Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,...   Click to listen highlighted text! Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,... Powered By DVMS co.,ltd
Kính mời quý khách like fanpage ủng hộ Vạn Sự !

Vạn Sự

Coi đường chỉ tay của người khó thành đạt

Đường chỉ tay của người khó thành đạt: Nếu bốn đường chính rối ren, phân thành nhiều nhánh nhỏ là dấu hiệu cho thấy người này có trí lực, thể lực kém, công
Coi đường chỉ tay của người khó thành đạt

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Nếu cả bốn đường này rối ren, phân thành nhiều nhánh nhỏ là dấu hiệu cho thấy người này có trí lực và thể lực kém. Theo đó, công danh sự nghiệp cũng khó thuận lợi.
 

1. Bốn đường chỉ tay chính rối loạn
 
Thông thường mỗi bàn tay gồm 4 đường chỉ tay chính là đường Sinh đạo, Trí đạo, Tâm đạo và Định mệnh. Nếu cả bốn đường này rối ren, phân thành nhiều nhánh nhỏ là dấu hiệu cho thấy người này có trí lực và thể lực kém. Theo đó, công danh sự nghiệp cũng khó thuận lợi.
 
Ngoài ra, người này có thái độ sống khá cực đoan, nếu không thay đổi điều này thì dù nỗ lực đến đâu cũng khó đạt được thành công.

Coi duong chi tay cua nguoi kho thanh dat hinh anh
Bốn đường chỉ tay chính: 1. Đường Sinh đạo; 2. Đường Tâm đạo; 3. Đường Trí đạo; 4. Đường Định mệnh

2. Trên đường Định mệnh có vân đảo
 
Đường Định mệnh hay còn gọi là đường cuộc đời, đường số phận. Vị trí của đường Định mệnh: bắt đầu  từ phần dưới cùng của lòng bàn tay (gần cổ tay) và di chuyển dần lên ngón tay giữa. Đường này cắt ngang qua các đường khác và thường bị ngắn đoạn.   Đường Định mệnh chỉ những điều liên quan đến sự nghiệp, công việc, những tham vọng và định hướng trong cuộc sống. Nếu trên đường này có vân đảo (vân có hình như hòn đảo) thì người này sẽ gặp những sóng gió không lường trước được về phương diện công danh, sự nghiệp. Điều đó khiến bạn khó công thành danh toại.   Ngoài ra, nếu bị đứt đoạn, ngắt quãng thể hiện đây là là người dễ bị thay đổi và chịu tác động từ những yếu tố xung quanh. Người này thiếu chính kiến và quyết đoán nên làm việc gì cũng gặp trở ngại, thành công chỉ là tạm thời, về lâu dài sẽ không giữ được tiền của.   3. Đường Trí đạo có vân hình chữ thập hoặc vân đảo   Đường Trí đạo hay còn gọi là đường trí tuệ hoặc đường học hành, công danh. Đường này thể hiện khả năng tư duy, sáng tạo và công danh sự nghiệp của con người.   Nếu trên đường Trí đạo xuất hiện vân hình chữ thập hoặc vân đảo là điềm báo cho thấy đường công danh, sự nghiệp của người này thường xuyên gặp phải những tranh chấp, mâu thuẫn về tiền bạc. Ngoài ra, có thể phát sinh những sự việc làm tổn hại uy tín của người này trong xã hội. Do đó, công danh sự nghiệp chỉ dừng lại ở một mức nhất định chứ không thực sự thành đạt.
► Tự xem bói, xem chỉ tay đơn giản để luận giải về cuộc đời, vận mệnh của bản thân

ST
 
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Coi đường chỉ tay của người khó thành đạt

Chống ướt, chống ẩm cho nhà vệ sinh bằng cách nào? –

Ngày nay, nhà vệ sinh, nhà tắm, phòng giặt thường được gộp vào là một nên nhiều người cho rằng chỉ cần giữ cho nó sạch sẽ, thoáng đãng là được vì không thể tránh khỏi ẩm ướt khi tắm giặt. Bạn hoàn toàn có thể chông ướt, chông ẩm cho nhà vệ sinh thôn

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

g qua việc chọn lựa vật liệu lát nền.

chong-tham-nha-ve-sinh

Để không gian bên trong nhà vệ sinh luôn thoáng đãng, khô ráo, sạch sẽ thì phần mặt tường bao và mặt trần nhà phải được bảo vệ bằng vật liệu chông ngấm nước, chông môi mọt, chông mục ruỗng và ẩm mốc. Lựa chọn các vật liệu như: tấm ốp plastic cứng, giấy dán tường plastic, gạch men sẽ đạt được hiệu quả như mong đợi.

Muôn sàn nhà có thể chống trơn, ít thấm nước, dễ cọ rửa thì nên chọn gạch đá hoa với kích cỡ lớn hoặc tấm plastic, các chất liệu này vừa bền đẹp, dễ mua lại tiện sử dụng.

Màu sắc của tường, nền sàn nhà cũng như các đồ vật trong nhà vệ sinh hài hoà với nhau cũng khiến cho bạn cảm thấy không gian của nhà vệ sinh rộng hơn. Gam màu thích hợp nhất là gam màu lạnh với các màu sắc trang nhã, mát mẻ, điểm xuyết một vài màu nóng cộng với hiệu ứng ánh sáng của ánh đèn cũng như các chất liệu pha lê, mica của cửa sổ, kính và gương để có được một không gian ưng ý nhất.

Ví dụ: Lấy màu trắng làm màu chủ đạo, bạn có thể trang trí như sau: Tường, trần nhà quét ve màu nhạt, ấm áp như màu: vàng nhạt, vàng ngà, phớt hồng, màu sữa, lát gạch men màu đỏ nhạt, bồn tắm màu trắng ngà, bồn rửa mặt màu trắng sữa. Ngoài ra, với hai màu đen, trắng và một chậu cây xanh, bạn cũng có thể có một nhà vệ sinh đơn giản, sạch sẽ, nhiều sinh khí.

Ánh sáng đèn ngoài việc tăng thêm vẻ đẹp cho không gian phòng còn phải có tính năng chông mờ sương, chống thấm nước, chống ẩm mốc, chống ải mục và phải dễ lau chùi. Giải pháp tốt nhất là loại đèn có chụp thủy tinh hay nhựa chống nước cho ánh sáng dịu nhẹ, bên cạnh đó lắp thêm một đèn tuýp chiếu sáng cục bộ cạnh gương trang điểm để tăng cảm giác ấm áp, thoáng đãng.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Chống ướt, chống ẩm cho nhà vệ sinh bằng cách nào? –

Thảo luận về Kì Môn Độn Giáp

Kỳ môn Độn giáp là một môn học dựa trên nguyên lý lập trận đồ ma trận có tính Logic rất cao.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Thảo luận về Kì Môn Độn Giáp

Thảo luận về Kì Môn Độn Giáp

Trong các môn học thuộc lĩnh vực Dịch học Trung Hoa, từ cổ chí kim người ta dành cho Kỳ Môn Độn Giáp một vị trí quan trọng. Các soạn giả cuốn Tứ Khố Toàn Thư đời Thanh viết: “ trong các phương kế, Kỳ Môn Độn Giáp là hay nhất”.   Một số học giả của trường Đại học Phúc Đán Thượng Hải trong cuốn Tri thức bách khoa Văn hóa thần bí Trung Quốc xuất bản năm 1994 cũng viết: “ Kỳ Môn Độn Giáp hoàn toàn có thể xứng danh với vị trí cao nhất trong học thuật truyền thống Trung Hoa” ( học thuật truyền thống chỉ khái niệm Phương Thuật. “ Phương” gồm các môn nghiên cứu về Thiên văn, địa lý, ngũ hành, lịch pháp, tướng số. “Thuật” gồm các môn nghiên cứu về y học, thuốc thang, luyện đơn. Từ xưa Kỳ Môn Độn Giáp được xem là môn học Đế vương, nội hàm bao gồm lí luận Chu dịch, Thiên văn học, Âm nhạc, Lịch pháp, thuyết Âm dương ngũ hành v.v.

 

Các khảo sát của nhiều học giả cho thấy, từ đời nhà Tần Kỳ môn được gọi là Âm phù; thời Hán, Ngụy gọi là Lục Giáp;   đời Tấn, Tùy, Đường, Tống gọi là Độn Giáp; đến đời Minh, Thanh gọi là Kỳ Môn Độn Giáp. Kỳ môn độn giáp được gọi là Kỳ môn hoặc Độn giáp. Kỳ môn có nhiều trường phái: Niên gia, Nguyệt gia, Nhật gia, Thời gia với độ phức tạp ngày càng cao. Thời gia kỳ môn được chia làm hai trường phái là Kỳ môn pháp thuật và Kỳ môn lý số.

 

Kỳ môn pháp thuật chủ dùng bùa chú, tu luyện mà thành. Nội dung và phương pháp của nó mang nặng màu sắc tín ngưỡng và nghi thức tôn giáo, nhấn mạnh và đề cao khả năng siêu thực của con người.

 

Kỳ môn lý số lại được chia làm hai nhánh: Kỳ môn phi bàn và Kỳ môn chuyển bàn với cách lập trận đồ Kỳ môn khác nhau. Trong học phần Kỳ môn Độn giáp, Phong thủy Lưu gia giới thiệu nội dung của phần Kỳ môn Phi bàn theo nhánh lý số của trường phái Thời gia.

 

Kỳ môn Độn giáp là một môn học dựa trên nguyên lý lập trận đồ ma trận có tính Logic rất cao. Các thành phần   trong mỗi một cung quan hệ với nhau rất mật thiết, biểu thị cho xu hướng phát triển của sự vật mà ta đang xét tới các mối quan hệ giữa các thành phần của cung này với cung khác là mối quan hệ chi phối, hạn chế, hóa giải lẫn nhau, biểu thị sự liên đới, ảnh hưởng, tác động qua lại của các sự vật trong bức tranh tổng thể.

 

Trong bức tranh tổng thể đó, các yếu tố phản ánh bản thân sự việc hoặc sự việc trong chuỗi liên kết là tập hợp các thông tin như: Thiên thời là yếu tố mang tính quyết định, nhấn mạnh về thời gian, điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế, chính trị và yếu tố văn hóa. Yếu tố thiên thời, giúp ta biết được tiến hành một công việc vào lúc nào là hợp lí nhất. Địa lợi là không gian, địa lý, khu vực v.v. cho ta biết được thực hiện một kế hoạch ở nơi nào là lý tưởng nhất. Nhân hòa là mối quan hệ giữa các thành viên với nhau từ trong gia đình đến ngoài xã hội. Thần trợ là những thông tin, tính hiệu trừu tượng mà chúng ta không quan sát được như trường vũ trụ, yếu tố may mắn v.v. thông qua đó ta biết được công việc mà chúng ta đang quan tâm có “ quý nhân phù trợ” hay không. Cấu trúc là yếu tố biểu thị xu hướng của sự việc mà nhờ đó chúng ta có thể tiên tri được sự việc đó diễn tiến như thế nào.

 

Trong lịch sử hình thành và phát triển của Kỳ môn Độn giáp, ngoài những ứng dụng trong lĩnh vực quân sự, các ứng dụng trong lĩnh vực khác cũng rất phong phú và đa dạng, các ví dụ mà người xưa để lại cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Học kỳ môn nhằm để dự báo, hoạch định kế hoạch phát triển cá nhân và đưa ra hướng giải quyết các vấn đề trong cuộc sống con người ta hay gặp phải.

Ví dụ: ốm đau bệnh tật, hôn nhân gia đình, học tập thi cử, công ăn việc làm, kinh doanh, đầu tư, kiện cáo, môi trường địa lý, công danh sự nghiệp, hoạch định và đánh giá chiến lược phát triển kinh doanh của cá nhân, công ty. Có thể nói rằng biết được Kỳ môn tức là biết được những gì mình muốn biết.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Thảo luận về Kì Môn Độn Giáp

Ngũ bất táng - táng vào chỉ có hung huyệt

Ngũ bất táng còn gọi là ngũ hại, chỉ 5 loại núi không tụ khí, an táng sẽ bất lợi. Khi xem nơi đặt huyệt mộ cho người thân nên chú ý để tránh ra.
Ngũ bất táng - táng vào chỉ có hung huyệt

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


5 loại núi không nên an táng gồm: đồng sơn, đoạn sơn, thạch sơn, độc sơn, quá sơn.
  1. Đồng sơn Màu đất khô cháy, cây cỏ không mọc được, núi trọc. Núi như vậy thì đất khô, mạch kiệt, không thể sinh khí, là loại núi nên tránh khi táng mộ.
 
2. Đoạn sơn Thế núi gãy ngang, sinh khí đi theo mạch đất; thế mạch gãy, sinh khí đứt đoạn, là loại núi không nên chôn cất.
 
3. Thạch sơn (núi đá) Đất kết huyệt không thể là vách núi cheo leo, hoặc núi đá nhô nổi. Đây là nơi oán khí trong núi đá sinh ra, đất nhiều sát khí, là nơi không nên an táng. Tuy nhiên, nếu chất đá mềm, vân đá ấm mượt, màu sắc tươi lại là cát địa.
 
4. Quá sơn Thế núi không dừng, giống như lao đi, khí cũng giống như là khách ra đi, do vậy mà sinh khí không còn. Đó là nơi không nên an táng.
 
5. Độc sơn  Mạch long cô độc, núi không có thế bao bọc huyệt mộ, các dòng nước không tụ, không có núi Thiếu Tổ, núi Thái Tổ, núi Phụ Mẫu. Nơi như thế thì chỉ nên xây đền chùa, miếu mạo và là thế núi không nên an táng.
ST

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Ngũ bất táng - táng vào chỉ có hung huyệt

Đặc tính sao Hóa Quyền - Quyền thế, năng lực

Cung Mệnh có sao Hóa Quyền thì thông minh, có tài chỉ huy, được nhiều người kính nễ, tùng phục, cương quyết, tháo vát, có quyền hành hoặc có thế lực.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Đặc tính sao Hóa Quyền - Quyền thế, năng lực

Đặc tính sao Hóa Quyền - Quyền thế, năng lực

Tìm hiểu về đặc tính của sao Hóa Quyền trong Tử Vi

Thuộc tính âm dương ngũ hành của sao Hóa Quyền là dương mộc, hóa khí là quyền thế, chưởng quản việc sinh sát, chủ về quyền thế, tháo vát. Hóa Quyền còn có hàm nghĩa mở rộng là kiên định, hiển lộ là quan quý, có thể cụ thể hóa quyền thế.

Sao Hóa Quyền Thuộc mộc, ưa gặp Cự Môn, Vũ Khúc, chủ về hiển đạt nghiệp võ, nắm giữ binh quyền. Hóa Quyền trấn tại cung mệnh, cung thân, nếu gặp Hóa Lộc, Hóa Khoa thì sẽ làm quan to. Nếu gặp Hóa Khoa, sẽ có tài văn chương xuất chúng, nếu gặp thêm các sao Văn Xương, Văn Khúc, thi cử sẽ đỗ đạt cao.

Trong ba sao Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, chỉ có sao Hóa Quyền là không sợ bị sao Hóa Kỵ xung phạm, gặp Hóa Kị chỉ làm tăng thêm phần khó khăn vất vả, nhưng sau cùng có thể khắc phục được, nhất là khi chính tinh miếu vượng Hóa Quyền thì càng không dễ bị sao Hóa kị gây ảnh hưởng.

Nam mệnh trong vận hạn gặp ba sao Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, ắt sẽ có biểu hiện tiến bộ. Có điều nữ mệnh thì do giỏi giang tháo vát quá mức, lấn át cả đàn ông, nên ảnh hưởng tới chuyện tình cảm và đời sống hôn nhân.

Sao Hóa Quyền nhập miếu tại cung Sửu (thuần hậu và không bị sát tinh); đắc địa tại cung Mão và cung Thìn (là phúc, sợ sát tinh); miếu tại hai cung Dần, Mùi (phúc đến chậm, sợ sát tinh), bình hòa tại bốn cung Thìn, Ngọ, Tỵ, Hợi; không đắc địa tại ba cung Thân, Dậu, Tý.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Đặc tính sao Hóa Quyền - Quyền thế, năng lực

Luận dụng thần

Một bài viết về luận dụng thần của tác giả Hoàng Đại Lục. Mời các bạn cùng đọc.
Luận dụng thần

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tác giả: Hoàng Đại Lục

Dụng thần là gì? Học giả mệnh lý hiện đại hầu như đều nhất chí cho rằng: Dụng thần tức là mấu chốt của bát tự, là một hai loại ngũ hành co thể gây nên những tác dụng phù ức, điều hậu, thông quan trong bát tự. Hoặc có thể nói, dụng thần chính là "thần" có thể làm cân bằng ngũ hành bát tự, có ích với nhật chủ, nói gọn là dụng thần cân bằng.

Lật giở các thư tịch mệnh lý hiện đại, chúng ta sẽ phát hiện đa số tác giả đều dùng phần lớn số trang sách để luận thuật tác dụng quan trọng của dụng thần và cả phương pháp lựa chọn dụng thần. Các vị ấy còn cho rằng dụng thần không thể bị tổn thương được, dụng thần mà có lực thì mệnh chủ sẽ cát, dụng thần bị thương thì mệnh chủ sẽ hung, do đó điều cơ bản nhất, quan kiện nhất, khó khăn nhất khi xem mệnh chính là tìm đúng dụng thần. Ví dụ như cuốn "Tứ trụ bác quan" do hai vị tiên sinh Lăng Chí Hiên và Trương Chí Xuân biên soạn, trong đoạn "Tường luận dụng thần" có nói: "Hạch tâm trung khu của tứ trụ mệnh lý học là ở tìm dụng thần, muốn biết sự gập ghềnh khúc khuỷu của đường đời nhân sinh, toàn phải nhờ vào dụng thần làm tọa độ để miêu tả. Tìm không ra tọa độ dụng thần, hoặc tìm sai tọa độ dụng thần sẽ thành " Một chữ sai, toàn bàn sai hết". Có thể nói quan điểm về dụng thần của cuốn này đã đại biểu cho mệnh lý hiện hành.

Thế nhưng, muốn tìm đúng cái dụng thần cân bằng này lại là một chuyện khó khăn dị thường. Bởi vì tiền đề của tìm dụng thần đầu tiên là phải nắm bắt chuẩn xác trình độ vượng suy cường nhược của ngũ hành trong bát tự. Mà sự vượng suy cường nhược của ngũ hành trong bát tự lại tùy theo sự giới nhập của tuế vận mà biến hóa không ngừng, muốn cân đo đong đếm nó khác nào đi cân đo đong đếm con khỉ có bảy mươi hai phép thần thông biến hóa! Cho nên thường ba vị mệnh sư phân tích cùng một bát tự sẽ đưa ra hơn ba kiểu vượng suy kết luận. Thế thì cũng như không có kết luận! Lăng Chí Hiên tiên sinh cũng vì thế mà vô cùng đau đầu, ông nói trong cuốn "Tứ trụ bác quan" rằng: "Cho dù là cao thủ mệnh lý đi nữa, khi họ đối diện với một số mệnh tạo có cách cục đặc thù hoặc sự cường nhược không rõ ràng thì cũng cảm thấy bó tay... Người viết cũng từng gặp qua những trường hợp kiểu này, tụ tập bảy tám vị dịch hữu cùng thảo luận, kết quả là mỗi người nói mỗi phách, chẳng ai chịu nhường ai, ai cũng phô ra một kiểu lý luận của riêng mình, cãi lý cả một ngày cũng không giải quyết được vấn đề. Thế đấy, có phải muốn phán đoán chính xác trình độ vượng suy cường nhược của ngũ hành bát tự còn khó hơn Phật Bà phán đoán Tề Thiên thật và Tề Thiên giả không nhỉ?

Nói cách khác, cho dù có ai vào một ngày nào đó dùng tuyệt kỹ tìm dùng thần này mà xem mệnh thì tỷ lệ chuẩn xác chưa chắc đã cao. Tại sao vậy? Đầu tiên, các cách như nhất khí chuyên vượng cách, tòng cường cách, tòng Sát cách, tòng Tài cách, tỉnh lan xoa cách, v.v... vốn không cần đến sự cân bằng ngũ hành của bát tự, cái gọi là dụng thần cân bằng không có chỗ dùng trong các loại cách này. Kế tới, cho dù là mệnh cách thông thường cần ngũ hành cân bằng, chỉ cần bát tự kết cấu không thỏa đáng, phá hoại mất cách cục thì cho dù thân cường Tài vượng hay thân Sát lưỡng đình đi chăng nữa mà dùng dụng thần cân bằng cũng khó đoán chuẩn cát hung họa phúc của người ta. Cho dù là danh sư nhiều năm nghiên cứu mệnh lý cũng không ngoại lệ. Tác giả bộ "Bát tự chân quyết khởi thị lục" là Tống Anh Thành tiên sinh trong bài "Nghiên cứu hỷ dụng thần" đã cảm khái nói: "Tác dụng của dụng thần đôi khi làm người ta cảm thấy khó hiểu, đi đến vận trình của hỷ dụng thần, chẳng những không thăng quan phát tài mà còn bị hao tổn trầm trọng, cơ hàn đói rách, có phải là hỷ dụng thần mà chúng ta chọn khác hẳn với hỷ dụng thần chân chính? Nghĩ tới đây hèn gì có người nghiên cứu hết bao nhiêu kinh thư cổ tịch mà vẫn không thể đột phá."

Nghe câu trên mà thấy rầu! Trải qua chín chín tám mươi mốt tai nạn mới lấy được chân kinh, ấy thế mà "nghiên cứu hết kinh thư cổ tịch mà vẫn không thể đột phá"! Cố gắng hết sức mới chọn được dụng thần mà không xài được!

Để tìm đột phá khẩu, giải cứu dụng thần cân bằng ra khỏi tình huống khó xử, có học giả bèn không thèm chấp vào cách chỉ chọn một dụng thần nữa, mà chọn mấy loại dụng thần từ trong một mệnh, nào là đại dụng thần, tiểu dụng thần, hoặc dụng thần thứ nhất, dụng thần thứ hai, dụng thần thứ ba, hoặc dụng thần cân bằng, dụng thần điều hậu, dụng thần cách cục v.v..., muốn đem càng nhiều dụng thần hơn nữa vô để bịt những lỗ hổng xuất hiện liên tục trong khi dự đoán. Dùng dụng thần cân bằng không thể xử được, bèn dùng dụng thần điều hậu và dụng thần cách cục để xử lý. Ví dụ như nhà mệnh lý học trứ danh là Lương Tương Nhuận tiền bối trong cuốn "Tế phê chung thân tường giải" đã dùng nhiều loại dụng thần để phê mệnh. Ông đã dùng dụng thần điều hậu của Dư Xuân Đài, lại còn dùng dụng thần cách cục của Thẩm Hiếu Chiêm (nhưng không chuẩn), hãy còn dùng dụng thần cân bằng của "Kim Bất Hoán" (thực ra cũng không phải nốt), kết hợp thêm với cả tứ giác hình xung hợp hội, thần sát, nạp âm, v.v... hổ lốn các phương pháp, thậm chí còn bao gồm cả những ngón vụn vặt xác suất trúng cực thấp như "Diễn cầm phu thê - tử nữ biểu".

Cái kiểu dùng nhiều loại dụng thần để xem mệnh này tuy có thể cầm cự được khiếm khuyết do chỉ dùng một dụng thần gây ra, nhưng phương pháp này tự thân nó lại không thể giải quyết được vấn đề mới nảy sinh như sau:

1. Dụng thần đã là mấu chốt của bát tự, thế thì, tổn hại dụng thần có ý nghĩa phá vỡ sự cân bằng ngũ hành trong bát tự, từ đó khiến mệnh chủ gặp tai nạn, đây là quan điểm được tuyệt đại đa số các học giả mệnh lý đồng ý. Nếu sử dụng nhiều dụng thần để đoán mệnh sẽ đồng thời xuất hiện nhiều điểm cân bằng, nhiều điểm mấu chốt. Vấn đề là, nhiều điểm cân bằng ấy có phải quan trọng như nhau không? Giả thiết câu trả lời là khẳng định, thế thì mỗi khi tuế vận phá vỡ bất cứ một điểm cân bằng nào trong đó, cả mệnh cục sẽ mất cân bằng, thế thì các điểm cân bằng còn lại có còn được gọi là điểm cân bằng nữa không? Còn tính là mấu chốt của bát tự nữa chăng?

2. Nếu như quyền lợi của nhiều dụng thần không đồng đẳng, thì cũng như Thị trưởng, Phó Thị trưởng và Trợ lý Thị trưởng vậy, quyền lợi to nhỏ khác hẳn nhau, thế thì, quyền lợi của loại dụng thần nào mới là to nhất? Lương Tương Nhuận tiên sinh cho rằng: "Điều hậu chi dụng, vi bát tự đệ nhất yếu nghĩa". Ông cho rằng dụng thần điều hậu là quan trọng bậc nhất. Thế mà trong "Kim Điếu Thùng" thì nói: "Nếu nhập cách thì lấy quí mà đoán, phá cục thì lấy bần mà đoán, nếu như cách (và) cục bị thương tổn phá hoại sẽ không cát, dù cho có cơ hội hồi thiên chuyển trục thì cũng không thể kiến công lập nghiệp được." Kim Điếu Thùng (Durobi chú thích: Danh gia mệnh lý thời xưa, có viết quyển Lão Kim Điếu Thùng) đem thành cách phá cách xem là tối quan trọng. Thường các mệnh lý học giả cho rằng cân bằng ngũ hành trong bát tự là điều tối quan trọng, và cho điều hậu dụng thần chỉ sử dụng trong trường hợp đặc biệt,, còn cách cục thì lờ luôn, luận cũng được không luận cũng được. Trước ba cách nói như trên, kẻ hậu học biết nghe ai đây nhỉ?

3. Mỗi khi nhiều loại dụng thần xảy ra giao tranh trên cùng một mệnh cục thì phải xử lý thế nào? Ví dụ ngày Canh kim sinh tháng Ngọ, là Chính Quan cách, nếu muốn thủy điều hậu, thủy là Thực Thương, chẳng phải đã phá Chính Quan cách hay sao? Lại ví dụ Tỉnh Lan Xoa cách, ba ngày Canh Tý Canh Thìn Canh Thân, sinh vào tháng Tý, địa chi Thân Tý Thìn toàn đủ, theo lý thuyết phải dùng hỏa để điều hậu, kim thủy Thương Quan hỷ kiến Quan mà, nhưng cách này lại yêu cầu không được gặp hỏa, ca quyết nói: " Tỵ Ngọ Mùi lâm thì đắng cay, Nhâm Quí phá, Bính Đinh xung, trụ và vận không gặp sẽ hiển danh". Câu này ý gặp Tỵ Ngọ Bính Đinh hỏa thì phá cách. Điều hậu dụng thần không hề được hoan nghênh ở đây. Lúc này điều hậu dụng thần có còn là dụng thần nữa không? Nếu bị thương khắc, mệnh chủ sẽ gặp tai hay không? Còn nữa, lúc dụng thần cân bằng và dụng thần cách cục phát sinh giao chiến thì phải hy sinh ai đây? Những vấn đề này đều là những nút thắt cứng của những ai theo thuyết dùng nhiều dụng thần, không ai thể gỡ được, kể cả chính họ.

Một dụng thần không được, nhiều dụng thần cũng không xong, phải làm sao bây giờ? Có người chủ trương phương pháp sau tiết Đông Chí thì đổi trụ năm, có người đề xướng đại vận không phân biệt nam nữ đều thuận hành, Lữ Văn Nghệ tiên sinh ở Sơn Đông kiên quyết chủ trương phế trừ cổ pháp, thứ nhất không bàn vượng suy, thứ hai không bàn cách cục, thứ ba không bàn dụng thần, thứ tư không bàn thần sát, chỉ dùng chiêu sinh khắc "Lữ thị bát tự mệnh lý" là xong. Nhưng, chẳng lẽ môn đoán mệnh của Từ Tử Bình thật vô dụng vậy sao? Các vị toán mệnh tiên sinh từ xưa tới giờ đều không có công phu thực sự hay sao? Hay là chúng ta đã nhầm lẫn điểm quan trọng nào đó? Như Tống Anh Thành tiên sinh nói: "Có phải chăng hỷ dụng thần mà chúng ta đã dùng khác hẳn với hỷ dụng thần thực sự?"

Vâng, chính xác là như vậy! Người viết sau khi nghiên cứu nghiêm túc, phát hiện hỷ dụng thần của hiện đại mệnh lý và hỷ dụng thần của mệnh lý cổ điển là hai thứ hoàn toàn khác nhau! Có ba chứng cứ như sau:

Thứ nhất, trong ba bộ mệnh lý cổ điển "Uyên Hải Tử Bình", "Tam Mệnh Thông Hội" và "Thần Phong Thông Khảo", không hề tìm thấy cái mà hiện đại mệnh lý gọi là dụng thần! Lật bất cứ sách mệnh lý hiện hành nào chúng ta cũng có thể thấy những chương tiết chuyên luận thuật về dụng thần, từ khái niệm về dụng thần phương pháp chọn dụng thần đều được giới thiệu kỹ càng. Nhưng trong các mệnh lý kinh điển như "Uyên Hải Tử Bình" v.v... lại không thấy bất cứ chương tiết nào chuyên luận thuật về dụng thần, cho dù là một đoạn ngắn cũng không có! Những loại "dụng thần" có tác dụng phù ức, điều hậu, thông quan không hề tìm thấy bất cứ chứng cứ nào trong ba quyển sách mệnh lý cổ này. Trời ạ, dụng thần là thứ quan trọng không thể thiếu được như thế, vậy mà cổ nhân lại không hề có một chuyên đề nào để giới thiệu, có phải là rất kỳ quặc không nhỉ? Đối với mệnh lý hiện hành mà nói, đoán mệnh mà không nhắc tới dụng thần thì chỉ là một kẻ a ma tơ. Thế nhưng tổ tông môn Tử Bình của chúng ta là Từ Tử Bình trong cuốn "Uyên Hải Tử Bình" sao không thấy nhắc tới vấn đề dụng thần vô cùng quan trọng này? Dù có kiệm lời tới đâu thì ít ra cũng để lại một đoạn ngắn chứ? Tiếc rằng chúng ta tìm nát trong mấy cuốn sách mệnh lý cổ kia mà vẫn không thấy! Cái mà chúng ta thấy là cổ nhân dùng đến một phần ba cuốn sách để nói đến cách cục, chuyện này thì sách mệnh lý hiện hành không hề có. Điều này chứng tỏ cái gì? Chứng tỏ rằng chỉ có một khả năng, đó chính là trong sách mệnh lý cổ điển căn bản là không hề có loại dụng thần cân bằng ngũ hành bát tự, nếu như có dụng thần thì e rằng dụng thần chính là cách cục.

Thứ hai, dụng thần của mệnh lý lưu hành hiện đại và dụng thần trong sách mệnh lý cổ điển, đặc trưng của cả hai hoàn toàn không phù hợp nhau. Chủ yếu biểu hiện trong ba mặt sau:

1. Dụng thần của mệnh lý hiện hành đặc trưng chính yếu ở chỗ tính bất khả tổn hại của nó. Dùng lời của Chung Nghĩa Minh tiên sinh trong cuốn "Bát Tự Khí Số Mệnh Lý Học" rằng: "Dụng thần là linh hồn của bát tự", "Nên dụng thần không thể bị thương tổn đến, không bị khắc hại hình xung v.v...". Thế nhưng cổ nhân trong "Tứ Ngôn Độc Bộ" lại chỉ ra rằng: "Cách cách thôi tường, dĩ Sát vi trọng, chế Sát vi quyền, hà sầu tổn dụng". Ý của "Hà sầu tổn dụng" chẳng phải là không sợ tổn hại đến dụng thần hay sao? Trong "Nguyệt Đàm Phú" cũng nói: " Cách hữu khả thủ bất khả thủ, dụng hữu đương khí bất đương khí". Nói rõ có lúc cần đến là có thể vứt luôn dụng thần.

2. Dụng thần của mệnh lý hiện hành, đặc trưng thứ yếu của nó là tính thiểu lượng. Nghĩa là dụng thần đã là điểm cân bằng ngũ hành bát tự thì dụng thần sẽ không thể là ngũ hành chiếm số lượng nhiều, bởi vì tổng cộng chỉ có tám chữ, số lượng nhiều lên sẽ phá vỡ cân bằng mà trở thành bệnh trong mệnh cục, cho nên dụng thần thường chỉ chiếm một hai chữ trong mệnh cục, không thể nhiều hơn. Cũng bởi vì phân lượng dụng thần ít cho nên mới sợ bị tổn hại! Thế mà nguyên chú của chương Thể dụng trong "Tích Thiên Tủy" nói: "Nhị tam tứ ngũ dụng thần giả, đích phi diệu tạo". Có nghĩa một bát tự mà có ba bốn năm dụng thần thì không phải mệnh tốt. "Cùng Thông Bảo Giám - Tam xuân Giáp mộc luận" nói: "Phàm dụng thần quá nhiều, không nên khắc chế, tiết đi mới hay". Câu này chúng ta còn có thể tìm thấy trong "Tam Mệnh Thông Hội". Vậy đấy, dụng thần trong sách mệnh lý cổ điển hóa ra còn có lúc đạt đến bốn năm cái, mà còn tiết đi mới tốt nữa!

3. Dụng thần trong mệnh lý hiện hành đặc tính thông thường của nó là tính chỉ có ích mà không có hại. Mệnh lý hiện hành cho rằng bất kể là Tài Quan Ấn Thực hay là Sát Thương Kiêu Nhận, chỉ cần khi được chọn làm dụng thần thì chỉ có ích mà không có hại, giữa chúng không có phân biệt thiện và ác, đã là dụng thần thì không thể bị khắc. Nhưng, dụng thần của cổ nhân không như thế. Chương Luận dụng thần trong "Tử Bình Chân Thuyên" viết: "Tài Quan Ấn Thực, thử dụng thần chi thiện, nhi thuận dụng chi giả dã. Sát Thương Kiêu Nhận, thử dụng thần chi bất thiện, nhi nghịch dụng chi giả dã". Có nghĩa là Tài Quan Ấn Thực là bốn dụng thần thiện, phải bảo hộ nó mà sử dụng. Mà Sát Thương Kiêu Nhận là bốn dụng thần ác, phải chế ước nó mà sử dụng. Đấy, loại dụng thần như vầy thì mệnh lý hiện hành chắc là không có nhỉ!

Thứ ba, cách dùng của dụng thần trong mệnh lý hiện hành và dụng thần trong sách mệnh lý cổ điển không giống nhau. Mệnh lý hiện hành cho rằng sự vượng suy cường nhược và bị khắc hay không của dụng thần vừa quyết định sự phú quí bần tiện của mệnh chủ và cũng chủ tể cát hung họa phúc của mệnh chủ, tác dụng của nó không có thứ nào khác có thể so sánh được. Nhưng chương Luận tướng thần khẩn yếu trong cuốn "Tử Bình Chân Thuyên" lại chỉ rõ: "Thương dụng thậm ư thương thân, thương tướng thậm ư thương dụng". Ý là thương hại đến dụng thần còn gay go hơn thương hại đến nhật nguyên, mà thương hại đến tướng thần còn gay go hơn thương hại đến dụng thần. Có thể thấy còn có tướng thần quan trọng hơn cả dụng thần. "Ngũ Ngôn Độc Bộ" lại nói: "Có Sát chỉ luận Sát, không có Sát mới luận dụng thần". Ý gì nhỉ? Có Thất Sát chẳng lẽ có thể không cần luận dụng thần hay sao? Câu này mệnh lý hiện hành không giải thích nổi. Trong "Bảo Pháp - Quyển nhị" cũng nói: " Phàm thuật xem Tử Bình, thủ cách bất định, thì xem mười sai đến chín". Chú ý nhé, ở đây nói "Thủ cách bất định" chứ không nói "Thủ dụng bất chuẩn" nhé! Có phải cổ nhân thủ cách (chọn cách cục) rõ là hiệu nghiệm hơn chúng ta ngày nay chọn dụng thần không? Thiên mở đầu của "Tinh Vi Thiên" nói: "Phàm khán nhân mệnh, chuyên luận cách cục. Phùng Quan khán Tài, kiến Tài nhi phú quí. Phùng Sát khán Ấn, hữu Ấn dĩ vinh hoa". Ở đây chỉ cường điệu "Chuyên luận cách cục" chứ không phải chuyên luận dụng thần nhé! Mà còn nói thẳng gặp Quan xem Tài, gặp Ấn xem Quan, không như mệnh lý hiện hành ngày nay trước hết phải xem thân vượng thân nhược, thân vượng thì dụng Tài Quan, thân nhược thì dụng Ấn Tỷ. Tại sao cổ nhân không chú trọng đến tiền đề quan trọng là xem thân vượng thân nhược vậy? Tại sao không nói "Phàm thuật xem Tử Bình, thủ dụng bất chuẩn (xác), xem mười sai hết chín"? Nguyên nhân thì chỉ có một thôi, đó chính là dụng thần mà cổ nhân nói tới khác xa lắc xa lơ với dụng thần mà ngày nay chúng ta nói!

Dông dài hồi lâu, chắc độc giả cũng muốn hỏi thế dụng thần trong sách mệnh lý cổ điển là gì thế?

Kỳ thực, định nghĩa dụng thần của cổ nhân rất đơn giản, tức: Dụng thần chính là vật khả dụng của nguyệt lệnh. Hai chữ "khả dụng" này có hai tầng ý nghĩa, một là có những thứ gì có thể dùng? Hai là dùng vào việc gì?

Nguyệt lệnh có những thứ gì có thể dùng? Có sáu thứ có thể dùng, tức: Tài, Quan, Ấn, Sát, Thực, Thương. Dùng vào việc gì? Dùng để cấu thành CÁCH CỤC. Tức là, dụng thần mà cổ nhân nói tới, kỳ thực chính là VẬT mà nguyệt lệnh dùng đến để cấu thành cách cục.

"Tử Bình Chân Thuyên - Luận dụng thần" nói rằng: "Bát tự dụng thần, chuyên cầu nguyệt lệnh. Dĩ nhật can phối nguyệt lệnh địa chi, nhi sinh khắc bất đồng, cách cục phân yên". "Thần Phong Thông Khảo - Thủ cách chỉ quyết ca đoán" nói rằng: "Dĩ nhật vi chủ bản, nhi thủ đề cương vi dụng. Thứ cập niên nguyệt nhật vi thực, phùng Quan khán Tài, phùng Tài khán Sát, phùng Sát khán Ấn, phùng Ấn khán Quan". "Bảo Pháp - Quyển nhị" nói: "Tử Bình chi thuật, dĩ nhật tử vi chủ, tiên khán đề cương vi trọng, thứ dụng niên nguyệt nhật thời chi, hội thành cách cục phương khả đoán chi, giai dĩ nguyệt lệnh vi dụng, bất khả dĩ niên thủ cách". Những lời trên của cổ nhân khi nói đến dụng thần, tất cả đều nhấn mạnh tìm ở nguyệt lệnh, các sách đều coi dụng thần với cách cục làm một. Chúng ta chớ có tưởng rằng cổ nhân nói không rõ ràng, không logic (như Từ Lạc Ngô đại sư tưởng thế), nói không rõ sự tồn tại của dụng thần cân bằng nào là phù ức, điều hậu, thông quan. Thực ra trong mắt cổ nhân, dụng thần chính là vật mà nguyệt lệnh dùng để cấu thành cách cục, hoặc nói dụng thần và cách cục là một.

Chính bởi vì dụng thần chỉ là vật mà nguyệt lệnh dùng để định cách, không phải ở bất cứ vị trí nào khác dùng để cân bằng ngũ hành bát tự, cho nên cổ nhân mới gồm dụng thần và cách cục vô làm một, và đem cách cục vật khả dụng của nguyệt lệnh gọi là nội cách, mà cách cục vật không khả dụng của nguyệt lệnh gọi là ngoại cách (xin tham khảo cuốn "Tử Bình Chân Thuyên Bản Nghĩa của tác giả). Chúng ta biết rằng mệnh lý hiện hành chọn dụng thần không chú trọng đến nguyệt lệnh, cho nên cách cục không phân làm nội cách và ngoại cách, hoặc nói không rõ nguyên do sự phân chia nội cách ngoại cách.

Chính bởi vì dụng thần là vật khả dụng của nguyệt lệnh, không hề là mấu chốt của cả bát tự, cho nên có lúc xuất hiện hiện tượng "dụng thần quá nhiều", dụng thần đã quá nhiều thì mới có câu " dụng thần có cái bỏ đi có cái không thể bỏ đi" và "ngại gì mà không tổn đến dụng thần (hà sầu tổn dụng)", thế mới xuất hiện cách cục câu "Khí Ấn tựuTài", "Khí Quan tựu Thực" v.v... Nếu không thì theo lối suy nghĩ của mệnh lý hiện hành thì chẳng ai giải thích rõ được mấy câu trên.

Chính bởi vì dụng thần là vật khả dụng của nguyệt lệnh, không nhất định là thứ có ích đối với nhật chủ, cho nên dụng thần mới phân thiện và ác, với thiện dụng thần Tài, Quan, Ấn, Thực phải sử dụng với tính chất phù trợ, đối với ác dụng thần Sát, Kiêu, Thương, Nhận thì phải sử dụng có tính chế ước. Cho nên "Ngũ Ngôn Độc Bộ" mới nói " Có Sát thì trước tiên luận Sát, không có Sát mới luận dụng", là bởi vì "Các cách suy cho rõ, lấy Sát làm trọng" ấy mà. Dụng thần của mệnh lý hiện hành phải luận trước cả Sát, lại còn không được chế ước Sát nữa.

Có người phản bác: Trong "Thần Phong Thông Khảo" tuy không có chương tiết chuyên luận dụng thần, nhưng còn có "Bệnh dược thuyết" trứ danh đấy thôi? Trương Nam nói "Dược" chẳng phải là dụng thần của mệnh lý hiện hành hay nói hay sao?

Đúng, mệnh lý hiện hành hay lấy thuyết bệnh dược của Trương Nam để mượn làm dụng thần cân bằng. Nhưng nếu chúng ta đọc kỹ nguyên văn sẽ phát hiện "Dược thần" mà Trương Nam nói chẳng phải là dụng thần cái gì cả. Nguyên văn: "Như dụng Tài kiến Tỷ Kiếp vi bệnh, hỷ kiến Quan Sát vi dược dã. Như dụng Thực Thần Thương Quan, dĩ Ấn vi bệnh, hỷ Tài vi dược dã". Ở đây chẳng phải rõ ràng nói trước "Dụng Tài", sau đó mới nói "Kiến Tỷ Kiếp vi bệnh, hỷ kiến Quan Sát vi dược" hay sao? Câu sau "Như dụng Thực Thần Thương Quan", cũng chính là lấy Thực Thần Thương Quan làm dụng thần. Tài là dụng, Tỷ Kiếp là bệnh, Quan Sát là dược ; Thực Thương là dụng, Ấn là bệnh, Tài là dược, ý quá rõ rồi gì nữa? Còn lý do nào để nói dược thần của Trương Nam chính là dụng thần không?

Kỳ thực, dược thần của Trương Nam chính là "Tướng thần" mà "Tử Bình Chân Thuyên" đã nói tới, chẳng qua Trương Nam không gọi nó là tướng thần mà thôi.

Có lẽ sẽ còn có người lấy những câu bình chú của Nhậm Thiết Tiều trong "Tích Thiên Tủy" để phản bác lại, Nhậm nói: "Ví như nhật chủ vượng, đề cương là Quan là Tài hoặc Thực Thương, đều có thể làm dụng. Nhật chủ suy, đừng tìm tứ trụ can chi vật có giúp thân làm dụng...". Dụng thần mà ông nói ở đây chẳng phải dụng thần cân bằng mà mệnh lý hiện hành hay nói sao?

Đúng, sự ra đời của mệnh lý hiện đại e phải lấy Nhậm Thiết Tiều làm công đầu. Vốn nguyên văn "Tích Thiên Tủy" và các sách cổ điển như "Uyên Hải Tử Bình" là nhất mạch tương thừa, nhưng qua tay hậu nhân chú thích, đặc biệt là sau khi qua tay Nhậm lão tiên sinh chú thích, thì cuốn "Tích Thiên Tủy" đã trở thành nền móng cho mệnh lý hiện hành.

Nhậm Thiết Tiều chú thích chương Bát cách trong cuốn "Tích Thiên Tủy": "Bát cách giả, mệnh trung chính lý dã. Tiên quan nguyệt lệnh sở đắc hà chi, thứ khán thiên can thấu xuất hà thần, tái cứu tư hà lệnh dĩ định chân giả, nhiên hậu thủ dụng, dĩ phân thanh trọc, thử thực y kinh thuận lý, nhược nguyệt phùng Lộc Nhận, vô cách khả thủ, tu thẩm nhật chủ chi hỷ kỵ, lánh tầm biệt chi thấu xuất thiên can giả, tá dĩ vi dụng". (Tám cách là chính lý trong mệnh. Trước phải xem nguyệt lệnh là chi gì, sau xem thiên can thấu xuất thần gì, tiếp coi cái gì nắm lệnh để định thật giả, sau đó chọn dụng thần để phân chia sự thanh trọc, đó thực là thuận lý theo kinh sách, nếu nguyệt lệnh là Lộc Nhận thì không chọn được cách, phải xem xét hỷ kỵ của nhật chủ mà tìm chi khác thấu thiên can mượn đỡ mà dùng). Có thể thấy, phương pháp thủ dụng định cách của họ Nhậm là cơ bản thống nhất với phương pháp "Bát tự dụng thần, chuyên cầu nguyệt lệnh", "Nguyệt Kiếp vô dụng, lánh tầm ngoại cách" trong "Tử Bình Chân Thuyên". Tiếc thay, họ Nhậm không hề thông hiểu mật pháp luận cách cục truyền thống này ("Tích Thiên Tủy" luận cách không kỹ càng bằng "Tử Bình Chân Thuyên"), trong khi gặp khó khăn trong lúc luận mệnh, ông đã không kiên trì giữ vững phương pháp này nữa. Cho nên ông sau chương "Bát cách" lại nói rằng: "Từ mấy mệnh trên có thể thấy, cách cục không thể chấp nhất. Không nên câu thúc ở các cách Tài Quan Ấn..., không liên can gì đến nhật trụ, vượng thì nên ức chế, suy thì nên phù trợ, Ấn vượng tiết Quan mừng Tài tinh, Ấn suy gặp Tài mừng Tỷ Kiếp, đây là phương pháp không thay đổi được". Hèn gì, kiểu phương pháp luận mệnh khinh cách cục, trọng cân bằng này của Nhậm Thiết Tiều chính là lam bản cho mệnh lý hiện hành ngày nay.

Còn chuyện nữa càng khiến người ta tiếc rẻ, sau Nhậm Thiết Tiều là Từ Lạc Ngô đại sư, ông chú thích "Tích Thiên Tủy" mà vô cùng sai lệch nguyên chú, làm cho kẻ hậu học dễ hiểu nhầm nguyên văn, từ đó trượt luôn vào vũng lầy mệnh lý hiện hành. Ví dụ như chương "Thể dụng" của "Tích Thiên Tủy" nguyên chú thích nói rằng: "...nhi nhị tam tứ ngũ dụng thần giả, đích phi diệu tạo". Ý là khi nguyệt lệnh dụng thần số lượng đạt tới bốn hoặc năm, như vậy thì không phải là mệnh tốt nữa. Ví dụ như nguyệt lệnh là Ấn tinh, khi có hai ba Ấn tinh nếu có Tài tinh khắc Ấn, cách cục sẽ thành "Khí Ấn tựu Tài" cách. Nếu Ấn lên tới bốn năm, Tài tinh sẽ không thể nào khắc Ấn được nữa, tốt nhất là dùng Tỷ Kiếp để tiết bớt Ấn, giống như ý của "Cùng Thông Bảo Giám" nói "Hễ dụng thần quá nhiều, không nên khắc chế, cần phải tiết đi mới hay". Nhưng nếu Ấn quá nhiều, một là không có Tài khắc, hai là không có Tỷ Kiếp hóa tiết, vậy nhất định không phải mệnh tốt rồi.

Ấy thế mà do Nhậm Thiết Tiều không hoàn toàn hiểu hết được khái niệm dụng thần này, cho nên khi ông phê chú đoạn trên bèn nói: "Nguyên chú nói rằng: hai ba bốn năm dụng thần thực không phải mệnh tốt. Đấy là nói bậy! Chỉ có tám chữ mà nếu khử đi bốn năm chữ dụng thần thì trừ nhật can ra chỉ có hai chữ không dùng, làm sao thế được!". Nghe ý ông là hiểu không thể có trường hợp một mệnh tạo mà có đến bốn năm dụng thần.

Từ Lạc Ngô đại sư cũng nói đế vào phụ cho họ Nhậm, nói rằng: "Như câu trong nguyên chú hai ba bốn năm dụng thần, họ Nhậm bài xích là phải. Dụng thần làm sao có hai được nói chi đến ba bốn năm dụng thần! (Xem chương Thể dụng tinh thần trong cuốn "Tích Thiên Tủy Bổ Chú của Từ Lạc Ngô)". Ông khăng khăng dụng thần chỉ có một mà thôi, tuyệt không có hai, nói gì đến bốn năm dụng thần! Ông đâu có biết, dụng thần mà nguyên chú "Tích Thiên Tủy" nói hoàn toàn không phải loại dụng thần mà ông và Nhậm Thiết Tiều nghĩ!

Thật là "Một chữ sai, toàn bàn hỏng bét", dụng thần mà sai rồi thì phương pháp luận mệnh cũng sai theo! Không ai ngờ và nghĩ được rằng như hai vị đại sư cấp nhân vật trong làng mệnh lý là Nhậm Thiết Tiều và Từ Lạc Ngô lại nhầm lẫn khái niệm hạch tâm nhất, cơ bản nhất, quan trọng nhất của mệnh học --- DỤNG THẦN!

Con rùa bò phía trước mở đường, con rùa phía sau bò theo. Cứ thế, ngàn ngàn vạn vạn kẻ hậu học theo sau đít hai ông Nhậm, Từ, thoát li khỏi tư tưởng chính tông của Từ Tử Bình, nhắm đến vũng lầy mệnh lý hiện hành vô biên vô tế phía trước mà tiến bước......

Lão Tử nói rất hay, "Ngũ sắc khiến người ta mù". Chỉ có mấy ông thầy bói mù (manh sư) mắt không nhìn được ngũ sắc nữa mới không mù quáng đi theo Nhậm, Từ. Họ đã không thể đọc các danh trước mệnh học của hai ông, cũng không thể tham duyệt tư liệu mệnh lý hiện hành, cho nên họ không bị bất cứ ảnh hưởng nào của mệnh lý hiện đại, vẫn cứ y theo phương pháp xa xưa của Tử Bình mệnh học. Có lẽ họ luận cách tinh xác không bằng "Tử Bình Chân Thuyên", hoặc họ mỗi người có một pho ca quyết luận mệnh cho riêng mình, nhưng khái niệm dụng thần và luận mệnh phép tắc là nhất mạch tương truyền với các kinh điển mệnh lý "Uyên Hải Tử Bình", "Thần Phong Thông Khảo", "Tam Mệnh Thông Hội", "Tử Bình Chân Thuyên" và "Tứ Ngôn Độc Bộ". Người viết quen biết một vị manh sư họ Dương, công phu của ông rất tinh thâm, nổi danh một vùng. Ông có thể thuộc lòng các ca quyết cổ điển như " Tứ Ngôn Độc Bộ", "Ngũ Ngôn Độc Bộ" và "Nguyệt Đàm Phú" v.v..., nhưng ông không hề biết tý gì về cái gọi là dụng thần cân bằng như phù ức, điều hậu, thông quan. Ông cũng giống như nhiều vị manh sư khác, bình thường chỉ nói về cách cục, không nói dụng thần, bởi vì ông giải thích rằng dụng thần chính là cách cục!

Đấy chính là bộ mặt thật của dụng thần, cho dù các thầy mệnh lý hiện đại mở miệng ra là nói tới nhưng cũng không biết tới nó!

Durobi dịch

Bổ sung chuyển từ Hán Việt ra Việt ngữ đoạn này, đoạn thứ 22 từ trên xuống, lúc dịch quên béng mất...

"Tử Bình Chân Thuyên - Luận dụng thần" nói rằng: "Bát tự dụng thần, chuyên cầu nguyệt lệnh. Dĩ nhật can phối nguyệt lệnh địa chi, nhi sinh khắc bất đồng, cách cục phân yên". "Thần Phong Thông Khảo - Thủ cách chỉ quyết ca đoán" nói rằng: "Dĩ nhật vi chủ bản, nhi thủ đề cương vi dụng. Thứ cập niên nguyệt nhật vi thực, phùng Quan khán Tài, phùng Tài khán Sát, phùng Sát khán Ấn, phùng Ấn khán Quan". "Bảo Pháp - Quyển nhị" nói: "Tử Bình chi thuật, dĩ nhật tử vi chủ, tiên khán đề cương vi trọng, thứ dụng niên nguyệt nhật thời chi, hội thành cách cục phương khả đoán chi, giai dĩ nguyệt lệnh vi dụng, bất khả dĩ niên thủ cách".

Chương Luận dụng thần trong sách Tử Bình Chân Thuyên nói rằng: " Dụng thần của bát tự, nên tìm ở lệnh tháng mà thôi. Lấy nhật can phối hợp với địa chi lệnh tháng, bởi do sinh khắc không giống nhau nên phân ra các loại cách cục".

Chương Thủ cách chỉ quyết ca đoán trong sách Thần Phong Thông Khảo nói rằng: "Lấy ngày làm thân gốc, mà lấy đề cương (lệnh tháng) làm dụng. Thứ đến lấy năm tháng ngày làm quả, gặp Quan thì phải xem Tài, gặp Tài thì phải xem Sát, gặp Sát thì phải xem Ấn, gặp Ấn thì phải xem Quan".

Quyển thứ hai của sách Bảo Pháp nói rằng: " Thuật xem Tử Bình, lấy ngày làm chủ, trước hết phải xem đề cương (lệnh tháng) là điểm quan trọng, kế đến dùng chi năm tháng ngày giờ, hội thành cách cục rồi mới có thể đoán, thường các trường hợp đều lấy lệnh tháng làm dụng, không được lấy năm để chọn cách.

(Nguồn: sưu tầm)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Luận dụng thần

4 lưu ý phong thủy ngoại cảnh đảm bảo nhà vừa đẹp vừa tốt

Chọn nhà hợp phong thủy là phải chọn ngay từ hình thái, địa thế nhà. Muốn có ngôi nhà tốt, hãy lưu ý 4 điểm trong phong thủy ngoại cảnh nhà ở dưới đây.
4 lưu ý phong thủy ngoại cảnh đảm bảo nhà vừa đẹp vừa tốt

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Chọn nhà hợp phong thủy là phải chọn ngay từ hình thái, địa thế nhà. Muốn có ngôi nhà tốt, hãy lưu ý 4 điểm dưới đây.


► Xem tuổi làm nhà để xây nhà thuận lợi, tránh tai ương

4 luu y phong thuy ngoai canh dam bao nha vua dep vua tot hinh anh 2
 
1. Nơi ở không nên quá cao, vượt trội hơn hẳn so với khu vực dân cư xung quanh, vì sẽ tạo thành thế phong thủy “hạc giữa bầy gà”, rất không tốt. Nhà có phong thủy đẹp là phải đăng đối, cân xứng với phong thủy chung của khu vực. Còn vượt lên trên là lâm vào thế cao ngạo, âm dương không hòa hợp. Nên dùng thước lỗ ban để xây nhà.   2. Nơi ở không nên quá lớn, với hai hàm nghĩa: một là tương ứng với nhà cửa của khu dân cư xung quanh, hai là tương ứng với số người trong nhà. Nhà quá lớn so với những nhà xung quanh tạo ra thế “nhất trạch độc đại”, âm dương thất hành do dương thịnh âm suy, là đại hung. Nhà ít người mà quá rộng thì phạm thế “Trạch đại nhân tiểu”, âm thịnh dương suy, gây ra hung họa.
3 nguyên tắc phong thủy phải nằm lòng năm 2016 Mua nhà không xem phong thủy, tiền thì mất mà tật vẫn mang Thuê nhà cũng cần xem phong thủy, có kiêng có lành
3. Nơi ở không nên quá phô trương, phục sức lộng lẫy, dáng vẻ nổi bật. Nếu ngôi nhà vượt trội và lạc lõng so với phong cách của những nhà bên cạnh thì phạm phải thế “tài vận xuất lộ”, ảnh hưởng tới tài vận trong nhà. Còn nhà mà nhô ra trước só với các nhà khác thì phạm lỗi phong thủy nhà ở “ thương đả xuất đầu điểu”, nhà thường xuyên vướng phải thị phi.
4 luu y phong thuy ngoai canh dam bao nha vua dep vua tot hinh anh 2
 
4. Nơi ở không nên khác loại, hình thái thiết kế quá kì dị, sắc thái quá rực rỡ, khác biệt về hướng nhà so với đa số nhà còn lại (ví dụ, các nhà khác tọa Nam hướng Bắc, riêng nhà mình lại tọa Bắc hướng Nam). Loại nhà này thường vướng phải trường hợp “chúng bạn xa lánh”, lâm vào hiểm cảnh, bị cô lập.

Mẹo hay hóa giải nhà thấp hơn mặt đường Tránh xa những kiểu nhà tiêu tán tài lộc Nhà tốt hay xấu nhờ cả vào sắc khí phong thủy Thái Vân
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: 4 lưu ý phong thủy ngoại cảnh đảm bảo nhà vừa đẹp vừa tốt

Sử dụng bát hương đúng cách để lời khẩn cầu thấu tới thần linh

Trên ban thờ của bất cứ người Việt nào cũng có bát hương. Nhưng việc sử dụng bát hương đúng cách, để lời khấn cầu đến được với chân linh thờ thì không phải ai
Sử dụng bát hương đúng cách để lời khẩn cầu thấu tới thần linh

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Theo phong thủy, tâm linh, trên ban thờ của bất cứ người Việt nào cũng có bát hương. Nhưng việc sử dụng bát hương đúng cách, để lời khấn cầu đến được với chân linh thờ thì không phải ai cũng biết.


Su dung bat huong dung cach  hinh anh
 
Bát hương đã bốc xong, khi sử dụng bát hương, gia chủ phải đặt nơi sạch sẽ, không nên để uế tạp. Mỗi khi sắp xếp lại ban thờ phải khấn vái, xin phép và chỉ được di chuyển bình hoa, chén nước, đỉnh đồng, đèn,... còn bát nhang, bài vị đã định vị thì không được xê dịch. 
 
Khi vệ sinh bát hương, bài vị phải lấy tay giữ không cho xoay rồi lấy khăn sạch, ẩm, phun rượu cho pha gừng giã nhỏ, nước hoa lau cho sạch. Đồng thời, chân nhang quá nhiều thì cần rút bớt, phải để lại 5 chân. Những chân nhang đã nhổ đốt. thả tro xuống sông suối.
 
Bát hương bỏ đi (ví dụ bát nhang của ban thờ vong) thả xuống sông suối (tốt nhất là đặt trên miếng xốp nổi), tránh vất nơi uế tạp. 
 
Mỗi khi cầu cúng cần mở rộng cửa, thắp đèn trước (khởi động), rót nước, rót rượu (dương cầu âm), rồi thắp hương (phát sóng) và khấn cúng (kêu cầu). Chú ý thắp 3 hay 5 nén hương bởi 3, 5 là số lẻ, thuộc Dương mà Dương thờ Âm là hợp lẽ. Nếu thắp quá nhiều hương sẽ mở đường cho Thập loại chúng sinh đến, tạo ra sự lộn xộn, phiền toái cho Thần, Tổ tiên mình thỉnh cầu. 
 
Nhớ rằng khi thắp phải để hương cháy đều, dùng tay phẩy nhẹ cho tắt lửa, không thổi. Khi cắm hương cần cắm cho ngay ngắn mới có tác dụng dẫn lời thỉnh cầu tới đúng nơi cần đến. Đồng thờ không cắm chồng các chân hương lên nhau nhằm tránh tạo ra những lớp thô (cũ) và thanh (mới), phòng bốc hoả.
 
Nếu đang cầu cúng mà hương tắt cứ để thế mà châm lửa tiếp, đừng nhổ lên đốt lại bởi khi nhổ lên cắm lại thành hương thừa, mất gốc, cầu cúng mất linh nghiệm. Cổ nhân cho rằng, ngoài lý do hương kém phẩm thì cần phân biệt:
 
- Hương tắt phần trên là ở Thiên, liên quan đến nóc nhà, ban thờ,...
 
- Hương tắt ở đoạn giữa là Nhân, liên quan đến thành viên gia đình.
 
- Hương tắt đoạn cuối nghĩ đến Địa, liên quan đến mồ mả, đất cát,...

► Xem thêm: Phong thủy nhà ở chuẩn giúp phát tài phát lộc, tránh tai ương

ST
 
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Sử dụng bát hương đúng cách để lời khẩn cầu thấu tới thần linh

Khám phá ý nghĩa nốt ruồi ở cổ và ngực phụ nữ - Xem bói - Xem Tử Vi

Khám phá ý nghĩa nốt ruồi ở cổ và ngực phụ nữ, Xem bói, Xem Tử Vi, xem bói, xem tử vi Khám phá ý nghĩa nốt ruồi ở cổ và ngực phụ nữ, tu vi Khám phá ý nghĩa nốt ruồi ở cổ và ngực phụ nữ, tu vi Xem bói

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Khám phá ý nghĩa nốt ruồi ở cổ và ngực phụ nữ

Tiếp theo những bài viết trước, bài viết này không phải viết về vị trí nốt ruồi may mắn trên tay chủ nhân mà là ý nghĩa nốt ruồi ở cổ và ngực của phụ nữ. Có nhiều người không quan trọng điều này cho lắm thế nhưng nếu một lần thử tìm hiểu thì biết đâu bạn lại biết một chút gì đó về vận mệnh trong tương lai của bạn nhỉ.     Có nhiều phụ nữ đẹp, họ có các vị trí nốt ruồi khác nhau và họ cũng không thể biết chúng xuất hiện lúc nào. Theo những nhà bói toán cho biết thì Con người khi sinh ra tới khi lớn lên tới những thời điểm thích hợp mà những nốt ruồi sẽ mang theo vận mệnh của họ mà xuất hiện chỉ là có ai nhìn ra hay không thôi!   Nốt ruồi mọc ở giữa cổ   Theo quan niệm nhân tướng học, ý nghĩa nốt ruồi ở cổ là biểu thị cho sự phú quý, tài lộc, may mắn. Những người này không chỉ được quý nhân phù trợ mà con thuận lợi, nhanh chóng gặt hái thành công trong sự nghiệp.   Nốt ruồi mọc ở hai bên xương đòn   Đối với phụ nữ có nốt ruồi mọc ở vị trí xương đòn hay còn gọi là xương quai xanh thường là những người tốt tính, chân thành, cẩn trọng. Họ cũng rất dễ hoà đồng, cởi mở, được nhiều người xung quanh yêu mến và tin tưởng.   Nốt ruồi thuộc vùng ngực (mặt trước hai vai)   Trong nhân tướng học, nốt ruồi tại vị trí này không tốt bởi hàm ý vận mệnh vất vả về tiền bạc, vật chất. Chủ nhân của nốt ruồi này thường phải suy nghĩa nhiều, đời sống tinh thần cũng không ổn định, lúc nào cũng rơi vào trạng thái khó nhọc, tất bật. Tuy nhiên, bạn không nên qúa lo lắng, vì đây cũng không phải nốt ruồi nghèo khổ. Nếu bạn cố gắng và nỗ lực hết mình, bạn sẽ sớm có cơ hội để thành công.   Nốt ruồi phía trên bầu ngực   Những ngưởi có nốt ruồi xuất hiện ở phía trên và gần bầu ngực thể hiện vận mệnh phú quý, giàu sang. Nó có ý nghĩa biểu thị sự thuận lợi trong công danh, sự nghiệp và hôn nhân, gia đình của nữ giới.   Bài viết trên là bài viết nói về ý nghĩa những nốt ruồi ở cổ và ngực phụ  nữ. Từ đây bạn đọc có thể dễ dàng thấy được và tự tìm hiểu số mệnh, tính cách của bản thân qua chính những nốt ruồi của mình. Đồng thời ta cũng có thể khẳng định rằng chúng không chỉ đơn giản là những nốt ruồi mà chúng còn mang những bí ẩn rất bất ngờ
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Khám phá ý nghĩa nốt ruồi ở cổ và ngực phụ nữ - Xem bói - Xem Tử Vi

Điểm danh những con giáp phạm đào hoa sát tháng 7

Điểm danh những con giáp phạm đào hoa sát tháng 7 bao gồm những ai, hãy cùng ## tìm hiểu nhé.
Điểm danh những con giáp phạm đào hoa sát tháng 7

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

– Đôi khi vận đào hoa quá vượng sẽ biến thành đào hoa sát, khiến chủ nhân một phen tình trường lao đao, ảnh hưởng tới hạnh phúc suốt cả cuộc đời. Những con giáp dưới đây dễ rơi vào hoàn cảnh đó trong tháng 7.


Sự kết hợp ăn ý giữa cặp đôi con giáp “trai hư, gái xinh” Những con giáp đừng hỏi “Tại sao yêu nhau không đến được với nhau”
1. Tuổi Dậu   Bước sang tháng 7, vận đào hoa của người tuổi Dậu chuyển biến tích cực, tuy không thuộc hàng nhất nhì trong 12 con giáp, nhưng cũng đủ để bạn hút mọi ánh nhìn của những người khác giới.   Mang trong mình cá tính độc lập, thích chỉn chu và có thiên hướng sáng tạo ra những điều khác biệt để hình thành phong cách cá nhân độc đáo, người tuổi Dậu đi tới đâu cũng dễ dàng nổi bật trước đám đông.    Hơn thế, tính cách hài hước, nhưng lại thông minh dí dỏm của họ dễ để lại ấn tượng tốt đẹp trong mắt mọi người, không ít đối tượng xiêu lòng vì điều đó.   Nhưng chớ chủ quan bạn nhé, đào hoa quá đôi khi lại gây bất lợi cho chính bạn. Nó như con dao hai lưỡi, nếu bạn điều khiển khéo léo, ắt có lợi cho mình và ngược lại.   Những ai đã có đôi có cặp nên chủ động tiết chế cảm xúc. Đừng vì một phút rung động nhất thời mà trao gửi trái tim nhầm người, để rồi gia đình tan nát, hạnh phúc lìa xa.   Người độc thân cũng nên nghiêm cẩn giữ mình, kẻo sẽ bị kẻ xấu “đào mỏ” lúc nào không hay. Họ chỉ lợi dụng tình cảm, sự yếu đuối của bạn để kiếm trác cá nhân thôi, cần tỉnh táo trong mọi tình huống. Đây chính là một trong những con giáp phạm đào hoa sát trong tháng 7, phải cẩn trọng.  
Diem danh nhung con giap pham dao hoa sat thang 7 hinh anh
 
2. Tuổi Mão   Người tuổi Mão nổi tiếng là điềm tĩnh, tâm hồn ngây thơ trong sáng, tình cảm cũng dạt dào vô bờ bến. Sang tháng 7, vận đào hoa có xu hướng tăng, lượng “vệ tinh” vây quanh bạn càng nhiều, thậm chí cả những ai đã lập gia đình.   Với người độc thân, đây có lẽ là tín hiệu đáng mừng. Bạn chủ động mở rộng mối quan hệ, tự tạo cơ hội để mở cửa trái tim, khép lại quá khứ đau buồn, nhìn thẳng về phía trước để tìm cho mình nửa kia đích thực.   Nhưng với người đã có gia đình, có người yêu lại mang ý nghĩa trái ngược. Đào hoa quá vượng có thể biến thành đào hoa sát, mang tới nhiều phiền phức, đau khổ trong tình yêu. Khả năng tình tay ba, “vượt rào” là rất cao, nếu như bản thân bạn không thể kiểm soát được cảm xúc của chính mình.   Hãy bỏ ngay thái độ “đứng núi này, trông núi nọ” nếu như con giáp này không muốn chuốc thêm phiền hà về mình. Trò chơi tình ái thú vị thật đấy, nhưng khi “hạ màn”, nó gieo rắc vô vàn đau khổ cho tất cả những người liên quan.

Thế giới của những con giáp không thể sống thiếu điện thoại Người tuổi nào dễ bỏ lỡ hạnh phúc của chính mình? Những cặp đôi con giáp dễ ngán nhau theo thời gian
 
Diem danh nhung con giap pham dao hoa sat thang 7 hinh anh 2
 
3. Tuổi Ngọ   Hào sảng, phóng khoáng, hành động dứt khoát là những ưu điểm thường thấy ở người tuổi Ngọ. Nó lại càng được thể hiện rõ nét khi tháng 7 về, được vận đào hoa nâng đỡ.    Đáng mừng mà cũng đáng lo. Mừng vì người độc thân có thể thúc nhanh quá trình tìm kiếm nửa kia cho mình, nhưng lo vì có quá nhiều sự lựa chọn khiến bạn khó khăn trong việc tìm ra người phù hợp. Mừng vì vận đào hoa giúp tình cảm lứa đôi thêm dạt dào, lãng mạn, nhưng lại lo có người thứ ba xen ngang phá hoại tình yêu…   Nhất là những cặp vợ chồng kết hôn đã lâu và có  điều kiện kinh tế tốt. Vận đào hoa vượng có thể biến thành đào hoa sát, xuất hiện người thứ ba “đào mỏ”.   
► Xem tử vi hàng tháng của bạn cập nhật mới nhất tại Lịch ngày tốt

Ngân Hà
   3 con giáp có “tiền vào như nước sông Đà” trong tháng 7
Bước vào tháng 7, người tuổi Mùi gặp được quý nhân phù trợ, thông qua nhiều kênh giao tiếp để có thể tìm cho mình không chỉ một cơ hội phát triển sự nghiệp,

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Điểm danh những con giáp phạm đào hoa sát tháng 7

Chu Dịch với Ngôn ngữ và Chữ viết

Ngày đưa lên mạng: 1-2-2003 Cử nhân Kinh tế: Dương Kiện Toàn (Saigon, Việt Nam) KINH DỊCH - KHẢ NĂNG PHÁT HIỆN Tác giả giữ bản quyền. Tout droits réservés. All rights reserved. Mọi trích dịch vui lòng ghi tên tác giả. Rất cám ơn !
Chu Dịch với Ngôn ngữ và Chữ viết

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Theo thuyết Nhất Nguyên, năng lượng khi phát sinh tạo ra đồng thời 2 dạng vật chất: Vật chất Dương & vật chất Âm. Căn cứ vào thuyết này, luồng suy nghĩ của con người khi phát sinh, luôn tạo ra đồng thời 2 dạng thức tồn tại chứ không phải là 1. Ta tạm gọi chúng là : Luồng Suy Nghĩ Dương & Luồng Suy Nghĩ Âm. Chúng là 1 cặp.
Phân Tâm Học đã làm rõ sự hiện diện đồng thời của cả hai luồng nhận thức trong hoạt động của bộ não của con người: Ý Thức & Vô Thức (Có khi còn gọi là Tiềm thức) Chúng là 1 cặp.
Theo nguyên lý Âm Dương, Dương thể hiện tính Hữu Hình, Âm thể hiện tính Vô Hình. Vậy ta có : Luồng Suy Nghĩ Dương là Luồng Suy Nghĩ Hữu Hình & Luồng Suy Nghĩ Âm là Luồng Suy Nghĩ Vô Hình. Ta thấy, chúng chỉ khác Ý Thức & Vô Thức ở cái tên.
Con người suy nghĩ, trình bày ra thành lời. Lời nói được thể hiện bằng chữ viết. Như vậy, chữ viết là một dạng ký tự dùng để mã hoá suy nghĩ của con người. Tức là chữ viết chứa đựng thông tin suy nghĩ của con người. Thông tin này chứa đựng Luồng Suy Nghĩ Hữu Hình (Ý Thức _ Suy nghĩ của con người được thể hiện trực tiếp trên văn bản) Còn Luồng Suy Nghĩ Vô Hình (Tiềm thức) nó có hiện diện trong chữ viết ?

Đã có một cách tính toán rất ư lạ lùng ở môn Chu Dịch Dự Đoán Học ! Bằng việc phân số lượng chữ & số lượng ký tự có trong văn bản (text), phương pháp này đã tìm ra được một dạng thông tin khác nằm ẩn trong các văn bản (text) Tôi lấy một số ví dụ :

1. Người Việt chúng ta khi tỏ tình thường nói :
a. “Anh yêu em” có phân lượng ký tự là 3/ 5, tương ứng với hình thái Hoả Phong Đỉnh. Hình thái này mô tả sự Kết hợp.

b. “Anh thương em” có phân lượng ký tự 3/8, tương ứng với hình thái Hoả Địa Tấn. Hình thái này mô tả sự Dấn bước, Bước tới, Tiến tới (Không có lùi) Câu tỏ tình này thường thấy ở miền trung & miền Nam. Rõ ràng cá tính của con người sống trong khu vực này ảnh hưởng rõ nét lên câu tỏ tình.

Ngược lại, nếu :
a. “Em yêu anh” mang hình thái Trạch Thuỷ Khốn. Quả là Khốn thật cho cô gái nào mở lời trước chàng trai với câu tỏ tình này! Có vẻ như người Việt chúng ta không có thói quen dành cho các cô gái mở lời trước với câu tỏ tình này.

b. “Em thương anh” mang hình thái Trạch Thiên Quải. Hình thái này mô tả sự Quyết liệt. Kể cũng lạ ! Trong thực tế, ở miền Nam (hay miền Trung) câu này lại dễ chấp nhận hơn “Em yêu anh” Nhưng hãy để ý : Cô gái khi mở lời câu này thì tình yêu của họ với người con trai là quyết liệt lắm. Để họ quên là điều rất khó. Và có muốn trốn họ đi tu cũng không dễ.

2. “Wò ai Nìa”, “Anh yêu em” Wò & Nìa là từ trung tính. Trong tiếng Hoa phổ thông, câu này được dùng chung cho cả 2 phái (như tiếng Anh) Đứng về phương diện ngôn ngữ học điều này là đúng, nhưng khi phát âm “ Wò ai Nìa” có vẻ như âm “ Wò” ở đàn ông dễ phát âm hơn so với phái nữ _ Chữ “Tôi” phát âm theo tiếng Hoa phổ thông mang đậm nét cái uy lực của người phát âm. Trong thực tế, câu tỏ tình này phù hợp cho cánh đàn ông Trung Quốc hơn so với phái nữ.
Tính số nét, ta có phân lượng ký tự 7/20, tương ứng với hình thái Sơn Lôi Di. Hình thái này mô tả sự Nâng đỡ, chở che. Thông tin nằm ẩn trong câu tỏ tình này phản ánh thật đúng với phong tục, tập quán văn hoá của đất nước mang nguồn gốc Nho Giáo (Trọng nam khinh nữ)

3. “I love you” mang hình thái Thiên Sơn Độn. Thật lý thú khi kiến giải hình thái này! Về phương diện ngôn ngữ học, nền văn hoá con người phương Tây sử dụng ngôn ngữ mang tính “Tĩnh” khác với người phương Đông dùng ngôn ngữ “Động”. “Vắt giò lên cổ mà chạy”, người Anh-Mỹ chỉ có thể hiểu đây là một động tác làm xiếc chứ không thể hiểu như chúng ta, có nghĩa là chạy rất nhanh. Trong ngôn ngữ giao tiếp, người Anh-Mỹ cũng bộc lộ sự rõ ràng & chính xác trong câu nói, khác với ngôn từ nhiều ẩn ý của người Phương Đông. Hình thái Thiên Sơn Độn mô tả rất rõ cử chỉ mời gọi dứt khoát :” Em (anh) hãy từ bỏ tất cả để đi theo anh (em) !” Độn có nghĩa là Lánh đi. Ở các nước có nền văn hoá gốc Anglo-saxon, cô gái lập gia đình phải đổi họ theo họ của chồng. Và họ cũng không có tập quán làm dâu hay giúp đỡ cha mẹ, anh em bên chồng như chúng ta. Vì thế, khi chàng trai “Yes” cho câu “I love you” của cô gái thì điều đó có nghĩa là dù sống trong ngôi nhà của gia đình anh, tôi sẽ là một thành viên thể hiện trách nhiệm chung trong ngôi nhà đó, chứ không hề có chuyện tôi phải thực hiện vai trò làm việc giúp đỡ “Không công” cho gia đình bên chồng. Ở họ rất rõ ràng !

Ta thấy rằng cùng một cách biểu lộ tình cảm, nhưng khác nhau ký hiệu (ngôn ngữ) là ẩn chứa dưới lời nói ấy là những thông tin khác nhau (tôi tạm gọi là thông tin chìm). Phải chăng thông tin chìm là ngôn ngữ vô thức? Ở trên ta xét câu tỏ tình theo nghĩa người bày tỏ nói trọn câu. Trên thực tế, cách biểu lộ câu tỏ tình cũng khác nhau, có khi nói trọn câu “Anh yêu em” có khi câu tỏ tình bị ngắt từ hoặc không trọn câu, ví dụ: “Anh thương....”, “Em thương...” Trong các trường hợp này các thông tin chìm ấy cũng khác nhau. Chu Dịch Dự Đoán Học còn đi xa hơn khi cho rằng cùng câu nói ấy nhưng ở những thời điểm khác nhau sẽ cho kết quả thông tin chìm khác nhau. Vấn đề này tôi sẽ bàn sâu hơn vào dịp khác.

Để kết luận, tôi ghi nhận rằng: Lời nói, ngoài ý nghĩ được trình bày trực tiếp trên nó, còn tồn tại một thông tin chìm nằm trong nó. Để xác định thông tin chìm đó có phải là Luồng Suy Nghĩ Vô Hình (Vô Thức hay tiềm thức) tôi nghĩ rằng cần phải có cách lý giải khác hợp lý hơn.

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Chu Dịch với Ngôn ngữ và Chữ viết

Ứng dụng lời Phật dạy vào đời sống hàng ngày

Tu không cần đi chùa nhiều, làm công quả chuyên cần, nếu làm được thì tốt. Nhưng chính yếu của tu là thấu hiểu và làm điều Phật dạy vô đời sống hằng ngày
Ứng dụng lời Phật dạy vào đời sống hàng ngày

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tu không cần đi chùa nhiều, đọc kinh nhiều, ăn chay giỏi, làm công quả chuyên cần, xây chùa cất miếu…nếu làm được những điều này thì tốt. Nhưng vấn đề chính yếu của tu là thấu hiểu và “quyết tâm” ứng dụng những điều Phật dạy vô đời sống hằng ngày của mình.

Lâu không gặp tôi ở mấy đám tiệc tùng, nhảy nhót, ca hát bạn bè hỏi thăm tôi đi đâu mà vắng bóng lâu vậy? Tôi trả lời: “Đi chùa, bây giờ tôi tu rồi!”.

Nghe tôi trả lời như vậy bạn bè thất vọng kêu trời “Đời sống ba vạn sáu ngàn ngày có là mấy, sao đang làm ăn thành công như vậy mà lại bỏ ngang, lo tu?”. Mấy người trong bàn tiệc bắt đầu xoay qua đề tài “Tu và Đạo Phật”. Người thì bàn bây giờ còn trẻ để hưởng cho hết cuộc đời trước, khi nào già rồi hãy tu. Người thì lý luận sống là tranh đấu, tu là bi quan yếm thế. Có người tiếc rẻ cho mấy người tu, được sống ở Mỹ có nhiều thịt cá không ăn cho khoái khẩu mà ăn chay, kiếp sau sinh ra ở Ấn Độ hay Phi châu không có thịt cá để ăn, sẽ hối tiếc! Hồi trước nếu nghe người nào nói trái ý, xúc phạm đến tôn giáo của tôi là tôi nhào vô cãi lẫy, hùng biện, tranh luận, phải trái hơn thua, có khi nổi nóng tôi nói nặng làm mất bạn bè vì những chuyện không đâu. Nay nhờ đi chùa và nghiền ngẫm kinh sách tôi không phản ứng ngay, mà trầm tĩnh quan sát người ta thảo thuận. Tôi thấy người nào cũng giành phần đúng về mình, người nào không đồng ý với mình thì cho người đó dốt, không hiểu vấn đề… Thấy mấy ông bạn bàn về triết lý cao siêu của tôi nghĩ đến chuyện những người mù xem voi.

Không riêng gì những người không đi chùa nên không hiểu đạo, mà ngay cả người đi chùa thường xuyên cũng hiểu đạo sai lầm. Phần đông người đi chùa là ngững người đàn bà lớn tuổi, nhiều bà cầm nhang lạy tứ phương rất mềm dẻo, thiện nghệ. Nhưng họ đi chùa không mong gì hơn là để “được phước kiếp này và kiếp sau”. Kiếp này được Trời Phật phù hộ cho có được đời sống an lành, con cái ăn học nên người, gia đình yên vui hạnh phúc. Kiếp sau được sinh ra ở cõi Trời, hay có làm người thì được sinh ra trong gia đình khá giả hơn…

Rất nhiều người đi chùa, cúng dường nhiều chỉ để cầu xin Trời Phật phù hộ cho mình, cho gia đình mình (ngã) có đời sống tốt đẹp hơn (tham). Đi chùa với tâm ý trao đổi tiền bạc với phước đức như vậy thì chẳng khác nào bỏ tiền ra “hối lộ” Trời Phật, bỏ tiền ra “mua” phước đức. Đi chùa như vậy, có đi suốt đời cũng không giúp ích gì cho mình và cho người bao nhiêu. Có người nói ” Bữa nay tôi ăn chay, nếu không tôi cào nhà nó rồi”. Ca dao mình cũng có nhiều câu châm biếm mấy người đi chùa mà tâm không tu là “Miệng tụng Nam mô mà bụng chứa một bồ dao găm”.

Các bà chị của tôi rất thích đi hành hương, nhất cử mà lưỡng tiện, vừa du ngoạn cảnh lạ đường xa, vừa được thăm viếng, lễ bái nhiều chùa được nhiều phước đức. Có lúc các chị không thích đi hành hương nữa, tôi hỏi tại sao thì các chị cho biết, không thích đi từ hồi nghe thầy Thanh Từ giảng. Thầy nói các bà đi chùa cúng có mấy trái chuối, mấy trái cam mà cầu xin Phật cho nhiều thứ , xin cho mình, cho con mình rồi cho cháu mình nữa. Phật dạy tu thì không tu mà chỉ muốn cầu xin, nếu ai xin cũng được Phật cho như ý thì trên đời này đâu có ai khổ, ai nghèo? Các chị nghe thầy Thanh Từ nói Phật không phải là thần linh, có bùa phép ban cho Phật tử điều này điều nọ, các chị chán quá ở nhà luôn.

Không riêng gì người bình dân ít học mà đôi khi ngay cả người trí thức phụ trách việc giảng dạy Phật pháp cũng có người không hiểu đạo. Một cư sĩ kia có bằng cấp cao nên rất được quý trọng, trọng dụng trong hàng lãnh đạo Phật giáo. Ông được mời giảng dạy đạo pháp và hướng dẫn Phật tử trong các lớp tu học. Một bữa kia một Phật tử có ý kiến, theo tôi bài giảng của ông không đúng ở điểm này , điểm nọ. Ông cư sĩ có vẻ khó chịu và từ đó giữ trong lòng “ác cảm” lâu dài với Phật tử này.

Sự thật là vậy, là ít người chịu khó suy ngẫm để thấu hiểu được rằng Phật bỏ cung vàng điện ngọc, bỏ cả vợ con chỉ vì thấy “Đời Là Bể Khổ”. Phật vào rừng sâu, sống khổ hạnh chỉ để tìm cách Cứu Khổ. Và hầu hết kinh sách Phật được lưu truyền lại ngày nay là để dẫn dắt chúng ta con đường Thoát Khổ.

Đạo Phật không phải là một Tôn Giáo huyền bí.

Không đặt niềm tin ở Thượng Đế và Phật không tự cho mình là con của Ngọc Hoàng, là Đấng Tạo Hóa toàn năng tạo ra vạn vật, có khả năng ban phước hay giáng họa cho ai. Luật Nhân Quả không phải do Ngài đặt ra, và Niết Bàn cũng không phải là nơi do Ngài tạo nên, do Ngài kiểm soát cho phép ai ra, ai vào.

Đạo Phật Là Một Con Đường Giải Thoát, Giác Ngộ.

Phật là người đã tìm ra chân lý, tìm ra Con Đường đi đến sự giải thoát, an vui, tự tại (chấm dứt khổ đau). Con đường đó Phật giảng giải, chỉ vẽ dựa theo kinh nghiệm “Ngộ” mà Ngài đã chứng nghiệm được sau sáu năm khổ hạnh tu tập và 49 ngày nhập định dưới cây bồ đề. Sau thời gian tu tập này Phật là bậc giác ngộ hoàn toàn, đạt đến Niết Bàn và Phật đã bình đẳng tuyên bố “Ta là Phật đã thàønh, các người là Phật sẽ thành nếu các người tu theo con đường (đạo) ta chỉ dạy “.

Theo Phật con người khổ là vì Tham Sân Si, Chấp và Ngã…

Tham là muốn chiếm đoạt vật gì làm của riêng của mình, có một muốn hai, có hai muốn bốn. Lòng tham thúc đẩy con người hành động, tạo nghiệp ác, gây khổ cho mình và cho người khác.

  • Sân là thù hận, oán ghét. Nó cũng bao gồm trạng thái thụ động như hờn mát, bất mãn, ác cảm, buồn phiền ngấm ngầm trong lòng.
  • Si là u mê, tăm tối, chạy theo vạn vật hão huyền, là vô minh không nhận ra chân tướng, bản chất chân thật của vạn vật
  • Chấp là vướng mắc vào những cảm thọ, như khen chê, được mất, hơn thua…

Ngã là mình, những gì thuộc về mình, cái Tôi vị kỷ, kiêu mạn…
Thôi thì có trăm ngàn nguyên nhân làm mình khổ. Muốn chấm dứt khổ đau, được an lạc, tự tại, kinh Phật dạy muôn ngàn pháp môn. Đểà cho bớt rườm rà khó hiểu, tôi đơn giản hóa vấn đề, muốn tu theo Phật cho thân tâm được an lạc, một là chuyển hóa Tham Sân Si, hai là gạt bỏ Chấp và Ngã.

Con đường tu của tôi ngắn và gọn như vậy. Khi có một điều bất đắc ý xảy ra làm tôi buồn phiền đau khổ, bình tĩnh suy xét tôi thấy đúng như lời Phật dạy, căn nguyên khổ đó là do tham, sân, si, chấp và ngã đã huân tập, tiềm ẩn trong tôi từ kiếp nào mà ra. Cái chủng tử hung dữ, nóng nảy do cha mẹ di truyền lại đã sống khỏe mạnh trong tôi bấy lâu nay. Nay biết tu tập, với thời gian tôi sẽ cố gắng “bứng gốc” các chủng tử xấu đi, rồi tôi sẽ tưới tẩm những “chủng tử tốt” (từ bi, hỷ xả, bao dung) bằng những trận mưa Pháp, những chủng tử tốt này sẽ nảy mầm vươn lên.

Làm việc gì muốn có kết quả nhanh chóng mình cũng phải có phương pháp, phân tích và có kế hoạch đàng hoàng. Sau khi phân tích thấy được nguyên nhân nguồn cội khổ đau là tham sân si, chấp và ngã, bây giờ làm sao diệt tham sân si, chấp và ngã?

Muốn diệt Tam Độc tham sân si, thì phải giữ Thân Khẩu ý thanh tịnh, trong sạch. Trên lý thuyết thì không khó, nhưng trên thực tế tiêu diệt ba con rắn độc này là cả một cuộc chiến gay go với nội tâm, mà chính Phật cũng phải nhìn nhận “thắng một vạn quân dễ hơn chiến thắng chính mình”.

Bản tính của người phàm phu là ăn miếng trả miếng, nhất định không thua ai. Người “biết tu” gặp nghịch cảnh phải nhịn nhục, nếu cứ chơi “xả láng” tới đâu hay tới đó, là tự biết mình đã “thua” trên mặt trận “tu tập”. Nếu nhịn nhục là thân không làm điều ác, miệng không nói lời ác thì tôi cố gắng làm được, nhưng giữ tâm ý thanh tịnh, không giận hờn, buồn phiền, bất mãn, điều này tôi thấy khó quá. Làm sao vui vẻ chấp nhận sự thiệt thòi về phần mình, làm sao chuyển hóa lấy khó khăn làm thú vị, lấy nghịch cảnh làm thắng duyên để đo lường sự tu tập của mình?

Kinh sách dạy, muốn tu chúng ta phải Học Kinh, và ứng dụng bát chính đạo. Có chính kiến (nhìn thấy đúng), có tư duy ( suy xét đúng), có tinh tấn (cố gắng trui luyện), nước chảy đá sẽ mòn, rồi có ngày tâm ta sẽ không còn vướng mắc, chướng ngại, phiền não.

Trong kinh , Phật dạy…vạn vật Vô Thường. Với thời gian vận vật đổi thay, không thường hằng bất biến, cho nên trong đời sống, chúng ta “nay lên voi, mai xuống chó”, nay được yêu chiều, mai bị ruồng rẫy nên coi là sự thường. Đã thấu đáo lý Vô Thường thì dù cuộc đời có lúc lên hương như “diều gặp gió” chúng ta cũng không nên hả hê vui mừng đắc thắng, vì gió không bền lâu, lúc gió ngừng diều sẽ đâm đầu xuống đất, càng cao danh vọng, càng dày gian nan. Khi thành công cũng như lúc thất bại chúng ta phải cố giữ tâm thăng bằng như người làm xiệc đi trên sợi dây nhỏ.

cuộc sống
Dù đời nhiều cay đắng chúng ta cũng cố tự an ủi, đời người như một dòng sông, “sông có khúc, đời người có lúc”, không nên nao núng thất vọng trước cảnh vật đổi sao dời.

Vạn vật đều Vô Ngã. Khi chấp nhận vạn vật vô ngã, không có tự tính (sắc chẳng khác gì không, không chẳng khác gì sắùc) thì ý thức ích kỷ, vị kỷ, chấp ngã kiêu mạn, ý niệm về “Cái Tôi” vô cùng quan trọng sẽ tan biến.

Phật cũng dạy lý Duyên Sinh. Vạn vật do duyên họp mà thành. Đủ duyên thì vạn vật tồn tại, mất duyên thì vạn vật tiêu tan. Do nhân duyên tác hợp nên vạn vật chỉ là hư ảo (huyễn). Khi thấu được lý nhân duyên thì tâm mình sẽ rộng mở, dễ cảm thông, tha thứ, chấp nhận thế giới muôn sai, nghìn khác. Từ “cảm thông” trong ta sẽ phát khởi lòng từ bi bao la, dễ hỷ xả, tha thứ những lỗi lầm của người khác.

Cho nên trong vấn đề tu tập, Thiền Định là một phương cách đưa con người đến giải thoát. Những giây phút yên lặng, suy nghĩ sâu sắc sẽ cho ta Thấy Được Cái Bản Chất Chân Thật Của Mọi Việc.
Nhận thức được bản thể chân thật đó, con người mới có thể phát khởi đại trí, đại bi, trải rộng tình thương vô bờ tới muôn người và muôn loài. Trong đời sống hằng ngày chúng ta bận rộn làm ăn sinh sống, không có nhiều thì giờ để ngồi thiền như những người xuấàt gia, nên Sư cô Thanh Lương khuyên chúng ta cố gắng Dừng Lại, cố giữ phản ứng chậm lại. Chỉ cần chậm lại một chút để có thì giờ suy nghĩ kỹ chúng ta sẽ tránh được nhiều lỗi lầm đáng tiếc, gây phiền phức cho mình và những người chung quanh, nhờ đó cuộc sống của mình được tươi đẹp , thoải mái dễ chịu hơn.
Đối với đàn bà chuyện thường xảy ra là bà này nói xấu bà kia. Phản ứng tự nhiên khi bị người khác đặt điều nói xấu là mình nổi giận. Người “biết tu” sẽ không trả thù nói xấu lại và người tu giỏi sẽ không giữ trong lòng ác cảm, phiền muộn ai .

TU ĐỂ LÀM GÌ mà xem ra người tu có vẻ thiệt thòi, chịu đựng nhiều quá vậy?

Mục đích tối thượng của người tu theo Phật là đạt đến Niết Bàn.
Niết Bàn không phải là một nơi tốt đẹp như Thiên đàng của các tôn giáo khác, khi nào chết con người mới có thể tới Thiên đàng được. Niết Bàn trong đạo Phật không chiếm không gian, không là nơi chốn nào trong vũ trụ, mà là một đạo quả, một trạng thái bình yên tối thượng.
Ở ngay trong kiếp sống này nếu chúng ta không bị tham sân si, chấp và ngã điều khiển, tâm ta sẽ có được thanh tịnh, an lạc, đạt đến Niết Bàn.

Những danh từ Duyên Sinh, Vô Thường, Vô Ngã hình như Phật tử nào cũng hiểu vì nó là nền tảng giải thoát của Đạo Phật. Nhưng hiểu là một chuyện mà có ứng dụng những điều hiểu biết này vô đời sống của mình để có được đời sống an lành yên vui hay không là chuyện khác.

Một bạn đạo của tôi luôn chạy theo Sư cô Thanh Lương, cô giảng ở đâu là có mặt chị ở đó. Chị đọc kinh nhiều đến nỗi thuộc làu cả “Chú Đại Bi”. Chị đang vận động với bạn bè mua cho Sư cô Thanh Lương một căn nhà làm chùa. Chị mê nghe Sư cô giảng lắm. Tôi hỏi thăm, chị A còn trong hội của chị không? Hỏi câu này là bắt trúng tần số. Tôi chỉ hỏi một câu ngắn như vậy mà chị trả lời tôi tới nửa đêm, tuông ra bao nỗi hằn học, oán hận, căm thù. Tôi an ủi, thôi chị đi chùa nhiều, nên “hỷ xả”. Chị ấy trả lời: “Cái hạng người đó không đáng cho tôi hỷ xả!”.

Một bà khác đi chùa, công quả chuyên cần từ ngày qua Mỹ đến nay là mấy chục năm, nên được giử chức Phó Hội trưởng trong Ban Chấp hành của một chùa trong vùng. Bà mẹ chồng của chị đang hấp hối ở VN, tha thiết mong mỏi tất cả con cháu , dâu rể điện thoạị về một lần chót trước khi nhắm mắt ra đi. Măïc cho em chồng khóc lóc năn nỉ, chị này nhật định không gọi về, nhất định trả thù bà mẹ chồng cho đến giờ phút chót cuộc đời bà.

Đi chùa mà giữ tâm địa ác như vầy thì đi để làm gì?

Tu không cần đi chùa nhiều, đọc kinh nhiều, ăn chay giỏi, làm công quả chuyên cần, xây chùa cất miếu…nếu làm được những điều này thì tốt. Nhưng vấn đề chính yếu của tu là thấu hiểu và “quyết tâm” ứng dụng những điều Phật dạy vô đời sống hằng ngày của mình.

Nên Từ Bi Hỷ Xả. Chỉ một chữ “xả” thôi , nếu thực hiện được là chúng ta cũng đến gần Niết Bàn rồi. Đi chùa, tham gia Phật sự là điều tốt, nhưng đó là bước đầu, nếu chúng ta bước xuống thuyền rồi đứng đó, không tự chèo thuyền đi , không ứng dụng những điều học hỏi ở kinh sách, ở chùa vô đời sống hằng ngày thì mãi mãi không bao giờ có thể đến được bến bờ giải thoát an lạc bên kia.

Thầy Thanh Từ giảng, căn phòng dù tăm tối đến đâu, bật đèn lên căn phòng cũng sáng. Chúng ta đứng ở cửa nhìn ra ngoài sẽ thấy đen tối, xoay đầu vô thì thấy sáng. Giữa tối và sáng chẳng cách nhau bao xa. Chỉ cần biết xoay đầu. Nhìn ra ngoài là bến mê, xoay đầu lại là bờ giác. Mê và giác chỉ có một cái xoay đầu. Tu dễ như vậy. Tu là hồi đầu, là xoay đầu lại. Từ bao lâu chúng ta mê nên đi trong đau khổ tử sanh, khi tỉnh chúng ta trở về sẽ hết khổ đau. Nếu chúng ta thả trôi theo giòng tăm tối thì tối mãi, biết xoay ngược lại tìm về ánh sáng thì sẽ được sáng. Một đứa con đi hoang, càng đi xa nhà càng khổ, khi biết lỗi lầm quay về với mẹ cha thì được sống trong gia đình hạnh phúc.

Hiểu như vậy thì tu không khó khăn gì cả, không cần ép xác khổ hạnh, tu luyện lâu dài hay học cao hiểu rộng, cũng không cần xuất gia. Phật tức tâm, tâm tức Phật, tu tại gia cũng được. Chỉ cần cố chuyển hóa tham sân si , chấp và ngã.

Vạn vật đồng nhất ở bản thể, khi chúng ta dẹp được cái Tôi vị kỷ, ranh giới giữa ta và người sẽ tan biến. Từ đó lòng Từ Bi Hỷ Xả sẽ bừng nở dâng tràn, đưa ta đến bến bờ giải thoát an lạc tự tại.

Tu là sửa đổi cho được tốt hơn, là dừng lại, là chuyển hóa cái tri thức sai lầm về thực tại. Vì tri thức sai lầm, chúng ta phát sinh tham, sân, si rồi hành động tạo nghiệp. Có chính kiến chúng ta sẽ thay đổi thái độ với vạn vật, nhờ đó thế giới trở nên an lành, vui tươi , hạnh phúc hơn.

Khi tâm ta không còn bị tham sân si điều khiển, khi tâm ta không còn vướng mắc với những cảm thọ chấp, ngã, chúng ta sẽ đạt đến Niết Bàn. Đó là một trạng thái yên bình tối thượng, thanh tịnh, tự tại, giải thoát ở kiếp này, nhờ đó Nghiệp Lực chấm dứt, không còn sức lôi dẫn chúng ta luân hồi trong lục đạo ở kiếp sau.

Đây là mục tiêu tối thượng của việc Tu Hành theo Phật.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Ứng dụng lời Phật dạy vào đời sống hàng ngày

Tử vi Ất Tỵ Phân tích nạp âm lục thập hoa giáp

ẤT TỴ: PHÚC ĐĂNG HỎA
Tử vi Ất Tỵ Phân tích nạp âm lục thập hoa giáp

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tử vi Ất Tỵ là con rắn khiến cho người ta phải sợ hãi, cá tính thâm trầm, trí tuệ cao siêu, ngoài nhu trong cương, là người hào phóng, thích cuộc sống ẩn dật, không nhận gánh vảo tổ nghiệp.

Phúc đăng Hỏa chiếu đến những nơi mà mặt trời, mặt trăng không chiếu đến, làm sáng những nơi còn tối tăm. Hỏa này là hỏa phát sáng vào ban đêm trong nhân gian.

Trong xem tử vi Ât Tỵ là Hỏa lâm quan, Thủy không thể khắc, được Thủy cứu tế, chủ về thuần túy. Hỏa khác trợ nó cũng tết. Hỏa này hàm khí thuần dương, rực rõ xán lạn. Sinh vào mùa xuân và mùa đông chủ cát lợi, sinh vào mùa hạ và mùa thu khó tránh điềm hung.

Lấy Mộc làm bấc, lấy Thủy làm dầu, Địa chi không ưa có xung, ví dụ như gặp Hợi e gió thổi đèn tắt, chủ đoản mệnh.

Phàm gặp Mộc đều tốt, rất ưa được quan tinh, lộc quý trợ giúp, có thể vinh hoa.

Thủy lấy Giáp Thân, Ất Dậu Tỉnh tuyền Thủy; Bính Tý, Đinh Sửu Giản hạ Thủy làm dầu thật. Nhâm Thìn, Quý Tỵ Trưòng lưu Thủy là dầu giả. Nhâm Tuất, Quý Hợi Đại hải Thủy; Bính Ngọ, Đinh Mùi Thiên hà Thủy không thể làm dầu, gặp chúng chủ về cả đời bình bình mà thôi.

Hỏa này gặp Thủy cần có Mộc giúp đõ, Thủy nhiều cũng chủ về ít cát lợi, e rằng tai họa nhiều.

Ưa Nhâm Dần, Quý Mão Kim bạc Kim, Kim Hỏa huy hoàng, chủ về thanh quý. 

ưa Nhâm Thân, Quý Dậu Kiếm phong Kim, gọi là Đăng hoa phất kiếm cách.

Không ưa Canh Thìn, Tân Tỵ Bạch lạp Kim.

Gặp Canh Tý, Tán Sửu Bích thượng Thổ có thể án thân; Bính Tuất, Đinh Hợi ôc thượng Thổ cũng chủ về ăn mặc không thiếu, các Thổ còn lại vô dụng.

Hỏa ưa cùng loại, sợ gió thổi. Mậu Tý, Kỷ Sửu Tích lịch Hỏa là hỏa thần long biến hóa, ắt mang gió đến, e rằng sẽ yểu thọ.

Ât lộc tại Mão, các Địa chi của trụ khác ưa Mão.

Tỵ mã tại Hợi, các Địa chi của trụ khác không ưa thấy Hợi, thấy chủ về mã bị hình, thưòng thiếu tiền tiêu.

Mệnh nữ sẽ một giai đoạn yêu đương thương tâm, tâm tình không ổn định.

Người sinh năm này thưồng thích thể hiện, làm việc có nguyên tắc, chọn điều thiện mà giữ vững.

Gặp năm Tỵ, năm Hợi, trong nhà không yên, không thương hại đến bản thân cũng thương hại đến người nhà.

Bạn đời Tử vi Ất Tỵ không nên lấy người sinh năm Canh, Tân. Nên tìm người sinh năm Mậu, Kỷ.

Các Địa chi của trụ khác có Dần, thân thể có thương hại, mệnh nữ lấy 3 chồng. 

Các can khác có Bính, có thể phú quý.

Các can khác có Tân, cẩn thận đề phòng phạm pháp, nhẹ sẽ phá bại.

Ât quý tại Tý, các Địa chi của trụ khác ưa Tý, chủ cát lợi.

Các Địa chi của trụ khác có Ngọ là ngưòi thông minh, có thể học đoán mệnh, giáo viên hoặc theo lĩnh vực nghệ thuật.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tử vi Ất Tỵ Phân tích nạp âm lục thập hoa giáp

3 quy tắc phong thủy bất biến cần nhớ khi bài trí góc làm việc

Công việc suôn sẻ, các kế hoạch diễn ra như ý, được sếp tin cậy là những mong ước của hầu hết dân văn phòng. Phong thủy tại góc làm việc của bạn cũng hỗ trợ một phần nào đó cho những mong muốn này.
3 quy tắc phong thủy bất biến cần nhớ khi bài trí góc làm việc

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

1. Không ngồi quay lưng ra cửa

Cửa chính hay cửa phụ đều là luồng đón khí tự nhiên vào phòng, nếu lưng đối diện với các cửa sẽ khiến tinh thần bạn luôn căng thẳng, luôn có cảm giác ai đó để ý, quan sát. Về lâu dài dễ làm bạn mất tập trung vào công việc, dễ nóng giận, thậm chí mắc các bệnh thận, đau lưng. Vì vậy, vị trí ngồi mặt đối diện với cửa bao giờ cũng tốt nhất và tốt cho công việc bạn đang làm.

2. Không nên cắm hoa đào

Cắm hoa đào tươi hay nhựa, thậm chí là bức tranh hoa đào ngay trên bàn làm việc của bạn cũng khiến bạn gặp rắc rối tại công sở. Có thể đó là những phiền toái không đáng có, những lời nói ra nói vào, công việc không suôn sẻ…

Hãy đặt trên bàn làm việc một con thuyền với cánh buồm đang vươn cao, theo phong thủy mới giúp công việc xuôi chèo mát mái, tránh được điều xúi quẩy.

3. Màu sắc bàn làm việc hợp với mệnh

Màu sắc của bàn làm việc nếu chọn hợp với mệnh theo ngũ hành sẽ là yếu tố tương sinh trong công việc. Như người mệnh Hỏa nên chọn bàn màu hồng nhạt, màu đỏ hay mận chín; mệnh thủy hợp với màu xanh lục nhạt; mệnh kim hợp với màu trắng; mệnh thổ màu vàng…

Ngoài ra, không nên sắp đặt quá nhiều gương trong phòng làm việc. Theo phong thủy, một chiếc gương có thể trừ được tà ma, điềm xấu… tuy nhiên nếu có một chiếc gương trước mặt và lúc nào cũng có hình ảnh của bạn trong đó dễ làm bạn thiếu quyết đoán, mất tập trung, hay lo lắng, mất ngủ, làm việc kém hiệu quả…


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: 3 quy tắc phong thủy bất biến cần nhớ khi bài trí góc làm việc

Nốt ruồi ở yết hầu là tốt hay xấu?

Những nốt ruồi ở vị trí yết hầu mang lại ý nghĩa gì đối với vận mệnh, sức khỏe của bạn. Nốt ruồi ở yết hầu thường có 2 dạng bao gồm: Nốt ruồi mọc nổi cao ở yết hầu và nốt ruồi mọc chìm giữa yết hầu.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Những vị trí nốt ruồi trên cơ thể thường mang một ý nghĩa nào đó đối với cuộc đời của bạn. Vị trí nốt ruồi ở yết hầu cũng vậy? Thực tế, theo các nhà khoa học thì nốt ruồi là những khối u sắc tố, do sự sinh sản lành tính và khu trú của sắc tố melanine ( sắc tố màu da của bạn). Tuy vậy nhưng đối với những nhà Nhân tướng học thì nốt ruồi có thể là một điềm báo đối với tương lai của bạn, đó có thể là một điềm tốt hoặc xấu. bài viết dưới đây, phong thủy số sẽ giới thiệu tới bạn các ý nghĩa của vị trí nốt ruồi ở yết hầu.

Nốt ruồi ở yết hầu là tốt hay xấu?

Những nốt ruồi ở vị trí yết hầu mang lại ý nghĩa gì đối với vận mệnh, sức khỏe của bạn. Nốt ruồi ở yết hầu thường có 2 dạng bao gồm: Nốt ruồi mọc nổi cao ở yết hầu và nốt ruồi mọc chìm giữa yết hầu.

Đối với nốt ruồi ở yết hầu nhưng mọc nổi cao:

Bất kể là trai hay gái có sở hữu nốt ruồi này đều gặp nhiều điều may mắn tốt đẹp về mặt lương duyên, tài lộc. Trong tình cảm sẽ luôn gặp được nhiều hạnh phúc, những công việc đều phát triển vượt bậc, chồng nói vợ nghe rất thuận thảo.

Nốt ruồi mọc chìm giữa yết hầu:

Với những người sở hữu nốt ruồi này thì cuộc hôn nhân của họ thường bất lợi, nhất là với những người lấy chồng hoặc lấy vợ sớm. Nếu phụ nữ có nốt ruồi mọc chìm dưới yết hầu thì tuyệt nhiên không nên lấy chồng sớm, bởi có thể vợ hoặc chồng sẽ phải chết sớm.

Đối với nốt ruồi mọc ngay dưới yết hầu:

Đối với nốt ruồi nổ thì người như vậy thường có tính rày đây mai đó, hay đi xa, không ở nơi quê quán mà thường rong ruổi trên đường trường.

Đối với người có nốt ruồi chìm mọc ngay dưới yết hầu thì cẩn thận dễ bị tai ương về xe cộ.

Xem thêm những bài viết hữu ích khác tại:

+ Nốt ruồi trên môi có ý nghĩa gì?

+ Nốt ruồi ở yết hầu là tốt hay xấu

+ Nốt ruồi ở vai phải có ý nghĩa gì?


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Nốt ruồi ở yết hầu là tốt hay xấu?

10 thuật ứng xử đơn giản của người xưa mà bạn nên học hỏi

Qua 10 câu chuyện về ứng xử, con người đã hiểu được cách xử lý ổn thỏa mà không gây thêm phiền phức. Qua đó, giữ mối quan hệ và phát triển tình cảm với nhau
10 thuật ứng xử đơn giản của người xưa mà bạn nên học hỏi

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta hay phải đối mặt với những khó khăn, mâu thuẫn một cách bất chợt. Làm sao để có thể xử lý ổn thỏa mà không gây thêm phiền phức? Dưới đây là 10 cách ứng xử đã được cổ nhân sử dụng, có lẽ nó hữu ích cho bạn!

1. Việc gấp, từ từ nói

Khi bạn gặp phải một chuyện gấp gáp, nếu có thể bình tĩnh suy nghĩ một chút, sau đó từ từ nói rõ ngọn ngành, sẽ khiến cho người nghe cảm thấy ổn định, từ đó tăng độ tin cậy của mọi người đối với bạn.

2. Việc nhỏ nói hài hước

Đặc biệt là một vài lời nhắc nhở có thiện ý, bạn nên dùng những câu nói đùa hài hước, sẽ khiến cho người không cảm thấy cứng nhắc, họ không những vui vẻ chấp nhận lời nhắc nhở của bạn mà còn tăng thêm thiện chí với bạn.

3. Việc chưa hiểu rõ, hãy nói một cách cẩn thận

Đối với những việc bạn chưa nắm rõ, nếu bạn không nói, người khác sẽ cảm thấy bạn giả dối, còn nếu bạn có thể diễn đạt một cách cẩn thận, sẽ khiến cho người nghe cảm thấy rằng bạn là người đáng tin cậy.

4. Việc chưa xảy ra, không nên ứng xử linh tinh

Mọi người ghét nhất ăn nói hàm hồ, nếu bạn chưa bao giờ phỏng đoán một cách tùy tiện hoặc nói những chuyện chưa xảy ra, bạn sẽ khiến cho mọi người cảm thấy rằng bạn là người trưởng thành, có tu dưỡng, cũng là một người làm việc chăm chỉ, có trách nhiệm.

5. Việc chưa làm, đừng nói lung tung

Tục ngữ có câu “Không có khoan kim cương, thì đừng mong ôm nghề đồ gốm”, bạn không nên hứa làm một việc gì đó mà bạn không chắc có thể làm được. Làm được điều này sẽ khiến cho người nghe cảm thấy bạn là một người “Nói là tin, làm là được”, và họ sẽ rất tin tưởng bạn.

6. Không nên nói những chuyện làm tổn thương người khác

Không được tùy tiện dùng lời nói làm tổn thương người khác đặc biệt là giữa những người thân. Như vậy mọi người sẽ cảm thấy bạn là người lương thiện, giúp cho việc duy trì và gia tăng tình cảm.

7. Đối với những việc đau lòng, bạn không nên gặp ai cũng nói

Khi ai đó bị tổn thương trong lòng, đều muốn thổ lộ với người khác, nhưng nếu cứ gặp ai bạn đều nói, sẽ khiến người nghe phải chịu một áp lực lớn, rất dễ sinh nghi ngờ và xa lánh bạn. Đồng thời, bạn sẽ để lại ấn tượng muốn trút bỏ đau khổ của bạn lên người khác.

8. Những việc của người khác thì nên cẩn thận trong lời nói

Giữa con người với con người cần phải có một khoảng cách an toàn, không nên bình luận hay nói ra những chuyện của người khác, sẽ mang lại cảm giác an toàn cho những người mà bạn giao tiếp.

9. Việc của bản thân, lắng nghe người khác nói như thế nào

Bạn nên lắng nghe cách nhìn của người khác khi nói về mình, điều đó có thể để lại ấn tượng khiêm tốn cho người khác, đồng thời biểu hiện rằng mình là một con người thấu tình đạt lý.

10. Chuyện của con cái, cần nói rõ ràng

Đặc biệt là khi con bạn còn ở thời kỳ thanh thiếu niên, chúng rất dễ bị kích động, bạn hãy dùng thái độ ôn hòa, vừa kiên định để nói với chúng một cách rõ ràng, điều đó có thể khiến cho con bạn có tình cảm tốt đối với bạn, coi bạn như một người bạn, đồng thời điều đó cũng có tác dụng thuyết phục.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: 10 thuật ứng xử đơn giản của người xưa mà bạn nên học hỏi

Cách giải họa và các sao hóa giải (phần 5)

Cách giải họa và các sao hóa giải (phần 5). thảo luận các sao, các cách tốt hóa giải vận hạn trong lá số tử vi.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Cách giải họa và các sao hóa giải (phần 5)

Cách giải họa và các sao hóa giải (phần 5)

5. Họa cho gia đạo:

a. Tình trạng không chồng, không vợ:

– cung Phúc có những chính tinh hãm địa, đi chung với những sao tình duyên bị sát tinh xâm phạm.

– cung Phu Thê cũng gặp phải nghịch cảnh này, nhất là bị sát tinh tọa thủ đồng cung với các sao tình duyên hoặc là được các sao tình duyên hội chiếu vào sát tinh tọa thủ ở Phu Thê. Càng có nhiều sát tinh, nhất là sát tinh hạng nặng tọa thủ hay hợp chiếu thì triển vọng lập gia đình càng giảm. Ngoài ra, hai sao Tuần Triệt ở Phu Thê nhất là đồng cung cũng góp phần xác định ý nghĩa này.

Nếu cả Phúc lẫn Phu Thê đồng thời gặp nghịch cảnh thì dễ đoán việc vô gia đình (đặc biệt là với lá số nữ giới).

Nếu Mệnh, Thân có hao bại tinh (Tang, Hổ, Cô, Quả, Đẩu Quân, Khốc, Hư, Đại Tiểu Hao) thì phải xem đó là một yếu tố bổ túc để quyết đoán thêm trường hợp độc thân bắt buộc.

Cung Tử tức có nhiều sao hiếm muộn, tuyệt tự, lập tự.

Vòng đại hạn đi theo chiều thuận tức là ngày càng xa cung Phu Thê. Đây là một yếu tố bổ túc phải lưu ý. Nếu đi theo chiều nghịch thì vào khoảng 30 tuổi trở đi, vấn đề gia đạo dễ xảy ra hơn vào khoảng thập niên 32 trở đi vì tại đó cung Phu Thê trấn ngự, ngụ ý có sự chi phối khá mạnh, sự thúc đẩy khá lớn, sự quan tâm đặc biệt của con người về vấn đề gia đạo.

Sự lạc vị của những sao tình duyên: nếu các sao đó đóng ở Tật, Tử, Bào, Phụ, Điền thì cái duyên bị đặt sái chỗ, không lợi cho sự sum họp.

b. Tình trạng giang hồ, lãng tử:

– sự hiện diện của rất nhiều sao tình dục ở cung Mệnh, cung Thân: Thiên Riêu, Thai, Mộc Dục, Hoa Cái, Đào Hoa, Hồng Loan, Liêm Trinh, Tham Lang ...

– sự hiện diện của những sao này ở cung Nô chỉ con người đó rất sa đọa, trụy lạc, ăn chơi, đàng điếm, không kể dư luận, đạo đức.

– sao khắc chế tình dục không có hoặc không đủ mạnh ở các cung Mệnh, Thân.

– đối với phái nữ, sao tình dục có đi chung với sao tài, ngụ ý rằng tiền bạc kiếm được bằng nhan sắc, bằng hương phấn.

– cung Phu Thê bị Tuần, Triệt đồng cung hoặc 1 trong 2 án ngữ, tiên niệm sự trục trặc, sự bất hạnh về gia đạo hoặc sao cô độc như Cô, Quả, Đẩu, Quân.

– cung Phu Thê có nhiều sao chỉ sự thay đổi cụ thể như Thiên Đồng, Thiên Mã, Đại Hao, Tiểu Hao, ngụ ý đương số thường thay đào đổi kép.

– riêng số phụ nữ còn có những bộ sao nói lên họa trinh tiết

– cung Mệnh, cung Thân của hai phái có nhiều sao nói lên tính nết lãng tử, giang hồ, ham vui, chóng chán, thích thay đổi, phiêu lưu tình cảm.

– cung Phúc có nhiều sao bất hạnh về gia đạo.

c. Tình trạng hôn nhân trắc trở:

Phục Binh: nếu đóng hay chiếu vào cung Phu Thê, chỉ sự cản trở. ở vị trí tọa thủ, sự cản trở mạnh mẽ hơn, gây trở ngại lớn hơn ở vị thế hội chiếu. Sao này tượng trưng cho sự đổi ý của người con trai hay con gái, sau khi yêu nhau rồi mới khám phá những chỗ kẹt, chỗ ngang trái khiến không thể lấy nhau. Nó cũng tượng trưng cho sự chống đối mạnh mẽ của cả hai bên nhà trai nhà gái hoặc của một bên và sự chống đối này do cha mẹ chủ xướng, tức là những người có quyền quyết định tối hậu cuộc tác thành. ở vị thế hội chiếu, có thể ban đầu chống đối rồi sau cũng thuận cho.

Hóa Kỵ: ý nghĩa tương tự như Phục Binh nhưng nhẹ hơn. Hóa Kỵ ở Phu Thê thường là sự bất hòa giữa hai họ để rồi trai gái phải xa nhau, bắt nguồn từ những câu nói vụng về của nam hay nữ hoặc của họ bên này chê bai họ bên kia hoặc cũng có thể bắt nguồn từ một đệ tam nhân ngoại cuộc vụng lời, thêm bớt.

Cự Môn: dù đắc hay hãm địa, Cự Môn ở Phu Thê bao giờ cũng khó khăn dài dài, trước khi lấy nhau và sau khi thành hôn. Cự Môn chủ đa nghi: bên nọ nghi ngờ bên kia, thôn tính con dâu hoặc sắp xếp cho con mình vào tròng để lợi dụng. ở vị trí đắc địa, sự việc có thể tiền hung hậu kiết nhưng ở thế hãm địa thì có thể tiền hậu đều hung.

Thiên Không: chỉ sự cản trở, chủ yếu là do sự bố trí có thủ đoạn của một bên cho bên kia mắc kẹt. Trò chơi của Thiên Không rất nguy hiểm, nếu có thêm sao xấu đi kèm, hôn nhân rất nhạy rã đám.

Thiên Hình: ở Phu Thê, Hình báo hiệu sự hình thương gia đạo, có thể là sự trắc trở hôn nhân buổi đầu. Mặt khác, vì Hình chỉ sự xét nét quá tinh vi cho nên ngụ ý rằng có một bên tính kỹ quá, đòi hỏi điều kiện chặt chẽ, khó khăn khiến bên nọ không với tới làm cho hôn nhân bị hỏng hoặc trì trệ kéo dài. Cuộc thương thuyết có Thiên Hình hẳn phải hết sức gay go và đầy cạm bẫy.

Khốc, Hư, Tang, Hổ: hai trẻ phải nhiều lần điêu đứng, rơi lệ, đau khổ, phải đấu tranh cho sự hòa hợp bằng nước mắt. Nếu có cả 4 sao thì 4 dòng lệ đều chan hòa, duy có riêng một sao cũng mệt sức lắm rồi. Trong một ý nghĩa khác, 4 sao này còn có nghĩa là cưới xin trong tang khó.

d. Tình trạng gia đạo bất hòa:

– cung Phu Thê phải có hao bại tinh, ám tinh, hình tinh, cụ thể là Cự Môn, Phục Binh, Hóa Kỵ, Thiên Hình, Thiên Khốc, Thiên Hư, Tang Môn, Bạch Hổ.

– cung Phu Thê phải có sao cô độc như Cô Thần, Quả Tú, Đẩu Quân; sao khắc khẩu như Thái Tuế, Trực Phù.

– cung Phu Thê phải có sao ghen tuông, cãi vã, khó tính, câu chấp, ngỗ ngược, ngoan cố, lấn át, bướng bỉnh - nguyên nhân của mọi bất hòa.

– hai lá số của nam nữ có Bản Mệnh khắc nhau.

– có thể chính tinh ở cung Mệnh số người này mà nghịch cách với chính tinh ở Phu/Thê của số người kia thì cũng xung khắc.

e. Tình trạng ngoại tình:

+ Điều kiện về tính chất:

– lá số của nam hay nữ phải chất chứa một nết tình mạnh thiên về nhục dục, hoặc sự si tình, lụy tình, đồng thời với tính nết ham vui chơi, ưa hoang phí, thích thay cũ đổi mới, táo bạo, trí trá ...

– phải có nhiều cơ hội tốt cho việc phát tác tình dục biểu lộ trong cung Di, cung Nô, qua những sao ái tình tọa thủ tại 2 cung này. Những lá số có Thân cư Di hội nhiều sao tình dục là ví dụ điển hình.

– ngoài điều kiện tích cực, còn có điều kiện tiêu cực là thiếu sự khắc chế tình dục, hoặc sự khắc chế không đủ mạnh so với các sao tình dục hiện diện.

+ Điều kiện về sao:

– nhất định phải có nhiều sao tình dục hội trụ hoặc tập trung vào những cung cường, sao đồng cung hoặc sao tình dục hạng nặng (Thai, Riêu, Tham, Đào) ...

– phải có sao đa phu, đa thê

– phải có sao bất hòa gia đạo, chửa hoang

– phải có sao bất hạnh (ly tán, đau khổ) gia đạo

+ Điều kiện về cung:

– sao tình dục phải xuất hiện ở các cung Mệnh, Thân, chiếu Mệnh, chiếu Thân hoặc ở cung Phúc.

– sao tình dục phải có ở cung Phu Thê

– sao tình dục phải có ở cung Nô, Di

– nếu xuất hiện ở cung Hạn (ngoài các cung nêu trên) thì vấn đề ngoại tình xảy ra nhất thời trong hạn đó

– cung Tử có những sao hai dòng con: cùng mẹ khác cha hay cùng cha khác mẹ

+ Điều kiện thuộc hoàn cảnh:

– lá số phải được cứu xét trong xã hội có sa đọa hay không

– nếp sống đương số có sa đọa hay không;

– cần lưu ý thêm là việc sợ vợ, sợ chồng lắm khi không phải là yếu tố kìm hãm ngoại tình.

+ Những dè dặt cần thiết:

– sao tình dục hay sao ái tình có khi chỉ có nghĩa là có duyên (Hồng Loan) hay đẹp đẽ (Đào Hoa, Văn Xương, Văn Khúc) hay dâm đãng mà không ngoại tình, hoặc cưới xin dễ dàng;

– lưu ý tránh ngộ nhận số ngoại tình với số giang hồ, lẽ mọn, lãng tử;

– gặp trường hợp Thân cư Thê/Phu có những sao ngoại tình cũng phải dè dặt;

– gặp số có hai đời vợ, hai đời chồng phải dè dặt thêm: có khi là hai vợ, hai chồng đồng thời, có khi là hai đời vợ/hai đời chồng liên tiếp, không trùng hợp nhau.

g. Tình trạng chia ly: sự chia ly ở đây bao hàm hai trường hợp ly thân hay ly hôn chứ không nói đến sự xa cách để làm ăn hay vợ một nơi chống một ngả vì có thuyên chuyển, không nói đến việc một trong hai người chết nửa chừng xuân.

Những điều kiện trực tiếp của tình trạng chia ly gồm có:

– cung Phu Thê bị Tuần, Triệt đồng cung;

– cung Phu Thê bị sát tinh xâm phạm;

– cung Phu Thê bị ám tinh, hao bại tinh, hình tinh đi với sao thay đổi, sao đau buồn, nước mắt, cô độc;

– cung Phu Thê có sao chỉ hai đời chồng/vợ;

– cung Tử có những sao chỉ con dị bào;

– lá số của hai vợ chồng có Bản Mệnh khắc nhau;

– cung Phúc có nhiều sao bất hạnh gia đạo (cao số, dang dở);

– cung Mệnh Thân có nhiều sao xui xẻo, đau buồn, nhất là với nữ số;

– có những chỉ dấu ngoại tình ở vài cung như Nô, Di;

– thiếu sao giải mạnh và nhiều

Đi vào chi tiết, cần lưu ý các sao sau:

- Những bộ sao của Tử Vi:

Chỉ có Tử Sát và Tử Phá đồng cung nói lên sự chia ly khả hữu:

1. Cách giải họa quacác sao:

a. Chính tinh:

Có thể nói tất cả chính tinh đắc địa trở lên đều có ý nghĩa phúc đức, từ đó có ý nghĩa giải họa. Càng đắc địa, hiệu lực càng mạnh. ở vị trí đắc địa, chính tinh phải tránh hai sao Tuần, Triệt. Nếu chính tinh đắc địa bị hung sát tinh đi kèm thì may rủi thường đi liền nhau, hoặc có lúc được phúc, lúc bị họa. Trong số chính tinh miếu, vượng và đắc địa, có vài sao có hiệu lực giải họa mạnh: Vũ Khúc, Thiên Tướng, Tử Vi, Thiên Phủ, Thiên Lương, Thiên Đồng, Thái Dương, Thái Âm, Thiên Cơ.

Nếu hãm địa, khả năng cứu giải kém hẳn. Cho dù hãm địa mà bị Tuần, Triệt thì hiệu lực cứu giải cũng không được phục hồi như ở miếu, vượng địa mà chỉ tương đương với sao đắc địa.

Vũ Khúc: là sao giải họa mạnh nhất. Nếu Vũ Khúc miếu, vượng và đắc địa gặp Không, Kiếp, Kình, Đà, Hỏa, Linh thì không đáng lo ngại trong khi Tử Vi chỉ chế được Hỏa, Linh. Nếu Vũ Khúc đồng cung với Thiên Tướng thì khả năng chống đỡ với sát tinh càng mạnh thêm, cho dù sát tinh đó đắc địa hay hãm địa.

Thiên Tướng: khắc chế được sát tinh. Có võ tinh khác đi kèm, Tướng được thêm uy, thêm quân. Được Vũ Khúc đồng cung, hiệu lực của Thiên Tướng càng được tăng cường: tiêu trừ hay giảm thiểu tai họa, bệnh tật một cách đáng kể. Thiên Tướng chỉ e ngại Kình Dương, Thiên Hình và hai sao Tuần, Triệt. Với Kình Dương, hung nguy dễ gặp. Với Tuần Triệt và Thiên Hình, Thiên Tướng không những mất uy lực cứu giải mà còn báo hiệu bệnh, tật, họa nặng nề hơn nữa.

Tử Vi: là cách giải họa gián tiếp vì (i) Tử Vi che chở con người chống lại bệnh tật và họa nhưng Tử Vi chỉ ban phúc chứ không giải họa mạnh như Vũ Khúc hay Thiên Tướng. Đối chọi với sát tinh, Tử Vi chỉ khắc được Hỏa, Linh mà thôi. Gặp sát tinh khác như Kình, Đà, Không, Kiếp, Tử Vi ví như bị vây hãm một cách hiểm nghèo: tuy không chết nhưng gặp hung họa dẫy đầy, đấu tranh chật vật; (ii) Tử Vi mang lại tiền bạc, của cải giúp con người tránh được cảnh nghèo, đồng thời giúp con người tạo phúc cho mình bằng tiền bạc; (iii) Tử Vi ban cho công danh, quyền thế trong xã hội, không bị đè nén bởi sự cạnh tranh giai cấp.

Thiên Phủ: cũng có đặc tính như Tử Vi nhưng hiệu lực kém hơn. Tuy nhiên, Phủ mạnh hơn Tử trong việc đối chọi với sát tinh: có tác dụng khắc phục được cả Kình Đà nhưng hiệu lực này chỉ có đối với từng sao riêng lẻ hoặc nhiều lắm là hai hoặc ba sao phối hợp. Lẽ dĩ nhiên, Phủ chưa phải là địch thủ của Địa Không, Địa Kiếp và Phủ còn chịu thua Thiên Không nữa. Mặt khác, gặp Tuần Không và Triệt Không, Phủ bị giảm hẳn khả năng cứu giải.

Tử Vi, Thiên Phủ đồng cung: chế hòa được Kình, Đà, Hỏa, Linh phối hợp nhưng đây là cuộc đọ sức giữa các địch thủ hạng nặng, hẳn sẽ gây biến động lớn cho cuộc đời. Bản Mệnh chỉ vững chãi nếu được đắc cách Mệnh Cục tương sinh, Âm Dương thuận lý cùng với Tử Phủ đắc địa đồng cung. Bằng không, cuộc đời sẽ gặp nhiều sóng gió, hiểm tai nghiêm trọng. Phối cách này cũng tạm thời cầm chân được từng sao Địa Không, Địa Kiếp.

Tử, Phủ, Vũ, Tướng cách: cách hay nhất vì giải họa thập toàn nhất.

Thiên Lương: nếu đóng ở cung Phúc thì đức của ông bà di truyền được cho mình, nếu đóng ở Mệnh, Thân thì tự mình tu nhân, tích đức, gây được hậu thuẫn cho người đời. Nhưng Thiên Lương chỉ kìm chế được hung tinh mà thôi.

Thiên Đồng: ý nghĩa tương tự như Thiên Lương nhưng hiệu lực cứu giải kém hơn. Gặp hung tinh, Thiên Đồng ắt phải lận đận nhiều và chỉ kìm chế được nếu có thêm giải tinh trợ lực. Đối với bệnh tật, Thiên Đồng ắt phải lận đận nhiều và chỉ bệnh về bộ máy tiêu hóa vì Thiên Đồng giải bệnh tương đồng kém.

Thái Dương, Thái Âm sáng sủa: chỉ sự thông minh quán thế, khả năng nhận thức thời cuộc, sự am hiểu lẽ trời, tình người từ đó Nhật Nguyệt giúp con người thích nghi dễ dàng với nghịch cảnh với nhiều may mắn. Tuy nhiên, đối với bệnh tật, Nhật Nguyệt không mấy hiệu lực: chỉ bệnh căng thẳng tinh thần, bệnh thần kinh, bệnh tâm trí và nhất là bệnh mắt. Nhật Nguyệt có hiệu lực như Thiên Phủ đối với Kình, Đà, Hỏa, Linh nhưng bị Không, Kiếp lấn át. Nếu Nhật Nguyệt đồng cung ở Sửu Mùi có Tuần Triệt án ngữ, thêm Hóa Kỵ càng tốt, khả năng giải họa tất phải mạnh hơn, chống được hung và sát tinh đơn lẻ. Giá trị của Nhật Nguyệt trong trường hợp này tương đương với Tử Phủ đồng cung hay ít ra cũng bằng Đồng Lương hội tụ.

Thiên Cơ: chỉ người vừa hiền vừa khôn (tương tự như Nhật Nguyệt) nên có hiệu lực cứu giải. Nhưng về mặt bệnh lý, Thiên Cơ chỉ bệnh ngoài da hay tê thấp cho nên ít giải bệnh.

b. Phụ tinh:

+ Những giải tinh bắt nguồn từ linh thiêng: được cụ thể hóa qua: những hên may đặc biệt giúp cho con người thoát hay giảm được bệnh tật, tai họa; những vận hội tốt đẹp của thời thế, của hoàn cảnh, những diễn biến bất ngờ có lợi đặc biệt cho riêng mình. Gồm các sao: Ân Quang, Thiên Quý, Thiên Giải, Địa Giải, Giải Thần, Thiên Quan, Thiên Phúc

+ Những giải tinh bắt nguồn từ sự giúp đỡ của người đời: Tả Phù, Hữu Bật khi đắc địa ở Thìn, Tuất, Sửu, Mùi và có kèm theo nhiều cát tinh khác. Tả Hữu tượng trưng cho sự giúp đỡ của bạn bè, đồng nghiệp, thượng cấp, hạ cấp nhưng chỉ cứu họa chứ không giải bệnh. Tả Hữu còn có nghĩa là chính mình hay giúp đỡ kẻ khác nhờ đó được sự hỗ tương. Có hai sao này ở Mệnh, đương số dễ dàng thành đạt nhưng cần đi chung với chính tinh đắc địa.

+ Những giải tinh bắt nguồn ở chính năng đức con người:

Hóa Khoa: là giải tinh rất mạnh bao trùm cả bệnh, tật, họa.

Tam Hóa (Khoa, Quyền, Lộc): càng mạnh nghĩa hơn nữa. ý nghĩa đó càng mạnh nếu cả ba hội chiếu hoặc liên châu (Mệnh, Thân ở giữa có một Hóa, hai Hóa kia tiếp giáp hai bên). Thủ Mệnh hay Thân, Tam Hóa có hiệu lực mạnh hơn thế liên châu, nhất là không bị sát tinh xâm phạm. Tam Hóa sẽ tăng hiệu lực nếu đóng ở cung ban ngày và cung dương. Tam Hóa giải họa nhiều hơn giải bệnh,tật. Nếu bị sát tinh đi kèm, Hóa nào bị thì nguồn cứu giải của Hóa đó bị giảm sút hoặc bị họa về mặt đó. Cụ thể, Quyền gặp Không Kiếp thì quý cách bị giảm, Lộc gặp Không Kiếp thì hao tán tiền bạc, Khoa gặp Không Kiếp thì khoa bảng lận đận.

Tứ Đức (Long Đức, Nguyệt Đức, Thiên Đức và Phúc Đức): chỉ phẩm cách tốt, sự nhân hậu, khoan hòa của cá nhân, nết hạnh đó báo hiệu sự vô tai họa hay ít tai họa. Hiệu lực giải bệnh của Tứ Đức không có gì đáng kể.

Thiếu Âm, Thiếu Dương: ý nghĩa giống như Tứ Đức nhưng hiệu lực kém hơn và không có nghĩa giải bệnh.

+ Những giải tinh khác:

Thiên Tài: ý nghĩa giải họa của Thiên Tài chỉ có khi nào sao này gặp sao xấu vì nó làm giảm bớt tác hại của sao xấu. Do đó Thiên Tài có tác dụng như Tuần, Triệt tuy không mạnh bằng. Tuy nhiên, Thiên Tài gặp sao tốt sẽ làm giảm bớt cái hay.

Thiên La, Địa Võng: có tác dụng làm cho sao xấu thành tốt lên ít nhiều, do đó góp phần giảm họa riêng trong các hạn nhỏ.

Đại Hao, Tiểu Hao: nếu đóng ở cung Tật, Đại Tiểu Hao có hiệu lực giải họa đáng kể, cụ thể như làm họa, bệnh tiêu tán mau kiểu như bệnh chóng lành, người bị họa mau khôi phục thế quân bình. Vì la sao hao nên kỵ đóng ở cung Tài.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Cách giải họa và các sao hóa giải (phần 5)

Văn Khấn Lễ Ban Công đồng

Văn Khấn Lễ Ban Công đồng thường dùng vì khắp nơi đều có các Đình, Đến, Miếu, Phủ là nơi thờ tự Thần linh, Thành Hoàng, Thánh Mẫu.
Văn Khấn Lễ Ban Công đồng

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Văn Khấn Lễ Ban Công đồng thường dùng theo tập tục văn hoá truyền thống, ở mỗi tỉnh thành, làng, xã Việt Nam đều có các Đình, Đến, Miếu, Phủ là nơi thờ tự Thần linh, Thành Hoàng, Thánh Mẫu.

Các vị thần linh, Thành Hoàng, Thánh Mẫu là các bậc tiền nhân đã có công với cộng đồng làng xã, dân tộc trong lịch sử đấu tranh giữ nước và dựng nước của người Việt Nam.

Ngày nay, theo nếp xưa người Việt Nam ở khắp mọi miền đất nước hàng năm vẫn đi lễ, đi trẩy Hội ở các Đình, Đền, Miếu, Phủ vào các ngày lễ, tết, tuần tiết, sóc, vọng và ngày Hội, để tỏ lòng tôn kinh, ngưỡng mộ biết ơn các bậc Tôn thần đã có công với đất nước.

Đình, Đền, Miếu, Phủ cùng với sự lưu truyền sự linh diệu của các thần trong nhiều trường hợp đã đi vào trang sử oai hùng của dân tộc Việt Nam góp phần không nhỏ vào việc duy trì tình cảm yêu nước. Nơi thờ tự Đình, Đền, Miếu, Phủ còn là những nơi sinh hoạt tâm linh, tín ngưỡng. Con người hy vọng rằng bằng những hành vi tín ngưỡng, có thể cầu viện đấng Thần linh phù hộ cho bản thân, cùng gia đình, cộng đồng được an khang, thành đạt và thịnh vượng, yên bình, biến hung thành cát, giải trừ tội lỗi…

Sắm lễ cúng Ban Công đồng

Theo phong tục cổ truyền khi đến Đình, Đền, Miếu, Phủ nên có lễ vật có thể to, nhỏ, nhiều, ít, sang, mọn tuỳ tâm. Mặc dù ở những nơi này thờ Thánh, Thần, Mẫu nhưng người ta vẫn có thể sắm các lễ chay như hương hoa quả, oản,… để dâng cũng được.

– Lễ Chay: Gồm hương hoa, trà, quả, phẩm oản… dùng để lễ ban Phật, Bồ Tát (nếu có).
Lễ chay cũng dùng để dâng ban Thánh Mẫu.

– Lễ Mặn: Nếu Quý vị có quan điểm phải dùng mặn thì chúng tôi khuyên mua đồ chay hình tướng gà, lợn, giò, chả.

– Lễ đồ sống: Tuyệt đối không dùng các đồ lễ sống gồm trứng, gạo, muối hoặc thịt tại các ban quan Ngũ Hổ, Bạch xà, Thanh xà đặt ở hạ ban Công Đồng Tứ phủ.

– Cỗ sơn trang: Gồm những đồ đặc sản chay Việt Nam: Không được dùng cua, ốc, lươn, ớt, chanh quả… Nếu có gạo nếp cẩm nấu xôi chè thì cũng thuộc vào lễ này.

– Lễ ban thờ cô, thờ cậu: Thường gồm oản, quả, hương hoa, gương, lược… Nghĩa là những đồ chơi mà người ta thường làm cho trẻ nhỏ. Nhưng lễ vật này cầu kỳ, nhỏ, đẹp và được bao trong những túi nhỏ xinh xắn, đẹp mắt.

– Lễ thần Thành Hoàng, Thư điền: Phải dùng chay mới có phúc và những lời cầu nguyện được linh ứng.

Hạ lễ cúng Ban Công đồng

Sau khi kết thúc khấn, lễ ở các ban thờ, thì trong khi đợi hết một tuần nhang có thể viếng thăm phong cảnh nơi thừa tự, thờ tự.

Khi thắp hết một tuần nhang có thể thắp thêm một tuần nhang nữa. Thắp nhang xong, vái 3 vái trước mỗi ban thờ rồi hạ sớ đem ra nơi hoá vàng để hoá.

Hoá sớ xong mới hạ lễ dâng cúng khác. Khi hạ lễ thì hạ từ ban ngoài cùng vào đến ban chính. Riêng các đồ lễ ở bàn thờ Cô, thờ Cậu như gương, lược… thì để nguyên trên bàn thờ hoặc giả nơi đặt bàn thờ này có nơi để riêng thì nên gom vào đó mà không đem về.

Văn Khấn lễ Ban Công đồng

Nam mô A Di Đà Phật!
Nam mô A Di Đà Phật!
Nam mô A Di Đà Phật!

– Con lạy chín phương trời, mười phương Chư phật, Chư phật mười phương

– Con lạy đức Vua cha Ngọc Hoàng Thượng đế

– Con lạy Tam Toà Thánh Mẫu

– Con lạy Tam phủ Công Đồng, Tứ phủ Vạn linh

– Con lạy Tứ phủ Khâm sai

– Con lạy Chầu bà Thủ Mệnh

– Con lạy Tứ phủ Đức Thánh Hoàng

– Con lạy Tứ phủ Đức Thánh Cô

– Con lạy Tứ phủ Đức Thánh Cậu

– Con lạy cộng đồng các Giá, các Quan, mười tám cửa rừng, mười hai cửa bể.

– Con lạy quan Chầu gia.

Hương tử con là:……………………

Cùng đồng gia quyển đẳng, nam nữ tử tôn

Ngụ tại:……………………………….

Hôm nay là ngày….. tháng….. năm Tín chủ con về đây……… thành tâm kính lễ, xin Chúa phù hộ độ trì cho gia đình chúng con sức khoẻ dồi dào, phúc thọ khang ninh, cầu tài đắc tài, cầu lộc đắc lộc, cầu bình an đắc bình an, vạn sự hanh thông, gặp nhiều may mắn.

Nam mô A Di Đà Phật!
Nam mô A Di Đà Phật!
Nam mô A Di Đà Phật!


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Văn Khấn Lễ Ban Công đồng

Vai trò của đá thạch anh tím trong cuộc sống –

Đá thạch anh là loại đá quý được con người rất tin dụng. Đá thạch anh là một trong những loại đá được sử dụng để làm các món đồ trang sức không chỉ bởi vẻ đẹp lấp lánh mà nó còn có tác dụng rất tốt đối với sức khỏe và có ý nghĩa phong thủy rất quan t

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Đá thạch anh là loại đá quý được con người rất tin dụng. Đá thạch anh là một trong những loại đá được sử dụng để làm các món đồ trang sức không chỉ bởi vẻ đẹp lấp lánh mà nó còn có tác dụng rất tốt đối với sức khỏe và có ý nghĩa phong thủy rất quan trọng trong cuộc sống. Thạch anh có rất nhiều loại màu sắc khác nhau như: tím, vàng , lục, hồng , sữa, pha lê …. Trong đó, có lẽ thạch anh tím là loại được sử dụng phổ biến nhất hiện nay. Vậy tại sao thạch anh tím lại được dùng phổ biến hơn so với các loại đá khác. Vai trò của đá thạch anh tím trong cuộc sống là gì? Hãy cùng tham khảo bài viết dưới đây để hiểu thêm nhé!

Nội dung

  • 1 Thạch anh tím
  • 2 Vai trò của đá thách anh tím
    • 2.1 Thạch anh tím có tác dụng kỳ diệu đối với sức khỏe
    • 2.2 Thạch anh tím là lá bùa hộ mệnh trong phong thủy
    • 2.3 Thạch anh tím vận hành phong thủy

Thạch anh tím

Thạch anh (silic điôxít, SiO2) hay còn gọi là thủy ngọc là một trong số những khoáng vật phổ biến trên Trái Đất. Thạch anh được cấu tạo bởi một mạng liên tục các tứ diện silic – oxy (SiO4), trong đó mỗi oxy chia sẻ giữa hai tứ diện nên nó có công thức chung là SiO2.

Thạch anh được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau: điện tử, quang học,… và trong ngọc học. Các tinh thể thạch anh trong suốt có màu sắc đa dạng: tím, hồng, đen, vàng,… và được sử dụng làm đồ trang sức từ rất xa xưa.

Ametit loại biến thể màu tím của thạch anh được coi là đá quý của tháng hai và là loại được ưa chuộng nhất của họ thạch anh.

Vai trò của đá thách anh tím

Đá thạch anh tím là loại đá từ thiên nhiên rất quý hiếm tỏa ra năng lượng có công dụng rất tốt đối với sức khỏe con người và đặc biệt, trang sức từ đá thạch anh tím còn mang ý nghĩa mang lại nhiều điều may mắn và hạnh phúc trong cuộc sống của chúng ta.

Thạch anh tím có tác dụng kỳ diệu đối với sức khỏe

Thạch anh tím là một tinh thể tỏa ra năng lượng. Vì vậy, khi đeo trang sức từ thạch anh tím sẽ có tác dụng cực kì tốt khi được dùng để giảm đau và giảm stress, giận dữ và khó chịu, làm dịu tâm tính, xoá bỏ các nỗi sợ và cảm giác tiêu cực. Thêm nữa, thạch anh tím còn có thể được đeo để bảo vệ ta khỏi những đòn tấn công tinh thần cũng như những tổn hại khác.

Ngoài ra, theo nghiên cứu của các nhà khoa học, đá thạch anh tím tỏa ra năng lượng kỳ diệu, giúp chúng ta tỉnh táo, nó rất tốt cho những người muốn cai nghiện thuốc lá, rượu bia hoặc những chất gây nghiện khác. Nó còn có thể được dùng cho các vấn đề về xương khớp, như giảm sưng tấy, thâm tím và giúp cho hô hấp, tiêu hoá cũng như da dẻ, đồng thời chữa các các rối loạn trong tim và tuần hoàn, thính giác và thị giác. Nó thường xuyên được dùng để chữa chứng đau đầu và cũng có thể được đặt dưới gối làm giảm chứng mất ngủ.

Thạch anh tím là lá bùa hộ mệnh trong phong thủy

Theo các nhà sư Phật giáo tin rằng thạch anh tím giúp đem lại sự thanh thản và được dùng làm các chuỗi hạt cầu nguyện ở Tây Tạng.

Thạch anh tím có tác dụng chống lại những ma thuật được sử dụng trong thời gian lâu dài cho việc khai hóa tâm linh và sự linh thiêng. Mỗi chuỗi hạt thạch anh tím giúp cho sự trầm tư mặc tưởng. Thạch anh tím còn được biết như thể là loại đá của Giám mục và vẫn còn được sử dụng bởi những Giám mục Công giáo, tượng trưng cho lòng thành kính, sự khiêm tốn, tính không ngôn, thành thật và thiêng liêng.

Thạch anh tím vận hành phong thủy

Ngày nay, thạch anh tím được sử dụng hàng ngày với ý nghĩa vận hành phong thủy. Đặt quả cầu thạch anh tím ở góc Đông-bắc của phòng học sẽ tăng cường vận may về đường học vấn. Đặt ở góc Tây-nam của phòng ngủ sẽ kích hoạt vận may về quan hệ tình cảm hoặc đời sống hôn nhân hạch phúc. Không nên đặt quá cao, tốt hơn nên đặt trên mặt bàn, nhất là bàn làm việc.

Sử dụng chùm thạch anh tím, hoặc quả cầu thạch anh tím đặt nới cửa sổ để đón nhận tia nắng thì rất có lợi cho việc duy trì năng lượng dương trong nhà. Chùm thạch anh tím đặt dưới ánh trăng để thu hút năng lượng sẽ mang lại sự điềm tĩnh hơn cho mọi người trong nhà.

Có thể thấy, đá phong thủy thạch anh tím vừa có tác dụng chữa bệnh rất tốt đối với sức khỏe vừa là lá bùa hộ mệnh mang lại nhiều may mắn và hạnh phúc . Như vậy, thạch anh tím có ý nghĩa rất quan trọng đối với cuộc sống của chúng ta.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Vai trò của đá thạch anh tím trong cuộc sống –

Những điều kiêng kị đối với trẻ sơ sinh

Kiêng kị đối với trẻ sơ sinh: Theo ông bà ta trẻ mới sinh trong vòng một năm, thời kỳ này là giai đoạn yếu đuối nhất trong cuộc đời người.
Những điều kiêng kị đối với trẻ sơ sinh

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Theo ông bà ta trẻ mới sinh trong vòng một năm, thời kỳ này là giai đoạn yếu đuối nhất trong cuộc đời người, do đó trẻ cần phải được chăm sóc cẩn thận về mọi mặt. Cũng chính vì điều đó, những điều cấm kỵ và những kinh nghiệm chăm sóc trẻ đã được dân gian truyền lại rất phong phú.


Khi đứa trẻ sinh ra nếu sinh phải giờ quan sát hoặc giờ kim xà thiết tỏa khó nuôi, phải cúng đổi giờ. Ngoài ra, để bảo vệ đứa trẻ, người ta còn làm như sau:

 
- Mỗi khi mang con đi đâu sợ tà ma ám ảnh, người ta bôi nhọ nồi lên trán đứa bé, hoặc cầm dao bảo vệ đứa trẻ. Gặp người lạ dữ vía làm cho đứa trẻ khóc, người ta đốt vía khi người lạ đi khỏi.

- Trẻ cứ đêm đến là khóc, gọi là khóc dạ đề. Muốn chữa khỏi, phải mượn hàng xóm lấy chiếc cọc chuồng lợn ném xuống gầm giường.

- Trẻ ngủ lì không dậy, xin vài cái tóc mai của người khác họ phảy vào miệng đứa trẻ cho nó tỉnh.

- Trẻ nấc, lấy ngọn lá trầu không dán vào trán cho khỏi.

- Khách đến thăm trẻ, không được khen bé đẹp, mập hay nặng cân. Khen như vậy bị coi là quở, làm cho trẻ suy sút, đau ốm.

- Không đưa con qua cửa sổ cho người khách bồng bế. Sợ sau lớn lên nó sẽ làm nghề trộm cắp.

- Nếu trẻ khóc liên miên và dữ dội, người xưa cho là đau bão, phải mượn người nhổ bão trên đầu người mẹ của trẻ, khi đang ôm con ép vào bụng. Tức là giật những sợi tóc quấn lại với nhau thành từng mớ trên đầu người mẹ.

- Mỗi khi con hắt hơi thì chúc “Sống lâu trăm tuổi” để cầu phúc cho con sống khỏe mạnh, chóng lớn.

- Con lớn chậm, yếu ớt, thì bế nó chui qua áo quan người già bậc thượng thọ lúc đưa đám.

ST

 


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những điều kiêng kị đối với trẻ sơ sinh

Con gái tuổi nào có tình yêu đẹp và kết thúc có hậu –

Con gái tuổi nào có tình yêu đẹp và kết thúc có hậu? Đứng đầu bảng là cô nàng tuổi Sửu dịu dàng, một lòng một dạ với nửa kia, hay cô nàng tuổi Tuất luôn toàn tâm toàn ý với tình yêu. Còn những cô gái tuổi khác trong 12 con giáp thì sao? Chúng ta cùng

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Con gái tuổi nào có tình yêu đẹp và kết thúc có hậu? Đứng đầu bảng là cô nàng tuổi Sửu dịu dàng, một lòng một dạ với nửa kia, hay cô nàng tuổi Tuất luôn toàn tâm toàn ý với tình yêu. Còn những cô gái tuổi khác trong 12 con giáp thì sao? Chúng ta cùng tìm hiểu trong bài viết sau đây nhé!

Con gái tuổi nào có tình yêu đẹp và kết thúc có hậu

Thứ 1. Tuổi Sửu

Suu-1970-1411082810

Tính cách con gái tuổi Sửu dịu dàng, ngoan ngoãn, nhiệt tình, ân cần, ít nói, không thích chủ động. Khi có đối tượng “thầm thương trộm nhớ”, họ sẽ không chủ động tấn công mà chỉ lặng lẽ quan sát ở phía sau hoặc lẳng lặng làm nhhiều việc vì đối phương, đợi thời cơ chín muồi, mới đưa ra quyết định. Họ làm việc gì cũng rất bình tĩnh, chắc chắn sẽ không vì thích một ai đó mà hy sinh quên mình.

Nếu con gái tuổi Sửu đã xác định mối quan hệ yêu đương với ai đó, họ sẽ một lòng chung thủy, dù bên cạnh có người khác giới điều kiện rất tốt theo đuổi, họ cũng không dao động. Con gái tuổi Sửu hành xử rất câu nệ, nghiêm túc với tình yêu. Cũng chính vì lẽ đó, tình yêu của họ thuận buồm xuôi gió, kết thúc viên mãn.

Thứ 2. Tuổi Tuất

Tuat-7659-1413270105

Trong tình yêu, con gái tuổi Tuất một mực chung thủy, toàn tâm toàn ý. Bình thường, họ có thể làm người ta buồn bực vì thái độ lãnh đạm, dửng dưng. Kỳ thực đó không phải là sự thật. Tính cách con gái tuổi Tuất chân chính rất thẳng thắn, thành thật, cởi mở, thoải mái, đối với tình yêu khá e dè, kín đáo.

Có thể trở thành bạn trai của một cô gái tuổi Tuất, bạn chắc chắn là rất may mắn. Họ tuy truyền thống nhưng nếu đã chọn ai thì họ sẽ kiên định, vững vàng tiếp tục đi về phía trước, bất luận là nghèo khó hay bệnh tật, họ cũng sẽ không rời bỏ đối phương. Chuyện tình yêu của những cô gái như vậy thường sẽ có kết quả tốt, tình yêu của họ sẽ sớm đơm hoa kết trái.

Thứ 3. Tuổi Thìn

thin-8077-1408777213

Con gái tuổi Thìn với bản tính cô độc, kiêu ngạo, tràn đầy tự tin, nhiệt tình, khẳng khái luôn khao khát về một tình yêu tươi đẹp. Khi đã yêu ai, họ gần như tin tưởng tuyệt đối vào người ấy, đồng thời đòi hỏi hai bên cùng nỗ lực đi lên, xây dựng một tương lai tốt đẹp. Đặc biệt, đã yêu ai, họ sẽ không dễ dàng vì những tác động bên ngoài làm ảnh hưởng đến tình cảm đôi ben. Hơn nữa, họ cho rằng, muốn gặp được một người thật lòng thật dạ yêu thương mình không dễ dàng gì, cơ hội đến với tình yêu thực sự cũng chỉ có một lần, vì vậy nhất định phải cực kỳ trân trọng. Với thái độ như vậy, họ xứng đáng có được một tình yêu tươi đẹp với kết thúc có hậu.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Con gái tuổi nào có tình yêu đẹp và kết thúc có hậu –

6 điều cần tránh để giữ được công quả, phúc đức

6 hành vi dưới đây khiến phúc báo của một người bị hao tổn nhanh nhất, do đó muốn giữ được công quả, phúc đức thì nên tránh làm 6 điều sau đây
6 điều cần tránh để giữ được công quả, phúc đức

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

6 hành vi dưới đây khiến phúc báo của một người bị hao tổn nhanh nhất, ## giới thiệu cùng bạn đọc. 

► Đọc thêm: Những câu nói hay về triết lý nhân sinh cuộc đời đáng suy ngẫm

 
6 dieu can tranh de giu duoc cong qua, phuc duc hinh anh
 
1. Thường xuyên sát sinh   Sát sinh là hành vi đứng đầu trong những hành vi làm hao tổn phúc báo nhanh nhất. Trong cuộc sống hàng ngày, sát sinh là việc khó “đoạn tuyệt” được, nhưng nếu không nhất định phải sát sinh thì chúng ta hãy hạn chế sát sinh. Bởi vì sát sinh chính là cách làm hao tổn dần phúc báo của bản thân. Đến khi đã hưởng hết phúc báo từ đời trước thì chúng ta sẽ phải chịu nghiệp báo của sát sinh gây ra.   2. Tức giận, oán giận, cáu kỉnh   Đại sư Ấn Quang khuyên bảo: Người phụ nữ không hay tức giận thì con cháu sống thọ hơn. Phụ nữ thường xuyên tức giận cáu kỉnh, sinh con sẽ khó nuôi.   Phát giận là điều cứu không được. Tức giận chính là “lửa thiêu rừng công đức.” Chỉ một cơn lửa giận có thể thiêu cháy hết cả phúc đức. Người xưa thường khuyên rằng: Oán giận một lần đối với một người bình thường sẽ làm tiêu tan phúc đức tích lũy trong 100 kiếp. Oán giận một lần đối với cha mẹ, người lớn tuổi, người đại đức, sẽ làm tiêu tan phúc đức tích lũy trong 1000 kiếp. Oán giận cha mẹ hậu quả rõ ràng nhất là “phúc mỏng mệnh nông”.
3. Xung đột với cha mẹ, người bề trên   Chống đối, mâu thuẫn với cha mẹ là việc đứng đầu trong những việc làm “tổn phúc bại lộc.” Vô luận là cầu cái gì cũng đều không đạt được, ngàn vạn lần cầu cũng uổng công bởi vì tích phúc không có mà tổn phúc lại nhanh. Sự việc, nhân duyên, làm việc đều không thuận…Nếu như công việc không thuận lợi, cảm tình thống khổ lập tức hiếu thuận với cha mẹ, cha mẹ vui mừng thì hết thảy thiên nhân, quỷ thần đều sẽ đến bảo hộ. Người không chống đối, không có mâu thuẫn với cha mẹ thì công việc sẽ thuận lợi, có nhân duyên tốt đẹp. Nếu như từ nhỏ đã không có mâu thuẫn gì với cha mẹ thì cho dù xuất thân trong gia đình nghèo khó sau này lớn nên cũng có thể trờ thành người có sự nghiệp.   Người dùng tiền tài nuôi dưỡng cha mẹ, tương lai tất sẽ giàu có, khá giả. Hiếu thuận nhưng không dùng vật phẩm tiền tài nuôi dưỡng cha mẹ thì cho dù làm đại quan cũng sẽ thiếu hụt tài phú.   Nói xấu xuyên tạc bậc thánh hiền, đại đức, một câu làm tổn hại 100 thiện, làm hỏng hết huyết mạch phúc báo của gia đình.  
6 dieu can tranh de giu duoc cong qua, phuc duc hinh anh 2
 
4. Oán trời trách người, bàn lộng thị phi, ghen ghét người khác.   Những điều này làm tổn hại đức khí và hòa khí của trời đất, tài vận sẽ bị hủy diệt. Nếu như không có của cải của tổ tiên che chở thì nhất định sẽ bần cùng, làm việc không thuận. Oán trời trách người một lần sẽ làm tiêu tan ba thiện. Đại sư Ấn Quang nói: “Người gặp nghịch cảnh mà không oán trời trách người thì nhất định sẽ có hậu phúc và con cháu thịnh vượng.”
 
Ghen ghét châm chọc, nói xấu người khác cái gì thì tương lai cũng sẽ phải chịu như thế.   5. Khoe khoang, khoa trương bản thân   Khoe khoang bản thân, ở đâu cũng đề cao mình, cũng tự mãn sẽ khiến quỷ thần ghen ghét mà phá bỏ. Cho nên, khoe khoang cái gì thì tương lai sẽ bị mất đi thứ đó.   6. Nói điều xấu, điều không đúng về người khác   Nói những điều xấu về người khác là làm tổn thương đến hòa khí giữa trời và đất mà chiêu mời tai họa mà quỷ thần giáng xuống. Hơn nữa, dùng một chút những lời nói đồn đại không đúng sự thật để khoa trương bản thân khiến cho người bị nói sẽ tức giận khó chịu thì sao có thể sống bình an đây?   Trời đất đã sinh ra dược thảo khiến vạn vật thoải mái, cũng sinh ra độc thảo đầu độc vạn vật. Trời đất dưỡng dục người lương thiện, quân tử cũng dưỡng dục tiểu nhân. Mặt trăng mặt trời chưa bao giờ chỉ soi sáng cho người lương thiện mà không soi sáng cho người ác. Nước biển chưa bao giờ chỉ thu nạp dòng nước tinh khiết, cự tuyệt dòng nước ô nhiễm.    Cho dù chúng ta có bao nhiêu sai lầm khuyết điểm thì trời đất, mặt trăng mặt trời cũng chưa bao giờ yêu cầu chúng ta điều gì. Cho nên, chúng ta cũng không thể yêu cầu người khác, xa lánh người thương tổn đến mình mà cho đó là tiểu nhân, ác nhân. Hãy mở rộng lòng mình mà bao dung hết thảy, chúng ta sẽ được nhiều hơn!   Người xưa có câu: “Thái sơn bất từ thổ nhưỡng, hà hải bất trạch tế lưu” là có ý khuyên rằng: Làm người phải tiếp nhận được hết thảy mọi người, kể cả người không cùng suy nghĩ, quan niệm và hành vi thì mới có thể thành tựu chính bản thân mình.
ST/LNT

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: 6 điều cần tránh để giữ được công quả, phúc đức

Tử vi thứ 7 của 12 Con Giáp ngày 7 tháng 2 năm 2015 - Tuổi tý - Xem Tử Vi

Tử vi thứ 7 của 12 Con Giáp ngày 7 tháng 2 năm 2015, Tuổi tý, Xem Tử Vi, xem bói, xem tử vi Tử vi thứ 7 của 12 Con Giáp ngày 7 tháng 2 năm 2015, tu vi Tử vi thứ 7 của 12 Con Giáp ngày 7 tháng 2 năm 2015, tu vi Tuổi tý

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tử vi thứ 7 của 12 Con Giáp ngày 7 tháng 2 năm 2015

Tử vi thứ 7 của 12 Con Giáp ngày 7 tháng 2 năm 2015, hôm nay, Bính Tý nên tỉnh táo đừng nên vội vàng tin lời người, Đinh Sửu chưa phải là lúc thay đổi công việc, Kỷ Mão nên giải quyết dứt khoát mọi vấn đề đi.

TỬ VI TUỔI TÝ THỨ 7:

- Bính Tý (Thủy, 20 nam Thổ Tú nữ Vân Hớn) : Tử vi hôm nay Bính Tý nên tin cẩn chớ tin người. Không nên đón tiếp người lạ trong nhà. Cẩn trọng trong việc nhận tin tức. Mọi việc chớ nên tiến hành nhanh chóng, không tốt. Nên có sự hòa hoãn. Tránh mọi chuyện tranh luận, thị phi không tốt. Ngày có nhiều lo âu, di chuyển nhiều trong công việc, tình cảm. Sức khỏe không tốt. Tài lộc chậm chạp không được như ý.

- Giáp Tý (Kim, 32 nam Thái Dương nữ Thổ Tú) : Có người đề nghị công việc nên chấp thuận và bàn thảo chi tiết. Mọi việc nên cẩn trọng từ tốn không nên hấp tấp. Về tài lộc đang lúc gặp sự hanh thông có lợi cho mình. Tình cảm tốt. Gia đạo an vui, có tin tức ở xa hoặc có khách ở xa đến. Có lộc ăn hoặc gặp sự vui vẻ.

- Nhâm Tý (Mộc, 44 nam Thái Âm nữ Thái Bạch) : Người mặc dù thân mật cũng chớ nên tin cẩn. Không nên chứa chấp người lạ trong nhà. Nên cẩn trọng về lời ăn tiếng nói gặp chuyện thị phi, tranh cãi, hiểu lầm, bị trách oán, sai hẹn, bội ước. Sự mong cầu về tin tức khó đến. Nên kiên nhẫn chờ đợi đừng nản chí khi công việc nảy sinh quá nhiều vấn đề cần phải giải quyết. Ngày có nhiều bề bộn và lo âu, tiến thoái lưỡng nan. Gia đạo có tin xấu. Không nên đi xa hoặc sử dụng phương tiện xe cộ máy móc, di chuyển. Không tốt cho việc cầu hôn, ký kết, hùn hạp.

- Canh Tý (Thổ, 56 nam Thổ Tú nữ Vân Hớn) : Hãy tự ý thay đổi công việc, công danh, chức vụ, phương hướng làm ăn, nếu đã có dự kiến của cấp trên, hoặc hoàn cảnh tạo những tình huống bắt buộc mình phải tiến hành. Có tài lộc hoặc gặp được quý nhân nâng đỡ giúp làm điểm tựa cho mình đi lên. Tình cảm tốt hoặc có tin tức tốt. Nên cẩn trọng về sức khỏe nếu cầu đi xa. Hạp các nghề vận chuyển, sửa chữa, nấu ăn.

- Mậu Tý (Hỏa, 68 nam Thái Dương nữ Thổ Tú) : Cần chụp lấy cơ hội, nhưng khi đã có lợi thì không nên khai triển tiếp tục, vì tình thế sẽ thay đổi. Có tài lộc. Nhưng nếu là người nữ thì phải chậm rãi chờ đợi tin tức mới trong công danh, tài lộc, tình cảm, trước khó sau dễ.

Trên đây là tử vi ngày thứ 7, các bạn Con Giáp muốn xem tử trọn đời vào Tử vi trọn đời. Còn xem tuổi xông đất, bạn quan tâm vào Xông đất 2015 xem nhé!

TỬ VI TUỔI SỬU THỨ 7:

- Đinh Sửu (Thủy, 19 nam La Hầu nữ Kế Đô) : Nên theo đường hướng cũ mà làm chưa phải lúc thay đổi phương hướng công việc. Không nên nản chí. Giao thiệp, giao dịch với người khác phái có lợi. Có khách hoặc bạn đến. Có tài lộc hoặc được lộc ăn, quà cáp, dự đám tiệc nhỏ. Có tin vui.

- Ất Sửu (Kim, 31 nam Thái Bạch nữ Thái Âm) : Không nên tranh cãi, kiện tụng lôi thôi chỉ đem đến phiền muộn. Đề phòng tin thất thiệt, thị phi. Mọi sự quan hệ, giao dịch nên thẳng thắn, chớ nên giải quyết vì tình cảm có hại. Nên giải quyết các công việc đã đến hạn kỳ. Ngày không nên có sự quyết định nhanh chóng, chỉ nên lắng nghe và tham khảo. Nên đắn đo trong việc cầu hôn, hợp tác, hẹn ước. Có người khác nhúng tay vào. Hạp các nghề kiến trúc, địa ốc, bảo hiểm.

- Quý Sửu (Mộc, 43 nam Kế Đô nữ Thái Dương) : Dù có điều lợi cũng phải có sự phân chia san sẻ, hoặc có tài lộc cũng phải hao tốn cho các việc đã đến hạn kỳ, tu bổ, sửa chữa các nhu cầu cần thiết về nhà cửa, đồ đạc, xe cộ, máy móc, đám tiệc, khách khứa. Có khách hoặc bè bạn đến, hao tốn cũng có, lợi lộc cũng có. Có tin tức tốt, trong đó có người nhờ mình làm giúp một công việc. Không nên ra mặt hoặc công bố, chỉ nên âm thầm tiến hành mới có kết quả.

- Tân Sửu (Thổ, 55 nam La Hầu nữ Kế Đô) : Sự quen biết, qua lại về tình cảm đã đến lúc phải kết thúc, hoặc đi vào một hướng mới. Công ăn việc làm còn nhiều cản trở, khó khăn không được như ý muốn. Tuy nhiên vẫn có quý nhân giúp đỡ hoặc vẫn tìm ra được phương cách có tài lộc. Do đó không thuận tiện cho việc đầu tư hay hùn hạp làm ăn lớn. Có khách hoặc bè bạn đến hoặc nhận được tin tức của họ về mong cầu thay đổi ý định hợp tác, công việc.

- Kỷ Sửu (Hỏa, 67 nam Thái Bạch nữ Thái Âm) : Trước khi quyết định hoặc mưu cầu việc gì cần có sự giao thiệp tốt đẹp về tình cảm, ngoại giao rộng mới có thể thành công. Nên nặng về hình thức quảng cáo. Có tài lộc nhưng hao tán về mặt quà tặng, giao dịch, chia chác, tiệc tùng. Thuận lợi cho việc cầu hôn, kết bạn, đính ước, hẹn ước, thỏa thuận. Gia đạo có hỷ sự, có đông người đến, hoặc có nhiều tin tức của thân nhân, đồng sự, hoặc có sự tu bổ, sửa sang, dọn dẹp, chỉnh đốn công việc, văn phòng. Hạp với các nghề nhiếp ảnh, công nghệ thông tin, thời trang, mỹ thuật, địa ốc.

TỬ VI TUỔI DẦN THỨ 7:

- Mậu Dần (Thổ, 18 nam Mộc Đức nữ Thủy Diệu – 78 nam Vân Hớn nữ La Hầu) : Ngày tuổi của bổn mạng. Quý nhân của mình sẽ là người nữ cho việc mong cầu. Ngày có nhiều trở lực, khó khăn, hoặc có nhiều tin tức trái ngược nhau khiến phân vân trong việc quyết định. Không nên làm ăn lớn táo bạo sẽ bị gẫy đỗ nửa chừng. Đề phòng tiểu nhân. Tránh mọi tranh giành có hại đến công danh, tình cảm, nhân nghĩa. Tài lộc, sức khỏe không tốt. Gia đạo bất an. Hạp các nghề pháp luật, y học, sửa chữa.

- Bính Dần (Hỏa, 30 nam Thủy Diệu nữ Mộc Đức) : Ngày tuổi của bổn mạng. Nên ngồi tại chỗ chờ đợi công việc hoặc tin tức đến tốt hơn là đi tìm kiếm, hoặc mong cầu về tin tức đều có sự chậm chạp, hoặc các tin có sự trái nghịch lẫn nhau. Tài lộc kém, nếu có thì cũng vào nhanh ra nhanh. Có sự tu bổ về nhà cửa, máy móc, xe cộ, đồ đạc. Không thuận lợi cho việc kết bạn, hẹn ước, kết hôn. Tránh mọi sự thị phi tranh luận và cũng không nên tin cẩn người khác. Hạp các nghề khoáng sản dầu mỏ, khí đốt, nhiếp ảnh, công nghệ thông tin, vi tính.

- Giáp Dần (Thủy, 42 nam Vân Hớn nữ La Hầu) : Ngày tuổi của bổn mạng. Mọi mưu sự tính toán hoặc cơ hội có đến trong công danh, tình cảm, tài lộc thì nên tiến hành. Nếu cần, việc hùn hạp cứ tính tới, có lợi nhưng phần chủ động vẫn do mình quyết định. Cẩn trọng trong việc sử dụng xe cộ, máy móc, đi lại. Có tài lộc hoặc có tin tức tốt về tiền bạc, công việc làm ăn.

- Nhâm Dần (Kim, 54 nam Mộc Đức nữ Thủy Diệu) : Ngày tuổi của bổn mạng. Không nên chờ đợi tin tức mới, ý kiến của người khác mà phải tự quyết định tiến hành thay đổi những công việc cần làm. Tình thế đã đổi khác, nên theo hoàn cảnh mới. Tình cảm không tốt, gia đạo vui buồn lẫn lộn. Có tài lộc nhưng dễ hao tán. Có người đi xa. Chỉ nên làm việc, lợi lộc sẽ tự đến, hoặc thoát được hoàn cảnh khó khăn hiện tại.

- Canh Dần (Mộc, 66 nam Thủy Diệu nữ Mộc Đức) : Ngày tuổi của bổn mạng. Nếu có người đề nghị công việc nên chấp thuận, đừng do dự kẻo mất cơ hội. Có tài lộc, có quý nhân giúp đỡ. Nên đi xa và giải quyết dứt khoát các công việc, tình cảm ở quá khứ. Chuyện tình cảm không nên có tính cách lâu dài, tất cả chỉ là tạm thời, thoáng qua. Nếu có dự tiệc không nên ở lâu sẽ gặp nhiều phiền toái.

TỬ VI TUỔI MÃO THỨ 7:  cuối Tam Tai

- Kỷ Mão (Thổ, 17 nam Thái Âm nữ Thái Bạch – 77 nam Thái Dương nữ Thổ Tú) : Nên giải quyết dứt khoát trong mọi vấn đề về công danh, tiền bạc, tình cảm. Ngày có sự kết thúc công trình, hội họp, hội ngộ, hoặc đã đến hạn, đúng hẹn, cần phải coi trọng lời hứa, có tin xa hoặc gặp thân nhân, quý nhân, bè bạn. Có tài lộc hoặc có hỷ sự, lộc ăn, quà tặng, và có cuộc đi xa, hoặc thuyên chuyển, thay đổi công việc, văn phòng. Thuận lợi cho việc cầu hôn, kết hôn, giải quyết mọi mặt trong vấn đề tình cảm, nhân nghĩa. Hạp nghề nhiếp ảnh, công nghệ thông tin, xây dựng, trang trí nội thất, dịch vụ cho thuê, bảo hiểm, bán hoa.

- Đinh Mão (Hỏa, 29 nam Thổ Tú nữ Vân Hớn) : Ngày có tin tức ở xa hoặc gặp bạn, kết bạn, hẹn ước, đính hôn, có liên quan đến mọi vấn đề về tình cảm. Thuận lợi cho việc di chuyển, đi xa. Có tài lộc, hoặc được lộc ăn, quà cáp, dự tiệc. Thích hợp cho các công việc chữa bệnh, kết thúc công trình, thanh toán tiền bạc.

- Ất Mão (Thủy, 41 nam Thái Dương nữ Thổ Tú) : Ngày thích hợp cho các công việc có liên quan đến tình cảm, hôn nhân, kết bạn, hẹn ước, thay đổi công việc, nơi ăn chốn ở, văn phòng. Có tin vui hoặc có khách đến khiến phải tạm ngưng công việc. Có quý nhân giúp đỡ. Nếu đã quyết định làm việc gì phải bền chí chớ nên bỏ ngang, bất lợi. Tiền bạc đến nhanh ra nhanh. Có lộc ăn hoặc được dự đám tiệc, nhóm bạn. Hạp các nghề có liên quan đến hoa, quả, quà tặng, thủ công mỹ nghệ, giải khát, du lịch, tự do, tiếp thị.

- Quý Mão (Kim, 53 nam Thái Âm nữ Thái Bạch) : Tất cả việc mong cầu nên tiến hành nhanh chóng, không nên chần chừ, và không nên có nhiều tham vọng, được bao nhiêu hay bấy nhiêu. Nếu không như vậy thì chọn một ngày khác tốt hơn và nên rút lui. Ở lâu sẽ phát sinh nhiều vấn đề phiền toái hao tài, tốn của. Sức khỏe không tốt. Không nên tranh cãi, đề phòng dèm pha, thưa kiện. Mọi vấn đề liên quan đến tình cảm cần có sự dứt khoát nhanh gọn mới tốt. Nói chung là hãy hành động không nên nói nhiều. Gia đạo bất an.

- Tân Mão (Mộc, 65 nam Thổ Tú nữ Vân Hớn) : Chớ để tin tức dư luận ảnh hưởng đến công việc của mình, nhất là giải quyết dựa trên tình cảm nhiều hơn là lý trí. Ngày gặp tình huống dây dưa khó giải quyết, chưa định được hướng đi. Nếu thấy có điều lợi về tài lộc thì chỉ là ngắn ngủi không nên tiếp tục, hoặc phải chia phần, hoặc chi vào những việc đã được tính trước. Không nên vui chơi quá đáng có hại. Quý nhân là người khác phái.

TỬ VI TUỔI THÌN THỨ 7:

- Canh Thìn (Kim, 16 nam Kế Đô nữ Thái Dương – 76 nam Thái Bạch nữ Thái Âm) : Có quý nhân hoặc có đồng sự, bạn bè tốt giúp đỡ mình hoặc cho tin tức, ý kiến hay trong công việc. Sức khỏe không tốt. Có tài lộc. Muốn thành công phải bỏ nhiều công sức, nỗ lực, và phải tiến hành nhanh chóng mới có kết quả. Gặp lại người xưa. Có người đi xa. Hạp nghề thầy thuốc, pháp luật, mua bán, tiếp thị, vận chuyển, bảo hiểm.

- Mậu Thìn (Mộc, 28 nam La Hầu nữ Kế Đô) : Mưu sự còn bị nghẽn lối, hoặc công việc gặp trắc trở. Cẩn trọng về tiền bạc, do tình thế đảo lộn khác với sự tính toán của mình. Tuy nhiên cũng có quý nhân giúp đỡ, hoặc chờ đợi sẽ có tin tức mới. Có khách, bè bạn đến, hoặc nhận được tin tức của họ. Có sự di chuyển, thay đổi. Có tài lộc. Hạp nghề máy móc, chế biến, pháp luật, sửa chữa.

- Bính Thìn (Thổ, 40 nam Thái Bạch nữ Thái Âm) : Tất cả mọi việc đều nên chậm rãi chờ đợi, không có lợi về mặt tiền bạc. Có khách hoặc bè bạn, người thân ở xa đến hoặc nhận được tin tức của họ có liên quan đến việc làm của mình, nên đi thăm dò hoặc đến nơi mình cần giải quyết, hoặc gặp quý nhân. Ngày có nhiều sự đảo lộn bất ngờ ngoài dự tính. Tài lộc trung bình. Không hạp cho các ngành địa ốc, bảo hiểm, ngân hàng, cổ phiếu.

- Giáp Thìn (Hỏa, 52 nam Kế Đô nữ Thái Dương) : Cần lưu ý những người mình gặp trong ngày là người đang gặp khó khăn, hoặc có chuyện lo âu về sự nghiệp công danh cũng như về tình cảm, sức khỏe. Ngàu chỉ có lợi cho những người làm nghề thầy thuốc, pháp luật, sửa chữa, mua bán xe cộ. Tài lộc tuy có nhưng chậm. Tình cảm gia đạo không tốt, có người đau ốm, có tin xấu ở xa về làm ăn, sức khỏe. Hoặc nhà phải bận rộn về chuyện tiếp khách. Nói chung có lợi về tiền bạc nhưng phải cực nhọc và phải có sự chờ đợi.

- Nhâm Thìn (Thủy, 64 nam La Hầu nữ Kế Đô) : Không nên nóng tính hoặc hấp tấp vội vàng khi đối đầu với trở lực, thách thức, vì sự trắc trở còn dài. Nếu là người kinh doanh thì nên uốn mình theo hoàn cảnh thì mới có lợi. Nếu là người quan chức thì không nên sợ hãi trước mọi trở lực, nên mạnh tay thay đổi nội bộ, trước khó sau dễ. Hãy bỏ qua mọi chuyện thị phi, đàm tiếu, những áp lực mới có kết quả. Tuy nhiên tất cả các việc có dính líu đến giấy tờ văn tự, chữ viết, thảo đơn đều phải hết sức cẩn trọng. Chỉ nên là một dự thảo. Ngay cả quý nhân của mình nếu có cũng không đủ khả năng ứng phó, hoặc chính họ cũng đang gặp nhiều trở ngại. Không nên cầu tài lớn lao.

TỬ VI TUỔI TỴ THỨ 7:

- Kỷ Tỵ (Mộc, 27 nam Mộc Đức nữ Thủy Diệu) : Cẩn trọng khi nhận tin tức. Người mặc dù thân mật cũng chớ nên tin cẩn. Không chứa chấp người lạ trong nhà hoặc kết bạn mới. Có sự kèn cựa tranh giành của tiểu nhân đưa đến có nhiều bực mình, nhưng không nên tranh cãi, sẽ bị thiệt thòi hoặc bị ràng buộc về lời nói, hẹn ước. Tránh chuyện thị phi, thưa kiện, có người chơi xấu hoặc gây cản trở. Tuy nhiên vẫn có quý nhân giúp đỡ hoặc có được tài lộc, và phân tán trong những việc đã có dự tính trước. Ngày thuận lợi cho sự thay đổi mọi mặt và đi xa. Hạp các nghề dịch vụ, làm môi giới, trung gian, hòa giải, trọng tài, mua bán trả góp.

- Đinh Tỵ (Thổ, 39 nam Thủy Diệu nữ Mộc Đức) : Có sự thay đổi phương hướng làm ăn, nơi ăn chốn ở, văn phòng, hoặc có sự tu bổ, sửa chữa mọi vận dụng, đồ đạc. Trong nhà người nữ sức khỏe, công danh, tài lộc không tốt, dù có tài lộc cũng hay hao tán.

- Ất Tỵ (Hỏa, 51 nam Vân Hớn nữ La Hầu) : Cần phải gặp quý nhân hoặc người trên của mình để hỏi ý kiến, hoặc chờ đợi tin tức khác. Nên ra ngoài xem xét không nên ngồi tại chỗ. Nhưng khi quyết định thì phải có tính cương quyết, mạo hiểm. Nên hoàn trả tiền bạc đến hạn kỳ hoặc các đồ đạc vật dụng không còn thích hợp. Trong vấn đề tình cảm nên có thái độ dứt khoát. Có tin tức, hoặc lời nhắn của bạn bè, thân nhân ở xa về chuyện tình cảm, chuyện của người xưa. Hạp các nghề nhiếp ảnh, vi tính, gia công chế biến, thời trang, siêu thị, kiến trúc, địa ốc.

- Quý Tỵ (Thủy, 63 nam Mộc Đức nữ Thủy Diệu) : Phàm làm việc gì cũng phải có sự nỗ lực bền chí mới có kết quả. Không nên ngồi tại chỗ mà phải di chuyển đây đó để thăm dò, giao thiệp. Tốt cho việc đi xa để cầu tài, gặp vận may. Phái nữ gặp ngày này mọi việc đều không tốt, gặp nhiều khó khăn hơn phái nam. Cầu mong tin tức khó được, hoặc chỉ có tin không tốt.

- Tân Tỵ (Kim, 75 nam Thủy Diệu nữ Mộc Đức) : Ngày của hạn kỳ đã đến, hoặc phải tiến hành, giải quyết, hoặc phải thay đổi hoàn cảnh, chức vụ, việc làm cũ. Nên đổi mới và lập kế hoạch cho mình một hướng đi. Không nên dấu diếm ý định của mình chỉ thêm sự thiệt thòi vì người khác cũng đang chờ đợi mình lên tiếng. Có tin tức không tốt ở nơi xa. Tài lộc trung bình.

TỬ VI TUỔI NGỌ THỨ 7:

- Canh Ngọ (Thổ, 26 nam Thái Âm nữ Thái Bạch) : Công danh, tài lộc của cấp trên hoặc của người trên trong thân tộc có tin tức thay đổi. Nên dự tính cho mình một đường lối riêng tương tương lai. Ngày có rất nhiều tin tức cho công việc cần làm. Có tài lộc hoặc nhận được tin tức tốt đẹp về việc làm. Có tin không tốt về sức khỏe, bổn mạng của người thân. Cần cẩn trọng khi sử dụng phương tiện xe cộ, máy móc. Ngày có quá nhiều việc cần phải giải quyết, hoặc nhà có đông người.

- Mậu Ngọ (Hỏa, 38 nam Thổ Tú nữ Vân Hớn) : Hết sức tránh sự đàm luận, tranh cãi, sẽ không giải quyết được gì mà còn gây sự bất hòa, xích mích, thị phi. Không nên nóng tánh vội vàng khi có chuyện xảy ra trong ngày cần phải giải quyết, hoặc nhận được những tin tức tạo nhiều áp lực cho mình trong công việc, tình cảm. Nên sắp xếp ổn định lại công việc, không nên tin cẩn người khác. Cẩn trọng khi di chuyển, đi lại. Sức khỏe, tài lộc không tốt hoặc vào nhanh ra nhanh. Hạp các nghề thể thao, sửa chữa, pháp luật, y tế.

- Bính Ngọ (Thủy, 50 nam Thái Dương nữ Thổ Tú) : Tất cả việc mong cầu về công danh, tình cảm, tài lộc đều không tốt. Không nên hấp tấp giải quyết những công việc lớn lao sẽ gặp rủi ro, bất trắc. Sức khỏe không tốt. Có tin không thuận lợi về công danh, tình cảm, sức khỏe của người thân. Cẩn trọng trong vấn đề pháp luật, tranh luận, kiểm tra. Đề phòng thị phi, tranh cãi. Mọi việc đều chưa xong. Hao tốn về đi lại xe cộ.

- Giáp Ngọ (Kim, 62 nam Thái Âm nữ Thái Bạch) : Không nên đi xa bất lợi gặp rủi ro hoặc có tai nạn về xe cộ, máy móc. Có tài lộc nhưng cực nhọc vất vả. Nên tự mình quyết định lấy công việc của mình sau khi lắng nghe ý kiến của người khác. Gia đạo có chuyện buồn. Không thích hợp cho việc gặp gỡ, kết bạn, vui chơi.

- Nhâm Ngọ (Mộc, 74 nam Thổ Tú nữ Vân Hớn) : Tất cả việc mong cầu nên tiến hành nhanh chóng, không nên chần chừ, và không nên có nhiều tham vọng, được bao nhiêu hay bấy nhiêu. Nếu không như vậy thì chọn một ngày khác tốt hơn và nên rút lui. Ở lâu sẽ phát sinh nhiều vấn đề phiền toái, hao tài. Sức khỏe không tốt. Không nên tranh cãi, đề phòng dèm pha, nói xấu, thưa kiện. Mọi vấn đề liên quan đến tình cảm cần phải có sự dứt khoát nhanh gọn mới tốt. Nói chung là hãy hành động không nên nói nhiều. Gia đạo bất an.

TỬ VI TUỔI MÙI THỨ 7 : cuối Tam Tai

- Tân Mùi (Thổ, 25 nam Kế Đô nữ Thái Dương) : Nếu có người đến đề nghị về công việc, hợp tác làm ăn là họ đang gặp khó khăn, trở ngại chút ít, nhưng là ý định chân thành. Tuy nhiên nên có sự thảo luận, chớ quyết định nhanh chóng bằng giấy tờ, văn tự vì thời cơ chưa đến. Tình cảm tốt. Có tin tức về tài lộc, công việc.

- Kỷ Mùi (Hỏa, 37 nam La Hầu nữ Kế Đô) : Gia đạo hoặc công sở có nhiều người đến. Do đó công việc hay bị đứt quãng hoặc khi bắt tay vào làm thì khó trước dễ sau. Có sự sửa sang, tu bổ về nhà cửa hoặc văn phòng. Ngày có sự di chuyển, thay đổi về công việc, hoặc có những lời đề nghị mới. Việc tình cảm mới chớm nở không nên hấp tấp trong việc hẹn ước, và cũng không nên tin cẩn quá đáng. Có tin xa. Hao tài nhỏ cho việc đi lại, tiếp khách, xe cộ. Nếu làm nghề buôn bán thì nên nhẫn nại, mới có kết quả. Có quý nhân giúp đỡ về lời nói hoặc danh tiếng. Hạp các ngành nghề sửa chữa, xây dựng, môi giới, trung gian.

- Đinh Mùi (Thủy, 49 nam Thái Bạch nữ Thái Âm) : Có sự thay đổi về nơi ăn chốn ở, công danh, tài lộc, tình cảm. Có tài lộc hoặc có lộc ăn, quà cáp, dự tiệc. Thuận lợi cho việc kết hôn, kết bạn, đến gặp quý nhân. Có người đi xa. Có khách đến. Hạp các nghề nhiếp ảnh, xây dựng, địa ốc.

- Ất Mùi (Kim, 61 nam Kế Đô nữ Thái Dương) : Nên thân cận với người lớn tuổi hoặc cấp trên khi quyết định công việc. Ngày có sự thay đổi, sửa chữa, tu bổ, dọn dẹp về nhà cửa, văn phòng. Tiền bạc vào nhanh ra nhanh. Không nên quá tham lam sẽ có hại. Có quý nhân giúp đỡ về công danh, tài lộc. Tình cảm tốt. Gặp bạn hoặc có khách đến, hoặc có tin tức của họ. Hạp các nghề xây dựng, kiến trúc, địa ốc, bảo hiểm.

- Quý Mùi (Mộc, 73 nam La Hầu nữ Kế Đô) : Dù đang ở trong hoàn cảnh có sự thuận lợi, mọi việc đều cũng phải có sự dè dặt, gặp trở lực, sai hẹn, dời hẹn. Đề phòng mất của, hao tài mà không được việc. Tránh gây gỗ. Tài lộc thất thường, hoặc có lộc ăn mà mình cũng phải hao tốn. Nên cẩn thận trong hành động, lời nói có sự hiểu lầm, oán trách. Có tin tức ở xa, có chuyện buồn, hoặc tin mong cầu không được như ý.

TỬ VI TUỔI THÂN THỨ 7:

- Nhâm Thân (Kim, 24 nam Vân Hớn nữ La Hầu) : Ngày xung của bổn mạng. Mưu sự còn gặp nhiều trắc trở, không nên làm càn, bất lợi. Nên có sự hòa hoãn, nhẫn nhịn mới qua được những trở ngại. Không nên quyết định các việc lớn về công danh, tài lộc, tình cảm. Mọi việc còn chưa sáng tỏ. Nên ngồi yên tại chỗ. Đi xa bất lợi. Tài lộc kém.

- Canh Thân (Mộc, 36 nam Mộc Đức nữ Thủy Diệu) : Ngày xung của bổn mạng. Nếu có tài lộc thì nên trang trải mọi việc còn tồn đọng lâu dài. Có quý nhân hoặc bè bạn giúp đỡ trong công việc. Không nên chần chờ lỡ mất cơ hội. Có tin xa hoặc người thân đi xa. Gặp lại người xưa. Nếu cần thay đổi nơi ăn chốn ở, văn phòng thì nên quay về khu vực cũ. Có người nhắc lại chuyện xưa khiến mình cần phải giải quyết. Nên cẩn trọng về sức khỏe, nhà có người đau yếu hoặc gặp chuyện buồn, rủi ro.

- Mậu Thân (Thổ, 48 nam Thủy Diệu nữ Mộc Đức) : Ngày xung của bổn mạng. Mọi việc sẽ trở nên không dễ dàng theo ý mình mong muốn. Công việc dở dang, hoặc phải bỏ ngang công việc làm lại. Nên nhẫn nại. Có tài lộc nhỏ, hoặc cầm tiền, đồ đạc của người khác nhờ mình chuyển giao.

- Bính Thân (Hỏa, 60 nam Vân Hớn nữ La Hầu) : Ngày có nhiều việc xảy ra ngoài dự tính và có sự thay đổi mọi mặt. Tài lộc vào nhanh ra nhanh. Tiền đáo hạn hoặc công việc, tình cảm, sức khỏe đã đến lúc phải kết thúc. Có quý nhân giúp đỡ. Tin tức mong đợi từ lâu đã đến. Hạp nghề mỹ thuật, gia công chế biến, thời trang.

- Giáp Thân (Thủy, 72 nam Mộc Đức nữ Thủy Diệu) : Ngày xung của bổn mạng. Có sự thay đổi về công việc, phương hướng làm ăn. Đề phòng công việc đang tiến hành bị ngăn trở, dở dang vì có khách hoặc có tin tức mới cần phải giải quyết. Có tài lộc, có quý nhân giúp đỡ hoặc có tin tức tốt về tiền bạc, công việc. Có hỷ sự. Có sự thay đổi, tu bổ đồ đạc, vật dụng hành nghề.

TỬ VI TUỔI DẬU THỨ 7:

- Quý Dậu (Kim, 23 nam Thái Dương nữ Thổ Tú) : Nên thay đổi hoàn cảnh hiện tại mới tốt, nếu không thì công việc mong cầu khó có kết quả, gặp trắc trở. Tuy nhiên phải có sự dè dặt, chậm rãi, toan tính kỹ càng rồi mới hành động vào ngày khác. Nên tìm gặp quý nhân là người khác phái sẽ có sự giúp đỡ mình về ý kiến, tiền bạc.

- Tân Dậu (Mộc, 35 nam Thái Âm nữ Thái Bạch) : Mọi việc cứ để xảy ra tự nhiên sẽ có lợi, có tài lộc. Gia đạo an vui, tình cảm tốt. Có tin tức tốt lành về tình cảm, giao dịch. Thuận lợi cho việc đính ước, giao hẹn. Tài lộc tốt ở xa đến.

- Kỷ Dậu (Thổ, 47 nam Thổ Tú nữ Vân Hớn) : Ngày thuận lợi cho các việc mong cầu về tình cảm, hôn nhân, kết bạn, đính ước, hợp tác, thi cử, xét duyệt lương bổng. Có tài lộc hoặc có lộc ăn, quà tặng, tin tức tốt. Không nên chần chờ khi có cơ hội đến dù không có lợi mấy ở trước mắt, nhưng nên tiến hành, hoặc mạnh bạo thay đổi hoàn cảnh hiện tại dù biết rằng việc tương lai phải trải qua nhiều giai đoạn, công sức. Hạp các nghề thời trang, thẩm mỹ, quảng cáo, quán ăn, trưng bày, biểu diễn, dịch vụ cho thuê, cho vay.

- Đinh Dậu (Hỏa, 59 nam Thái Dương nữ Thổ Tú) : Đã đến lúc cần có sự thay đổi về hoàn cảnh hiện tại. Không nên chần chừ sẽ bị lỡ việc. Không nên ngồi tại chỗ mà phải đi đến nơi mình cần giải quyết. Có tài lộc. Có hỷ sự. Hạp các nghề nhiếp ảnh, bảo hiểm, ngân hàng, đầu tư cổ phiếu.

- Ất Dậu (Thủy, 71 nam Thái Âm nữ Thái Bạch) : Giao kết, hẹn ước, kết bạn với người khác phái có lợi. Có nhiều tin tức liên quan đến công danh, tình cảm khiến mình phải quyết định thay đổi phương hướng làm ăn hoặc phải giải quyết các vấn đề xưa cũ, và phải có cuộc đi ngắn, hoặc hẹn gặp. Sức khỏe không tốt. Có tài lộc hoặc có tin tức tốt về công ăn việc làm.

TỬ VI TUỔI TUẤT THỨ 7:

- Giáp Tuất (Hỏa, 22 nam Thái Bạch nữ Thái Âm) : Đề phòng sức khỏe không tốt, hoặc trong gia đạo có nhiều chuyện xảy ra ngoài ý muốn về sức khỏe, bổn mạng của người thân. Nuôi súc vật không tốt, hoặc nên cẩn trọng khi đi đường, sử dụng xe cộ máy móc, té ngã hoặc va chạm có thương tích. Xe cộ máy móc hư hao. Cần nên tự mình quyết định không nên nghe ý kiến của người khác, bất lợi. Nói chung tài lộc thì ít nhưng đây là bước đầu để tạo danh tiếng. Hạp các nghề sửa chữa, điện, công nghệ thông tin, nấu ăn, xây nhà, mai táng, địa ốc, bảo hiểm, ngân hàng, cổ phiếu.

- Nhâm Tuất (Thủy, 34 nam Kế Đô nữ Thái Dương) : Ngày hoàn toàn không tốt cho mọi việc. Tất cả đều không nên tiến hành. Hoặc chỉ vì tình nghĩa miễn cưỡng mà phải làm. Gia đạo bất an. Tin tức không tốt, chớ nên tin cẩn, hoặc hy vọng vào người khác, có sự phản bội, nếu không thì cũng nhận tin tức trái ngược với dự tính. Không nên gây gỗ đưa đến bất hòa. Tài lộc vào nhanh, ra nhanh.

- Canh Tuất (Kim, 46 nam La Hầu nữ Kế Đô) : Có tin tức về chuyện tình cảm ở nơi xa, hoặc nhà có khách, bè bạn đến theo lời hẹn. Không nên hấp tấp vội vàng quyết định nhanh chóng, kết quả sẽ không tốt. Có tài lộc. Có tin xấu về sức khỏe, công danh của người thân. Cẩn trọng trong việc đi lại, sử dụng xe cộ, máy móc, gặp trở ngại. Chuyện tình cảm chớ nên dây dưa không tốt.

- Mậu Tuất (Mộc, 58 nam Thái Bạch nữ Thái Âm) : Có tài lộc nhưng phải có sự chia chác hoặc giữ số tiền, đồ đạc của người khác. Có sự vất vả trong công việc, hoặc phải lo cho người thân, bè bạn. Nên nhường nhịn, không nên tranh cãi, đôi co, nhưng cũng không nên hứa hẹn, hoặc để người khác ràng buộc mình vì lời nói. Gia đạo có nhiều âu lo, bận rộn, đau ốm, tai nạn hoặc có tang. Hạp nghề pháp luật, y tế, cơ khí, cơ giới, phóng viên.

- Bính Tuất (Thổ, 70 nam Kế Đô nữ Thái Dương) : Cần phải nghiêm chỉnh và hết sức cẩn trọng trong mọi việc đến với mình. Có quá nhiều vần đề cần phải giải quyết. Gia đạo rất bận rộn về công ăn, chuyện làm, nhà cửa, sức khỏe. Không nên di chuyển, đi xa. Bình tĩnh khi gặp áp lực từ nơi khác. Tình cảm không tốt. Tài lộc kém, dễ hao tài, dễ gặp chuyện thị phi, phiền toái. Nói chung mọi việc đều không tốt.

TỬ VI TUỔI HỢI THỨ 7:cuối Tam Tai

- Ất Hợi (Hỏa, 21 nam Thủy Diệu nữ Mộc Đức) : Nên từ tốn, chậm rãi không nên quyết định mau chóng sẽ gặp điều bất lợi, đừng ngại sự khó khăn, nên đi xa, tiến hành việc thay đổi phương hướng làm ăn cũng như về mặt tình cảm. Có tin tức tốt về công danh, nơi ăn chốn ở của bè bạn, người thân. Tài lộc trung bình. Hạp các nghề nhiếp ảnh, điện thoại, công nghệ thông tin, vi tính, thời trang, kiến trúc, địa ốc, bảo hiểm, thị trường chứng khoán.

- Quý Hợi (Thủy, 33 nam Vân Hớn nữ La Hầu) : Nên giải quyết các việc đã đến kỳ hạn. Càng để lâu thì càng gặp nhiều bất trắc, thiệt thòi, rắc rối, thị phi, việc càng nặng thêm. Hãy nên đi để giải quyết, chớ để người hoặc công việc đến với mình sẽ có nhiều bất lợi.

- Tân Hợi (Kim, 45 nam Mộc Đức nữ Thủy Diệu) : Nên bền chí nhẫn nại với tình trạng hiện tại, mọi việc còn chưa sáng tỏ, nhưng cũng nên bày tỏ ý định của mình để dễ thảo luận khi thay đổi phương hướng làm ăn, công danh, tình cảm. Sự mong cầu về tiền bạc, tình cảm còn trong giai đoạn chờ đợi nhưng sẽ đến.

- Kỷ Hợi (Mộc, 57 nam Thủy Diệu nữ Mộc Đức) : Đề phòng sức khỏe không tốt, hoặc có tin tức không thuận lợi về mặt sức khỏe, tình cảm của mình hoặc của người thân. Cẩn trọng về lời nói, văn thư, giấy tờ có sự lầm lẫn khiến mình bị ràng buộc, thị phi, sai hẹn, dời hẹn. Hành động không chu đáo gặp rủi ro phải làm lại, hoặc không nên quyết định mọi việc một cách nhanh chóng, sẽ gặp trở lực. Tin tức chậm chạp.

- Đinh Hợi (Thổ, 69 nam Vân Hớn nữ La Hầu) : Tài lộc tuy có nhưng chậm chạp, hoặc phải chi dụng những việc cần thiết, các công việc đã đến hạn kỳ. Mọi việc đều thay đổi. Có tin tức ở nơi xa. Hạp các nghề xây dựng, kiến trúc, du lịch, tiếp thị, phóng viên, địa ốc.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tử vi thứ 7 của 12 Con Giáp ngày 7 tháng 2 năm 2015 - Tuổi tý - Xem Tử Vi

Nguyên tắc bài trí ghế sofa chuẩn phong thủy

Bài trí ghế sofa trong phòng khách sao cho đẹp mắt đã khó, đạt chuẩn phong thủy để rước tài lộc vào nhà càng khó, đòi hỏi gia chủ phải có những nguyên tắc bài
Nguyên tắc bài trí ghế sofa chuẩn phong thủy

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Bài trí ghế sofa trong phòng khách sao cho đẹp mắt đã khó, đạt chuẩn phong thủy để rước tài lộc vào nhà càng khó, đòi hỏi gia chủ phải có những nguyên tắc bài trí nhất định.


► Tham khảo thêm những thông tin về: Phong thủy nhà ở và các Vật phẩm phong thủy chuẩn xác nhất

Dưới đây là những nguyên tắc cơ bản giúp gia chủ có thể lựa chọn và sắp xếp ghế sofa chuẩn phong thủy, không những thu hút sự chú ý của mọi người mà còn hút tài lộc và vượng khí vào ngôi nhà.   1. Nên chọn sofa theo bộ hoặc cặp chẵn   Trên thị trường có rất nhiều loại sofa với đủ kiểu dáng, hình dạng, màu sắc, chất liệu khác nhau. Có sofa đơn, đôi, dài, gấp khúc, tròn hoặc những hình dáng kì dị khác…Theo quan điểm phong thủy phòng khách, kiêng kị nhất là bài trí sofa thiếu cặp, số lẻ hoặc sử dụng kết hợp cả hai kiểu dáng tròn và vuông với nhau.    Do đó, tốt nhất nên chọn bày sofa theo bộ, theo các cặp số chẵn và bày nhất quán theo một kiểu dáng nhất định, nếu quá lộn xộn vừa tạo cảm giác bừa bộn, khó chịu lại phá vỡ phong thủy, không tốt cho mọi thành viên trong ngôi nhà.
 
Nguyen tac bai tri ghe sofa chuan phong thuy hinh anh
Ảnh minh họa

2. Hướng kê sofa tốt nhất   Một trong những nguyên tắc bài trí ghế sofa chuẩn phong thủy là phải kê chúng ở hướng vượng của ngôi nhà. Những hướng vượng này chủ yếu là hướng chính Đông, chính Nam, chính Tây và Đông Bắc. Nên kê sofa theo hướng lưng tựa vào tường còn mặt ghế hướng vào những hướng kể trên sẽ mang lại nhiều vượng khí và tài lộc cho gia chủ.
3. Lưng ghế sofa phải có điểm tựa   Khi sắp xếp lưng ghế sofa tựa vào tường hoặc hoặc tủ kệ nào đó mang ý nghĩa rằng gia chủ sẽ có chỗ ngồi vững chắc, an toàn và ổn định, từ đó sẽ dễ dàng phát triển công danh, sự nghiệp tiền tài. Ngược lại, nếu sau lưng sofa không có điểm tựa đồng nghĩa với việc tiền tài dễ bị hao hụt hoặc thất thoát. 
4. Không đặt ghế sofa ngay dưới xà ngang   Dù là vị trí nào trong nhà, khi có xà ngang áp ngay phía trên sẽ khiến người ngồi ngay dưới đó cảm thấy bí bách và mệt mỏi, vị trí đặt sofa cũng không ngoại lệ.   Trong trường hợp bất khả kháng, có thể dùng hai cách để hạn chế sự ảnh hưởng của xà ngang. Thứ nhất, khi sửa chữa lại căn nhà, nên xây tường bao quanh xà ngang một cách khéo léo để không phân biệt được có xà ngang chèn ép phía trên. Thứ hai, có thể đặt hoặc treo hai chậu cây trúc khai vận ở hai đầu của ghế sofa nhằm hóa giải hung khí.   Việt Hoàng (Theo Tubatu)  
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Nguyên tắc bài trí ghế sofa chuẩn phong thủy

Giải mã giấc mơ thấy thầy cô giáo –

Nếu mơ thấy thầy hiệu trưởng nghiêm khắc, có lẽ bạn đang rất căng thẳng và mệt mỏi về chuyện bài vở. 1. Nếu thầy hoặc cô giáo xuất hiện trong giấc mơ của bạn, rất có thể bạn sẽ học thêm các kỹ năng mới hoặc bước vào lĩnh vực mới. Ngoài ra, nó còn cho

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Nếu mơ thấy thầy hiệu trưởng nghiêm khắc, có lẽ bạn đang rất căng thẳng và mệt mỏi về chuyện bài vở.

1. Nếu thầy hoặc cô giáo xuất hiện trong giấc mơ của bạn, rất có thể bạn sẽ học thêm các kỹ năng mới hoặc bước vào lĩnh vực mới. Ngoài ra, nó còn cho thấy thái độ học tập mới mẻ của bạn.

2. Nếu thầy cô giáo là người bạn không quen biết nhưng lại có cảm giác rất thân thuộc đồng thời tin tưởng họ, điều này cho thấy bạn sẽ theo học lĩnh vực hoặc kỹ năng mới nào đó mà từ trước tới nay bạn vẫn luôn mong ước.

3. Mơ thấy bản thân đang chào hỏi thầy cô giáo, là điềm báo có thêm người bạn thân tốt bụng hoặc được thăng chức tăng lương.

4. Trong giấc mơ thấy mình được thầy cô khen ngợi, bạn cần chăm chút hơn về vấn đề học tập của mình nhé. Bởi đây là điềm báo không may mắn đâu nhé, kết quả thực tế sẽ trái ngược lại với giấc mơ này đó.

5. Nếu mơ thấy lời trách móc của thầy cô giáo, báo hiệu các mối quan hệ của bạn đều trong tình trạng rất ổn định và sẽ phát triển tốt hơn.

6. Mơ thấy mình đến thăm nhà thầy cô giáo, là tín hiệu cho thấy sự rạn nứt trong các mối quan hệ xã giao.

1350543020-quachocogiao1-3931-1397436094

7. Mơ thấy mình đang lên lớp, vận may trong việc học tập sẽ nhanh chóng đến với bạn.

8. Trong mơ thấy gặp thầy hiệu trưởng nghiêm khắc, bạn đang căng thẳng và mệt mỏi vì bài vở quá nhiều.

9. Nếu mơ thấy thầy hoặc cô giáo nói chuyện thân mật với mình, điều này có nghĩa bạn đang gặp trục trặc trong tình cảm. Mối quan hệ của hai bạn đang xuất hiện những mâu thuẫn cần phải được giải quyết triệt để.

10. Mơ thấy mối quan hệ của mình và thầy cô giáo vô cùng tốt đẹp, cho thấy bạn đang gặp khó khăn trong việc cư xử với người lớn tuổi hơn mình.

11. Mơ thấy bản thân trở thành thầy hoặc cô giáo, biểu thị tình cảm hiện tại của bạn chỉ là một chiều mà mà thôi.

12. Trong mơ thấy ai đó đang lên lớp giảng bài, báo hiệu bạn sẽ có được vinh hoa phú quý.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Giải mã giấc mơ thấy thầy cô giáo –

Phong thủy nhà vệ sinh –

Việc sắp đặt nhà vệ sinh như thế nào cho đúng phong thuỷ là vấn đề luôn được các gia chủ quan tâm để ngôi nhà của mình có bố cục lý tưởng nhất. Dưới đây là ba trong số rất nhiều những thắc mắc mà các gia chủ thường gặp khi chọn vị trí cũng như bố trí

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Việc sắp đặt nhà vệ sinh như thế nào cho đúng phong thuỷ là vấn đề luôn được các gia chủ quan tâm để ngôi nhà của mình có bố cục lý tưởng nhất.

Dưới đây là ba trong số rất nhiều những thắc mắc mà các gia chủ thường gặp khi chọn vị trí cũng như bố trí các thiết bị bên trong nhà vệ sinh:
* Có đúng là không được đặt phòng vệ sinh trên lầu đè lên cửa ra vào chính dưới trệt và có nhất thiết phòng vệ sinh các lầu phải thẳng hàng với nhau không?

* Có người quen nói rằng khi làm nhà không nên xoay bàn cầu và các đường ống ra phía trước nhà vì khi xả nước sẽ… cuốn trôi tiền tài và an khang của nhà đi hết (!?) Thực hư điều này ra sao?

* Hướng ngồi bàn cầu và hướng lavabo có nên xem theo tuổi của gia chủ hoặc người sử dụng thường xuyên phòng vệ sinh đó không?

33-laban350

Ví dụ về la bàn phong thuỷ phân cung điểm hướng cho một nhà phố, trong đó chỉ rõ các khu vực bố trí vệ sinh (màu xám) và khu vực đặt bếp, cửa chính, hồ nước ngầm… tách biệt nhau.

Thực tế cũng chứng minh nếu gia chủ quá kiêng kỵ các vấn đề liên quan đến phong thuỷ mà không có ưu tiên chính phụ và quan niệm “đa cát thắng thiểu hung” (nhiều cái tốt thắng ít cái xấu) thì hầu như sẽ rất dễ bị rối khi làm nhà.

Theo nguyên tắc bố trí cát hung trong nhà ở thì khu vệ sinh nên đặt vào các hướng xấu, các hướng bất lợi về khí hậu đồng thời đảm bảo hợp lý về hệ thống kỹ thuật. Hung gặp hung hóa cát, đặt khu vệ sinh vào vị trí xấu (theo tính toán về tuổi gia chủ phối hợp với hướng nhà) sẽ hợp hơn là đặt vào vị trí tốt.

Đây chính là sự phân biệt rạch ròi và ưu tiên các khu nào nằm về vùng nào. Nếu các chức năng cơ bản (cửa chính, bếp, phòng khách, phòng ngủ, bàn thờ…) được đặt các vùng tốt, thì dĩ nhiên nhưng vùng còn lại là bố trí không gian vệ sinh, và các chức năng phụ khác.

Trong ngôi nhà xưa thì khu vệ sinh là một dạng khu phụ, chứ không có tiện nghi cao như bây giờ. Vì thế, ngoài việc phân cung điểm hướng tốt xấu, cha ông ta vẫn hay đưa khu “nhà xí” ra xa nhà chính. Còn hiện nay phong thuỷ và kiến trúc hiện đại đã dung hòa với nhau, tuy vẫn xếp khu vệ sinh vào nhóm phải đặt ở hung phương (cùng với kho, chỗ giặt phơi, nhà xe…) nhưng không hề là là một khu phụ phải “giấu” ở nơi tối tăm ẩm thấp nữa.

Những thắc mắc của gia chủ về kiêng kỵ khi bố trí khu vệ sinh có thể lý giải dưới góc độ khoa học phong thuỷ và kiến trúc như sau:

* Khu vệ sinh đè lên trên cửa ra vào chính của nhà lầu: Theo nguyên tắc phân cung điểm hướng, luôn ưu tiên cho môn, rồi đến táo, sau đó mới đến các không gian khác, nghĩa là vị trí và hướng của bộ cửa chính rất quan trọng. Do vậy theo la bàn phong thuỷ thì vị trí cửa chính (vùng khai môn) không bao giờ trùng với vị trí đặt khu vệ sinh (tác xí) cả.

Nếu nhà có lầu mà đặt khu vệ sinh trên lầu trùng với vị trí bộ cửa chính dưới trệt thì hoặc là khu vệ sinh đó đặt sai vị trí, hoặc là bộ cửa chính của ngôi nhà đặt sai vị trí nhưng do nhà phố nhỏ nên không thay đổi được. Khi đó nếu vị trí và hướng bộ cửa chính (cũng là hướng của nhà) hợp với mệnh trạch gia chủ rồi thì khu vệ sinh nên dời sang vị trí khác. Còn nếu ngược lại thì bộ cửa chính nên dời đi sao cho không bị khu vệ sinh ở trên “đè lên” nữa.

33-vesinh500

Việc bố trí lavabo và bàn cầu không phụ thuộc vào hướng nữa, chỉ cần lưu ý sao cho thuận tiện, tránh gió lùa, tránh tia nhìn xoi mói, thoải mái dễ chịu, không bị va vướng vào các thiết bị khác khi sử dụng.

* Trường hợp khác, nếu nhà có chiều ngang rộng thì khi phân cung điểm hướng vẫn có thể đặt khu vệ sinh về phía mặt trước của nhà theo ý đồ của kiến trúc sư. Mỗi mặt bằng đều có những vùng đặt được khu vệ sinh và những vùng không thể, phụ thuộc bố cục và phân cung điểm hướng như đã nói, do vậy không nhất thiết vệ sinh các tầng phải trùng nhau.

Tuy nhiên các khu vệ sinh trùng nhau sẽ thuận lợi hơn cho hệ thống kỹ thuật. Vấn đề là gia chủ và người thiết kế nên xác định ngay từ đầu các vùng nào có thể bố trí khu vệ sinh, xem xét trên – dưới các vùng ấy là không gian gì để quyết định bố cục mặt bằng, và tránh để khu vệ sinh ở bên trên chỗ bếp nấu, bàn thờ (thuỷ khắc hoả) và cửa chính như đã nêu, còn lại đều có thể xử lý được.

* Về hướng của bàn cầu: khi đã xác định các vấn đề chính phụ thì hầu như chuyện hướng của lavabo, bàn cầu là không đáng kể nữa. Vì theo thứ tự ưu tiên xác định hướng thì từ hướng nhà, hướng cửa chính, hướng bếp cho đến hướng bàn thờ, hướng giường ngủ của gia chủ và các thành viên, hướng bàn ngồi làm việc… là đã quá chi tiết và đầy đủ cho các sinh hoạt cơ bản của một ngôi nhà.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Phong thủy nhà vệ sinh –

Nguyên tắc tam hợp

Mọi người đều nhận thấy rằng trênthiên bàn lá số tử vi là Cung từ tý đến hợi với các hành kim mộc thủy hỏa thổnằm những vị trí cố định và các vị trí cố định được an ở các Cung Mệnh phụ lụcphúc điền … phân định các Cung và các biểu tượng là số thành những tam hợp tacó ví dụ :
Nguyên tắc tam hợp

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Thân tý thìn biểu tượng Mệnh tài quan.

Tỵ dậu sửu biểu tượng là Mệnh tử nô.

Dần ngọ tuất biểu tượng là phối phúc di.

Hợi mão mùi biểu tượng là điền bào ách.

Xét ngũ hành (kim mộc thủy hỏa thổ) ta thấy những hành liền nhau là sinh, những hành cách nhau là khác. Vậy sinh là liền nhau thì có những tác dụng mạnh cho nhau, còn khắc là gián đoạn có tác dụng xô đẩy và xa rời. Khảo sát các hiện tượng vật lý cũng cho phép ta kết luận tương tự. Hơn nữa khoa Tử Vi được xem là một khoa học có căn bản vẫn dựa theo phước thiện của mỗi người. Nho giáo có câu “nhân chi sơ tính bản thiện” cái khắc chỉ là do con người tạo ra hoặc là từ kiếp này hay kiếp khác, chẳng qua chỉ là cái quả của một cá nhân sinh ra. Do đó người ta cho rằng cái sinh là gốc của căn bản đến với mình và cái khắc là cái phụ xuất hiện từ cái sinh. Đi giải đáp khắc cũng có ảnh hưởng như khắc xuất khắc nhập. Trường hợp này khi đã đi vào chi tiết xếp hành của các sao hoặc hành chung của một tam hợp như tam hợp của thái tuế quan phù bạch hổ, chẳng hạn để xem chúng có chung đụng với nhau được không. Đây chỉ là xét các hành nguyên thủy mục đích tìm chiều vận hành của các Cung để xem trong một tam hợp Cung nào chịu ảnh hưởng Cung nào, thứ tự các ảnh hưởng và ảnh hưởng ra sao ? Xét hành của các tam hợp ta thấy :

Thìn (thổ) sinh thân (kim) sinh tý (thủy).

Tỵ (hỏa) sinh sửu (thổ) sinh dậu (kim).

Dần (mộc) sinh ngọ (hỏa) sinh tuất (thổ).

Hợi (thủy) sinh mão (mộc) khắc mùi (thổ).

Thứ tự trên cho phép ta kết luận nếu Cung Mệnh và 11 Cung khác nằm torng 3 tam hợp đầu các biểu tượng sẽ ảnh hưởng nhau và thứ tự các ảnh hưởng hay chiều tác dụng sẽ được trình bày sau đây với các ví dụ. Nếu các biểu tượng này lọt vào trường hợp tam hợp thứ tư (hợi mão mùi) thì ta thấy ngay chỉ có biểu tượng hợi và mão là chịu ảnh hưởng nhau.

Sự sinh khắc các hành vận chuyển theo một chiều nhất định và không có chiều ngược lại. Khi người ta nói ảnh hưởng nhau chỉ vì người ta đã giải thích theo khoa học rằng Cung sinh thì bị hao hụt, chung được sinh thì được bồi dưỡng cả cái tốt lẫn cái xấu tùy theo đặc tính của từng tinh đẩu.

Tóm lại hành thuận lợi theo chiều sinh có nhiều tác dụng, hành khắc chiều sinh không có tác dụng. Ví dụ : tam hợp thân tý thìn khi xét cát hung của Cung thìn ta cần chú trọng nhiều nhất đến Cung thìn, riêng đối với Cung tý thủy được thân kim là giảm cường độ của các đẩu tinh tại Cung thân trước khi tính cường độ và đặc tính của đẩu tinh nơi Cung thìn chiếu nhập vào mà khỏi cần để ý đến tính chất của đẩu tinh nơi Cung tý. Khi xét đến Cung thìn ta chỉ cần giảm cường độ của đẩu tin cư nơi Cung này và của Cung thân chiếu xuống, Cung tý thì không kể đến.

Kết luận : Mệnh chỉ vận hành trên 12 Cung thiên bàng vậy ta có thể dựa trên 4 đặc tính sinh khắc của 4 tam hợp kể trên để lập thành một bản vị trí tương ứng với các biểu tượng của Mệnh với các Cung thiên bàn để loại bớt sự phức tạp khi xét một tam hợp. Về cách thức giải đoán tam hợp như trên, nếu ai thích có thể phối kiểm chiều tác dụng tam hợp, với phương pháp này cần giải ảnh hưởng tam hợp.

Trường hợp 1 : người tuổi mậu dần có Mệnh đóng tại sửu chiều sinh đi từ quan đến Mệnh, từ điền đến ách đến bào, từ phụ đến nô đến tử, từ thê đến phúc gián đoạn ở thiên di, gián đoạn thê. Trên thực tế người này được thảnh thơi, tiền của không phải làm việc mà có, tiền của phần nhiều do cha mẹ để lại hoặc vì trúng số mà có. Các chuyện rắc rối tai họa thường do nhà đất gây nên. Tuy nhiên khi có hoạn nạn anh em trong nhà đến giúp đỡ và không khi nào vì anh em mà gặp tai ương hay bệnh hoạn và cũng không vì bệnh hoạn tai ương mà sản nghiệp bị tiêu hao. Bạn bè của người này lúc nào cũng sốt sắng giúp đỡ.

Trường hợp 2 : cũng tuổi dần và người này có chức tước kiếm được tiền nhờ ảnh hưởng chức vụ nhưng Mệnh lại không được hưởng vì thường bị mất cắp hay bị người lừa gạt vì Mệnh bị gián đoạn với tài ở mão và quan ở hợi. Đối với Cung ách bào và điền (thuận chiều sinh), người này nhờ anh em gánh chịu hết tai ương và nhờ anh em mà tậu được nhà cửa, ngược lại không bao giờ bị rắc rối về nhà cửa ruộng vườn. Đối với Cung thê di phúc (thuận chiều sinh) thường xa nhà vì thê có sao khắc với đương số và ra ngoài hay được người giúp đỡ.

Trường hợp 3 : người tuổi mão có Mệnh đóng ở dần cũng là người có địa vị, đặc biệt Cung tài bạch rất tốt, trên thực tế lại không được hưởng tiền bạc mà lại sử dụng nó vào việc giữ vững địa vị của mình. Đối với ách bào điền anh em thường gánh chịu tai họa và cũng do anh em phá tán sản nghiệp đương sự. Các Cung thê phúc và di thì vì Cung phúc xấu nên mỗi lần ra đi là gặp chuyện không vừa ý, tuy nhiên Cung thê cũng không chịu ảnh hưởng của di và phúc bởi vì người này luôn luôn gặp may mắn. Đối với các Cung nô phụ tử, con cái luôn luôn được bạn bè giúp đỡ.

Trường hợp 4 : người này tuổi dậu Mệnh đóng tại tý có chức tước và nhờ đó mà kiếm ra nhiều tiền, luôn luôn lo nghĩ đến tiền bạc, ngược lại tiền bạc không giúp đỡ cho địa vị được thăng tiến, và người này cũng không thích địa vị hiện tại của mình, lúc nào cũng nghĩ đến chuyện đổi sang nghề khác. Đối với nô phụ tử vì ở xa nên thường nhờ bạn bè giúp đỡ cha mẹ. Đối với các Cung di thê và phúc thì cũng nhờ bạn bè giúp đỡ cho vợ được khá giả. Đối với các Cung điền bào và ách thì người này nhờ anh em mà có ruộng vườn nhà cửa, nhưng các rắc rối trên đường đời thì không liên hệ gì đến anh em và sự nghiệp.

Chính chiếu hay xung chiếu : xung chiếu là thế luôn luôn chỉ có khắc (khắc nhập hay khắc xuất) với Mệnh. Nếu có khắc nhập thì phải luôn luôn tranh đấu với tha nhân để sinh tồn. Nếu khắc xuất thì được hưởng những gì mà Mệnh có.

Ý nghĩa của xung là đối diện để đụng chạm. Trong lý họ Tử Vi ngoài cái thế tam hợp tức là liên minh tương trợ lẫn nhau để trường tồn, còn thế xung khắc thế đối diện để ganh đua ngăn trở kiềm hãm đối phương thi thố tài năng.

Với 12 Cung số chia thành 6 cặp : tý xung ngọ, sửu xung mùi, dần xung thân, mão xung dậu, thìn xung tuất, tỵ xung hợi nhưng trên thực tế chỉ có tý hợi (thủy) xung khắc tỵ ngọ (hỏa), thân dậu (kim) xung khắc dần mão (mộc), còn 4 Cung thìn tuất sửu mùi đồng hành thổ được coi như là xung nhẹ. Chỉ còn thế âm dương đối diện với nhau (từ dần đến thân thuộc thái dương và từ thân đến dần thuộc thái âm). 12 Cung đó lại chia thành 3 thế đứng cũng là đặc cách nòng cốt của mỗi vị trí dần thân tỵ hợi là tứ sinh phục vụ bồi đắp và tiếp tế cho tứ chính tý ngọ mão dậu để rồi một ngày nào đó sẽ tàn tạ ở nơi tứ mão thìn tuất sửu mùi đây là phần thuộc về không gian.

Còn thời gian thì kể từ giáp tý đến quí hợi, mỗi chữ hàn chi thì có 5 lần như tý thì có 5 lần như giáp tý, bính tý, mậu tý, canh tý và nhâm tý tức là cuộc đời của người sống đến 60 tuổi thì có 5 lần gặp thế xung. Có phải là tuổi nào cũng thế khi để thời gian gặp xung cũng phải chịu những rủi ro như sao không ? muốn biết vậy phải phân tích từng cội rễ mới thấy được diễn biến dị biệt.

4 tuổi tứ sinh là dần thân tỵ hợi ở trong tam hợp cục luôn luôn đóng vai hậu cần tiếp tế cho tứ chính tý ngọ mão dậu nên công lao bù đắp đó không phải là nhỏ nên hay có sự tự kiêu phô trương những gì mà mình đã đắc cách. Khi gặp xung thì thấy mọi sự bị phản bội. Còn người tứ chính tý ngọ mão dậu đóng vai trò chính trong ngũ hành tính tình khẳng khái và bất khuất mọi việc hành động đều tự vạch lấy, hiên nhang thẳng tiến. Gặp xung là thấy người bị chống đối ngăn chặn bước đi. Còn người tứ mộ thìn tuất sửu mùi thì ví như cuộc đời đã về chiều, sức khỏe có phần yếu kém nên khi gặp xung thì hay đau ốm. 3 thế đứng trong 60 năm cuộc đời gặp 5 lần xung tất nhiên mức độ hung hãn thì có khi bị nhiều có khi bị ít, đó là phần thời gian giải quyết.

Mỗi tuổi có mộ can một chi phối hợp xung do chi làm việc còn can là nguồn gốc chính rồi nạp âm, phân tích thêm sẽ thấy mức độ nào của thế xung. Can của tuổi và can của xung giống nhau như tuổi giáp tý gặp xung giáp ngọ cho thấy can và nạp âm của hai bên đều giống nhau, chi tý của tuổi thì khắc xuất chi ngọ của xung, cái xung này chỉ qua loa không đáng kể. Trái lại nếu tuổi giáp ngọ thì nchi ngọ bị chi tý xung khắc nhập phải có buồn phiền thua thiệt phần nào.

Trường hợp tuổi nhâm tý xung mậu ngọ trước hết ta thấy mậu khắc nhâm là quan hệ dù rằng chi tý khắc chi ngọ. Bồi thêm nhâm tý là mộc, mậu ngọ là hỏa, mộc sinh hỏa phải có là nặng. Đây là trường hợp thiên khắc địa xung, trường hợp đó được coi là gần đất xa trời, nếu xung là bính ngọ thì ba thế xung đều yếu kém cả. Tý khắc ngọ, nhâm khắc bính, nhâm (mộc), bính ngọ (thủy), thủy sinh mộc, trường hợp xung này kể như không có gì ngoài những rủi ro không đáng kể và không gây trở ngại gì đến bổn mạng.

Cuộc đời của mỗi cá nhân cứ 12 năm thì lại có 1 năm xung trực tiếp, với những năm đó phải xét chi tiết can và chi, nạp âm cho kỹ, phối hợp với đại vận 10 năm đang nằm trong hoàn cảnh nào, thái tuế hay thiên không ? Trong vận hạn thái tuế tam hợp dù gì đi nữa vẫn gặp sự may mắn. Nếu gặp hạn thiên không nên chấp nhận mọi sự thua thiệt trước là hơn.

Tuy trong 60 năm gặp 5 lần xung nhưng có 2 lần xung là phải thận trọng cho mọi tuổi là năm 43 và 67 tuổi bị can khắc nhập vừa là giai đoạn tiếp cận với thiên lương thiên sứ.

Những người mà đại hạn đang ở thiên di mà là thái tuế vào năm 67 tuổi gặp năm xung là xung thiên khắc là xung nguy hiểm nhất. Hạn này lại giáp thiên thương thiên sứ liên quan đến tài thọ từng ngày từng tháng. Kết quả cho thấy người hiền lương vội vui nơi chốn tuyền đài mà kẻ gian ác thì phải lộ nguyên hình bản chất rồi mới được chết.

Tóm lại trên địa bàn Tử Vi năm xung luôn luôn đứng trong tam hợp thái tuế tức tay trên đóng vai tạo hóa gò ép. Năm tuổi thì thường xuyên đương số đóng vị trí tuế phá kém thế. Cả hai trường hợp xung và tuổi nếu thành quả thấy bệnh hoạn đau ốm đó là trường hợp được giảm khinh cho biết đương số đã tránh khỏi vấp phải những gì gọi là khủng hỏang tinh thần hay vật chất.

Nhị hợp : nhị hợp là thế tương trợ của Mệnh thân, luôn luôn chỉ có xung (nhập hay xuất) liên hệ đến nội cảnh của Mệnh. Một lá số Tử Vi có 12 Cung số chia làm 4 tam hợp là dậu sửu (kim), hợi mão mùi (mộc), dần ngọ tuất (hỏa), thân thìn (thủy). Các Cung Mệnh và thân nằm trong một bộ tam hợp thuộc hạn nào đó đem so với Cung nhị hợp thuộc bộ ba thuộc hành khác, đem so hành thì biết Cung Mệnh thân sinh cho Cung nhị hợp hay Cung nhị hợp sinh cho Cung Mệnh thân, do đó mà giải đoán được một nét quan trọng cho cuộc đời. Các Cung Mệnh và thân bao giờ cũng có nhị hợp là một trong các Cung bàn tử tức giải ách nô bộc điền trạch phụ mẫu và bao giờ cũng sinh nhau chứ không bao giờ khắc. Hoặc là Cung Mệnh thân sinh cho Cung nhị hợp (sinh xuất) hoặc là Cung nhị hợp sinh cho Cung Mệnh thân (sinh nhập).

Nhị hợp là thế tương tự của Mệnh thân liên hệ đến nội cảnh của Mệnh. Toán Tử Vi tùy thuộc vào luật âm dương.

Tam hợp là một thế liên minh 3 Cung có thế đứng chân vạc (sinh chính mộ) đồng lao cộng tác để tranh đấu với đối cực là thế xung cùng lấn lướt thiếu dương và thiếu âm.

Nhị hợp chỉ là một lực lượng dương hay âm hoàn toàn. Nhị hợp bổ túc những gì nêu rõ bản lãnh tiềm tàng trong nội tâm mà tam hợp không phơi bày và phân tích nổi.

Điển hình 14 chính tinh cho ta thấy trừ 4 sao có tính cách khẳng định còn lại 10 sao, trường hợp nào cũng nêu rõ âm dương như hình với bóng. Bốn sao không có nhị hợp là : Tử Vi đầy đủ tư cách tài năng, thất sát nông nỗi, thiên tướng oai hùng, cự môn mồm miệng đanh thép. Trường hợp nào thiên phủ cũng có thái dương đầy đủ ý nghĩa, thiên phủ sáng suốt tùy theo thái dương đóng ở Cung dương hay Cung âm. Vũ khúc luôn luôn sống nhu thuận theo thái âm để lập nghiệp. Thiên lương không những đôn hậu mà còn liêm chính vì nhị hợp với một ngôi sao mặt sắt và đen sì là liêm trinh. Tham lang vọng động nhưng biết hối cãi nhờ thiên đồng.

Trái lại thái dương thái âm thiên cơ liêm trinh và thiên đồng ở trường hợp nào nhị hợp cũng đi đôi với ý trung nhân như có ý nhắc nhở người có ý cuộc đời dài dài (tràng sinh) phải tự dẫn dắt mình đi trên con đường quang minh chính đạo hợp lý âm dương. Tuy rằng tam hợp là phần chính nhưng không bỏ qua nhị hợp được.

Trường đời đã cho thấy những tật xấu để xâm nhập bành trướng còn đức hạnh liêm chính thì khó lòng nhập tâm. Nhìn vào một lá số Tử Vi những sao liêm tham vũ sát và tử phá đều đóng ở Cung âm dễ sinh xuất sang Cung dương để tiêm nhiễm những nọc độc xấu xa sang Cung này. Trong khi đó những sao cự nhật đồng lương cơ rất chặt chẽ treo cao ảnh hưởng cho âm Cung được nhận những sự tốt đẹp.

Các Cung Mệnh và thân nằm trong một hệ tam hợp thuộc hành nào đó đem so với Cung nhị hợp thuộc bộ tam hợp có hành khác đem so sánh thì biết Cung Mệnh thân sinh cho nhị hợp hay là nhị hợp sinh cho Mệnh thân do đấy mà giải được một nét quan trọng cho cuộc đời. Các Cung Mệnh và thân bao giờ cũng có nhị hợp là một trong các Cung bào, tử tức, giải ách nô bộc điền trạch, phụ mẫu và bao giờ cũng sinh nhau chứ không bao giờ khắc. Hoặc là Cung Mệnh thân sinh cho Cung nhị hợp (sinh xuất) hoặc là Cung nhị hợp sinh cho Cung Mệnh hay thân (sinh nhập).
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Nguyên tắc tam hợp
Click to listen highlighted text! Powered By DVMS co.,ltd