Mơ thấy tay: Làm gì được nấy, sự nghiệp thành công –
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
Vì chúng ta tiêu hết một phần ba phần của cuộc đời trong phòng ngủ vậy nó ảnh hưởng tới ta rất lớn. Cái bếp là cửa ngõ đem đến tiền bạc. Cửa chính là ấn tuợng đầu tiên của nhà và của khí vận.
1-2. Phòng sách trong phòng khách và tiền sảnh là những phòng đáng kể nhất nằm gần cửa chính. Nếu chỗ đầu tiên ngườ ta nhìn thấy là phòng khách thì gia chủ cảm thấy nhẹ nhõm và tùy tiện. Nếu là phòng sách thì gia chủ nghiêng về phần làm bạn bè kiếm sống nhờ sách vở.
3. Nếu phòng đầu tiên là nhà bếp thì cả nhà đều hướng về thực phẩm. Cảnh bếp núc dễ khiến cho ngừơi ta muốn ăn uống, khuyến khích tiêu thụ quá nhiều thực phẩm. Trẻ em hay bị lôi cuốn nhất và phát phì. Chúng thường bị mắng về tật ham ăn, lười học. Thêm vào đó cửa chính gần nhà bếp cũng khiến khách khứa đến chỉ nghĩ đến ăn uống.
4. Nếu thấy phòng đầu tiên là phòng tắm thì sức khỏe và của cải chủ nhà hao tổn, tiền bạc sẽ trôi đi cả. Người nhà sẽ tốn thật nhiều thời giờ trong đó hoặc là vào đó thay đồ mới, ngắm nghía, rửa tay chân v.v...Khi đi đâu về họ sẽ cảm thây muốn vào phòng tắm trước khi cho khóa vào ổ.
5. Nếu khi vào thấy ngay phòng ngủ thì người nhà hễ cứ về đến nơi đã thấy cần nghỉ ngơi.
Cách chữa: Cho số 3 -5 : Treo một tấm gương ở mặt ngòai cánh cửa hay một màn che bằng vải kết hột hay là một cái khánh nếu nơi đó không có cửa ra vào.
Phòng ngủ của gia truờng phải nằm sau trung tâm nhà. Một cách lý tuởng thì đặt sau đường phân đôi tâm nhà kể từ cửa ra vào để kiểm sóat tối đa vận mệnh của mình. Phòng ngủ càng gần cửa trước thì càng cảm thấy kém an bình. Nếu phòng đặt xa hằn vào trong thì cái giường bị xa cách với thế giới bên ngòai, thế nên giấc ngủ khá hơn và cũng an lành hơn.
Cách chữa: Treo gương sau đường kẻ ngang của tâm nhà đối diện phòng ngủ để tượng trưng đem phòng lui lại so với phần trước của căn nhà.
Phòng tắm và nhà bếp không được đặt trên đường ngang của tâm nhà vì e người nhà bị đau dọc theo cột sống lưng chay vòng ra bụng trước (trên mạch nhâm đốc): Nếu phòng tắm ở trung tâm nhà thì may mắn giảm dần và tiền bạc cạn theo.
Nhà bếp ở vị trí tâm nhà thì được và cần khóang đãng, rộng rãi nguời nhà sẽ nhờ đó tăng tiến được cuộc sống và nguồn tài chính. Nếu bếp hẹp và phía trên dàn lò nấu có đặt ăng-ten thì cái đó gây cho nguời nấu bếp hay kêu ca và tài lộc giảm dần trong nhà.
Cách chữa: Nếu bếp hẹp ta cho treo gương phía sau lò nấu để tuợng trưng tăng số bếp nấu và lượng đồ ăn (đồ ăn tượng trưng tiền của). Ta lại treo gương nhìn ra ngòai trên cửa nhà bếp để phản chiếu bếp cho cách xa trung tầm nhìn. Một chiếc khánh treo trên chỗ người nấu bếp.
Nếu phòng tắm đặt ngay trên đường trung tâm thì treo một tấm gương bằng với chiều cửa phòng tắm ở mặt ngoài. Vị trí những phòng liên hệ cũng ảnh hưởng cho gia chủ. Thí dụ nhà bếp phải nên đặt thật gần phòng ăn.
Một phòng tắm chỗ nước (hay tiền) thóat ra là biểu hiện nguồn chi tiêu trong nhà, thế nên vị trí của nó trong nhà được coi là điều sinh tử.
Tránh đặt phòng tắm trên lầu cầu thang xuống phòng ngủ.
Cách chữa: Buộc một dải lụa đỏ từ trần hà ngay đưới phòng tắm dẫn dải lụa dọc theo vác tường gần nhất và đính nó xuống nền nhà ở dưới giường một cách chữa là dùng gương chiếu từ dưới lên trần.
Một phòng tắm không nên để ở cuối một hành lang dài vì nó dẫn khí như một mũi tên xuyên qua cửa phòng tắm làm cho người nhà hay mắc bệnh về hệ tiêu hóa hay hệ tuần hoàn.
Cách chữa: Treo một tấm màn, một chiếc khánh di động trong hành lang để tán khí.
Chỗ xấu nhất đặt phòng tắm là giữa nhà mà theo như Phong Thủy Tây Tạng thì nơi đó tượng trưng tòan thể vũ trụ - chỗ của Thai cực, trung ương cửa bát quái trong Kinh Dịch.
Cách chữa: Treo gương phủ khắp bốn vách trong tường nhà tắm.
Theo giới xây dựng phòng ốc cách xếp đồ đạc dẫn khí lưu chuyển trong nhà có thể làm tăng khí cho gia chủ để được may mắn. trong khi Phong thủy để ý đến các loại đồ đạc từ tiểu tiết rất chi li đến sổ sách nơi bàn giấy, bàn ăn, nơi đặt lò sưởi, giường ngủ là những cái tác động to lớn vào con người. sự sắp xếp trong nhà có thể quyết định cho người ta được thành công hay thất bại.
| ► ## cung cấp công cụ Lấy lá số tử vi của mỗi người chuẩn xác |
![]() |
Tuần và Triệt khi chấn đóng đều đứng liền hai cung.
Với Triệt không thì cung dương là chính và cung âm là phụ với người tuổi dương can. Với người tuổi âm can thì cung âm là chính và cung dương là phụ. Chính thì tác động mạnh hơn, phụ tác động yếu hơn.
Bản chất Triệt không gồm có không hư và ảo tưởng giống như Thiên Địa Không. Nhưng nó còn mang đến những chướng ngại đột nhiên, điểm này mới là chủ yếu; gọi bằng Triệt lộ ví như người đang đi đường mà đường bị sụt xuống hoặc có núi lở ngăn chặn Triệt mất đường đi lối về.
Triệt gây hại nhất đối với Lộc Mã, mệnh có Lộc Mã hoặc vận có Lộc Mã mà gặp Triệt thì kể như không Lộc Mã. Triệt có thêm lưu niên Triệt nữa chứ không chỉ có Triệt đóng chết trên lá số.
Thường thấy phổ biến lý luận rằng sau ba mươi tuổi thì ảnh hưởng Triệt không còn. Chẳng có gì để chứng minh điều này là đúng. Qua kinh nghiệm thì bất cứ lúc nào Triệt cũng gây hại hoặc làm cho đỡ hại trước hay sau ba mươi gì cũng như nhau. Có thể suy ra rằng sau ba mươi tuổi tác đã chín chắn, có phần nào kinh lịch thì sự tai hại bớt đi chăng?
Luận cứ Triệt đáo kim cung sẽ giúp cho những sao ở hai cung này tốt đẹp hơn không đúng. Cung Thân (Kim) mà có Lộc Mã bị Triệt vẫn bị hỏng như thường.
Triệt kị nhất đối với sao Thiên Tướng rồi mới đến Tử Vi, Thiên Phủ, Thiên Đồng, Thiên Lương, nói chung thì Triệt hãm hại cát tinh nhiều hơn hung tinh. Mệnh Thiên Tướng gặp Triệt dễ bị tai nạn lớn nguy hại cho tính mạng, càng đắc địa càng nặng. Có câu ca rằng:
Thiên Tướng miếu địa gặp ngay
Triệt Không án ngữ thân nay khó toàn
Hoặc vì súng đạn đao gươm
Tứ chi đầu mặt tật thương đó mà
Triệt chỉ đem lại lợi ích khi nó gặp Thái Âm, Thái Dương hãm, như Âm ở Dần Mão Thìn Tỵ, Dương ở Dậu Tuất Hợi Tí; hoặc nó gặp các hung sát tinh bất lợi cho Mệnh cho vận.
Sách Tử Vi Đẩu Số tinh diệu tổng đàm viết: Mệnh Thiên Đồng Thiên Lương đứng cùng Hóa Kị mà gặp Triệt Không án ngữ thành ra người tuyệt đối chủ quan.
Sách Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư không nói gì đến cách Mệnh Vô Chính Diệu gặp Triệt Tuần Thiên Địa Không tức tam Không hoặc tứ Không, nhưng tập Thần Kế Định Số của Lê Quí Đôn thì có đề cập đến ảnh hưởng tốt của
Triệt khi vào cung Mệnh VCD qua các câu phú:
- Mệnh vô chính diệu hoan ngộ tam Không hữu song Lộc phú quí khả kì
(Mệnh không có chính tinh rất mừng có tam Không giàu sang khi có cả song Lộc)
- Mệnh Triệt Thân Tuần tu cần vô hữu chính tinh vãn niên vạn sự hoàn thành khả đãi
(Mệnh bị Tuần, Thân gặp Triệt được Mệnh không chính tinh lúc vào luống tuổi đời mới tốt đẹp)
Trở lại với sách Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư ta thấy lời chú ghi bên dưới câu phú về Thiên Không như sau: “Mệnh cung Kim Không tắc phát nhị hạn nên gặp phúc, nếu Thủy Không sẽ lan tràn ngập lụt, Mộc Không ắt là gẫy đổ, Thổ Không thì đất sụt”
Phải chăng Triệt đáo kim cung và Tuần cư hỏa địa căn cứ vào câu phú trên đây? Nó đòi hỏi phải Mệnh vô chính diệu mới thật toàn bích? Nếu vậy thì Mệnh VCD chỉ ở cung Kim cung Hỏa mới hay?
Nói sang Tuần Không toàn danh của nó là Tuần trung không vong. Tuần cũng phân ra chính với phụ như Triệt. Tuần sức công phá của tính chất “triệt lộ” không bằng Triệt, bởi vậy Thiên Tướng sợ Triệt gây nguy hại hơn Tuần.
Triệt phá hoại đột nhiên từ hoàn cảnh. Tuần lại trễ nải tự nơi mình. Cho nên mới có cái cách Thìn Tuất Phá ngộ Tuần Khoa lại nên hay. Nhờ Tuần khiến tự mình sửa lại cho ngay ngắn bản chất xông xáo bừa bãi của Phá Quân. Sự khác biệt căn bản giữa Tuần với Triệt là thế.
Nói tóm lại Tuần côngphá nhẹ hơn Triệt chứ không phải Tuần kéo dài sự phá hoại còn Triệt thì sau ba chục tuổi thì hả hơi đi.
Về tính không tưởng, ảo tưởng, Tuần Triệt kém Thiên Không ở điểm: Thiên Không khi thành tư tưởng triết lý có thế hệ tổ chức hơn Tuần Triệt. Tuần Triệt tư tưởng triết chỉ đột nhiên thôi. Bởi vậy Thiên Không gặp Xương Khúc hay hơn Xương Khúc bị Tuần Triệt.
Sao rất kị với Triệt khác là Thiên Mã. Thiên Mã ngộ Triệt gọi bằng Triệt túc Mã, ngựa gẫy chân. Mã đứng với Lộc bị Triệt làm ăn thất bại. Mã đứng một mình không cần Lộc dễ bị té ngã thương tích (đã bàn đến luận ở Lộc Mã)
Tìm hiểu thêm về Tuần Triệt qua các câu phú:
- Tam Không độc thủ phú quí nan toàn
(Mệnh vô chính diệu chỉ có tam Không mà thiếu Khoa Quyền Lộc Lộc Tồn thì giàu sang không lâu bền)
- Tuần Triệt ngộ Thiên Hình tha hương cách lý
(Mệnh có Tuần Triệt gặp sao Thiên Hình thường xa quê hương bản quán)
- Tuần Triệt bất khả ngộ Lộc Tồn tư cơ phá hoại
(Tuần Triệt không nên gặp Lộc Tồn cơ nghiệp không giữ được)
- Tuần Triệt án ngữ trạch điền
Tư cơ cha mẹ không truyền đến cho
- Tam không hội Văn Xương ư thê cung thiềm cung triết quế
(cung thê không chính tinh có Văn Xương với tam Không thì lấy vợ con nhà danh giá)
- Triệt Tuần ngộ Mã hành thê vị
Vợ bỏ chồng đào tị tha hương
- Cung huynh đệ Triệt Tuần xung củng
Chim đầu đàn bay bổng xa khơi
- Tam Không chiếu hội tao cát diệu
Lại dưỡng tinh có đạo con nuôi
(cung tử tức không chính tinh gặp tam Không và sao Dưỡng)
- Không phùng Phá Tử phối vào
Vợ chồng trắc trở ba tao mới thành
(Cung Phu Thê có Tử Phá bị Tuần Triệt)
- Triệt Tuần xung khắc chẳng sai
Thiên Hư bất chính cả hai vợ chồng
- Phúc hữu chính tinh kị ngộ Triệt Tuần hoặc gia sát diệu lai ngộ Kiếp Cự thủy nịch tử
(Cung Phúc sao chính sợ gặp Triệt Tuần lại thêm Kiếp Cự dễ chết đuối)
- Tam Không xung sát hạnh Triệt khả bằng
Tứ chính giao phùng kị Tuần trực đối
(Vận hạn bị các hung sát chiếu mà cung vận hạn có Triệt sẽ đỡ, vận hạn có nhiều sao tốt chiếu mà cung vận hạn có Tuần trở thành vô ích)
- Thân cư Thê vị, Triệt Tuần lai xâm thiếu niên ai lệ nãi thất tình
Gia lâm cát tú lương duyên mãn kiếp
(Thân đóng Thê bị Tuần Triệt tuổi trẻ thất tình, có cát tinh phò trợ thì luống tuổi được duyên lành)
- Thân cư Quan Lộc nhược kiến Triệt Tuần Kiếp Kị nam nhân phong vân vị tế, hựu phùng cát diệu vũ lộ thừa ân khả dãi quá trung tuần dĩ hậu
(Thân đóng cung Quan Lộc bị Triệt Tuần Kiếp Kị tuổi trẻ danh phận bôn ba, có cát tinh hội tụ ngoài tuổi năm mươi mới được hưởng ơn mưa móc)
- Thân tại Quan cung gia sát diệu Triệt Tuần, nữ mệnh nan bảo thân danh
Gia kiến Bạch Tang thân cô trích ảnh, nghi gia vãn tuế tất thành
(Thân đóng Quan Lộc gặp sát tinh và Triệt Tuần, số gái khó bảo toàn danh tiết lại thêm Bạch Hổ Tang Môn thì cô đơn phải muộn tuổi mới lấy chồng)
- Triết túc Đà Mã sum vầy
Tử Mã Tuần Triệt đêm ngày khảm kha
(Mã bị Tuần Triệt là ngựa chết cuộc đời khảm kha)
- Mệnh vô chính diệu tam Không
Nhật Nguyệt giao chiếu dự phần công khanh
- Cái ngộ Mộc gái nào đoan chính
Mã gặp Không thì tính tang bồng
(Triệt Không và Địa Kiếp)
- Tam Không ngộ Dưỡng đinh ninh
Nuôi con nghĩa tử giúp mình yên vui
- Dưỡng Thai Triệt Vượng thấu vào
Trong anh em có dị bào chẳng không
- Tang Môn Hư Khốc chẳng hay
Tuần Triệt viễn phối họa may mới thành
(Đây là những sao đóng ở cung Phu Thê)
Những lưu ý bạn nên biết khi đặt bàn thờ hợp phong thủy
Theo quan niệm truyền thống của cha ông ta, việc thờ cúng tổ tiên là vô cùng quan trọng. Điều đó không những thể hiện chữ hiếu của con cháu với tổ tiên cha mẹ và dù mất đi, tổ tiên vẫn phù hộ cho con cháu. Tuy nhiên, việc này quyết định bởi phần đặt bàn thờ, tốt hay xấu, thì sau khi đặt từ 3 đến 4 tuần là ứng nghiệm. Việc bạn xem ngày tốt xấu để đặt bàn thờ cũng quan trọng như bạn đặt bàn thờ đúng hướng.
Lưu ý là hướng của bàn thờ là hướng ngược lại với chiều của người đứng khấn. Một số lưu ý khác để phong thủy bàn thờ ông bà được tốt hơn:
Tọa cát hướng cát, nghĩa là đặt ở vị tốt xoay về hướng tốt
Dưới và trên bàn thờ không đặt các loại cửa người đi được, không đặt bàn thờ ở chỗ bị dầm đè lên.
Không đặt bàn thờ ở phần đất lấn chiến khoảng không
Không đặt bàn thờ ở chỗ có đường đi lại
Bàn thờ không nhìn vào phòng vệ sinh, và không đặt dưới hay dựa vào phòng vệ sinh
Trên chỗ bàn thờ ở tầng trên không kê giường, bàn ghế, tủ quần áo phụ nữ
Bàn thờ không được đặt trong phòng ngủ, đặc biệt là phòng của vợ chồng
Đèn trên bàn thờ luôn bật sáng để thu hút năng lượng dương
Có thể cân nhắc đặt bàn thờ ở Trung Cung và hướng về hướng tốt.
Đối với bàn thờ Ông Địa, Thần Tài nên đặt gần cửa để nghinh tiếp tài lộc, và quay về các hướng tốt, tương tự như bàn thờ tổ tiên ở trên phong thủy cho bàn thờ. Cách bày trí kết cấu bàn thờ Ông Địa, Thần Tài.
Còn với bàn thờ Ông Táo nên được đặt ở sau bếp. Đây cũng chính là vị “nhất gia nhì chủ”, có nhiệm vụ coi sóc việc gia cư, định hoạ phước, trừ ma diệt quỷ. Nguyên tắc đặt là toạ hung hướng cát, tương như bếp nấu.
Ất Mão nam mạng xem vận trình tử vi của bản thân hàng năm ra sao. Cuộc sống, tình duyên, gia đạo, công danh, những tuổi hợp làm ăn, việc lựa chọn vợ chồng thế nào được trình bày chi tiết trong lá số tử vi trọn đời này.
Sanh năm: 1915, 1975 và 2035
Cung TỐN. Trực BẾ
Mạng ĐẠI KHÊ THỦY (nước khe lớn)
Khắc SƠN HẠ HỎA
Con nhà HẮC ĐẾ (phú quý)
Xương CON MÈO. Tướng tinh CON DƠI
Ông quan Đế độ mạng
Số tuổi Ất Mão như vầy,
Đại Khê nước lớn chảy về thiên nhiên.
Thu Đông sanh thuận mới yên,
Thanh nhàn sung sướng sáng kiến nhiều nghề.
Xuân Hạ lỗi số bị chê,
Giàu có làm đặng công thần cũng lo.
Xét qua trong đạo vợ chồng,
Hoa thơm hương nhụy, trăng vòng tròn gương.
Chẳng qua gãy gánh giữa đường,
Duyên sau chắp nối mới yên gia đàng.
Tiền bạc làm có trong tay,
Ba chìm bảy nổi đổi thay gia đình.
Số phải xa mẹ khắc cha,
Tha phương lập nghiệp tiền tài thạnh hưng.

Tuổi Ất Mão cuộc đời gặp nhiều hay đẹp tuy không được sung sướng về thể xác, nhưng được sung sướng về tinh thần, cuộc đời không lấy gì làm cực khổ cho lắm. Số hưởng được sự giàu sang và có thể được nhiều kết quả tốt. Trong thời gian tuổi già, tiền bạc đầy đủ, gia cảnh êm đềm.
Tuổi Ất Mão hưởng thọ trung bình từ 55 đến 60 tuổi là mức tối đa. Nhưng muốn sống lâu hơn cần phải làm phúc đức thật nhiều.
Tuổi Ất Mão nếu sanh vào những tháng này thì có nhiều thay đổi về vấn đề tình duyên và tối thiểu là ba lần, đó là tuổi Ất Mão sanh vào những tháng 8 và 12 Âm lịch. Nếu sanh vào những tháng này thì việc thay đổi tình duyên cũng phải hai lần thay đổi, đó là những người sanh vào tháng 1, 2, 3, 4, 5, 9 và 10 Âm lịch. Nếu sanh vào những tháng này thì việc tình duyên được chung thủy đó là sanh vào những tháng 6, 7 và 11 Âm lịch. Cứ căn cứ vào những tháng sanh, bạn có thể biết được mình thay đổi mấy lần về tình duyên của cuộc đời bạn.
Tuổi Ất Mão, tiền tài được dư dả không có sự thiếu thốn, số sống an nhàn, sự nghiệp rất vững chắc và lưu truyền lâu bền về sau, cả hai vấn đề được hoàn toàn thành tựu lâu bền, cuộc đời được hưởng sự sung sướng trọn vẹn.
NHỮNG TUỔI HẠP LÀM ĂN
Trong sự làm ăn, tuổi Ất Mão cần lựa chọn những tuổi này mà hợp tác làm ăn thì mang nhiều thắng lợi, đó là các tuổi: Bính Thìn, Kỷ Mùi, Nhâm Tuất và Quý Sửu. Những tuổi này rất hạp với tuổi Ất Mão. Nên hợp tác làm ăn thì khỏi lo thất bại.
Tuổi Ất Mão cần lựa chọn những tuổi này thì sự sống được cao sang và phú quý, vì những tuổi này rất hạp cho mọi khía cạnh của tuổi Ất Mão, đó là các tuổi: Bính Thìn, Kỷ Mùi, Nhâm Tuất, và Quý Sửu. Kết hôn với những tuổi kể trên sẽ có nhiều thắng lợi và triển vọng tiền bạc được tốt đẹp.
Kết hôn với những tuổi này, tuổi Ất Mão chỉ có được một cuộc sống trung bình mà thôi, đó là tuổi Ất Mão kết hôn với các tuổi: Ất Mão (đồng tuổi), Tân Dậu, Mậu Thìn.
Tuổi Ất Mão kết hôn với những tuổi này thì sự làm ăn trở lên khó khăn, sống một cuộc sống bần hàn và việc làm ăn gặp nhiều trắc trở, đó là tuổi Ất Mão kết hôn với các tuổi: Quý Tỵ, Mậu Ngọ, Quý Hợi.
Tuổi Ất Mão không nên cưới vợ vào những năm tuổi: 16, 22, 28, 34, 38 và 40 tuổi, vì những năm này xung khắc khó thành công về sự nghiệp cũng về tiền bạc.
Tuổi Ất Mão sanh vào những tháng này thì số nhiều vợ nhứt, đó là sanh vào những tháng: 2, 4, 8, 9, 10 và 12 Âm lịch. Sanh vào những tháng này có số lưu thê hay đau khổ nhiều về đ àn bà.
Tuổi Ất Mão đại kỵ trong cuộc đời với những tuổi Canh Thân, Giáp Tý, Bính Dần, NhâmThân, Giáp Dần, Nhâm Tý, Mậu Thân, những tuổi này rất đại kỵ, nếu làm ăn với nhau thì sẽ thất bại, kết duyên thì xảy ra cảnh biệt ly tuyệt mạng.
Khi gặp tuổi kỵ và năm hạn, trong việc làm ăn phải cúng sao cho đúng ngày tháng và phải thành tâm cúng dâng đầy đủ nhang đ èn hoa quả. Nếu gặp tuổi kỵ trong con cháu gia đình thì nên cầu phước, và van vái Trời, Phật thì sẽ được giải hạn.
NHỮNG NĂM KHÓ KHĂN NHẤT
Tuổi Ất Mão đại kỵ trong cuộc đời với những tuổi Canh Thân, Giáp Tý, Bính Dần, NhâmThân, Giáp Dần, Nhâm Tý, Mậu Thân, những tuổi này rất đại kỵ, nếu làm ăn với nhau thì sẽ thất bại, kết duyên thì xảy ra cảnh biệt ly tuyệt mạng.
Khi gặp tuổi kỵ và năm hạn, trong việc làm ăn phải cúng sao cho đúng ngày tháng và phải thành tâm cúng dâng đầy đủ nhang đ èn hoa quả. Nếu gặp tuổi kỵ trong con cháu gia đình thì nên cầu phước, và van vái Trời, Phật thì sẽ được giải hạn.
Tuổi Ất Mão xuất hành vào những giờ lẻ ngày lẻ và tháng lẻ, là những ngày, giờ và tháng hạp nhứt trong cuộc đời bạn. Vậy nên xuất hành vào những ngày giờ nói trên thì khỏi sợ bị thất bại, trong việc làm ăn cũng như nghề nghiệp.
Từ 20 đến 25 tuổi: 20 tuổi, đầy triển vọng của tình duyên và yêu thương, tài lộc yếu kém, 21 và 22 tuổi, năm này có nhiều tốt đẹp về tài lộc công danh, 23 và 24 tuổi, có thể thành công về công danh và tình duyên trong khoảng thời gian này, tuổi 23 không nên đi xa vào tháng 4, 6, và 8, 25 tuổi, năm trung bình.
Từ 26 đến 30 tuổi: Nên cẩn thận về tình duyên có nhiều rối rắm, số có nhiều lo buồn vào khoảng thời gian này. 26 tuổi, năm bình thường, 27 tuổi, không mấy tốt. 28 và 29, năm có nhiều triển vọng về tài lộc, cuộc sống. Năm 30 tuổi tạm yên tĩnh, năm này lo buồn nhiều hơn hết.
Từ 31 đến 35 tuổi: Năm này không mấy tốt đẹp số có nhiều lo nghĩ, cuộc sống có nhiều lao đao, đó là năm 31 và 32 tuổi. Năm 33 và 34 tuổi, đầy triển vọng tốt đẹp về tình thương yêu và phần tài lộc, nên cẩn thận cho việc làm ăn. 35 tuổi, hay đẹp và nhiều tốt đẹp, cuộc sống được đầy đủ và có cơ hội kết quả về tài lộc.
Từ 36 đến 40 tuổi: 36 tuổi, yên tĩnh. 37 tuổi đau nặng hay gặp đại nạn trong gia đình thân tộc. 38 và 39, hai năm này nên phát triển làm ăn hay hùn hạp làm ăn rất tốt. 40 tuổi, tốt về phát triển công danh và sự nghiệp.
Từ 41 đến 45 tuổi: 41 tuổi, có nhiều hay, việc làm ăn bị ngưng trệ đôi chút, việc công danh và sự nghiệp có phần suy yếu, 42 và 43 tuổi, năm này kỵ đi xa, làm ăn lớn sẽ bị thất bại, 44 và 45 tuổi, nên giao dịch về tiền bạc có lợi to.
Từ 46 đến 52 tuổi: Tuổi 46 và 47, hai năm này bổn mạng không được vững, nên cẩn thận tiền bạc cũng như việc làm ăn, 48 và 49 tuổi, hai năm này thâu hoạch được tiền bạc và có triển vọng về cuộc đời. 50 và 51 tuổi, khá tốt, có phần phát triển về tài lộc công danh, cuộc sống khá đầy đủ, 52 tuổi, coi chừng có tai nạn, toàn năm không thắng lợi về tại lộc, kỵ đi xa vào tháng 9, tháng 11 hao tài.
Từ 53 đến 55 tuổi: 53 tuổi, khá hay đẹp và con cháu có phần hưởng lộc, 54 tuổi kỵ vào tháng 9 và 11 Âm lịch, coi chừng bệnh hoạn hay hao tài tốn của. 55 tuổi tình trạng gia cảnh và tài lộc vẫn ở mức độ bình thường.
Từ 56 đến 60 tuổi: Năm năm này không có trở ngại về việc làm ăn, mà chỉ có đề phòng việc đau bịnh.
Vận trình tử vi trọn đời 12 con giáp chi tiết
Xem bói tử vi tuổi Mão
Xem tử vi năm mới
![]() |
Các bệnh cần phải cẩn thận khi vào tiết Lập Hạ![]() |
– Chiếu sáng. Nhu cầu chiếu sáng phòng ngủ khá phổ thông, chủ yếu gồm chiếu sáng thông thường và chiếu sáng cục bộ. Chiếu sáng thông thường cho phòng ngủ phải đảm bảo được các yếu tố yên tĩnh, ấm áp, dịu mắt, thích nghi. Các loại đèn có ánh sáng mạnh, nhiều màu sắc không hợp với phòng ngủ.

Chiếu sáng cục bộ cho phòng ngủ phải xét đến các yếu tố sau:
Chiếu sáng cho bàn đọc sách – Thường sử dụng đèn bàn.
Chiếu sáng cho việc đọc sách trước khi ngủ. Nhiều người trước khi ngu thường nằm tựa thành giường đọc sách, vì vậy phải chọn dùng đèn bàn hoặc đèn tường cho phù hợp. Đặc điểm của đèn bàn là có thể cơ động, linh hoạt trong sử dụng, bản thân đèn bàn còn là đồ nghệ thuật có thể tạo cảm giác dễ chịu. Ưu điểm của đèn tường là ánh sáng phản xạ qua tường nên dịu mắt hơn.
Chiếu sáng cho bàn trang điểm – Bàn trang điểm thường dùng đèn có ánh sáng nhẹ nhàng ấm áp, nên bố trí đèn này phía trên gương và sử dụng đèn trắng hoặc đèn huỳnh quang là hợp nhất, nên bố trí ở góc lệch 60° so với tầm mắt đê tránh ánh sáng mạnh chiếu thẳng vào mắt.
Chiếu sáng cho người ngồi đọc sách trên ghế sô pha thường dùng đèn cây.Cần đặc biệt chú ý đến nhiệt dộ từ các nguồn sáng toá ra, xuất phát từ vấn đề an toàn, khi bố trí đèn cho phòng ngủ của trẻ nhỏ cần hết sức chú ý, làm thế nào đế trẻ không thế trực tiếp chạm tay vào các nguồn điện, tuyệt đôi không bố trí đèn kiểu cơ động như dèn bàn trong phòng trẻ.
Phòng ngủ là không gian sinh hoạt tự do dùng cho ngủ, nghi, đòi hỏi tính kín đáo và yên tĩnh cao. Chức năng cơ bản của phòng ngủ có hai mặt: một, nó phải thoả mãn nhu cầu căn bản là nghỉ và ngủ; mặt khác, phải phù hợp nhu cầu tổng hợp là thư giãn, làm việc, trang điểm và vệ sinh bảo vệ sức khoẻ. Trọng điểm cần chú ý khi bố trí đồ dùng và trang trí ở phòng ngủ là yếu tố thị giác phải mang đặc tính cá nhân thực dụng.
Kiểu cách đồ dùng trong phòng ngủ và việc sắp xếp phòng ngủ là một kiến thức rất quan trọng. Bài trí phòng ngủ phải chú ý các yếu tố ấm áp, êm dịu, làm cho người ở có cảm giác thư thái, nhẹ nhõm. Kiểu cách và tạo hình của đồ dùng trong phòng ngủ phải có tính hiện đại, ý nhị, có vậy mới tạo được sự mới lạ về phong cách mang lại cảm giác thích thủ cho người sử dụng.
Trước hết, việc chọn đồ dùng cho phòng ngủ phái xét đến các nhân tố về điện tích, hình dáng, bố cục, số lượng người ở và hướng của phòng ngủ. Tiếp theo phải căn cứ vào mục dích thực dụng và tổng hợp toàn diện các nhân tố nói trên để chọn chủng loại và kiểu cách của đồ dùng. Chức năng chính yếu nhất của phòng ngủ là ở chỗ ngủ. Đồ dùng ở khu này chủ yếu có giường và tú đầu giường, việc bố trí ánh sáng ở đây phải thoả mãn yêu cầu đọc sách khi ở giường, nguồn sáng cục bộ ở giường phải đủ.
Chú ý bố trí giường ngủ hợp lý và khoa học. Thường bài trí phòng ngủ có 3 dạng hình thái là phòng với giường đơn, phòng với giường đôi và phòng với giường kê đối nhau. Tủ và bàn thường đặt ở đầu giường, chọn dùng kiểu nào cho phù hợp nên căn cứ vào nhu cầu tâm lý của cả vợ và chồng kết hợp tình hình thực tế.
Ngoài ra, màu sắc trong phòng ngủ nên sứ dụng gam màu ấm áp, nhưng thường chọn căn cứ vào sở thích, tính cách mỗi người.
Tóm lại, hiệu quả tổng thể từ kiểu cách, hình dáng, màu sắc, kích thước của các đồ dùng trong phòng ngủ và việc bài trí chúng hợp lý sẽ tạo điều kiện hưởng thụ tốt nhất, khiến cho sức khoẻ và tinh thần người sử dụng luôn dồi dào.
Quy tắc bói bài:
1. Nhắm mắt, giữ trạng thái tĩnh trong 30 giây.
2. Tự hỏi thầm bản thân: “Mình cần làm gì để chuyện tình cảm được yên bình?”.
3. Chọn một lá bài theo trực giác và xem đáp án.
Lựa chọn 1: Wands
![]() |
Lựa chọn 2: The World
![]() |
Lựa chọn 3: Justice
![]() |
Xem kết quả
Lựa chọn 1: Wands – Quan tâm tới cảm xúc của “gấu”
Bốc được lá bài này cho thấy dường như bạn đang quan tâm thái quá tới đối phương. Bạn yêu chân thành, nhiệt tình và không toan tính. Từ trong thâm tâm, bạn muốn dành điều tốt đẹp nhất cho người ấy, thậm chí không ngần ngại lo toan từ điều nhỏ nhặt như chuyện ăn uống, vệ sinh cá nhân… Tuy nhiên, thực tế cho thấy nửa kia đang cảm thấy ngộp thở.
Khoảng cách cần thiết giữa hai người để tạo ra thế giới riêng đang bị bạn phá vỡ. Bạn thì nghĩ rằng mình yêu và mình có quyền làm điều đó. Thói quen đó vô tình khiến người ấy khó chịu và hờ hững trước những cử chỉ, lời nói quan tâm của bạn. Bạn sẽ hiểu lầm tình cảm đã thay đổi. Tuy nhiên, hãy nhìn lại cách hành xử của bản thân, trước khi phán xét “gấu”, bạn nhé!
Lựa chọn 2: The World – Bỏ thói quen hay cằn nhằn
Hai người thường là hai thế giới đối lập, nên sẽ có sức hút kỳ lạ với nhau. Bạn thường nói rất nhiều, hay để ý chuyện vụn vặt, mặt khác nửa kia lại lạnh lùng, kiệm lời và phóng khoáng. Bạn thích tỏ ra mình là người chủ động và có tầm ảnh hưởng nhiều hơn, nên hay phán quyết và đưa ra lời nhận xét thẳng thắn.
Do vậy, “gấu” e ngại tính cách cằn nhằn của bạn sẽ vượt quá sức chịu đựng. Sự cao thượng cũng không thể là đòn bẩy để giải gỡ được nút thắt trong mối quan hệ giữa hai người. Hoặc nếu bạn để tâm, hãy thể hiện sự ân cần, nhẹ nhàng, thay vì vẻ khó chịu thường xuyên.
Lựa chọn 3: Justice – Trừ giải vận đào hoa
Nếu lưu tâm, bạn sẽ thấy mối quan hệ của mình với người ấy bắt đầu xuất hiện những vết rạn nứt chỉ vì tính ghen tuông. Nguồn gốc sâu xa của vấn đề xuất phát từ vận đào hoa, thói hay “nhìn ngang, liếc dọc” của bạn. Bạn thuộc nhóm người thích được là trung tâm, mọi người phải chú ý và coi bạn là thành phần quan trọng. Vậy nên, trước bất kỳ ai tấn công, bạn đều “vô tình” bật đèn xanh để họ nuôi hy vọng.
Nửa kia lại là người nhạy cảm, nên cảm nhận rõ sự đào hoa và tính cách ấy của bạn. Nếu muốn chuyện tình cảm êm ấm, gắn kết bền chặt, bạn cần xác định nghiêm túc về tình yêu mình dành cho đối phương, có đủ vững chắc để duy trì lâu dài. Ngược lại, hãy giải thoát cho con tim mình được tự do bay nhảy.
1. Cổng vòm không thích hợp với nhà ở
Cổng vòm chỉ thích hợp với những công trình kiến trúc công cộng, ví dụ như nó có thể tô điểm thêm cho một giáo đường, một ga tàu hỏa theo phong cách cổ điển hay một tòa án hiện đại..., không nên thiết kế cổng vòm trong kiến trúc nhà ở. Với những cánh cửa trang trí (chỉ có khung cửa, không có cửa) ở phòng khách có thể tạo dáng hơi lượn vòng cung bên trên một chút nhưng không nên thiết kế thành cổng vòm.
![]() |
| Nhà ở không nên thiết kế cửa vòm. |
2. Phong cách bài trí phải thống nhất
Một căn hộ được phân chia thành nhiều phòng chức năng khác nhau, tùy theo chức năng của các gian phòng, ví dụ như gian bếp, phòng vệ sinh, phòng ngủ, phòng khách. Tuy nhiên, phong cách bài trí, trang trí trong một căn hộ phải thống nhất, chí ít cũng phải có mối liên hệ nội tại, có thể tạo nên những không gian riêng biệt nhưng không được mỗi gian một phong cách trang trí khác biệt nhau.
3. Không nên trang trí quá sặc sỡ, lập dị
Công năng sử dụng của một căn hộ là để ở, có thể trang trí hào nhoáng, hoa lệ nhưng không nên quá sặc sỡ, lập dị. Nhà ở chứ không phải quán bar, khách sạn hay vũ trường, cũng không phải là nơi trưng bày nghệ thuật. Nhà ở là nhà để ở, có thể nhấn mạnh phong cách riêng nhưng phải tự nhiên, không nên quá gò bó, lập dị.
![]() |
| Tôn chí trong phong cách trang trí nhà ở là ấm cúng, bình yên, tự nhiên, thoải múi và tiện lợi. |
4. Đường nét và tạo hình
Đường nét, tạo hình và màu sắc là ba yếu tố chính trong trang trí nhà ở. Nên chú ý những đường nét trang trí trong căn nhà phải liền mạch, không nên cứng nhắc, đứt đoạn; tạo hình phải có tỉ lệ hài hòa. Tạo hình thể hiện ở điểm, màu sắc thể hiện ở bề mặt, đường nét thể hiện ở đường viền.
5. Mặt sàn của các khu công cộng phải bằng phẳng
Có không ít những nhà thiết kế áp dụng phong cách thiết kế các công trình mang tính văn hóa vào trong những kiến trúc nhà ở hiện đại, ví dụ như sử dụng loại gạch lát không phẳng, nhấp nhô để lát sàn cho một số kiến trúc có tính công cộng như gian đại sảnh, buồng thang máy... khiến cho mọi người cảm thấy có điều gì đó không bình thường. Thực ra, mặt nền của các không gian công cộng vẫn cần phải bằng phẳng, chí ít thì cũng thuận tiện cho việc quét dọn, làm vệ sinh. Còn các loại gạch lát nền không phảng, nhấp nhô thì nên dùng để lát nền cho ban công, vườn hoa trên đỉnh kiến trúc, hậu viện hay những gian phòng đa chức năng.
6. Mặt sàn các khu công cộng không nên lát gạch bóng
Gạch bóng là loại gạch lát sàn có bề mặt nhẵn, sáng bóng có thể phản chiếu hình ảnh. Mặt sàn của các khu công cộng không nên quá trơn bóng, không an toàn đối với người già và trẻ em. Nguyên tắc an toàn là trên hết có lợi cho cả doanh nghiệp lẫn khách hàng.
7. Màu sắc trang trí trong phòng không nên quá sặc sỡ, hỗn tạp
Màu sắc trang trí trong căn phòng vừa không được tạo nên tính đối lập (ngoại trừ sự đối lập hai gam màu đen trắng), vừa không nên quá sặc sỡ, pha trộn hỗn tạp nhiều gam màu. về màu sắc trang trí tronẹ căn phòng, tốt nhất không nên sử dụng nhiều hơn ba gam màu cơ bản. Riêng phòng dành cho trẻ em có thể có tính độc lập tương đối.
![]() |
| Màu sắc trang trí trong căn phòng không nên quá sặc sỡ, lòe loẹt, pha trộn nhiều gam màu. |
8. Mặt sàn nhà nên sử dụng gam màu sẫm
Màu sắc trang trí sàn nhà hơi đối lập với trần nhà, nên chọn gam màu sẫm, bởi sàn nhà cũng có ý nghĩa như mặt đất, mà mặt đất chứa đựng vạn vật nên màu sàn nhà nên sẫm màu, tạo cảm giác nặng, chắc chắn. Nếu sàn nhà đã sử dụng gam màu nhạt thì có thể kết hợp với chạy chân tường bằng những đường màu sẫm để trung hòa.
![]() |
| Trang trí sàn nhà nên chọn gam màu sẫm. |
9. Trần nhà nên chọn gam màu nhạt
Trần nhà cũng giống như bầu trời, nên sử dụng gam màu sáng, nhạt, nếu sử dụng gam màu sẫm sẽ tạo cảm giác nặng nề, bị đè nén. Màu sắc trang trí trần nhà và sàn nhà có tính đối lập tương đối, trần nhà hơi sáng, nhạt còn sàn nhà hơi sẫm mới phù hợp với quy luật tự nhiên.
![]() |
| Trang trí trần nhà nên chọn gam màu sáng, nhạt. |
10. Trần nhà thấp không nên thiết kế trần treo
Những căn phòng có độ cao trần nhà quá thấp, khoảng cách từ mặt sàn đến trần nhà chỉ 2,50 m thì không nên thiết kế thêm trần treo, nếu không sẽ tạo cảm giác nặng nề, tù túng.
11. Bố cục các phòng chức năng trong nhà không nhất thiết phải là tứ đại nhất tiểu
Trước đây, theo quan niệm phong thủy người ta thường hay chuộng bố cục nhà theo kiểu “tam đại nhất tiểu” (ba to một nhỏ), tức là ba phòng chức năng gồm phòng khách, phòng bếp, phòng vệ sinh có diện tích lớn, còn phòng ngủ có diện tích nhỏ hơn. Hiện nay, người ta còn chuộng cả hình thức bố cục theo kiểu “tứ đại nhất tiểu” (bốn to một nhỏ), tức là phòng khách, phòng bếp, phòng vệ sinh và ban công có diện tích lớn, còn phòng ngủ có diện tích nhỏ hơn. Tuy nhiên, phòng ngủ cũng không nên quá nhỏ, trong các căn hộ hiện đại, diện tích phòng ngủ nên khoảng 15m2, nếu nhỏ quá sẽ tạo cảm giác chật chội, không có lợi cho sự phát triển.
![]() |
| Phòng ngủ cũng nên được thiết kế rộng rãi. |
![]() |
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
Câu hỏi:
Đầu năm mới đi chùa, bạn cầu mong mọi sự như ý trong năm Ất Mùi. Nếu rút một quẻ đại cát đại lợi và treo nó lên một cây ở chùa, bạn sẽ chọn cây nào?
A. Cây vừa tầm với.
B. Cây thấp.
C. Cây càng cao càng tốt.
Đáp án:
| A | B | C |
Mr. Bull (theo MGSP)
Vị trí của bếp là một trong nơi quan trọng nhất trong nhà, bên cạnh cửa chính và phòng ngủ. Trong phong thủy, bếp là đại diện của nữ chủ nhân ngôi nhà. Nếu có những nguồn năng lượng tiêu cực được tạo ra do vị trí bếp, nó sẽ có tác động lớn hơn đối với nữ chủ.
Một trong những cấm kị quan trọng nhất cần nhớ trong nhà bếp là không được để bồn rửa tay cạnh bếp nấu. Các yếu tố của lửa (bếp đun) và nước (bồn rửa/tủ lạnh) xung đột với nhau vì vậy vị trí của bếp lò và bồn rửa phải ở trong một cách như vậy mà họ không được đặt bên cạnh nhau. Tuy vậy hiện nay có rất nhiều gia đình Việt đang phạm phải sai lầm nghiêm trọng này. Nó có thể gây ra bất hòa giữa hai vợ chồng, mất mát của cải, hoặc tai nạn.
- Khoảng cách giữa bếp và bồn rửa ít nhất phải được 60cm.
- Nếu không gian chật hẹp hãy đặt thêm một chiếc bàn hoặc ngăn cách bếp nấu với bồn rửa bằng một khoảng bàn để chuẩn bị thực phẩm ở giữa.
Xét cả trên phương diện phong thủy và kiến trúc, tương tác xấu còn xuất hiện khi bếp nấu và bồn đặt ở vị trí đối diện với nhau, tức là căn bếp rơi vào thế hỏa môn đối với thủy khẩu. Khi đó, phía mặt tiền của bếp nấu hoặc hướng bếp sẽ là nơi nhận được quá nhiều thủy khí khiến cho hỏa khí không được vượng. Phong thủy còn gọi kiểu bếp này là "thủy hỏa tương xung" khiến người trong nhà dễ mâu thuẫn nhau, từ đó khiến công việc làm ăn kém thuận lợi. Thực tế, phần lớn thiết kế bếp tại Việt Nam hiện nay có rất ít trường hợp bếp đối diện bồn rửa, chủ yếu là kiểu bếp thuận chiều hoặc vuông góc với bồn rửa.
Trong gian bếp, nên ưu tiên bố trí bồn rửa ở hướng Bắc, Đông hoặc Đông Nam, bố trí ở phía Tây cũng tạm được. Vị trí bếp nên bố trí ở hướng Nam, hướng Đông hoặc hướng Đông Nam là phù hợp nhất. Tất nhiên phải bố trí trên cơ sở phối hợp giữa vị trí của cả bồn rửa và bếp để đạt đến sự phối hợp lý tưởng nhất giữa hai yếu tố Thủy và Hỏa.
| ► Xem lá số tử vi của mỗi người chuẩn xác tại Lichngaytot.com |
![]() |
![]() |
Là con gái, ai chẳng mong muốn có một mối tình chân thành, ngọt ngào giống như trong cổ tích. Nếu chỉ ước mơ thì mãi mãi chỉ là mơ ước, Ai yêu được họ thì quả là cực kì may mắn đấy.
![]() |
![]() |
![]() |
![]()
|
| ► Lịch ngày tốt gửi tới bạn đọc công cụ xem bói tử vi để biết tính cách, số mệnh của mình |
Phương Vị: Bắc Đẩu Tinh
Tính: Âm
Hành: Kim
Loại: Tài Tinh, Quyền Tinh
Đặc Tính: Tiền bạc
Tên gọi tắt thường gặp: Vũ
Một trong 14 Chính Tinh. Sao thứ 4 trong 6 sao thuộc chòm sao Tử Vi theo thứ tự: Tử Vi, Thiên Cơ, Thái Dương, Vũ Khúc, Thiên Đồng, Liêm Trinh.
Miếu địa ở các cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi.
Vượng địa ở các cung Dần, Thân, Tý, Ngọ.
Đắc địa ở các cung Mão, Dậu.
Hãm địa ở các cung Tỵ, Hợi.
Ý Nghĩa Vũ Khúc Ở Cung Mệnh
Tướng Mạo
Sao Vũ Khúc ở cung đắc địa, người đó có thân hình nở nang cao vừa tầm, nặng cân, đầu và mặt dài, vẻ mặt uy nghi, tiếng nói to, có nốt ruồi ở chỗ kín.
Sao Vũ Khúc ở cung hãm địa thì người bé nhỏ, thấp, hơi đen, có nhiều ngấn vết, tóc rậm và xấu.
Tính Tình
Sao Vũ Khúc đắc địa thì thông minh, có chí lớn, có óc kinh doanh, có tài buôn bán, tính tình mạnh bạo, quả quyết, cương nghị, thẳng thắn, hiếu thắng. Người nữ thì tài giỏi, đảm đang, gan dạ, can trường.
Sao Vũ Khúc hãm địa thì kém thông minh, tham lận, thiếu lương thiện, hà tiện, bủn xỉn, ương ngạnh.
Công Danh Tài Lộc
Vũ Khúc vốn là sao tài nêu ý nghĩa tài lộc rất mạnh.
Vũ Khúc đắc địa thì suốt đời giàu sang, tiền bạc dư dả, được nắm giữ tiền bạc, có uy danh lừng lẫy, sự nghiệp lớn lao.
Vũ Khúc hãm địa thì bất đắc chí, công danh trắc trở, tiền bạc khó kiếm, thường phá tán tổ nghiệp, thường phải ly hương tự lập, không nhờ được người thân.
Vũ Khúc ở Sửu, Mùi thì lúc thiếu thời thì no ấm, nhưng chẳng mấy khi được xứng ý toại lòng về công danh và tiền bạc. Phải sau 30 tuổi mới tốt và càng về già càng tốt.
Phúc Thọ Tai Họa
Vũ Khúc là sao cô độc, dù là đắc địa hay hãm địa, thường cách biệt với người thân, ít bè bạn. Cũng có nghĩa cô độc, ít hạnh phúc gia đình và xã hội, nếu Vũ Khúc đi liền với Cô Thần, Quả Tú, Đẩu Quân, Thái Tuế, là những sao hiu quạnh, làm tăng ý nghĩa lẻ loi của Vũ Khúc.
Vì Vũ Khúc là sao cô độc, nên người nữ có sao này thường có sự trắc trở về duyên nợ. Do đó phải cần có nhiều sao tốt đẹp thì duyên nợ mới tốt, giàu sang.
Vũ Khúc, Văn Khúc đắc địa: Thông minh, học rộng, có tài năng, biết cả văn lẫn võ, làm việc bán văn bán võ, nếu là võ nghiệp thì làm ở văn phòng, tham mưu, thiết kế.
Vũ Khúc, Lộc Tồn, Thiên Mã: Lập nghiệp ở xa quê hương nhưng rất thịnh vượng. Nếu ở Dần có cách này thì sự nghiệp rất lớn ở tha hương.
Vũ Khúc, Lộc Tồn, Hóa Quyền ở Dần, Thân: Hết sức giàu có (như Vũ Tướng ở Dần Thân). - Vũ Khúc, Hóa Quyền nữ Mệnh: Khôn ngoan tần tảo, gầy dựng tất cả sự nghiệp cho chồng, chồng phải nể sợ.
Vũ Khúc, Thiên Phủ, Tử Tướng: Phú quý và thọ.
Vũ Khúc, Tấu Thư, Đào Hồng, Thiên Hỷ: Ca sĩ, kịch sĩ giỏi; thợ may khéo.
Vũ Khúc, Thiên Hình, Thiên Riêu, Tấu Thư: thợ mộc giỏi.
Vũ Khúc, Phá Quân ở Tỵ Hợi: Tham lận, bất lương, lập nghiệp ở xa, suốt đời vất vả, lao khổ; không giữ được nghiệp tổ mà phải phá tán cho đến hết.
Vũ Khúc, Thất Sát, Phá Quân, Liêm Trinh ở Mão: Bị tai nạn về điện lửa, sấm sét và bệnh thần kinh, cô đơn, bần hàn.
Vũ Khúc, Kình Dương, Đà La, Phá Quân: Bị khốn hại vì tiền.
Vũ Khúc hãm địa Kiếp Sát đồng cung, Kình Dương chiếu: Rất gian ác bất lương, giết người không gớm tay, khát máu.
Ý Nghĩa Vũ Khúc Ở Cung Điền Trạch
Sao Vũ Khúc đơn thủ tại Thìn, Tuất: Cơ nghiệp của tiền nhân để lại rất lớn lao. Càng về sau càng thịnh vượng.
Vũ Khúc, Thiên Phủ đồng cung: Giữ gìn được tổ nghiệp, nếu không được hưởng điền sản, thì cũng thừa hưởng được nghề nghiệp của cha mẹ, dòng họ. Về sau càng làm nên sự nghiệp nhà đất.
Vũ Khúc, Tham Lang đồng cung: Có nhà đất của tiền nhân để lại, nhưng chính mình phải tự tay tạo dựng mới lớn lao. Càng lớn tuổi thì càng có nhiều nhà cửa.
Vũ Khúc, Thiên Tướng đồng cung: Nhà đất ban đầu mua vào bán ra thất thường, nhưng càng lớn tuổi thì có nhiều nhà đất.
Vũ Khúc, Thất Sát đồng cung: Không điền sản, hoặc có rất ít điền sản, hoặc có nhà đất của cha mẹ để lại mà vì hoàn cảnh, thời cuộc mình phải bỏ đi. Về già mới có được nơi ăn chốn ở chắc chắn.
Ý Nghĩa Vũ Khúc Ở Cung Quan Lộc
Ba loại mệnh Thổ, Thủy, Kim gặp Vũ Khúc đắc địa ở Quan Lộc và thêm cát tinh hội chiếu thì sự nghiệp công danh vô cùng hiển đạt.
Vũ Khúc, Thiên Phủ đồng cung: Đường công danh dễ gặp sự toại nguyện, tài hoa, hoặc buôn bán, kinh doanh, làm công kỹ nghệ, pha chế, chế biến cũng phát tài.
Vũ Khúc, Thiên Tướng đồng cung: Quan trường hay thương nghiệp đều đắc lợi.
Vũ Khúc, Thất Sát đồng cung: Thành công trong công danh sự nghiệp, nhưng phải đi xa mới tốt. Đường công danh thời tuổi trẻ lên xuống thất thường, hạp ngành nghề quân sự, kỹ thuật, công kỹ nghệ, thầu khoán, xây dựng, địa ốc.
Vũ Khúc, Phá Quân đồng cung: Đi vào quan chức không tốt bằng làm ăn mua bán.
Vũ Khúc, Tham Lang đồng cung: Rất hạp với nghề kinh doanh, làm thợ khéo, công kỹ nghệ, có tinh thần nghệ sĩ, nhưng phải sau 30 tuổi.
Ý Nghĩa Vũ Khúc Ở Cung Thiên Di
Mệnh Thủy, Thổ và Kim gặp Vũ Khúc đắc địa lại thêm cát tinh tốt hội chiếu thì ra ngoài buôn bán làm giàu rất dễ dàng. Nếu hãm địa và mệnh khắc Vũ Khúc thì là tiểu thương hoặc khó kiếm tiền. Dù sao Vũ Khúc ở cung Thiên Di tất phải đi xa làm ăn.
Ý Nghĩa Vũ Khúc Ở Cung Tật Ách
Sao Vũ Khúc ở Mão, dù là đắc địa, thường bị bệnh thần kinh hay khí huyết.
Sao Vũ Khúc ở Dậu thì bị nội thương khó chữa.
Sao Vũ Khúc, Thiên Tướng đồng cung ở Tật: Có ám tật.
Sao Vũ Khúc, Tham Lang, Xương Khúc đồng cung: Nhiều nốt ruồi, hay mắc bệnh có liên quan đến lông tóc.
Sao Vũ Khúc, Thất Sát đồng cung: Bệnh ở bộ máy tiêu hóa.
Sao Vũ Khúc, Long Trì đồng cung: Có nốt ruồi đỏ.
Sao Vũ Khúc, Thiên Riêu đồng cung: Bệnh tê thấp hay phù chân tay.
Sao Vũ Khúc, Thiên Riêu, Thiên Việt, Phá Toái: bị câm.
Nếu hợp ở Mệnh lại đắc địa thì khí huyết tốt, mạnh khỏe luôn. Nếu hãm địa và khắc Mệnh thì hay có bệnh phong hay trĩ.
Ngoài ra người mệnh Kim và Thủy (tức là 2 hành tương sinh với Vũ Khúc) cũng ít bệnh. Trái lại, nếu mệnh Mộc và Hỏa thì bệnh nhiều hơn.
Ý Nghĩa Vũ Khúc Ở Cung Tài Bạch
Vũ Khúc là sao tài, đóng ở cung Tài Bạch tất mang lại tiền bạc. Tài lộc dồi dào hay không còn tùy vị trí đắc địa hay hãm địa của Vũ Khúc và sự hội tụ với cát tinh.
Các sao hợp với Vũ Khúc về tài lộc gồm có:
Chính tinh: Thiên Phủ, Âm Dương sáng sủa, Tử Vi, Thiên Tướng.
Trợ tinh: Hóa Lộc, Lộc Tồn, Tràng Sinh, Đế Vượng, Thai Tọa, Quang Quý, Tả Hữu, Long Phượng, Đẩu Quân, Cô Thần, Quả Tú, Thiên Mã, Hóa Quyền.
Các sao khắc với Vũ Khúc về tài lộc:
Chính tinh: Phá Quân đồng cung.
Trợ tinh: Đại, Tiểu Hao, Tuần, Triệt, Không, Kiếp, Kình, Đà, Phục Binh, Hóa Kỵ.
Tùy theo sự hội tụ ít nhiều và đặc tính nặng nhẹ các sao đi kèm, tùy theo sự đồng cung hay chiếu mà kết hợp luận đoán, sau khi xét qua hàm số của Phúc, Mệnh, Thân.
Vũ Khúc Khi Vào Các Hạn
Vũ Khúc, Lộc Tồn, Thiên Mã, Thiên Cơ, Thiên Hỷ, Hồng Loan: Thành gia thất.
Thái Dương, Thái Âm sáng sủa: ở Mệnh hay chiếu Mệnh: con người rất thông minh, lãnh hội mau chóng, phong phú và sâu sắc, phân biện tinh vi các góc cạnh của vấn đề. Về mặt khoa bảng, Âm Dương sáng thì học giỏi, học rộng, học cao, có bằng cấp lớn, có thực học. Nếu được thêm các văn tinh khác đi kèm thì trình độ học vấn càng cao, học lực có thể lên mức quốc gia hay quốc tế.
Thiên Cơ, Thiên Lương đồngcung: Đắc địa trở lên, hai sao này gần như đồng nghĩa, chỉ sự thông minh sắc sảo, trí đa mưu, óc quyền biến, khả năng khảo cứu chính trị, chiến lược. Cơ Lương đồng cung chỉ năng khiếu sư phạm, có tài dạy học, nghiên cứu, tìm tòi đồng thời với tài tham mưu, cố vấn. Về mặt học vấn, Cơ Lương là bộ khoa bảng quan trọng, dường như nặng ý nghĩa ứng dụng.
Thiên Cơ, Cự Môn đồngcung: đắc địa ở Mão và Dậu, ở Mão hay hơn. Có ý nghĩa tương tự như Cơ Lương, ngành học của Cự Cơ thiên về pháp lý, chính trị học, luật học nhiều hơn.
Tử, Phủ, Vũ, Tướng: cũng chỉ khoa bảng, cả văn lẫn võ, nhưng nặng về quý cách hơn là khoa cách. Nếu có thêm văn tinh hội tụ thì nhất định khoa bảng sẽ rõ rệt.
Sát, Phá, Liêm, Tham: chỉ năng khiếu võ nghiệp, học võ lợi và dễ hơn học văn, làm ngành quân sự đắc dụng.
Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương: nếu đắc địa, chỉ sự thông minh, học giỏi và học cao, có bằng cấp lớn. Nếu các sao trong bộ cùng đắc địa thì chắc chắn có khoa bảng cao. Nếu không, các sao đó chỉ tư chất thông minh. Nếu hãm địa thì học vấn bị trở ngại, bị chậm lụt, dang dở. Bất lợi này chỉ được bù trừ nếu có nhiều phụ tinh khoa bảng hội tụ đông đảo.
Hóa Khoa: điển hình cho khoa bảng. Ngoài đức tính thông minh, hiếu học, Hóa Khoa còn chỉ sự đỗ đạt, trình độ học vấn cao và rộng. Năng khiếu học vấn còn đi liền với khả năng sư phạm, khả năng sáng tác, sưu tầm. Có Hóa Khoa ở Mệnh hay chiếu Mệnh, học trò thì xuất sắc, thầy giáo thì dạy hay, khảo cứu thì nổi danh, có viết sách. Hóa Khoa chỉ phương pháp dạy và học độc đáo, cách thức trình bày ngăn nắp, hệ thống hóa các điều hiểu biết một cách mạch lạc, trật tự, diễn tả tư tưởng rất rõ ràng và thông thái. Hóa Khoa là một sao hùng biện, lối hùng biện của người có học vấn uyên thâm.
Văn Xương, Văn Khúc: Xương Khúc tượng trưng cho tình cảm và trí tuệ. Xương Khúc rất xuất sắc trong những ngành học nào mình thích còn Hóa Khoa thì giỏi về nhiều môn. Xương Khúc thiên về chuyên khoa nên khó ai vượt nổi Xương Khúc trong chuyên môn sở trường. Vì nặng về tình cảm nên ngành học của Xương Khúc là văn chương, triết lý, thi ca, nhạc kịch, vốn là các bộ môn làm rung động mãnh liệt tâm hồn con người.
Thiên Khôi, Thiên Việt: biểu tượng cho học trò giỏi và đỗ đạt. Khôi Việt chỉ sự lỗi lạc, xuất chúng trong nhiều ngành. Khôi còn có nghĩa là đứng đầu, cầm đầu, vì thế có tinh thần ganh đua mãnh liệt để chiếm giải nhất, không chấp nhận nổi sự thua thiệt. Đức tính quý báu của Khôi Việt là óc lãnh tụ, sự mưu cơ, tài tổ chức, chí hướng chỉ huy, lãnh đạo vì vậy Khôi Việt hữu dụng cho xã hội trong khi Hóa Khoa và Xương Khúc thường đắc dụng cho học đường, cho ngành giáo dục thuần túy. Khôi Việt vừa là người có học vừa biết ứng dụng cái học vào trường đời, cũng bằng ý chí tranh thắng thi đua, vốn là động cơ thành công trong nhiều lãnh vực.
Long Trì, Phượng Các: bằng cấp của hai sao này rất cao, đặc biệt là khi đồng cung ở Mùi (với người tuổi Mão) hoặc ở Sửu (với người tuổi Dậu).
Thiên Hình: chỉ năng khiếu nhận xét tinh vi, phê phán phân minh, óc phân tích tỷ mỉ và sự lý luận sắc bén. Sao này đắc dụng cho người khảo cứu, cho luật gia, cho học trò, cho nhà phê bình nghệ thuật, văn chương. Văn của Thiên Hình lại khô khan, kỹ thuật, nhưng vô cùng chính xác.
Thái Tuế: sao này lanh lợi, nói giỏi, nhiều ý và nhất là nhiều lời, hoạt bát. Thái Tuế chỉ hợp với luật sư, công tố, ứng cử viên tranh cử, chính trị gia ...
Văn Tinh, Lưu Hà, BácSỹ: Văn Tinh chỉ sự ham học. Lưu Hà và Bác Sỹ chỉ sự hùng biện sự diễn đạt tư tưởng thâm thúy. Cả ba đều cần cho học trò, giáo sư, thuyết khách.
Hỏa Tinh, Linh Tinh đắcđịa: Đi với Thái Dương sáng sủa, Hỏa Linh làm tăng thêm sự mẫn tiệp, có lợi cho sự học hỏi và khảo cứu, điều tra. Cả ba cùng là sao hỏa nên rất sắc bén, linh động.
Thiên Không: chỉ sự thông minh của hạng mưu sĩ, lưu manh, cắc cớ, gian xảo, dùng trí để hại, để phá, để diệt kẻ khác.
a. Sao mở rộng học vấn:
Tả Phù, Hữu Bật, Đế Vượng, Tràng Sinh: Có Tả Hữu đi với khoa tinh, sức học sẽ rộng hơn. Sinh và Vượng thì chỉ sự phong phú, tương hợp với học gạo, học ráo riết thật nhiều. Đi với khoa tinh, Sinh Vượng là hệ số làm tăng thêm kiến thức tổng quát. Ví dụ như Khoa-Sinh nghĩa là học rộng, sáng tác nhiều. Khôi-Vượng sẽ đỗ cao, thủ khoa hay được Hội đồng Giám khảo tuyên dương.
b. Những sao thúc đẩyhọc vấn:
Quan Phù, Quan Phủ:chỉ sự cạnh tranh, ganh tị, thi đua, ích kỷ. Về việc học, Phù Phủ chỉ sự cầu tiến, cố gắng thường đưa đến ganh đua, đôi khi có đố kỵ nhỏ nhen, cạnh tranh bất chính. Nếu gặp Hóa Kỵ hay Phục Binh hay các sao chỉ tính tham lam thì sự cạnh tranh dùng đến thủ đoạn không cao thượng.
c. Những sao may mắn cho học vấn:
Ân Quang, Thiên Quý, ThiênQuan, Thiên Phúc, Tả Phù,Hữu Bật:đều có nghĩa hên may, được giúp đỡ, được phù hộ, ví dụ như thi trúng tủ hoặc được báo mộng bài thi (Quang, Quý) gặp thầy dễ, bài dễ, được khoan hồng (Tả, Hữu, Quan, Phúc). Cả sáu sao này chỉ sự phù trì của linh thiêng hoặc sự trợ giúp của người đời.
- Thanh Long, Hóa Kỵ hayLưu Hà
- Bạch Hổ, Phi Liêm hayTấu Thư
- Thiên Mã, Tràng Sinh hayPhi Liêm
- Thiên Hỷ, Hỷ Thần
những bộ này nếu đóng ở Mệnh hay chiếu vào Mệnh thì thường gặp vận hội tốt đẹp. Nếu đóng ở cung hạn thì gặp hên may trong hạn đó. Nếu bộ sao hên rơi đúng vào kỳ thi thì dễ đậu.
4.Các sao cản trở khoa bảng:
Triệt: sao này có hiệu lực chế khắc rất mạnh, cụ thể như làm cho khoa bảng bất thành, không cao, chật vật, thi rớt, đậu thấp hay đậu vớt.
Tuần: cũng có hiệu lực khắc chế khá mạnh nhưng kém hơn sao Triệt. Văn tinh mà gặp Tuần đồng cung báo hiệu sự thi rớt, thi khó, thi nhiều keo ...
Tuy nhiên, nếu cung hạnvô chính diệu gặp Tuần,Triệt thì lại tốt.
Hóa Kỵ: báo hiệu việc thi rớt, thi khó, khoa bảng lận đận, dở dang. Hóa Kỵ chỉ sự nông nổi hay thay đổi chí hướng, sự bất mãn vì thất bại. Hiệu lực của Hóa Kỵ khá mạnh vì có thể làm lu mờ cả Khôi, Việt, Xương, Khúc, Hóa Khoa. Người có Khôi Việt gặp Kỵ thì chỉ là kẻ ẩn dật, bất đắc chí. Hóa Kỵ chỉ tốt khi gặp Thanh Long đồng cung mà thôi.
Kình Dương, Đà La hãm: đều chỉ sự cản trở, sự gian nan, sự chậm lụt trong khoa trường. Nếu Kình Dương miếu địa, đối với hai tuổi ất, Tân thì lại là người có tài văn chương từ đó có nghĩa thi đỗ.
Địa Không, Địa Kiếp hãm: Đi với văn tinh thì rất bất lợi: không thể thi được, thi rớt, bị tai họa lúc thi (cóp bài bị đuổi ...)
Thiên Không hãm (ở Tý, Sửu, Mão, Thìn,Ngọ, Mùi, Dậu, Tuất, Hợi): gặp phải khoa tinh, Thiên Không làm cho khoa trường lận đận.
Đại Hao, Tiểu Hao: chủ sự thay đổi, hao tán, ứng dụng vào khoa bảng có thể có nghĩa: thi rớt keo đầu, thi hai ngành trong đó rớt một, có thể tốn tiền về thi cử.
Thiên Khốc, Thiên Hư: chỉ sự lo âu, nước mắt, xui xẻo, do đó có thể báo hiệu việc thi rớt hoặc học mà không chịu thi. Nếu đăc địa ở Tý Ngọ thì có thể đỗ ở kỳ hai vì hai sao này đắc địa lợi về hậu vận hơn.
a. Võ học:
Sát, Phá, Liêm, Tham: nếu hội đủ cả bốn sao chiếu Mệnh thì nghiệp võ của đương số sẽ rõ ràng. Tuy nhiên, có nhiều trường hợp quân nhân vẫn không hội đủ bốn sao. Mặt khác, cũng có trường hợp có đủ bốn sao mà vẫn không phải là nhà binh. Trong trường hợp này, những sao đó nói lên võ tính của đương sự hơn là võ học hay võ nghiệp: biểu lộ tính can đảm, táo bạo, liều lĩnh, hay sát phạt, có hành động võ phu.
Binh Hình Tướng ấn: cách này chỉ sự hiển đạt trong nghiệp võ, chỉ quân nhân có tài tác chiến, tài tham mưu, đồng thời cũng là quân nhân có chiến công, có cầm quân, có huy chương.
Vũ Tướng: hai sao này kết hợp cũng chỉ võ nghiệp rất đặc sắc.
Tử Phủ Vũ Tướng: cách này vừa chỉ văn, vừa chỉ võ cho nên đặc biệt có quyền uy: đó là ngành võ cầm quyền chính trị.
Tướng Quân, Thiên Mã: chỉ quân nhân có tài. Tướng Quân chỉ võ tính, sự cương cường, hiếu thắng, phách lối còn Thiên Mã chỉ tài năng. Nếu Thiên Mã đi với Thiên Tướng cũng đồng nghĩa nhưng đây là một quân nhân có kỷ luật hơn vì Thiên Tướng vốn đôn hậu, có tư cách hơn Tướng Quân.
Thiên Mã, Lực Sỹ: là cách của võ tướng có sức mạnh từ đó vũ dũng (ít có mưu lược).
Thiên Tướng-Tướng Quân hay Thiên Tướng-Phục Binh hay Tướng Quân-PhụcBinh: là tướng có quân, có quyền.
Ngoài ra có thể kể một số sao trợ võ, nghĩa là đi chung với các võ tinh khác thì làm cho võ nghiệp rõ rệt hơn. Đó là Không, Kiếp, Kình, Đà, Hỏa, Linh là những sát tinh, hung tinh nói lên tính nết mạnh bạo, dám làm, tác phong của võ cách. Ví dụ, hai sao Kình, Hỏa miếu địa đồng cung là số danh tướng, hợp vớ cách Sát Phá Liêm Tham. Tướng Mã Không Kiếp đắc địa chỉ quân nhân cầm binh, vị tướng cầm quân có nhiều binh tướng dưới tay, thường lập nghiệp vẻ vang trong thời tao loạn. Sát Phá Liêm Tham gặp Kình hãm địa ở Mão và Dậu là tướng làm loạn, đảo chánh, binh biến, khát máu, giết người không gớm tay.
b. Văn học:
Văn Xương, Văn Khúc: chỉ các môn về văn chương, triết lý hoặc chỉ môn học nói chung.
Thái Tuế, Thiên Hình, Cự Môn, Quan Phù:một trong bốn sao này chỉ các môn học về luật pháp.
Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phù, Hữu Bật: cả bốn sao này chỉ ngành dịch thuật. Đây là bộ sao của các thông ngôn, hành nghề dịch sách, tu thư, khảo cứu cổ ngữ, kim ngữ.
Lưu Hà, Tấu Thư, Hóa Khoa, Thái Tuế, Cự Môn,Hóa Kỵ: chỉ sự hùng biện, tài dùng ngôn ngữ, ứng dụng đắc cách vào ngành sư phạm, vào khoa hùng biện, chính trị học.
Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương: chỉ người công chức. Ngành học là hành chính, quản trị công sở.
Lộc Tồn: chỉ tài năng tổ chức, sắp xếp công việc, do đó cũng liên quan đến ngành quản trị hành chính hay công sở đặc biệt là quản trị tài chính, kế toán, ngân sách, kho bạc, ngân hàng.
c. Khoa học:
Thiên Tướng, Thiên Y: Hai sao này đi chung (đồng cung hay hội chiếu) có nghĩa là y học. Ngoài ra, nếu Thiên Y đi kèm với các sao phù trợ khác cũng có nghĩa về y học: Thiên Quan, Thiên Cơ, Thiên Đồng, Thiên Phúc, Thiên Lương, Thái Âm, Tả Phù, Hữu Bật, Thiên Giải, Địa Giải, Giải Thần ...
Thiên Y, Hóa Kỵ: có ý nghĩa bào chế thuốc men, có liên quan đến y dược học.
Thiếu Âm, Thiếu Dương, Thá iÂm, Thái Dương: các sao này có nghĩa là điện, liên quan đến ngành điện học, điện tử hay nguyên tử.
Thiên Cơ: liên quan đến máy móc, ngành cơ khí, kỹ thuật. Đây có thể là sao của kỹ sư, chuyên viên kỹ thuật, kỹ nghệ gia.
d. Kinh tế học:
Vũ Khúc, Tham Lang: Vũ Khúc chỉ tài lộc, tiền bạc. Tham Lang chỉ sự đua chen tham lợi. Đây là cách chỉ nghề thương mại, kinh doanh.
Hóa Lộc, Lộc Tồn vàThiên Mã: Hai sao Lộc chỉ tiền tài. Thiên Mã chỉ tài năng, sự tháo vát, giao dịch. Hai sao này đi chung chỉ ngành thương mại, đặc biệt là ngành thương mại lưu động. Người có bộ sao Mã Lộc hay Mã Tồn là kẻ mua sỉ bán lẻ hay đại lý thương mại hay người phân phối, đóng vai luân lưu hàng hóa trong hệ thống kinh tế.
Vũ Khúc, Thiên Phủ: Thiên Phủ chỉ cái kho tàng hay kho bạc. Ngành học của Phủ có thể là ngân hàng, tín dụng, thuế khóa. Vũ Khúc có thể chỉ kinh tế học. Đây là cách chỉ ngành kinh tế, tài chính.
Vũ Khúc, Tham Lang, Kình Dương, Thất Sát: bốn sao này sáng sủa hội họp thường thiên về kỹ nghệ.
e. Nghệ thuật:
Phượng Các, Tấu Thư, XươngKhúc: Phượng Các là thính giác. Tấu Thư là sự linh mẫn, êm dịu, ngọt ngào. Xương Khúc chỉ môn học. Bốn sao này đi cùng chỉ môn âm nhạc.
Tấu Thư, Hồng Loan: Hồng Loan có nghĩa là hoa tay, từ đó chỉ ngành học liên quan đến sự khéo tay như hội họa, điêu khắc, thêu may, hay thủ công nghệ nói chung.
Đào Hoa, Tấu Thư, ThiênHỷ, Vũ Khúc: bộ sao của ca sĩ, kịch sĩ, diễn viên màn ảnh, tài tử, minh tinh, có liên quan đến ngành học như hát, đóng kịch, đóng phi. Đào Hoa chỉ sự hâm mộ, Thiên Hỷ chỉ sự giúp vui, Vũ Khúc chỉ danh giá, sự nổi tiếng.
Thiên Trù, Tấu Thư, HóaLộc hay Hồng Loan: chỉ ngành nấu bếp, nấu rượu, chế tạo thức ăn thức uống hoặc gia chánh.
Đào Hoa, Hồng Loan với Mộc Dục hay Hoa Cái:chỉ môn thẩm mỹ học, chuyên về sửa sắc đẹp. Nếu đi với Thiên Hình hay Kiếp Sát chỉ môn giải phẫu thẩm mỹ.
Trong chiến tranh, sửa tuổi (tăng lên hoặc giảm xuống) để đủ điều kiện (về độ tuổi) nhập ngũ đánh giặc, đó cũng là chuyện bình thường. Thậm chí có một số người còn được biểu dương, ca tụng cùng với thành tích lập công. Tuy nhiên, thời bình thì việc sửa tuổi, nhất là khai man giảm tuổi đi để làm gì? Với một số người, nếu không phải là để kéo dài thời gian công tác tại chức; làm chậm thời gian về hưu…
Cũng kịp thời, vừa rồi Ban Bí thư Trung ương Đảng ta mới ra Thông báo số 13, quy định chi tiết về việc xác định mốc và “hằng số năm sinh”, tuổi đảng viên, để khắc phục tình trạng sửa tuổi, “chạy” tuổi trong Đảng.
Người viết thiết nghĩ cơ quan Đảng đã tích cực như vậy; cơ quan Chính quyền cũng cần có Chỉ thị cụ thể để xác định mốc, “hằng số năm sinh”, tuổi của công chức, viên chức ngoài Đảng, những người làm công ăn lương.
Đặc biệt thú vị, xét quá khứ thực tế hòa bình, đã có số người sửa tuổi. Song, liệu họ có thể sửa được số tử vi? Bởi vì số tử vi là một môn khoa học, có trong nội dung Kinh dịch và Almanach-những nền văn minh Thế giới, chứ không phải chuyện mê tín dị đoan.
Đa số mọi người-chúng ta có lá số tử vi phụ thuộc vào giờ, ngày, tháng, năm sinh, giới tính của mình. Và nhiều người đã biết đi cậy nhờ người thông tuệ coi số tử vi sẽ được luận giải trung thực, chính xác Cung mệnh, quan lộc, nghề nghiệp, tiền tài, vợ chồng, phúc đức, con cái, nhà cửa đất đai, kể cả bệnh tật, vận hạn… của họ. Có thể nói qua số tử vi, có thể biết được tổng quan cả cuộc đời họ.
Như phần trên đã nêu: Số tử vi phụ thuộc vào giờ, ngày, tháng, năm sinh và giới tính từng người. Trong đó giờ, ngày, tháng, năm sinh đã an bài, không thể điều chỉnh-thay đổi được (có thể ví như hằng số C trong Toán học).
Chính vì vậy, những người “khai man” năm sinh để sửa tuổi; nhưng họ không thể sửa được số tử vi của họ. Cho dù có trường hợp “Nhân định thắng Thiên” chăng nữa, cũng chỉ có khả năng thực hiện khi họ có Thế giới quan và Nhân sinh quan một cách đúng đắn, lành mạnh. Không thể xảy ra với số người sửa tuổi nhằm mục đích “tham quyền cố vị”.
Ngoài ra đến một ngày, tháng, năm nào đó, số người sửa tuổi sẽ vĩnh biệt chúng ta để họ “ra đồng”; không biết gia đình, họ hàng, thân nhân của họ cho viết cáo phó, hoặc tin buồn và cho người đọc Điếu văn theo tuổi nào? Tuổi thật hay tuổi sửa?
Nếu cáo phó hoặc tin buồn, Điếu văn theo tuổi thật, hóa ra khi sống làm việc ở cơ quan, họ đã ăn gian nói dối tuổi hay sao?
Nếu cáo phó hoặc tin buồn, Điếu văn theo tuổi sửa (khai rút tuổi đi), thì cũng thật trớ trêu.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
![]() |
![]() |
| ► Khám phá thêm: Bí ẩn 12 cung hoàng đạo và những điều liên quan tới bạn |
12 con giáp và những ngôi sao Euro 2016: Người tuổi Tuất
![]() |
3 yếu tố quan trọng xoay chuyển vận mệnh con người (p1)| ► Theo dõi: Tử vi hàng ngày, tử vi hàng tuần được cập nhật liên tục, chuẩn xác tại Lichngaytot.com! |
Tấm lòng của người mẹ không phải ai cũng hiểu thấu, nhất là người đó lại là mẹ kế của mình. Từ bao giờ, như một thói quen ăn sâu tận trong tâm thức, nó rất ghét, ghét cay ghét đắng bà mẹ kế, người đàn bà tật nguyền suốt đời phải ngồi trên chiếc xe lăn, đã thế bà ta lại bị bỏng nặng, khuôn mặt đỏ ửng hằn những vết sẹo loang lỗ hệt như 1 cương thi, chỉ nghĩ đến thôi cũng đủ sợ mất hồn…
Từ lâu nó rất ghét bà mẹ kế. Vì ghét bà ấy, nó ghét lây sang ba nó, nó nghĩ hoài, nghĩ mãi. Không hiểu bà ta bỏ bùa mê thuốc lú gì mà ba nó lại rước gánh nặng ấy về. Thà nuôi 1 con vật giữ nhà còn có ích hơn. Đời này thiếu gì đàn bà để ba nó phải làm như vậy, khiến nó xấu hổ đến nỗi chưa bao giờ dám dẫn bạn về nhà.
Thế nhưng cuộc đời đúng là tréo nghoe, trêu ngươi con người, nó càng ghét bà ấy chừng nào thì bà ấy càng thương nó chừng ấy, bà ấy càng thương nó thì ba nó càng thương bà ta nhiều hơn. Hài không tả nỗi vì gia đình nhà nó.
Hồi còn nhỏ tính nó đã tinh nghịch, phá phách, lại háo thắng, 1 lần đánh nhau với thằng nhóc con nhà hàng xóm tơi bời, nguyên do chỉ vì thằng kia trêu nó có bà mẹ dễ thương, xinh đẹp. Nỗi uất ức bao ngày qua cố kìm nén nay được nhỏ kia khơi dậy. nó đánh thằng kia tăm tối mặt mày, sứt đầu mẻ trán đến nỗi cha mẹ nhận không ra, ông hàng xóm dẫn con sang tận nhà mắng vốn luôn cả ba nó, bảo rằng ông không biết dạy con. Kết quả là nó bị ba ”dạy dỗ” cho trận đòn thừa sống thiếu chết.
Lúc ấy mẹ kế còn đi được nhưng khó khăn lắm, phải lê lết, chống nạn. Thấy ông giận dữ ước chừng có thể vồ lấy nó ăn tươi nuốt sống, bà nhoài người đưa thân ôm nó đỡ trận đòn roi. Nào ngờ không những không chút tấm lòng cảm kích biết ơn, nó dùng chút sức lực yếu ớt còn lại vùng vẫy, xô bà lăn nhoài xuống đất.
”Bà khỏi giả nhân giả nghĩa trước mặt ba tôi đi, thấy tôi bị vậy bà vui lắm chứ gì, bà cướp ba khỏi tay mẹ tôi, khiến mẹ tôi chết, khiến gia đình tôi tan cửa nát nhà. Vậy chưa đủ sao. Bà còn muốn gì nữa, nhìn lại bà coi, người không ra người, ma chẳng ra ma, bà đi chết đi”. Nó nói không chớp mắt như lập trình sẵn, đôi mắt đỏ ngầu hằn sâu tia lửa hận. Suy nghĩ của 1 thằng nhóc con mấy lớn khiến ba nó và bà vô cùng ngạc nhiên. Bà hoàn toàn nín lặng.
“Đồ trời đánh”… Ba nó thét lên
“Anh đừng nói con như vậy mà, nó còn nhỏ chưa hiểu gì đâu” ….Bà đỡ lời, nước mắt rơi hối hả.
Ông càng đánh nó càng im lặng, mặt cứ nhơn nhơn như thể trêu ngươi, chọc tức 2 người.
Thời gian trôi nhanh, nó ngày càng lớn dần theo năm tháng, tiếp nối nỗi hận thù với bà cũng tăng dần đều theo tỉ lệ thuận.
Về phần bà, bị hoại tử đến nỗi liệt cả 2 chân, không thể đi được. Người người thấy bà ai cũng đau lòng, thương xót. nó thì cười, cho đó là điều tất nhiên, là quả báo. Rồi nó học đại học, họa hoằn lắm tết nhất mới miễn cưỡng mò về nhà, vì gặp bà, thấy mặt bà nó lại chướng tai gai mắt, khó ưa.
Đang cắm bút ôn bài thi giữa học kỳ, gần 12h đêm nó nhận được điện thoại của ba nó.
“Con hả? Đến bệnh viện với ba gấp, Mẹ con bệnh nặng lắm, phải chuyển tuyến lên thành phố”… Ba nó nói trong gấp gáp.
“Dạ, ba thông cảm, giờ con bận học thi rồi ba ơi, không đi được đâu”.. Nó nói chống chế nhưng trong lòng mừng rơn, bà đâu phải mẹ tôi đâu, đáng lắm.
“Không đi được hả con?”
“Dạ….”
Cứu người hơn cứu hỏa, biết nó chẳng giúp được gì nên ba nó đành tặc lưỡi cúp máy.
3 ngày sau…
“Con nghe ba…?”
“Mẹ con mất rồi. ba đang làm thủ tục với bệnh viện đưa mẹ về quê an nghỉ. Con về nhà ngay nhé.”
Ngày mai con thi ba ơi, lý do quá chính đáng mà. Nó lại đưa ra lý do, có lẽ lương tâm nó bị quỷ cướp mất rồi, nếu còn là con người, nó có thể xin nghỉ rồi mai mốt thi lại cũng được, chí ít cũng một lời chua xót với người đã khuất chứ.
Cuối cùng cũng thi xong, lần này nó bỗng háo hức muốn về nhà kì lạ.
Bắt xe đò về nhà, nhìn lên bàn thờ nó thập phần ngạc nhiên, kế bên tấm ảnh mẹ ruột nó là bức chân dung một người phụ nữ, so với mẹ nó thì người kia nhìn trẻ, đẹp hơn gấp bội phần.
“Chứ ảnh mẹ kế đâu mà ba trưng tấm hình này?” nó hỏi
“Đó… Mẹ con đó”
Nó há hốc mồm, mắt trợn tròn.
“Chuyện dài lắm, con thắp nhang cho mẹ rồi đi tắm rửa…”
“Để con tắm rửa rồi thắp sau cũng được mà ba”… Nó chống chế, vẫn còn hận bà ấy nhiều đến vậy, ngay cả 1 nén nhang với người đã khuất cũng nỡ lòng tính toán.
“Thôi được rồi, con ngồi xuống đây ba kể con nghe chuyện này”, ba chỉ nó ngồi xuống ghế đối diện với vẻ mặt nghiêm nghị.
“Con hận Mẹ lắm phải không?”
“Dạ không, sao ba nghĩ vậy?” Mẹ nào ở đây, nó thầm nghĩ.
“Từ đầu tới cuối đừng nghĩ con làm vậy là con đúng. Nhầm rồi, nhầm to rồi con ạ. Tất cả chỉ con có lỗi, con sai, sai hoàn toàn và người con suốt đời phải mang ơn chính là người đang ngồi trên bàn thờ kia đang nhìn con mà không phải mẹ ruột con.”
“Con không hiểu ý ba muốn nói gì?” Nó bắt đầu thấy hồi hộp lẫn tò mò về điều ba nó sắp nói ra. Ba nó từ từ, chậm rãi kể.
“Ngôi nhà mình đang sống thực ra là nhà của mẹ kế con, mạng sống của con là do bà ấy cứu…Ngày xưa ba với mẹ ruột con yêu nhau thắm thiết, cưới nhau tuy nghèo nhưng vô cùng hạnh phúc. Khi con hơn 1 tuổi bỗng mẹ con thay lòng đổi dạ, không chịu nổi cuộc sống cơ cực nên bỏ mặc ba con mình theo người đàn ông khác, một lần mẹ con đi với người kia thì cả 2 cùng bị tai nạn rồi qua đời. Ba vẫn mang danh nghĩa là chồng của mẹ con nên phải làm tròn trách nhiệm của 1 người chồng, người cha lo phần hương hoả.
Ngày mẹ con mất ba sống tưởng như đã chết, dẫu rằng mẹ không còn thương nhưng ba vẫn yêu mẹ con nhiều lắm, đầu óc lúc nào cũng bần thần, vô định.
Quãng thời gian ấy, để tìm quên nỗi nhớ của người chồng mất vợ, nỗi đau vì bị vợ cắm sừng cùng những lời bàn tán, dị nghị của người đời, lúc mẹ bỏ ba con mình, con cứ khóc hoài khi đêm khuya khát sữa giật mình tỉnh giấc lần tìm hơi mẹ, ba chỉ biết ngập trong cơn say của rượu.
Một ngày nọ con lên cơn sốt phải nằm viện cả tháng trời, mẹ kế con lúc ấy là một y tá xinh đẹp, nhiều người thầm thương trộm nhớ muốn kết tóc xe duyên nhưng bà chưa chịu. Thấy con thông minh, dễ thương, lại nhìn ba cực khổ bỏ công bỏ việc chăm lo cho con nên bà đem lòng thương cảm. Ngày ngày bà ấy giúp ba săn sóc con, tới khi con về nhà điều trị, hôm nào bà cũng qua thăm hỏi, thuốc men.
Rồi ba và bà ấy có cảm tình với nhau, yêu nhau lúc nào không hay.
Khi gia đình bên ấy biết chuyện thì ra sức cấm cản, thứ nhất do gia đình mình nghèo, thứ 2 ba đã qua 1 đời vợ, thứ 3 nữa là vợ chết, họ sợ bà ấy quen ba rồi sẽ nhận lại kết cục của mẹ con.
Ba cũng suy nghĩ nhiều lắm. Sợ đi thêm bước nữa sau này con riêng con chung con chồng con vợ về sau con sẽ chịu khổ, ba đã nhiều lần buông tay, nhưng bà không chịu, vẫn 1 lòng với ba, nhìn cách bà ấy yêu thương con như con ruột ba tin tưởng, không thể kìm lòng.
Mẹ với ba cưới nhau mà không hoa không đèn, không mâm cao cỗ đầy, không bạn bè, bà con hai họ. Thiệt thòi lắm.”
Nói đến đây mắt ông chớm đỏ, giọng ông khuất nghẹn như khựng lại.
“Thế thì có liên quan gì tới con hả ba?”
“Mẹ chấp nhận từ bỏ công việc về ở với ba con mình trong ngôi nhà ván đơn sơ lụp xụp mà ngày trước ba với mẹ con từng sống. Từ một tiểu thư đài cát, danh gia vọng tộc, ngập trong nhung lụa gấm vàng, nay phải thay đổi bản thân sống cùng ba con mình trong cơ cực.
Hôm ấy ba có việc ra ngoài, con nghịch ngợm, mãi chơi làm đổ cây đèn dầu, gặp tiết trời mùa hè hanh khô, cộng thêm nhà ván dễ bắt lửa, lúc ba về tới nơi thì hoảng hồn nghe mọi người hô hoán, tìm cách dập lửa. Trong nhà lúc ấy chỉ có 2 mẹ con. Mẹ vừa thoát ra ngoài sân đã hỏi con đâu.
Khi nghe con còn ở trong bà đã chạy ngược vào.
Khi mẹ bế con ra khỏi nhà lúc ấy con đã bất tỉnh vì ngạt khói, nhờ mẹ dùng trọn thân mình che chở con mới thoát khỏi lưỡi hái của tử thần, mặc cho người mẹ lúc ấy bị bắt lửa phừng phực như một ngọn đuốc sống.
Nhờ đưa vào bệnh viện cấp cứu kịp thời nên giữ được tính mạng nhưng khuôn mặt, hai chân mẹ kế con bị bỏng hoàn toàn. Trong cơn mê sảng bà ấy vẫn cứ gọi tên con thống thiết.
Ngày ra viện, gia đình bà ấy hận ba con mình lắm, nhưng vì thương mẹ kế con nên đã tạo điều kiện, cho nhà để ba, con, và mẹ con về sống. Hi vọng cha con mình chăm lo bà ấy như chuộc lại lỗi lầm. Nhưng con trước giờ thì…”
“Sao ba mẹ không nói cho con biết?” Từ mẹ lần đầu được phát âm rõ ràng mấp máy trên môi nó.
“Mẹ bắt ba hứa không nói cho con biết.”
“Sao mẹ lại làm thế với con hả ba…?“. Nước mắt nó đã rơi.
“Nhãn quan của người mẹ mách bảo cho bà ấy biết, con là đứa yêu rất đậm mà hận ai đó cũng rất sâu. Thà cứ để con hiểu lầm còn hơn để con biết sự thật, chắc chắn hình tượng mẹ ruột trong lòng con sẽ phôi phai, và trọn suốt đời con sẽ hối hận, cảm thấy có lỗi vì những gì con gây ra khiến bà phải hứng chịu. Lúc nào bà ấy cũng hi sinh bản thân mình vì con.
Ba hối hận vì từ đầu đã không đủ dũng cảm nói ra sự thật. Để đến khi bà ấy nằm viện, sắp sửa lìa đời cứ muốn gặp con 1 lần mà không được…”
Ông từ từ đi lại tủ quần áo lấy ra 1 chiếc áo len: “Cái áo này lúc gần mất mẹ đã tự tay đan cho con, còn dặn dò ba nhắn với con là trời chuẩn bị vào đông lạnh lắm, chỉ mang áo khoác ngoài sẽ không đủ ấm, con sức khoẻ yếu rất dễ cảm lạnh. Ra đường phải mặc vào.”
Ông đưa tận tay nó rồi đập vào ngực nó thì thầm: “Ba đã không muốn nói, sao con bắt ba phải vậy…”
Nó đứng yên bất động, từng giọt nước mắt lại tuôn trào hối hả. Trong cơn nghẹn đắng, lần đầu tiên sau nhiều năm nó gào to thật to.
“… Mẹ…. Con xin lỗi”.
Tướng lục xung: Bôn ba vất vả, làm việc gì cũng thất bại
Người sắc mặt u tối, làm việc sai lầm, vợ con xa lánh hoặc là xa rời người thân.
Người có lông mày tán loạn, quan hệ với họ hàng không được thân thiết.
Người mà khóe miệng hướng xuống thường hay lợi dụng người khác.
Người răng thưa, không hòa thuận với anh em họ hàng.
Người mà Ngũ tinh không hướng về Thiên đình (giữa trán), là người bôn ba vất vả, đến già cũng không được thành tựu.
Lông mày rối loạn, đó là biểu hiện của người lăng loàn, người nhà từng trải qua sinh ly tử biệt, mưu cầu công việc đều không thành công.
Tướng lục hại: Gia đình bất hòa, trong lòng không kiên định
Người có mũi nhọn, răng khấp khểnh thường gia đình không hòa thuận, không được tổ tiên phù giúp.
Lông mày dài, sống mũi lồi chủ về người sống xa cha mẹ anh em, không an phận.
Nếu lại là người to béo chủ vô tình vô nghĩa, không tin tưởng được; nếu là phụ nữ thì sống cô đơn một mình .
Tướng cướp giật hại người: Tính tình cổ quái, hại người hại mình
Xương mày cao là tướng người khô khan, quan hệ với vợ con không hòa hợp, đối với họ hàng cũng không thân thiết, tính tình hay thay đổi.
Mũi nhọn, khắc hại vợ con, lòng dạ ác độc, sống cô đơn một mình.
Mắt thâm lại không có da thịt là người gian trá, hay vơ vét lấy của cải của người khác, ít tuổi đã vất vả mưu sinh nhưng không giúp đỡ được cha mẹ, anh em ly tán, nhà nghèo, đoản mệnh.
Yết hầu lộ khắc hại vợ con, vận mệnh không bền.
Vòng này an theo hai chiều thuận nghịch âm dương, cũng như vòng Tràng Sinh Tử Vi Việt an theo chiều thuận đối với Dương Nam Âm Nữ và nghịch đối với Âm Nam Dương Nữ.
Có câu quyết về sao Bác Sĩ rằng: “Bác Sĩ thông minh, Lực Sĩ quyền”. Câu này bất túc, không hẳn là như thế. Bác Sĩ phải có Tả Hữu thì mới phát huy đặc tính tốt kể trên.
Bác Sĩ gặp Xương Khúc mới thông minh, hội Khôi Việt mới vinh dự được người đề đạt, đồng cung với Phụ Bật mới có người thưởng thức nâng đỡ. Nếu không Phụ Bật, không Xương Khúc, không Khôi Việt thì Bác Sĩ trở nên vô dụng. Có thuyết cho rằng lưu niên Bác Sĩ đi cùng Xương Khúc khả dĩ hóa giải được cái xấu do Hóa Kị mang đến. Bác Sĩ đóng cung Phúc Đức mà gặp Cô Quả thì cô đơn, trầm lặng, ít người thân thích và không ưa giao du. Bác Sĩ thuộc Thủy.
LUẬN VỀ LỰC SĨ:
Lực Sĩ chủ quyền lực đóng vào sinh niên mệnh cung tác dụng khác hẳn. Tỉ dụ sinh năm Ngọ mà Mệnh lập tại Ngọ cung gặp Lực Sĩ.
Không phải cứ có Lực Sĩ là có quyền. Lực Sĩ là một tạp diệu nó chỉ phụ giúp cho những sao trên cấp để mà thể hiện tính chất. Như Vũ Khúc Hóa Lộc, Hóa Quyền mà được thêm Lực Sĩ là chứng triệu nắm quyền tài chánh. Như Thiên Cơ Thiên Lương mà đứng bên Lực Sĩ là chứng triệu nắm quyền về kế hoạch.
Lực Sĩ bởi vậy cần đi bên Hóa Quyền mới thành Quyền. Nếu Hóa Quyền ấy phụ giúp cho Phá Quân, Thái Dương, Tham Lang, Vũ Khúc càng tốt lắm.
Lưu niên Lực Sĩ cũng cần lưu niên Hóa Quyền, nếu lưu niên Lực Sĩ lại đứng đối xung với Lực Sĩ cố định thêm sao Hóa Quyền sức mạnh tăng hơn.
Lực Sĩ kị hội ngộ hung sát tinh nhất là sao Kình Dương căn cứ vào câu phú: Kình Dương ngộ Lực Sĩ Lý Quảng bất phong (Mệnh hạn thấy Kình Dương Lực Sĩ như tình cảnh Lý Quảng ngày xưa bị giáng chức). Lực Sĩ thuộc Hỏa.
LUẬN VỀ THANH LONG
Có câu quyết: “Thanh Long hỉ khí, Tiểu hao tiền”. Sao Thanh Long thường mang tin vui. Thanh Long cùng Hồng Loan Thiên Hỉ chủ tin mừng về hôn nhân, về sanh con.
Thanh Long gặp Khôi Việt, Thiên Quí, Thiên Quan, Thiên Phúc chủ thăng chức. Thanh Long có khả năng hóa giải hung họa do Bạch Hổ gây ra như quan tụng, tang sự. Thiên Phủ Thanh Long Hóa Khoa đóng vào cung Tài Bạch thì lấy vợ hoặc gặp hỉ sự mà phát tài (vớ được vợ giàu chẳng hạn)
Khoa Tử Vi Việt đưa thêm nhiều tác dụng của Thanh Long:
- Thanh Long ở Mệnh mà không bị sát tinh thì có tài biến hóa công việc. - Thanh Long gặp Lưu Hà giống như rồng vào biển khơi có lợi cho thi cử công danh
- Thanh Long bị Đà Kị Khốc Hư Không Kiếp hãm lại thành con người hèn nhát
- Thanh Long đứng với Hóa Kị ở Thìn Tuất Sửu Mùi như rồng ẩn trong mây có thể dễ xoay chuyển thời cơ. Thanh Long thuộc Thủy
LUẬN VỀ TIỂU HAO
Tiểu Hao chủ về hao tổn, mất mát. Tiểu Hao gây cho tâm ý điều hối hận, tiếc thương. Tiểu Hao kị gặp Văn Khúc và Hóa Kị, nếu thấy những sao này hội tụ vào Mệnh, Tài Bạch hoặc Phúc Đức thì cả cuộc đời hay mất mát những đồ vật đã mua sắm, nhất là lơ đễnh để mất những đồ vật lặt vặt. Tiểu Hao đi với Phi Liêm thì mua sắm mà chẳng suy tính, mua rồi mới hối tiếc. Khoa Tử Vi Trung Quốc đối với sao Đại Hao với cùng hai lập luận riêng biệt. Trong khi khoa Tử Vi Việt lại bàn luận Song Hao làm một thể (sẽ nói khi tới sao Đại Hao). Tiểu Hao thuộc Hỏa
LUẬN VỀ TƯỚNG QUÂN
Có câu quyết: “Tướng Quân uy vũ Tấu Thư phúc”. Do hai chữ uy vũ trên đây nên Tướng Quân rất cần gặp Hóa Khoa, nhất là Tử Vi Hóa Khoa, Thái Dương Hóa Khoa, Vũ Khúc Hóa Khoa, hay Văn Xương Hóa Khoa.
Những sao trên mà đóng Quan Lộc thì phong quan vinh dự tăng thêm. Tướng Quân đứng với Hóa Kị sẽ đưa đến tình trạng vì có thời đắc ý mà dương dương tự đắc đưa đến hiềm thù ghét bỏ.
Tướng Quân tính chất can trường, nếu đứng cùng Thiên Tướng đắc địa gọi bằng cách lưỡng Tướng, có quyền tất hiển hách. Tướng Quân đứng với Thiên Hình, Quốc Ấn, Thiên Mã, Thiên Khốc theo võ nghiệp tốt. Số nữ mà có Tướng Quân hay Thiên Tướng tính hay ghen và thích đoạt quyền chồng. Tướng Quân thuộc Mộc.
LUẬN VỀ TẤU THƯ
Tấu Thư là sao mang phúc trạch đến, nhưng đồng thời nó cũng liên quan đến văn mặc từ chương, ăn nói, hùng biện. Tấu Thư đứng ở cung Phúc Đức, Quan Lộc giỏi về viết lách, nhưng đứng với Hóa Kị thì thiên hướng về công kích phê bình.Tấu Thư đóng Mệnh bên cạnh Hồng Loan số nữ ăn nói thật có duyên. Tấu Thư có tài về từ tụng đi cùng Khôi Việt Hóa Khoa dễ thắng trong việc tranh cãi mà không gây oán hận.
Tấu Thư đứng cùng bộ Cơ Nguyệt Đồng Lương làm “đao bút lại” đắc lực. Tấu Thư đứng với Bạch Hổ từ tụng ngôn luận đanh thép. Tấu Thư có thêm Xương Khúc ăn nói thuyết phục hay. Tấu Thư nói giỏi người theo ngay về là vậy. Tấu Thư thuộc Kim
LUẬN VỀ PHI LIÊM
Có câu thuyết rằng: “Phi Liêm khẩu thiệt Hỉ Thần diên”. Vậy thì Phi Liêm chủ về cái vạ miệng. Bởi thế khi Phi Liêm gặp Thiên Hình dễ xảy ra kiện tụng. Sách Trung Quốc có hai sao Phi Liêm lận, mà cả hai đều chung một tính chất. Như vậy là thừa, một sao Phi Liêm là đủ.
Có nhiều sách Tử Vi Việt cho rằng Phi Liêm chủ sự vui vẻ, nhanh nhẹn, điều này sai. Rồi lại nói Phi Liêm gặp Bạch Hổ ví như cọp mọc cánh, gặp Long Phượng như rồng phụng lên cao càng sai nữa. Vì không phải chữ Phi mang nghĩa bay mà mang nghĩa loại côn trùng mối mọt.
Phi Liêm trước sau chỉ là cái họa nhỏ gây thành khẩu thiệt tranh tụng. Phi Liêm không nên gặp Hóa Kị Văn Khúc sinh lắm chuyện. Câu phú: Đào Hoa ngộ Phi Liêm Nguyễn Tịch Tấn triều vi túy khách thì Phi đây chính là con sâu rượu đấy. Phi Liêm thuộc Hỏa.
LUẬN VỀ HỈ THẦN
Hỉ Thần không phải chỉ là dấu hiệu của vui mừng qua nghĩa chữ. “Hỉ Thần diên” trong câu quyết ý nói tình trạng kéo dài, lần khần, không dứt khoát. Nó cũng là mừng vui với điều kiện gặp các sao khác như Mệnh cung đứng với Xương thì cuộc đời dễ vui, những may mắn nho nhỏ như người khác lo cả cho mình. Tỉ dụ vợ quán xuyến, anh em phù trì. Nhưng nếu nó gặp Văn Khúc ở Mệnh thì những chuyện mừng vui thường bị hoãn, kéo dài, việc hôn nhân cứ lần lữa, càng nặng nếu thấy luôn cả Hóa Kị. Hỉ Thần gặp Phượng Các đem đến tin vui cho mưu sự, thi cử.
Hỉ Thần Hoa Cái tốt ghê Khẩu thiệt thường đoản mọi bề đảm đang
Hì Thần thuộc Hỏa
LUẬN VỀ BỆNH PHÙ
Bệnh Phù chủ bệnh, đau yếu. Bệnh Phù tuyệt đối không nên đứng với Hóa Kị ở Mệnh cung và Tật Ách cung. Bệnh Phù gặp Đào Riêu ở Tật Ách thì suy nhược vì sắc dục quá độ. Bệnh Phù gặp Thiên Cơ Tham Lang có bệnh về gan. Bệnh Phù gặp Liêm Trinh, Hóa Kị bệnh về thận. Bệnh Phù lại có Thiên Hình thường đưa đến giải phẫu. Bệnh Phù vào Tài Bạch buôn bán ngành dược có lợi. Bệnh Phù Hình Kị phong, sang. Không Kiếp cung Tật mọi đàng huyết hư. Bệnh Phù thuộc Thổ đới Mộc.
LUẬN VỀ ĐẠI HAO
Theo lý luận của các sách Trung Quốc thì Đại Hao có hai sao. Một an theo năm sinh và một an theo lưu niên. Đại Hao an theo năm sinh mang nhiều tính chất đào hoa, còn ăn theo lưu niên thì chỉ thuần túy là hao tán thôi.
Lý luận này rườm rà không cần thiết. Vì Đại Hao gặp Đào Hoa (Hàm Trì) thì dự hao tổn mang tính chất đào hoa rồi. Đại Hao đi với Liêm Trinh, Tham Lang, Xương Khúc hoặc mấy sao Kị cũng vì tửu sắc mà hao tổn.
Đại Hao ở Mệnh mà Thiên Hư ở cung Phụ Mẫu thì không được hưởng của cải mẹ cha. Đại Hao ở cung Tử Tức mà Tài Bạch có Thiên Hư thì con cái phá của.
Sách Tử Vi Trung Quốc mới đưa ra nguyên tắc: “Đại Hao không nên có hàng xóm là Thiên Hư”. Ở cung vận hạn nào thấy Hao với Hư đứng chung thì sự hao tổn tăng thêm. Khoa Tử Vi Việt có cái nhìn khác về song Hao mà không thấy ở các sách Trung Quốc không rõ xuất xứ từ đâu. Trên ngũ hành sở thuộc hai sao Hao đều là Hỏa.
Song Hao đắc địa Mão Dậu, Dần Thân hãm địa Tí Ngọ. Hãm với đắc không thấy ghi trên các sách Trung Quốc. Mệnh song Hao dáng dấp nhỏ nhắn, bộ tiêu hóa không khỏe mạnh.
Mệnh song Hao theo Việt thì tính tình khôn ngoan ưa hưởng thụ, dễ đam mê (cờ bạc, tửu sắc). Hao gặp Tuyệt đồng cung là người khôn ngoan nhưng không trung thực (chỉ Đại Hao thôi)
Song Hao gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh thường mắc nghiện thuốc sái. Song Hao đi với Phá Quân dễ lâm túng thiếu. Song Hao Mão Dậu gọi bằng cách chúng thuỷ triều Đông như trăm con sông đổ vể biển Đông làm ăn tiền bạc có lúc như nước, thêm Cự Cơ Mão Dậu càng tốt nữa.
Cách này tuyệt đối không hề thấy sách Tử Vi nào của Trung Quốc đề cập song Hao gặp Thiên Hình, Địa Kiếp vào vận hạn thì mất trộm. Cách chúng thủy triều đông đã nói ở phần đầu sách này nhưng ý nghĩa khác hẳn.
Những câu phú về song Hao:
- Mão Dậu Cự Cơ rất hay Công danh vinh hiển lại tay hoang tàn Gặp song Hao là làng quán thế - Lao đao sớm một tối ba Đại Hao Hóa Kị đồng gia mệnh vì
- Lưỡng Hao Cự Vũ Hóa Quyền Chiếu sai trấn thủ giặc phiên bên ngoài
- Song Hao Tỵ Hợi nhi ngộ Sát Hình Giáp Canh dương nữ thủ cách yểu bần (Người dương nữ mệnh đóng Hợi tuổi Giáp Canh mà gặp song Hao thủ Mệnh đứng với sát tinh, và Thiên Hình thì nghèo hoặc yểu)
- Hao ngộ Tham Lang tài sinh dâm tình ư tinh đế (Tham Lang gặp Hao ở Mệnh thì dâm ngầm)
- Lưỡng Hao thiết kị ư Điền Tài (Hai sao Hao không nên đóng vào các cung Tài, Điền)
- Tài Phúc nhi phùng Hao Kiếp cô bần (cung Tài cung Phúc xuất hiện Hao, Kiếp thường cô đơn và nghèo)
- Thân cư Tài Bạch lai kiến song Hao, Lộc Quyền, Kiếp Hóa tất thành thương nghiệp
(Thân ở Tài Bạch có song Hao Lộc Quyền và Kiếp Hóa buôn bán hoạnh phát nhưng cũng phải đề phòng hoạnh phá).
LUẬN VỀ PHỤC BINH
Phục Binh đứng với Thiên Riêu ở Mệnh là người quyền thuật âm mưu nhiều thủ đoạn. Đứng một mình thì chỉ xảo trá vặt mà hay phản bội. Bởi thế mới có nguyên tắc Tướng Quân ở Mệnh, Phục Binh ở Thiên Di là hay vì nội Tướng ngoại Binh, ngược lại nội Binh ngoại Tướng chỉ không lớn mà hay man trá hoặc làm việc bằng mẹo vặt.
Nếu Phục Binh hay Phục Binh Thiên Riêu mà đứng vớinhiều sao bất lợi cho Mệnh cung thì lại là nạn nhân của thủ đoạn quyền thuật. Phục Binh gặp Đà La mọi chuyện mưu tính cứ kéo dài không xong.
Phục Binh gặp Linh Tinh Địa Kiếp dễ rơi vào phiền lụy mắc bẫy. Phục Binh gặp Quan Phù chiếu xung có rắc rối khẩu thiệt quan tụng. Phục Binh gặp Bệnh Phù đồng cung hoặc chiếu xung thì bệnh tật triền miên.
Có những câu phú về Phục Binh như sau:
- Đào Hồng Diêu Hỉ trong ngoài Lại gia Binh Tướng gái trai ngang tàng
- Đào Hoa Thai Hỉ trong cung (Huynh Đệ) Phá Quân Tướng Phục chiếu xung ở ngoài Có chị em gái theo trai Say mê đến nỗi hoang thai bỏ mình
- Trong thời Tướng Phá Phục Binh Ngoài thời Hoa Cái liên minh Đào Hồng Bản cung đối chiếu tinh tường Anh em có kẻ tư thông hẳn là (Ở cung Bào)
- Vợ chồng nay thuận mai hòa Phục Binh Hóa Kị đóng tòa Phối cung
- Binh Hình gặp Hóa Kị xung Đêm ngày cư xử ra lòng bạc đen
- Khốc Hư ngộ Dưỡng không đành Tướng Binh xung phá hẳn danh hoang thai (Ở cung Tử Tức)
- Tử cung Thai Tướng Phục Binh Vợ chồng ắt hẳn tư sinh thủa nào
- Gian tà Kiếp Sát Phục Binh Khúc Xương Thái Tuế mưu sinh tảo tần (Ở cung Tài Bạch)
- Cự Kị nên tránh đò sông Phục Binh Hình Việt mắc vòng gươm đao (Ở cung Tật Ách)
- Phục Binh Thái Tuế Thiên Hình Cùng người tranh cạnh tâm tình chẳng vui (Ở cung Phối)
- Phúc cung có kẻ chiến chinh Tướng Binh Đế Tuyệt đóng thành ba phương
- Tướng Binh Tử Tuyệt phải là Có người tử trận phương xa thuở nào (Ở cung Phúc Đức)
Sao Phục Binh trong khoa Tử Vi Việt phong phú hơn hẳn
LUẬN VỀ QUAN PHỦ
Vòng Thái Tuế có sao Quan Phù, đây là Quan Phủ. Quan Phủ vĩnh viễn sẽ đứng với Kình Dương hay Đà La (Như vậy thì vòng Tràng Sinh lại tiếp tục có nghi vấn nghịch thuận vì nếu đi thuận thì chỉ có đứng với Đà La thôi)
Quan Phủ chủ khẩu thiệt thị phi không nên gặp thêm Hóa Kị hoặc Thiên Hình càng rắc rối nhất là đối với vận hạn. Không gặp Hình Kị tự nó vô lực. Có câu phú:
Quan Phủ Thái Tuế một miền Đêm ngày chầu chực cửa công mỏi mòn
Căn cứ vào câu phú trên đây thì gặp Thái Tuế còn nặng hơn Hình Kị. Quan Phủ thuộc Hỏa.
Sưu tầm
Còn về hướng của két sắt, tốt nhất nên quay về hướng tốt so với tuổi của chủ nhân. Xét theo chiều sâu, thì nên để cửa két mở về hướng Sinh Khí theo tuổi của chủ nhà là tốt nhất.
Phong thủy học cho rằng, một người có 4 hướng tốt và 4 hướng xấu, tùy theo tuổi mà chia ra các hướng tốt khác nhau như Sinh Khí, Diên Niên (Phước Đức), Thiên Y, Phục Vị. Để tìm được hướng Sinh khí, gia chủ hãy lấy cung phi của mình phối với 8 Quái của 8 hướng. Các cặp Quái dưới đây phối với nhau xuôi ngược đều được Sinh khí: đó là Khảm – Tốn ; Ly – Chấn ; Cấn – Khôn ; Càn – Đoài.
Trường hợp không tìm được hướng Sinh Khí của mình, gia chủ có thể mời các thầy phong thủy nào có dụng cụ đo sóng từ trường để đo và quyết định nơi nào có năng lượng mạnh nhất và hạp hướng nhất. Để đặt phương vị đó cho hoàn chỉnh hơn.
Còn nếu không thể chọn được vị trí để quay được két sắt về hướng tốt thì nên ưu tiên quay ra cửa phòng, chú ý không trực tiếp đối diện với cửa phòng. Đồng thời, trước mặt két cần phải rộng rãi, sáng sủa không bị cản trở bởi đồ đạc trong phòng.
Có thể đặt két sắt trong phòng ngủ được, nhưng vẫn nên chọn vị trí và hướng theo nguyên tắc như trên. Ngoài ra, chủ nhà cũng có thể đặt thêm 1 con Tỳ Hưu hoặc Thiềm Thừ và 2 đồng tiền hoa mai trên vào trong két để thu hút thêm tài lộc.
(Theo Gia Đình Việt Nam)