– Người tuổi Tỵ được ví như hoa hồng có gai, mang tới cho người khác cảm giác về sự trong trẻo, hương thơm ngất ngây đấy, nhưng hễ động tới là sẽ bị gai nhọn làm tổn thương ngay lập tức. Họ nhớ lâu thù dai tới mức “sống để bụng, chết mang theo”, không có chuyện lãng quên một cách dễ dàng đâu nhé.
No4. Người tuổi ThìnNgười tuổi Thìn khí chất ngời ngời, cộng thêm với trí nhớ siêu dai, nên tốt nhất bạn đừng bao giờ “gây thù chuốc oán” với con giáp này, kẻo những ngày tháng còn lại trong cuộc đời, bạn sẽ khó chung sống hòa bình với họ được nữa.
No3. Người tuổi MãoTrong 12 con giáp, người tuổi Mão có tính cách chan hòa nhất. Dẫu vậy, đừng bao giờ nhìn vẻ ngoài hiền lành, dễ tính như vậy mà có thể buông ra những lời bông đùa vượt quá phạm vi cho phép nhé.Bởi đây cũng là con giáp nhớ lâu thù dai, trí nhớ cũng thuộc hàng siêu phàm, kể cả những chuyện nhỏ nhặt cũng phải lâu lâu mới bị bộ não tinh vi của họ đào thải, đừng đùa với họ.
No2. Người tuổi TỵNgười tuổi Tỵ được ví như hoa hồng có gai, mang tới cho người khác cảm giác về sự trong trẻo, hương thơm ngất ngây đấy, nhưng hễ động tới là sẽ bị gai nhọn làm tổn thương ngay lập tức. Vì thế đừng bao giờ đắc tội với con giáp này, nhất là về phương diện đời tư. Họ nhớ lâu thù dai tới mức “sống để bụng, chết mang theo”, không có chuyện lãng quên một cách dễ dàng đâu nhé.No1. Người tuổi SửuChân thành và tốt bụng trong đối nhân xử thế, nhưng người tuổi Sửu cũng có những nguyên tắc làm người riêng. Thêm nữa, con giáp này lại có nhược điểm là khó kiểm soát cảm xúc bản thân. Khi làm điều gì đắc tội với họ, bạn nên xin lỗi ngay lập tức. Nếu để quá lâu, họ sẽ ghi thù trong lòng. Tuy không nói ra, nhưng nếu bạn để ý, thái độ và cách cư xử của họ với bạn sẽ quay ngoắt 180 độ cho coi.
=> Theo dõi: Tử vi hàng ngày của 12 con giáp được cập nhật nhanh chóng, chính xác
Hoàng Lam Top 5 con giáp ưa mạo hiểm và “chủ nghĩa xê dịch” – Đối mặt với hiểm nguy, người tuổi Khỉ không hề nao núng, trái lại, sẵn sàng đương đầu mạo hiểm, cứu mình cứu người, ra tay hiệp nghĩa, ai Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Ngọc Sương (##)
Phụ tinh. Thuộc bộ sao đôi Địa Không và Địa Kiếp. Phân loại theo tính chất là Sát Tinh, Hung Tinh. Cũng là một trong 6 sao của bộ Lục Sát Tinh gồm các sao Kình Dương, Đà La, Địa Không, Địa Kiếp, Linh Tinh, Hỏa Tinh (gọi tắt là Kình Đà Không Kiếp Linh Hỏa). Cũng là 1 trong 4 sao của cách Hình Riêu Không Kiếp (Thiên Hình, Thiên Riêu, Địa Không, Địa Kiếp). Khi đóng trong cung không có chính tinh gọi là cách hung hoặc sát tinh độc thủ. Khi có sao Địa Kiếp trong cùng một Cung Tỵ hoặc Cung Hợi gọi là cách Không Kiếp đồng cung Tỵ Hợi. Khi một trong các Cung Tý, Cung Tuất, Cung Thìn, Cung Ngọ có sao Địa Không thì tại Cung Hợi hoặc Cung Tỵ thuộc cách giáp Không Kiếp. Vị Trí Ở Các Cung
Đắc Địa: Dần, Thân, Tỵ, Hợi.
Hãm Địa: Tý, Sửu, Mão, Thìn, Ngọ, Mùi, Dậu, Tuất.
Ý Nghĩa Địa Không Ở Cung Mệnh Tướng Mạo Sao Địa Không ở Mệnh thì thân hình thô xấu, da kém vẻ tươi nhuận. Tính Tình
Địa Không đắc địa: Có mưu trí, thâm trầm và lợi hại, rất can đảm, táo bạo, dám nói, dám làm, kín đáo, bí mật, hay giấu diếm, hay suy xét, mưu trí cao thâm, thủ đoạn. Những đặc tính này đúng cho cả phái nam và nữ.
Địa Không hãm địa: Ích kỷ, tự kỷ ám thị, suy tật xấu của người từ tật xấu của mình, xảo quyệt, gian tà, biển lận, tham lam.
Công Danh Tài Lộc Sao Địa Không cho dù đắc địa cũng không bảo đảm trọn vẹn và lâu dài công danh và tài lộc. Sự nghiệp sẽ hoạch phát nhưng hoạch phá nghĩa là tiến đạt rất nhanh chóng song tàn lụi cũng lẹ. Uy quyền và tiền bạc phải gặp nhiều thăng trầm, lúc thịnh lúc suy; nếu có phú quý lớn thì hoặc không hưởng được lâu, hoặc phải có lần phá sản, lụn bại. Nếu hãm địa, nhất định phải cực kỳ nghèo khổ, vất vả, không có sự nghiệp và sinh kế để nuôi thân. Sao Địa Không giáp Mệnh cũng liên lụy ít nhiều đến bản thân, công danh, tài lộc như phải vất vả, tha phương lập nghiệp, bị mưu hại, trộm cắp. Phúc Thọ Tai Họa Đắc địa: Cuộc đời phải vất vả cực nhọc, tuy tai họa tiềm tàng, nhưng không mấy hung hiểm. Dù sao, phải chịu nhiều cảnh thăng trầm, khi vinh, khi nhục. Nếu gặp phải sát tinh, thì sự phá hoại dễ dàng phát tác mau chóng. Hãm địa: Địa Không ví như một nghiệp chướng bám vào vận mệnh con người, có ảnh hưởng đa diện và nặng nề, cụ thể như:
Bị tật nguyền vĩnh viễn, bệnh nặng.
Hung họa nhiều và nặng nề.
Nghèo khổ, cô độc, vô sản, phải đi xa làm ăn.
Yểu mạng.
Những Bộ Sao Tốt Địa Không đắc địa gặp Thiên Tướng, Thiên Mã, Hóa Khoa: Những sao này thủ Mệnh là người tài giỏi, lập được sự nghiệp lừng lẫy trong cảnh loạn ly. Địa Không đắc địa với phi thường cách: Phi thường cách hoặc gồm Tử Phủ, Vũ, Tướng đắc địa, hoặc gồm Sát, Phá, Liêm, Tham đắc địa, được sự hội tụ của cát tinh đắc địa như Tả, Hữu, Khôi, Việt, Xương, Khúc, Long, Phượng, Đào, Hồng, Khoa, Quyền, Lộc và của sát tinh đắc địa như Kình, Đà, Không, Kiếp, Hình, Hổ. Đây là cách nguyên thủ, đế vương, hội đủ tài đức và vận hội, có cả lương thần và hảo tướng trợ giúp, xây dựng chế độ, để danh tiếng lừng lẫy cho hậu thế. Những Bộ Sao Xấu
Địa Không với Thiên Hình, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh: Nếu cùng đắc địa cả thì phú quý được một thời. Nếu cùng hãm địa cả thì rất nguy hiểm tính mạng, sự nghiệp, tài danh, suốt đời gặp nhiều chuyện đau lòng. Dù đắc hay hãm địa, cả trai lẫn gái đều khắc vợ, sát phu.
Địa Không, Thiên Cơ (hay Hỏa): Bị hỏa tai như cháy nhà, phỏng lửa.
Địa Không, Tham Lang đồng cung: Bị thủy tai (chết đuối, bị giết dưới nước), nếu không cũng chật vật lang thang độ nhật, dễ sa vào đường tù tội.
Địa Không (Kiếp) Phục Binh, Thiên Hình, Hóa Kỵ: Gian phi, trộm cướp, du đãng.
Địa Không, Trực Phù, Thiên Khốc, Điếu Khách, Cự Môn, Nhật: Cách này biểu hiện cho tai họa, tang khó, đau buồn liên tiếp và chung thân bất hạnh.
Ý Nghĩa Địa Không Ở Cung Phụ Mẫu
Cha mẹ mất sớm, chết sớm, chết thảm, bị hình tù, ly cách.
Không nhờ vả được cha mẹ mà có khi phải gánh nợ di truyền của cha mẹ để lại.
Ý Nghĩa Địa Không Ở Cung Phúc Đức
Sao Địa Không đắc địa, thì hưởng lộc một thời.
Sao Địa Không hãm địa, chủ sự bất hạnh lớn về nhiều phương diện, giòng họ sa sút, lụn bại, vô lại, cường đạo, sự nghiệp tan tành, tuổi thọ bị chiết giảm, đau ốm triền miên vì một bệnh nan y.
Ý Nghĩa Địa Không Ở Cung Điền Trạch
Địa Không đắc địa, có điền sản một dạo, nhưng phải mua đi bán lại luôn.
Địa Không hãm địa, vô sản, bị sang đoạt, bị phá sản, bị tai họa về điền sản (cháy nhà, nhà sập ...) hoặc sang đoạt, tạo điền sản bằng phương tiện táo bạo, ám muội.
Ý Nghĩa Địa Không Ở Cung Quan Lộc
Công danh thấp kém, làm ăn rất chật vật.
Bị khinh ghét, dèm pha, không thăng tiến.
Bị mất chức ít nhất một lần.
Nếu đắc địa, có bộc phát được một thời nhưng sau cũng tàn lụi, hoặc phải lên voi xuống chó. Ý Nghĩa Địa Không Ở Cung Nô Bộc
Tôi tớ phản chủ, hại chủ, giết chủ.
Bạn bè xấu, tham lận, lường gạt.
Nhân tình ám hại, bêu xấu, bòn của.
Ý Nghĩa Địa Không Ở Cung Thiên Di
Ra ngoài làm ăn vất vả, phải bon chen, đôi khi có sựï gây gỗ, bực mình.
Công danh vất vả, làm ăn lúc được lúc không, làm nghề cực nhọc.
Tình cảm bạc bẽo, có số ly hương, đi xa, mồ côi, nếu không thì gia đạo cũng ly tán, xa cách.
Ý Nghĩa Địa Không Ở Cung Tật Ách Sát tinh này có rất nhiều đặc tính bệnh lý, hầu hết là rất nặng. Nó gây thương tàn cho bộ phận cơ thể đi kèm, dù sao đó chỉ xung chiếu hay bàng chiếu. Cuộc đời hay gặp tai nạn, trắc trở, bệnh khó chữa, có ám tật.
Địa Không, Thiên Đồng: Ruột dư phải mổ, hay bệnh thận phải mổ, bệnh mật có sạn.
Địa Không, Đế Vượng: Gãy xương sống, sái xương sống.
Địa Không, Hỷ Thần: Bệnh trĩ kinh niên hay bệnh mụn nhọt lớn ở mông.
Địa Không, Thai: Bào thai chết trong bụng mẹ, mẹ cố ý phá thai.
Địa Không, Hóa Kỵ: Ngộ độc bị phục độc.
Ý Nghĩa Địa Không Ở Cung Tài Bạch
Địa Không nếu đắc địa: thì hoạch phát nhanh chóng một thời, nhưng về sau phá sản cũng rất nhanh. Thường thường kiếm tiền bằng những phương cách táo bạo (buôn lậu, ăn cướp, sang đoạt) và ám muội (đầu cơ, oa trữ, buôn bán đồ quốc cấm).
Địa Không nếu hãm địa: Vô sản, bần nông.
Ý Nghĩa Địa Không Ở Cung Tử Tức
Không con, hiếm muộn, ít con, phải ở xa con cái.
Sát con rất nhiều.
Con du đãng, đĩ điếm không nhờ vả được mà còn phải bị di lụy.
Con phá sản nghiệp cha mẹ.
Ý Nghĩa Địa Không Ở Cung Phu Thê Có những ý nghĩa sau:
Sát phu, sát thê, góa bụa bất ngờ.
Có thể không có gia đình.
Nếu có gia đình thì sát hay phải xa cách nhau lâu dài vì tai nạn xảy ra cho một trong hai người.
Phải hai, ba lần lập gia đình, lần nào cũng nhanh chóng.
Ý Nghĩa Địa Không Ở Cung Huynh Đệ Có những ý nghĩa sau:
Không có anh chị em hoặc anh chị em ly tán.
Có anh chị em dị bào, có người đau ốm bệnh tật, có tật nguyền, hoặc đoản thọ, chết yểu.
Không nhờ vả được anh chị em mà còn phải bị liên lụy vì họ (vì Địa Không bấy giờ giáp Mệnh).
Địa Không Khi Vào Các Hạn Nếu đắc địa, sẽ bộc phát tài danh mau lẹ, nhưng phải làm bệnh nặng về phổi, mụn nhọt, hoặc phải đi xa.
Ngày nay, con người khá chú trọng đến phong thủy bởi tin rằng mong thủy sẽ mang lại sức khỏe, may mắn và tiền tài. Trồng cây xanh cũng vậy, gia chủ không chỉ những phải lựa chọn cây đẹp, hợp sân vườn, mà còn cần chọn cây hợp với bản mệnh của mình và những người trong gia đình.
Năm mới 2016 của bạn như thế nào? Hãy xem ngay TỬ VI 2016 mới nhất nhé!
Ngày nay, con người khá chú trọng đến phong thủy. Mọi người chú ý đến từng chi tiết nhỏ nhất trong không gian sống của mình bởi tin rằng mong thủy sẽ mang lại sức khỏe, may mắn và tiền tài. Trồng cây xanh cũng vậy, gia chủ không chỉ những phải lựa chọn cây đẹp, hợp sân vườn, mà còn cần chọn cây hợp với bản mệnh của mình và những người trong gia đình.
Chọn cây cảnh theo bố cục, kích thước của ngôi nhà
Phải chú ý đến kích cỡ của nhà mình để chọn cây một cách có khoa học hợp lí của bố cục khung cảnh. Với những căn nhà có diện tích nhỏ hoặc tầm trung bình không nên chọn cây cảnh quá to, rậm rạp sẽ làm giảm ánh sáng chiếu đến cũng như không hưởng hết năng lượng làm giảm đi gia vận, không gặp được nhiều may mắn, có thể chọn các chậu cây treo lên như vậy sẽ đón được nhiều ánh nắng cũng như đón nhận nhiều hương lộc hơn.
Xem tử vi thấy rằng với những ngôi nhà có không gian rộng lớn hơn thì hãy chọn những cây cảnh to để tạo cân bằng và tương xứng hơn, lấp đi các khoảng trống không cần thiết. Những cây cảnh đó nên có tán rộng, đầy đặn màu sắc tươi tắn sẽ mang đến nhiều tài lộc
Dựa vào quan hệ tương sinh tương khắc để chọn cây cảnh theo vị trí đặt. Đối với những nơi mặt tiền như trước cổng hoặc sân trước thì các loại cây nên chọn đó là tre, trúc, tùng đây là nững loại cây theo phong thủy rất tốt và phù hợp nhất.
Tre là cây sẽ mang đến nhiều may mắn cho ngôi nhà của bạn , giúp công việc thuận lợi ăn nên làm ra.
Trồng trúc sẽ mang đến nhiều niềm vui và sự may mắn cho bạn, nhưng phải chú ý nếu rễ bị mọc dưới ngôi nhà thì sẽ không thuận vì sức đất bị phá hoại, hãy bao hết phần rễ vào bên trong.
Theo xem tử vi thấy cây tùng cũng rất tốt khi đặt trước nhà, thanh lọc tạo một luồng không khí trong lành mát mẻ mang lại khỏe mạnh, tốt nhất hãy đặt cây theo hướng Nam. Theo thuyết phong thủy nên trồng chanh và cam trước nhà sẽ đem lại nhiều cơ hội làm ăn và lợi nhuận.
Ngoài ra để cải thiện những mối quan hệ, giúp gia đình luôn giữ được hòa khí thì hãy trồng thêm cây táo. Ở trước hiên nhà và hành lang là hay nơi để giày dép không nên đặt các loài cây có gai mà nên lựa chọn các loài cây xanh quanh năm như cây vạn tuế, vạn niên thanh, bạch mã hoàng tử.
Còn ở giữa sân nên chọn những chậu hoa nhỏ xinh xắn, màu sắc tươi tắn mang lại sự vui tươi, an lành có thể chọn các chậu hoa như tử la lan, phong lữ, vân anh, thu hải đường…
Ở phòng khách là một địa điểm chính của không gian nhà nên việc chọn cây cảnh đặt ở đây rất cần thiết, phải hài hòa cùng với màu sắc trong nhà vừa phải đúng theo vận mệnh trong tương lai. Không nên đặt các chậu cây quá lớn sẽ tạo cảm giác ngột ngạt, chật chội. Và hãy lựa chọn màu sắc cây cảnh hài hòa với màu sắc căn phòng cũng như chi tiết trang trí xung quanh.
Trong phòng ngủ nên chọn các lọa cây nhẹ nhàng tươi mát và thường người ta hay chọn hoa nhài có hương thơm nhẹ rất dễ chịu. Nên lưu ý không đặt quá nhiều cây cảnh trong phòng ngủ và phải để phòng thông thoáng để tránh hiện tượng cây hô hấp lấy hết oxy thải ra cacbonic nguy hiểm gây ngạt thở.
Theo thuyết phong thủy không đặt cây chính giữa cửa nhà sẽ cản trở gây bất tiện đi lại và cũng như vật cản cản trở vận may và những điều tốt đẹp đến gây những rắc rối về tài chính hoặc trên đường công danh.
Phải thường xuyên chăm sóc cây cảnh thật tốt, nên thay đổi đất trồng nếu cât đã quá lâu thì chất dinh dưỡng trong chậu sẽ bị mất dần. Thỉnh thoảng đem cây ra đón nắng để cây quang hợp phát triển tốt hơn, dùng lau sạch bụi bẩn bám trên lá cây. Vun xới gốc lên để rễ dễ hấp thụ chất dinh dưỡng, cắt tỉa bớt lá vàng. Nếu để cây khô héo sâu thì đây là một điều không may phải nhanh chóng thay cây, theo phong thủy gia đình bạn sẽ có người ốm yếu mắc bệnh.
>>> Năm mới 2016 AI xông đất nhà bạn? Sẽ mang lại nhiều may mắn tài lộc?
Xem ngay XEM TUỔI XÔNG ĐẤT 2016 mới nhất>>>
Một số loại cây cảnh theo Mệnh
Ngũ hành gồm 5 yếu tố: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa Thổ. Năm yếu tố này có mối liên hệ chặt chẽ không thể tách rời. Giữa chúng luôn tồn tại những cặp tương sinh và tương khắc. Ngũ hành tương sinh: Mộc sinh Hỏa, Hoả sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy, Thuỷ sinh Mộc.Tương sinh có nghĩa là giúp đỡ nhau để phát triển. Ngũ hành tương khắc: Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thuỷ khắc Hỏa, Hoả khắc Kim, Kim khắc Mộc. Tương khắc có nghĩa là áp chế lẫn nhau.
Khi trong nhà có yếu tố tương khắc thì biện pháp đơn giản nhất là trồng cây để thay đổi xung khắc thành tương sinh giúp cân bằng âm dương. Bên cạnh đó, nếu gia chủ hợp với mệnh gì thì có thể trồng cây theo mệnh đó cũng có thể mang lại tài vận và may mắn đến cho gia đình.
Dưới đây là 5 yếu tố Ngũ hành và những loại cây thường được trồng trong không gian sống:
*Người thuộc mệnh Kim
Người mạng Kim có tính độc đoán và cương quyết. Họ dốc lòng dốc sức theo đuổi cao vọng. Là những nhà tổ chức giỏi, họ độc lập và vui sướng với thành quả riêng của họ. Tin vào khả năng bản thân nên họ kém linh động mặc dù họ tăng tiến là nhờ vào sự thay đổi. Đây là loại người nghiêm túc và không dễ nhận sự giúp đỡ. Tích cực: mạnh mẽ, có trực giác và lôi cuốn. Tiêu cực: cứng nhắc, nghiêm nghị.
Theo thuyết tương sinh thì Thổ sinh Kim. Vì vậy, ngoài chọn các cây thuộc hành Kim ra thì gia chủ mệnh Kim cũng có thể chọn trồng các cây thuộc hành Thổ.
Một số cây trồng thuộc hành Kim phổ biến nhất : cây hoa kim ngân, cây hoa ngọc lan, cây mễ lan, cây cửu lý hương, cây kim bách hợp, cây hàm tiếu, cây kim quế. Một số cây trồng thuộc hành Thổ phổ biến nhất : cây hoàng liên gai, cây bách Nhật Bản, cây hoa mai vàng, cây đỗ quyên hoa vàng, cây tre thân vàng, cây hoa ngâu.
Màu tốt nhất, hợp nhất với mệnh Kim chính là màu vàng. Vì vậy bạn có thể chọn các loại cây có lá, thân hoặc hoa màu vàng như: cây hoa thủy tiên, cây phát tài, cây kim tiền, cây vạn lưỡng kim, cây quất – quýt. Mệnh Kim cũng hợp với màu trắng, màu bạc, nên nếu bạn thích không gian của mình trang nhã được bao phủ bởi màu trắng thì có thể chọn các loại cây có hoa trắng như : cây Bạch Lan, cây hoa Cửu Ly Hương, cây Trà Phúc Kiến. Mệnh Kim kỵ màu đỏ nên gia chủ chú ý không chọn trồng các cây có lá hay hoa đỏ.
Cây mai vàng cho người mệnh Kim
Về dáng cây, gia chủ mệnh Kim nên chọn các cây dạng lá kim, cành sắc, nhọn như cây Tùng.
Kim chính là kim loại. Vì vậy người mệnh Kim hợp nhất với đồ đạc, nội thất làm từ kim loại. Bạn cũng có thể áp dụng vào trồng cây bằng cách chọn các loại chậu trồng bằng kim loại.
*Người thuộc mệnh Mộc
Người mệnh Mộc có tinh thần vị tha nhân ái và năng nổ. Là người nhiều ý tưởng, tính cách hướng ngoại. Trí tưởng tượng phong phú. Tích cực: có bản tính nghệ sĩ, làm việc nhiệt thành. Tiêu cực: thiếu kiên nhẫn, dể nỗi giận, thường bỏ ngang công việc.
Người mệnh Mộc sẽ hợp với các màu sắc như: màu nâu, màu đen. màu xám, màu xanh nước biển. Đặc biệt là màu nâu, màu của gỗ, một yếu tố đại diện rõ ràng cho Mộc. Màu nâu tốt cho các cung: Cung Gia Đạo, Cung Tài Lộc và Cung Danh Vọng. Màu nâu được nhắc đến nhiều trong những năm gần đây khi nói tới mệnh Mộc.
Màu nâu nuôi dưỡng những nguồn năng lượng, là gam màu đậm đà khi liên tưởng tới sôcôla, cà phê, màu của gỗ gụ, màu của chậu cây…
Sen đá màu nâu cho người mệnh Mộc
Màu sắc tốt thứ nhì sau màu nâu sẽ là màu xanh lá, màu săc này thể hiện sự kết hợp Mộc với Mộc, nhiều cây sẽ là rừng xanh lá.
Màu xanh lá thể hiện sự tươi tắn, trong lành và mang lại cảm giác cho một điểm khởi đầu mới. Màu xanh lá có ảnh hưởng tốt đến sức khoẻ, giúp bạn đẩy lùi những hồi hộp và lấy lại cân bằng trong cuộc sống. Khi dùng màu xanh lá, tốt hơn hết là bạn nên chọn cho mình một chậu cây xanh phù hợp và đẹp mắt kết hợp cách bày trí để đem đến được hiệu quả lớn nhất.
Một số cây có màu sắc hợp với người mệnh Mộc: cây Ngọc Bích, Cây thuộc họ tùng trúc, cây Phát Tài, hoa Lan, hoa Thủy Tháp, sâm cảnh, cây Vạn Niên Thanh, các loại dừa cọ, cây Kim Tiền,… khi đặt chậu hoa trong nhà nên để 3 hoặc 8 chậu
Ngoài ra một số cây có màu tím sẽ kích thích sự sống, gây ấn tượng, cao quý và thuộc về tâm linh. Mặt tích cực là sôi nổi, đam mê và là động lực; tiêu cực là áp đặt. Màu tím thích hợp với phòng ngủ và phòng trầm tư; không thích hợp với phòng tắm và phòng bếp.
*Người thuộc mệnh Thủy
Người có hành Thủy hầu hết chọn cách tiếp cận gián tiếp để đạt được mục tiêu. Nước có 1 vẻ đẹp tuyệt vời khi nó nhẹ nhàng chảy bên dưới những chướng ngại vật thể hiện một con người giao tiếp tốt có khả năng thuyết phục tốt, khéo léo trong cư xử, dễ thông cảm với người khác, linh hoạt, trực giác tốt, cởi mở, khả năng phục hồi nhanh, nhạy cảm, nói năng nhẹ nhàng, thẳng thắn. Tích cực: có khuynh hướng nghệ thuật, thích kết bạn và biết cảm thông. Tiêu cực: nhạy cảm, mau thay đổi
Để làm tôn lên cá tính của bạn, cùng với sự hòa hợp phong thủy cho mệnh thủy thì bạn nên có sự phối hợp hài hòa màu sắc của cây xanh sao cho phù hợp. Màu sắc của chậu cây thể hiện cá tính của bạn nhưng phải biết kết hợp với cây xanh để toát lên sự sang trọng tạo nên sự khác biệt. Để có nhiều sự lựa chọn về màu sắc cũng như kiểu dáng đa dạng trong các loại chậu cây xanh phù hợp với người mệnh Thủy là một sự lựa chọn hoàn hảo.
Các màu phù hợp với mệnh Thủy là màu trắng, màu xanh nước biển, màu xanh lá, màu đen. Đại diện cho màu của thuỷ là màu xanh của đại dương mênh mông, và ánh trắng pha đen của hồ rộng sâu thẳm. Người mệnh thuỷ nếu thích màu đen có thể lựa chọn chậu cây màu đen.
Lan Chi màu xanh đại diện cho mệnh thủy
Kim sinh Thủy nên chọn cây thuộc hành Kim như màu: Trắng, Xám, Vàng.. người mệnh Thủy sẽ được tương sinh.
Một số cây phù hợp với người mệnh thủy: hoa Thủy Lục, Lan Hồ Điệp, Dương Xỉ, cây Liêm Hồ Đằng, Trúc Phú Quý, cây Ngọc Kỳ Lân, cây hoa trà, cây Thường Xuân, cây Mẫu Tử, hoa Đại tướng quân,… nên đặt 1 hoặc 6 chậu cây cảnh trong nhà để tăng thêm vận may.
*Người thuộc mệnh Hỏa
Người mệnh hoả yêu thích hành động và thường nắm vai trò lãnh đạo. Họ lôi kéo người khác, thường là vào rắc rối, vì họ không ưa luật lệ và bất chấp hậu quả. Tích cực: người có óc khôi hài và đam mê. Tiêu cực: nóng vội, lợi dụng người khác và không mấy quan tâm đến cảm xúc.
Đối với Những người thuộc mệnh hỏa thường yêu thích sự chủ động, hào hứng vì thế cuộc sống của họ cũng tích cực và sôi nổi. Màu sắc của bản mệnh này vốn là những tông màu thuộc hành Hỏa như: Đỏ, Cam, Hồng
Theo thuyết Mộc sinh Hỏa, ngoài những cây thuộc hành Hỏa thì người mệnh Hỏa có thể chọn câu thuộc hành Mộc. Các màu thuộc hành Mộc: xanh lá cây, xanh da trời. Gỗ cháy sinh ngọn lửa, nghĩa là Mộc sinh Hỏa. Chính vì vậy có màu xanh lá cây, xanh da trời là màu lý tưởng mà người mệnh Hỏa nên dùng. Màu xanh nhẹ nhàng bạn có thể dễ dàng trang trí cây xanh đối với ngôi nhà của bạn, đối với các cây có màu xanh non, tươi xinh sẽ làm toát lên vẻ đẹp căn phòng của bạn. Ngoài ra còn tốt cho sức khỏe và đem đến may mắn cho bạn.
Tương ứng với các màu sắc trên thì các loại cây xanh phù hợp với người mệnh hỏa: hoa Giấy đỏ, hoa Son Môi, hoa Trà đỏ, cây Long Huyết, cây Văn Trúc, cây Ngũ Gia Bì, cây Thường Xuân, hoa Quế, cây Phát Tài,…
Màu đỏ hợp với mệnh Hỏa
*Người thuộc mệnh Thổ
Người mệnh Thổ có tính tương trợ và trung thành rất cao. Vì bản tích thực tế và kiên trì, họ luôn là chỗ dựa vững chắc cho những người thân của mình. Không những không bị thúc ép bất cứ điều gì nhưng họ lại rất bền bỉ khi giúp người khác. Do kiên nhẫn và vững vàng, họ có một sức mạnh nội tâm.
Phong thủy cây cảnh với những màu sắc hợp cho mệnh Thổ, như:
Màu vàng nhạt: Có tác dụng chính làm khích lệ tinh thần, mang đến một tâm trí thoải mái cho gia chủ mệnh Thổ. Là màu sắc biểu tượng cho mặt trời, màu vàng ban tặng sự sống và năng lượng cho vạn vật. Sử dụng nó bất cứ nơi nào nếu bạn muốn nâng tinh thần của bạn hoặc muốn tìm thấy sự rõ ràng, mạch lạc trong cuộc sống. Màu vàng còn được kết hợp với năng lượng của trái đất, nó cũng tạo ra một cảm giác ổn định và biểu trưng cho sự nuôi dưỡng của đất mẹ.
Màu nâu: đây là màu của mệnh Thổ, gắn liền trực tiếp với đất, là sự ổn định. Màu này sẽ làm cho chúng ta cảm thấy an toàn, được bảo vệ, thích hợp với những nơi mà bạn muốn phát triển một mối quan hệ lành mạnh. Mặc dù màu nâu không phải là màu sắc nổi bật nhưng đó là màu giúp bạn luôn được thư thái, dễ chịu mỗi khi tiếp xúc.
Ngoài ra Hỏa sẽ sinh ra Thổ. Vì vậy người mệnh cung Thổ hợp với những màu sắc như: đỏ, hồng, cam và tím.
Hoa trạng nguyên màu đỏ phù hợp với mệnh thổ
Tương ứng với các màu sắc trên thì các loại cây xanh phong thủy phù hợp như: hoa Hàm Tiếu, hoa Mễ Lan, hoa Quế, cây Mẫu Tử, cây Thiên Tuế,… Để tăng tài vận cho người mệnh Thổ thì trong nhà nên để 5 hoặc 10 chậu cảnh là thích hợp nhất
>>Đã có VẬN HẠN 2016mới nhất. Hãy xem ngay, trong năm 2016 vận mệnh bạn như thế nào nhé!
Lễ chạm ngõ, lễ ăn hỏi, lễ cưới là những nghi lễ quan trọng khi con cái lập gia đình, Gia đình hai bên trai, gái đều phải làm lễ yết cáo Gia Thần, Gia Tiên
Các cụ ta xưa có câu ”Trai khôn dựng vợ, Gái khôn gả chồng”, từ cổ chí kim HÔN – NHÂN bao giờ cũng được xem là việc quan trọng của cả một đời người. Khi hai gia đình nhà trai, nhà gái quyết định tác hợp cho hai trẻ nên vợ nên chồng và tiến hành các thủ tục: lễ chạm ngõ, lễ ăn hỏi, lễ cưới. Vào các ngày tiến hành các nghi lễ này thì gia đình bên nhà trai và nhà gái đều phải làm lễ yết cáo Gia Thần, Gia Tiên.
1. Sắm lễ:
Ngày lễ Chạm Ngõ, gia đình nhà trai làm mâm lễ mặn xôi, gà cúng Gia Thần, Gia Tiên để trình báo việc hệ trọng của chàng trai. Lễ Chạm Ngõ nhà trai mang sang nhà gái gồm: Một cơi trầu (12 mớ trầu), cau bổ tư hoặc để cả buồng, mứt sen, trà, rượu, thuốc lá, một thiếp vàng. Cha cô dâu tương lai mang lễ này đặt lên bàn thờ Gia Thần Gia Tiên để cúng trình báo về việc hệ trọng của con gái.
Lễ ăn hỏi: Nhà gái nhận lễ ăn hỏi của nhà trai gồm: Trầu, cau, trà, rượu, thuốc lá, bánh cốm, bánh phu thê (su xê) theo yêu cầu của mình rồi đặt lên bàn thờ cúng Gia Thần, Gia Tiên. Sau lễ ăn hỏi nhà gái đem chia lễ ăn hỏi cho họ hàng, bạn bè, người thân, cơ quan… Khi chia lễ ăn hỏi người chia lễ đưa thiệp mời dự đám cưới có ngày giờ đã chọn.
Lễ cưới được tổ chức vào ngày lành tháng tốt do hai bên gia đình chọn.
2. Văn khấn:
Khi gia đình có hỷ sự: trai lấy vợ, gái gả chồng, nhà trai và nhà gái đều phải làm lễ yết cáo Gia Thần, Gia Tiên sau khi dâng lễ, thắp hương thì khấn:
Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)
Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư phật mười phương.
Con kính lạy Hoàng thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.
Con kính lạy ngài Bản cảnh Thành hoàng, ngài Bản xứ Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân cùng chư vị Tôn thần.
Con kính lạy tiên họ..... chư vị Hương linh.
Tín chủ (chúng) con là:........ Ngụ tại:…
Hôm nay là ngày..... tháng.... năm .......
Tín chủ con có con trai (con gái) tên là….. kết duyên cùng ......
Con của ông bà .......................
Ngụ tại:........................................
Nay thủ tục hôn lễ đã thành. Xin kính dâng lễ vật, gọi là theo phong tục nghi lễ thành hôn và hợp cẩn, trước linh toạ Ngũ tự Gia thần chư vị Tôn linh, truớc linh bài liệt vị gia tiên chư chân linh xin kính cẩn khấn cầu:
Phúc Tổ Di Lai,
Sinh trai có vợ (nếu là nhà trai),
Sinh gái có chồng (nếu là nhà gái)
Lễ mọn kính dâng,
Duyên lành gặp gỡ,
Giai lão trăm năm,
Vững bền hai họ,
Nghi thất nghi gia,
Có con có của.
Cầm sắt giao hòa
Trông nhờ phúc Tổ.
Chúng con lễ bạc tâm thành, xin được phù hộ độ trì.
Bố trí khu vực nghỉ ngơi của nhân viên như thế nào? –
Thiết lập khu nghỉ ngơi của nhân viên công ty cũng thể hiện văn hóa công ty dĩ nhân vi bản và sự quan tâm của công ty đối với nhân viên. Nhân viên đều coi công ty như nhà, công ty cũng phải bố trí cho nhân viên của mình được nghỉ ngơi ở những nơi tho
ải mái, dễ chịu, khiến họ có nơi chốn để có thể thư giãn sau những khoảng thời gian làm việc bận rộn. Khu nghỉ ngơi cố gắng bố trí ở những nơi gần gũi thoải mái, có thể đặt những bó hoa màu sắc hoặc những quyên sách có liên quan đên ngành nghề ở đó. Tuy nhiên cũng không nên đặt những bức vách hoặc những tủ sách, giá sách chất đầy sách ở phòng nghỉ ngơi đó, khiến căn phòng lại bị tận dụng quá mức.
Những công ty có điều kiện còn có một nơi riêng biệt hay đặt những quẩy ba thư giãn, ở đó mọi người có thể uống trà hay ăn một bữa sáng cùng với nhũng đồ ăn nhẹ và tiện lợi.
Không gian mà có hạn thì cũng không ngại đặt ở hành lang hay ban công những chiếc nghế tựa nghỉ ngơi thoải mái, đem lại một vị trí không gian có không khí bên ngoài.
Cần phải nhớ rằng, khu vực nghỉ ngơi của nhân viên phải được đặt trong nội bộ khu vực công ty, không được trực tiếp đặt ở phía ngoài công ty. Bời vì khi nghỉ ngơi thì thần thái và tư thế của nhân viên đều thoải mái và tự do, không giống như tư thế khi làm việc trong văn phòng thông thường, cho dù thế nào cũng không được để cho ông chủ hay khách đến nhìn thấy những cảnh tượng đó.
Những người xem tử vi, có lẽ không ai là không biết cái bộ này ?. Sách vở đều cho rằng, gặp bộ này là số: Nào là tự tử, nào là bị bức tử, bị độc tử, …Nhưng có lẽ, khi gặp nó, hầu như chỉ đoán đến thế thôi. Hạn gặp nó, tất bị hung họa nặng, có thể dẫn đến cái chết thảm thương. Bộ này ở cung nào, gây tai ách cho cung đó. Nhưng nặng nhất, và có ý nghĩa xác định phải là ở những cung: Mệnh – Thân, Phu/Thê, Tử tức, Phụ mẫu, Huynh đệ. Và cả những cung trong tam hợp hay xung chiếu với Mệnh. Khi câu hỏi, có cái gì chế hóa, hay hóa giải được nó không ?. Gặp nó thì Cải số như thế nào ?. Thì với sự hiểu biết về nó đơn sơ như vậy, thời không thể giải được !. Vì thế, câu hỏi đặt ra, thực thì nó tác hóa như thế nào ?. là một lẽ tự nhiên. Phải nói rằng, Linh Xương Đà Vũ rất độc. Cái độc của nó không phải chỉ là ở cái chết của đương số. Mà cái độc của nó nằm ở chỗ bức tử đương số. Cái chết nào rồi thì cũng là chết. Có cái chết nặng tựa Thái sơn, có cái chết nhẹ tựa Lông Hồng. Có cái chết đau đớn quằn quại, trên phương diện tinh thần cũng như thể xác. Có cái chết tưng tửng. Ra đi vào cõi vĩnh hằng mà cứ như không có chuyện gì xảy ra cả. Thì cái chết do bộ Linh Xương Đà Vũ gây ra, quả thật thuộc về cái chết đớn đau. Nặng nhất về tinh thần. Sau nữa là sự giày vò về thể xác. Người xem tử vi có kinh nghiệm, thấy rằng đằng nào cũng chết, nếu gặp Linh Xương Đà Vũ thì thà gặp Kiếp sát Hình Hổ hơn. Nhìn về mặt lý số, thấy cái anh Kiếp sát Hình Hổ sát khí nặng như thế, sao lại bảo thà gặp nó hơn là gặp Bộ Linh Xương Đà Vũ ?. Thật ra, tuy sách vở đều đề cập bốn sao, đủ cả bốn sao: Linh tinh, Văn xương, Đà la, Vũ khúc. Nhưng thật ra, cái bộ này, nhân của nó là Linh Xương Đà. Mà hạt nhân trung tâm lại chỉ có Xương Đà mà thôi !. Thực ra Vũ khúc không phải là cái nhân họa của bộ này. Người ta có thể thấy, nếu không phải là Vũ khúc, có thể là một sao khác. Chẳng hạn như thế Vũ khúc bằng Kiếp sát, hoặc cả bộ như Cơ Lộc Mã cũng vẫn nguy hiểm như là với Vũ khúc. Nhưng cái cách bức tử con người ta sẽ khác nhau, cũng như nguyên nhân kích hoạt cái bộ Linh Xương Đà sẽ khác nhau mà thôi. Điểm đặc biệt, nếu là Vũ khúc, thì bất kể Vũ có thể miếu vượng, vẫn hung hiểm như thường. Bởi vì đó là do khả năng chế giải của Vũ khúc với Linh Đà, đặc biệt là Đà la âm hiểm và tàn độc, khi Vũ khúc gặp nó, khác nào Chuột gặp Mèo đang đói. Thế nhưng Linh Xương Đà mà gặp phải Thiên phủ thì đương số chỉ lao đao thôi, chứ sức mấy mà bức tử nổi đương số. Tùy mỗi cách cục gặp Linh Xương Đà, mà gia giảm hung họa khác nhau.
Vũ khúc thì bị bức tử vì cùng quẫn. Âm Dương thì bị bức tử vì tuyệt vọng, bế tắc không tìm thấy ánh sáng cuối đường hầm. Cơ Lộc Mã thì bế tắc, tuyệt đường sinh nhai, chứ không phải là cứ đi ăn mày là thoát. …
Như đã nói, cái Nhân của nó là Linh Xương Đà. Nhưng cái Hạt nhân trung tâm, chính là Đà Xương. Có điều, nó liên quan đến sự thành cách. Không phải cứ thấy Xương Đà là tá hỏa tam tinh.
Việc thành cách, kiểu gì cũng có những dạng sau đây:
-Mệnh – Thân hay trong tam hợp có cả Xương lẫn Đà, và chỉ khi chúng thực là sao bản mệnh mới đúng là thành cách Xương Đà. Khi ấy, vào Vận, chỉ cần gặp Linh, các cách cục tham gia hội họp ra sao, đều là ở vị thế thay cho Vũ khúc mà thôi, đó gọi là biến cách. Gặp một Linh, là đủ quyết đoán rồi. Nếu ngay trong mệnh thân không có sao hay cách cục hóa giải Xương Đà, hay có sao ngăn chặn Đà la. Thì Họa tất sẽ xảy ra. -Gặp cả ba sao này trong mệnh – thân và tam hợp, mà không có sao hay cách cục khác chia cắt chúng, thì cách này thành với điều kiện Đà Xương phải là sao bản mệnh, còn nếu chỉ có Linh là sao bản mệnh thì cũng không sợ, cho dù cách cục đã thành. -Nếu chỉ có một sao Xương hay Đà, dù là sao bản mệnh, khi nhập vận gặp Đà hay Xương, thì cũng không thành cách. Nhưng trái lại, gặp Linh thì vẫn hung hiểm như thường, nhưng khi ấy không phải là hung hiểm của bộ Linh Xương Đà. Vì thế, dù có thấy cả bộ, chớ có đoán rằng đương số sẽ bị bức tử !. Đoán như thế, mu rùa có thể bị đập bể có ngày đó. -Xương và Đà gặp nhau kết thành hạt nhân trung tâm của cách, cũng phải xét đoán cho tinh. Đừng thấy khi Đà la độc thủ Dần – Thân là miếu địa mà đã vội cho hạt nhân này là cách cục tốt. Đừng tưởng Văn xương yếu liễu đào tơ, khuê các mà gặp được người anh Hùng – Đà la độc thủ cung VCD tại Dần -Thân là miếu địa, dẫu có gia thêm Bắc đẩu bội tinh (Ấn Tướng) để trở thành anh hùng QDND mà đã vội mừng. Các bậc phụ mẫu chớ có đem gả bán con gái mình vào những nơi như vậy. Đừng tưởng đó là trai anh hùng, gái thuyền quyên gặp nhau. Nhầm to đấy. Ây là đưa con gái mình vào chỗ chết. Sướng cũng chết, mà khổ cũng chết. Còn khi Đà la hãm địa, thì khỏi nói rồi. -Sợ nhất là khi Xương gặp Kỵ. Nó mà thành cách Xương Đà, thì chả cần gặp Linh. Đơn sơ như vậy cũng đủ hồn về chín suối rồi, bởi khi ấy cả hai đứa đều “tranh nhau” làm sao bản mệnh.
Còn nhiều biến cách nữa, từ cái hạt nhân này. Mỗi biến cách đều có những luận giải khác nhau. Cần cẩn thận xét đoán, không thì nó tốt lại tưởng là xấu và ngược lại. Đơn cử như Linh Xương Đà hội đủ thành cách là cách cực xấu. Nhưng nếu có thấy Vũ được thay bằng Cự – cho dù là hãm địa – mà hóa Quyền thì trước cùng cực, nhưng sau đại phát, cách này là phản vi kỳ cách, người có cách này, làm quân nhân thì lên tướng, cầm quân đánh đông dẹp bắc, uy quyền khét tiếng. Đi buôn thì lỗ lên lỗ xuống, trốn chui trốn lủi, cuối cùng hanh thông, độc bá thiên hạ (đây chỉ là cách dùng hình ảnh thôi nhé, đừng tưởng thành vua thành chúa, rồi khi không được làm vua, làm chúa đến đòi đập mu rùa thì oan khiên lắm).
Xem thế, bộ Linh Xương Đà thật vi diệu, nhiêu khê. Phải tường tận thì mới mong cải được số do nó gây ra. Không phải cứ thấy Linh Xương Đà, thầy bói kê đơn Cải số, là cứ cho một toa thuốc là sẽ giải được đâu. Có khi uống nhằm thuốc độc, nặng thêm, đẩy con người ta tới chỗ cùng cực hơn đó.
Ví như lá số Endopain. Lá số này, dẫu có thấy Đà la nhị hợp cũng không thành cách Xương Đà được. Vì vậy, lá số này không bị hại về Linh Xương Đà cố định. Nhưng ở vận 44-53 tất sẽ bị hại, lý do chính là bộ Linh Xương Đà Sát lưu động bị Liêm Phủ ở Mệnh rung dữ dội kích hoạt mà sụp đổ.
Số này, đại vận này giàu có, mặc dù từ nay đến lức 44 có một lần bị rung chuyển, nếu nói về số lượng nhà cụ thể, thời tử vi, như Tôi thì bó tay, đơn giản là vì, một triệu đô, người ta có thể mua vài ba căn nhà, nhưng cũng có khi lại chỉ có một căn mà thôi. Cũng có thể dùng Mai hoa dịch hay các môn khác mà đoán ra số lượng nhà cửa đã có. Nếu theo tử vi, chúng ta có thể xem xét ở dạng, tổng số tài sản, ước lượng là bao nhiêu. Thời, cái lá số này, vào thời điểm này thì tiền mặt không có bao nhiêu, đủ dùng xài (tiền mặt có bao nhiêu đều nhăm nhe đầu tư buôn bán). Nhưng tài sản nằm trong bds cũng đã có trên 10 triệu Mỹ kim rồi. Sơ lược về cách Linh Xương Đà Vũ là như vậy !.
Nên nhớ, không phải là hỏi cách giải bộ này, mà phải là cải số, khi bị bộ này tác hóa. Tuy nhiên, biết được căn nguyên của nó, mới chỉ là bước đầu gọi là chẩn đoán bệnh. Còn giải, tức là kê toa thuốc ra sao, lại là chuyện khác, chuyện của cải số. Có những nguyên tắc của nó. Đây là một vấn đề, về thường lý, nó rất nan giải. Từ đó dễ dẫn đến những ngộ nhận sau:
-Sau khi tìm được phép Cải số, ví dụ như trường hợp của Jany. Việc tìm người có lá số như đã được chỉ dẫn là vô cùng khó. Ngay cả khi đã tìm được rồi, chắc gì người ấy đã có thể cùng với mình kết thành phu thê ?. Về thường lý thì đúng là vậy. Nhưng về lý số thì không như vậy !.
Thật vậy. Lấy ví dụ, người có bệnh. Tìm thầy có khả năng chữa đúng được bệnh cho mình là khó. Nhiều khi, với bệnh nan y, lại vô cùng khó. Nhưng đó là công cuộc, là vận động nhân sinh. Nó không thuộc về cái gọi là lý luận của y học. Vì thế, đương nhiên, không chỉ bệnh nhân, người nhà của bệnh nhân, bạn bè, …cùng nỗ lực tìm kiếm. Đó chính là sự vận động nhân sinh, là sự nỗ lực của con người trong việc chữa bệnh. Còn khi gặp rồi, đương nhiên, khi người thầy thuốc thấy đúng con bệnh mà mình có khả năng chữa. Có khi nào người thầy thuốc đó từ chối không chữa, để mặc cho bệnh nhân chết không ?. Có thể có, nhưng ít lắm. Và cái phần trăm nhỏ nhoi đó, nó không thuộc về cái gọi là lý luận y học. Nó thuộc về y đức. Cải số cũng gần giống như vậy. Tìm được người đúng như đã được chỉ dẫn. Khó thật. Nhưng đó là sự vận động của con người, sự cố gắng, bản lĩnh và nghị lực cùng với biết bao nhiêu nhân tố khác nữa !. Có thể người ta bảo rằng, gặp được đó cũng là Phúc. Vâng !, đúng là Phúc. Nhưng trên phương diện mệnh lý tử vi, thì phúc đó không phải là phúc theo cái lý của tử vi !. Đó là cái Phúc tổng quát hơn nhiều. Nó thuộc về lý luận nào, chẳng ai nói tới cho cụ thể được. Có người thì bảo đó là do Phúc thực tại. Ừ thì là Phúc thực tại. Khi mà ta không sờ được nó, không thấy được nó bằng xương bằng thịt. lại chẳng có một cái lý luận cơ bản nào hướng dẫn. Thì nói thế nào mà chẳng được. Thế nên, nếu nói Mệnh, mà chẳng nói là mệnh lý tử vi, thì nói thế nào mà cũng được. Nhưng ở đây, rõ ràng, bệnh được chỉ ra trên mệnh, chính là theo cái lý của tử vi. Thì muốn chữa cái bệnh đó, thời dùng chính lý tử vi mà chữa. Chứ nếu chỉ nói chung chung như : Bảo con bệnh rằng: cứ tu đi, làm việc thiện, hãy thanh tâm, hãy ăn chay, mà quên đi cái cần có là phải dùng y học để chữa bệnh, thì đó đâu phải là chữa bệnh. Mệnh cũng thế. Phải nói bằng chính cái lý của tử vi thời để chữa cho cái mệnh lý tử vi. Tất nhiên, trong nhiều trường hợp, mệnh vẫn có thể chữa, hay cải được bằng những phép chữa mệnh tổng quát hơn trên nền tảng mệnh lý tổng quát nhất. Nhưng rõ ràng, người ta, nếu theo phương pháp đó, từ xưa đến nay, vẫn đã và đang, có lẽ cũng là sẽ vẫn làm thì không thể có một môn học xác định. Cũng như kiểu chữa bệnh bằng tập thể dục vậy. Tất nhiên sẽ khỏe mạnh, nhưng y học sẽ không thể phát triển nếu cứ lấy đó làm phương pháp bao trùm cho hết thảy. Khi đã tìm ra rồi. Thì khỏi lo. Một lá số đã ứng như thế, khi gặp nhau, họ sẽ thấy sự cần thiết phải có nhau. Về mặt lý số, đó gọi là ứng số. Cho dù trên lá số của Jany, người chồng đúng số là người chẳng ra gì !. xem ra, có vẻ thấy mâu thuẫn ?. Nhưng thực không phải vậy. Bởi đây là sự vận dụng những nguyên lý tổng quát nhất, có tính chất nền tảng của tử vi vào thực tiễn đời sống. Có thể hình dung như thế này: Một chiếc xe ô tô. bạn đang lái nó, nhưng đến giữa đường bị hỏng, chẳng hạn như két nước làm mát bị vỡ. Khi đó, đương nhiên chiếc xe đó bị hỏng, không thể tiếp tục được hành trình. Nếu cố gắng thực hiện hành trình, thời máy sẽ cháy. Hệ lụy của nó là vô lường. Nhưng nếu bạn là người có kiến thức về động cơ, hay xe. Bạn sẽ có cách khắc phục nó để đi tới nơi có thể sửa chữa. Hoặc như bạn có cái quạt điện, nhưng nó lại bị nóng khi chạy, chạy lâu sẽ cháy. Bạn tìm cách làm mát nó, thì bạn sẽ dùng được nó. Tôi lấy ví dụ đó, để cho thấy rằng, con người ta, đối với hệ động lực hoạt động theo các nguyên lý vật lý, thì khi nó bị sự cố, muốn khắc phục sự cố, người ta cũng phải vận dụng những định luật khác khả dĩ khắc phục được sự cố đó. Các định luật đó cũng vẫn sẽ là những định luật vật lý. Thì ở cải số cũng vậy. Trường hợp trên lá số gặp người chồng chẳng ra gì, thì bằng những nguyên lý vận hành mà tử vi tiềm tàng, chúng ta khai thác nó, vận dụng nó đúng đắn thì những điểm yếu trên lá số, như lá số Jany về người chồng, rồi cả việc sinh đẻ, là có khả năng khắc phục. Nếu Bạn là cái người có biết về trường hợp giờ Kim sà, mà Tôi đã đưa ra tới ba lá số: Một lá số của người thầy, hai là số của người con nuôi, và cuối cùng là số của người con dâu. Tổ hợp cả ba lá số đó chính là đã có sự sắp xếp về lý số để cho cái mục tiêu Cải số, khắc phục cái tính lý nguy hiểm của giờ Kim sà có thể được thực hiện. Bạn nói đúng. Việc tìm những lá số đó khả dĩ đối với thời đại ngày xưa. Nhưng ở thời đại ngày nay, người ta vẫn nỗ lực được, và cao nhất là bằng tâm và đức. Cùng với sự kiên tâm, tất sẽ có khả năng thành công. Với sự lần lượt, đầu tiên phải tìm cho được người thầy. sau đến đứa con nuôi. Cứ kiên tâm làm, cánh cửa vào kho tàng dần sẽ mở toang !.
Tôi không còn bao nhiêu bài nữa, cũng như đã hứa không tranh luận. Nhưng viết như apollo như trên, thật là chẳng hiểu gì cả. Không chỉ có thể chứng minh ràng mạch cái bộ Linh Xương Đà Vũ, mà cách này còn có thể nhìn từ nhiều khía cạnh để nhìn rõ bản chất.
Vì thế, apollo có hiểu hay không, không còn là vấn đề của Tôi, nhưng trong chủ đề này của Tôi, Là người đề cập đến cách cục này, nên vì trách nhiệm với bạn đọc, ở mức độ cho phép, Tôi viết thêm ý nữa, nếu bạn đọc có hiểu, thì tốt, nếu không hiểu thời đành chịu.
Trước hết cần thấy rõ bản chất hung họa của bộ Linh Xương Đà Vũ. Do bức đương số đến chỗ tự vẫn. Tiến trình của hung họa cũng do đó mà bộc lộ rõ ràng. Từ Hung đến Sát. Ta thấy rõ, Đà chủ hung, Linh chủ sát. Tuy rằng cả hai đều âm độc. Từ đó mà suy, thấy rõ Đà đến trước, Linh đến sau. Ép đương số cho đến chết. Quá trình là rõ ràng, chẳng có cái chết nào chết trước, phiền muộn, lo lắng sau cả !!! Xem Bộ Linh Xương Đà Vũ, thấy ngay Đà là hung, Linh thì Sát, Vũ là kết cục cũng là nội dung của họa hại, bởi thế, nếu không phải là Vũ, mà là Cơ Lộc Mã thì tuyệt đường sinh nhai mà chết. Còn nhiều biến cách nữa.
Biến cách Linh Đà Xương Vũ rất phức tạp và tinh tế. Trong đó, thấy rõ chỉ có ba sao đóng vai biến hóa là Xương Đà Vũ. Mỗi biến hóa là một biến cách. Chỉ có Linh cố định, ngồi ỳ một chỗ. Nhưng như thế không có nghĩa đó là nhân. Cái nhân của cách cục ở đây chỉ rõ là cái nhân gây họa. Chứ không phải là một cái nhân tĩnh tại.
Có hiểu được lẽ biến hóa đó, mới có thể hy vọng vận dụng được biến hóa của Linh Xương Đà Vũ. Đừng nhìn thấy, đương số nào bị dính Linh Xương Đà Vũ là có kết cục của cái chết, rồi nói rằng Linh chủ Sát, gây nên cái chết mà cho rằng đó là hạt nhân trung tâm. Nắm bộ này theo cách đó, thì làm sao hiểu được biến hóa và vận dụng biến cách của Kiếm chiêu, qua một chiêu này.
Bao nhiêu trường hợp ví dụ mà mọi người đã hỏi, đủ thấy biến hóa của Bộ này như thế nào. Nếu lấy sự cố định của Linh mà luận làm trung tâm, thì làm sao hiểu được căn nguyên, cội rễ của hung họa. Viết đến thế này là quá nhiều. Tôi sẽ không trình bày thêm.
Nguồn Sưu tầm Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
Chúng ta thường thấy bàn thờ Ông Địa, Thần Tài xuất hiện phổ biến trong bất cứ đâu tại Việt Nam như các cửa hàng kinh doanh, các công ty - xí nghiệp hoặc các hộ gia đình. Việc thờ cúng đó có nguồn gốc thế nào và cách thờ cúng ra sao cho đúng ? Dưới đây là 1 số hiểu biết cơ bản để các bạn tham khảo và dùng khi hữu sự.
Thần Tài - Ông Địa là một cặp 2 ông thần được thờ trong một cái tủ thờ, đặt ở dưới đất. Tủ thường làm bằng gỗ và có khi được Tủ thờ Thần Tài - Ông Địa đều đặt hướng thẳng ra phía cửa nhà, thường ở vị trí có vách dựa vào (để tạo sự vững chắc cho tủ thờ cũng như cho sự kinh doanh và cuộc sống của bạn).
Người ta không chỉ cúng 2 ông vào ngày Tết, mà cúng quanh năm, nhất là những gia đình chuyên nghề buôn bán, kinh doanh thì người ta tin rằng chỉ khi nào lo cho các vị thần này chu đáo hàng ngày thì mới được các Thần phù hộ làm ăn thuận lợi “tiền vào như nước”. Sáng sớm khi mở cửa bán hàng hoặc kinh doanh, người ta thường thắp hương cầu khẩn Thần Tài “phù hộ” cho họ mua may bán đắt.
Thần Tài - Ông Địa là một cặp thờ tuy về hình chỉ có 1 ông Địa và 1 Thần tài, nhưng Mỗi một vị như vậy là đại diện cho 5 người. Về Thần Tài có : Hắc Thần Tài, Thanh Thần Tài, Bạch Thần Tài , Xích Thần Tài Và Hoàng Thần tài là vị chủ chốt. Còn ông Địa cũng có 5 ông : Đông phương Thanh Đế, Tây phương Bạch Đế, Nam phương Xích Đế, Bắc phương Hắc Đế và Trung ương Huỳnh Đế. Về hình thức bên ngoài thì Ông Địa thường bụng phệ, người trắng nõn, để ngực trần, đầu quấn khăn, tay cầm quạt và hay có con cọp đi theo. Cần phân biệt Ông Địa của Việt Nam và Phật Di Lặc. Phật Di Lặc mang bao bố hay cười tươi, có đồng tử đi theo. Hình ảnh Ông Địa còn khá quen thuộc trong đội múa lân, Ông Địa thường có vai trò cản trở Lân trong việc nhặt tiền thưởng hay quà cúng của gia chủ. Thần Tài thường tay cầm cục vàng (kim ngân lượng) hoặc bạc, đội mũ mão, trang phục nghiêm chỉnh hơn Ông Địa.
Nếu như Thần Tài người ta cúng hoa quả thì trái lại Thổ Địa lại cúng chuối xiêm, thuốc lá hay cúng ly cà phê. Thông tường Thần Tài người Hoa kính trọng và khấn vái nhiều, thì trái lại người Việt luôn luôn khấn vái Ông Địa. Vào ngày Tết, vai trò của Thần Tài càng được xem trọng hơn. Người ta lo trang hoàng nhà cửa, sửa soạn cho ông sạch sẽ, nếu vị thần này đã quá cũ hay bị hư thì sẽ thỉnh vị mới về hoặc bàn thờ cũ hay bị hư cũng được thay thế bàn thờ mới. Họ tin rằng năm mới, mọi thứ đều ngăn nắp và bàn thờ Thần Tài có sạch sẽ thì làm ăn mới phát tài.
Nhìn vào cấu trúc bàn thờ Thần Tài - Ông Địa đúng cách, từ ngoài nhìn vào ta thấy dán trên vách 1 tấm Bài vị là 1 tấm màu đỏ được viết bằng mực nhũ kim với nội dung “Ngũ phương Ngũ thổ Long thần, Tiền hậu địa Chúa Tài thần”. Bên trái là ông Thần tài, bên phải là Ông Địa. Ở giữa hai ông là một hũ gạo, một hũ muối và một hũ nước đầy, 3 hũ này chỉ đến cuối năm mới thay. Giữa bàn thờ là một bát nhang, bát nhang này khi bốc phải chọn ngày và theo một số thủ tục nhất định.
Để tránh động bát nhang khi lau chùi bàn thờ, nguời ta dùng keo 502 dán chết bát nhang xuống bàn thờ. Khi đang làm ăn tốt mà xê dịch bát nhang gọi là bị động bát nhang, mọi chuyện trở nên trục trặc liền. Theo nguyên lý ” Đông Bình – Tây Quả ”, lọ hoa bên tay phải - thường nên cắm hoa hồng, hoa cúc, hoa đồng tiền…. đĩa trái cây bên tay trái - nên sắp ngũ quả (5 loại trái cây). Thường ở ngoài nơi bán đồ thờ cúng, các bạn nên bỏ khay và xếp 5 chén nước thành hình chữ thập, tượng trưng cho ngũ phương, và cũng là tương trưng cho Ngũ Hành phát sinh phát triển. Cúng 5 chén nước chứ không phải 3 chén cũng vì tượng trưng cho 5 ông Thần tài và 5 ông Địa đã nói ở trên.
Ông Cóc (hình tượng rất đặc trưng văn hóa Việt) để bên trái, lưu ý là sáng quay Cóc ra, tối quay Cóc vào trong với mong muốn tiền của không bị trôi đi. Ngoài cùng trên mặt đất, các bạn nên chọn một cái tô sứ thật đẹp, nông lòng, đổ đầy nước và ngắt những bông hoa trải trên mặt nước (làm Minh Đường Tụ Thủy) – một cách giữ tiền bạc khỏi trôi đi. Trong miền Nam khi cúng Thần Tài – Ông Địa, thường cúng kèm theo một đĩa tỏi có 5 củ tươi nguyên đẹp đẽ hay nhiều khi là cả một bó tỏi . Họ cho rằng tỏi giúp cho ông Địa có phương tiện để bài trừ ”các đạo chích vong binh” ám muội vì người âm cũng có người tốt kẻ xấu như thường giống người dương mình vậy. Ngoài ra, họ dùng bó tỏi đó để phòng chống các Tà sư làm ác, phá hoại bàn thờ nhà người ta bằng Bùa, Ngải . Tỏi có tác dụng tránh được điều đó (vì người luyện Bùa, Ngải thường kiêng ăn Ngũ Vị Tân : Hành , Hẹ, Tỏi, nén, Kiệu).
Trên nóc bàn thờ Thần Tài - Ông Địa, người ta thường đặt tượng của Di Lặc Phật Vương hay các câu chú Phạn tự (tượng trưng cho cơ quan chủ quản các Thần). Mục đích là để có sự quản lý, không cho các vị Thần làm điều sai trái.
Thổ Công hay Thổ Địa là một vị thần trong tín ngưỡng Việt Nam cai quản một vùng đất đai. Sống ở đâu thì có Thổ Công ở đó: "Đất có Thổ Công, sông có Hà Bá". Thông thường, mỗi khi làm việc có đụng chạm đến đất đai như : xây cất, đào ao, đào giếng, mở vườn, mở ruộng, đào huyệt…... thì người Việt đều phải cúng vị thần này. Với người Hoa, Thổ Địa cũng là một trong các vị thần Tài. Do ngày xưa, nông nghiệp chiếm vai trò quan trọng trong lịch sử nên đất đai cùng các loại nông phẩm từ đất sinh ra là thứ của cải, tài sản chủ yếu ngày xưa nên thần Đất cũng là 1 thần Tài. Mặt khác, thần Đất có công năng là thần Tài là do thuyết ngũ hành tương sinh : Thổ sinh Kim (đất sinh vàng bạc)…
Có lẽ vì lý do đó mà đến tận bây giờ, Thần Tài và Ông Địa (Thổ Địa) vẫn cứ được thờ chung như một cặp đôi bất khả phân li ở khắp nơi, từ văn phòng công ty lớn – nhỏ, cửa hàng bán lẻ, tư gia . Người Hoa sang VN làm nghề buôn bán trở nên giàu có, mỗi nhà người Hoa đều có thờ Ông Địa - Thần tài nên người Việt thấy vậy bắt chuớc theo. Theo tín ngưỡng dân gian, Ông Địa - Thần tài mang lại tiền bạc hay của cải cho mỗi gia đình, nên nhất là gia đình mua bán hay kinh doanh đều phải có bàn thờ Ông Địa - Thần Tài.Ông Địa - Thần tài được người Hoa truyền cho dân Việt.
Thờ cúng Thần Tài - Ông Địa có 4 đặc tính lưu ý như sau đây:
Tuy thờ cúng, bàn thờ để dưới đất, nhưng các vị này rất ưa chuộng sự sạch sẽ, sáng sủa. Vì vậy, trong quá trình thờ cúng, ta nên giữ cho các vị này luôn sạch sẽ bằng cách tắm rửa thường xuyên bằng nước sạch. Khi trời mưa to, các bạn bê Thần Tài, Ông Địa, Ông Cóc cho vào một cái thau sạch và để tắm mưa ngoài trời độ 15phút. Sau đó mang vào lau khô, xịt nước thơm và thắp hương xin. Nhiều lần thấy rất Linh diệu
Khi cúng Thần Tài - Ông Địa , người ta thường cúng nhiều thứ, nhưng có lẽ các vị này thích nhất là đồ ngọt. Thịt quay, bánh hỏi, chuối, bưởi…. Nếu ở Sài Gòn, nên mua tiền giấy cúng riêng Thần Tài - Ông Địa, người ta làm sẵn cả một bộ, trong đó có tiền Quý Nhân (Âm và Dương - Tức là những tờ giấy gập đôi màu đỏ có đục những hình Thần Tài khắp bề mặt).
Cách thắp nhang : Khi mới lập bàn thờ, ta nên thắp nhang liên tục trong 100 ngày để bàn thờ tụ Khí. Tuyệt đối không vì sợ tốn điện mà tắt đèn trên bàn thờ, vì những ngọn đèn đó giống như những ngọn Hải Đăng dẫn đường cho các vị giáng xuống trần. Trong 100 ngày đó mỗi sáng chỉ cần thay nước và thắp một nén nhang. Những lúc cần cầu xin điều gì thì thắp 3 nén cắm theo hàng ngang. Những ngày rằm, mùng một, lễ, tết thắp 5 nén theo hình chữ thập. Nên chọn loại nhang cuốn tàn (giữ được tàn), sau một thời gian sẽ có bát nhang rất đẹp và tụ Khí rất tốt. Chỉ đến ngày 23 tháng Chạp mới rút chân nhang (khi bát nhang quá đầy chân nhang) và đem hóa cùng tiền giấy. Khi hóa xong nhớ đổ một chút rượu vào đám tro.
Gia chủ lưu ý không nên để hoa, lá héo úa trên bàn thờ vì khi đó dẫn đến làm ăn khó khăn, tiền tài suy giảm.
Những câu nói hay về tình yêu tuổi học trò dễ thương trong sáng. Tuổi học trò hồn nhiên, thơ mộng nên tình yêu ở tuổi này thật dễ thương và đáng nhớ. Đó là những rung động đầu đời đầy trong sáng, đáng yêu với nhiều cảm xúc trộn lẫn.
Nếu bạn đang ở tuổi này thì chúc mừng bạn vì bạn đang ở tuổi đẹp nhất của đời người. Bạn hãy xem những câu nói hay về tình yêu tuổi học trò dễ thương này nhé.
Những câu nói hay về tình yêu tuổi học trò dễ thương trong sáng
1. Nếu có 1 ngày…
Cậu vô tình nhìn thấy tớ bên ai đó
Thì cậu hãy nhớ
Tớ từng thật lòng yêu cậu.
Những gì khoảng thời gian đó tớ nói hoàn toàn thật,
Nhưng là cậu cứ đẩy tớ đi xa…
Là cậu làm mọi cố gắng của tớ trở thành vô vọng.
———
2. Có một đứa ngốc!
Bề ngoài – Mạnh mẽ – Vô tư – Hay cười.
Nhưng thực ra, trái tim nó hay buồn và rất dễ bị tổn thương.
3. Nếu có thể: Bạn đừng nên thức khuya… Rồi đợi, rồi nhớ đến người ta nữa. – Bởi vì : • Nếu người ta thương bạn. • Thì người ta đã không để bạn một mình. • Trong đêm và cô đơn nhớ mong đến vậy đâu.
4. Tập ngủ sớm đi nhé…!! “Nếu biết trước là nhất định sẽ phải chia tay, tại sao vẫn còn yêu đương sớm thế làm gì? Thế chẳng phải vô nghĩa lắm à?”, “Cậu biết rõ đời này rốt cuộc cũng phải chết, thế tại sao giờ không chết trước luôn đi?
5. “Tớ yêu Cậu”
Là khi trái tim tớ thắt chặt lại thật nhẹ nhàng, thật dịu dàng và kèm theo một dư vị ngọt tê tê kéo dài sau cái thắt tim ấy khi tớ bất chợt nghĩ về cậu dù đó chỉ là 1 giây mà thôi …
Là khi tớ mĩm cười vu vơ về hình ảnh của cậu, nó cứ xuất hiện trong tâm trí của tớ, ngay cả khi tớ không muốn suy nghĩ về cậu, hay tớ đang giận cậu đi chăng nữa …
“Tớ yêu Cậu” được dùng trong một hoàn cảnh đặc biệt nhất, đắt nhất và lãng mạng nhất …
Là khi trái tim tớ thắt chặt lại thật nhẹ nhàng, thật dịu dàng và kèm theo một dư vị ngọt tê tê kéo dài sau cái thắt tim ấy khi tớ bất chợt nghĩ về cậu dù đó chỉ là 1 giây mà thôi …
Là khi tớ mĩm cười vu vơ về hình ảnh của cậu, nó cứ xuất hiện trong tâm trí của tớ, ngay cả khi tớ không muốn suy nghĩ về cậu, hay tớ đang giận cậu đi chăng nữa …
6. Trong mỗi chàng trai đều có một cô gái mà bạn không được đụng đến. Cô gái ấy mang tên Mối tình đầu
Hy vọng Những câu nói hay về tình yêu tuổi học trò dễ thương trong sáng sẽ gợi cho bạn một thời kỷ niệm đáng yêu tuổi học trò. Hãy lựa chọn cho mình một câu nói hay nhất để thể hiện tình cảm của mình, một tình yêu trong sáng và vu vơ nhất nhé. Chúc bạn thành công và đừng quên ghé ## mỗi ngày ủng hộ chúng tôi cùng khám phá những điều hay và rất thú vị chờ bạn !!!
Chùa Long Vân thuộc quần thể di tích chùa Hương với cảnh quan thoáng rộng, càng lên cao càng trông rõ cả một vùng ruộng đồng bao quanh những quả núi và những dòng suối uốn lượn tạo nên bức tranh đồng quê êm ả.
Qua eo núi chùa Long Vân thì đển động Long Vân, động được mở ra cùng thời với chùa, trên cửa động có đề ba chữ hán “Long Vân Động” trong động có một tam bảo nhỏ thờ Phật. Động có một hang sâu gọi là Động âm, dưới hang này có nhiều hình thù rất lạ… Khu vực long vân còn có Động hóa thân (Thánh Hóa), chùa Cây Khế… tạo nên một quần thể thắng cảnh nằm giữa hai khu danh thắng Tuyết Sơn và Hương Tích.
Từ đền Trình nhìn sang quý khách thấy một nhánh suối nhỏ, đó là suối Long Vân. Suối Long Vân là một nhánh của suối Yến. Suối dài 1,5km từ bến Long Vân leo cao khoảng 150 m là tới chùa. Chùa do sư thầy Thanh Nhàn cùng dân thôn Đục Khê và thập phương hưng công tạo dựng. Ngôi chùa ở trên lưng chừng núi với ngọn tháp mái chùa ẩn hiện trong cảnh “sương mây” hương sơn kỳ ảo:
Chùa xưa ở lẫn trong cây lá Sư cụ nằm chung, với khói mây
Sau khi vào đặt lễ ở đền Trình, xuống đò đi tiếp sẽ thấy dòng suối rẽ đôi, bên phải là đường vào Hương Tích, bên trái là đi vào động Long Vân và chùa Long Vân. Ta sẽ thấy chùa ở bên trên sườn núi, một nửa lấp sau núi Ân Sơn, một nửa lộ ra giữa rừng cây xanh biếc. Chùa được xây dựng vào năm 1920. Động cũng được khai tạo vào thời gian này.
Chùa Từ Đàm là một ngôi chùa cổ danh tiếng ở Huế. Chùa nằm trên một khoảnh đất cao, rộng, bằng phẳng thuộc địa phận phường Trường An, cách trung tâm thành phố Huế 2 km về hướng nam. Mặt chùa hướng đông nam, trước có núi Kim Phụng làm án, bên phải giáp đường Điện Biên Phủ, bên trái có chùa Linh Quang và nhà thờ cụ Phan Bội Châu, phía sau có chùa Thiên Minh.
Chùa Từ Đàm được khai sơ vào khoảng năm 1690, tức vào cuối thế kỷ thứ XVII, đến nay đã trên 300 năm vào thời Trịnh – Nguyễn phân tranh. Ngài Minh Hoằng Tử Dung – một vị thiền sư Trung Hoa sang Thuận Hóa thời bấy giờ sáng lập chùa này. Đầu tiên, ngài đặt tên là Ấn Tông Tự – ấn tông nghĩa là “dĩ tâm ấn vi tông”, tức lấy sự truyền tâm làm tông chỉ.
Năm 1703, chúa Nguyễn Phúc Chu sắc phong cho chùa là Sắc Tứ Ấn Tông Tự. Đến thời Thiệu Trị, vua đặt thêm một tên khác là “Từ Đàm Tự”. Từ đàm là đám mây lành, có ý tượng trưng cho đức Phật, cho hình ảnh ngôi chùa Việt Nam như đám mây lành che mát cho chúng sanh.
Chùa Từ Đàm lúc sơ khai chỉ là tịnh thất nhỏ làm bằng tranh tre nứa lá. Từ đó đến nay chùa đã tồn tại lâu dài trên dãi đất Cố đô Huế. Trải qua bao thăng trầm của lịch sử thì năm 1932, khi Phật giáo Việt Nam phục hưng sau bao năm bị phân hóa dưới thời Pháp thuộc, năm 1935 sơn môn tăng già Thừa Thiên chuyển giao Chùa Từ Đàm cho Hội An Nam Phật học làm trụ sở chính của hội.
Năm 1938, Hội An Nam Phật học đại trùng tu Chùa Từ Đàm và đúc pho tượng bổn sư cùng các pháp khí để tôn trí trong chánh điện. Hiện nay, tại chùa có đặt Văn phòng Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Thừa Thiên-Huế.
Cấu trúc của chùa theo kiểu “chùa Hội” kết hợp giữa nét nghệ thuật kiến trúc mới và cũ với yêu cầu rộng rãi, cao ráo, cổ kính nhưng đơn giản. Chùa Từ Đàm có ba bộ phận quan trọng là tam quan, chùa chính và nhà Hội.
Cổng tam quan chùa cao, rộng, có mái ngói thanh nhã. Phía sau cổng có cây bồ đề quanh năm tỏa bóng mát. Đây là cây bồ đề được chiết ra từ cây bồ đề nơi Phật đắc đạo do bà Karpeies hội trưởng hội Phật học Pháp thỉnh từ ấn Độ qua Việt Nam tặng và được trồng vào năm 1936. Sân chùa rộng, bằng phẳng, thoáng mát, đủ chỗ để tập trung hàng nghìn người về dự lễ.
Chùa chính gồm tiền đường, chính điện và nhà Tổ. Tiền đường được xây trên một nền móng bằng đá hoa cương chạy chỉ, cao 1,5 m, mái xây kiểu cổ lầu nên chùa vốn đã cao trông lại càng cao hơn. ở các bờ mái và trên nóc chùa là những cặp rồng uốn cong, mềm mại đối xứng nổi lên trên những dãy ngói âm dương chạy dọc trông thật cân đối, hài hòa, đẹp mắt. Dưới mái cổ lầu có những bức đắp nổi sự tích đức Phật, bố cục trọn vẹn trên các khung đúc. Dọc theo các cột trụ tiền đường là các bức câu đối dài nét chữ sắc sảo. Tả hữu sát với tiền đường có hai lầu chuông trống.
Tháp chùa Từ Đàm
Trong điện có pho tượng đức Thế tôn Thích ca mâu ni ngồi trên tòa sen. Chùa Từ Đàm thờ độc tôn nên cách bài trí và thờ tự trong điện có phần đơn giản so với các ngôi chùa khác ở Huế. Phía sau chính điện có nhà Tổ, nhà Tăng. Từ Đàm là ngôi chùa Hội cho nên Hội quán được xây dựng lớn, rộng 10 căn, cao hai tầng ở sân dưới chùa cạnh đường Phan Bội Châu.
Từ Đàm đã được nhiều người ở khắp đất nước biết đến do vai trò quan trọng của chùa trong công cuộc chấn hưng và phát triển của Phật giáo Việt Nam thời kỳ cận đại và cuộc đấu tranh vì hòa bình và tự do tín ngưỡng. Chùa Từ Đàm là trụ sở hoạt động của An Nam Phật học hội.
Hướng kê giường trong phòng ngủ - Năm sinh âm lịch: Tân Mão - Quẻ mệnh: Tốn Mộc - Ngũ hành: Tùng Bách Mộc (Gỗ tùng bách) - Thuộc Đông Tứ Mệnh, nhà hướng Tây, thuộc Tây Tứ Trạch - Hướng tốt: Bắc (Sinh Khí); Đông (Diên Niên); Đông Nam (Phục Vị); Nam (T
– Thuộc Đông Tứ Mệnh, nhà hướng Tây, thuộc Tây Tứ Trạch
– Hướng tốt: Bắc (Sinh Khí); Đông (Diên Niên); Đông Nam (Phục Vị); Nam (Thiên Y);
– Hướng xấu: Tây Bắc (Hoạ Hại); Đông Bắc (Tuyệt Mệnh); Tây Nam (Ngũ Quỷ); Tây (Lục Sát);Bếp nấu cũng là một yếu tố rất quan trọng, vì mọi bệnh tật, vệ sinh đều sinh ra từ đây.
Phòng ngủ:
Vị trí phòng ngủ trong nhà và vị trí giường ngủ trong phòng ngủ nên ưu tiên ở hướng tốt (các hướng Sinh Khí, Thiên Y, Diên Niên, Phục Vị)
Gia chủ mang mệnh Mộc, Thủy sinh Mộc, nên hướng giường nên quay về hướng thuộc Thủy, là hướng Bắc;
Nếu tính cho các phòng ngủ của các thành viên khác trong gia đình, thì cần tính hành ứng với mỗi thành viên.
Màu sơn trong phòng ngủ, màu sắc rèm cửa nên sử dụng màu Xanh dương, Đen, đây là màu đại diện cho hành Thủy, rất tốt cho người hành Mộc.
Tủ quần áo nên kê tại các góc xấu trong phòng để trấn được cái xấu, là các góc Ngũ Quỷ, Hoạ Hại, Lục Sát, Tuyệt Mệnh.
Giường ngủ cần tránh kê dưới dầm, xà ngang, đầu giường tránh thẳng với hướng cửa mở vào, thẳng với hướng gương soi.
Thuộc tính âm dương ngũ hành của sao Hóa Kị là dương thủy, hóa khí là thị phi, chủ về đa sự, nhiều lỗi lầm và đố kị, còn có tên gọi khác là sao Kế Đô, chủ về thị phi. Sao Hóa Kị có hàm ý mở rộng là trắc trở, không thuận lợi; hiển lộ là biến hóa bề ngoài, đem lại tai họa, nhiều điều tiếng thị phi, cụ thể hóa tình trạng bất lợi.
Sao Hóa Kị chủ về đa sự, chuyện gì muốn xen vào, nên dễ chuốc nhiều điều tiếng thị phi, gặp nhiều phiền phức, khiến cho mọi thứ biến động bất an.
Sao Hóa Kị tuy chỉ về một đời nhiều tai họa, mất mát, chuyện gì cũng không thuận lợi, nhưng nếu theo đuổi các lĩnh vực nghiên cứu triết học, y học, khoa học kỹ thuật, chính trị, sẽ tạo được thành tựu và biểu hiện tốt.
Sao Hóa Kị đồng cung với các sao Tử Vi, Thiên Phủ, Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phù, Hữu Bật, Hóa Khoa, Hóa Quyền, Hóa Lộc thì có thể hiển quý. Nếu đồng cung với tứ sát tinh Hỏa, Linh, Kình, Đà thì tuy có phát đạt cũng không giữ được tiền của. Sao Hóa Kị nếu độc tọa tại gặp tứ sát tinh và Phá Quân, Thiên Sứ, Địa Kiếp, Thiên Không thì chủ về bôn ba vất vả còn mang bệnh tật, là tăng ni đạo sĩ phải hoàn tục, nữ mệnh nghèo khổ suốt đời.
Sao Thái Dương, Hóa Kị tại các cung miếu vượng, Dần, Mão, Thìn, Tỵ; sao Thái Âm Hóa Kị tại các cung miếu vượng Dậu Tuất, Hợi, Tí lại luận là có phúc, những trường hợp còn lại Hóa Kị đều phải xem lại thuộc tính ngũ hành của bản thân sao đó; thí dụ như sao Liêm Trinh Hóa Kị tại cung Hợi, là hỏa nhập cung thủy, nếu lại là người mệnh thủy, thì sao Hóa Kị sẽ không hại. Sao Thiên Đồng, Hóa Kị tại cung Tuất, lại là người sinh năm Đinh, là cát. Các sao nếu Hóa Kị tại các cung miếu vượng là không kị. Các sao Hóa Kị tại cung hãm thì càng thêm kị. Thái Dương, Thái Âm, Hóa Kị tại cung hãm, là đại hung. Sao Liêm Trinh Hóa Kị tại cung hãm, càng thêm kị.
Hai Hóa Kị (mệnh, đại hạn, lưu niên, lưu nguyệt) trở lên, lại gặp thêm hung tinh, sát tinh hội chiếu; hoặc bốn cung Hóa Kị đồng cung, thì sẽ là bĩ cực thái lai, nhưng vẫn phải chú ý tình hình sức khỏe bản thân.
Sao Hóa Kị tại cung Tí, Sửu nhập miếu; đắc địa tại cung Mão; lợi tại cung Thìn, Mùi; không đắc địa tại cung Thân, Dậu lạc hãm tại bốn cung Dần, Ngọ, Tuất, Tỵ.
Hoa quả Trung Quốc độc hại, hình dáng lạ có mang lại tài lộc không?
Nhiều năm trở lại đây, sự xuất hiện của những trái dưa lê có hình thù ông Thần Tài, Phật Di Lặc hay thỏi vàng,… có xuất xứ từ Trung Quốc đã không còn xa lạ với người dân Việt Nam. Loại trái cây này đã nhanh chóng tràn vào Việt Nam và gây “sốt” thị trường trái cây trong nước những ngày vừa qua.
Năm mới 2016 của bạn như thế nào? Hãy xem ngay TỬ VI 2016 mới nhất nhé!
Thị trường Tết Việt Nam (Tết âm lịch) xuất hiện nhiều loại hoa quả lạ, thu hút người mua bởi hình thù độc đáo như dưa hấu hình thỏi vàng, bưởi hồ lô, dứa phụng hoàng,… Trong số những mặt hàng trái cây độc lạ đang ‘làm mưa làm gió’ thị trường Tết năm nay, không thể không kể đến dưa lê Thần tài. Nhiều năm trở lại đây, sự xuất hiện của những trái dưa lê có hình thù ông Thần Tài, Phật Di Lặc hay thỏi vàng,… có xuất xứ từ Trung Quốc đã không còn xa lạ với người dân Việt Nam. Đặc biệt, nắm được thị hiếu của người tiêu dùng trong những ngày Tết Nguyên Đán sắp tới, loại trái cây này đã nhanh chóng tràn vào Việt Nam và gây “sốt” thị trường trái cây trong nước những ngày vừa qua.
Hình ảnh dưa lê Thần Tài
Dưa lê hình thỏ vàng
Trái cây Trung Quốc độc, đẹp và rẻ
Dạo quanh những cửa hàng trái cây trên địa bàn Hà Nội có thể dễ dàng nhận thấy, ấn tượng đầu tiên mà loại quả này hút mắt người tiêu dùng đó là hình thù khá độc đáo, mới lạ và màu sắc tươi xanh bắt mắt.
Anh Nguyễn Đức Nam, chủ một cửa hàng hoa quả ở quận Hoàng Mai cho biết, dưa lê thần tài có xuất xứ Trung Quốc thực ra đã xuất hiện ở Việt Nam những năm trước đó, bắt đầu từ rằm tháng Bảy năm nay, loại trái cây này được nhập khẩu về nhiều hơn do nhu cầu của người dân tăng cao đột biến.
Cũng theo anh Nam, loại dưa lê này có nhiều hình dáng khác nhau như: hình thần tài có chữ phúc, hình ông thọ, hình em bé nhân sâm hay hình thỏi vàng… Tất cả đều mang ý nghĩa chung là cầu sự bình an, hạnh phúc và sung túc cho gia chủ.
Những loại hoa quả Trung Quốc như thế này tràn ngập tại Việt Nam
Chị Mai Hương (một nhân viên văn phòng ở Cầu Giấy, Hà Nội) cho biết: “Khi nghe đồng nghiệp xôn xao bàn tán về dưa lê thần tài mới xuất hiện, mình đã rất tò mò và khá thích thú khi được tận mắt nhìn thấy tạo hình ngộ nghĩnh, độc đáo của loại quả này. Ngoài ra, nó còn có ý nghĩa là mang đến tài lộc, may mắn cho gia đình nên mình ưu tiên dưa lê thần tài trước khi lựa chọn đồ thờ cúng ngày rằm và lễ Tết”.
>>> Năm mới 2016 AI xông đất nhà bạn? Sẽ mang lại nhiều may mắn tài lộc?
Xem ngay XEM TUỔI XÔNG ĐẤT 2016 mới nhất>>>
Hình dáng đẹp và mang nhiều ý nghĩa, dưa lê thần tài không chỉ được mọi người mua về bày biện trên bàn thờ nhà mình mà còn được rất nhiều người sử dụng làm quà biếu, tặng. Anh Tuấn Anh (kỹ sư xây dựng) cho biết, dù còn 1 tháng nữa mới đến Tết nhưng anh đã cùng vợ cất công tìm đến những địa chỉ uy tín nhất để đặt mua hàng trăm quả dưa lê thần tài mang biếu người thân và bạn bè. Đặc biệt, anh còn lên danh sách gồm hàng chục gia đình nhờ anh mua gửi về quê nhà thờ cúng.
Trao đổi với chúng tôi về giá cả thị trường dưa lê thần tài năm nay, chị Thúy Hường (chủ cửa hàng hoa quả chợ Long Biên) cho biết, mỗi quả dưa lê thần tài nhập khẩu từ Trung Quốc về nặng khoảng 300g có giá từ 35.000 – 85.000 đồng. Cũng theo chị Hường, đây là mức giá bình dân, phù hợp với túi tiền của hầu hết mọi tầng lớp lao động trong xã hội.
Còn các loại trái cây tạo hình của Việt Nam có giá khá “chát”, khoảng từ 1-3 triệu đồng/quả (cao gấp hàng chục lần so với dưa lê thần tài). Loại này chỉ những gia đình có điều kiện mới dám mua và mua với số lượng ít.
Chính nhờ những ưu thế nổi trội đó nên dưa lê thần tài đã làm "vừa lòng" các thượng đế Việt ngay từ khi mới xuất hiện và nhanh chóng khiến trái cây tạo hình của Việt Nam bị… lép vế.
Không dám ăn, chỉ để nhường… tổ tiên?
Mặc dù được ưa chuộng là thế, tuy nhiên, hầu hết người dân đều mua dưa lê thần tài chỉ với mục đích dâng cúng tổ tiên và các vị thánh thần chứ… không dám ăn. Sau khi biết dưa lê thần tài có xuất xứ Trung Quốc và chứng kiến quả dưa mình mua đã hơn 1 tháng mà vẫn tươi xanh như ngày đầu, chị Thu Trang (Từ Liêm, Hà Nội) đã quyết định chỉ dùng để thờ cúng rồi vứt đi chứ tuyệt đối không dám ăn.
Ngay cả chủ một cửa hàng chuyên phân phối sỉ, lẻ dưa lê thần tài trên đường Trương Định, Hà Nội cũng khuyến cáo người mua chỉ nên trưng bày chứ không nên ăn loại quả này vì nó có chứa rất nhiều chất bảo quản, "tuổi thọ" của loại quả này vì thế cũng bất thường, có thể để tới 2-3 tháng mà không bị hư thối.
Quá trình sản xuất chưa đầy 5 ngày, với đủ các loại chất bảo quản, chất kích thích giúp dưa lê Thần tài lớn nhanh và bóng đẹp. Đáng nói, tất cả các hóa chất giúp giữ được vẻ ngoài bóng bẩy của loại trái cây chưng Tết độc lạ này đều là chất cấm không được dùng trong sản xuất nông nghiệp.
“Không phải cúng nhiều đồ tài lộc sẽ mang lại tài lộc”
Nói về xu hướng chuộng những loại quả độc, lạ chưng Tết, PGS.TS Lê Quý Đức – nguyên Phó Viện trưởng Viện Văn hóa và phát triển cho rằng, với công nghệ trồng, ghép cây tiên tiến, ngày nay không ít những loại quả có hình dáng độc và lạ được bày bán trên thị trường. Điều đó phần nào phản ánh xu thế phát triển chung. Cùng với đó, thị hiếu của người tiêu dùng cũng thay đổi. Thay vì mua những loại quả thường, mọi người đua nhau mua những loại quả lạ như bưởi hồ lô, bưởi thỏi vàng, dưa hấu thỏi vàng, khắc chữ Phúc, Lộc, Thọ... có gắn mác tài lộc về bày mâm ngũ quả ngày Tết những mong tổ tiên, ông bà chứng cho tấm lòng mà ban nhiều "lộc" cho con cháu.
Thế nhưng, việc cúng các loại hoa quả độc, lạ trong ngày Tết không thực sự cần thiết mà còn gây tốn kém bởi giá của chúng không hề rẻ, hoặc nếu là hoa quả Trung Quốc thì vô cùng độc hại. Những loại quả này lên đến tiền triệu, thậm chí là hàng chục triệu. Gắn mác tài lộc, mỗi cặp bưởi hồ lô chữ tài lộc màu vàng, nổi, trên trái bưởi có hình thỏi vàng, đồng tiền... có giá từ 2,5 - 3 triệu đồng/cặp. Bưởi tay Phật, bưởi lễ cát tường, bưởi hồ lô… in nổi chữ Tài Lộc hoặc khắc các chữ “Phúc, Lộc, Thọ, An, Bình” cũng có giá trên dưới 1 triệu đồng.Tâm lý này hình thành thói a dua, suy nghĩ tiêu cực khi những người không có khả năng mua để cúng lễ như người khác sẽ có tâm lý thua thiệt.
Bưởi hồ lô giá rất cao
Không phải cúng những vật được cho là mang tài lộc, may mắn sẽ được thần linh hay ông bà tổ tiên phù hộ, mang lại tài lộc như nhiều người vẫn nghĩ mà việc gắn mác cho những loại quả này những ý nghĩa mỹ miều chỉ là chiêu quảng cáo để “hút” khách hàng của người bán. Đa phần những người mua quả dị thường chưng Tết với giá hàng triệu đồng thường theo xu hướng: Mua theo thói chơi khác người, phung phí tiền của; hai là mua quả theo sự mê tín, những quả đem lại an lành tài lộc cho năm nay phù hợp với gia chủ sẽ được tìm mua với mong muốn đem lại an lành, tài lộc.
PGS.TS Lê Quý Đức cho rằng, điều đáng bàn ở đây là tâm lý sính hình thức đã len lỏi cả vào khía cạnh tâm linh. Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên thể hiện qua bàn thờ trong nhà hiện nay đang bị lạm dụng và làm sai lệch ý nghĩa vốn có của nó. Nhiều người dâng lên bàn thờ những của ngon vật lạ biến không gian thờ cúng thành nơi trưng bày cho sự giàu có xa hoa. Tấm lòng thành kính đối với ông bà tổ tiên không phải thể hiện qua những đồ thờ cúng mà nó thể hiện qua một gian thờ được sắp đặt đúng cách và phù hợp với văn hóa người Việt.
Vật phẩm cúng lễ không cần phải đắt tiền, xa hoa. Quan trọng là nghi lễ cúng nên đơn giản, thanh tịnh, đầy đủ và thành tâm. Tùy theo khả năng của mình và nên chọn những gì tươi tốt, thanh sạch nhất để dâng cúng.
Đồng quan điểm về vấn đề này, chuyên gia tâm lý, xã hội học Trịnh Hòa Bình cho rằng, việc cúng lễ thực hiện theo niềm tin và tín ngưỡng của mỗi nhà. Một bộ phận người dân có tâm lý cúng càng nhiều, càng đắt, càng độc sẽ càng nhận được sự phù trợ của tổ tiên, thần linh. Bởi vậy, ngày Tết ai cũng muốn bày biện dâng lên Phật, chư vị và gia tiên các đồ lễ độc, đẹp, đắt.
Việc thờ cúng quan trọng là tấm lòng chứ không phải là giá trị tiền của món đồ cúng đó. Ông cha ta đã có câu "lễ bạc lòng thành" vì vậy, quan trọng nhất vẫn là mọi người thành tâm trong cúng lễ chứ không nhất thiết phải sắm sửa những thứ quà độc, lạ. Dù có dâng cúng những loại quả vài triệu đồng nhưng tấm lòng không chân thành thì việc thờ cúng ấy không mang lại giá trị.
>> Đã có VẬN HẠN 2016mới nhất. Hãy xem ngay, trong năm 2016 vận mệnh bạn như thế nào nhé! >>
Thần sát trong mệnh cục của Tứ trụ , trong các sách cổ, có sách khẳngđịnh, cũng có sách phủ định. Theo kiểm nghiệm trong dự đoán thực tế có thểkhẳng định thần sát có vai trò của nó, có cái tác dụng lớn như kình dương dùngđể đoán việc xấu rất chuẩn. Còn những thần sát khác như hoa cái, thiên y, trạchmã, đào hoa, v.v là dùng bàn về khác như hoa cái, thiên y, trạch mã, đào hoa, v.v. làdùng để bàn về tính cách của con người và nghề nghiệp rất hay. Còn trong dựđoán cát hung cho một đời người thì tác dụng của những thần sát này không nổi bật như kình dương, thiên đức,nguyệt đức.
Thần sát phần nhiều lấy địa chi làm căn cứ, nên nó có thể làm tăng thêm lực hình, xung, hợp , hại. Thầy Thiệu Vĩ Hoa trong cuốn sách “Chu dịch dự đoán học” và “Dự đoán theo Tứ trụ” đã thu hút những tinh hoa của các hiền nhân để đi đến những kiến giải độc đáo trong thực tiễn dự đoán. Vì vậy ở đây không bàn chi tiết nữa, mà giống như cuốn sách “Nhập môn chu dịch dự đoán học”, ở đây cũng chỉ đưa ra những phương pháp ghi nhớ các quy luật một cách nhanh nhất để giới thiệu cho mọi người.
1. CÁT THẦN VÀ HUNG SÁT
Cái gọi là cát thần thực ra không phải là nói trong Tứ trụ cát thần càng nhiều càng tốt, hay cái gọi là hung sát cũng không phải là nói trong Tứ trụ không có là tốt. Rất nhiều thần sát luôn luôn có cát, có hung. Từ kinh nghiệm đã tổng kết được ta thấy người có nhiều thần sát là mệnh cục tương đối phức tạp, nhưng nếu tổ hợp Tứ trụ tốt lại phối với thần sát thì người đó thường là những người siêu quần xuất chúng. Còn nói chung đối với người dân bình thường thì thần sát không nhiều, thần sát càng ít thì việc dự đoán càng đơn giản. Đương nhiên mọi việc không bao giờ là tuyệt đối, cũng như người hung sát nhiều chưa chắc đã gặp xấu, mấu chốt của vấn đề là phải xem các tổ hợp của Tứ trụ và tổ hợp của tuế vận là hỉ hay là kị.
Ngoài ra thần sát hoặc cát hoặc hung cũng không phải là tuyệt đối, mà chỉ có thể nói rằng một thần nào đo lấy cát làm chính, một sát nào đó lấy hung làm chính. Cát thần mà gặp phải hình xung khắc hại thì cũng như không có, hung sát mà bị chế hợp không đủ sức để làm hại thì cũng chẳng còn gì đáng gọi là kị. Nói chung các thiên can và các địa chi đóng địa chi đóng dưới nó gặp phải cát thần hay hung sát nhờ đó mà trở thành vượng hay suy. Phải xem các can chi đó bị hình hợp , xung khắc hay không để xem nó tác dụng hay không có tác dụng. Trong mệnh cục gặp được cát thần thì cả cuộc đời thuận lợi trọn vẹn, trong vận, trong năm gặp được cát thần thì đã tốt càng thêm tốt. Trong Tứ trụ kị gặp hung thần vì như thế cả cuộc đời hay bị tai hoạ, trong vận, trong năm gặp phải hung thần thì hung càng thêm hung.
Chương này chỉ giới thiệu những cát thần và hung sát có tác dụng nổi bật, còn những thần, sát khác ít có tác dụng hoặc ít gặp thì không bàn đến. Cách tra thần, sát rất nhiều. Độc giả tự tìm cách nhớ thuận tiện cho mình là được .
2. THIÊN ĐỨC, NGUYỆT ĐỨC
Lấy tháng sinh để tra các thiên can hoặc địa chi trong Tứ trụ .
1. Thiên đức quý nhân.
Tháng tí thấy tị, tháng sửu thấy canh, tháng dần thấy đinh, tháng mão thấy thân, tháng thìn thấy nhâm, tháng tị thấy tân, tháng ngọ thấy hợi, tháng mùi thấy giáp, tháng thân thấy quý, tháng dậu thấy dần, tháng tuất thấy bính, tháng hợi thấy ất.
Phàm người tháng sinh tra thấy các can chi trong Tứ trụ như ở trên là có thiên đức quý nhân.
Cách tra thiên đức quý nhân của người sinh vào tháng tí, ngọ, mão, dậu là từ ngôi trường sinh của ngũ hành mà ra. Ngoài ra còn có cách gọi tháng tí gặp quẻ tốn thìn là thủy đức, vì nguồn xuất thuỷ quy mộ về cung tốn ; tháng mão gặp quẻ khôn mùi là mộc đức, vì nguồn xuất mộc quy mộc về cung khôn ; tháng ngọ gặp quẻ càn tuất là hoả đực, vì nguồn xuất hỏa quy mộ về cung càn ; tháng dậu gặp quẻ cấn sửu là kim đức, vì nguồn xuất kim quy mộ về cung cấn, tức là lấy ngũ hành dương vượng, chính ngôi phối với mộ, tức là quẻ của bản cung mà ra. Thiên đức chỉ dùng địa chi , không dùng thiên can, cho nên lấy bốn quẻ trên. Trong kiểm thực tế lấy chính ngôi trường sinh để xác định tháng tí, ngọ, mão, dậu còn chia ra thành tị, hợi, thân, dần là khá chuẩn. Độc giả có thể căn cứ vào thiên, nguyệt đức của những người sinh vào bốn tháng trên, xem xét quá trình gặp hung hóa cát của họ để kiểm nghiệm.
2. Nguyệt đức quý nhân
Lấy chi tháng làm chủ để tra các thiên can trong Tứ trụ .
Sinh các tháng dần, ngọ, tuất thấy bính ;
Sinh các tháng thân , tí, thìn thấy nhâm ;
Sinh các tháng hợi, mão, mùi thấy giáp ;
Sinh các tháng tị, dậu, sửu thấy canh ;
Phương pháp nhớ cách tra nguyệt đức là căn cứ vào khí của tam hợp , ví dụ dần, ngọ, tuất thuộc hỏa thì lấy bính hỏa làm đức ; thân, tí, thìn thuộc thuỷ thì lấy nhâm thuỷ làm đức ; tí, dậu, sửu thuộc kim thì lấy canh kim làm đức ; hợi, mão, mùi thuộc mộc thì lấy giáp mộc làm đức để quy nạp. Phàm các tháng trong cục gặp can dương vượng khí đều là gặp nguyệt đức .
Hai quý nhân thiên đức và nguyệt đức đều chủ về người có cuộc đời không nguy hiểm. Thiên đức quý nhân là cát tinh phúc tường, tính tình nhân từ đôn hậu, cuộc đời phúc nhiều, ít nguy hiểm, gặp hung hóa thành cát, hóa hiểm thành an, như là có thần bảo hộ. Nguyệt đức quý nhân là cát tinh phúc thọ. Trong Tứ trụ có cả thiên, nguyệt đức là người có năng lực gặp hung hóa các rất mạnh, gặp được cát thần thì càng thêm tốt, gặp phải hung thần cũng bớt xấu rất nhiều, nhưng gặp phải xung khắc thì vô dụng.
3. THIÊN ẤT QUÝ NHÂN
Cách tra là lấy can ngày hoặc can năm làm chủ để tra các địa chi trong Tứ trụ .
Can ngày, năm là giáp, mậu thấy sửu, mùi ;
Can ngày, năm là ất, kỷ thấy tí, thân ;
Can ngày, năm là canh , tân thấy dần , ngọ ;
Can ngày, năm là nhâm , quý thấy mão , tị ;
Người mà trong Tứ trụ tra được như trên là có thiên ất quý nhân. Cát tinh này chủ về thông minh, trí tuệ, là thần gặp hung hóa cát. Nếu hợp hóa thành dụng thần, hoặc hỉ thần là rất tốt, rất kị gặp hình, xung, khắc, hại, suy, bệnh, tử, tuyệt. Người mà thân vượng thì phúc đức càng tăng thêm, cuộc đời ít bệnh tật, người mà thân nhược thì bệnh nhiều hoặc giảm phúc quý.
Thiên ất quý nhân là ngôi sao ở phía trái sao tử vi trong thiên thể, là chủ tể của muôn thần. Trụ năm hoặc trụ tháng gặp được hai quý nhân là có ý phân âm dương để trị, hàm ý trong ngoài có khác nhau. Thìn, tuất là vị trí của sao khôi canh, cho nên quý nhân không đến.
4. LỘC THIÊN CAN
Lấy can ngày làm chuẩn để tra các địa chi trong Tứ trụ .
Phàm can ngày mà gặp lộc trên chi năm gọi là tuế lộc, trên chi tháng là kiến lộc, trên chi ngày là chuyên lộc, tọa lộc, trên chi giờ là quy lộc. Thần lộc vượng mà gặp địa chi kiếp tài, không gặp phải hình xung, khắc, phá là chủ về công danh thuận lợi. Thân vượng mà lộc nhiều nên bị khắc cho xì hơi, thân nhược mà lộc vượng lại không bị phá đều là quý mệnh. Lộc kị bị xung phá , ví dụ giáp lộc là dần, gặp thân là bị phá , mão lộc kị gặp dậu, tị lộc kị gặp hợi, ngọ lộc kị gặp tí. Vì quan viên gặp phải thì mất quan mất chức, nghèo khổ hư danh, người thường gặp phải thì phải cơm áo không no, bôn ba vất vả.
Ngày giáp lộc ở dần ; ngày ất lộc ở mão.
Ngày bính, mậu lộc ở tị ; ngày đinh, kỷ lộc ở mão.
Ngày canh lộc ở thân ; ngày tân lộc ở dậu .
Ngày nhâm lộc ở hợi ; ngày quý lộc ở tý.
Lộc nhờ có thế lực mà được hưởng thì được gọi là lộc, là cát thần. Lộc là khí của bốn mùa, tuỳ theo ngũ hành vượng, trong đó bính lộc ở tị, đinh lộc ở ngọ, mậu lộc ở tị, kỉ gửi ở ngọ, hỏa sinh thổ là tí nhờ mẹ mà được hưởng lộc, thìn, tuất là khôi canh là chỗ ác địa, kém cỏi cho nên lộc thần không gửi. Sửu mùi là cửa xuất nhập của thiên ất quý nhân cho nên lộc lánh xa, do đó không có lộc. Cách nhớ thập can lộc chỉ cần nhớ can ngày, bản khí của nó là địa chi là được . Ví dụ dần mộc tàng can của bản khí là giáp mộc.
5. VĂN XƯƠNG
Cách tra là lấy can ngày, can năm làm chuẩn để tra các địa chi trong Tứ trụ .
Can ngày, năm giáp thấy tị ;
Can ngày, năm ất thấy ngọ ;
Can ngày, năm bính, mậu thấy thân ;
Can ngày, năm đinh, tị thấy dậu ;
Can ngày, năm canh thấy hợi ;
Can ngày, năm tân thấy tí ;
Can ngày, năm nhâm thấy dần ;
Can ngày, năm hợi thấy mão ;
Những người trong Tứ trụ tra thấy như trên gọi là có sao văn xương.
Sao văn xương nhập mệnh thì thông minh hơn người . Trong Tứ trụ kiêm có học đường thì chủ về học tập ưu tú, khí chất nho nhã, và còn có tác dụng gặp xung hoá cát.
Sao văn xương là thực thần lâm quan, là chỗ trường sinh. Ví dụ giáp lấy bính làm thực thần, bính lâm quan ở tị cho nên giáp lấy tị làm văn xương. Căn cứ nguồn gốc của sao văn xương ta có thể tìm ra cách nhớ.
1. Tướng mày nữ tính Đàn ông có đôi mày thanh mảnh, nữ tính thường đi kèm đặc điểm trắng trẻo và thanh tú, nên vận đào hoa rất vượng. Đây là một trong những điểm dễ nhận thấy ở tướng đàn ông ngoại tình. Người này dễ gặp rắc rối trong chuyện tình cảm nếu như không có lập trường vững. Dù họ chiều vợ, thương con nhưng vướng vào vận đào hoa sát, khó tránh khỏi những lúc yếu lòng nên tỉ lệ ngoại tình cao. 2. Đàn ông có sắc mặt hồng hào, tóc dài Trong nhân tướng học, đây là tướng mặt đàn ông phạm đào hoa sát, đi tới đâu cũng có duyên ngầm. Nếu kết hôn muộn, cuộc sống hôn nhân của người này sẽ ổn định hơn.
Ảnh minh họa
3. Đàn ông có mắt ướt long lanh Đôi mắt ướt long lanh như chứa chan đầy cảm xúc và tình yêu thương của đàn ông sẽ khiến các quý cô phải gục ngã ngay từ cái nhìn đầu tiên. Người có tướng mắt này thường vận đào hoa vượng, dễ cuốn hút nữ giới. Nếu kết hôn sớm ắt sẽ có quan hệ ngoài luồng. 4. Đàn ông có tóc xoăn bẩm sinh Một đặc điểm dễ nhận thấy của tướng đàn ông ngoại tình chính là mái tóc xoăn tự nhiên. Chất nam tính và vẻ quyến rũ từ mái tóc xoăn bẩm sinh của người đàn ông này rất mạnh, có sức hút lớn đối với phái nữ. Người này lại dễ thay đổi tâm tính nên khó kiểm soát cảm xúc, dễ vướng vào các mối quan hệ ngoài luồng. 5. Đàn ông có nốt ruồi ở lòng trắng của mắt Đây là dấu hiệu của vận đào hoa cực mạnh, đi tới đâu cũng có sức cuốn hút mãnh liệt đối với nữ giới. Người này lại có tính cách phóng khoáng, thích chinh phục những điều mới lạ nên tỉ lệ ngoại tình hoặc vướng vào các mối quan hệ ngoài luồng cao. 6. Đường vân đào hoa hiển thị rõ Đường vân này nằm ở vùng giữa con mắt, thường rất nhỏ khó nhìn thấy nhưng nếu quá đam mê sắc giới thì sẽ hiển thị rõ. Nếu đường vân này kéo dài qua phía đuôi mắt là số đào hoa rất nặng, rất có duyên với nữ giới. Đối diện với những cám dỗ, nếu người này không làm chủ được bản thân sẽ dễ dàng sa ngã. Người đàn ông này tuy háo sắc nhưng lại giấu điều đó rất giỏi, ít người phát hiện ra. Tuy vậy, người đàn ông này rất sợ vợ, nên chuyện trăng hoa ngoại tình thường lén lút trong bóng tối. ST Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Bích Ngọc (##)
Ai cũng có ví tiền nhưng không phải ai cũng biết cách dùng nó theo đúng phong thủy để thu hút nhiều tiền bạc hơn nữa.
1. Bao lâu nên thay ví tiền một lần Nhìn từ góc độ phong thủy, về cơ bản một chiếc ví tiền được sử dụng trong vòng 3 năm đã không còn mang lại nhiều may mắn. Do đó khuyên bạn cứ 3 năm một lần, nên thay ví tiền của mình, dù ví cũ vẫn chưa hỏng. Điều này giúp tăng tài vận, mang lại nguồn tiền bạc thêm dồi dào cho chủ nhân chiếc ví. 2. Kiểu dáng ví tiền thế nào mới tụ tài Những chiếc ví có hình dáng kì quái khiến tiền cũng như một số giấy tờ trong đó bị nhàu nát. Điều đó khiến tiền bạc khó tụ lại mà toàn tiêu tán. Do đó, nên sử dụng các loại ví có hình dáng càng đơn giản càng dễ thu hút tài lộc.
Tốt nhất nên dùng ví tiền có hình hình chữ nhật, hình vuông hay hình bán nguyệt. Đây là các hình dáng thuộc hành Thổ, Mộc và Kim, hợp với mệnh của từng người.
Ảnh minh họa
3. Để tiền vào ví như thế nào mới đúng Nên để tiền vào tất cả các ngăn trong ví, tránh để trống rỗng. Bằng cách đơn giản này nhưng có tác dụng thu hút thêm tiền bạc và tài lộc cho chủ nhân chiếc ví. Ngoài ra, có thể để dành một ngăn nhỏ đựng tiền xu. Trong phong thủy, tiền xu mang ý nghĩa may mắn và thành công về tài chính. Hơn thế, tiền xu mang năng lực Kim sẽ thu hút nguồn năng lượng tích cực, từ đó làm tăng nguồn tài lộc cho bạn.Ví phải được giữ gọn gàng, sạch sẽ vì nếu ví bẩn hoặc hỏng thì tiền tài của bạn cũng theo đó mà giảm sút. Trường hợp ví cũ hoặc hỏng, bạn không nên cho người khác mà phải vứt đi. Nếu cho đi tức bạn đã truyền sự may mắn và nguồn tài lộc của mình sang cho người khác.Ngoài ra, không nên để các loại biên lai, hóa đơn trong ví. Bởi những vật này là bằng chứng về số tiền đã chi, nếu cứ để trong ví sẽ thu hút thêm nợ nần. 4. Màu sắc ví thế nào mang lại may mắn Tùy theo từng mệnh và hành ứng với Ngũ hành của mỗi người mà lựa chọn màu sắc ví tiền phù hợp. Ví dụ, màu đỏ hợp với người hành Hỏa, đem lại sự may mắn, mạnh mẽ và giàu có. Tuy nhiên, màu này đại diện cho sự thâm hụt vì chi nhiều hơn thu, nên hạn chế sử dụng.Màu đen đại diện cho sự ổn định, hội tụ, mở ra cơ hội làm giàu và giúp chủ sở hữu của nó không tiêu tiền một cách hoang phí. Màu này phù hợp với người thuộc mệnh Thủy và chủ yếu dành cho nam giới.Ngoài ra, các màu cam, hồng, vàng, cà phê, nâu, trắng cũng mang lại sự may mắn, hưng thịnh và thu hút tài lộc. Bạn có thể sử dụng các loại ví tiền thay đổi theo ý thích và đúng phong thủy. Tâm Nhân (Theo DYXZ) Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Minh Thư (##)
Tác giả Phan Tử Ngư trong cuốn "Tử vi đẩu số giải mã đời người" có một cách tổng hợp nguyên tắc "kim phùng không tắc phát, hỏa phùng không tắc minh" cho việc giải đoán đại vận và lưu niên như sau:
1. Người sinh giờ Tý
Đại vận tại Hợi, trong 10 năm này phát tài. Gặp năm Hợi thì phá tài, năm này không những chỉ phá tài mà còn gặp nhiều điều nguy khó.
2. Người sinh giờ Sửu
Đại vận tại Tý, lưu niên tại Tuất hoặc đại hạn tại Tuất, lưu niên tại Tý đều phá tài. Tương tự như vậy, đại hạn tại Tý, lưu niên tại Tý hoặc đại hạn tại Tuất, tiểu hạn tại Tuất cũng chủ về phá tài.
2. Người sinh giờ Dần
Gặp năm Dậu, có thể phát tài. Gặp năm Sửu có thể gặp chuyện nguy khó
3. Người sinh giờ Mão
Gặp năm Mão, gặp năm Thân có thể phát tài. Gặp năm Dần, ngoài hào nhoáng mà trong thì rỗng tuếch.
4. Người sinh giờ Thìn
Gặp năm Mão, ngoài thì hào nhoáng nhưng trong rỗng tuếch. Gặp năm Mùi, mọi việc đều không thuận lợi, đề phòng gặp tổn thất
5. Người sinh giờ Tỵ
Gặp năm Thìn, mọi sự đều không thuận lợi, gặp nhiều tổn thất. Gặp năm Ngọ sẽ có đột phá bất ngờ.
6. Người sinh giờ Ngọ
Gặp năm Tỵ có thể phát triển vượt bậc, đại phát
7. Người sinh giờ Mùi
Gặp năm Thìn chủ về phá tài. Gặp năm Ngọ có dấu hiệu phát tài.
8. Người sinh giờ Thân
Gặp năm Mão bị tổn tài sản, bên ngoài hào nhoáng mà bên trong thì rỗng tuếch. Gặp năm Mùi có thể bị hao tổn tài sản.
9. Người sinh giờ Dậu
Gặp năm Dần, chủ về ngoài thì hào nhoáng mà bên trong thì rỗng tuếch. Gặp năm Thân thì có dấu hiệu phát tài.
10. Người sinh giờ Tuất
Gặp năm Tuất có hiện tượng phát triển. Gặp năm Sửu có dấu hiệu phá tài
11. Người sinh giờ Hợi
Gặp năm Tuất, có dấu hiệu phát tài. Gặp năm Tí có dấu hiệu phát tài.
Xăm hình mãnh hổ có thể trấn tà, bảo vệ gia chủ, đồng thời cũng có thể chế ngự hung thần. Ý nghĩa chung Hổ là chúa sơn lâm, vua của bách thú, tượng trưng cho sự dũng mãnh và khí phách. Hổ là dương thú, đại diện cho phẩm chất anh hùng. Hổ cũng tượng t
Xăm hình mãnh hổ có thể trấn tà, bảo vệ gia chủ, đồng thời cũng có thể chế ngự hung thần.
Ý nghĩa chung
Hổ là chúa sơn lâm, vua của bách thú, tượng trưng cho sự dũng mãnh và khí phách. Hổ là dương thú, đại diện cho phẩm chất anh hùng. Hổ cũng tượng trưng cho mùa thu và phương Tây. Theo truyền thuyết hổ có thể trấn tà, bảo vệ gia chủ, đồng thời cũng có thể chế ngự hung thần.
Hổ với xăm hình
Xăm hình mãnh hổ có thể trấn tà, bảo vệ gia chủ, đồng thời cũng có thể chế ngự hung thần.
Tương truyền nếu xăm hình hổ không hợp tuổi thì sẽ phạm họa đổ máu, nhất là hình hổ xuống núi. Có người nói, mãnh hổ xuống núi là thể hiện uy lực, trên thực tế mãnh hổ xuống núi tức là đi kiếm ăn, sẽ đả thương người. Nếu xăm hình Mãnh hổ thượng sơn thì mức độ thương hại là khá nhỏ.
Người cầm tinh con lợn, ngựa, chó (người tuổi Hợi, Ngọ, Tuất), tương hợp với hổ, thích hợp xăm hình mãnh hổ. Người cầm tinh con khỉ, rắn (tuổi Thân, Tỵ) không hợp với mãnh hổ, không nên xăm.
Mùa hiếu hạnh lại đến, gợi lên cảm xúc trào dâng về mẹ cha - những người đã tạo tác ra ta, cho ta vóc hình, sự nghiệp. Dù bạn là ai, người nông phu hay bậc quyền cao chức trọng thì điểm gặp gỡ giữa chúng ta là tinh thần báo hiếu đang tuôn trào trong dòng nhiệt huyết của con tim.
Trong cung bậc tri ân và báo ân của dân tộc, Phật giáo đã từ lâu luôn trân trọng và lấy hạnh hiếu làm đầu. Sự tương phùng của tinh thần đó đã dẫn dắt nên những gương hiếu hạnh trong quá khứ cũng như hiện tại, sáng rực và ghi mãi dấu ấn với thời gian.
Không phải ngẫu nhiên, cứ đến ngày rằm tháng bảy âm lịch hằng năm, giới Phật Giáo long trọng tổ chức đại lễ Vu lan – Báo hiếu thật trang nghiêm, hoành tráng từ hình thức tổ chức cho đến nội dung mang ý nghĩa nhân văn trên bình diện tâm linh – văn hóa của con người. Lễ hội xuất phát từ điển tích Phật giáo được ghi lại trong kinh Vu Lan Bồn.
“Vu Lan” là danh từ gọi tắt của “Vu Lan Bồn”, tiếng Phạn là Ullambana. “Ullam” dịch là “treo ngược” (đảo huyền), dụ cho cái khổ của người chết như bị treo ngược, cực kỳ thống khổ. Chữ “bồn” tiếng Phạn là “bana”, dịch là “cứu giúp”. Như vậy “Vu Lan Bồn” là giải cứu tội bị treo ngược.
“Báo hiếu” là sự đền đáp công đức sinh thành dưỡng dục của người con đối với cha mẹ hiện tiền và cha mẹ nhiều đời nhiều kiếp.
Lễ Vu Lan của Phật giáo như chúng ta thấy ngày nay phát xuất từ thời Đức Phật. Bằng đại bi tâm, Đức Phật đã dạy phương thức báo hiếu cho cha mẹ ở đời này và nhiều đời khác. Người đầu tiên tiếp nhận không ai khác là Tôn giả Mục Kiền Liên. Tôn giả là một trong mười vị đệ tử xuất chúng của Thế Tôn.
Khi Mục Kiền Liên vừa chứng được lục thông, liền nhớ tới mẹ mình, Tôn giả bèn dùng tuệ nhãn kiếm tìm, liền thấy mẹ đang ở trong loài ngạ quỷ hết sức đói khổ. Thương mẹ vô vàn, Ngài đã vận dụng thần thông xuống cõi ngạ quỷ dâng bát cơm đầy cho mẹ. Do tâm bà Thanh Đề còn quá san tham và ác nghiệp thọ báo còn quá nặng nề nên bà không thể dùng cơm vì bát cơm biến thành lửa. Vô cùng đau đớn, không biết dùng cách nào để cứu mẹ mình, Ngài liền về hỏi đức Thế Tôn.
Đức Phật liền dạy: "Tội lỗi của mẹ ngươi dù có dùng thần thông phép lạ của hàng thiên thần địa kỳ cũng không cứu được, duy chỉ nhờ thần lực của chúng Tăng sau ba tháng an cư kiết hạ, tin tấn tu hành thanh tịnh, tập trung chú nguyện mới có thể chuyển hóa được nghiệp lực, mẹ ngươi mới thoát được cảnh khổ”.
Nghe vậy, Tôn giả mục Kiền Liên liền khẩn cầu Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, con nay làm sao mời được chư Tăng mười phương cúng dường một lúc như vậy được ?”.
Đức Phật dạy :“Ngày Vu Lan cũng là ngày Tự Tứ của chư Tăng, ông nên sắm các thứ cúng dường trong ngày Tự Tứ. Ngày đó dù các vị ở trong thiền định hay thọ hạ kinh hành, hay hóa độ nhân gian, cũng tập trung lại để Tự Tứ và cầu nguyện cho mẹ người được thoát khổ”.
Tôn giả thực hành theo lời dạy của Đức Thế Tôn, và chính ngay trong ngày đó mẹ Tôn giả thoát được cảnh khổ ngạ qủy mà được sanh lên cõi trời. Tôn giả vô cùng hoan hỷ và thỉnh cầu : “Sau này có chúng sanh nào muốn phát tâm hiếu để cầu nguyện cho cha mẹ thoát khổ được vui, họ có được làm như con không?”.
Thế Tôn bảo rằng : “Có thể được làm như vậy trong ngày Tự tứ để cha mẹ đời này và nhiều đời được siêu độ giải thoát”.
Từ đó trong Phật giáo truyền lại một pháp thức cứu độ cho các bậc tiền nhân quá vãng siêu thoát về cảnh giới an lành, được thực hiện trong ngày Vu Lan - Tự Tứ. Vào những ngày này, dù bạn là ai, ở đâu cũng ước muốn được đến chùa để tham dự lễ Vu Lan - Báo Hiếu, thắp một nén hương lòng cầu nguyện cho cha mẹ hoặc đời này hay nhiều đời được siêu độ, còn người đang hiện hữu nhờ công đức này mà an lành hạnh phúc trong cuộc sống nhân sinh.
Kể từ khi Phật Giáo truyền vào Việt Nam, mùa Vu Lan trở thành truyền thống báo hiếu. Ngày nay, lễ Vu Lan không còn đơn thuần chỉ có ý nghĩa tôn giáo thiêng liêng mà đã trở thành “lễ hội văn hóa tình người” với bất cứ ai đang hiện hữu trên cõi đời này. Hiếu kính mẹ cha, phụng thờ tổ tiên ông bà, nối kết ân tình nghĩa cảm giữa người còn kẻ mất là truyền thống cao đẹp trong dòng chảy văn hóa tình người của dân tộc.
Một nét đẹp trong ngày Vu lan là chương trình bông hồng cài áo. Trong buổi lễ thiêng liêng ấy, ai còn cha mẹ sẽ sung sướng được cài lên ngực áo một đoá hoa hồng, ai mất mẹ lại buồn tủi cài lên ngực đoá hồng trắng buồn thương. Thế nhưng dù còn cha mẹ hay đã mất thì mỗi người con lúc này đang dâng lên một tình cảm biết ơn mẹ cha sâu lắng, và mỗi người tâm niệm sẽ sống hết lòng với bổn phận làm con hiếu của mình.
Chúng ta hiểu vì sao mà bổn phận làm con phải biết báo hiếu ? Bất cứ ai hiện hữu trên đời, trước hết phải được mẹ mang nặng đẻ đau : “Chín tháng cưu mang, nặng nhọc như đội núi; đêm đêm như bệnh nặng, ngày ngày tợ hoàng hôn; trong khi sinh nở, gan ruột dường như xé rách, đau đớn mê man, máu huyết dầm dề” (Kinh Báo Ân).
Sanh con ra cha mẹ đã khổ nhọc, để nuôi con khôn lớn lại chịu khổ nhọc hơn, bên ướt mẹ nằm, bên ráo con lăn, thậm chí vì con mà phải làm ác. Con là vàng ngọc, là giọt máu của cha mẹ chia hai, nên dẫu con thế nào cha mẹ vẫn thương con. Tình thương đó “có dừng lại chăng, chỉ hơi thở sau cùng”. (Kinh Báo Ân).
Ơn sanh thành của cha mẹ thật bao la, cao như núi và rộng như biển, cha mẹ là đôi vầng nhật nguyệt sưởi ấm và sáng soi đời con: “Mẹ còn sống gọi là mặt trời giữa trưa chói sáng, mẹ khuất bóng rồi gọi là mặt trời đã lặn”(Kinh Tâm Địa Quán).
Trong cuộc sống, không có hạnh phúc nào lớn hơn hạnh phúc còn cha mẹ, và không có bất hạnh nào lớn hơn bất hạnh của kẻ mồ côi. Hình ảnh người cha lao động cần mẫn sớm hôm, người mẹ dịu hiền chăm chút các con từng miếng ăn, giấc ngủ, đã từng và mãi mãi là những cung bậc êm đềm của bài hợp xướng gia đình. Căn bản đạo đức cũng bắt đầu từ sự giáo dục gia đình, vì cha mẹ là chuẩn mực của các con từ lúc còn thơ ấu. Mãi mãi về sau, dù ở lứa tuổi nào, chúng ta cũng thấy cha mẹ là chổ dựa tinh thần vững chắc.
Có thể lúc ta thành công trong sự nghiệp hay hạnh phúc trong cuộc sống lứa đôi thì ta không cảm nhận rõ điều này, nhưng khi gặp cảnh ngộ không may, khi bị sống đời vùi dập tơi tả, khi hoàn toàn mất hết niềm tin đối với người chung quanh, ta mới chợt hiểu rằng, nơi một gốc trời xa yêu dấu, cha mẹ vẫn là chiếc nôi ấm cho mình ru giấc ngủ sâu, là vòng tay êm xóa tan hết nơi mình mọi buồn đau hận tủi. Ân sủng thiêng liêng ấy, tình cảm bao la bất tận ấy, ta có thể tìm được nơi đâu, ngoài cha mẹ của mình?
Nói về đạo hiếu, kinh điển Phật giáo đề cập đến rất nhiều, ngoài kinh Vu Lan Bồn ra, còn có một số kinh khác như kinh Nhẫn Nhục, Đại Tập, Tứ Thập Nhị Chương, A Hàm, Tăng Chi … lời lẽ rất thống thiết, sinh động, để lại dấu ấn tâm linh cho người đọc thực thi đạo sống làm người. Ngay trong bản kinh Tứ Thập Nhị Chương đã trình bày rõ quan điểm : “Phàm làm người phụng thờ qủy thần, không bằng phụng thờ cha mẹ, cha mẹ là vị thần tối thượng”. Còn kinh Đại Tập nói rằng: “Nếu ở đời không có Phật thì hãy theo phụng thờ cha mẹ cũng như phụng thờ Phật”.
Phụng dưỡng cha mẹ là một sứ mệnh thiêng liêng, vượt lên trách nhiệm và bổn phận. Hiếu dưỡng cha mẹ bằng cách kính thuận năm điều: “Nuôi dưỡng cha mẹ; làm đủ bổn phận con cái đối với cha mẹ; giữ gìn gia đình và truyền thốn; bảo vệ tài sản thừa tự; làm tang lễ khi cha mẹ qua đời” (Kinh Giáo ThọThi La Ca Việt). Kính thờ cha mẹ, con cái phải làm tròn năm việc: “Phải lo sanh kế; dậy sớm lo cơm nước cho cha mẹ kịp thời; không nên làm cha mẹ thêm lo; phải nhớ ơn cha mẹ; khi cha mẹ có bệnh phải lo sợ chạy chữa kịp thời” (Kinh Lục Phương Lễ).
Dù nổ lực để tận hiếu nhưng công ơn cha mẹ vô thượng thậm thâm thật khó đáp đền. Trong kinh Tăng Chi I, Đức Phật dạy “Có hai hạng người, này các Tỷ kheo, ta nói không thể trả ơn được. Thế nào là hai? mẹ và cha. Nếu một bên vai cõng mẹ, một bên vai cõng cha, làm vậy suốt 100 năm cho đến khi các người 100 tuổi. Nếu đấm bóp, tắm rửa, và dầu tại đấy họ có vãi đại tiểu tiện, như vậy cũng chưa làm đủ hay trả ơn đủ mẹ và cha”.
Những cách báo hiếu trên tuy xem ra cũng cao cả và không phải người con nào cũng hiểu và làm được trọn vẹn. Thế nhưng theo như những gì Đức Phật dạy thì sự báo ân như vậy vẫn chưa trả đủ công ơn cha mẹ. Công ơn cha mẹ to lớn như thế, bổn phận con cái phải làm thế nào mới tròn câu hiếu đạo?
Hiếu đạo theo Phật giáo, nếu chỉ phụng dưỡng song thân đầy đủ vật chất cùng tất cả sự cung kính thì chưa đủ để báo ân cha mẹ. Người con hiếu, ngoài hiếu dưỡng thông thường phải hướng cha mẹ trở về an trú trong chánh pháp. Kinh Tăng Chi, Phật dạy : “Những ai đền ơn bằng cách nuôi dưỡng, cúng dường cha mẹ với các của cải, đồ ăn, tiền bạc thì không bao giờ đủ để trả ơn cha mẹ.
Này các Tỷ kheo, ai đối với cha mẹ không có lòng tin, khuyến khích, hướng dẫn, an trú vào thiện giới ; đối với cha mẹ san tham, khuyến khích, hướng dẫn an trú vào bố thí ; đối với cha mẹ theo ác tuệ, khuyến khích, hướng dẫn an trú vào trí tuệ. Như vậy là làm đủ và trả ơn đủ cho mẹ và cha, là chân thật báo ân”. Khuyến hóa cha mẹ trở về chánh pháp để tránh đọa lạc là cách báo hiếu trọn vẹn, bởi “Cúng dường cha mẹ không bằng khuyên cha mẹ làm việc lành, bỏ việc ác. Nếu không thể cải hóa cha mẹ phụng trì Tam bảo thời tuy có hiếu dưỡng cha mẹ cũng gọi là bất hiếu. Cha mẹ hung ngược, dâm dật, tà ngụy, trái đạo … người con phải hết sức ngăn cản mới gọi là hiếu” (Kinh Hiếu Tử).
Khi cha mẹ quá vãng, Phật dạy : “Mỗi năm đến ngày rằm tháng bảy, ngay Tăng Tự Tứ, thiết lễ cúng dường mười phương chúng Tăng, nguyện cho cha mẹ hiện đời phước thọ tăng long, cha mẹ bảy đời thoát khổ ngạ qủy, được sanh vào trời người hưởng phước lạc vô cùng” (Kinh Vu Lan Bồn). Như vậy bổn phận con cái đối với cha mẹ thì ngoài việc dâng cúng những điều kiện về mặt vật chất là lẽ tất nhiên, thế nhưng sẽ có ý nghĩa hơn nếu như con cái biết hướng cha mẹ quy ngưỡng Tam Bảo, biết bố thí cúng dường, bỏ việc ác, làm các điều thiện.
Mặt khác vì do công lao sanh thành và nuôi dưỡng của cha mẹ đối với con cái như trời như biển cho nên không thể lấy của cải vật chất bù đắp được. Vả lại, mọi của cải vật chất trên thế gian này đều tạm bợ, vô thường, biến hoại, không có giá trị trường cửu, do đó, nếu như khuyến khích cha mẹ có lòng tin, làm điều lành, sống theo chánh kiến, đó là hành động báo hiếu có ý nghĩa nhất. Bởi vì nếu ai thực hiện được như vậy thì cha mẹ của họ sẽ tăng phước, tăng thọ, an vui trong cuộc sống hiện tại mà đời sau cũng được thọ hưởng các quả báo tốt đẹp.
Hiếu dưỡng không chỉ báo đền ân đức cho cha mẹ mà chính người con cũng được tăng trưởng phước đức: “Cúng dường cha mẹ dù một chút ít cũng được phước đức vô lượng” (Kinh Tạp Bảo Tạng). Gia đình có con cháu hiếu thảo được Phật ca ngợi phước báu ngang hàng với Phạm thiên, xứng đáng được cúng dường. Kinh Tăng Chi, Phật dạy: “Những gia đình nào trong ấy các con cái kính lễ cha mẹ , những gia đình ấy được chấp nhận ngang hàng bằng với Phạm thiên, được chấp nhận là đáng được cúng dường”.
Chính Sakkha (Đế Thích) nhờ hiếu thảo với cha mẹ mà được phước báo thiên chủ, làm vua cõi trời Tam Thập Tam Thiên. Điều này trong kinh Tương Ưng, đức Phật bảo Mahàli : “Này Mahàli, thuở xưa khi Thiên chủ Sakka còn là người, vị này chấp trì và thực hành bảy cấm giới túc : hiếu dưỡng với cha mẹ, kính trọng các bậc gia trưởng … Nhờ chấp trì bảy cấm giới túc này, Sakkha được địa vị Thiên chủ”. Kinh Hiền Ngu, Phật dạy: “Công đức hiếu thuận cha mẹ thù thắng khôn lường, nhờ công đức này trên làm Thiên đế, dưới làm Thánh vương cho đến thành Phật, được ba cõi tôn kính đều là do phước đức này vậy”.
Nếu như con cái sống hiếu dưỡng với mẹ cha tạo phước đức vô lượng chừng nào thì bất hiếu là tội lớn nhất chừng đó. Chúng sanh phần nhiều vì nghiệp chướng che mờ tâm trí nên bất hiếu nhiều hơn hiếu thảo. Đức Phật xác định: “Điều ác nhất không gì hơn bất hiếu” (Kinh Nhẫn Nhục). Giết hại cha mẹ là tội nặng nhất, rơi vào địa ngục không thể cứu chữa.
Đã có nhiều người con giàu sang phú qúy nhưng cha mẹ vẫn ở túp lều tranh, nhiều người cơm ăn áo mặc đầy tràn nhưng cha mẹ vẫn áo quần tả tơi, bươn chãi từng ngày để lo sinh kế, thậm chí đã có những người con có những hành động mất tính người như chửi mắng cha mẹ, đánh đập cha mẹ và nhan nhãn những bài báo đăng tin con cái giết cha mẹ … Thật đau lòng thay!
Cha mẹ gian lao khổ cực làm lụng nuôi đàn con khôn lớn, thế nhưng đàn con không nuôi nổi cha mẹ, bạc đãi cha mẹ. Nhân nào quả đó, rồi đến lúc những đứa con bất hiếu này lại bị con cái của họ đối xử tệ bạc lại với họ. Khi đó dù họ có hối hận cũng đã muộn rồi, chỉ còn con đường vào địa ngục đang mở cửa đón chờ họ ở phía trước.
Tóm lại, Vu Lan bồn là ngày lễ báo hiếu vô cùng cao đẹp của Phật giáo nói riêng và là ngày lễ hội báo hiếu nói chung của mọi người con hiếu trên thế gian này. Lễ Vu Lan mang một ý nghĩa thật thiêng liêng cao cả, giúp cho con cái nghĩ nhớ đến công ơn cha mẹ, khơi dậy trong lòng họ một tinh thần báo hiếu đáng quý, đáng trân trọng. Người con Phật nhận thức sâu sắc lời Phật, mùa Vu Lan về càng nỗ lực tinh tấn thực hành hạnh hiếu để báo đáp thâm ân của cha mẹ.
Theo quan niệm của người Hồng Kông cổ xưa, trăng tròn tượng trưng cho phước lành, và họ tin rằng Nguyệt lão, tức Thần Hôn nhân ngự trên mặt trăng cũng được năng lượng mặt trăng hỗ trợ. Từ đó dẫn đến một tập tục khá thú vị của các thiếu nữ Hồng Kông diễn ra vào ngày rằm tháng Giêng Âm lịch. Vào ngày đó, khi mặt trăng tròn chiếu sáng rực rỡ, cũng là lúc âm khí mạnh nhất, các cô gái muốn tìm cho mình một người chồng và ước mong được hưởng phước lành trong quan hệ hôn nhân, thường ném những quả cam chín mọng xuống nước.
Họ tin rằng gió và nước sẽ mang ước nguyện của họ ra đại dương, giúp họ tìm được những chàng trai khôi ngô, tuấn tú. Quả cam tượng trưng cho vàng, một biểu tượng của sự thịnh vượng. Điều này là do quả cam phát âm giống chữ “Kim” có nghĩa là vàng. Khi ném cam xuống nước, người ta thường chọn những quả cam chín ngọt và thơm ngon, bởi chúng tượng trưng cho địa vị xã hội và tài sản của người chồng tương lai. Ngày nay, tập tục này vẫn còn được lưu truyền. Theo phong thủy, năng lượng của mặt trăng có thể mang đến cho gia đình bạn một chàng rể xứng đáng. Vì thế muốn nhận được may mắn về đường hôn nhân, bạn có thể kích hoạt năng lượng của mặt trăng trong phòng ngủ bằng cách treo một bức tranh có hình trăng sáng. Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
Vô ưu – loài hoa của Phật giáo, mang trong mình triết lý sâu sắc của đạo Phật về cuộc sống không ưu tư, phiền muộn. Trải qua hàng ngàn năm, loài hoa ấy vẫn lặng lẽ bừng nở trong nắng gió, và nở ở trong lòng những con người hướng Phật.
1. Loài hoa thiêng đất Phật
Hàng ngàn năm trước, Phật Thích Ca Mẫu Ni sinh ra dưới tán cây vô ưu – loài hoa của vùng đất thiêng, loài hoa mang trong mình vẻ đẹp của sự lạc quan, tinh thần thanh thản. Hoàng hậu Ma Đa khi mang thai Thái tử Tất Đạt Đa – tiền thân của Đức Phật, thấy cây vô ưu tỏa hương thơm ngát bèn ghé vào thăm và vịn cành cây mà sinh ra Thái tử.Vô ưu – không muộn phiền, tên loài hoa cũng là lý tưởng cao nhất của đạo Phật: thoát khỏi những tham, sân, si của đời người; vượt qua bao muộn phiền, tăm tối để hướng về cõi Niết Bàn. Đây là loài hoa mang ý nghĩa tâm linh ẩn chứa những tư tưởng về xuất thế và nhập thế. Xem thêm bài viết Tóm lược cuộc đời của Đức Phật để thấu hơn về cõi nhân sinh
2. Đóa hoa vô ưu trong lòng mỗi người
Hoa vô ưu không chỉ được gieo trong đất, tươi tốt nhờ nắng gió thiên nhiên mà trong lòng mỗi người đều có một đóa vô ưu, cần tưới tắm bằng tu tập, hướng đạo để càng ngày càng bừng nở mạnh mẽ, tỏa hương thơm ngát. Chỉ có vô ưu mới không có luân hồi sinh tử, chỉ có vô ưu mới không có nghiệp chướng, không có luẩn quẩn đầu thai.Vô ưu trong lòng, tự dưng bất thiện thành thiện, không đạo đức thành đạo đức, chẳng những hóa giải được ác nghiệp trong quá khứ mà còn ngăn ngừa ác nghiệp trong tương lai, tạo ra thiện hạnh. Làm thế nào để vô ưu, không ham cầu thì vô ưu. Lòng thanh thản thì vô ưu, lòng tĩnh tại thì vô ưu. Mọi muộn phiền đều từ những ham muốn của con người mà ra.Lòng càng ít ham muốn thì đóa vô ưu càng tươi tốt. Đạo Phật hướng tới cảnh giới vô vi, vô ngã vị tha, tức là quên đi tất cả những thứ vật chất tồn tại trên đời, quên đi những tham cầu cá nhân, quên đi chính cả mong ước của mình, chỉ hướng tới một điều duy nhất: đạo. Xem thêm bài viết Vì sao Đức Phật, Bồ Tát ngồi trên hoa sen mà không phải loài hoa khác? Lý tưởng này của đạo Phật là lý tưởng của cái thiện và lòng thiện. Khi lòng thiện lên ngôi, người ta chỉ hướng thiện, khi hướng thiện thì mọi hành vi đều thiện, không còn tham mà ác, không còn cầu mà bất nhân. Thiện tâm chính là chất dinh dưỡng của hoa vô ưu trong lòng, người thiện ắt vô ưu.Muốn thiện, muốn vượt qua những ham muốn tầm thường trong cuộc đời con người thì nhất định phải có trí. Trí tuệ sáng suốt, thấu triệt ngọn nguồn của sự sống và tất thảy mọi vật trên trên đời, hiểu nguồn cơn khổ đau và cách thoát khỏi khổ. Người có trí sẽ thấy bản chất vô ngã vô thường ngay trong chính mình, hiểu mình, không thành kiến, không ảo tưởng, vững vàng tiến tới con tưởng thoát khỏi thế tục.
Phật giáo tin rằng, trí tuệ chính là chìa khóa giác ngộ và giải thoát cuối cùng, thanh tịnh nhờ trí, tâm an nhờ trí, tâm tĩnh nhờ trí. Sự nở rộ của đóa hoa vô ưu trong lòng cũng chính là sự nở rộ của trí tuệ, trí tuệ tinh thần và trí tuệ học thức. Trí tuệ của lòng từ bi, hỷ, xả, vị tha, của buông bỏ muộn phiền, thông hiểu nhân quả; trí tuệ của tha mình, tha người, mọi thứ về hư không. Xem thêm bài viết Phật pháp nhiệm màu phải chăng là cầu gì được nấy? Đó mới chân chính là những đóa hoa vô ưu đẹp nhất, bền bỉ nhất chứ không như loài hoa sớm nở, tối tàn, màu sắc rực rỡ nhưng dễ dàng héo úa kia. Tâm mỗi người giống mảnh đất màu mỡ, gieo được đóa vô ưu, tự khắc hưởng hương lành. Vô ưu xuất thế, là tán vô ưu nâng đỡ sự ra đời của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni; vô ưu nhập thế là đóa vô ưu sinh trưởng trong lòng mỗi Phật tử. Vô ưu xuất thế đánh dấu sự xuất hiện của đấng linh thiêng, vô ưu nhập thế để đánh dấu sự hướng tiện, nhập đạo của con người.Hoa vô ưu nở khắp năm châu bốn biển, bất kể tuổi tác sang hèn, bất kể trai gái giàu nghèo, đóa hoa ấy là biểu tượng của Phật giáo, của sự bình đẳng, giác ngộ, của con đường học đạo gian truân, khổ hạnh nhưng kết quả rực rỡ, tuyệt đẹp. Bắt đầu từ ngay hôm nay, hãy tự chăm lo vun vén cho đóa vô ưu trong lòng mình đâm chồi nảy lộc. 7 loài hoa tránh dâng lên bàn thờ sẽ mất hết Phúc LộcCác loại hoa dâng lên bàn thờ hút tài lộcNên và không nên chọn loại hoa nào để đi tảo mộ trong Tết Thanh Minh?Trình Trình Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Minh Thư (##)
Chùa Hà nằm tại phố Chùa Hà, thôn Trung, phường Dịch Vọng, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội, Chùa có tên chữ là Thánh Đức tự, cùng với Đình Bối Hà, lập thành cụm di tích Đình – Chùa Hà nằm trên một mảnh đất, trước kia thuộc làng Dịch Vọng (tên nôm là làng Vòng), huyện Từ Liêm, nay thuộc phố Chùa Hà, thôn Trung, phường Dịch Vọng, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội. Chùa Hà cùng với chùa Duyên Ninh là 2 ngôi chùa cầu duyên nổi tiếng ở miền Bắc.
Chùa Hà là một trong những địa danh tín ngưỡng nổi tiếng của Thủ đô Hà Nội, được khởi dựng từ thời Hậu Lê, trên một vùng quê văn hiến ở phía Tây kinh thành Thăng Long. Cũng như nhiều ngôi chùa cổ quanh vùng như chùa Thánh Chúa, chùa Láng, chùa Hà được xây dựng rất sớm để thờ Phật, thờ mẫu theo tín ngưỡng dân gian.
Các công trình kiến trúc của chùa được quy hoạch tập trung trong một khoảng không gian rộng thoáng. Ngoài cùng là cổng Tam quan xây hai tầng có hệ thống cầu thang lên ở phía trái. Tầng trên xây kiểu chồng diêm, giữa bờ đinh mái thượng đắp nổi hình mặt trời lửa đặt trên hình hổ phù, hai đầu kìm đắp hình rồng đuôi xoắn, miệng ngậm bờ nóc, mái lợp giả ngói ống. Tầng dưới chia làm ba gian, với 12 cột trụ xây nổi trên mặt tường. Tam quan có ba vòm cửa, cửa giữa rộng hơn.
Tầng hai Tam quan treo chuông đồng Thánh Đức tự chung niên hiệu Cảnh Thịnh thứ 7 (1799), một di vật thời Tây Sơn còn bảo quản nguyên vẹn. Chuông cao 1m20, chu vi đáy 1m80 được đúc tinh tế, phần trên bốn múi chuông được khắc nội dung văn chuông, phần dưới được khắc tứ linh: long ly quy phượng cách điệu mà rất sống động. Phía trên là hai con bồ lao đầu nhìn về hai phía, bốn chân gắn chặt vào chuông.
Sau cổng tam quan là vườn cây xanh, hồ nước hình bán nguyệt, cây đa và sân chùa. Bên cạnh hồ nước là bia đá bốn mặt Thánh Đức tự bi mới được phục chế gần đây. Ba mặt bia khắc chữ Hán theo nội dung lưu tại Thư viện Viện nghiên cứu Hán nôm, một mặt bia khắc chữ quốc ngữ. Bia chùa tạo năm Chính Hòa thứ 16 (1695), Tri huyện Nguyễn Đình Trạch soạn văn bia. Ở bên phải trước cửa chùa đặt 18 tấm bia hậu được tạo vào cuối thời Nguyễn ghi việc tu sửa và gửi hậu tại chùa.
Chùa Hà nhìn ra hướng tây, chùa chính kết cấu kiểu chữ Đinh có Tiền đường và Thượng điện, tam bảo năm gian rộng. Tòa phật điện của chùa được bố trí theo nhiều lớp. Lớp cao nhất là ba pho Tam thế thường trụ diệu pháp thân, đại diện cho Đức Phật ở thì hiện tại, quá khứ và tương lai. Lớp thứ hai: tượng A Di Đà có kích thước lớn, Quan Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát.
Phía dưới tượng A Di Đà: tượng A Nan Đà, Đức Ông. Đức Ông chùa Hà rất linh thiêng nên dân quanh vùng có câu Đức Ông chùa Hà, Đức Bà chùa Hương. Phía ngoài chính điện giáp với đại bái là tượng Thích Ca sơ sinh. Lớp tượng ở nhà bái đường nổi bật nhất là tượng Thiên Tướng Hộ Pháp cao lớn mặc áo giáp vàng ngồi trên con sấu. Hai bên đầu hồi còn đặt 8 vị Thần Vương Hộ Pháp.
Phía sau chính điện của chùa là Điện Mẫu. Kiến trúc Điện Mẫu bao gồm phía trước là phương đình, phía sau là Thần điện. Trong phương đình có đặt đỉnh hương và đôi hạc lớn. Phía sau phương đình là nhà bái đường gồm 5 gian làm theo kiến trúc cổ.
Gian chính giữa đặt Mẫu Thượng Thiên trang phục màu đỏ, bên trái là tượng Mẫu Thượng Ngàn trang phục màu xanh, bên phải là tượng Mẫu Thủy trang phục màu trắng, ngoài ra còn có tượng các ông hoàng, bà chúa, tượng cô cậu khác. Đặc biệt là bức phù điêu Bát Tiên treo bên trái hồi rất sống động. Bàn thờ phía dưới cùng của Điện Mẫu là Ngũ Hổ thần quan, hay gọi nôm là Quan Năm Dinh, biểu tượng bằng 5 mãnh hổ với màu sắc khác nhau.
Ở chùa Hà cách đây vài năm còn lưu giữ nhiều hiện vật cổ bằng gốm như bát hương, chĩnh, ang, vại đựng nước thể hiện sự tôn kính và tín ngưỡng của người Thổ Hà xứ Kinh Bắc xưa kia. Hiện nay (2009) những hiện vật này đã bị bỏ đi hết, bát hương gốm cổ được thay thế bằng đồ đồng có khắc tên người công đức, đồ sành đựng nước thay bằng vòi nước máy.
Chùa Hà được nhà nước xếp hạng di tích lịch sử văn hóa năm 1996. Hiện nay đình và chùa Hà thường tổ chức các lễ hội:
Ngày 11 tháng 1 âm lịch kỷ niệm ngày sinh của Thành hoàng Triệu Chí Thành.
Ngày 12 tháng 8 âm lịch kỷ niệm ngày hóa của Thành hoàng.
Ngày 12 tháng 2 âm lịch là ngày vào đám cầu phúc, cầu mưa thuận gió hòa, người khỏe của nhiều. Trong lễ hội thường diễn ra các tiết mục như đánh cờ người, đánh đu, kéo co, hát cửa đình, múa sư tử…
Phật tử đến thắp hương cầu duyên
Đình – chùa Hà thu hút ngày càng đông khách tham quan du lịch gần xa. Nhất là cứ đến ngày sóc vọng (mùng 1 và 15 âm lịch) hàng tháng, đình chùa Hà chật ních người đến thắp hương lễ Phật cầu Thánh, trong ngoài chùa mù mịt khói hương. Họ cầu mong Phật, Thánh giải bỏ tất cả tai ách, đem đến cho họ nhiều phúc lộc. Đặc biệt, trai gái Hà Nội hay đến chùa Hà để cầu tình duyên: trai gái đang yêu nhau thì đến cầu thành vợ thành chồng, chưa có người yêu thì đến cầu cho chóng có người yêu.
Ba sáu phố phường Hà Nội như một bản nhạc đẹp. Có khi là khúc ca cổ kính ngàn năm, có khi là khúc ca rộn rã của nhịp sống hiện đại. Những ngôi chùa Hà Nội chính là những nốt trầm của bản nhạc đất kinh kỳ ngàn năm văn hiến. Nếu bạn có dịp đến với Hà Nội tôi muốn đưa bạn đến với chùa Hà một di tich lịch sử văn hóa – cách mạng nổi tiếng của mảnh đất ngàn năm văn hiến.
Trong phong thủy nhà ở, có một số lỗi khiến tài vận đi xuống, gia vận nghèo khó. Không cần biết nhà to hay nhà nhỏ, cứ phạm những lỗi này thì nghèo khó đến cửa ngay. Cùng kiểm tra ngôi nhà của mình và tìm cách hóa giải nhé.
Vì đâu mà có một số gia đình tài vận rất kém, luôn thất bát, xui rủi? Ấy có thể là bạn chưa khắc phục lỗi phong thủy nhà ở. Dưới đây là một số lỗi phong thủy suy giảm tài vận khá phổ biến, nếu không chú ý rất dễ mắc phải:1. Nhà phạm xuyên tâm sát, cửa chính và ban công hoặc phòng ngủ tạo thành đường thẳng như mũi tên đâm xuyên qua căn nhà, không chỉ gây ra hiện tượng tán tài mà còn ảnh hưởng tới sức khỏe của các thành viên trong gia đình, khí không tụ, vận trạch kém. Tình huống này nên lợi dụng huyền quan để cải thiện phong thủy nhà ở. Hoặc là đặt bình phong ở huyền quan, hoặc là đặt cây xanh, treo rèm ở ban công, trước cửa phòng ngủ và thường xuyên đóng cửa ra vào.2. Phòng bếp đối diện buồng vệ sinh hoặc phòng ngủ thì nước lửa bất dung, tinh thần yếu kém, sức khỏe giảm sút, gia đình bất hòa, tài vận suy sụp. Nhà này mà không giải quyết thì vận nghèo đeo đuổi. Nên hạn chế sử dụng cửa ra vào này để tránh sát, trên cửa treo gương bát quái hoặc căn cứ vào cung vị ngũ hành để điều tiết hóa giải. Thêm vào đó, tránh đặt vòi nước và bếp đối diện cũng là cách sửa lỗi phong thủy nhà ở hữu hiệu.
3. Nhà thiếu huyền quan là cực kì xấu vì huyền quan trong phong thủy có tác dụng hóa giải sát khí, cả hình sát và khí sát đều bị chặn đứng nếu nhà có huyền quan. Nhà thiếu huyền quan thì sát phóng thẳng vào nhà, tài vận suy giảm mà sức khỏe cũng lao đao. Đao sát, nhà đối diện chỗ rẽ hoặc kiến trúc nhọn giống như lưỡi dao sắc bén đâm thẳng vào nhà, hung hiểm nguy nan. Nơi ở đối diện đại lộ hoặc đường thẳng thì khí thế thông tuột, tài khí bay hết. Tất cả những trường hợp phạm hình sát đó đều cần huyền quan.Lỗi phong thủy nhà ở nhà phạm khí sát như hướng nhà sai phương vị, chủ hộ Đông tứ mệnh mà cửa chính hướng Tây tứ trạch như Tây, Tây Bắc, Tây Nam, Đông Bắc hoặc chủ hộ Tây tứ mệnh mà cửa chính hướng Đông tứ trạch thì đều không ổn, mang tới sát khí. Phạm lỗi này mà nhà không có huyền quan thì tài sản tiêu tán.Vì vậy, khi thiết kế nhà ở, tốt nhất là cần đặt huyền quan, không cần to chỉ vuông vức sáng sủa là được. Huyền quan vừa chặn sát vừa cải thiện phong thủy, cực kì có lợi. Nhà ở ngõ cụt, phong thủy xấu hay tốt?5 tip phong thủy bàn làm việc dễ làm, dễ tăng tàiNhững nốt ruồi ngăn không nổi tài lộc ghé thămTrần Hồng Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Thùy Dung (##)
“Đàn ông sợ nhất là làm sai nghề, phụ nữ sợ nhất là lấy nhầm chồng”, vậy nên chọn chồng có tướng mặt thế nào để được hạnh phúc và sung sướng suốt đời là điều
Căn cứ vào một số đặc điểm về tướng mặt của đàn ông mà có thể phán đoán tính cách, bản chất con người cũng như tiềm lực về kinh tế, ý chí tiến thủ của họ. Một số phương pháp xem tướng mặt đàn ông tốt dưới đây sẽ giúp bạn tìm được người chồng xứng đáng.
Ảnh minh họa
1. Địa các vuông vức và tròn đầy Trong Nhân tướng học, địa các (cằm) có thể xem vận cuối đời vừa biểu thị mức độ xem trọng gia đình của người đàn ông. Nam giới có địa các vuông vức mà lại tròn đầy thường coi trọng tình cảm gia đình, mong muốn có được cuộc sống yên ấm, giản dị. Ngược lại, người có cằm nhọn thích bay nhảy tự do, ghét bị ràng buộc bởi đời sống hôn nhân, tình cảm vợ chồng theo đó cũng dần rạn nứt. Ngoài ra, nếu giữa địa các có đường chẻ giống như chia cằm thành hai phần thì là người tôn thờ chủ nghĩa lãng mạn, thích cuộc sống bay bổng, không ràng buộc nên thế giới nội tâm khá phức tạp, dễ xuất hiện người thứ ba trong chuyện tình cảm. Do đó với người này chỉ nên dừng lại ở tình bạn bè, hàng xóm hay quan hệ xã giao trong công việc. 2. Gian môn đầy đặn, không có nếp nhăn xung phá Gian môn chính là cung Thê Thiếp, nằm ở vị trí hai đuôi mắt. Đàn ông có gian môn bằng phẳng đầy đặn thì được vợ đỡ đần và là người chồng tốt; nếu gian môn lõm khuyết thì duyên vợ chồng mong manh, ít con cháu và là tướng khắc vợ. Trường hợp quanh gian môn có quá nhiều nếp nhăn xung phá hoặc có nốt ruồi thì ảnh hưởng không tốt đến vợ như sức khỏe vợ suy yếu, hay bệnh tật hoặc tâm tính thất thường…Tuy nhiên, nếu nếp nhăn này hướng lên trên lại biểu thị nhân duyên tốt. 3. Lưng dày, eo tròn, vai rộng và bằng Đàn ông có những đặc điểm này được coi là có phúc tướng. Hai vai rộng và bằng thường có nhiều phúc lộc, có thể gánh vác được trọng trách và là trụ cột của gia đình. Cộng thêm với tướng cách lưng dày, eo tròn cân đối là người đàn ông chính trực, tốt tính và giàu tình cảm. 4. Đầu mũi tròn và sống mũi cao
Mũi của nam giới nắm giữ tài bạch, chủ về tài vận. Nếu đầu mũi tròn, sống mũi cao thì tài vận hưng thịnh suốt đời, đảm bảo cuộc sống sung túc cho vợ con. Nếu có thêm đặc điểm là chân mày hường đến tóc mai thì là người có chí lớn, lập nên đại nghiệp. Theo Thuật xem tướng mặt và tướng bàn tay Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Mỹ Ngân (##)
– Sở hữu những nét tướng tay đặc biệt dưới đây, chắc chắn bạn luôn dẫn đầu trong danh sách những người vượng vận đào hoa trong suốt cuộc đời.
► Hướng dẫn cách xem chỉ tay để đoán vận mệnh, tài lộc của bạn
1. Khảm cung có vân dọcKhảm cung là vị trí rìa tay nhô lên, ngay sát phần cổ tay, đại diện cho tình cảm của mỗi người. Tại khu vực này nhiều vân dọc chứng tỏ chủ nhân có vận đào hoa vô cùng vượng phát.Khảm cung thuộc Thủy, các vân thẳng như hình nước chảy, cũng thuộc Thủy, đại diện Thủy vượng, Thủy vượng tức đào hoa vượng. Đây chính là một trong những đặc điểm của tướng tay đào hoa.2. Tốn cung căng đầyTốn cung là vị trí nằm ngay dưới các gốc ngón tay. Khu vực này nhô lên, căng đầy thì tài phúc tốt, nhân duyên khác giới hài hòa, tình duyên thuận lợi, vận đào hoa nở rộ trong suốt cuộc đời. Chủ nhân của nét tướng cách này thuộc tuýp hướng ngoại, thông minh, hoạt bát và rất khéo ăn nói, giao tiếp. Đi tới đâu người này cũng dễ gây sự chú ý, được mọi người dành tình cảm yêu mến.
Chỉ ra tướng người không có duyên với chữ “Tài lộc”Phát hiện người có tướng tay nợ nần chồng chấtHiểu tường tận về mối quan hệ giữa cách đeo nhẫn và tình duyên3. Phần dưới ngón tay cái nhiều vân xiênTrong lòng bàn tay đào hoa, phần ngay dưới ngón tay cái đại diện cho điền trạch, tổ nghiệp, càng căng đầy càng phúc quý. Hơn thế, nếu khu vực này có nhiều đường vân xiên chứng tỏ chủ nhân rất vượng đào hoa, đi đâu cũng có người theo đuổi, dành tình cảm yêu mến đặc biệt.
4. Đầu đường Hôn nhân cụp xuốngĐường Hôn nhân chủ về tình duyên, cho biết mức độ đào hoa và hạnh phúc trong hôn nhân. Nếu đầu đường chỉ tay này cụp xuống, tức vận đào hoa khá vượng.Nếu có thêm một đường vân xiên bắt đầu từ đường Hôn nhân giao sang đường Sinh mệnh, người có tướng tay này luôn được bao bọc bởi những mối lương duyên, vận đào hoa vượng phát suốt đời. 5. Cuối đường Sinh mệnh bị chẻThông thường đường Sinh mệnh càng đậm, càng thẳng thì chủ nhân càng nhiều phúc phận, nhưng không nhất thiết phải thật dài mới là trường thọ.Trong trường hợp, cuối đường chỉ tay Sinh mệnh chẻ ra thành hai nhánh, chứng tỏ chủ nhân có sức sống mãnh liệt, tinh thần vô cùng sung mãn, tướng tay đào hoa cả đời rất vượng, nhân duyên khác giới tuyệt vời, cuộc sống hôn nhân cũng viên mãn.Việt HoàngXem tình cảm và tuổi kết hôn qua các đường chỉ tay Nếu sở hữu tướng tay mà phía đầu đường chỉ tay Trí tuệ nhô lên, sát gần ngón tay trỏ, chứng tỏ chủ nhân sẽ kết hôn muộn. Nhiều khả năng gia đình mai mối, giục Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Thanh Vân (##)
Lấy được một người vợ tốt đó là phúc của cuộc đời, nhưng nếu lấy một người xấu làm vợ thì sau này sẽ hối tiếc không kịp. Vậy như thế nào là một phụ nữ có tránh cũng không được? Thực ra xem trên mặt có thể đoán định ra được.## Đuôi mắt có