của ngươi, đem trả cho ngươi.” Sãi Kính Tâm đương tụng kinh nghe đứa nhỏ bị bỏ dưới đất giãy giụa khóc la, động mối từ tâm người bèn ra ẵm đứa bé vào, mướn vú nuôi bên tự. Mẹ vò nuôi con nhện lắt lẻo qua ngày.

Hết thời trì kinh thì sãi Kính Tâm lại phải giữ gìn bồng bế đứa trẻ. Nghe vậy, sư cụ mới vời sãi Kính Tâm vào mà trách rằng: “Trước kia con nói rằng con bị hàm oan, mà nay như thế thì chính thầy đây cũng phải nghi ngờ nữa là ai?”

Sãi Kính Tâm bèn bạch rằng: “Bạch sư phụ, khi xưa sư phụ có dạy đệ tử rằng cứu đặng một người, phước đức hà sa. Đệ tử vâng lời thầy mới cứu mạng đứa trẻ này, chớ kỳ trung con không có ý chi hết.”

Tuy vậy sãi Kính Tâm cũng không đặng phép vô ra trong chùa để tránh tiếng cho chùa.

Đứa trẻ khi đặng hai, ba tuổi đã có vẻ thông minh và giống sãi Kính Tâm như hệt. Khi hài nhi đúng ba tuổi thì sãi Kính Tâm đến ngày phải theo Phật. Biết trước giờ phân ly, sãi Kính Tâm mới viết hai bức thơ gởi lại, một kính gởi cho sư cụ, còn một bức thì gởi cho cha mẹ ruột. Khi sãi Kính Tâm tắt hơi thì đứa nhỏ y như lời cha dặn đem bức thơ vào dâng cho sư cụ.

Xem thơ xong, sư ông rất ngậm ngùi, bèn phái vài vị ni cô ra coi tẩm liệm. Khám xét xong thì mới hay sãi Kính Tâm là nhi nữ trá hình.

Tin ấy truyền ra hương lân nhóm lại đòi cha con Thị Mầu đến buộc tội cáo gian và phạt phải chịu tổn phí về các cuộc tống táng và làm ma chay cho sãi Kính Tâm. Bằng chứng sờ sờ phú ông phải chịu, Thị Mầu xấu hổ muôn phần bèn quyên sinh để trốn khổ nhục.

Đến ngày an táng sãi Kính Tâm thì thiên hạ đồng thấy Phật hiện trên mây rước hồn sãi Kính Tâm là nàng Thị Kính. Hai vợ chồng Sùng Ông và Thiện Sĩ đặng thơ và hay tin đau đớn này đồng có đến dự. Sau cuộc tống táng vợ xưa Thiện Sĩ ăn năn lỗi trước bèn phát nguyện tu hành.

Tục truyền rằng Thiện Sĩ sau đắc quả thành con chim ngậm xâu chuỗi bồ đề, đậu một bên Đức Phật Quan Âm, Đức Phật Quan Âm cũng độ luôn con của Thị Mầu đắc quả hầu gần bên Ngài.

Ngày nay, người xứ ta và người Tàu khi họa tượng Phật Quan Âm thì thường họa một bà đội mũ ni xanh hoặc đen, ngồi trên tòa sen hoặc thạch bàn, bên tay mặt có một con chim mỏ ngậm xâu chuỗi bồ đề, dưới có đứa trẻ bận khôi giáp chắp tay hầu. Ấy là con của Thị Mầu.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Sự tích Đức Quan Thế Âm Bồ Tát

Xem tướng tay để biết bạn sắp phát tài và có chuyện vui –

Xem tướng tay để biết bạn sắp phát tài và có chuyện vui? bạn hãy đọc ngay bài viết của chúng tôi để kiểm chứng và xem vận mệnh của mình trong tương lai gần nhé. Tướng tay để biết bạn sắp phát tài và có chuyện vui? Đặc điểm đốt thứ 2 của ngón cái Đốt

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Xem tướng tay để biết bạn sắp phát tài và có chuyện vui?  bạn hãy đọc ngay bài viết của chúng tôi để kiểm chứng và xem vận mệnh của mình trong tương lai gần nhé.

Nội dung

  • 1 Tướng tay để biết bạn sắp phát tài và có chuyện vui?
    • 1.1 Đặc điểm đốt thứ 2 của ngón cái
    • 1.2 Dấu hiệu phát tài
    • 1.3 Dấu hiệu sắp có chuyện vui

Tướng tay để biết bạn sắp phát tài và có chuyện vui?

Đặc điểm đốt thứ 2 của ngón cái

Đốt thứ hai của ngón cái càng nhiều đường vân, càng tăng tài phú. Đường tình cảm ngày càng dài và sâu chứng tỏ cả đời thuận lợi, hỷ sự sẽ tới.

Dấu hiệu phát tài

1. Lòng bàn tay hồng hào, có những đường màu đỏ hiện rõ, biểu hiện cho tài vận sắp tới của bạn rất tốt, vạn sự như ý.

2. Hai bàn tay hồng nhuận, lại vừa có đường tài vận tốt sẽ có thêm nhiều của cải.

3. Đốt thứ hai của ngón cái càng nhiều đường vân, càng tăng tài phú.

4. Gò mộc tinh ở gốc ngón trỏ nổi rõ, màu sắc hồng hào hoặc đỏ, tài vận sẽ rất tốt. Người có gò mộc tinh đầy đặn không những có tiền tài mà còn quyền thế vững chắc.

5. Gò Thái Dương ở gốc ngón áp út có dấu chữ thập, tức sắp gặp chuyện đại phú đại quý.

6. Dưới gò Thái Dương xuất hiện những nét đan thành lưới, là biểu hiện của “cao thủ cá kiếm”.

1381207104-page-8467-1413774040

7. Xuất hiện dấu chữ thập ở giữa khu vực gò Thủy Tinh (dưới gốc ngón út) và gò Thái Dương (dưới gốc ngón áp út) tức sắp được may mắn bất ngờ.

8. Gò thủy tinh dưới gốc ngón út xuất hiện những đường chỉ xiên thẳng, biểu hiện cho cuộc sống hạnh phúc, sẽ nhận được của cải bất ngờ.

9. Gốc ngón út xuất hiện những đường chỉ thẳng đứng, sâu đậm mà không bị đường nào cắt ngang hoặc chặn đứng chứng tỏ tài vận đang cực thịnh.

10. Ngón tay hẹp dần về đầu ngón tức là bạn sắp có khoản tiền để dành.

11. Đường Sinh Đạo và đường Trí Đạo xuất phát cùng một điểm, hướng lên trên là dễ phát tài.

12. Đường thành công xuất hiện nhánh kéo đến gò Thủy Tinh là sắp phát đại tài.

13. Ngón cái thẳng – đầu óc kinh doanh tốt.

Dấu hiệu sắp có chuyện vui

1. Đầu đường hôn nhân có dấu chữ thập hoặc dấu sao, thì rất có thể bạn đã tìm được “người ấy” rồi, hỷ sự sắp tới.

2. Gốc đường hôn nhân có dấu sao hoặc dấu chữ thập, chuyện tình duyên của bạn đang phát triển tốt, rất có hy vọng.

3. Gò Thái Dương xuất hiện dấu sao hoặc dấu chữ thập sao, bạn sẽ có một đám cưới ở nước ngoài.

4. Đường tình cảm ngày càng dài và sâu chứng tỏ cả đời thuận lợi, hỷ sự sẽ tới.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem tướng tay để biết bạn sắp phát tài và có chuyện vui –

Top 3 con giáp khổ tận cam lai, là tỷ phú xuất thân nghèo khó

Hoàn cảnh không quyết định được vận mệnh, bằng ý chí của mình, con giáp này vượt mọi khó khăn, khổ tận cam lai, xuất thân bần hàn nhưng ngày sau giàu sang
Top 3 con giáp khổ tận cam lai, là tỷ phú xuất thân nghèo khó

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Hoàn cảnh không quyết định được vận mệnh, bằng ý chí của mình, những con giáp này đã vượt mọi khó khăn, khổ tận cam lai, xuất thân bần hàn nhưng ngày sau giàu sang phú quý.   Chúng ta sinh ra trên thế giới này, có rất nhiều thứ do trời định sẵn, bản thân mình không thể quyết định được, từ giới tính, gia đình đến xuất thân… Có người sinh ra đã ở trong gia đình giàu sang phú quý, có người lại xuất thân bần hàn, nghèo khó trăm bề.    Tuy nhiên, hoàn cảnh xuất thân không thể cản được bước tiến thành công của những con người giỏi giang và giàu nghị lực. Có biết bao tỷ phú xuất thân nghèo khó, nhờ sự nỗ lực của bản thân mà sau này đã hóa thân lột xác, thay đổi vận mệnh cuộc đời. Cùng Lịch ngày tốt xem bói tử vi để biết trong số 12 con giáp, ai là người có số khổ tận cam lai, xuất thân bần hàn mà ngày sau giàu sang phú quý nhé.  

Tuổi Hợi

  Người tuổi Hợi phần lớn tính cách đều thành thực, trung hậu, trọng nghĩa khí. Khi làm việc, họ luôn cố gắng hết sức mình, tìm mọi cách để hoàn thành công việc một cách tốt nhất. Nhờ tinh thần làm việc nghiêm túc như vậy nên họ dễ dàng giành được sự tín nhiệm và tán thưởng của cấp trên cũng như đồng nghiệp.


Diem mat 3 con giap kho tan cam lai, la ty phu xuat than ngheo kho hinh anh
 
  Với bạn bè, họ luôn rất coi trọng, xem đó như tình anh em máu mủ ruột rà, bạn bè của con giáp này rất nhiều, có thể nói là “tứ hải giai huynh đệ”. Duyên bạn bè của người tuổi Hợi giúp họ vượt mọi sóng gió, được bạn bè sẵn lòng giúp đỡ mỗi khi cần. Qua cơn bĩ cực đến hồi thái lai, dù có sinh ra trong gia đình nghèo khó thì con giáp này vẫn có thể tay trắng làm nên sự nghiệp, bình thản vượt khó khăn, thẳng tiến trên đường đời, tự tạo cho mình cuộc sống ấm no hạnh phúc.

 

Tuổi Sửu

  Con giáp này tính cách chăm chỉ cần cù, nhưng đôi lúc có phần nóng nảy và bộp chộp. Có điều, mỗi khi có việc gì cần kíp, chỉ cần giao vào tay người tuổi Sửu là bạn có thể hoàn toàn yên tâm, họ không làm việc cẩu thả bao giờ. Họ giống như những chú Trâu kiên nhẫn cày bừa, dù mảnh đất có khô cằn đến đâu, rộng lớn đến nhường nào thì dựa vào chính sức lực của mình, họ cũng khiến cho nó biến thành mảnh ruộng tơi xốp, màu mỡ.


Diem mat 3 con giap kho tan cam lai, la ty phu xuat than ngheo kho hinh anh 2
 
  Người tuổi Sửu không sợ khó sợ khổ, chẳng ngại xuất thân bần hàn, bởi họ biết xuất thân có thế nào cũng không cản được mình tiến bước. Người xuất thân tốt thì có điểm xuất phát cao, mình nghèo hèn xuất phát điểm thấp hơn thì lấy cần cù bù thêm, từng bước từng bước một vững vàng tiến lên.    Ý chí kiên cường như vậy, lại thêm năng lực được trui rèn qua năm tháng, chẳng có gì ngạc nhiên khi con giáp này có cuộc sống càng ngày càng tốt lên, vinh hoa phú quý chỉ là chuyện sớm muộn mà thôi.

Mời bạn đọc thêm: 5 chữ vàng thổi bay mọi khó khăn, bế tắc trong đời.
 

Tuổi Thìn

  Vốn là những con Rồng, đứa con của đất trời, thế nên dù có sinh ra từ gia đình nghèo khó đến đâu thì cũng chẳng là vấn đề gì với người tuổi Thìn. Cuộc đời người này phúc khí cực kì thịnh vượng, khiến cho họ không giống với những người bình thường khác. Họ nhất định sẽ gặp được quý nhân, tìm thấy Bá Nha trợ lực cho sự nghiệp ngày càng tiến bước. Nhân duyên tốt nên cùng với đường công danh, hạnh phúc gia đình cũng sẽ mỉm cười với con giáp này.


Diem mat 3 con giap kho tan cam lai, la ty phu xuat than ngheo kho hinh anh 3
 
  Dù hoàn cảnh gia đình không được tốt như nhiều người khác, thậm chí có thể lâm vào cảnh bần hàn đến không ngờ, nhưng khó khăn vất vả không thể đánh đổ được quyết tâm của người tuổi Thìn. Họ sống lạc quan, vui tươi với đời, luôn nhìn vào mặt tích cực và không ngừng tiến bước. Vận may cứ thế đến bên họ, giúp người tuổi Thìn vượt mọi gian nan, chẳng vì xuất thân bần hàn mà không thể giàu sang phú quý.    Vậy mới thấy, xuất thân như thế nào không quyết định vận mệnh con người, càng không quyết định việc chúng ta hạnh phúc ra sao. Hãy sống tích cực, lạc quan, giữ cho mình ý chí kiên cường và tinh thần quyết tâm không bao giờ khuất phục trước khó khăn, bạn có thể dựa vào chính sức mình, dựa vào sự nỗ lực và sức mạnh tinh thần để vượt mọi gian lao, khổ tận cam lai, sẽ có ngày trở thành “cá chép hóa Rồng”.
 
Hy Vũ 

Chọn tầng chung cư hợp tuổi cho 12 con giáp phát tài phát lộc Vị trí làm việc hứng tài lộc của 12 con giáp Tội nghiệp, 3 con giáp này luôn nỗ lực hết mình mà chẳng được như ý

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Top 3 con giáp khổ tận cam lai, là tỷ phú xuất thân nghèo khó

Lịch vạn niên là gì ? –

Lịch vạn niên còn gọi là Hoàng lịch thông thư, Hiệp kỷ lịch, Hiệp kỷ biện phương thư, Vạn bảo toàn thư, Tuyển trạch nhật, Ngọc hạp, v.v... Lịch vạn niên là loại lịch dùng cho nhiều năm; soạn theo chu kỳ: năm - tháng - ngày - giờ - hàng can, hàng chi;

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Lịch vạn niên còn gọi là Hoàng lịch thông thư, Hiệp kỷ lịch, Hiệp kỷ biện phương thư, Vạn bảo toàn thư, Tuyển trạch nhật, Ngọc hạp, v.v…

lich-van-nien-1945-2045

Lịch vạn niên là loại lịch dùng cho nhiều năm; soạn theo chu kỳ: năm – tháng – ngày – giờ – hàng can, hàng chi; cứ 60 năm quay lại một vòng. Lịch vạn niên dựa vào thuyết âm dương ngũ hành sinh khắc chế hóa lẫn nhau, kết hợp với thập can, thập nhị chi, cửu cung, bát quái và nhiều cơ sở lý luận khác thuộc khoa học cổ đại phương Đông như thập nhị trực (Kiến Trừ thập nhị khách), Nhị thập bát túi 12 cung Hoàng đạo, Hắc đạo… để tính ngày giờ tốt xấu.

Cuốn Lịch vạn niên thông dụng ở nước ta dưới triều Nguyễn là cuốn Ngọc hạp thông thư. sở dĩ gọi là thông dụng, vì rải rác qua các tủ sách của các nhà Nho còn sót lại, chúng tôi tìm được các bản viết tay, quyển thì rách đầu, quyển thì mất đuôi, quyển bị xé giữa, và sưu tầm được ỏ các địa phương cách xa nhau (Bắc Thái, Hải Hưng, Hà Nội, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Thừa Thiên) nhưng nội dung vẫn thống nhất.

Có thể nói, Ngọc hạp thông thư là cuốn sách gối đầu giường của các cụ nhà Nho nước ta thời trước. Động đến việc gì lớn hay nhỏ trong sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi, chài lưới, săn bắn, trong lễ nghỉ tế tự, giao dịch, trong mọi mặt sinh hoạt gia đình, họ hàng, làng xóm, các cụ đều mở lịch ra chọn ngày giờ lành, tránh ngày giờ dữ.

Ngoài ra, trước năm 1945, ở nước ta cũng lưu hành một số sách khác như Vạn bảo toàn thư, Đổng công tuyển trạch nhật, Chư gia tuyển trạch nhật (từ Trung Quốc đưa sang), hay cuốn Tăng bổ tuyển trạch thông thư quảng ngọc hạp ký (in ở Việt Nam dưới các triều vua nhà Nguyễn). Tất cả những cuốn trên đều cùng nội dung Lịch vạn niên, nhưng pha trộn thêm nhiều tà thuyết, trong đó có những tà thuyết đã bị bác bỏ từ thời Vua Khang Hy triều nhà Thanh.

Dưới triều Nguyễn (1802 – 1945) có Khâm định vạn niên thư (triều Gia Long, Minh Mạng, Thiệu trị, Tự Đức) và Đại Nam Hiệp kỷ lịch (từ triều Thành Thái (1900) trở về sau). Đó là những cuốn lịch có tính pháp định, do toà Khâm thiên giám soạn, đệ trình nhà vua và do nhà vua ban cho thần dân hàng năm. Ngọc hạp thông thư, tức cuốn Lịch vạn niên chúng tôi đề cập ở đây cũng do Khâm thiên giảm ban hành, cũng có chung cơ sở lý luận thuộc thiên văn học cổ đại nhưng không phải là Khâm định vạn niên thư

-Lịch vạn niên dùng để chọn ngày tốt ngày xấu còn phải dựa vào một loạt “Thần sát” của thuật chiêm tinh cổ đại.

-Lịch vạn niên cũng khác với Lịch vạn sự của từng năm, nhất là các cuốn gọi là “Lịch vạn sự’ lưu hành trên thị trường nước ta những năm gần đây.

 


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Lịch vạn niên là gì ? –

Sao Phượng Các

Hành: Thổ Loại: Đài Các tinh Đặc Tính: Công danh, vinh hiển lâu dài Tên gọi tắt thường gặp: Phượng Phụ tinh. Thuộc bộ sao đôi Long T...
Sao Phượng Các

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Hành: ThổLoại: Đài Các tinhĐặc Tính: Công danh, vinh hiển lâu dàiTên gọi tắt thường gặp: Phượng
Phụ tinh. Thuộc bộ sao đôi Long Trì và Phượng Các. Gọi tắt là bộ sao Long Phượng. Một trong 4 sao của bộ Tứ Linh là Long Trì, Phượng Các, Bạch Hổ, Hoa Cái. Gọi tắt là Long Phượng Hổ Cái.

Ý Nghĩa Phượng Các Ở Cung Mệnh
Tướng Mạo
Phượng Các ở Mệnh thì nhan sắc rất đẹp, da mặt hồng hào, thanh tú, nhất là đối với phụ nữ.
Tính Tình

  • Thông minh, có chất văn.
  • Ôn hòa, nhân hậu, điềm đạm, cởi mở.
  • Đoan trang trong nết hạnh.
Công Danh Tài Lộc
  • Thi đỗ cao, có khoa giáp lớn, nhất là ở Mão Dậu.
  • Làm tăng thêm tài lộc, điền sản (Long Trì chỉ nhà cửa, ao hồ).
  • May mắn trong hôn nhân (dễ yêu, dễõ cưới, vợ chồng tương đắc).
  • May mắn cả trong việc sinh nở (dễ sanh, sinh dễ nuôi).
Với các nghĩa trên, Phượng Các là sao tương đối vẹn toàn về nhiều mặt nhan sắc, tính hạnh, tài lộc, gia đạo.
Ý Nghĩa Phượng Các Và Các Sao Khác
  • Phượng Các, Thai Phụ: Thăng quan, thi đỗ.
  • Phượng Các, Riêu, Hỷ hay Phi: Đắc thời, có hỷ sự đến nhanh chóng về tình duyên, thi cử, quan lộ.
  • Phượng Các, Thiên Lương: Nữ mệnh có chồng danh giá, hiền.
  • Phượng Các, Xương Khúc, Khôi Việt, Tả Hữu: Đây là bộ sao "hiền thần", chuyên phò tá cho Tử Phủ. Cách này giúp đắc quan mau lẹ, cao quý.
Ý Nghĩa Phượng Các Ở Cung Phụ Mẫu
  • Cha mẹ danh giá hoặc có điền sản.
Ý Nghĩa Phượng Các Ở Cung Phúc Đức
  • Phú quý.
  • Dòng họ khá giả.
Ý Nghĩa Phượng Các Ở Cung Điền Trạch
  • Phượng Các, Mộ: Có nhà đất rộng rãi, có di sản.
  • Phượng Các, Thai, Bát Tọa: Có nhà lầu cao sang, nhà có ao hồ.
Ý Nghĩa Phượng Các Ở Cung Quan Lộc
  • Gia tăng sự thuận lợi về việc cầu công danh, chức vụ, thi cử, bằng khen.
Ý Nghĩa Phượng Các Ở Cung Nô Bộc
  • Bè bạn là người có danh chức, đắc lực.
Ý Nghĩa Phượng Các Ở Cung Thiên Di
  • Ra ngoài hay gặp quý nhân, được người mến chuộng.
Ý Nghĩa Phượng Các Ở Cung Tật Ách
  • Chủ đau bệnh về lỗ tai, thận.
  • Phượng Các nếu gặp với các sao Địa Không, Địa Kiếp, Hóa Kỵ, nếu không thì đời hay bị vu oan, giá họa, nói xấu, dèm pha, oán trách, nhà cửa hay bị mối mọt, đồ đạc mau hư, tầm thường.
Ý Nghĩa Phượng Các Ở Cung Tài Bạch
  • Gia tăng sự tốt đẹp về mưu cầu tài lộc, tiền bạc hoặc được thừa hưởng di sản, địa ốc, tiền trợ cấp, tiền hưu bổng và chính mình cũng chu cấp cho người khác, làm việc từ thiện.
Ý Nghĩa Phượng Các Ở Cung Tử Tức
  • Dễ sinh con, sinh con đẹp, dễ nuôi.
  • Sinh quý tử, thông minh, tuấn dật.
Ý Nghĩa Phượng Các Ở Cung Phu Thê
  • Vợ chồng đẹp đôi, tương đắc, việc cưới xin dễ dàng.
Phượng Các Khi Vào Các Hạn
  • Phượng Các, Riêu, Hỷ: Có dạm hỏi, đưa đến hôn nhân.
  • Phượng Các, Cáo, Ấn: Thi đỗ.
  • Phượng Các , Thiên Mã: Có dời nhà cửa.

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Sao Phượng Các

Bộ sao TẢ PHỤ - HỮU BẬT

Tả Phụ là Bắc Đẩu Tinh Dương Thổ đới Kim Hữu Bật là Nam Đẩu Tinh Âm Thổ (AB) hoặc Bắc Đẩu Tinh Dương Thủy đới Thổ (Thái Thứ Lang, Nguyễn Mạnh Bảo). Theo thiển ý thì là Bắc Đẩu Tinh Dương Thủy đới Thổ.
Bộ sao TẢ PHỤ - HỮU BẬT

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Đây là hai trợ tinh, phù tinh, chủ quyền lệnh, chuyên phụ tá giúp đỡ
Miếu địa tại Thìn Tuất (xung chiếu lẫn nhau), vượng địa tại Sửu Mùi (đồng cung), tại hai vị trí này ảnh hưởng của Tả Hữu mạnh rất nhiều.


Về biểu tượng thân thể thì Tả Hữu là hai vai trái và phải (DL) nhưng có người cho Tả Hữu là lông mày.


Về ý nghĩa thì Tả có nghĩa là bên trái, Phụ có nghĩa là giúp đỡ, phò tá. Tả Phụ được coi thuộc hàng văn. Hữu có nghĩa là bên phải, giúp đỡ. Trong chữ Bật thì có bộ cung tên nên Hữu Bật được coi là thuộc hàng võ
Qui luật của Tả Hữu là cát phù, hung diệt nghĩa là gặp tốt thì gia tăng thêm tốt, gặp xấu thì tuy vẫn có cái tốt nhưng ẩn tàng điều xấu, dễ tăng thêm xấu khi bị phản phé. Điều này cũng được áp dụng cho cách giáp Tả giáp Hữu. Vì là sao phù trợ nên Tả Hữu cần đóng đồng cung với chính tinh, nhất là cách giáp Tả giáp Hữu rất cần có chính tinh tốt đẹp để điều động Tả Hữu.

Chính tinh sáng sủa tốt đẹp (ví dụ Tử Vi, Thiên Tướng) thì điều động Tả Hữu làm những chuyện tốt đẹp, kết hợp với các sao tốt đẹp khác làm tăng tốt và chống đỡ lại các hung tinh xâm nhập quậy phá nếu có. Chính tinh lạc hãm xấu xa ,ví dụ Liêm Trinh hãm địa, thì lại điều động Tả Hữu kết bè với các hung tinh xâm nhập nếu có, do đó dễ mang họa tới (Chú ý Thiên Tướng dù hãm hay không cũng điều khiển Hữu Bật gây nên điều tốt). Như vậy khi xét cung có Tả Hữu thì nên xét cung đó, xét chính tinh đồng cung, cân nhắc lợi hại giữa xấu và tốt để xác định cung đó xấu hay tốt rồi quyết định Tả Hữu giúp bên nào. Để điều động Tả Hữu có hiệu lực tối đa thì võ tinh điều khiển (đồng cung với) Hữu Bật, văn tinh điều khiển Tả Phù (ví dụ Tử Vi đi với Tả Phù, Thiên Tướng đồng cung Hữu Bật rất tốt vì cùng phe và cùng hành). Khi không có chính tinh thủ thì bộ trung tinh Văn Xương đắc địa hoặc Khôi Việt có thể tạm điều khiển Tả Phù đưa đến điều tốt lành, còn kỳ dư thì Tả Hữu dễ kết bè kết phái với các sao khác, tùy theo hung sát tinh đắc hãm mà tung hoành.


Một số người cho rằng Tả Hữu khi miếu vượng (tại Thìn Tuất Sửu Mùi) thì gặp hung thì không hung, nghĩa là không hùa theo hung tinh nhưng gặp cát thì làm tăng cát. Có người cho rằng giáp Tả giáp Hữu tốt nhất, còn Tả và Hữu cùng chiếu về một cung gọi là Tả Hữu xung đột thời xấu.


Về cách an sao thì Tả Phụ và Thiên Giải luôn luôn tam hợp chiếu với nhau nên có thể nói Tả Phù hay hơn Hữu Bật khi ở Thìn Tuất hoặc khi Tả Phù đứng không thành bộ với Hữu Bật. Còn khi cả hai sao đồng cung hoặc tam chiếu với nhau thì luôn luôn có mặt của Thiên Giải. Nếu Thiên Giải đồng cung với Hữu Bật thì trong trường hợp này ta có thể nói Hữu Bật hay hơn Tả Phù vì Thiên Giải là một sao giải họa rất mạnh trong tử vi khi nó thủ trong cung đó.


Khi có Tả Hữu thủ chiếu (xung chiếu hay tam hợp chiếu) thì không bao giờ bị bộ Hình Riêu xâm nhập. Trong trường hợp này ta cần xem có Thiên Giải xuất hiện hay không, nếu có Thiên Giải thì rất tốt, giảm họa rất nhiều (bộ Tả Hữu Thiên Giải), đặc biệt tại cung Thiên Giải đóng.


Khi không có Tả Hữu thủ chiếu thì coi xem có được hưởng cách giáp hay không. Giáp Tả giáp Hữu chỉ có được tại hai cung Sửu Mùi cho các người sinh tháng 3, 5, 9, và 11. Trường hợp giáp Tả giáp Hữu thì sinh tháng 3 và tháng 9 luôn luôn có bộ Hình Riêu tam hợp (Hình luôn luôn hâm địa),  trong khi tháng 5 và tháng 11 không bị Hình Riêu xâm phạm lại có Địa Giải tam hợp thành ra tốt hơn. Chính vì vậy một số người cho rằng khi có cách giáp Tả Hũu thì phải để ý xem Tả Hữu có nằm đúng phương vị hay không, Tả phải nằm bên trái, Hữu phải nằm bên phải, nghĩa là theo chiều thuận thì phải gặp Hữu trước, rôi Tả sau. Cách giáp Tả giáp Hữu mà gặp Hình Riêu lại có thêm Không Kiếp thủ chiếu cả bộ thì mới đáng lo vì Không Kiếp hãm địa đủ bộ, trường hợp này cần có sao cứu giải. Còn nếu không gặp Không Kiếp thủ mà chỉ gặp Không Kiếp chiếu thì cũng đỡ lo ngại vì trong trường hợp này hoặc chỉ bị một sao Không hay Kiếp xung chiếu, nếu gặp hai sao Không Kiếp chiếu thì lại là trường hợp cả bộ Không Kiếp đắc đia tam hợp chiếu. Đối với hung sát tinh như Không Kiếp Kình Đà Hỏa Linh Hình Riêu thì theo kinh nghiệm một sao thủ tại cung có sức mạnh hơn cả hai sao cùng chiếu hoặc cùng giáp. Khi có cách giáp Tả Hữu thì cần coi kỹ cung nhị hợp tại Tí hay Ngọ rất quan trọng.


Mệnh có Tả Hữu thì:
Hiền lành, đôn hậu, có từ tâm, nhất là thủ tại Mệnh phụ nữ
Có tính giúp người, hay giúp người và do đó thường được người giúp lại. Đặc tính này càng nổi bật khi đi với các phúc thiện tinh khác như là Thiên Lương, Thiên Quan, Thiên Phúc...chủ sự giúp đỡ vô vụ lợi.
Có nhiều bè bạn, dễ kết bạn, có bè phái, vây cánh, người giúp đỡ, người ủng hộ.
Có tài năng.
Không hay lo nghĩ, giảm thiểu lo lắng đơn côi khi gặp bại tinh như Khốc Hư Tang Hổ Cô Quả...


Có người cho rằng Tả Hữu thì có mưu trí.
Tính tình khắc khoan khắc đỉnh, không gấp gáp, không làm vội, đặc biệt khi miếu vượng.
Không gặp hung sát tinh hãm đồng cung thì là người nhân hậu, từ thiện, độ lượng, khoan hòa.


Gặp hung sát phụ tinh đồng cung, đặc biệt Không Kiếp đồng cung, thì cũng còn bản chất nhân hậu, từ thiện nhưng tính tình nóng nảy, làm gì cũng gấp gáp, dễ dính vào chuyện đấu đá tranh dành, dễ phải đối phó với kẻ thù trong sự phân chia phe phái hai bên. Bản thân cũng hay kết bè kết đảng khi tranh chấp.
Thông thường dễ ly hương, hoặc ít nhất trong đời cũng đã xa quê hương, xa nhà một giai đoạn nào đó. Khi Tả hoặc Hữu đóng tại Di thì cũng có nghĩa này.
Nguyễn Phát Lộc ghi rằng cách giáp Tả giáp Hữu đối với nữ Mệnh thì trừ khi cung Mệnh tốt, thường có nghĩa xấu là khắc chồng con, bất chính. Xét kỹ ra chẳng qua là có trường hợp bị Hình Riêu xâm phạm như đã nói bên trên. Quan điểm này cần xét lại.


Nữ Mệnh có Hữu Bật thủ thì dễ là vợ thứ nhưng bản tính rất hiền lành nhân hậu. Cung Phu có Tả Hữu một thủ một chiếu là cách dễ có hai đời chồng, nếu có Hữu Bật thủ thì dễ là vợ thứ, vợ bé hoặc chồng là người có hai đời vợ. Nếu cả hai chỉ chiếu thì nghĩa đó giảm đi. Nếu lập gia đình trễ thì cũng đỡ lo về hai đời chồng.
Tả Hữu gặp Cô Quả thì tuy có nhiều bạn bè, quan hệ rộng rãi nhưng ít có bạn thân.
Mệnh Tả Hữu mà Nô sáng sủa có Cô Quả thì có nhiều bạn thân hoặc cộng sự cũng không bền, cuối cùng cũng ở xa cách nhau, thông thường do chính bản thân ly hương lập nghiệp.
Các đặc tính của Tả Hữu cần phải gia giảm theo ý nghĩa cuả chính tinh đồng thủ


Nói chung thì ta có thể nói Tả Hữu là bộ sao có tác dụng tăng cường độ, đặc biệt tại Thìn Tuất Sửu Mùi thì càng mạnh mẽ. Không có sát tinh hãm địa xâm nhập như Không, Kiếp, Kình, Đà hãm thì nếu Tả Hữu gặp tại Quan Lộc thì gia tăng cộng sự, tăng quyền hành, tại cung Tài Bạch thì tăng tiền tài, được giúp đỡ về tiền bạc, tại Thiên Di thì đi lại nhiều hoặc ly hương, ra ngoài được người giúp, tại Tử Tức thì gia tăng số con, đôi khi là do có nhiều vợ hoặc có con với nhân tình, tại Nô Bộc thì tăng thêm bạn bè, người giúp việc, hay được nhiều người giúp đỡ, quan hệ rộng. Tại Huynh Đệ thì tăng số lượng anh em hoặc anh em giúp đỡ nhau, tại Phu Thê thì tăng số lần lập gia đình nghĩa là hai đời hoặc lấy nhau dễ dàng không đám cưới, tại Phụ Mẫu thì được cha mẹ giúp đỡ, cha mẹ song toàn, tại Phúc thì tăng phúc thọ, mồ mả kết phát, tại Điền thì làm vượng điền sản, tại Tật Ách khi đau ốm thì được quí nhân giúp đỡ, gặp lương y. Do đó hầu như Tả Hữu đóng tại Mệnh Thân Quan Tài thì thích hợp nhất.


Nếu gặp Tài Tinh như Hóa Lộc, Lộc Tồn, Vũ, Phủ thì tăng tiền của, được giúp đỡ về tiền bạc, gặp Đào Hồng thì đắc đào đắc kép nhiều mối lái, hoặc tăng phần may mắn, thường được người khác phái giúp. Gặp Thiên Mã hoặc Song Hao thì gia tăng sự thay đổi, gặp Khôi Việt, Xương Khúc, Hóa Quyền, Hóa Khoa... thì tăng quyền hành chức tước uy quyện gặp Quan Phúc thì tăng phúc thọ ... Tả Hữu gặp hung sát tinh hãm địa tụ tập thì gia tăng sự hung hiểm, cũng có các đặc tính trên nhưng không bền, dễ gặp tai họa do các hung tinh phối hợp cùng Tả Hữu gây ra khi lâm vào đại hạn xấu, nhất là đi với hung chính tinh hãm địa điều động Tả Hữu. Việc tăng cường độ phụ trợ của Tả Hữu sẽ mạnh mẽ khi đồng cung với sao đó và nếu có đủ cả bộ càng tốt, thêm miếu vượng thì rất hay.


Bộ Tả Hữu rất thích hợp cho mọi cách, mọi cách đều cần, đặc biệt là bộ Tử Phủ Vũ Tướng cách vì Tả Hữu phò trợ cho Tử Vi hữu hiệu nhất, Tử Vi thiếu Tả Hữu thủ, chiếu hay giáp thì ví như cô quân, gặp Tử Vi thì tăng tốt nhiều, tăng quyền hành tiền tài. Bộ Tả Hữu, nhất là Hữu Bật gặp Nhật Nguyệt cũng rất hay, có lợi cho công danh. Tả Phù đồng cung với Thiên Phủ, Hữu Bật gặp Thiên Tướng cũng rất tốt. Liêm Trinh hãm địa đi với Kình hãm hoặc Thiên Hình hãm mà gặp Tả Hữu thì không tốt, dễ bị hình phạt hoặc tù tội.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Bộ sao TẢ PHỤ - HỮU BẬT

Nguyên tắc cơ bản của Phật giáo giúp tu 3 giờ hiệu quả như 3 năm

Làm thế nào để tu tâm hướng Phật đúng đắn đắn nhất, lâu dài nhất? Chỉ cần nắm vững 3 nguyên tắc cơ bản của Phật giáo dưới đây thì tu 3 giờ bằng tu 3 năm.
Nguyên tắc cơ bản của Phật giáo giúp tu 3 giờ hiệu quả như 3 năm

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Theo Phật học Phật, tu tập nhiều nhưng thiếu hiệu quả là vì đâu? Là vì thiếu phương pháp phù hợp, không nắm bắt được gốc rễ của vấn đề. Làm thế nào để tu tâm hướng Phật một cách đúng đắn đắn nhất, lâu dài nhất? Chỉ cần nắm vững 3 nguyên tắc cơ bản của Phật giáo dưới đây thì tu 3 giờ bằng tu 3 năm.  

1. Tin tưởng nhân quả


3 nguyen tac co ban cua Phat giao giup tu 3 gio hieu qua nhu 3 nam hinh anh
 
Phương pháp nhân quả chính là Phật hiệu nhập môn, vô cùng trọng yếu, bất luận là tu theo phái nào, đi theo con đường nào đều cần tin tưởng điều này. Cái gì gọi là nhân quả? Chính là giống như ta gieo một hạt giống, tương lai sẽ phát triển thành cây, đơm hoa rồi kết trái.   Chúng ta một đời hành động, có thiện có ác, tương lai nhất định có báo ứng, thiện giả thiện báo, ác giả ác báo. Vì lẽ đó, muốn tránh hung tìm cát, tiêu tai được phúc thì nhất định phải nỗ lực hành thiện, nỗ lực hướng thiện, sửa đổi những điều xấu thành điều tốt. Đó là gieo nhân lành ắt gặt quả lành, có làm việc thiện thì phúc đức mới sâu dày.   Bình thường làm ác, làm sao có thể đòi hỏi tiêu tai giải nạn, trừ hung trừ hiểm được? Vì lẽ đó, việc đầu tiên khi muốn tu tâm dưỡng tính là nắm vững nguyên tắc cơ bản của Phật giáo, tin tưởng nhân quả, biết thiện ác báo ứng ở đời.  
Xem thêm bài viết Lời Phật dạy về nhân quả nhất định phải hiểu mới áp dụng đúng

2. Phát tâm bồ đề


3 nguyen tac co ban cua Phat giao giup tu 3 gio hieu qua nhu 3 nam hinh anh
 
Bồ Đề là từ dịch theo tiếng Phạn có nghĩa là cảm giác, cũng chính là ý tứ của Phật học. Phát là khởi xướng, tâm là tấm lòng. Như vậy, phát tâm bồ đề tức là người khởi xứng tấm lòng bồ đề, khởi xướng trái tim thành Phật. Tại sao lại thành Phật? Vì lợi ích của tất cả chúng sinh.   Làm sao để tu luyện thành Phật? Cần rộng rãi tu hành tất cả thiện hạnh. Muốn rộng rãi tu hành tất cả thiện hạnh, muốn vì lợi ích của tất cả chúng sinh nhưng làm thế nào để triệt để? Hiểu nguyên tắc cơ bản của Phật giáo, hãy nhớ tới 3 loại tâm khi phát bồ đề tâm.   Thứ nhất là trí tuệ tâm, tâm này không phải phàm phu có thể phát, nên phân theo quan sát, tùy đối tượng mà làm.   Thứ hai là đại nguyện tâm, rộng rãi tu thiện hạnh   Thứ ba là đại bi tâm, cứu khổ chúng sinh.   Khi phát bồ đề tâm, râu tóc rơi xuống, tứ hoằng thề nguyện:   Một, chúng sinh vô biên thề nguyện độ: bồ đề tâm lấy đại bi là chính, vì lẽ đó trước tiên nói độ sinh.   Hai, buồn phiền vô tận thề nguyện đoạn: nguyện vì tất cả chúng sinh, đều có thể đoạn trừ vô tận buồn phiền.   Ba, pháp môn vô lượng thề nguyện học: nguyện vì tất cả chúng sinh, đều có thể học vô lượng cách thức.   Bốn, Phật Đạo vô thượng thề nguyện thành: nguyện vì tất cả chúng sinh, đều có thể thành vô thượng Phật Đạo.  
Xem thêm bài viết Phật chỉ ra 3 kiếp nạn ai cũng phải trải nghiệm trong đời

3. Chuyên tu tịnh thổ


3 nguyen tac co ban cua Phat giao giup tu 3 gio hieu qua nhu 3 nam hinh anh
 
Nếu đã phát tâm bồ đề thì nên cố gắng tu luyện. Nhưng pháp môn nhà Phật vô cùng nhiều, sâu cạn khó dễ đều đủ cả, nếu tu luyện không phù hợp thì phí công hoài sức. Vì thế, cần chú trọng tới tông phái tịnh thổ, hời hợt tu các pháp môn khác mà không hướng tới tịnh thổ thì rất khó khăn.   Theo nguyên tắc cơ bản của Phật giáo, chuyên tu tịnh thổ pháp môn tức là theo Phật học đại từ đại bi, vãng sinh Thế Giới Cực Lạc, thấy Phật pháp, tốc chứng Bồ Đề, tương đối dễ dàng hơn nhiều. Vì lẽ đó Long Thụ Bồ Tát từng nói, trước học khó sau dễ hành đạo. Một số thư tịch của pháp môn tịnh thổ nên tham khảo là “Sơ Cơ Tịnh Nghiệp Chỉ Nam”, “Ấn Quang Pháp Sư Gia Ngôn Lục”, “Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao”.  
Xem thêm bài viết Người tuổi nào có mối thâm duyên với nhà Phật?
 
Những điều ở trên tuy không nhiều nhưng là con đường đưa chúng Phật tử tiến gần hơn tới đạo hạnh. Tu là quá trình lâu dài, khó khăn và nhiều lần hải vượt qua chướng ngại. Làm người dưỡng tính sửa tâm, hướng tới Phật học giống như leo núi, núi càng cao leo càng khó nhưng thành quả càng viên mãn. Quan trọng là tìm đúng con đường để leo núi thuận tiện và tới đích hanh thông.
Ăn chay đúng đạo theo tâm linh Phật giáo Cung dưỡng tam thánh, học đạo tu đời theo Phật, Bồ Tát để hưởng phúc Hiểu thế nào cho đúng thứ nhất tu tại gia, thứ hai tu chợ, thứ ba tu chùa Người mới học Phật nên chọn tông phái nào?
Trần Hồng

 

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Nguyên tắc cơ bản của Phật giáo giúp tu 3 giờ hiệu quả như 3 năm

Tình yêu hôn nhân của người tuổi Dần với các tuổi khác

Tình yêu hôn nhân của người tuổi Dần như thế nào với các tuổi khác. Cuộc sống gia đình của người chồng tuổi Dần hay người vợ tuổi Dần ra sao sau khi kết hôn.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Người tuổi Dần trong tình yêu dù có trầm lắng hay sóng gió thì cuộc hôn nhân sau này của họ thường sẽ bình yên hơn những tuổi khác. Khi đã yên bề gia thất thì tuổi Dần sẽ rất có trách nhiệm với gia đình. Luôn biết cách chăm lo và bảo vệ mái ấm của mình.  

Trong cuộc sống gia đình, những người chồng tuổi Dần thường có khuynh hướng gia trưởng khá rõ rệt, họ thích vợ nhất nhất làm theo ý kiến của mình trong tất cả mọi việc. Nhưng sống lâu với người chồng đó, người vợ sẽ dần nhận ra bản tính lương thiện, tốt đẹp của chồng. Đôi lúc, người chồng có thể giận dữ nhưng chỉ cần người vợ biết cách xoa dịu đôi chút là cơn giận sẽ nhanh chóng qua đi.

Tử vi 2015 tuổi Dần sơ lược,Giáp Dần, Bính Dần, Mậu Dần, Canh Dần và Nhâm Dần

Điều phải nhắc đến ở đây là người tuổi Dần thường có vẻ ngoài cương nghị nhưng bên trong thì lại hay cô độc.

Người tuổi Dần thường không coi trọng việc thể hiện tình cảm của họ ra bên ngoài với người bạn đời. Họ cho rằng, việc hai người yêu nhau chân thành, tha thiết và muốn gắn bó với nhau còn quan trọng hơn. Nếu người bạn đời hiểu được tính cách này của họ và khéo léo giúp họ cải thiện được lối suy nghĩ "mộc mạc" đó thì họ sẽ nhận được nhiều bất ngờ, xúc động từ người vợ/chồng tuổi Dần.

Những người sinh năm Dần đều kết hôn dựa trên tình yêu tự nguyện, số người kết hôn qua mai mối là khá hiếm. Hơn nữa họ có thể kết hôn ngay sau khi nảy sinh tình yêu, khiến mọi người thường có cảm giác bất ngờ, vội vàng.

Tuy bố mẹ và những người lớn tuổi thường hay cảnh cáo, khuyên nhủ rất nhiều lần nhưng họ đều coi những lời nói đó như gió thoảng qua. Họ cho rằng, mình cảm thấy cần phải kết hôn thì sẽ kết hôn và không ai có thể can thiệp vào việc đó, cùng không ai có thể bắt họ dừng lại được. 

Đối tượng kết hôn của người tuổi Dần

Người tuổi Dần thường có cảm xúc khá phong phú, họ mong muốn có sự thử thách trong tình yêu, thích sự trắc trở, gập ghềnh, kỳ lạ và nhiều khám phá hơn nữa. Sự chín chắn và luôn vươn lên trong mọi hoàn cảnh thường giúp tuổi Dần gây thiện cảm với người khác giới. Điều này thường xuyên tạo điều kiện cho họ tạo dựng được những mối quan hệ mới một cách nhanh chóng.

Đường tình yêu hôn nhân của nam giới tuổi Dần với các tuổi khác

- Nam giới tuổi Dần với Nữ giới tuổi Tý: Hai người có thể sống bên nhau nhưng người vợ tuổi Tý sẽ phải là một người khoan dung, vì người chồng sẽ đó nhiều lúc mắc sai lầm trong cuộc sống.

- Nam giới tuổi Dần với Nữ giới tuổi Sửu: Với tính cách của hai tuổi này rất dễ làm tổn thương lẫn nhau dù vô tình hay cố ý. Chỉ khi nào thực sự hiểu rõ nhau và tình yêu là chân thành không vụ lợi thì cặp đôi này mới có được cuộc hôn nhân bền lâu.

- Nam giới tuổi Dần với Nữ giới tuổi Dần: Hai người có thể sống bên nhau nhưng sẽ có khá nhiều bất đồng bởi cả hai người đều mạnh mẽ và thích được làm chủ. Tuy nhiên, cuộc sống gia đình vẫn tương đối ổn định, hai người không có sự khác biệt về nguyên tắc sống.

- Nam giới tuổi Dần với Nữ giới tuổi Mão: Đây sẽ là đối tượng khá phù hợp với người tuổi Dần. Tuy còn nhiều mâu thuẫn nhưng cả hai người đều biết thông cảm, tha thứ cho nhau. Hơn nữa người tuổi Mão cũng biết cách để trở thành một người vợ tốt, một người mẹ hiền.

- Nam giới tuổi Dần với Nữ giới tuổi Thìn: Đây sẽ là một cuộc hôn nhân hạnh phúc mỹ mãn. Cả hai người đều có tính cách mạnh mẽ, kiên cường và đều có thể giúp đỡ được cho người bạn đời của mình. Đặc biệt, người vợ sẽ giúp ích rất nhiều cho sự nghiệp của chồng.

- Nam giới tuổi Dần với Nữ giới tuổi Tỵ: Cuộc sống hôn nhân đôi lúc sẽ không được như ý muốn, vì hai bên không hiểu và thông cảm được cho nhau. Gia đình sẽ có một số mâu thuẫn nhưng nhìn chung vẫn sẽ được duy trì ổn định.

- Nam giới tuổi Dần với Nữ giới tuổi Ngọ: Cuộc sống gia đình tương đối hạnh phúc. Người chồng vừa có ý chí xây dựng sự nghiệp vừa có ý thức vun đắp gia đình nên người vợ luôn thấy thoải mái, hài lòng và vẫn có thể đảm bảo được sự tự lập của mình.

- Nam giới tuổi Dần với Nữ giới tuổi Mùi: Hai người thường không hiểu nhau lắm, thường xuyên cãi cọ, tranh luận và tình yêu chỉ được tiếp tục khi sự giận dữ của họ đã lắng dịu xuống.

- Nam giới tuổi Dần với Nữ giới tuổi Thân: Cuộc sống gia đình tương đối thú vị. Khi chung sống với nhau sau một thời gian dài, người vợ sẽ gặp phải khá nhiều áp lực. Nhưng một khi ngươi chồng đi đâu đó xa nhà là người vợ sẽ không thể chịu đựng nổi và sẽ tìm mọi cách để gọi chồng quay về.

- Nam giới tuổi Dần với Nữ giới tuổi Dậu: Người chồng tuổi Dần sẽ tỏa sáng như diễn viên chính trên sân khấu nên dễ làm lu mờ những cống hiến của người vợ đối với người chồng và gia đình. Người tuổi Dần nên biết dung hòa, công nhận công sức của người vợ và tạo điều kiện cho người vợ thể hiện bản thân.

- Nam giới tuổi Dần với Nữ giới tuổi Tuất: Hai người có thể kết thành một đôi, cuộc sống hòa thuận. Cả hai cũng có cùng mục tiêu, có thể giúp đõ nhau trong sự nghiệp nhưng cần chú ý duy trì tình cảm vợ chồng.

- Nam giới tuổi Dần với Nữ giới tuổi Hợi: Hai người có thể sống bên nhau. Tuy người chồng tuổi Dần đôi lúc sẽ đả kích, châm chọc người vợ, khiến người vợ cảm thấy bất an, nhưng người vợ lại rất hiểu biết và khiêm nhường và có đủ nảng lực để chăm lo cho gia đình mình.

Đường tình yêu hôn nhân của nữ giới tuổi Dần với các tuổi khác

- Nữ giới tuổi Dần với Nam giới tuổi Tý: Hai người có những mong muốn và ý kiến khá tách biệt nên dễ dẫn đến những mâu thuẫn cũng như lời ăn tiếng nói với nhau. Nếu một trong hai người biết cách lùi lại một bước để người kia tiến lên thì sẽ có cuộc sống hạnh phúc.

- Nữ giới tuổi Dần với Nam giới tuổi Sửu: Khi yêu có thể người này bỏ qua những khuyết điểm của người kia nhưng sau khi đến với nhau, thành gia lập thất thì cả hai người nên biết cách tôn trọng nhau, tạo điều kiện và thời gian cho người kia hoàn thiện mình.

- Nữ giới tuổi Dần với Nam giới tuổi Dần: Trong cuộc sống thường nhật cặp đôi này cũng không ít tranh cãi, mâu thuẫn. Nhưng cả hai vẫn có thể sống bên nhau, thời gian xa cách sẽ khiến cả hai hiểu thêm về đối phương và biết trân trọng tình cảm của mình hơn.

- Nữ giới tuổi Dần với Nam giới tuổi Mão: Đây có thể là một cuộc sống hạnh phúc mỹ mãn. Tính cách của người tuổi Dần thường rất phức tạp, còn người tuổi Mão lại yếu đuối, mỏng manh. Hai người kết hợp lại sẽ là một cặp đôi hoàn hảo.

- Nữ giới tuổi Dần với Nam giới tuổi Thìn: Đây sẽ là một cuộc hôn nhân hạnh phúc. Tuy vẫn có một số trục trặc nhưng người chồng rất hiểu tính cách và tình cảm của vợ và người vợ cũng biết cách điều chỉnh cảm xúc của mình để cả hai đều cảm thấy thoải mái, hạnh phúc.

- Nữ giới tuổi Dần với Nam giới tuổi Tỵ: Sự cố chấp và không chịu thua người kia thường là nguyên nhân chủ yêu dẫn đến những mâu thuẫn không có đường thoát của cặp đôi này. Nếu một trong hai người hiểu được và nhường nhịn người kia, cuộc sống sau này sẽ ngày càng tốt đẹp.

- Nữ giới tuổi Dần với Nam giới tuổi Ngọ: Đây sẽ là một cặp đôi tương đối hòa hợp, nhưng người vợ cần hiểu để có thể chia sẻ những tâm tư, tình cảm của người chồng thì cuộc sống của cả hai mới bình lặng và hạnh phúc thật sự.

- Nữ giới tuổi Dần với Nam giới tuổi Mùi: Người vợ thường khiến chồng phải lo lắng nhưng người chồng thì lại không thể cưỡng lại được sự hấp dẫn của vợ mình.

- Nữ giới tuổi Dần với Nam giới tuổi Thân: Người vợ tuổi Dần nên bộc bạch những suy nghĩ của mình cho người chồng để cùng nhau chia sẽ và gánh vác công việc. Nếu chỉ im lặng và chịu đựng, người vợ tuổi Dần sẽ đến lúc mệt mỏi và chán nản. Khi đó mọi chuyện sẽ càng tồi tệ hơn.

- Nữ giới tuổi Dần với Nam giới tuổi Dậu: Những mâu thuẫn và tranh cãi thường bộc lộ hết những suy nghĩ và tâm can của hai người. Nếu thực sự yêu nhau, họ sẽ hiểu ra con người thực của đối phương. Biết thông cảm và chấp nhận, cuộc hôn nhân của họ sẽ dài lâu.

- Nữ giới tuổi Dần với Nam giới tuổi Tuất: Hai người có thể sống bên nhau nhưng cũng sẽ có khá nhiều mâu thuẫn. Cả hai người đều có khá nhiều ảo tưởng, xa rời thực tế.

- Nữ giới tuổi Dần với Nam giới tuổi Hợi: Hai người có thể sống bên nhau, với điều kiện hai người phải thực sự chân thật với nhau, không dối lừa và ảo tưởng về nhau.

3. Vận giúp chồng giúp vợ của người tuổi Dần

Những người chồng tuổi Dần nếu lập gia đình với người tuổi Hợi thì hai bên sẽ có cuộc sống thuận hòa, khiến người vợ cảm thấy vô cùng hạnh phúc. Người vợ cũng sẽ yên tâm hơn để làm tốt công việc kinh doanh của mình, khiến đời sống vật chất của cả gia đình rất khá giả, an nhàn.

Những người chồng tuổi Dần khi ở trước mặt người vợ tuổi Tuất lại thể hiện một sự dịu dàng khiến người khác phải ngạc nhiên. Người chồng luôn biết cách khuyến khích, động viên người vợ theo đuổi những mục tiêu trong sự nghiệp của mình. Người chồng cũng thích một cuộc sống tích cực, có sự thăng tiến trong mọi việc. Họ cũng tin rằng, chỉ khi nỗ lực hết mình trong công việc thì mối có được hiệu quả tốt đẹp. Họ cũng sẽ trở thành trợ thủ đắc lực cho vợ trong công việc, có thể đồng cam cộng khổ, giúp vợ đưa ra những phán đoán mang tính quyết định.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tình yêu hôn nhân của người tuổi Dần với các tuổi khác

Cách xem mệnh nữ theo tứ trụ

Học thuyết âm dương trong triết học Trung Quốc cho rằng đàn bà thụ khí âm nhu của trời đất, đàn ông thụ khí dương cương của trời đất, cho nên nói đàn bà thuộc âm, đàn ông thuộc dương, âm và dương là hai mặt đối lập trong một thể thống nhất. Tư tưởng này phản ánh trong mệnh lý là, nam nữ không những hoàn toàn trái ngược nhau trong khỏi vận số tuổi và sắp xếp đại vận mà nó còn có những chỗ khác nhau rất rõ rệt.
Cách xem mệnh nữ theo tứ trụ

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Trong những chương tiết phía trên của cuốn sách này, chúng ta đã biết, bát tự của nam giới lấy chính tài ta khắc hoặc thiên tài là vợ, nhưng chồng trong bát tứ của vợ, lại phải triệt để ngược lại, lấy quan (chính quan) sát (thiên quan) khắc ta là chồng. Cũng vậy, khi xem cho con cái, nam mệnh lấy thiên quan (thất sát) khắc ta là con trai, Chính quan là nữ, còn nữ mệnh thì lấy thực thần ta sinh là con trai, thương quan là con gái.

Do trong xã hội phong kiến, đàn bà mọi việc đều phải dựa vào chồng “chồng lợi thì vợ cũng lợi, chồng khổ thì vợ cũng khổ”, cho nên mệnh cho nữ xấu hay tốt, trước hết phải xem vị trí quan sát của chồng thịnh hay suy để định sang hèn. Tiếp đến phải xem sao của con, vì rằng nuôi con để dựa lúc về già, bởi vì người đàn bà bản thân không có thu nhập, do đó cuối đời vinh hay nhục, toàn dựa vào sao của con xấu hay tốt.

Trong tình hình chung, quan, sát, tài đắc địa, có lợi cho chồng, thực thần đắc địa, có lợi cho con. Chồng có lợi thì xuất thân giàu sang, cả đời hưởng phúc. Con có lợi thì cuối đời được nuôi dưỡng tốt. Do thực thần có thể sinh tài, lại có thể sinh quan. Ví dụ có người chồng can ngày bát tự Ất Mộc sinh ra là Đinh Hoả, sau đó lại do thực thần Đinh Hoả sinh Thổ, Mộc có thể khắc Thổ, cho nên Thổ là tài của Ất Mộc. Tiếp đó lại do Thổ sinh Kim, Kim là quan khắc Ất Mộc. Vì duyên cớ ấy cho nên nữ mệnh phần lớn lấy thực thần, tài, quan làm dụng thần của bát tự. Nếu như quan, sát, tài, thực trong bát tự sinh ra không đắc địa, lại không sinh vượng hoặc là khuyết hàm, khi hành vận lại không bổ sung được, thê thì suôt đời khốn khổ, chẳng nói làm gì.

Lễ giáo phong kiến lại tôn sùng phụ nữ trinh tiết, trưóc sau như một, cho nên trong bát tự nếu thấy quan thì không được sát, nếu thấy sát thì không được thấy quan, chỉ có một ngôi là tốt, nếu một khi trong bát tự có hai quan tinh, chỉ có một ngôi là tốt, nếu một khi trong bát tự có hai quan tinh, chỉ cần không có sát lẫn vào trong đó, hoặc trong tứ trụ thuần là sát, không có quan tinh lẫn vào, thì đều có thể gọi là con gái nhà lành.

Trong Tam mệnh thông hội của Dục Ngô Sơn nhân đòi Minh soạn, có nói rất kỹ về bát pháp, bát cách của nữ mệnh, xin dẫn giải như sau;

I. Bát pháp

1. Thuần: gọi là thuần có nghĩa là thuần nhất. Ví như quan tinh thuần nhất, sát tinh thuần nhất, có tài (tài có thể sinh quan) có ấn (ấn thụ hộ thân), lại không gặp hình xung như vậy là thuần. Chúng ta hãy xem bát tự của một nữ mệnh dưới đây.

Năm Quý Tỵ Tháng Mậu Ngọ

Ngày Tân Dậu Giờ Bính Thân

Tân Dậu trong bát tự là bản thân, mà Dậu với Tân mà nói, do ư chính ở lộc địa của lâm quan, cho nên bản thân sinh vượng. Ngưòi xưa nói: vượng không theo hoá theo Lý thì thiên can hợp cục, Bính Tân cần phải hoá Thuỷ, bây giờ bản thân duyên lộc, cũng phải hoá mà không hoá. Ở đây sao chồng Tân Kim là chính quan Bính Hoả khắc ta, liên hệ với mệnh này sinh vào tháng Mậu Ngọ đúng vào thời hoà vượng của tháng 5 nông lịch, cho nên sao chồng kiện vượng. Lại liên hệ với can năm Quý Thuỷ, rất khéo hình thành mỗi quan hệ chính quan vói Bính Hoả sao chồng. Trong dụng thần, chính quan là một cát tinh, cho nên rất có lợi cho chồng. Nếu lại liên hệ với can tháng Mậu Thổ lại là cát thần thực thần của sao chồng Bính Hoả, và Bính Hoả cũng Mậu Thổ cùng quy lộc (Lâm quan) đên địa chi Tỵ của trụ năm, có thể nói là khó có được.

Sau khi xem sao chồng lại đến sao con. Tân Kim sinh Nhâm Thuỷ là con, mà thân trong cung con ở chi giờ lại khéo hàm chứa Nhâm Thuỷ mà mối quan hệ của Nhâm Thuỷ với Thân trong 12 cung lại đúng ở vào đất trưòng sinh vạn vật hướng sinh. Hơn nữa thiên can Quý Mậu hợp hoà, Bính Tân hợp Thuỷ, Thuỷ Hoả có tượng ky tế, địa chi Tỵ, Ngọ, Dậu, Thân, Canh Kim trong kỷ, Canh Kim trong than, Tan Kim trong Dậu đều là tài khcí của Bính Hoả sao chồng và Đinh Hoả trong chi tháng Ngọ, cho nên tự nhiên lấy chồng được làm quan mà ăn lộc trời, thuộc về mệnh chồng vinh con sang.

2. Hoà: gọi là Hoà có nghĩa là điềm tĩnh. Ví như trong bát tự bản thân nhu nhược, chỉ có một ngôi sao chồng khắc ta mà tứ chi lại không có thần công phá xung kích, nó liễm được khí trung hoà nên “Hoà” vậy. Chúng ta hãy xem bát tự của một nữ mệnh.

Năm Nhâm Thìn Tháng Tân Hợi

Ngày Kỷ Mão Giờ Kỷ Tỵ

Thiên can Kỷ Thổ của trụ ngày trong mệnh là bản thân, Giáp Mộc trong trụ thang hội là sao chồng. Hợi đối với Giáp Mộc mà nói, ở chỗ đất trường sinh vạn vật hưởng vinh. Những điều nói trên gọi là chồng được quan tinh, con đường trường sinh, cho nên chồng vượng, con lợi, còn như Ất Mộc trong chi ngày Mão, tuy là thất sát của bản thân Kỷ Thổ nhưng có Canh Kim trong chi giờ tỵ chế ước, cho nên “lấy sát lưu quan”, là quý tượng trong nữ mệnh.

3. Thanh: gọi la “thanh” có nghĩa là thanh khiết. Trong nữ mệnh, hoặc chỉ có một quan, hoặc chỉ có một sao chồng đắc thời, trong trụ có tài có quan, có ấn trợ thân, không có khí hỗn đục, mới có thể đắc thanh quý. Lấy một ví dụ nữ mệnh như thế này:

Năm Kỷ Mùi Tháng Nhâm Thân

Ngày Ất Mùi Giờ Giáp Thân

Trụ ngày bản thân Ất Mộc, lấy chi ngày chi giờ trong đó thân chinh Canh Kim làm sao của chồng. Thân với Canh mà nói, ở vào lộc địa của lâm quan, cho nên sao chồng đắc thời mà Ất Mộc lấy thực thần Đinh Hoả ta sinh làm sao con, mà trong chi ngày Mùi bản thân lại hàm chứa Đinh Hoả, mà Mùi với Đinh mà nói lại cũng ở vào Vượng địa của lâm quan, cho nên sao con đắc địa. Ất Mộc lấy Nhâm Thuỷ làm chính ấn, mà trị tháng Nhâm Thuỷ lại toạ ở Trung Kim, nguồn thuỷ không thiếu, hơn nữa kỷ Thổ trong chi ngày Mùi lại là thiên

tài do Ất Mộc đưa đến. Như vậy tài vượng sinh quan, tứ trụ lại không có hình xung phá hại.

Thơ rằng:

Tài cung ấn thụ tam ban vật

Nữ mệnh phùng chi tất vượng phu

Cho nên người đàn bà có mệnh là phu nhân, được hai nước phong chức.

4. Quý : gọi là “Quý” là danh hiệu tôn vinh. Trong mệnh có quan tinh và được tài khí trợ sinh, trong tứ chi lại không có hình cung phá bại, đó gọi là nghiêu vũ trong nữ mệnh quý vậy. Sách nói: mệnh mà nhân không sát (thiên quan), quý được làm phu nhân. Lại nói: “nữ mệnh vô sát phùng nhị đức, khả nhị quốc chi phong”. Gọi là Nhị Đức, không chỉ riêng Thiên Đức, Nguyệt Đức, với nữ mệnh mà nói, tài cũng là Đức, quan cũng là Đức nếu lại có ấn thụ, thực thần, như vậy càng thêm tôn quý. Nêu một nữ mệnh dưới đây.

Năm Ất Dậu Tháng Bính Tuất

Ngày Quý Mão Giờ Quý Tỵ

Thiên can trụ ngày Tân Kim, không chỉ lấy can năm Ất Mộc ta khắc làm thiên tài, trước tiên được một đức và lấy Bính Hoả của Canh Kim khắc ta trong can tháng làm quan nhân, mà quan nhân này lại toạ ở một khố tàng vạn vật và Tỵ trong chỉ giờ lại kéo tháng đến làm lộc địa của lâm quan, cho nên lại được thêm một đức. Ngoài hai đức ra, can giờ Quý Thuỷ quý là quan của Bính Hoả chồng. Bản thân Tâm Kim sinh ra Quý Thuỷ là con, mà Thuỷ của con lại toạ ở Tỵ lâm quan, có thể nói “phu lộc đồng vị” hơn nữa can giờ Quý lai gặp chi ngày Mão, được gọi là Thiên Ất quý nhân. Như vậy vừa là quý nhân, lại là tài quan song mỹ, cho nên chồng và con đều phát, cả hai được phong.

5. Trọc: gọi là “trọc” tức là đục mà không trong. Bát tự nữ mệnh nếu xuất hiện ngũ hành mất vị trí, Thuỷ Thổ làm tổn thương nhau, bản thân rất nguy hiểm, ngôi sao đại biểu cho chồng không hiện ra, mà thiên quan lại rối tạp, trong tứ chi lại không có Tài, Quan, An, Thực, những người này phân lớn là kỹ nữ, tỳ thiếp, dâm đãng, ở đây xin nêu lên một nữ mệnh như thế này.

Năm Ất Hợi Tháng Ất Hợi

Ngày Quý Sửu Giờ Kỷ Mùi

Bản thân Quỷ Thuỷ sinh vào tháng 10 tháng Hợi, quá nhiều Thuỷ. Quý Thuỷ lấy Mậu Thổ làm chính quan xem ở chính quan không hiện rõ mà dẫn can giờ Kỷ Thổ làm Thiên phu nhưng mà trong chi ngày Sửu và chi giờ Mùi Kỷ Thổ đều có thiên phu ở hỗn tạp với nhau, hơn nữa trong trụ ngày không có tài, Ất Mộc vốn là thực thần của Quý Thuỷ nhưng Ất Mộc sinh ở can tháng rất khoẻ, Kỷ Thổ bị khắc, như vậy ngũ hành mất vị trí, khó tránh khỏi ma quỷ đến người, trước trong sau đục, không thể hưởng phúc.

6. Lạm: gọi là “lạm” có nghĩa là tham lam, tức là nói trong thiên can tứ trụ có nhiều phu tinh (sao chồng) trong địa chi lại ngầm có tài vượng đái sát. Như vậy khó tránh khỏi tửu sắc vô độ, tư túi đắc tài. Gặp phải mệnh này, nếu không khắc phu tái giá thì thân làm nô tì, vì rằng thái quá hoặc bất cập sẽ đi theo hướng phản diện. Ví dụ mệnh như thế này:

Năm Canh Dần Tháng Bính Tuất

Ngày Canh Thân Giờ Đinh Hợi

Bản thân Canh Kim sinh vào tháng thu, chi ngày lại gặp lâm quan lộc địa, bản thân tự vượng. Trong đó trụ tháng nặng hơn trụ giờ, đáng lẽ Bính Hoả là chồng nhưng chi năm Dần và chi tháng hội thành Hoả cục, ở can giờ lại thấu xuất Đinh Hoả, không tránh khỏi rất yêu Hỏa. Lại như bản thân Canh trong Kim lại ngầm khắc vói chi năm chi tháng Dần Hợi Mộc là tài mà Nhâm Thuỷ trong Hợi lại là cát thần thực thần của Canh Kim, thực thần có thể sinh tài. Vì vậy tuy nói người đàn bà này lớn lên xinh đẹp có phúc, nhưng lại không thiếu lạm dâm mà đắc tài.

7. Xướng: gọi là “xướng” tức là xướng ca vô loài Trong bát tự nếu xuất hiện thân vượng phu tuyệt, quan suy thực thịnh, hoặc trong tứ trụ không thấy quan sát, hoặc có mà bị coi là hung thần thương quan, thương tận, hoặc quan sát hỗn tạp mà thực thần thịnh vượng, những người này nếu không là mệnh kỹ nữ, cũng là ni cô tì thiếp, khắc phu dâm bổn, chỉ ở một mình. Xem mệnh như thê này:

Năm Đinh Hợi Tháng Canh Tuất

Ngày Mậu Thìn Giờ Canh Thân

Can ngày bản thân Mậu Thổ, lẽ ra là phu tinh (sao chồng) khắc ta Giáp Mộc trong chi năm Hợi, nhưng do Mộc này ở vào tháng 9 tháng tuất của mình thu, trong vượng tướng hưu tù tử, ở vào tử thất thời nguyên khí, giờ đây lại gặp can tháng Canh Kim giám lâm, cho nên rõ ràng là khắc tuyệt, lại xem Canh Kim trong chi giờ Thân, lẽ ra thuộc về thực thần của Mậu Thổ, nhưng Thân với Canh mà nói lại là lộc định của lâm quan, cho nên thực thần có lực, hơn nữa Mậu Thìn vốn thuộc sao khôi cương, có lợi cho đàn ông, không lợi cho đàn bà, giờ đây khôi cương chiếu lâm, lại có thể sinh thực, nêu lại kết hợp với Canh Kim của can tháng can giờ thì không tránh khỏi thực thần vượng quá mức. Tuy nói Ất Mộc trong Thìn cũng là sao chồng khắc ta nhưng toạ ở bên dưới Mậu Thổ, không thể thấu xuất, nên không thể lấy để dùng. Ngoài ra Nhâm Thuỷ trong chi năm Hợi, Quý Thuỷ trong chi ngày Thìn, Nhâm Thuỷ trong chi giờ Thân đều là tài của bản thân Mậu Thổ, Mậu Thìn vốn thuộc khôi ải, bản thân cường vượng, bây giờ phu tinh khắc ta đã tử tuyệt mà xung quanh lại đầy những thực thần sinh ta, cho nên gọi là Thân vượng phùng sinh, tham thực tham tài, là một ca nữ xinh đẹp không có chồng.

8. Dâm: gọi là dâm là dâm ô quá mức. Bát tự của loại người này, bản thân tuy nhiên đắc địa nhưng phu tinh (sao chồng) thái quá, tối sáng giao nhau, người mà can ngày thân vượng, trong tứ trụ đều là quan sát thì đúng như vậy. Phu tinh xuất hiện ỏ thiên can gọi là minh, xuất hiện ở địa chi gọi là ám. Ví dụ 1 Đinh 3 Nhâm, hoặc Đinh Hoả đồng thời gặp phải thiên can Nhâm Thuỷ, Quý Thuỷ trong địa chi thìn, Quý Thuỷ trong địa chi Thìn, Quý Thuỷ trong Tý đều là những điền hình về tứ trụ thái quá hoặc minh ám giao nhau. Loại đàn bà đối với đàn ông quả là không thể dung nạp được, nêu một ví dụ:

Năm Mậu Thìn Tháng Nhâm thìn

Ngày Nhâm Tuất Giờ Quý Hợi

Nhâm Tuất trong mệnh và Quý Hợi, một trụ ở vào lộc địa của lâm quan, một trụ ở vào trạng thái đế vượng vạn vật trưởng thành, có thể gọi là bản thân đắc địa. Nhưng ở phu tinh, minh có trụ năm Mậu Thể là chính phu, ám có 3 Mậu Thổ (gồm 2 Thìn một Mậu) thành ám phu của Mậu Thổ, như vậy phu tinh giao tập, dâm hết chỗ nói

II. Bát cách

1. An tỉnh giữ phận: gọi là an tỉnh giữ phận tức là mệnh nữ phụ tinh trong bát tự có khí, can ngày tự vượng. Tài thực được đất, không có hình xung. Hãy xem một mệnh này.

Năm Quý Tỵ Tháng quan Canh Thân

Ngày Ất Mão Lộc Giờ Đinh Hợi

Canh ngày bản thân Ất Mộc, toạ ở chi ngày Mão là lộc địa lâm quan của Ất Mộc mà chi giờ Hợi cũng chi ngày Mão lại phùng hợp cục, cho nên can ngày tự vượng. Lại xem phu tinh, At Mộc lấy Canh Kim khắc ta làm chính quan hay ở chỗ, chi tháng thân ở nơi phu tinh toạ lại thuộc lộc địa lâm quan của Canh Kim mà chi năm Tỵ lại là đất trường sinh của Canh Kim, hơn nữa Nhâm Thuỷ trong chi giờ Hợi là thực thần thiên trù của Canh Kim, nên gọi (chồng) ăn thiên lộc, quan tinh mỹ vượng. Như vậy bản thân, quan tinh đều hưởng vượng khí, hai bên không xâm lấn nhau, tứ trụ lại không có thất sát lẫn vào, vì thế có thể thấy đó là mệnh của một phu nhân an tĩnh giữa phần, hoà nhã lịch thiệp.

2. Phúc thọ đểu đủ: đây là một loại cách cục thân toạ đất vượng, thông với ngụyên khí, can chi phò nhau, tổ hợp hữu tinh, mà Tài Quan Ân thụ đều đắc vị, không làm thóat tài hoại Ân, Thương quan, quả là cách cục thuần tuý. Nếu thân vượng mà vận hành vào đất tài, thực, cũng thuộc mệnh phúc thọ đều đủ. Nêu một ví dụ về nữ mệnh này:

Năm Bính Ngọ Tháng Canh Tý

Ngày Tân Dậu Giờ Quý Tỵ

Can ngày Tân toạ đất Dậu, chuyên lộc tự vượng. Tân Kim lấy Bính Hoả làm quan, mà quan tinh quy lộc ở chi giờ Tỵ, phu tinh đắc địa. Tân Kim lấy Quý Thuỷ là con, can giờ thực thần Quý Thuỷ quy lộc ở can tháng Tý Thuỷ, cho nên tử tinh (sao con) cũng đắc địa. Hơn nữa can chi phò nhau, không làm hại nhau, lại sinh vào Quý thuỷ tháng 11 dương lệch, trở thành tượng Kim Bạch Thuỷ thanh. Như vậy mệnh chủ xinh đẹp đoan chính, phu vượng tử quý, cho nên có thể đoán là một mệnh phúc thọ đều đủ.

3. Vượng phu thương tử: xem nữ mệnh ở vượng phu thương tử, mấu chốt là phải xem trụ ngày, vì rằng giờ là đất quy súc lại. Cách xem: hai sao ca con, dần quy về giờ, phu tinh sinh vượng, tử tinh suy bại vậy lấy một nữ mệnh là ví dụ:

Năm Bính Tuất Tháng Bính Thân

Ngày Đinh Tỵ Giờ Tân Hợi

Ngày sinh Đinh Hoả, toạ ở đế vượng Tỵ, bản thân đắc địa. Đinh Hoả lấy Nhâm Thuỷ chế ta trong chi tháng thân làm quan tinh mà chi giờ Hợi là lộc địa lâm quan của quan tinh Nhâm Thuỷ, chi tháng Thân Kim lại là đất trường sinh của Nhâm Thuỷ. Hơn nữa tháng 7 Kim vượng , Canh Kim trong thân và Tân Kim can giờ cùng với hai thiên can Bính Hoả của can giờ, can tháng là ấn thụ, tài thần của Nhâm Thuỷ quan tinh, cho nên đoán biết ông chồng thông minh phú quý. Đinh Hoả lấy thực thần kỷ Thổ làm chỗ dựa cho con cái bản thân, bây giờ trong trụ kia thấy Kỷ Thổ, cho nên lấy quyền đem Mậu Thổ tàng trong chi là tử tinh. Nhưng đem Mậu Thổ tàng trong chi Quý dẫn về cung chi giờ Hợi, Giáp Mộc trong Hợi là thất sát khắc phạt Mậu Thổ, thế đem Mậu Thổ đặt vào tuyệt địa. Vì rằng tử tinh bị khắc, cho nên trong mệnh khó có con, hoặc có thì cũng khó nuôi.

4. Vượng tử thương phu: về mệnh vượng tử thương phu, có thể từ trụ tháng, trụ giờ mà đoán biết. Quan tinh có khí đắc thời, chồng có thể thanh quư phát phúc; nếu không đắc nguyệt khí, ở trụ giờ lại không có vượng khí, thế thì chồng có thể vì mất khí mất thời mà nguy đến tính mệnh. Lại như tử tinh quy dẫn về giờ, nếu gặp đất trường sinh, lâm quan, đế vượng mà không hình khắc, chứng tỏ tử tinh đắc địa mà sinh vượng, phần lớn có thể làm nên. Xin nêu một ví dụ.

Năm Kỷ Mão Tháng Giáp Tuất

Ngày Ất Mão Giờ Mậu Dần

Bản thân Ất Mộc, lấy Canh Kim làm chính quan. Sinh vào tháng Tuất, Canh Kim phùng Tuất, ở vào đất suy của nguyên khí, lúc dẫn quy về giờ, chi giờ Dần lại là đất trường sinh của Bính Hoả, mà Thìn Tuát hội cục, đều thuộc Hoả, nên đoán tử tinh hưởng vượng.

5. Thương phu khắc tử: nữ mệnh này, quan tinh và tử tinh mất tháng mất giờ, lại bị khắc tiết, cho nên không đẹp. Xem một nữ mệnh.

Năm Bính Tý Tháng quan Canh Tý

Ngày Ất Hợi Giờ Bính Tý

Bản thân Ất Mộc, lấy Canh Kim làm quan tinh. Bây giờ tháng Tý Kim hàn Thuỷ Lạnh, thực là Tử địa của Canh Kim

khí, trong tứ trụ không có Thổ đến sinh Kim. Cho nên đức ông chồng không lâu bền. Ất Mộc lấy Bính Hoả làm con, dẫn đến Tý cung ở giờ, thuộc về Thuỷ Hoả xung kích, là đất thuỷ vượng Hoả diệt, tuy nhiên năm đến can giờ đều có hai Bính Hoả, làm thế nào chịu nổi Thuỷ ở địa chi tứ trụ tuôn ra, cho nên con cái khó lòng tránh khỏi nguy nan.

6. Thiếu niên chết yểu: sách đoán mệnh cho rằng trong nữ mệnh vốn có quan tinh bị thương, hành vận lại thông đến đất quan, hoặc vô quan kiến thương, hành vận lại lâm đất quan và thân nhược quan sát quá nặng, sát nặng khắc thân, như thế nếu không chết thì cũng dâm ồ làm tràn. Ngoài ra nếu mang theo nhận không bị chế, hành vận lại phù hợp ở đất nhận, cũng không phải điềm lành.

Ví dụ:

Năm Đinh Mão Tháng Quý Sửu

Ngày Canh Thìn Giờ Bính Tý

Bản thân Canh Kim, Đinh Hoả là quan, bây giờ địa chi Tý Thìn và Quý Thuỷ trong Sửu củng là thương quan của quan tỉnh bị khắc chế nên bị hại vì chết đuối.

Lại như:

Năm Ất Dậu Tháng Mậu Tý

Ngày Bính Dần Giờ Kỷ Hợi

Ngày sinh Bính Hoả toạ chi Dần là đất trường sinh của Bính Hoả, đáng tiếc sinh vào tháng Tý giờ Hợi, quan sát quá nặng, giống như vượng Hoả gieo vào Thuỷ Thịnh, cho nên lo lắng sẽ chết khi sinh đẻ Lại xem một bát tự

Năm Nhâm Tý Tháng Quý Mão

Ngày Giáp Tuất Giờ Đinh Mão

Bản thân Giáp Mộc, cho tháng Mão là Dương nhận, trụ Đinh Mão lại thương quan, Dương nhận, đồng thời địa chi Tý Mão dụng hình, Mão Tuất tương hợp, phu tinh. Tài tinh trong trụ yếu sức, vì vậy ngày Kỷ Mão, tháng Ất Sửu năm Quý Dậu phạm gian dâm mà chết.

7. Chính thiền tự xử: tam mệnh thông hội cũng rất thích thú về cách nói chính thiên tự xử. Sách nói: chính thiên tự xử là gì? là vợ chồng tương hợp, lại gặp Tỷ kiên phân tranh. Nếu một ngôi phù tinh có hai ngôi thể tinh tương hợp, gọi là tranh hợp. Nếu bản thân tự vượng, thân kia lại suy, tứ trụ không xung thì ta chính mà là thiên, nếu thân kia vượng mà ta suy, tứ trụ xung ta thì thân kia vượng mà ta thiên, nêu thân ta vượng hửu khí thì phu theo ta là chính, ta thân suy mà có ngôi vượng khác thì theo ngôi khác, ta ngược lại là thiên. Bảo rằng thân kia vượng, tranh đoạt chồng ta, ta đành phải là thiên, hoặc tự vượng thái quá, trụ không có phu tinh, cũng là thiên, hoặc quan sát hỗn tạp, hoặc thương quan quá nặng, cùng là thiên, càng dâm ô. Hãy xem:

Năm Nhâm Tý Tháng Bính Ngọ

Ngày Tân Dậu Giờ Tân Mão

Bản thân Tân Kim, lấy can tháng Bính là quan tinh. Nhưng Bính lại hợp với can giờ Tân, thì lấy đây là mệnh hai đàn bà tranh một chồng, hay ở bản thân toạ tại lộc địa lâm quan chi Dậu, thân vượng có lực, mà can giờ Tân Kim lại toạ ở tuyệt địa Mão, suy nhược không chịu nổi công kích. Vì vậy kết quả tranh giành ta làm chính thê, còn kẻ kia làm thiếp. Lại như:

Năm Quý Mùi Tháng Nhâm Tuất

Ngày Quý Tỵ Giờ Nhâm Tý

Bản thân Quý Thuỷ, Mậu Thổ là quan. Đáng tiếc Nhâm Tý dựa Thân Thuỷ vượng. Quý Thuỷ Thuỷ nhược, do nhược không thắng vượng, cho nên kê kia thắng ta suy, đành phải làm thứ phòng. Nhưng trụ giờ Nhâm Thuỷ nặng mà tràn trề, toạ chi Tý dưới Nhâm gặp chi năm Mùi, kèm theo đào hoa cho nên kê kia tuy là chính thất (vợ cả) nhưng lại khó tự xử.

8. Chiêu giá bất định: sao lại gọi ,là chiêu giá bất định? Nghĩa là: trong nguyệt lệnh có phu tinh thấu can, tương hợp với kỷ, bản thân Tỵ tòng phục, phu tinh lại là nguyên khí, giờ dần phu tinh, hoặc sát tinh lại thích hưởng vượng địa đê khắc bản thân kỷ, lại tòng phục thiên phu, nên gọi là chiêu giá bất định (gả cưới không khẳng định) nếu phu tinh không vượng, hoặc bị khắc chế, hẳn gã chồng chậm, hoặc lấy chồng không minh bạch, hoặc chồng chẳng giúp được gì, hoặc có ngoại tình. Lại như:

Năm Quý Dậu Tháng Giáp Tý

Ngày Kỷ Mùi Giờ Ất Hợi

Bản thân Kỷ Thổ, Giáp Mộc là quan, sinh vào tháng Tý mất thời không vượng. Nhưng chi giờ phùng hợi, hợi là đất trường sinh của Giáp Mộc, quan tinh đương vượng, nhưng can giờ Ất Mộc lại chế bản thân là sát, can ngày toạ Mùi, lại là đất thương khố (kho tàng) của ất Mộc, dẫn đến sát tinh cũng vượng. Như vậỵ, mệnh chủ ở vào trạng thái gả cho Giáp mà biến Ất, gả cho Ất mà biến Giáp, do dự không quyết nên gọi là “chiêu giá bất định”. Bát pháp, bát canh mà sách cổ nói ở trên, ý thức phong kiến nặng nề, mà còn có những lời nói chủ để mua vui, cho nên hy vọng độc giả có con mắt phê phán trong khi nghiên cứu phân tích.

9. Được phong nhất phẩm

Năm tài Đinh Tỵ tài quan ấn

Tháng quan Mậu Thân quan ấn kiếp

Giờ Thực ất mão thực

ơ mệnh này, quan tinh thực thần toạ lộc, ấn thụ đương lệnh phùng sinh, tài sinh quan vượng, không thương ấn thụ, ấn thụ đương lệnh, đủ để phù thân, thực thần đắc địa, nhất khí tương sinh, nhìn xem toàn cục ngũ hành dừng đều, an tường thuần thuý, biết là phu vinh tử quý, là phu nhân nhất phẩm hai đời.

10. Phu quý tử quý

Năm quan Kỷ Tỵ tài sát ấn

Tháng kiếp Quý Dậu ấn

Ngày Nhâm Thìn

Giờ thực Giáp Thìn thương sát kiếp

Thu thuỷ thông nguồn, ấn tinh thừa lệnh, quan sát tuy vượng, chê hoá hợp nghi, hay là giờ can thấu xuất Giáp Mộc, chết sát Thổ thú, một khí thuần tuý, cho nên nhân phẩm đoan trang, giỏi thi thử. Kết hợp hành vận không Hoả, cơ quan không trợ giúp, ấn không bị thương, nên có phu tinh hiển quý, con nối dõi giỏi giang, được vinh hạnh phong hàm nhị phẩm.

11. Nữ trung tài tử

Năm Canh Thìn Tháng Nhâm Ngọ

Ngày Ất Hợi Giờ Quý Mùi

Ất Mộc sinh vào tháng Ngọ, Hoả thế mạnh mà can năm Canh quan nhu nhược, tốt ở chỗ can tháng Nhâm Thuỷ, can giờ Quý Thuỷ thông căn chế Hoả, chi năm Thìn Thổ tiết Hoả sinh Kim, hơn nữa chi tháng Ngọ Hoả sinh chi năm Thìn Thổ, chi năm Thìn Thổ sinh can năm Canh Kim, can năm Canh Kim sinh can tháng Nhâm Thuỷ, Can tháng Nhâm Thuỷ sinh can ngày Ất Mộc, như vậy tiếp tục tương sinh, khiến Hoả trong trụ không mãnh liệt Thổ không táo, Thuỷ không cạn, Mộc không Thổ, cho nên thuần tuý trung hoà, là nữ trung tài tử.

12. Dĩ ân vĩ phu

Ví dụ

Năm Bính Dần Tháng Tân Mão

Ngày Quý Dậu Giờ Mậu Ngọ

Can ngày Quý Thuỷ sinh vào tháng Mão là tháng tiết khí, trong trụ tài quan đều vượng, can ngày nhu nhược, cho nên lấy Ấn tinh phù ta làm phù tinh. Nhìn thấy khắp toàn cục, phù tinh thanh mà đắc nguyệt nên hành vận đến sửu vận, mấy năm liền cung Kim tiết Hoả, sinh liền hai con, về sau vận hành đến Mậu Tý, vì Tý Thuỷ xùng đẫy Đinh Hoả trong chi giờ Ngọ khiến Dậu Kim không bị thương, chồng có tin mừng thi cử đỗ đạt. Nhưng một khi giao vào Đinh Hợi, tài tinh ngược đãi, nên buông tay mà chết. Phân tích mệnh này, bệnh ở tài khí quá vượng, lấy Bính Hoả can năm hợp với Tân Kim can tháng, lấy Đinh Hoả can giờ khắc phá chi ngày Dậu Kim, hơn nữa Dần, Mão dương quyền sinh Hoả, cho nên hành vận một khi đi vào Đinh Hợi, Hợi với chi năm Dần hợp hoá Mộc, giúp dựng lên vượng thần mà Đinh Hoả lại khắc Tân Kim nên không có lộc.

13. Dĩ tài vi tử

Ví dụ:

Năm Bính Thìn Tháng Quý Tỵ

Ngày Đinh Sửu Giờ Giáp Thìn

Đinh Hoả sinh vào tháng Tỵ, Quý Thuỷ phu tinh thanh thấu, Giáp Mộc ấn thụ đẹp đứng một mình, cho nên phẩm cách đoan trang, trinh khiết. Tiếc là Bính Hoả ở can năm chi tháng quá vượng, sinh trợ thiên quan, để bị phá vỡ. Nhưng may lớn trong không may là chi tháng Tỵ cùng chi ngày Sửu hợp thành Kim cục, tài t́nh đắc dụng. Người xưa có câu nói: “Thân vượng tài vi tử, thể suy ấn tác nhi” cho nên lấy tài làm con, dạy con thành danh, về sau do hai con đều quý, được phong tam phẩm.

14. Hình phu nan thủ

Ví dụ:

Năm Đinh Mùi Tháng Ất Tỵ

Ngày Giáp Ngọ Giờ Đinh Mão

Bản thân Giáp Mộc, sinh vào tháng Tỵ, chi thuộc nam phương, can thấu lưỡng Đinh, tương như hoà thế mãnh liệt, khiến cho Giáp Mộc tiết khí thái quá. Trong cục lại không ấn thụ sinh thân. Cho nên chỉ có thể lấy chi giờ Mão Mộc làm dụng thần. Kết hợp đại vận, lúc trẻ nhập Hoả địa. Cho nên chồng chết sớm. Do người này thông minh xinh đẹp, mà lại nông nổi khác thường, về sau một khi vận đến Mậu Thân, tranh chiến cùng Mộc Hoả, nên không thư tiết được.

15. Phu tử tự vằn

Ví dụ:

Năm Mậu Tuất Tháng Kỷ Mùi

Ngày Bính Thìn Giờ Mậu Tuất

Khắp cục thương quan, ngũ hành khuyết Mộc, ấn tinh không thấy, cách thành thuận cục. Người này thông minh xinh đẹp tiếc tứ trụ Kim Thuỷ ít quá, Thổ của thương quan quá khô và dày, mà phu tinh Tân Kim lại mộ ở Tuất, cho nên dâm loạn cực kỳ, chồng gặp hung tai mà chết, về sau theo người khác, không được 2-3 năm lại khắc, chờ đến Ất Mão Mộc vận, phạm vượng của Thổ, tự vẫn mà chết.

16. Khi phu dâm tiện

Ví dụ

Năm Mậu Ngọ Tháng Ất Sửu

Ngày Mậu Tuất Giờ Bính Thìn

Can ngày Mậu Thổ, sinh vào tháng Sửu Kim tàng Thổ vượng, khiến cho can tháng quan tinh Ất Mộc không thể dựa vào gốc, nếu lấy Ất Mộc thông vối chi giờ Thìn khố. Thì Ất Mộc trong Thìn lại gặp Tân Kim trong Mậu khắc phạt, hơn nữa chi năm, chi ngày, can giờ ấn thụ sinh thân, cho nên bản thân cường vượng, đủ để dối gian, đặt phu quân ra bên ngoài. Kết hợp ở tuổi trung niên hành nhập tây phương Kim vận, biết đó là loại đàn bà dâm tiện.

17. Thuỷ tính dương hoa

Ví dụ

Năm Đinh Mùi Tháng Quý Sửu

Ngày Cánh Tý Giờ Đinh Hợi

Hàn Kim hỉ Hoả, đáng tiếc địa chi Hợi Tý Sửu hội thành Thuỷ cục, can tháng Quý Thuỷ khắc can năm Đinh Hoả, Quý Thuỷ trong chi tháng Sửu xung diệt dư khí Đinh Hoả trong Mùi, mà can giờ Đinh Hoả lại do hư thoát vô căn nên không đủ để dùng, hơn nữa ngũ hành tứ trụ thiếu Mộc, cho nên Mùi đủ sức làm sống lại Đinh Hoả mà quản chế Canh Kim. Do vậy, ngày sinh Canh Kim tự hành sự một mình, không đếm xỉa bị Đinh Hoả quản thúc thuộc loại đàn bà thuỷ tính dương hoa.

18. Hợp đa dâm lạm

Ví dụ

Năm Đinh Sửu Tháng Nhâm Tý

Ngày Tân Tỵ Giờ Bính Thân

Mệnh này, can tháng Nhâm Thuỷ hợp với can năm Đinh sát, can giờ Bính Hỏa đắc lộc ở Tỵ cho nên thân gia đình dòng dõi, đẹp mà khéo, người ta đều gọi bà là “Thái Dương Phi”. Xem cả cuộc đời bà khi 4-5 tuổi xinh đẹp khác thường, cho đến 13-14 tuổi đẹp như người trong tranh, năm 18 tuổi kết vợ chồng với một thư sinh, anh chàng này bình thưòng chăm chỉ học hành nhưng sau khi kết hôn yêu đương đắm đuôi, một năm sau bỏ học, mà cuối cùng mắc bệnh lao mà chết. Sau khi chồng chết, người đàn bà này càng tự do phóng khoáng, cuối cùng thân bại danh liệt, không nơi nương tựa mà đi đến bước đường cùng tự vẫn. Phân tích nữ mệnh này, trong mệnh cục này thiên can địa chi hợp lại quá nhiều, cho nên Nhậm Thiết Tiêu nói: trong thập can của chồng, duy Bính Tân hợp dùng quan hoá thương quan, gọi là tham hợp vong Quan và Tỵ Thân hợp cũng hoá Thương quan, Đinh Nhâm hợp thì ngầm hoá tài tinh, ý là đem Bính Nhâm Hoả đặt ra ngoài muôn đứng về bên cạnh Đinh Nhâm, huống hồ can chi đều hợp, nên không phải là ý trung nhân. Nhà mệnh lý học cận đại, Viên Thụ Sách là người nổi tiếng đã soạn ra cuốn mệnh lý tham nguyên. Trong quyển 7 bộ sách có ghi hai nữ mệnh mà ông đã đoán, có thể dùng để nghiên cứu nhằm phê phán.

19. Đoán cho bà X

Năm Ất Hợi Tháng Bính Tuất

Ngày Mậu Ngọ Giờ Nhâm Tuất

An mệnh Ất Mậu

5 Đinh Hợi 15 Mậu Tý

25 Kỷ Sửu 35 Canh Dần

45 Tân Mão 55 Nhâm Thìn

65 Quý Tỵ 75 Giáp Ngọ

Ngày sinh Mậu Thổ, lấy can năm Ất Mộc làm phù tinh, lây chi Tuất Canh Kim là Tử tinh. Đang vào mùa thu, Mộc rụng Kim tàng nên phu tinh không vượng, tử tinh không nhiều, nhưng được mệnh cung Ât Dậu trợ giúp cho hai tinh cha con, vẫn làm cho bố con cùng thịnh, huống hồ can giờ Nhâm Thuỷ lại sinh ra Ất Mộc sao? Nếu mệnh mà phu tinh phối với Thuỷ Mộc tương đối nhiều thì nhuần hoà, 3-4 con nối dõi, chỉ hiềm dương nhận hội hợp, không tránh được lao tâm vất vả. Trước 30 tuổi, bực dọc không yên. 10 năm gần đây, hỉ khí đầy nhà, con cái vây quanh. 41 tuổi giao Dần vận, tam hợp hóa Hoả, không thể không táo Thổ, huyết bệnh ở phế gan, cần phải đề phòng, về sau ngoài 44 tuổi Mậu Ngọ, 47 tuổi Tân Dậu bị tổn thương ra, đến 60 tuổi đều mạnh khoẻ như ý, thọ ngoài lục thập hoa giáp.

20. Đoán cho người đàn bà đẹp

Năm Đinh Sửu Tháng Tỵ Dậu

Ngày Mậu Tý Giờ Bính Thìn

An mệnh Giáp Thìn

9 Canh Tuất 19 Tân Hợi

29 Nhâm Tý 39 Quý Sửu

49 Giáp Dần 59 Ất Mão

69 Bính Thìn 79 Đinh Tỵ

Mậu Thổ lấy chi Thìn Ất Mộc làm phù tinh, lấy Tân Kim của Dậu làm tử tinh, giờ Mộc ở mộ địa mà đắc mệnh quan Giáp Thìn trợ giúp, Kim được hợp với năm sửu, tựa như phu vinh tử thịnh vây, nào biết Giáp ở mệnh cùng cũng Kỷ của can tháng hoá Thổ, Tỵ mất tác dụng của Mộc, Sửu Dậu hợp Kim, là kẻ thù của Mộc, không thể coi là con được. Vì vậy chồng khó thọ đến già, con khó thành đạt, trước 23 tuổi còn được, 24 tuổi được đại vận Tân Kim, lưu niên Canh Kim cùng đến đánh phá Giáp Ất, làm Mộc khô mục, chồng bị chết, con không ngăn mà đến. May là ngày sinh Thổ dày, thắng được Thuỷ vận, con người vững như vàng đá, chịu mọi phong sương. Đức hạnh được truyền tụng trong làng xóm, danh nêu trong ấp, đáng trọng đáng kính, thọ ngoài sáu mươi.

Khi xem nữ mệnh thì khác với nam, kẻ phú quý một đời quan tụ, kể thuần tuý tứ trụ hưu tù, nếu đục tràn ngũ hành xung vượng, kẻ mỵ dâm quan sát đan nhau, không quan đa hợp đó là bất lương. Các trụ sát nhiều, không là khắc chế. Ấn thụ nhiều thì già không con, thương quan vượng còn trẻ mất chồng, tứ trụ không thấy phu tinh, không là trinh khiết, ngũ hành nhiều gặp Tý chiếu (chỉ thực thần nhiều) khó tránh hoang dâm, thực thần một ngôi phùng sinh vượng, bảo con đến bái thánh minh, quan sát không tạp gặp ấn phù, lấy chồng sẽ gặp hội thanh vân. Giữ phòng lạnh mà trinh khiết, Kim Trư Mộc hổ (chỉ ngày Tân Hợi, Giáp Dần) tương phùng (hai ngày này tuy khắc phu mà thủ chính), nhà không ngủ một mình, Thổ hầu Hoả Xà (chỉ ngày Mậu Thân, Đinh Tỵ) gặp nhau (hai ngày này khắc phu bất chính). Tài vượng sinh quan, phù thực vô thương mà phu vinh tử quý, quan thực lộc vượng nhất ấn hữu trợ mà sau được sủng ái. Thương quan lặp lại không tài ấn, nhà bại hình phu, quan sát trùng phùng gặp tam hợp, hoang dâm vô sỉ. Hợp nhiều, quan nặng là người tham dâm hiếu sắc. Quan tạp khí suy, thê thiếp ham dục tội chồng. Thân vượng quan hung, không ni cô thì là con hát tôi đòi, thực thần biến đức, trước nghèo hèn mà sau vinh hoa, ngoài ra, lúc xem đoán mệnh còn có một cách nói khắc phu nhảm khí. Dầu tiên, phàm nữ mệnh, ngày sinh ở quan, quỷ, tử, mộ, tuyệt, chủ khắc phu, ví như nữ mệnh sinh ngày Bính Tuất, Canh Tý, tra thiên Ngũ hành Vượng, Tưóng, Hưu, Tù, Tử và 12 cung nói ở trên, Bính gặp Tuất ở trạng thái đúng vào chỗ cuối của đời người mà quy mộ, mà Canh gặp Tý lại ở vào trạng thái đúng vào lúc vạn vật chết, vì vậy đều có thể tìm chồng. Nhưng cũng có người cho rằng, nữ mệnh sinh ngày Tân Mão, tuy phùng tuyệt địa, thì lại đẹp nhiều xấu ít, như vậy khó lòng mà nói khái quát được.

Hơn nữa, nữ mệnh, năm sinh ngày sinh cùng một ngôi thì khắc phu. Năm sinh ngày sinh đái lục Giáp, gọi là đái Giáp, chủ khắc phu, ngày và tháng cùng đái Giáp cũng vậy. Lấy ví dụ nói, nếu nữ mệnh sinh vào năm Giáp Ngọ lại gặp ngày sinh cũng là Giáp Ngọ, thế thì không thể không khắc phu. Dĩ nhiên, đây đều là cách nói không có căn cứ, không đứng vững được, không cần tin.

Điều thú vị là, trong sách đoán mệnh còn có nhiêu ca quyết đoán phụ nữ mang thai, sinh con trai hoặc sinh con gái trong tam mệnh thông hội ghi.

Bảy bảy bốn chín hỏi cô ngày nào có

Trừ năm sinh của mẹ, lẻ là nam chẵn là nữ

Chẵn là nam không bình thường

Thọ mệnh chẳng lâu dài.

Căn cứ bài ca quyết này, lấy 49 làm cơ số, nếu tuổi mẹ là 31 (theo tuổi mụ), tháng mang thai theo âm lịch là tháng giêng, thế thì lúc tính 49+1 (tháng giêng) bằng 50-31 bằng 19, 19 thuộc số lẻ, cho nên con trai. Nếu tính ra số lẻ sinh con trai, số chẵn sinh con gái, nhưng kết quả sinh ra, số lẻ sinh con gái, số chẵn sinh con trai, như vậy trái ngược, thọ mệnh không dài mà chết yểu. Nhưng có điều làm người ta nghi hoặc không hiểu được là, có sách lại đem tuổi mẹ cộng với 19 thế thì ngược hẳn với cách tính mang thai của tam mệnh thông hội.

Nguồn: Quang Tuệ

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Cách xem mệnh nữ theo tứ trụ

Chùa Bồ Đề - Hà Nội

Chùa Bồ Đề tên chữ là Thiên Sơn tự nằm bên bờ tả ngạn sông Hồng. Chùa xưa được kiến tạo vào cuối đời nhà Trần trên gò đất cao nên gọi là Núi Trời
Chùa Bồ Đề - Hà Nội

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Địa Điểm: Chùa Bồ Đề nằm ở phố Phú Viên, phường Bồ Đề, quận Long Biên, Hà Nội (trước thuộc huyện Gia Lâm, Hà Nội). Từ trung tâm Hà Nội chỉ cần đi qua cầu Chương Dương rẽ xuống một đoạn 500m là tới chùa..

Ngày lễ chính:
Ngày 24, 25 tháng Giêng Âm lịch: ĐẠI LỄ HÚY NHẬT ĐẠI ĐỨC HÒA THƯỢNG
Ngày mùng 8 &9 tháng 4 Âm lịch: ĐẠI LỄ PHẬT ĐẢN
Ngày mùng 5 tháng 7 Âm lịch: LỄ VU LAN
Ngày mùng 1 & 2 tháng 10 Âm lịch: ĐẠI LỄ HÚY NHẬT CỦA CHƯ VỊ TỔ SƯ

Chùa Bồ Đề tên chữ là Thiên Sơn tự nằm bên bờ tả ngạn sông Hồng. Chùa xưa được kiến tạo vào cuối đời nhà Trần (khoảng 1427) trên gò đất cao nên gọi là Núi Trời, nhờ vậy có tên chữ là Thiên Sơn. Nơi chùa chính thờ Phật pháp, vương triều nhà Trần, tam toà thánh Mẫu. Đây là một ngôi chùa nữ và cũng là mái ấm tình thương đùm bọc, cưu mang trẻ mồ côi.

Lịch sử: Chùa Bồ Đề được xây trên đất dinh Bồ Đề của Lê Lợi khi vua bao vây thành Đông Quan năm 1472. Các tài liệu lịch sử còn ghi lại là: “Vua làm lầu nhiều tầng ở dinh Bồ Đề trên bờ sông Lô, cao bằng tháp Báo Thiên, hàng ngày ngự trên lầu quan sát vào trong thành xem giặc làm gì”. Dinh được gọi tên là dinh Bồ Đề vì lúc ấy trong khuôn viên có hai cây bồ đề to. Tấm bia cổ dựng năm Hoằng Định thứ 15 (1614) đời Lê Kính Tông có chép lại việc dựng lại chùa và ghi rõ “Đại công đức Bồ Đề” của vua Lê Thái Tổ.

Năm Giáp Tuất đời Tự Đức 27 (1874), đại sư Thích Nguyên Biểu, tự hiệu Nhất Thiết đại sư (1835 – 1906) đến trụ trì và ngài đã trùng tu, tôn tạo trên nền chùa cũ gồm thượng điện rộng 5 gian, cho thỉnh thêm tượng Phật mới, chùa Hộ, nhà Thiêu hương, nhà Pháp bảo và cửa Tam quan.Trong chùa còn có khắc án văn Hoa Nghiêm kinh và Pháp Hoa kinh. Công đức Đại sư rất to lớn trong việc xiển dương đạo pháp.

Đầu thế kỉ XX, chùa Bồ Đề trở thành trung tâm đào tạo tăng ni của thành phố Hà Nội, trực thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam do Hoà thượng Thích Trí Hải đảm trách. Năm 1946, Pháp trở lại gây chiến, trung tâm đã dời đi nơi khác. Năm 1951, thành phố bị lũ lụt lớn, chùa bị sạt lở, chỉ còn lại toà thượng điện. Năm 1971, chùa một lần nữa được trùng tu như kê kích lại toàn bộ thượng điện và xây dựng lại hậu cung phía sau, nâng cao nền chùa. Năm 1986, chùa được trùng tu nhà Tổ, hậu liêu, nhà khách, nhà Tăng, nhà bếp cũng như khu vực nhà ở của hơn 50 cô nhi đang được nuôi dạy tại chùa. Năm 1999, chùa tiếp tục xây lầu bát giác và tôn trí tượng Bồ Tát Quan Thế Âm cao 3,2m.

tượng bồ tát
Tượng Bồ Tát Quan Thế Âm

Hiện nay, chùa là mái ấm tình thương dành cho các em bé mồ côi, cơ nhỡ, đồng thời cũng là điểm tham quan thu hút nhiều du khách trong và ngoài nước.

Tới Chùa Bồ Đề ta không chỉ cảm nhận được cái không khí linh thiêng của xứ phật mà còn cảm nhận được cái ấm áp của tình thương và lòng người. Hãy 1 lần ghé thăm ngôi chùa này… Để cảm nhận một không gian thanh bình giữa cuộc sống tấp nập nơi phồn hoa đô thị… Ở nơi đó, các bạn sẽ gặp những tấm lòng vàng, những tấm lòng vẫn ngày đêm trăn trở, mang đến cho các em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn này 1 cuộc sống tràn ngập yêu thương….. Hãy đến và chia sẻ tình yêu thương của mình, để thấy cuộc sống này thật ý nghĩa!


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Chùa Bồ Đề - Hà Nội

Làm thế nào để suy đoán cát hung cho các tòa nhà theo Bát vận? –

Khi suy đoán cát hung cho những căn nhà khác nhau, cần phải dùng tới cách “âm dương thuận nghịch”. Nguyên lý chủ yếu của cách tính này là dựa theo âm dương tọa hướng của toàn bộ vật kiến trúc mà quyết định trình tự thuận nghịch của căn nhà và đơn v

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

ị. Dưới đây, chúng tôi đưa ra ví dụ thực tế để giới thiệu cách tính cát hung cho nhà chung cư.

Giả thiết ta có một toà nhà cao 5 tầng, toạ hướng của nó là toạ Mùi hướng Sửu, Mùi sơn là âm, âm dùng nghịch suy. Hiện tại đang là Bát vận, cho nên tầng thấp nhất của toà nhà đó chính là Bát, tầng thứ hai là nghịch suy của Bát tức là Thất, tầng thứ ba là Lục, tầng thứ tư là Ngũ, tầng thứ năm là Tứ. Chúng ta phát hiện thấy phong thuỷ của tầng một là tốt nhất, bởi vì vận thế là Bát vận, nó thuận theo Bát vận nên tốt. Còn phong thuỷ của bốn tầng còn lại nằm vào thế thoái vận, không phải là sự lựa chọn tốt.

p26

Nếu tọa hưóng của toà nhà này là toạ Tý hướng Ngọ, Tý sơn là dương, dương dùng thuận suy. Vậy tầng 1 là Bát, tầng 2 là thuận suy của Bát tức là cửu, tầng 3 là Nhất, tầng 4 là Nhị, tầng 5 là Tam. Khi đó chúng ta sẽ thấy phong thuỷ từ tầng 1 đến tầng 3 là tốt, bởi vì tầng 1 là đương thời đắc lệnh, tầng 2 và tầng 3 là Cửu và Nhất là vị lai tinh (sao tương lai). Nếu ta định dùng một tầng làm nơi vui chơi giải trí như câu lạc bộ, quán bar thì tốt nhất nên chọn tầng 2. Vì tầng 2 là Cửu, Cửu là Đào hoa. Nơi vui chơi giải trí vượng Đào hoa ắt sẽ vượng tài lộc.

Ví dụ trên chỉ là toà nhà 5 tầng, nhưng hiện nay đất chật người đông, nhà càng ngày càng cao. Giả thiết ta phải tính toán cát hung cho mỗi tầng của một khu chung cư cao 28 tầng thì làm thế nào? Nếu tính toán theo cách thuận suy : Thế vận là Bát, tầng dưới cùng là Bát, tiếp theo là Cửu, Nhất, Nhị, Tam,…, Cửu, Nhất, Nhị, Tam …cứ tiếp tục như vậy. Ta cũng có thể tìm con số đại diện của từng tầng. Nếu dùng nghịch suy, tầng 1 là Bát, tầng 2 là Thất, tầng 3 là Lục, Ngũ, Tứ, Tam, Nhị, Nhất, Cửu,…

Chúng ta cần tính toán Phi Tinh của từng năm rồi tìm vận trình mỗi năm của từng tầng và từng đơn vị. Trong quá trình tính toán, âm dương thuộc tính của toạ sơn rất quan trọng vì nó quyết định cách tính tầng của chúng ta là thuận hay là nghịch. Trên la bàn đánh dấu rất rõ âm dương của 24 sơn: Màu đen là âm; màu đỏ là dương. Nhìn vào là chúng ta biết ngay.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Làm thế nào để suy đoán cát hung cho các tòa nhà theo Bát vận? –

Mơ thấy tim: Tình yêu và quan hệ cả nhân thuận lợi –

Tim là cơ quan thúc đẩy sự tuần hoàn máu trong cơ thể con người và động vật bậc cao. Quả tim con người nằm trong lồng ngực, hơi lệch về bên trái, có hình nón, kích cỡ tương đương với nắm tay con người. Bên trong quả tim có bốn ngăn, sự giãn nở hay co
Mơ thấy tim: Tình yêu và quan hệ cả nhân thuận lợi –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Mơ thấy tim: Tình yêu và quan hệ cả nhân thuận lợi –

Quẻ Quan Thế Âm Đường Tăng Thủ Kinh

Quẻ Quan Thế Âm Đường Tăng Thủ Kinh có bắt nguồn như sau Năm Trinh Quán thứ ba đời vua Đường Thái Tông), Đường Tăng từ Lương Châu qua cửa ải Ngọc Môn
Quẻ Quan Thế Âm Đường Tăng Thủ Kinh

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Đây là điển cố thứ Ba lăm trong quẻ Quan Thế Âm, mang tên Đường Tăng Thủ Kinh (còn gọi là Đường Tăng Lấy Kinh). Quẻ Quan Thế Âm Đường Tăng Thủ Kinh có bắt nguồn như sau:

Năm Trinh Quán thứ ba đời vua Đường Thái Tông (tức năm 629, cũng có thuyết cho là năm Trinh Quán thứ nhất), Đường Tăng từ Lương Châu qua cửa ải Ngọc Môn đi sang phương Tây, một mình trải qua rất nhiều gian nan nguy hiểm, đi qua các vùng Tần Lương và Cao Xương, đến khu vực phía bắc của Thiên Trúc, suốt dọc đường lễ Phật và thăm viếng các di tích của thánh nhân xưa. Sau đó đi xuống phía nam, đến nước Ma Yết Đài. Ban đầu bái Giới Hiền ở chùa Na Lan Đà (Nalanda) làm thầy, sau lại đi học hỏi khắp các nơi ở Thiên Trúc, lại cùng luận bàn với các học glả ở địa phương, tiếng tăm vang khắp Ngũ Trúc

Sau đó, Đường Tăng học tại chùa Nalanda, làm học trò của Giới Hiền, học “Du Già sư địa luận”, lại học các luận khác như “Hiển Dương luận”, “Bà Sa luận”, “Câu Xá luận”, “Thuận Chính lý luận”, “Nhân Minh luận”, “Thanh Minh luận”, tìm tòi nghiên cứu sâu về các bộ phái của Phật giáo trong suốt năm năm. Sau đó, đi khắp đất nước Ấn Độ, thăm hỏi khắp các bậc danh hiền, xin được chỉ giáo, tìm hiểu kinh Phật viết bằng tiếng Phạn. Ổng đi khắp nơi học hỏi như thế trong suốt mười hal năm, lại trở về chùa Nalanda, theo lệnh của sư Giới Hiền, giảng dạy “Nhiếp Đại Thừa luận”, “Duy Thức Quyết Trạch luận”. Lúc này có một vị kinh sư tên là Tử Quang, rất giỏi giảng dạy về hai luận là “Trung luận” và “Bách luận”, vị này bài xích học thuyết của Đường Tăng. Đường Tăng bèn kết hợp với hai tông phái là Trung Quán và Du Già, làm thành ba trăm bài tụng có tên là “Hội tông luận” để phản bác lại đối phương; sau đó lại làm ra một nghìn sáu trăm bài tụng gọi là “Phá Ác Kiến luận” để phản bác lại “Phá Đại Thừa luận” của luận sư dòng Tiểu Thừa nước ô Đồ, vì thế mà tiếng tăm nối khắp Ngũ Trúc.

Vua Giới Nhật và các Quốc vương khác nghe danh tiếng của Đường Tăng, cũng tranh nhau diện kiến. Năm đó Đường Tăng bốn mươi mốt tuối, có ý muốn quay về đông, trở về đất Trung Quốc. Vua Giới Nhật bèn tổ chức Đại Pháp hội cho Đường Tăng tại đô thành Khúc Nhữ (Kannauj), quốc vương của mười tám nước trên khắp năm vùng của Ấn Độ đều có mặt, hòa thượng của Đại Thừa, Tiểu Thừa và hơn bảy nghìn người của đạo Bà La Môn cũng đến tham dự, đây chính là Đại hội biện luận ở thành Khúc Nhữ nối tiếng trong lịch sử Phật giáo. Đường Tăng được mờl làm Luận chủ (người xướng đạo chủ yếu của mỗi học thuyết), tuyên dương Phật giáo Đại Thừa, đưa ra bài tụng “Chân duy thức lượng”, treo ngoài cống của hội trường, treo suốt tám ngày mà cuối cùng không có ai đưa ra lập luận đế phản bác được quan điếm của ông. Vua Giới Nhật lại càng hậu đãi ông, Quốc vương của mười tám nước sau khi tham dự đại hội này cũng trở thành đệ tử của Phật giáo Đại Thừa.

Sau khi đại hội kết thúc, Đường Tăng nhất quyết từ biệt trở về, Vua Giới Nhật muốn giữ lại không được, bèn triệu tập mười tám Quốc vương, tố chức đại hội Vô Già kéo dài bảy mươi lăm ngày tại đô thành Bát La Na Già, mở tiệc tiễn đưa rất long trọng.

Năm Trinh Quán thứ 19 (năm 645), Đường Tăng chính thức trở về Đông thố. Sau khi về đến Trường An, Đường Tăng tổ chức dịch kinh Phật, tống cộng dịch được bảy mươi lăm bộ kinh, luận, gồm tất cả một nghìn ba trăm ba mươi lăm quyển. Các bộ kinh Phật được dịch, phần lớn dùng cách dịch trực tiếp, bút pháp nghiêm cẩn, được người đời gọi là “tân dịch”. Những bộ kinh Phật này không chỉ đã làm phong phú cho văn hóa của Trung Quốc cố đại, mà còn bảo tồn được những bộ điển tịch quý giá của Phật giáo Ấn Độ thời cố.

Quẻ Quan Thế Âm Đường Tăng Thủ Kinh là quẻ thẻ Trung Bình trong quẻ thẻ quan âm !


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Quẻ Quan Thế Âm Đường Tăng Thủ Kinh

Các lễ hội ngày 5 tháng 3 Âm Lịch - Hội Chùa Láng

Hội Chùa Láng tổ chức tại phường Láng Thượng, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội, hội chùa Thầy tổ chức tạixã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây cũ (nay thuộc Hà Nội).

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Các lễ hội ngày 5 tháng 3 Âm Lịch - Hội Chùa Láng

Các lễ hội ngày 5 tháng 3 Âm Lịch - Hội Chùa Láng

1 Hội Chùa Láng

Thời gian: tổ chức vào ngày 5 tới ngày 7 tháng 3 âm lịch (chính hội là ngày 7).

Địa điểm: phường Láng Thượng, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.

Đối tượng suy tôn: Nhằm suy tôn Thiền Sư Từ Đạo Hạnh.

Nội dung: xưa kia hội chùa Láng là một hội lớn và hấp dẫn nhất phía Tây thành Thăng Long. Trong phần lễ, ngày đầu mở hội là lễ rước bát hương Thánh lên chùa Nền, thăm lại nơi sinh ra Thánh. Ngày thứ 2 là lễ rước bát Hương Thánh tới chùa Tam Huyền thăm cha.

Đến ngày thứ 3 là lễ rước lớn và diễn tích lại cuôc đấu Thần (đấu với sư Đại Điên - chùa Duệ) tới chùa Hoa Lăng (cầu Giấy) thăm mẹ, rồi hoàn cung. Phần hội có trò đánh đu, đấu vật, đánh cờ, hát tuồng, hát chèo, hát thờ.

2. Hội Chùa Thầy

Thời gian: tổ chức từ ngày mùng 5 tới ngày mùng 7 tháng 3 âm lịch. (ngày 7 tháng 3 âm lịch là chính hội).

Địa điểm: xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây cũ (nay thuộc Hà Nội).

Đối tượng suy tôn: nhằm suy tôn pháp sư Từ Đạo Hạnh, ông tổ nghệ thuật múa rối nước Việt Nam.

Nội dung: Lễ hội mở đầu bằng lễ cúng Phật và chạy đàn - một diễn xướng có tính chất tôn giáo, với sự phối hợp của các nhạc cụ dân tộc. Trong các ngày diễn ra lễ còn có rất nhiều trò chơi, đặc biệt du khách còn được xem nghệ thuật múa rối nước Việt Nam đặc sắc. Có nhiều tích diễn trò chơi rối nước như: Thạch sanh, Tấm Cám hay cac sinh hoạt dân dã như đi cày, chăn vịt, đấu vật.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Các lễ hội ngày 5 tháng 3 Âm Lịch - Hội Chùa Láng

Infographic: Đón may năm mới cho 12 con giáp

Dưới đây chúng tôi xin tiết lộ một vài cách đón may mắn vô cùng đơn giản cho các chàng trai cô gái 12 con giáp.
Infographic: Đón may năm mới cho 12 con giáp

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Chỉ còn vài ngày nữa mùa xuân năm mới sẽ tới từng căn nhà của 12 con giáp. Lichngaytot cũng mong mỏi ai ai cũng vạn sự như ý tỉ sự như mơ trong năm Bính Thân này.


Infographic Don may nam moi cho 12 con giap hinh anh goc
 

Infographic Don may nam moi cho 12 con giap hinh anh goc 2
 
 
Infographic Don may nam moi cho 12 con giap hinh anh goc 3
 
Infographic Don may nam moi cho 12 con giap hinh anh goc 4
 
Infographic Don may nam moi cho 12 con giap hinh anh goc 5
 

Infographic Don may nam moi cho 12 con giap hinh anh goc 6
 

Infographic Don may nam moi cho 12 con giap hinh anh goc 7
 

Infographic Don may nam moi cho 12 con giap hinh anh goc 8
 

Infographic Don may nam moi cho 12 con giap hinh anh goc 9
 

Infographic Don may nam moi cho 12 con giap hinh anh goc 10
 

Infographic Don may nam moi cho 12 con giap hinh anh goc 11
 

Infographic Don may nam moi cho 12 con giap hinh anh goc 12
 

Infographic Don may nam moi cho 12 con giap hinh anh goc 13
 

Infographic Don may nam moi cho 12 con giap hinh anh goc 14
 
► Xem Lịch vạn niên, lịch vạn sự chuẩn nhất tại Lichngaytot.com

Kiếm Phong
Xem Clip Nào ai biết trước đời người


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Infographic: Đón may năm mới cho 12 con giáp

Cấm kị dân gian trong tiết Hạ Chí

Hạ Chí là một trong 24 tiết khí. Có một số cấm kị dân gian trong tiết Hạ Chí mà chúng ta nên cẩn thận để tránh rủi ro, kém may.
Cấm kị dân gian trong tiết Hạ Chí

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Hạ Chí là một trong 24 tiết khí, kéo dài từ 21 (hoặc 22) tháng 6 tới ngày 5 (hoặc 6) tháng 7. Có một số cấm kị dân gian trong tiết Hạ Chí mà chúng ta nên cẩn thận để tránh rủi ro, kém may.

  Hạ Chí là tiết khí mà âm khí thủy sinh, dương khí suy yếu, âm dương biến hóa nên có nhiều cấm kị dân gian trong tiết Hạ Chí để cầu bình an, mong đón cát tránh hung.   1. Không tế thần tế trời   Ở thời cổ đại, Hạ Chí được tổ chức long trọng không thua gì tiết Đoan Ngọ, chủ yếu là tế thần, tế trời để mong mưa thuận gió hòa, bớt thiên tai, quốc thái dân an. Trong dân gian, tiết Hạ Chí là thời điểm để hiến tế thần linh, nơi khô hạn thì cầu mưa, nơi mưa nhiều thì cầu không úng ngập. Nếu không tổ chức tế lễ thì chư thần quở phạt, thời tiết thất thường, nhiều thiên tai.   2. Cắt tóc
Cam ki dan gian trong tiet Ha Chi hinh anh
 
Đây là điều tối kị trong tiết Hạ Chí vì người xưa cho rằng, cắt tóc vào dịp này sẽ phá vận cho âm dương thay đổi, con người sẽ bị ảnh hưởng vận khí. Hạ Chí là thời điểm âm thịnh dương suy, trời đất chuyển giao, bất cứ sự thay đổi nào của con người cũng sẽ tạo thành điềm gở.

Tuyệt chiêu vượng vận cho 12 con giáp trong tiết Hạ Chí Đôi điều cần biết về tiết Hạ Chí

3. Dông tố
  Trong dân gian, sợ nhất là Hạ Chí có dông tố. Vì thời tiết diễn biến thất thường thì sẽ dẫn tới mất mùa, thất thu, ảnh hưởng tới mùa vụ. Điều này được cho là vì tế thần, tế trời mắc sai lầm, không đúng nghi lễ. Nên nếu có dông bão thì nhất định phải tổ chức lễ tế lại để tạ lỗi.

4. Không ăn mì làm từ lúa mạch
Cam ki dan gian trong tiet Ha Chi hinh anh
 
Tập tục này xuất phát từ Trung Quốc và tồn tại cho tới ngày nay. Ít nhất một lần trong ngày Hạ Chí phải ăn mì làm từ lúa mạch, với ý nghĩa may mắn, tốt lành, Không những là món ăn truyền  thống mà mì lúa mạch còn rất tốt cho sức khỏe, có tác dụng lợi niệu thanh nhiệt. Nếu không ăn, chắc chắn nửa năm tới sẽ gặp toàn xui xẻo.
 
Tiết Mang Chủng: 12 con giáp nên làm gì để tăng vận khí? Món ăn dưỡng sinh trong 24 tiết khí (phần 5) Những lưu ý phong thủy không thể không biết trong tiết Lập Hạ
Tâm Lan

 

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Cấm kị dân gian trong tiết Hạ Chí

Dần Thân Riêu Hỉ Cơ Nguyệt lăng loàn

Nguyệt cực âm nên dù là đế tinh vẫn yếu đuối, Cơ bề ngoài bảo thủ nhưng trong tâm tư biến đổi liền liền, Dần Thân lại là mã địa tượng xung động. Hai sao đồng cung ở đây không vững vàng, lại gặp Riêu (quyến rũ) Hỉ (vui tươi) thành cách đào hoa thì sao khỏi sa ngã. Nên đây là cách dâm đãng. Gặp các cách đào hoa khác cũng luận tương tự.
Dần Thân Riêu Hỉ Cơ Nguyệt lăng loàn

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Nhưng chú ý: Nếu Cơ Nguyệt Dần Thân có thêm Không vong trấn giữ (Tuần Triệt hoặc Thiên Không cùng cung) thì ứng với luật "cùng tắc biến" của dịch, sắc lại biến thành không; nên càng có nhiều cách đào hoa càng có khuynh hướng tìm giải thoát trong cảnh tu hành.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Dần Thân Riêu Hỉ Cơ Nguyệt lăng loàn

10 dấu hiệu chứng tỏ bạn hạnh phúc

10 dấu hiệu chứng tỏ bạn hạnh phúc. Bạn có nghĩ là mình đang có một cuộc sống hạnh phúc? Hãy tham khảo bài viết sau để kiểm chứng nhé

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


1. Vận động mỗi ngày

Theo nghiên cứu gần đây tại trường Đại học Bắc Texas( Mỹ), những người hạnh phúc thường tham gia vào các hoạt động lành
mạnh. Ngoài ra, Hiệp hội tâm lý học Mỹ cũng phát hiện ra rằng tập thể dục làm giảm đáng kể bệnh trầm cảm ở tất cả các nhóm tuổi và giới tính.

2. Có những người bạn vui vẻ

Có thêm một người bạn vui vẻ sẽ giúp bạn tăng thêm 9% khả năng được hạnh phúc.

3. Không có nhưng ý tưởng điên rồ

Những người hạnh phúc không cần phải lặn sâu 9m trong một khe núi hay sử dụng cocaine để tạo nên sức bật hay sự đột phá. Họ bằng lòng với thực tại, và hiểu rằng sự liều lĩnh chỉ làm mọi chuyện trở nên tồi tệ hơn mà thôi.

4. Ngủ đủ giấc

Chế ngự cảm xúc không vui và giảm căng thẳng khi ngủ sẽ giúp bạn có một giấc ngủ sâu và ngon hơn. Vì vậy, nếu bạn cảm thấy thực sự được nghỉ ngơi trong lúc ngủ thì bạn đang là người hạnh phúc.

5. Tin tưởng vào bản thân

Những người thường xuyên tự ti và nghi ngờ ý kiến riêng của mình rất dễ gặp vấn đề về tâm lý như thay đổi tâm trạng, lòng tự trọng thấp, lo lắng và trầm cảm.

6. Sống cho hiện tại

Nếu đầu óc cứ mãi trôi dạt nghỉ về việc gì đó, bạn sẽ ít hạnh phúc hơn so với những người tập trung hoàn toàn vào công việc hiện tại.

7. Thể hiện lòng biết ơn

Hãy trân trọng những gì mình đang có, chúng đề là những món quà giá trị mà cuộc sống mang lại cho bạn. Thay vì tập trung vào những thữ bạn không có, hãy nhận ra và làm cho những món quà ấy trở nên giá trị nhất có thể.

Lòng biết ơn sẽ giúp bạn có thêm nhiều niềm vui đơn giản trong cuộc sống, và những người hạnh phúc biết ơn cuộc sống của họ nhiều hơn.

8. Phục hồi sau tổn thương

Mãn nguyện ở một mức độ nào đó chính là bến đổ của cảm xúc. Người hạnh phúc đôi khi có thể thoát khỏi những cung bậc tình cảm như hạnh phúc hay thất vọng một cách nhẹ nhàng. Và họ cũng có thể quay trở lại nó một cách dễ dàng và tự nhiên thay vì không ngừng bị chao đảo bởi sự tuyệt vọng và hay hưng phấn.

9. Hạn chế xem ti vi

Bạn muốn hạnh phúc hơn? Hãy tắt tivi. Nghiên cứu cho thấy những người dành phần lớn thời gian để xem tivi là những người không được hạnh phúc lâu dài.

10. Luôn luôn mỉm cười

Người hạnh phúc mỉm cười từ bên trong tâm hồn của họ, chứ không chỉ là nụ cười được biểu hiện trên khóe môi.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: 10 dấu hiệu chứng tỏ bạn hạnh phúc

Tuổi Tuất thờ Phật nào tốt nhất

Tuổi Tuất thờ Phật nào là phù hợp nhất? Cùng theo dõi bài viết dưới đây để lựa chọn vật phẩm công hiệu nhất cho mình nhé.
Tuổi Tuất thờ Phật nào tốt nhất

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Năm 2017 tuổi Tuất hại Thái Tuế, có Thái Tuế phủ đầu nên nhiều hung tai, nên thỉnh bản mệnh Phật về đeo để bảo hộ bình an, hóa sát, tăng cường may mắn và thịnh vượng. Tuổi Tuất thờ Phật nào là phù hợp nhất? Cùng theo dõi bài viết dưới đây để lựa chọn vật phẩm công hiệu nhất cho mình nhé.  

1. Bản mệnh Phật của người tuổi Tuất


ban menh phat tuoi tuat
 
Vị Phật nào độ mệnh cho người tuổi Tuất? Đó là Phật A Di Đà, là thủ hộ thần của người cầm tinh Tuất. Tuổi Tuất có đặc trưng là thông minh, trung thành, hiếu học, trách nhiệm nên được cấp trên coi trọng, người xung quanh mến yêu. Nhưng vì cá tính cố chấp, dễ nổi giận nên người khác khó lòng thân cận.   Tuổi Tuất thờ Phật nào tốt nhất? Hãy thỉnh Phật A Di Đà, Ngài sẽ điều hòa tính cách, mang tới sự hòa hợp cho bản mệnh. Bản mệnh Phật A Di Đà ngụ ý tiền đồ vô lượng, không chỉ tăng cường sức hấp dẫn mà còn rất có lợi cho sự nghiệp của người tuổi Tuất.   Những người sinh năm1946, 1958, 1970, 1982, 1994, 2006, 2018 đều cầm tinh Tuất. Mỗi năm sinh đều có khó khăn riêng, sinh năm 1946 lưu ý thân thể, phòng ngừa ốm vặt; sinh năm 1958 cần rèn luyện nhiều, tăng cường sức đề kháng, miễn dịch; sinh năm 1970 cần duy trì trạng thái tinh thần tốt, tỉnh táo, sáng suốt.   Sinh năm 1982 cần chú ý sự nghiệp và bồi dưỡng tình cảm gia đình; sinh năm 1994 cần vững vàng để trưởng thành, vượt qua sóng gió; sinh năm 2006 cần tự mình bồi dưỡng khả năng gánh vác, không thể mãi dựa dẫm vào gia đình.   Người tuổi Tuất nên đeo bản mệnh Phật A Di Đà để bảo hộ bình an, chống thương tổn và phù hộ độ trì may mắn, đỡ đần vận trình. 
 Xem thêm bài viết 7 lưu ý phải nhớ khi muốn thỉnh bản mệnh Phật bảo hộ bình an
 

2. Tác dụng của bản mệnh Phật năm 2017

 

Năm 2017 tuổi Tuất gặp nhiều áp lực trong công việc, tuy cố gắng làm việc, chăm chỉ cần mẫn nhưng hiệu quả lại không tốt. Áp lực càng lớn thì càng nên thả lỏng, công việc dù quan trọng nhưng không thể hoàn thành trong một sớm một chiều nên hãy bình tĩnh, có như vậy đầu óc mới thông thoáng, ý tưởng sẽ tràn về, khai thông bế tắc.    Năm nay cảm tình thông thuận, nữ mệnh tuổi Tuất có thể sẽ kết hôn. Người đã kết hôn lưu ý vợ chồng có chút tranh cãi nên không khí gia đình không thuận hòa lắm, cần phải trò chuyện để thấu hiểu và nhường nhịn nhau nhiều hơn nếu không tình huống sẽ càng ngày càng gay go.    Người này năm nay vận trình sức khỏe không mấy lạc quan do ảnh hưởng của Thái Tuế, cảnh giác các bệnh da liễu. Ngoài tập trung làm việc, phấn đấu vì sự nghiệp thì nên tăng cường rèn luyện thể lực, điều dưỡng thân thể.   Năm 2017 người tuổi Tuất do ảnh hưởng của hại Thái Tuế nên làm việc cực khổ mà không được hồi đáp, không thu về tài lộc đáng kể. Bạn không nên cùng hợp tác với người khác, sẽ chịu thua thiệt, muốn đầu tư thì càng phải thận trọng hơn nữa.   Khi đã biết người tuổi Tuất thờ Phật nào tốt rồi, hãy thỉnh bản mệnh Phật về mang bên người để được gia trì, độ mệnh, giúp đỡ vận trình thoải mái hơn, giảm bớt tác hại của hại Thái Tuế.
Xem thêm bài viết Thỉnh bản mệnh Phật, đeo phúc bên người

3. Những lưu ý khi đeo bản mệnh Phật


ban menh phat tuoi tuat 1
 
Khi đeo bản mệnh Phật của người tuổi Tuất Phật A Di Đà nên chú ý hai điểm chính như sau: thứ nhất cần khai quang điểm nhãn thì bản mệnh Phật mới phát huy tác dụng; thứ hai Phật A Di Đà công lực thâm hậu, pháp lực vô biên, đã thỉnh về thì không thể tùy tiện gỡ xuống, lại càng không tùy ý để cho người khác chạm đến, bằng không linh khí tiêu tán, vận may bị người khác lấy đi mất.   Mang bản mệnh Phật A Di Đà bên người có thể giảm bớt áp lực, tâm tính được Phật gia trì, dần trở nên hài hòa hơn.   Người tuổi Tuất có tinh thần trọng nghĩa, một khi quyết định làm chuyện gì, nhất định sẽ toàn lực ứng phó. Dựa vào sự hiếu học của bản thân đạt được thành tựu là điều chắc chắn. Nhưng ai cũng có lúc gặp khó khăn bất ngờ, mang thủ hộ thần bản mệnh Phật bên người có thể giúp tuổi Tuất bình ổn tâm tính, bình tĩnh suy nghĩa và có lựa chọn đúng đắn dành cho mình.    Nhất là trong năm 2017 hại Thái Tuế, tuổi Tuất càng nên mang bản mệnh Phật A Di Đà để hóa giải hung tai.
  
Tuổi Tuất hợp với tuổi nào trong tình yêu hôn nhân? Tổng quan tử vi 12 tháng năm Đinh Dậu 2017 của người tuổi Tuất Xem tình duyên năm 2017 của người tuổi Tuất
Trần Hồng

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tuổi Tuất thờ Phật nào tốt nhất

Lá số tử vi Khổng Minh- Gia Cát Lượng

Có câu “mệnh vô chính diệu phi yểu tắc bần”, Gia Cát Lượng có Nhật Nguyệt cùng hợp chiếu mệnh nên cuộc đời từ trung vận thì tỏa sáng rực rỡ, tung hoành ngang dọc, tên tuổi lẫy lừng

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Theo truyện, năm 54 tuổi, Gia Cát Lượng biết mình sắp chết trong khi sự nghiệp vẫn dở dang, ấu chúa vẫn còn nhỏ tuổi chưa cáng đáng được sự nghiệp. Ông quyết định làm phép cầm sao giữ mạng để chống lại mệnh trời hòng sống thêm 1 giáp nữa. Trong khi ông lập đàn thất tinh cần phải 7 ngày yên tĩnh không ai quấy rầy. Nhưng đến ngày thứ 6, vì việc quân khẩn cấp, một tướng đã xộc vào nơi ông đang làm phép. Bởi thế việc cầm sao thất bại.

Tuy nhiên dưới góc nhìn của Tử vi học, cái căn bản nhất đối với người mệnh vô chính diệu là không thể thọ được. Các sách Tử vi lưu truyền từ xưa đều có câu “mệnh vô chính diệu phi yểu tắc bần”. Gia Cát Lượng dù có Nhật Nguyệt cùng hợp chiếu mệnh nên cuộc đời từ trung vận thì tỏa sáng rực rỡ, tung hoành ngang dọc, tên tuổi lẫy lừng. Tuy nhiên vẫn không tránh khỏi định mệnh cho người mệnh vô chính diệu là: Giàu thì chết sớm mà nghèo thì thọ hơn.

Tác giả Nguyễn Phúc Vĩnh Tùng viết: “Người ta cũng cho rằng, Gia Cát Lượng chết sớm là vì sát nghiệp của ông quá nặng. Ông đã dùng hỏa công đốt chết 10 vạn quân đằng giáp của Mạnh Hoạch trong cốc Hồ Lô. Rồi lại dùng hỏa công đốt chết 18 vạn quân của Tào Tháo trên sông Xích Bích. Nhưng nếu chúng ta xét điều này dưới cái nhìn của khoa Tử Vi thì dù sát nghiệp của ông nặng hay nhẹ thì tuổi thọ của ông ta cũng sẽ được bao nhiêu với cái số mệnh Vô chính diệu?”.

Ở một sách về Tử vi khác là cuốn Tử vi thực hành thì chỉ ra rằng năm 54 tuổi, Gia Cát Lượng gặp đại hạn ngộ Thái Tuế và một loạt sao xấu cho nên không thể qua được mà phải chết. Cuốn sách viết: “Số Gia Cát có Tả hữu đồng cung Thái dương ở mão, Thái âm ở Hợi gọi là Nhật Nguyệt tinh minh cách, nên số cực phú quý, tài năng lỗi lạc. Năm 54 tuổi, đại hạn ngộ Thái Tuế, Thiên Thương, Hóa kỵ, Đại, tiểu hao, Kình Đà nên chết”.

Gia Cát Lượng là người mệnh Mộc. Có sao mệnh chủ là Văn Các, đây là sao nói về khả năng sư phạm tài ba, cộng với sao điếu khách ở cung mệnh, có thể khẳng định ông là người có tài ăn nói, tài về diễn thuyết, tuy nhiên cung của ông là Kim, khắc với mệnh là Mộc nên không thể thọ lâu được. Chính vì Mộc với Hỏa và Thủy nên Gia Cát Lượng là người sử dụng hỏa công rất giỏi.

Tại cung quan của Gia Cát Lượng có sao Thái Âm miếu địa, lại có Thiên Cơ vượng địa xung chiếu cộng với các sao Quốc ấn thiên mã, điều này khẳng định Gia Cát Lượng là người có công danh cao và sớm thành danh. Dưới thời nhà Thục (221- 263), Gia Cát Lượng giữ chức quân sư, nhưng thực chất là thừa tướng, chỉ sau vua, nắm mọi quyền hành của nhà Thục Hán. Gia Cát Lượng còn là người có tài dùng binh, vì xung chiếu với cung quan lộc, ông có sao Quốc ấn, Tướng Quân, đấy là những sao thể hiện quyết đoán của những vị tướng.

Ở cung Nô Bộc của ông có sao Văn Xương, Thiên Hỷ, điều này cho thấy dưới quyền của Gia Cát Lượng có nhiều tướng lĩnh tài ba phò trợ cho ông gây dựng nghiệp lớn. Tuy nhiên, cung ở cung Nô Bộc lại có những sao xấu như Thiên Hình, Hóa Kỵ và Tuần nên ông cũng bị kẻ dưới trở cờ làm phản không tuân lệnh (với như Mã Tốc, Ngụy Diên).

Khổng Minh cực kỳ giỏi về thiên văn và các tướng số cũng như phong thủy, nên trong những trận đánh cụ thể, ông đã bài binh bố trận chặt chẽ để giành những thắng lợi huy hoàng (ví dụ trận Xích Bích, Tân Dã, Bái Vọng…). Khi đó, theo Lưu Bị buổi ban đầu, đất và quân không có nhiều, Gia Cát Lượng đã biết xoay chuyển tình thế, vào đất Tây Thục. Dựa vào vùng hiểm trở của đất ấy tạo ra thế chân vạc của thời Tam Quốc. Tuy nhiên, trong thuật dùng binh có những trận đánh vì đại cuộc, Gia Cát Lượng đã tiêu diệt rất nhiều sinh linh. Chính vì vậy mà tuổi thọ của Gia Cát Lượng không cao được. Là người hiểu thời thế, ông biết là vận mệnh của nhà Hán đã suy nhưng vẫn một lòng phò tá Lưu Bị dựng đại nghiệp, mặc dù biết thiên thời không đứng về phía mình.

Trong cuộc đời chinh chiến 27 năm, Gia Cát Lượng đã dùng tài trí của mình xoay đổi càn khôn, chuyển bại thành thắng, nhưng đối với vận mệnh của bản thân thì thường không xoay đổi được.

Trước khi mất, khi xem Thiên tướng, ông cũng biết được, vận mình đã hết nhưng vì muốn sống thêm 12 năm (1 giáp) nữa để phò tự nhà Hán thống nhất thiên hạ, nên Gia Cát Lượng đã đăng đàn, xin tuổi thọ, nhưng đúng vào thời khắc cuối cùng thì ngọn nến bản mệnh bị tắt do Ngụy Diên chạy vào trướng bị gió thổi vào, vì vậy mà ông không thể sống được nữa.

Tương truyền đây là lá số của Khổng Minh Gia Cát Lượng:

Còn đây là bài luận giải của cụ Thiên Lương:

Ở bài trước, việc chấm phá vài nét cơ bản trong lá số Tào Tháo như một ví dụ làm rõ hơn mối quan hệ tương hỗ giữa các yêu tố “cung” và “sao” trong môn Tử vi. Hai yếu tố này được ví như hai phần “thế” và “lực” khi lượng định, xét đoán từng cung, từng đại vận, từng nội dung của lá số. Tiếp theo, bàn về chữ “thời” và sự đắc thời hay lỡ thời, lá số của Khổng Minh (181 – 234 sau Công Nguyên) lại cho chúng ta một góc nhìn khác, để biết chữ “thời” quan trọng thế nào trong cuộc đời và sự nghiệp mỗi con người. Chả thế mà có câu: “Lạc nước hai xe đành bỏ phí, gặp thời một tốt cũng thành công.” Đến như quân sư Khổng Minh – một kỳ nhân có tài “hô phong hoán vũ, liệu việc như thần”, được người đời sau xếp đứng đầu trong “tam tuyệt” thời Tam Quốc, trên cả hai người là Tào Tháo và Quan Vũ, cũng không thể vượt qua được chữ “thời” – như một cửa ải mang tính định mệnh này.

“Mệnh tốt không bằng Thân tốt, Thân tốt không bằng Vận tốt”

Đây là câu phú mà ít ai đã quan tâm đến các môn Lý học, nhất là Tử vi lại không thuộc nằm lòng. Thật ra, không thể hạ thấp giá trị và tầm quan trọng của cung Mệnh, cung an Thân, nhưng yếu tố thời vận, tức là chữ “thời” trong lá số nhiều khi có ý nghĩa quyết định thành bại của một đời người, nhất là về hậu vận. Có những người không may có cung Mệnh, Thân bất lợi, nhưng vào tuổi trưởng thành gặp được vận tốt, thoả chí phát huy được năng lực của mình trong một bối cảnh thuận lợi, gọi là cách: “Khô mộc phùng xuân” (cây khô gặp được mùa xuân), với một đại vận 10 năm đắc cách cũng đã thoả nguyện lắm rồi. Trường hợp này ví như hành trình cuộc đời trên một chiếc xe yếu, công suất thấp nhưng được đi trên đường cao tốc, lại gặp mưa thuận gió hoà nên vẫn bình ổn đi đến đích. Ngược lại, Mệnh – Thân có tốt mà vận quá xấu, ví như chiếc xe to đẹp, mạnh mẽ nhưng phải đi trên con đường núi hiểm trở, nhiều mưa to bão lớn nên luôn gặp trở lực, đời nhiều thăng trầm, thành quả không có là bao; khi ấy ý chí và nỗ lực bản thân đóng vai trò quyết định. Tệ nhất là khi Mệnh, Thân đã xấu mà vận cũng xấu, khi ấy tương lại mịt mờ, suốt đời nghèo khó, gian nan vất vả, khổ nạn liên miên, sức người dù có cố làm cũng chỉ cải thiện được phần nào. Vấn đề của nhiều người là: Nếu có vận tốt, liệu có biết và tận dụng được các vận hội đắc cách ấy trong cuộc đời mình, hay là để lỡ thời rồi cuối đời phải nuối tiếc, ân hận!

Vậy thế nào là một “vận” tốt? Trong Tử Vi phân ra: Đại vận (10 năm), niên vận (1 năm), nguyệt vận (1 tháng), nhật vận (1 ngày), thời vận (1 canh giờ). Cách thức lấy từng loại vận trong một lá số và phương pháp xét đoán vấn đề vận hạn khá phức tạp và dài dòng nên xin hẹn quý vị ở một bài chi tiết khác riêng cho vấn đề này. Ở đây xin khái lược về đoán định Đại vận; các “vận” khác về cách thức xem xét cũng không khác nhau là mấy, nhưng theo nguyên tắc: “Dĩ trường chế đoản” – tức là các “vận” dài quyết định các “vận” ngắn. Đại vận tốt thì tiểu có tiểu vận có xấu cũng không quá đáng ngại; còn tiểu vận nếu rực rỡ nhưng trong một Đại vận đắc cách, như thế mới là thật sự thuận lợi và đắc thời. Khi xem xét một đại vận, cần đồng thời quan tâm đến cả 3 yếu tố:

Thiên thời: Xét cung cần xem xét trong tam hợp cung nào? Rồi xét tam hợp cung ấy so với tam hợp tuổi theo phép sinh – khắc để đưa ra nhận định

Địa lợi: Xét âm – dương, ngũ hành của cung cần xem xét so với bản mệnh của mình: Tốt nhất là được sinh nhập, nếu bình hoà thì tạm ổn, kém nhất là mệnh bị khắc nhập hay bị sinh xuất. Khi ấy thành quả (nếu có) thường không trọn vẹn, được việc này dễ hỏng việc khác, có khi sa sút, đổ vỡ hay phá sản.

Nhân hoà: Xét tương tác các bộ sao của cung xem “vận” có hợp với các sao ở cung Mệnh, nhất là chính tinh hay không? Chú ý các sao Tứ Hoá, lục sát tin, nhất là các sao hợp hành với bản mệnh. Khi ấy, vai trò của các sao hợp nhau thành bộ đóng vai trò quyết định.

Thông thường, khi quyết đoán một vận tốt cần chí ít 2 trong 3 yếu tố “thiên thời, địa lợi, nhân hoà” kể trên. Nếu may được cả 3 sẽ là vận tối hảo, nhưng trường hợp này rất hiếm. Còn lỡ khi gặp vận mất cả 3 yếu tố trên, nếu khinh xuất mà vọng động thì sẽ cầm chắc thất bại. Khi ấy, chỉ nên ẩn nhẫn chờ thời, “dĩ tĩnh chế động”, lấy tiêu chí bình ổn làm đầu để chờ cho qua vận xấu, rồi mới khởi sự làm ăn, đầu tư lớn hay các quyết định quan trọng về sự nghiệp, công danh.

Quân sư Khổng Minh – người lỡ thời với đại nghiệp “phục Hán”

Khổng Minh tên thật là Gia Cát Lượng, là người có tài kinh bang tế thế, một nhà chiến lược thiên tài, xuất sắc nhất trong thời Tam Quốc, đến mức người đời sau so với một thiên tài quân sự lớn khác là Tôn Tử. Từ năm 27 tuổi theo phò Lưu Bị đến khi về trời năm 54 tuổi, ông đã tận tâm tận lực giúp họ Lưu dựng lên đại nghiệp, cùng Tôn Quyền đại thắng trận Xích Bích, khiến cho Tào Tháo tơi tả, hồn xiêu phách lạc, rồi lấy Kinh Châu, định Tây Xuyên, bình Mạnh Hoạch, dưng nước ở đất Thục. Cùng với nước Nguỵ ở phía BẮc, Ngô ở phía Đông, Lưu Bị hoàn thành đế nghiệp, tạo thành thế chân vạc chia 3 thiên hạ. Thế nhưng, trời chẳng chiều người, biết vận nhà Hán đã tận mà ông vẫn cố cưỡng cầu chống đỡ đến cùng. Sáu lần tiến binh ra Kỳ Sơn dang dở, khiến cho ông lâm vào cảnh thể chất suy nhược, sức khoẻ hao tán. Đến lần thứ 6, tại gò Ngũ Thượng, biết mệnh mình sắp hết, ông đành: “Sai tả hữu vực lên chiếc xe nhỏ ra trại, đi xem hết dinh. Gió đông rát mặt, lạnh buốt đến xương, mới thở dài than rằng: Từ nay ta không được ra trận nữa. Trời xanh thăm thẳm, hận này biết bao giờ nguôi!” Ông hận ai? Với nhân thế thời ấy không đối thủ, ông hận cõi cao xanh  kia đã bắt mình chịu yểu mệnh, hận chữ “thời” đã không ở lại với mình, để ông có thể dốc sức hoàn thành tâm nguyện “phù Hán” một cách trọn vẹn.

Theo sách sử, Khổng Minh sinh vào giờ Tuất, ngày 10/04 năm Tân Dậu (năm 181 dương lịch). Lá số âm nam, mệnh Mộc, thế cục “Kim tức cục” khắc mệnh, cung mệnh ở Mùi (âm Thổ) cũng bị mệnh khắc, đủ thấy sự nghiệp cuộc đời ông mất phần “thiên thời” mà chủ yếu nhờ vào nỗ lực bản thân. Ông có mệnh Vô Chính Diệu, tuy đắc cách cả bộ Tả Phù – Hữu Bật nhưng không có phụ tinh hay sát tinh hợp hành mệnh làm nòng cốt, cũng không có thể “đắc tam Không” nên vướng vào trường hợp: “Phi tần tắc yểu, tam vô tự” (nếu không nghèo tất yểu mệnh hoặc không có con trai). Trường hợp yểu mệnh của ông chính là vì thế. Điểm đặc sắc chính là cách: “Nhật Nguyệt chiếu hư không”: Sao Thái Dương ở Mão, Thái Âm ở Hợi chiếu lên mệnh ở cung Mùi, khiến ông trờ thành một tuyệt thế kỳ nhân, thông minh quán chúng, biết người và tỏ cả việc trời, dám đông đến thiên cơ. Cung an Thân ở cung Mão, có Thái Dương (thuộc Hoả), Thiên Lương (thuộc Mộc) mới chính là cốt cách của ông, là thiên chức của người đảm nhận phận sự phò tá dựng nghiệp cho các bậc Vương Đế. Nhưng vì là mệnh Mộc phải sinh Hoả (Thái Dương) nên sự nghiệp và danh vọng càng rực sáng thì tinh khí và thể chất của ông càng sớm hao mòn, khô kiệt. Bộ sao Bệnh, Thiên Hư, Tuế Phá đóng ở cung an Thân càng làm rõ thêm điều này.

Với cung Quan Lộc ở Hợi, có sao Thái Âm (Thuỷ) với người mệnh Mộc là tuyệt hảo, nên chức Thừa tướng với ông là chuyện quá đỗi bình thường. Nhưng cung này có bộ Cô Thần – Quả Tú và Tang Môn, Phục Binh nênoong là người cô đơn trong các ý tưởng và mưu cơ siêu việt của mình, cũng hay bị xàm tấu, ganh ghét chống phá sau lưng. Sao Thiên Mã – tượng trưng cho tài năng, nghị lực được đóng chính cung Hợi (thuỷ Mã) mới thực là thần diệu: Nó không còn là “cùng đồ mã” (ngựa hết đường chạy) mà rất đắc dụng với người mệnh Mộc như ông. Cùng với sao Điếu Khách, Thanh Long ở mệnh, Hoá Quyền ở cung Tài (cung an Thân), sao Thiên Mã này giúp ông trở thành nhà hùng biện, thuyết khách với văn tài xuất chúng. Xét về vận, Đại vận 44 – 53 tuổi của ông ở cung Mão – hợp với mệnh Mộc nên ông được phần “địa lợi”, tiếc rằng mất phần “thiên thời” do tam hợp Hợi, Mão, Mùi (thuộc Mộc) bị phía đối nghịc là cung Dậu, trong tam hợp Kim (Tỵ, Dậu, Sửu) khắc chế rất nặng. Đến phần “nhân hoà”, về đại cục thì có thuận lợi, nhưng lũ bất tài và bọn tiểu nhân cũng nhiều (sao Bệnh, Tuế Phá, Thiên Hư, Địa Kiếp) mà người mang lá số “văn cách” như ông nhiều khi khó mà trị được cho đến nơi đến chốn.

Cuối đại vận này, biết mình yểu mệnh, vận số đã tận, ông thành tâm lập đàn “Nhương tinh cầu thọ” nhưng chịu thất bại, ngọn nến bản mệnh đã vụt tắt ở phút cuối. Phải chăng trong dặm dài chinh phạt thiên hạ, ông đã gây ra quá nhiều oán nghiệp: Từ trận Xích Bích hàng trăm vạn người máu chảy đầu rơi, thây trôi đầy dòng Trường Giang, đến các chuyến bình Nam đã tàn sát, đốt cháy quân Man; mưu đống hang Thượng Phương định thiêu chết ba cha con Tư Mã Ý và hàng vận quân nhưng trời mưa như trút nên họ Tư Mã thoát nạn… Thật là, khi một triều đại mà khí số đã tận, tức một người dẫu quảng bác, thần thông như quân sư Gia Cát Lương cũng chỉ kéo dài được một năm hữu hạn, chứ không thể vượt lên khỏi lẽ tối thượng cho cõi cao xanh. Vậy nên có câu rằng: “Cho hay thành bại ở đời, hơn nhau chỉ một chữ “thời” mà thôi!”


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Lá số tử vi Khổng Minh- Gia Cát Lượng

Những lưu ý khi đến nhà mới “mang lành tránh dữ” cho gia chủ?

Dọn vào nhà mới cũng quan trọng như việc khởi công, động thổ xây dựng ngôi nhà. Để giữ gìn sự hành thông,sức khỏe, tài vận thì bạn nên tuân thủ một số lưu ý trong bài viết dưới đây.
Những lưu ý khi đến nhà mới “mang lành tránh dữ” cho gia chủ?

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Thứ nhất, bạn cần phải chọn được ngày lành, tháng tốt, giờ hoàng đạo hớp với mình. Nên chọn ngày giờ vào nhà mới theo nguyên tắc Trạch Cát, nhưng không tính năm và các tiết khí ( vì đây không phải liên quan đến động thổ, xây mới).Những ngày có trực Khai, trực Thành và trực Mãn hợp với việc dọn vào nhà mới.

Sau khi xem được ngày bạn chọn giờ hoàng đạo trong ngày để dọn nhà. Một ngày thông thường có 24 phân thành 6 giờ hoàng đạo: Giờ Dần ( từ 3 đến 5 h),  Tỵ ( 9h-11h), Dậu ( từ 17 đến 19h), Thìn ( 7h-9h), Thân ( 15h-17h), Hợi(21h-23h). Trong những giờ này bạn nên chọn một giờ mà không khắc với tuồi của gia chủ. Cụ thể theo bảng từ hành xung, thì Dần-Thân-Tỵ-Hợi, Tý-Ngọ-Mão-Dậu, Thìn-Tuất-sửu-Mùi, là xung nhau.

Ví dụ: Gia chủ tuổi thân, Thân kị Dần nên không được dọn nhà vào thời gian từ 3 đến 5 h.

Thứ hai, nên chú ý một số nghi lễ khi chuyển nhà như:

+ Người trong nhà khi dọn đồ vào trang mới cần chuyển bài vị cúng tổ tiên đến đầu tiên.Những người khác đi sau đều phải cầm trong tay tiền tài của cải.

+ Đối với vật dụng thông thường: vật đầu tiên mang vào là cái chiếu (hoặc đệm) đang sử dụng, sau đó là bếp lửa, (bếp ga, bếp dầu), không nên mang bếp điện thì bếp điện có tinh mà không có tướng (tức chỉ có nhiệt mà không có ngọn lửa), chổi quét nhà, gạo, nước … lễ vật để cúng Thần Linh trước để xin nhập trạch và xin phép Thần Linh rước vong linh gia tiên về nơi ở mới để thờ phụng.

+ Lễ vật được để lên bàn hoặc mâm kê vào chỗ nào đó mà có hướng đẹp với gia chủ, tự tay gia chủ thắp nhang vào một bát nhang làm tạm thời. Thắp nhang và khấn lễ, tiếp ngay sau đấy gia chủ châm bếp và đun nước. Nước đun trên bếp lần đầu tiên ở nhà mới phải để cho sôi 5 – 10 phút, lâu hơn càng tốt, mới tắt lửa. Đun nước mục đích là để khai bếp, pha trà dâng Thần Linh và Gia Tiên. Nếu có khách có thể lấy nước đó để pha nước mời khách.

+ Nếu chỉ nhập trạch lấy ngày tốt chưa có nhu cầu ở ngay thì gia chủ phải ngủ một đêm tại nhà mới.

+ Nếu nhà có người chửa, mang thai thì tốt nhất không nên dọn nhà. Trong trường hợp cấp bách không thể không dời nhà, nên mua một cái chổi mới tinh, để đích thân người chửa quét qua các đồ đạc một lượt rồi mới chuyển như vậy mới không phạm tội “Thần thai”.

Những người giúp dọn nhà không được là người cầm tinh con Hổ, còn lại không phải lo bàn gì nữa.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những lưu ý khi đến nhà mới “mang lành tránh dữ” cho gia chủ?

Văn khấn Tảo mộ, tiết thanh minh 3-3

Tiết thanh minh hàng năm là dịp người Việt đi Tảo mộ, thắp hương, sửa mộ cho người đã khuất. Cách sắm lễ và nghi thức tảo mộ làm sao là đúng nhất, bài văn khấn tảo mộ theo truyền thống của dân tộc ta là như thế nào?

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Đi Tảo mộ đầu năm là một nét đẹp trong văn hóa tâm linh của người Việt. Với mục đích là để tưởng nhớ tổ tiên, người thân đã khuất. Các công việc chính của ngày Tảo mộ là việc sửa sang, dọn dẹp cây cỏ trên mộ cho sạch sẽ hoặc đắp thê đất lên mộ cho đầy đặn, hết cỏ dại.

Sau đó, những người đi Tảo mộ thắp vài nén hương và đốt vàng mã cho người đã khuất. Sau khi đặt lễ và đốt nhanh xong thành vái ba vái các vị Linh thần Thổ địa rồi đọc bài khấn cho lễ Tảo mộ.

Văn khấn Tảo mộ, tiết thanh minh 3-3

Văn khấn long mạch, sơn thần thổ phủ tiết thanh minh 3-3

Na mô A Di Đà Phật

Na mô A Di Đà Phật

Na mô A Di Đà Phật

Kính lạy:

Hoàng thiên Hậu Thổ, Chư vị Tồn thần

Các ngài Thần linh bản xứ cai quản ở trong khu vực này

Hôm nay là ngày……………………………………

Tín chủ con là………………………………………

Ngụ tại………………………………………………..

Nhân tiết Thanh minh(hoặc là nhân tiết thu, tiết đông, hoặc nhân ngày lành tháng tốt,…)

Thành tâm sửa biện hương hoa lễ vật và các thứ cúng dâng bày ra trước án, kính mời chư vị Tôn thần lai lâm chiếu giám.

Tình cớ chỉ vì: chúng con có ngôi mộ của ………………………

Táng tại xứ này, nay muốn sửa sang xây đắp (hoặc tảo mộ, bốc mộ,…). Vì vậy, chúng con xin kính cáo các đấng Thần minh, Thổ công, Thoorphur long mạch, Tiền chu tước, Hậu huyền vũ, Tả Thanh long, Hữu Bạch hổ và Liệt vị Tôn thần cai quản ở trong khu vực này. Thiết nghĩ: Tôn thần thông minh chính trực, đức lớn công lao, nhân từ hiếu sinh, hộ nhân giúp vật, nay xin thương xót tín chủ chúng con, tới đây chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, độ cho vong linh được an nhàn yên ổn, siêu thoát u đồ. Lại phù trì cho tín chủ chúng con toàn gia mạnh khỏe an ninh, tám tiết, bốn mùa thịnh vượng, khiến cho tất cả đều được thấm nhuần, tắm gội ánh quang của chư vị phúc thần.

Giãn tấm lòng thành, cúi xin chứng giám.

Cẩn cáo.

Bài khấn này dùng chon con cháu ra thăm viếng mộ, thắp hương hoặc tảo mộ, đắp mộ, xây mộ hay các ngày thanh minh, nguyên đán để xin phép các vị thần linh ở khu mộ, sau đó mới tiến hành làm. Lễ khấn long mạch, sơn thần thổ phủ thường được tiến hành vào chiều ngày mồng 3 hoặc mồng 3 tháng 3 âm lịch.

Văn khấn vong linh tại tiết mộ tiết thanh minh

(Dùng cho các ngày tảo mộ, đắp mộ, xây mộ hoặc thăm viếng mộ,…)

Na mô A Di Đà Phật

Na mô A Di Đà Phật

Na mô A Di Đà Phật

Kính lạy hương linh: (Hiển khải, Hiển tỷ hoặc Tổ khảo …..)

Hôm nay là ngày…….tháng…………năm…………

Tín chủ con là: …………………………………………………………………………………………………………………….

Cùng gia quyến ngụ tại……………………………………………………………………………………………………

Nhân tiết…………………………………………………………………………………………………………………………

Chúng con và toàn thể gia đình con cháu, nhờ công ơn võng cực, nền đức cao dầy, gây dựng cơ nghiệp của …………………..chạnh lòng nghĩ  đến âm phần ở nơi hoang vắng, thành tâm sửa biện hương hoa lễ vật và các thức cúng dâng, cáo yết tôn thần, hiến cúng hương linh,… Lại xin sửa sang phần mộ, bồi sa, bồi thổ, cho được dầy bền, tu sửa minh dduwowngfhauaj quỷ cho thêm vững chắc. Nhờ ơn Phật Thánh phù trì, đội đức trời che đất chở, cảm niệm thần linh phù độ, khiến cho được chữ bình an, âm siêu dương thái. Cầu Tiên Tổ phách thể bình yên, mộ vững bền tựa núi non hung vĩ. Con cháu chúng con xin vì hương linh ……………, phát nguyện tích đức tu nhân, làm duyên, làm phúc, cúng dân Tam Bảo, giúp đỡ cô nhi quả phụ, tế bần cứu nạn, hiếu thuân tông nhân để lấy phúc này hướng về tiên tổ.

Cúi xin linh thiêng chứng giám, thụ hưởng lễ vật, phù hộ độ trị con cháu, qua lại soi xét cửa nhà. Che tai, cứu nạn, ban tài tiếp lộc, điềm lành mang đến, điềm dữ xua đi. Độ cho gia đạo hưng long, quế hòe tươi tốt, cháu con vui hưởng lộc trời, già trẻ nhuần ơn Phật Thánh.

Giãi tấm lòng thành, cúi xin chứng giám.

Cẩn cáo.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Văn khấn Tảo mộ, tiết thanh minh 3-3
Click to listen highlighted text! Powered By DVMS co.,ltd