Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,...   Click to listen highlighted text! Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,... Powered By DVMS co.,ltd
Kính mời quý khách like fanpage ủng hộ Vạn Sự !

Vạn Sự

Sao Đường Phù

Hành: Mộc Loại: Cát Tinh Đặc Tính: Sự thanh tịnh, thanh nhàn, lợi ích cho việc cầu công danh, điền sản, tài lộc.
Sao Đường Phù

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Hành: MộcLoại: Cát TinhĐặc Tính: Sự thanh tịnh, thanh nhàn, lợi ích cho việc cầu công danh, điền sản, tài lộc.

Ý Nghĩa Đường Phù Ở Cung Mệnh
Người điềm đạm, khiêm nhường, ưa thích sự thanh nhàn, yên tĩnh. Sao này gặp nhiều sao tốt thì tốt thêm, gặp nhiều sao xấu thì xấu lắm. Gặp sao Thiên Tướng, Tấu Thư, Long Trì, Phượng Các, Quan Phù thì đi tu thành đạt, có danh vị, làm thầy cúng cũng có tiếng.

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Sao Đường Phù

Quẻ Quan Thế Âm Đào Chu Quy Ngũ Hổ

Quẻ Quan Thế Âm Đào Chu Quy Ngũ Hổ có bắt nguồn như sau: Đào Chu là Phạm Lãi, ông tổ của thương nhân Trung Quốc, người đời gọi là "Đào Chu Công".
Quẻ Quan Thế Âm Đào Chu Quy Ngũ Hổ

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Đây là điển cố thứ Năm mươi trong quẻ Quan Thế Âm, mang tên Đào Chu Quy Ngũ Hổ (còn gọi là Đào Chu Trở Về Ngũ Hổ ). Quẻ Quan Thế Âm Đào Chu Quy Ngũ Hổ có bắt nguồn như sau:

Đào Chu là Phạm Lãi, ông tổ của thương nhân Trung Quốc, người đời gọi là “Đào Chu Công”. Phạm Lãi (khoảng 536 tr.CN – khoảng 448 tr.CN), tự Thiếu Bá, là người lũng Tán Hộ, ấp Uyển, nước Sở. ông xuất thân bần hàn, nhưng lại thông minh lanh lợi, từ khi còn trẻ đã đọc nhiều sách vở, có nhiều tài trí, văn võ song toàn, không gì không tinh thông. Nhưng dù có tư chất của bậc thánh nhân, nhưng ở nước sở lúc này tầng lớp quý tộc chuyên quyền, nền chính trị rối loạn, Phạm Lãi không được người đời biết đến.

Năm Chu cảnh Vương thứ 24 (năm 496 tr. CN), nước Ngô và nước Việt xảy ra cuộc chiến tranh Huề Lý, Ngô Vương Hạp Lư chết trận, hai nước vì thế mà kết oán, chiến tranh liên miên suốt mấy năm liền không dứt. Sau hai năm, con trai của Hạp Lư là Phù Sai, để báo thù cho cha, đã quyết chiến với nước Việt ở Phù Tiêu. Việt Vương Câu Tiễn đại bại, chỉ còn lại năm nghìn binh sĩ, trốn vào núl cối Kê. Trong lúc Câu Tiễn cùng đường tuyệt lộ, Phạm Lãi đã đến nước Việt, dâng kế sách “dùng lời lẽ khiêm nhường và lễ vật trọng hậu, cầu xin nước Ngô để bảo tồn nước Việt”, ông đã nói với Câu Tiễn về suy đoán của mình: “nước Việt ắt hưng thịnh, nước Ngô ắt bại vong”, lại dâng sách lược khuyên Câu Tiễn “hạ mình phụng sự Ngô Vương, để mưu tìm cơ hội chuyến biến”. Câu Tiễn chọn dùng kế sách của ông, lại bái ông làm Thượng đại phu. Phạm Lãi cũng cùng với vợ chồng Câu Tiễn làm nô bộc ở nước Ngô trong ba năm.

Ba năm sau, Việt Vương trở về nước Việt, Phạm Lãi và Văn Chủng liền đề ra “chín thuật làm nước Việt hưng thịnh và làm nước Ngô diệt vong”. Để thực thi “chiến lược tiêu diệt nước Ngô”, họ đã sử dụng “mỹ nhân kế” là một trong chín thuật, Phạm Lãi đích thân trèo non lội suối tìm kiếm, đến tận sông Cán Sa ở núi Trữ La, tìm được người kỳ nữ tài đức song toàn, nhan sắc tuyệt luân là Tây Thi. Rồi dâng Tây Thỉ cho Ngô Vương, trong ngoài liên kết, cuối cùng giúp cho Câu Tiễn thực hiện được mục đích tiêu diệt nước Ngô. Phạm Lãi túc trí đa mưu, phò tá Việt Vương Câu Tiễn hoàn thành bá nghiệp, nhưng khi “Ngô Vương bỏ thân ở núi Dư Hàng, Việt Vương mở tiệc ờ đài Cô Tô, ông lập tức từ bỏ quan lộc, chỉ mang theo một lượng nhỏ châu báu, lên thuyền đi xa, một đi không trở lại.

Sau khi rời khỏi nước Việt, Phạm Lãi từ nước Tề viết thư cho Văn Chủng, nói rằng: “Con chim đã bắn được rồi, cây cung sẽ phải cất đi. Con thỏ tinh ranh đã bắt được rồi, chó săn sẽ bị làm thịt. Việt Vương là người thâm hiểm, nhiều mưu kế, có thế cùng chung hoạn nạn nhưng không thể cùng hưởng lạc. Sao ông còn không mau rời đi?” Văn Chủng nhận được thư bèn cáo bệnh, không vào triều, nhưng cuối cùng vẫn không thoát khỏi mệnh vận bị Việt Vương ban cho tội chết. Phạm Lãi đã đến nước Tề, thay đối họ tên, mang theo con cái và thuộc hạ, làm nhà cỏ ven biển để ở. ông khai hoang canh tác, làm thêm nhiều nghề, kinh doanh buôn bán, chỉ vài năm sau, đã tích lũy được lượng gia sản khổng lồ.

Phạm Lãi trọng nghĩa khinh tài, làm nhiều việc thiện cho quê hương, rất được người Tề ngưỡng mộ, vì thế Tề Vương mời ông vào kinh đô, phong làm Tướng quốc, chủ trì việc triều chính, ông thở dài: “Làm quan đến chức khanh tướng, trị gia đến mức có được nghìn vàng; đối với một kẻ áo vải tay trắng mà làm nên gia nghiệp, như thế đã đến cực điểm rồi. Cứ mãi hưởng tôn quý, e rằng không phải là điềm tốt lành.” Vì thế chỉ làm Tể tướng ba năm, ông lại lui về ở ẩn, trao lại ấn tướng cho Tề Vương, phát tán hết gia sản cho bạn bè và đồng hương. Đi đến đất Đào, Phạm Lãi thấy đây là con đường quan trọng cho việc buôn bán, có thể dựa vào đó mà làm giàu, vì thế ở lại đất này, tự xưng là “Đào Chu”. Ông buôn bán các vật phẩm theo thời, không lâu sau, lại trở nên giàu có.

Xem bói Quẻ Quan Thế Âm Đào Chu Quy Ngũ Hổ là quẻ thẻ Trung Bình trong quẻ thẻ quan âm, là quẻ số 50

Quẻ này là tưựng chèo thuyền thuận gió.
Những việc mong cầu đều rất thuận lợi tốt đẹp.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Quẻ Quan Thế Âm Đào Chu Quy Ngũ Hổ

Cách sửa hướng cửa không tốt –

Người ta thường nói không nên xây cửa sổ ở hướng “quỷ môn”, tuy nhiên, trong đó không tính đến cửa sổ trên mái nhà, cửa sổ dưới đất và cửa sổ trên tường. Nếu từ trên trần nhà đến nền nhà có cửa sổ sát đất, cửa sổ đó nằm trên tuyến “quỷ môn” hướng Đô

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

muanhachungcuphongthuynoigi-735ea

ng Bắc hoặc Tây Nam thì gia đình dễ gặp phải tai họa mất cắp dẫn đến bần cùng.

Nếu trong một khu dân cư chỉ có duy nhất một nhà thường xuyên bị kẻ trộm dòm ngó thì chắc chắn cửa sổ nhà đó nằm ở hướng “quỷ môn”. Cách tốt nhất để khắc phục tình trạng này là đóng kín hoặc lấp cửa sổ đó lại. Nếu không phải cửa sổ mà là cửa sau hoặc cửa phòng bếp nằm trên tuyến “quỷ môn” thì biện pháp an toàn nhất là dỡ bỏ nó đi và xây lại một bức tường mớ8 i rồi làm lại một cái cửa khác.

Loại cửa sát đất nằm ở hướng Đông Bắc khá hiếm, nhưng cửa nằm ỏ tuyến “quỷ môn” hướng Tây Nam lại là loại thường gặp. Nên xây một bức tưòng trên khoảng đất có những chiếc cửa như thế này. Nếu thực sự không thể làm được điều đó thì nên cố định lại tấm kính lắp trên cửa. Sau đó, trồng vài cây bụi thấp xung quanh tấm kính, như vậy mới đảm bảo phần nào sự an toàn. Ngoài ra, còn có thể che chắn loại cửa này bằng một tấm gỗ. Tuy nhiên, nếu che bằng gỗ thì nhìn sẽ không được mĩ quan và làm cho căn nhà trở nên bị tối. Do vậy, xét cho cùng chỉ có cách che bằng kính là hợp lí nhất.

Trong phong thủy nhà ở, có quan niệm cho rằng những “lỗ hổng” đều là vị trí “hung tà”. Trên thực tế, quan niệm đó hoàn toàn sai lầm. Đối với những ngôi nhà lớn, tốt nhất không để có “lỗ hổng” trên tuyến “quỷ môn”, nhưng với những ngôi nhà có diện tích từ 70 m2 trở xuống thì để tăng cường lưu thông không khí và lấy ánh sáng, về căn bản không cần thiết phải lấp tuyến “quỷ môn” lại. Trong trường hợp đó, có thểt biến “lỗ hổng” đó thành cửa sổ trên tường, hoặc nếu cảm thấy chưa đủ an toàn, có thể đổi thành cửa sổ trên cao để làm cho không khí được lưu thông. “Lỗ hổng” ở đây chỉ hạn chế trong phạm vi cửa bếp, cửa trước và cửa sổ sát đất…


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Cách sửa hướng cửa không tốt –

Giải thích cách phú: "Thạch trung ẩn ngọc" để xác định: Hình tượng của Nhật – Nguyệt

Bài viết của tác giả Nghi Nghi Trần Nhật Tường diễn giải cách Thạch trung ẩn ngọc rất hay và tường tận. Mời mọi người cùng đọc và khám phá.
Giải thích cách phú: "Thạch trung ẩn ngọc" để xác định: Hình tượng của Nhật – Nguyệt

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Bài của Nghi Nghi - Trần Nhật Tường

Bài sau đây có những ý tưởng lạ khác với những cách giải đoán cũ, kính xin quý vị cao thủ thấy không thể tán đồng, cho chúng tôi ý kiến… Những người trẻ đi tìm Tử vi ngày nay khá đông, nghĩ sao là cứ nêu ra – nhưng còn vấn đề kinh nghiệm nữa.

Trước khi trình bầy lá số của Thạch Sùng tôi xin giải thích một câu phú ghi trong tập Tử vi đẩu số toàn thư của đức Hi Di Trần Đoàn sau đây thì mới thấy cái hay, cái lạ và cái vô cùng lý thú của Tử vi được:

“Cự môn Tý Ngọ: Khoa Quyền Lộc, Thạch trung ẩn ngọc, Phúc hưng long”

Nghĩa chính của câu phú thế này “Mệnh ở Tý Ngọ có Cự Môn tọa thủ gia thêm Khoa Quyền Lộc nữa là cách:

“Thạch trung ẩn ngọc” (Ngọc ẩn trong đá) sẽ được hưởng phúc lớn”.

Đó là ý chính còn muốn hiểu cho rõ ngọn nguồn và cho chính xác câu phú trên, ta phải tự hỏi: Cự môn là một sao thuộc hành Thủy, đóng tại cung Tý là Thủy địa hay vào cung Ngọ là Hỏa hướng, tại sao lại được coi như “Ngọc ẩn trong dá? Ngọc ở đâu và đá ở đâu? Trong khi chỉ thấy có Thủy, Hỏa. Nước với lửa không lẽ thành ngọc, thành đá được!

Để trả lời cho thỏa đáng câu hỏi này, tôi phải ghi lên đây một vài nhận xét mà trong dân gian thường dùng làm biểu tượng hay để ví von… Như câu:

“Song long tranh châu” chẳng hạn, thức là nói đến hình vẽ hai con rồng tranh ông mặt trời hoặc “Ngọc thổ thanh kỳ” là con thỏ ngọc trong đẹp lạ lùng: ý chỉ mặt trăng sáng sủa rực rỡ…

Từ đó nói chung: Châu, Ngọc là hình tượng của Mặt trời, Mặt trăng (Nhật, Nguyệt) theo quan niệm của Á đông ta vậy.

Hiểu như trên rồi, câu phú mới có thể giải thích được:

A)Trường hợp thứ nhất:

Cự môn ở Tý, Cự môn ở tý luôn luôn kết hợp với Thái Dương (ngọc) ở Thìn (Thổ thạch) để thành cách Cự, Nhật (Mệnh sẽ chịu ảnh hưởng sự chi phối của hai sao này).

Chú thích:
Ngọc: là hình tượng của Thái Dương
Thạch: là đá, thuộc Thổ, là cung Thìn

Cho nên: Thái Dương ở cung Thìn mới chính là “Ngọc ẩn trong đá” (Thạch trung ẩn Ngọc) vậy.

Sao Cự môn (Thủy) trong mạng chính là cái mầm mống dùng để câu hút Thái Dương (Hỏa) ở cung Thìn cho bản Mệnh được sáng sủa, không có nó không xong. Một Thủy một Hỏa một Âm một Dương thu hút lẫn nhau.

Suy rộng ra giống như luật hấp dẫn vũ trụ. “Attraction d’univers” của Newton ngày xưa vậy.

Cự môn ở Tý theo các sách Tử vi khác: “Nếu Mạng được Tuần triệt án ngữ hoặc Hóa lộc đồng cung (Kỵ ngộ Lộc tồn) thì vẻ đẹp sáng sủa tốt đẹp mới được rõ rệt, cũng như đá đã được phá vỡ, ngọc lộ hẳn ra ngoài”

Câu này được rút trong sách Tử vi Đẩu số tân biên của cố Biên giả Vân Đằng Thái thứ lang trang 56, nói về sao Cự môn. Hay nói chung các cụ ta cũng đều giảng như thế cả. Không hiểu các cụ đã căn cứ vào đâu để giảng giải như vậy? Theo tôi thấy thì nó có hơi kỳ cục! Nếu nói: “Gặp Tuần, Triệt án ngữ hoặc Hóa lộc đồng cung thì ngọc mới lộ được ra ngoài và đã coi như đã bị phá vỡ…” Một khi ngọc đã bị lộ ra ngoài là hết còn ẩn nữa rồi, mà hết còn ẩn thì coi như cách “Thạch trung ẩn ngọc” đã hỏng cho nên theo sự hiểu biết riêng của tôi thì: chữ Ẩn trong câu phú này chỉ có một dụng ý cho ta biết vị trí của sao Thái Dương đóng vào cung Thìn mà thôi. Còn điều cốt yếu trong cách này là: bản Mệnh có nhận được sức sáng của Thái Dương hay không? (do sao Cự môn câu hút). Để được tốt đẹp hơn, có thể thêm vào những phần phụ sau đây:

- Cần được Tuần, Triệt án ngữ ở Mệnh (trường hợp Cự môn ở Tý) để làm giảm, mất đi cái tính chất Ám (che, khuất) của Cự môn, Mạng mới sáng được.

- Kỵ ngộ Lộc tồn: không phải sao này làm cho ngọc cứ mãi mãi chìm trong đá. Mà vì nó có đặc tính giữ chặt lấy (Tồn) tính chất ám của Cự môn nên không có lợi cho bản Mệnh.

- Không cần sao Hóa Lộc trong trường hợp này để cho vào trường hợp sau, ở Ngọ.

B)Trường hợp thứ hai:

Cự môn ở Ngọ. Theo tôi thấy, Cự môn ở Ngọ tuy vẫn là cách “Thạch trung ẩn ngọc” song trường hợp này đã mất đi hết cái hay của cách rồi. Mấy điểm xấu có thể kể ra là:

1. Cự môn ở Ngọ bị sai vị: thất cách vì Cự môn là Bắc đẩu thủy tinh cư vào cung Ngọ thuộc Hỏa là Nam vị. Mặc dầu Thủy Hỏa vẫn kết hợp được theo nguyên tắc của Âm, Dương, Cự môn, vốn Vượng địa ở đấy nhưng…

2. Đưa đến tình trạng Thái Dương ở Tuất thất huy (không sáng sủa) nên không thể ghi “Phúc hưng long” được.

3. Khi cho Hóa lộc đồng cung: Không giải thích nổi tại sao lại tốt?

Vậy, tôi xin đưa ra một đề nghị: sửa lại câu này một chút như sau:

“Cự Cơ, Tý Ngọ Khoa Quyền Lộc.
Thạch trung ẩn ngọ, Phúc Hưng long”

Bỏ chữ Môn đi thay bằng chữ Cơ để giải thích cặp sao Cơ, Cự ở bốn vị trí: Tý, Ngọ, Mão, Dậu

  • Tý Ngọ: Thạch trung ẩn ngọc
  • Mão Dậu: Chúng thủy triều đông
  • Cự Môn ở Tý, Thiên Cơ ở Ngọ.

Bắc đẩu tinh Cự Môn vào Bắc vị mới hay và Nam đẩu tinh Thiên Cơ của Nam vị mới đúng. Khi đó cặp Nhật

Nguyệt mới sáng sủa tốt đẹp được.

Ghi chú thêm: Cơ, Cự ở Mão mới đúng cách: “Chúng thủy triều đông”. Còn ở Dậu không phải, có chăng chỉ là:

Cơ Cự Dậu thượng hóa cát giả
Túng ngộ Tài Quan dã bất vinh

Cũng như Cự ở Tý mới tốt, Cơ ở Ngọ mới hay còn ngược lại Cự ở Ngọ và Cơ ở Tý thì cũng quá, cũng lại “dã bất vinh” mà thôi, không thể “phúc hưng long” được

Vậy bây giờ xét trường hợp: Thiên Cơ ở Ngọ. Khi Thiên Cơ ở Ngọ thì bao giờ cũng vậy, Thái Âm (Ngọc) ở Tuất (Thổ thạch)

Chú thích:
Ngọc: là hình tượng của Thái Âm.
Thạch: là đá, thuộc Thổ, là cung Tuất, cho nên: “Thạch trung ẩn ngọc” cũng là cách của Thái Âm đóng vào cung Tuất vậy.

Tính chất của Mộc là thu hút Thủy nên Nam đẩu Thiên Cơ (Mộc) với Bắc đẩu Thái Âm (Thủy): Một Nam một Bắc, Một Âm, Dương: Thiên Cơ (Mộc) thu hút lấy Thái Âm (Thủy) để biến sinh, nuôi dưỡng bản Mệnh vậy.

Phần phụ thêm

Bây giờ nếu thêm vào sao Hóa Lộc đồng cung nữa sẽ thấy cái rất hay của cách phú:

Khi có Hóa Lộc đồng cung thì Thiên Cơ (Mộc) được Hóa Lộc (Thổ) bồi đắp Thái Âm (Thủy) dinh dưỡng, sẽ đâm chồi, nẩy lá (Hóa Lộc).

Cái cảnh cây xanh lá non với trăng sáng giữa trời còn gì đẹp bằng.

Đến đây coi như ta đã hiểu được thế nào là cách “Thạch trung ẩn ngọc rồi. Bây giờ chỉ còn một đoạn chót phải tìm hiểu thêm tại sao với cách này, Lão tổ Hi Di lại không ghi chẳng hạn như “Quan cư Hầu Bá” hoặc “Cự thương Cao Mại”… mà lại ghi là “Phúc hưng long”!

Ta thấy, vì trong thiên “Đẩu số cốt tủy” Lão tổ Hi Di dậy rằng: “Âm Dương duyên thọ tăng bách phúc”

Mà ảnh hưởng chính của cách này lại do cặp Âm Dương ở hai cung Thìn Tuất tạo nên. Do đó, bắt buộc ngài phải ghi thêm vào cái đuôi “Phúc hưng long” vậy.

Sở dĩ tôi phải giải thích câu phú trên là chỉ có một mục đích, muốn nêu lên một minh chứng rõ rệt để xác định về hình tượng của Nhật Nguyệt: đến khi giải thích sang lá số của Thạch Sùng, quý vị mới thấy cái linh diệu và cái vô cùng lý thú của Tử vi được.

KHHB số 74L2


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Giải thích cách phú: "Thạch trung ẩn ngọc" để xác định: Hình tượng của Nhật – Nguyệt

Luận về sao Thiên Lương

Thiên Lương sao trong hệ Nam đẩu, chủ về thọ lộc, hóa khí là Ấm, thuộc dương thổ (xin nhắc sao Tham Lang trong hệ Bắc đẩu chủ về tai ách tử vong). Mệnh cung hay tật ách cung mà thấy sao Thiên Lương thì gặp hung chuyển ra cát tiểu tai giải ách. Trong khi sao Tham Lang vào Mệnh hay Tật ách bị thêm các sát tinh kị hình hao tinh khi gặp lưu Kị lưu Hình rất nguy hiểm về tai nạn có thể đưa đến chết chóc.
Luận về sao Thiên Lương

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Thiên Lương sao của tiêu tai giải ách, thì đương nhiên phải gặp tai ách thì mới cần triệt tiêu. Bởi thế người có Thiên Lương thủ Mệnh thường gặp lắm tai họa mà thoát khỏi hiểm nguy (của bệnh tật, của tù tội, của hoạn nạn). Cổ nhân bảo nguy mà không nguy là vậy.

Thiên Lương tính tình ôn hòa, khéo sắp xếp khu xử, ít dám phiêu lưu xông xáo, xung phong. Người Thiên Lương thủ Mệnh trong một xã hội đầy biến động không bao giờ làm cách mạng. Thiên Lương trên phương diện phục vụ không hăng hái như Thiên Tướng, trên quyền vị không có khí thế mạnh bằng Thái Dương. Thiên Lương có khuynh hướng đón đợi thời cơ, ăn cỗ sẵn.

Thiên Lương ở hãm địa Hợi Tỵ thì cuộc đời phiêu bồng không lý tưởng cũng không có mục đích để theo đuổi. Thiên Lương đứng một mình ở các cung Tí Ngọ Tỵ Hợi và Sửu Mùi. Thiên Lương đứng cùng Thiên Đồng ở Dần Thân, đứng cùng Thiên Cơ ở Thìn Tuất, đứng cùng Thái Dương ở Mão Dậu.

Thiên Lương Tỵ Hợi thủ Mệnh không cần gặp Hình Kị Sát tinh cũng vẫn là một cuộc đời lắm tai lắm nạn, đến mức độ chín chết một sống, cuối cùng ra thoát như tên tử tội sắp tới ngày ra pháp trường mà được ân xá. Thiên Lương Tỵ Hợi lắm gian truân mà không thành tựu. Nghèo thì thọ, hễ gặp cơ may mà giàu sang khó tránh khỏi yểu mệnh. Như cổ nhân bảo:”Phi bần tất yểu”. Vận hạn đến Tỵ Hợi Thiên Lương bảy nổi ba chìm.

Thiên Lương ở Mùi Sửu nếu gặp cát tinh thì bình ổn, có chức nghiệp vững vàng và phục vụ đắc lực hợp với tuổi Ất Nhâm, thêm Văn Xương càng hay. Khoa Tử Vi Việt không thấy nói tới sao Âm Sát nhưng ở Đại Hàn Nhật Bản và Trung quốc thì có cách Thiên Lương Âm Sát. Thủ Mệnh mà Thiên Lương gặp Âm Sát biến ra con người có âm nhãn dễ nhìn thấy ma quỉ hoặc có muội lực kỳ bí, tuy nhiên cũng vì vậy mà thần kinh dần dần suy nhược. Âm Sát là sao tính theo tháng cách an như sau: Tháng giêng tại Dần, tháng hai ở Tí, tháng ba ở Tuất, tháng tư ở Thân, tháng năm ở Ngọ, tháng sáu ở Thìn, tháng bảy ở Dần, tháng tám ở Tí, tháng chín ở Tuất, tháng mười ở Thân, tháng mười một ở Ngọ, tháng mười hai ở Thìn. Tháng đây là tháng sinh của người mang số.

Muội lực kì bí càng mạnh nếu có cả Linh Tinh đi kèm. Nhưng nếu lại đi cùng hao tinh, không tinh thì ngả sang thần bí tôn giáo. Những nhà sư thuộc mật tông phái giỏi về khoa huyền bí phần lớn có Âm Sát đi với Thiên Lương hay Thiên Cơ.

Thiên Lương đơn thủ Tí Ngọ thì ở Tí tốt hơn Ngọ. Bởi lẽ Thiên Lương Tí sao Thái Dương đắc địa tại Ngọ gây ảnh hưởng tốt thêm cho Thiên Lương, còn Thiên Lương Ngọ Thái Dương Tí không đắc địa. Nhưng trường hợp Thiên Lương đóng Ngọ mà đứng bên sao Văn Khúc thì lại chuyển thành tốt hẳn, có Văn Khúc Thiên Lương không cần sự trợ lực của Thái Dương nữa.

Sách Đẩu Số Tử Vi Toàn Thư viết:”Thiên Lương Văn Khúc cư miếu vượng vị chí đài cương” (Thiên Lương Văn Khúc đứng cùng ở đất miếu vượng là người có chức vị). Câu phú trên chỉ vào Thiên Lương tại Ngọ với Văn Khúc vậy.

Sang đến cách Thiên Cơ Thiên Lương (đã bàn qua ở mục luận về Thiên Cơ).

Ngoài câu phú:”Cơ Lương hội hợp thiện đàm binh” trong “Chư tinh vấn đáp” Trần Đoàn tiên sinh còn viết:”Thiên Lương gặp Thiên Cơ và hao điệu tăng đạo nhân”.

Hao diệu là Phá Quân ? Đương nhiên Cơ Lương không thể gặp Phá Quân Hao điệu là Đại và Tiểu Hao ? Hai sao này không có luận cứ nào chứng minh có thể biến Cơ Lương thành tăng đạo.

Vậy thì hao diệu chỉ khả dĩ là một lời nói của cổ nhân bảo rằng Mệnh Cơ Lương là con người tài hoa học rộng biết nhiều mà thiếu quyết tâm hành động cho nên chỉ đánh trận trên giấy được thôi làm hao phí khả năng vì chỉ muốn thanh nhàn ẩn dật.

Bây giờ bàn sang cách Thiên Lương đồng cung với Thái Dương ở Mão và Dậu. Nếu ở Mão thì phải được Hóa Lộc và Văn Xương tức cách Dương Lương Xương Lộc đã nói ở sao Thái Dương. Thiếu Xương Lộc tốt đẹp mất đi một nửa. Ở đây chỉ bàn về cách Thiên Lương bên Thái Dương tại Dậu thôi.

Sách Đẩu Số Toàn Thư viết câu phú:”Lương tú Thái Âm khước tác phiêu bồng chi khách” (nghĩa là Thiên Lương gặp Thái Âm là người sống nổi trôi). Là nói Thiên Lương tại Dậu đứng cùng Thái Dương hội chiếu với Thái Âm tại Tỵ. Số trai lận đận trên danh phận, dù khá thông minh làm việc đắc lực. Số gái lang bang trên tình cảm dễ lỡ duyên. Giả tỉ có Văn Xương Hóa Lộc cũng không thể gọi là Dương Lương Xương Lộc. Tuy hay tốt hơn vẫn kể là hạ cách, trừ trường hợp có sao Hỏa Tinh đứng bên. Hỏa Tinh vào Thái Dương hãm loạn thế đắc chí.

Câu phú:”Lương tú Âm Linh nghĩ tác đống lương chi khách” (Thiên Lương gặp Thái Âm thêm Linh Tinh là người có thể ở địa vị rường cột chỉ vào tình trạng Thiên Lương đóng Tí)

Thiên Lương luôn luôn bị một điểm phiền là Cự Môn đóng vào cung Phu Thê, tại Ngọ Cự Môn Thìn, tại Tí Cự Môn Tuất, tại Mão Dậu Cự Đồng Sửu Mùi khiến cuộc sống lứa đôi khó thoải mái, không đồng sàng dị mộng thì cũng chia tay thì cũng hai vợ, hai chồng. Nam hay nữ đều như vậy, nhưng số nữ Cự Đồng vào Phu nặng hơn.

Cự Đồng cùng đóng Phu cung.

Một sầu góa bụa hai sầu lỡ duyên

Thiên Lương vốn là sao của tuổi thọ,nếu mệnh cung lại có cả sao Thiên Thọ tính chất thọ khảo của Thiên Lương càng tăng thêm. Nếu Thiên Lương đứng trong cung Phu Thê cùng với Thiên Thọ thì gái thường lấy chồng già (từ hơn mười tuổi), trai lấy vợ già (từ ba bốn tuổi)

Nếu Thiên Lương đứng với Thiên Thọ ở tử tức, phải luống tuổi mới sinh con. Nếu Thiên Lương cùng Thiên Thọ ở cung Phụ Mẫu, cha mẹ sống thọ. Trên đây chỉ là một cách cục thôi, không nhất thiết cứ phải Thiên Lương Thiên Thọ mới vợ già chồng trẻ, hay chồng già vợ trẻ.

Thiên Lương là thọ tinh, đóng Mệnh cung được tuổi thọ, trừ trường hợp Thiên Lương Tỵ Hợi mà giàu sang, nhưng thọ không phải là sức vóc khỏe mạnh. Thiên Lương thủ Mệnh gặp nhiều Sát Kị tinh thì sức khỏe suy yếu, nhờ thuốc thang kéo dài sự sống. Tỉ dụ bị bệnh thổ huyết mà hút thuốc phiện, bị mất ngủ kinh niên mà dùng thuốc ngủ, thuốc an thần.

Thiên Lương qua nhận xét của các nhà số học Trung Quốc mang phong độ danh sĩ khi nó gặp những sao Tả Phụ, Hữu Bật, Văn Khúc, Văn Xương, Thiên Khôi, Thiên Việt. Họ căn cứ vào những câu phú ghi trong Đẩu Số Toàn Thư:


- Lương Đồng đối cư Tỵ Hợi, nam lãng đãng, nữ đa dâm

- Lương Dậu Nguyệt Tỵ, khước tác phiêu bồng chi khách

- Thiên Lương Thiên Mã hãm, vi nhân phiêu đãng phong lưu

Thiên Lương đóng tại Tỵ thủ Mệnh mà kèm bên là Hoả Tinh, Đà La thì vừa cô khắc vừa lắm tai nạn. Thiên Lương đi cùng văn tinh là người du thuyết giỏi. Thiên Lương đi với Đào Hoa vào kịch nghệ, trình diễn là hợp cách, nhưng cũng là người dễ vướng mắc lưới tình. Thiên Lương hội tụ cả Đào Hoa Xương Khúc Thiên Riêu có tài, nhưng chỉ ăn chơi hưởng thụ.

Cách Thiên Lương đồng cung với Thiên Đồng tại Dần Thân thế nào? Sách viết: “Lương Đồng Cơ Nguyệt Dần Thân vị, nhất sinh lợi nghiệp thông minh” nghĩa là: Mệnh có Thiên Lương Thiên Đồng hội chiếu Thiên Cơ Thái Âm từ các cung Tài Bạch Quan Lộc là con người phúc hậu thông minh chức nghiệp tốt phục vụ đắc lực. Đồng Lương tại Dần tốt hơn tại Thân vì Dần Thái Âm cung Tuất đẹp hơn Thân Thái Âm cung Thìn, khả năng thông tuệ như nhau nhưng chót lọt suông sẻ khác nhau.

Dần Thân là hai cung của Thiên Mã, hễ đã gặp Mã thì đừng có Đào Hoa. Vì Thiên Mã càng tài giỏi, thêm Đào Hoa thường từ bỏ hạnh phúc an định sẵn có mà đi vào rắc rối nhiễu sự nhất là về phương diện tình ái.

Sau hết là nói về quan hệ của Thiên Lương với những sao Lộc, nhất là Hóa Lộc. Thiên Lương hóa khí là Ấm, cái khả năng quản thủ, điều khiển và phấn đấu cho tiền bạc rất kém bởi vậy không thể đứng sát cạnh Lộc. Như cách Dương Lương Xương Lộc thì Lộc phải đứng với Thái Âm chiếu qua mới toàn bích. Lộc đồng cung sẽ thành một khuyết điểm cho cách này. Lộc đứng kèm bên Thiên Lương sẽ đưa đến tình cảnh vì tiền mà mang tai mang họa. Thiên Lương qua chức vị nghề nghiệp mà hưởng phú quí, nói khác đi là người khác ban thưởng bổng lộc cho hơn là tự phấn đấu để giành giật lấy. Người Thiên Lương hoàn toàn không đủ thủ đoạn mưu chước đương đầu sự chống phá chung quanh.


Những câu phú cần biết của sao Thiên Lương:

 

- Thiên Lương nan bảo tư tài, dị dữ nhân

(Thiên Lương không giỏi điều khiển quản thủ tiền bạc dễ vì nịnh nọt yêu thích mà đem tiền cho đi)

- Lương tại Tỵ tắc dật du

(Thiên Lương thủ Mệnh Tỵ cung ưa chơi bời rông dài)

- Thiên Lương ngộ Mã nữ Mệnh tiện nhi dâm

(Mệnh Tỵ Hợi, Thiên Lương đứng cùng Thiên Mã số đàn bà dâm tiện)

- Thiên Lương gia cát tọa thiên di hoạch phát kinh thương

(Thiên Lương ít thành công về kinh thương, nhưng nếu từ cung xung chiếu Mệnh là cung Thiên Di mà thấy Thiên Lương cùng với nhiều sao tốt khác vào buôn bán kinh doanh lại hoạnh phát)

- Lương Nhật Mão cung tướng mạo phương viên

(Thái Dương thủ Mệnh tại Mão thì mặt mày vuông vắn sáng sủa)

- Ấn tinh phùng Khôi tinh ư Hợi địa, ưng chi sơn nhạc giáng thần

(Thiên Lương đứng với sao Thiên Khôi tại Hợi thủ Mệnh thì vóc dáng khôi vĩ như sơn thần)


- Lương phùng Hao Sát tại Tỵ cung đao nghiệp hình thương

(Thiên Lương gặp Hao Sát ở Tỵ bị tai nạn hình thương vì gươm đao)

- Thiên Lương ngộ Hỏa chiếu qua

Hại người hại của thật là tang ương

- Cung Tỵ Hợi Lương cùng Thiên Mã

Chí đổi thay ấy gã phiêu linh

Còn như nữ mệnh cho rành

Cách này thấy rõ dâm tình hạ lưu

- Đồng Lương hội Dần Thân một khối

Trọn đời người tránh khỏi tai ương


- Thiên Lương hãm địa kiến Dương Đà, thương phong bại tục chi lưu.

(Thiên Lương ở đất hãm gặp Kình Dương Đà La hay làm chuyện ẩu, thương phong bại tục)

- Thiên Lương hãm địa ngộ Hỏa Dương phá cục, hạ tiên cô quả yểu triết.

(Thiên Lương vào đất hãm gặp Hỏa Tinh, Kình Dương sống cô đơn, không thọ và tính nết thấp hèn)

- Thiên Lương gặp Mã chẳng bàn

Có chồng còn bỏ theo làng bướm hoa


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Luận về sao Thiên Lương

Bí mật về những thầy phong thủy xoay chuyển càn khôn

Thầy phong thủy thông tuệ về trời đất, con người, nắm trong tay những bí mật xoay chuyển vận mệnh. Họ có gì nổi trội mà đạt được năng lực phi thường ấy.
Bí mật về những thầy phong thủy xoay chuyển càn khôn

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Thầy phong thủy – những người được coi là thông tuệ về trời đất, con người, nắm trong tay những bí mật xoay chuyển vận mệnh. Họ có gì nổi trội mà đạt được năng lực phi thường ấy.


► Xem thêm: Ngũ hành tương sinh và những ảnh hưởng đến cuộc đời, vận mệnh

Bi mat ve nhung nguoi xoay chuyen can khon hinh anh
 
Thầy phong thủy bắt buộc phải được sự chân truyền của sư phụ, phải đạt được năng lực câu thông với thần, ngoài ra còn phải có khả năng quan sát “hình”. Trung Quốc cổ đại có một số nhà phong thủy sau khi tu luyện đến một trình độ nhất định, trên thân thể đều xảy ra những biến hóa rất lớn.
 
Rất nhiều truyền thuyết kể rằng, một số cao nhân có khả năng đặc biệt, vào những thời kỳ nóng nhất trong hè họ không bị đổ một giọt mồ hôi nào, vào mùa đông họ chỉ mặc một chiếc áo cũng không cảm thấy lạnh, một số người còn có thể bay. Ngoài ra thân thể của họ còn có thể tiến nhập sang không gian khác, cho nên có một số người thấy họ đang ở trước mặt trong chớp mắt bỗng biến mất không dấu vết. 
 
Các thầy phong thủy thường xuyên đi đến những nơi rừng sâu núi thẳm, một bước đi của họ có thể di chuyển được hàng mấy trăm mét, ở đó họ có thể tự do bay qua bay lại. Trong kinh thơ Đại Nhã Lưu Công có nói về “Trắc cương”, “Giáng nguyên”, “Thệ thủy”, “Quan kinh” đều là để nói về những điều này, do vậy có người còn gọi các thầy phong thủy là “Địa Tiên”.
 
Thầy phong thủy và những giang hồ thuật sỹ đó có sự khác biệt rất lớn. Giang hồ thuật sỹ không tu luyện, họ chỉ hiểu được một chút kỹ năng, biết được một chút thủ thuật mà thôi. Những điều họ xem đều là thuộc về xem “hình”, dựa vào kinh nghiệm của những người xưa tổng kết lại. Họ chủ yếu xem về địa thế, đất đai, thời hạn,…
 
Một điều đặc biệt quan trọng đối với thầy phong thủy là đạo đức chân tu. Những thầy phong thủy chính hiệu là những người chuyên tâm tu luyện, học tập cả về phong thủy lẫn đạo đức. Bởi người có tâm trong sáng, khoáng đạt mới có tầm nhìn xa trông rộng và toàn tâm toàn ý tiếp thu tinh hoa học thuật.
 
Địa huyệt tốt xấu là có liên quan đến đạo đức. Nếu có thể tìm được huyệt tốt, chọn được huyệt như thế nào là có quan hệ với hành vi đạo đức của thầy phong thủy, nếu không có đạo hạnh cao thâm thì không thể nào làm được sự việc chân chính ấy. 
 
Thầy phong thủy chân chính là có thiện tâm giúp người, không kể danh tiếng, không ham tiền bạc, họ làm việc gì cũng đều là thuận theo thiên mệnh, tất cả những mảnh đất mà họ chỉ điểm thông thường đều có liên quan rất lớn đến sự hưng thịnh của triều đại và sự biến đổi của lịch sử. Cho nên thường không phải chỉ là chọn một mảnh đất mà thực tế là vẽ ra một bối cảnh. 
 
Bởi những người đắc đạo, trên thân thể có mang năng lượng, họ có thể có năng lực “quyết định” các sự tình, giang hồ thuật sỹ không thể làm được điều này. Đương nhiên chữ “định” này cũng phải tuân theo sự biến hóa của thiên tượng và phúc đức cùng nhiều nhân tố khác nhau để xem xét.
ST
 

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Bí mật về những thầy phong thủy xoay chuyển càn khôn

Tính cách diện mạo thông qua Tứ trụ (Tài liệu Tam Mệnh Thông Hội)

- Hán văn: Phú quí bần tiện hồ quan bát tự, tính tình ứng hồ ngũ hành. Thiện ác, nhân nghĩa lễ trí tín, tâm chi sở chủ; hỷ nộ ai lạc ái ố dục, tính chi sở dục.
Tính cách diện mạo thông qua Tứ trụ (Tài liệu Tam Mệnh Thông Hội)

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo



Bình giải:
Muốn biết đời người giàu nghèo, sang hèn, thì ta quan sát phân tích nơi bát tự (hay tứ trụ) từ việc phân tích ngũ hành cường nhược ta có thể hiểu được tính tình của con người.
Thiện ác, nhân nghĩa lễ trí tín là biểu lộ tính cách từ trong tâm ra bên ngoài. Hỷ nộ ai lạc ố dục là những biểu hiện tình cảm từ nơi tính cách ra ngoài.
Vậy thông qua bát tự, và thông tin của ngũ hành ta có thể nhận định được tâm tình, tính cách của con người cụ thể hơn.

_Hán văn: đông phương Chấn mộc, hiệu Thanh Long, danh bạch khúc trực, ngũ thường chủ nhân. Kỳ sắc thanh, kỳ vị toan, kỳ tính trực, kỳ tình hòa.
Vượng tướng chủ bác ái chi tâm, từ tường khải để chi ý; tế vật lợi chi nhân, tuất vô niệm quả, trực bổ thanh cao, hành tàng khảng khái, phong tư tú lệ, cốt cách tu trường, thủ túc khiên nhị, khẩu tiêm phát mỹ, diện sắc thanh bạch, ngữ cú hiên ngang, thử tắc mộc thịnh đa nhân chi nghĩa.
Hưu tù chủ sấu thường phát thiểu, ao nựu tính thiên tâm, tật đố bất nhân, thử tắc mộc suy tình quả chi nghĩa dã. Tử tuyệt tắc mi nhãn bất chính, kiên lận bỉ sắc, cơ nhục hạn táo, hạng trường hầu kết, hành toạ bất ổn, thân đa y trắc. Ngộ hỏa sắc đới xích, kiến thổ tắc sắc đới hoàng, phùng kim tắc sắc đới bạch, kiến thủy tắc sắc đới hắc. Kỳ dư tứ hành lệ kiến.

Bình gải:
_Phương đông thuộc quẻ Chấn hành mộc, trong nhị thập bát tú hiệu là Thanh Long, vì tính chất của hành mộc là duỗi thẳng nên có tên gọi khác là Khúc Trực.

Trong tam can ngũ thường, hành mộc chủ về tính cách nhân ái, nơi màu sắc thể hiện là màu xanh, nơi khẩu vị thường là vị chua, tương ứng tâm tính con người thì hành mộc được tượng trưng cho tính ngay thẳng, tương ứng với tình cảm con người hành mộc chủ sự ôn hòa.

Nhưng khi quan sát bát tự (tứ trụ) ta cần phân tích cường độ vượng suy của hành mộc, và xác định hành mộc là dụng thần hay là kị thần trong lá số bát tự (tứ trụ)
Nếu hành mộc là dụng thần hữu tình, hữu lực trong bát tự: tâm tính thường thể hiện nhân từ bác ái, ý tứ rộng thoáng, tâm tính rộng lượng, thường làm lợi ích cho người, trong lòng không khởi sự đa nghi, không tiểu tâm để bụng. Nói chung tính khí ngay thẳng thanh cao. Diện mạo cốt cách thanh tú, ngay thẳng, thân tướng khá cao, tay chân cân xứng khá dài, môi miệng có duyên khá đẹp, sắc mặt thường trắng có pha sắc xanh, làn da thường trắng nhuận và mịn, âm thanh ngôn ngữ thanh trong ngân vang.

Những thông tin tính cách, diện mạo ưu điểm nêu trên do hành mộc là dụng thần hữu lực trong bát tự, hoặc có thể lưu ý thêm khi hành mộc là dụng thần gia thêm thần sát là cát hóa.

Nếu hành mộc trong là số tử bình suy nhược, hưu tù thì những thông tin tính cách hoàn toàn ngược lại, dáng người không cao lớn, có thể là ốm gầy nhỏ con, lông tóc thưa thớt không mịn. Tâm tính lệch lạc không ngay thẳng khó hòa hợp với cộng đồng, tập thể, lòng dạ thường đố kị nhỏ nhen, thù dai.

Nếu hành mộc trong lá số tử bình tử mộ hoặc tuyệt: ánh mắt không ngay thẳng trực diện, chân mày thô và lệch lạc không cân xứng, lưng khom, cong gù và làn da khô rộp không tươi nhuận, cổ dài lêu khêu không tương xứng với thân thể, đứng ngồi không yên, cử chỉ thường dao động không ngớt.

Cũng trong tình trạng hành mộc tử mộ tuyệt này nếu đi kèm theo hành hỏa nơi làn da hiện lên màu đỏ không nhuận, nếu cùng với hành thổ nơi làn da thể hiện màu vàng éo úa, nếu gặp phải hành kim làn da hiện lên bạch tạng, nếu đi cùng với thủy là da hiện lên là xanh có vài chổ xạm nám như đen.
Các hành khác còn lại cứ như thế mà suy ra, ta sẻ dể nhận dạng được tính cách diện mạo trong cơ cấu nguyên lý vận mệnh.

_Hán văn: hỏa thuộc nam phương, hiệu Châu Tước, danh viết viêm thượng, ngũ thường chủ lễ. Kỳ sắc xích, kỳ vị khổ, kỳ tính cấp, kỳ tình khiêm.
Vượng tướng chủ hữu từ nhượng đoan cẩn chi phong, cung kính khiêm nhường chi nghĩa; uy nghi lẫm liệt, thuần phát tôn sùng; diện mạo thượng tiêm hạ khoát, hình thể đầu tiểu cước trường, ấn đường trách nhi mi nồng, tỵ chuẩn lộ nhi nhĩ tiểu, tinh thần khiểm thước, ngữ ngôn cấp tốc, tính táo vô độc, thông minh hữu vi.
Thái quá tắc thanh tiêu diện xích, dao tất hảo động. Bất cập tắc hoàng sấu tiêm lăng, quỷ trá đố độc, ngôn ngữ vọng đản, hữu thủy vô chung.

Bình giải:

_Hành hỏa phương nam quẻ Ly, trong nhị thập bát tú hiệu là Châu Tước, tính chất của hành hỏa là đốt cháy và bốc hơi nên có tên gọi khác là Viêm thượng.
Trong tam can ngũ thường, tính cách hành hỏa chủ lễ nghĩa, nơi màu sắc thể hiện là màu đỏ, nơi khẩu vị thường là vị đắng, tương ứng với tính cách con người thì hành hỏa chủ sự hoạt bát nhanh lẹ, tương ứng tình cảm con người hành hoả chủ cung kính khiêm tốn.

Nhưng khi quan sát cụ thể trong bát tự, ta cần phân tích cường độ suy nhược của hành hỏa, và xác định rỏ ràng hành hỏa là dụng thần hữu lực hay vô lực, hoặc hành hành hỏa là kị thần trong lá số bát tự.

Nếu hành hỏa là dụng thần hữu tình, hữu lực trong lá số bát tự: là mẫu người có phong độ khiêm nhường, cẩn trọng trong hành sự, biết đạo nghĩa kính trên nhường dưới. Vì vậy thân tướng thường thể hiện sự uy nghi khác thường, chất phát không kiêu. Gương mặt phần đầu hơi nhỏ, cằm và mang tai hơi rộng, phần đầu tuy hơi nhỏ nhưng bước chân nhanh lẹ khá dài. Vì là hành hỏa nên chân mày khá rậm làm cho ấn đường hơi bị hẹp, tỵ lương (sống mũi) không dày, chuẩn đầu (đầu mũi) hình thành viên bi tròn gọn hơi nhỏ, nhưng đặc điểm lộ khổng (mũi hếch). Tinh thần hơi phảng phất không ổn trọng, lời nói nhanh lẹ và nóng tính, nhưng lòng dạ không độc hại người khác, vì đây là điển hình cho mẫu người thông minh trong suy nghĩ và hành động.

Nếu hành hỏa đạt độ cực vượng hóa thành kị thần trong lá số bát tự: phần nhiều âm thanh lời nói bị hụt hơi, âm lực tuy to lớn nhưng bị khàn rè kèm theo chát tai, không đủ lực để nói câu từ khá dài, tính khí rất dể phát cáu, nóng nảy. Sắt diện đỏ huyết, thần khí không tươi nhuận nơi làn da. Tác phong thường dao động, đứng ngồi không yên.

Nhưng nếu hành hỏa trong lá số bát tự quá suy nhược không đủ lực để làm dụng thần: sắt mặt vàng vọt, miệng cười nói không có duyên, chuyện không đáng cười lại cười, chuyện không đáng nói lại nói, trong lúc nói lại cười rổn rang hổn loạn. Từ đó hình thành lời nói không có độ trung thực, gây nên vọng ngữ điêu ngoa, thị phi, tâm tính gian lận tận trong đáy tâm hồn.

_Hán văn: thổ thuộc trung ương, danh viết giá sắc, ngũ thường chủ tín, kỳ sắc hoàng, kỳ vị cam, kỳ tính trọng, kỳ tình hậu.
Vượng tướng chủ ngôn hành tương cố, trung hiếu chí thành, hiếu kính thần phật, bất sản khí tín; bối viên yêu khoát, tỵ đại khẩu phương, my thanh mục tú, diện phì sắc hoàng; độ lượng khoan hậu, xử sự hữu phương.
Thái quá tắc chấp nhất cổ phát, ngu chuyết bất minh. Bất cập tắc nha sắc ưu trệ, diện thiên tỵ đê, thanh âm trọng trọc, sự lý bất thông, ngận độc quai lệ, bất đắc chúng tình, điên đảo thất tín, kiên sắc vọng vi.

Bình giải:

_Hành thổ thuộc trung cung Hà Đồ, tính chất hành thổ thường là bền chặt nên có tên gọi khác là Giá sắc.
Trong tam can ngũ thường, tính cách hành thổ chủ uy tín, nơi màu sắc hành thổ thể hiện vàng, nơi khẩu vị hành thổ chủ vị ngọt, tương ứng với tính tình con người hành thổ chủ nhân hậu, cần kiệm và cẩn thận.

Nếu hành thổ là dụng thần hữu tình, hữu lực trong lá số bát tự: là mẫu người trung thực, lời nói việc làm nhất quán trước sau như một, biết đạo nghĩa trung hiếu trong đời, luôn giữ chữ tín, tấm lòng biết tín ngưỡng phật trời.
Nơi tướng pháp thể hiện: lưng đầy vai rộng, sống mũi (tỵ lương) dầy và to, cử động miệng khi nói chuyện có hình vuông, chân mày thanh gọn, thần mắt sáng diệu, gương mặt đầy đặn sắc vàng tươi sáng, phong cách con người luôn khoan dung độ lượng, nếp sống và cư xử với mọi người xung quanh có chừng mực, giữ gìn ý tứ.

Nếu hành thổ cường vượng thái quá thành kị thần trong lá số bát tự: là mẫu người có cá tính cố chấp, tư tưởng kì lạ cổ quái khó hòa hợp với mọi người, tâm tính ngu tối không minh mẫn.

Nếu hành thổ suy nhược không đủ lực để là dụng thần trong lá số bát tự: răng vàng thô kệch rất xấu. Gương mặt không cân đối, tam đình nghiên lệch, sống mũi (tỵ lương) lệch không ngay. Âm ngữ khi nói chuyện thường là thô trọc, không được thanh thoát.
Cách cư xử không thông tình đạt lý, không được lòng người, tâm địa dối trá độc ác, thường điên đảo thị phi không giữ gìn uy tín, làm việc không cẩn trọng thường hay hồ đồ.

_Hán văn: kim thuộc tây phương, hiệu Bạch Hổ, danh viết tòng cách, ngũ thường chủ nghĩa. Kỳ sắc bạch, kỳ vị tân, kỳ tính cương, kỳ tình liệt.
Vượng tướng tắc anh dũng hào kiệt, trượng nghĩa sơ tài, tri liêm sỉ, thức tu ác, cốt nhục tương ứng, thể kiện thần thanh, diện phương bạch tịnh, my cao nhãn thâm, tỵ trực nhĩ hồng, thanh âm thanh lượng, cương nghị quả quyết.
Thái quá tắc hiếu dũng vô mưu, tham dục bất nhân. Bất cập tắc khan lận tham khốc, sự đa tọa vong. Hữu tam tư, thiểu quyết đoán, khắc bạc nội độc, hỷ dâm hiếu sát, thân tà sấu tiểu.

Bình giải:

_Hành kim phương tây quẻ Đoài, trong nhị thập bát tú hiệu là Bạch Hổ, tính chất của hành kim là cứng cáp và liên kết nên có tên gọi khác là Tòng cách.
Trong tam can ngũ thường tính cách của hành kim chủ nghĩa khí, nơi màu sắc thể hiện là màu trắng, nơi khẩu vị là vị cay, tương ứng với tính cách con người thì hành kim chủ quyết đoán mạnh mẽ, cương nghị, tương tứng vời tính tình con người thì hành kim chủ tình cảm mãnh liệt.

Nếu hành kim là dụng thần hữu tình, hữu lực trong lá số bát tự: mẫu người thường thể hiện anh dũng hào kiệt, trong quan hệ xã hội thường xem nặng nghĩa khí không đặt vấn đề tài vật lên hàng đầu, ý thức được tính khí liêm sỉ không phạm điều ác hay việc ác.
Nơi tướng pháp thường thể hiện các đặc điểm: tạng người cân đối (xương thịt cân xứng) cường tráng, thần khí thanh tao. Gương mặt vuông trắng, làn da sáng nhuận. Chân mày cao, nơi xương chân mày gò lên cao và mắt hơi thục thấp xuống, nhưng tia nhìn của mắt sáng và xa viễn. Sống mũi (tỵ lương) thẳng như thước thợ, tai hồng nhận. Âm ngữ khi nói thường là thanh trong có chất giọng ngân vang. Tính cách mạnh mẽ, trong suy nghĩ và hành động rỏ ràng dứt khoát không do dự bất nhất.

Nếu hành kim cường vượng thái quá thành kị thần trong bát tự: mẫu người biểu hiện cậy sức làm việc không biết vận dụng tư duy suy nghĩ trong việc làm, rất dể làm việc một cách nông nổi thiếu suy nghĩ. Trong đời sống xã hội thường vì lợi ích vật chất cho bản thân, từ đó hay lấn lướt kẻ khác trở thành bất nhân bất nghĩa.

Nếu hành kim suy nhược thái quá không đủ lực làm dụng thần trong bát tự: mẫu người thường biểu hiện vì lòng tham cho bản thân sẳng lòng bất nhân bất nghĩa với kẻ khác. Trong hành sự, không biết cân nhắc nặng nhẹ, trước siêng sau nhác lười, tham việc nhưng không thành tựu.
Trong tâm tư thường suy nghĩ rối loạn và không thực tế, năng lực thiếu quyết đoán rỏ ràng. Trong lòng chứa nhiều cay độc, đối xử với người ngoài thường là lạnh lùng không tình cảm. Bản thân thường lấy sự hưởng thụ xác thịt làm sở thích, sẳng tâm hiếu chiến với những kẻ nào gây trở ngại đời sống hưỡng thụ xác thịt. Tướng người hành kim trong trường hợp này thường là gầy và nhỏ con.

_Hán văn: thủy thuộc bắc phương, hiệu Huyền Vũ, danh viết nhuận hạ, ngũ thường chủ trí. Kỳ sắc hắc, kỳ vị hàm kỳ tính thông minh, kỳ tình lương thiện.
Vượng tướng tắc cơ quan thâm viễn, túc trí đa mưu, học thức quá nhân, quỷ trá vô cực; diện hắc quang thái, ngữ ngôn thanh hòa.
Thái quá tắc thị phi hiếu động, phiêu đãng tham dâm. Bất cập tắc nhân vật ải tiểu, hành sự phản phúc, tính tình bất thường, đảm tiểu vô lượng.
Thử tuy ngũ hành chi dụ, thực dữ nhân sự tương can.

Bình giải:

Hành thủy thuộc phương bắc quẻ Khảm, trong nhị thập bát tú hiệu là Huyền Vũ, tính chất của hành thủy là thể lỏng, chảy và thẩm thấu xuống nơi thấp vì vậy có tên gọi khác là Nhuận Hạ.
Trong tam can ngũ thường tính cách của hành thủy chủ về cơ trí, nơi màu sắc thể hiện là màu đen, nơi khẩu vị thường là vị mặn, tương ứng với tính cách con người thì hành thủy chủ sự thông minh, tương ứng với tình cảm con người thì hành thủy chủ lương thiện.

Nếu hành thủy là dụng thần hữu tình, hữu lực trong lá số bát tự: thường là mẫu người biết nhìn xa trông rộng, trí lực đầy đủ, trong hành sự biết vận dụng chiến lược kế sách. Trình độ học hỏi và nhận thức hơn người, cơ trí tuy nhanh lẹ nhưng tâm cơ không phải dạng xảo trá hiểm ác, sắc mặc đa phần là màu đen nhưng thần thái trong sáng, lời ăn tiếng nói đối với mọi người là thân thiện hiền hòa.

Nếu hành thủy cường vượng thái quá trở thành kị thần trong lá số bát tự: thường là mẫu người không chịu an thân an phận, lắm mưu trí trong những việc bất thiện gây điều thị phi trong đời sống xã hội, bản thân nhiều tật ăn chơi hưởng lạc.

Nếu hành thủy bất cập không đủ lực làm dụng thần trong lá số bát tự: thường là mẫu người có thân tướng nhỏ bé, dáng thấp không cao. Tâm tính không ổn định từ đó dẫn đến hành sự thất thường, Tấm lòng nhỏ hẹp thiếu sự độ lượng bao dung, khí chất không can đảm thiếu quyết định dứt khoát.

Bài viết trên tuy là mượn tính chất cơ bản ngũ hành để diễn tả tính cách diện mạo con người thông qua bộ môn tứ trụ (bát tự)
Nhưng thực tế chỉ có vài nét liên quan đến con người, người học hoặc nghiên cứu bộ môn này cần linh động cân nhắc độ cường vượng hoặc suy nhược của tính chất ngũ hành trong tứ trụ. Ngoài ra cần lưu ý thêm ngũ hành nhập cách trong lá số tứ trụ thuộc dạng đạt hay không đạt, và cần quan sát chi tiết thần sát trong phối cục của mệnh lý.

Theo Thiện Minh

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tính cách diện mạo thông qua Tứ trụ (Tài liệu Tam Mệnh Thông Hội)

Tác dụng của sư tử phong thủy

Sư tử dù là ở Việt Nam hay là ở Ấn Độ, Trung Quốc, đều có một địa vị cực kỳ đặc biệt, nhất là ở Ấn Độ, một số Thần Phật đều đi lại bằng việc cưỡi lên lưng sư tử, như Bồ Tát Văn Thù

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Sư tử được phong là chúa tể của muôn loài, trên mặt đất trong tất cả các loài thú thì không có một loài động vật nào uy lực mạnh mẽ hơn nó, ngay cả hổ và báo cũng không sánh kịp. Thần thái của sư tử có nét thâm trầm của bậc đế vương, ngay cả các nhà phong thủy cũng phải lưu ý đến cái thần thái toát lên từ trong hình tượng sư tử.

-Sư tử dù là ở Trung Quốc hay là ở Ấn Độ, đều có một địa vị cực kỳ đặc biệt ở Ấn Độ, một số Thần Phật đều đi lại bằng việc cưỡi lên lưng sư tử, như Bồ Tát Văn Thù hay là một số Kim Cương bản tôn của Mật tông, có một số bản tôn thậm chí còn hiện ra hình hài của sư tử, mà theo tương truyền lúc đức Phật ra đời thì cũng đã từng phát ra tiếng gầm đầy uy lực, dũng mãnh, tiếng gầm đó được gọi là tiếng gầm của sư tử.

Ở Trung Quốc, địa vị của sư tử chỉ đứng sau rồng. Rồng là tượng trưng cho dòng dõi hoàng đế, còn sư tử là tượng trưng cho giới quý tộc, thường được đặt ở cửa vào phủ các vị quan thần. Ngọ môn thường đặt một đôi sư tử đá và được xem như vật bảo vệ.

Đôi sư tử đá này, thực tế không chỉ có nhiệm vụ bảo vệ mà nó còn có ý nghĩa bảo đảm, giữ vững địa vị và quyền lợi nữa, có thể đón khí vượng, chiêu tài nạp cát. Phương pháp này trước đây chỉ có quan lại mới có quyền sử dụng. Nhưng đến nay bất kỳ ai muốn đặt một đôi sư tử đá và chỉ cần có đủ không gian thì đều có thể tiến hành. Ngày nay, sư tử phong thủy cũng không có hạn chế về mặt chất liệu nữa, có cả sư tử đá, đồng, thạch cao,...

Chức năng đầu tiên quan trọng của sư tử phong thủy đó là có thể tránh tà. Trong môi trường mà chúng ta đang sinh sống thì có nhiều tà khí, nhưng tà khí này chỉ cần điều kiện nhân duyên phù hợp là sẽ tác oai tác quái, quấy nhiễu hạnh phúc, phá hoạt trật tự bình thưòng của con người. Hình tượng của sư tử uy phong dũng mãnh, có khả năng chinh phục tà khí. Đặt một đôi sư tử trước cửa lớn có thể làm bùa trấn phong thủy cho ngôi nhà mà không hề ngăn chặn khí lành.

-Hỏa giải sát khí, đón tài lộc, hoá giải vận hạn

Các sư tử phong thủy cũng chủ trị hóa sát khí. Trong môi trưòng lớn có rất nhiều loại sát khí, ví dụ như một số đá lởm chởm hoặc là góc nhọn, nghĩa địa, đường nước thải, ống khỏi nhả khí thải,... phương pháp hoá giải sát khí tốt nhất đó chính là cải thiện môi trường, đây là điều cơ bản nhất của phong thủy. Nhưng môi trường bên ngoài không phải chúng ta có thể sắp đặt được, cho nên dùng phương pháp khác để điều tiết. Sư tử phong thủy chính là một trong những phương pháp đó. Đặt sư tử ở nơi có sát khí thì có thể hóa giải được, giảm thiểu tai họa.

Nói một cách đơn giản, sư tử phong thủy có tác dụng trừ tà khí, sát khí. Ý nghĩa của nó đối với tài khí chính là ở điểm có thể bài trừ trở ngại tiền tài, làm cho việc kinh doanh được tăng trưởng. Ngày nay, những nơi sử dụng sư tử phong thủy nhiều nhất là các cơ quan doanh nghiệp. Họ đặt một đôi sư tử ngay trước cổng lớn để có thể bài trừ vô số các trở ngại gây ra cho công việc.

-Nguyên tắc đặt sư tử phong thủy

Nguyên tắc đặt sư tử phong thủy chính là cách đặt sao cho đẹp đôi, không được đặt một đôi sư tử đều là đực, hoặc đều là cái. Phải đặt một con đực một con cái, để chúng thành một cặp nằm ở hai bên phải và trái. Điều này sẽ giống như một cặp vợ chồng không thể tách rời nhau, nếu như tách ròi nhau sẽ mất đi hiệu lực. Cho nên lúc mua thì phải mua cả đôi. Sau đó, nếu như sư tử bị hỏng thì lúc đổi cũng không được chỉ đổi một con.

Tiếp đó, cách đặt sư tử là vào hai bên trái và phải, con nào nên đặt ở bên trái thì đặt nó ở bên trái, con nào nên đặt ở bên phải thì đặt nó ở bên phải. Chứ không được đảo hai bên cho nhau. Nếu không sẽ mất đi ý nghĩa hóa giải sát khí, trừ tà. Thưòng thì con đặt bên trái là con đực, bên phải là con cái.

Thứ ba, sư tử mặc dù là loài thú may mắn nhưng dù sao thì vẻ mặt nó cũng rất hung dữ cho nên bản thân nó cũng có sát khí, không được để cho đầu sư tử đối diện với phòng ở, nếu không có thể ảnh hưởng đến sức khỏe của các thành viên trong gia đình hoặc là nhân viên trong phòng, dễ sinh ra tai họa. Muốn sư tử phong thủy hóa giải được sát khí thì phải để đầu sư tử đối diện vối bên ngoài hoặc là đặt ở đối diện cửa chính, đặt ở ngoài bệ cửa sổ đều được.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tác dụng của sư tử phong thủy

Nốt ruồi ở mông đàn ông, phụ nữ có ý nghĩa gì?

Và ở mông thì nốt ruồi cũng mang một ý nghĩa nhất định. Nốt ruồi ở mông đàn ông, phụ nữ. Vậy Nốt ruồi ở mông đàn ông, phụ nữ có ý nghĩa gì? Cùng tìm hiểu trong bài viết này nhé.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Nốt ruồi có thể mọc ở bất cứ đâu trên cơ thể của phụ nữ và nam giới. Thậm chí đó là ở Mông. Và ở mông thì nốt ruồi cũng mang một ý nghĩa nhất định. Nốt ruồi ở mông đàn ông, phụ nữ. Vậy Nốt ruồi ở mông đàn ông, phụ nữ có ý nghĩa gì? Cùng ##/img/phongthuyso.vn tìm hiểu trong bài viết này nhé.

Nốt ruồi ở mông đàn ông, phụ nữ có ý nghĩa gì?

Xem thêm:

+ Ý nghĩa của nốt ruồi dưới cằm

+ Xem bói nốt ruồi đoán tương lai, vận mệnh của bạn

+ Nốt ruồi vùng kín nói lên điều gì?

+ Nốt ruồi xanh, nốt ruồi son là gì?

1. Nốt ruồi ở mông đàn ông, phụ nữ có ý nghĩa gì?

Có lé, nốt ruồi ở mông là nốt ruồi khá hiếm gặp ở bất cứ giới tính nào. Nhưng không có nghĩa là nó không mang ý nghĩa nào. Với Nốt ruồi ở mông đàn ông, phụ nữ thì có một ý nghĩa chung như sau:

Là người có năng lực, bản thân họ là người có tài, có khả năng làm nên những việc lớn

Nhưng họ lại là người không có khuynh hướng, không xác định điều gì rõ ràng, không quyết tâm và vạch ra kế hoạch cụ thể. Do đó họ thường bị nhụt chí, mai một tài năng, nhớn nhác và lười biếng.

Là người gặp sao tính vậy, động tính động, tĩnh thì tĩnh, không chủ động, không đi đầu. Do đó, dù có tài nhưng những người có Nốt ruồi ở mông lại không phát huy được khả năng của mình, mất dần tư chất và trở thành con người sống không thật. Họ như một hòn ngọc thô sơ nhưng lại không tự gọt dũa mình. Vì thế chỉ mãi là hạt ngọc thô sơ, để lâu thì như những viên đá khác mà thôi.

Tuy nhiên, không phải ai có Nốt ruồi ở mông đàn ông, phụ nữ cũng đều có tính cách này. Vẫn có những người làm nên việc lớn và đồng thời cũng có người không có Nốt ruồi ở mông cũng có tính cách như đã kể trên. Do đó, câu trả lời chỉ mang tính chất tham khảo thôi các bạn nhé.

2. Nốt ruồi ở các vị trí gần mông khác:

Ngoài ý nghĩa Nốt ruồi ở mông đàn ông, phụ nữ thì chúng ta có thể tìm hiểu ở một số vị trí khác gần mông như: vùng kín, phần bắp đùi v.v

Với Nốt ruồi ở mông thì ý nghĩa với nam và nữ giống nhau nhưng ở các vị trí khác thì khác nhau.

Với nam giới, nốt ruồi ở vùng kín có ý nghĩa:

Nếu là nốt ruồi đen: đề phòng chứng thượng mã truy phong. Hay còn gọi là đột tử trong quá trình quan hệ của nam giới.

Nếu là nốt ruồi đỏ: nghĩa là có mệnh sinh quý tử, nhiều con cháu

Nếu nốt ruồi mọc ở đầu ngọc hành: cũng có mệnh sinh quý tử, con cháu đầy đàn.

Nốt ruồi ở phần bắp đùi kể cả trước hay sau, kể cả nốt ruồi đen hay nốt ruồi son thì đều là người gian xảo, mưu hèn kế bẩn, nói vậy mà không làm vậy.

Đối với phụ nữ, nốt ruồi ở vùng kín có ý nghĩa:

Nếu là nốt ruồi đen thì duyên tình dang dở, con cái ngu hèn, đề phòng mắc nạn vì người khác lừa đảo, lừa tình

Nếu là nốt ruồi son thì có chồng giàu sang, phú quý, rất tốt

Trên đây là những lý giải theo Nhân tướng học cho Nốt ruồi ở mông đàn ông, phụ nữ. Như đã nói, câu trả lời chỉ mang tính chất tham khảo. Do đó nếu có những ý nghĩa không tốt về Nốt ruồi ở mông thì bạn cũng đừng nên quá lo lắng. Quan trọng vẫn là ở bản thân bạn sống thật thà, chúng thủy, biết cố gắng và phấn đấu thì mọi chuyện đều trở nên tốt đẹp!

: Nốt ruồi ở hậu môn có ý nghĩa gì
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Nốt ruồi ở mông đàn ông, phụ nữ có ý nghĩa gì?

Phong thủy bếp nấu ăn –

Bạn đang có một nhà bếp cho tổ ấm của mình nhưng vẫn băn khoăn chưa biết bố trí những vật dụng thường ngày như thế nào để chúng vừa hợp với thuật phong thuỷ, vừa tiện lợi khi sử dụng. Dưới đây là những gợi ý nho nhỏ giúp bạn… Bàn ăn: Cách chọn bàn ăn

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Bạn đang có một nhà bếp cho tổ ấm của mình nhưng vẫn băn khoăn chưa biết bố trí những vật dụng thường ngày như thế nào để chúng vừa hợp với thuật phong thuỷ, vừa tiện lợi khi sử dụng. Dưới đây là những gợi ý nho nhỏ giúp bạn…

K2

Bàn ăn:

Cách chọn bàn ăn: theo phong cách truyền thống, người ta thường sử dụng bàn hình tròn, biểu thị sự sum họp. Ngoài ra, bàn có thể là hình vuông, hình chữ nhật hoặc elip. Nhưng tránh bàn ăn có góc nhọn, nhiều cạnh hoặc hình bình hành. Bàn ăn nên đặt ở chỗ khuất, không nên đặt gần cửa ra vào. Bàn ăn cũng không nên đặt đối diện với bàn thờ tổ tiên hay thờ thần. Vì diện tích hẹp phải đặt như vậy thì nên đặt bàn ăn ra xa một chút và lùi ra hai bên, tránh trường hợp bàn ăn và bàn thờ ở trên một đường thẳng.

Điều tối kỵ khi đặt bàn ăn ở phòng có xà ngang treo lơ lửng trên đầu dẫn đến chủ nhà bất minh, nhân khẩu hao hụt. Nếu vì diện tích hẹp mà phải đặt như vậy thì nên treo quả cầu tròn với màu sắc phù hợp bên dưới xà ngang với hàm ý: quả cầu đã hứng chịu hết cho gia chủ.

Đặt bếp

Theo thuật phong thủy không nên đặt bếp nấu ăn dựa vào tường nhà bếp, bếp nhìn thẳng ra cửa chính hay phía sau bếp là cửa sổ vì gió sẽ thổi vào bếp từ những cửa này, đặc biệt không nên đặt bếp nấu ở cạnh cửa sổ có mặt trời phía tây chiếu vào vì nếu bạn đun bằng bếp dầu hay ga gió không chỉ thổi tắt bếp ma mùi dầu, ga còn gây độc hại cho người. Nếu bạn đun bằng bếp than củi lúc gió thổi lửa liếm ra 4 phía có khi còn gây ra hỏa hoạn. Ngoài ra, không nên đặt bếp ở gần phòng ngủ vì bếp nóng bức, hơi dầu mỡ, người hít phải nhiều hơi này sẽ có hại cho sức khỏe.

Tránh đặt bếp nấu ăn kẹp giữa hai vật dung mang theo nước như máy giặt, tủ lạnh, bồn chậu rửa bát vì thuỷ kị hoả. Nhà bếp là nơi rất quan trọng trong một gia đình do đó bạn nên đặt ít đồ để tạo không khí thoáng. Bạn cũng nên đặt quạt thông gió hoặc máy hút khói dầu để làm sạch không khí sau khi nấu ăn. Hơn nữa, phòng bếp cần có đủ ánh sáng, do vậy bạn nên lắp đèn tuýp hoặc đèn chùm là tốt nhất.

Bồn rửa bát:

Như đã nói ở trên, chúng ta không nên để bồn rửa bát quá gần bếp nấu ăn nhưng cùng không nên đặt bồn rửa ở phía đối diện với bếp vì sẽ gây nhiều điều bất tiện cho người nấu. Do vậy, có thể đặt bồn rửa ở khoảng cách vừa phải trên bệ cao tương ứng.

Hũ gạo:

Ngày nay, thùng đựng gạo thường đặt kín đáo trong các ngăn tủ ngay dưới bếp.

Theo phong tục tập quán, trong bữa ăn của người phương Đông không thể thiếu cơm gạo. Thế chúng ta có thể đặt hũ gạo ở đâu là tốt nhất? Nên đặt nó tại nơi kín đáo ở hướng Tây Nam hay Đông Bắc của bếp và được kê lên để chống ẩm. Tránh đặt nó ở hướng Đông và đặt quá cao.

Tủ lạnh:

Ngày xưa, ông cha ta chưa có tủ lạnh nên trong các tài liệu về phong thủy của người xưa để lại chưa đề cập tới vấn đề này. Nhưng theo quan điểm được nhiều người đồng tình nhất về cách đặt tủ lạnh là nên đặt nó ở hướng lành (Bắc, Đông Nam), vì tủ lạnh là loại máy móc vận hành liên tục 24h/ngày. Nếu như đặt ở hướng dữ sẽ làm chấn động đến các sao dữ, và kích động nó gây rối.

Thờ táo quân

Là người Việt Nam chắc hẳn ai cũng biết về sự tích ông Công, ông Táo. Tục lệ thờ những vị thần này được gìn giữ và lưu truyền cho tới ngày nay. Nên thờ Táo quân ở đâu là phù hợp nhất? Các vị thần này nên được đặt phía trên bếp nấu ăn, nếu không đủ chỗ thì đặt ở góc nhà bếp phía Nam, bởi vì ngũ hành Táo quân thuộc “Hoả”, cho nên Táo quân cần được đặt ở phía Nam “Hoả” vượng.

6 lời khuyên cho phong thuỷ

Theo thuật Phong thuỷ, cách bạn trang trí nhà cửa có một ảnh hưởng lớn đến nhiều khía cạnh của cuộc sống. Nếu nhà bạn hay môi trường làm việc ở giữa đống đồ đạc lộn xôn, bừa bãi thì tài chính, sức khoẻ, đời sống tình cảm cũng sẽ có tình trạng tương tự. Muốn tránh được những điều đó, các bạn nên tham khảo 6 lời khuyên sau.

– Một môi trường lộn xộn và bừa bãi làm cản trở sự lưu thông của các nguồn năng lượng. Hãy bắt đầu bằng việc dọn dẹp nhà cửa hay văn phòng và vứt bỏ những thứ không cần đến nữa hoặc quá lâu không sử dụng.

– Nếu có thứ gì cần sửa chữa, cách đơn giản là khắc phục ngay hoặc loại bỏ nó.

– Để ý tới cả những vật nhỏ đã chất đống lên từ lâu như các loại hoá đơn điện nước hay thư từ. Làm việc đó nghĩa là bạn đã bắt đầu với một việc không mang tính ràng buộc và giúp bạn lấy lại cảm giác thích sự sạch sẽ.

– Sử dụng cây xanh trong môi trường sinh hoạt, chăm sóc chúng cẩn thận và tưới nước đều đặn. Những loại cây lá tròn được mọi người ưa thích hơn cả.

– Các sơ đồ thiết kế nên giới hạn vì việc thực hiện có thể tiêu tốn nhiều tiền và gây ra những vấn đề về sức khoẻ.

– Tránh treo đèn có ánh sáng quá chói trên trần nhà và hạn chế tối đa những vật dụng có góc cạnh sắc nhọn.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Phong thủy bếp nấu ăn –

Bí mật hoàng đạo: Vận mệnh Bạch Dương nhóm máu B

Sinh ra dưới ánh mặt trời ôn hòa của tháng ba và tháng bốn, tính cách của Bạch Dương nhóm máu B rực rỡ, trong sáng và tràn đầy sức sống.
Bí mật hoàng đạo: Vận mệnh Bạch Dương nhóm máu B

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Sinh ra dưới ánh mặt trời ôn hòa của tháng ba và tháng bốn, tính cách của Bạch Dương nhóm máu B rực rỡ, trong sáng và tràn đầy sức sống.


Bi mat hoang dao Van menh Bach Duong nhom mau B hinh anh 2
 

1. Tính cách

  Bạch Dương nhóm máu B là những người suy nghĩ linh hoạt, làm việc nhanh nhẹn, lý trí. Bạn ghét người lôi thôi dài dòng, thích nhanh gọn dứt khoát, bất mãn hay phẫn nộ thường lộ rõ ra ngoài. Năng lực quyết đoán đi kèm với hành động mù quáng là đặc trưng của người này.   Một khi bạn đã quyết tâm làm việc gì thì sẽ hướng tới mục tiêu đó với tinh thần tỏa sáng, hành động nhanh nhẹn, dùng hành động để dẫn dắt suy nghĩ. Làm việc không câu nệ tiểu tiết, thường chỉ lo xông về phía trước mà bỏ qua những chi tiết nhỏ. Vì phấn đấu mà lâm vào cảnh sứt đầu mẻ trán cũng chẳng có gì lạ.    Hơn nữa, do suy nghĩ quá linh hoạt, thiếu kín kẽ, không có quy hoạch nên không tránh khỏi cản trở. Dẫu vậy, trong thời đại cạnh tranh khốc liệt như thế này mà biết bứt phá như Bạch Dương thì dễ có cơ hội bộc lộ tài năng, trở thành trung tâm chú ý.   Sinh ra vào mùa xuân trăm hoa đua nở, tính cách người cung Bạch Dương nhóm máu B thanh thoát quyết đoán, dù thất bại hay thành công nhưng thà làm còn hơn là không làm. Đối với chuyện hay người đều nhiệt tình không ngừng nghỉ, một khi quyết định mục tiêu, thì sẽ dũng cảm tiến tới. Không đạt mục đích, tuyệt không ngưng hẳn, tự tin đầy quả cảm.   So với bất kì chòm sao hay nhóm máu nào, bạn là người có tinh thần lạc quan nhất, có chí khí nhất và cũng khỏe mạnh nhất. Vì thế mà liều mạng không biết sợ, sẵn sàng khiêu chiến những điều mới mẻ, nỗ lực khai sáng, như một nhà mạo hiểm theo đuổi ước mơ.   Bạch Dương nhóm máu B lòng dạ rộng lớn, chân tính, thích giúp đỡ người nhỏ yếu, đối xử với kẻ địch cũng quang minh chính đại giao chiến chứ không đâm sau lưng. Thiện ác rõ ràng, căm ghét thái độ mập mờ, thích thẳng thắn.   Có điều, bởi quá mức thẳng thắn nên lời nói không chừng mực, vô tình làm tổn thương người khác, tuy không ác ý nhưng nếu không khống chế được thì vô hình trung gây thù chuốc oán. Điểm này cần cải thiện để không những loại bỏ ác cảm mà còn gây thiện cảm bằng cá tính trong sáng.   Bạch Dương có khuynh hướng tự tin thái quá, nên nhớ mọi việc đều có tính hai mặt, cần thận trọng cân nhắc, trau dồi bản thân để tránh bị cho là thông thái rởm.  

2. Tình cảm


Bi mat hoang dao Van menh Bach Duong nhom mau B hinh anh 2
 
Người cung Bạch Dương nhóm máu B trong chuyện tình cảm như hoa đào nở rộ, sớm nở tối tàn, nhanh đến nhanh đi. Nhiệt tình là thế nhưng không kéo dài lâu, nhất kiến chung tình, cười một cái cũng đủ làm say mê nhưng ngoái đầu lại đã không còn nhau trong đời.   Loại tình cảm kích thích này khiến không ít người ngưỡng mộ. Sự nhiệt tình, chân thành ấy làm người khác ghen tị, làm đối phương mềm lòng. Nhưng tỏng trường hợp xấu, bạn không được đáp lại thì như bị dội một gáo nước lạnh, thoái chí nản lòng, không mặt dày mày dạn mà tiếp tục cố chấp.   Lòng tự ái mạnh không cho phép bạn bám đuôi người ta nếu đã bị từ chối, thà rằng đau khổ một mình, từ bỏ mọi thứ còn hơn là mất mặt. Vì yêu vội vã, xốc nổi mà nhiều khi bạn mất đi cơ hội có được tình yêu chân thành, bền vững.   Người cung Bạch Dương nhóm máu B đã yêu thì yêu cả đường đi, mất đi bình tĩnh cùng lý trí, không nhìn rõ thực hư, bỏ qua mọi khuyết điểm của đối phương. Thậm chí đem khuyết điểm thành ưu điểm, đến khi tỉnh ra mới vỡ mộng, rơi vào trống rỗng.    Tính cách của Bạch Dương nhóm máu B sẵn sàng trở thành người thứ 3 hoặc yêu người không môn đăng hộ đối, yêu người bất chấp tất cả, bỏ qua khuyên can hay những rào cản khác, nghĩ mọi biện pháp để được ở bên người yêu. Càng cản thì càng yêu, như lửa đổ thêm dầu, không chút do dự mà hi sinh vì tình. Trả giá nhiều thì tổn thương lớn, cuối cùng không biết là chính mình đã đánh mất những gì.    Lời khuyên dành cho bạn là không nên quá mạo hiểm trong tình ái, như con thiêu thân lao vào lửa, làm tổn thương chính bản thân mình.  

3. Hôn nhân và gia đình

  Từ nhất kiến chung tình đến kết hôn chớp nhoáng, cung Bạch Dương nhóm máu B là điển hình. Người bên ngoài khó có thể tin nổi nhưng bạn lại thấy bình thường, nghe theo con tim mách bảo. Nhưng vì còn đang đắm chìm trong màu hồng của tình yêu nên kết hôn không vững chắc. Bạn cảm thấy chẳng cần chuẩn bị kinh tế trước khi lấy nhau, từ từ cùng nhau nỗ lực là được.   Nếu bạn gặp người không ôn hòa thì với cá tính mạnh mẽ của mình sẽ không thể dung hòa và lâu dài được. Nhưng nếu người quá nhu nhược thì áp bức chất chồng, sớm muộn cũng sinh chuyện. Có điều, gặp được bạn đời hợp tính thì bầu không khí gia đình rất tốt, hoạt bát vui nhộn.   Nữ cung bạch Dương nhóm máu B không hướng về tề gia nội trợ dù cho đã kết hôn mà tích cực ra ngoài làm việc, chứng minh năng lực. Một tay lo trọn gia đình và sự nghiệp, là người phụ nữ đảm đang. Nam giới có trách nhiệm, tận tụy và đáng tin cậy, là trụ cột gia đình. Tuy vậy có tính gia trưởng, không nghe ý kiến của vợ con.  

4. Sự nghiệp

  Ở các lĩnh vực có tính cạnh tranh kịch liệt thì Bạch Dương tỏ rõ năng lực, càng khó khăn càng xuất sắc, bình tĩnh vững vàng, hành động tích cực. Trái lại với các công việc nhàn tản thì sẽ làm mất sức chiến đấu, thui chột tài năng.    Phóng viên, truyền thông, khai thác thị trường, ngoại giao, đua xe, thể thao,… là những lĩnh vực kích thích tham vọng và tính chiến đấu dũng mãnh trong con người bạn. Bạn không nhẫn nại nên không hợp với những nghề cần thời gian dài mới thấy kết quả.
 
Bi mat hoang dao Van menh Bach Duong nhom mau B hinh anh 2
 
Công việc vụn vặt, phải cúi người phục vụ người khác cũng không phải lựa chọn xác đáng dành cho bạn. Nếu lâm vào hoàn cảnh này thì rất dễ mất việc vì vô lễ, thất thố với cấp trên khiến tương lai bị hủy hoại, không có cơ hội thăng tiến.  

5. Tài vận

  Bạch Dương nhóm máu B tích cực theo đuổi tiền tài, điên cuồng như đánh trận, được ăn cả ngã về không. Thành công thì giàu to, thất bại thì nghèo khổ, vận trình không ổn định.    Ngoài ra, tính cách rộng rãi, dùng tiền phóng khoáng hay mời bạn bè nên tiêu tốn không ít. Đây không phải làm bộ làm tịch, cố tình thể hiện mà thực tâm bạn muốn như thế. Chỉ là nên cân nhắc tới tài khoản, tích lũy cho bản thân phòng chuyện bất trắc.   Những việc có tính đầu tư, kích thích cao như cổ phiếu, tín dụng, chứng khoán,… là sở trường, tài vận thuận buồm xuôi gió, có thu hoạch lớn. Bạn biết cách chỉ huy tiền tài nhưng không cân nhắc lâu dài, dễ vì nhất thời mà mất toàn bộ tài sản.
Bí mật hoàng đạo: Vận mệnh Bạch Dương nhóm máu A
Người cung Bạch Dương nhóm máu A là những người có nhiều điểm trái ngược trong tính cách nên vận trình khó đoán, nhiều biến cố bất ngờ.

Trần Hồng

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Bí mật hoàng đạo: Vận mệnh Bạch Dương nhóm máu B

LUẬN BÀN Sao Bất Lợi Cho Hôn Nhân

Cô Thần, Quả Tú hay Đẩu Quân: chỉ sự lẻ loi, xế bóng, cô đơn, kén chọn, có tác dụng ngăn trở việc lập gia đình. Càng hộ...
LUẬN BÀN Sao Bất Lợi Cho Hôn Nhân

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Cô Thần, Quả Tú hay Đẩu Quân: chỉ sự lẻ loi, xế bóng, cô đơn, kén chọn, có tác dụng ngăn trở việc lập gia đình. Càng hội tụ nhiều, sự ngăn trở càng mạnh, trừ phi gặp nhiều sao tình duyên bù chế.
Thái Tuế, Quan Phù, Quan Phủ: Thái Tuế đối nghĩa với Đào, Hồng vì vậy làm cản trở sự kết duyên. Quan Phù và Quan Phủ chỉ sự phản bội, sự phụ rẫy trong tình yêu.
Phục Binh: chỉ sự cản trở, thường là bắt nguồn từ cha mẹ mỗi bên không tán thành duyên số cho đôi trẻ. Mặt khác, sao này còn chỉ sự phá hoại, rình rập, bắt ghen, bêu xấu.
Địa Không, Địa Kiếp hãm địa: chỉ sự xui xẻo về mọi phương diện. Không Kiếp hãm làm cho việc cưới hỏi bất thành, trai gái phải đau khổ vì mối tình bất toại, đôi khi đưa đến hậu quả tai hại cho tính mạng.
Phá Quân hãm địa: không bao giờ có lợi cho hôn nhân và cho hạnh phúc lứa đôi. Hạn rơi vào, việc lập gia đình sẽ bị tan vỡ.

Tuần, Triệt: phá vỡ, làm chậm trễ, làm khó khăn cho hôn nhân. Nếu cả hai đồng cung ở hạn đó thì sự bế tắc quan trọng. Trong trường hợp đơn thủ mà gặp sao xấu tại cung hạn, sự khó khăn, trắc trở xảy ra trong buổi đầu: hôn nhân sẽ đến chậm. 

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: LUẬN BÀN Sao Bất Lợi Cho Hôn Nhân

Xem tướng tay: Ngón trỏ

Đầu ngón trỏ thon nhọn, nếu ngón đầy đặn là người có tính hòa hoãn, thích an nhàn. Nếu đầu ngón trỏ vuông là người thực tế, hoạt động, vui tính. Nếu đầu ngón tay trỏ bè bè thì trí lực yếu và mê tín.
Xem tướng tay: Ngón trỏ

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


- Đầu ngón trỏ tròn, đều đặn là người có tư cách.- Ngón trỏ thật dài là người thích quyền lực, kiêu căng, thích chinh phục kẻ khác.

- Ngón trỏ ngắn là người đần, thiếu nhân cách, kẻ sát nhân hay quá khiêm nhường.

- Ngón trỏ mỏng và gầy (dù ngón trỏ có dài chăng nửa) là người mơ ước chỉ huy nhưng bao không giờ thành tựu.

- Ngón trỏ cong như cái móc là người ích kỷ, thiếu thận trọng.

- Ngón trỏ cứng là người tàn bạo, chuyên chế.

- Đầu ngón trỏ vuông: Quyền lực + trật tự.

- Đầu ngón trỏ nhọn: Quyền lực lý tưởng.

- Đầu ngón trỏ bè bè: Giảm tính tốt gò Mộc tinh.

- Đầu ngón trỏ dầy là người nhiều dục tính.

- Đầu ngón trỏ mỏng mảnh là người kín đáo, nghiêm nghị.

- Ngón trỏ có đường hướng thuợng lên các lóng tay: Tốt, thuận lợi cho thành công.

- Lóng thứ 3 (sát bàn tay) có (+) hay (*): Có sự xúc phạm thuần phong mỹ tục.

- Lóng thứ 3 có lằng ngang: Can tội nặng (tham khảo thêm các chỉ khác).

- Vòng Salomon do Tâm đạo quấn quanh ngón trỏ: Tài tiên tri, có khiếu khoa học huyền bí, có linh tính.

- Ngón trỏ dài hơn ngón áp: Có may mắn về vật chất, ưa khoái lạc, cao vọng, tự ái, ưa chỉ huy, độc đoán.

- Lóng 1 dài (lóng có móng): Óc tôn giáo, đà sầu, đa cảm, thường là nghệ sĩ.

- Lóng 1 ngắn: Đa nghi, vội vàng, thiếu xét đoán.

- Lóng 1 hình nón: Ưa đọc sách.

- Lóng 1 vuông: Tôn trọng sự thật, khoan dung.

- Lóng 1 mập: Chú trọng khoái lạc thể chất.

- Lóng 1 rộng, móng cong: Dấu hiệu đau phổi.

- Lóng 2 dài: Mục đích cao, quyết thỏa mãn tham vọng.

- Lóng 2 ngắn: Ít nghị lực.

- Lóng 2 mập và dầy: Ưa yên thân trong hạnh phúc.

- Lóng 2 khô: Có tham vọng về danh dự hơn vật chất.

- Lóng 3 dài: Mơ ước sự thống trị.

- Lóng 3 ngắn: Lãnh đạm, nghèo khổ.

- Lóng 3 mập: Ham ăn, ưa tiện nghi vậ chất và khoái lạc.

- Lóng 3 khô: Coi thường lạc thú cuộc sống.

Nguồn: Tổng hợp
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem tướng tay: Ngón trỏ

Giải đoán Đại hạn và Tiểu hạn trong Tử vi

Khi xem về tử vi có thể nói rằng việc giải đoán vận hạn, đại hạn, tiểu hạn là khó khăn, phức tạp nhất vì ta phải cân nhắc và phối hợp quá nhiều yếu tố

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Trên bước đường nghiên cứu và học hỏi về tử vi, tôi có thể nói rằng việc giải đoán vận hạn khó khăn, phức tạp nhất vì ta phải cân nhắc và phối hợp quá nhiều yếu tố, mặc dù trong nhiều sách số có bàn tới khía cạnh này nhưng tôi rất tiếc là hơi tổng quát và không được rõ rang. Thực vậy, nếu cứ tra trong sách thì đại hạn và tiểu hạn gặp sao này bị nạn, gặp sao kia phát tài, hoặc đại hạn nhiều sao tốt hơn là sao xấu là tốt, hoặc đại hạn xấu mà tiểu hạn tốt cũng không hay…v.v…..như thế chúng ta làm sao có thể đi tới kết luận và như thế cũng quá giản dị, dễ dàng và thiếu linh động, uyển chuyển, trái hẳn với tinh thần tử vi

giải đoán đại hạn và tiểu hạn

Vì vậy tôi cố gắng thử triển khai cách giải đoán đại tiểu hạn (trong bài này tôi không đề cập tới nguyệt và nhật hạn vì đi quá sâu vào chi tiết rất khó khăn, dễ sai lầm và dễ bị thất vọng) nhưng sẽ bỏ qua những nguyên tắc thường được các sách nêu ra cho khỏi rườm

1. Xem Đại Hạn

Nếu so sánh với tiểu hạn thì đại hạn dễ giải đoán hơn nhiều vì đại hạn bao trùm chu kỳ 10 năm, do đó tổng quát hơn và nhất là các đại hạn không bao giờ giống nhau vì ở đại hạn ở 1 cung không trùng nhau như tiểu hạn (tiểu hạn cứ 12 năm lại trở về cung trước). Tuy nhiên khi so sánh với cách giải đoán tổng quát Mệnh – Thân thì đại hạn vẫn khó tìm hiểu vô cùng.
Nói chung, khi giải đoán đại hạn, quý bạn nên lưu tâm tới những điểm sau (theo thứ tự):

  • Tương quan giữa các sao hoặc các cách (nhất là chính tinh) của Mệnh, Thân với các sao hoặc các cách của đại hạn
  • Tương quan giữa ngũ hành của bản mạng (hoặc cục) và ngũ hành của cung nhập đại hạn
  • Ảnh hưởng sớm hoặc trễ của các sao Nam đẩu hoặc Bắc đẩu
  • Phối hợp cung Phúc với đại hạn
  • Phối hợp cung liên hệ đến hoàn cảnh xảy ra trong đại hạn (nếu cần)
  • Lẽ tất nhiên quý bạn phải xem xét tới ý nghĩa tốt xấu của các sao mà tôi không nêu ra vì các sách đã có bàn tới, ngoài những nguyên tắc nêu trên

Bây giờ xin đưa ra những ví dụ cụ thể để quý bạn hiểu rõ các nguyên tắc tổng quát liệt kê trên đây:

1.Sau khi đã nhận định về ý nghĩa tốt xấu của các sao nhập đại hạn, quý bạn cần xem sao hoặc nhóm sao của Mệnh (nếu chưa quá 30 tuổi) hoặc Thân (nếu trên 30 tuổi) có hợp với các sao nhập đại hạn không. Đây là điểm quan trọng nhất mà nhiều người biết tử vi thường hay bỏ qua. Thực thế, có khi cách hoặc sao nhập hạn rất hay mà vẫn chẳng tốt hoặc chẳng ứng nghiệm, chỉ vì không hợp với cách của Mệnh Thân. Ví dụ như: Mệnh hoặc Thân có cách Sát Phá Liêm Tham mà cung nhập hạn có cách Cơ Nguyệt Đồng Lương thì không sao dung hòa với nhau được và do đó cuộc sống phải gặp nhiều khó khăn, trở ngại, mâu thuẫn, đối kháng dù cho Cơ Lương đắc địa Thìn Tuất chăng nữa. Còn như Mệnh Thân có cách Tử Phủ Vũ Tướng mà hạn gặp Cơ Nguyệt Đồng Lương thì nhất định là hay rồi với điều kiện đừng có Không Kiếp lâm vào vì Tử Phủ rất kị 2 sao này, dù gặp gián tiếp. Ngoài ra, còn cần phải xem ngũ hành của chính tinh tọa thủ tại cung nhập hạn (nếu có). Ví dụ như Mệnh có Tham Lang thuộc Thủy, nếu đại hạn có Tử Phủ Dần Thân thì vẫn xấu như thương vì Tử Phủ thuộc Thổ khắc với chính tinh Tham Lang

2. Điểm quan trọng thứ nhì là phải xem xét ngũ hạnh của Mạng (nếu chưa quá 30t) hoặc của Cục (nếu quá 30t) có hợp với ngũ hành của chính tinh và của cung nhập hạn hay không. Hay nhất là được cung và sao sinh bản mạng hoặc Cục (tùy theo trường hợp). Hoặc nếu không, phải tương hòa, nghĩa là cùng 1 hành (có nhà tử vi lại cho rằng cùng 1 hành là thuận lợi nhất). Còn trường hợp sinh xuất, tức là mạng sinh sao hoặc cung nhập hạn, và khắc nhập, tức là sao hoặc cung khắc mạng, thì đều xấu cả. Riêng trường hợp khắc xuất tuy cũng vất vả nhưng mình vẫn khắc phục được hoàn cảnh, và do đó chưa hẳn là xấu. Ví dụ Mạng của mình là Thủy đi đến đại hạn có Cự Kị, Không Kiếp cũng chẳng hề gì, nếu có xảy ra cũng chỉ sơ qua. Trong khi đó, nếu mình mạng Hỏa hoặc Kim thì đương nhiên dễ bị hiểm nghèo về họa nước. Hoặc là mạng mình Kim, đi đến cung nhập hạn có Vũ Khúc hội Song Lộc, Tử Phủ…thì làm gì không giàu có. Trong khi mạng Mộc thì có khi khổ vì tiền

3. Về ảnh hưởng sớm trễ của chính tinh, chắc quý bạn đều biết là Nam Đẩu tinh ứng về 5 năm sau của Đại hạn, còn Bắc đẩu tinh ứng về 5 năm trước. Tuy vậy vẫn có bạn chưa hiểu phải áp dụng giải đoán như thế nào. Tôi xin đơn cử 1 thí dụ : Mạng có Đào Hoa, Mộc Dục, Hoa Cái, đại hạn có Tham Lang, Riêu Hồng, Kình, Hình thì gần như chắc chắn trong 5 năm đầu đương số sống 1 giai đoạn rất lả lướt, bay bướm vì Tham Lang (Bắc đẩu) cũng như cái đầu tàu lôi kéo tất cả các sao phụ kia, nhưng với điều kiện đương số phải mạng Thủy, Mộc hoặc Kim mới ứng nghiệm nhiều, vì Tham Lang thuộc Thủy hợp với ngũ hành trên. Nếu chính tinh nhập hạn là Thiên Lương (Nam đẩu) thì các nhóm sao phụ đó lại phải hoạt động chậm lại theo với ảnh hưởng của chính tinh, tuy nhiên cuộc sống không bừa bãi bằng Tham Lang nhập hạn vì dù sao Thiên Lương vẫn là sao đứng đắn, đàng hoàng hơn (trừ trường hợp Thiên Lương cư Tị, hợi mới xấu)

4. Nhiều khi phối hợp Mệnh Thân với đại hạn cũng chưa đủ. Quý bạn còn cần xét đến cung Phúc và đừng bao giờ nên quan niệm cung Phúc chỉ biểu tượng đơn thuần về âm đức của ông cha để lại hoặc của chính mình tạo ra hoặc mối liên hệ tinh thần của cả dòng nội của mình vì thực ra cung Phúc Đức có thể được coi như cung Mệnh thứ nhì, đôi khi còn quan trọng và ảnh hưởng hơn. Có nhiều nhà tử vi chỉ xét riêng cung Phúc đức mà có thể tìm ra được khá nhiều nét về cuộc sống tinh thần cũng như vật chất của mọi người, nhất là trong trường hợp mệnh, than không có đủ yếu tố nhận định rõ rang hoặc bị coi như là “nhược” khiến cho ta không thể bám víu mà đoán. Ví dụ như 1 người có tả Hữu, Đào hồng chiếu Thê và cung mệnh có Riêu Mộc Cái hội chiếu thì đương nhiên có lòng tà dâm, dễ có nhiều vợ, nhưng nếu cung Phúc có Vũ Khúc Cô Quả, Lộc Tồn thì dù có gặp đại hạn có yếu tố đa tình, lả lướt chăng nữa cũng khó chung sống them với 1 người đàn bà nào khác 1 cách chính thứ, chỉ có thể giỡn chơi trong 1 thời gian ngắn là cùng

5. Điểm sau chót quý bạn nên lưu tâm là cung liên hệ đến hoàn cảnh xảy ra hoặc cần giải đoán trong đại hạn. Trong phần nguyên tắc tổng quát nêu trên, tôi có nói là nếu cần thì mới xét tới vì khi mình giải đoán chung vận hạn thì ít khi phải nhận định khía cạnh này, chỉ trừ khi nào cần biết 1 điểm riêng biệt nào mới phải ngó tới cung liên hệ. Ví dụ như đương số đã có vợ hoặc chồng mà cần biết về đường con cái trong đại hạn đương diễn tiến thì ngoài các điểm cần phối hợp nêu trên, ta phải quan tâm đến cung tử tức (tức là cung liên hệ đến hoàn cảnh) trước đại hạn. Nếu cung Tử tức quá hiếm hoi, như có Đẩu quân, Cô Quả, Kình Đà, Lộc Tồn, Vũ Khúc, Không Kiếp chẳng hạn thì dù cho đại hạn đó có đủ Đào hồng hỉ, Thai, Nhật Nguyệt đắc địa, Long Phượng cũng chưa chắc gì sẽ sinh con đẻ cái đầy đặn hoặc may mắn về công danh, tiền tài. Còn nếu gặp trường hợp cung Tử tức không bị các sao hiếm mà lại còn có Tả Hữu chiếu thì đại hạn trên sẽ sinh liên tiếp, có khi năm 1 không chừng

2. Xem Tiểu Hạn

Bàn về tiểu hạn (tức là vận hạn trong 1 năm) quý bạn sẽ thấy khó khăn, phức tạp hơn đại hạn nhiều vì phải phối hợp với nhiều yếu tố hơn. Tôi bất giác thương hại các thầy tử vi hành nghề cứ phải giải đoán cấp kỳ theo như yêu cầu của than chủ, vì dù cho các thầy có giỏi đến đâu cũng không thể kết hợp được đúng mức, sau có 1 vài phút đồng hồ, nhất là khi phải bấm trên tay (trường hợp thiếu thị giác) và như thế làm sao chính xác được. Ngay cả khi rảnh rang, cứ ngồi mà cân nhắc, kết hợp cũng chưa chắc đã giải đoán được chính xác vì yếu tố này bổ túc hoặc chế hóa yếu tố khác thì ta đi đến kết luận nào. Do đó, dù có được biết đủ các nguyên tắc để giải đoán tiểu hạn, việc đoán cao thấp tùy thuộc óc kết hợp, nhận định tinh vi của người giải đoán.
Nếu đặt vấn đề nguyên tắc thì tiểu hạn tạm căn cứ vào các điểm sau (mà 1 vài điểm theo quy tắc đã được các sách nêu ra):

  • Tương quan giữa đại hạn và tiểu hạn
  • Tương quan giữa ngũ hành bản mạng với các chính tinh (nếu có) và cung nhập hạn
  • Tương quan giữa lưu đại hạn, địa bàn và thiên bàn
  • Tương quan giữa ngũ hành của năm nhập hạn với cung và sao nhập hạn
  • Các phi tinh (tức là các sao lưu) ngoài ý nghĩa xấu tốt của các chính tinh và phụ tinh mà các sách thường nêu ra

Dưới đây tôi xin triển khai các điểm ghi trên để các bạn hiểu rõ ràng:

a. Khi xét đến tương quan giữa đại hạn và tiểu hạn là đương nhiên ta đã tìm hiểu kỹ đại hạn theo các nguyên tắc đã nêu ra. Tôi có thể nói mối tương quan này rất quan trọng, cũng như mối tương quan giữa đại và tiểu hạn nên ta không bao giờ giải đoán 2 tiểu hạn giống nhau mặc dù 12 năm lại trở lại 1 cung, tức là cùng các sao và ngũ hành. Riêng mục này tôi xin đưa ra nhiều ví dụ vì mục này rất quan trọng:

- Ví dụ đầu tiên là các sao bao giờ cũng phải có đủ bộ mới làm nên chuyện hoặc mới hoạt động. Chẳng hạn như đại hạn có Thái Tuế, Bạch hổ, Quan phù, Không Kiếp, Khốc Hư thường chỉ đoán tranh chấp, kiện cáo, khẩu thiệt. Khi tiểu hạn có Cô Quả, Kình Đà, hình, Linh Hỏa thì dễ bị tai họa….(không thể nhìn thấy chữ)… nếu không có không sao. Tiểu hạn đó vẫn chẳng tai hại gì, có thể chỉ bị đau yếu sơ qua, hoặc bị xa gia đình….


- Đó là bàn về chuyện xấu, còn về việc làm ăn thịnh vượng thì nếu đại hạn có Vũ khúc, Thiên Phủ hợp mệnh mà tiểu hạn có Song Lộc thì đương nhiên làm ăn phát tài, dễ dàng. Hoặc giả đại hạn có tử vi cư Ngọ (nhất là có Quan Lộc hoặc Tài Bạch đứng ở đó) hợp Mệnh mà tiểu hạn có Khôi Việt, Thai Tọa, Tả Hữu, Long Phương, Đào hồng Hỉ, Xương Khúc… thì dễ có chức phận lớn, dễ chỉ huy hoặc kinh doanh quy mô


- Nếu thấy các sao nhập Đại và tiểu hạn họp thành bộ rồi, cần phải xét xem các chính tinh (không bao giờ xét đến phụ tinh) của đại hạn có phù hợp hoặc đối kháng với các chính tinh của tiểu hạn hay không. Nếu đại hạn có Cơ Nguyệt Đồng Lương thì tiểu hạn cần có Cự Nhật hoặc Tử Phủ Vũ Tướng chứ không nên có Sát Phá Tham…Về điểm này, quý bạn nên xem phần tiểu luận trong sách Tử Vi đẩu số tân biên của VĐTTL cũng đầy đủ và dễ hiểu. Vì thế, tiểu hạn tốt cũng chưa chắc ăn mấy


- Nếu chú ý về cá nhân mình thì cần đại hạn tốt đi vào 1 trong những cung liên hệ trực tiếp đế mình thời tiểu hạn mới xứng ý (như cung Tài, Quan, Di, Điền, Phúc). Ví dụ mình muốn làm ăn, kinh doanh lớn mà đại hạn còn ở cung phụ mẫu hoặc cung Tử tức thì dù cho tiểu hạn có tốt vẫn chưa phát huy được đúng mức, nhất định là phải chờ Đại hạn chuyển sang cung tài bạch (nhưng nếu xui xẻo, gặp cung Tài xấu thì cũng như vô vọng) mới hanh thông được


- Sau hết tôi xin nêu ra 1 trường hợp rất khó đoán: đương số mạng Tham Lang cư Thì, tức là tổng quát là lả lướt và đào hoa, cung Thê có Đào hồng, Tả Hữu chiếu tức là có sự lựa chọn, mai mối nhiều và đại hạn lại đi tới cung Thê, như thế là đủ hết các yếu tố đi tới hôn nhân. Do đó các thầy tử vi đều đoán đương số lấy vợ ở các tiểu hạn có Đào hồng Hỉ, tả Hữu, Xương Khúc….nhưng ai ngờ đương số lại lập gia đình trong tiểu hạn có Cô Quả, Tang Hổ, Nhật Nguyệt hãm hội Hóa Kị và lại không ngó thấy đại ha5hn ở cung Thê (vì thông thường các nhà tử vi hay lựa tiểu hạn hội chiếu với cung Phối hoặc trùng phùng ngay vào cung Phối để đoán hôn nhân). Tuy trường hợp này hơi kỳ lạ nhưng nếu suy luận 1 chút là thấy hợp lý vì theo nguyên tắc “tồn hữu dư, bổ bất túc” trong Dịch học, ta thấy các yếu tố về hôn nhân quá nhiều (tức là dư) thì cần phải có sao tiết giảm như Cô Quả, tang hổ Kị thời con thuyền mới có bến đậu được, chứ không “trăm mối tối nằm không”, nhất là tiểu hạn lại vào cung Giải Ách, tức là tránh né, không nhìn thấy cung Phối là cung đại hạn đi tới để khỏi chịu ảnh hưởng quá mạnh của các sao Hỉ. Điều may là trường hợp này ít khi xảy ra hoặc ít khi gặp nên quý bạn cũng đừng quá hoang mang, cứ đoán như thường lệ.


b. Thường thường, đoán tử vi ai cũng thích các chính tinh sinh bản mệnh. Điều này chưa hẳn đã hay hoàn toàn vì nếu gặp chính tinh như Phá Quân hoặc Tham Lang nhập hạn và mạng mình có Cơ Nguyệt Đồng Lương thì nên lựa mạng khắc 2 sao này hơn là được 2 sao này sinh (lẽ dĩ nhiên 2 sao này khắc mạng là điều tối kị) vì bộ CNĐL không ưa 2 chính tinh này nên tốt hơn hết là mời 2 sao đó đi chỗ khác, tức là trường hợp mình có mạng khắc 2 sao này. Ngay cả trường hợp mệnh mình có bộ sao chế ngự được Tham Phá (như bộ TPVTL chẳng hạn) cũng không nên liên hệt đến 2 sao này vì dù sao chúng cũng chủ về tham vọng, ích kỷ, phá tán, bừa bãi, trừ khi đương số là loại người thích đi vào con đường đó thì không kể. Còn như chính tinh nhập hạn như Tử Phủ, Đồng Lương…..bao giờ cũng cần sinh bản mạng hoặc ít ra cùng 1 hành với mạng, dù cho đại hạn có bộ sao đối kháng với các sao tiểu hạn


Về tương quan giữa ngũ hành bản mạng với cung nhập hạn thì bao giờ cung sinh bản mạng cũng tốt đẹp, thuận lợi hoặc nếu được tương hòa thì vẫn hay, chỉ ngại nhất cung khắc bản mạng, còn như mạng sinh cung hoặc khắc cung cũng có khi dung được tuy không phải là hay. Ví dụ như hạn đến cung Tử tức có các sao tốt nếu sinh được cung tức là mình lo được cho con cái thành công hoặc đầy đủ,chứng tỏ mình có phương tiện, tuy mình phải vất vả 1 chút vì con cái nhưng nếu cung Tử tức xấu thì đương nhiên là mình khổ vì con (hoặc vì chúng đau yếu, chết non, hay cao bồi, du đãng mình vẫn thương yêu chúng). Còn gặp trường hợp khắc cung cũng vậy, có khi hay mà có khi dở, nếu gặp tiểu hạn đi tới cung Nô bộc thì lại hay vì mình khắc phục được người dưới quyền hoặc hoàn cảnh. Còn như tiểu hạn đi tới cung Phụ Mẫu thì mình hay bất hòa với cha mẹ (nếu cung phụ mẫu xấu quá có thể mình phải xa cách cha mẹ…Những điểm trên đây quý bạn có thể áp dụng cho cả đại hạn


c. Về vấn đề lưu đại hạn, Địa bàn (tức là tiểu hạn theo vị trí cố định của các cung, như năm nay Quý Sửu, xem địa bàn ở cung Sửu) và Thiên bàn (tức tiểu hạn theo hàng chi an ở ô giữa lá số), tôi thấy không quan trọng lắm vì thật ra chỉ xét kỹ cung Thiên bàn là đủ và đỡ rắc rối quá mức. Chỉ trừ khi nào ta thấy Thiên bàn quá xấu hoặc k rõ chút nào mới cần kết hợp them lưu đại hạn và Địa bàn để xem có yếu tố gì cứu giải hoặc soi sang them không. Về cách lưu đại hạn trong cuốn TVĐSTB có ghi rõ rồi


d. Về ngũ hành của hàng can năm nhập hạn ảnh hưởng tới tiểu hạn nhiều hay ít thì cụ Song An Đỗ Văn Lưu khi còn sinh tiền có cho tôi hay là rất quan trọng. Cụ có nêu 1 ví dụ cho dễ hiểu như sau : 1 người mạng Kim có Cự Kị thủ mệnh, đại hạn có Không Kiếp, tả Hữu, SPT (tức là hạn trúc La) đã chết đuối trong tiểu hạn năm Nhâm Thân vì chữ Nhâm là Thủy và cung nhập hạn cũng là Thủy, trong khi đó mạng Kim lại sinh Thủy, cho nến nước quá nhiều, Kim phải chìm lỉm. Suy ra những trường hợp khác cũng dễ : ví dụ tiểu hạn đến cung Điền có Tang hỏa và nhiều sao Hỏa nếu gặp năm Nhâm hoặc Quý thì vẫn không đáng ngại về hỏa hoạn vì đã được thủy dập tắt rồi. Như vậy, mục (d) này quý bạn cũng không nên bỏ qua khi đoán tiểu hạn, và đây cũng là 1 điểm cho thấy là 2 tiểu hạn cùng 1 cung đã có sự khác biệt


e. Phần chót là về các phi tinh (sao lưu). Tôi thấy các phi tinh không quan trọng lắm, chỉ là để xác định them 1 chút những yếu tố đã tìm rra. Ví dụ như biết hạn xấu rồi thì nếu có them lưu Kình Dương gặp KD cố định đồng cung ta có thể tin chắc là nguy nan. Nếu tiểu hạn tốt thì dù có 2 sao này cũng chẳng hề hấn gì. Cũng có nhà tử vi căn cứ vào vòng trường sinh (lưu) để tìm ra vận hạn cho những người liên hệ trực tiếp với mình (như cha, mẹ, vợ, con…) nhưng tôi thấy chưa có gì chính xác và hợp lý nên xin miễn bàn trong mục này

Qua những điều tôi trình bày trên đây, quý bạn hẳn thấy việc giải đoán vận hạn rất rắc rối, khó khăn, có thể làm ta chán nản vì không biết đúc kết các yếu tố tìm ra thế nào, do đó dễ bị sai lầm. Nhiều khi ta đành phải chờ sự việc xảy ra mới thấy rõ cái hay của tử vi, và vì thế tôi thấy học tử vi không gì hay bằng việc chiêm nghiệm thật nhiều lá số mà mình đã theo dõi. Chứ nếu chỉ cố học thuộc các câu phú hoặc nguyên tắc giải đoán thì chẳng bao giờ có thể giải đoán được vững vàng.

trích KHHB


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Giải đoán Đại hạn và Tiểu hạn trong Tử vi

Xem tướng tay để đoán vận trình tương lai

Qua việc xem tướng tay mà cụ thể là xem màu sắc trên lòng bàn tay, chúng ta có thể phán đoán được vận trình, vận thế của mình trong tương lai sẽ như thế nào.
Xem tướng tay để đoán vận trình tương lai

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Qua việc xem tướng tay mà cụ thể là xem màu sắc trên lòng bàn tay, chúng ta có thể phán đoán được vận trình, vận thế của mình trong tương lai sẽ như thế nào.

  Trên lòng bàn tay sẽ hiện ra 5 loại màu sắc cơ bản ảnh hưởng tới vận thế của con người. Lòng bàn tay là Minh Đường, màu sắc và đường nét trên đó tốt nhất phải rõ ràng, thường thì màu sắc tốt thường tụ hội trong lòng bàn tay, sau đó tới mũi rồi tới trán, phân đều ở các bộ phận. Người khỏe mạnh thì đường chỉ tay và màu sắc sẽ thể hiện rõ nét, người yếu thì sự phân biệt màu sắc khó hơn.

Xem tuong tay de doan van trinh tuong lai hinh anh
Ảnh minh họa
 

Màu thứ nhất – Màu trắng

  Người có lòng bàn tay màu trắng bệnh là người khá là ích kỷ, chỉ biết đến lợi ích của bản thân không quan tâm tới người khác, khi làm việc chỉ hướng tới những công việc có lợi cho mình, nếu không thì tuyệt đối sẽ không làm. Hơn nữa, người này cũng đam mê dục vọng, nhiều khi để dục vọng chi phối vận trình. Vì dục vọng quá nặng mà làm được nhưng lại không giữ được, của cải làm ra lần lượt tan biến hết, cả đời không tích lũy được gì nhiều.  

Màu thứ hai – Màu xanh

  Lòng bàn tay có màu xanh là người khá phiền hà, rắc rối. Người này thường hay bất cẩn, vụng về mà tạo ra những chuyện rắc rối, mang lại sự khó chịu cho người khác. Nếu như ở vị trí cung Ly cũng là màu xanh thì người này thường xuyên buồn phiền và ưu tư vì không hoàn thành nhiệm vụ, tự bản thân cảm thấy áy náy, có lỗi nhưng lại chẳng làm được gì để sửa lỗi.  

Màu thứ ba – Màu đen

  Vận trình của người có lòng bàn tay màu đen khá u ám, thường xuyên gặp trắc trở, nhất là về phương diện sức khỏe. Người này thường gặp tai nạn nên cần chú ý trong việc đi lại, nên nhìn trước ngó sau cẩn thận, chỉ một phút bất cẩn cũng gặp phải họa khiến bản mệnh hối hận cả đời. Hơn nữa, người này cũng dễ mắc các bệnh nan y, bệnh nặng khó chữa. Cần tích cực vận động, rèn luyện sức khỏe, ăn uống điều độ và khoa học, chuyên tâm làm việc thiện thì tai họa sẽ được hóa giải phần nào.  

Màu thứ tư – Màu hồng

  Lòng bàn tay hồng hào, đường chỉ tay rõ ràng, trước hết biểu thị đây là người khỏe mạnh. Trong nhân tướng học, người có lòng bàn tay hồng hào là người may mắn, vận trình khá sáng sủa. Về phương diện tiền tài chẳng bao giờ phải lo lắng, tài nguyên cuồn cuộn, cả đời không phải vất vả làm việc nhưng lợi ích thu được, khả năng tích lũy là khá lớn.

 

Màu thứ năm – Màu vàng

  Người có lòng bàn tay, đặc biệt là 5 đầu ngón tay có màu vàng thì cần chú ý trong vòng một trăm ngày thì gia đình sẽ có đại họa hoặc bản thân bị mắc bệnh nặng. Màu sắc vàng càng sậm thì đại họa càng lớn và bệnh càng nặng. Theo Đông y thì lòng bàn tay, bàn chân có màu vàng nên chú ý tới bệnh về gan, bản mệnh nên theo dõi và tiến hành khám chữa.  
► Lịch ngày tốt gửi đến bạn đọc công cụ xem bói tử vi chuẩn xác theo ngày tháng năm sinh

Phương Thùy
   10 dấu hiệu độc nhất vô nhị trong bàn tay người thành công Dự đoán tương lai giàu nghèo qua những đường vân đặc biệt trong bàn tay Khám phá duyên vận trong lòng bàn tay
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem tướng tay để đoán vận trình tương lai

Sao Địa Không

Hành: Hỏa Loại: Sát Tinh Đặc Tính: Trở ngại, thất bại, bần hàn, tai nạn, tác hại, gian xảo, kích động Tên gọi tắt thường gặp: Không
Sao Địa Không

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Phụ tinh. Thuộc bộ sao đôi Địa Không và Địa Kiếp. Phân loại theo tính chất là Sát Tinh, Hung Tinh.
Cũng là một trong 6 sao của bộ Lục Sát Tinh gồm các sao Kình Dương, Đà La, Địa Không, Địa Kiếp, Linh Tinh, Hỏa Tinh (gọi tắt là Kình Đà Không Kiếp Linh Hỏa).
Cũng là 1 trong 4 sao của cách Hình Riêu Không Kiếp (Thiên Hình, Thiên Riêu, Địa Không, Địa Kiếp).
Khi đóng trong cung không có chính tinh gọi là cách hung hoặc sát tinh độc thủ.
Khi có sao Địa Kiếp trong cùng một Cung Tỵ hoặc Cung Hợi gọi là cách Không Kiếp đồng cung Tỵ Hợi.
Khi một trong các Cung Tý, Cung Tuất, Cung Thìn, Cung Ngọ có sao Địa Không thì tại Cung Hợi hoặc Cung Tỵ thuộc cách giáp Không Kiếp.
Vị Trí Ở Các Cung

  • Đắc Địa: Dần, Thân, Tỵ, Hợi.
  • Hãm Địa: Tý, Sửu, Mão, Thìn, Ngọ, Mùi, Dậu, Tuất.
Ý Nghĩa Địa Không Ở Cung Mệnh
Tướng Mạo
Sao Địa Không ở Mệnh thì thân hình thô xấu, da kém vẻ tươi nhuận.
Tính Tình
  • Địa Không đắc địa: Có mưu trí, thâm trầm và lợi hại, rất can đảm, táo bạo, dám nói, dám làm, kín đáo, bí mật, hay giấu diếm, hay suy xét, mưu trí cao thâm, thủ đoạn. Những đặc tính này đúng cho cả phái nam và nữ.
  • Địa Không hãm địa: Ích kỷ, tự kỷ ám thị, suy tật xấu của người từ tật xấu của mình, xảo quyệt, gian tà, biển lận, tham lam.
Công Danh Tài Lộc
Sao Địa Không cho dù đắc địa cũng không bảo đảm trọn vẹn và lâu dài công danh và tài lộc. Sự nghiệp sẽ hoạch phát nhưng hoạch phá nghĩa là tiến đạt rất nhanh chóng song tàn lụi cũng lẹ. Uy quyền và tiền bạc phải gặp nhiều thăng trầm, lúc thịnh lúc suy; nếu có phú quý lớn thì hoặc không hưởng được lâu, hoặc phải có lần phá sản, lụn bại.
Nếu hãm địa, nhất định phải cực kỳ nghèo khổ, vất vả, không có sự nghiệp và sinh kế để nuôi thân. Sao Địa Không giáp Mệnh cũng liên lụy ít nhiều đến bản thân, công danh, tài lộc như phải vất vả, tha phương lập nghiệp, bị mưu hại, trộm cắp.
Phúc Thọ Tai Họa
Đắc địa: Cuộc đời phải vất vả cực nhọc, tuy tai họa tiềm tàng, nhưng không mấy hung hiểm. Dù sao, phải chịu nhiều cảnh thăng trầm, khi vinh, khi nhục. Nếu gặp phải sát tinh, thì sự phá hoại dễ dàng phát tác mau chóng.
Hãm địa: Địa Không ví như một nghiệp chướng bám vào vận mệnh con người, có ảnh hưởng đa diện và nặng nề, cụ thể như:
  • Bị tật nguyền vĩnh viễn, bệnh nặng.
  • Hung họa nhiều và nặng nề.
  • Nghèo khổ, cô độc, vô sản, phải đi xa làm ăn.
  • Yểu mạng.
Những Bộ Sao Tốt
Địa Không đắc địa gặp Thiên Tướng, Thiên Mã, Hóa Khoa: Những sao này thủ Mệnh là người tài giỏi, lập được sự nghiệp lừng lẫy trong cảnh loạn ly.
Địa Không đắc địa với phi thường cách: Phi thường cách hoặc gồm Tử Phủ, Vũ, Tướng đắc địa, hoặc gồm Sát, Phá, Liêm, Tham đắc địa, được sự hội tụ của cát tinh đắc địa như Tả, Hữu, Khôi, Việt, Xương, Khúc, Long, Phượng, Đào, Hồng, Khoa, Quyền, Lộc và của sát tinh đắc địa như Kình, Đà, Không, Kiếp, Hình, Hổ. Đây là cách nguyên thủ, đế vương, hội đủ tài đức và vận hội, có cả lương thần và hảo tướng trợ giúp, xây dựng chế độ, để danh tiếng lừng lẫy cho hậu thế.
Những Bộ Sao Xấu
  • Địa Không với Thiên Hình, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh: Nếu cùng đắc địa cả thì phú quý được một thời. Nếu cùng hãm địa cả thì rất nguy hiểm tính mạng, sự nghiệp, tài danh, suốt đời gặp nhiều chuyện đau lòng. Dù đắc hay hãm địa, cả trai lẫn gái đều khắc vợ, sát phu.
  • Địa Không, Thiên Cơ (hay Hỏa): Bị hỏa tai như cháy nhà, phỏng lửa.
  • Địa Không, Tham Lang đồng cung: Bị thủy tai (chết đuối, bị giết dưới nước), nếu không cũng chật vật lang thang độ nhật, dễ sa vào đường tù tội.
  • Địa Không (Kiếp) Phục Binh, Thiên Hình, Hóa Kỵ: Gian phi, trộm cướp, du đãng.
  • Địa Không, Trực Phù, Thiên Khốc, Điếu Khách, Cự Môn, Nhật: Cách này biểu hiện cho tai họa, tang khó, đau buồn liên tiếp và chung thân bất hạnh.
Ý Nghĩa Địa Không Ở Cung Phụ Mẫu
  • Cha mẹ mất sớm, chết sớm, chết thảm, bị hình tù, ly cách.
  • Không nhờ vả được cha mẹ mà có khi phải gánh nợ di truyền của cha mẹ để lại.
Ý Nghĩa Địa Không Ở Cung Phúc Đức
  • Sao Địa Không đắc địa, thì hưởng lộc một thời.
  • Sao Địa Không hãm địa, chủ sự bất hạnh lớn về nhiều phương diện, giòng họ sa sút, lụn bại, vô lại, cường đạo, sự nghiệp tan tành, tuổi thọ bị chiết giảm, đau ốm triền miên vì một bệnh nan y.
Ý Nghĩa Địa Không Ở Cung Điền Trạch
  • Địa Không đắc địa, có điền sản một dạo, nhưng phải mua đi bán lại luôn.
  • Địa Không hãm địa, vô sản, bị sang đoạt, bị phá sản, bị tai họa về điền sản (cháy nhà, nhà sập ...) hoặc sang đoạt, tạo điền sản bằng phương tiện táo bạo, ám muội.
Ý Nghĩa Địa Không Ở Cung Quan Lộc
  • Công danh thấp kém, làm ăn rất chật vật.
  • Bị khinh ghét, dèm pha, không thăng tiến.
  • Bị mất chức ít nhất một lần.
Nếu đắc địa, có bộc phát được một thời nhưng sau cũng tàn lụi, hoặc phải lên voi xuống chó.
Ý Nghĩa Địa Không Ở Cung Nô Bộc
  • Tôi tớ phản chủ, hại chủ, giết chủ.
  • Bạn bè xấu, tham lận, lường gạt.
  • Nhân tình ám hại, bêu xấu, bòn của.
Ý Nghĩa Địa Không Ở Cung Thiên Di
  • Ra ngoài làm ăn vất vả, phải bon chen, đôi khi có sựï gây gỗ, bực mình.
  • Công danh vất vả, làm ăn lúc được lúc không, làm nghề cực nhọc.
  • Tình cảm bạc bẽo, có số ly hương, đi xa, mồ côi, nếu không thì gia đạo cũng ly tán, xa cách.
Ý Nghĩa Địa Không Ở Cung Tật Ách
Sát tinh này có rất nhiều đặc tính bệnh lý, hầu hết là rất nặng. Nó gây thương tàn cho bộ phận cơ thể đi kèm, dù sao đó chỉ xung chiếu hay bàng chiếu. Cuộc đời hay gặp tai nạn, trắc trở, bệnh khó chữa, có ám tật.
  • Địa Không, Thiên Đồng: Ruột dư phải mổ, hay bệnh thận phải mổ, bệnh mật có sạn.
  • Địa Không, Đế Vượng: Gãy xương sống, sái xương sống.
  • Địa Không, Hỷ Thần: Bệnh trĩ kinh niên hay bệnh mụn nhọt lớn ở mông.
  • Địa Không, Phá Toái: Đau yết hầu, ung thư cổ họng.
  • Địa Không, Thai: Bào thai chết trong bụng mẹ, mẹ cố ý phá thai.
  • Địa Không, Hóa Kỵ: Ngộ độc bị phục độc.
Ý Nghĩa Địa Không Ở Cung Tài Bạch
  • Địa Không nếu đắc địa: thì hoạch phát nhanh chóng một thời, nhưng về sau phá sản cũng rất nhanh. Thường thường kiếm tiền bằng những phương cách táo bạo (buôn lậu, ăn cướp, sang đoạt) và ám muội (đầu cơ, oa trữ, buôn bán đồ quốc cấm).
  • Địa Không nếu hãm địa: Vô sản, bần nông.
Ý Nghĩa Địa Không Ở Cung Tử Tức
  • Không con, hiếm muộn, ít con, phải ở xa con cái.
  • Sát con rất nhiều.
  • Con du đãng, đĩ điếm không nhờ vả được mà còn phải bị di lụy.
  • Con phá sản nghiệp cha mẹ.
Ý Nghĩa Địa Không Ở Cung Phu Thê
Có những ý nghĩa sau:
  • Sát phu, sát thê, góa bụa bất ngờ.
  • Có thể không có gia đình.
  • Nếu có gia đình thì sát hay phải xa cách nhau lâu dài vì tai nạn xảy ra cho một trong hai người.
  • Phải hai, ba lần lập gia đình, lần nào cũng nhanh chóng.
Ý Nghĩa Địa Không Ở Cung Huynh Đệ
Có những ý nghĩa sau:
  • Không có anh chị em hoặc anh chị em ly tán.
  • Có anh chị em dị bào, có người đau ốm bệnh tật, có tật nguyền, hoặc đoản thọ, chết yểu.
  • Không nhờ vả được anh chị em mà còn phải bị liên lụy vì họ (vì Địa Không bấy giờ giáp Mệnh).
Địa Không Khi Vào Các Hạn
Nếu đắc địa, sẽ bộc phát tài danh mau lẹ, nhưng phải làm bệnh nặng về phổi, mụn nhọt, hoặc phải đi xa.
  • Nếu hãm địa, rất nhiều tai nguy về mọi mặt:
  • Bị bệnh nặng về vật chất và tinh thần (lo buồn).
  • Bị mất chức, đổi chỗ vì kỷ luật.
  • Bị hao tài, mắc lừa, mất của, thất tình.
  • Bị kiện cáo.
  • Bị chết nếu gốc nhị Hạn xấu.

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Sao Địa Không

Những bí quyết kinh doanh của người Trung Quốc xưa (Phần 1) –

Biết địa hình sẽ thắng, chọn địa hình sinh tài Trong binh pháp có viết: "Địa hình hỗ trợ cho việc binh, biết địch mới mong cầu thắng, tính đến lúc hiểm nguy, xa gần là đạo của người làm tướng. Biết đạo lý đó ắt sẽ thắng, kẻ không biết điều đó ắt thua

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Biết địa hình sẽ thắng, chọn địa hình sinh tài

Trong binh pháp có viết: “Địa hình hỗ trợ cho việc binh, biết địch mới mong cầu thắng, tính đến lúc hiểm nguy, xa gần là đạo của người làm tướng. Biết đạo lý đó ắt sẽ thắng, kẻ không biết điều đó ắt thua”. Điều này chứng tỏ địa hình từ xưa rất quan trọng đối với chiến đấu, là người tướng không thể không quan sát địa hình để bày binh bố trận. Thương trường cũng như chiến trường, người chủ kinh doanh cũng giống như đang điều khiển hàng ngàn quân mã. Người tướng có trí tuệ, mưu lược luôn chiếm giữ vị trí địa hình có lợi, cuối cùng mới giành được thắng lợi.

Phạm Lãi – Một nhà mưu lược đầy tài ba thời Xuân Thu chiến quốc là một người như vậy. Với con mắt của nhà chiến lược, ông cho rằng: Đào địa là phần đất trong thiên hạ, thông với các chư hầu, là nơi lý tường để giao dịch hàng hóa. Vì thế ông đã chọn Đào địa làm nơi kinh doanh. Quả nhiên, trong vòng 10 năm tiền ông kiếm được nhiều vô số kể. Cái tên Đào Chu Công được mọi người yêu mến truyền tụng đến ngày nay.

kinh-doanh-trung-quoc

Trong “Sử ký” có ghi chép: Sau khi diệt được nước Triệu, nước Tần tiến hành chính sách di dân. Khi đó có rất nhiều người hối lộ quan lại để không phải di dời đi nơi khác, họ muốn ở lại vùng đất cũ vì sợ phải thay đổi. Duy chỉ có phú thương họ Trác yêu cầu được chuyển đến vùng Văn Sơn xa xôi. Ông nhìn thấy ở đó đất đai phì nhiêu, sản vật phong phú, dân cư sống thanh bình, nồng hậu, họ rất thích buôn bán, thương nghiệp sẽ dễ dàng phát triển.

Mấy năm sau, Trác thị trở thành phú ông gần xa đểu biết tên, quan niệm chọn đất của ông cũng được các thương nhân coi là cẩm nang. Dương Châu – Giang Tô là một nơi giao thông phát triển, vận chuyển bằng đường thủy cũng thuận tiện, hàng hóa phong phú, thương nhân từ các nơi khác đến đây sinh cơ lập nghiệp, có người chỉ từ hai bàn tay trắng mà làm tạo nên gia nghiệp khổng lồ, tiếng tăm lừng lẫy bốn phương.

Hàng rẻ mua vào, hàng lên nhanh chóng bán ra

Phạm Lãi và Bạch Giai – ông tồ nghề thương nghiệp cho rằng hàng rẻ mua vào, tuy quý nhưng rẻ; hàng đắt bán ra, tuy rẻ nhưng quý. Điều này nhấn mạnh người kinh doanh giỏi về cách nắm bắt thời cơ để mua vào bán ra. Lợi nhuận kinh doanh có được từ khoản lãi chênh lệch. Một khi thấy thời cơ đến, bằng mọi giá phải hành động ngay, nếu không sẽ không kiếm được tiền thậm chí còn lỗ vốn.

Thời Ngụy Ván Hầu, người dân chỉ chú trọng nghề nông, thế mà Bạch Giai lại rất vui với điều này. Khi lương thực phong phú, được mùa, ông ta cho người thu mua hết ngũ cốc, bán ra tơ, sơn. Đợi khi tơ tằm được tung ra thị trường, ông ta lại thu mua số lượng lớn, bán hết lương thực. Ỏng từng nói: Người nào làm ăn buôn bán có mưu kế giỏi như Y Doãn và Khương Thái Công, giỏi phán đoán như Tôn Tẫn và Ngô Khởi thì mới có thể nói được làm được.

Có một số người đầu óc của họ không thể ứng phó thời cơ một cách nhanh nhẹn được, lại có người dũng cảm nhưng cứ đâm đầu kinh doanh mà không biết lựa chọn thời cơ, có người lại nhu nhược không kiên định nguyên tắc. Những loại ngưòi như vậy mà đi theo ta học kinh doanh, ta cũng không dạy họ. Những kinh nghiệm và nguyên tắc kinh doanh của Bạch Giai được những nhà kinh doanh đời sau dùng làm cẩm nang. Ông tận dụng hết khả năng mưu lược của mình để kinh doanh và gặt hái được thành công vô cùng vang dội.

Thấy ngắn mà biết tương lai, dự báo sinh tài sinh lộc

Việt Vương Câu Tiễn thời Xuân Thu khi biết được nước Ngô đang bị đại hạn đã ngầm thu mua hết lương thực của nước Ngô. Hai năm sau, nước Ngô thiếu lương thực, nhân dân đói khổ, tiếng than oán hận khắp nơi. Nước Việt nhân cơ hội đó đem quan sang tiêu diệt Ngô, cuối cùng Việt Vương đã thành bá nghiệp, trờ thành một trong ngũ bá thời Xuân Thu.

viet-vuong-cau-tien

Điều Việt Vương Câu Tiễn làm ở đây chính là làm một cuộc mua bán lớn. Thứ ông đạt được không phải là vàng bạc châu báu mà có được một đất nước, xưng hùng xưng bá thiên hạ. Đây là một thành công điển hình trong cách vận dụng kinh doanh để làm chính trị.

“Di kiên trí” đã ghi chép: Vào thời Tống, có một lần thành Lâm An bị cháy rất to, cửa hàng của một người họ Bùi cũng bị bắt lửa, nhưng ông ta không vội chạy đi chữa cháy mà sai người cầm ngân lượng ra ngoài thành mua những vật liệu xây dựng như gỗ, tre, ngói…Sau khi lửa đã dược dập tắt, tất cả trờ thành đống đổ nát hoang tàn, thị trường vật liệu xây dựng trở nên khan hiếm. Lúc này người họ Bùi kia nhân thòi cơ tung hàng ra bán, tiền kiếm được gấp hàng chục lần giá trị cửa hàng đã bị cháy kia, đồng thời cùng đáp ứng được nhu cẩu của thị trường và nhân dân.

Hay quan sát, nhạy bén và phán đoán chính xác là khởi nguồn của người kinh doanh giỏi và đó cũng là một trong những năng lực cần phải có của các nhà kinh doanh.

Lợi ít nhưng bán được nhiều

Kế Nhiên – Một nhà lý luận kinh tế thời Tiên Tần đã cho rằng: “Quý thượng cực tắc phản tiện, tiện hạ cực tắc phản quý” (đắt hết mức lại thành rẻ, rẻ hết mức lại thành đắt). Tư Mã Thiên đã nói: “Tham mua 3 đồng, rẻ mua 5 đồng”. Nghĩa là người kinh doanh tham lợi nhuận chỉ có thể lãi được 30% còn người lấy lãi ít nhưng bán được nhiều thì có thế lãi 50%. “Úc li tử” ghi chép: Có ba thương nhân cùng kinh doanh một loại hàng hóa giống nhau trong một chợ, trong đó có một người bán hàng với giá thấp nhất, người mua đông như kiến cỏ, trong một năm đã phát tài. Hai người còn lại không muốn giảm giá, kết quả lợi nhuận không bằng người kia.

Trương Lương – mưu sĩ của Hán Cao Tổ Lưu Bang khi còn nhỏ theo Hoàng Thạch Công học chữ. Ban ngày ông phải đi bán dao kéo, tối về học bài, sau này ông thấy thời gian học không đủ, cần tranh thủ bán hàng xong để về học. Vì vậy ông liền chia dao kéo thành ba loại tiền khác nhau: loại đắt, loại vừa và loại rẻ. Loại đắt giá vẫn không đổi, loại vừa giá rẻ hơn một chinh, loại rẻ giá rẻ hơn hai chinh. Kết quả, chỉ trong vòng nửa ngày số lượng dao kéo bán ra gấp ba lần, tiền kiếm được gấp đôi ngày thường. Vì thế dân gian có câu: “Trương Lương bán dao kéo, hàng đắt rẻ như nhau”.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những bí quyết kinh doanh của người Trung Quốc xưa (Phần 1) –

Sao không phải là sao: tiền kình hậu đà; lộc tiền nhất vị, thị kình dương?

Bài viết của tác giả Ân Quang về Tiền Kình Hậu Đà. Một bài viết phân tích sâu sắc.
Sao không phải là sao: tiền kình hậu đà; lộc tiền nhất vị, thị kình dương?

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Bài của Ân Quang

Kình Đà và Lộc Tồn tinh hệ

Trong bài trước, tôi có bàn về điểm dị biệt giữa Tinh, Diệu, Thân và Kình, Đà là hai khí lực luôn ở quanh Lộc Tồn.

Lộc tồn di chuyển đến đâu, thì Kình Đà cũng di chuyển theo bao quanh, ở hai cung giáp Lộc Tồn, theo chiều hướng “Tiền Kình Hậu Đà, Lộc Tiền nhất vị, thị Kình Dương”. Tiền và hậu đây là căn cứ vào vị trí của Lộc Tồn.

Bộ sao Quốc Ấn, Đường Phù cũng luôn luôn di chuyển theo Lộc Tồn, theo một hướng khác: “Thuận Cửu Nghịch Bát”. Thuận Nghịch đây là so với vòng xoay chuyển của địa chi.

Vì vậy, Lộc Tồn tinh hệ gồm cả thảy mười bảy sao. Đó là Lộc Tồn, Kình, Đà, Ấn, Phù, Bác Sĩ, Lực Sĩ, Thanh Long, ….

Chỉ vì sự xếp đặt trình bày dưới hình thức Đồ Biểu (xem thì có vẻ Khoa học) mà có sự ngộ nhận rằng Lộc Tồn tinh hệ chỉ có mười ba sao là Lộc Tồn, Bác sĩ, Lực Sĩ, Thanh Long, Tiểu hao …

Mới đây lại có cuốn sách Tử-Vi, tách Lộc Tồn rời ra, lập thành Bác Sĩ tinh hệ, chỉ gồm có mười hai sao, khởi đầu là Bác Sĩ rồi đến Lực Sĩ, Thanh Long, Tiểu hao...

Tử-Vi tinh hệ chỉ có sáu sao, đó là: Tử-Vi, Thiên Cơ, Thái Dương, Vũ Khúc, Thiên Đồng, Liêm Trinh.

Thiên Phủ tinh hệ lại có tám sao, đó là: Thiên Phủ, Thái Âm, Tham Lang, Cự Môn, Thiên Tướng, Thiên Lương, Thất Sát, Phá Quân.

Không có một định luật nào bó buộc rằng một tinh hệ chỉ có, hoặc phải có đúng mười hai sao. Có thể có mười hai sao, hoặc hơn hoặc kém số đó. Kình Đà luôn luôn ở quanh Lộc Tồn, Ấn, Phù cũng xê dịch tùy theo vị trí của Lộc Tồn tinh hệ. Và như vậy, Lộc Tồn tinh hệ có mười bảy sao.

Vì đâu mà có KÌNH DƯƠNG ở Dần Thân Tỵ Hợi. ĐÀ LA ở Tý Ngọ Mão Dậu.

Trước đây hai mươi mốt năm (1952), cuốn Tử Điển Tử-Vi của tác giả Đắc Lộc, xuất bản tại Hà Nội có luận về các sao Kình, Đà như sau:

Kình Dương là Dương Tinh, phù cho người Dương Nam, Dương Nữ. Kình Dương Vượng ở Thìn, Tuất, Sửu, Mùi. Đắc địa ở Tỵ, Hợi, Dần, Thân. Hãm ở Mão, Tý, Ngọ.

Đà La là Âm tinh, phù cho người Âm Nam, Âm Nữ. Đà La Vượng ở Thìn, Tuất, Sửu, Mùi. Đắc địa ở Tý, Hợi. Hãm ở Dần, Mão, Tỵ, Thân, Ngọ, Dậu.

Cũng trước đây, trên hai mươi mốt năm (năm 1952), trong Tử-Vi Đẩu Số Quyển Hạ, ở trang 172 tác giả Nguyễn Mạnh Bảo có luận về sự hung hại của Kình Dương ở Dần, Thân, và qua trang 173 thấy có ghi là “ở cung Dần thì đắc địa”.

Vài năm sau đó (1957) tác giả Vân Đằng Thái Thứ Lang cũng luận về sự hung hại của Kình Dương ở Dần, Thân.Trong cuốn Tử Vi Chỉ Nam xuất bản năm 1957 (cách đây mười sáu năm), tác giả Song An Đỗ Văn Lưu cũng có nói về Kình Dương ở Dần Thân Tỵ Hợi và Đà La ở Tý Ngọ Mão Dậu.

Và cứ thế tiếp tục, một vài cuốn sách Tử-Vi xuất bản gần đây cũng có luận về sự hung hãn của Kình Dương ở Dần, Thân.

Thế nhưng, áp dụng phương pháp an sao của quý vị tác giả ấy thì không thể nào tính cho có được Kình Dương ở Dần, Thân, Tỵ, Hợi và Đà La ở Tý, Ngọ, Mão, Dậu. Quý bạn Tử-vi thử tính lại, hoặc xem lại phần chỉ dẫn an sao thì rõ.

Sở dĩ có sự lủng củng như vậy (luận về ảnh hưởng của Kình ở Dần, Thân, Tỵ, Hợi và Đà La ở Tý, Ngọ, Mão, Dậu, mà trong phần chỉ dẫn an sao thì không có) là vì đã tách rời Kình Dương và Đà La ra khỏi Lộc Tồn tinh hệ. Rồi từ đó đã áp dụng lần lần câu: “Tiền Kình Hậu Đà, Lộc Tiền nhất vị, thị Kình Dương”.

Kình và Đà là hai khí vận luôn luôn đi theo kèm hai bên Lộc Tồn.

Tuổi Giáp, Lộc Tồn tại Dần

Dương Nam, Âm Nữ. Lộc Tồn tinh hệ đi xuôi. Tiền Kình Hậu Đà thì Kình Dương tại Mão, Đà La tại Sửu.

Âm Nam, Dương Nữ. Lộc Tồn tinh hệ đi ngược. Tiền Kình, Hậu Đà thì Kình Dương tại Sửu và Đà La tại Mão. Như vậy thì mới có trường hợp Đà La tại Mão (Tý Ngọ Mão Dậu).

Tuổi Ất, Lộc Tồn tại Mão

Dương Nam, Âm Nữ. Lộc Tồn tinh hệ đi xuôi. Tiền Kình Hậu Đà thì Kình Dương tại Thìn, Đà La tại Dần.

Kình Đà là hai khí vận nằm trong Lộc Tồn tinh hệ, luôn luôn gíap hai bên Lộc Tồn

Âm Nam, Dương Nữ. Lộc Tồn tinh hệ đi ngược. Tiền Kình, Hậu Đà thì Kình Dương tại Dần và Đà La tại Thìn. Như vậy mới có trường hợp Kình Dương ở Dần (Dần, Thân, Tỵ, Hợi).

Tuổi Bính & Mậu, Lộc Tồn tại Tỵ

Dương Nam, Âm Nữ. Lộc Tồn tinh hệ đi xuôi. Tiền Kình, Hậu Đà thì Kình Dương tại Ngọ, Đà La tại Thìn.

Âm Nam, Dương Nữ. Lộc Tồn tinh hệ đi ngược. Tiền Kình, Hậu Đà thì Kình Dương tại Thìn và Đà La tại Ngọ. Như vậy thì mới có trường hợp Đà La tại Ngọ (Tý Ngọ Mão Dậu).

Tuổi Đinh & Kỷ, Lộc Tồn tại Ngọ

Dương Nam, Âm Nữ. Lộc Tồn tinh hệ đi xuôi. Tiền Kình Hậu Đà thì Kình Dương tại Mùi, Đà La tại Tỵ.

Kình Đà là hai khí vận nằm trong Lộc Tồn tinh hệ, luôn luôn gíap hai bên Lộc Tồn

Âm Nam, Dương Nữ. Lộc Tồn tinh hệ đi ngược. Lộc tiền nhất vị, thì Kình Dương tại Tỵ và Đà La tại Mùi. Như vậy mới có trường hợp Kình Dương tại Tỵ (Dần, Thân, Tỵ, Hợi).

Tuổi Canh, Lộc Tồn tại Thân

Dương Nam, Âm Nữ. Lộc Tồn tinh hệ đi xuôi. Tiền Kình Hậu Đà, thì Kình Dương tại Dậu, Đà La tại Mùi.

Âm Nam, Dương Nữ. Lộc Tồn tinh hệ đi ngược. Lộc tiền nhất vị thị Kình Dương thì Kình tại Mùi và Đà tại Dậu. Như vậy mới có trường hợp Đà La tại Dậu (Tý Ngọ Mão Dậu).

Tuổi Tân, Lộc Tồn tại Dậu

Dương Nam, Âm Nữ. Lộc Tồn tinh hệ đi xuôi. Lộc tiền nhất vị thị Kình Dương, thì Kình tại Tuất, Đà tại Thân.

Âm Nam, Dương Nữ. Lộc Tồn tinh hệ đi ngược. Tiền Kình Hậu Đà, thì Kình Dương tại tại Thân và Đà La tại Tuất. Vì vậy mà có Kình Dương tại Thân (Dần, Thân, Tỵ, Hợi).

Tuổi Nhâm, Lộc Tồn tại Hợi

Dương Nam, Âm Nữ. Lộc Tồn tinh hệ đi xuôi. Lộc tiền nhất vị thị Kình Dương, thị Kình Dương tại Tý, Đà La tại Tuất.

Âm Nam, Dương Nữ. Lộc Tồn tinh hệ đi ngược. Tiền Kình Hậu Đà, thì Kình Dương tại tại Tuất và Đà La tại Tý (Tý Ngọ Mão Dậu).

Tuổi Qúy, Lộc Tồn tại Tý

Dương Nam, Âm Nữ. Lộc Tồn tinh hệ đi xuôi. Tiền Kình Hậu Đà thì Kình Dương tại Sửu, Đà La tại Hợi.

Kình Đà là hai khí vận nằm trong Lộc Tồn tinh hệ, luôn luôn gíap hai bên Lộc Tồn

Âm Nam, Dương Nữ. Lộc Tồn tinh hệ đi ngược. Tiền Kình Hậu Đà Lộc tiền nhất vị, thị Kình Dương thì Kình Dương tại Hợi và Đà La tại Sửu. Vì vậy mới có trường hợp Kình Dương tại Hợi (Dần, Thân, Tỵ, Hợi).

Cụ Song An Đỗ Văn Lưu, khi bàn về Miếu, Vượng, Hãm của các sao có nói Kình Dương Hãm ở Tỵ, và Đắc địa ở Dần, Thân, Hợi.

Cụ Ba La trong khi luận giải kỹ một vài lá số, cũng đã an Kình Đà và luận về sự Đắc, hãm của bộ sao này như vậy. Tuy nhiên, với một vài người chưa thông cảm lắm, hoặc có thái độ chất vấn, đánh đố phiền phức thì Cụ không ham muốn tranh luận phải trái làm gì. Giá trị của Tử-Vi không phải chỉ thu gọn vào một số công thức khô khan để giải đáp những khắc khỏai giây lát mà nằm ở những quan niệm sâu xa, luận giải tế nhị. Luận giải tế nhị với người chưa nắm vững căn bản thì mất nhiều thời giờ, có khi lại đi đến chỗ tranh luận phiền phức, hơn thua chẳng lợi lộc gì.

Trong khi sưu tầm các quan niệm Tử-Vi xưa, tôi không hề có ý dựa vào quan niệm của Cụ Ba La hoặc của Cụ Song An làm tiêu chuẩn cho chân lý Tử-Vi. Tôi chỉ muốn trình bày rằng, sự vội vã công thức hóa Tử-vi, thu gọn Tử-vi vào trong một số đồ biểu, đã làm thất lạc những quan niệm thâm thúy của người xưa. Thọat nhìn qua thì một số công thức, đồ biểu, có vẻ khoa học, dễ hiểu, để áp dụng cho người mới nhập môn. Nhưng khi bình tâm tính kỹ lại thì dễ có điểm mâu thuẫn khó giải quyết, hoặc thiếu ý nghĩa sâu rộng khiến cho người nghiên cứu Tử-vi khó có thể tiến xa được.

Mâu thuẫn không phương hướng giải quyết, vì như bên trong có cuốn sách thì luận về sự hung hại của Kình Dương ở Dần, Thân; có đoạn sách nói là Kình Dương ở Dần là Đắc Địa, mà ở phần chỉ dẫn an sao, không tính cách nào cho có được Kinh Dương ở Dần Thân Tỵ Hợi (chỉ vì đã tách rời Kình Đà ra khỏi Lộc Tồn tinh hệ, áp dụng lầm lẫn câu Tiền Kình Hậu Đà. Lộc Tiền Nhất Vị, Thị Kình Dương).

CÁC CUNG MIẾU, ĐẮC, HÃM ĐỊA CỦA KÌNH DƯƠNG VÀ ĐÀ LA

Phần lớn các sách Tử-Vi đều luận rằng:

– Bốn cung Thìn Tuất Sửu Mùi là Miếu địa của Kình Dương và Đà La.

– Bốn cung Dần Thân Tỵ Hợi là Hãm địa của Đà La.

Riêng về Kình Dương thì Hãm địa là cung Tỵ, và Đắc địa là Dần Thân và Hợi.

Theo cụ Song An (tác giả cuốn Tử-Vi chỉ Nam) thì Kình, Đà cũng Đắc địa tại Tý, có đọan lại luận là Bình.

Tôi thiển nghĩ là không nên phân vân, khẳng định hoặc phủ nhận một công thức nào. Các công thức trong Tử-Vi không phải là đã được lập thành bởi những định luật tóan học, vật lý, hóa học, máy móc, mà bởi “kinh nghiệm”. Tử-Vi là một môn Khoa Học luận tương đối. Không có đơn vị nào để đo lường sự sai biệt giữa Đắc và Bình, giữa Miếu và Vượng. Một sao “Bình” mà được đa cát tinh giao hội vẫn đắc lực hơn một sao “Đắc” mà đứng chơi vơi một mình, không được phò tá.

Những công thức Tử-Vi được lập thành do những quan niệm Lý Học, do sự luận giải, chiêm nghiệm, kinh nghiệm. Muốn chiêm nghiệm, rút kinh nghiệm thì cần hiểu ý nghĩa, tính chất các sao ấy. Có hiểu ý nghĩa các Sao thì mới có thể nhìn xâu xa, vì các Vị sao trong Tử-Vi, không phải là những con số. Trên các vị sao ấy (tạm gọi chung là như vậy) có khi còn kéo theo cả một nhân sinh quan, một vũ trụ quan. Người xưa đã ngụ ý rất nhiều khi đặt tên các vị Sao.

Ý NGHĨA CỦA KÌNH DƯƠNG VÀ ĐÀ LA

Trong vòng Lộc Tồn, thì Thanh Long và Bệnh Phù là hai ngôi luôn luôn đối chiếu nhau.

Gặp Bệnh Phù ở cung chính thì ít người để ý, mà lại tập trung cái nhìn của mình vào Thanh long, từ ngoài chiếu lại.
Khi xem cung Thìn là cung chính, gặp Bệnh phù ở đó thì không kể đến, mà lại chú trọng luận giải Thanh Long ở cung Tuất chiếu vào. Bệnh Phù và Thanh Long cùng ở trong một vòng sao, hai ngôi luôn luôn đối chiếu nhau. Vì sao lại bỏ Bệnh Phù ở bên trong, để nhìn vào Thanh Long bên ngoài? Ấy cũng chỉ là thói quen vội vã thông qua những tên sao nào có vẻ rắc rối khó hiểu, chỉ nhìn vào những sao nào có vẻ dễ hiểu, hoặc có vẻ hấp dẫn hơn.

Bệnh phù là cái gì mơ hồ, nghe có vẻ như bệnh hoạn, phù thũng. Thanh long nghe có vẻ sáng sủa hấp dẫn hơn. Thế rồi, khi xem cung Thìn là chính, thấy có Bệnh phù, cũng bỏ đó, hãy luận về Thanh Long ở cung Tuất chiếu vào đã.

Một vài người nghiên cứu Tử vi thường có thói quen như vậy. Nhờ linh tính, trực giác, gặp may nhiều khi cũng đoán đúng. Nhưng, thiển nghĩ rằng sự đoán đúng này, dùng để chứng minh ảnh hưởng của trực giác chứng minh cái thuyết “Phúc chủ lộc Thầy”…thì đúng hơn là để đi tìm cái tinh hoa của môn lý học.

Cũng do sự vội vã thông qua, do thói quen dồn các bộ sao vào một công thức mà không mấy người, không mấy cuốn sách tử vi nói rõ điểm dị biệt giữa Kình và Đà, Linh và Hỏa, Khôi và Việt, Không và Kiếp…

Cứ nói rằng Kình Đà, Không Kiếp, Linh Hỏa, là bộ lục Sát. Rồi thì Kình cũng như Đà, Đà cũng giống Kình, Kiếp cũng như Không, Không cũng là Kiếp, Linh cũng như Hỏa – Hỏa cũng giống Linh hay sao?

Cứ nói rằng “Tọa khôi hướng Việt”, “Tọa Quý hướng Quý” là quý cách, Khôi và Việt là bộ văn tinh, Quý tinh. Rồi Khôi cũng là Việt. Việt cũng giống Khôi hay sao?

Có tìm hiểu ý nghĩa dị biệt giữa Kình Dương và Đà la thì mới thấy được cái Lý Kình Dương luôn luôn đứng chung với Lực sĩ, khi tính Tiền Kình Hậu Đà.

Có tìm hiểu ý nghĩa khác nhau giữa Kình Dương và Đà La thì mới hiểu được, chiêm nghiệm trường hợp, cùng thì người tuổi Tân, Dương Nam Âm nữ có Kình Dương tại Tuất, Âm nam Dương Nữ có Đà la tại Tuất, Kình tại Tuất hay Đà tại Tuất cũng đều nhập miếu. Vậy hai trường hợp nhập miếu này khác nhau ra sao?

Ngày nay, cách viết tên hai vị “Sao” này bằng chữ Hán cũng có một vài trường hợp lủng củng, thất truyền, khiến cho người nghiên cứu ít nhìn thấy điểm dị biệt giữa Kình và Đà.

Những điểm tế nhị còn nhiều, không thể kể hết trong một vài trang giấy, tôi xin trình bày thêm vào những kỳ Giai phẩm tới.

KHHB số 40


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Sao không phải là sao: tiền kình hậu đà; lộc tiền nhất vị, thị kình dương?

Tham khảo một số điều cần tránh khi đặt tên cho con

Việc đặt tên cho con thực sự rất quan trọng để Con có được thời vận tốt. Có một số điều nên tránh khi đặt tên cho con bố mẹ có thể tham khảo thêm ở bài viết này.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tên là mệnh, là vận mệnh của mỗi con người, tên gọi luôn gắn liền với mỗi người trong suốt cuộc đời. Khoa học cổ dịch đã cho thấy, nếu tên gọi đúng ngũ hành mệnh, hợp với giờ sinh của bé, sẽ mang lại cho bé nhiều may mắn, sức khỏe, thuận lợi trong cuộc sống sau này. Việc đặt tên cho con thực sự rất quan trọng để Con có được thời vận tốt. Có một số điều nên tránh khi đặt tên cho con bố mẹ có thể tham khảo dưới đây.

dat-ten-can-tranh

1. Không nên đặt tên cho con theo trào lưu. Cái gì là mốt cũng sẽ rất nhanh lỗi mốt.

2. Không nên đặt tên con khó gọi, chỉ cùng một loại thanh âm, tạo cảm giác nặng nề, trúc trắc. Chẳng hạn: Đỗ Vũ Mỹ, Tạ Thị Hiện,...

3. Không nên đặt tên nam nữ, âm dương trái ngược nhau, nữ không nên đặt tên Nam, nam không nên đặt tên Nữ để người khác dễ phân biệt. Ngoài ra, đặt tên khó đoán giới tính còn dễ gây nhầm lẫn khi làm giấy tờ hay tham dự các cuộc thi.

4. Không nên đặt các tên mà nếu nói lái sẽ ra nghĩa xấu. Chẳng hạn như Tiến Tùng là Túng Tiền.
5. Không nên đặt tên mà nếu viết tắt các chữ cái đầu sẽ ra nghĩa xấu.

6. Không nên đặt tên quá cực đoan, tuyệt đối như Vô Địch, Mỹ Nữ,..., dễ gây áp lực cho con nếu đứa trẻ lớn lên không được như cái tên của mình, dễ khiến trẻ bị trêu chọc hoặc gây ấn tượng tiêu cực với người khác.

7. Không nên đặt tên con theo thời cuộc chính trị, mang màu sắc chính trị.

8. Tránh đặt tên con mang ý nghĩa thô tục, xấu xí, tù túng. Đã qua rồi thời kì ông bà ta thích đặt tên con thật “xấu” cho “dễ nuôi”. Ngày nay, một cái tên đẹp cũng góp phần lớn vào thành công trong ấn tượng giao tiếp, xưng hô và quan hệ hàng ngày.

9. Không nên dùng những từ ngữ ít dùng, quá xa lạ, khó hiểu.

10. Không nên đặt tên con khi viết không dấu sẽ thành nghĩa xấu.

11. Tránh tên Tây hóa. Nếu bé không mang quốc tịch nước ngoài hay có liên quan đến việc sinh sống ở nước ngoài thì cha mẹ nên theo đúng truyền thống Việt Nam, chọn cho con một cái tên thuần Việt.

12. Tránh những cái tên vô nghĩa.

13. Tránh những cái tên có có từ đồng âm hoặc ngữ âm nghe không hay, đa âm, đa nghĩa.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tham khảo một số điều cần tránh khi đặt tên cho con

Tìm hiểu tính tình phụ nữ qua tử vi

Câu phú “Trai bất nhân Phá quân thìn tuất, gái bạc tình Tham Sát dần thân” chỉ chê phụ nữ có Tham, Sát dần thân trong Tử vi là bạc tình, nhưng tôi nghiệm thấy còn tệ hơn nữa

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Câu phú “Trai bất nhân Phá quân thìn tuất, gái bạc tình Tham Sát dần thân” chỉ chê phụ nữ có Tham, Sát dần thân trong Tử vi là bạc tình, nhưng tôi nghiệm thấy còn tệ hơn nữa vì người đó ngoài tính bạc tình còn có tâm địa ích kỉ, tham vọng vô bờ bến về mọi phương diện nhất là về tình và tiền (gặp ai mà ưa là say mê liền hoặc đang yêu mà thấy người đó hết tiền là bỏ luôn). 

Những cách xấu

1/ Tham lang địa kiếp

Đa số các nhà tử vi ko khen phụ nữ nào có 2 sao này hay 1 trong 2 sao tọa thủ tại mệnh thân (nhất là mệnh). 

Câu phú “Trai bất nhân Phá quân thìn tuất, gái bạc tình Tham Sát dần thân” chỉ chê phụ nữ có Tham, Sát dần thân là bạc tình, nhưng tôi nghiệm thấy còn tệ hơn nữa vì người đó ngoài tính bạc tình còn có tâm địa ích kỉ, tham vọng vô bờ bến về mọi phương diện nhất là về tình và tiền (gặp ai mà ưa là say mê liền hoặc đang yêu mà thấy người đó hết tiền là bỏ luôn). 

Về câu phú trên tôi thấy ứng nhiều với sao Tham Lang chứ ít đúng với sao Thất Sát nếu không có sao tăng cường. Thực tế khi mạng cư dần thân có Sát thì cung xung chiếu bao giờ cũng là Tử Phủ là 2 sao trung hậu, gây ảnh hưởng ko ít cho Thất sát, nhất là khi mạng ko có ngũ hành hợp sao này, hơn nữa chính sao Thất sát là sao chủ về khắc khổ, khắc khe, u buồn, ít tình cảm, thì khó thể quyết đoán là đương số bạc tình. Phải chăng là có những tính này nên không yêu đương đằm thắm được, chứ làm gì có lòng dâm tà. 

Nhưng khi có Tham Lang thủ mạng, nhất là ở tí ngọ, dần thân, thìn tuất thì khó thể níu kéo cung xung chiếu để chế hóa mạnh mẽ sao này. 

Có nhà tử vi đã ko lầm khi cho rằng Tham Lang còn tệ hơn Đào, Hồng, Riêu, Mộc vì Tham Lang vừa dâm vừa gian tà ích kỉ trong khi Đào, Hồng, Riêu, Mộc chỉ có đam mê về nhục dục chứ chưa hẳn thiếu tâm hồn cao thượng, vị tha. Nếu chẳng may có Tham Lang thủ mạng lại gặp đủ bộ sao lả lướt trên đây thì thực là quá sức dâm dật hoặc vô luân; những người phụ nữ đó không thể chấp nhận làm người bạn đời được. Riêng Tham Vũ và Liêm Tham thì ít bị ảnh hưởng của Tham Lang vì thuộc về cách khác

Còn sao Địa Kiếp tuy ko chủ về tình ái nhục dục nhưng có đặc tính mạnh mẽ về gian tà, thủ đoạn, tàn nhẫn, bần tiện, ác độc. Chỉ 1 sao này cũng đủ làm cho tâm hồn người phụ nữ xấu xa và cũng đủ làm hỏng gần hết các cách hay khác. Nếu xui có thêm Tham Lang thì người đó hết làm bạn được với ai. Nếu có Đào Hồng Binh Tướng hội chiếu thường hay bị hãm hiếp; hoặc làm gái điếm khi có thêm Riêu, Mộc, Cái, Hỏa, Linh và 1 vài cách bổ túc khác.

Tôi cho rằng thà có Địa Không lâm mệnh thân còn hơn có Địa Kiếp, vì Địa Không thường chủ về vất vả, thất bại, hôn nhân trắc trở chứ ít khi chủ về gian trá, ích kỉ mạnh mẽ như địa kiếp. Mặc dù có câu phú “Không kiếp lâm Tài Phúc chỉ hương sinh lai bần tiện” tôi cho rằng chỉ ứng với Kiếp. Riêng về Không Kiếp đắc địa Tị Hợi thì ko liên quan gì đến cách đoán trên vì cách này cũng là 1 cách tốt cho nam lẫn nữ, nhất là Âm Nam, Dương Nữ (tôi đã bàn kĩ về điểm này trong bài đầu tiên của tôi trên KHHB)

2/ Đào, Hồng, Riêu, Mộc, Cái

Sau sao Tham Lang tôi chê người phụ nữ nào có các sao này, dù họ có cả Tử Phủ, Khôi Việt, Quan Phúc chiếu mệnh chăng nữa. Thực tế các sao đó có năng lực rất mạnh về tình ái, nhục dục cho nên bộ sao đứng đắn khó làm mất hiệu lực của chúng, nhất là khi có cả Không Kiếp, Hỏa Linh, Phục, Tả Hữu thì thuộc về hạng gái làm tiền. 

Chỉ có 2 sao Đào Riêu vẫn là loại gái lăng loàn, trắc nết, dễ cắm sừng vào đầu chồng, chẳng thế mà có câu “Đào Riêu số gái ai hay, chồng ra khỏi cửa dắt trai vào”. 

Hơn nữa, nguyên sao Đào Hoa hoặc Hồng Loan thủ mệnh cũng bát lợi cho người chồng vì 2 sao này chủ về 2 đời chồng hoặc ít khi sống gần chồng. Tôi ko cho 2 sao này nói về tình ái liên tục mà thực ra là “trăm mối tối nằm không”, như vậy có hay gì cho hạnh phúc vợ chồng. Đấy là chưa kể về vấn đề yểu tướng khi có Không Kiếp giao hội, vì có câu “Đào, Hồng hội Kiếp Không lâm thủ, sá bàn chi những lũ yểu vong”

3/ Vũ khúc, Cô quả, lộc tồn

Những sao này khi thủ mạng nữ chẳng bao giờ có nghĩa xấu xa, nhưng tôi vẫn ko cho là tốt vì các sao đó chủ về cô đơn, góa bụa, hoặc lạnh lùng, khắc khe, là những yếu tố ko lợi cho hạnh phúc lứa đôi. Nhưng bù lại, người đó có tay làm ra tiền và càng nhiều tiền càng dễ bị sống xa cách chồng. Cách này hay dở tùy thuộc cảm nghĩ hoặc í thích của người chọn vợ, vì có ông chỉ nghĩ đến tiền nên khi vợ làm ra nhiều tiền thì đương nhiên được coi là hay, nhưng có ông chỉ ưa sống gần vợ mà cứ phải nay đây mai đó hoặc phải chia ly xa cách vì hoàn cảnh sự nghiệp thì đương nhiên cách này thành xấu

4/ Phá quân, Đại Tiểu hao

1 phụ nữ không dâm tà độc địa ích kỉ, không lạnh lùng khắc khe cũng chưa đủ làm người vợ tốt: người đó còn cần có tính cẩn thận, tằn tiện, ngăn nắp nữa mới có thể thành người nội trợ giỏi, đảm đang. Như vậy phải tránh Phá quân hội Đại Tiểu hao (trừ khi Đại Tiểu hao cư Mão, Dậu) dù cho Phá quân đắc cách ở tí, ngọ vì các sao này chủ về bừa bãi, ngông cuồng, hoang phí, phóng khoáng ăn chơi, cờ bạc, nghiện ngập. Dù mình là tỉ phú cũng chẳng nên lựa người phụ nữ kiểu này, vì chẳng mấy chốc mà sự nghiệp tan tành vì bị phá của rất mạnh mẽ.

Trên đây là những điều tôi cho rằng tối kị với phụ nữ, vì thực ra còn nhiều cách xấu khác không tai hại lắm và cũng khó thể tránh được. Nhân vô thập toàn mà

Những cách tốt

1/ Tử Phủ dần thân

Cách này ít nhà tử vi dám chê và riêng tôi, tôi coi cách này hay nhất đối với phụ nữ. Mỗi khi coi lá số 1 người phụ nữ có cách này là tôi có thiện cảm và kính trọng liền, vì gần như chắc chắn người đó đoan trang, tiết hạnh và thông minh.

Nhất là khi có thêm Hóa Khoa đồng cung hoặc Khôi Việt giao hội thì thực hết chỗ chê. Riêng Hóa Khoa có điềm hay đặc biệt là vừa thông minh lại vừa nhân hậu từ trong lòng đến bề ngoài (như thế là nhân hậu thật sự chứ không phải đạo đức giả). Phải chăng vì thế mà theo cách bố cục các sao, Đào Hoa không bao giờ đồng cung Tử Phủ dần thân, vì đào hoa chủ về đa tình, lãng mạn lẳng lơ. Còn Hồng Loan tuy cũng có khi đồng cung (khi tuổi Sửu Mùi) nhưng không đáng ngại vì Hồng Loan thường chủ về 2 đời chồng hoặc trắc trở hôn nhân chứ ít khi có nghĩa đa tình như Đào Hoa, nhất là khi có Tử Phủ chế hóa nhiều

Có người thắc mắc sao không coi Tử vi cư ngọ là tốt nhất đối với người phụ nữ. Thật ra cách đó chỉ tốt về công danh uy quyền chứ không hẳn tiêu biểu cho nết hạnh phụ nữ. Chẳng thế mà cung Ngọ cũng là 1 trong 4 vị trí của đào hoa, và khi sao này cư Ngọ thì đương nhiên người phụ nữ đó coi tình ái như “pha” nghĩa là họ có thể trở thành bạc tình, dù có Tử Vi đóng ở đó nữa. và có khi chính vì có Tử Vi mà thành ngang tang trong vấn đề tình ái vì Tử vi cư ngọ được coi là “vua” trong các sao thì coi ai ra gì. Tuy nhiên khi có Tử vi mà không có đào hoa thì vẫn cho là tốt về tính tình nhưng nhất định có tính kiêu kì quá đáng, là 1 điều làm phái nam bực mình và thiệt thòi

2/ Tử Sát tị hợi

Cách “Tử Sát đồng lâm tị hợi nhất triều phú quí song toàn” là cách tốt thứ 2 đối với phụ nữ, theo ý kiến của riêng tôi. Tuy nhiên, cách này cũng có khía cạnh đáng chê là người phụ nữ đó thường nghiêm nghị quá, thành ra mất vẻ nữ tính, nhất là gặp ông nào nhiều tình cảm thì thực là giảm nhiều khắng khít. Nhưng bù lại người phụ nữ đó rất vượng phu ích tử hoặc có tay làm ra tiền như thế cũng là hay lắm rồi.

Còn những cách liên hệ với tử vi như Tử Tham,Tử Tướng, Tử Phá … tôi không dám cho là tốt được, vì như Tử tham thì cũng tệ như những cách xấu nêu trên, nhất là có thêm đào hoa (mão hoặc dậu), Tử Tướng lại phạm vào câu “Đế tọa La Võng, hoàn vi phi nghĩa chi nhân”, còn Tử Phá tuy khá hơn nhưng hay có tính ngang bướng, bất cần đời mặc dù cũng đứng đắn

3/ Đồng Lương dần thân

Cách “Đồng Lương tối hỉ dần thân hội” cũng đáng gọi là hay vì người phụ nữ nào có cách này tính tình nhẹ nhàng, dịu dàng và nhất là có sắc đẹp mĩ miều (nhưng ở đây tôi không bàn về nhan sắc mà chỉ nói về tính tình). Tuy nhiên, cách này vẫn thua kém 2 cách trên về sự đứng đắn, đoan trang và quí phái, vì khi đã dính tới Thiên Đồng là chủ về thay đổi, canh cải, không giữ vững lập trường tức là không thể chung tình tuyệt đối được, nhất là khi Hồng Loan đồng cung.

4/ Vũ Tướng dần thân

Cách này hay ở chỗ là người đảm đang, đứng đắn, biết xoay xở quán xuyến, nhưng vì liên hệ tới Vũ Khúc nên tính thích cô đơn, lạnh lùng và quả quyết như đàn ông (do đó cần tránh Cô quả, lộc tồn), còn Thiên Tướng chủ về chỉ huy nên dễ bắt nạt chồng. Nếu ai chịu được những điều trên thì rất nên lựa người bạn đời có Vũ Tướng để khỏi bị gánh nặng gia đình trút hết vào mình, nhất là trong giai đonạ mưu sinh khó khăn hiện nay

5/ Vũ Sát mão dậu

Cách này chỉ hay ở phương diện đứng đắn, đoan trang vì 2 sao này cũng ghét tình ái bậy bạ, nhưng về tình vợ chồng thì vẫn xem trọng mặc dù không lả lướt lắm. vậy ai thích có vợ chỉ lo toan nội trợ hoặc tần tảo bán buôn thì hãy chọn cách này, nhưng cần phải tránh được Lộc tồn đồng cung và cô quả tại “thân” (vì không bao giờ cô quả tại Mão dậu) cư hợi hoặc mùi, để khỏi gặp người khắc chồng trở thành góa bụa

6/ Nhật Nguyệt đắc địa

Cách này có thêm Tả Hữu hoặc Song Lộc là người phụ nữ đảm đam nhất về phương diện kinh doanh lớn, nhưng có điểm kẹt khi gặp đào hồng hay riêu, mộc, cái thường hay thích ăn chơi ngoài xã hội dù vẫn lo chuyện làm ăn, vì Nhật Nguyệt bao giờ cũng chủ về mơ mộng vẩn vơ, có tâm hồn, “là thi sĩ nghĩa là du với gió”

7/ Cơ Lương thìn tuất

Cách này thường hay cho phái nam nhiều hơn nữ, vì rất hợp về mưu trí, kế hoạch, cho nên phụ nữ có cách này thì khôn quá có thể lừa dối, qua mặt chồng dễ dàng. Lẽ tất nhiên nếu không có các sao xấu hội hợp thì chẳng đáng ngại, nhưng lỡ có 1 vài điểm “mờ ám” nào là phải nên dè dặt đối với người bạn đời của mình

8/ Phủ Tướng triều viên

Đây là cách trung bình, nghĩa là chỉ chăm chỉ làm ăn, không có gì xuất sắc mà cũng không có gi đáng chê trách. Thường những người phụ nữ có cách này hay làm công chức, sống cuộc đời nề nếp

Các trung tinh tốt

Cũng cần nhìn vào Các trung tinh như thai tọa, khôi việt, quan phúc, tràng sinh đế vượng quang quí, long phượng, khoa, lộc (tôi không đề cập Hóa Quyền vì sao này không chủ về tính tình tốt của phụ nữ, có sao đó chỉ người kiêu căng, hách dịch, hay bắt nạt chồng) để cho điểm cao thêm vì những sao phụ trên đóng góp khá nhiều vào tính đọa đức, đứng đắn, đảm đang. 

trích (KHHB 45)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tìm hiểu tính tình phụ nữ qua tử vi

Nhìn bàn chân biết người có số làm tỷ phú

Hãy quan sát màu sắc, hình dáng móng và xem đường vân quý, bạn sẽ biết người đó có số tỷ phú hay không.
Nhìn bàn chân biết người có số làm tỷ phú

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

1. Màu sắc móng chân

Nếu móng chân của bạn hiện rõ màu trắng sữa nhưng là trắng trong, không bị đục, xin chúc mừng bạn có số giàu sang phú quý, vận mệnh rất tốt. Đặc biệt, nếu móng chân có sắc hồng hào và trong suốt thì số mệnh càng phú quý, cả đời không lo thiếu tiền xài.

Tuy nhiên, nếu móng chân hiện rõ màu xám, cho thấy vận mệnh chủ nhân không tốt, phải làm việc cơ cực, vất vả mà không thu về thành quả tốt.

2. Hình dáng móng chân

Chủ nhân của móng chân hình tròn và trơn có tiền tài dồi dào đồng thời cũng rất biết cách hưởng thụ cuộc sống. Nếu có thêm đặc điểm là móng chân dài, phần đầu móng hơi dốc về phía trước, bạn không cần phải tự mình kiếm sống mà ngay từ khi sinh ra đã được mọi người bao bọc, cứ gọi là sướng từ trong trứng nước nhé.

nhin-ban-chan-biet-nguoi-co-so-lam-ty-phu

3. Xem đường vân quý

Đường vân hình chữ Nhân được gọi là vân quý ở bàn chân. Nếu dưới lòng bàn chân có đường vân này chứng tỏ bạn có số mệnh đại phúc đại quý, tiền của dư giả, sở hữu nhiều tài sản tới mức có thể đạt đến trình độ tỉ phú hay cỡ bình bình cũng là đại gia có tiếng.

4. Độ dày mỏng của bàn chân

Người có bàn chân mỏng, ít thịt, thậm chí nhìn trơ xương thường phải lao động vất vả, làm những việc nặng nhọc mà còn không đủ ăn đủ tiêu. Cuộc đời người này nhiều sóng gió, khó được hưởng an nhàn, sung sướng kể cả khi về già.

Trái lại, nếu bạn có bàn chân dày dặn, tròn đầy thì cuộc sống nhiều phúc lộc, lúc nào cũng rủng rỉnh tiền tiêu.

5. Xem nốt ruồi lành dữ

Nốt ruồi được cho là mang tới điềm lành và may mắn cho bạn nếu như nó có màu đỏ son và mọc dưới lòng bàn chân. Nếu sở hữu nốt ruồi quý này, không những bản thân bạn có cuộc sống giàu có, nhiều tiền của mà còn giúp đỡ mọi người cùng phát đạt theo.

6. Độ dày của ngón chân cái

Ngón chân cái đại diện cho sức mạnh tài chính của bạn. Bạn kiểm tra xem nhé, nếu ngón chân cái dày dặn, tròn trịa và nhiều thịt, chứng tỏ bạn có số giàu sang đấy. Hơn thế, bạn còn được kế thừa sản nghiệp tổ tiên để lại, đời sống vật chất sướng khỏi chê nhưng cũng nhiều áp lực lắm đó.

7. Độ dài ngón chân thứ hai

Ngón chân thứ hai (ngay cạnh ngón chân cái) dài là biểu hiện của người thông minh, cá tính mạnh và độc lập. Khả năng kiếm tiền của người này rất tốt, họ không bao giờ cam chịu hoàn cảnh mà luôn chủ động trong mọi tình thế nên hiếm khi phải lo vấn đề tiền bạc.

Mr.Bull (Theo Meiguoshenpo)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Nhìn bàn chân biết người có số làm tỷ phú

Tháng sinh cho biết sức khỏe và tuổi thọ

Những người sinh tháng 12 thường có tuổi thọ cao hơn so với người cùng tuổi sinh tháng khác. Còn những người sinh vào tháng 2 dễ mắc chứng dị ứng do phấn hoa.
Tháng sinh cho biết sức khỏe và tuổi thọ

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Nhiều nghiên cứu của các nhà khoa học uy tín trên thế giới đã chứng minh ảnh hưởng của môi trường những tháng trước và sau khi sinh đến sức khỏe, bệnh tật và tuổi thọ của con người, do các stress có thể dẫn tới những biến đổi phân tử trong gene.

Ai sinh ra trong tháng 12 sẽ có nhiều khả năng được hưởng tuổi thọ rất cao. Theo một nghiên cứu do hai nhà nhân khẩu học Grabiel Wrighter và Jeims Waupel tiến hành, những người sinh ra trong tháng 12 có thể hy vọng sẽ sống lâu hơn 4-8 tháng so với người cùng tuổi sinh ra trong tháng 4 hoặc 6. Kết quả này dựa trên khảo sát dân số Đan Mạch và Áo trong vòng mấy thập kỷ.

Còn ở Đức, các nhà khoa học đã kết luận, xác suất sống tới 105 tuổi ở những người sinh ra trong tháng 12 cao hơn 16% so với các tháng khác. Đối với những người sinh ra vào mùa đông, nguy cơ chết ở lứa tuổi 50 do bệnh tim mạch, tiểu đường, ung thư cũng giảm.

Tuy nhiên, những người sinh tháng 12 lại dễ bị thường tâm thần phân liệt, loạn tinh thần hay trầm cảm hơn. Điều này được xác định qua hơn 200 nghiên cứu trên toàn thế giới. Nguyên nhân có thể là tình trạng thiếu ánh sáng mặt trời trong thời gian mang thai.

Những người sinh ra trong tháng 2 và tháng 3 thường mắc chứng dị ứng. Phấn hoa phát tán trong không khí sẽ làm gia tăng nguy cơ phản ứng của trẻ với tác nhân này trong tương lai. Hệ miễn dịch chưa chín muồi ở trẻ sơ sinh phản ứng quá mạnh mẽ đối với phấn hoa và điều đó có thể sẽ được duy trì mãi trong suốt đời người.

Với những người sinh sau tháng 3, tuổi thọ bắt đầu giảm, trong khi xu hướng mắc các bệnh tim mạch có phần tăng. Ngày sinh càng gần mùa hè bao nhiêu thì khả năng mắc các bệnh này càng cao bấy nhiêu. Nguy cơ mắc và chết vì bệnh hô hấp của họ khi về già cũng cao hơn những người cùng tuổi sinh vào mùa đông. Theo các nhà khoa học, có thể nguyên nhân là trẻ sinh vào mùa xuân, hè dễ bị nhiễm virus gây tổn thương đường hô hấp, dẫn tới các bệnh mạn tính về phổi sau này.

Những người sinh tháng 4-5 cũng dễ bị rối loạn tâm thần, trầm cảm và nghiện rượu. Theo một nghiên cứu ở Anh, tỷ lệ mắc chứng thao cuồng tự sát ở họ thường cao hơn 17% so với những người sinh ra vào mùa thu và mùa đông.

(Theo Sức Khỏe & Đời Sống)

Nguồn: VNExpress.com



Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tháng sinh cho biết sức khỏe và tuổi thọ

Vì sao ưu tiên đặt phòng khách ở tầng thấp?

Trong một ngôi nhà, phòng khách là không gian mang tính hướng ngoại cần nhiều dương khí, vì vậy cần ưu tiên đặt phòng khách ở tầng thấp.
Vì sao ưu tiên đặt phòng khách ở tầng thấp?

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Chị Phạm Thanh Thủy (Bắc Giang) hỏi: Nhà tôi đặt phòng khách ở tầng 4 – tầng cao nhất. Nhiều người đến chơi cho rằng phòng khách là phòng tụ khí, nếu đặt trên cao sẽ không tốt. Xin hỏi, điều này có đúng không? Nhà tôi đặt như thế có ảnh hưởng đến phong thủy?

Theo chuyên gia phong thủy Phạm Cương, Công ty Cổ phần Nhà Xuân, trong một ngôi nhà, phòng khách là không gian mang tính hướng ngoại cần nhiều dương khí. Đối với những ngôi nhà cao tầng chỉ có thang bộ, khí ở các tầng trên sẽ kém hơn các tầng dưới. Vì vậy, nên ưu tiên đặt phòng khách ở những tầng thấp của căn nhà.

Bên cạnh đó, việc tiếp đón khách cũng sẽ bất tiện do phải leo cao và đi qua các không gian khác. Tuy nhiên, đối với những nhà sử dụng cầu thang máy, nguồn năng lượng dẫn lên từ thang máy sẽ được cung cấp đầy đủ cho các tầng thì phòng khách hoàn toàn có thể đặt trên tầng cao.

Ngoài ra, khi thiết kế nhà, cần ưu tiên phòng khách ở những khu vực thoáng đãng, đón được nhiều ánh sáng tự nhiên, màu sắc nên sử dụng những gam màu sáng, hình khối trang trí cần thêm một số họa tiết tròn tạo nhiều sinh khí cho phòng khách.

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Vì sao ưu tiên đặt phòng khách ở tầng thấp?

Những lưu ý khi đến nhà mới “mang lành tránh dữ” cho gia chủ?

Dọn vào nhà mới cũng quan trọng như việc khởi công, động thổ xây dựng ngôi nhà. Để giữ gìn sự hành thông,sức khỏe, tài vận thì bạn nên tuân thủ một số lưu ý trong bài viết dưới đây.
Những lưu ý khi đến nhà mới “mang lành tránh dữ” cho gia chủ?

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Thứ nhất, bạn cần phải chọn được ngày lành, tháng tốt, giờ hoàng đạo hớp với mình. Nên chọn ngày giờ vào nhà mới theo nguyên tắc Trạch Cát, nhưng không tính năm và các tiết khí ( vì đây không phải liên quan đến động thổ, xây mới).Những ngày có trực Khai, trực Thành và trực Mãn hợp với việc dọn vào nhà mới.

Sau khi xem được ngày bạn chọn giờ hoàng đạo trong ngày để dọn nhà. Một ngày thông thường có 24 phân thành 6 giờ hoàng đạo: Giờ Dần ( từ 3 đến 5 h),  Tỵ ( 9h-11h), Dậu ( từ 17 đến 19h), Thìn ( 7h-9h), Thân ( 15h-17h), Hợi(21h-23h). Trong những giờ này bạn nên chọn một giờ mà không khắc với tuồi của gia chủ. Cụ thể theo bảng từ hành xung, thì Dần-Thân-Tỵ-Hợi, Tý-Ngọ-Mão-Dậu, Thìn-Tuất-sửu-Mùi, là xung nhau.

Ví dụ: Gia chủ tuổi thân, Thân kị Dần nên không được dọn nhà vào thời gian từ 3 đến 5 h.

Thứ hai, nên chú ý một số nghi lễ khi chuyển nhà như:

+ Người trong nhà khi dọn đồ vào trang mới cần chuyển bài vị cúng tổ tiên đến đầu tiên.Những người khác đi sau đều phải cầm trong tay tiền tài của cải.

+ Đối với vật dụng thông thường: vật đầu tiên mang vào là cái chiếu (hoặc đệm) đang sử dụng, sau đó là bếp lửa, (bếp ga, bếp dầu), không nên mang bếp điện thì bếp điện có tinh mà không có tướng (tức chỉ có nhiệt mà không có ngọn lửa), chổi quét nhà, gạo, nước … lễ vật để cúng Thần Linh trước để xin nhập trạch và xin phép Thần Linh rước vong linh gia tiên về nơi ở mới để thờ phụng.

+ Lễ vật được để lên bàn hoặc mâm kê vào chỗ nào đó mà có hướng đẹp với gia chủ, tự tay gia chủ thắp nhang vào một bát nhang làm tạm thời. Thắp nhang và khấn lễ, tiếp ngay sau đấy gia chủ châm bếp và đun nước. Nước đun trên bếp lần đầu tiên ở nhà mới phải để cho sôi 5 – 10 phút, lâu hơn càng tốt, mới tắt lửa. Đun nước mục đích là để khai bếp, pha trà dâng Thần Linh và Gia Tiên. Nếu có khách có thể lấy nước đó để pha nước mời khách.

+ Nếu chỉ nhập trạch lấy ngày tốt chưa có nhu cầu ở ngay thì gia chủ phải ngủ một đêm tại nhà mới.

+ Nếu nhà có người chửa, mang thai thì tốt nhất không nên dọn nhà. Trong trường hợp cấp bách không thể không dời nhà, nên mua một cái chổi mới tinh, để đích thân người chửa quét qua các đồ đạc một lượt rồi mới chuyển như vậy mới không phạm tội “Thần thai”.

Những người giúp dọn nhà không được là người cầm tinh con Hổ, còn lại không phải lo bàn gì nữa.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những lưu ý khi đến nhà mới “mang lành tránh dữ” cho gia chủ?

Những điều chưa biết về giờ Ngọ ba khắc

Từ xưa, giờ Ngọ ba khắc (giữa trưa) được lựa chọn là thời điểm để xử trảm tử tù. Vậy, khoảng thời gian này có gì đặc biệt, có gì cần kiêng kị? Hãy cùng
Những điều chưa biết về giờ Ngọ ba khắc

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

## khám phá ngay!


► Xem lịch âm và giờ hoàng đạo chuẩn xác tại Lichngaytot.com

Nhung dieu chua biet ve gio Ngo ba khac hinh anh
 
1. Kiêng hiến tế súc vật   Giờ Ngọ ba khắc là thời điểm dương khí cực thịnh, vì thế nên mới được chọn xử trảm tử tù để át đi âm khí, linh hồn phiêu tán, không siêu thoát được. Nhưng hiến tế súc vật là việc để cầu xin mong ước thành sự thật, nên phải để cho con vật sớm siêu sinh đầu thai. 2. Kiêng chuyện phòng the   Chuyện phòng the không chỉ mang tính chất bản năng mà còn có ý nghĩa sinh sản, duy trì nòi giống. Đó là hành vi âm dương giao hợp, cần phải có linh khí thuần âm trợ lực, nên thường làm vào buổi tối, khi âm khí thịnh. Còn giờ Ngọ ba khắc là thời điểm âm khí yếu nhất trong ngày, dân gian truyền rằng, nam nữ giao hợp lúc này sẽ sinh ra đứa con ngốc nghếch.    3. Kiêng bái thần Phật   Thông thường, bái thần Phật lúc sáng sớm là tốt nhất vì dân gian cho rằng, cầu càng sớm thì càng linh, càng được nhiều phù hộ. Giờ Ngọ ba khắc là giờ quan đi tuần, chuyển giao giữa sáng và chiều nên ma quỷ quấy nhiễu, không hợp để lễ bái. Nhưng đến với Phật tấm lòng là chính, bái Phật tùy duyên, nếu giữa trưa mà ngang qua điện Phật thì vẫn nên cúi đầu.
 
Ai còn mẹ xin đừng làm mẹ khóc
Đừng làm những việc sẽ khiến bạn sau này phải hối hận, hãy đối xử tốt với cha mẹ của mình. Đừng để đến khi họ mất đi rồi lúc đó mới thấy quý tiếc, bởi vì khi

4. Kiêng mai táng, bốc mộ
  Thời điểm dương khí cực thịnh không thích hợp để mai táng, cải táng kẻo linh hồn người chết bị phiêu tán, không thể đầu thai. Thực chất, có thể do buổi trưa nắng nóng mệt mỏi, dễ sai sót nên tránh không làm.    5. Nên cung phụng thần thú
 
Buổi trưa dương khí thịnh, Thủy lại thuần âm, nên lau chùi những thần thú (vật phẩm phong thủy) trong nhà bằng nước sạch để gia tăng công lực. Tốt nhất là tiến hành vào buổi trưa của một ngày ngũ hành Thủy, mà buổi trưa tiết Đoan Ngọ là ngày tốt nhất trong năm.   Trần Hồng (Theo 99166)  
Xem Clip Dòng đời oan trái, sống thật với lòng
 
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những điều chưa biết về giờ Ngọ ba khắc

Top 5 con giáp dễ bị lừa trong ngày cá tháng tư

Thông minh và tinh ranh như người tuổi Tý lại có thể dẫn đầu danh sách con giáp dễ bị lừa trong ngày Cá tháng Tư ư? Cùng xem thực hư ra sao nhé.
Top 5 con giáp dễ bị lừa trong ngày cá tháng tư

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

– Thông minh và tinh ranh như người tuổi Tý lại có thể dẫn đầu danh sách con giáp dễ bị lừa trong ngày Cá tháng Tư ư? Chính xác, vì có câu “thông minh phản thông minh”, vì muốn đạt được nhiều nên phải suy nghĩ nhiều, hoài nghi vô kể, đôi khi tự sập bẫy của chính bản thân mình.


Top 5 con giap de bi lua trong ngay ca thang tu hinh anh
 
No5. Người tuổi Ngọ


Nhân lúc người tuổi Ngọ trong 12 con giáp còn “tâm hồn treo ngược cành cây”, mơ màng về một nơi xa xăm nào đó, nếu bạn thực hiện chiến dịch công kích ngày Cá tháng Tư, đảm bảo chắc chắn con giáp này dễ dàng “chui đầu vào lưới”.

Bản tính người cầm tinh con Ngựa vốn phóng khoáng, không để tâm chuyện nhỏ nhặt. Vì thế, nếu có bị chơi khăm trong ngày này, họ cũng cười xuề xòa rồi bỏ qua hết, tất cả chỉ là vui vẻ thôi mà.

No4. Người tuổi Tỵ

Sức “miễn dịch” của người tuổi Tỵ với những trò đùa tinh quái có vẻ không cao. Đây cũng là một trong những con giáp dễ bị lừa trong ngày Cá tháng Tư nhất.

Top 5 con giap de bi lua trong ngay ca thang tu hinh anh 2
 
Chỉ cần bạn nhắc “trúng tim đen” về đối tượng mà con giáp này đang thầm thương trộm nhớ, ắt họ sẽ sập bẫy trong sự vui mừng khôn xiết.

No3. Người tuổi Thìn

Dù rất tỉnh táo và có sự phòng bị nhất định trong ngày Cá tháng Tư, nhưng người tuổi Thìn lại không ngờ rằng, những đứa bạn thân lại có thể chơi khăm mình đến vậy.

Ăn món ăn có mùi vị lạ, uống đồ uống không giống bình thường hay mặc một chiếc áo có những hình thù kỳ dị đằng sau... là điều mà con giáp này có thể phải trải qua trong ngày 1/4 đó.

Top 5 con giap de bi lua trong ngay ca thang tu hinh anh 3
 
No2. Người tuổi Mão

Sự thông minh, lanh lợi thường ngày của người tuổi Mão bỗng giảm đi trông thấy khi bị vướng vào những trò đùa tinh quái của bạn bè hay đồng nghiệp xung quanh ngày Cá tháng Tư.

Nếu không tinh ý, “Mão nhi” có thể ngồi vào chiếc ghế dính đầy tương cà hoặc có thể đánh răng với bàn chải đầy tương ớt... trò nghịch ngợm của những cô/cậu bạn cùng phòng.

Tại sao lại có ngày Cá tháng Tư?
Chúng ta vẫn biết ngày ngày 1 tháng 4 là ngày Nói Dối – hay ngày Cá tháng Tư. Vào ngày này, mọi người trên khắp thế giới được phép trêu đùa
No1. Người tuổi Tý

Thông minh và tinh ranh như người tuổi Tý lại có thể dẫn đầu danh sách con giáp dễ bị lừa trong ngày Cá tháng Tư ư? Chính xác, vì có câu “thông minh phản thông minh”, vì muốn đạt được nhiều nên phải suy nghĩ nhiều, hoài nghi vô kể, đôi khi tự sập bẫy của chính bản thân mình.

Lợi dụng sơ hở này, bạn bè có thể nghĩ ra nhiều trò tinh quái, thậm chí là có chút vô tâm dành riêng cho người tuổi Chuột. Có thể là hẹn bạn ở đâu đó rồi cho leo cây hoặc hứa hẹn trả số tiền vay nợ nhưng lại bắt bạn phải mời ăn uống một chầu ra trò.

Ngọc Diệp

3 con giáp dẫn đầu danh sách vận khí thăng cấp bất ngờ trong tháng 4
– Nếu tháng 3 trôi qua trong lặng lẽ, ảm đạm thì tháng 4 lại hứa hẹn nhiều niềm vui, sự may mắn bất ngờ ở mọi phương diện cho những con giáp

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Top 5 con giáp dễ bị lừa trong ngày cá tháng tư

Tướng người tốt xấu –

Để biết người tốt hay xấu hãy chú ý đến tướng mạo cảu họ và cùng tìm hiểu những tướng người phổ biến sau đây: 1. Tướng rồng Là tướng tốt nhất theo quan niệm của người xưa. Đặc điểm: thân hình cao lớn, tướng đi vững chãi, thanh thoát, sắc mặt hồng hào
Tướng người tốt xấu –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tướng người tốt xấu –
Click to listen highlighted text! Powered By DVMS co.,ltd