Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,...   Click to listen highlighted text! Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,... Powered By DVMS co.,ltd
Kính mời quý khách like fanpage ủng hộ Vạn Sự !

Vạn Sự

Xem tử vi trọn đời cho người sinh ngày Mậu Dần

Tử vi trọn đời người sinh ngày Mậu Dần có mệnh bình an cát tường, cả đời được quý nhân phù trợ. Họ gặp nhiều đau khổ về tình duyên, nữ mệnh cẩn thận chồng
Xem tử vi trọn đời cho người sinh ngày Mậu Dần

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tử vi trọn đời người sinh ngày Mậu Dần có mệnh bình an cát tường, cả đời được quý nhân phù trợ. Họ gặp nhiều đau khổ về tình duyên, nam mệnh hôn nhân hạnh phúc, nữ mệnh cẩn thận chồng ngoại tình.


Xem tu vi tron doi cho nguoi sinh ngay Mau Dan hinh anh
 
Ngày Mậu Dần có Dần Mộc tàng khí Thất Sát, Giáp Mộc độc lập, Mậu Thổ có bản tính thuộc Thổ. Đường đời mệnh chủ tất gặp Sửu Thổ, nên kết hợp Quý Hợi.
  Trụ ngày Mậu Dần có tính cách thiện lương, khoan dung. Dù là nam hay nữ đều mộc mạc giản dị và đôi phần cố chấp. Chính vì tính thực tế, có mục đích sống rõ ràng nên khiến trong cuộc sống nhiều lúc phải chịu đựng sự cô đơn. 
Những chàng giáp phải chịu kiếp FA dài dài
Ai cũng mong muốn hạnh phúc, vui vẻ trong chuyện tình cảm. Tuy nhiên, với tính cách của các chàng giáp dưới đây sẽ khiến họ phải chịu kiếp FA dài dài.

Người sinh ngày Mậu Dần có mệnh bình an cát tường, từ trung niên có tài năng xuất chúng, cả đời được quý nhân phù trợ. Đối với công việc, họ đặc biệt tài giỏi, thành thục, có nhiều cơ hội thăng cấp làm lãnh đạo
  Tử vi trọn đời người sinh ngày Mậu Dần thấy nhiều đau khổ vì tình. Nam mệnh hôn nhân hạnh phúc; nữ mệnh cẩn thận bản tính phong lưu của chồng, trước và sau khi mang thai chồng có "người thứ ba".
Xem tu vi tron doi cho nguoi sinh ngay Mau Dan hinh anh 2
 
Bát tự trụ ngày Mậu Dần thích hợp kết hôn với người sinh ngày: Giáp Tý, Giáp Thìn, Giáp Ngọ, Giáp Dần, Ất Hợi, Ất Mão, Ất Mùi, Ất Tỵ, Bính Dần, Bính Ngọ, Bính Thìn, Bính Tuất, Đinh Mão, Đinh Tỵ, Đinh Mùi, Đinh Sơur, Mậu Tý, Mậu Ngọ, Mậu Tuất, Mậu Thìn, Kỷ Dậu, Kỷ Hợi, Kỷ Sửu, Kỷ Mùi, Canh Thân, Canh Tý, Canh Dần, Tân Hợi, Tân Mão, Tân Dậu, Nhâm Dần, Nhâm Tý, Quý Hợi, Quý Mão
=> Xem thêm: Tử vi trọn đời theo ngày tháng năm sinh

Chi Nguyễn
 

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem tử vi trọn đời cho người sinh ngày Mậu Dần

Lưu ý khi lựa chọn địa chỉ cửa hàng –

Phải coi trọng đến phía trước rộng rãi, tiếp nạp sinh khí tám phương, điều này phù hợp với việc kinh doanh buôn bán phải coi trọng đến lượng khách khắp nơi. Theo nguyên tắc này, khi chọn lựa địa chỉ của hàng phải xem xét đến sự rộng rãi của một tiến,

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

yêu cầu không có bất kỳ vật ngăn che nào ở phía trước, ví dụ như: tường bao, cột điện, biển quảng cáo và cây cối che lấp quá lớn… Coi trọng đến sự rộng rãi trước cửa của cửa hàng có thể khiến cho cửa hàng hướng đến bốn phương, không những khiến cho phạm vi nhìn của cửa hàng được mở mang, thoáng đãng mà cũng có thể làm cho những khách hàng nơi xa đến và người đi đường đều có thể nhìn thấy mặt ngoài cửa hiệu, như vậy thì rất có lợi cho việc truyền bá tin tức của hàng hoá.

Phong thủy đưa tin tức loại này theo dây chuyền thì gọi là lưu động của khí. Có được sự lưu động của khí thì sẽ có được sức sống. Từ góc độ kinh doanh buôn bán mà nói, khách hàng và người đi đường tiếp nhận được các tin tức về hàng hoá của cửa hàng thì sẽ đến đó để chọn mua.

saigon-morin-hue_220920110819053868
Trong phong thủy học, kiến trúc không cát tường chủ yếu là chỉ những kiến trúc dễ khiến cho con người có cảm giác tâm lí không thoải mái như ống khói, nhà vệ sinh, nhà an táng, bệnh viện… Những loại kiến trúc này, hoặc là khói đen cuồn cuộn, hoặc là hôi thối đến ngạt thở, hoặc là kêu khóc thảm thiết, hoặc là rên rỉ bệnh tật. Do kiến trúc không cát tường mang đến những thông tin như vậy nên trong phong thủy gọi là hung khí. Nếu như mà mở cửa hàng trước cửa lại có những kiến trúc như vậy thì những hung khí như hôi thối, tiếng kêu khóc và tiêng rên rỉ, bệnh tật sẽ theo nhau kéo đến.

Nếu như kinh doanh đồ ăn uống, nhà hàng khách sạn thì chắc chắn thực khách đến ít, là khách dùng thưa thớt. Hơn nữa, đối với người kinh doanh mà nói thì trong những môi trường như vậy cũng sẽ dẫn đến tinh thần không hào hứng, lòng dạ không thoải mái, nghiêm trọng hơn có người còn bị nhiễm bệnh mà thành tật.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Lưu ý khi lựa chọn địa chỉ cửa hàng –

Giải mã vận trình qua chiếc răng khểnh

Chiếc răng khểnh làm cho nụ cười của người phụ nữ trở nên duyên dáng và đáng yêu. Tuy nhiên, cô gái này cũng hơi đanh đá và ngang bướng một chút.
Giải mã vận trình qua chiếc răng khểnh

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Những cô gái có răng khểnh thường rất ngang tàng, làm việc theo cảm hứng. Nếu bạn và cô ấy có một cuộc tranh luận thì hẳn nhiên phần thắng sẽ thuộc về cô ấy. 

Giai ma van trinh qua chiec rang khenh hinh anh
Ảnh minh họa
  Nếu chiếc răng duyên ấy lại quá nhọn và gần cửa miệng thì cô gái ấy rất có khả năng chọc giận người khác bởi lối ăn nói không phân biệt phải trái, rất hay “gây thù chuốc oán” với mọi người dẫn đến vận trình tình cảm không được tốt. Vì vậy, trong giao tiếp mọi người cần tôn trọng nhau một chút, nếu bạn sở hữu một chiếc răng nanh thì bạn cần biết cách kiềm chế bản thân, kiềm chế cảm xúc của mình, chỉ cần bạn ôn hòa thì ai ai cũng đều cảm thấy vui vẻ và thoải mái.    Với một số người phụ nữ thì răng khểnh là răng duyên và họ luôn ao ước mình có một chiếc, nhưng ngược lại, với những mỹ nhân thì họ lại không mong muốn như vậy, họ muốn hàm răng của mình đều tăm tắp. Nguyên nhân là do họ sợ ảnh hưởng đến vẻ đẹp tổng quan của gương mặt, khiến mình mất tự tin mà ảnh hưởng tới công việc đồng nghĩa với ảnh hưởng tới vận trình sự nghiệp. Tuy nhiên, nếu không muốn có “chiếc răng thừa” thì họ hoàn toàn có thể đi chỉnh nha.   Răng nanh xuất hiện khi một đứa trẻ tới quá trình thay răng sữa. Răng nanh chỉ mọc ở hàm trên, vị trí mọc giống như nanh vuốt của hổ, đây chính là điểm nổi bật nhất của khuôn miệng. Chân răng sâu và sắc nhọn giúp cho việc cắn xé thức ăn được dễ dàng hơn. Ngoài ra, răng nanh cũng ít khi bị các bệnh về răng như sâu răng, mà nó khá chắc và tuổi thọ của răng cũng khá cao. Răng khểnh cũng có ảnh hưởng nhất định tới vận trình sức khỏe. Nếu không có chúng thì khả năng hô hấp không được tốt, sớm lão hóa và tất nhiên là sắc mặt không tươi tắn so với những mỹ nhân sở hữu răng duyên.  
 
► Xem tướng các bộ phận cơ thể đoán vận mệnh chuẩn xác

Phương Thùy (Theo xingzuo360.cn)
 
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Giải mã vận trình qua chiếc răng khểnh

Người tuổi Hợi mệnh Kim

Tuổi Hợi mệnh Kim là người sinh năm Tân Hợi 1911, 1971...
Người tuổi Hợi mệnh Kim

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

(Ảnh minh họa)

Người này thường có chí lớn và luôn lạc quan. Nếu được sao tốt tương trợ trong cung mệnh thì rất có thể họ sẽ có con đường công danh hiển đạt, có địa vị cao, có khả năng giúp đỡ mọi người, được nhiều người trọng vọng, yêu mến. Tuy nhiên, nếu không được sao tốt tương trợ, họ lại thường phạm phải những sai lầm không đáng có chốn quan trường, thường xuyên lừa gạt mọi người. Tuy mọi việc tương đối thuận lợi nhưng lại không thu được nhiều lợi nhuận.

Họ là những người không câu nệ hình thức. Họ cũng có ý thức độc lập và sẽ không thay đổi quan điểm của mình vì ý kiến đánh giá của những người khác. Đôi khi, họ tỏ ra rất dũng cảm và có thể làm được nhiều việc lớn, khiến cho mọi người rất ngạc nhiên.

Họ có tính cách hào phóng, thường khảng khái giúp đỡ mọi người nếu việc đó nằm trong khả năng của mình.

Đây là người có ý chí rất kiên định. Một khi đã xác định được mục tiêu, họ sẽ phấn đầu hết mình để thực hiện nó. Tuy nhiên, đôi khi họ cũng khá nóng vội nên có thể dẫn đến thất bại. 

Người tuổi Hợi mệnh Kim thường không suy nghĩ kỹ càng trước khi hành động. Tuy nhiên, sự ngoan cố đôi lúc có thể giúp họ giành được thành công. Họ thích tự lực cánh sinh nhưng lại thiếu linh hoạt trong cuộc sống.
(Theo 12 con giáp về cuộc đời và sự nghiệp)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Người tuổi Hợi mệnh Kim

Phong thủy quán cafe –

Phong thủy được ứng dụng rộng rãi trong rất nhiều không gian khác nhau, trong đó có không gian tại các quán cafe. Để công việc kinh doanh luôn đắt khách, bạn hãy tham khảo và áp dụng những kinh nghiệm phong thủy dưới đây để kinh doanh cafe nhé!  

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Phong thủy được ứng dụng rộng rãi trong rất nhiều không gian khác nhau, trong đó có không gian tại các quán cafe. Để công việc kinh doanh luôn đắt khách, bạn hãy tham khảo và áp dụng những kinh nghiệm phong thủy dưới đây để kinh doanh cafe nhé!

phong-thuy-quan-cafe1

 

Điều quan trọng đầu tiên đối với quán cafe là ở việc lựa chọn địa điểm. Người kinh doanh cần tìm hiểu rõ xem địa điểm quán cafe có phù hợp cho mình kinh doanh hay không. Tiếp đó, phải lưu ý về tầm nhìn để tránh các xung xạ để tạo cát khí thu hút khách hàng bởi hầu hết địa điểm quán cafe đều là mặt đường.

Những vị trí tối kỵ đối với quán cafe là: có các tòa nhà quá lớn ở bên cạnh, cửa hàng bị đường đâm vào nhà, con đường bên tay phải hay đường rẽ cua có góc cong lượn vào nhà hàng, hay mặt tiền quán cafe có những hệ thống thiết bị dưới mặt đất, có những cột điện…

Thế “tọa sơn nghênh thủy” được hiểu là có đường trước mặt và có điểm tựa ở phía sau thường được nhiều người lựa chọn. Điểm tựa ở đây có thể là nhà cao ở phía sau hoặc có hòn non bộ tự tạo. Đây được coi là thế đẹp trong phong thủy cho quán cafe.

uong-cafe-khong-tra-tien.0JPG

Một số lỗi về phong thủy quán cafe thường gặp như: quầy thu ngân có đường đi đâm vào két, để két nhìn ra cửa; hệ thống cửa để thông nhau liên tục; sử dụng gương không hợp lý, đối diện cửa chính, phản sáng; không gian quán cafe không tạo được sự ấm cúng; quán cafe không có phong cách riêng; lỗi về hệ thống cửa (cửa mở rộng về phía sau); ban thờ thần tài để ở góc khuất, đặt lên bể nước, bể phốt mà không biết.

Bàn thờ thần tài được coi là chuẩn phong thủy khi không để ở gầm xà, chân cầu thang, nơi là dòng hút khí ở đường đi, trên bể phốt, bể ngầm. Nên đặt ban thờ thần tài ở vị trí thu hút được nhiều khí nhất, dễ nhìn thấy nhất. Bài trí bàn thờ thần tài nên có thần Di Lặc ở phía trên và 2 thần tài (thần thổ địa, thần phúc lộc) ở phía dưới. Như vậy sẽ là “thần quản thần”, nguồn lợi quán cafe sẽ luôn mang tính thiện.

Phía ngoài cùng của thần tài nên đặt 3 đến 5 chén nước gọi là thế “minh đường tụ thủy”. Nếu để bàn thờ lên tầng 2 thì phải lấy một ít đất ở dưới tầng 1, cho vào 1 gói nhỏ, cho vào ghế để 2 tượng thần tài và thổ địa ngồi lên đó.

uong-cafe-khong-tra-tien.1jpg

Phong thủy quán cafe tốt là biết cách bố trí kích hoạt được dương khí tốt đó là sử dụng các gam màu rực rỡ, tươi sáng, không mang tính âm. Ánh sáng cũng cần đặc biệt chú ý, đó là phải sử dụng cả khoảng sáng và khoảng tối nhưng phía mặt tiền luôn phải là ánh sáng rực rỡ, chào mời, tạo điểm nhấn. Nên xen thêm các tiểu cảnh như cây cối, dòng nước chảy… sẽ tạo cảm giác thư thái cho khách hàng.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Phong thủy quán cafe –

Các lễ hội ngày 6 tháng 11 Âm Lịch - Hội Phùng Cầu

Hội Phùng Cầu - Lễ dâng hương cúng và tưởng nhớ lại công lao của thành hoàng làng.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Các lễ hội ngày 6 tháng 11 Âm Lịch - Hội Phùng Cầu

Các lễ hội ngày 6 tháng 11 Âm Lịch - Hội Phùng Cầu

Hội Phùng Cầu:

Thời gian: tổ chức vào ngày mùng 6 tháng 11 âm lịch.

Địa điểm: thôn Phùng Cầu, xã Thiệu Thành, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

Đối tượng suy tôn: nhằm suy tôn Thành Hoàng Làng là bà trẻ (công chúa Phương) có công giúp Lý Thánh Tông đánh giặc.

Nội dung: Lễ dâng hương cúng và tưởng nhớ lại công lao của thành hoàng làng.

 


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Các lễ hội ngày 6 tháng 11 Âm Lịch - Hội Phùng Cầu

Khéo dùng đũa chuẩn phong thủy, hôn nhân hay tài lộc đều viên mãn

Đũa là vật dụng vô cùng quen thuộc và gần gũi với con người. Vật dụng tuy nhỏ bé này nhưng lại mang trong mình sức mạnh phong thủy rất lớn. Nếu biết sử dụng đúng cách, không những sức khỏe tốt lành mà hôn nhân và tài lộc đều viên mãn.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

1. Kị dùng đũa dài ngắn khác nhau   Đặc trưng thường thấy của đũa ăn chính là có đôi có cặp, độ dài ngắn bằng nhau. Khi thay đũa mới, không ít gia đình vẫn còn lưu lại một số đũa cũ, còn sử dụng được. Chính vì thế mà có trường hợp dùng đũa dài ngắn không đều.   Theo quan điểm phong thủy, đây là điều không nên, nhất là khi có khách tới nhà, gây cảm giác thiếu tôn trọng khách. Thêm nữa, cách dùng đũa như vậy trong thời gian dài khiến tình cảm của mọi thành viên trong nhà bất hòa, dễ gây mâu thuẫn vợ chồng.  

Kheo dung dua chuan phong thuy, hon nhan hay tai loc deu vien man hinh anh
 
2. Dùng đũa gõ vào bát ăn   Theo quan điểm dân gian, dùng đũa gõ vào bát ăn là hành vi của ăn xin, tượng trưng cho sự nghèo hèn, cuộc sống vất vả. Chính vì thế, trong mỗi bữa ăn rất kị hành động này. Nếu không từ bỏ thói quen gõ đũa vào bát, tài vận sẽ ngày càng giảm sút.   3. Để đũa vắt chéo lên nhau   Dù là vô tình hay cố ý để đũa vắt chéo lên nhau theo hình chữ “X” đều là việc làm cần tránh. Theo quan điểm phong thủy, đây là cách làm gây ra thị phi, kiện tụng, nghiêm trọng còn liên quan đến họa ngồi tù.   
Kheo dung dua chuan phong thuy, hon nhan hay tai loc deu vien man hinh anh 2
 
4. Cắm đũa vào bát cơm   Theo quan niệm người xưa, cắm đũa vào bát cơm sẽ khiến người ta dễ dàng liên tưởng tới bát hương của người chết. Vì thế đây là một trong những điều đại kị khi dùng đũa ăn hàng ngày.    5. Để đũa đang ăn ở bát (đĩa) thức ăn   Một số người có thói quen để đũa đang ăn ngay ở bát hoặc đĩa thức ăn, để gắp đồ ăn cho thuận tiện. Xét về mặt lịch sự trong ăn uống, đây là điều không nên. Về phong thủy ngũ hành, cách làm này ảnh hưởng tới hòa khí của các thành viên trong nhà.    6. Cầm đũa trên tay và chỉ trỏ người khác   Theo quan điểm dùng đũa phong thủy, hành động này vừa không lịch sự lại tiềm ẩn nguy cơ không tốt lành về mặt phong thủy, thậm chí có thể ảnh hưởng tới sinh mệnh của mỗi người. Chính vì thế, nếu có thói quen này bạn cần bỏ ngay lập tức, tránh hậu họa khôn lường.   Ngân Hà
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Khéo dùng đũa chuẩn phong thủy, hôn nhân hay tài lộc đều viên mãn

Giải mã bí ẩn vì sao một số phụ nữ mãi độc thân

Nguyên nhân dẫn tới cuộc sống độc thân có thể do duyên phận chưa tới, hoặc do bản thân chưa muốn thay đổi, và cũng có thể “tướng” sinh ra đã mang số phận vậy.
Giải mã bí ẩn vì sao một số phụ nữ mãi độc thân

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tình trạng cứ mãi cô đơn khiến cho một số người cảm thấy thất vọng và chán nản vì không biết nửa kia của mình ở đâu. Nguyên nhân dẫn tới cuộc sống độc thân có rất nhiều, có thể do duyên phận chưa tới, hoặc do bản thân chưa muốn thay đổi, và cũng có thể “tướng” sinh ra đã mang số phận vậy.

1. Người không muốn kết hôn:Yên nhân trung có nếp nhăn nằm ngang

Nếu nhân trung nếp nhăn nằm ngang là số mệnh người phụ nữ đó không tốt hoặc nếu đường nhân trung mờ nhạt thì người này dễ mắc bệnh về phụ khoa, hoặc đẻ khó. Những người có nhân trung như trên thì tính tình nóng nảy, không quyết đoán, nói chuyện nửa vời nên chuyện tình cảm không được thuận lợi , không có duyên phận với đàn ông nên trong tương lai, hôn nhân không được hạnh phúc, người chồng vô trách nhiệm. Sau một lần hôn nhân đổ vỡ thì sẽ không còn lòng tin với đàn ông, tôn thờ chủ nghĩa độc thân.

Giai ma bi an vi sao mot so phu nu mai doc than hinh anh
Ảnh minh họa

2. Người phụ nữ có vành tai lật ngược

Tuýp phụ nữ này rất thích vận động, thể hiện bản thân, nhưng cũng rất khác người, thích biện luận và hiếu thắng.

Hơn nữa, họ quá cá tính, bản lĩnh và bảo thủ nên khiến cho chuyện tình cảm long đong lận đận. Nam giới cũng không thích hẹn hò với những người phụ nữ này vì họ quá lắm điều.

3. Những người phụ nữ mắt lồi có số phận cô đơn và thích nói nhiều

Những người phụ nữ có hai con mắt lồi hẳn ra bên ngoài chứng tỏ thần kinh có chút không bình thường, thích nói nhiều, nói dai, nói đi nói lại. Những người này làm việc thường không có đầu đuôi, nói trước quên sau, khiến người khác cảm thấy rất khó chịu, phiền hà.

4. Theo đuổi chủ nghĩa hoàn mỹ: người phụ nữ có chiếc mũi Hy Lạp

Mũi kiểu Hy Lạp là chiếc mũi thẳng tắp từ trán đến chóp mũi, sống mũi cao. Người phụ nữ có tướng mũi này là người hiếu chiến, háo thắng, là người theo đuổi chủ nghĩa hoàn mỹ. Những cô gái có chiếc mũi kiểu này thường khó chấp nhận những người chồng bình thường, có yêu cầu rất cao về người bạn đời tương lai, có yêu cầu cao về sự lãng mạn và lịch thiệp, chắc chắn sẽ không tùy tiện và dễ dãi trong việc chọn chồng, chọn người yêu.

5. Người phụ nữ không lãng mạn

Người phụ nữ có lệ đường khô và lõm xuống chứng tỏ đây là người khô khan, không lãng mạn, khô cứng khi tiếp xúc với người khác, kể cả nam giới. Cho nên, sau này khi kết hôn cũng không được chồng yêu chiều, thường bị lạnh nhạt, phải sống trong tâm trạng buồn phiền.
 

► Bói tình yêu theo ngày tháng năm sinh để biết nhân duyên của hai người

Theo Tuvisomenh

 


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Giải mã bí ẩn vì sao một số phụ nữ mãi độc thân

Tình duyên người tuổi Dậu và người tuổi Mão năm 2014 –

Dậu/Dần - Đòi hỏi quá nhiều công sức Dậu và Dần không hòa hợp, cá tính khác biệt khiến hai con giáp này cảm thấy bất ổn khi ở bên nhau. Xung đột ý chí làm cả hai bực tức và buồn phiền. Gà bé nhỏ hơn, và chắc chắn không có được sức mạnh của Hổ, nhưng
Tình duyên người tuổi Dậu và người tuổi Mão năm 2014 –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tình duyên người tuổi Dậu và người tuổi Mão năm 2014 –

Lễ Triệu lịch Điện Văn (Văn khấn trong tang lễ)

Văn khấn Triệu Lịch Điện Văn (văn khấn trong tang lễ) là lễ cúng cơm trong 100 ngày

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


1. Ý nghĩa:

Lễ Triệu tịch Điện văn là lễ cúng cơm trong 100 ngày

2. Văn khấn:

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)

- Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư phật mười phương.

- Con lạy Đức Đương cảnh Thành hoàng chư vị Đại vương

- Con kính lạy ngài Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân

- Con kính lạy chư gia tiên Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ tỷ

Hôm nay là ngày……tháng……….năm………..

Con trai trưởng (hoặc cháu đích tôn) là………

Vâng theo lệnh của mẫu thân (nếu là mẹ hoặc phụ mẫu nếu là cha), các chú bác, cùng anh rể, chị gái, các em trai gái dâu rể, con cháu nội ngoại kính lạy.

[Banner]

Nay nhân ngày lễ cúng cơm trong trăm ngày theo nghi lễ cổ truyền.

Kính dâng lễ mọn biểu lộ lòng thành.

Trước linh vị của: Hiển……………chân linh.

Xin kính cẩn trình thưa rằng:


Than ôi! Thương nhớ phụ thân, bỏ về cõi thọ

(hoặc Thương nhớ mẫu thân, bỏ về cõi thọ)

Gót thừa vân, nghĩ đã xa khơi;

Lòng ái nhật, nghĩ càng tủi hổ.

Lưng cơm bát nước, miếng trân cam, tỏ dạ kính thành;

Sớm rượu trưa trà, đạo thần hôn, giữ lòng ái mộ.

Ngậm ngùi, hồn phách biết về đâu;

Tưởng tượng bóng hình còn mãi đó.

Ôi! Thương ôi!

Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Lễ Triệu lịch Điện Văn (Văn khấn trong tang lễ)

Chử đạo tổ và lễ hội đền Dạ Trạch

Đền thờ Chử Đồng Tử và công chúa Tiên Dung huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên có 2 nơi, một là nơi 2 người gặp nhau nên duyên kỳ ngộ, nơi kia là chỗ 2 người hóa về trời

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

- Trích trong: VÀO CHÙA LỄ PHẬT - NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT của Đặng Xuân Xuyến -

Cách Hà Nội chừng 25km theo đê sông Hồng, có hai ngôi đền thờ Đức thánh Chử Đồng Tử, một ngôi đền nằm ở địa phận thôn Đa Hòa, xã Bình Minh, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên bên dòng sông Hồng nhìn ra bãi Tự Nhiên nơi nàng công chúa Tiên Dung xinh đẹp, con gái vua Hùng thứ 18 kỳ ngộ và nên duyên với chàng Chử Đồng Tử nghèo khó; ngôi đền thứ hai thuộc địa phận thôn Yên Vĩnh, xã Dạ Trạch, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên, nơi chàng Chử Đồng Tử cùng nhị vị phu nhân hóa về trời.

Tuy hai ngôi đền đều thờ đức thánh Chử Đồng Tử và nhị vị phu nhân, kiểu dáng kiến trúc truyền thống nhưng có sự khác biệt đáng kể.

đền chử đồng tử hưng yên

Ngôi đền Ða Hòa nằm trên một khu đất cao rộng, bằng phẳng, hình chữ nhật có diện tích 18.720m², cảnh quan đẹp, mặt đền quay về hướng chính tây nhìn thẳng sang bãi Tự Nhiên. Tổng thể kiến trúc có 18 ngôi nhà mái ngói cổ như 18 con thuyền mũi cong, tượng trưng cho 18 đời vua Hùng.

Ngọ môn gồm 3 cửa. Cửa chính là tòa nhà 3 gian cao rộng, trên đỉnh nóc đắp lưỡng long chầu nguyệt, chỉ mở cửa vào đại lễ. Hai cửa bên mở vào các ngày lễ hội, sóc vọng... để đón khách thập phương.

Qua sân Ðại là đến Ðại tế, tòa Thiêu hương, cung Ðệ Nhị, cung Ðệ Tam và cuối cùng là Hậu cung. Tòa Thiêu hương có kiến trúc cao, thoáng, trang nghiêm. Các đầu đao, bờ nóc chạm trổ tinh vi, đắp gọt tỉ mỉ, màu sắc rực rỡ với nhiều hình trang trí như rồng, sư tử.

Cửa võng ở cung Ðệ Nhị đều được chạm hình chim phượng, hoa cúc và các hoa quả... được sơn son thiếp vàng. Các pho tượng đức thánh Chử Ðồng Tử và Nhị vị phu nhân được đúc bằng đồng rất đẹp.

Còn đền Dạ Trạch nằm trong không gian thoáng đãng cạnh đầm Dạ Trạch. Kết cấu chính từ ngoài vào trong gồm có lầu chuông, hồ bán nguyệt, qua sân là đến điện thờ gồm ba tòa nhà.

Trong đền thờ còn có ban thờ Triệu Việt Vương (Do ngày xưa Triệu Việt Vương đóng quân ở đây).

Toàn bộ nội, ngoại thất, kiến trúc ngôi đền toát lên nét cổ kính, linh thiêng.

Hằng năm vào ngày 10 đến ngày 12 tháng 2 âm lịch, lễ hội Chử Đồng Tử lại được diễn ra tại các đền Đa Hòa (xã Dạ Trach, Khoái Châu) và đền thờ Hồng Vân công chúa (xã Đông Tảo, Khoái Châu) để tỏ lòng ghi nhớ công ơn của Tam vị với dân làng quanh vùng, đồng thời cũng để tô đậm thêm thiên tình sử muôn đời của Tam vị đức thánh Chử Đồng Tử - Tiên Dung và Hồng Vân.

Sáng ngày khai hội (mồng 10 tháng 2 âm lịch) từ sáng sớm các cụ phụ lão trong làng khăn áo chỉnh tề ra đền thắp hương làm lễ. Sau lễ khai mạc ôn lại truyền thuyết về cuộc đời và những hoạt động của đức thánh Chử Ðồng Tử và nhị vị phu nhân là lễ rước nước.

Đúng giờ quy định thì đoàn rước kiệu khởi hành ra bến sông Hồng lấy nước. Ði đầu đám rước là 2 con rồng vàng lộng lẫy do 10 người điều khiển uốn lượn theo nhịp trống phách. Đoàn rước kiệu là đội tế nữ với xiêm y đẹp, đủ màu sắc. Ðám rước có ban nhạc lễ, kiệu thánh, bát bửu, kíp chấp, ché đựng nước. Ðoàn rước nước ngồi trên hàng chục chiếc thuyền bơi ra đến giữa sông Hồng múc nước đổ vào ché rồi quay về đền để làm lễ tắm tượng.

Theo sau là đoàn “rước du”, đưa kiệu thờ các đức Thánh lên thuyền rồng dạo trên sông với nhiều nghi thức tế lễ, múa hát trên thuyền. Dọc bờ sông có các đội múa hát, chiêng trống, cờ quạt, võng lọng theo hầu.

Sau khi nghi lễ rước nước, rước du kết thúc, chóe nước thiêng và kiệu Thánh được rước trở lại đền thì tổ chức lễ dâng hương và khai hội.

Theo tục lệ, nước được dùng để cúng phải là nước ở giữa sông Hồng. Người đại diện cho dân làng lấy nước là cụ già có đức độ trong làng. Dâng nước là hình thức tâm linh cầu nguyện một năm mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, bội thu.

Sau khai hội, diễn ra rất nhiều trò chơi dân gian, nhiều tiết mục biểu diễn văn nghệ truyền thống đặc sắc như: hát ca trù, hát quan họ, hát trống quân; các trò chơi đi cầu kiều, bắt vịt, đánh đu…

Đặc biệt, lễ hội Ða Hòa được gọi là lễ hàng tổng Mễ, với thông lệ cứ 3 năm diễn ra một lần với sự tham gia của nhân dân hai xã Bình Minh (huyện Khoái Châu) và Mễ Sở (huyện Văn Giang): Sáng ngày 10 tháng 02 âm lịch, 8 làng thuộc tổng Mễ (tức 8 làng của 2 xã Bình Minh và Mễ Sở) đồng loạt tiến hành lễ rước kiệu về đền Đa Hòa.

Khi vào đền, ở mỗi đám kiệu lại diễn ra các trò khác nhau như múa rồng, múa phượng, múa sinh tiền…

Các đoàn rước khi gặp nhau còn có nghi thức chào hỏi độc đáo. Khi đã rước đủ 8 kiệu về đền thì tổ chức đại lễ dâng hương và khai hội.


(Trích trong VÀO CHÙA LỄ PHẬT NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT của Đặng Xuân Xuyến, nxb Văn Hóa Thông Tin)

Bài viết được tác giả gửi đến trang nhà Xem Tướng chấm net, tháng 7 năm 2015

Một số sách của tác giả Đặng Xuân Xuyến đã xuất bản như:

  • Tử Vi Kiến Giải - nxb Thanh Hóa
  • Tử Vi Vấn Đáp - nxb Thanh Hóa
  • Vào chùa lễ Phật, những điều cần biết - nxb Văn Hóa Thông Tin
  • Tìm hiểu văn hóa tín ngưỡng trong dân gian - nxb Thanh Hóa
  • Điềm báo và kiêng kỵ trong dân gian - nxb Lao Động - Xã Hội
  • Khám phá bí ẩn con người qua bàn tay - nxb Thanh Hóa

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Chử đạo tổ và lễ hội đền Dạ Trạch

Cơ sở dự báo đời người theo tứ trụ

Để dự báo tứ trụ của một người chúng ta cần dựa vào những thông tin nào!

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


I. Bốn thời sinh qua lịch can chi


Mỗi người đều có một lần sinh duy nhất trong Trời Đất này. Nói theo người Tiền sử là trong Thiên và Địa, nói theo cách của thời hiện đại là trong Vũ trụ và trên Trái đất. Người Tiền sử đã đo được vị trí sinh trong Vũ trụ (Thiên) là thời sinh Thiên Can, thời sinh Can có thể gọi là tọa độ Không gian; còn thời sinh Trái đất (Địa) là thời sinh Địa Chi, thời sinh Chi có thể gọi là tọa độ Thời gian.

Có tất cả 10 vị trí sinh Thiên Can là : Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý và 12 vị trí sinh Địa Chi là: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Vì thế giới mà chúng ta đang sống là thế giới Âm Dương, nên Không - Thời gian cũng mang tính Âm và tính Dương. Vị trí Thiên Can Dương thì đi với Địa Chi Dương, vị trí Thiên Can Âm thì đi với Địa Chi Âm. Như nói năm Giáp Tý, Giáp Dần, Giáp Thìn..., năm Ất Sửu, Ất Mão, Ất Tỵ.... Nghĩ là cứ vị trí sinh Can Dương thì đi với vị trí sinh Chi Dương, vị trí sinh Can Âm đi với vị trí sinh Can Âm.

Vì Không gian và Thời gian bao giờ cũng đi song hành đồng thời, do vậy khi mô tả thời sinh một người bao giờ cũng nơi đầy đủ cả Can và Chi, như sinh năm Nhâm Thìn, Quý Tỵ, Giáp Ngọ....

II. Tứ trụ thời sinh của một người

Tứ trụ thời sinh của một người là: Năm, Tháng, Ngày, giờ sinh. Ví dụ sinh ngày: 7 tháng 5 năm 2012, lúc 9 giờ 20 sáng theo lịch Dương, nhưng khi dự đoán thi phải quy đổi ra lịch âm là: ngày 17, tháng 5, giờ Tỵ, năm Nhâm Thìn.

Theo lịch âm cũng như vậy, nhưng mỗi một thời sinh lại khác ở chỗ có 2 yếu tố: yếu tố thời sinh trên Trái đất, điều mà người xưa gọi là Địa Chi và yếu tố thời sinh Vũ trụ, điều mà người xưa gọi là Thiên Can. Như sinh năm Nhâm Thìn, Tháng Quý Mão (tháng 2), ngày Đinh Mùi, giờ Bính Thìn.

Ta xếp thời sinh của người này thành 4 cột thời gian hay Tứ trụ như sau:



Thời sinh theo lịch Can Chi của một người được thể hiện qua vị trí sinh trên Trái đất (gọi là Địa Chi) và cùng lúc với vị trí sinh trong Vũ trụ (trên Trời) gọi là Thiên Can có tính chất khác nhau, đó là tính Âm Dương và tính Ngũ hành. Tại sao vậy? Vì thế giới mà chúng ta sinh ra và tồn tại là thế giới Ngũ hành Âm Dương. Mỗi chúng ta từ lúc sinh ra đến lúc về già, luôn luôn bị chi phối bởi tính Ngũ hành và Âm dương của thế giới này. Nếu nắm được tính Ngũ hành và tính Âm Dương của Bát Tự thời sinh, thì biết trước phần nào cuộc đời của người đó trong hiện tại cũng như trong tương lai. Xuất phát từ nguyên lý của Trời Đất (Thiên Địa àThiên Can Địa Chi) đó, mà người Tiền sử đã lập ra cách dự báo số phận một người gọi là Tứ Trụ Bát Tự. Cũng có thể gọi vắn tắt là dự báo theo Tứ Trụ hay theo Bát Tự.

III. Tính chất thời gian can chi

Theo học thuyết Âm Dương, nhân loại trên Trái đất sống trong thế giới Ngũ hành (thế giới có 5 loại chất) và luôn bị Ngũ hành chi phối mọi hoạt động sống của mình. Do vậy, thời gian trên Trái đất cũng là thòi gian theo Ngũ hành. Để phân biệt được tính Ngũ hành của thời gian Trái đất, ta phải xem xét qua thời gian Can Chi.

Việc xem xét tính chất thời gian Can Chi nhằm mục đích phân tích thực trạng của đối tượng dự báo theo Tứ trụ, đặc biệt là tính Ngũ hành của thời gian Can Chi được xem xét nhiều nhất. Sau đây là những tính chất đó.

1. Tính Âm Dương của thời gian Can Chi

Thời gian vận động trên trái đất này theo nhịp âm dương. Cứ một ngày (hay tháng, năm giờ) khởi đầu là dương thì thời gian tiếp theo là âm. Cứ khởi đầu là một toạ độ không gian (thập can) dương thì toạ độ không gian tiếp theo là âm, rồi lại dương. Quy luật vận động của toạ độ thời gian (địa chi) cũng như vậy. Một quy luật khác của thời gian là: Toạ độ không gian Dương kết hợp với toạ độ thời gian Dương, toạ độ không gian âm kết hợp với toạ độ thời gian âm. Để có cách nhìn toàn cục quy luật này, ta có thể tìm nhanh thời gian can chi qua bảng sau:



Nhìn vào bảng trên, các can dương phối với Can Dương, Âm phối với Âm. Ví như chỉ có những năm (tháng ngày hay giờ) là Giáp Tý, Giáp Dần, Giáp Thìn, Giáp Ngọ, Giáp Thân, Giáp Tuất.., Ất Sửu, Ất Mão, Ất Tỵ, Ất Mùi, Ất Dậu, Ất Hợi... Các trường hợp khác tính thời gian can chi tương tự như cách trên.

Cũng từ bảng trên, các Can: Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm là dương, còn Ất, Đinh, Mậu, Tân, Quý là âm. Vậy năm nào có Can Dương là năm Dương, năm Can Âm là năm Âm, như năm Bính Tuất (2006) là năm Dương vì Bính Dương... Người sinh năm Dương thì nữ là Dương nữ, nam là Dương nam; sinh năm Âm nữ là Âm nữ, nam là Âm nam. Đối với thời gian tháng, ngày, giờ cũng tính tương tự.

2. Tính Ngũ hành của thời gian Can Chi

Đây là diễn giải: thời gian Can và Chi hay Can Chi thuộc loại chất nào, chúng quan hệ với nhau ra sao trong thế giới Ngũ hành này.

a. Thuộc tính Ngũ hành của Thập Can và Địa Chi

Theo dịch lý, trong không gian 4 chiều nơi loài người đang tồn tại, vạn vật, con người, thời gian... có 5 thuộc tính khác nhau là: Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ. Các thuộc tính này khi kết hợp với nhau có thể tạo ra sự phát triển, điều mà dịch học gọi là tương sinh; cũng có thể kìm hãm nhau trong phát triển hoặc tiêu diệt nhau, điều mà dịch lý gọi là tương khắc hay không làm gì cho nhau gọi là tỵ hoà. Sư tương sinh và tương khắc như sau:



Ví dụ:Tý khắc Tỵ nhưng Tý sinh Mão và sinh Dần... Dậu và Kim sinh Tý và sinh Hợi...

Đối với 12 địa Chi hay 12 Tọa độ thời gian (TĐTG), thuộc tính ngũ hành như sau:



Đối với 10 thiên Can hay 10 Tọa độ không gian (TĐKG), thuộc tính ngũ hành như sau:



b. Xác định Can cho tháng Giêng để tìm Can các tháng khác

Trên thực tế nhiều khi chỉ biết Chi của tháng, không biết Can tháng đó là gì, người ta đưa ra luật Ngũ Dần để tính Can cho tháng Giêng (bao giờ cũng là tháng Dần), qua đó để biết can của tháng cần tìm. Luật Ngũ Dần như sau:



Ví dụ như tháng Tám năm Bính Tuất (2006) là Can gì? Tra bảng trên, tháng Giêng năm Bính Tuất là Canh Dần, tháng Tám là tháng Dậu, từ Canh, Tân, Nhâm... tính đi đến thứ tám là Đinh. Vậy tháng 8 âm năm Bính Tuất là Đinh Dậu.

c. Xác định Can giờ khi biết Can ngày

Trên thực tế, có trường hợp cần biết Can giờ sinh, người xưa đưa ra luật Ngũ Tý, nghĩa là qua Can của ngày để xác định Can của giờ Tý hôm đó, qua đây để tìm các can giờ tiếp theo cần tìm. Luật Ngũ Tý được mô tả qua bảng sau:



Ví dụ:ngày 1/9 âm năm Bính Tuất (2006) giờ Thìn Can gì? Nhìn lịch 2006 - Bính Tuất tháng 9 âm ngày 1 là ngày Mậu Dần. Vậy giờ Tý hôm đó là giờ Nhâm Tý, đếm đi tiếp là Sửu, Dần... đến giờ Thìn là Bính Thìn. Các trường hợp khác tính tương tự.

IV. Tháng xem tứ trụ là tháng tiết khí

Khi dự báo theo Tứ trụ Bát tự, điều cần biết là tháng sinh của một người thuộc tháng nào của tháng Tiết khí.

Tháng của lịch Âm Dương hay lịch Can Chi được dựng theo tiết khí, nghĩa là ngày bắt đầu của tháng căn cứ vào ngày chuyển tiết sang tháng đó. Như tháng Giêng bắt đầu từ ngày Lập xuân, nghĩa là ngày 1 tháng Giêng (tết Nguyên đán) chưa hẳn đã là ngày của tháng Giêng. Ngày của tháng Giêng bắt đầu từ ngày Lập xuân. Lập xuân có thể đến sớm trong tháng Chạp, ví dụ Lập xuân rơi vào ngày 26 tháng Chạp, thì từ ngày này trở đi như ngày 27, 28, 29... tháng Chạp đã là ngày của tháng Giêng. Khi dự báo, nếu người sinh vào ngày 28 tháng Chạp, coi như là đã sinh vào tháng Giêng của năm sau, mặc dù chưa đến tết nguyên đán. Để xác định vị trí tháng và ngày của từng tháng trong năm, người xưa đã đưa ra cách xác định như sau:



Ví dụ:xem người sinh ngày 25 (Nhâm Dần), tháng Chạp (Qúy Sửu) năm Nhâm Thìn (2012); theo lịch Âm, năm Qúy Tỵ 2013, lập Xuân vào ngày 24 tháng Chạp năm Nhâm Thìn, nghĩa là ngày 24 tháng Chạp năm Nhâm Thìn đã là ngày đầu tiên của năm Qúy Tỵ. Vậy tháng xem Tứ trụ phải là tháng Giêng Giáp Dần năm Qúy Tỵ (chứ không phải là tháng Chạp năm Nhâm Thìn). Sơ đồ Tứ trụ thời sinh người này phải như sau:



V. Ngũ hành thời gian can chi

Thời gian không đứng biệt lập với không gian, mỗi một vị trí không gian đều có một vị trí thời gian tương ứng đi kèm. Mọi vật chuyển động trong không gian theo 60 vị trí lặp đi lặp lại như một vòng tròn không mối nối từ Giáp Tý, Ất Sửu, Bính Dần... rồi lại quay về Giáp Tý... Mỗi một vị trí thời gian như vậy có một tính ngũ hành riêng, điều mà Dịch lý gọi là nạp Giáp. Để tiện tra nhanh tính ngũ hành trong từng vị trí thời gian của một chu kỳ thời gian (năm, tháng, ngày , giờ) có thể đối chiếu qua bảng sau:



Qua bảng trên, ta có thể xác định tính Ngũ hành một cách nhanh chóng bất kỳ một đối tượng nào qua thòi gian sinh. Ví dụ sinh năm Bính Tuất (2006) là Thổ, Giáp Thân là Thủy, Nhâm Thìn là Thuỷ...

VI. Tính chất của thiên can

Toạ độ không gian mà các nhà mệnh lý gọi là Thiên Can hay Thiên nguyên. Thiên nguyên hay thập Can có thể là Can năm, Can ngày, Can giờ. Mỗi một vị trí thời gian sinh của một người nào đó có 4 TĐKG là Can năm, Can tháng, Can ngày, Can giờ. Những Can này phối hợp với nhau có thể tạo ra một vị trí thuận lợi hay bất lợi cho cuộc sống một người nếu sinh vào thời điểm đó. Trong dự báo theo Tứ trụ, người ta lấy Can ngày sinh (gọi là Nhật chủ) để đối chiếu với các Can khác trong tứ trụ để tìm các Thần (10 Thần), tìm sự hợp sự hoá mà dự báo sơ bộ.

1. Quy luật hợp hoá và Ngũ hợp của Thiên Can

Các Can từng cặp liên kết với nhau có hợp, có tất cả 5 cặp Can hợp nhau rồi hóa thành là:



Trong dự báo qua Tứ trụ hay 4 cột thời gian, lấy Can Ngày làm chủ để so với Can Tháng hoặc Can Giờ kế hai bên có hợp hay không. Còn Chi tháng nếu thấy Ngũ hành giống sự hóa thì mới gọi là hợp hoá.

Ví dụ:Can ngày là Giáp, Can tháng hay Can giờ là Kỷ là có hợp hoá, vì Giáp hợp Kỷ hoá Thổ. Nếu Can ngày là Kỷ, Can tháng hoặc Can giờ là Giáp, mà Chi tháng hay Chi giờ là Thìn, Tuất, Sửu, Mùi (đều tính Thổ) có ngũ hành giông nhau đều Thổ nên sự hợp này có hoá.

Sơ đồ Tứ trụ có hợp hóa:



2. Mức độ sinh khắc của Thiên Can

Thứ hai: Can ngày hợp với Can tháng hoặc Can ngày hợp với Can giờ, Chi tháng không hoá, nhưng Ngũ hành mà nó hoá ở trong ba Chi còn lại hợp thành cục thì đây cũng coi là sự hợp có hoá. Ví dụ: Can ngày là Canh, Can tháng là Ất hợp hoá Kim, Chi tháng không phải là Thân hay Dậu (Kim), nhưng 3 Chi của năm, ngày , giờ tam hợp là: Thân Tý Thìn thì sự hợp có hoá.

Trong các cột thời gian, sự sinh khắc của 2 can đứng cạnh nhau mới đáng xét và mối mạnh. Như ngày sinh là Bính Hoả khắc Can năm Canh Kim, nhưng Can tháng đứng giữa hai Can này là Kỷ thổ, mà Thổ sinh Kim, nên lúc này Bính lại “sinh” Canh (Kim) chứ không khắc.

Trong khắc có hợp, sự hợp mất sự khắc thì không còn là khắc nữa. Ví dụ Bính Hoả khắc Canh (Kim), nhưng trong 4 cột thời gian có Tân Kim, mà Tân hợp Bính hoá Thuỷ, Thuỷ khắc Hoả, nên Bính Hoả độc lập không khắc nổi Canh Kim nên sự khắc không còn.

Can ngày sinh bị Can khác khắc, Can khắc đó lại bị Can khác khắc, do đó Can ngày không còn bị khắc nữa. Ví dụ Can ngày là Canh Kim bị Can tháng Bính Hoả khắc, Bính hoả lại bị Can giờ (hay năm) Nhâm Thuỷ khắc, lúc này Can Canh không còn bị khắc.

3. Sự hợp hóa của Can ngày cho biết điều gì?


Trong dự báo theo Tứ trụ Bát tự, lấy Can ngày sinh làm chủ, so với Can tháng và Can giờ sinh kế bên Can ngày để tìm sự hoá hợp. Qua sự hợp hóa này, sơ bộ cho ta số phận khái quát một người. Sau đây là quan điểm của các nhà mệnh lý xưa đưa ra để tham khảo.

Can ngày Giáp hợp Kỷ hoá Thổ: người xưa cho rằng đây là mệnh trung chính, chủ về yên phận thủ thường, trọng tín nghĩa. Nếu trong mệnh cục (cách xác định mệnh cục xin xem phần dưới đây) không có Thổ mà có Thất sát thì đó là người thiếu tình nghĩa, người giảo hoạt, tính thô thiển (chú ý: Kỷ ở đây có thể là Can tháng hoặc Can giờ, các trường hợp dưới đây xét tương tự). Trường hợp này như sơ đồ Tứ trụ có hợp hóa nêu trên đây.

Sơ đồ Tứ trụ ngày Giáp gặp Kỷ:

Can ngày Giáp hợp Kỷ: nếu gặp Ất mộc thì thể tài có hao tổn, nếu gặp Đinh hoả thì được lộc cũng như không, nếu gặp Tân Kim thì cao sang, nhà cao cửa rộng, nếu gặp Mậu Thổ thì giàu sang, nhà cao lộng lẫy, nếu gặp Quý Thuỷ thì cuộc đời sẽ hạnh phúc, nếu gặp Canh Kim thì gia thế hưng thịnh, nếu gặp Bính Hoả thì hưởng lộc nhiều.

Sơ đồ Tứ trụ Giáp hợp Kỷ gặp Tân Mão:

Can ngày Kỷ hợp Giáp: nếu gặp Đinh hoả thì bị người khác chèn ép, nêu gặp Ất Mộc thì tự mình gây hoạ, nếu gặp Tân thì giàu sang phú quý, nếu gặp Canh thì cô đơn nghèo khó, nếu gặp Qúy Thuỷ thì chức cao trọng vọng.

Sơ đồ Tứ trụ Kỷ hợp Giáp gặp Đinh:



Can ngày Ất hợp Canh hoá Kim: cho biết là người trọng nhân nghĩa, ứng xử cương nhu đúng mức. Nếu trong 4 cột thời gian có Thiên quan hoặc vận kém rơi vào Tử, Tuyệt thì là người cố chấp, thiếu nhân nghĩa.

Sơ đồ Tứ trụ ngày Ẩt hợp Canh:



Can ngày Ất hợp Canh: nếu gặp Bính Hoả thì khó khăn trong cuộc sống, nếu gặp Nhâm Thuỷ thì vinh hoa phú quý, gặp Đinh Hoả thì vui vẻ trong cuộc sống, nếu gặp Kỷ Thổ thì nhà nhiều của, nếu gặp Tân Kim thì gió sương, nếu gặp Giáp Mộc thì lúa gạo đầy nhà.

Sơ đồ Tứ trụ ngày Ất hợp Canh gặp Bính:



Can ngày Canh hợp Ất: nếu gặp Tân Kim thì có hao mòn, nếu gặp Bính Hoả thì trì trệ, nếu gặp Đinh Hoả như rồng gặp nước, nếu gặp Quý Thuỷ thì tài sản trôi nổi và người sẽ sống lâu, nếu gặp Nhâm Thuỷ thì tài lộc ngày cành phát triển, nêu gặp Mậu Thổ thì không giàu sang cũng nổi tiếng.

Sơ đồ Tứ trụ ngày Canh hợp Ất gặp Tân:



Can ngày Bính hợp Tân: nếu gặp Mậu thổ thì công thành danh toại, nếu gặp Ất mộc thì quyền cao chức trọng, nếu gặp Quý thuỷ hay Kỷ Thổ thì cửa nhà danh giá, nếu gặp Nhâm Thuỷ thì dễ gặp tai hoạ.

Sơ đồ Tứ trụ ngày Bính hợp Tân gặp Mậu:

Can ngày Tân hợp Bính: nếu gặp Mậu Thổ và Canh Kim thì công thành danh toại.

Sơ đồ Can ngày Tân hợp Bính gặp Mậu:
Can ngày Đinh hợp Nhâm hoá Mộc: sự hợp này chủ về nhân nghĩa và sống lâu, người tính nhân từ, tuổi thọ cao. Nữ giới nếu trong mệnh Thuỷ cực vượng quá làm Mộc suy thì sự hợp không hay. Nếu đóng ở Tử, Tuyệt thì phá tán tài sản vì tửu sắc.



Can ngày Đinh hợp với Nhâm: nếu gặp Bính Hoả thì số nhàn, gặp Tân thì cuộc đời hay gặp may và phú quý, nếu gặp Mậu Thổ thì cuộc sống an nhàn, nếu gặp Quý Thuỷ thì cô đơn nơi tha hương, nếu gặp Ất Mộc thì không giàu, nếu còn có Canh Kim nhiều trong các cột thời gian thì cuộc đời không danh vọng, nếu gặp Giáp hoặc Thìn thì chức vị và lộc dồi dào, vẹn toàn.

Sơ đồ Tứ trụ ngày Đinh hợp Nhâm gặp Tân:



Can ngày Nhâm hợp với Đinh: nếu gặp Giáp Mộc thường hay thất bại, nếu gặp Tân Kim thì ruộng vườn bát ngát, nếu gặp Bính Hoả thì thành anh hùng hào kiệt, nếu gặp Quý Thuỷ thì kinh doanh vất vả, nếu gặp Kỷ Thổ thì có chức quyền, nếu gặp Mậu Thổ thì bồng bềnh trôi dạt, nếu gặp Canh Kim thì mọi việc khó thành, nếu gặp Ất Mộc thì không thọ.

Sơ đồ Tứ trụ ngày Nhâm hợp Đinh gặp Bính:


Can ngày Mậu hợp Quý hoá Hoả: thể hiện sự vô tình vô nghĩa, có dáng vẻ bề ngoài thanh cao nhưng nội tâm mờ ám. Nếu là nam giới là người nay đây mai đó, ham chơi hơn làm, nếu là nữ giới thì lấy chồng đẹp.

Sơ đồ Tứ trụ ngày Mậu hợp Quý:
Can ngày Mậu hợp với Quý: nếu gặp Ất Mộc thì cuối đời thành đạt, nếu gặp Nhâm Thuỷ thì tự thân làm giàu, nếu gặp Bính Hoả thì khó có phúc lộc, nếu gặp Canh Kim thì thường gặp điều hanh thông, nếu gặp Kỷ Thổ thì không hay cho vợ con, nếu gặp Tân Kim là người mưu mẹo.

Sơ đồ Tứ trụ ngày Mậu hợp Qúy gặp Nhâm:
Can ngày Quý hợp với Mậu: nếu gặp Bính, Tân thì cuộc đời có nhiều thành đạt và cũng có nhiều thất bại. Nếu gặp Giáp, Kỷ thì suốt đời vất vả, nếu gặp Đinh Hoả thì của nhiều, nếu gặp Canh Kim thì đất đai của cải nhiều, nếu gặp Ất Mộc thì chức cao quyền quý, nếu gặp Nhâm Thuỷ thì tài lộc song toàn, nếu gặp Tân Kim thì tài lộc lúc được lúc mất, nếu gặp Kỷ Thổ thì tiền đồ học hành phát triển:

Sơ đồ Tứ trụ ngày Qúy hợp Mậu gặp Bính:



Lưu ý:trên đây là dự báo Tứ trụ theo sự hợp hóa của Can ngày sinh, trên thực tế không phải ai cũng rơi vào cách hợp hóa nói trên.

VII. Tính chất của địa chi

Địa Chi còn gọi là Địa nguyên, có thể nói đó là Toạ độ thời gian trên Trái đất. Trong dự báo qua 4 cột thời gian, sự hình xung, hại hợp của địa chi ảnh hưởng rất lớn đối với nhật chủ. Sự ảnh hưởng này có vị trí đặc biệt trong dự báo về số phận một người. Khi có sự liên kết của địa Chi trong 4 cột thời gian, sẽ xảy ra những mức độ quan hệ như sau:

1. Sự hợp của Địa Chi

Có 6 khả năng hợp của các địa Chi, như:

* Tý hợp với Sửu thành Thổ. * Ngọ hợp với Mùi thành Thổ.

* Dần hợp với Hợi thành Mộc * Mão hợp với Tuất thành Hoả.

* Thìn hợp với Dậu thành Kim. * Tỵ hợp với Thân thành Thuỷ.

2. Tam hợp của Địa Chi

Trong thế giới Âm Dương trên trái đất, ba yếu tố kết hợp với nhau tạo ra cái mới. Nói cách khác, số 3 là số sinh, sinh ra một cái mới từ 3 cái ban đầu. Tính chất này thể hiện rõ qua địa Chi, như:

Thân + Tý + Thìn (hợp) thành Thuỷ cục. Hợi + Mão + Mùi (hợp) thành Mộc cục.

Dần + Ngọ + Tuất (hợp) thành Hoả cục. Tỵ + Dậu + Sửu (hợp) thành Kim cục.

Trong 4 cột thời gian, nếu có lục hợp hoặc tam hợp cục là cho biết người đó có dung nhan đẹp, thanh lịch, thần thái ổn định, thẳng thắn, thông minh linh lợi. Hợp cục thành cát thần là tốt, hung thần là xấu, hợp thành tương sinh thì tốt, tương khắc thì không hay, hợp thành Tử, Tuyệt thì cuộc đời bất đắc chí. Trong tam hợp hoá cục hoá cát là tốt, hoá hung là xấu.

3. Lục xung của Địa Chi

Xung có nghĩa là bất hoà. Sự tương xung của 12 địa Chi như sau:

Trong các cặp tương xung này, duy nhất có Thìn Tuất Sửu Mùi có tương xung nhưng không tương khắc vì chúng đều là Thổ. Còn lại vừa tương xung vừa tương khắc.

Kỵ thần bị tương xung là tốt, Hỷ thần bị xung là xấu. Trong dự báo theo Tứ trụ, qua sự tương xung của địa Chi phần nào cũng cho những thông tin nào đó, như:

* Tý, Ngọ tương xung thì người thường không yên ổn.

* Mão, Dậu tương xung chỉ tính người thất tín, bội ước, hay lo buồn, tình cảm dễ bị chia rẽ.

* Dần, Thân tương xung là người đa tình, hay can thiệp vào những chuyện không đâu.



* Sửu, Mùi tương xung, thường hay gặp trắc trở trong công việc.

* Chi cột năm xung Chi cột tháng: người sống xa quê hương.


* Chi cột năm xung Chi tháng, Chi ngày, Chi giờ: người tàn nhẫn hoặc hay ốm đau.

* Chi cột ngày xung Chi tháng: hay xúc phạm cha mẹ anh em.



* Nếu trong tứ trụ có gặp xung, thường không được hưởng nhà của cha mẹ.

* Nếu trong tứ trụ có Tý Ngọ Mão Dậu tương xung là người hay đổi chỗ ở.

* Nếu có Dần Thân Tỵ Hợi tương xung là không hợp nghề, hay đổi nghề và chỗ ở.

* Nếu có Thìn Tuất Sửu Mùi tương xung trong tứ trụ thì cũng không hợp nghề và hay đổi nghề.

4. Tương hại của 12 Địa Chi

* Nếu trong Tứ trụ có Tý Mùi tương hại thì da thịt không mượt mà. Còn Sửu Ngọ, Mão Thìn tương hại thì tính người hay giận dữ, sự kiên nhẫn kém.

* Dần Tỵ tương hại: nếu trong 4 cột thời gian (Tứ trụ) nhiều hành Kim thì người hay mắc bệnh.



* Chi ngày Chi giờ tương hại: về già đề phòng bị tật. (xem đồ hình Dần Tỵ tương hại

trên)

5. Tương hình của Địa Chi

a. Dần hình Tỵ, Tỵ hình Thân, Thân hình Dần:gọi là trì thế hình. Những người trong 4 cột thời gian có tương hình của cát địa Chi loại này, hoặc trong tuế vận (năm) có tương hình thì tính tình lãnh đạm, tình cảm lạnh lẽo, khô khan, thiếu nghĩa hiệp, hoặc hay bị người hại hoặc gặp điều xấu.

Nếu các địa Chi xung đó lại ở vị trí Tử, Tuyệt thì càng không hay, nữ giới không nên gặp trường hợp này, nếu gặp tụng kinh niệm Phật thì mọi việc sẽ qua.

b. Mùi hình Sửu, Sửu hình Tuất, Tuất hình Mùi gọi là vô ân chi hình. Người trong tứ trục có loại hình này báo có sự tranh giành quyền lợi, là người cậy quyền làm quá đi nên dễ thất bại. Nhưng nếu rơi vào các vị trí Trường sinh, Mộc dục, Quan đối, Lâm quan, Đế vượng thì tinh thần cương nghị. Nếu trong 4 cột thời gian có Tử, Tuyệt tương ứng vị trí thì đó là người thấp kém, tính tình giảo quyệt, dễ gặp điều không hay, nữ giới dễ bị cô đơn.

c. Mão hình Tý, Tý hình Mão gọi là vô lễ chi hình. Người trong tứ trụ có loại hình này cho biết là người thiếu tự tin và không có khả năng làm việc độc lập, nhưng lại hay cố chấp, làm việc không đến nơi đến chôn, có tính thành kiến, nội tâm bất thiện, dung mạo không đẹp. Nếu các Chi này ở vị trí Tử, Tuyệt thì nông cạn trong suy nghĩ. Nếu ngày sinh gặp tương hình thì vợ hay chồng không khoẻ, nếu giờ sinh tương hình thì đề phòng con cái có bệnh. Trong 4 cột thời gian có hai loại tương hình thì điềm xấu có thể thêm xấu, nếu mệnh trong Tứ trụ tốt thì càng tốt lên.

d. Thìn, Ngọ, Dậu, Hợi tự hình lẫn nhau, nhưng kiêng nhất là Thìn gặp Thìn, Ngọ gặp Ngọ, Dậu gặp Dậu, Hợi gặp Hợi. Các nhà mệnh lý xưa có câu: “Tự hình có thêm sát” là không hay. Họ cho rằng nếu Chi năm sinh và Chi tháng sinh tự hình thì trong cuộc đời dễ bị tổn thương. Thìn, Ngọ, Dậu, Hợi tự hình thì đến tuổi trung niên mọi việc diễn ra không rõ ràng, khó đoán định.

Bảng Hợp, Xung, Hình, Hại của Chi:

Nguồn: Quang Tuệ

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Cơ sở dự báo đời người theo tứ trụ

Cách quý: Những sao làm Quan

1. Các chính tinh có nghĩa quan lộc trực tiếp: Tử Vi: Tử Vi đắc địa ở cung Quan có nghĩa quyền quý. Tử Vi chỉ người có dịp chỉ huy, điều khiển, giữ những chức vụ quan trọng trong công quyền, có nhiều thuộc hạ cao cấpl có tài lãnh đạo, có bản lãnh chế phục người khác. Ngôi thứ quan lộc cao thấp tùy thuộc vị trí miếu địa hay đắc địa: càng đắc địa thì ngạch trật càng cao. Nếu Tử Vi được nhiều quyền tinh, dũng tinh đi kèm thì chức quyền càng lớn, có nhiều thuộc hạ đông đảo trợ lực. Nếu thiếu trợ tinh, Tử Vi chỉ loại viên chức hay sĩ quan cao cấp làm việc tham mưu, phục vụ trong ngành chuyên môn, ít có dịp cầm quyền, cầm quân, hoặc nếu có, thì chỉ điều khiển một số thuộc hạ giới hạn và thời gian chỉ huy không lâu.
Cách quý: Những sao làm Quan

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Thái Dương: Nam số có Thái Dương sáng sủa ở Quan lộc đều quý hiển, cụ thể là có phẩm trật cao, có chức vụ lớn, thành công trong sự nghiệp nhờ sự thông minh, tài năng và đạo đức của mình. Thông thường, Thái Dương chỉ ngành văn hơn là ngành võ.

Liêm Trinh: đắc địa trở lên chủ về quan lộc, giống như Thái Dương, cho nên tọa thủ ở Quan lộc rất hợp vị. Liêm Trinh chủ yếu chỉ về võ nghiệp nhưng cũng có khi kiêm nhiệm cả chính trị nếu đóng ở hai cung Dần và Thân. Cái hay của Liêm về quan lộc bắt nguồn trước hết từ khả năng toàn diện đó. Trong cả hai ngành đều sáng chói, hiển đạt trong thời bình lẫn thời chiến, nhờ ở tài thao lược, khả năng thích ứng với nhiều hoàn cảnh. Ngoài ra, Liêm Trinh đắc địa ở Dần và Thân còn ban cho san này những điều kiện tốt đẹp để thành công: sự liêm khiết, thẳng thắn, mực thước, rất trong sạch, có đạo đức, không chịu làm điều trái phép, trái lương tâm chức nghiệp. Nếu Liêm Trinh đi với Thiên Tướng thì sự chính trực càng nổi bật. Liêm Trinh hãm địa ở Quan báo hiệu chức vụ nhỏ, thấp, thường gặp hung sự trong công vụ, đặc biệt là hình tù.

Thiên Tướng: sao này là quyền tinh, dũng tinh, thích hợp với ngành võ. Càng đắc địa (ở Thìn, Tuất, Tý, Ngọ, Dần, Thân Sửu, Mùi, Tỵ và Hợi), công danh càng sáng chói. Thiên Tướng là người đảm đang, tháo vát, có chí khí lớn, nhất là có ý thức công bằng, bình đẳng rất cao, có hoài bão mang trật tự xã hội. Nếu Thiên Tướng đi kèm với Tử Vi ở cung Quan đó là người có tài lãnh đạo, có tài thừa hành, dám làm dám quyết, có khí phách hơn người, có hoài bão cao xa. Tuy nhiên, cặp sao này nói lên tính tự phụ và khuynh hướng á quyền (do sao Tử Vi). Tử Tướng đồng cung có tài và có tham vọng lãnh đạo chỉ huy. Nếu Thiên Tướng được Tướng Quân xung chiếu hay ngược lại thì rất hiển đạt trong võ nghiệp.

Thất Sát: ở Quan là quân nhân, đặc biệt thích hợp với quân nhân cầm binh xuất trận đi tiên phong, nghênh địch ở vùng hỏa tuyến. Sao này không thích hợp với trách nhiệm phòng thủ hậu phương và không đắc dụng ở ngành tham mưu, nhất là hành chính, chính trị. Đi với Hóa Quyền, là loại sĩ quan có binh lính dưới trướng, có khả năng tác chiến cao, lập được nhiều chiến công trên trận địa.

Thiên Phủ: là quyền tinh, chỉ cách làm quan văn đồng thời là nghề liên hệ đến tài chính. Nếu Phủ ở miếu và vượng địa, chức vụ tài chính sẽ cao hơn ở đắc địa. Nếu có thêm phụ tinh tốt, nhất là trợ tinh và tài tinh, đương số có thể là người đứng đầu cơ quan tài chính. Bằng không, sẽ có nghĩa là tiền bạc, giàu có hơn các đồng nghiệp khác.


2. Những chính tinh có nghĩa quan lộc gián tiếp

Vũ Khúc: Đắc quý cách ở Thìn Tuất Sửu Mùi (miếu địa), Dần Thân Tỵ Ngọ (vượng địa) và Mão Dậu (đắc địa). Trong trường hợp này, Vũ chỉ võ nghiệp đặc biệt nếu đi cùng với các sao võ như Tướng, Sát, Phá, Tham. Đi với Văn Khúc thì có tài về cả văn lẫn võ. Vũ là người có chí lớn, có tài thao lược, tính toán giỏi, dám mưu đại sự, lại can đảm, quả cảm. Đây là ngôi sao tham mưu, đánh giặc bằng mưu lược nhiều hơn là bằng binh đao và hỏa lực. Nếu Vũ đi cùng với Tướng hay Sát thì sĩ quan đó kiêm cả tham mưu lẫn tác chiến, và có dũng vừa có mưu. Nếu hãm địa, năng tài của Vũ Khúc bị phai mờ, hoặc kém cỏi, hoặc không có chỗ dụng, hoặc thất bại. Trong trường hợp đơn thủ hoặc đồng cung với Phủ, Vũ Khúc làm quan văn, coi về ngành kinh tế rất đắc dụng. Đó là người có tài kinh doanh mang lợi lộc cho quốc gia, vận dụng tiền bạc giỏi, biết bắt mạch và khai thác cơ hội. Trong bất cứ trường hợp đắc địa nào, Vũ cũng là người có tiền bạc dư dả.

Tham Lang: Trừ phi miếu địa ở Thìn Tuất, Tham Lang tầm thường, có thể nói là bất tài, hám lợi. Ngay trong trường hợp đắc dụng, sĩ quan có Tham Lang ở Quan có nhiều nét xấu: từ hiếu thắng, tự phụ cho đến tính hình thức, ham vui, bê trễ và nhất là lòng tham dưới nhiều khía cạnh. Tuy nhiên, nếu Tham miếu địa đi với Linh hay Hỏa miếu địa thì lại rất hay cho võ nghiệp.

Phá Quân: Quan có Phá miếu (ở Tý, Ngọ), vượng (ở Sửu Mùi), đắc địa (ở Thìn, Tuất) thì can đảm, hoạt động nhưng hiếu thắng, tự kiêu, mưu cơ, gian trá và nhất là bất nhân. Bản chất của Phá Quân ở Quan là không được trung tín, hay lấn lướt người trên. Trong trường hợp hãm địa, quan cách của Phá Quân rất tầm thường, hay gặp tai nạn khó thoát, hay hại người và bị người hại.

Thái Âm: là phú tinh, chỉ điền trạch. Nếu sáng sủa, cũng có quan cách nhưng không rực rỡ bằng Thái Dương. Tuy nhiên, người tuổi Âm, sinh ban đêm, lúc trăng lên có Thái Âm sáng sủa ở Quan thì quý cách rực rỡ hơn người tuổi Dương, sinh ban ngày. Nếu có thêm trợ tinh thì càng sáng lạng: đó là trường hợp người sớm phát đạt, toại ý, vừa có danh, vừa có lợi. Nếu là tuổi Dương, sinh ban ngày thì công danh có ít, lợi lộc nhiều hơn. Thái Âm chỉ cách làm quan văn. Nếu hãm địa, quan cách tầm thường, chậm phát, thường gặp những hoàn cảnh không toại ý, thiếu cơ hội thi thố tài năng. Nếu Âm Dương đồng cung ở Sửu Mùi thì có lộc nhưng không quý hiển. Muốn đắc quý, phải có Tuần, Triệt án ngữ hay Hóa Kỵ đồng cung.

Thiên Đồng: chỉ có ý nghĩa quan lộc nếu đắc địa trở lên. Thông thường, sao này chỉ quan cách nhưng riêng ở Mão thì văn võ kiêm toàn. Đồng chỉ thực sự quý hiển nếu ở cung Tý, cung Dần và cung Thân. Trong mọi trường hợp, Đồng chỉ loại viên chức làm việc lưu động, thường hay đổi công việc, cụ thể như thanh tra, đại sứ, liên lạc viên, giao liên hoặc gặp hoàn cảnh phải đổi nghề, đổi chỗ làm tương đối mau chóng. Nếu đồng cung với Thiên Lương, Đồng rất xuất sắc trong các ngành chính trị, y khoa, sư phạm. Đồng cung với Nguyệt ở Tý, Đồng cũng lỗi lạc. Nếu hãm địa, quan cách nhỏ thấp, thăng giáng thất thường và bất đắc chí trong nghề nghiệp.

Thiên Lương: là cách quan văn. Đắc địa trở lên, Lương là người có tài mưu sĩ, cố vấn, khuyến cáo đường lối chiến lược, chính sách, đặc biệt khi đóng ở Thìn Tuất (đồng cung với Thiên Cơ) hay ở Mão (đồng cung với Thái Dương). Tại những vị trí này, Lương là người hay tìm tòi, hiếu học, có khả năng nghiên cứu và thiết kế các chương trình lớn, rất thích hợp với công việc tham mưu. Nếu có thêm các sao khoa bảng thì công danh rất sáng chói, được ở cạnh chức quyền cao cấp. Nếu Lương ở Sửu Mùi thì quan cách tầm thường còn hãm địa ở Tỵ Hợi thì chức vị càng thấp, tính tình phóng đãng, hay thay đổi chí hướng, ưa phiêu lưu, không toại chí, phải bôn ba lưu lạc, tha phương cầu thực. Trường hợp đồng cung với Nhật ở Dậu cũng có ý nghĩa tương tự.

Cự Môn: Miếu, vượng và đắc địa, sao này chỉ quan văn, đặc biệt là chính trị gia hay luật gia hoặc nhà ngoại giao. Sao này rất thích hợp cho quan tòa, trạng sư, giáo sư, dân biểu, nghị sĩ, những người có học lực uyên bác, năng khiếu hùng biện, thiên về chính trị. Viên chức có Cự Môn sáng sủa thường có hoài bão cải tạo xã hội, có ý chí muốn làm việc lớn, có xu hướng chính trị cấp tiến, muốn thay đổi hoàn cảnh chứ không bảo thủ, chấp nê hiện trạng. Do đó, Cự Môn đắc địa thường là người bất mãn hiện tại, nhưng lại không chịu thúc thủ chờ thời, trái lại muốn đóng góp để tạo thời thế. Chỉ khi nào hãm địa, Cự Môn mới là người bất đắc chí, bất mãn mà bất lực, thường bị tụng ngục, kìm hãm không hoạt động được. Đi chung với Thiên Cơ ở Mão Dậu, đi chung với Thái Dương ở Dần Thân thì quan chức cao, có cả phú lẫn quý cách. Nếu hãm địa ở Tỵ thì quan chức nhỏ, ở Hợi thì có cao vọng, thường bất mãn; ở Thìn Tuất tuy có tài và có chức phận trong hậu vận nhưng thường gặp thị phi, đố kỵ, cạnh tranh, gièm xiểm.

Thiên Cơ: là kỹ năng, kỹ thuật, sự tinh xảo trong ngành chuyên môn, đặc biệt là máy móc. Nghề của Thiên Cơ có thể là kỹ sư, kỹ nghệ. Ngoài ra, Cơ trong bộ Cơ Nguyệt Đồng Lương chỉ nghề công chức, quan lại, cụ thể là ngành y khoa hay dược khoa. Đồng cung với Cự Môn ở Mão Dậu, đồng cung với Thiên Lương ở Thìn Tuất, Thiên Cơ là viên chức tham mưu, giỏi về kế hoạch, chính sách, chiến lược. Tại bất cứ vị trí đắc địa nào, Cơ cũng là viên chức khéo léo, tinh xảo, tinh thục, có lương tâm chức nghiệp cao.


3. Những phụ tinh có ý nghĩa quan lộc:

a. Phụ tinh chỉ quyền uy, chức phận:
Hóa Quyền: biểu tượng cho quyền hành và thế lực, đặc biệt nếu đắc địa ở Thìn, Tuất, Sửu, Mùi. Nếu bình thường hoặc hãm địa (ở Tý, Ngọ, Thân, Dậu, Hợi) thì quyền không cao, không nhiều, không quan trọng, hoặc chỉ có hư quyền hoặc quyền chỉ có trong bóng tối hoặc có thế lực mà không có quyền hoặc quyền tước hàm. Hóa Quyền có nhiều địa hạt: võ quyền, văn quyền, giáo quyền tùy theo cách làm quan nhưng cách nào có Quyền cũng đều hiển hách. Nếu đi với Hóa Kỵ trong bối cảnh cung Quan tốt đẹp thì hai sao này chỉ người có quyền và có mưu, hết sức quyền biến, không ngoan nhưng do có Kỵ nên thường bị người ta e ngại. Nếu đi với Kiếp Không ở Tỵ Hợi, Quyền càng phát nhanh và phát lớn do sự đưa đẩy của thời thế để tạo ra anh hùng nhưng vì có Kiếp Không nên có thể không lâu bền. Thông thường, người có Hóa Quyền hay tự đắc, tự tôn, kiêu căng, lấn lướt, hiếu thắng cho nên sao này tuy có lợi cho công danh nhưng không mấy hay về tính nết. Phải có thêm các sao đức hạnh thì Quyền mới hướng thiện. Nếu gặp hung tinh, vận xấu, Hóa Quyền tác họa cấp kỳ cho đương số. Hóa Quyền ở Quan tượng trưng cho sự tham chính, cho cách làm quan hiển đạt, đặc biệt là khi đi với Khoa và Lộc.

Quốc ấn: chỉ người có chính chức và có quyền vị. ý nghĩa của ấn giống như Quyền nhưng không mạnh bằng. Nếu ấn đi chung với Binh, Hình, Tướng thì võ nghiệp rất vinh hiển: đó là quân nhân có binh, có quyền, có uy. Người có ấn ở Quan là viên chức có công, được thưởng công bằng sự thăng chức, thăng trật, hoặc bằng sắc phong huy chương, tưởng lục. Nếu ấn ở vị trí các cung ban đêm, có thể là sự khen ngợi thông thường, cũng có thể là sự truy tặng (sau khi chết). Dù sao, Quốc ấn ở Quan, Mệnh, Thân là người dễ tiến đạt, được trọng vọng, được ghi công trên đường hoan lộ.

Long, Phượng, Hổ, Cái (tứ linh): là quý cách khá cao, do những biểu tượng đi kèm.

Thanh Long, Long Đức ở Thìn: tượng trưng cho quyền tước, tài năng được dùng đúng chỗ.

Phong Cáo, Thai Phụ, Đường Phù: chỉ bằng sắc, công trạng, huy chương, quyền hành nhưng không mạnh bằng Quyền hay ấn. Đường Phù có nghĩa kém nhất.

Tiền Cái hậu Mã: cung Quan trước giáp Hoa Cái sau giáp Thiên Mã là một biểu tượng của quyền uy, có lọng (Cái), có ngựa (Mã) theo chầu. Duy cách này nên đóng ở cung ban ngày mới rạng.

Quan Đới: biểu tượng cho chức vị, quyền hành (là cái đai). Chức quyền có thể cao.

Bạch Hổ, Tấu Thư: hai sao này họp thành cách hổi đội hòm sắt, cũng khá tốt cho công danh. Ngụ ý được tín nhiệm, trọng dụng, nhất là đồng cung và ở cung Dần (hổ cư hổ vị).

Bạch Hổ, Phi Liêm ở Dần: chỉ công danh thăng tiến dễ dàng, nhất là ngành võ.

Tướng Quân: chỉ cách làm quan võ có cầm quân nhưng thuộc loại thấp, chỉ huy đơn vị nhỏ. Nếu đi cùng với Thiên Tướng là võ quan cao cấp và có nắm quyền chỉ huy. Cách quan của Tướng Quân tuy có can đảm, hiên ngang nhưng táo bạo, có tinh thần sứ quân, tự tôn, tự phụ, sử dụng binh quyền đôi khi sai mục đích nên Tướng Quân gặp sao xấu dễ bị nguy kịch. Đi với cát tinh, Tướng Quân rất đắc dụng: đó là viên chức hay quân nhân rất tháo vát, có tinh thần xung phong, tình nguyện làm việc khó, có sáng kiến, đôi khi có quá nhiều sáng kiến nên đi sai lệch đường lối ở trên. Đi với Thiên Tướng, nhất là ở thế xung chiếu thì rất hiển hách trong binh nghiệp.

b. Phụ tinh chỉ tài năng tổng quát:
Thiên Mã: ngụ ý tháo vát, may mắn, đa năng, thao lược, xông pha. Người có Thiên Mã ở Quan hay Mệnh thường nhậm lẹ, lanh lợi, lăn lóc, từng trải nên đa hiệu, đa nhiệm. Đây là bộ sao rất cần cho công danh, rất lợi và rất hợp với các công việc có tính lưu động. Vì đa hiệu, Mã là sao có rất nhiều phối cách rất hay với một số phụ tinh khác để làm cho năng tài đắc dụng hơn. Ví dụ như cách Mã Tử Phủ, Mã Nhật Nguyệt, Mã Lộc Tồn, Mã Hỏa hay Linh, Mã Tướng, Mã Khốc Khách. Mặt khác, cách hay trên còn tùy vị trí của Thiên Mã. Nếu ở Dần (Mộc) và Tỵ (Hỏa) thì tốt đẹp thêm, ở Thân (Kim) thì vất vả, còn ở Hợi (Thủy) thì lu mờ. Tốt khi Mã ở Dần (Mộc) mà Bản Mệnh thuộc Mộc, Mã ở Tỵ (Hỏa) với Hỏa Mệnh, Mã ở Thân (Kim) với Kim Mệnh, Mã ở Hợi với (Thủy Mệnh). Bao giờ gặp nghịch khắc giữa hai hành thì kém hoặc xấu: tài năng sút kém, trở ngại gia tăng, công danh không rạng.

Lộc Tồn: chỉ tài năng, đặc biệt là tài tổ chức, tài thích ứng với hoàn cảnh. Lộc Tồn có nhiều sáng kiến, biết tùy theo nhu cầu mà quyền biến, xử sự tùy hoàn cảnh, lúc cương lúc nhu, một cách chừng mực. Đi với Thiên Mã, Lộc Tồn là người khai sơn phá thạch, mở đường cho kẻ khác đi theo, rất đắc dụng trong các trách nhiệm tiền phong, khai quang an vị, tổ chức cơ sở. Đặc biệt, sao này chỉ về tiền bạc nên rất lợi cho nhà kinh doanh khai thác tài nguyên kinh tế, tổ chức nền móng sản xuất. Đi với Hóa Lộc, Lộc Tồn chuyên đoán, có óc lãnh tụ, độc quyền và tập quyền. Gặp Tuần, Triệt hay sát tinh đồng cung, Lộc Tồn mất nhiều cơ hội hoạt động, bị khiếm dụng, bị dùng phí phạm, bị dùng không đúng chỗ, tài năng bị tiêu mòn hoặc bị dùng vào việc sái đạo đức. Trong lãnh vực tài chính, sao này chỉ sự tiết kiệm, xài kỹ, xài có quy tắc, sự chắt mót, giữ của, có lợi cho các chức vụ quản trị ngân sách.

Thiên Khôi, Thiên Việt: Miễn là đừng gặp Tuần, Triệt hay Hóa Kỵ, Khôi Việt chỉ năng tài xuất chúng, uy tín và hậu thuẫn, phần lớn nhờ ở tài văn học, mô phạm, tính tình cao thượng, thanh khiết, tinh thần cạnh tranh và thi đua.

Bạch Hổ, Tang Môn đắc địa ở Dần: chỉ sự tài giỏi, quyền biến, thao lược, ứng phó được nhiều nghịch cảnh, đồng thời cũng có khả năng xét đoán, lý luận, hùng biện phù hợp với các chức vị chính trị, ngoại giao, tư pháp, sư phạm. Ngoài ra Tang Hổ đắc địa còn có khả năng về võ, có khí phách lãnh đạo, chỉ huy nhất là khi được sao võ đi kèm. Do đó, Tang Hổ đặc biệt là Hổ có nhiều phối cách rất hay với Tấu Thư, với Phi Liêm, với Long Phượng Cái, với Kình Hình. Với Tấu Thư, Bạch Hổ chỉ năng tài hùng biện rất khích động, xuất sắc về tâm lý chiến, vận động quần chúng. Với Phi Liêm, Bạch Hổ rất tháo vát, lanh lợi như Thiên Mã lại được thời cơ thuận lợi. Với Kình hay Hình, Bạch Hổ có chí khí, mưu lược cả văn lẫn võ. Với Long Phượng Cái, Bạch Hổ chỉ sự hiển đạt về uy danh, sự nghiệp, khoa giáp.

Thiên Khốc, Thiên Hư đắc địa ở Tý, Ngọ: chỉ người có chí lớn, có văn tài hùng biện cùng năng khiếu hoạt động chính trị, đặc biệt là về hậu vận. Khốc Hình Mã thì hiển đạt võ nghiệp, nhất là ở Dần và Tỵ. Khốc Hư Sát hay Phá đắc địa thì có quyền cao chức trọng, uy danh lừng lẫy, được thiên hạ nể phục.

c. Phụ tinh chỉ thời thế, hoàn cảnh:
Ân Quang, Thiên Quý: Đóng ở Mệnh, Quan, Thân, Di viên chức được tín nhiệm, trong dụng nâng đỡ, che chở của người trên. Ngoài ra, Quang Quý có nghĩa là viên chức đó trung tín, hết lòng, có lương tâm chức nghiệp, xứng đáng với sự tín nhiệm của thượng cấp dành cho. Quang Quý có nghĩa gặp nhiều dịp may trong hoạn lộ, cụ thể như được thời thế thích hợp, được sử dụng đúng năng khiếu, làm việc vừa ý, được hạnh phúc trong nghề nghiệp.

Thanh Long, Lưu Hà hay Hóa Kỵ đồng cung: có vận may tốt, cơ may lớn để ra làm quan, không cần cầu cạnh và lúc ra làm quan thì đắc dụng, đắc thời theo ba ý nghĩa nêu trên của Quang Quý. Ngoài ra, Thanh Long gặp Long Đức ở Thìn cũng rất tốt đẹp vì rồng đóng ở cung Thìn chỉ đắc danh, đắc lộc mà không cần cầu cạnh, được nhiều may mắn trên hoạn lộ.

Tràng Sinh, Đế Vượng: chỉ sự phong phú; áp dụng vào quan trường, công danh sẽ dồi dào, năng tài đa diện trong nhiều lĩnh vực, chức quyền tương đối cao. Người có Sinh, Vượng ở Quan có nhiều sáng kiến trong công vụ, được giao phó nhiều trách nhiệm, dễ thăng tiến.

Thiên Mã, Tràng Sinh: gặp vận hội tốt, có ý nghĩa giống như hai bộ sao Thanh Long Hóa Kỵ và Thanh Long Lưu Hà. Cách này có ý nghĩa tiền bạc, cụ thể là đắc lợi trong quan trường. Nếu ở cung Hợi thì kém hay.

Phi Liêm, Bạch Hổ: gọi là hổ mọc cánh, rất tốt ở cung Dần, tượng trưng cho thời vận đang lên, sự may mắn đặc biệt, sự thăng chức, thăng cấp dễ dàng.

Đào Hoa, Hồng Loan: ở Quan, Đào Hoa và Hồng Loan rất hợp cách: chỉ làm quan lúc tuổi trẻ, tuổi trẻ tài cao, công danh tảo đạt, nhẹ bước thang mây, không phải bôn ba cầu cạnh.

d. Phụ tinh chỉ nhân sự trợ giúp:
Tả Phù, Hữu Bật: chủ sự giúp đỡ của người đời, đặc biệt là đồng sự, đồng song. Người có Tả Hữu ở Quan có tài giao tế nhân sự, có đức tính khéo léo thu được thiện cảm của người trên, có sự mềm mỏng cần thiết để được người ngang hàng cộng lực. Ngoài ra, cũng có nghĩa là quyền tước hiển vinh, nhờ có nhiều người phục tùng. Tả thuộc văn tinh nên hợp với Tử Phủ, Hữu chiếu vào Tử Phủ thì tốt hơn đồng cung. Trong cả hai trường hợp, Tả Hữu không nên đi chung với sát tinh. Tả Hữu còn có nghĩa là đa nghệ, là hệ số của tài năng, của quyền hành.

Thiên Quan, Thiên Phúc: chỉ sự giúp đỡ của ân nhân, bạn bè, cảm tình viên, cổ động viên ...

Tướng Quân, Phá Quân, Phục Binh: nếu cung Quan có Thiên Tướng mà được thêm ba sao này hội tụ thì sẽ tăng thêm uy quyền cho Thiên Tướng có có nghĩa như tướng có quân, cầm quân.

Thiên Mã, Tràng Sinh, Đế Vượng: là bộ sao phụ tùy cho quan cách.

Binh, Hình, Tướng, ấn: chỉ cộng sự đắc lực và có quyền, trợ uy cho võ cách.

Ân Quang, Thiên Quý: chỉ ân sủng của thượng cấp và sự hậu thuẫn trung kiên và lâu bền của thuộc hạ.


4. Sát, hung tinh trong quan cách:

a. Những loại võ cách:
Hung sát tinh đắc địa gặp Sát Phá Liêm Tham đắc địa hay Vũ Tướng đắc địa: báo hiệu sự hiển đạt của võ nghiệp trong thời loạn, nhờ đức tính táo bạo, mạo hiểm, bất khuất trong những hoàn cảnh hết sức khó khăn. Bộ sao này có cả phú lẫn quý, tức là vừa có danh vừa có lợi. Nhưng công danh không được lâu bền, phát nhanh nhưng cũng tàn lẹ. Gặp bộ Vũ Tướng đắc địa thì toàn mỹ về cả công danh lẫn tiền bạc trong suốt thời gian sinh tiền, không bị ảnh hưởng của sự thăng trầm, hoạch phá. Nếu hai bộ này hãm địa, sát tinh dù có đắc địa cũng không quân bình được bất lợi: công danh nhỏ, chức vụ thấp, thăng giáng thất thường.

Hung sát tinh hãm gặp Sát Phá Liêm Tham hãm hoặc Vũ Tướng hãm: giảm chế công danh khiến quân nhân khó thăng tiến, trở thành bất đắc chí, càng tung hoành càng gặp hung họa lớn lao. Nếu bốn sao chính mà sáng sủa thì quan cách tương đối cao hơn, nhưng thiếu thuộc hạ đắc lực vì hung sát tinh hãm địa, thậm chí còn gây họa cho chính mình. Gặp Vũ Tướng hãm địa thì cũng dưới mức trung bình và gặp nhiều hung họa. Trái lại nếu Vũ Tướng đắc địa thì rất hay: chẳng những có uy danh mà còn khắc phục được trở ngại và những âm mưu bất chính của đối thủ.

b. Hung sát tinh với Tử Phủ Cự Nhật và Cơ Nguyệt Đồng Lương (văn cách): văn cách trong mỗi bộ sao này phải né tránh sát tinh thì mới hiển đạt. Gặp sát tinh, quan trường phải cạnh tranh, đối chọi, đấu trí, gian nan, chưa kể những hung họa hiểm nghèo khả hữu. Để thắng những sát tinh đó thì mỗi sao trong bộ phải đắc địa trở lên. Nếu chính tinh trong mỗi bộ sao mà hãm địa nốt thì quan cách chẳng những không ra gì mà còn gặp nhiều hiểm nguy đến bổn mạng.

c. Đặc điểm của hung sát tinh trong võ cách:
Địa Không, Địa Kiếp: chỉ khi nào đắc địa mới lợi cho công danh trong khuôn khổ võ cách. Không Kiếp giúp bộc phát rất nhanh, đặc biệt là trong thời loạn. Dù sao, võ nghiệp của Không Kiếp hết sức cực nhọc, khó khăn và nguy hiểm, phải đương đầu với nhiều địch thủ lợi hại trong môi trường đầy nguy hiểm. Tuy nhiên, Kiếp Không dù đắc địa cũng thăng trầm, chỉ giúp võ nghiệp hiển đạt một thời mà thôi. Trong giai đoạn hiển đạt, nếu Kiếp Không đắc địa được trợ lực bởi các sao khác, cụ thể như Tướng Quân, Thiên Mã hay Binh, Hình, Tướng, ấn thì quan cách thêm hiển hách. Thiếu những trợ tinh này, Kiếp Không đắc địa chỉ một tài năng cô độc. Mặc dù Kiếp Không đắc địa tương hợp với cách Sát Phá Liêm Tham đắc địa nhưng sự hoạnh phát không tránh được cảnh hoạnh tán: con người tuy có võ chức cao, có thành công lớn nhưng vẫn dễ bị phá sản trong một giai đoạn nào đó. Chỉ trừ phi đi chung với Vũ Tướng đắc địa thì quan toàn mỹ (rất hiếm). Nếu hãm địa, Kiếp Không chẳng những vất vả gian truân mà còn bất đắc chí và thường gặp hung sự hiểm nghèo, có hại đến tính mệnh hoặc bị bệnh tật nặng nề, tai họa về binh lửa. Có ba biệt lệ tốt đẹp cho trường hợp hãm địa: i) Không Kiếp hãm đi chung với Vũ Tướng đắc địa: trở lực nhiều nhưng con người khắc phục được, có công danh sự nghiệp lớn; ii) Không Kiếp hãm gặp Tử Phủ sáng sủa, Cự Nhật hay Cơ Nguyệt Đồng Lương đắc địa: tài quan tuy lớn lao nhưng có nhiều bất trắc, vất vả, gian truân, chỉ được sự hậu thuẫn của người trên mà ít được sự trợ giúp của kẻ dưới; iii) Không Kiếp hãm gặp Sát Phá Liêm Tham đắc địa: công danh cao nhưng người còn bất đắc chí, được người trên giúp đỡ nhưng thiếu nhân sự ở dưới trợ lực, phần lớn hạ cấp đều bất tài, tham nhũng, sát chủ.

Kình Dương, Đà La: chỉ hay khi hai sao này miếu địa: Kình ở Thìn Tuất Sửu Mùi, Đà thì đắc địa thêm ở Tý và Hợi. Kình Đà nếu đắc địa thì cương nghị, quả cảm, khí phách, cơ mưu, thủ đoạn, có tinh thần bất khuất, có tài và đắc dụng. Nếu được thêm Hỏa, Linh đắc địa hội tụ thì rất khét tiếng trong binh nghiệp, có khả năng chế phục địch quân. Được Tướng Quân, Thiên Mã, Khoa, Quyền, Lộc thì quan cách hết sức lẫy lừng, thường bách chiến bách thắng. Nếu gặp hung tinh như Không, Kiếp, Hình, Kỵ thì cũng tài giỏi nhưng phải gặp nhiều thăng trầm, hung họa lớn lao, chết thảm. Nếu hãm địa, Kình Đà là người rất bướng bỉnh, ngoan cố, ngỗ ngược, liều lĩnh và gian trá do đó tai họa dễ xảy đến từ hình tù cho đến thương phế và chết thảm. Kình Đà hãm ở Quan tượng trưng cho trở lực, khó khăn gặp phải, sự gian nan cơ cực và hiểm nghèo của công tác, có làm mà không được hưởng, chung quy dễ gặp nạn. Riêng sao Kình ở Ngọ thì rất hung hiểm, dễ chết bất đắc, trừ phi được cát tinh như Tướng, Mã, Khoa, Quyền, Lộc hội tụ mới hiển đạt. Nếu Kình (đắc hay hãm địa) đi chung với Lực Sỹ thì người đó khó tiến đạt, bị bỏ quên, bị đè nén. Đắc địa thì có tài mà không được biết hoặc biết mà không được dùng hoặc được dùng mà bị kiềm tỏa. Hãm địa thì là hạng vô dụng, bị bỏ xó, ngồi chơi xơi nước. Riêng Đà La ở Dần Thân, vô chính diệu thì đắc cách quý hiển cả về văn lẫn võ. Nếu bị Tuần Triệt án ngữ thì sẽ mất hết cái hay. Trong mọi trường hợp Kình Đà hãm địa mà bị thêm sát tinh khác hãm địa đi kèm thì hung họa, cơ cực không sao kể xiết: nghèo thì trộm cướp, hình tù, khá thì bất nhân bất nghĩa, thông thường thì yểu vong và chết không toàn thây.

Hỏa Tinh, Linh Tinh: Tính tình Hỏa Linh giống như Kình Đà. Nếu đắc địa (ở những cung ban ngày), nhất là hội với Tham miếu địa, đều có tài năng, có chí khí, có uy danh và thường hiển đạt trong binh nghiệp. Nếu hãm địa thì công danh trắc trở, chậm lụt nhất là hay gặp tai nạn, thường phải bôn ba đâu đó. Có hai biệt lệ của Hỏa Linh hãm địa sau: ở Sửu Mùi có Tham Vũ Việt đồng cung t hì võ cách hết sức hiển hách nhất là về hậu vận nhưng kỵ hai sao Không Kiếp sẽ làm phá tán hết cái hay; ở Hợi, đồng cung với Tuyệt có Tham Hình hội chiếu cũng rất vang danh trong binh nghiệp.

Kiếp Sát: chỉ sự đa sát, chém giết, gieo họa, hay xuống tay mạnh, thường dùng biện pháp cứng rắn, cực đoan lúc xử thế, nóng tính, không chịu nổi những sự bất bằng, hay tầm thù. Kiếp Sát là người lợi hại và nguy hiểm, có thể ví như hung đồ nên nếu ở Quan dễ gặp ha và có nhiều kẻ thù. Đi với các sao hung khác rất dễ thành phiến loạn, cướp của giết người, bất lương, vô loại.

Thiên Không: rất kỵ cung Quan lộc vì tượng trưng cho sự cản trở. Có Thiên không, khó thăng tiến, chậm thăng, thăng chật vật, thăng không cao, bị đè nén, kìm chế trong hoạn lộ. Thiên Không ở Quan là người bất mãn, hay làm hỏng việc, giữ chức vụ gì lớn không bền vững, lên thì chậm, xuống thì nhanh, quan trường hay bị đó kỵ, ganh ghét và chính đương số cũng có bụng tiểu nhân, ganh hiềm, đâm thọt, xuyên tạc, phá phách, gây chia rẽ, ly gián.

Phục Binh: ở Quan, sao này chỉ sự đố kỵ, hãm hại bằng thủ đoạn ngầm, có khi đi đến chỗ phục kích, ám sát để loại trừ địch thủ. Phục Binh có thể hoặc là nạn nhân của bọn tiểu nhân, hoặc chính mình là tiểu nhân, hoặc vừa là nạn nhân vừa là tiểu nhân, do sự trả đũa qua lại.

Hóa Kỵ: trước hết có nghĩa đố kỵ, ganh tỵ, thấy người hơn mình thì không thích. Thủ đoạn của Hóa Kỵ cũng bí mật, lén lút, thường là dùng miệng lưỡi để gièm pha, chỉ trích xuyên tạc, vu khống. Do đó, Hóa Kỵ ở Quan tượng trưng cho thị phi, khẩu thiệt, vạ miệng. Mặt khác, Hóa Kỵ hãm địa có nghĩa là nông nổi, xu thời, thiếu lập trường, ai mạnh thì theo, dễ bỏ bạn bè để theo danh lợi. Trong trường hợp đắc địa (ở Thìn, Tuất, Sửu và Mùi) thì là người có khuynh hướng cách mạng, muốn thay cũ đổi mới, ý nghĩa tương đối hướng thượng, quan cách dễ thành công nếu được cát tinh hỗ trợ.

Thiên Hình: đắc địa ở Dần, Thân, Mão, Dậu. Thiên Hình chuyên về quân sự, có dũng khí, có uy phong, có tài cầm binh, thiên về sát phạt. Nếu là quan văn thường là thẩm phán, trạng sư, có năng khiếu luật pháp, xét xử công minh. Nếu thêm Thiên Y đi kèm, có thể là bác sĩ giải phẫu, châm cứu. Thiên Hình là người nóng tính, khắt khe, cương nghị, làm việc theo nguyên tắc, không chấp nhận trái lệ, trái luật, có tinh thần liêm chính, công bình, có tinh thần chu đáo, tinh vi, kỹ lưỡng, hay chú ý đến chi tiết. Quân nhân có Thiên Hình đắc địa ở Quan thường rất mực thước, vô tư, ngay thẳng, có lương tâm chức nghiệp, có bản lĩnh hành xử trách nhiệm một cách khả quan. Đi với Binh, Tướng, ấn thì là võ cách tham mưu, có uy dũng và mưu lược, thường được giao phó trọng trách. Nếu Hình hãm địa thì quan cách hay gặp hung sự, tụng ngục, bị điều tra, bị tố cáo. Gặp Tuần, Triệt án ngữ thì có thể bị giáng chức, cách chức, ở tù, bị kiện.


5. Tuần, Triệt ở cung Quan:

Thông thường, Tuần Triệt là sao phá, đóng ở cung nào thì gây trở ngại cho cung đó: ở Mệnh, thì thiếu thời lận đận, ở Thân thì trắc trở, gian truân; ở Phu Thê thì hỏng một duyên nợ; ở Tử thì hao con; ở Tài thì kém tiền bạc. Chỉ có Tật, Tuần Triệt phá tán bệnh tật, họa, tạo sức khỏe cho đương số.

Vì vậy, Tuần Triệt đóng ở Quan tiên quyết gây trục trặc cho quan trường, thể hiện dưới nhiều hình thái: hoặc chậm công danh; hoặc công danh phải lận đận, chật vật; hoặc công danh không mấy cao, thăng giáng thất thường; hoặc không bền vững. Nếu gặp Triệt, cong danh chậm phát lúc thiếu thời, chỉ về già mới hanh thông. Nếu gặp Tuần, sự trục trặc có tính cách triền miên, tuy không nặng như Triệt nhưng kéo dài suốt đời.

a. Trường hợp cung Quan có chính tinh:
Nếu chính tinh sáng sủa, Tuần Triệt làm cho bớt sáng, có thể trở thành tối. Do đó, công danh có thể bị trở ngại, hoặc chậm phát hoặc trục trặc, hoặc không lâu bền, hoặc có nhiều hung sự xảy ra, có thể là mất chức, mất quyền, bị thay đổi, bằng không thì cũng bất toại, hay gặp những sự bực mình, bất mãn, tài năng không thi thố được. Nếu tại Quan mà có Thiên Tướng hay Tướng Quân thì càng bất lợi: vào công quyền ắt phải có lần mất chức, bị cách chức. Tuy nhiên, có hai chế giảm cho cung Quan bị Triệt, Tuần: i) cung Quan có Sát Phá Liêm Tham hay bại tinh sáng sủa gặp Tuần Triệt thì tương đối bền vững, chức vụ tương đối cao, không đến nỗi phải lụn bại, thăng trầm. Những sao Tử Phủ, Cự Nhật, Cơ Nguyệt-Đồng Lương đi với sao sáng sủa khác gặp Tuần Triệt thì công danh thất thường, không bền, gặp hung sự; ii) cung Quan ở Sửu, Mùi có Âm Dương tọa thủ đồng cung: quan lộc được rực rỡ, đặc biệt là về sau vì tại Sửu Mùi, Âm Dương tương đối xấu, gặp Tuần, Triệt thì sáng lại và tại Sửu Mùi vốn là âm cung nên tốt cho hậu vận.
Nếu chính tinh ở Quan mà hãm địa, Tuần Triệt phục hồi sức sáng cho chính tinh, công danh sẽ quý hiển nhưng không tránh khỏi trắc trở: quan trường chỉ phát lúc hậu vận. Đặc biệt nếu Sát Phá Liêm Tham hay bại tinh hãm địa gặp Tuần Triệt đồng cung thì lại phát nhanh và mạnh hơn những bộ sao khác hãm địa. Duy đối với Thiên Tướng, dù đắc hay hãm địa, Tuần Triệt bao giờ cũng gây thảm tử, như quân nhân chết trận, viên chức bị cách, giáng.

b. Trường hợp cung Quan vô chính diệu:
Cung Quan vô chính diệu, dù được chính tinh đối diện sáng sủa chiếu vào, quan lộc cũng không toàn mỹ (công danh tầm thường, chức vị không mấy cao) huống hồ gặp chính tinh đối diện hãm địa. Duy có hai biệt lệ quan trọng làm khởi sắc cho cung Quan vô chính diệu:

Cung Quan có Tuần hoặc Triệt án ngữ: cách này nói chung không hoàn hảo nhưng cũng đỡ xấu. Quan trường tuy nhiều trở ngại nhưng vẫn có thể hiển đạt trong vãn vận. Nếu tảo đạt và phát nhanh thì lại sớm tàn và hoạnh tán.

Cung Quan được Nhật Nguyệt cùng sáng sủa hợp chiếu hay xung chiếu: cách này trở thành đắc lợi nhờ ánh sáng phối hợp của hai nguồn năng lực Nhật Nguyệt: công danh sáng lạn, chức vụ lớn, quyền hành cao, có triển vọng đắc phú, tóm lại vừa giàu vừa sang. Nếu cung Quan có Tuần hay Triệt trấn thủ tại đó thì phú quý sẽ tăng tiến nhiều hơn nữa.

(sưu tầm)  

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Cách quý: Những sao làm Quan

Dự Đoán Cầu Tài

Tài làm dụng thần Cần phân biệt 2 loại hình dự báo cầu tài: - Dự đoán tài vận của con người; - Dự báo cầu tài trong kinh doanh.
Dự Đoán Cầu Tài

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

10 – DỰ ĐOÁN CẦU TÀI   Tài làm dụng thần Cần phân biệt 2 loại hình dự báo cầu tài: -         Dự đoán tài vận của con người; -         Dự báo cầu tài trong kinh doanh.     10.1 Dự báo tài vận của con người. -         Cần có tài vượng, tử vượng, tử là nguồn tài, thổ cũng là nguồn tài. Các tiêu chí dự đoán: -         Tài sinh T thì suốt đời được tài, nhưng T phải có tử sinh trợ. -         Tài hưu bị T khắc thì không có tài, cầu tài không lợi. Ngược lại tài khắc T là của tìm đến mình, cầu tài là được. -         Tài quá vượng, tài lâm nguyệt lại được hào động sinh là tài tinh, sẽ được nhiều tài. Hoặc tài động biến thành tài, nhật kiến là tài chồng chất, cầu được tài, nhưng phải chờ ngày tài vào mộ thì tài mới đến tay. -         Tài trì T hoặc quan trì T là được tài. Tài sinh thế là tượng dễ được của. -         Tài trì T, sinh T, hợp T, khắc T đều là của tìm đến mình, cầu là được. -         Tài vương T vượng  thì rất tốt. T hưu tù mà tài lâm vượng địa thì vẫn được tài. -         T yên tĩnh mà được tài sinh thì dễ được tài. -         Tài yên tĩnh, gặp ngày xung hào tài thì sẽ được tài. -         Tử vượng tướng, động mà hợp tài, sinh tài thì có tài. -         Tử lâm nguyệt kiến nhật thần, tử động mà tương hợp tương sinh với tài thì cầu được tài. -         Tử gặp thanh long sinh tài, hợp tài, T vượng địa thì vận hanh thông. -         Tử động sinh tài, động hóa tài, tài động hóa tử thì tài dồi dào. -         Tử động biến hồi đầu khắc gặp bạch hổ thì đề phòng tai nạn. nếu là tử trì T thì ta không sao nhưng người nhà sẽ bị. -         Tử bị tổn thương thì không có tài. -         Quan hóa tài thì lợi cho cơ quan. -         Quan phát động hợp T thì mãn ý. -         Quan hóa tài mà khắc T là được tài. Ngược lại, tài hóa quan mà khắc T thì rất xấu. -         Huynh động sinh Tử thì tài nhiều và vững chắc. -         Huynh động là kìm hãm tài. nếu có quan động để kiềm chế huynh thì vẫn có tài. Nếu huynh lâm mộ thì đến ngày nhập mộ sẽ có tài. -         Huynh động khắc tài, nhưng huynh bị nhật phá, nguyệt phá thì không khắc được tài. -         Huynh lâm thái tuế thì cả năm hao tài. huynh động lâm thái tuế lại càng xấu. -         Phụ hóa tài thì được tài, nhưng gian khổ vì phụ là thần gian khổ. -         Phụ + huynh vượng khí gặp tài tuyệt địa thì không nên cầu tài. -         T ở vượng địa thì có thể làm ra tài. -         T, tài, tử hợp thành tài cục hoặc tử cục sinh thế thì nhiều tài. -         Gặp quẻ lục hợp, tài vượng tướng hoặc T tương hợp với tài thì có tài lớn. -         Nhật khắc tài thì ra khỏi ngày đó sẽ được tài. -         Quẻ lục hợp biến thành lục xung, T bị nhật nguyệt phá thì không có tài. -         Không có hào tài và hào tử tôn thì không có tài. -         Gặp quẻ lục xung mà dụng thần bị khắc thì không có tài, lại còn đề phòng tai nạn. T + Ư tuần không thì cầu không được tài. -         Gặp quẻ lục hợp mà tài bị nhật nguyệt xung thì bị phá tài ( trước hợp sau tan).     10.2 Dự báo trong kinh doanh. Quy Ước: T = ta Ư = người hoặc kế toán, khách hàng T,Ư tương sinh tương hợp tương hòa thì mới tốt.     Những tiêu chí dự đoán: -         Ư sinh T là mình lợi -         T sinh Ư là người lợi -         T khắc Ư là người khác làm theo ý mình -         Ư khắc T là mình bị lừa dối -         Ư lâm huynh, huyền vũ: bị mất trộm. -         Ư lâm T, quan: tai họa: ( thin thổ quan- ư – tỵ hỏa H- T) -         T lâm tài và Ư lâm tử là tượng người khác hà hiếp mình. Ư = T đều tuần không thì chủ và khách lừa dối nhau. -         Ư sinh T thì giao dịch dễ dàng. -         T = Ư tương xung tương khắc thì bạn cũ cũng thành thù. -         Gặp quẻ lục hợp, hoặc T hợp tài, tử thành hợp cục thì hưng vượng. Lục hợp biến thành lục xung thì trước tốt sau tiêu điều. -         Gặp quẻ phản ngâm (quẻ biến có hành khắc quẻ chủ) thì nên đóng cửa hàng. -         Tài trì T là phồn vinh, tài khắc T thì sẽ được lời. -         Tài là vốn, tử là nguồn, cả 2 vượng thì tài hưng thịnh. -         Tài hóa tiến là giá sẽ lên cao; hóa thoái là giá sẽ xuống thấp -         Tài suy hóa thành vượng thì tương lai giá sẽ lên cao. Tài vượng thành suy, tuyệt thì hãy bán mau và ngừng mua vào. -         Tài vượng: nên bán thật mau; T suy: giữ hàng và mua chậm lại. -         Hào tài ở quẻ nội suy, hoặc hào tài ở quẻ ngoại vượng sinh hợp T thì nên đi nơi khác cầu tài. -         Tài tĩnh thì mới nên tích hàng. T , tài động thì nên bán hàng. -         Tài suy, mộ, không, phá, động mà biến hung, hoặc bị nhật nguyệt hình xung khắc hại, lại thêm T và tài đều tuần không thì không thể mở cửa hàng. -         Quan động thì hay gặp cãi cọ. quan khắc thì tai họa liên tiếp. -         Quan trì T động hồi đầu khắc, lại bị nhật khắc T thì đề phòng bị bệnh ( vào tháng nào T lâm mộ). -         Quan khắc t thì đáng sợ cho buôn bán, quan lâm huyền vũ lại khắc T thì bị quan quyền bắt hoặc bị cướp. -         Huynh động là đáng sợ, sẽ thua thiệt. huynh dương thì thì không được lâu. -         T, Ư lâm huynh phát động là không tốt. hoặc nhật nguyệt lâm tài để xung khắc T thì tốt.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Dự Đoán Cầu Tài

Vì sao hầu hết chung cư Hà Nội “thiếu” tầng 13?

Các tầng 13 ở những tòa nhà chung cư mới xây dựng hiện nay được chủ đầu tư đánh số tầng là 12B, còn tầng 12 sẽ là 12A, hoặc vẫn để tầng 12 và đánh tầng 13 là tầng 12A. Một số dự án ở Linh Đàm (Hoàng Mai), Hà Đông, Cầu Giấy... căn hộ ở tầng 13 thường có giá rẻ hơn các tầng khác khoảng 500.000 đồng/m2.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Người bán, kẻ mua đều tránh

Khảo sát của PV Báo GĐ&XH cho thấy, ở nhiều dự án, tầng 13 lại có vị trí tốt, đẹp và giá bán rẻ. Đại diện Công ty CP Đầu tư Dầu khí Toàn Cầu (GP-Invest), chủ đầu tư của nhiều dự án chung cư tại Hà Nội lý giải về việc tránh đánh số tầng 13 như sau: “Tâm lý người Việt Nam thường duy tâm nhất định về các con số. Số nhà, số xe ô tô… đều phải là số tốt để đem lại may mắn hơn trong cuộc sống. Vì thế, khi bỏ tiền ra mua nhà để ở, là nơi sẽ gắn bó với người ta cả đời nên việc chọn tầng rất quan trọng, dù chiều cao thực tế có là tầng 13 nhưng chủ đầu tư vẫn phải đánh số khác đi như tầng 12A, 12B… để người mua phần nào yên tâm hơn”.

Còn tại sàn giao dịch ở Mường Thanh, Linh Đàm, quận Hoàng Mai, các khách hàng đều chung quan điểm rằng, dù đánh số khác đi nhưng khi họ lựa chọn mua căn hộ không vội chọn tầng 13 nếu còn sự lựa chọn khác. Trường hợp  dự án bán gần hết, nhu cầu buộc phải mua thì họ mới xem xét.

Anh Hoàng Trung Mỹ quê ở Quỳnh Lưu, Nghệ An khi mua căn hộ tại khu chung cư HH4, Linh Đàm, quận Hoàng Mai cho biết: “Khi chọn căn tầng 13, tôi được người nhà lưu ý vấn đề phong thủy, kiêng kỵ. Tuy giá có rẻ hơn nhưng để không áy náy sau này, tôi đã chọn mua tầng 4. Thực tế khi chọn mua căn hộ điều mà người mua nhà tốt nhất nên quan tâm hiện này đó là vị trí dự án có thuận tiện đi lại, phù hợp với cả gia đình hay không? Cùng với đó, là chất lượng dự án, các tiện ích phục vụ cuộc sống. Bên cạnh đó, uy tín của chủ dự án và giá cả căn hộ cũng là những vấn đề người mua nhà nên quan tâm hơn. Thường khi mua chung cư, điều quan trọng về phong thủy là người mua quan tâm đến hướng của cả tòa nhà và hướng căn hộ chọn mua hợp theo mệnh của mình là tốt nhất. Những tiêu chí đó cộng thêm được ở những tầng 6, 8, 10 là hài lòng nhất”.

Chia sẻ với chúng tôi từ thực tế bán hàng, chị Hà ở sàn Mường Thanh cho hay: Người mua chung cư thường có nhiều đối tượng khách hàng khác nhau, có người thì quan tâm đến vị trí và giá cả của dự án hơn là đến số tầng, nhưng cũng có khách quan tâm đến căn hộ đó có hướng hợp với tuổi, mệnh của mình không. “Những tầng 7 hay 13 hầu như các khách hàng đều không ưu tiên chọn khi tìm mua nhà tại bất kỳ dự án nào, họ thường quan tâm đến những tầng cao hơn. Nhiều dự án bán căn hộ tầng 13 với giá thấp hơn các tầng khác vài trăm ngàn đồng mỗi mét vuông nên các căn hộ ở tầng 13 vẫn có những người có nhu cầu chọn lựa. Bởi với những đối tượng này họ tính nếu mua sẽ tiết kiệm được vài chục triệu đồng so với căn hộ cùng diện tích ở tầng khác, số tiền này có thể dùng đầu tư vào phần nội thất”, chị Hà tiết lộ.

Thiệt đơn, thiệt kép vẫn ế hàng

 vi sao hau het chung cu ha noi “thieu” tang 13? - 2

Theo khảo sát của chúng tôi giá căn hộ tầng 13 thường giảm hơn so với các tầng khác. Cụ thể, tại một dự án bình dân đang hút khách ở khu vực phía Nam Hà Nội, giá gốc chủ đầu tư đưa ra cho căn hộ tầng 13 chỉ khoảng 15 triệu đồng mỗi mét vuông, thấp hơn 500.000 đồng so với các tầng khác. Giá chênh tại tầng này cũng khoảng 80 triệu, thay vì 120-140 triệu đồng so với các căn hộ khác.

Khách mua căn hộ cũng chia làm hai dạng. Trường hợp người mua để đầu tư khá dễ dãi, trong khi đó khách mua để ở cân nhắc rất kỹ. Các căn hộ, tầng liên quan đến số 13 thường khá kén đối với những người mua kỹ tính. Trường hợp khách hàng chọn tầng số 13 thường là người thu nhập thấp, tuy không toàn tâm toàn ý những họ vẫn lựa chọn căn hộ tầng 13 bởi giá cả rẻ hơn.

Một số dự án ở khu vực Linh Đàm, Ngụy Như Kon Tum, Mỹ Đình giá gốc chủ đầu tư đưa ra tại các căn tầng 13 cũng thấp hơn khoảng 500.000 đến một triệu đồng/m2. Mức chênh trên thị trường trao tay cũng giảm khoảng 40-70 triệu đồng mỗi căn, tùy vị trí. Để tránh tâm lý kiêng kỵ, chủ đầu tư thường chọn cách đánh số 12a, 12b thay vì đánh số tầng 13. Hồ sơ thiết kế, kế hoạch bán dự án đều không nhắc gì đến căn hộ tầng 13, tháng máy cũng được đánh số chệch số 13, con số bị cho là mang lại nhiều rủi ro.

Anh Hồ Tuấn Anh đang định mua căn hộ ở khu vực Văn Quán, Hà Đông cho biết: “Số tầng phụ thuộc vào cách tính từ hầm b1, b2 hay tính từ cốt 0-0, bởi vậy tất cả chỉ là do quan niệm. Chất lượng công trình, uy tín chủ đầu tư mới là điều quan trọng khi mua nhà. Nhiều người nói số 13 là đen đủi nhưng khi hỏi tại sao nó đen thì không ai giải thích tường tận. Riêng tôi, tôi không đặt nặng vấn đề con số 13”, Anh Tuấn Anh nhận định.

Về bản chất các căn hộ ở tầng 13 không có gì khác biệt so với tầng 12 hay 14. Tuy nhiên, do tâm lý và quan niệm, chủ đầu tư cũng như khách hàng kiêng kị con số 13. Khách hàng thường chuộng những căn hộ được đánh số như 8-10-16-18-21-22. Tùy mỗi người sẽ chọn hướng căn hộ phù hợp với mệnh của mình.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Vì sao hầu hết chung cư Hà Nội “thiếu” tầng 13?

Phương pháp giải đoán lá số Tử Vi

Bài viết trích từ cuốn sách Số Tử Vi dưới mắt khoa học của tác giả Hà Thúc Đồng. Đây là bài tóm tắt rất hay về phương pháp giải đoán lá số Tử Vi.
Phương pháp giải đoán lá số Tử Vi

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Bài viết trích từ cuốn: "Số Tử Vi dưới mắt khoa học" của tác giả Hà Thúc Đồng

Nếu lấy số Tử Vi để ai cũng có thể lập thành một lá số trong vài phút được thì đoán một lá số là điều khó, phải suy nghĩ tường tận, cân nhắc từng sao từng cung, xem xét ngũ hành âm dương đầy đủ mới có thể đoán mà không thể sai lầm nhiều.

Ðộc giả nên nhớ có những lá số thật dễ đoán, ai xem cũng đoán được ngay và đại khái đoán như nhau, đó là số của những người bình thường, đời sống đều đều, không sôi nổi không có gì đặc biệt.

Chín mươi phần trăm các lá số ta xem đều thuộc về loại này.

Nhưng có những lá số thật khó đoán, hoặc là thật tốt hoặc là thật xấu, xem không không kỹ đoán vội vàng là dễ bị lầm lắm lắm. Những lá số lạ như vậy là của những người khác thường, có cuộc đời khác đời của số đông, người xem số mỗi khi thấy lá số như vậy cần thận trọng lắm lắm.

Lại có những lá số mới trông thì có vẻ như bình thường, nhưng trong đó có một vài điểm nghịch lại với cách cục chính, ấy là những lá số khó đoán nhất.

Thời thường các thầy số, cầm một lá số lên nhìn qua là đủ biết tính tình tư cách địa vị người xem rồi. Vì nghề nghiệp sinh sống họ thường dựa vào tính của người xem mà đoán theo chiều hướng ý thích hay sở nguyện của người đó, để khách hàng vừa ý. Do sự vừa ý đó khách hàng sẽ cho là thầy giỏi đoán hay, ca tụng làm quảng cáo cho thầy và thưởng tiền cho thầy nữa. Lối đoán ấy là lối đoán thương mại, người mới học chớ có tin những lời đoán ấy là có thật mà mất công tìm hiểu vô ích.

Ðại khái như thầy có đoán cho một bà là: Năm nay, ông nhà phải dứt khoát với bà nhỏ thì con bà mới thi đỗ, là một điều số Tử vi không có cách nào biết được.

Số đông các thầy số, hay các người học Tử vi một cách nông nổi đều hay đoán theo lối thiển cận hay là hiểu các câu phù theo nghĩa đen cho nên thường hay đưa đến sự nhầm lẫn.

Có một đôi trai gái yêu nhau, nhưng nhân duyên trắc trở, vì họ hàng dèm pha, mới rủ nhau đi xem số. Ông thầy xem số người con gái đoán rằng: “Sao Thai lại gặp đào hoa, tiền dâm hậu thú mới ra vợ chồng”. Cô gái tin là thật, hiến thân cho người tình để cho hợp với số hầu cuộc hôn nhân có thể thành tựu được. Nhưng sau đó kết quả là chàng trai lại thành vợ chồng với người khác.

Một đôi vợ chồng thuộc giới phú quý cùng đi xem số cho hai đứa con. Ðứa lớn cung phụ mẫu có: “Tử Phủ Vũ Tướng Khôi Việt” ông thầy đoán cậu này phải là con nhà sang trọng quyền quý. Cả hai vợ chồng chịu là đúng. Ðến đứa nhỏ cung Phụ, Mẫu “Ðà la Kiếp sát” toàn sao xấu ông thầy cả quyết nói là con nhà hạ tiện. Ông chồng cười nói: “Cả hai cháu đều là con tôi cả, xin thầy xem lại cho” ông thầy và cả quyết: “Nếu là con ông thì chắc là con vợ bé hay nàng hầu”. Cũng may bà vợ ngồi ngay đó, và đứa con chính là con của bà ta.

Ông chồng lại cải chính: “Không đây là con nhà tôi mà”. Ông thầy quá tin ở những cái mà ông cho là kinh nghiệm nên nói luôn: “Nếu mẹ là vợ cả thì chắc bố phải là người vi tiện…… nghĩa là loại tài xế hay bồi bếp gì đó thôi”.

Ðộc giả chắc không tin hai câu chuyện trên là vì có thật, vì nếu thật thì ông thầy số kia ngu biết bao. Sự thật là không có, nhưng thực ra có nhiều thầy đã quyết đoán nhiều câu ngu dại hơn thế nhiều. Ðưa hai thí dụ trên ra đây là cốt để độc giả nếu có tập đoán số cho mọi người để học hỏi và rút kinh nghiệm, xin nhớ là:

  • Chớ bao giờ thấy đúng các trường hợp trong sách hay trong phú mà vội đoán y như sách hay phú.
  • Chớ bao giờ hiểu các câu cổ nhân lưu truyền lại bằng nghĩa đen, vì sự thật có khi lại trái với lời phú đoán nữa.

Phải ý niệm được việc đoán số một cách minh bạch như vậy, hãy nên xem và đoán số.

Số Tử Vi mặc dầu là hay thật, đúng thật, nhưng cái hay đó có cái đúng đó chỉ giới hạn trong một phạm vi nào mà thôi. Càng suy ngẫm càng tìm hiểu ngiên cứu kỹ về lý thuyết, càng xem và đoán nhiều lá số những người đã đứng tuổi để phối kiểm sự việc với lý thuyết hầu rút nhiều kinh nghiệm, độc giả sẽ hiểu dần phạm vi chính xác ấy được đến đâu. Dưới đây xin nhắc lại qua phương pháp đoán số để những ai chưa biết cách có một phương châm mà theo.

Cầm một lá số lên, trước hết ta phải:

A) XEM ÐẠI THỂ

1) Xem cách cục để định cho lá số đó thuộc loại nào.

Cách cục là xem: các sao đóng ở mệnh phối hợp với 3 cung chính chiếu và xung chiếu, các sao ở 2 cung giáp các sao ở cung hợp chiếu.

Xong Mệnh thì xem đến Thân cũng như vậy.

Mệnh cung là định số mạng thọ yểu sang hèn.

Thân cung là định cho cuộc đời hưởng thụ.

Phải cà 2 hợp với nhau mới thành ý nghĩa. Chớ nên đoán riêng từng cung.

2) Xem sinh khắc ngũ hành giữa cục và bản mệnh, để xem cuộc đời sẽ vững vàng hay mỏng manh…… thành bại sẽ dễ dàng hay trắc trở, kết quả sẽ lớn hay nhỏ, lâu bền hay ngắn ngủi.

3) Xem âm dương giữa bản mệnh và cung mệnh, xem có lợi hay có hại.

4) Xem chính tinh những sao nào miếu sao nào hãm, sao nào bị triệt tuần, sao nào ở vào cường cung nhàn cung để định những điểm chính yếu của tính tình mạng số của con người. Xem trợ tinh bàng tinh hung tinh ác diệu cái nào mạnh yếu ra sao, đắc vị hay lạc vị thế nào để định xem đại thể của cuộc đời.

5) Xem đại hạn đi lên hay đi xuống, có liên tục hay đứt quãng, để biết sự phù trầm thọ yểu hoạn nạn ra sao.

6) Xem các điểm đặc biệt của lá số để rồi tìm cách phối hợp vào đời và vận hạn của con người. Ðó là mấy điểm chính cần xem trước để cho ta có ý niệm đại khái về con người.

B) XEM MỆNH CUNG VÀ THÂN CUNG

Xem Mệnh và Thân cung là để định rõ các chi tiết về mọi phương diện: thọ yểu, giầu nghèo, sang hèn, vận mệnh, họa phúc, tính tình, hình dạng, hiền ngu, thiện ác và tất cả những đặc điểm để có thể biết rõ hơn về mạng số và cuộc đời của con người, hầu xác định lại ý niệm nói ở trên.

Thực ra muốn xác định một lá số ta phải xem đủ cả 12 cung nhất là Phúc đức và Tài bạch, Tật ách v.v…… những cung chính yếu phải xem kỹ, cả đại hạn tiểu hạn cũng cần phối hợp tất cả lại mới có thể đoán rõ được số mạng người. Ơû đây nói thứ tự là để người xem số xem tuần tự như vậy rồi mới đoán, chứ không phải xem đến đâu đoán đến đó ngay.

Bất cứ đoán về việc gì ta cũng phải xem trọn lá số đã, xong rồi mới có thể chuyên chú vào một điểm nào đó sau.

Một người đưa cho ta một lá số nhờ xem có lấy vợ giầu không, mà ta xem ngay cung thê rồi đoán luôn là dễ bị sai lầm lắm.

Xem Mệnh Thân và các cung là ta phải xem đến từng sao một cho thật kỹ rồi phải xem sao ấy sáng hay tối, có bị ngũ hành của cục (tức là các sao vòng Tràng sinh) của bản mệnh của các sao khác chế khắc gì không, có được sự phù trợ của những sao tốt không, có bị hung tinh ác sát xung sát ở tứ phía không, có đủ bộ không (các sao âm dương phải có đủ bộ mới có ảnh hưởng) có bị hay được bàng tinh ảnh hưởng gì không v.v……

Tất cả tinh vi đúng hay sai ở lá số là đoạn này.

Người xem phải cân nhắc nhiều phương diện cho kỹ và nhất là phải hiểu phải nhớ tính cách của từng sao mới được.

Ðấy là tài nghệ của từng người.

C) XEM 12 CUNG

Ðể đoán số, hai cung Mệnh và Thân không đủ.

Cổ nhân có nói: Xem cho đàn ông tiên khán Phúc đức, hậu khán Mệnh Thân, xem cho đàn bà thì cốt yếu lại là ở 2 cung Phu và Tử, đó là điều dĩ nhiên rồi. Có người xem số lại chỉ chuyên xem cung giải ách, vì đó là chuyện hoạ phúc của cả đời.

Dù sao, xem số cho ai thì cũng phải xem hết cường cung đã mới đủ để đoán về mệnh. Cường cung của đàn ông là: Mệnh Thân Quan lộc Tài bạch Thiên di Phúc đức.

Cường cung của đàn bà là: Mệnh Thân Phu Tử Tài Ðiền Tật.

Vì vậy cho nên xem số ta phải xem cung Mệnh cung đối cung tam hợp vì những cung này đều là cường cung cả, liên quan một cách mật thiết đến cuộc đời và mạng số của con người. Còn các cung kia như Phúc Nô Huynh Phụ ta chỉ xem các sao đóng ở trong cung đó thôi, chứ không phải xem cả đối chiếu, củng chiếu, nhị hợp như cung Mệnh, như nhiều người vẫn tưởng lầm. Lý do rất dễ hiểu là sự tương quan giữa các cung này nhiều khi không thể có được. Tỉ như cung Tử tức có con nhiều hay ít, tốt xấu không phải là do cung Nô bộc hay Ðiền trạch mà ra.

Mười hai cung được sắp xếp trong lá số theo thứ tự như ta thấy là vì sự tương quan giữa cung ấy và cung Mệnh gần hay xa, ít hay nhiều.

Cho nên xem các cung này ta phải hiểu là “ảnh hưởng” của các vị ghi trong cung đó như Cha mẹ Anh em, Bè bạn vân vân, đến người có số ra sao, chứ không phải đây là những lá số của các vị đó vậy.

Nếu trông các sao đó mà đoán số cho các người đó thì với một người có 10 con, cả 10 đứa sẽ bắt buộc phải có cung Phụ mẫu y hệt như nhau. Ðó là điều mà ai cũng biết là không thể có được, và có thể kiểm chứng được dễ dàng.

D) XEM VẬN HẠN

Xem vận hạn thì nên nhớ đại hạn 10 năm có thể coi như cung mệnh ta chuyển sang đó, nên cũng phải xem cả các cung đối chiếu giáp hợp v.v…… Tiểu hạn trái lại chỉ cần xem một cung năm đó và hai cung tam hợp thôi. Xem về hạn, xin lưu ý độc giả về hai điểm quan trọng sau này:

1) Các sao chỉ có ảnh hưởng khi đủ đôi đủ bộ thôi.

Vì vậy khi xem đại hạn cần phải tính sao thủ mệnh để phối hợp với các sao đại hạn cho đủ đôi đủ bộ.

Tỉ dụ: Mệnh ta có Cơ Nguyệt Ðồng thiếu mất Lương. Nếu cung đại hạn có Thiên lương thì ta có hợp cách Cơ Nguyệt Ðồng Lương và đoán theo cách này.

Xem Tiểu hạn cũng vậy, phải tính đến cả các sao Ðại hạn và Mệnh.

Tỉ như: Ðại hạn có Ðịa không, trong vòng 10 năm vẫn làm ăn tấn tới, đến năm tiểu hạn có Ðịa kiếp thì Không Kiếp mới đủ bộ, và năm ấy mới bị cháy nhà trộm cướp hay tai họa gì do đôi hung tinh này gây ra. Xem vận hạn cần phải biết tính của các sao về phương diện này là vì lẽ ấy. Như Tử vi có tính cách giải nguy mang điều mừng đến, Liêm trinh mang tai nạn đến v.v……

2) Trong việc xem vận hạn Tuần Triệt giữ một vài trò rất quan trọng. Sau Triệt bao giờ cuộc đời cũng như thay đổi hẳn, các cái may rủi hoạ phúc cũ sẽ như biến hết. Vào Tuần thì mọi sự trắc trở khó khăn sẽ dồn dập đến.

Nói vắn tắt về phương pháp như để gọi là hướng dẫn các bạn mới mà thôi, còn muốn có thể đoán được các bạn phải biết hết tính sao và như vậy nên đọc thêm các sách về Tử vi. Cuốn sách này vốn không lấy mục đích ấy làm chính nên không chép lại phần tính sao ấy, mặc dầu có chép lại cũng không dài là bao.

Tác giả muốn để độc giả tự làm lấy phần việc ấy bằng cách đọc những bài phú sau đây, mà tìm ra tính nết các sao, cái nào hung cái nào cát, cái nào chủ về gì cái nào hợp với cung nào, kỵ với sao gì v.v…… tất cả đều có thể tìm thấy trong mấy bài phú cả.

Cổ nhân lưu truyền lại cho ta các bài phú và các bài dạy tính sao, được chép lại trong các sách viết tay. Vì viết tay nên phần tính sao mỗi người ghi một khác, không lấy đâu làm chuẩn đích, nên không biết thế nào là đúng thế nào là sai.

Các bài phú trái lại là những bài văn bài thơ có vần có điệu, nên người ta truyền khẩu cho nhau rất dễ, ít khi có sai lầm. Vì vậy nên học số Tử vi tất cả căn bản đều chỉ là mấy bài phú. Ðó mới thật là của cổ nhân lưu truyền lại.

Còn các điều viết trong các sách không biết đâu mà tin, nhiều tác giả bịa đặt thêm bớt vào cho vui chuyện, cho dài giòng, chỉ đưa ta đến sự lầm nếu quá tin vào họ.

....


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Phương pháp giải đoán lá số Tử Vi

Trồng hoa ở ban công giúp hóa giải phong thủy xấu

Ban công tuy chỉ là góc thư giãn, lấy gió, ánh sáng hay tạo hình cho kiến trúc nhà ở nhưng cũng có vai trò mang lại nhiều vượng khí cho ngôi nhà nếu được thiết kế thuận theo phong thuỷ.
Trồng hoa ở ban công giúp hóa giải phong thủy xấu

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Dù là một khu vực nhỏ trong nhà, nếu có điều kiện bố trí, thiết kế theo phong thuỷ cũng mang lại nhiều niềm vui cho gia đình. Đối với nhà chung cư, ban công đã được thiết kế sẵn trước khi bạn đến ở. Vì vậy, bạn không thể thay đổi hướng của ban công khi ban công có hướng xấu. Để khắc phục điều này bạn có thể trồng một số loại cây cảnh có tác dụng hóa giải.

Đầu tiên là cây hoa hồng, hoa hồng là loại cây rất đẹp, có hương sắc để trang trí cho ban công. Khi trồng ở ban công nên chọn loại hoa hồng thân gai có tác dụng hóa giải, thích hợp với những nhà có nhiều phụ nữ.

Cây Xương rồng, cây huyết long cũng là loại cây thích hợp để trồng bên ngoài ban công. Ý nghĩa của cây xương rồng là mang đến sức mạnh, thân cây phát triển hướng lên trên, giống như xương của con rồng có tác dụng hóa giải hình sát mạnh bên ngoài. Cây Huyết long là loại cây có lá bé, dài màu xanh thẫm, ở giữa lá có đốm vàng. Huyết long cũng là loại cây dễ chăm sóc và có sức sống mạnh mẽ. Đây cũng là loại cây có thể ngăn chặn những khí xấu xâm nhập vào nhà.

Ngoài ra, cây Ngọc kỳ lân hay cây Đỗ quyên cũng là loại cây có tác dụng hóa giải những ảnh hưởng xấu của phong thủy tới nhà bạn. Ngọc kỳ lân phát triển theo hướng ngang, vững vàng, khỏe mạnh, có tác dụng trấn giữ ngôi nhà, cây Đỗ quyên còn có tác dụng mang lại nhiều vận may cho gia chủ. Loại cây này cũng dễ sống, hoa lá nhiều và có gai.

Ngoài ra, khi trồng cây bạn cũng nên chú ý đến hướng của ban công. Nếu ban công hướng về phía nam sẽ đón được nhiều ánh sáng, thích hợp trồng các loại hoa cỏ thích được ánh sáng chiếu thẳng vào như: tía tô cảnh(hay còn gọi cây lá gấm, thái diệp thảo), vạn tuế, chuối hoa, hoa hướng dương,…

Ban công hướng về phía tây thường có nhiệt độ khá cao, có nhiều ánh nắng vào buổi chiều, nên rất phù hợp trồng hoa vào mùa đông. Còn mùa hè thích hợp với các loại cây ưa ánh sáng, chịu được nhiệt độ cao. Ban công hướng về phía đông: Thường có nhiều ánh sáng vào buổi sáng, thích hợp trồng những loại cây sợ ánh sáng mạnh như: cây phát tài, thiết mộc lan, trúc mây,…

Còn đối với ban công ở phía bắc không bị ánh sáng mạnh chiếu rọi trong cả bốn mùa, nên chỉ thích hợp trồng những loại cây ưa bóng râm, mát như: trầu bà, thường xuân, nhất diệp lan,…

Một điều cần lưu ý khi trồng cây ở ban công là không nên trồng quá nhiều cây ở ban công, nếu trồng quá nhiều cây cối um tùm về cơ bản sẽ làm giảm đi lượng ánh sáng vào phòng, giảm vượng khí trong nhà

Bên cạnh đó, nếu ban công có quá nhiều cây ban đêm, rất nhiều loài hoa nhả ra khí CO2, tranh khí O2 của con người. Nếu chất kín các chậu hoa ở ban công, không khí bên ngoài cũng khó lưu thông vào phòng. Nếu trong phòng cũng có nhiều chậu hoa, sẽ làm giảm mật độ không khí trong phòng vào ban đêm, gây ảnh hưởng đến chất lượng không khí trong phòng, khiến căn phòng trở nên ngột ngạt, người ngủ trong căn phòng đó dễ gặp ác mộng.

Lan Nhi
Theo Trí thức trẻ


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Trồng hoa ở ban công giúp hóa giải phong thủy xấu

Cách bày trí bàn làm việc đúng phong thủy –

Theo phong thuỷ, giữa bàn là vùng liên quan tới sức khoẻ, cần giữ vùng này sạch sẽ. Phần phía sau, góc bên trái là vùng giàu sang hãy đặt 1 bao đỏ đựng 9 hoặc 3 đồng tiền. Các vật phẩm cát tường mang ý nghĩa khai vận, thôi tài mà bất kỳ ai cũng có t

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Theo phong thuỷ, giữa bàn là vùng liên quan tới sức khoẻ, cần giữ vùng này sạch sẽ. Phần phía sau, góc bên trái là vùng giàu sang hãy đặt 1 bao đỏ đựng 9 hoặc 3 đồng tiền.

Các vật phẩm cát tường mang ý nghĩa khai vận, thôi tài mà bất kỳ ai cũng có thể sử dụng và phương pháp bài trí khi đặt trên bàn làm việc:

van-phong-go-1
 
1. Hình tượng ba loài vật là Tỳ Hưu, Kỳ Lân, Long Mã phải đặt hướng đầu về phía của chính hoặc cửa sổ vì tương truyền ăn tài khí của bốn phương, trừ tà, chiêu tài, hoạch tài…

Tỳ hưu (còn được gọi là: Tịch tà, Thiên lộc) là loài thú có 1 sừng, mình có lông dài, xoắn quăn có nhiều công dụng trừ tà (tịch tà), mang lại tài lộc (thôi tài)… dễ sử dụng.

Nghê: không có sừng, lông uốn xoăn, hàm răng nanh sắc nhọn thường được sử dụng để trấn sát, trừ tà, mang tính bảo vệ chủ nhân là chính. Nếu để trên bàn, con đực đặt bên trái, con cái đặt bên phải (từ ghế ngồi nhìn ra bàn).

Long Mã (ngựa rồng) là sự kết hợp của hai hình tượng ngựa và rồng với đầu rồng, thân ngựa biểu thị khát vọng lớn, tinh thần cạnh tranh, sức khoẻ tốt, tính kiên trì và danh tiếng mang tính hỗ trợ cho chủ nhân.

2. Hình tượng ba loài vật: Tam cước thiềm thừ, voi, cá (cá chép hoặc long ngư) thì ngược lại phải quay đầu hướng vào nhà, không hướng ra của sổ hay cửa chính.

Tam cước thiềm thừ (cóc ba chân) (còn gọi là Kim thiềm) là một loài cóc có ba chân, linh thú này trên lưng cõng Bắc đẩu thất tinh, đầu đội thái cực lưỡng nghi, chân đạp nguyên bảo sơn miệng ngậm hai xâu tiền, theo tương truyền linh thú này thổ tiền nên phải quay đầu vào.

Cá chép, long ngư (cá đầu rồng) là hình tượng mang tài lộc sự giàu sang, tiền bạc và sự phát triển mạnh mẽ…

Voi là hình tượng biểu trưng cho sự vững mạnh, linh thú này là một trong bảy báu vật của đạo Phật, tiếp thêm sưc mạnh và quyền lực cho chủ nhân…

Ngoài ra còn có các loài vật khác như tê giác tượng trưng sức mạnh (quay đầu ra), lạc đà tượng trưng cho sự kiên nhẫn và khả năng kiềm chế cũng như khả năng tích trữ, cầm cự (quay đầu vào)…

Riêng hình tượng loài rùa hay hình tượng quy long (rùa đầu rồng), dù đây là vật phẩm cát tường biểu thị cho khát vọng, trí thông minh, địa vị, tuổi thọ, sự hoà thuận nhưng tuyệt đối không nên bài trí trên mặt bàn làm việc. Chúng chỉ có thể bầy trên bàn làm việc khi kết hợp với hình tượng gậy như ý, đồ hình bát quái, lưỡng nghi.

Các vật phẩm cát tường:

Như ý cát tường: là một vật có hình dáng cong mà phần đầu lớn, xưa vốn là vật để gãi lưng, về sau thành biểu tượng “Như ý” có nghĩa là thỏa mãn ước nguyện và việc gì cũng như ý muốn. Trong phong thủy, nó tượng trưng cho cơ hội thăng tiến nhanh, được sự ủng hộ từ cấp trên, cải thiện sự giao tiếp và kỹ năng thuyết phục tạo sự thuận lợi trong nghề nghiệp của bạn.

Cầu thủy tinh, ngọc, thạch anh là những khối chất đặc hình cầu mang lại sự thông tuệ, uyên bác, sáng suốt, trôi chảy và mở mang mối quan hệ, giao tiếp. Cầu thủy tinh cũng đem lại sự tôn trọng, quyền uy của một người quản lý. Cầu thủy tinh không những đem lại sự thông minh, của cải, tài lộc mà còn có tác dụng chế ngự hung khí đem lại bệnh tật và thị phi đấu đá do hai sao Thất Xích và Cửu Tử gây ra. Đặc biệt với các nhà doanh nghiệp, cầu thủy tinh đảm bảo công việc kinh doanh trôi chảy, phát đạt, đó cũng là lý do tại sao rất nhiều logo của các công ty làm ăn phát đạt có hình quả cầu.

Bộ bàn đá thất tinh với 6 viên đá được xếp trên một trận đồ bao quanh 1 viên đá lớn hơn tượng trưng cho ngôi sao David quyền năng – ngôi sao có 6 đỉnh nhọn là sự kết hợp vận dụng các yếu tố hình học sẽ tạo nên cũng như khuếch tán những năng lượng tốt, điều hòa dòng khí, tạo sự hòa thuận, đoàn kết và khả năng bảo hộ chủ nhân. Vị trí tốt nhất là đặt nó ở phía Đông Nam bàn làm việc.

Bày biện trên bàn làm việc:

Phong thuỷ học cho rằng, người ngồi làm việc phải được tiếp nhận sinh khí từ vũ trụ thì mới minh mẫn trong điều hành công việc. Để tăng khả năng tiếp nhận sinh khí từ vũ trụ, trên bàn làm việc phải đặt cột thuỷ tinh trong không màu, vật dụng này được phong thuỷ gọi là tháp văn xương. Nếu không có, bạn thay thế bằng một cột thủy tinh, có tác dụng ngưng tụ năng lượng trong không gian về một điểm, tăng khả năng tư duy.

– Chồng hồ sơ bên trái nên cao hơn bên phải.

– Nên đặt điện thoại ở các hướng tốt, hợp với bạn (Tây, Tây Bắc, Đông Bắc, Tây Nam dành cho người Tây tứ mệnh và Đông, Đông Nam, Bắc, Nam dành cho người Đông tứ mệnh).

Năng lượng tích cực cũng như những điều may mắn sẽ luôn đến với bạn nếu trên bàn làm việc bạn đặt những vật tượng trưng cho Ngũ hành:

– Hướng Bắc: tách trà, ly nước hoặc cà phê…

– Góc Đông Bắc cái chặn giấy bằng thuỷ tinh hoặc pha lê.

– Phía Đông đặt một bình hoa tươi ở bàn làm việc, giúp tạo năng lượng dương rất tốt, khuyến khích bạn hăng say làm việc.

– Góc Đông Nam của bàn làm việc đặt một cây nhỏ tươi tốt để thu hút tài lộc và sự thăng tiến. Tuy nhiên cần tránh cây xương rồng hoặc các cây có lá sắc nhọn. Để đem lại những điều tốt đẹp, hoa và cây cảnh cần tươi và xum xuê. Nếu cây chết, hãy bỏ ngay và thay bằng một cây khác. Góc Đông Nam của bàn làm việc cũng nên đặt các tượng giả cổ màu đỏ hoặc màu tía tượng trưng cho sự giàu có.

– Góc Tây Nam của bàn làm việc đặt pha lê tròn hoặc quả cầu thuỷ tinh trơn để tạo sự hoà đồng giữa bạn với các đồng nghiệp.

– Hướng Nam của bàn làm việc đặt các loại đèn nhằm cung cấp năng lượng chủ về tên tuổi và danh tiếng cho bạn

– Hướng Tây hoặc Tây Bắc của bàn làm việc nên đặt các thiết bị văn phòng bằng kim loại (như máy tính) , nhớ rằng phải đặt vật thấp ở bên phải và vật cao ở bên trái. Ngoài ra phía Tây có thể trang trí thỏi vàng phong thuỷ

Theo phong thuỷ, giữa bàn là vùng liên quan tới sức khoẻ, cần giữ vùng này sạch sẽ. Phần phía sau, góc bên trái là vùng giàu sang hãy đặt 1 bao đỏ đựng 9 hoặc 3 đồng tiền. Phần phía sau, góc bên phải là vùng quan hệ, đặt các vật thể thành từng cặp như hai đóa hoa tươi hoặc hai bức tượng nhỏ.

Cuối cùng, cần nhớ rằng, quan trọng hơn hết là bàn làm việc phải thật sự sạch sẽ, gọn gàng, thông thoáng, để sinh khí luân chuyển, tránh các dòng khí bị ngưng trệ. Riêng điều đó thôi, đã tạo cho ta một cảm giác thật dễ chịu, một tinh thần thật sảng khoái. Và tinh thần phải sảng khoái thì mới hoàn thành tốt công việc.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Cách bày trí bàn làm việc đúng phong thủy –

Tỳ Hưu - con vật linh thiêng

TỳHưu có thể được làm nhẫn đeo tay, mặt dây hoặc để trong người với mong muốnmang lại may mắn và lợi lộc. Hoặc đặt trong nhà để tránh tà khí và sinh lợi.
Tỳ Hưu - con vật linh thiêng

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Gần đây giới sành chơi thường sắm cho mình một con Tỳ Hưu để mang trên người hoặc đặt trong nhà. Tỳ Hưu có thể được làm nhẫn đeo tay, mặt dây hoặc để trong người với mong muốn mang lại may mắn và lợi lộc. Hoặc đặt trong nhà để tránh tà khí và sinh lợi. Thế nhưng Tỳ Hưu là gì? Và tác dụng của nó ra sao thì chắc ít người biết được.

Nguồn gốc của Tỳ Hưu

Truyền thuyết về Tỳ Hưu được xuất phát từ chin loại con của Rồng. Rồng sinh ra chín con, là chín loài thần thú nhưng không phải là rồng. Chín loài ấy, có 2 thuyết khác nhau, với thứ tự cũng khác nhau:

Thuyết 1: Tỳ hưu - Nhai xế - Trào phong - Bồ lao - Toan nghê - Bí hí - Bệ ngạn - Phụ hí - Si vẫn.

Thuyết 2: Bí hí - Si vẫn - Bồ lao - Bệ ngạn - Thao thiết - Công phúc - Nhai xế - Toan nghê - Tiêu đồ

Đặc điểm của các loài này được cho là như sau:

1. Tỳ Hưu (Tu Lỳ): Tỳ Hưu đầu như Kỳ Lân, có một sừng, thân của gấu, có cánh trên lưng. Tỳ Hưu một sừng là giống cực kỳ hung dữ, chuyên cắn hút tinh huyết của các loài yêu quái, ma quỷ nên còn gọi là con Tịch Tà. Loại Tỳ Hưu hai sừng là loài chuyên hút vàng bạc, châu báu trong trời đất nên được cho là con vật giữ tài lộc hay còn gọi là Thiên Lộc. Khi đó Tỳ Hưu có đặc điểm miệng to, ngực to, mông to nhưng không có hậu môn (chỉ để hút vào mà không làm mất đi cái gì). Nếu thỉnh một cặp Tỳ Hưu thì con cái là Tỳ, con đực là Hưu.

Tu Lỳ là kiện tác của Tỳ Hưu, với tư thế cuộn tròn, lưỡi cong, răng sắc đón lộc và giữ của. Khi mua Tỳ Hưu rất dễ bị nhầm thành Chó Trời , không hề có tác dụng tốt cho gia chủ.

Tỳ Hưu cũng có đặc điểm là thích âm nhạc, có tài thẩm âm. Vì thế nên Tỳ Hưu thường được khắc trên đầu cây đàn hồ cầm, nguyệt cầm, tì bà.

2. Nhai Xế (Nhai tí): loài mình rồng, đầu chó sói, cương liệt hung dữ, khát máu hiếu sát, thích chém giết chiến trận. Vì thế Nhai Xế được khắc ở thân vũ khí: ngậm lưỡi phủ, lưỡi gươm đao, trên vỏ gươm, chuôi cầm khí giới để thêm phần sát khí.

3. Trào Phong: có thân phượng, có thể hóa thành chim, đặc điểm thích sự nguy hiểm, nhìn ra vọng rộng. Do đó Trào Phong được tạc ngồi trên nóc nhà, đầu mái nhà nhìn về phía xa.

4. Bồ Lao: thích tiếng động lớn, âm thanh vang dội, vì thế quai chuông khắc hình Bồ Lao hai đầu quay ra hai bên ôm chặt quả chuông.

5. Toan Nghê: hình thù giống sư tử, thích khói lửa, mùi thơm, nuốt khói phun sương. Do đó Toan Nghê được khắc trên các lư hương, đỉnh trầm, ngồi trầm mặc trên đỉnh hay bám hai bên.

6. Bí Hí còn gọi là Quy Phu: giống con rùa, thích mang nặng, có thể cõng được tam sơn ngũ nhạc không bao giờ mỏi. Vì thế Bí Hí cõng bia, trụ đá, nhiều người nhầm với rùa.

7. Bệ Ngạn (Bệ hãn) còn gọi là Hiến chương: như con hổ, thích nghe phán xử, phân định; vì thế Bệ Ngạn được tạc ở công đường, nhà ngục, trên các tấm biển công đường.

8. Phụ Hí: mình dài giống rồng, thích văn chương thanh nhã, lời văn hay chữ tốt. Vì thế Phụ hí tạc trên đỉnh hoặc hai bên thân bia đá.

9. Si Vẫn (Li vẫn, Si vĩ): miệng trơn họng to, rất thích nuốt các vật lớn, lại có thể phun nước làm mưa. Vì thế Si Vẫn được tạc trên nóc nhà để phòng hỏa hoạn, khác với Trào Phong là đầu quay vào trong, nuốt lấy xà nhà hoặc bờ nóc.

10. Thao Thiết: thích ăn uống, càng nhiều đồ ăn càng tốt. Vì thế được khắc trên các vạc lớn, lại tượng trưng cho việc thu lấy tài lộc giống Tì Hưu.

11. Công Phúc (Bát phúc, Bát hạ): thích nước, nên được khắc tạc ở chân cầu, đê đập, cống nước để canh giữ.

12. Tiêu Đồ (Thúc đồ, Phô thủ): đầu giống sư tử, thích sự kín đáo yên tĩnh. Vì thế được tạc ngoài cửa, ngụ ý giữ yên cho ngôi nhà. Đầu Phô Thủ ngậm thêm cái vòng để khách đến dùng nó mà gõ.

Tương Truyền về Tỳ Hưu

Tương truyền, thời vua Minh Thái Tổ khi lập nghiệp gặp lúc ngân khố cạn kiệt, vua rất lo lắng. Trong giấc mơ vàng, vua thấy có con vật đầu lân mình to, chân to lại có sừng trên đầu xuất hiện ở khu vực phía trước cung điện nuốt nhanh những thỏi vàng ròng sáng chói mang vào trong cung vua.

Theo thầy phong thủy tính toán, khu vực xuất hiện con vật ấy là cung tài và đất ấy là đất linh, như vậy, theo đó giấc mơ đã ứng với việc trời đất muốn giúp nhà vua lập nghiệp lớn. Sau đó vua Minh Thái Tổ cho xây một cổng thành to trên trục Bắc Nam, đường dẫn vào Tử Cấm thành, ngay tại cung tài ấy.

Con linh vật ấy có mặt giống con lân đực nhưng lại có râu, mình to, mông to như mông bò, đuôi dài, có chùm lông đuôi rậm. Con vật này không ăn thức ăn bình thường mà chỉ ăn vàng, bạc, đặc biệt nó không có hậu môn, do vậy vàng bạc nó ăn vào không bị thoát đi đâu, cho dù no căng bụng.

Sau khi có linh vật ấy, ngân khố nhà Minh ngày càng đầy.Sau đó, vua cho tạc tượng con linh vật trên bằng ngọc phỉ thúy và đặt trên lầu cao của khu “Tài môn”. Từ đấy, nhà Minh ngày càng mở rộng địa giới và trở thành triều đại giàu có.

Khi nhà Mãn Thanh lên ngôi vua, họ vẫn rất tin vào sự mầu nhiệm của con vật linh kia và đặt tên cho nó là con Kỳ Hưu hay cũng gọi là Tỳ Hưu. Nhà Thanh cho tạc nhiều tượng con Tỳ Hưu đặt tại cung vua và hoàng hậu. Các cung công chúa, hoàng tử đều không được đặt con Tỳ Hưu. Các quan càng không được dùng cho nhà mình, bởi quan không được giàu hơn vua.

Thời ấy, ai dùng thứ gì giống vua dùng là phạm thượng. Nhưng với sự linh nghiệm của con vật này khiến các quan lại lén lút tạc tượng con Tỳ Hưu đặt trong phòng kín, ngay cung tài nhà mình để “dẫn tiền vào nhà”.

Muốn tạc tượng phải gọi thợ điêu khắc và thế là thợ điêu khắc cũng tự tạc cho mình một con để trong buồng kín, cầu tài. Cứ thế, các đời sau, con, cháu thợ khắc ngọc cũng biết sự linh nghiệm ấy mà tạc tượng Tỳ Hưu để trong nhà, cầu may.

Tại sao Tỳ Hưu tạc bằng các loại đá quý tự nhiên thì mới linh? Người Trung Quốc quan niệm rằng chữ Vương có một dấu chấm (.) thành chữ Ngọc, nghĩa là ai dùng ngọc là người vương giả, giàu sang. Do vậy phải tạc bằng ngọc quý thì mới linh nghiệm mà ngọc tự nhiên thì mới quý.

Nguồn: VietGem
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tỳ Hưu - con vật linh thiêng

Phong thủy cho người mệnh Thổ - Phong thủy - Xem Tử Vi

Phong thủy cho người mệnh Thổ, Phong thủy, Xem Tử Vi, xem bói, xem tử vi Phong thủy cho người mệnh Thổ, tu vi Phong thủy cho người mệnh Thổ, tu vi Phong thủy

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Phong thủy cho người mệnh Thổ

1. Về màu sắc :

Theo lý thuyết âm dương ngũ hành, những người mệnh thổ hợp với những màu như màu vàng hoặc màu đỏ, kỵ màu xanh lá cây. Do đó, người mệnh thổ có thể chọn màu vàng hoặc màu đỏ làm tông màu chính trong nhà , quần áo , trang sức của mình. Tuy nhiên, theo quan điểm âm dương ngũ hành, màu đỏ là màu mang năng lượng dồi dào có thể coi là tính dương rất mạnh. Do vậy, bạn cũng không nên sử dụng quá nhiều màu này trong phòng hoặc trong nhà xét theo quan điểm người Á đông là mang tính âm. Tốt nhất nên dùng những tông màu nhẹ của hành Hỏa như: hồng nhạt, cam, tím, màu đỏ chỉ điểm xuyết…Bên cạnh đó cũng nên pha phối thêm các màu sắc khác trong phòng để dương hài hòa.

 2. Nghề nghiệp phù hợp với người mệnh thổ:

Người mệnh Thổ cần hành Hoả thì hợp nơi làm việc Phương Nam. Hợp với các ngành nghề điện quang, thợ ảnh, hàn xì, nấu nướng, chế biến thức ăn, luyện kim, hoá trang, diễn viên, văn phòng phẩm hoặc làm kinh doanh liên quan đến các mặt hàng trên.

3. Tình Duyên cho người mệnh thổ:

 Lộ Bàng Thổ (đất đường lộ), Đại Trạch Thổ (đất đầm lầy) và Sa Trung Thổ (đất bãi cát) không sợ Mộc, vì cây không sống giữa đường cái quan hay trên bãi cát, đầm lầy. Cả ba hành Thổ này nếu gặp Mộc không khắc dù Mộc khắc Thổ, Thổ hao Mộc lợi, trái lại còn có đường công danh, tài lộc thăng tiến không ngừng.

Thành Đầu Thổ (đất bờ thành), Bích Thượng Thổ (đất trên tường) và Ốc Thượng Thổ (đất nóc nhà) đều sợ Mộc, nhất là Tang Đố Mộc, Thạch Lựu Mộc, như thân tự chôn xuống mộ. 3 hành Thổ này tuy không sợ Bình Địa Mộc, Đại Lâm Mộc, Tùng Bá Mộc nhưng không bền vững vì hình kỵ.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Phong thủy cho người mệnh Thổ - Phong thủy - Xem Tử Vi

Bói tình yêu theo ngày sinh - Bói tình yêu - Xem Tử Vi

Bói tình yêu theo ngày sinh, Bói tình yêu, Xem Tử Vi, xem bói, xem tử vi Bói tình yêu theo ngày sinh, tu vi Bói tình yêu theo ngày sinh, tu vi Bói tình yêu

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Bói tình yêu theo ngày sinh

Bói tình yêu theo ngày sinh phán đoán về kiểu tình yêu, tính cách. Trước hết, bạn hãy tìm “nhóm tuổi” của mình tuỳ theo ngày mà bạn sinh.

Xem bói ngày sinh những bạn sinh vào ngày:
01, 06, 11, 16, 21, 26, 31, bạn thuộc nhóm A1.
02, 07, 12, 17, 22, 27, bạn thuộc nhóm B2.
03, 08, 13, 18, 23, 28, bạn thuộc nhóm C3.
04, 09, 14, 19, 24, 29, bạn thuộc nhóm D4.
05, 10, 15, 20, 25, 30, bạn thuộc nhóm E5.

Bói tình yêu theo ngày sinh

Bói tình yêu theo ngày sinh

Giải đáp:
A1:

Bạn là người lãng mạn và cũng thích đối xử lãng mạn, vì bạn coi tình yêu là điều đẹp nhất trên đời. Bạn cảm thấy tình yêu thật dễ chịu, nhưng cũng chính vì coi tình yêu quan trọng như vậy nên bạn hơi đa nghi và hơi ghen. Bạn luôn sợ người yêu không chân thành, dù anh ấy/cô ấy không mảy may có bằng chứng nào để bị buộc tội như vậy. Bạn thích đi chơi với nhiều bạn bè và luôn được coi là người bạn có trách nhiệm. Tuy nhiên, điểm yếu lớn nhất của bạn xuất phát từ bản chất tò mò và hiếu kỳ (rất tốt cho công việc nhưng không tốt lắm cho tình yêu) là thiếu kiên nhẫn. Bạn thường muốn “đánh nhanh thắng nhanh” và đôi khi nó là trở ngại vật lớn nhất trong tính cách của bạn.
Khi bạn yêu một người, người đó có thể chế ngự không chỉ trái tim mà còn cả tâm trí bạn nên bạn rất dễ bị ảnh hưởng đến các mối quan hệ xã hội khác. Cẩn thận và bình tĩnh bạn yêu quý nhé .

 

B2:
Bạn là mẫu người của sự nghiệp và những giấc mơ nhiều hơn là mẫu người của tình yêu, thật đấy. Bạn rất nhiều hoài bão và chúng quan trọng đến mức bạn làm bất kỳ điều gì. Tuy nhiên, không phải vì thế mà bạn coi nhẹ tình yêu. Đối với bạn, tình yêu rất quý giá, nhưng bạn hơi khó tìm được một người mà bạn coi là “hoàn hảo”. Đó là vì với những mối quan hệ và công việc rộng rãi, bạn ít khi hoàn toàn tin tưởng một người, và đây có thể coi là một nhược điểm nhỏ của bạn. Kể cả bạn bè cũng vậy, bạn bè rất quan trọng với bạn, nhưng bạn không kể “tất tần tật” chuyện gì cho mọi người nghe bao giờ.
Điểm mà mọi người khâm phục nhất ở bạn là bạn suy nghĩ tốt, nhìn được cả ưu điểm và khuyết điểm của vấn đề. Quan tâm chính của bạn về tình yêu là hai người thật sự quan tâm nhau, thế là đủ, đúng không?

C3:
Những người có ngày sinh thuộc nhóm C3 rất giỏi trong việc đưa ra những quyết định “nóng”, tức là rất quyết đoán, nhanh nhạy và ít khi để tình cảm chi phối những quyết định của mình. Chính vì vậy, số bạn bè công việc của bạn rất nhiều, và số khâm phục và cần ý kiến của bạn cũng không ít.
Bạn coi cuộc sống là món quà giá trị và mỗi người nên biết tận hưởng màu sắc của nó. Về tình yêu, bạn yêu quý khá nhiều người, vì bạn cho rằng tình cảm là không có giới hạn. Thậm chí, bạn còn chia sẻ cuộc sống và thời gian của mình với họ. Tuy nhiên, với người mà bạn yêu thì bạn rất chân thành. Bạn có khả năng điều khiển cảm xúc có thể gọi là hoàn hảo, tuy nhiên đôi khi những quyết định lý trí của bạn lại ảnh hưởng đến những người mà bạn yêu thương, vì không phải ai cũng lý trí được như bạn đâu. Sự cứng rắn là điểm mạnh trong sự nghiệp nhưng lại là điểm yếu trong sự lãng mạn của bạn đó. Một người đầu óc nhanh nhạy như bạn, hẳn khi đọc đến đây là trong đầu của bạn xuất hiện ngay hình ảnh của “ người đặc biệt nhất” rồi, phải không ?

D4
Bạn là mẫu người thích sống tự lập và bận rộn. Không lúc nào mà bạn không có một danh sách những việc cần làm và danh sách những mục tiêu phải đạt, dù danh sách đó được viết trên trang giấy hay chỉ nắm an toàn trong bộ não điện tử của bạn. Tư duy tốt và tính khoa học cao, bạn đã có một bản “phác hoạ” mẫu người lý tưởng và bạn luôn tìm các cá tính đó. Bạn là mẫu người thích tới sự hoàn thiện nhất trong số 5 nhóm này.
Bạn bè rất có ý nghĩa với bạn và bạn có cực kỳ nhiều bạn thân vì bạn có thể làm bất kỳ điều gì vì tình bạn. Trong tình yêu, bạn thường được coi là đa cảm và dễ xúc động vì đôi khi bạn khó kiểm soát cảm xúc cũng như sự kiên nhẫn của mình, và phản ứng quá mức. Bạn có thể khóc ấm ức chỉ vì người yêu bạn đến trễ 5 phút và bạn có thể đập vỡ cái cốc khi nghe nói kể rằng bạn trai (bạn gái) của bạn đi mua sắm… cùng bạn gái (bạn trai) (để rồi sau đó biết rằng đó là anh em trai /chị em gái của người ấy).

 

E5
Nhóm E5 được người Ý coi là “những người của tình yêu”. Nếu bạn thuộc nhóm này, dường như bạn thích những quyết định mang tính tình cảm hơn là lý trí. Cũng may là tình cảm của bạn khá nhạy bén nên khi cảm xúc xen vào, bạn vẫn “linh tính” được để mà quyết định đúng. Bạn coi cuộc sống là tận hưởng từng ngày, và người Ý coi bạn là mẫu người Ý “điển hình” – rất lãng mạn, vui tươi , hoà đồng. Bạn có nhiều bạn bè và vẫn luôn cố gắng kéo dài cái danh sách đó trong sổ điện thoại, máy di động, hay trong sổ email… Bạn mơ mộng và cũng có nhiiều ước vọng, tuy nhiên, điều có thể coi là nhược điểm của bạn với bản chất “đừng nghiêm trọng hoá vấn đề”, bạn hơi thiếu kiên định nên nhiều khi không thực hiện được những việc quan trọng đến nơi, đến chốn.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Bói tình yêu theo ngày sinh - Bói tình yêu - Xem Tử Vi

Chu dịch và Kinh dịch

Chu dịch và Kinh dịch hay nói đúng hơn là Chu dịch và Bói Dịch không hòan tòan giống nhau.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

- Thứ nhất là khác nhau về hình thức, bói dịch dùng thi thơ để giảng còn Chu dịch dùng văn xuôi để giảng.
- Thứ hai là bói dịch có nhiều lọai gồm :
8 Quẻ ba hào như Liên Sơn dịch đời Hạ có quẻ đầu là Cấn, Qui tàng dịch đời Thương có quẻ đầu là Khôn.
32 Quẻ năm hào như “Tam Bửu Hiệp nhứt” người Việt hay thường sử dụng
64 Quẻ sáu hào “ Bói dịch cổ truyền” người Việt hay thường sử dụng

Khác với bói dịch, Chu dịch chỉ có một lọai là 64 quẻ sáu hào, được ghi chép có hệ thống dạng kinh điển , còn dùng để nghiên cứu, không như những sách bói “diệc” chỉ dùng cho việc chiêm bói được lưu hành trong dân chúng.

Trước hết xin nói về cách trình bày của các lọai bói dịch người Việt hay xử dụng
Quẻ năm hào .Ví dụ: quẻ Giá sắc
Nội dung :                              Dịch nghĩa :
Thả thủ quân tử phận.             Quân tử nên giữ phận
Vật dụng tiểu nhân ngôn.         Chớ nghe lời tiểu nhân
Phàm sự giai đương cẩn          Mỗi việc nên cẩn thận
Tác phước bảo an nhiên          Làm lành vậy mới yên

Quẻ sáu hào . Ví dụ : Phong Sơn Tiệm ( Hồng nhạn phi cao)
Ý nghĩa : Chim Hồng nhạn được sổ lồng bay xa.
Tiến từ từ bay lên mây trong sự thông đạt thong dong.
Không có gì cản trở.
Nhưng không thể bay vụt từ trong lồng lên mây ngay được.
Giải đóan : Vận khí thịnh đạt dần dần. Công việc mỗi ngày đều phát triển đều đặn. Không gặp trở ngại. Thành quả rất to lớn so với lúc khởi sự.


Lời khuyên: Giữ tiết hạnh thanh cao. Ung dung không vội vả.
Phụ chú : Giải trừ mọi tai ương. Tuy tiến chậm nhưng rất yên ổn.
Hào 1 : trung bình, tiến hơi chậm
Hào 2 : rất tốt
Hào 3 : trung bình
Hào 4 : tốt
Hào 5 : tốt
Hào 6 : rất tốt, đại cát
Ứng hạp : Tuổi Bính : Thìn, Ngọ, Thân
Tuổi Tân : Mão, Tỵ, Mùi
Tháng 1
Hành thổ

Lời giảng của của quẻ này viết theo văn xuôi nhưng được ngắt ra 4 đọan, có lẽ vào đời Tần bị cấm thi thơ, các lọai sách đều phải chép lại bằng văn xuôi.
Tiếp đến là cách trình bày quẻ trong Kinh Dịch : Quẻ Phong Sơn tiệm ( xin không trích giảng hào từ)
Thóan từ: Tiệm, nữ qui cát, lợi trinh.
Dịch : Tiến lần lần, như con gái về nhà chồng, tốt; giữ đạo chính thì lợi.
Giảng : Quẻ này là Tốn ( cây), dưới là Cấn( núi). Trên núi có cây, có cái tượng dưới thấp lần lần lên cao, nên đặt là Tiệm.
Tiến mà lần lần, không nóng nảy, vẫn tỉnh như nội quái cấn, vẫn hòa thuận như ngọai quái Tốn thì không bị vấp váp, không bị khốn cùng.
Hào từ :
- Sơ lục : Hồng tiệm vu can, tiểu nhân lệ, hữu ngôn vô cửu.
Dịch : Hào âm 1, con chim Hồng tiến đến bờ nước, nhỏ dại cho là nguy, than thở nhưng không có lỗi.
- Lục nhị : Hồng tiệm vu bàn, ẩm thực khản khản, cát.
Dịch: Hào 2 âm, chim hồng tiến đến phiến đá lớn, ăn uống thảnh thơi, tốt
- Cửu tam : Hồng tiệm vu lục, phu chinh bất phục, phụ dựng bất dục, hung lợi ngự khẩu.
Dịch: Hào 3 dương, chim hồng tiến tới đất bằng, chồng đi xa không về, vợ có mang không nuôi, xấu, đuổi cướp thì có lợi.
- Lục tứ : Hồng tiệm vu mộc, hoặc đắ kỳ giốc, vô cửu.
Dịch : Hào 4 âm, chim hồng nhảy lên cây, may tìm được cành thẳng mà đậu, không có lỗi.
- Cửu ngũ : Hồng tiệm vu lăng, phụ tam tuế bất dụng, chung mạc chi thắng, cát.
Dịch : Hào năm dương, chim hồng lên gò cao, vợ ba năm không sinh đẻ, nhưng cuối cùng không có gì thắng nổi điều chính, tốt.
- Thượng cửu : Hồng tiệm vu qui, kỳ vũ khả dụng vi nghi, cát.
Dịch : Hào trên cùng dương, chim hồng bay bổng ở đường mây. Lông nó có thể dùng làm đồ trang sức, tốt.

Hai lọai dịch trên mặc dù có khác nhau về hình thức, nhưng nhìn chung tất cả đều có đặc điểm là có hào âm,hào dương. Âm dương được hình thành do sự vận động của vũ trụ. Sự vận động này thuận theo chiều hướng sinh của ngũ hành hình thành bát quái. Đó là học thuyết Âm dương- Ngũ hành của người xưa.

1/ Thư yết Âm Dương- Ngũ Hành :
a- Sự hình thành Âm Dương :
Thái cực vận động sinh ra lưỡng nghi, tức là hai khí : Âm và Dương. Phần dương thì động, nóng, sáng, trong, nhẹ, nổi lên trên sinh ra khí dương và nơi tích lũy nhiều khí dương là bầu trời được ký hiệu là ( ). Dương được sinh ra từ cực Bắc và bên trái chủ dương.
Phần âm thì tỉnh, lạnh, tối, đục, nặng, chìm xuống dưới sinh ra khí âm và nơi tích lũy nhiều khí âm là đất được ký hiệu là ( ) . Âm được sinh ra từ cực Nam và bên phải chủ âm.



Cực Nam

 

Cực Bắc

Hình lưỡng nghi

Âm dương có sự liên hệ thần bí, đó là sự hấp dẫn lưỡng tính thần kỳ. Theo Lôi Đạc, trong tác phẩm Mỗi ngày 10 phút với Chu Dịch, nhà ảo thuật Trung quốc nổi tiếng là Tàng quốc Chân đã phát hiện điều này khi đem hai con thạch sùng đực, cái ném mạnh xuống đất. Khi đuôi của hai con thạch sùng bị đứt, chúng nhảy nhót trên mặt đất, rồi hai chiếc đuôi ngày càng gần lại với nhau, dựa sát vảo nhau sau đó bám chặt lấy nhau thành hình “bánh quấn thừng:. Thế nhưng dùng hai con thạch sùng cùng giống thì không thấy có hiệu ứng này. Một thử nghiệm khác nữa là bắt vài con thạch sùng có bốn chân, phân biệt đực – cái, chặt đuôi và lột da chúng ra, sau khi đốt cháy nghiền thành bột, đổ vào hai cây nến rỗng ruột, đặt trên bàn cách nhau 30 cm, châm lửa trên hai cây nến đó. Điều kỳ dị đã xuất hiện, hai ngọn lửa hấp dẫn nhau, dần dần dựa sát vào nhau, cuối cùng dính lại tạo thành một tuyến lửa nằm ngang như chiếc cầu vồng được đặt tên là “ cầu lửa”.
Qua phát hiện đó có thể thấy được tuy âm dương là hai yếu tố tương phản nhau nhưng trong mọi vật hai yếu tố âm dương luôn dung hòa lẫn nhau, tương giao cùng nhau, bổ túc cho nhau, liên kết với nhau rất mật thiết. Cả hai đều đóng vai trò quan trọng trong sự sinh thành của muôn vật, tất cả sự biến hóa trong vũ trụ đều có thể giải thích bằng hiện tượng chuyển biến của âm dương. Âm trưởng thì dương sẽ tiêu, dương trưởng thì âm sẽ tiêu, âm tăng đến chỗ cực thịnh thì dương sẽ phát sinh và âm sẽ phải thóai dần, khi dương tăng đến chỗ cực thịnh thì âm sẽ phát sinh và dương sẽ thóai dần, đó là lẽ tuần hòan của âm dương trong trời đất như : Mùa đông âm khí nhiều khí hậu lạnh. Cuối đông âm khí thịnh, dương khí bắt đầu phát sinh. Qua xuân dương khí mới phát sinh còn non, khí hậu ấm áp dần dần. Đến mùa hạ dương khí tăng trưởng, khí hậu nóng. Cuối hạ dương khí cực thịnh khí hậu nóng bức và âm khí sẽ phát sinh. Qua mùa thu âm khí mới phát sinh còn non khí hậu mát, âm khí dần dần tăng trưởng lại bước qua đông.... cứ như thế mà tiếp diễn ; hoặc cũng như chuyển biến âm dương trong ngày đêm : từ nửa đêm – sáng sớm – giữa trưa – buổi chiều – lại nửa đêm. Sự âm tiêu dương trưởng và dương tiêu âm trưởng tiếp diễn nhau rất cần thiết để điều hòa sự tuần hòan của trời đất, nếu dương cực thịnh mãi mà âm khí không phát sinh hoặc ngược lại thì trời đất bất hòa và sự sinh hóa của của muôn vật sẽ rối lọan như : chỉ có đêm mà không có ngày hay ngược lại, thời tiết nóng mãi hoặc lạnh mãi đều bất lợi cho sự sinh trưởng của vạn vật. Mặt khác, trong sự chuyển hóa để tương giao với nhau, dương khí có khuynh hướng thăng cao lên tức ly tâm, âm khí có khuynh hướng giáng xuống thức hướng tâm. Đó là dương thăng, âm giáng.

Ví dụ : không khí nóng có khuynh hướng bay lên cao, không khí lạnh có khuynh hướng hạ xuống thấp. Sự kiện không khí vùng lạnh thay thế vùng nóng sẽ sinh ra gió.
Sự vận động của âm dương sẽ sinh ra 4 khí gọi là tứ tượng : Thái âm –Thiếu dương – Thái dương – Thiếu âm

Hình tứ tượng

Từ bốn khí này giao hòa thăng giáng với nhau, tạo ra sự đối kháng, chuyển dịch. Đây chính là động lực phát triển cũa sự vật, hiện tượng, con người. Động lực ấy thể hiện ra 8 dạng thức trong không gian, đó là bát quái. Bát quái với 5 thuộc tính ngũ hành đã tạo ra vũ trụ, vạn vật, trong đó có con người với hành vi của họ.
Bát quái với tính chất gắn liền với bầu trời xin được tạm gọi là “Thiên Bát Quái”
Bát quái có tính chất gắn liền với trái đất xin được tạm gọi là “ Địa Bát Quái”

b- Ngũ Hành :
Ngũ hành được cho là 5 dạng vật chất gồm :
- Hành Thủy tượng trưng cho nước
- Hành Mộc tượng trưng cho cây cối
- Hành Hỏa tượng trưng cho lửa
- Hành Thổ tượng trưng cho đất
- Hành kim tượng trưng cho kim lọai.

Căn cứ vào tính chất các hành trên có sự sinh, khắc với nhau
Ngũ hành tương sinh :
Thủy sinh Mộc
- Mộc sinh Hỏa
- Hỏa sinh Thổ
- Thổ sinh Kim
- Kim sinh Thủy
Ngũ hành tương khắc :
- Thủy khắc Hỏa
- Hỏa khắc Kim
- Kim khắc Mộc
- Mộc khắc Thổ
- Thổ khắc Thủy
Năm hành trên được xếp thành các phương vị trên Hà Đồ, Lạc Thư.

3/ Thuyết Thiên Địa Nhân : Thuyết Thiên Địa nhân nói lên sự chi phối của trời đất đối với con người.
- Thiên : Thiên can là tọa độ không gian được thể hiện ở 10 vị trí : Giáp , Ất , Bính , Đinh , Mậu , Kỷ , Canh , Tân , Nhâm , Quí. Thiên là khỏang không gian bao la, trong Thiên có ba yếu tố hợp thành là Nhật ( mặt trời) ; Nguyệt ( mặt trăng) ; Tinh ( các vì tinh tú). Vạn vật con người chuyển dịch trong không gian theo 10 thiên can, được Nhật, Nguyệt, Tinh chiếu vào tác động ảnh hưởng suốt cả cuộc đời, do vậy yếu tố năm, tháng, ngày, giờ sinh được người xưa cho là có thể quyết định được vận mệnh của từng người.
- Địa : Địa chi là tọa độ thời gian được thể hiện ở 12 vị trí thời gian trong năm , tháng, ngày, giờ gồm : Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Địa được cấu thành bởi 3 yếu tố thủy , hỏa , phong. Từ yếu tố địa , người xưa hình thành nên môn địa lý phong thủy dùng để xem xét sự vận động hài hòa của thủy hỏa phong, nếu mất cân bằng trong vận động của ba yếu tố này ở một địa điểm mà một người đang sinh sống thì người đó sẽ gặp trở ngại và tai họa.
Tóm lại, nói Thiên Địa Nhân là nói con người luôn luôn bị chi phối bởi Thiên và Địa, ba yếu tố này tương tác lẫn nhau, con người muốn tồn tại, sinh sống bình thường phải có sự cân bằng giữa bản thân với thiên địa. Không gian Dịch là không gian Thiên Địa Nhân, là thế giới của âm dương giao hòa, chuyển hóa cho nhau, thế giới giữa hai mặt đối lập tồn tại và bổ xung cho nhau nên khi nắm bắt được chuyển động đó người xưa đã lập ra mô hình trạng thái không gian gọi là âm, dương ( lưỡng nghi). Âm, dương vận động sinh ra bốn khí gọi là tứ tượng, lại tiếp tục vận động thành ra bát quái

2/ Hà Đồ – Lạc Thư :
Hà Đồ- Lạc Thư đã được người Trung hoa xem như nguồn gốc của bát quái có nghĩa là sự hình thành của bát quái phải được gợi ý của Hà đồ-Lạc Thư, thánh nhân mới dựa vào đó mà phỏng theo. Hình dạng của Hà Đồ - Lạc Thư ra sao không ai biết được , chỉ nghe nói đến từ cháu của Không Tử là Khổng An Quốc nhưng mãi đến đời Tống hai đồ hình đó mới thấy phổ biến.
Căn cứ vào “ Dịch học Tượng số luận” của Hòang Tông Nghi thì Trần Đòan đã truyền cho Chủng Phóng, Chủng Phóng truyền cho Lý Khái, Lý Khái truyền cho Hứa Kiên, Hứa Kiên truyền cho Phạm Ngọc Xương, Ngọc Xương truyền cho lưu Mục. Lưu Mục căn cứ vào Hà đồ-Lạc Thư trước tác ra “ Dịch số câu ẩn đồ”, bức đồ của ông mới được đông đảo người biết đến. Cho đến nay người ta cũng chưa hiểu được, vào đời Tống, vị đạo sĩ ở Hoa Sơn là Trần Đòan đã lấy ở đâu ra được những hình Hà đồ-Lạc Thư ấy.
Sau khi Hà đồ-Lạc Thư ra đời, một bộ phận trong học phái này chia rẽ. Một số người không tin vào những thứ này, nhà Đại văn học Âu Dương Tu cho rằng : “đầu độc sai lầm vào những người học giả, gây tác hại đâu có nhỏ”. Cuộc tranh luận này kéo dài tới cuối đời Thanh, Dân quốc, thậm chí đến sau ngày giải phóng .
a- Hà Đồ: Theo ghi chép của người Trung Hoa, Hà đồ là vật mà Hòang Đế được trời ban cho từ sông Hòang Hà, trên lưng con long mã, đồ hình có 5 cặp số được sắp xếp như sau : 1 với 6 ở dưới là số sinh thành của thủy ở phía Bắc
2 với 7 ở trên là số sinh thành của hỏa ở phía Nam.
3 với 8 ở bên trái là số sinh thành của mộc ở phương Đông
4 với 9 ở bên phải là số sinh thành của kim ở phương Tây
5 với 10 là số sinh thành của thổ ở trung ương.
Hà đồ là bức đồ đầu tiên của kinh dịch, sự vận hành của nó theo chiều hướng sinh của ngũ hành. Bắt đầu từ thủy sinh mộc = đông sang xuân; mộc sinh hỏa = xuân sang hạ; hỏa sinh thổ - vào trung tâm, thổ sinh kim = hạ sang thu; kim sinh thủy = thu sang đông.

Hình Hà đồ


b-Lạc Thư : Theo truyền thuyết Lạc thư do thần qui mang trên lưng nên có tượng con rùa đầu đội 9, đuôi mang 1, bên trái mai mang 3, bên phải mai mang 7, vai bên trái mang 4, vai bên phải mang 2, chân trái mang 8, chân phải mang 6, giữa lưng mang 5




Hình Lạc Thư

Theo các nhà nghiên cứu thì Lạc thư là một dạng Cửu tinh Đồ, là Cửu trù Hồng Phạm, nếu đọc theo chiều nghịch kim đồng hồ là biểu đồ phương vị ngũ hành được vận hành theo hướng khắc.
Do vậy, theo thiển nghĩ, bát quái phải được dựa vào Hà đồ để thiết lập vì ngũ hành có tương sinh thì muôn vật mới được sinh hóa, nói lên sự sinh sinh nối tiếp nhau không ngừng của đạo dịch.
Thử vẽ Bát quái :
1/ Thiên Bát quái : ( biểu đồ tiết khí)



Bốn Mùa

 

Từ 4 mùa âm dương lại biến đổi thành 8 tiết khí dựa trên cơ sở 2 cụm tứ tượng, bắt đầu từ điểm cực âm. Theo lẽ tự nhiên, cực âm sẽ sinh dương , cụm tứ tượng bên trái sẽ được sinh dương, khi dương thịnh đến điểm cực dương cụm tứ tượng bên phải sẽ được sinh âm, từ đó có được hệ thống bát quái gắn liền với trời như thời tiết, gió mưa, là biểu đồ bát tiết.


 

Xem xét biểu đồ trên, có thể thấy các tiết khí chuyển biến theo hướng sinh, bắt đầu từ điểm cực âm theo chiều thuận kim đồng hồ : Bắt đầu từ thủy sinh mộc = đông sang xuân ; mộc sinh hỏa = xuân sang hạ ; hỏa sinh thổ - vào trung tâm, thổ sinh kim = hạ sang thu; kim sinh thủy = thu sang đông. Hướng sinh trên thuận theo lẽ tự nhiên thành ra tám tiết khí :
- Khôn : cực âm ( ) tiết đông chí - dương thủy- vị trí số 1
- Chấn : bắt đầu sinh dương ( ) tiết lập xuân - âm mộc- vi trí số 8
- Ly : âm tiêu dương trưởng ( ) tiết xuân phân - dương mộc - vị trí số 3
- Đòai : dương thịnh ( ) tiết lập hạ - âm hỏa - vị trí số 2
- Kiền : cực dương ( ) tiết hạ chí - dương hỏa - vị trí số 7
- Tốn : bắt đầu sinh âm ( ) tiết lập thu - âm kim - vị trí số 4
- Khảm : dương tiêu âm trưởng ( ) tiết thu phân-dương kim-vị trí số 9
- Cấn : âm thịnh ( ) tiết lập đông - âm thủy - vị trí số 6

Thứ tự của bát quái trên thuận theo hướng sinh là : Khôn, Chấn, Ly , Đòai , Kiền , Tốn , Khảm , Cấn, được hiểu như một hệ thống bát quái có tính chất gắn liền với trời như : thời tiết, khí tượng , gió mưa.... Hệ thống này được Trung Hoa gọi là Tiên Thiên Bát Quái. Tuy vậy , người Trung hoa không dùng Tiên thiên bát quái để giải thích thời tiết mà dùng để giải thích về địa lý, phương hướng như sau :
- Khôn : là đất nên ở phương Bắc, vì phương bắc giá lạnh nên thuộc thủy
- Chấn : ở Đông bắc vì gió từ Tây nam thổi qua đông bắc gây tiếng động, hoặc sáng (ly) tối (khảm) cọ sát nhau sinh ra sấm.
- Ly : là mặt trời nên ở phương đông,vì mặt trời mọc ở phương đông
- Đòai : ở Đông nam vì phía Đông nam Trung hoa nhiều đầm hồ
- Kiền : là trời nên ở phương nam, phương nam nóng thuộc hỏa
- Tốn : ở Tây nam là nơi nóng (nam) và lạnh (tây) xô xát sinh ra gió
- Khảm : là mặt trăng nên ở phương Tây, vì mặt trăng hiện ra ở phương tây
- Cấn : ở Tây bắc vì tây bắc Trung hoa có nhiều đồi núi.

2/ Địa bát quái : ( biểu đồ địa lý phương hướng)
Về Địa bát quái, hiện nay chưa rõ được kết cấu như thế nào nhưng cũng xin đề xuất đồ hình để tham khảo

 


Ví dụ : Địa bát quái                                                         Hậu Thiên bát quái

 

Địa Bát quái, được hiểu như hệ thống bát quái có tính chất gắn liền với trái đất như : địa lý, phương hướng , được sắp xếp một cách hợp lý như sau :
- Cấn , hành thổ mượn vị trí số 1, có ba hào : âm+âm+dương= dương thổ
- Chấn ở vị trí số 8 thuộc mộc, có ba hào : dương+dương+âm= dương mộc
- Tốn ở vị trí số 3 thuộc mộc, có ba hào : dương+dương+âm = âm mộc
- Ly ở vị trí số 2 thuộc hỏa, có ba hào : dương+âm=dương = âm hỏa
- Khôn hành thổ mượn vị trí số 7, có ba hào : âm+âm+âm = âm thổ
- Đòai ở vị trí số 4 thuộc kim, có ba hào : dương+dương+âm = âm kim
- Kiền ở vị trí số 9 thuộc kim, có ba hào : dương+dương+dương = dương kim
- Khảm ở vị trí số 6 thuộc thủy, có ba hào : dương+âm+dương = dương thủy

So sánh với Hậu thiên bát quái của Văn Vương:
- Cấn mượn vị trí số 8 thuôc thổ
- Chấn ở vị trí số 3 thuộc mộc
- Tốn ở vị trí số 2 thuộc hỏa
- Ly ở vị trí số 7 thuộc hỏa
- Khôn mượn vị trí số 4 thuộc thổ
- Đòai ở vị trí số 9 thuộc kim
- Kiền ở vị trí số 6 thuộc thủy
- Khảm ở vị trí số 1 thuộc thủy

Xét theo bát quái phong thủy thì Tốn phải thuộc mộc và Kiền phải thuộc kim, như vậy Hậu thiên bát quái xem ra có vấn đề. Hệ thống này chỉ đúng khi đứng ngòai Hà đồ, tuy nhiên âm dương ngũ hành khi tách rời nhau sẽ không còn ý nghĩa, do vậy suy cho cùng vẫn là sai. Một điểm sai nữa là người Trung hoa không dùng hệ thống bát quái này để giải thích về địa lý mà gọi đó là Bát tiết bát quái :

- Cấn : Tiết lập xuân,
- Chấn : Tiết xuân phân
- Tốn : Tiết lập hạ
- Ly : tiết hạ chí
- Khôn : tiết lập thu.
- Đòai : tiết thu phân
- Kiền : tiết lập đông
- Khảm : tiết đông chí

Có lẽ để thuyết minh cho vấn đề sai lệch về các hành của hệ thống này, thuyết quái truyện viết : “ Đế xuất hồ Chấn. Tề hồ Tốn. Tương kiến hồ Ly. Trí dịch hồ Khôn. Thuyết ngôn hồ Đòai. Chiến hồ Càn. Lao hồ Khảm. Thành ngôn hồ Cấn.”
Thuyết quái truyện cũng có lời giải thích cho đọan văn khó hiểu trên : “Vạn vật xuất ở Chấn , Chấn thuộc phương đông . Gọn gàng ở Tốn , Tốn thuộc đông nam, gọn gàng là muốn nói muôn vật đều sạch sẽ . Ly là sáng, vạn vật cùng thấy nhau, là quẻ ở phương Nam, đấng thánh nhân quay về phương nam mà nghe thiên hạ, hướng vào nơi ánh sáng mà trị là tượng ở đấy. Khôn là đất, muôn vật đều được nuôi dưỡng ở đó, cho nên nói là làm việc ở Khôn. Đòai là chính thu, vạn vật đều vui vẻ, nên nói vui vẻ là nói ở Đòai. Đánh nhau ở Kiền, Kiền là quẻ ở tây bắc, đó là nói về âm dương xô xát vậy. Khảm là nước, là quẻ ở chính Bắc, là quẻ khó nhọc, muôn vật đều ở đó nên nói khó nhọc ở Khảm. Cấn là quẻ đông bắc, nơi muôn vật thành ở lúc cuối và lúc đầu, nên nói thành là nói Cấn”.


Lời giải thích trên khi đọc xong lại càng thấy khó hiểu, nên xin được đề xuất lời giải thích khác như sau :
- Đế xuất hồ Chấn : là mặt trời mọc ở phương đông.
Vấn đề chính là đây. Theo tôi, vị trí mặt trời mọc là vị trí bước qua số 1 của Hà Đồ, là qua cực Bắc đã sinh dương, về thời khắc thì vào giờ Dậu nên Chấn phải ở vị trí số 8 thuộc mộc. Đối với người tạo ra Hậu thiên bát quái thì Chấn phải ở vị trí số 3 thuộc mộc là nơi mặt trời ló dạng, về thời khắc thì vào giờ Mẹo.
- Tề hồ Tốn : do mang Chấn đặt vào vị trí số 3 , là chỗ của Tốn, nên phải sắp xếp lại vị trí của Tốn.
- Tương kiến hồ Ly : Tốn bị bỏ ra phải vào vị trí số 2 thuộc hỏa, là vị trí của Ly, nên nói là gặp nhau ở cung Ly.
- Trí dịch hồ Khôn : dể Ly có chỗ phải suy tính dời Khôn đi.
- Thuyết (duyệt) ngôn hồ Đòai : Khôn được dời vào vị trí số 4 thì Đòai phải vào vị trí của Càn ở số 9 thuộc kim, đến Đòai thì thuyết phục được.
- Chiến hồ Càn : tranh cãi ở Càn. Khi Đòai vào vị trí của Càn thì Càn phải dời vào chỗ của Khảm số 6 thuộc thủy mà Càn thì thuộc kim.
- Lao hồ Khảm : mặc dù Càn thuộc kim nhưng vì muốn thực hiện việc chỉnh sửa trên nên phải ép Càn vào ở vị trí của Khảm nên nói là lao hồ Khảm
- Thành ngôn hồ Cấn : đến cung Cấn thì kết luận, đã quyết định xong.

Đọan văn khó hiểu trên có lẽ ghi lại sự tranh cãi giữa Hoa tộc và người đại diện cho Hoa Hạ là Cộng công. Cộng công được biết như là một chức quan trông coi về khoa học kỹ thuật ở thời ấy. Theo ghi chép của Trung Hoa, giữa cháu nội Hòang đế là Chuyên Húc và Cộng Công vào thời ấy đã có sự bất đồng ý kiến về khoa học kỹ thuật qua truyện kể về Cộng Công húc đầu vào núi Bát Chu như sau :
Cộng Công là người có công lao rất lớn trong phát triển nông nghiệp của Trung hoa được dân chúng tôn là Thủy sư tức thần nước. Con của ông là Hậu thổ cũng có năng lực trong nghề nông được dân chúng tôn là Xã thần tức thần đất, là các thần quản về thủy lợi. Sau khi nghiên cứu kỹ lưỡng tình hình đất ở 9 châu họ đã thống nhất là phải sửa bằng đất đai, tuy nhiên ý đồ này không được Chuyên Húc đồng ý. Cộng công vì giận mà húc đầu vào núi Bát Chu.

Bát Chu là núi Côn Lôn, ngọn núi có những quái thạch nhọn hoắt, cao chạm tầng mây. Sau cú húc mạnh của Cộng Công, quả núi này lập tức gảy gập ngay, đất đá lở xuống ầm ầm, cây cối ngã nghiêng, trời đất mù mịt, tưởng như xảy ra động đất, bầu trời nghiêng ngã. Thì ra theo lời đồn đại, núi này chính là cây cột chống trời, cột trời sụp thì dây chằng đất đứt rời từng khúc, do đó phía Đông nam sụp xuống lấp bằng chỗ trũng khiến cho sông ngòi đều theo dòng chảy về phía đông rồi đổ vào biển đông. Bầu trời khi đó nghiêng về phía Tây Bắc cho nên các vì tinh tú , mặt trời, mặt trăng ngày ngày đều mọc ở phía Đông và lặn ở phía Tây....

Phân tích câu truyện trên có thể suy ra : núi ( Cấn) Bát Chu sụp xuống làm dây chằng đất (Khôn) đứt rời, có nghĩa trục Khôn-Cấn trở lại là trục thẳng ; phía Đông nam (Tốn) sụp xuống , bầu trời nghiêng về phía Tây Bắc (Càn), có nghĩa là trục Tốn Càn trở lại là trục ngang, các vị trí đó là Càn-Khôn-Cấn-Tốn trong tư nam thời Xuân thu chiến quốc. Cuối cùng là mặt trời lại mọc ở phương Đông là vị trí số 8 trên Hà đồ.

Nhưng tại sao Cộng Công lại phải húc đầu vào núi Bát Chu ?

Bởi vì núi là tượng Cấn. Liên Sơn Dịch của Hoa hạ lấy quẻ đầu là Cấn. Nói là Cộng Công húc đầu vào núi Bát Chu có nghĩa là muốn sửa bái quái của tộc Chu cho đúng với vị trí ban đầu. Sự bất đồng này có lẽ cũng nghiêm trọng, vì sau đó những người tộc Hạ sống trên đất Tề thường lo sợ về chuyện bị “trời sập”.

Tư Mã Thiên cho rằng Hậu Thiên bát quái là sản phẩm của Văn Vương có lẽ do trong các quẻ bói mà người Việt đang dùng có một số quẻ đã đề cập đến những vấn đề liên quan đếnVăn Vương như:
Quẻ “Vị thủy phong hiền” còn gọi là Sơn Lôi di :


Khương Tử Nha là bậc đại hiền.
Ngồi câu cá chờ thời bên bờ sông Vị thủy.
Vua Văn Vương nghe tiếng đích thân đến tận nơi thỉnh ra giúp nước.
Rước về tôn làm thường phụ.
Quẻ “ Phượng minh Kỳ sơn”- Thiên trạch lý :
Phượng hòang bất thần xuất hiện ở núi Kỳ sơn cất tiếng gáy.
Báo hiệu điềm lành.
Vua Văn Vương ra đời.
Tạo dựng một thời đại thái bình thạnh trị.

Quẻ “Trảm tướng phong thần” - Thủy trạch tiết :
Đời nhà Thương có vua trụ bạo ngược.
Khương Tử Nha vì đại nghĩa diệt được Trụ vương.
Muốn cho óan khí của quân thù tiêu tán để quốc thái dân an.
Nên đã lên “Vạn phong Sơn” cầu siêu, phong thần cho tướng sĩ tử trận.

Về nguồn gốc Kinh dịch, một số nhà nghiên cứu cho rằng Kinh dịch không thực sự là của Trung quốc. Ông Hondanariyouki nhận xét “ Ở Chu dịch, các từ thóan tượng đều lấy tên từ các lọai muông thú phương nam (chim hồng). Thêm vào đó, ở Chu dịch có “phi long”; “tiềm long” càng khiến cho người ta cảm thấy Chu dịch là trước tác của người nước Sở viết ra, và ra đời sau khi Trung quốc đã mở đường giao thông về phía nam Kinh Sở”.
Nói về các tộc người đã từng sinh sống trên đất Trung Hoa, Theo ##/img/www.uglychinese.org thì trên đất Trung Hoa thời xa xưa đã có họ Suiren ( Tọai Nhân), sau đó họ You Chao ( Hữu sào) đã thay thế họ Tọai nhân, tiếp nữa là họ Fuxi ( Phục Hy) và Nuwa ( Nữ oa) đã thay thế họ Hữu sào, sau cùng là họ Shennong (Thần nông) đã thay thế họ Phục Hy.
Theo truyền thuyết cũng như thuyết quái truyện của kinh dịch thì họ Tọai nhân đã phát minh ra “lửa” ; họ Phục Hy đã phát minh ra “ cái lưới” và chữ viết dưới dạng “thắt nút kết thằng” ( chữ khoa đẩu ?) để ghi việc, đã biết trồng trọt chăn nuôi ; họ Thần Nông phát minh ra “cái cày” , mở chợ lập làng , tìm ra cây thuốc. Đó chính là Tam Hòang. Ngòai ra không thấy đề cập đến Hữu Sào đã phát minh ra những gì.

Gần đây khảo cổ học đã khai quật được một dụng cụ làm ra lửa ở Chiết Giang có niên đại cách đây hơn 8000 năm, cho thấy rằng họ Tọai Nhân là người Hòa Bình ở di chỉ Hemudu ở bờ nam sông Trường Giang có lẽ đã di cư lên phía Bắc đến di chỉ Dawenkou ở Sơn Đông khỏang 4300 tr.cn khi vùng này bị ngập mặn do nước biển dâng. Họ Tọai Nhân đã bị họ Hữu Sào , tổ tiên của người Hàn quốc đến thay thế vào khỏang 3898 tr.cn. Họ Hữu sào lại bị họ Fuxi, có lẽ là tổ tiên của tộc Khương cũng được gọi là Viêm Đế từ phía Tây đến thay thế. Khảo sát kỹ có thể thấy được ngòai họ Khương ra Tộc Khương còn có họ Phù, những cái tên có liên quan như Phù sai (Fu chai), Phù nam......v.v . Phục Hy và Nữ Oa được cho là hai anh em do đó có thể Tộc Khương sau khi đến Trung Hoa đã kết lại với nhóm tiền Đông Nam Á để phát triển nông nghiệp. Ở Việt Nam có câu ví : bà Nữ Oa bằng ba mẫu ruộng .

Ở Trung hoa vào thời Phục Hy, người xưa có lẽ đã hiểu được qui luật âm dương và sự vận động của nó, đã thuận theo những qui luật ấy để phát triển nông nghiệp. Trong kinh dịch cũng có đề cập đến Phục Hy đã trông trời, trông đất, trông vạn vật mà vẽ quái, thời diểm này có thể là họ Phục Hy không chỉ vẽ quái mà ít nhất đã biết đến tứ tượng tức là bốn mùa để theo đó mà trồng trọt. Khi Thần Nông đến thì Phục Hy bị thay thế vì họ Thần Nông đã phát minh ra cái cày và phương thức tát nước vào ruộng để cải tiến và phát triển nền nông nghiệp của Phục Hy và Nữ Oa. Họ Thần Nông đã từng vượt biển nên ắt phải có kiến thức về thiên văn khí tượng và địa lý phương hướng, ắt họ phải là chủ nhân của Hà đồ.
Với các chi tiết đã trình bày trên, tôi cho rằng học thuyết Âm dương ngũ hành và thuyết Thiên Địa Nhân có nhiều hy vọng là của người tiền Việt nam. Nó được ra đời không nhằm mục đích chiêm bói mà trước tiên để tiên đóan thời tiết và xác định phương hướng nhằm phục vụ cho nghề đi biển và nghề nông , các vì sao được quan tâm trước tiên là sao Bắc Cực và sao Bắc đẩu.

“Bói diệc” là lọai sách bói được phổ biến trong dân gian tương tự như nông lịch đã được giải thích sẵn, ai xem cũng hiểu. Kinh dịch của người Trung quốc, được dựa vào quẻ bói diệc, được kết hợp với những ghi chép của các ẩn sĩ ở Giang nam thời ấy để sọan thảo ra dưới hình thức một lọai sách triết , trong bộ kinh dịch này yếu tố tương quan giữa con người với trời đất không được thể hiện đầy đủ như trong các sách bói cổ truyền người Việt thường xử dụng.

Một điều rõ ràng là việc sáng tạo ra học thuyết Âm dương ngũ hành , Thiên Địa Nhân không phải từ trí tuệ của một người mà là trí tuệ của nhiều người được tích lũy từ thời đại này sang thời đại khác do đó trong những ghi chép của người xưa cũng không thấy khẳng định ai là chủ nhân của học thuyết này. Việc cho rằng 64 quẻ dịch là do Văn Vương sáng tạo ra và Khổng Tử biên sọan thực chất là một sự gán ghép có lựa chọn. Khổng Tử là một người đã từng nghiên cứu kinh dịch, những tài liệu ấy Khổng tử lấy từ đâu ra thì không nghe nói đến, chỉ biết rằng trước kia Khổng Tử chưa thực sự nghiên cứu bói dịch cho đến khi ông bói được quẻ “Lữ” và mời một người họ Thương Cù trong dân gian để giải quẻ cho ông. Thương Cù thị nói : “ Tiểu hanh, cố bào thánh trí, nan đắc thánh vị” ý nghĩa là ôm ấp có hùng tâm xây dựng sửa sang đất nước nhưng không giành được quyền vị. Tức thì Khổng Tử rớt nước mắt, ngộ cảm thấy rằng đường đạo của mình khó được thi hành, từ đó mới bắt đầu nghiên cứu dịch. Tuy nhiên việc bắt đầu nghiên cứu dịch và việc hòan thành bộ Kinh dịch là hai việc hòan tòan khác nhau. Theo tôi, những phát minh ở đất Trung hoa đều đã có từ xa xưa nhưng việc người thời sau tiếp thu những tinh hoa của nền văn minh trước chỉ ở chừng mực nào đó. Ví dụ như lịch pháp nhà Hạ lấy tháng Dần làm tháng mở đầu cho một năm, khi nhà Ân Thương lên thay, lấy tháng Sửu làm tháng mở đầu cho một năm, đời Chu lấy tháng Tý làm tháng đầu năm, nhà Tần lấy tháng Hợi làm tháng đầu năm. Đến thời Hán các biến cố như nhật thực , nguyệt thực, hạn hán lũ lụt đều xảy ra khác với thời điểm được ghi trong lịch. Đúng vào lúc Tư mã Thiên đến Giang nam tìm sử liệu được một cụ già ở đất Thương ngô tặng cho bộ sách trúc giản vớt được trên sông Tương. Đó chính là bộ “nhật thư” bí truyền của người Hạ . Hán vũ đế đã theo lời tấu của Tư mã Thiên, truyền chiêu mộ ẩn sĩ ở miền Giang nam để điều chỉnh lịch theo phương pháp của nhà Hạ, sau khi hoàn thành đặt tên là lịch Thái sơ.

Để giải thích, Chu Hy viết : “Về cách tính thời gian nên theo nhà Hạ, nghĩa là nên lấy kiến Dần chi nguyệt làm tháng mở đầu cho bốn mùa. Hàng năm lấy thời kỳ vạn vật sinh sôi nảy nở phồn thịnh làm kỳ mở đầu cho bốn mùa. Cách tính của nhà Hạ giản tiện hơn cả vì thế nên theo… trời mở đầu cung Tý, đất mở đầu cung Sửu, người mở đầu cung Dần. Tam đại lần lượt thay đổi mà noi theo. Nhà Hạ coi cung Dần là nhân chính phù hợp với người nên lấy kiến dần chi nguyệt làm chính nguyệt. Nhà Ân coi cung Sửu là Địa chính phù hợp với đất nên lấy kiến Sửu chi nguyệt làm chính nguyệt. Nhà Chu coi cung Tý là Thiên chính phù hợp với trời nên lấy kiến Tý chi nguyệt làm chính nguyệt. Tính tháng năm dịnh bốn mùa cốt để cho dân tiện làm ăn sinh sống, tiện hoàn thành mọi việc. Vì vậy khi tính năm tháng, định bốn mùa nên lấy sự phù hợp với người làm đầu mối. Chính vì vậy mà nhà Hạ lấy kiến Dần chi nguyệt làm tháng mở đầu của một năm”

Ngoài ra không thấy Chu Hy giải thích vì sao nhà Tần lại lấy kiến Hợi chi nguyệt làm chính nguyệt.
Như vậy đã thấy rằng việc tiếp thu tinh hoa của tộc Hạ chỉ bắt đầu vào thời Hán.Thời điểm ấy tinh hoa của Trung hoa phát ra ào ạt nhờ vào chủ trương chiêu hiền đãi sĩ của Hán Cao tổ. Vào thời này, những nhân tài Việt trên đất Hoa ban đầu sống như những ẩn sĩ. Sĩ là một từ để chỉ tầng lớp tri thức ở Trung quốc. Ẩn sĩ là những người có tri thức, hoàn toàn vượt ra ngoài vòng chính trị, có thái độ bất hợp tác và phản kháng chính quyền đương thời, họ là những nhân sĩ tinh anh sáng tạo văn hóa, giáo hóa quần chúng. Thấy được tác dụng tiềm ẩn trong lớp nhân sĩ, Hán Cao tổ Lưu Bang khi lên ngôi được 11 năm đã có chiế
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Chu dịch và Kinh dịch

Chùa Vạn Niên - Hà Nội

Chùa Vạn Niên còn có tên gọi khác là chùa Vạn Tuế. Đây là một ngôi chùa nằm ở phía Tây, Hồ Tây, Hà Nội - di tích nghệ thuật quốc gia năm 1996.
Chùa Vạn Niên - Hà Nội

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Chùa Vạn Niên còn có tên gọi khác là chùa Vạn Tuế. Đây là một ngôi chùa nằm ở phía Tây, Hồ Tây, Hà Nội. Chùa được bộ Văn Hóa – Thông tin xếp hạng là di tích nghệ thuật quốc gia năm 1996.

Chùa Vạn Niên được xây dựng và năm Thuận Thiên thứ 2 (1011) sau khi vua Lý Công Uẩn rời đô ra Thăng Long, tên gọi ban đầu là chùa Vạn Tuệ sau đổi là chùa Vạn Niên. Đây được coi là ngôi chùa thiêng liêng của đất Thăng Long – Hà Nội, có nhiều điều bí ẩn, thú vị được sử sách còn ghi.

Chùa được tạo bởi công trình nghệ thuật bằng gỗ, với các hoa văn họa tiết vừa bản địa vừa tiếp nhận văn hóa phương Đông. Các nếp nhà được xây dựng hướng Đông, theo bố cục mặt bằng gồm tam quan, chùa chính điện Mẫu (thờ chùa Liễu Hạnh), nhà Tăng, nhà phụ. Bao quanh kiến trúc là vườn cây cổ thụ. Trên nóc chùa có ba chữ triện đắp nối “Vạn Niên Tự”. Hiện chùa còn lưu giữu rất nhiều di vật cổ quý.

Chùa Vạn Niên thờ Phật và Bà Chúa Liễu Hạnh. Qua hơn 1.000 năm lịch sử, với bao thăng trầm và biến cố, ngôi chùa đã nhiều lần được trùng tu. Chùa Vạn Niên có phong cách kiến trúc thời Nguyễn, bao gồm: Tam quan, tiền đường, nhà Tổ, nhà khách, lầu Quan Âm… Câu đối ở hàng cột nhà bái đường đã nói rõ: “Cổ tự trùng tu tân cảnh sắc/Vạn Niên kiến tạo cựu quy mô” (Chùa cổ trùng tu cảnh sắc mới/Vạn Niên sửa chữa quy mô xưa).

Chùa Vạn Niên đang ngày một khang trang và được nhiều Phật tử gần xa biết đến. Tuy có nhiều đổi mới nhưng chùa vẫn giữ được nét đẹp cổ kính và độc đáo về văn hóa kiến trúc giữa lòng thủ đô hiện đại và phát triển. Chùa còn là trung tâm sinh hoạt văn hóa cộng đồng, nơi đem lại sự an lạc về tinh thần và giáo dục truyền thống văn hóa dân tộc cho các thế hệ.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Chùa Vạn Niên - Hà Nội

Ngũ hành chế hóa

Một bài viết về ngũ hành chế hóa với nhiều giai thoại thú vị của tác giả Anh Độ. Mời quý bạn đọc tham khảo!
Ngũ hành chế hóa

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Bài viết của tác giả Anh Độ

Theo các vị đã đi sâu vào khoa Tử Vi đẩu số, thì sự Sinh, Khắc, Chế, Hoá trong Ngũ hành rất cần thiết trong khoa Tử Vi và bói toán.

Cụ Nguyễn Văn Uy (Số nhà 72/4 Ngô Tùng Châu), một vị nho học từng nghiên cứu về khoa Tử Vi, trong một buổi nói chuyện với chúng tôi về sự Chế Hoá của Ngũ hành, có nói rằng: Theo sự nghiên cứu của cụ, có khi hai hành khắc nhau, ví dụ như Thuỷ khắc Hoả mà lại tốt như Kỷ Mùi là Thiên Thượng Hoả (lửa trên trời) với Quý Hợi là Đại Hải Thuỷ (Nước biển lớn). Lửa trên trời tức là mặt trời chiếu xuống biển cả, thì phát ra muôn ngàn hào quang rực rỡ.

1.Kim

Trong cát, giáo gươm hai thứ Kim. Nếu nằm trên Chấn ắt tương xâm Kim còn bốn thứ đều sợ Hoả.
Gươm cát bắng Hoả chẳng thành hình.
Ất Mùi là Sa Trung Kim (Kim khí trong cát)
Quý Dậu là Kiếm Phong Kim (kim khí của gương giáo).
Cả hai đều không nên gặp Mộc vì cây không sống được nếu trồng trên dất có chất kim khí và cây mà gặp gươm giáo sẽ bị chặt gẫy. Nhưng hai thứ Kim đó mà gặp Hoả lại tốt, vì có lửa mới rèn thành gươmg giáo, có lửa thì chất Kim vùi trong cát (vàng cốm) mới trở thành nén vàng quý giá. Còn các thứ Kim khác đều sợ Hoả (khắc).

2. Thuỷ

Thuỷ ở sông Ngân cùng biển cả.
Cả hai chẳng sợ Thổ địch cừu.
Ngoài còn mấy thứ đều kỵ Thổ.
Một đời cơm áo thật khó cầu…
Đinh Mùi là Thiên Hà Thuỷ (nước sông Ngân Hà) và Quý Hợi là Đại Hải Thuỷ (nước biển cả) không sợ Thổ vì nước sông Ngân hà trên trời cách xa với mặt đất và đất thì không hút nổi hết nước biển cả.
Còn Thổ khác tất cả các thứ Thuỷ khắc.

3. Mộc

Mộc Tằm dâu, liễu dương, tùng bách
Thạch lựu, rừng sâu đều kị Kim
Duy chỉ cây trồng đồng bằng Mộc
Thiếu Kim sao được mọc lên cao?
Các thứ Mộc như Quý Sửu là Tang Đỗ Mộc (gỗ cây tằm dâu), Quý Mùi là Dương Liễu Mộc (gỗ cây dương liễu), Tân Mão là Tùng Bách Mộc (gỗ cây tùng bách) Tân Dậu là Thạch Lựu Mộc (gỗ cây lụa), Kỷ Tỵ là Đại Lâm Mộc (gỗ câu ở rừng lớn) đều sợ Kim. Đất mà có chất Kim khí thì cây sẽ chết, nếu gặp rìu bua, cây sẽ bị đốn gãy.
Duy chỉ các cây trồng ở đồng bằng như ngũ cốc, cây có trái, cây canhr thì lại cần phải có đồ Kim khí như cày, cuốc, liềm, kéo để cầy, vun xới, tỉa xén, thì mới mọc tố và cây cảnh mới đẹp được.

4. Hoả

Đèn lồng, lò lửa, cùng đỉnh núi
Thấy Thuỷ, cả ba đều chẳng hay
Lại còn ba thứ chẳng kiêng Thuỷ
No ấm một đời, giàu lại sang.
Ất Tỵ là Phú Đăng Hoả (Lửa đèn lồng), Đinh Mão là Lô Trung Hoả (lửa trong lò) Ất Hợi là Sơn Đầu Hoả (lửa đỉnh núi) ba thứ đó kỵ Thuỷ, gặp Thuỷ là tắt liền.
Nhưng ba thứ khác: Đinh Dậu là Sơn Hạ Hoả (lửa chân núi), Kỷ Sử là Tích Lịch Hoả (Lửa sấm sét), Kỷ Mùi là Thiên Thượng Hoả (lửa trên trời) gặp Thuỷ, không bị ảnh hưởng gì hại mà còn tốt vì hợp với tình thế.

5. Thổ

Thành luỹ, mái nhà, cùng trên vách
Ba Thổ đều sợ Mộc đâm xoi
Ngoài còn ba thứ chẳng sợ Mộc
Một đời thanh quý, bước lên mây.
Kỷ Mão là Thành Đầu Thổ (dất trên thành luỹ) Đinh Hợi là Ốc Thượng Thổ (đất trên mái nhà), Tân Sửu là Bích Thượng Thổ (đất trên vách nhà). Ba thứ đất này đều sợ Mộc (Mộc khắc Thổ) vì nếu cây mà mọc trên các thứ đất đó, rễ sẽ đâm xuyên làm cho dất lở và nứt ra.

Còn ba thứ Thổ khác mà gặp Mộc lại tốt như:

Tân Mùi là Lộ Bàng Thổ (bất cạnh đương) cần có cây cối mọc bên đường cho rợp mát.

Kỷ Dậu là Đại Dịch Thổ (đất ở các cung, trạm bay cầu quán) cũng cần có cây mọc để cho trạm hay cầu quán được đẹp mắt.

Đinh Tỵ là Sa Trung Thổ (đất trong cát) đất trong bãi cát rất tốt cho các việc trồng ngô, hoặc trên bãi sa mạc có cây mọc thì còn gì bằng?

Giai thoại về Sinh Khắc, Chế Hoá của Ngũ Hành.

A. Một trường hợp Kim sinh thuỷ

Để cho ta thấy rõ về Sinh Khắc, Chế Hoá của Ngũ hành, người xưa đã kể lại những giai thoại đã có để chứng minh lẽ huyền bí của Tạo hoá.

Trong thời Chiến Quốc, Thái Trạch người nước Yên, học rộng, tài cao đi du thuyết các nước chư hầu, nhưng không có nước nào dùng. Khi đến các nước Lương, nghe tiếng có Đường Cử là người giỏi về khoa Tướng số liền tìm đến xin vào gặp mặt để hỏi vì sao mà mình cứ lận đận và đến bao giờ mới đát được công danh, phú quý.

Đường Cử ngắm nhìn Thái Trạch rồi nói:

- Tiên Sinh mũi như con rết, vai cao hơn đầu, trán nhăn, mày cau, hai chân khuỳnh khuỳnh. Tôi nghe bậc Thánh nhân mà như vậy cũng không cần xem tướng, huống hồ là Tiên Sinh.

Thái Trạch nghe Đường Cử nói như vậy biết là nhà tướng số nước Lương có ý chê mình diện mạo xấu xa không làm nổi bậc Công, Khanh nhưng Thái Trạch vốn tin mình học rộng, tài cao thế nào cũng có ngày áo bào tung tăng bay trước gió, vinh quy bái tổ về làng. Ông ta nói với Đường Cử:

- Phú quý thì tôi đã có sẵn, học thức thì Trạch này chưa phải thua những bậc lương đồng của các nước. Chỉ xin Tiên sinh cho biết Trạch này còn sống đến bao giờ nữa.

Đường Cử tính một lúc rồi nói:

- Tuổi thọ của Tiên sinh còn dài. Kể từ nay còn 43 năm nữa.

Thái Trạch cười lớn:

- Trạch này vốn ăn ngon, mặc đẹp, đi thì lên xe, xuống nựa, ngọc dắt, vàng đeo, vái nhường trước vị nhân quân. Như vậy thì 43 năm cũng đủ cho Trạch này đương mây rộng bước.

Nói xong, từ biệt ra đi. Sau khi sang nước Hàn, thăm nước Triệu, Thái Trạch vẫn chưa tìm được minh chủ. Khi trở về Nguỵ, không may nửa đường bị cướp, mất sạch của, hành lý.

Đang khi bụng đói không biết xoay sở vào đâu, ngồi nghỉ ở dưới gốc cây bên vệ đường thì gặp Đường Cử đi qua trông thấy. Nhìn Thái Trạch trong tình cảnh vậy. Đường Cử hỏi đùa:

- Sao, Tiên sinh chưa gặp minh chủ à?

Thái Trạch đáp:

- Còn đang tìm kiếm đây.

Đường Cử nghiêm nét mặt nói:

- Tiên Sinh cốt tướng thuộc về Thuỷ, Tiên Sinh đã thừa biết Kim sinh Thuỷ. Tại hướng Tây, thuộc Kim, có nước Tần đang cường thịnh mà vua Tần lại chiêu hiền, đãi sĩ. Phạm Chuy, Thừa tướng nước Tần đang lo sợ chức vụ của mình bị lung lay vì Chuy đã bảo lãnh với vua Tần cho Trịnh An Bình và Vương Kê. Nay hai kẻ đó vừa phạm tội đối với triều đình. Theo luật nước Tần, kẻ bảo lãnh cũng bị tộ như chánh phạm nên Phạm Chuy đang nóng lòng muốn từ chức. Tiên sinh sao chẳng sang nước Tân mà tìm công danh chớ chịu khốn đốn ở đây sao?

Nói xong, Đưởng Cử mời Thái Trạch về nhà ăn ở rồi đưa tặng mấy nén vàng làm lộ phí sang Tần. Quả nhiên, Thái Trạch được vua Tần trọng dụng và thay Thừa tướng Phạm Chuy, phò tác Tần gom thâu thiên hạ.

B. Trường hợp Hoả chế hoá Kim

Cuối thời chiến quốc, sau khi diệt được Tần, Tây Sở Bá Vương Hạng Võ cậy mình sức mạnh, tự cho mình như một vị Hoàng đế, cắt đất, phong hầu cho các bạn đồng minh đã diệt Tần. Các đồng minh của Hạng Võ vì thế yếu phải tự coi như chư hầu của Sở Bá Vương.

Trong các Đồng minh này có Lưu Bang (sau này khai sáng ra nhà Hà) là có thực lựa có thể đối chọi với Hạng Võ, Hạng Võ tìm cách chèn ép, đàn áp Lưu Ba, vì sợ sau này Lưu Bang sẽ cường thịnh trở thành một đối thủ lợi hạn. Nay nhân dịp cắt phong hầu, Hạng Võ cũng biết Lưu Bang là người có công lao nhất trong việc diệt Tần, nhưng nếu cắt mọt nơi ruộng đất phì nhiêu, dân cư đông đúc mà cho Lưu Bang, thì sau này Lưu Bang sẽ cường thịnh, phong phú, có thể nhân đà ấy quật lại mình thì sao? Do đó, sau khi suy tính kỹ lưỡng, Hạng Võ phong cho Lưu Bac cai trị dất Tây thục là đất xa xôi núi non hiểm trở. Hạng võ yên trí là Lưu Bang sẽ bó tay không làm gì được. Nếu mình sai một tướng tài giỏi trấn thủ nơi hiểm yếu Lưu Bang sẽ bị cô lập, quân đội sẽ tan rã vì bọn lính sẽ bỏ Lưu Bang mà đi vì không ai thích từ bỏ quên hương để đi sốn nơi viễn xứ.

Nhưng Phạm Tăng, một người trí lược, mưu cơ, quân sư của Hạng Võ cho ý định của Hạng Võ là thất sách và nghĩ rằng:

- Lưu Bang dùng toàn mầu đỏ, cờ đỏ, áo đỏ. Như vậy thuộc hành Hoả. Nay được cai trị đất Tây Thục thuộc về hành Kim, Kim gặp Hoả sẽ thành khí nghĩa là các chất Kim khi được gặp lửa thì sẽ chảy ra, rèn đúc được các đồ hữu dụng như cũ khí..v..v..

“Nếu vậy là thả hổ về rừng, trái hẳn với ý nghĩ của Sở Vương, Lưu Bang sẽ trở nên dũng mãnh có thể diệt được Sở”

Quả nhiên đúng như sự phỏng đoán của Phạm Tăng, chỉ vài năm sau, Lưu Bang tiến quân phá tan Tần, bình Tề, Diệt Sở, nhất thống thiên hạ rồi khai sáng ra nhà Hán lưu truyền cơ nghiệp được 400 năm.

Theo tạp chí Khoa Học Huyền Bí


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Ngũ hành chế hóa

Phong thủy nhà chung cư: Tầng nào tốt nhất?

Không phải tầng chung cư nào cũng tốt với mệnh số của gia chủ.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Hiện nay rất nhiều cư dân muốn tiết kiệm đất xây dựng nhà ở nên các ngôi nhà cao tầng thường đua nhau mọc lên ở mọi nơi. Khi xem xét lựa chọn một nơi ở  nhà cao tầng thì cần phải xem xét các yếu tố về vị trí, yếu tố vật lí và phong thủy nơi ở. Tuy nhiên ở phương diện vật lí thì đa phần mọi người để ý hơn, còn phương diện phong thủy rất cần thiết thì mọi người đôi khi ít quan tâm hơn.

Xét một cách đơn giản, đối với môi trường vật lí của một tầng mà được coi là tốt nhất thì nếu tầng càng cao thì sẽ càng hấp thụ được những ánh sáng tốt. Còn tầng thấp hơn thì chất lượng không khí sẽ kém hơn, ô nhiễm âm thanh càng nhiều, chính vì vậy cần phải nhìn nhận xem ở những tầng nào sẽ là tốt nhất?

 phong thuy nha chung cu: tang nao tot nhat? - 1

Nội thất cho nhà ở chung cư:

Với một tòa nhà cao tầng thì thông thường phong thủy sẽ tập trung vào sự hài hòa về ngũ hành. Vì ở tầng cao do cách mặt đất xa nên thường thiếu yếu tố về đất trong ngũ hành. Những người có mệnh thổ khá phù hợp ở những tầng cao như vậy. Tuy nhiên những người ở tầng cao không nhất thiết cứ phải là người mệnh thổ. Trang trí nội thất căn phòng cần phải áp dụng các biện pháp bổ khuyết, hoặc tránh một số những chuyện cấm kỵ.

 phong thuy nha chung cu: tang nao tot nhat? - 2

Phòng khách đối với một tầng nhà tốt nhất là giữa cửa chính và căn phòng cần bố trí cửa cái hoặc chiếc tủ thấp để che lấp. Nếu không có vách ngăn giữa cửa và phòng khách thì khí bên ngoài sẽ trực tiếp thâm nhập vào căn phòng, dương khí cũng sẽ thoát ra ngoài, không thích hợp để ở. Cách hóa giải: Thiết kế cửa cái hoặc bố trí tủ thấp.

 phong thuy nha chung cu: tang nao tot nhat? - 3

Lan can là một khu vực hết sức quan trọng trong phong thủy nhà cao tầng. Đó là nơi hội tụ ánh sáng, phù hợp với người mệnh kim, giúp chủ nhà làm ăn phát tài. Vị trí ra vào cửa chính tuyệt đối không được đối diện với lan can, vì như vậy sẽ hình thành cái gọi là “ xuyên tim”, sẽ không có lợi cho việc tụ tài cho gia chủ và sẽ xảy ra những việc gây hao tài tốn của. Cách hóa giải: Làm giống như đối với phòng khách, lắp thêm cửa hoặc bức bình phong để che.

 phong thuy nha chung cu: tang nao tot nhat? - 4

Phòng bếp tương đương với mệnh hỏa trong ngũ hành, và khắc với thủy hành trong phong thủy. Khi thiết kế căn phòng cần phải chú ý bếp không được đặt đối diện với lan can, cửa bếp hoặc cửa chính, vì nếu chẳng may hỏa khí có vào phòng thì sẽ gây tổn tại cho sức khỏe của chủ nhà. Cách hóa giải: Lựa rèm cửa, có thể căn cứ vào hình dáng căn phòng để lựa chọn dùng rèm châu hay rèm vải.

 phong thuy nha chung cu: tang nao tot nhat? - 5

Tầng chung cư hợp vị trí địa lý cũng như phong thủy:

Thông thường, ngoài các tòa nhà cao tầng có từ 8 đến 11 tầng ra thì phân tích từ góc độ vị trí địa lí và phong thủy, lựa chọn tốt nhất khi ở nhà cao tầng như sau:

Đối với tòa nhà 15 tầng thì tầng 5 – 7 tốt nhất để ở.

Đối với tòa nhà 22 tầng thì tầng 5 – 7 và 14 – 17 tốt nhất để ở.

Đối với tòa nhà 24 tầng thì tầng 6 – 7 và 15 - 20 tốt nhất để ở.

Đối với tòa nhà 25 tầng thì tầng 6 – 7 và 15 - 20 tốt nhất để ở.

Đối với tòa nhà 26 tầng thì tầng 6 – 7 và 15 - 20 tốt nhất để ở.

Đối với tòa nhà 28 tầng thì tầng 6 – 7 và 15 - 22 tốt nhất để ở.

Đối với tòa nhà 39 tầng thì tầng 6 – 7 và 15 - 24 tốt nhất để ở.

Tóm lại khi lựa chọn một căn nhà tầng tốt nhất cho mình và gia đình mình thì cần phải chạy theo lợi và tránh xa cái hại. Xử lí tốt các vấn đề về ngũ hành và đạt được những trạng thái hài hòa về môi trường là điều tốt đẹp nhất.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Phong thủy nhà chung cư: Tầng nào tốt nhất?

Tích Lịch Hỏa - Ý nghĩa lửa của sấm sét

Tìm hiểu về khái niệm nạp âm Tích Lịch Hỏa hay gọi cách khác là Tịch Lịch Hỏa, Tích Lịch Hỏa kết hợp với Thiên Thượng Hỏa kết hợp với hành thủy tạo ra sấm sét.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tích Lịch Hỏa - Ý nghĩa lửa của sấm sét

Tích Lịch Hỏa - Ý nghĩa lửa của sấm sét

Tìm hiểu về nạp âm Tích Lịch Hỏa (lửa của sấm sét)

Phúc Đăng, Lư Trung dữ Sơn Đầu

Tam Hỏa nguyên lai phách Thủy lưu

Thiên Thượng, Tích , Sơn hạ Hỏa

Thủy trung nhất ngô cân vương hâu.

Còn Thiên Thượng Hỏa (lửa trên trời) và Tích Lịch Hỏa (lửa sấm sét) lại cần phối hợp với hành Thủy, bởi có nước thì càng phát huy được tính chất, khí âm (thủy) gặp khí dương (hỏa) sẽ gây ra sấm sét.

Sách Bác Vật Vựng Biên chép: "Mậu Tý, Kỷ Sửu, Sửu thuộc Thổ, Tý thuộc Thủy, Thủy ở chính vị mà nạp âm lại là Hỏa, nếu không phải thần long tất nhiên Thủy không biến ra Hỏa được, cho nên gọi bằng Tích Lịch Hỏa như tia lửa từ sấm chớp tức Thủy trung chi Hỏa".

Tích Lịch Hỏa lẫm liệt như tiếng sấm vang, nhanh tựa tia điện. Người Tích Lịch Hỏa mệnh nhiều sao tốt sự nghiệp cơ nghiệp thành công hơn người, thích làm việc to tát, càng loạn lạc càng xáo trộn khả năng càng phát triển.

Người mạng Tích Lịch Hỏa mà mệnh cung tầm thường chuộng hư danh thích nổi trôi dễ bị xúi giục làm những việc xuẩn ngốc như kiểu ôm bom ba càng nằm chắn xe tăng.

Người Tích Lịch Hỏa ưa vào cờ bạc thường bị bịp làm những chuyện bất ngờ, tâm ý nhiệt thành không giảo quyệt, luôn luôn ngăn nắp và kỷ luật.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tích Lịch Hỏa - Ý nghĩa lửa của sấm sét

Những cách gỡ bí cho bạn trẻ khi lo đám cưới

Đáng lẽ mừng đám cưới như tục lệ trói buộc thành ra lo đám cưới. Tục cũ đã truyền nhiễm lâu không dễ một mai đổi ngay được. Vậy phải làm thế nào ?
Những cách gỡ bí cho bạn trẻ khi lo đám cưới

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Để giúp các gia đình cưới dâu, một số gia vùng nông thôn có tục góp lễ cưới: đầu năm gia đình báo cho họ hàng xóm giềng biết dự định cưới dâu vào tháng nào, thông thường vào sau vụ thu hoạch. Lần lượt các gia đình đóng góp các khoản gạo nếp, gạo tẻ, đậu xanh, rượu hoặc tiền theo định lượng.
Còn lợn gà thì gia đình nào tự liệu cho gia đình ấy. Tục góp cưới cũng giống như hội tương tế tương trợ, hội cày cấy, hội lợp nhà... luân phiên  các gia đình. Đây là một tục hay, cùng nhau lo dần đến lượt mình đỡ phải lo những khoản lớn. Tiền, quà cưới của khách, bạn đưa tới thực chất cũng là hình thức góp lễ cưới, nhưng không chủ động được kế hoạch, thứ có không cần, thứ cần không có, thành ra tốn kém. Lệ chơi họ ngày nay, chung vốn để kinh doanh buôn bán cũng là xuất phát từ hình thức góp tiền nhau để làm nhà cưới vợ, tậu trâu bò ở nông thôn. Vì xuất phát từ họ hàng giúp nhau nên mới gọi là chơi họ.
Nếu Đoàn Thanh niên địa phương nào vững mạnh, cán bộ đoàn công tâm liêm khiết tháo vát, tổ chức "Hội chơi họ cưới vợ" có kế hoạch quản lý kinh doanh sử dụng phân phối chặt chẽ, ắt được nhiều bạn thanh niên hưởng ứng, tham gia...Bước đầu cũng đã có một số địa phương tổ chức "Dịch vụ đám cưới" như mua sắm cho thuê quần áo cưới, bát đĩa, ấm chén bàn ghế, phông màn, tổ chức trang trí, chụp ảnh, ca nhạc...vừa kinh doanh gây quỹ, vừa phục vụ thuận tiện, có chế độ ưu đãi với người góp cổ phần,với Đoàn viên.

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những cách gỡ bí cho bạn trẻ khi lo đám cưới
Click to listen highlighted text! Powered By DVMS co.,ltd