Tuổi Ất Sửu kết hôn với Đinh Mão thì Phúc Đức ( cát) kết hôn với Mậu Thìn phạm Ngũ Quỷ ( hung) với Bính Dần thì Du Hồn ( hung )
Cùng đi xét chi tiết sự kết duyên giữa Ất Sửu ( 1985 ) và Canh Ngọ ( 1990) để hiểu rõ hơn về mối lương duyên này.
Về tổng quan : Cặp đôi này gặp số Nhị Bần Tiện, gia cảnh bước đầu có đôi chút thiếu thốn, về sau khá hơn. Cần có kế hoạch làm ăn tiết kiệm để tránh của cái hao tốn . Con đầu là con gái thì hợp cha mẹ, vật dụng trong nhà chỉ tạm đủ dùng.
Tình yêu tuổi Sửu
Người vợ hay bôn ba, tính thẳng cộc, ưa giao thiệp, hay lo lắng, dễ tin người. Vợ chồng ít hòa hợp, cần thương lẫn nhau chung lo làm ăn cuộc sống ngày càng khá giả.
Vậy cùng đi chi tiết luận giải giữa trên các yếu tố bản mệnh ngũ hành, thiên can địa chi và bát trạch nhân duyên để cân đo mức độ hòa hợp của cặp vợ chồng tuổi này.
Xét về bản mệnh ngũ hành người chồng mệnh Kim người vợ mệnh thổ hai vợ chồng thuộc hảo phu thê tầm đầu ý hợp, con cháu vui vầy ngoan ngoãn, hiếu thuận. Nhà cửa lúc nào cũng tràn ngập niềm vui. Phúc đức tự đến.
Xét về thiên can một người can Ất một người can Canh hợp nhau hỗ trợ cho nhau trong làm ăn.
Xét về mặt địa chi tuổi Sửu và tuổi Ngọ kết hợp với nhau hơi xấu. Theo kinh dịch thì hai tuổi này tương hại, bản thân của nó có nghĩa là một cuộc hôn nhân không thuận, thiếu đi sự hòa hợp của đôi lứa. Trong gia đình không khí lúc nào cũng u uất, trầm lắng. Họ hàng, cha mẹ cũng thường không thích quan hệ của cặp đôi này
Xét trên Bát Trạch Nhân Duyên thì hai tuổi này gặp cung Thiên Y thuộc sao Cự Môn tốt cho sức khỏe, sự nghiệp.
Như vậy có thể thấy nếu xét chi tiết nhiều yếu tố thì không có cặp vợ chồng nào hoàn hảo, chi bằng lựa nhau mà sống, để có cuộc sống hòa thuận lâu bền.
Khanh: Có số làm quan, xuất ngoại, trung niên thành đạt.
Khảo: Cả đời thanh bạch, bình dị, nếu xuất ngoại sẽ cát tường; trung niên vất vả nhưng cuối đời thành công.
Khao: Có số xuất ngoại, cả đời bình an, khắc cha mẹ.
Khẩu: Có tài ăn nói, trung niên vất vả nhưng cuối đời cát tường.
Khích: Đi xa gặp quý nhân phù trợ, có số làm quan, nên kết hôn muộn sẽ đại cát, cả đời hưng vượng.
Khiếm: Hay lo lắng, cuộc sống khốn khó, khắc bạn đời và con cái.
Khiêm: Thông minh, nhanh nhẹn, có tài giao tiếp, trung niên sống bình dị, cát tường.
Khiêu: Thanh tú, lanh lợi, trắc trở tình duyên, trung niên đề phòng có họa, cuối đời cát tường, phú quý.
Khoa: Anh tú, trung niên thành công, thịnh vượng, xuất ngoại sẽ cát tường.
Khóa: Thuở nhỏ gian khó, trung niên bình dị, cuối đời cát tường.
Khoái: Bản tính thông minh, đa tài, tình duyên trắc trở, trung niên vất vả, cuối đời cát tường.
Khoan: Thanh nhàn, đa tài, phú quý, trung niên cát tường, gia cảnh tốt, nếu là con gái thì không nên đặt tên này.
Khoáng: Mẫn tuệ, gia cảnh tốt, cả đời cát tường.
Khôi: Cuộc đời thanh nhàn, bình dị, cẩn thận lời ăn tiếng nói, cuối đời cát tường.
Khởi: Khắc bạn đời hoặc con cái, xuất ngoại sẽ gặp phúc, số có 2 vợ, trung niên vất vả, cuối đời phát tài, phát lộc.
Khôn: Thanh tú, lanh lợi, con cái thông minh, trung niên có tai họa, kết hôn muộn sẽ hạnh phúc.
Khổng: Ưu tư, lo nghĩ nhiều, trung niên vất vả, cuối đời hưởng sung sướng.
Khuất: Thuở nhỏ gian nan, trung niên thành công rộng mở, có số đào hoa; một số người lo nghĩ nhiều.
Khuê: Cả đời phúc lộc, trí dũng song toàn, trung niên cát tường.
Khung: Có tài song không gặp thời hoặc vất vả cả đời, tính tình cương trực.
Khương: Đa tài, nhanh trí, tính tình ôn hòa, trung niên vất vả, cuối đời cát tường.
Khuyên: Sống thanh nhàn, trọng tín nghĩa, trung niên cát tường, gia cảnh tốt.
Kiếm: Tính tình quyết đoán, cẩn thận gặp họa dao kiếm, trung niên vất vả, cuối đời cát tường.
Kiến: Tính tình quyết đoán, có tài, xuất ngoại gặp phúc, xa quê lập nghiệp thành công, trung niên vất vả, nếu kết hôn và sinh con muộn thì sẽ đại cát, phúc lợi song toàn.
Kiện: Ưu tư, vất vả, khó được hạnh phúc, cuộc sống gặp nhiều trắc trở, tai ương.
Kiệt: Xuất ngoại đại cát, trung niên cát tường, cuối đời hưng vượng.
Kiều: Đa tài, đức hạnh, trí dũng song toàn, có số làm quan hoặc xuất ngoại.
Kính: Đa tài, đức hạnh, gặp nhiều may mắn, có số làm quan, gia cảnh tốt.
Kỵ: Gia đình không hạnh phúc, lắm bệnh tật, cuối đời vui vẻ.
Kỳ: Học vấn uyên thâm, trí dũng song toàn, có số làm quan, có 2 con sẽ đại cát, cả đời vinh hoa phú quý.
Kỷ: Thời trai trẻ bôn ba, vất vả, lận đận chuyện tình cảm, cuối đời hưởng hạnh phúc.
Theo phong tục xưa của Trung Quốc: vào tiết Hàn Thực 3/3 mọi người không nổi lửa mà chỉ ăn đồ nguội đã chuẩn bị sẵn từ hôm trước. Hàn thực có nghĩa là thức ăn nguội.
Theo phong tục xưa của Trung Quốc: vào tiết Hàn Thực 3/3 mọi người không nổi lửa mà chỉ ăn đồ nguội đã chuẩn bị sẵn từ hôm trước. Hàn thực có nghĩa là thức ăn nguội.
Ngày nay, người Việt Nam vào tiết Hàn Thực vẫn nổi lửa nấu nướng bình thường và thường làm bánh trôi – bánh chay để tượng trưng cho tết Hàn Thực. Chính vì vậy tết này còn được gọi là Tết Bánh Trôi – Bánh Chay.
2. Sắm lễ:
Mâm lễ cúng ngày Tết Hàn Thực gồm: Hương, hoa, trầu cau và 5 (hoặc 3 bát) bánh trôi, 5 (3 bát) bánh chay dâng lên bàn thờ.
3. Văn khấn:
Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)
- Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.
- Con kính lạy Hoàng thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.
- Con kính lạy ngài Bản cảnh Thành hoàng, ngài Bản xứ Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân cùng chư vị Tôn thần.
- Con kính lạy Cao Tằng Tổ khảo, Cao Tằng Tổ Tỷ, Thúc Bá, Đệ Huynh, Cô Di, Tỷ Muội họ nội họ ngoại.
Tín chủ (chúng) con là:............... Ngụ tại:…………
Hôm nay là ngày……………gặp tiết Hàn Thực, tín chủ chúng con cảm nghĩ thâm ân trời đất, chư vị Tôn thần, nhớ đức cù lao Tiên tổ, thành tâm sắm lễ, quả cau lá trầu, hương hoa trà quả, đốt nén tâm hương, dâng lên trước án.
Chúng con kính mời ngài Bản cảnh Thành hoàng Chư vị Đại Vương, ngài bản xứ Thần linh Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân, Ngũ phương, Long Mạch, Tài thần giáng lâm trước án chứng giám lòng thành thụ hưởng lễ vật.
Chúng con kính mời các cụ Tổ Khảo, Tổ Tỷ, chư vị Hương linh gia tiên nội ngoại họ..................... cúi xin thương xót con cháu giáng về linh chứng giám tâm thành thụ hưởng lễ vật.
Tín chủ con lại kính mời các vị vong linh các vị Tiền chủ, Hậu chủ ngụ trong nhà này, đất này đồng lâm án tiền, đồng lai hâm hưởng, phù hộ cho toàn gia chúng con luôn luôn mạnh khỏe, mọi sự bình an, vạn sự tốt lành, gia đình hòa thuận, trên bảo dưới nghe.
Sao Phá Quân- Thông minh và cương quả thuộc chòm sao Bắc Đẩu
Sao Phá Quân là một hung tinh, hao tinh chủ về phu thê và hao tán, nếu ở vị trí tốt thì Phá Quân là một người dũng mãnh, cam đảm nhưng có phần nóng nảy.
Sao Phá Quân- Thông minh và cương quả thuộc chòm sao Bắc Đẩu
Sao Phá Quân là một ung tinh chủ về phu thê và hao tán
Sao Phá Quân thuộc chòm sao Bắc Đẩu Tinh tên thường gọi là Đẩu (thuộc tính Âm thủy).
Sao Phá Quân miếu địa tại: Tý, Ngọ.
Vượng địa tại: Tỵ, Hợi.
Đắc địa tại: Thìn, Tuất.
Hãm địa tại: Mão, Dậu, Dần, Thân, Tỵ, Hợi.
Sao Phá Quân tại cung mệnh là người có một thân hình đẫy đà, cao vừa tầm (nếu đắc địa, hãm địa thì là người có thân hình hơi thấp). Da hồng hào, mặt đầy đặn, mắt lộ, hầu lộ, lông mày thưa.
Phá Quân miếu địa, vượng địa hay đắc địa là người thông minh cương quả, hiếu thắng, tự đắc và là người có thủ đoạn. Có tài thao lược và dũng mãnh, ưa hoạt động, thích đi xa, ham săn bắn.
Sao Phá Quân miếu địa ứng hợp với tuổi Kỷ, Qúy và khắc với tuổi Bính, Dậu, Dần, thân vậy cho nên tuổi Đinh, Kỷ, Qúy mà cung mệnh có Phá Quân miếu địa tọa thủ chắc chắn người này được hưởng phú quý song toàn. Còn tuổi Bính, Dậu, Dần, Thân mà cung mệnh có sao Phá Quân miếu địa tọa thủ thì tuy cũng được hưởng giàu sang nhưng lại hay mắc những tai nạn khó đoán.
Phá Quân hãm địa là người ương ngạnh hiếu thắng và dữ tợn, nhan hiểm, bất nhân. Tuy nhiên họ lại rất khéo tay thường chuyên về cách ngành kỹ nghệ thủ công. Nếu đi buôn tất suốt đời sẽ vất vả, gặp phải nhiều tai ương. Nếu không ly tổ buôn ba tất sẽ không thể sống thọ được.
sao Phá Quân hãm địa tại cung Mão và Dậu ứng hợp với tuổi Ất, Tân, Qúy. Phá hãm địa tại Dần, Thân ứng hợp với tuổi Giáp, Canh, Đinh, Kỷ. Phá hãm địa tại Tỵ và Hợi ứng hợp với tuổi Mậu vậy cho nên tuổi Ất, Tân, Qúy mà có cung mệnh an tại Mão, Dậu, có Phá tọa thủ. Và tuổi Dậu có cung mệnh an tại Tỵ, Hợi có Phá Quân tọa thủ vẫn khá giả và chẳng mấy khi phải lo lắng vì những chuyện xảy ra trong đời.
Phá Quân hãm địa gặp Kình, Đà, Không, Kiếp đắc địa hội họp cũng đuôc hưởng giàu sang nhưng hay mắc tai họa.
Phá Quân hãm địa gặp nhiều sao mờ ám xấu xa hội họp như Đại hao, Tiểu hao, Hổ, Kỵ, Hình thì suốt đời nghèo khổ và cô đơn, phải sống cuộc sống phiêu bạt nay đây mai đó, hay mắc những chứng bệnh lạ khó chữa.
Cung mệnh an tại Tý, Ngọ, Thìn, Tuất, Dần, Thân có Phá Quân đơn thủ tọa thủ (không gặp chính diệu khác đồng cung) là người không sáng suốt và hay nghe lời nịnh hót.
Cung mệnh an tại Tý. Ngọ có Phá Quân tọa thủ tất được hưởng phú quý song toàn.
Cung mệnh an tại Tý, Ngọ có Phá tọa thủ thì sớm phải xa cha mẹ và anh em, nếu không thì vợ chồng khắc nhau và hiếm con.
Cung mệnh có sao Phá Quân tọa thủ (hay có Tham tọa thủ) gặp Lộc, Mã hội họp có cách này thì đàn ông hay chơi bời hoang đãng thích ngao du, là nữ mệnh thì có tính dâm dật.
Đàn ông hay đàn bà mà cung mệnh có Phá tọa thủ hay Tham tọa thủ gặp Lộc, Mã hội họp là người vô hạnh, nhưng tiền bạc lại dễ kiếm.
Cung mệnh an tại Mão, Dậu có Phá, Kình tọa thủ, đồng cung gặp Phụ, Bật hội họp là người độc ác, đa sát, làm loạn thiên hạ như Hoàng Sào (Đời Đường).
Cung mệnh có sao Phá Quân tọa thủ, gặp Hỏa, Linh hội họp thì suốt đời phải buôn ba và lao khổ.
Tuổi Tân, Đinh mà có cung mệnh an tại Dần, Thân có Phá Quân tọa thủ gâp Hỏa, Việt hội họp là người giỏi về máy móc chuyên về cơ khí. Các tuổi khác cung mệnh an tại Dần, Thân có cách này cũng là người rất khéo tay.
Cung mệnh an tại Ngọ có Phá Quân tọa thủ thì hay cáu gắt, nói năng thô lỗ. Đây nếu Phá hoặc gặp Lộc đồng cung, hoặc gặp Thiếu Dương đồng cung, hoặc gặp Lộc, Dương hội họp lại là người rất vui tính, hay đùa giỡn.
Cung mệnh an tại Thìn, Tuất có Phá tọa thủ, là người gian ác và Bất nhân, nếu Phá gặp Khoa đồng cung gặp thêm Tuần, Triệt án ngữ lại là người thẳng thắn và lương thiện. Tuổi Mậu, Qúy mà có cung mệnh an tại Thìn và Tuất có Phá Quân tọa thủ, gặp Khoa đồng cung, gặp thêm Tuần, Triệt án ngữ tất hoạnh phát danh tài.
Cung mệnh an tại tứ mộ có Phá tọa thủ là người cương quả, lập được sự nghiệp lớn trong thời loạn. Nếu gặp thêm Hình, Lộc hội họp tất có uy quyền hiển hách.
Lễ Phục sinh theo đạo Thiên chúa giáo, là lễ mừng Chúa Jésus Christ sống lại sau ba ngày. Lễ này tiếp theo Tuần Thánh mà người ta tổ chức cho bữa ăn cuối cùng của Chúa Jésus với Tông đồ (ngày thứ Năm : La Cène) và ngày Chúa chết trên thập tự giá (thứ Sáu).
Lễ Phục sinh là một ngày lễ quan trọng ở phương Tây, là ngày Chủ Nhật đầu tiên sau tiết Xuân phân khi trăng tròn. Vì sao ngày hội tôn giáo quan trọng kỷ niệm sự phục sinh của Chúa Jesus lại có nhiều yếu tố phi Cơ Đốc giáo như vậy? Từ ý nghĩa Cơ Đốc giáo mà nói, Lễ Phục sinh tuy không lớn bằng Lễ Giáng sinh nhưng ngày càng trở thành phong tục tập quán.
Theo nghiên cứu, tên gọi Lễ Phục sinh (Easter) bắt nguồn từ hai nguồn gốc lớn, và sau khi Cơ Đốc giáo thêm vào ý nghĩa phục sinh của Chúa Jesus thì hai nguồn gốc lớn này dần hợp lại làm một. Do đó, Lễ Phục sinh còn có nguồn gốc từ bên ngoài chứ không chỉ mang ý nghĩa thuần túy là ngày lễ Cơ Đốc giáo. Tiết lộ cổ xưa của Thần về Lễ Phục sinh đã bị thất lạc, và ngày nay, nhờ phá giải bí ẩn về Lễ Phục sinh ở phương Tây mà chúng ta có thể hiểu được hàm nghĩa hai chữ “Phục sinh”.
Lễ Phục sinh bắt nguồn từ Lễ Vượt qua của Do Thái giáo
Hơn 3.000 năm trước, Thiên Chúa Jehovah đã triển hiện Thần tích cho người Do Thái để Pha-ra-ông Ai Cập thả những người Do Thái ra khỏi Ai Cập. Pha-ra-ông Ai Cập đã nhiều lần thất tín bội nghĩa, do đó Thiên Chúa cuối cùng đã quyết định trừng phạt Pha-ra-ông. Lễ Vượt qua (Passover) là kỷ niệm đêm trước ngày Moses thống lĩnh người Do Thái thoát khỏi Ai Cập, khi ấy thiên sứ đã giết chết tất cả con trưởng ở Ai Cập, sau đó vượt qua các ngôi nhà của người Israel được bôi máu cừu và cứu các gia đình người Israel.
Lễ Vượt qua đã trở thành ngày lễ quan trọng nhất của Do Thái giáo. Trước và sau tiết Xuân phân, người Israel cổ đại đã quan sát mặt trăng mới ở Jerusalem sau khi mặt trời lặn, cũng chính là ngày đầu tiên của tháng Nisan. Kể từ ngày này, ngày thứ 14 chính là Lễ Vượt qua cổ đại. Đa số người Do Thái ngày nay lấy ngày 15 tháng Nisan để ăn mừng Lễ Vượt qua.
Để chuẩn bị Lễ Vượt qua, trong 10 ngày đầu tiên tháng Nisan, người ta chọn một con cừu không tỳ vết để làm cừu tế Lễ Vượt qua, sau đó nuôi trong nhà đến ngày thứ 14 rồi mới giết mổ.
Đêm trước Lễ Vượt qua, trong 10 ngày đầu tháng Nisan từ năm 30-33 SCN, ngày mà người ta đưa cừu vào nhà, Chúa Jesus đã cưỡi lừa vào Jerusalem. Ngài đã bị đưa đến Pilate để thẩm phán và không tìm thấy tội, nhưng lại đáp ứng yêu cầu của cừu không tỳ vết. Vào Lễ Vượt qua ngày 14 tháng Giêng, Chúa Jesus đã bị đóng đinh lên thập tự giá. Khoảng 3 giờ chiều, Chúa Jesus nói: “Thưa cha, con đem linh hồn con giao trong tay cha.” Nói rồi tắt thở, đây chính là thời gian mổ cừu trong Lễ Vượt qua.
Trước khi Chúa Jesus gặp nạn, Bữa tối Cuối cùng (Last Supper) chính là bữa tối trong Lễ Vượt qua giữa Chúa Jesus và các tông đồ. Theo định nghĩa của người Do Thái đối với ngày này, ngày hôm sau bắt đầu từ khi mặt trời lặn; do đó, Chúa Jesus được coi là đã chết vào ngày Lễ Vượt qua.
Giáo hội Cơ Đốc và Do Thái giáo cũng bất đồng khi nhìn nhận vấn đề này. Đại bộ phận Giáo hội Cơ Đốc cho rằng Chúa Jesus bị sát hại vào ngày thứ Sáu, do đó kỷ niệm “Lễ Vượt qua” của họ là vào ngày thứ Sáu, còn Chúa Jesus phục sinh vào ngày Chủ Nhật, do đó Lễ Phục sinh và Lễ Vượt qua được cử hành đồng thời. Tuy nhiên vào mỗi năm, Lễ Vượt qua có thể không rơi vào ngày thứ Sáu, vì thế lễ mừng của đại bộ phận Giáo hội Cơ Đốc rất ít khi trùng khớp với lễ mừng của người Do Thái.
Năm 325 SCN, Hoàng đế La Mã Constantine I đã tổ chức hội nghị đầu tiên xác định Lễ Phục sinh là vào ngày Chủ Nhật, và bởi vì Chủ Nhật được Giáo hội coi là ngày nghỉ ngơi, nên Lễ Phục sinh cũng mang đặc trưng ngày trăng tròn sau Xuân phân của “Lễ Vượt qua”. Cứ sau ngày 21 tháng 3 hàng năm (ngày Xuân phân), thì lại xuất hiện một ngày Chủ Nhật đầu tiên sau trăng tròn được lấy làm Lễ Phục sinh.
Từ xưa tới nay, phương pháp tính ngày Lễ Phục sinh đều rất phức tạp; chữ La-tinh Computus là chuyên chỉ phương pháp tính Lễ Phục sinh. Thế nhưng Giáo hội La Mã và Giáo hội Chính thống giáo Đông phương lại có cách tính hơi khác nhau, khiến Lễ Phục sinh Tây phương có thể xuất hiện tại các ngày khác nhau.
Năm 1997, Hiệp hội Giáo hội Phổ thế Quốc tế đã tổ chức hội nghị tại Syria và kiến nghị cải cách phương thức tính Lễ Phục sinh, đồng thời đề nghị thống nhất Lễ Phục sinh tại hai Giáo hội Đông, Tây; thế nhưng tới nay, tuyệt đại đa số các quốc gia vẫn không tuân theo. Lai lịch Lễ Phục sinh và điển cố tôn giáo về sự phục sinh của Chúa Jesus là gắn kết chặt chẽ với nhau.
Lễ Phục sinh nguyên là ngày hội mừng Xuân thời cổ đại
Theo Wikipedia, chữ “Easter” trong tiếng Anh và tiếng Đức nguyên là chỉ “hội Xuân” của dị giáo cổ đại, tức ngày hội mừng Xuân trong thời gian Xuân phân. Bởi vì sau Xuân phân, đêm bắt đầu ngắn đi, quang minh đã chiến thắng hắc ám; sau khi trăng tròn, ban ngày đến tràn ngập ánh sáng khiến người ta liên tưởng đêm đen đã bị ánh mặt trời xua tan.
Ngày lễ này bắt nguồn từ nữ thần Ái tình, Sinh dục và Chiến tranh Ishtar của Babylon cổ đại, sau đó Ishtar trở thành nữ thần Bình minh và mùa Xuân Eastre của Tây Âu. Chứng cứ thứ nhất là hai cái tên này đọc rất giống nhau; chứng cứ thứ hai là hàm nghĩa của Eastre là phương Đông (East), bởi vì mặt trời mọc lên ở phương Đông.
Theo cuốn «Hai Babylon», chữ “Easter” là âm dịch từ “Istres” của người Chaldea (thuộc vùng Lưỡng Hà), và không có quan hệ với Cơ Đốc giáo. Nghe nói đây chính là “Ashtart”, tức nữ thần Sinh dục và Chiến tranh của người Babylon cổ đại.
Trứng Phục sinh
Những vật phẩm có liên quan với Lễ Phục sinh là thỏ Phục sinh và trứng Phục sinh. Theo truyền thuyết, trứng Phục sinh chính là trứng thỏ, thế nhưng trên thực tế, thỏ không đẻ trứng; do đó, trứng Phục sinh đều là trứng gà, và có người thích vẽ hình mặt quỷ hoặc hoa văn lên trứng. Những phong tục dân gian này cũng không bắt nguồn từ Cơ Đốc giáo.
TẠI SAO LỄ PHỤC SINH KHÔNG VÀO MỘT NGÀY NHẤT ÐỊNH TRONG NĂM?
Từ thế kỷ thứ 2 trở đi đã có những cuộc tranh luận gay gắt nhằm xác định đúng ngày Chúa sống lại. Nhưng rút cuộc cũng không đi đến kết luận thống nhất.
Nhưng từ thế kỷ thứ 8, tín hữu có thói quen xác định ngày lễ Phục sinh dựa vào ngày Xuân phân (21/3) và tuần trăng. Cách tính như sau: Lấy ngày 21/3 làm khởi điểm, lễ Phục sinh sẽ là ngày Chúa Nhật đầu tiên sau ngày trăng tròn kế đó. Như thế, năm nào ngày trăng tròn vào đúng ngày thứ Bẩy 21/3 thì năm đó lễ Phucï sinh sẽ đến sớm nhất so với các năm khác, tức là đến vào ngày Chúa Nhật 22 tháng 3. Nhưng nếu ngày trăng tròn rơi vào ngày 20 tháng 3 thì lại không được kể, mà phải đợi đến ngày trăng tròn kế tiếp, tức là ngày 18 tháng 4 (29 ngày sau). Nhưng nếu ngày 18/4 lại rơi vào ngày Chúa Nhật thì lễ Phục sinh năm đó sẽ đến trễ nhất so với các năm khác, tức sẽ là ngày 25/4.
Mỗi năm, lễ phục sinh sẽ rơi vào một ngày nào đó không cố định trong khoảng từ tháng 3 đến tháng 5. Năm nay, nếu như ở Tây phương, lễ phục sinh diễn ra vào ngày 31.3 thì ở phương Đông sẽ là ngày 1.5.
Theo đó, mỗi năm lễ Phục sinh sẽ nhằm vào một ngày nào đó trong khoảng từ 22/3 đến 25/4. Cách tính này đã được Công đồng Nicea vào năm 325 chính thức chấp nhận.
Phong tục và lễ nghi
Một tuần lễ trước lễ Phục Sinh, được gọi là Tuần Thánh, tính từ ngày Chúa nhật Lễ Lá (hay Chúa nhật Thương Khó) cho đến hết ngày Thứ bảy Tuần Thánh (hay Canh thức Vượt Qua). Trong tuần này, các giáo hội Kitô giáo tưởng nhớ cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu Kitô, cử hành những mầu nhiệm mà Chúa Giêsu đã hoàn tất vào những ngày cuối cùng ở trần gian. Đối với Kitô hữu, mọi cử hành phụng vụ trong tuần này đều nói lên thái độ đau buồn, nhưng với tâm tình biết ơn vì Chúa đã thương trở nên con người để chịu đau khổ và chịu chết cho nhân loại tội lỗi.
Tại nhiều quốc gia Tây Phương, Lễ Phục Sinh bao gồm chủ nhật và thứ hai là ngày nghỉ lễ chính thức. Tại châu Âu, như tại Đức, thêm ngày thứ Sáu Tuần Thánh cũng là ngày nghỉ lễ chính thức, vào ngày này, những nơi vui chơi, rạp hát, tiệm buôn đều đóng cửa để tưởng niệm cuộc khổ nạn của Chúa.
Theo một phong tục cổ từ những người Ai Cập, Ba Tư (Perse) vào ngày Xuân phân (21/03), bắt đầu một năm mới, bạn bè thường trao đổi cho nhau các quả trứng có tô điểm màu sắc, vì coi đó như là điều tốt lành, vì từ trứng xuất hiện lên sự sống.
Biểu tượng thần thánh Thỏ Phục sinh
Thỏ phục sinh Thỏ là biểu tượng của sự đẻ sai, màu mỡ phồn thịnh, vì thế chú thỏ béo thường được sử dụng như linh vật của ngày lễ quan trọng này.Các chuyện thần thoại hay trong dân gian đều có chuyện vui giúp đời như con thỏ là con vật hiền lành không làm hại sinh vật nào. Thỏ không có khả năng tấn công hoặc gây nguy hại cho các loài động vật khác, nhưng lại thường xuyên bị những con như sói, báo, chim ưng, cú... uy hiếp. Chính vì vậy, thỏ thường xuyên phải vểnh tai để chú ý xem bốn phía chung quanh có động tĩnh gì không, nhằm đề phòng bất trắc. Trong hoàn cảnh khắp nơi là kẻ địch như vậy, nên đôi tai của thỏ đặc biệt to dài nghe rất thính để chạy trốn.
Nữ thần ái tình Hy Lạp "Liebesgưttin Aphrodite" cho đến Nữ Thổ Thần Nhật Nhĩ Nam "Erdgưttin Holda" đều yêu chuộng thỏ. Ở Byzanz Tây Ban Nha các nhà biểu tượng học xem biểu tượng con thỏ là một Thiên sứ... Thỏ phục sinh xuất hiện từ năm 1678 do một giáo sư y khoa Von Georg Franck ở Franckenau dạy đại học Heidelberg công nhận thỏ là biểu tượng của sự sinh nở phong phú.
Việc đặt bình hoa trong nhà theo hướng hợp phong thủy không chỉ giúp cho không gian sống nhà bạn thêm đẹp, có sức sống mà còn mang lại sự giàu có, thịnh vượng và tốt cho đường tình duyên của gia chủ.
Trong phong thủy, đào hoa vị là huyệt đạo nếu được tác động sẽ có tác dụng làm tăng vận khí đào hoa của người sống trong ngôi nhà đó. Đặt bình hoa ở đúng vị trí đào hoa của mỗi người sẽ rất tốt cho chuyện tình duyên của gia chủ:
Nếu đặt bình hoa ở vị trí đào hoa theo tuổi, vị trí này phân bố như sau:
- Tuổi Dần, Ngọ, Tuất: vị trí đào hoa ở hướng chính Đông, do đó nên bài trí bình hoa ở hướng chính Đông.
- Tuổi Thân, Tí, Thìn: nên bài trí bình hoa ở hướng chính Tây.
- Tuổi Tị, Dậu, Sửu: nên bài trí bình hoa nằm ở hướng chính Nam.
- Tuổi Hợi, Mão, Mùi: nên bài trí bình hoa ở hướng chính Bắc.
Nếu đặt bình hoa ở vị trí đào hoa theo màu sắc thì cần tìm những màu chủ đạo của bình hoa, cụ thể như sau:
- Đào hoa ở hướng chính Đông: Đặt bình hoa màu xanh lục.
- Đào hoa ở hướng Tây: Đặt bình hoa màu vàng kim (vàng óng), màu trắng.
- Đào hoa ở hướng Nam: Đặt bình hoa màu đỏ, tím, cam.
- Đào hoa ở hướng Bắc: Đặt bình hoa màu đen, xám.
Đặt bình hoa theo chất liệu và hình dáng bình.
Trong phong thủy học, bình cắm hoa tốt nhất là bằng chất liệu gốm hoặc sứ. Bình hoa bằng sứ nên đặt ở hướng Tây Nam hoặc Đông Bắc, còn bình hoa thuỷ tinh nên đặt ở phía Bắc trong phòng hay ngôi nhà. Hình dạng bình hoa cũng rất quan trọng, bình hoa có hình dạng khác nhau nên đặt ở các hướng khác nhau. Các loại bình hoa hình cầu nên đặt ở hướng bắc hoặc tây bắc, hình nón nên đặt ở phía Nam.
Đặt bình hoa trong phòng ngủ là tốt nhất
Phòng ngủ là nơi tốt nhất để đặt bình hoa. Trong nhà bạn có thể đặt nhiều bình ở những hướng tốt. Nếu bình bằng thủy tinh, gốm sứ đựng nhiều đá quý, thuộc hành Thổ, bạn nên đặt bình ở trong tủ thuộc góc Thổ của phòng ngủ, tức là hướng Tây Nam. Song nếu không có điều kiện, bạn đặt ở góc Đông Bắc cũng có thể chấp nhận được. Còn bình bằng kim loại thì đặt ở góc Tây hoặc Tây Bắc. Bạn nên đặt bình vào nơi kín đáo, ví dụ trong tủ của phòng ngủ.
Ngoài ra, đối với phái mạnh, dù đã cao tuổi hay còn thanh niên, nếu muốn thu hút sự chú ý của phái nữ có thể đặt một bình hoa với vài cành hoa tươi ở vị trí bên phải cửa ra vào.
5 lưu ý quan trọng khi đặt bình hoa trong nhà
- Không để bình hoa rỗng trong nhà, nếu không sẽ khiến vợ hoặc chồng ngoại tình
- Thường xuyên thay nước hoặc bổ sung nước cho bình hoa, để nước bị hao hụt cũng sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe cũng như tài sản trong gia đình
- Hạn chế cắm hoa khô/hoa giả, sẽ làm căn nhà không có sức sống, gây nên một số trở ngại. Nếu đặt bình hoa khô/hoa giả thì phải để một lọ nước hoa bên cạnh.
- Hoa úa phải bỏ/thay ngay, để lâu ngày sẽ phá hỏng bầu không khí trong gia đình.
- Không gian xung quanh nơi đặt bình hoa phải sạch sẽ, gọn gàng.
Chùa Sải có tên chữ là Tĩnh Lâu tự. Chùa nằm bên bờ Hồ Tây trên địa phận làng Hồ Khẩu thuộc tổng Trung, huyện Vĩnh Thuận, phủ Hoài Đức, nay là phường Bưởi, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội. Chùa Tĩnh Lâu được công nhận di tích lịch sử văn hóa ngày 26 tháng 6 năm 1996 của Bộ Văn hóa – Thông tin Việt Nam.
Theo tấm bia cổ còn lại tại chùa, ngôi chùa nằm trên một diện tích rộng lớn đến 10 công mẫu, sát mép nước hồ Tây. Theo các nhà nghiên cứu văn hóa thì chùa Tĩnh Lâu có từ thời Lý. Trước đây chùa có tên gọi là Thanh Lâu tự và có tên gọi nôm là chùa Sải, về sau đến thời nhà Nguyễn thì đổi tên thành chùa Tĩnh Lâu.
Chùa Sải được dựng trong một khu vực có cảnh quan đẹp, phía trước chùa là hồ Tây, và cảnh quan toàn khu vực còn có sự hiện diện của chùa Trấn Quốc, đền Vệ Quốc, phủ Tây Hồ… tạo nên một quần thể di tích văn hóa.
Tam quan chùa làm theo kiểu vòm cuốn với kiến trúc hai tầng tám lá mái, được lợp ngói theo kiểu ngói ống giả vôi vữa tạo ra vẻ thanh thoát nhẹ nhàng. Khu chính điện của chùa được kết cấu theo kiểu chữ đinh (丁), gồm năm gian tiền đường và bốn gian hậu cung.
Mái chùa lợp ngói mũi hài, bờ nóc ở hai đầu kìm đắp hai dấu vuông, bờ dải phía dưới xây theo kiểu tam cấp trên trang trí các hoa văn hình chữ triện. Phía trước chùa được mở đầu bằng hai cột đồng trụ xây nối liền với tường hồi của gian tiền đường, trên đỉnh cột đồng đắp đôi nghê trong tư thế chầu nhằm thể hiện mục đích soi xét tâm linh con người trước khi bước vào cửa thiền. Dưới mỗi đôi nghê là mui luyện, lồng đèn và trên đó đều đắp các hình trang trí như đầu rồng, mặt hổ phù, hoa lá v.v. Thân trụ được tạo vuông các mặt để viết câu đối lên trên đó.
Trong chùa Tĩnh Lâu còn lưu giữ được những tác phẩm có giá trị mang phong cách nghệ thuật Việt Nam từ thế kỷ 17. Đáng chú ý là tòa Cửu Long của chùa được làm khác với các các tòa Cửu Long khác, mang dáng dấp của một chiếc lọng che (bảo cái).
Ba pho tượng Tam thế trong chùa được tạo tác vừa phải gần với kích cỡ của người thật, trong tư thế ngồi kiết già trên đài sen ba lớp với khuôn mặt thon nhỏ, sống mũi thẳng, miệng hơi mỉm cười và đôi mắt khép hờ như đang nhìn xuống. Ngoài ra còn có 38 pho tượng lớn nhỏ khác, trong đó bộ tượng A Di Đà cao 1,34m là bộ tượng lớn nhất trong Phật điện. Tại cửa ra vào còn treo một quả chuông đồng được đúc vào năm Cảnh Thịnh thứ 7 (1799), trên chuông khắc dòng chữ Thanh Lâu thiền tự (nghĩa là chuông chùa Thanh Lâu).
Trong chùa còn lưu giữ 15 tấm bia đá, khu vườn Tháp mộ cùng nhiều hoành phi, câu đối cổ đã khiến cho di tích chùa Tĩnh Lâu trở thành một công trình kiến trúc Phật giáo hoàn chỉnh và là một cấu trúc nguyên mẫu về chùa cổ Việt Nam.
Tháp mộ trong chùa
Tháng 4 năm 2007, tại chùa phát hiện một ngôi mộ cổ được táng theo kiểu “trong quan ngoài quách”. Với kiểu xây dựng hình mu rùa, bước đầu xác định ngôi mộ này dành cho một người đã khuất thuộc tầng lớp thuộc hàng vương thất, quan lại hoặc chí ít cũng là người giàu có. Trên nền đất chùa Tĩnh Lâu cách đây khoảng 40 năm cũng từng phát hiện một ngôi mộ của một công chúa. Hiện nay Sư cô Thích Đàm Chung đương kim trụ trì.
Chùa Tĩnh Lâu (chùa Sải) toạ lạc bên bờ Hồ Tây, tạo nên một danh lam thắng tích nổi tiếng ở đất kinh kỳ thu hút nhiều phật tử và du khách đến thăm quan và cúng bái.
Ta nhân đó mà hiểu rằng họa phúc là tự mình chuốc lấy, làm lành gặp lành, làm ác gặp ác, các vị thánh hiền đều đã dạy như thế. Nếu nói rằng họa phúc là do mệnh trời định, thì đó là bàn luận của thế nhân vậy.
Mệnh của con chưa ai đoán nên không biết thế nào, nhưng nên hiểu rằng như mệnh mình gặp lúc vinh hiển, thường phải nghĩ tới lúc hàn vi chưa được đắc ý; khi gặp được sự thuận lợi, thường phải nghĩ tới lúc gặp nghịch cảnh khó khăn; khi trước mắt có đủ ăn, thường phải nghĩ tới lúc nghèo nàn; khi được người kính nể, thường phải có ý e dè sợ sệt; khi gia thế được người trọng vọng, thường phải nghĩ tới lúc mình còn ty tiện, thấp kém; khi học vấn có phần cao, thường phải nghĩ tới lúc mình còn nông cạn, ngu dốt.
Nghĩ tới việc xa thì phải nêu cao cái đức của tổ tông, nghĩ gần thì phải đền bồi lỗi lầm cho cha mẹ nếu có; trên thì nghĩ tới việc báo ân tổ quốc, dưới thì nghĩ tới việc tạo phúc cho gia đình, bên ngoài thì nghĩ tới việc cứu người khi cần cấp, bên trong thì đề phòng khắc phục tà kiến của mình.
Ngày ngày cần phải xét biết lỗi để ngày ngày cải sửa. Một ngày mà không biết xét chỗ sai trái của mình là ngày đó mình đã an nhiên tự thị, yên chí tự coi mình là đúng. Một ngày mà không có lỗi nào để sửa là ngày đó không có một chút tiến bộ nào cả.
Trong thiên hạ không thiếu gì người thông minh tài trí, nhưng lại không biết tu cho đức được tăng, không biết mở mang sự nghiệp cho ngày một thêm rộng lớn, chỉ biết an vui phóng dật chẳng chịu cải sửa, bỏ phí cả một đời.
Thuyết lập mệnh do Vân Cốc thiền sư chỉ dạy là một đạo lý thực chân chánh, thực tinh vi thâm thúy, con phải gắng công, gắng sức nghiên cứu cho kĩ rồi theo đó mà thi hành, chớ để thời gian trôi qua một cách vô ích.
Chùa Báo Quốc tọa lạc Tọa lạc trên đồi Hàm Long, đường Báo Quốc, phường Vĩnh Ninh, thành phố Huế, Chùa được trụ trì bởi Hòa thượng Thích Đức Thanh
Chùa Báo Quốc còn có tên cũ là chùa Hàm Long và chùa Thiên Thọ. Chùa do Hoà thượng Thích Giác Phong khai sáng vào khoảng thế kỷ thứ XVII (có thể 1687). Hồi đó chùa Báo Quốc còn mang tên là Hàm Long Thiên Thọ Tự.Thời sơ khởi, ngôi chùa nầy chỉ là một am tự nhỏ, thờ đức Phật Thích Ca cho những người trong địa phương đến lễ bái cúng tế. Mãi đến thế kỷ sau, mới bắt đầu những chương trình trùng tu. Hai bảo tháp cũng được dựng lên.
Năm 1747, khi lên nắm quyền ở Đàng Trong, chúa Nguyễn Phúc Khoát đã đến lễ chùa và ban một tấm biểu sơn son thiếp vàng có khác “Sắc tứ Báo Quốc Tự”; một bên của tấm biểu ghi thêm Quốc Vương từ tế, đạo nhân ngự đề. Năm 1808 đời vua Gia Long, Hiếu Khương Hoàng Hậu đã đứng ra tổ chức việc quyên góp để trùng tu lại ngôi chùa, bảo tháp và la thành, minh đường; nhiều quan lại trong triều đã tham gia trong công trình nầy. Chùa cũng đã được đổi tên ra Thiên Thọ Tự, trích từ một đoạn kinh trong Tứ Thập Nhị Chương.
Đến năm 1824 đời vua Minh Mạng, nhân một cuộc lễ trai đàn chẩn tế do hoàng tộc tổ chức tại ngôi chùa nầy và chính nhà vua đã đề nghị chư vị trụ trì và giám thọ trong chùa đổi lại tên là Báo Quốc.
Vào tháng năm năm 1940, vào thời kỳ chấn hưng Phật Giáo Việt Nam, trường Cao đẳng Phật Học đầu tiên đã được khai giảng đầu tiên tại chùa Báo Quốc dưới sự chứng minh của Hoà Thượng Thích Tịnh Khiết. Tháng 8 năm 1948, sau khi Huế hồi cư, Sơn Môn Phật học đường từ chùa Linh Quang cũng đuợc chuyển về chùa Báo Quốc cho tiện việc tập trung giáo dục trên một quy mô rộng lớn hơn.
Nơi đây đã tổ chức nhiều lớp Trung cấp và Cao cấp Phật Học đào tạo nhiều tăng tài. Trong thời kỳ nầy ngươi có công trong việc tổ chức và điều hành là Hoà Thượng Thích Trí Thủ. Ngài cũng là Giám đốc Phật Học Đường Báo quốc. Về sau, Ngài vào Nha Trang và tổ chức Phật Học Đường cho những tỉnh miền Nam Trung Phần. Báo Quốc trong giai đoạn này trở thành một trung tâm đào tạo Phật Giáo nổi tiếng.
Chùa xây theo hình chữ khẩu vuông vức và những thành phần ôm chặt vào nhau. Đường lên chùa phải ngang qua nhiều bậc tam cấp khá quanh co và khó khăn. Ngay giữa sân chùa có trồng nhiều loại cây kiểng và phong lan, hoa thơm bốn mùa; đây là một cảnh quan u tịch và trang nghiêm nhặt trong hệ thống chùa chiền cố đô Huế. Diện tích toàn thể của chùa chừng hai mẫu tây, trước do triều đình cấp phát. Trong khuôn viên của chùa có nhiều tháp và mộ thờ những tổ sư ở ngôi chùa lịch sử nầy.
Trong số ba ngôi mộ ở cạnh chùa về phía Nam, mới xây cất trong những năm gần lại đây, thì ngôi mộ giữa là thờ tổ, một bên thờ Hoà thượng Thích Trí Thủ; còn bên kia thờ Hoà thượng Thích Thanh Trí là hai vị có công nhất trong việc tu bổ, tổ chức giáo dục trong chùa và hoạt động xã hội mấy chục năm qua.
Phía bắc chùa có giếng Hàm Long. Như tên gọi của giếng nầy, nước giếng trong veo quanh năm, dưới giếng có tảng đá lớn hình thù giống như đầu con rồng. Chiều sâu của giếng chừng 4,5 thước.
Theo lời truyền tụng trong nhân gian thì nước giếng Hàm Long rất quý; ngày trước, những triều vua Nguyễn sai người đến múc nước giếng về dùng trong hoàng thành, nên cấm dân chúng dùng đến, cho nên gọi là “Giếng Cấm”. Trong chùa còn lưu lại nhiều tài liệu lịch sử liên quan đến các chặng đường xây dựng.
Những liễn đối, biểu từ, hoành phi có từ đời chúa Nguyễn Phúc Khoát (1737-1765), những chứng liệu của những vị cao tăng đắc đạo qua nhiều thế hệ, các Hòa thượng từ Trung Hoa sang truyền đạo. Ngoài ra cũng cần nhắc đến một đại hồng chung được đúc từ đời vua Gia Long năm thứ 7 (1808).
Linh vị của Đức Hiếu Khương Hoàng Hậu cũng được thờ chính thức tại ngôi chùa lịch sử nầy. Vào thời nhà Nguyễn Tây Sơn đem quân ra vùng Thuận Hoá, đã dùng khu đất trong chu vi chùa Báo Quốc gần Phường Đúc để chứa diêm tiêu dùng trong việc đúc súng đạn trên con đường bắc tiến.
Báo Quốc là một ngôi chùa cổ ở vị trí trung tâm thành phố, được nhiều người biết đến, nên rất tiện cho sinh hoạt du lịch. Từ nhiều năm nay, chùa Báo Quốc rất đông đảo bạn bè, du khách gần xa lui tới thăm viếng.
Chùa Lim tọa lạc tại xã Vân Tương, huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Được trụ trì bởi Thượng tọa Thích Đức Thiện. Nơi đây thu hút đông đảo khách tham quan từ khắp mọi miền tổ quốc đặc biệt vào ngày lễ được tổ chức vào ngày 13 tháng giêng hàng năm.
Chùa Lim nằm trên đỉnh núi Hồng Vân (núi Lim), thuộc làng Lũng Sơn. Chùa thờ phật, thờ mẫu Liễu Hạnh. Ngày nay, chùa thu nhỏ nhưng nhờ hội Lim mà chùa vẫn được đông khách thập phương đến lễ. Hội Lim là một trong những lễ hội lớn nhất tỉnh Bắc Ninh, chính hội được tổ chức vào ngày 13 tháng giêng hàng năm. Hội Lim được coi là nét kết tinh độc đáo của vùng văn hoá Kinh Bắc.
Kinh Bắc xưa nổi tiếng là vùng đất của những câu truyện cổ, những sự tích văn hoá. Vì truyền thống này mà nơi đây sở hữu nhiều lễ hội dân gian. Hội Lim là một sinh hoạt văn hoá – nghệ thuật đặc sắc của nền văn hoá truyền thống lâu đời ở xứ Bắc và dân ca Quan họ trở thành tài sản văn hoá chung của dân tộc Việt, tiêu biểu cho loại hình dân ca trữ tình Bắc Bộ.
Hội Lim là hội của chùa làng Lim. Hội Lim trở thành hội hàng tổng (hội vùng) vào thế kỷ 18. Khi quan trấn thủ xứ Thanh Hóa Nguyễn Đình Diễn là người thôn Đình Cả, Nội Duệ, xứ Kinh Bắc, có nhiều công lao với triều đình, được phong thưởng nhiều bổng lộc, đã tự hiến nhiều ruộng vườn và tiền của cho tổng Nội Duệ trùng tu đình chùa, mở mang hội hè, gìn giữ thuần phong mỹ tục. Ông còn cho xây dựng trước phần lăng mộ của mình đặt tên là lăng Hồng Vân trên núi Lim. Do có nhiều công lao với hàng tổng và việc ông đặt hậu ở chùa Hồng ân, nên khi ông mất nhân dân tổng Nội Duệ đã tôn thờ làm hậu thần, hậu Phật hàng tổng. Văn bia lăng Hồng Vân có tên Hồng Vân từ bi ký cho biết khá rõ lai lịch, công trạng và việc thờ phụng hậu hàng tổng Nguyễn Đình Diễn mỗi năm hai dịp vào “ngày sinh” và “ngày hóa” của ông tại lăng Hồng Vân và chùa Hồng ân trên núi Lim.
Trải tháng năm lịch sử, hội Lim đã có nhiều lớp văn hóa, trong đó người ta chỉ tổ chức tế lễ hậu thần vào một dịp là ngày 13 tháng giêng trùng với hội chùa Lim. Chính vì vậy mà có hội Lim và đây là hội hàng tổng.
Hội Lim được mở đầu bằng lễ rước. Đoàn rước với đông đảo người dân tham gia trong những bộ lễ phục ngày xưa, sặc sỡ sắc màu và cũng vô cùng cầu kì, đẹp mắt kéo dài tới cả gần km. Trong ngày lễ, có nhiều nghi lễ và tục trò dân gian nổi tiếng, trong đó có tục hát thờ hậu. Toàn thể quan viên, hương lão, nam đinh của các làng xã thuộc tổng Nội Duệ phải tề tựu đầy đủ tại lăng Hồng Vân để tế lễ hậu thần. Trong khi tế có nghi thức hát quan họ thờ thần.
Để hát thờ, các liền anh,liền chị quan họ nam và nữ của tổng Nội Duệ đứng thành hàng trước cửa lăng hát vọng vào. Trong khi hát, họ chỉ được hát những giọng lề lối để ca ngợi công lao của thần.
Hội Lim đi vào lịch sử và tồn tại và phát triển cho đến ngày nay được hàng tổng chuẩn bị tập rượt rất chu đáo từ ngày 9 và 10, rồi được diễn ra từ ngày 11 đến hết ngày 14 tháng giêng. Chính hội là ngày 13, với các nghi thức rước, tế lễ các thành hoàng các làng, các danh thần liệt nữ của quê hương tại đền Cổ Lũng, lăng Hồng Vân, lăng quận công Đỗ Nguyên Thụy. Trong các nhà thờ họ Nguyễn, họ Đỗ ở làng Đình Cả, dâng hương cúng Phật, cúng bà mụ Ả ở chùa Hồng Ân.
Điện Chính Chùa Lim
Về với Hội Lim là về với một trời âm thanh, thơ và nhạc náo nức không gian đến xao xuyến lòng người. Những áo mớ bảy mớ ba, nón ba tầm, quai thao, dải yếm lụa sồi, những ô lục soạn, khăn đóng, áo cặp the hoa gấm… như ẩn chứa cả sức sống mùa xuân của con người và tạo vật. Cách chơi hội của người quan họ vùng Lim cũng là cách chơi độc đáo, mỗi cử chỉ giao tiếp đã mang trong nó một sắc thái văn hoá cao.
Bếp được các nhà phong thủy nói riêng và tổ tiên ông bà xưa nói chung xem như nguồn năng lượng sống, nguồn tài lộc, nơi quyết định sự hưng phát, hạnh phúc của cả gia đình. Vậy nên, phong thủy nhà bếp là một trong những điều bạn cần phải lưu ý.
Nếu trong nhà có một góc nào đó dễ khiến mọi thành viên nhớ nhất lúc đi xa thì hẳn đó sẽ là bếp. Bếp là nơi giữ lửa cho mái ấm gia đình, là nơi chăm sóc từ thể chất đến tinh thần cho từng cá nhân. Bếp cũng là "thế giới riêng" của người phụ nữ, để thể hiện nét mềm mại nữ tính, cả sự gọn gàng khéo léo của mình.
Bạn cũng đừng nghĩ rằng chỉ có phòng khách hay ban thờ mới cần chú ý đến phong thủy, phòng bếp được coi là nơi giữ lửa gia đình, do vậy yếu tố phong thủy nhà bếpcũng vô cùng quan trọng.
Để hội đủ điều kiện cho một không gian bếp theo đúng phong thủy, nhà bếp cần đảm bảo các yếu tố:
Dụng cụ làm bếp
Phải có khu vực dành riêng cho dụng cụ làm bếp như dao, kéo, búa… tránh không để những dụng cụ này trên bàn bếp cũng như gần bếp vì sẽ ảnh hưởng rất lớn tới sự đoàn kết cũng như sự hạnh phúc trong gia đình.
Dao kéo, dụng cụ làm bếp nên được để gọn gàng trên giá, trong ngăn kéo hay trong các dụng cụ chứa chuyên dụng để giúp gia đình luôn thuận hòa.
Ánh sáng
Ngoài việc mở rộng các ô cửa sổ để đón ánh sáng tự nhiên, nếu bếp nhà bạn không có cửa sổ hoặc ở vị trí hơi tối, có thể sử dụng chất liệu nhôm, kính làm tủ bếp, vì chúng có thể giúp tạo ảo giác như những cửa sổ ánh sáng, giúp không gian bếp bớt tối tăm hơn. Một phòng bếp tràn ngập ánh sáng cũng sẽ giúp không khí gia đình hòa thuận hơn.
Những ô cửa sổ lớn giúp ánh sáng luôn ngập tràn phòng bếp tạo sinh khí cho gia đình.
Sắp xếp
Khu vực bồn rửa bát phải bố trí tương đối xa bếp vì hỏa kỵ thủy. Cũng tương tự như vậy, bếp đối diện với cửa nhà vệ sinh, áp lưng vào nhà vệ sinh hoặc đặt phía dưới nhà vệ sinh đều chưa chuẩn. Những khí xú uế của nhà vệ sinh sẽ ảnh hưởng đến đồ ăn khi đun nấu về lâu dài không tốt cho sức khỏe mọi người.
Khu vực bồn rửa nên cách xa khu vực nấu một chút giúp tránh "hỏa kỵ thủy" như ông cha ta vẫn dạy.
Nếu không gian khu vực bếp rộng, có thể bố trí bàn ăn cho gia đình. Tuy nhiên, bàn ăn phải cách bếp nấu ít nhất 1,5m. Lưu ý không cho góc nhọn của bàn ăn trực xung với bếp.
Bàn ăn cách khu vực bếp một khoảng cách nhất định sẽ không bị ám mùi thức ăn quá nặng. Góc của bàn ăn không trực xung với bếp sẽ giúp gia chủ tránh được những bất đồng tranh cãi trong gia đình.
Màu sắc
Màu sắc nên có màu tương đối nhạt vì đây là khu vực nấu ăn nên phát ra năng lượng rất nóng, cần màu sắc dịu lại làm khống chế độ nóng trong bếp. Màu trắng là gam màu nên chọn cho bếp, vì nó giúp căn bếp trở nên sáng sủa. Bạn cũng dễ dàng kiểm soát được các vết bẩn nếu có, để đảm bảo yếu tố vệ sinh, sạch sẽ.
Phòng bếp với màu sắc sáng sủa luôn tạo cảm giác sạch sẽ hơn.
Vị trí
Không được đặt bếp chéo góc. Nếu bạn đặt bếp không ngay ngắn rất dễ ảnh hưởng sức khỏe cho các thành viên trong gia đình. Bếp tránh bị nhìn trực diện từ bên ngoài cổng, từ cửa phòng khách hoặc đối diện nhà vệ sinh. Theo phong thủy, vị trí của bếp còn phải tránh gió, tránh những nơi thường đi ngang. Gian bếp lộ thì bất lợi về tài lộc cho chủ nhân.
Mặc dù phòng khách thông với phòng bếp tạo không gian mở, nhưng gia chủ vẫn rất chú ý không để lối vào phòng khách nhìn thẳng được vào phòng bếp. Bếp là nơi nấu nướng phát sinh nhiệt nên rất nóng bức. Khi đun nấu, bếp còn tỏa ra mùi thức ăn, khói dầu mỡ không tốt cho sức khỏe. Vì vậy nếu được cần tránh để bếp bên cạnh hoặc trực diện với cửa phòng ngủ tránh ảnh hưởng đến không gian nghỉ ngơi. Ngoài ra đối với nhà cao tầng tránh kê giường ngủ thẳng ngay trên bếp nấu dễ làm cho người ngủ bồn chồn không yên, dễ nảy sinh tâm lý nóng nảy.
Trang trí
Trên tường nên treo tranh ảnh mang ý nghĩa ăn uống như chén, đĩa, trái cây… tránh treo tranh ảnh hình kỳ thú, kinh dị sẽ giúp phòng bếp hài hòa hơn, tâm lý các thành viên trong gia đình cũng vui vẻ hơn.
Bạn có thể chọn hình thức tranh trang trí hay viết chữ ý nghĩa như thế này. Việc trang trí không gian phòng bếp hợp lý và hài hòa sẽ giúp không khí bữa ăn gia đình luôn vui vẻ.
Đường sinh mệnh phụ song song với đường sinh mệnh chính. Đường này có bàn tay có, có bàn tay không có. Nó chỉ hỗ trự thêm nên được xếp vào một trong năm đường bổ trự. Nếu ở bàn tay người nào mà có đường này thì tăng sức khỏe và tuổi thọ. Đường này đ
Giấc mơ về hình ảnh đôi giày, dép cũ là dự báo của sự thành công đang đến với bạn.Hãy chuẩn bị tư thế để đón nhận những điều bất ngờ nếu trong giấc mơ gần đây của bạn thấy cảnh lau chùi hoặc đánh giày.Nằm mơ thấy có người khác sửa chữa giày cho mình là lời tiên báo bạn sắp nhận được lời mời cho công việc mới.Bạn sẽ được thỏa mãn về mặt tình cảm nếu mơ thấy người đi dép lê. Điều đó có nghĩa là cả bạn và “đối tác” đều hiểu và đáp lại tình cảm của nhau, mang lại cho nhau niềm hạnh phúc.Bất chợt bạn nảy sinh tình ý với người đã có hôn ước? Tình cảm của bạn sẽ được đáp lại xứng đáng nếu hình ảnh người đi giày đỏ xuất hiện trong giấc mơ gần đây.Theo nhiều tài liệu, giấc mơ có cảnh đi giày vào chân là dấu hiệu thể hiện bạn có nguyện vọng gần gũi với người khác giới đã đính hôn. Tuy nhiên, một vài giấc mơ liên quan đến giày, dép lại là lời cảnh báo giúp bạn điều chỉnh bản thân tốt hơn. Trong mơ, dù bạn mất rất nhiều công đi tìm nhưng không chọn được một đôi giày vừa ý? Đó là dấu hiệu cho thấy bạn đang không có hứng thú về chuyện tình ái.Bạn đừng vội mừng nếu mơ thấy đôi giày mới. Việc tốt nhất nên làm sau khi mơ thấy điều này là bạn nên xem xét lại cách ứng xử để giảm bớt tính tự cao tự đại của bản thân.Nếu mơ thấy cảnh tháo giày thì bạn nên xem lại sự cố gắng hết sức của bạn trong công việc vì có thể điều đó lại không được ghi nhận và đền đáp xứng đáng.
Theo Giấc mơ & Vận mệnh con người trong cuộc sống Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Trúc Loan (##)
Hệ thống hóa các phương pháp lựa chọn tuổi kết hôn, dựa vào phương pháp này, bạn có thể tự lựa chọn cho mình một người bạn đời tốt, xây dựng nên một tòa lâu đài hạnh phúc, bước đi trên con đường đầy hoa thắm, bướm vàng và mật ngọt
Xưa nay, kết hôn là một chuyện hệ trọng trong cuộc đời mỗi con người con người. Vợ chồng có được cơm lành canh ngọt hay không, phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhưng việc lựa chọn đối tượng tìm hiểu kết hôn được thực hiện bằng nhiều phương pháp.
Ca dao có câu:
Trai khôn chọn vợ chợ đông
Gái khôn tìm chồng giữa chốn ba quân.
Người Trung Hoa, chọn đối tượng kết hôn thường nhìn về tướng mạo, đặc biệt là tướng mũi. Vì mũi đối với nữ nhân là phu cung. Mũi thẳng, đầy đặn, không gầy guộc, mũi hếch, lộ, hay mũi gãy, đều không phải là tướng tốt về gia đạo, vợ chồng hình khắc. Mũi của nữ giới thẳng đẹp, đầy đặn và kín, tương xứng thì vượng phu ích tử, cuộc sống hài hòa, hạnh phúc.
Về nam giới mũi là tài tinh. Khi mũi xấu, tức là tài tinh bị hỏng, kinh tế thiếu hụt, tài chính chật vật khó khăn, cuộc sống túng bấn, hoặc trong đời tất có lần phá sản. Như vậy, cũng không phải là đối tượng để chọn mặt gửi vàng mà các cô gái cần hướng tới.
Tuy nhiên, việc nhân duyên nó còn là quá trình yêu thương, tìm hiểu. Hoặc duyên phận với nhau, không thể cưỡng cầu. Việc xem bói tình duyên cũng được dựa trên những cơ sở về họp tuổi, hợp mệnh theo các cánh tính sau đây.
Trên cơ sở xâu chuỗi, khái quái các tài liệu về tuổi phù hợp để kết hôn giữa nam và nữ của người xưa. Tôi sẽ trình bày những phương pháp này và bảng hợp tuổi kết hôn.
Phương pháp lựa chọn theo cung phi:
Cộng tất cả các chữ số năm sinh lại, đến khi thành một số cuối cùng có giá trị từ 1 đến 9 để xác định quái mệnh hay còn gọi là cung phi mệnh. Ví dụ: Nữ sinh năm 1992. Ta tính như sau 1+ 9+ 9+ 2 = 21. 2 + 1 = 3. Như vậy cung phi của nữ sinh năm 1992 là Đoài.
Ví dụ khác: Nam sinh năm 1987. Ta tính 1+9+8+7= 25. 2+ 5= 7. Cung phi của họ là Tốn
Bảng 1:
Số THÀNH
Cuối cùng
QUÁI MỆNH
Số THÀNH
Cuối cùng
QUÁI MỆNH
NAM
NỮ
NAM
NỮ
1
KHẢM
CẤN
5
CÀN
LY
2
LY
CÀN
6
KHÔN
KHẢM
3
CẤN
ĐOÀI
7
TỐN
KHÔN
4
ĐOÀI
CẤN
8
CHẤN
CHẤN
9
KHÔN
TỐN
Sau khi tính được quái mệnh, ta phân tích sự tốt xấu trong hôn phối. Dựa vào bảng thống kê dưới đây. Ví dụ Nam cung phi là Càn, gặp nữ cung phi là Càn thì được phục vị, là tốt, gặp sinh khí, thiên y, phúc đức cũng tốt. Nhưng gặp các trạng thái khác như tuyệt mệnh, ngũ quỷ, họa hại, lục sát thì xấu, sẽ có sự hình khắc, bất hòa, xung đột, nhẹ thì khắc khẩu, nặng thì chia ly.
Tương tự như vậy các trường hợp khác cũng vậy. Dựa vào hai bảng này các bạn có thể tự tính được tuổi phù hợp trong nhân duyên cho riêng mình
Bảng 2
QUÁI
CÀN
ĐOÀI
LY
CHẤN
TỐN
KHẢM
CẤN
KHÔN
CÀN
Phục vị
Sinh khí
Tuyệt mệnh
Ngũ quỷ
Họa hại
Lục sát
Thiên y
Phúc đức
ĐOÀI
Sinh khí
Phục vị
Ngũ quỷ
Tuyệt mệnh
Lục sát
Họa hại
Phúc đức
Thiên y
LY
Tuyệt mệnh
Ngũ quỷ
Phục vị
Sinh khí
Thiên y
Phúc đức
Họa hại
Lục sát
CHẤN
Ngũ quỷ
Tuyệt mệnh
Sinh khí
Phục vị
Phúc đức
Thiên y
Lục sát
Họa hại
TỐN
Họa hại
Lục sát
Thiên y
Phúc đức
Phục vị
Sinh khí
Tuyệt mệnh
Ngũ quỷ
KHẢM
Lục sát
Họa hại
Phúc đức
Thiên y
Sinh khí
Phục vị
Ngũ quỷ
Tuyệt mệnh
CẤN
Thiên y
Phúc đức
Họa hại
Lục sát
Tuyệt mệnh
Ngũ quỷ
Phục vị
Sinh khí
KHÔN
Phúc đức
Thiên y
Lục sát
Họa hại
Ngũ quỷ
Tuyệt mệnh
Sinh khí
Phục vị
Phương pháp lựa chọn theo can chi ngũ hành
Theo sách Dự đoán theo Tứ trụ của Thiệu Vĩ Hoa
Nam mệnh
Năm
Phối hợp với năm sinh của nữ
Giáp Tý
1984
Nhâm Thân, Quý Dậu, Đinh Sửu
Ất Sửu
1985
Nhâm Thân, Quý Dậu, Bính Tý
Bính Dần
1986
Kỷ Tị, Ất Hợi
Đinh Mão
1987
Giáp Tuất, Ất Hợi
Mậu Thìn
1988
Canh Ngọ, Quý Dậu
Kỷ Tị
1989
Tân Mùi, Giáp Tuất
Canh Ngọ
1990
Mậu Dần, Kỷ Mão
Tân Mùi
1991
Nhâm Thân, Quý Dậu, Nhâm Ngọ
Nhâm Thân
1992
Giáp Tuất, Đinh Sửu
Quý Dậu
1993
Ất Hợi, Canh Thìn, Tân Tị
Giáp Tuất
1994
Kỷ Mão, Nhâm Ngọ
Ất Hợi
1995
Mậu Dần, Canh Dần
Bính Tý
1996
Giáp Thân, Ất Dậu
Đinh Sửu
1997
Giáp Thân, Ất Dậu
Mậu Dần
1998
Đinh Hợi
Kỷ Mão
1999
Tân Tị, Bính Tuất, Đinh Hợi
Canh Thìn
2000
Kỷ Dậu, Nhâm Ngọ
Tân Tị
1941
Quý Mùi, Bính Tuất
Nhâm Ngọ
1942
Canh Dần, Tân Mão
Quý Mùi
1943
Giáp Thân, Ất Dậu, Giáp Ngọ
Giáp Thân
1944
Bính Tuất, Kỷ Sửu
Ất Dậu
1945
Nhâm Thìn, Quý Tị
Bính Tuất
1946
Tân Mão, Giáp Ngọ
Đinh Hợi
1947
Mậu Tý
Mậu Tý
1948
Canh Dần, Bính Thân, Đinh Dậu
Kỷ Sửu
1949
Bính Thân, Đinh Dậu
Canh Dần
1950
Mậu Tuất, Kỷ Hợi, Bính Ngọ
Tân Mão
1951
Mậu Tuất, Kỷ Hợi
Nhâm Thìn
1952
Đinh Dậu, Ất Tị
Quý Tị
1953
Mậu Tuất, Tân Sửu, Giáp Thìn
Giáp Ngọ
1954
Nhâm Dần, Quí Mão
Ất Mùi
1955
Bính Thân, Đinh Dậu, Bính Ngọ
Bính Thân
1956
Tân Sửu, Giáp Thìn
Đinh Dậu
1957
Giáp Thìn, Ất Tị
Mậu Tuất
1958
Quý Mão, Bính Ngọ
Kỷ Hợi
1959
Giáp Dần
Canh Tý
1960
Nhâm Dần, Mậu Thân, Kỷ Dậu
Tân Sửu
1961
Mậu Thân, Kỷ Dậu
Nhâm Dần
1962
Tân Hợi
Quý Mão
1963
Canh Tuất, Tân Hợi
Giáp Thìn
1964
Bính Ngọ, Kỷ Dậu
Ất Tỵ
1965
Đinh Mùi, Canh Tuất, Quý Sửu
Bính Ngọ
1966
Giáp Dần, Ất Mão, Kỷ Mùi
Đinh Mùi
1967
Mậu Thân, Kỷ Dậu, Mậu Ngọ
Mậu Thân
1968
Canh Tuất, Kỷ Dậu, Bính Thìn
Kỷ Dậu
1969
Bính Thìn, Đinh Tị
Canh Tuất
1970
Ất Mão, Mậu Ngọ
Tân Hợi
1971
Bính Dần
Nhâm Tý
1972
Giáp Dần, Canh Thân, Tân Dậu
Quý Sửu
1973
Canh Thân, Tân Dậu, Giáp Tý
Giáp Dần
1974
Quý Hợi
Ất Mão
1975
Đinh Tỵ, Nhâm Tuất, Quý Hợi
Bính Thìn
1976
Mậu Ngọ, Tân Dậu
Đinh Tị
1977
Kỷ Mùi, Ất Sửu, Mậu Thìn
Mậu Ngọ
1978
Bính Dần, Đinh Mão, Tân Mùi
Kỷ Mùi
1979
Canh Thân, Tân Dậu, Canh Ngọ
Canh Thân
1980
Nhâm Tuất, Ất Sửu, Mậu Thìn
Tân Dậu
1981
Mậu Thìn, Kỷ Tị
Nhâm Tuất
1982
Đinh Mão, Canh Ngọ
Quý Hợi
1983
Mậu Dần
Ca dao: Thuận vợ thuận chồng/ Tát biển Đông cũng cạn. Người bạn đời của bạn có phải là người cùng bạn đi suốt cuộc đời, sắt cầm hòa hợp, gia đạo ấm êm, sự nghiệp thịnh vượng, bách niên giai lão, con cháu quý hiển, hỷ khí ngập tràn, ra ngoài vui vẻ, về nhà hài lòng hay không? Điều đó phụ thuộc vào sự sáng suốt của chính bạn.
Hướng kê giường hợp người sinh năm 1990 Canh Ngọ –
Hướng kê giường tuổi Canh Ngọ 1990 - Năm sinh dương lịch: 1990 - Năm sinh âm lịch: Canh Ngọ - Quẻ mệnh: Khảm Thủy - Ngũ hành: Lộ Bàng Thổ (Đất đường đi) - Thuộc Đông Tứ Mệnh, nhà hướng Bắc, thuộc Đông Tứ Trạch - Hướng tốt: Bắc (Phục Vị); Đông (Thiên
Bên cạnh các yếu tố như bố cục, phương hướng, bố trí không gian, chức năng… thì màu sắc của ngôi nhà cũng ảnh hưởng không nhỏ tới môi trường nhà ở và cá nhân con người sinh sống. Theo quan điểm phong thủy, màu sắc hình thành các trường năng lượng khác nhau, là tương sinh hoặc tương khắc với bản mệnh của mỗi người theo ngũ hành. Nếu là trường năng lượng tích cực sẽ giúp cân bằng hài hòa âm dương, từ đó phát huy những điều thuận lợi và hạn chế các bất lợi từ môi trường đến cuộc sống của người sử dụng và ngược lại.Dựa vào quy luật ngũ hành tương sinh và tương khắc theo quan niệm về phong thủy, khi xây dựng hoặc cải tạo màu sắc cho tường nhà, đồ nội thất… cần phải lưu ý những điểm dưới đây.1. Hành Kim - Biểu trưng của hành Kim trong phong thủy Hành Kim thường biểu trưng cho những hình tượng liên quan đến mùa thu, sức mạnh tinh thần, sự quyết tâm. Người mệnh Kim thường có óc tổ chức và kỉ luật tốt, tinh thần tập trung cao độ và tư duy sắc sảo. - Ứng dụng chọn màu sắc ngôi nhà cho người mệnh Kim Dựa vào quan hệ tương sinh: Trong ngũ hành, Thổ sinh Kim, khi chọn màu sắc ngôi nhà theo ngũ hành nếu chủ nhà mệnh Kim có thể dùng các màu như: nâu, vàng đất, cam đất của hành Thổ để trang trí cho ngôi nhà. Ngoài ra các màu bản mệnh: trắng, vàng và các sắc ánh kim cũng phù hợp. Ngoài ra, nên sử dụng kết hợp các loại vật liệu xây dựng bằng kim loại, thủy tinh, đá hoa cương, đá cẩm thạch, gốm sứ…để tăng hiệu quả cân bằng ngũ hành trong ngôi nhà. Dựa vào quan hệ tương khắc: Vì Kim khắc Hỏa, do đó tránh sử dụng các màu của mệnh Hỏa: đỏ, hồng, tím.
Ảnh minh họa
Lưu ý: Phong cách nội thất phù hợp với người mệnh Kim là đương đại hoặc tối giản. Vì những phong cách này mang đến sự ngăn nắp, đơn giản nhưng sang trọng và tinh tế y như đặc trưng tính cách của người mệnh Kim.2. Hành Mộc - Biểu trưng của hành Mộc trong phong thủy Hành Mộc là biểu trưng cho thế giới tự nhiên, năng lượng sinh ra từ hành Mộc có tính sinh sôi, mềm dẻo và phát triển không ngừng. Người thuộc mệnh Mộc có tính cách hướng ngoại, thích khám phá, du lịch, yêu thiên nhiên, nhiệt tình, cởi mở và có mục tiêu sống rõ ràng. - Ứng dụng chọn màu sắc ngôi nhà cho người mệnh Mộc Dựa vào quan hệ tương sinh: Chủ nhà mệnh Mộc nên chọn màu xanh nước biển, đen của hành Thủy để trang trí cho ngôi nhà, vì Thủy sinh Mộc. Hoặc có thể dùng màu bản mệnh là xanh lá. Bên cạnh việc lựa chọn màu sắc, gia chủ nên chọn các loại vật liệu xây dựng phù hợp như: mây tre lá, giấy, gỗ, vài, các yếu tố cây xanh… Dựa vào quan hệ tương khắc: Vì Kim khắc Mộc, nên tránh sử dụng các màu thuộc hành Kim như: trắng, vàng, các sắc ánh kim.
Ảnh minh họa
Lưu ý: Phong cách nội thất phù hợp cho người mệnh Mộc là xu hướng thô mộc pha trộn hiện đại để làm nổi bật sự mộc mạc chân phương, tính ngẫu hứng, cuộc sống yên bình và sự sống hồi sinh như cá tính tiềm ẩn của người mệnh Mộc.3. Hành Thủy - Biểu trưng của hành Thủy trong phong thủy Hành Thủy là biểu tượng của mùa Đông, các yếu tố liên quan đến tính vật chất và tính hình tượng của nước. Người mệnh Thủy thường linh hoạt trong cuộc sống và công việc, có tư tưởng cấp tiến, đề cao sáng tạo, có khiếu nghệ thuật, tài ngoại giao và khả năng ứng biến, thích nghi tốt. - Ứng dụng chọn màu sắc ngôi nhà cho người mệnh Thủy Dựa vào quan hệ tương sinh: Vì Kim sinh Thủy, nên gia chủ mệnh Thủy có thể chọn các màu: trắng, vàng, các sắc ánh kim trang trí cho ngôi nhà. Hoặc các màu bản mệnh Thủy: xanh nước biển, đen. Ngoài ra, nên phối kết hợp các loại vật liệu liên quan đến hành Kim và Thủy như thủy tinh, kim loại, gạch kính sáng bóng hoặc có tính phản chiếu… Dựa vào quan hệ tương khắc: Thổ khắc Thủy, nên tránh sử dụng các màu của mệnh Thổ: nâu, nâu đất, cam đất.
Ảnh minh họa
Lưu ý: Xu hướng đương đại, giải tỏa kết cấu, dòng chảy, hữu cơ là những phong cách phù hợp để thiết kế không gian nội thất cho người mệnh Thủy. Bởi chúng mang lại tính sáng tạo cao, hướng đến phong cách biến hóa đa dạng, không gian mang tính uyển chuyển, sự sáng tạo về hình khối, truyền tải cảm xúc mạnh mẽ và thư giãn. 4. Hành Hỏa
- Biểu trưng của hành Hỏa trong phong thủy Hành Hỏa thường là biểu trưng cho những hình tượng liên quan đến lửa, sức nóng, mùa hè, sự may mắn, hạnh phúc, danh vọng và thành công. Nguồn năng lượng được sinh ra từ hành Hỏa luôn hồi sinh liên tục, bùng nổ và sáng tạo không ngừng. Người có mệnh tương ứng với hành Hỏa thường có khả năng lãnh đạo, tự lập tự chủ, tư tưởng cấp tiến, làm việc nhiệt huyết và giàu tính khôi hài. - Ứng dụng chọn màu sắc ngôi nhà cho người mệnh Hỏa Dựa vào quan hệ tương sinh: Chủ nhà mệnh Hỏa nên chọn màu sắc theo bản mệnh của Hỏa như đỏ, tím, hồng. Hoặc chọn theo mối quan hệ tương sinh Mộc sinh Hỏa, với những màu của hành Mộc là xanh lá. Ngoài ra, nên sử dụng kết hợp các loại vật liệu thuộc hành Mộc như gỗ, giấy, vải…để tăng mức độ hài hòa theo ngũ hành cho ngôi nhà. Dựa vào quan hệ tương khắc: Vì người mệnh Hỏa khắc với hành Thủy (Thủy khắc Hỏa), nên tránh sử dụng các màu đặc trưng của mệnh Thủy như xanh nước biển, đen.
Ảnh minh họa
Lưu ý: Không nên sử dụng các gam màu quá nóng ấm với mật độ dày đặc, mà chỉ nên nhấn nhá vào một vài vị trí nhỏ, tránh gây phản tác dụng. Phong cách nội thất phù hợp với người mệnh Hỏa là theo xu hướng đương đại, công nghệ cao hoặc hướng thô mộc để làm nổi bật không gian chứa đầy cảm xúc, đam mê, kích thích giác quan và tạo ấn tượng mạnh như tính cách đặc trưng của người mệnh Hỏa. 5. Hành Thổ - Biểu trưng của hành Thổ trong phong thủy Hành Thổ là biểu tượng của trái đất, có tính trung tâm, nguồn gốc của sự nuôi dưỡng, phát triển, hướng đến sự vững chãi, nguồi cội của sự sống. Người mệnh Thổ có tính cách ôn hòa, điềm đạm, trân trọng và sâu sắc. Đồng thời còn kiên trì, thủy chung và trung thành. - Ứng dụng chọn màu sắc ngôi nhà cho người mệnh Thổ Dựa vào quan hệ tương sinh: Vì Hỏa sinh Thổ, do đó chủ nhà mệnh Thổ nên lựa chọn màu: đỏ, hồng, tím của mệnh Hỏa, hoặc các màu của bản mệnh như: nâu đất, nâu, cam đất. Bên cạnh đó, nên kết hợp sử dụng các loại vật liệu mang tính chất của 2 hành này như đất, đá, gạch, sỏi, sành sứ, bê tông… Dựa vào quan hệ tương khắc: Trong ngũ hành, Mộc khắc Thổ, do đó tránh sử dụng màu xanh lá của mệnh Mộc cho người mệnh Thổ.
Ảnh minh họa
Lưu ý: Không gian nội thất dành cho người mệnh Thổ đơn giản, mộc mạc, ít phá cách và nên được bài trí tự nhiên, gọn gàng. Do đó, phong cách thô mộc hoặc thô mộc kết hợp hiện đại là phù hợp với tính cách của người mệnh Thổ hơn cả.ST Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Ngọc Sương (##)
Đồ vải trang trí trong nhà bao gồm rèm, đệm ghế, đệm dựa, khăn, gối chăn, gối sofa… Trang trí ngôi nhà bằng vải mất ít tiền lại tiện lợi. Tùy từng người mà việc trang trí bằng với chất liệu này có thể tạo ra phong cách riêng, tạo cho ngôi nhà có một cảm giác ấm áp hoặc tươi mát hoặc trang nhã… vừa mang tính thẩm mỹ vừa mang tính thực dụng cao.
(Ảnh chỉ mang tính minh họa)
Đồ mây
Đồ mây được làm một cách tinh tế, kiểu dáng đa dạng với phong cách độc đáo, được nhiều người ưa thích. Đồ mây gia dụng bao gồm ghế mây, bàn mây, giường mây, sô pha, bình phong mây… Đồ mây trang trí bao gồm lẵng mây, lẵng hoa, giá hoa mây và đèn lồng. Nguyên liệu của đồ mây gia dụng và đồ mây trang trí đến từ tự nhiên nên luôn tạo cho con người cảm giác thư thái, yên bình.
Đồ sắt
Đồ sắt trang trí giản dị, chú trọng sự kết hợp của hiện đại và cổ điển. Đồ sắt trang trí trong nhà gồm có ghế, giá hoa, tủ giày, tủ để đồ, cửa phòng chống trộm, lan can cầu thang và móc treo... Những đồ sắt trang trí mang tính thực dụng và cả tính nghệ thuật. Trong nhà nếu có nhiều góc khuyết, góc chết đều có thể trang trí bằng đồ sắt, tạo ra một không gian phong phú.
Đá
Hiện nay, có nhiều loại đá được bài trí trong nhà, đá trở thành đồ trang trí tinh tế và cao quý. Đá thiên nhiên thường gặp nhiều nhất là pha lê, mã não. Pha lê có nhiều màu sắc khác nhau như tím, hồng, trắng… vừa có thể làm đồ trang sức vừa có thể gia công thành đồ dùng như cốc chén, đĩa bát, cầu pha lê hoặc các đồ vật khác.
Hoa khô
Hoa khô ngày càng được nhiều người ưa thích. Các loại lá, cành, hoa, quả, cỏ… thông qua xử lý công nghiệp như tẩy nước, sấy khô, nhuộm màu và phun thơm… không những vừa giữ được hình thái tự nhiên của hoa tươi vừa mang dáng vẻ, màu sắc, hương thơm đặc biệt. Nếu dùng trang trí trong nhà sẽ mang lại phong cách mới mẻ, hiện đại.
Cây màu xanh
Tuy nhiên, khi trang trí không gian bằng cây cảnh phải chú ý đến màu của các loại cây, hoa và nhiều yếu tố khác.
(Theo 500 câu hỏi đáp phong thủy về trang trí đồ vật trong ngôi nhà của bạn)
Những trường hợp không được dùng Tỳ Hưu phong thủy –
Từ xưa đến nay con người chúng ta luôn xem trọng phong thủy. Một người để có công danh sự nghiệp, và nhiều tài lộc một phần do linh vật phong thủy quyết định. Con người tin rằng linh vật phong thủy sẽ mang lại sự may mắn về tài lộc cũng như là công d
Từ xưa đến nay con người chúng ta luôn xem trọng phong thủy. Một người để có công danh sự nghiệp, và nhiều tài lộc một phần do linh vật phong thủy quyết định. Con người tin rằng linh vật phong thủy sẽ mang lại sự may mắn về tài lộc cũng như là công danh cho gia chủ. Đặc biệt là Tỳ Hưu phong thủy lại là linh vật được nhiều người yêu thích. Và tin vào khả năng mang lại may mắn của Tỳ hưu. Tuy nhiên không phải ai cũng có thể dùng Tỳ Hưu phong thủy. Những trường hợp không được phép dùng Tỳ Hưu phong thủy? Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu trong bài viết dưới đây.
Nội dung
1 Tương truyền Tỳ Hưu
2 Những trường hợp không thể dùng Tỳ Hưu phong thủy
2.1 Thứ nhất
2.2 Thứ hai
2.3 Thứ ba
2.4 Thứ tư
2.5 Thứ năm
2.6 Thứ sáu
2.7 Thứ bảy
Tương truyền Tỳ Hưu
Tương truyền, thời vua Minh Thái Tổ khi lập nghiệp gặp lúc ngân khố cạn kiệt, vua rất lo lắng. Trong giấc mơ vàng, vua thấy có con vật đầu lân mình to, chân to lại có sừng trên đầu xuất hiện ở khu vực phía trước cung điện nuốt nhanh những thỏi vàng ròng sáng chói mang vào trong cung vua.
Theo thầy phong thủy tính toán, khu vực xuất hiện con vật ấy là cung tài và đất ấy là đất linh, như vậy, theo đó giấc mơ đã ứng với việc trời đất muốn giúp nhà vua lập nghiệp lớn. Sau đó vua Minh Thái Tổ cho xây một cổng thành to trên trục Bắc Nam, đường dẫn vào Tử Cấm thành, ngay tại cung tài ấy.
Con linh vật ấy có mặt giống con lân đực nhưng lại có râu, mình to, mông to như mông bò, đuôi dài, có chùm lông đuôi rậm. Con vật này không ăn thức ăn bình thường mà chỉ ăn vàng, bạc, đặc biệt nó không có hậu môn, do vậy vàng bạc nó ăn vào không bị thoát đi đâu, cho dù no căng bụng. Sau khi có linh vật ấy, ngân khố nhà Minh ngày càng đầy. Sau đó, vua cho tạc tượng con linh vật trên bằng ngọc phỉ thúy và đặt trên lầu cao của khu “Tài môn”. Từ đấy, nhà Minh ngày càng mở rộng địa giới và trở thành triều đại giàu có.
Tỳ hưu là thần thủ phong thủy cát tường, mang đến may mắn, tài lộc và hóa giải sát khí. Nhưng không phải ai cũng có thể sử dụng tỳ hưu, mỗi người một khác, đừng vì ham thích mà dùng không đúng cách, rước họa vào thân. Dưới đây là những trường hợp không thể dùng tỳ hưu phong thủy.
Những trường hợp không thể dùng Tỳ Hưu phong thủy
Thứ nhất
Những người khí nhược, chứng khí hư thì không thích hợp đeo tỳ hưu vì tỳ hưu thuộc loại thụy thú uy mãnh, người yếu nhược đeo sẽ không thể trấn áp được mà còn bị tỳ hưu trấn áp lại, rất không tốt. Đặc biệt là đối với người già, trẻ nhỏ thì càng cần tránh.
Thứ hai
Phụ nữ mang thai không thích hợp đeo tỳ hưu vì dù là cát thú nhưng nó cũng mang sát khí, có thể tránh ma đuổi quỷ nhưng tự thân cũng mang lại điềm không lành nên dễ làm hại tới thai nhi trong bụng.
Thứ ba
Những người cầm tinh Tuất, Dần, Mão đều không thích hợp để đeo tỳ hưu bên mình. Tỳ hưulà con trai thứ 9 của rồng mà từ xưa đến nay đều truyền rằng long tranh hổ đấu, người tuổi Dần mang tỳ hưu thì là hai hùng tranh đoạt, mầm mống của tai vạ. Còn rồng và Tuất, Mão thì dễ tương khắc nên cũng tránh.
Thứ tư
Phụ nữ đến kì kinh nguyệt không nên mang tỳ hưu vì thời điểm này, trong cơ thể có sự bài trừ mà tỳ hưu lại chỉ vào không ra. Theo phong thủy, tốt nhất là không mang tỳ hưu bên mình để tránh ứ lại máu huyết xấu trong mình.
Thứ năm
Người bị bệnh táo bón, đại tràng hoặc hệ tiêu hóa, bài tiết kém thì tránh dùng tỳ hưu vì linh thú này nuốt vạn vật mà không đào thải, mang theo thì bệnh tình càng trầm trọng hơn.
Thứ sáu
Người làm điều xấu, vi phạm pháp luật đừng nên ham hố mà đeo tỳ hưu vì đây là linh thú hộ chủ, người tốt đeo lên thì càng tốt, người xấu mà dùng chỉ càng xấu, thêm đồi bại, không thể quay đầu. Nếu còn muốn làm lại cuộc đời thì nên dùng đồ phong thỷ khác.
Thứ bảy
Vợ chồng gần gũi thì không được đeo tỳ hưu phong thủy vì thần thú thích sạch sẽ, thuần khiết, phạm điều dung tục sẽ nổi giận mà gây họa. Nên khi vợ chồng thân mật thì không đeo tỳ hưu, cũng không đặt tỳ hưu trong phòng ngủ
Trên đây là những trường hợp tuyệt đối không được dùng Tỳ Hưu, các bạn khi dùng Tỳ Hưu hãy lưu ý những điều này nhé. Nếu không, không những sẽ phản tác dụng mà còn gây hại tới gia chủ.
Lễ hội ngày 11 tháng 2 âm lịch - Hội Đình Kim Giang
Hội Đình Kim Giang
Thời gian: tổ chức vào ngày 11 và 12 tháng 2 âm lịch.
Địa điểm: Đình Kim Giang, phường Đại Kim, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.
Đối tượng suy tôn: Các thần Cao Sơn, Diêm La, Mộc Tinh, hai vị bản thổ (hoàng cung Trịnh Thục phu nhân, Tràng Hán anh linh Đại Tướng quân).
Nội dung: Ngày 11/2 Sáng, lễ khai mạc được diễn ra sau một hồi trống tưng bừng của đội trống trong làng. Sau đó là lễ tế nhập tịch tại đình và đền do các cụ bô lão trong làng với trang phục truyền thống vào lễ cáo xin phép với Thành hoàng làng. Buổi chiều được tiếp tục với các hoạt động vui chơi dân gian truyền thống như chọi gà, chơi cờ tướng, đánh đu. Buổi tối có biểu diễn ca múa nhạc tại sân đình làng Kim Giang.
Ngày 12/2: Là ngày hội chính được bắt đầu bằng lễ rước bảng sắc phong từ nhà sắc về đình, đền. Đi đầu đoàn rước là đội múa rồng do thanh niên làng đảm nhiệm sau đó là các cháu thiếu nhi rước ảnh Bác Hồ, tiếp là đội tế lễ nam và nữ. Đội múa sinh tiền được các cháu thiếu nhi biểu diễn suốt cả đoạn đường rước kiệu mang lại không khí vui vẻ nhí nhảnh hồn nhiên của trẻ thơ. Bảng sắc phong đi cùng đoàn rước kiệu do hội phụ nữ làng đảm nhiệm, sau cùng là đội lễ của nhân dân trong làng và ngoài làng cùng tham gia lễ hội. Chương trình được tiếp tục với màn đội tế nam, tế nữ làm lễ dâng hương và đọc chúc văn tế Thánh lễ Mẫu tại đình, đền. Sau đó dân làng và du khách cùng hưởng lộc thánh. Buổi chiều được tiếp tục với các tiết mục hoạt động vui chơi trao giải thưởng cho các trò chơi đạt giải tại sân đền. Lễ tạ Thánh và tổng kết lễ hội được các cụ bô lão và dân làng tham gia tiến hành vào lúc xế chiều.
Lễ hội làng Kim Giang được tổ chức hàng năm góp phần giáo dục các con cháu trong làng không quên truyền thống giữ nước của cha ông và góp phần nâng cao tình đoàn kết của nhân dân trong và ngoài làng. Bài và ảnh Huy Hoàng
Tứ linh với Thanh Long, Bạch Hổ, Huyền Vũ được biết đến với nhiều ứng dụng cả trong âm trạch và dương trạch. Ý nghĩa của tứ linh trong phong thủy quyết định
► Mời các bạn: Xem phong thủy theo ngũ hành để đón lành tránh dữ
Huyền Vũ biểu tượng là con rùa đen, đại diện phương chính Bắc. Thanh Long biểu tượng là con rồng xanh lá, đại diện phương chính Đông. Chu Tước biểu tượng là con chim sẻ đỏ, hoặc phượng hoàng lửa, đại diện phương chính Nam. Bạch Hổ biểu tượng là con hổ trắng, đại diện phương chính Tây.Ứng dụng trong phong thủy của tứ linh thì Huyền Vũ là sơn nhà; Chu Tước là hướng nhà, Thanh Long bên trái, Bạch Hổ bên phải. Bất luận nhà hướng nào thì những quy ước trên vẫn phải tuân thủ theo nguyên tắc: Huyền Vũ phải nhô cao; Chu Tước phải quang đãng, sáng sủa – nếu tụ thủy thì là thế “Minh đường tụ thủy”, rất tốt; Bạch Hổ phải uy vũ, ngắn hơn Thanh Long và nhô cao, Thanh Long phải uyển chuyển và vươn dài ôm lấy cuộc đất. Huyền Vũ là cái có trước, theo hệ quy chiếu “dương trước, âm sau” thì Huyền Vũ thuộc dương, Chu Tước thuộc âm. Chính vì Chu Tước thuộc âm, nên sự tác động của dương khí – nếu âm dương hài hòa thì thủy sinh. Hiện tượng “minh đường tụ thủy” chính là biểu hiện của sự hài hòa âm dương. Tương tự như vậy, Thanh Long – Bạch Hổ là trục Đông Tây của Trái Đất, tạo sự tương tác. Chính sự tương tác này làm nên mọi phát sinh và phát triển trên Trái Đất, vì vậy biểu tượng là Rồng – sức mạnh vũ trụ – thuộc Dương. Đó là lý do vì sao Tả Thanh Long có sông, ngòi, kênh rạch lại là biểu hiện của âm dương hài hòa. Đối xứng với Thanh Long dương là Bạch Hổ âm nên phải nhô cao hơn Thanh Long, phải ngắn và hùng vĩ. Vì đã cực âm thì phải là màu trắng (dương) để cân bằng âm dương – gần như tuyệt đối không dùng non bộ màu đen, hoặc màu tối – trừ trường hợp đặc biệt. ST
Tâm trong sạch như đồ đựng nước, hình bóng thường hiển hiện. Nhưng tâm chúng sanh nhơ bẩn như đồ bị nứt, thì chẳng thấy hình bóng Như Lai Pháp Thân. Nếu hay tin, biết trừ kiêu mạn, phát tâm liền được thấy Như Lai, nếu còn dua vậy tâm chẳng sạch, ức kiếp tìm cầu khó gặp thay.
Kinh Đại Thừa Nghĩa:“Quay về nương dựa nên gọi là quy y. Hành tướng quy y như con theo cha mẹ, nương dựa phục tùng; như dân nương nhờ vua, như người yếu nương nhờ kẻ mạnh. Nương Phật như thầy, nên gọi là quy y Phật. Nhờ pháp như thuốc, nên gọi là quy y Pháp. Nương Tăng là bạn, nên gọi là quy y Tăng.”
Kinh Hoa Nghiêm: “Như người có tay, vào trong núi báu, tự do lấy ngọc; người có lòng tin cũng vậy, vào trong Phật pháp, tự do lấy của báu vô lậu.”
Kinh Tâm Địa Quán: “Như người không tay tuy đến núi báu, không lấy được gì. Người không lòng tin, dầu gặp Tam bảo cũng không ích gì.”
Luận Đại Trí Độ: “Phật pháp như biển cả, phải có lòng tin mới vào được.”
Kinh Tiểu Địa Quán: “Vào biển Phật pháp, lấy lòng tin làm gốc; qua sông sanh tử, lấy giới pháp làm thuyền.”
Kinh Trung A Hàm: “Ví như nhà vua, tạo lâu đài nơi bên thành, xây đắp chắc chắn, khiến không thể hư nát; bề trong quốc gia yên ổn, bề ngoài ngự phòng oán địch. Phật tử cũng vậy, phải kiên cố lòng tin tưởng đức Như Lai, khi lòng tin đã vững vàng thì quyết không theo những kẻ sa môn ngoại đạo phạm chí ác ma và ác thế gian. Ấy là đã xây dựng được lòng tin như lâu đài bền chắc. Là Phật tử phải bỏ điều ác, điều xấu mà tu các pháp lành.
Kinh Đại Bát Niết Bàn: “Người có lòng tin mà không hiểu giáo lý thì dễ tăng trưởng vô minh mờ ám, người hiểu giáo lý mà không lòng tin thì dễ tăng trưởng tà kiến. Cho nên lòng tin và hiểu biết phải cùng đủ mới làm cội gốc tu hành.”
Kinh Lăng Nghiêm: ” Tin chơn lý thường trú gọi là lòng tin.”
Kinh Tăng Nhứt A Hàm (văn Ba lị):“Vì muốn đến niết bàn, nên tin Phật pháp, cần phải nghe mới được trí huệ, chẳng phải buông lung mà thông suốt; được như vậy thì lo gì đời nầy không vào được cảnh giới cao tột.”
Kinh Đại Bát Niết Bàn:”Lòng tin làm nhơn cho nghe pháp, nghe pháp làm nhơn cho lòng tin.”
Kinh Vô Lượng Thọ Như Lai Hội:” Đến bạn lành, được nghe pháp mầu nhiệm là được pháp các bậc thánh tôn yêu quí. Đức Như Lai trí tuệ hơn hết, trùm khắp hư không, nói ra giáo pháp, duy có Phật mới có thể hiểu thấu được. Vậy nên các ngươi cần phải nghe nhiều hiểu rộng chánh pháp, mới tin nổi lý chơn thiệt chánh pháp của Ta. Được làm thân người trong cõi người rất khó, mà được gặp giáo pháp Như Lai lại càng khó hơn. Vậy nên nghe được giáo pháp phải tinh tấn tu trì.”
Kinh Đại Bát Niết Bàn:” Nhơn duyên được nghe chánh pháp, là gần gũi bạn lành; nhơn duyên gần gũi bạn lành đó là lòng tin vậy. Phát được lòng tin có hai nhơn duyên là: nghe pháp và suy nghĩ nghĩa lý của pháp.”
Luận Khởi Tín:”Nói lòng tin có 4 món: một là lòng tin cội gốc, nghĩa là ưa nghĩ pháp chơn như; hai là tin đức Phật có vô lượng công đức, thường nhớ gần gũi, cúng dường, cung kính phát khởi căn lành để cầu xin nhất thế trí; ba là tin Pháp có nhiều lợi ích, thường nhớ tu hành cho rốt ráo; bốn là tin Tăng hay tu hành hạnh lợi mình và người, thường ưa gần gũi các vị Bồ tát cầu học hạnh như thật.”
Kinh Niết Bàn:”Lòng tin lại có 2 món: một là từ nghe mà sanh, hai là từ nghĩ mà sanh. Những người từ nghe sanh mà chẳng từ nghĩ sanh, thì gọi là lòng tin chẳng đầy đủ. Còn có 2 món nữa: một là tin có Đạo, hai là tin có chứng Đạo. Lòng tin người nào chỉ tin có Đạo mà chẳng tin có các người chứng Đạo, ấy gọi là lòng tin chẳng đầy đủ.”
Kinh Vô Lượng Thọ:”Nếu có chúng sanh rõ tin Phật trí cho đến thắng trí, rồi tu các công đức để hồi hướng lòng tin. Những chúng sanh này ở trong hoa bảy báu, tự nhiên hóa sanh: xếp bằng mà ngồi trong chừng giây lát, thân thể sáng rực, trí tuệ công đức như các Bồ tát đầy đủ trọn vẹn.”
Kinh Đại Bảo Tích:”Có lòng tin mới là Phật tử, vậy nên kẻ trí phải thường gần gũi người có lòng tin.”
Kinh Xuất Sanh Bồ Đề Tâm: “Nếu cầu Bồ đề để làm lợi ích chúng sanh, ấy là những kẻ vì chúng sanh hơn hết vậy; hạng nầy còn không thể so sánh huống là bậc trên nữa. Vậy nên đã được nghe các pháp này, kẻ trí thường sanh tâm vui pháp sẽ được đại phước không lường và mau được chứng đạo vô thượng.”
Kinh Đại Bát Niết Bàn:“Hoặc có người nói: Quả vô thượng chánh đẳng chánh giác, do lòng tin làm nhơn. Thật ra chánh nhơn của bồ đề (tức chánh đẳng giác) tuy còn nhiều vô lượng, nhưng nếu nói lòng tin, tức đã bao quát hết rồi vậy.”
Kinh Hoa Nghiêm:” Bồ đề Tâm là con đường lớn, vì có thể đưa người được vào cõi Nhất thế trí. Bồ đề Tâm là con mắt sáng, vì có thể xem thấy hết thảy đường chánh nẻo tà. Bồ đề Tâm là mặt trăng sáng, vì soi rõ các tịnh pháp đều viên mãn. Bồ đề Tâm là nước sạch, vì rửa sạch tất cả dơ bẩn phiền não. Bồ đề Tâm là ruộng tốt, vì nuôi dưỡng chúng sanh trong sạch.Bồ đề Tâm là hạt giống tất cả đức Phật, vì có thể sanh tất cả pháp các đức Phật.”
Kinh Đại Bát Niết Bàn:” Đại tín tâm tức là Phật tánh, Phật tánh tức là Như Lai.”
Kinh Hoa Nghiêm:”Trăng Bồ đề trong mát, soi rốt ráo hư không, chúng sanh tâm nước sạch, bóng Bồ đề hiện ngay.”
Kinh Tăng Nhứt A Hàm (Văn Ba-lị): Đức Phật biết mở giây sanh tử cho tất cả chúng sanh: Ngài đích thân đối với thần nhơn, chỉ rõ pháp hiểu biết, khiến họ thấy hoặc nghe, đều được an tâm. Đức Phật thật là bậc Đạo nhơn, là Thiện nhơn, là Quyết định nhơn, là Vô lậu nhơn, vì Ngài thấu suốt thân mệnh, chính là bậc Đại nhơn trí tuệ cao cả vậy.
(Cũng kinh này) Tỳ kheo nương Phật pháp mà sanh lòng tin: tin Đức Như Lai là:
Thế Tôn,
đẳng Chánh giác
Minh hạnh Túc
Thiện thệ
Thế gian giải
Vô thượng sĩ
Điều ngự trượng Phu
Thiên nhơn sư. Ngài chứng quả an lành không bệnh; tu nhẫn nại và tinh tấn mức trung đạo, chứng quả chẳng hư ngụy, chẳng mê hoặc.
Đúng như thật đối trước các bậc sư chủ: Chỉ rõ đạo nghĩa, an trụ tinh tấn, bỏ pháp bất thiện, phát khởi thiện pháp, nương thiện pháp mà quyết định gắng gỗ bền chắc. Thế mới thành tựu bậc trí huệ chứng Vô thượng trí vậy.
Kinh Tiểu A Hàm:” (Văn Ba lị) Ta, tuy trong một nháy mắt, cũng chẳng rời trí lực sâu sắc của Phật Đà mà tỏ rõ nói pháp; nói pháp không ái và không phiền não của Phật Đà; với kẻ khác không còn so sánh. Ta chẳng phân biệt ngày, đêm, lấy con mắt tâm xem thấy hết. Ta tự tin rằng thoạt qua là hết đêm, cho nên trong giây lát chẳng bỏ rời. Ta tin và thích, tâm và niệm, khiến ta quy y Phật giáo vậy. Những người trí huệ cao cả như thế chẳng luận là nơi chỗ nào ta cũng vẫn đến quy y. Dầu cho thân ta già, sức ta yếu, không thể đi đến chỗ ấy được, nhưng tâm ta quyết định thường đi đến chỗ ấy. Thế thì tâm ta và tâm kẻ ấy phù hợp vậy.”
Những người trí huệ cao cả như thế chẳng luận là nơi chỗ nào ta cũng vẫn đến quy y.
Kinh Pháp Hoa:“Hết lòng muốn thấy Phật, chẳng tiếc gì thân mạng, khi Ta và chúng Tăng, đồng đến núi Linh Thứu.”
Kinh Đại Bửu Tích:“Phật dạy: Nếu có Bồ Tát đem vui thắng ý, đến chỗ Ta phát khởi ý nghĩ như gặp cha, người kia sẽ được vào trong hàng ngũ Như Lai, như Ta không khác gì.”
Kinh Trung A Hàm:” (Văn Ba lị) Thưa Thế Tôn: Nếu pháp này chỉ có Thế Tôn thành tựu, mà Tỳ kheo chẳng đặng thành tựu, hay Tỳ kheo đặng thành tựu mà Tỳ kheo ni chẳng đặng thành tựu; hoặc Tỳ kheo ni đặng thành tựu mà các người tại gia Ưu bà tắc, Ưu bà di và các người còn dục lạc chẳng đặng thành tựu, thời pháp ấy chẳng được hoàn toàn. Nhưng pháp này đức Thế Tôn được thành tựu, Tỳ kheo, Tỳ kheo ni đều được thành tựu. Hơn nữa, những người tại gia nam nữ và các kẻ còn dục lạc thảy đều được thành tựu, cho nên ta tin pháp này là hoàn toàn.”
Kinh Tạp A Hàm:” (Văn Ba lị) Vì muốn đến Niết Bàn, tin, vâng các Thánh pháp, nghe, cầu được trí huệ, tinh tấn hay thông suốt.”
Kinh Phạm Võng:” Đứng đầu tất cả hạnh là đức tin, vì cội gốc các đức vậy.”
Kinh Đại Trang Nghiêm:” Tất cả các công đức, đức tin là sứ mạng; trong các của báu, của đức tin đứng đầu.”
Kinh Hoa Nghiêm:” Tin là nguồn Đạo, mẹ công đức, nuôi lớn tất cả các pháp lành, dứt trừ lưới nghi, thoát dòng ái, mở chỉ Niết Bàn, đạo Vô thượng; tin lòng trong sạch không dơ bẩn, dứt trừ kiêu mạn gốc cung kính, là của thứ nhất trong kho Pháp, là tay trong sạch lãnh các hạnh; tin hay huệ thí tâm không tham; tin hay vui mừng vào Phật pháp; tin hay thêm lớn trí công đức; tin hay quyết đến cõi Như Lai; tin khiến các căn lành sáng suốt; tin sức bền chắc không thể hư; tin hay dứt hẳn gốc phiền não; tin hay hướng về Phật công đức; tin đối cảnh giới không tham lam, xa lìa các nạn, được không nạn; tin hay vượt khỏi các đường ma, thị hiện đạo Vô thượng giải thoát; tin chẳng phá hư giống công đức; tin hay nuôi lớn cây Bồ đề; tin hay thêm ích trí tối thượng; tin hay thị hiện tất cả Phật.”
Kinh Hoa Nghiêm:” Nếu có chúng sanh nào, chưa phát tâm Bồ đề, một khi nghe tên Phật, quyết định thành Bồ đề.”
Luận Thập Trụ Tỳ Bà Sa:” Nếu người trồng căn lành, nghi thời hoa chẳng nở; lòng tin được trong sạch, hoa nở liền thấy Phật.”
Kinh Hoa Nghiêm:” Bồ tát đối sanh tử, khi đầu tiên phát tâm, một bề cầu Giác đạo, bền chắc chẳng khá lay. Kia một niệm công đức, sâu rộng không ngằn mé, Như Lai phân biệt nói, trọn kiếp không thể hết.
Tất cả tâm chúng sanh đều phân biệt hết, tất cả cõi vi trần hãy còn tính được số; mười phương cõi hư không, mảy lông cũng lường được, Bồ Tát sơ phát tâm, rốt ráo chẳng lường được.
Kinh Xuất Sanh Bồ Đề Tâm:” Như đấng Đại Phước rất cao kia, chẳng bằng phần mười sáu Đạo tâm; nếu muốn cầu phước như Tu Di, như cát sông Hằng ở cõi Phật, thảy đều tạo chúa, xây các tháp chẳng bằng Đạo tâm mười sáu phần.”
Kinh Đại Bảo Tích:” Công đức Bồ Đề tâm, nếu có chất hẳn hỏi, khắp cả cõi hư không, không thể dung chứa hết.”
Kinh Hoa Nghiêm:” Nếu được nghe một câu pháp chưa từng nghe, sanh lòng rất vui mừng, còn hơn được bao nhiêu ngọc báu đầy trong tam thiên đại thiên thế giới.”
Kinh Vô Lượng Thọ: “Đức Phật bảo Ngài Di Lặc rằng: Nghe danh hiệu Đức Phật kia, vui mừng nhảy nhót, cho đến một niệm. Phải biết người ấy ắt được lợi lớn. Ấy là đủ công đức cao tột.”
Đức Phật dạy: Nghe pháp hay chẳng quên, thấy kinh được rất mừng, ấy bạn lành ta vậy.
Kinh Hoa Nghiêm:” Ví như vàng Diêm phù đàn, chỉ thua ngọc Như ý, hơn tất cả các ngọc. Bồ Đề tâm như vàng Diêm phù đàn, cũng như vậy, chỉ thua Nhất thế trí, hơn tất cả các công đức.”
Ví như chim Ca lăng tần già, khi còn nằm trong trứng, đã có thế lực mạnh, các loài chim chẳng bằng. Vị Đại Bồ tát cũng in như vậy. Còn ở trứng sanh tử, đã phát tâm bồ đề, công đức rất thế lực, hàng Thanh văn Duyên giác làm gì so sánh kịp.
Ví như hoa cây Ba Lợi Chất Đa, xông áo một ngày, hoa Chiêm Bồ, hoa Bà Sư, tuy xông ngàn năm, chẳng hay sánh nổi. Hoa Bồ đề tâm cũng lại như vậy, đem công đức xông một ngày, mùi thơm thấu mười phương cõi Phật, hàng Thanh văn Duyên giác, dùng trí vô lậu xông các công đức đến trăm ngàn kiếp cũng chẳng làm sao kịp được.
Nghe Pháp khởi lòng tin, vui mừng không nghi ngại, chóng thành Đạo vô thượng; ngang hàng các Như Lai. Tâm trong sạch như đồ đựng nước, hình bóng thường hiển hiện. Nhưng tâm chúng sanh nhơ bẩn như đồ bị nứt, thì chẳng thấy hình bóng Như Lai Pháp Thân. Nếu hay tin, biết trừ kiêu mạn, phát tâm liền được thấy Như Lai, nếu còn dua vậy tâm chẳng sạch, ức kiếp tìm cầu khó gặp thay.
Kinh Vô Lượng Thọ: “Kiêu mạn, si tệ, biếng nhác, khó tin nổi pháp nầy, nhờ đời trước thấy Phật, như vậy ưa nghe Pháp.”
Chúng tôi đương nghiên cứu về Tam hợp trong khoa Tử vi, thì được bài giải đoán kinh nghiệm này của một cụ Vô Danh. Nguyên tắc rất đặc biệt, chúng tôi xin trình bầy cẩn trọng với quý bạn đọc. Cụ Vô danh đã đáp ứng lời kêu gọi của chúng tôi cầu xin kinh nghiệm giải đoán của các cụ cao thủ Tử vi, nhân trình bầy các kinh nghiệm của cụ Thiên Lương. Chúng tôi sẽ xin có những lời nói tiếp sau bài này. Chúng tôi xin trân trọng biết ơn cụ Vô Danh và mong được hầu chuyện với Cụ.
Hầu hết các sách Tử-Vi đã phát hành và một số lớn những người biết nhiều về Tử-Vi, thường hướng dẫn những người mới nghiên cứu rằng muốn xét sự hung kiết của một cung, cần phối hợp cung đó với cung Phúc, Mệnh, Thân, Hạn, Tam Hợp, Nhị Hợp, xung chiếu, có sách và có vị cẩn thận hơn còn khuyến khích nên xem cả cung cường, cung nhược …Một tổng hợp như vậy có lúc cần phối hợp 8 cung, với một số tinh đẩu đôi khi mang tính chất trái ngược nhau, qủa đã gây bối rối không ít cho người mới nghiên cứu hoặc gây chán nản cho người muốn nghiên cứu Tử-Vi. Đó là chưa kể đến hậu quả có thể gây sự nhầm lẫn trong việc giải đóan. Thí dụ như có người nghiên cứu cung Mệnh, đã phối trí cung Tài, Quan, Di, rồi khi nghiên cứu cung Tài cho rằng chỉ cần thêm vào tổng hợp trên đặc tính của cung Điền và lọai trừ cung Di ra là đủ. Thật ra Tam Hợp không hẳn có nghĩa là phải phối hợp lại các đẩu tinh trong ba cung để luận đóan. Người xưa đã có những định luật, khi phối hợp các cung lọai trừ những đẩu tinh ít hoặc không ảnh hưởng đến lá số, những định luật này phần lớn thất truyền, có lẽ một phần do truyền thống “dấu nghề” của người Á-Đông, phần khác do chiến tranh khiến cho các sách quý của ta bị thất lạc, hậu qủa là với lối giải mơ hồ bất định đã đem lại cho người đời mối hoài nghi về Tử-Vi và thậm chí có người xếp khoa nầy vào thành phần đạo thuật. Mới đây một vị thâm cứu Tử-Vi, cụ Thiên Lương đã tiên phong khai sáng cái đạo lý Tử-vi qua cách giải đóan đại cương lá số bằng các Tam-Hợp, Thái-Tuế, Lộc-Tồn v.v…giúp cho người thích nghiên cứu, nhìn qua đã ước định được sự thành bại, hung kiết của đương số, thật bổ ích thay! Noi gương cụ, chúng tôi xin mạo muội trình bày với các bạn một ý kiến về cách thức loại trừ bớt các đẩu tinh khi xét đóan cung Tam-Hợp mà chúng tôi đã may mắn và tình cờ học được.
1- Phân định tam-hợp
Chúng ta thấy rằng, trên Thiên bàn, các cung (Tý, Sửu, Dần, Mão v.v… ) với các Hành (Kim, Mộc, Thủy,…) của chúng nằm ở vị trí cố định, thứ tự các biểu tượng liên quan đến lá số (Phụ-Mẫu, Phúc-Đức v.v… ) cũng cố định đối với cả người sinh Dương lẫn sinh Âm và vị trí các biểu tượng này trên Thiên-bàn hoàn toàn tùy thuộc vào vị trí của Mệnh. Phân định các cung và các biểu tượng của lá số thành Tam-Hợp, ta có:
a) Thân-Tý-Thìn
- Tỵ-Dậu-Sửu
- Hợi-Mão-Mùi
- Dần-Ngọ-Tuất
b)Mệnh-Tài-Quan
- Phụ-Tử-Nô
- Phúc-Phối-Di
- Điền-Bào-Ách.
2- Luận về Sinh-Khắc của Hành
Xét ngũ hành Kim, Thủy, Mộc, Hỏa, Thổ ta thấy những hành liền nhau là Sinh, những hành cách khoảng là Khắc. Vậy thì Sinh là liền nhau có tác dụng mạnh lên nhau, còn Khắc là gián đọan, có tác dụng xô đẩy và xa rời: khảo sát các hiện tượng vật lý cũng cho phép ta kết luận tương tự. Hơn nữa khoa Tử-Vi tuy được xem là một khoa học, nhưng chắc chắn căn bản dựa trên phước thiện, tu vi của kiếp người, cổ nhân đã có câu “Nhân chi sơ, tính bổn thiện” cái Khắc chỉ có do người tạo ra hoặc là từ kiếp này hay kiếp khác, và nó chẳng qua chỉ là cái “Quả” của một cái “Nhân” Sinh mà ra. Do đó chúng tôi cho rằng Sinh là nguồn gốc, là căn bản đến với mình và Khắc là phụ, xuất hiện từ cái Sinh. Vì vậy, tại ngay đây chúng tôi xin phép mở một ngoặc để trả lời khi các bạn thắc mắc cho rằng Khắc cũng có ảnh hưởng, cũng có Khắc nhập, Khắc xuất v.v… trường hợp này chỉ là khi ta đi vào chi tiết tức là xét Hành của các tinh đẩu hoặc Hành chung của một Tam-hợp như Thái-Tuế chẳng hạn, để xem chúng có chung đụng với nhau được hay không mà thôi. Đây, ta chỉ xét cái Hành nguyên thủy, mục đích tìm chiều vận hành của các cung để xem trong một Tam-Hợp, cung nào chịu ảnh hưởng cung nào, thứ tự ảnh hưởng và ảnh hưởng ra sao.
3-Trở lại đoạn a – của Phần 1
Xét hành các cung Tam-Hợp, ta thấy:
- Thìn (Thổ) sinh Thân (Kim) sinh Tý (Thủy)
- Tỵ (Hỏa) sinh Sửu (Thổ) sinh Dậu (Kim)
- Dần (Môc) sinh Ngọ (Hỏa) sinh Tuất (Thổ)
- Hợi (Thủy) sinh Mão (Mộc) khắc Mùi (Thổ)
Thứ tự trên cho phép ta kết luận, nếu Mệnh và 11 biểu tượng khác của nó nằm trong 3 Tam-Hợp đầu, các biểu tượng sẽ chịu ảnh hưởng nhau và thứ tự ảnh hưởng hay chiều tác dụng sẽ được chúng tôi trình bày ở đoạn dưới với ví dụ. Nếu các biểu tượng này lọt vào Tam hợp thứ 4, ta thấy ngay chỉ có biểu tượng nằm tại Hợi và Mão chịu ảnh hưởng nhau, còn Hợi và Mùi, Mão và Mùi đều bị gián đoạn và độc lập.
4- Chiều tác dụng
Sự Sinh-Khắc của các Hành vận chuyển theo một chiều nhất định và không có chiều ngược lại. Khi ta nói ảnh hưởng nhau, chỉ vì ta đã giải thích theo khoa học rằng “cung Sinh” thì bị hao hụt, cung “được Sinh” thì được tài bồi và trong sự hao hụt hay tài bồi này đều bao gồm cả cái tốt lẫn cái xấu, tùy theo đặc tính của từng đẩu tinh.
Tóm lại, hành thuận theo chiều sinh có tác dụng. Hành đi ngược chiều sinh ít tác dụng. Hành khắc chiều sinh không có tác dụng.
Lấy thí dụ: Tam-hợp Thân-Tý-Thìn
– Khi xét hung, kiết của cung Thân, ta chú trọng nhiều nhất đến Thìn và Thân, riêng đối với cung Tý (Thủy) được cung Thân (Kim) sinh, ta giảm cường độ các Đẩu tinh tại Thân trước khi tổng hợp với đặc tính và cường độ của đẩu tinh nơi cung Thìn chiếu nhập vào mà khỏi cần để ý đến tính chất của đẩu tinh nơi cung Tý.
– Nếu xét đến cung Thìn, ta chỉ cần giảm cường độ của đẩu tinh cư tại cung này (vì đã xuất chiếu cho Thân) không cần đếm xỉa đến tính chất của các đẩu tinh tại cung Tý và Thân (vì khắc và nghịch chiều)
– Xét đến cung Tý, chỉ để ý đến đặc tính và cường độ của đẩu tinh tại cung này và của cung Thân chiếu xuống, cung Thìn thì không kể đến.
5- Kết luận
Mệnh chỉ vận hành trên 12 cung Thiên Bàn, các bạn có thể dựa trên đặc tính sinh-khắc của 4 Tam-Hợp mà chúng tôi vừa kể để lập thành một bản vị trí tương ứng của các biểu tượng của Mệnh đối với các cung Thiên Bàn để loại bớt sự phức tạp khi cần xét một Tam-hợp.
Về cách thức giải đoán Tam-hợp như trên, chúng tôi có theo dõi một số trường hợp của người nhà trong nhiều năm nay, cũng xin nêu lên làm điển hình để các bạn nghiên cứu. Chúng tôi cũng xin nói thêm là các bạn nào thích, có thể phối kiểm chiều tác dụng Tam hợp của phương pháp này với dẫn giải ảnh hưởng nhị hợp mà cụ Thiên Lương đã nêu ra trong cuốn Tử vi nghiệm lý xuất bản gần đây.
- Trường hợp 1:
Người này tuổi Mậu Dần, có Mệnh đóng tại Sửu, chiều Sinh đi từ Quan đến Mệnh đến Tài, từ Điền đến Ách đến Huynh, từ Phụ đến Nô đến Tử, từ Thê đến Phúc. Phúc gián đoạn Di, Di gián đoạn Thê. Trên thực tế, người này nhờ có chức chưởng mà được thảnh thơi, có một thời gian nghỉ giả hạn thì bị suy sụp. Tiền của không phải vì làm quan mà có, tiền của người ấy phần nhiều là do cha mẹ để lại và trúng số mà có. Các sự rắc rối và tai họa thường do chuyện nhà, đất mà nên. Tuy nhiên, khi gặp rắc rối, anh em trong nhà đều phụ giúp, gánh đỡ. Ngược lại, không bao giờ vì anh em mà gặp tai ương, và cũng không vì tai ương mà sản nghiệp bị ảnh hưởng. Bạn bè (Nô) thường đến nhà ông bà cụ và con cái của người này được nhờ bạn bè giúp đỡ. Trái lại, các cháu nội cũng không nhờ được ông bà nội và bạn bè cũng không giúp đỡ gì được, ông bà cụ, dù rằng ăn ở trong nhà. Cung Phúc-Đức của người này tốt, nhưng khi ra ngoài (Di) lại không hưởng được và khi ra ngoài chẳng làm hại mà cũng không làm lợi cho vợ con (người này có Thân cư Phúc-Đức tại Mão)
- Trường hợp 2:
Người này cũng tuổi Dần, có Mệnh đóng tại cung Mùi, cũng là người có chức Trưởng, kiếm được tiền nhờ ảnh hưởng chức vụ, nhưng Mệnh lại không được hưởng, thường bị mất cắp, hoặc bạn bè, người dưới lường gạt vì Mệnh bị gián đoạn với Tài ở Mão và Quan ở Hợi. Đối với Ách, Huynh, Điền (Thuận chiều Sinh) người này nhờ anh em gánh chịu hết tai ương, và nhờ anh em mà tậu được nhà cửa; ngược lại không bao giờ gặp rắc rối vì việc nhà cửa. Đối với Thê, Di, Phúc (Thuận chiều Sinh) thường xa nhà vì Thê có sao khắc với đương số và khi ra ngoài thường gặp qúy nhân và được giúp đỡ, hưởng phúc. Đối với Tử, Phụ, Nô (Thuận chiều Sinh) con cái người này hiện ở với ông bà nội (cha mẹ đương số) và ông bà cụ giúp đỡ cho bạn bè người này rất nhiều.
- Trường hợp 3:
Người này tuổi Qúy Dậu, có Mệnh đóng tại Tý, hiện có quan chức và nhờ đó mà làm ra tiền của, luôn luôn lo nghĩ về tiền bạc. Nghịch chiều lại, tiền bạc không giúp cho địa vị của người này được thăng tiến và người này cũng không mấy vui thú với chức vị hiện tại của mình, lúc nào cũng nghĩ đến việc thoái vị để đổi sang nghề khác. Đối với Nô, Phụ, Tử vì ở xa nên thường nhờ bạn bè giúp đỡ cha mẹ và hiện tại ông bà cụ săn sóc các cháu nội, nhưng ngược lại bạn bè của người này thì ít vì người này mà săn sóc con cái cho ông khi ông ở xa. Đối với Phúc, Di, Thê người này càng đi ra ngoài, càng được nhiều người coi trọng, nhờ đó giúp cho vợ nhiều lợi lộc. Đối với Huynh, Điền, Ách, người này cũng nhờ anh em mà có đất đai, nhưng các rắc rối trên đường đời lại chẳng có liên hệ gì đến sản nghiệp hoặc anh em.
- Trường hợp 4:
Người này tuổi Qúy Mùi, có Mệnh đóng tại Dậu, cũng là người có chức việc, đặc biệt cung Tài Bạch rất tốt. Trên thực tế lại không được hưởng tiền của mà phải sử dụng vào việc giữ vững địa vị của mình. Đối với Ách, Bào, Điền, anh em thường gánh chịu tai họa và cũng anh em phá tán sản nghiệp. Đối với Thê, Phúc, Di, vì có cung Phúc-Đức xấu nên mỗi lần đi ra ngoài là gặp chuyện không vừa lòng. Tuy nhiên, Thê cũng không chịu ảnh hưởng của Di và Phúc, bởi vì vợ của người này luôn luôn gặp may mắn (chúng tôi cũng có nghiên cứu lá số của bà vợ và thấy cung Mệnh và cung Phúc Đức rất tốt). Đối với Nô, Tử, Phụ, con cái được bạn bè giúp đỡ và hiện giờ hai vợ chồng đi làm; con cái do ông bà ngoại nuôi giữ.
Trên đây là những trường hợp có thật, chúng tôi cũng đã phối kiểm một số khá nhiều lá số của người nhà, nhưng vì khuôn khổ của tờ báo hạn hẹp, chúng tôi xin phép được tạm ngừng dành cho các bạn thích nghiên cứu, tự phối kiểm lấy các lá số của người thân để có một ý niệm chính xác hơn trong việc luận đoán.
Chúng tôi cũng hy vọng trong tương lai gần sẽ tiếp tục nêu những kinh nghiệm của chúng tôi về sự đơn giản các thế Nhị hợp và xung chiếu để các bạn đỡ mất thời giờ và nhất là không phải nản chí khi nghiên cứu một môn lý học mà mình ưa thích.
Trong phong thủy nhà ở, thùng rác là một vật dụng không thể xem thường vì nó thường chứa những chất thải có xú khí, uế khí nên sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe và tài vận của gia chủ.
Vì vậy, bạn không nên vứt rác bừa bãi và bố trí thùng rác một cách tùy tiện.
1. Bố trí đúng phương vị
Trong phong thủy, hướng Đông Nam lệch về Đông, Tây Bắc lệch về Tây. Đông Bắc lệch về phía Bắc và Tây Nam lệch về Nam là bốn vị trí được gọi là “kho”, tức là nơi “lá rụng về cội”, cũng là nơi có thể tập trung rác. Vì vậy, đặt thùng rác ở bốn vị trí này trong nhà sẽ không mang lại điềm xấu. Việc bố trí thùng rác đúng vị trí đối với người sử dụng rất quan trọng.
Nếu đặt thùng rác chính xác ở những phương vị này, gia chủ có thể tránh cho bản thân và các thành viên trong gia đình trở thành những “thứ rác rưởi” khiến người khác ghét bỏ.
2. Chỗ khuất là chỗ tốt
Nếu bạn không thể xác định được đâu là phương hướng thích hợp trong bốn vị trí trên thì cũng đừng quá lo lắng. Trong lý luận phong thủy có câu với đại ý là “mắt không thấy thì tâm không phiền”, nghĩa là những thứ mà bạn không nhìn thấy được sẽ không tạo ra điểm xấu.
Vì vậy, trong trường hợp không xác định được phương vị, bạn hãy đặt thùng rác ở nơi khuất hoặc mua loại thùng rác trông đẹp mắt, khiến cho người ta nhìn vào không nhận ra nó là thùng rác thì sẽ không ảnh hưởng gì đến gia đình bạn.
3. Số lượng càng ít càng tốt
Bất luận là ở văn phòng hay ở nhà, số lượng thùng rác được dùng càng ít thì càng tốt. Nhiều người cho rằng đặt thùng rác ở nhiều nơi trong nhà sẽ tiện lợi hơn, vệ sinh hơn. Điều này không sai, tuy nhiên, rất có thể sự tiện lợi này sẽ dần dần hình thành uế khí, ảnh hưởng xấu đến khí vận của bạn và người xung quanh nếu rác bị trữ lại trong thùng quá lâu.
Lưu ý: rác phải được cho vào thùng rác, nếu vứt cẩu thả, rơi vãi xung quanh thùng rác cũng không tốt.
4. Chọn cỡ nhỏ
Theo phong thủy, thùng rác cỡ nhỏ luôn luôn tốt hơn cỡ lớn, nhất là khi kết hợp việc chọn thùng rác với số lượng người dùng. Nếu nhà ở hay văn phòng chỉ có từ ba đến năm người nhưng lại dùng một thùng rác cỡ lớn, hiển nhiên là không thích hợp. Tốt nhất là nên chọn loại thùng rác không quá lớn, mỗi ngày chịu khó làm vệ sinh vài lần thì tốt hơn.
5. Có nắp đậy
Cũng tương tự như quan điểm trên – “không nhìn thấy thì tâm không phiền”, thùng rác có nắp đậy sẽ tốt hơn. Loại thùng rác có nắp có thể ngăn chặn mùi hôi của rác thải ra ngoài tạo thành xú khí, uế khí quẩn quanh trong không gian sống. Nếu như thùng rác nhà bạn hiện không có nắp thì cách hóa giải tốt nhất là phải thường xuyên làm sạch thùng rác, không nên để xuất hiện mùi hôi hoặc có thể dùng túi nylon hay giấy báo đậy thùng rác lại.
6. Tránh đặt ở vị trí dành riêng cho nữ
Trong vị lý học của phong thủy, phía Tây Nam đại diện cho nữ chủ nhân, Đông Nam đại diện cho trưởng nữ. Vì vậy, các bạn nữ hãy chú ý không nên đặt thùng rác ở đúng ngay hai vị trí này mà phải đặt lệch đi, tức là khi buộc phải đặt thùng rác về phía Đông Nam thì nên đặt lệch về phía Đông, nếu buộc phải đặt về phía Tây Nam thì nên lệch về phía Nam là tốt nhất. Làm vậy sẽ không ảnh hưởng đến sức khỏe, tình cảm và tài vận của người sử dụng.
Trong khoa Tử Vi Đẩu Số, “Thai Phục Vượng Tướng” chỉ là một bộ sao nhỏ, gồm các sao: Thai, Phục Binh, Đế Vượng, Tướng Quân hay Thiên Tướng. Trong cơ thể, sao Thai chỉ bộ phận sinh sản của đàn bà, cũng có nghĩa là bào thai, là sự sinh đẻ, là vấn đề sinh lý, tình dục, một cấu tạo mới hay sự thay đổi mới.
Phục Binh chỉ sự lừa gạt, dối trá, âm mưu, gài bẫy, hãm hại. Đế Vượng có nghĩa là cái lưng, là số nhiều, là sự hưng thịnh, phát đạt. Đế Vượng còn chỉ sự sinh sôi nảy nở, sự canh cải mới mẻ. Thiên Tướng/Tướng Quân trong cách này hàm ý nghĩa là người đàn ông.
Bộ Thai Phục Vượng Tướng (TPVT) không có ý nghĩa gì nhiều về công danh, sự nghiệp hay giàu sang phú quý, và cũng không có gì đáng nói với nam giới. Đối với nữ giới, bộ sao này rất là quan trọng. TPVT cũng phần nào giống như bộ Cự Kỵ, hay Tham Kỵ, nói lên bản tánh, những biến cố, cũng như những khúc quanh quan trọng về mặt tình cảm, hay khuynh hướng tình dục trong cuộc đời của một người, đặc biệt là phụ nữ. Vì vậy chúng ta phải rất thận trọng và cân nhắc khi thấy một lá số nữ mệnh có cách TPVT. Bởi vì lời giải đoán là sự đánh giá về danh tiết và phẩm hạnh của đương số. Điều đó đối với một người đàn bà tối ư quan trọng.
Trường hợp nữ mệnh có TPVT nằm trong các cường cung như Mệnh, Tài, Quan, Phúc, Di, Thê mà chính cung có những sao chủ sự đoan chính, hay những sao có khả năng khắc chế tính lãng mạn, dâm đãng, lẳng lơ, sự buông thả trong vấn đề tình dục, thì lá số đó sẽ có 2 trường hợp:
1. “Tiền Dâm Hậu Thú” có nghĩa là ăn ở với nhau trước rồi mới cưới hỏi sau. Với nhịp sống của một xã hội tân tiến hôm nay thì vấn đề này trở nên hết sức bình thường. Nhưng nếu ngược trời gian trở về một thế kỷ trước đây thì qủa là một điều khó có thể chấp nhận được. Điều lý thú là khoa Tử Vi có thể nói lên những điều thầm kín ấy một cách khá chính xác.
2. Sao Thai, Phục Binh nói lên sự hư thai, Đế Vượng ý nói nhiều lần. Đương số có thể gặp cả hai trường hợp nêu trên.
Cũng cách TPVT nhưng Mệnh và các cung chính lại không có những sao khắc chế, ngược lại có thêm những dâm tinh khác như Tham Lang, Đào Hoa, Thiên Riêu, Mộc Dục…đồng thủ hay hợp chiếu thì đương số sẽ thất trinh, thất tiết với người khác khi lấy chồng, hoặc sống với nhau theo kiểu già nhân ngãi, non vợ chồng, chứ không có cưới hỏi gì.
Trường hợp nữ Mệnh gặp cách TPVT mà cung Mệnh và những cung chính bị nhiều sát tinh như Địa Không, Địa Kiếp đồng cung hay hợp chiếu thì sự thất tiết có thể là do hoàn cảnh hay tai nạn ngoài ý muốn. Không hẳn đương số là hạng đàn bà lẳng lơ mất nết.
Trường hợp có sao Thai thủ Mệnh, nhưng không đủ 4 sao mà Thai lại gặp Đào Hoa hay Hồng Loan tọa thủ đồng cung hoặc hợp chiếu thì ý nghĩa ở đây không những chỉ đơn thuần vấn đề ăn ở với nhau trước khi cưới hỏi mà còn chỉ bản tánh lẳng lơ, mất nết, thích chuyện ngoại tình, cho nên phú Tủ Vi mới có câu:
“Đồng Hồng mà ngộ sao Thai
Chồng vừa khỏi cửa đón trai vào nhà”
Trường hợp nữ mệnh có TPVT mà sao Thai cùng với những dâm tinh khác tọa thủ tại Mệnh, mà đương số đã có gia đình thì sẽ có thai do ngoại tình. Nếu Thai gặp Song Hao thì dễ bị hư thai, gặp Lưu Hà hay Hóa Kỵ thì dùng thuốc mà phá thai, hặp Thiên Hình hay Kiếp Sát thì nạo thai, hay khi sanh phải bị mổ xẻ.
Nếu Thai tọa thủ tại Mệnh có Thiên Riêu đồng cung hay hợp chiếu thì đây cũng là mẫu đàn bà có cuộc sống rất buông thả. Nếu Thai Riêu gặp thêm Đào Hoa nữa thì phải chịu một kiếp phong trần, và nếu không được những sao khắc chế bớt sẽ dễ trở thành gái giang hồ, đàn bà lăng loàn, xem thường luân thường đạo lý.
Cũng cách TPVT mà có Phục Binh thủ Mệnh hoặc xung chiếu từ Thiên Di thì sự thất trinh của đương số thường là bị dụ dỗ, cưỡng bức, hay gài bẫy. Nếu có thêm sát tinh Không Kiếp đồng cung hay hợp chiếu thì càng chắc chắn hơn.
Trường hợp nữ Mệnh không thuộc cách TPVT nhưng trong lá số bộ sao này nằm ở một cung nào đó thì chúng ta cũng nên cân nhắc 2 trường hợp sau đây:
1. Mệnh của đương số là người đoan chính, đến hạn gặp TPVT thì vấn đề sinh con đến trong hạn này.
2. Nếu Mệnh là người đa tình, lãng mạn mà hạn gặp TPVT (phải đủ 4 sao) thì phải nên thận trọng trong vấn đề giao lưu tình cảm. Trong hạn này (thường ứng nghiệm vào tiểu hạn 1 năm) cuộc đời sẽ có nhiều thay đổi, những khúc quanh trong vấn đề tình cảm, và có thể khúc quanh này sẽ thay đổi cả cuộc sống hiện tại của đương số.. Và một điều đáng lưu ý là sự việc không chỉ đơn thuần trên vấn đề tình cảm mà TPVT còn có ý nghĩa sâu đậm trên vấn đề xác thịt.
Đối với nam giới thì cách TPVT chỉ rõ bản tính đặt nặng vấn đề vật chất hơn tình cảm. Trong tình yêu, họ cho rằng trái tim và tâm hồn của người yêu chưa đủ, mà phải chiếm đoạt cho được cả thân xác. Nếu hội thêm những sao như Tham Lang, Phá Quân hãm địa, Không Kiếp, Quan Phù, Quan Phủ…thì đương số chắc chắn là bà con của họ Sở.
Tóm lại, trong cách TPVT, đặc biệt đối với phụ nữ thì nói lên sự chủ ý hay tự nguyện của đương số nặng hơn là vì hoàn cảnh, hay tai nạn như cách Cự Kỵ. Nhìn chung, mẫu người TPVT có thể bao gồm mọi thành phần, mọi giai cấp trong xã hội, từ một người đàn bà tầm thường cho đến một mệnh phụ phu nhân, vì đây chỉ là lãnh vực tình cảm hay khuynh hướng tình dục, là vấn đề phẩm hạnh của con người.
Lưu ý: Là một trong những con giáp vận trình suôn sẻ nhất tháng 1, nhưng nếu không giữ thái độ điềm tĩnh mà nóng vội trong xử lí mọi việc, người tuổi Tuất sẽ để tuột khỏi tầm tay không ít cơ hội hiếm có để rồi phải nói lời hối tiếc.
Lưu ý: Người tuổi Dậu nên làm việc thận trọng, đề phòng kẻ tiểu nhân đố kị, tìm cách quấy phá. Top 5 con giáp tốt toàn diện năm 2016 Được nhiều cát tinh và quý nhân phù trợ, những con giáp này không những gặt hái thành công trong công việc, sự nghiệp mà cả đường tình duyên cũng mĩ mãn. 3. Tuổi Mão
Lưu ý: Tuy công việc, tài lộc và tình duyên đều hanh thông, nhưng người tuổi Mão nên lưu ý tới sức khỏe của mình. Khối lượng và áp lực công việc lớn dễ khiến bạn mệt mỏi, uể oải. Tốt nhất, nên đi kiểm tra sức khỏe định kì.
Lưu ý: Người tuổi Ngọ nên quan tâm, chăm sóc tới nửa kia và những người thân yêu trong gia đình, hạn chế mâu thuẫn tình cảm, từ đó ảnh hưởng tới công việc và tài lộc của bạn. An Khánh (Theo MGSP)
Voi là loài động vật mạnh mẽ của nơi hoang dã. Chiêm bao thấy voi là điềm lành, là điều may mắn đối với bạn. Hãy cùng nhau xem ý nghĩa của giấc mơ thấy voi. Chiêm bao thấy voi là điềm được bạn tốt, chấm dứt mọi phiền phức đang trải qua. Nằm mơ thấy v
Phong thủy có lịch sử lâu đời, không phải là mê tín dị đoan. Đây là một môn khoahọc về môi trường sống, cách bày bố, sắp xếp chỗ ở, nơi làm việc hợp lý. Chúng ta có thể hiểu đơn giản phong là khí hay chuyển động của gió, còn thủy là dòng nước.
Như vậy phong thủy là môn khoa học kết hợp giữa dòng khí và mạch nước, nghiên cứu sự ảnh hưởng của địa lý và môi trường xung quanh đến đời sống, công việc, phúc họa của con người.
Nếu phân tích kỹ và đi sâu về môn này sẽ thấy phong thủy liên quan đến nhiều thứ như long mạch, huyệt vị, minh đường, hướng, vị trí, dòng chảy…
Chúng ta đều biết rõ, khí và dòng khí do trời sinh ra, do tự nhiên mà có, khó có thể thay đổi. Tương tự như vậy, mạch nước được cấu tạo sẵn trong lòng đất, do tự nhiên mà có, không dễ thay đổi. Còn nhân khí do con người sinh ra, điều này chúng ta có thể điều chính được. Chính vì vậy việc hiểu biết về phong thủy giúp các doanh nhân và doanh nghiệp chọn được vị thế tốt nhất, phương hướng phù hợp nhất, cảnh quan thiên nhiên hợp lý nhất để đem lại tối đa lợi ích cho mình, cho doanh nghiệp và hạn chế tối thiểu những điều không tốt cho chính mình và những người xung quanh.
Cũng chính vì vậy các doanh nhân và bậc trí thức luôn coi phong thủy là một cách để con người hài hòa vào tự nhiên, hòa hợp với thiên nhiên để sống và làm việc tốt nhất, để phát triển và trường tồn.
Nhiều người thắc mắc liệu phong thủy có phải là mê tín dị đoan, rằng theo phong thủy có phải là không tốt. Xin thưa rằng chúng ta đều biết rất rõ, môi trường sống tác động rất lớn tới con người. Y học hiện đại đã chỉ rõ rằng nguồn nước, không khí, ánh sáng, điện trường, từ trường trái đất và các điều kiện môi trường khác ảnh hưởng lớn tới sức khỏe, trí tuệ của con người.
Điều kiện sống và môi trường không tốt có thể gây bệnh, thậm chí mang lại hậu quả không tốt cho dài lâu. Chính vị vậy, việc chọn địa điểm tốt để sinh sống, để mở văn phòng, công ty là đúng và cần thiết, là rất khoa học.
Trong trường hợp sự lựa chọn không có phép, hiểu biết tốt về phong thủy giúp chúng ta cải tạo, sắp xếp lại ngôi nhà, văn phòng, thay đổi cảnh quan để không gian sống và làm việc tốt nhất, phù hợp nhất, an toàn nhất và tốt đẹp nhất.
Vì là một bộ môn khoa học nên doanh nhân và giới tri thức đều nghiên cứu và áp dụng phong thủy vào công việc và cuộc sống của chính mình. Một việc rất quan trọng của các doanh nghiệp là chọn vị trí văn phòng hay xây trụ sở công ty.
Nếu chúng ta chọn nơi có cảnh quan tự nhiên đẹp, địa thế hài hòa, vùng đất cao ráo, ánh sáng đầy đủ, không khí trong lành, nguồn nước sạch sẽ, ít tiếng ồn, giao thông thuận lợi… thì đó là chỗ rất tốt. Các doanh nhân có thể nhờ người có hiểu biết về phong thủy xem giúp hoặc tự mình chọn các yếu tố thiên nhiên tốt nhất chọn cho văn phòng của cơ quan mình.
Ngoài việc chọn vị trí cho công ty, cửa hàng, siêu thị, showroom, việc chọn tên công ty và slogan thuộc loại quan trọng hàng đầu. Các doanh nhân cũng cần quan tâm đến việc trình bày, trang trí văn phòng, cách sắp xếp các phòng ban. Tên công ty là quan trọng nhất là phải được đặt lên vị trí cao nhất của tấm bảng hiệu treo trước văn phòng. Tuy nhiên một số doanh nghiệp không để ý nên đã để tên công ty mình xuống dưới. Điều này không tốt.
Cách và phương pháp chọn màu sắc cũng rất quan trọng. Nên chọn màu sắc hài hòa, sáng sủa, tạo ra sự thoải mái, thư giãn và trẻ trung cho mỗi người làm việc tại đó. Nhiều doanh nhân còn quan tâm đến việc chọn số điện thoại, số xe, số tài khoản.
Có thể tham khảo hướng kê bàn ghế làm việc, giường ngủ, hướng đặt bàn thờ, cách chọn người hợp tuổi theo âm dương ngũ hành, chọn ngày khởi hành chuyến đi xa, chọn ngày khai trương văn phòng…
Nếu nghiên cứu và phân tích sâu về từng người, từng tuổi, ở từng vị trí khác nhau thì khá phức tạp. Người viết chỉ muốn đưa ra một vài lời khuyên chung, mang tính tham khảo và rất khoa học với hy vọng giúp đỡ được các bạn trong cuộc sống và công việc.