Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,...   Click to listen highlighted text! Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,... Powered By DVMS co.,ltd
Kính mời quý khách like fanpage ủng hộ Vạn Sự !

Vạn Sự

Bàn thờ Tổ Tiên trong gia đình Việt

Bàn thờ tổ tiên là nơi hội tụ những truyền thống tốt đẹp của người Việt, đó là chiều sâu tâm linh hàng ngàn năm uống nước nhớ nguồn của dân tộc ta

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Người Việt từ xa xưa đã có phong tục thờ cúng tổ tiên - đó là lòng thành kính và biết ơn của con cháu đốì vói cha mẹ, ông bà, cụ kị đã khuất. Người Việt có niềm tin rằng: chết chỉ là sự tiêu tan của thể xác, còn linh hồn vẫn còn và luôn trở về với gia đình. Chết chẳng qua chỉ là một cuộc trở về gặp ông bà, tổ tiên. Vong hồn của người đã khuất luôn ngự trị trên bàn thờ để gần gũi con cháu, theo dõi họ trong công việc hàng ngày và giúp đỡ (phù hộ) họ trong những trường hợp cần thiết. Và người Việt còn tâm niệm: "trần sao âm vậy” - người sống cần gì, sống như thế nào thì người chết cũng như vậy. Bởi tin thế, nên việc lập bàn thờ để thờ cúng tổ tiên là điều không thể thiếu trong đời sống con người.

Ngôi nhà truyền thống của người Việt thường có ba hoặc năm gian, trong đó gian giữa được coi là chỗ trang trọng nhất, là trung tâm của ngôi nhà. Những việc quan trọng như: thờ phụng, tiếp khách, sinh hoạt... đều .diễn ra ở gian này. Gian giữa lại luôn có cửa lớn ra vào, mở cửa là nhìn thấy trời đất lưu thông, âm dương hòa đồng để rồi cảm hoá lẽ đời. Bàn thờ là nơi thể hiện lòng thành kính của con cháu đối với tổ tiên nên bàn thờ thường được lập ở chính giữa gian giữa ngôi nhà, gia chủ không được kê giương ngủ đối diện vối bàn thờ. Tuỳ quy mô ngôi nhà và cũng tuỳ mức sông từng gia chủ mà bàn thờ có kích thước và hình thức khác nhau.

Những gia đình nghèo khó, với những đồ đạc trong nhà cũng đơn sơ, thì bàn thờ có khi chỉ là vạt phên tre giữa hai cột trong của gian giữa, bên trong có bát hương nhỏ. Còn ỏ những gia đình thuộc loại "thường thưòng bậc trung" trở lên, thì bàn thờ cầu kỳ hơn. Có ngưòi còn dùng mặt tủ làm bàn thờ hoặc đóng cái giá gác làm lên tưòng. Cho dù bàn thờ có được thiết kế ra sao thì điều quan trọng nó luôn phải ỏ vị trí trang trọng, có độ cao thích hợp để khi cúng mọi ngưòi tỏ được sự ngưỡng vọng thành kính của mình với tổ tiên.

Bàn thờ thiêng liêng nhưng vẫn gần gũi với cuộc sống sinh hoạt gia đình. Trên bàn thờ có thể có khám, ngai hay đặt bài vị được chạm khá cầu kỳ và sơn thếp cẩn thận. Trước bài vị có một hương án rất cao. Trên hương án này, tại chính giữa là một bát hương để cắm hương khi cúng lễ. Bát hương được chăm nom rất cẩn thận, chu đáo, và không được xê dịch. Đằng sau bát hương là một chiếc kỷ nhỏ, trên kỷ có ba chiếc đài có nắp và trên nắp có núm cầm. Ba đài này đựng ba chén rượu nhỏ lúc cúng lễ. Hàng ngày, đài được đậy nắp để tránh bụi bặm, chỉ mỏ ra trong những dịp lễ tết, ngày rằm, mồng một. Hai bên bát hương là hai cây đèn (hai ngọn đèn dầu) hoặc hai câý nến (ngày nay tại các đô thị, người ta thắp hai cây đèn điện). Gần hai bên bát hương, ngoài hai cây đèn có khi còn có hai con hạc chầu hai bên. ở mé ngoài hai cây đèn, gần hai đầu hương án là hai ống hương dùng để đựng hương.

Ngoài các đồ thờ trên, còn có một lọ lộc bình hoặc đôi song bình bày trên bàn thờ để cắm hoa trong những ngày giỗ chạp, ngày Tết. Tấm biển treo cao nằm ngang trên mé trước bàn thờ, trên có những chữ Hán thật lốn, nhiều nhà dùng chữ Nôm (thường là ba, bốn chữ) làm hoành phi. Hai bên cột hoặc hai bên tường nhà có treo những câu đối như:

"Tô công phụ đức thiên niên thịnh. Tử hiếu tôn hiên vạn đại vinh"

Hoặc:

"Phúc sinh phú quỷ gia đường thịnh. Lộc tiến vinh hoa tử tôn hưng"

Những chữ viết trên hoành phi, câu đối là tỏ lòng tôn kính của con cháu đốĩ với tổ tiên hoặc để ghi tụng công đức của tổ tiên. Những nhà khá giả, giàu có thì hoành phi, câu đốỉ được làm bằng gỗ sơn son thếp vàng hay sơn đen khảm xà cừ, còn nhà nghèo thì hoành phi thường là những tấm cót đóng nẹp, dán lên những tờ giấy đỏ có viết chữ lớn, đôi liễn hay những tờ giấy hồng có viết những câu đối.

Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, kiến trúc nhà ở nông thôn ít biến đổi, nên kiểu bàn thờ cổ truyền vẫn phát huy tác dụng, xong những ngôi nhà có kiến trúc hiện đại, nội thất hiện đại ở thành phố thì cách bố trí và các đồ thờ cũng có nhiều biến đổi sao cho phù hợp vối toàn cảnh ngôi nhà (chiếc hương án cầu kỳ, những bức hoành phi, câu đối không còn phù hợp với nội thất nhiều gia đình).

Bàn thờ là nơi thiêng liêng nên người ta không để các thứ lặt vặt, các vật dụng thường ngày trong sinh hoạt lên bàn thờ mà lúc nào cũng phải giữ bàn thờ và đồ thờ được sạch sẽ, uy nghiêm. Và bất cứ trong hoàn cảnh nào, dù túng thiếu đến mấy người ta cũng không đem cầm cố hay bán đồ thờ.

Trước mỗi biến cố xảy ra trong gia đình (chẳng hạn như: dựng vợ gả chồng cho con cháu; con cháu chuẩn bị đi thi; làm nhà mới; làm ăn; vợ sinh con; lập được công danh; tròng nhà có người đau ốm, có người chuẩn bị đi xa, làm việc lớn...), gia chủ đều khấn vái gia tiên, trưốc hết là để trình bày sự kiện, sau là để xin sự phù hộ.

Mỗi lần cúng tế, tùy theo các gia chủ nghèo, giàu và tùy những buổi lễ, đồ lễ có thể gồm:rượu, hoa quả, vàng hương, xôi chè, oản, chuối, cỗ mặn, có khi thêm đồ hàng mã... và nhất thiết không thể thiếu một chén nưóc tinh khiết (nước mưa) bởi nước mưa biểu hiện cho sự trong sạch tâm linh trưóc tổ tiên, thánh thần. Trong những trường hợp cần thiết, đồ lễ có thể chỉ cần một chén nước mưa một nén hương thắp lên bàn thờ là đủ. Bàn thờ khi làm lễ phải có thắp đèn hay thắp nến. Hương trên bàn thờ bao giờ cũng thắp theo số lẻ (một hoặc ba nén...) và các nén hương phải được cắm ngay ngắn. Khi chân hương trong bát hương đã đầy, gia chủ thắp hương xin phép tổ tiên nhổ chân hương, đem hóa thành tro rồi đổ xuống ao hồ.

Bàn thờ tổ tiên là điểm hội tụ truyền thống tốt đẹp của gia đình, gợi lên một chiều sâu tâm linh "cây có gốc, nước có nguồn", biểu hiện nếp sống văn hóa biết vun trồng gốc để cây đơm hoa đẹp, rồi kết trái ngọt, và từ đó sẽ toả sáng giá trị văn hóa soi cho con cháu bước vào tương lai.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Bàn thờ Tổ Tiên trong gia đình Việt

Cải thiện công danh bằng phong thủy

Dù bạn là ca sĩ, nhà giáo hay doanh nhân,... thì việc trở nên thành đạt và nổi tiếng là một điều không hề đơn giản. Cải thiện phong thủy hướng Nam là một cách giúp bạn đạt được công danh trong xã hội và được mọi người công nhận.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Công danh không chỉ dành cho người nổi tiếng, các ngôi sao, mà còn áp dụng cho tất cả mọi người bởi ai cũng muốn tìm cho mình một chỗ đứng trong xã hội. Các chuyên gia phong thủy đưa ra lời khuyên: Cần chú ý đến khu vực hướng Nam của căn nhà để đạt được mong muốn này.

Chủ trọng hướng Nam của ngôi nhà để đạt được công danh

Các chuyên gia phong thủy cho rằng, hướng nam ảnh hưởng đến việc bạn được mọi người công nhận và chú ý cho một tài năng hay kỹ năng đặc biệt. Khi hướng nam của nhà bạn được bày biện theo đúng phong thủy cũng là lúc công việc của bạn được sếp khen ngợi, bạn bè công nhận và nhiều người để ý.

 
Bài trí hướng Nam đúng phong thủy sẽ giúp bạn được nhiều người chú ý

Màu đỏ phong thủy giúp hỗ trợ công danh

Theo phong thủy, màu đỏ là màu của lửa và đại diện cho danh tiếng. Màu đỏ là một màu giúp thu hút sự chú ý. Do vậy, khi bạn cần gia tăng địa vị xã hôi thì đầu tiên bạn cần phải gia tăng các đồ trang trí màu đỏ trong căn nhà của mình. Cụ thể:

- Dùng sơn màu đỏ cho khu vực phía Nam của ngôi nhà (trừ phòng tắm và phòng ngủ);

- Sơn bức tường hướng nam của phòng khách bằng màu đỏ;

 
Màu đỏ giúp thu hút sự chú ý

- Phòng ngủ ở hướng Nam của ngôi nhà cần được bổ sung thêm đệm gối màu đỏ

- Khu vực hướng Nam của ngôi nhà cần được bày nến và đèn màu đỏ.

 

Sử dụng ánh sáng để tăng công danh theo phong thủy

Theo phong thủy, ánh sáng cung cấp năng lượng dương hưng thịnh cho ngôi nhà. Khi xung quanh bạn tràn đầy năng lượng nhiệt huyết, tích cự thì các cơ hội tốt đẹp sẽ đến với bạn.

- Để tăng cường nưng lượng phong thủy không gian cho góc phía Nam, bạn nên thêm đền chiếu sáng khu vực này;

 

- Để gia tăng địa vị xã hội, hãy thêm ánh sáng phía trước của ngôi nhà;

- Nên đặt một ngọn đèn góc phía trên bàn làm việc;

- Trang trí cây trong nhà với những chiếc đèn nhấp nháy.

Sử dụng lửa để tăng danh tiếng

Để tăng năng lượng dương - lửa, không gian ngoài trời là một lựa chọn hoàn hảo. Hãy kê thêm bàn nướng thịt BBQ, đồ gỗ và ánh sáng ở góc phía Nam của khu vườn nhà bạn.

Ngoài ra, bạn có thể đặt một vài chậu cây hoa màu đỏ ở góc này vì cây và hoa cũng giúp ích rất nhiều trong việc tạo dựng danh tiếng của bạn.

 

Lưu ý những thứ không nên bài trí ở hướng Nam ngôi nhà

- Không nên để xuất hiện nước ở góc hướng Nam của căn nhà;

- Không nên sử dụng màu xanh hoặc màu đen cho những căn phòng ở góc này;

- Không để quá nhiều đồ vật kim loại ở hướng Nam hoặc sử dụng màu ánh kim như vàng, bạc,... ở hướng này.

(Theo Eva)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Cải thiện công danh bằng phong thủy

Phong thủy văn phòng –

Phong thủy đối với người Á Đông luôn hữu ích với mọi không gian sinh hoạt và làm việc. 20 nguyên tắc phong thủy văn phòng sau sẽ giúp bạn tạo một cơ sở tốt nhất cho sự phát triển của mình cũng như công ty. 1. Nên dựa vào người có quyền hành cao nhất

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Phong thủy đối với người Á Đông luôn hữu ích với mọi không gian sinh hoạt và làm việc. 20 nguyên tắc phong thủy văn phòng sau sẽ giúp bạn tạo một cơ sở tốt nhất cho sự phát triển của mình cũng như công ty.

409-real120

1. Nên dựa vào người có quyền hành cao nhất để tính toán phong thuỷ cho văn phòng.

2. Cổng văn phòng nên to hơn bất kỳ chiếc cổng đối diện nào.

3. Nền nhà hay tường trong công sở bị thấm nước, dột, rạn nứt là tượng trưng cho sự “rơi lọt tiền tài” bởi vậy cần sửa chữa ngay nếu có những hiện tượng trên.

4. Nền nhà văn phòng nên cao, tránh trường hợp nền quá thấp sẽ không đem lại may mắn trong làm ăn, đồng thời ảnh hưởng đến việc thông gió cho văn phòng.

5. Cổng văn phòng tối kị đối diện cột điện, ống khói hoặc gốc cây to.

6. Bên cạnh phòng của sếp không nên có vòi nước nhằm tránh “dột tiền tài”, nên tựa vào “núi” (tường) nhằm tạo sự vững chắc, có lợi cho công việc phát triển.

7. Cầu thang trong văn phòng cũng nên tránh đối diện cổng bởi như vậy luồng khí đến và đi sẽ xung đột, không tốt cho vận may và sức khỏe.

8. Vị trí tài lộc chính là góc chéo đối diện ngay cửa đi vào trong phòng. Vị trí này cần ánh sáng và sạch sẽ, kiêng đặt hoa và cây cảnh giả.

9. Cổng văn phòng tối kị có nhà vệ sinh ngay bên cạnh. Do nhà vệ sinh sẽ chặn luồng không khí mới vào văn phòng, ảnh hưởng vận may và sự nghiệp.

10. Văn phòng không có cửa sổ đặc biệt tối kị vì không khí không thể lưu thông, “khí chết” nặng nề.

11. Bàn làm việc trong văn phòng đối diện nhà vệ sinh sẽ bị ảnh hưởng không khí xú uế, công việc sớm muộn cũng thất bại.

12. Bàn làm việc trong văn phòng không nên nứt vỡ, tổn hại đường công danh.

13. Bàn làm việc tốt nhất nên làm bằng gỗ, tránh bằng kim loại.

14. Phía trên bàn làm việc không được có xà ngang hay đèn treo, nếu không sẽ ảnh hưởng đến việc thăng quan tiến chức.

15. Phía sau bàn làm việc tối kị cửa thông cửa (cả cửa ra vào lẫn cửa sổ), như vậy vừa không an toàn vừa dễ mất tập trung khi làm việc.

16. Nhà vệ sinh nếu đối diện với bàn làm việc của sếp có thể ảnh hưởng tới sự phát triển của cả công ty.

17. Bàn làm việc tốt nhất nên có 1 góc dựa vào tường, tối kị đặt chéo.

18. Phía sau văn phòng nên là không gian tĩnh, tối kị là hành lang và nhiều người đi lại ồn ào.

19. Phía sau văn phòng nên tựa vào “núi”, nghĩa là tường vững chắc.

20. Ánh sáng trong văn phòng phải chan hòa, tốt nhất là lấy ánh sáng tự nhiên hơn là ánh sáng của đèn điện.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Phong thủy văn phòng –

Xem tướng trẻ em có số phận tốt và xấu –

Trẻ tướng tốt sẽ được sống sung túc và có hậu ngược lại tướng xấu sẽ nghèo hèn và mắc trọng bệnh Tướng trẻ em phúc hậu: Từ khi bắt đầu biết đi đến 5 tuổi muốn biết phúc phận trẻ em dầy mỏng ra sao thì coi thần khí . Thần khí nói ở đây bao gồm tọa thầ

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Trẻ tướng tốt sẽ được sống sung túc và có hậu ngược lại tướng xấu sẽ nghèo hèn và mắc trọng bệnh

xem-tuong-tre-em

Tướng trẻ em phúc hậu:

Từ khi bắt đầu biết đi đến 5 tuổi muốn biết phúc phận trẻ em dầy mỏng ra sao thì coi thần khí . Thần khí nói ở đây bao gồm tọa thần , ngọa thần và mục thần nghĩa là ánh mắt hoà ái , nói năng thong thả trong trẻo , đi đứng nằm ngồi có vẻ nhàn hạ là tướng phúc hậu . Sau 6 tuổi coi thêm Nam , Trung và Bắc nhạc . Nam nhạc cao rộng đúng cách chủ về sơ vận phúc lộc tốt , Trung nhạc đắc thế thì trung vận khá giả , Bắc nhạc đầy đặn cân xứng thi vãn vận hưởng phúc . Tóm lại cuộc đời về sau của trẻ em có thể biết trước được một cách khái quát ngay từ khi chúng còn thơ ấu.

Tướng trẻ em tương lai nghèo hèn:

Lúc còn nằm trong nôi mà tiếng khóc không trong trẻo chủ về lớn lên vừa nghèo khổ vừa khó nên người , tiếng khóc mà âm thanh tản mát , lớn lên thì vô tài bất tướng . Thần khí bất túc , biết đi quá sớm cũng cùng một ý nghĩa như trên .

Từ 3,4 tuổi trở lên không thích quần áo sang trọng , không phân biệt sạch bẩn Nam , Trung và Bắc nhạc lệch hãm ….đều là dấu hiệu báo trước rằng khi lớn lên khó có thể khá giả.

Tướng trẻ em trọng bệnh:

Góc trán có sắc xanh xám , hai mắt thất thần , Thiên thương và ấn đường sắc đỏ , môi miệng xám đen . Khi thấy có những màu sắc trên bắt đầu xuất hiện là phải đề phòng trọng bệnh

Khi bị bệnh nặng , nếu thấy Sơn căn , Tỵ lương , môi , miệng đều xám xanh một lúc là dấu hiệu sẽ chết trong vòng năm , bảy ngày tới . Các bộ vị trên đều từ xám xanh chuyển dần sang màu vàng nghệ thì khoảng ba bốn ngày khó tránh khỏi tuyệt mạng . Nếu mắt lộ phù quang , gián đài , đình uý khô cằn , chuẩn đầu đen , môi miệng vàng là dấu hiệu sắp chết nội trong ngày.

Ngược lại , bệnh dù nặng , nhưng màu đỏ của ấn đừơng biến dần sang màu vàng , môi miệng từ đen xạm sang hồng lạt là dấu hiệu nội tại cho biết bệnh trạng bắt đầu thuyên giảm , sinh mạng không có gì nguy hiểm .


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem tướng trẻ em có số phận tốt và xấu –

Sức mạnh kinh khủng của nến trong phong thủy

Nếu cuộc sống của bạn buồn tẻ và nhạt nhẽo, hãy thắp sáng một ngọn nến, sự ấm áp, niềm đam mê, hứng khởi sẽ đến bên bạn. Ngọn nến có khả năng khơi thông nguồn năng lượng trong phòng bởi nó là vật phong thủy “mạnh nhất”.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

1. Khơi lại niềm đam mê
Nếu các mối quan hệ của bạn đang xấu dần thì hãy thử sử dụng nến. Đặt hai cây nến đỏ ở góc bên phải của nhà bạn cũng như trong phòng ngủ và thắp sáng chúng hai lần mỗi ngày. Điều này sẽ khiến cho các mối quan hệ với người thân, với bạn bè, đồng nghiệp và những người xung quanh trở nên tốt đẹp hơn. Nếu bạn thích nến thơm, hãy thử chọn những loại nến mùi hương như hoa hồng, hoàng lan hoặc hoa nhài.   2. Tạo sức lôi cuốn
Trong các hoạt động tập thể, nếu bạn thường xuyên bị mọi người lãng quên thì hãy đặt 9 cây nến đỏ ở phần trung tâm ngôi nhà. Thắp chúng một lần mỗi ngày, vào ban ngày là tốt nhất, điều này sẽ gia tăng sức hút của bạn, mọi người sẽ chú ý đến bạn nhiều hơn.

Suc manh kinh khung cua nen trong phong thuy hinh anh
Ảnh minh họa
  3. Tìm ra mục tiêu của bản thân
Theo phong thủy học, nếu trong nhà bạn có một chiếc lò sưởi đã không còn được sử dụng, vậy thì nó chính là nguyên nhân khiến bạn thiếu nhiệt huyết trong cuộc sống. Bạn có thể cân bằng lại cuộc sống của mình bằng cách đặt nến trong miệng lò sưởi. Thắp nến ít nhất một lần một tuần. Chọn một màu sắc thích hợp dựa theo vị trí lò sưởi, ví dụ, nếu lò sưởi nằm ở lối đi sát tường, hãy chọn nến xanh, vị trí bên trái của căn phòng tính từ lò sưởi sẽ hấp thụ được nhiều điều tốt lành từ những ngọn nến màu xanh lá cây. Nếu nằm ở giữa thì hãy sử dụng nến màu đỏ, còn nếu lò sưởi ở bên phải phòng thì hãy dùng nến trắng.   4. Giữ ấm căn phòng
Khi một căn phòng quá lạnh lẽo và ảm đạm, có nghĩa là nó chứa rất nhiều khí âm. Để làm trung hòa không khí trong phòng mình, bạn có thể nhóm 3 cây nến xanh lại và đặt gần lối ra vào. Nếu bạn thích nến thơm, bạn có thể chọn những mùi hương tươi mát như bạc hà, oải hương hay hương thảo.   5. Hạn chế làm việc quá sức
Nếu bạn hay cố làm việc quá sức, thì chứng tỏ trong nhà bạn đang có quá nhiều năng lượng Mộc. Cách tốt nhất để bạn lập trình lại bản thân đó là thắp nến, hãy đặt 9 cây nến đỏ ở phần trung tâm thuộc khu vực bên trái ngôi nhà và thắp sáng chúng đều đặn một lần vào mỗi buổi sáng sớm.

Suc manh kinh khung cua nen trong phong thuy hinh anh 2
Ảnh minh họa
  6. Khơi nguồn cảm hứng
Khi cuộc sống của bạn đang có xu hướng buồn tẻ và ảm đạm, điều bạn cần làm chính là lấy lại nguồn cảm hứng của mình. Hãy đặt 8 cây nến xanh gần góc gần trái nhà mình. Thắp nến một lần một ngày, tốt nhất là vào buổi tối. Nếu bạn thích nến thơm, hãy chọn những mùi hương dễ chịu như trầm hương, chanh hoặc hương thảo.   7. Cải thiện sức khỏe của bạn
Nếu hệ tiêu hóa của bạn kém, bạn cũng mắc các bệnh như viêm khớp, đau mắt hay khô da, nến cũng có thể khắc phục những bệnh này giúp bạn. Đặt một cây nến màu vàng trên bàn ăn và thắp chúng mỗi ngày một lần. Hãy lựa chọn những cây nến cứng và vuông vức để đạt được hiệu quả tối ưu nhất.  
Suc manh kinh khung cua nen trong phong thuy hinh anh 3
Ảnh minh họa

8. Trở nên độc lập hơn

 
Những ngọn nến đang cháy tạo ra năng lượng Hỏa, nó thúc đẩy sự tự lập của bản thân. Nếu bạn đang phải dựa quá nhiều vào cha mẹ, con cái, bạn bè hay người thương yêu của mình, thì hãy thử thực hiện thuật nến xem. Đặt một cây nến tròn gần lối vào phòng tắm và thắp nó một lần mỗi ngày. Nếu bạn thích nến thơm, hãy chọn một mùi hương thơm nhẹ như cây hoa phong lữ.   9. Trở nên vui vẻ hơn
Nếu bạn gặp nhiều chuyện buồn trong cuộc sống, hãy đặt 6 cây nến trắng cao ở gần góc bên phải của căn phòng. Thắp nến mỗi ngày một lần, nên thắp vào buổi tối. Khi những ngọn nến dần cháy hết, bạn sẽ cảm thấy thoải mái và phấn chấn hơn rất nhiều.
 
10. Tìm kiếm niềm vui
Khi bạn bận rộn với một mớ công việc mà không có thời gian để xả stress thì bạn nên dùng thuật nến để cuộc sống ý nghĩa hơn. Hãy đặt 7 ngọn nến tròn màu trắng ở phần trung tâm phía bên phải ngôi nhà. Thắp sáng chúng mỗi ngày một lần vào buổi tối. Nếu bạn thích nến thơm, thì hãy chọn một mùi hương như cam hoặc chanh để sử dụng.
 
Nguyễn Huyền (Theo Tarot)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Sức mạnh kinh khủng của nến trong phong thủy

Trang trí nhà cửa đón Tết tiết kiệm và hợp phong thủy

Có các cách đơn giản để giúp tổ ấm vừa đẹp lại vừa hợp phong thủy để đón Tết.
Trang trí nhà cửa đón Tết tiết kiệm và hợp phong thủy

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Những ngày giáp Tết, các gia đình đang gấp rút hoàn tất việc sơn sửa vun vén, trang trí nhà cửa đón Tết. Có các cách đơn giản để giúp tổ ấm vừa đẹp lại vừa hợp phong thủy.
 

1. Tiết kiệm chi phí   Để khoác chiếc áo mới cho ngôi nhà đón Tết, không cần tốn quá nhiều chi phí nếu áp dụng 2 cách đơn giản. Đầu tiên là thay đổi cách bố trí đồ đạc trong nhà giúp không gian trở nên mới và ngăn nắp hơn. Dành chút thời gian để loại bỏ những thứ không dùng hoặc thay đổi phong cách nội thất với việc lắp gương  kính tô điểm thêm cho không gian.   Ngoài ra, làm mới tường nhà bằng việc bố trí lại tranh ảnh hoặc thay đổi tranh đã cũ. Bố trí cây xanh sẽ thêm màu sắc và làm tươi mới cho ngôi nhà. Ngoài ra, bổ sung thêm đồ nội thất đơn giản như sofa, kệ trang trí, đèn trang trí... giúp không gian linh hoạt và mới mẻ hơn.   2. Màu sơn và giấy dán tường cho năm mới   Năm mới nên thay đổi màu sơn tường theo chủ đề, cá tính hoặc màu hợp với mạng chủ nhà. Giấy dán tường cần chọn một mảng tường chủ đạo trong ngôi nhà để trang trí mẫu giấy dán tường phù hợp với chủ đề, ưu tiên các gam màu ấm nóng, ngôi nhà sẽ tràn ngập không khí xuân.   3. Phòng khách và nhà ăn   Phòng khách trong dịp Tết cần không gian thoáng rộng đồng thời gọn gàng, ấm cúng để chủ nhà bày tỏ lòng hiếu khách vừa thể hiện gu thẩm mỹ. Bước đơn giản là giảm bớt số lượng ghế phòng khách, chỉ giữ lại sofa 3 chỗ để có thể ghép thêm bàn ăn xếp dự phòng cho đông người. Giảm bớt đồ đạc hoặc trang trí không cần thiết để tăng không gian.   4. Lưu ý yếu tố phong thủy   Theo quan niệm, thay đổi nội thất hợp phong thủy để không gian nhà được mới mẻ, chào đón những điều tốt đẹp, mang vận may vào nhà. Theo phong thủy, người Việt thường sử dụng màu sơn hoặc giấy dán tường phù hợp với mạng của gia chủ theo cung ngũ hành. Ngoài ra, các hướng “môn, táo, chủ, thờ”  nên giữ nguyên theo tứ trạch của chủ  nhân.   5. Tạo điểm nhấn và sự mới lạ trong không gian   Dấu ấn Tết cổ truyền ở ngôi nhà Việt Nam là cách bố trí thật gần gũi, ấm cúng, đậm bản sắc Việt được thể hiện từ ngoài cổng, sân, đến phòng khách và gian bếp như sau :   Cổng: Chơi câu đối trong ngày Tết là nét văn hóa truyền thống của người Việt. Câu đối đỏ được treo hoặc dán trang trọng ngay cổng ra vào của ngôi nhà với ý nghĩa mừng năm mới, chúc tặng người thân, mong một cái Tết an lành, phú quý.   Sân: Hoa đào miền Bắc, hoa mai miền Nam là hai loài đặc trưng và được cho là biểu tượng của mùa xuân Việt Nam. Bên cạnh lan, cúc, trúc... thì mảnh sân đón Tết của người Việt không thể thiếu màu hoa chủ đạo  này.   Phòng khách: Phòng khách được xem là góc Tết trong ngôi nhà. Người Việt sẽ chú trọng cách bày trí vào các nơi như bàn thờ, bàn tiếp khách…   Bàn thờ là nơi tâm linh và phong thủy nên  được chăm chút thật kỹ lưỡng. Hoa tươi và ngũ quả được bày thật công phu cho lễ cúng giao thừa. Ngoài ra, trên bàn thờ có thể cắm thêm cành vàng lá ngọc tượng trưng cho phú quý.   Bàn tiếp khách là nơi gia chủ hàn huyên với khách đến nhà chúc Tết. Trên bàn khách không thể thiếu mứt - kẹo ngày tết, bộ ấm trà, phong lì xì… Tiếp theo là tường và các góc trang  trí Tết cần được điểm thêm các chậu cúc, quất hoặc một góc quê nh” nho nhỏ với các nông sản như ngũ đậu, bắp, xả...   Các điểm nhấn phụ như phòng ngủ, nhà vệ sinh… cũng nên trang trí nhẹ lại. Thay đổi drap giường theo chủ đề,  một vài chậu hoa xinh nơi ban công hay lọ hoa tươi nơi phòng vệ sinh... giúp tạo cho ngôi nhà bừng thêm sức sống trong dịp Tết.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Trang trí nhà cửa đón Tết tiết kiệm và hợp phong thủy

Mơ thấy xe cộ, phương tiện giao thông có ý nghĩa gì?

Mơ thấy có ô tô, mơ thấy có xe mới là những dấu hiệu dự báo điềm tốt xấu có thể xảy ra. Giải mã những giấc mơ thấy phương tiện giao thông.
Mơ thấy xe cộ, phương tiện giao thông có ý nghĩa gì?

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

  Ô tô hay xe máy, xe đạp đều là những phương tiện đi lại không thể thiếu trong cuộc sống. Chiêm bao thấy xe cộ là những dấu hiệu dự báo điềm tốt xấu có thể xảy đến với bạn ở cuộc sống hiện thực.

 

 Mo thay phuong tien giao thong hinh anh
Ảnh minh họa

Chiêm bao thấy một chiếc ô tô chạy quá tốc độ là điềm báo bạn sắp nhận được một tin tức cực kỳ bất ngờ tới từ phương xa.

 

Mơ thấy mình có một chiếc xe mới là điềm báo bạn sắp có một sự thay đổi lớn trong công việc. Nhưng không chắc sự thay đổi này là tốt đâu nhé, bạn nên thận trọng thì vẫn hơn.

 

Chiêm bao thấy tự mình lái ô tô đi chơi là cát mộng, dự báo sắp tới bạn sẽ được thăng quan tiến chức và có nhiều tài lộc.

 

Nhưng nếu chiêm bao thấy mình lái xe máy đi chơi thì cũng không nên buồn vì đây cũng là điềm báo tốt, dự báo công việc của sắp tới sẽ gặp thuận lợi, mọi việc sẽ diễn ra đúng như ý muốn.

 

Nếu trong cuộc sống hiện thực, tai nạn là một hiểm họa, thì mơ thấy tai nạn xe cột rong giấc mơ lại là tin vui, ám chỉ bạn sắp lấy lại những thứ thuộc về mình mà trước đây bị người khác lấy mất, ví dụ như tiền bạc hoặc vị trí công việc …

 

Trong giấc mơ, bạn thấy mình mong ước có một chiếc ô tô mới thì nên cẩn thận trong công việc, đặc biệt là mối quan hệ với các đồng nghiệp, có thể một vài đồng nghiệp xấu bụng đang âm mưu tranh giành quyền lợi với bạn đó.
 

► Tham khảo thêm giải mã giấc mơMơ thấy cámơ thấy tiềnmơ thấy máu

Theo Giải mã giấc mơ


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Mơ thấy xe cộ, phương tiện giao thông có ý nghĩa gì?

Mục sở thị bên trong nhà của chuyên gia phong thủy lẫy lừng

Hãy cùng tham quan ngôi nhà của Lillian Too - chuyên gia phong thủy hàng đầu thế giới. Nhắc tới Lillian Too người ta không thể không nhắc tới hơn 80 đầu sách về phong thủy, được dịch ra hơn 30 thứ tiếng, số lượng sách của tiến sĩ phong thủy này bán ra nhiều hơn bất kì một tác giả nào khác trong bộ môn khoa học phong thủy huyền bí.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Lillian Too (người Malaysia), sinh năm 1946, nổi danh khắp thế giới với khả năng vượt bậc – một nữ CEO tài chính đầy năng lực và một nhà phong thủy uy tín vượt bậc.

Lillian Too tốt nghiệp MBA tại ĐH Havard năm 1976 và nhanh chóng trở thành người phụ nữ Châu Á đầu tiên trở thành CEO trong ngành ngân hàng (Ngân hàng Dao Heng của Hong Kong) năm 1982. Tuy nhiên, vào năm 1991, bà đã quyết định nghỉ hưu và trở thành một “người phụ nữ thực sự” sau câu nói của con gái bà “Mẹ, tại sao mẹ không giống như những bà mẹ khác?”.

 muc so thi ben trong nha cua chuyen gia phong thuy lay lung - 2

Nhà của bà không hổ danh là ngôi nhà của chuyên gia phong thủy với vô số vật phẩm phong thủy được trưng bày

Mặc dù từ bỏ sự nghiệp danh vọng khi mới 45 tuổi nhưng Lillian Too chưa bao giờ hối hận vì quyết định đó, bởi ở thời điểm ấy, bà chỉ muốn làm một người mẹ đúng nghĩa.

Sau khi nghỉ hưu, Lillian Too sáng lập công ty Thế Giới Phong Thủy – chuyên phát hành tạp chí “Thế Giới Phong Thủy” và tổ chức các chương trình dạy, phổ biến về phong thủy,…

 muc so thi ben trong nha cua chuyen gia phong thuy lay lung - 3

Bên cạnh việc chăm sóc cho các ấn phẩm của mình, Lillian Too cũng rất quan tâm tới việc trang trí nhà cửa theo phong thủy.

Tôi thường xuyên làm mới ngôi nhà của mình. Mỗi năm, các đồ nội thất trang trí bên ngoài ngôi nhà đều được thay đổi”, bà Lillian Too nói đầy tự hào.

Lillian Too bắt đầu sống tại ngôi nhà này từ những năm 1970. Nó đã cùng bà đi qua những thăng trầm của cuộc đời, khi bà sinh con gái đầu lòng Jenifer, khi bà đang ở đỉnh cao của sự nghiệp, là người phụ nữ châu Á đầu tiên trở thành CEO của ngân hàng và sau đó là nghỉ hưu để làm một bà mẹ đúng nghĩa.

Ngôi nhà của Lillian tràn ngập các bức tượng Phật ở khắp nơi, từ các pho tượng được đặt trang trọng trên kệ, bàn cho tới những pho tượng Phật nhỏ được điêu khắc tinh xảo bằng thạch sao của Pháp dùng để trang trí trên vòm cửa.

 muc so thi ben trong nha cua chuyen gia phong thuy lay lung - 4

Tôi yêu những bức tượng Phật. Tôi không thu thập chúng để trang trí. Tất cả những bức tượng được đặt trong nhà tôi đều nhằm mục đích tâm linh”, Lillian Too nói.

Có rất nhiều vật dụng phong thủy, nhiều trong số đó là các biểu tượng có ý nghĩa khác nhau. Chúng có thể mang lại may mắn và sức khỏe hoặc dùng để bảo vệ ngôi nhà, thu hút các nguồn năng lượng, mang lại cho gia chủ cơ hội thăng tiến và sự giàu có”, bà Lillian giải thích.

Ngôi nhà này có rất nhiều các chi tiết xây dựng tinh xảo, bà đã tự tay thiết kế chúng?

Mọi ngõ ngách, tôi đều tự làm với tình cảm vô cùng gắn bó và trân trọng. Tôi đã ở ngôi nhà này từ rất lâu, trước cả khi Jenifer ra đời. Ban đầu, nó chỉ là một căn nhà nhỏ, dần dần nó được mở rộng ra và sẽ còn to hơn nữa. Mặc dù căn nhà này đã 30 tuổi, nhưng nhìn vào nó bạn có thể thấy nó vẫn còn rất mới và tràn đầy năng lượng. Năng lượng đối với một ngôi nhà là rất quan trọng. Trong nhà cũng có rất nhiều đồ đạc nhưng không hề lộn xộn.

Bà có biết nguồn gốc của tất cả các pho tượng ở đây không?

Mỗi một đồ vật đến với tôi đều ẩn chứa một câu chuyện bên trong và tôi lưu giữ tất cả những điều đó. Chẳng hạn, tôi có bức tượng Phật 600 năm tuổi từ cách đây 25 năm.

 muc so thi ben trong nha cua chuyen gia phong thuy lay lung - 5

Tượng Phật được bày khắp nơi trong nhà

Bà đã có được những tác phẩm đó ở đâu?

Chúng có nguồn gốc từ khắp nơi trên thế giới. Rất nhiều trong số đó là những món quà từ những người bạn cũ, bạn thân, khách hàng hoặc tôi có được sau những chuyến du lịch. Mỗi một vật trong nhà, những đồ liên quan tới Phật giáo và phong thủy, đều có một câu chuyện. Tôi yêu tất cả mọi thứ trong nhà mình và không hề đặt bất cứ giá trị vật chất nào lên chúng, bởi với tôi, sự tinh xảo của người nghệ nhân khi làm ra những vật đặc sắc này và tình yêu tôi dành cho chúng khiến chúng trở nên quý giá hơn tất thảy.

 muc so thi ben trong nha cua chuyen gia phong thuy lay lung - 6

Bà là một tín đồ Phật giáo, vậy, điều đó có ảnh hưởng như thế nào đến niềm đam mê phong thủy của bà?

Nghề chính của tôi là giảng dạy về phong thủy. Việc này mang lại cho tôi rất nhiều niềm vui và cảm hứng, tôi như bị cuốn vào đó và tôi cũng đã làm rất nhiều các nghiên cứu liên quan tới phong thủy. Bên cạnh đó, tôi cũng có một cuộc sống hạnh phúc. Tôi muốn mọi người luôn nhớ đến tôi là một phật tử và tôi thích triết lý của Phật giáo (Cười).

Phật giáo chủ trương rằng bạn nên sống cuộc sống của chính mình và làm cho nó trở nên ý nghĩa hơn, bạn cũng nên giúp đỡ người khác. Tôi là chủ tịch của một trung tâm thiền Phật giáo. Chúng tôi làm rất nhiều dự án cộng đồng, tôi cũng tổ chức các cuộc hành hương đến Tây Tạng, Kathmandu và Ấn Độ. Đó là cách tôi nuôi dưỡng đời sống tinh thần của mình.

 muc so thi ben trong nha cua chuyen gia phong thuy lay lung - 7

Ngôi nhà của Lillian Too có nhiều cây xanh, bể nước... thuận Phong Thủy

Có rất nhiều tượng Phật trong nhà mình nhưng tôi không muốn nó trông giống như một ngôi đền, thay vào đó, tôi muốn nó trông thật đẹp, giống như một cõi tịnh độ, một chốn thiên đường. Và thật may mắn khi cả chồng và con gái tôi đều thích nó. Đây là điều quan trọng nhất với tôi.

Vậy ai mới thực sự là Lillian Too?

Bất cứ ai sống trên đời đều có nhiều khía cạnh trong con người họ, tôi cũng không phải ngoại lệ. Khi bạn còn trẻ và ở thời điểm bắt đầu cho mọi thứ, bạn luôn muốn làm mọi việc mình muốn, giống như con gái tôi. Nó đang chăm sóc con trai mình và thực sự tận hưởng cuộc sống như một người mẹ. Tôi thực sự cảm động khi chứng kiến con bé yêu thương con trai nó. Rồi sau đó, tôi thấy vô cùng tự hào khi thấy con bé điều hành công ty. Như vậy đó, tôi từ một người mẹ và sau đó là một người phụ nữ thành đạt với sự nghiệp rực rỡ. Và bây giờ, khi đã ở bên kia cuộc đời, tôi thấy mình thực sự hữu ích và truyền được cảm hứng cho những người khác.

 muc so thi ben trong nha cua chuyen gia phong thuy lay lung - 8

Ai là hình mẫu người mà bà hướng tới?

Tôi thực sự ngưỡng mộ Hillary Clinton. Tôi biết câu trả lời của tôi có thể khác mọi người nhưng tôi phải khẳng định điều đó. Tôi tình cờ có mặt ở New York và có vinh dự được xem bà ấy vận động tranh cử để trở thành Thượng nghị sĩ New York vào thời điểm đó, vì thế, tôi đã theo dõi các chương trình của Hilary Clinton qua truyền hình và các buổi họp báo. Bà ấy thực sự rất mạnh mẽ, và tôi ngưỡng mộ những người làm việc có mục tiêu, tham vọng và can đảm. Tôi nghĩ đó là điểm khác biệt giữa một người tuyệt vời với những người tạm được.

 muc so thi ben trong nha cua chuyen gia phong thuy lay lung - 9


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Mục sở thị bên trong nhà của chuyên gia phong thủy lẫy lừng

Xem mu bàn tay tìm công việc phù hợp cho bạn

Bạn hãy úp bàn tay của mình và xem phần mu bàn tay gầy, xương hay mịn, phẳng nào, chúng sẽ tiết lộ cho bạn biết công việc nào phù hợp với bạn nhé!
Xem mu bàn tay tìm công việc phù hợp cho bạn

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

xem-mu-ban-tay-tim-cong-viec-phu-hop-cho-ban
Mu bàn tay xương
Mu bàn tay phẳng

Mộc Trà (theo Buzz)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem mu bàn tay tìm công việc phù hợp cho bạn

Cách gây tai họa và các sao họa (phần 3)

Tìm hiểu về các cách gây tai họa, và những sao gây họa trong khoa tử vi. luận giải lá số tử vi quá các cách

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Cách gây tai họa và các sao họa (phần 3)

Cách gây tai họa và các sao họa (phần 3)

4. Họa cho tài sản: thường hay xuất hiện ởhai cung Điền và Tài,ở những cung chiếu Điền(Tử, Tật, Bào), chiếu Tài(Phúc, Quan, Mệnh), cung Thânvà các cung Hạn.

a. Những đại họa tài sản:

Địa Không, Địa Kiếp hãm địa: trong bối cảnh một cung Điền hay cung Tài xấu vì chính tinh hãm địa, sự hiện diên của 1 trong 2 sao hoặc của cả 2 sao này báo hiệu hiểm họa lớn lao cho tài sản, họa lớn, có tính chất bất khả kháng, ảnh hưởng đến nhiều người cùng một lúc. Có thể hình dung Không Kiếp như một tai họa chiến tranh làm tiêu tán tài sản, nạn lạm phát đồng tiền, thiên tai lớn, hành vi pháp lý của Nhà nước có hậu quả nặng nề đến cuộc làm ăn của toàn dân, việc quốc hữu hóa các công ty thương mại ... Mặt khác, Không Kiếp còn có thể tượng trưng cho sự cướp của, sự hủy hoại tài sản cá nhân, sự đốt nhà, phá hoại hoa màu ... Nếu hội với sao xấu như Phá Toái, Kiếp, Sát thì hệ số họa sẽ lên cao, nguy hiểm nhiều hơn. Càng hội tụ nhiều, số lượng càng chồng chất, họa vô đơn chí.

Thiên Không: hậu quả của Thiên Không trên tài sản cũng gần tương đương như Địa Không, nhất là khi tọa thủ ở Tài, Điền và nhất là khi gặp thêm hạn xấu. Hội với Địa Không, Địa Kiếp, sức tác họa càng dữ thêm, có hại đến cả sinh mạng. Thông thường, Thiên Không rơi vào cung hạn thì tác họa mạnh mẽ hơn bình thường: các dự định đều thất bại, sự nghiệp sa sút, mua bán thua lỗ, mất của thường do lường gạt, lừa đảo, có khi vướng vào tù tội.

Tuần, Triệt đồng cung ở Điền, Tài: dù Điền hay Tài có chính tinh hay không, có cát tinh đi nữa thì cũng không quân bình được bất lợi của cả Tuần lẫn Triệt đồng cung. Hai sao này hợp nhất phối hợp phá hoại tài sản đến cùng. Gặp chúng, cá nhân không có di sản, dù có cũng bán hết hoặc không thể thụ hưởng, thường phải tự lực lập nghiệp nhưng có rồi lại dễ mất ngay vì họa, hoặc vì túng thiếu. Đây là bộ sao điển hình của vô sản.

Kình Dương, Đà La hãm địa: cũng báo hiệu họa tài sản, dưới hình thức phá tán tổ nghiệp, điền trạch cũng như tiền bạc. Đi với Không, Kiếp, Thiên Không, ý nghĩa họa càng chắc chắn hơn và họa nhất định nặng hơn. Đặc biệt vào cung hạn, nếu Kình Đà gặp Lưu Kình, Lưu Đà thì họa đến mau chóng và khủng khiếp. Nếu Kình Đà và hai sao Lưu lại tọa thủ hoặc xung chiếu vào Điền, Tài thì họa vào sản nghiệp hiện có thay vì di sản.

Hỏa Tinh, Linh Tinh: chỉ riêng mối họa lửa, dù Hỏa Linh đơn thủ hay hội họp với sát hao tinh khác. Hai sao này đi chung với một số sao khác cũng mang ý nghĩa tương tự như: Hỏa Kiếp Cơ, Hỏa Tang, Linh Hình Việt, Phi Hỏa, Cự Hỏa, Cơ Hỏa, Hỏa Linh Tướng Binh. Chỉ riêng bộ sao Hỏa Tướng Binh hay Linh Tướng Binh có nói ít nhiều đến nguyên nhân hỏa hoạn: đó là việc gian phi đốt nhà, đốt ruộng, đốt hoa màu, hàng hóa.

Lưu Hà: thủy họa đối với tài sản, đi chung với Địa Không, Địa Kiếp chỉ tại họa lớn: nước lụt đắm tàu, hoa màu úng thủy, hàng hóa bị ngập nước ...

Đại Hao, Tiểu Hao: Trừ phi đắc địa ở Mão, Dậu (có tiền của dồi dào), Nhị Hao bao giờ cũng phá tán của cải, hao hụt điền sản thường là do cái đà ăn xài quá lớn không kìm hãm được nữa. Song Hao ở Điền, Tài thường xuyên có chuyện tốn kém, lớn có nhỏ có và liên tiếp. Sự hao tán của bộ sao này gần như triền miên. ở Điền, Nhị Hao ngụ ý phải lo "một kiểng hai huê". ở Tài thì luôn luông có chuyện phải tiêu lớn, tiêu nhỏ. Nếu Thiên Không tối kỵ ở cung Quan thì Nhị Hao tối kỵ ở cung Tài và cung Điền. Ngoài ra, về bệnh tật, Nhị Hao phải tốn vì một bệnh trầm kha, tái đi tái lại nhiều lần, thường là bệnh về bộ máy tiêu hóa tương đối nặng.

Tướng, Binh, Kiếp hay Không: chỉ họa cướp của. Đóng ở Điền, Tài, đương số sẽ bị cướp đến khảo của, phá nhà, tống tiền, có thể bị thanh toán. Nếu có thêm Tả Hữu thì thường có nội gián, tòng phạm lâu la đông đảo. Bộ sao này cũng nói lên trường hợp bị cưỡng bách đóng thuế bằng cách hành hung, đe dọa sinh mạng hoặc bắt cóc đòi tiền chuộc. Trong trường hợp có bắt cóc tống tiền thì thường có Thiên Hình đi kèm.

b. Những tiểu họa tài sản:

Phục Binh: điển hình cho sự mất trộm. Cung Điền, Tài bị sao Binh trấn đóng hay hội chiếu thường bị người khác lấy của bằng cách trộm, lừa đảo, ăn chặn, quỵt hụi, trốn nợ, giựt đồ, móc túi ... Có khi tai họa không do thủ phạm mà do sơ xuất của chính mình, dù sao cũng là sự mất mát ngoài ý muốn của sở hữu chủ.

Binh, Tả, Hữu: có tòng phạm giúp đõ, chỉ dẫn, dụ dỗ, đánh lừa để lấy đồ bằng mưu chước xảo quyệt. Có khi Tả Hữu còn chỉ tôi tớ trong nhà, làm nội ứng chỉ điểm cho gian phi, hoặc chính người giúp việc trộm cắp của chủ nhân. Bộ sao này cho thấy việc đánh cắp có tổ chức, có kế hoạch.

Thiên Không: đứng riêng rẽ, sao này chỉ tên lưu manh, gian hùng, xảo quyệt, có nghĩa tương tự như Phục Binh. Nếu cả hai cùng hội tụ thì đây là cách gian phi họp đang, tác họa nhiều hơn.

Quan Phù, Thái Tuế, Quan Phủ, Hóa Kỵ: chỉ hao tài sản do sự lường gạt, phản bội, hoặc do kiện tụng mà hao hụt của cải, kiện tụng về tài sản cụ thể như bị xử ép, chia của không sòng phẳng, thanh toán không phân minh. ứng vào điền sản, những sao này cho thấy phải có tranh chấp về đất đai, ruộng vườn, phải tốn tiền vì điền thổ mới có của, phải kiện thưa mới đuổi được người cư ngụ bất hợp pháp mới cất được nhà. Cũng có thể nhà, đất của mình không có lai lịch phân minh, bị tố tụng, thưa kiện và có khi thất kiện phải mất đất, trả nhà.

Thiên Hình: ở Điền, Tài, sao này chỉ họa của người bị bắt giam vì tài sản, bị họa lụy vì tiền bạc hoặc nếu là điền sản thì có thể bị tịch thu, tịch biên. Đây là trường hợp những người bị bắt để đổi tiền chuộc mạng, của bọn khảo của, tống tiền, thu thuế bằng bạo hành, đe dọa. Nếu đương số làm nghề tài chính, thì Hình sẽ ứng vào các vụ biển thủ, quản lý sơ suất để mất tiền phải bị ra tòa, đền tiền. Nếu ở cung Điền, nhà đất dễ bị tịch thu, sai áp, niêm phong do một án tiết cá nhân, có liên quan đến của cải bất hợp pháp hoặc đến uy thế chính trị suy sụp. Nếu ứng vào cơ thể có nghĩa thương tích thì ứng vào điền trạch cũng có nghĩa bế tỏa như vậy. Bị Thiên Hình, cơ xưởng, làm ăn có thể bị sai áp, quốc hữu hóa, trưng dụng, trưng thu. Nếu có thêm sát tinh khác, đây có thể là đại họa.

Điếu Khách, Văn Xương, Văn Khúc: chỉ họa hao tài vì đánh bạc, thông thường có đi đôi với Song Hao, hoặc Khốc Hư, Tang Hổ, Xương Khúc thì thỉnh thoảng có đỏ đen, còn Điếu Khách thì máu cờ bạc quá nặng đến nỗi trở thành tập quán khó chừa, lấy đổ bát làm sinh kế và chắc chắn cũng vì đổ bát mà tán tài, tán điền.

Hỏa, Linh với Song Hao: họa tài sản bắt nguồn từ bệnh nghiện thường là nghiện á phiện, ma túy, rượu, rất nguy kịch cho của cải và sức khỏe. Không cần gì phải có cả Hỏa và Linh với Song Hao, chỉ cần Hỏa hay Linh cũng đủ.

Đào, Hồng với Song Hao: họa tài sản do gái/trai tạo ra. Đây là hoàn cảnh của các chàng hào hoa bị dại gái bị lừa gạt, phải chi khá nhiều để chu cấp cho gái hoặc phụ nữ mê trai cũng chu cấp cho các chàng thất nghiệp. Đào Hồng ở Tài, Điền thì phải tốn tiền ít nhiều cho tình nhân, nếu có Song Hao thì chi phí lớn theo tỷ lệ túi tiền của nạn nhân.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Cách gây tai họa và các sao họa (phần 3)

32 địa điểm Phật tọa đẹp mê hồn nên đến thăm 1 lần trong đời (P2)

Nếu có dịp tới thăm Trung Quốc, các Phật tử nên một lần ghé thăm các địa danh có tượng Phật niết bàn để tỏ lòng thành kính với người đã phổ độ chúng sinh.
32 địa điểm Phật tọa đẹp mê hồn nên đến thăm 1 lần trong đời (P2)

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

  


=> Đọc thêm: Chuyện tâm linh huyền bí bốn phương có thật

32 dia diem Phat toa dep me hon nen den tham 1 lan trong doi P2 hinh anh
Bức tranh được đặt trong bảo tàng văn hóa di vật cổ Thành Đô, thuộc tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc. Bức tranh miêu tả cảnh các Phật tử, các vị Bồ Tát và dân chúng tới chia buồn khi Phật tịnh niết bàn.

32 dia diem Phat toa dep me hon nen den tham 1 lan trong doi P2 hinh anh 2
Bức tượng Phật nằm trong hang động tại chùa Á Châu, tỉnh Chiết Giang. Bức tượng nằm ở vị trí cao 1,2m so với mặt đất; dài 34.5m; vai rộng 7,5m; các ngón tay có bề rộng một người nằm vừa và lỗ tai có thể để 8 người cùng ngồi.
32 dia diem Phat toa dep me hon nen den tham 1 lan trong doi P2 hinh anh 3
Tượng Phật Nhập Niết Bàn bên trong Đại Tháp Niết Bàn tại thành Câu Thi Na, tượng dài 6,1m

32 dia diem Phat toa dep me hon nen den tham 1 lan trong doi P2 hinh anh 4
Thần thái khuôn mặt mang vẻ nghiêm trang, thư thái như lúc còn sống

32 dia diem Phat toa dep me hon nen den tham 1 lan trong doi P2 hinh anh 5
Bức tượng được chế tác từ một khối đá cẩm thạch trắng duy nhất tại chùa Phật Ngọc, Thượng Hải. Thân khoác áo cà sa để lộ vai phải, tay phải gác lên một cái gụ bằng gỗ. Tạo hình giống tượng Phật tại chùa Hương Sơn, Bắc Kinh.
32 dia diem Phat toa dep me hon nen den tham 1 lan trong doi P2 hinh anh 6
Tượng Phật niết bàn trên Ngũ Đài Sơn, thuộc tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc. Hai mi mắt khép hờ, gương mặt hiền từ, phúc hậu, giữ nguyên tinh thần thư thái như lúc tịnh niết bàn và hướng về phái biển Đông.

32 dia diem Phat toa dep me hon nen den tham 1 lan trong doi P2 hinh anh 7
Tại phía Nam tỉnh Quảng Đông có một dãy núi tự nhiên mang hình đức Phật; tượng dài 5200m, rộng 1000m, vị trí ngực cao 430m, ước tính trọng lượng toàn thể chừng hơn 1 tỷ mét khối. Tượng trải dài qua 2 tỉnh, thân mình ở tỉnh Quảng Đông, còn chân thuộc tỉnh Giang Tây. Đây là bức tượng Phật tự nhiên lớn nhất thế giới.
 
32 dia diem Phat toa dep me hon nen den tham 1 lan trong doi P2 hinh anh 8
Tượng Phật tọa tại Chung Nam Sơn, thuộc tỉnh Thiểm Tây. Tượng dài 36 thước, dài 9 thước, mặt rộng 5.4 thước, vai rộng 7.5 thước, bàn tay dài 3.8 thước, đầu gối lên một đài cao.

32 dia diem Phat toa dep me hon nen den tham 1 lan trong doi P2 hinh anh 9
Bức tượng Phật nằm lớn nhất thế giới tại tỉnh Giang Tây, toàn bộ tượng dài 416 thước, chỗ cao nhất là 68 thước, đường kính mắt 8.6 thước, miệng 12.3 thước, đầu dài 50.5 thước, ngón chân cái rộng 5 thước, các ngón còn lại 1.2 thước. Đây là bức tượng nằm trên núi tự nhiên lớn nhất thế giới. "Sơn thị nhất tôn phật, phật thị nhất tọa sơn".
32 dia diem Phat toa dep me hon nen den tham 1 lan trong doi P2 hinh anh 10
Tượng tọa tại Điếu Ngư thành, tỉnh Trùng Khánh. Đây là bức tượng Phật nằm ngủ độc nhất vô nhị, một tác phẩm được hoàn thành vào cuối thời nhà Đường, đường nét điêu khắc tinh xảo, tạo hình đại khí. Dù rằng không phải bức tượng điêu khắc trên vách đá lớn nhất thế giới nhưng cũng có thể nói rằng lớn nhất Trung Quốc. Tượng nằm trên vách đá dài 11m, vai rộng 2.2m, áo cà sa buông rủ, đầu búi tóc cao, khoảng cách giữa 2 tai là 1.8m, bàn chân rộng 1.2m. Khuôn mặt đầy đặn, phúc hậu, thần thái tự nhiên.  
  (còn nữa)
 
Lichngaytot.com 32 tượng Phật nằm đẹp nên đến thăm một lần trong đời (P1)
Ngày Rằm tháng 2 là ngày Phật niết bàn. Trong ngày này, cùng ngắm 32 địa điểm Phật tọa đẹp nhất và cùng tỏ lòng thành kính với người đã phổ

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: 32 địa điểm Phật tọa đẹp mê hồn nên đến thăm 1 lần trong đời (P2)

Kiếp Sát

Kiếp Sát là hung tinh chủ về phá tài, bệnh tật, thương tổn hoặc phạm pháp...
Kiếp Sát

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Cách tra Kiếp Sát là lấy chi ngày (hoặc chi năm sinh) làm cơ sở để tra các địa chi khác trong tứ trụ. Nếu tứ trụ nào ở vào một trong các trường hợp dưới đây là có sao Kiếp Sát nhập mệnh.

(Ảnh chỉ mang tính minh họa)



- Chi ngày (hoặc chi năm) là Dần, Ngọ, Tuất thấy chi Hợi

- Chi ngày (hoặc chi năm) là Thân, Tý, Thìn thấy chi Tỵ

- Chi ngày (hoặc chi năm) là Tỵ, Dậu, Sửu thấy chi Dần

- Chi ngày (hoặc chi năm) là Hợi, Mão, Mùi thấy chi Thân

Ví dụ: Người sinh vào 22 giờ ngày 3/9/1982 (âm lịch) có tổ hợp tứ trụ là: giờ Đinh Hợi, ngày Ất Hợi, tháng Canh Tuất, năm Nhâm Tuất.

Theo trường hợp 1, chi năm Tuất (Nhâm Tuất) gặp chi Hợi của giờ (Đinh Hợi), do vậy tổ hợp này xuất hiện Kiếp Sát.

(Theo Dự đoán theo tứ trụ)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Kiếp Sát

Chọn tranh phong thủy cát tường đúng chuẩn, phúc lộc lâm môn

Tranh phong thủy là đồ vật trang trí khá phổ biến. Tuy nhiên, tranh không chỉ treo cho đẹp, cứ treo tranh phong thủy là tốt mà cần hiểu rõ ý nghĩa của từng
Chọn tranh phong thủy cát tường đúng chuẩn, phúc lộc lâm môn

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tranh phong thủy là đồ vật trang trí khá phổ biến. Tuy nhiên, tranh không chỉ treo cho đẹp, cứ treo tranh phong thủy là tốt mà cần hiểu rõ ý nghĩa của từng loại tranh để lựa chọn được tranh ưng ý, phù hợp, cát lợi cho gia chủ hoặc tặng người thân.

 
Hieu y nghia, chon tranh cat cat tuong (phan 1) hinh anh
Tranh công hạc trường xuân mang nghĩa chúc thọ

Trường xuân bạch đầu
: trong tranh có họa tiết hoa hồng, thọ thạch (đá lâu năm), chim đầu trắng với ngụ ý cuộc sống gia đình hòa hợp, hạnh phúc, vợ chồng tôn trọng lẫn nhau, nên treo trong phòng ngủ.

Công hạc trường xuân: trong tranh có họa tiết chim công, hạc, cùng có ngụ ý chúc thọ như “công hạc hà linh”, “công hạc diên niên”, thường tặng người lớn tuổi nhân dịp mừng thọ.

Trúc mai song hỷ: trong tranh có họa tiết trúc, mai cùng chim hỷ tước (chim khách) ngụ ý phu thê ân ái, hôn nhân trọn vẹn, có thể dùng làm quà cưới.

Đồng hỷ lâm môn: trong tranh có họa tiết cây ngô đồng, chim hỷ tước tạo thành ngụ ý có nhiều niềm vui cùng đến một lúc.

Thất thượng đại hỷ: tranh có họa tiết gà đứng trên đá, thất có nghĩa là nhà, ngụ ý gia đình yên ổn, cuộc sống đầy đủ, bền chặt.

Hỷ tòng thiên giáng: trong tranh có con nhện từ trên rơi xuống, người xưa coi nhện là may mắn, là ánh sáng, nhện rơi xuống ngụ ý may mắn bất ngờ đến với gia chủ.

Hỷ đắc liên khoa: tranh có họa tiết chim khách, hoa sen, cây lau ngụ ý đạt được thành tích tốt trong thi cử, là quà tặng hay cho những người sắp đi thi hoặc làm việc liên quan tới chữ nghĩa.

Ngũ phúc bổng thọ: tranh có 5 con dơi vây quanh chữ Thọ viết theo lối Triện, ngụ ý 5 điều phúc quanh chữ Thọ. 5 điều phúc là trường thọ, hạnh phúc, khỏe mạnh dồi dào, tu dưỡng đạo đức của bậc quân tử và theo thiện, diệt ác. Bức tranh là lời chúc cuộc sống hướng thiện, phúc thọ viên mãn, rất có ý nghĩa.

Liên sinh quý tử: trong tranh có hình hoa sen, cây quế, chữ liên (hoa sen) đồng âm với chữ liên (liên tiếp), chữ quế gần âm với chữ quý (quý tử) ngụ ý chúc gia chủ sớm sinh được con trai.

Tịnh đế đồng tâm: tranh có họa tiết hai bông hoa sen mọc trên cuống. Tịnh đế còn gọi là đầu hoa sen, chỉ một nhánh cây mọc ra hai bông hoa sen, ngụ ý phu thê hòa hợp, cùng nhau chia sẻ công việc.
 


Hieu y nghia, chon tranh cat tuong (phan 2) hinh anh
Tranh Mãn đường phú quý có ngụ ý may mắn

Hòa hợp vạn niên
: trong tranh có bách hợp, vạn niên thanh hoặc bầu. Hòa hợp chỉ hòa khí, hòa thuận, vạn niên thanh là vạn năm, bầu chỉ sự lâu dài, bách hợp là trăm sự hòa hợp, mọi việc đều thuận lợi, như ý. 

Hòa hợp như ý: trong tranh có họa tiết sen, linh chi ngụ ý nhân thế hòa hợp, sự nghiệp hưng thịnh, phồn vinh.

Tùng cúc song tồn: trong tranh có họa tiết tùng, cúc. Cây tùng, cúc dù trải qua sương gió vẫn không tàn, biểu trưng cho phẩm cách cao thượng và khí chất phi phàm. Ngoài ra, nó cũng đại diện cho sự trường thọ, sức khỏe, an khang. 

Trường mệnh phú quý: trong tranh có thọ thạch, mẫu đơn, hoa đào. Mẫu đơn, hoa đào chỉ sự song toàn, thọ thạch chỉ sự trường thọ, ghét lại thành bức tranh ý nghĩa phúc thọ song toàn.

Quý thọ vô cực: trong tranh có hoa quế và hoa đào, ngụ ý quan cao chức trọng, trường tồn, thích hợp để mừng thăng chức, tặng cấp trên.

Tiên hồ tập khánh: trong tranh có họa tiết cành tùng, hoa mai, thủy tiên cùng cắm vào một bình hoa, bên cạnh có hoa linh chi và củ cải. Nó có ngụ ý nhiều người cùng chúc nhau cát tường, may mắn.

Mãn đường phú quý: tranh có họa tiết hoa mẫu đơn, hoa hải đường, ngụ ý chúc nhau nhiều may mắn.

An cư lạc nghiệp: tranh có họa tiết hoa, cây phong, chim cút, ngụ ý ổn định nơi ở để xây dựng sự nghiệp, là món quà tân gia ý nghĩa.

Lựu sinh bách tử: tranh có họa tiết thạch lựu. Thạch lựu khi chín màu đỏ đẹp mắt lại có nhiều hạt nên mang ý nghĩa con đàn cháu đống, hưởng phuc trọn đời.

Thiên tiên thọ chỉ: tranh có họa tiết thiên trúc, thủy tiên, linh chi và thọ thạch, ngụ ý mang tới may mắn, tài phúc và sức khỏe.

ST


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Chọn tranh phong thủy cát tường đúng chuẩn, phúc lộc lâm môn

Hướng dẫn trang trí nhà cửa ngày Tết để đón may mắn

Dưới đây là một số gợi ý về cách trang hoàng nhà cửa để đón Tết, không chỉ giúp ngôi nhà thêm sáng sủa, đẹp đẽ mà còn đem lại vận đỏ cho cả gia đình.
Hướng dẫn trang trí nhà cửa ngày Tết để đón may mắn

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

1. Treo đèn lồng - Xua đuổi vận đen

huong-dan-trang-tri-nha-cua-ngay-tet-de-don-may-man

Đèn lồng thường được dùng phổ biến trong các dịp lễ hội như Tết và Trung thu. Muốn xua đuổi tà khí, xui xẻo ra khỏi nhà, bạn nên treo đèn lồng lên cây cảnh hoặc trước cửa nhà.

2. Câu đối đỏ - Cầu may mắn 

huong-dan-trang-tri-nha-cua-ngay-tet-de-don-may-man-1

Ngày nay câu đối đỏ không còn được sử dụng rộng rãi trong dịp Tết như xưa. Tuy nhiên, nếu bạn là người hoài cổ, yêu thích những giá trị văn hóa cổ xưa, hay đơn giản là muốn mang đến may mắn cho gia đình. bạn có thể đi xin chữ ông đồ và dán cặp câu đối đỏ lên cửa nhà. Nhớ là phải xin một cặp câu đối đỏ nhé. Còn xin chữ gì thì tùy tâm của bạn, nếu muốn giàu có, xin chữ Lộc, muốn sức khỏe xin chữ Thọ, hay muốn làm ăn phát đạt thì xin chữ Phát, Vượng.

3. Treo tranh, ảnh liên quan đến năm mới - Biểu tượng của sự chào đón

huong-dan-trang-tri-nha-cua-ngay-tet-de-don-may-man-2

Năm hết, tết đến là dịp để trang trí nhà cửa bằng những bức tranh, bức ảnh về năm mới, nhằm thể hiện sự hân hoan chào đón một năm mới bắt đầu cũng như nói lời tạm biệt một năm cũ đã chính thức khép lại. Trong phong thủy, việc treo tranh năm mới cũng ảnh hưởng tích cực đến tài vận của gia chủ.

4. Dán ngược chữ "Phúc" - Cầu Phúc đến

huong-dan-trang-tri-nha-cua-ngay-tet-de-don-may-man-3

Trong văn hóa Trung Hoa, cứ dịp Tết đến là người dân lại dán chữ "Phúc" ngược lên cửa nhà để cầu may. Theo quan niệm của họ, chữ "Phúc" ngược có nghĩa là phúc bị đảo hay còn gọi là "phúc đảo", trong khi đó chữ "đảo" trong tiếng Hán đồng âm với chữ "đáo" (đến),  mà "phúc đáo" lại mang nghĩa là "phúc đến". Từ đó, mọi người thường dán chữ "Phúc" ngược để cầu danh lợi.

5. Cây quất - Cầu may mắn và tài lộc

huong-dan-trang-tri-nha-cua-ngay-tet-de-don-may-man-4

Quất vốn là biểu tượng của sự may mắn và giàu có, luôn dùng để trang trí nhà cửa vào những ngày đầu năm mới, như một lời cầu mong bình an phú quý của gia chủ trong năm tới. 

6. Hoa - Cầu an khang thịnh vượng

huong-dan-trang-tri-nha-cua-ngay-tet-de-don-may-man-5
huong-dan-trang-tri-nha-cua-ngay-tet-de-don-may-man-6

Nên bày biện trong nhà những loài hoa như: hoa đào, hoa mai, hoa cúc, hoa phong lan và hoa mẫu đơn trong dịp Tết để cầu may.

Alexandra V (theo chinahighlights)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Hướng dẫn trang trí nhà cửa ngày Tết để đón may mắn

Giải thích vị trí của tứ tượng trong phong thủy

Trong phong thủy học, tứ tượng gồm Thanh Long, Bạch Hổ, Chu Tước, Huyền Vũ được sử dụng để xác định vị trí, phụ trợ phán đoán hung cát, ứng dụng nhiều trong
Giải thích vị trí của tứ tượng trong phong thủy

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Trong phong thủy học, tứ tượng gồm Thanh Long, Bạch Hổ, Chu Tước, Huyền Vũ được sử dụng để xác định vị trí, phụ trợ phán đoán hung cát, có ứng dụng khá nhiều trong đời sống.


Giai thich vi tri cua tu tuong trong phong thuy hinh anh
 
Trong “tiên thiên bát quái kì đồ” của Chu Dịch có xác định tứ tượng trong phong thủy, quẻ Càn đại biểu cho trời, trời ở trên cho nên dựa theo định vị trời đất tiêu chuẩn thì Càn quẻ ở mặt trên, đại biểu cho trời, Khôn quẻ ở phía dưới, đại biểu cho đất.
  Trong “hậu thiên bát quái kì đồ: của Chu Dịch lại cho rằng mặt trên giống quẻ Ly, quẻ Ly đại biểu cho thái dương, thái dương cao cao trên bầu trời, chỉ có thể ngước lên mới nhìn thấy. Quẻ Ly thuộc Hỏa, đại diện cho phái Nam. Phía dưới là quẻ Khảm, quẻ Khảm thuộc Thủy, đại diện cho phương Bắc.   Dựa vào nguyên lý dịch học tuần hoàn khi xác định phương vị, theo tiêu chuẩn thượng Nam hạ Bắc. Nếu lấy mặt trên là hướng Nam, phía dưới là hướng Bắc thì có thể suy ra như sau: bên trái là hướng Đông, xưng tả Thanh Long; bên phải là hướng Tây, xưng hữu Bạch Hổ. Nói cách khác, người xưa phân biệt phương hướng chính là thượng Nam, hạ Bắc, tả Đông, hữu Tây chứ không giống như bản đồ hiện đại xác định phương hướng là thượng Bắc, hạ Nam, tả Tây, hữu Đông. Nếu dựa theo cách xác định phương vị hiện đại thì tứ tượng trong phong thủy phải là tả Bạch Hổ, hữu Thanh Long.   Do cách xác định hơi ngược một chút như vậy nên nhiều người lầm lẫn giữa phương vị Thanh Long và Bạch Hổ. Lấy tham chiếu trái Thanh Long, phải Bạch Hổ thì phải dựa trên phương vị tọa Bắc hướng Nam mới chính xác, còn nếu không tả Thanh Long hữu Bạch Hổ lại là sai lầm.   Tóm lại vị trí tứ tượng trong phong thủy được xác định theo thứ tự như sau: Thanh Long chỉ phương Đông, là bên trái. Bạch Hổ là phương Tây, tức bên phải. Chu Tước chỉ phía Nam tức phía trước. Huyền Vũ chỉ phương Bắc, tức phía sau.   Khi xem hướng nhà, hướng đất, hướng bàn làm việc, ghế ngồi đều có thể dựa vào tính chất của tứ tượng để đón cát tránh hung, sắp xếp sao cho phù hợp và tốt lành nhất.

Nhà phát lộc nhờ tuân thủ nguyên tắc tứ tượng Chọn chỗ ngồi hợp phong thủy theo nguyên tắc Tứ tượng
  Thái Vân
 

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Giải thích vị trí của tứ tượng trong phong thủy

Khái niệm ngày Bất Tương –

Theo phong tục tập quán người Việt ta từ xưa cho đến nay, trước khi dựng vợ gả chồng cho con cháu, các cụ thường xem ngày cưới hỏi để lựa chọn thời điểm nên duyên tốt nhất cho đôi lứa. Ngày nay, chúng ta thường chọn các ngày sau để tiến hành cưới hỏi

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Theo phong tục tập quán người Việt ta từ xưa cho đến nay, trước khi dựng vợ gả chồng cho con cháu, các cụ thường xem ngày cưới hỏi để lựa chọn thời điểm nên duyên tốt nhất cho đôi lứa.

Ngày nay, chúng ta thường chọn các ngày sau để tiến hành cưới hỏi: “Bính Dần, Đinh Mão, Bính Tý, Mậu Dần, Kỷ Mão, Bính Tuất, Mậu Tý, Canh Dần, Nhâm Dần, Quý Mão, Ất Tỵ”.

a

Nên gặp các sao: Huỳnh Đạo, Sinh Khí, Tục Thế, Âm Dương Hạp, Nhân dân Hợp, và nhất là gặp ngày Bất Tương.

Nên gặp Trực: Thành.

Vậy ngày Bất Tương là ngày như thế nào?

Xem ngày cưới hỏi, nếu chọn được một ngày mà ngày này lại đúng ngày Bất Tương nữa thì thật là may mắn.

Ngày tốt mà các nhà xem tướng số luôn chọn để tổ chức cưới hỏi là Ngày Bất tương [sao Bất tương] (Bất là không, tương là tương hợp. Nghĩa ở đây là không bị Âm tương, không bị Dương tương, không bị Cụ tương và bất tương là ngày đại kiết để dựng vợ gả chồng):

Âm tương: Can Âm (-) phối Chi Âm (-), kỵ cho nữ.
Dương tương: Can Dương (+) phối Chi Dương (+), kỵ cho nam.
Âm Dương cụ tương: Can Âm (-) phối hợp Chi Dương (+), nam nữ đều bị kỵ.
Âm Dương bất tương: Can Dương (+) hòa hợp với Chi Âm (-) thì tốt cho cả nam lẫn nữ.

Xem ngày cưới hỏi có nhiều cát tinh như: Thiên Hỷ, Thiên Đức + Nguyệt Đức, Tam Hiệp, Ngũ hiệp, Lục hiệp. Ngày trực Bình, trực Định, trực Thành, trực Thâu.

Ngày Bất Tương chiếu theo Tiết Khí như sau:

– Lập Xuân và Vũ Thủy: ngày Bính Dần, Đinh Mẹo, Bính Tý, Kỷ Mẹo, Mậu Tý, Canh Dần, Tân Mẹo.

– Kinh Trập và Xuân Phân: ngày Ất Sửu, Bính Tý, Đinh Sửu, Bính Tuất, Mậu Tý, Kỷ Sửu, Mậu Tuất, Canh Tý, Canh Tuất.

– Thanh Minh và Cốc Vũ: ngày Ất Sửu, Đinh Sửu, Ất Dậu, Kỷ Sửu, Đinh Dậu, Kỷ Dậu.

– Lập Hạ và Tiểu Mãn: ngày Giáp Tý, Giáp Tuất, Bính Tý, Giáp Thân, Ất Dậu, Bính Tuất, Mậu Tý, Bính Thân, Đinh Dậu, Mậu Tuất.

– Mang Chủng và Hạ Chí: ngày Quý Dậu, Giáp Tuất, Quý Mùi, Giáp Thân, Ất Dậu, Bính Tuất, Ất Mùi, Bính Thân, Mậu Tuất, Kỷ Mùi.

– Tiểu Thử và Đại thử: ngày Nhâm Thân, Quý Dậu, Giáp Tuất, Nhâm Ngọ, Quý Mùi, Giáp Thân, Ất Dậu, Giáp Ngọ, Ất Mùi, Mậu Tuất, Kỷ Mùi, Nhâm Tuất.

– Lập Thu và Xử Thử: ngày Kỷ Tị, Nhâm Thân, Quý Dậu, Nhâm Ngọ, Quý Mùi, Giáp Thân, Ất Dậu, Quý Tị, Giáp Ngọ, Ất Mùi, Ất Tị, Mậu Ngọ, Kỷ Mùi.

– Bạch Lộ và Thu Phân: ngày Mậu Thìn, Kỷ Tị, Tân Mùi, Tân Tị, Nhâm Ngọ, Quý Mùi, Giáp Thân, Nhâm Thìn, Quý Tị, Giáp Ngọ, Giáp Thìn, Mậu Ngọ.

– Hàn Lộ và Sương giáng: ngày Kỷ Tị, Canh Ngọ, Tân Mùi, Tân Tị, Nhâm Ngọ, Quý Mùi, Quý Tị, Quý Mẹo, Mậu Ngọ , Kỷ Mùi.

– Lập Đông và Tiểu Tuyết: ngày Mậu Thìn, Canh Ngọ, Mậu Dần, Kỷ Mẹo, Canh Thìn, Nhâm Ngọ, Canh Dần, Tân Mẹo, Nhâm Thìn, Nhâm Dần, Quý Mẹo, Mậu Ngọ.

– Đại Tuyết và Đông Chí: ngày Đinh Mẹo, Mậu Thìn, Kỷ Tị, Đinh Sửu, Kỷ Mẹo, Canh Thìn, Tân Tị, Nhâm Thìn, Tân Sửu, Đinh Tị.

– Tiểu Hàn và Đại Hàn: ngày Bính Dần, Đinh Mẹo, Mậu Thìn, Đinh Sửu, Mậu Dần, Kỷ Mẹo, Canh Thìn, Canh Dần, Tân Mẹo, Tân Sửu, Bính Thìn.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Khái niệm ngày Bất Tương –

Tính cách người tuổi Dần nhóm máu AB: lạc quan vui vẻ, mạnh mẽ tự tin

Những người sinh năm Dần thường rất mạnh mẽ và tài giỏi. Tính cách người tuổi Dần nhóm máu AB lạc quan vui vẻ nên được rất nhiều người yêu mến.
Tính cách người tuổi Dần nhóm máu AB: lạc quan vui vẻ, mạnh mẽ tự tin

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Trong mắt người khác, họ là ánh dương rạng rỡ, chiếu sáng cho những tâm hồn còn tăm tối.  

Tính cách đặc trưng người tuổi Dần nhóm máu AB
 

Những người thuộc nhóm này có trực giác rất tốt, họ có thể phán đoán suy nghĩ, tính cách của bạn bè và đối thủ một cách tương đối chính xác. Tính tình tốt bụng, thích kết giao bạn bè. Mỗi khi bạn bè gặp khó khăn, họ đều sẵn sàng đưa tay giúp đỡ, tuy nhiên bản thân lại là người không thích phiền hà người khác.
 
Người tuổi Dần nhóm máu AB đặc biệt tự tin vào bản thân mình. Khi thấy người khác mắc lỗi, họ sẽ không ngần ngại góp ý, lời lẽ nhẹ nhàng khéo léo mà vẫn đầy tính thuyết phục, khiến người kia tâm phục khẩu phục, người bên cạnh thấy vậy cũng có ấn tượng tốt.
 
Tính cách người tuổi Dần nhóm này rất lạc quan, không thích than vãn buồn phiền, càng không ưa chê trách sự đời. Họ luôn giữ cho mình tâm hồn vui vẻ và tràn ngập niềm tin vào cuộc sống, thích đem niềm vui đến cho những người xung quanh. 
 
Dù cuộc sống bình lặng, không sóng gió nhưng cũng luôn tự tìm kiếm niềm vui cho bản thân. Phương châm sống của họ là làm sao cho khỏi sống hoài sống phí, một ngày trên đời cũng hãy nở nụ cười tươi. Tinh thần lạc quan yêu đời và trái tim lương thiện khiến họ được rất nhiều người yêu quý, cũng có vô số bạn bè khắp bốn phương. 
 
Là người sôi nổi và giàu nhiệt huyết, tuy nhiên khi làm việc họ lại có phần thiếu tập trung. Bất cứ việc gì mới mẻ cũng đều thu hút sự chú ý của những người này. Họ thích thử thách ở những lĩnh vực mới, lại hay muốn tranh tài với chuyên gia hay những người giàu kinh nghiệm, vì thế mà thường xuyên gặp thất bại. 
 
Có điều nhờ tính cách lạc quan nên họ rất dễ dàng vượt qua nỗi buồn thua cuộc, vẫn hừng hực khí thế làm lại từ đầu. Nếu có thể chuyên tâm đầu tư công sức hơn cho một lĩnh vực nào đó thì sớm muộn cũng sẽ gặt hái được rất nhiều thành công.
 
Người tuổi Dần nhóm máu AB là những người ưa mạo hiểm, thích thể hiện tình yêu với người khác. Một khi đã có tình cảm với đối phương, họ sẽ không màng tới bất cứ điều gì mà tiến tới thổ lộ nỗi niềm. Không quan tâm tới chuyện đối phương liệu có lớn tuổi hơn mình nhiều quá, liệu họ đã kết hôn hay chưa, thậm chí không cần biết người ta có đồng ý kết giao hay không, họ vẫn cố gắng hết mình để giành được tình cảm của đối phương.


Tinh cach nguoi tuoi Dan nhom mau AB lac quan vui ve, manh me tu tin hinh anh
 
Cách thức tiến tới tình yêu của những người này có phần mang tính cưỡng chế, không suy xét trước sau, càng không tính đến hậu quả, vì thế mà thường hát mãi bài ca tình đơn phương, thất bại không đường cứu vãn. 
 
Mỗi khi thất tình, tâm trạng họ tồi tệ đến cực điểm, tựa như cả thế giới sụp xuống trước mắt. Song họ lại có thể nhanh chóng hồi phục, từ hàn gắn vết thương lòng, tiếp tục hướng đến thế giới tươi đẹp và lập tức tìm được mục tiêu tình yêu mới. 
 
Khi đến tuổi trung niên, họ sẽ dần dần trưởng thành và chín chắn hơn. Lúc này, con người họ sẽ tỏa ra sức quyến rũ ngày càng lớn, lại thêm kinh nghiệm yêu đương đúc rút từ nhiều năm trai trẻ, họ thông minh và bình tĩnh suy xét, nghiên cứu đối sách để có được người mình yêu, áp dụng những cách thức mà người khác có thể chấp nhận được, từng bước từng bước giành lấy trái tim người ấy.
 
Đa số người tuổi Dần nhóm máu AB đều kết hôn khá muộn. Bông hoa tình yêu của họ tuy vãn khai nhưng lại cực kì rực rỡ. Sau khi kết hôn, đời sống hôn nhân của những người này đều rất ổn định. Họ đã qua thời thanh niên sôi nổi mà bồng bột, giờ chỉ muốn đắm chìm trong hạnh phúc bình lặng của tổ ấm gia đình, có phần xa rời bạn bè, lánh khỏi những cuộc vui phù phiếm.
 

Ưu điểm người tuổi Dần nhóm máu AB
 

Xem bói tử vi trọn đời, những người sinh năm Hổ nhóm máu này có trực giác cực kì mạnh, lại chính trực hào sảng, hay làm chuyện giúp đỡ người khác. Họ rất thích kết giao bạn bè, bình thường đối xử với bạn bè chân thành hết mực, khi bạn gặp khó khăn là không nề hà xắn tay tương trợ. Tuy nhiên, khi bản thân gặp chuyện khó khăn, họ hiếm khi mở lời nhờ người giúp đỡ.
 
Tính cách người tuổi Dần nhiệt tình, quả cảm, dám nghĩ dám làm. Khi nhìn thấy việc chướng tai gai mắt, họ không sợ phiền phức mà sẵn sàng đứng ra nói lý lẽ. Nhờ tài ăn nói, lại khéo léo chỉ ra khuyết điểm người khác mà không làm mất mặt họ nên những người này được tiếng là thuyết khách tài ba. 
 
Họ luôn rất tự tin trước bất cứ việc gì, cũng có khả năng làm việc rất tốt, thường nhanh nhẹn hoàn thành công việc một cách hiệu quả, được đồng nghiệp tín nhiệm và cấp trên khen ngợi. Trong thế giới quan của họ, dường như không tồn tại 2 chữ “khó khăn” và “trở ngại”. Khi đã xác định được mục tiêu, người này sẽ hào hứng bắt tay vào, sẵn sàng lăn xả, dù gặp khó cũng không nản lòng, quyết chí đến cùng vì mục tiêu đã chọn.
 
Trong mắt bạn bè, người tuổi Dần nhóm máu AB như một ánh dương rạng rỡ, sự lạc quan vui vẻ, ngây thơ đáng yêu của họ lan tỏa đến tất cả mọi người. Họ sẵn sàng cống hiến hết mình vì xã hội, tham gia rất nhiều các hoạt động tình nguyện và từ thiện.


Tinh cach nguoi tuoi Dan nhom mau AB lac quan vui ve, manh me tu tin hinh anh
 
Những người nhóm này luôn có trái tim thơ trẻ, tò mò hiếu kì trước bất cứ điều gì mới mẻ, luôn muốn thử làm việc nọ việc kia, chẳng thế mà họ thường trở thành người dẫn đầu trào lưu gì đó.
 
Người sinh năm Hổ nhóm máu này cũng rất thích mạo hiểm, thường mạnh tay đầu tư những khoản lớn. Tuy nhiên họ cũng rất cẩn thận, thường tìm hiểu và cảm thấy nắm chắc phần thắng mới ra tay thực hiện. Vì thế, nếu chuyên tâm đầu tư công sức cho một lĩnh vực nào đó, khả năn thành công của người này là cực kì cao.

 

Nhược điểm người tuổi Dần nhóm máu AB
 

Do có phần quá tự tin nên họ thường bỏ lơ cảm xúc của người khác, làm theo ý mình mà không quan tâm người khác nghĩ gì hay thấy thế nào. Tính cách ương ngạnh, thích lãnh đạo người khác, không chấp nhận góp ý của mọi người, luôn muốn tất cả làm theo sự sắp xếp của bản thân. Tuy họ làm vậy hoàn toàn theo bản năng mà không có ác ý gì, nhưng không khỏi khiến cho bạn bè và đồng nghiệp cảm thấy họ quá bá đạo.
 
Trong tình yêu, tính cách này của người tuổi Dần càng thể hiện rõ rệt, chẳng thế mà người yêu của họ hay thấy bức bối, bất bình. Trong các mối quan hệ xã giao, họ cũng thường lấy mình làm trung tâm, đem sự tích cực, lạc quan của mình ra yêu cầu mọi người cũng phải như vậy. Kết quả là họ thường thất vọng vì thấy mọi người quá đỗi bi quan, còn mọi người thì mếch lòng vì sự vô tư đến vô tâm của họ.
 
Thêm nữa, bạn quá vô tư, không quan tâm đến cảm xúc của người khác nên rất hay vô tình gây ác cảm cho mọi người, bị ghét bỏ lúc nào không hay biết. Sự tò mò, háo hức với những chuyện mới mẻ khiến bạn làm việc không chuyên tâm, đứng núi này trông núi nọ, thiếu kiên nhẫn và nghị lực.
Những người này tính cách cực kì cố chấp, lại lạnh lùng, hay than phiền người khác không để ý đến mình, cũng rất hay đố kị. Nữ tuổi này thích buôn bán chuyện trò cùng đồng nghiệp, nói xấu người khác, có vậy mới thấy cân bằng tâm hồn. Thường xuyên lỡ hẹn, không giữ quy tắc trong nhiều chuyện, thua mà không phục, cũng không chịu học hỏi từ người khác. 
  Ngoài ra, những người này thường bỏ mặc dục vọng của mình vượt ngoài vòng kiểm soát. Những thứ họ thích thì nhất định phải giành lấy, dù đôi khi người ấy đã thuộc về một người khác cũng không từ. Trong cuộc sống gia đình, đây là mẫu người ích kỉ, luôn ham lợi về mình, vì thế kinh tế gia đình sung túc, no đủ. Nam giới thích nghe lời mách lẻo của vợ, song lại độc đoán trong khi xử lý mọi việc.

Tinh cach nguoi tuoi Dan nhom mau AB lac quan vui ve, manh me tu tin hinh anh
 

Tử vi Tài lộc người tuổi Dần nhóm máu AB
 

Đường tài lộc của người tuổi Dần nhóm này khá tốt. Họ có tài năng, lại có ý chí vươn lên nên chỉ cần phát hiện thấy cơ hội “làm giàu” thì sẽ nhanh nhạy nắm bắt, quyết không bỏ lỡ, triệt để lợi dụng từng cơ hội dù là nhỏ nhất.
 
Những người này có chút tùy tiện, làm việc theo cảm hứng, lại thiếu kiên trì nên bỏ lỡ rất nhiều cơ hội tốt. So với những người cùng tuổi nhóm máu khác, họ có phần kém hơn về tiền tài, công danh. Do đó, cần thay đổi mình, cố gắng nỗ lực không ngừng, chuyên tâm làm việc thì mới có thể tài lộc dồi dào.
 
Tới tuổi trung niên, vận may của họ đến tới tấp, hãy thông minh nắm bắt và sử dụng chúng để phát tài phát lộc.
 

Tình yêu hôn nhân người tuổi Dần nhóm máu AB
 

Tình yêu
 

Người tuổi Dần nhóm máu này thường thể hiện tình cảm khá mãnh liệt. Họ luôn muốn thông qua hành động để biểu đạt tình yêu, có thể nói, họ là những người thuộc nhóm “hành động”. Những người này có ham muốn sở hữu khá lớn, nếu không được ở bên cạnh người yêu, họ sẽ cảm thấy bất an, lo lắng rằng người kia không quan tâm, chú ý đến mình, sợ hãi mất đi người mình yêu.
 
Chính vì tính xốc nổi, chỉ hành động mà không suy xét tới hậu quả nên người tuổi Dần nhóm này thường hay bị thất tình. Mỗi khi như vậy, tinh thần họ vô cùng suy sụp, không thiết làm gì. Ngoài ra, bản tính cố chấp cũng khiến họ không chấp nhận sự thật mình thua cuộc, càng thêm chán nản, buồn rầu.
 
Là người thẳng thắn và ưa mạo hiểm, nếu đã thích người khác, họ sẽ tìm đủ cách để cho đối phương biết được. Họ luôn quyết tâm theo đuổi, khiến người khác phải chú ý đến mình, cho dù đối phương có hơn tuổi hay là người đã có gia đình cũng không ảnh hưởng đến ý chí của những người này.

Theo tử vi tình duyên năm 2017 của người tuổi Dần, do không bị xung Thái Tuế ảnh hưởng nên tất cả các mặt của người này đều cát tường, vận trình tình cảm cũng rất tốt. Đặc biệt, cát tinh Thiên Hỉ chiếu rọi giúp người tuổi Dần có một năm 2017 bội thu ái tình.


Tinh cach nguoi tuoi Dan nhom mau AB lac quan vui ve, manh me tu tin hinh anh
 

Hôn nhân
 

Cuộc sống hôn nhân người tuổi Dần nhóm máu AB thường khá ổn định và bình lặng, không dễ thay đổi hay xảy ra biến động như những người cùng tuổi nhóm máu khác.
 
Tuy nhiên, vì tính cách người tuổi Dần vốn sôi nổi nên khi lập gia đình và chỉ chú tâm cho tổ ấm lứa đôi, họ có phần bối rối khi không cân bằng được giữa chuyện tình cảm và bạn bè. Họ chỉ muốn ở bên gia đình mà bỏ bê bè bạn, xa lánh những cuộc vui. Nên cố gắng cân bằng để vừa có cuộc sống gia đình hạnh phúc mà vẫn có những người bạn chia sẻ buồn vui.
 
Nữ giới tuổi này thường chịu sự ảnh hưởng của người chồng. Nếu người chồng không đồng thuận, họ sẽ khó lòng quản lý gia đình, cũng không hạnh phúc trong chuyện chăn gối. Còn nam giới do tính cách chi phối nên thường khá bảo thủ trong mối quan hệ vợ chồng, không thoải mái cho 2 người có được tự do cá nhân.

Mời bạn đọc xem thêm bài viết: Người tuổi Dần hợp với tuổi nào trong tình yêu, hôn nhân? 
 

Lời khuyên dành cho người tuổi Dần nhóm máu AB
 

Trong cuộc sống, bạn hãy cố gắng kiềm chế sự bốc đồng, xốc nổi, chịu khó suy nghĩ kĩ càng và khoan dung hơn với mọi người. Tự tin và mạnh mẽ đều không phải chuyện xấu, nhưng hãy giữ chúng ở mức độ vừa phải, có thể mới làm nổi bật cá tính và tài năng của bạn, bởi quá mạnh mẽ, bá đạo chỉ khiến người khác thấy phản cảm mà thôi.
 
Khi theo đuổi tình yêu, bạn nên có đối sách và thực hiện vừa phải, đừng nóng lòng đốt cháy giai đoạn, cũng đừng quá cưỡng cầu. Có những thứ không phải của mình thì thực sự không nên ép mình theo đuổi. Bạn có thể tìm cho mình nhiều niềm vui và sở thích, song trong công việc thì nên chuyên tâm thực hiện, đừng vì ham vui mà làm hỏng sự nghiệp.
 
Hy Vũ
Quá thông minh và mạnh mẽ phải chăng là lý do khiến tuổi Dần cao số?
Vì sao mẹ dặn không yêu người tuổi Dần?
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tính cách người tuổi Dần nhóm máu AB: lạc quan vui vẻ, mạnh mẽ tự tin

Những đồ phong thủy chiêu tài mang lại vượng khí đầy nhà

Lựa chọn đồ phong thủy chiêu tài trưng bày đúng và hợp tuổi có thể thu hút tiền bạc, mang lại may mắn, tài lộc cũng như gia tăng vượng khí, sức khỏe, tuổi thọ
Những đồ phong thủy chiêu tài mang lại vượng khí đầy nhà

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

(Lichngaytot) Lựa chọn đồ phong thủy chiêu tài trưng bày đúng và hợp tuổi có thể thu hút tiền bạc, mang lại may mắn, tài lộc cũng như gia tăng vượng khí, sức khỏe, tuổi thọ cho gia chủ.


Biểu tượng cá


Nhung do phong thuy chieu tai mang lai vuong khi day nha hinh anh
 

Giàu sang, phú quý và may mắn là ý nghĩa của biểu tượng hình cá. Theo phong thủy, tượng cá chép, cá rồng hoặc tranh vẽ cá sẽ mang đến thịnh vượng cho văn phòng và căn nhà của bạn.  Nhiều doanh nghiệp vận dụng thêm yếu tố ngũ hành để đặt bể cá cảnh như cá vàng, cá bảy màu, cá chép gần lối đi để tăng thêm vượng khí cũng rất hiệu quả.

Mời bạn đọc tham khảo thêm bài viết: Phát tài với biểu tượng cá chép

Đồng tiền xu


Nhung do phong thuy chieu tai mang lai vuong khi day nha hinh anh 2
 

Nhắc tới đồ phong thủy chiêu tài không thể không kể đến đồng tiền xu cổ. Những đồng tiền xu cổ của Trung Quốc có hình tròn với hình vuông chính giữa tượng trưng cho bầu trời và mặt đất.  Cát khí của nó không những làm gia tăng tài lộc mà con đem lại nhiều may mắn về công danh, sự nghiệp và giải trừ tai họa, tiểu nhân… Không chỉ nên treo tiền xu trong nhà, văn phòng người ta còn đặt 1 vài đồng xu vào túi xách, ví tiền, tủ khóa với mong muốn giàu sang phú quý.

Long Quy


Nhung do phong thuy chieu tai mang lai vuong khi day nha hinh anh 3
 

Linh vật huyền thoại sinh ra từ sự kết hợp hài hòa giữa rồng và rùa.  Trưng bày đồ phong thủy chiêu tài này trong nhà có thể giúp xua tan biến cố, tiền của từ từ tăng lên một cách bền vững, sức khỏe, tuổi thọ và sự nghiệp, công danh của mỗi người trong gia đình đều rộng mở.

Tượng Phật Di Lặc


Nhung do phong thuy chieu tai mang lai vuong khi day nha hinh anh 4
 

Phật Cười hay Phật Di Lặc được coi là biểu tượng tuyệt đối của hạnh phúc, của sự hài hòa, niềm vui vui tư lự. Bày tượng Phật đối diện với cửa chính, nhìn thẳng ra cửa nhà giúp chuyển hóa toàn bộ khí vào nhà thành năng lượng tốt.  Đặt tranh hoặc tượng Phật trong một số vị trí khác nhau của ngôi nhà hay văn phòng có tác dụng hóa giải mọi rắc rối, cãi cọ, giảm bớt căng thẳng, lo âu, gia tăng vận may tài lộc, sức khỏe và thành công. Mời bạn đọc tham khảo thêm bài viết: Đặt tượng Phật Di Lặc chuẩn phong thủy để rước tài lộc, đón niềm vui

Gương bát quái


Nhung do phong thuy chieu tai mang lai vuong khi day nha hinh anh 5
 

Gương bát quái là một trong những công cụ nổi tiếng và phổ biến nhất được sử dụng trong phong thủy để bảo vệ, khắc phục, hoặc hóa giải cho các ngôi nhà có hướng xấu. Nếu được sử dụng chính xác, gương bát quái giúp ngăn chặn nhiều việc nguy hiểm, ngăn ngừa bệnh tật, tai nạn, trầm cảm,  điều tiết khí trường và từ trường trong phòng khiến tâm trạng bình tĩnh, thoải mái, điều tiết sự cân bằng của cơ thể, dần dần phục hồi sức khỏe khi bị những căn bệnh mãn tính…

Thuyền buồm đầu rồng


Nhung do phong thuy chieu tai mang lai vuong khi day nha hinh anh 6
 

Thuyền buồm kết hợp đầu rồng tượng trưng cho gió, nước biểu tượng mang lại nhiều cuộc giao dịch kinh doanh thành công tốt đẹp và thu về nhiều lợi nhuận, tiền của. Nên đặt vật phẩm phong thủy chiêu tài này trong văn phòng, cửa hàng với đầu rồng quay vào bên trong để điều hướng dòng tiền, sự may mắn về phía bạn.

Kim tự tháp thạch anh


Nhung do phong thuy chieu tai mang lai vuong khi day nha hinh anh 7
 

Kim tự tháp là một khối hình học đặc biệt nó có thể sản sinh ra năng lượng đặc thù và vô hình, dạng thức năng lượng huyền bí này được hình thành từ nhiều hướng và công dụng đa dạng vô cùng đặc biệt. Đá thạch anh giúp cho dòng năng lượng ổn định và giữ nguyên tính chất.

Khi sóng điện từ và tia vũ trụ xuyên qua lớp đá cùng một lúc nó đã hội tụ năng lượng cực lớn tại khoảng giữa trung tâm Kim tự tháp và ảnh hưởng đến không gian xung quanh. Dạng năng lượng này có thể giúp cho người thiếu ngủ hay mất ngủ hoặc người lao động với cường độ quá cao có thể lấy lại sức khỏe.

Voi


Nhung do phong thuy chieu tai mang lai vuong khi day nha hinh anh 8
 

Loài voi trong tự nhiên có sức mạnh phi thường không thua gì mãnh hổ hay nhiều loài động vật thông minh khác. Theo phong thủy, bày tượng voi trong nơi ở, văn phòng sẽ giúp bình ổn công việc làm ăn, hút tài lộc, trấn yểm vận xấu, trong nhà luôn có điềm lành.

Ba vị thần Phúc - Lộc - Thọ


Nhung do phong thuy chieu tai mang lai vuong khi day nha hinh anh 9
 

Tượng ba ông Phúc - Lộc - Thọ cực kỳ phổ biến vì ba vị thần tượng trưng cho ba ước muốn từ xưa của con người là Phúc, Lộc, Thọ, là sự giàu có, quyền lực và may mắn bên cạnh cuộc sống khỏe mạnh và lâu dài.

Ba ông Phúc, Lộc, Thọ luôn được đặt cạnh nhau, không bao giờ tách rời và theo thứ tự cụ thể. Bên trái luôn luôn là ông Phúc với tất cả nguồn năng lượng phước lành và may mắn. Ở giữa là ông Lộc với niềm tin về sự thành công và tài chính ổn định. Ông Thọ luôn ở bên trái, mỉm cười và ban tặng những món quà của tuổi thọ và cuộc sống yên bình.

Minh Hiếu

Chọn đúng vị trí đặt cây cảnh trong nhà để thỏa nguyện mọi mong ước Xác định vị trí đặt tủ lạnh hợp phong thủy để tránh bại vận
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những đồ phong thủy chiêu tài mang lại vượng khí đầy nhà

Tổng quan tài vận tháng 1 của 12 con giáp

Tổng quan tài vận tháng 1 của 12 con giáp như sau, cùng theo dõi nhé!
Tổng quan tài vận tháng 1 của 12 con giáp

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tài vận tháng 1 của người tuổi Ngọ ở mức bình ổn, không đột phá dư dả nhưng cũng không áp lực về tiền bạc.


Tài vận tuổi Tý

Chỉ số tài vận: ★★★★
Phương vị cát tường: Chính Đông

Bước sang tháng 1, chính tài của người tuổi Tý bình ổn, thứ tài có phần “nhỉnh hơn”. Nếu muốn vay vốn ngân hàng hoặc vay mượn bạn bè để đầu tư, người cầm tinh con Chuột cần phải hết sức thận trọng, tránh nhắm mắt làm liều gây tổn hao tài sản.

Tài vận tuổi Sửu

Chỉ số tài vận: ★★★★
Phương vị cát tường: Chính Bắc

Chính tài trong tháng 1 của người tuổi Sửu dồi dào, thứ tài khá nhưng cần biết bỏ chút tiền “đầu tư” cho công to việc lớn.

Ví dụ, mời đối tác, bạn bè đi ăn, nhằm mở rộng và thắt chặt mối quan hệ. Tự mua cho mình những món đồ yêu thích hoặc các món ăn bổ dưỡng nhằm nâng cao sức khỏe và tinh thần.

Tài vận tuổi Dần

Chỉ số tài vận: ★★★
Phương vị cát tường: Chính Đông

Tổng quan tài vận tháng 1 của 12 con giáp cho biết, các khoản thu chi của người tuổi Dần đã bình ổn trở lại. Tuy nhiên, đây không phải là thời điểm lí tưởng để đầu tư cổ phiếu, chứng khoán hay những hạng mục có tính mạo hiểm cao. Tốt nhất vẫn cần tích lũy, dồn vốn cho việc lớn sau này.

Tong quan tai van thang 1 cua 12 con giap hinh anh
 
Tài vận tuổi Mão

Chỉ số tài vận: ★★★
Phương vị cát tường: Chính Tây

Chính và thứ tài của người tuổi Mão ở mức trung bình. Bạn cần có kế hoạch chi tiêu hợp lí, hạn chế khoản chi không cần thiết mới có thể duy trì được mức sống như hiện tại.

Tài vận tuổi Thìn

Chỉ số tài vận: ★★★★
Phương vị cát tường: Chính Bắc

Tình hình tài chính của người tuổi Thìn chuyển biến tích cực trong tháng 1. Chính tài tuy vượng nhưng cần đề phòng kẻ tiểu nhân quấy phá. Thứ tài ở mức trung bình.

Tài vận tuổi Tỵ

Chỉ số tài vận: ★★★
Phương vị cát tường: Chính Đông

Dù các khoản thu nhập đều có dấu hiệu tăng, nhưng những khoản chi cũng khá nhiều, nếu không có kế hoạch chi tiêu hợp lí, e rằng bạn sẽ sớm “viêm màng túi”.

Tài vận tuổi Ngọ

Chỉ số tài vận: ★★★
Phương vị cát tường: Chính Tây

Tài vận tháng 1 của người tuổi Ngọ ở mức bình ổn, không đột phá dư dả nhưng cũng không áp lực về tiền bạc. Lưu ý, trong tháng, không nên tiến hành những hạng mục đầu tư tài chính, tránh hiện tượng phá tài.

Tong quan tai van thang 1 cua 12 con giap hinh anh
 
Tài vận tuổi Mùi


Chỉ số tài vận: ★★★★
Phương vị cát tường: Chính Bắc

Tài vận của người tuổi Mùi đã dần tăng trở lại, thu nhập khả quan. Nhưng nếu có bạn bè ngỏ ý vay mượn số tiền lớn để làm ăn, đầu tư, bạn nên tìm cách từ chối khéo léo, tránh tình trạng tiền bạc “một đi không trở lại”.

Tài vận tuổi Thân

Chỉ số tài vận: ★★★★★
Phương vị cát tường: Chính Bắc

Tài vận tháng 1 của người tuổi Thân khá vượng, dù là chính hay thứ tài đều dồi dào. Ví tiền của bạn hết rồi lại có. Tuy nhiên, vẫn cần chi tiêu tiết kiệm, lấy tích lũy làm trọng, tránh vung tay quá trán sẽ bị phá tài.

Tài vận tuổi Dậu

Chỉ số tài vận: ★★★★
Phương vị cát tường: Chính Tây

Dù gánh nặng vật chất đã vơi đi phần nào nhờ nguồn chính tài vượng. Nhưng xảy ra quá nhiều sự việc bất ngờ khiến người tuổi Dậu phải chi tiêu nhiều, tình hình tài chính có phần bị ảnh hưởng.

Tuy nhiên, tới giữa tháng tài vận cực hanh thông, bạn có thể mạnh dạn đầu tư hoặc mở rộng phạm vi kinh doanh, ắt sẽ thu về lợi nhuận tốt.

Những con giáp có ví tiền “dày cộm” trong tháng 1
Trong tháng cuối cùng của năm Ất Mùi, tài vận của người cầm tinh con Rồng khởi sắc mạnh, lại có Tài tinh chiếu mệnh nên liên tiếp gặp may tiền bạc, hứa hẹn một
Tài vận tuổi Tuất


Chỉ số tài vận: ★★★★★
Phương vị cát tường: Đông Nam

Chính tài của người tuổi Tuất khởi sắc mạnh, ví tiền căng tràn khiến không ít người phải tỏ ý ngưỡng mộ. Tuy nhiên, phải cẩn thận đường thứ tài, kị tham gia kiểu đầu tư mù quáng hay mang tính chất đỏ đen. Đề phòng kẻ tiểu nhân lừa gạt khiến tiền mất tật mang.

Tài vận tuổi Hợi


Chỉ số tài vận: ★★★★
Phương vị cát tường: Tây Bắc

Tài vận trong tháng 1 của người tuổi Hợi trung bình, tuy không quá dư dả nhưng cũng thoải mái trong chi tiêu. Lưu ý, cần tránh manh động đầu tư khoản vốn lớn khi chưa tìm hiểu rõ các nguồn thông tin, kẻo sẽ “ném tiền qua cửa sổ”.

► Xem Lịch vạn niên, lịch vạn sự chuẩn nhất tại Lichngaytot.com

Ngân Hà (Theo Sohu)
 

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tổng quan tài vận tháng 1 của 12 con giáp

Xem phương vị để vượng sự nghiệp, danh tiếng, hôn nhân

Trong ngôi nhà luôn được chia thành các phương vị khác nhau. Mỗi phương vị lại có tác động đến từng lĩnh vực trong cuộc đời con người.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Phong thủy có tác dụng mang tính quyết định tới vận thế của mỗi người. Theo phong thủy học, mỗi phương vị đại diện cho một vận thế khác nhau, vì vậy, nếu biết cách bài trí các vật phong thủy hoặc chú trọng tới bố cục của phương vị đó, bạn có thể làm vượng vận thế của mình.

Sự nghiệp

 xem phuong vi de vuong su nghiep, danh tieng, hon nhan - 1

Đặt bể cá ở hướng chính Bắc để thúc đẩy vận thế sự nghiệp.

Hướng chính Bắc đại diện cho vận thế sự nghiệp, thuộc Thủy hành, màu sắc may mắn là xanh lam và đen. Ở vị trí này, các vật thuộc Thủy sẽ có tác dụng hỗ trợ rất lớn đối với sự nghiệp của người trong nhà, như bể cá, tranh non nước,... Bạn cũng có thể đặt các vật trang trí bằng kim loại màu đen, do Kim có thể sinh Thủy.

Danh tiếng

Hướng chính Nam đại diện cho vận thế danh tiếng, thuộc Hỏa hành, màu sắc may mắn là màu đỏ. Hướng chính Nam thích hợp treo các tranh phượng hoàng, hồng hạc gọi mặt trời… Các vật màu đỏ như thảm màu đỏ, đồ gỗ màu đỏ đều thích hợp đặt ở đây. Nếu đặt thêm đèn chiếu sáng ở vị trí này, thanh danh của bạn sẽ được nâng cao.

Sức khỏe

Hướng chính Đông có liên quan tới sức khỏe của người trong nhà. Vị trí này đặt các loại cây cành lá xum xuê có thể thúc đẩy sức khỏe và tuổi thọ của người trong nhà. Các vật trang trí thuộc Thủy như tranh sơn thủy cũng rất thích hợp, do Thủy có thể nuôi Mộc.

Con cháu

Hướng chính Tây có liên quan tới vận thế con cháu, ngũ hành thuộc Kim, thích hợp với màu trắng, vàng kim, bạc. Các vật điêu khắc kim loại; chuông gió kim loại gồm 6 cột, bên trong rỗng; tivi và loa đài đều thích hợp đặt ở khu vực này. Do Thổ có thể sinh Kim, nên đặt bình hoa màu trắng hoặc thủy tinh ở đây có tác dụng thúc đẩy việc sinh con, sinh cháu.

Học hành (Văn Xương)

 xem phuong vi de vuong su nghiep, danh tieng, hon nhan - 2

Bình hoa sứ đặt ở phía Đông Bắc có tác dụng hỗ trợ cho việc thi cử, học hành của con trẻ.

Nếu như trẻ trong nhà đang tới kì thi, tốt nhất nên chú ý tới bố cục phía Đông Bắc. Khu vực này thuộc Thổ, thích hợp các màu vàng hoặc màu đất. Các vật thuộc Thổ như bình hoa sứ đều có thể làm tăng năng lượng cho khu vực. Có thể thay bình hoa sứ bằng thủy tinh.

Quý nhân

Làm vượng năng lượng phía Tây Bắc của phòng khách, có tác dụng làm tăng vận thế quý nhân và các mối quan hệ xã hội. Khu vực này thuộc Kim, thích hợp đặt các vật trang trí màu trắng, vàng kim, bạc... như vật điêu khắc kim loại, đèn chùm màu trắng... Treo dây thừng xuyên 6 đồng tiền cổ hoặc chuông gió kim loại 6 cột rỗng ở vị trí này cũng là ý kiến không tồi.

Tiền tài

 xem phuong vi de vuong su nghiep, danh tieng, hon nhan - 3

Các loại cây lá tròn như cây kim tiền đặt ở phía Đông Nam phòng khách có tác dụng chiêu tài.

Phía Đông Nam của phòng khách là tài vị của gia đình, ngũ hành thuộc Mộc, thích hợp màu xanh lục, nên có thể đặt các vật thuộc Thổ ở đây để nâng cao tác dụng chiêu tài, trong đó các loại cây xanh lá tròn là thích hợp nhất.

Tình duyên

ếu như muốn tăng vận thế tình duyên và hôn nhân, phía Tây Nam phòng khách cần được chú trọng. Phía này thuộc Thổ, việc thúc đẩy năng lượng hướng này cũng giống như hướng Đông Bắc, đặt các đèn treo để tăng thêm năng lượng, thúc đẩy mối quan hệ hòa hợp của vợ chồng. Thủy tinh thiên nhiên và ảnh toàn gia đình cũng có tác dụng tương tự.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem phương vị để vượng sự nghiệp, danh tiếng, hôn nhân

Lấy được phụ nữ có nốt ruồi ở vị trí “vàng” này, gia đình ấm êm, chồng được nhờ cả đời

Theo quan điểm nhân tướng học, phụ nữ nếu sở hữu nốt ruồi ở những vị trí dưới đây sẽ có số vượng phu, ích tử.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Nốt ruồi trên tai

Quan niệm về tướng nốt ruồi trong nhân tướng học thì vị trí nốt ruồi càng khuất, càng được xem là tướng phú quý. Riêng nốt ruồi trên tai phần lớn được xem là nốt ruồi tốt. Người có nốt ruồi ở dái tai là người thông minh, hiếu thuận với cha mẹ. Phụ nữ có nốt ruồi mọc trên tai phải ắt có vận bang phu, nghĩa là họ có khả năng hỗ trợ, giúp đỡ chồng trong mọi mặt của cuộc sống lẫn sự nghiệp. Đàn ông lấy được người vợ này ắt sẽ có con đường công danh rộng mở, hiển vinh với đời.

Nốt ruồi trên cánh mũi

lấy được phụ nữ có nốt ruồi ở vị trí “vàng” này, gia đình ấm êm, chồng được nhờ cả đời - ảnh 1.

Ảnh: Internet

Vị trí cánh mũi được gọi là “lan đài”, “kim quỹ”, có nghĩa là kho tiền bạc. Phụ nữ sở hữu nốt ruồi này là chủ tài, có khả năng quản lý tiền bạc tốt, cả cuộc đời sống trong phú quý, giàu sang. Họ đa phần đều có tính cách khoáng đạt, vui vẻ, luôn sống lạc quan tích cực, không bao giờ đầu hàng khó khăn và luôn nghĩ cho người khác. Nhờ biết cách đối nhân xử thế mà họ luôn giữ được hạnh phúc gia đình ấm êm, thuận hòa. Khi khó khăn, họ cũng chính là chỗ dựa vững chắc và thậm chí là “quân sư” thông thái cho chồng.

Nốt ruồi trên lông mày trái

Nốt ruồi bên lông mày trái là một vị trí vô cùng cát lợi, chủ nhân nốt ruồi này có tướng phú quý, chủ tài. Nốt ruồi càng trơn bóng, rõ nét lại càng phú quý. Nếu nốt ruồi ẩn trong lông mày được xem là biểu hiện của trí tuệ. Người phụ nữ mang nốt ruồi này ắt có tướng vượng phu, cuộc sống hai vợ chồng sẽ phất lên nhanh chóng, công việc làm ăn thuận buồm xuôi gió, lời lãi không ngờ.

Nốt ruồi dưới cằm trái

lấy được phụ nữ có nốt ruồi ở vị trí “vàng” này, gia đình ấm êm, chồng được nhờ cả đời - ảnh 2.

Ảnh: Internet

Cằm là vị trí tài phúc, đây là bộ phận địa các, thường được xem là dấu hiệu thể hiện cho nhà cửa ruộng vườn rộng lớn. Phụ nữ có nốt ruồi dưới cằm trái sẽ được hưởng vinh hoa phú quý suốt đời. Đồng thời, họ được thừa kế khối tài sản đất đai lớn từ tổ tiên để lại.

Nốt ruồi ở khóe miệng

Đây là đặc điểm của người phụ nữ sinh ra đã có lộc trời cho, tiền của dồi dào, con cái mạnh giỏi, thành công. Trước khi lập gia đình, họ rất có duyên làm ăn, sau khi yên bề gia thất, họ sẵn sàng lui về hậu phương, chuyên tâm chăm lo cho gia đình. Phần lộc của họ sẽ được chuyển giao hết sang cho chồng, nên tài vận, kinh tế trong gia đình chẳng bao giờ thiếu thốn, lúc nào cũng viên mãn tròn đầy.

Nốt ruồi ở tóc mai

Nốt ruồi ở trên trán, chỗ tóc mai là nốt ruồi tốt duyên, tốt vận của phái nữ. Phụ nữ có nốt ruồi này, đa phần đều là những cô gái dịu dàng, hiền lành, biết giao tiếp, cư xử hòa nhã, khéo léo lại đảm đang, quán xuyến cửa nhà. Một khi đã đi lấy chồng, họ sẽ chiều chuộng người bạn đời hết mực. Cuộc sống gia đình cũng gặp nhiều hạnh phúc viên mãn, may mắn tài lộc kéo đến ào ào.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Lấy được phụ nữ có nốt ruồi ở vị trí “vàng” này, gia đình ấm êm, chồng được nhờ cả đời

Phân tích 51 cách cục thường gặp

Một bài viết trích từ cuốn Tử Vi Tam Hợp Phái của dịch giả Nguyễn Anh Vũ. Mời các bạn cùng đọc.
Phân tích 51 cách cục thường gặp

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Sách Trung châu tử vi Đẩu số - Tam Hợp phái - Dịch giả Nguyễn Anh Vũ

Chương 4: LUẬN VỀ CÁCH CỤC - PHÂN TÍCH 51 CÁCH CỤC THƯỜNG GẶP

CÁCH CỤC là một vấn đề lớn đối với người nghiên cứu Tử Vi Đẩu Số

Thực ra, Tử vi Đẩu Số không giống như "Tử bình" dùng Tứ trụ để luận đoán Lộc mệnh. Từ Bình vận dụng nguyên lý ngũ hành sinh khắc chế hóa để luận đoán, tính linh hoạt khá lớn, hơn nữa có thể dựa vào Bát Tự để nhìn toàn bộ khí cơ của mệnh tạo. Phàm là khí cơ trôi chảy, thì người đó cuộc đời gặp nhiều điều thuận hòa. Hễ khí cơ tắc nghẽn, trở ngại thì cảnh ngộ của người đó nhiều trắc trở, khó khăn. Nếu như Tứ trụ trở thành "cách", thì không Phú cũng Quý.

Nhưng các tổ hợp tinh hệ của Đẩu Số, thì lại có tính giới hạn cục bộ. Lấy tổ hợp 14 chính diệu để nói, chỉ có 144 trình thức, nhưng thêm vào các sao phụ tá và hóa, thì có thể có hơn 17 000 000 trình thức biến hóa. Vừa quá đơn giản, vừa quá phức tạp, do đó định CÁCH CỤC là điều không dễ chút nào.

Tuy vậy, Tử Vi Đẩu Số toàn Thư vẫn có ghi chép một số "cách cục", đây có lẽ do người đời Minh đặt ra. Ví dụ như "Vũ Tham đồng hành", "Văn tinh củng mệnh",.v.v... Những cách cục này, trong xã hội đời Minh đương nhiên có một ý nghĩa nhất định, nhưng cổ nhân luận mệnh số, chỉ trọng ca quyết, mỗi một mệnh cục đều phụ kèm một bài ca, giải thích rất sơ lược.

Ngày nay, những người nghiên cứu Đẩu Số, nếu cứ dựa vào những ca quyết này, thì sẽ rất cứng nhắc. Nhất là khi luận mệnh cho người khác càng rất dễ sai, hoặc không nhìn ra giới hạn, sẽ đoán không ra mệnh vận của người đấy. Do đó, cần phải căn cứ vào bối cảnh xã hội hiện đại, để giải thích các "cách cục" này.

Tiết này giới thiệu về 51 cách cục của Đẩu Số và thêm vào phần bình luận, mục đích chủ yếu chỉ có một điều, là làm cho bạn đọc thấy được sự trọng yếu của "tinh hệ".

Theo Vương Đình Chi, muốn luận đoán Đẩu Số chuẩn xác, nhất thiết không được phân tích rời rạc từng sao, tức là đừng luận đoán tính chất cảu 155 sao một cách máy móc. Nếu không khi vận dụng thực tế sẽ cảm thấy có muôn ngàn ngõ rẽ, mất đi cái nhìn toàn cục.

Trong "Thập bát phi tinh" thời kỳ đầu, người xưa luận đoán Lộc mệnh rất võ đoán, sao nào nhập vào cung nào cứ y như vậy mà đoán cát - hung, về sau mới phát triển thêm, chú ý tới "tam phương tứ chính", sau đó mới phát triển khái niệm "tinh hệ". Tử Vi Đẩu Số chiếu theo truyền thống này, từ đó bắt đầu lưu ý đến tổ hợp "tinh hệ". Có nhiều "cách cục", tức là từ tính chất của "tinh hệ" rồi phát triển thành, ví dụ như "Vũ Tham đồng hành", "Thất sát triều đẩu", "Tam hợp Hỏa Tham",.v.v... toàn là tính chất của tổ hợp tinh hệ cơ bản.

Nhưng hậu nhân lại có khuynh hướng phát triển không lành mạnh, đó chính là xem trọng "cách cục" một cách quá đáng, mà bỏ xót một điều, thực ra "cách cục" chính là tinh hệ. Vì vậy, cuối đời Minh mới thành lập nhiều "ngụy cách", đem nhiều ý tứ tạp nham vào "cách cục" tinh hệ, biến thành rồng rắn lẫn lộn.

Chương này thảo luận về cách cục, Vương Đình Chi căn cứ vào bối cảnh xã hội hiện đại để gạn lọc, và chỉ ra những "ngụy cách", để bạn đọc biết được những ý nghĩa thực sự của Cách và Cục, mà không suy diễn mơ hồ, khi luận đoán không còn câu nệ vào tên gọi của Cách và Cục

Nhiều người thích nghiên cứu Đẩu Số, nhưng những sách hiện có trên thị trường, thông thường có khuyết điểm là thiếu thực tế, sao chép của người đi trước quá nhiều, và thường thần bí hóa khoa Đẩu Số. Trong thực tế, muốn nghiên cứu khoa Đẩu Số chăng khó, chỉ cần nhận thực được một số kết cấu chủ yếu của tinh hệ, thì đã có thể luận đoán khá chính xác.

Cái khó của người nghiên cứu Đẩu Số là, trong các sách thông thường chỉ đề cập tính chất của các Sao ở cung Mệnh và cung Thân, mà ít nhắc tới cung khác. Đối với tính chất cát - hung ở các cung như Tử nữ, Phu thê, Tài bạch, sự nghiệp,.v.v... sách chỉ nói vài lời vắn tắt, do đó khi luận đoán cảm thấy nghi hoặc. Về phương diện này, chúng tôi có vẻ như có cùng khuyết điểm. Nhưng đó là vì, khi bàn về tính chất tinh hệ, chúng tôi cung cấp cho bạn đọc một tiêu điểm, thoạt nhìn giống như chỉ nói về cung mệnh (hay cung thân), thực ra những tính chất này đều có thể vận dụng ở 12 cung.

Ví dụ như "Tử vi Tham lang" ở cung Dậu, nếu cung Dậu là cung Mệnh, bạn đọc có thể lưu ý xem có hội hợp Lục cát tinh, Lộc tồn, Thiên mã hay không?, nếu không, thì có khả năng là dâm tà. Nếu cung Dậu là cung Phụ mẫu, thì cha có khả năng nhiều vợ. Nếu cung Dậu là cung Huynh đệ, thì chủ về anh cả hoặc chị cả lập gia đình, hôn nhân của anh chị em chưa chắc được như ý. Nếu cung Dậu là cung Tử nữ, gặp cát thì con cái có triển vọng, gặp hung thì có khoảng cách giữ hai đời. Ở các cung đều căn cứ tính chất cơ bản của tinh hệ "Tử vi Tham lang" mà luận đoán, một điều thông thì trăm vạn điều thông. Cần chú ý thêm, "Tử vi Tham lang" ắt sẽ hội hợp "Vũ khúc Phá Quân" và "Liêm trinh Thất sát". Cho nên, phàm Tử vi Tham lang giữ cung nào, phần nhiều cũng chủ về biến động, nếu là cung Tài bạch và cung Sự nghiệp, bạn có thể luận đoán từ tính chất biến động. Đây là phương thức lấy "tinh hệ" để nghiên cứu Đẩu Số một cách mau lẹ.

CÁCH THỨ 1: TAM KỲ GIA HỘI CÁCH

"Tam kỳ gia hội cách" tức là Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa hội hợp cung mệnh.

Cổ ca nói:

Ba kỳ vây hướng Tử vi cung (Tam kỳ củng hướng Tử vi cung)

Mệnh lý đời người rất ưa gặp (Tối hỷ nhân sinh mệnh lý phùng)

Điều hòa âm dương chân tể tướng (Tiếp lý âm dương chân tể tướng)

Công danh phú quý ai sánh bằng (Công danh phú quý bất lôi đồng)

Hóa Lộc thông thường chủ về lộc quan, Hóa Quyền thông thường chủ về quyền bính, Hóa Khoa thông thường chủ về danh vọng, vì vậy cung mệnh đương nhiên thích 3 sao này hội hợp. Nhưng phải không gặp tứ sát Hỏa tinh, Linh tinh, Kình dương, Đà la; hoặc không gặp Địa không, Địa kiếp; hoặc không gặp Thiên hình, Hóa Kị, thì mới được gọi là cách tốt. Nếu gặp "tam hóa cát" hội hợp, lại còn gặp các sao sát - kị, thì phải nghiên cứu tỉ mỉ tính chất của hóa diệu, sau đó mới có thể luận đoán ưu điểm và khuyến điểm của mệnh tạo.

Cho nên, trong Đẩu Số không có trường hợp nào phức tạp như cách này!

"Tam kỳ gia hội cách" lấy trường hợp hóa Lộc ở cung mệnh, hội hợp hóa Quyền hóa Khoa ở tam phương là kết cấu tốt nhất. Không ưa hóa Lộc hoa Quyền tập trung ở một cung, bởi vì hóa diệu quá tập trung, lực lượng ở các cung viên khác sẽ mỏng manh, dễ mất quân bình.

Hóa Quyền thủ mệnh, thông thường là chủ về nắm quyền bính, nhưng nếu gặp sát diệu, trái lại sẽ có chức mà không có quyền.

Hóa Khoa thủ mệnh, thông thường là chủ về có danh tiếng một cách thực chất, nhưng nếu gặp sát diệu, trái lại sẽ chủ về người này chỉ trộm hư danh.

Cho nên "Tam kỳ gia hội cách" chẳng dễ toàn mỹ.

Thời xưa xem trọng sỹ hoạn, coi thường nông thương, cho nên "Tam kỳ gia hội cách" đều vì lý do có thể ra làm quan mà được vinh hoa phú quý. Còn trong xã hội hiện đại, thì "Tam kỳ gia hội cách" cũng có thể là đầu não tập đoàn tài chính, không nhất định phải làm quan.

HÓA DIỆU LUẬN

Hoa diệu trong Tử Vi Đẩu Số, là các sao biến hóa then chốt liên thông các tinh bàn (Thiên bàn và Nhân bàn), nhất là Lưu niên và Đại vận, có các "Lưu hóa diệu" giao hội hỗ tương với hóa diệu của nguyên cục, khiến cho tính chất của tinh hệ hữu quan biến thành phức tạp, cũng chính nhờ như vậy mới luận đoán được cảnh ngộ của đời người khá cụ thể.

Hóa Lộc thông thường có ý nghĩa là "tài lộc"; Hóa Quyền thông thường có ý nghĩa là "quyền thế"; Hóa Khoa thông thường có ý nghĩa là "danh tiếng"; Hóa Kị thông thường có ý nghĩa là "trở ngại". Nhưng mỗi một tinh diệu biến hóa vẫn có ý nghĩa đặc biệt của nó, những ý nghĩa đặc biệt này thường thường là căn cứ để luận đoán.

Lúc luận đoán mệnh cục, chỉ có Tứ hóa của năm sinh, nên khá đơn giản, dễ quan sát. Luận đoán những điểm quan trọng, chỉ cần xem bản thân các sao Tứ hóa có hội hợp hay không? hội hợp ở cung độ nào? thì có thể biết được đại thể.

Lúc luận đoán Đại hạn, chỉ có Tứ hóa của Đại hạn và Tứ hóa của năm sinh, cũng chưa phức tạp mấy, xem các sao hội hợp với chúng cũng không đến mức hoa mắt.

Nhưng khi luận đoán Lưu niên, tổng cộng có 3 nhóm Tứ hóa, có thể cung độ nào cũng có hóa diệu hội chiếu hoặc đồng độ, thường khiến cho người nghiên cứu Đẩu Số hoa cả mắt.

Thực ra, thông thường chỉ cần xem hai nhóm hóa diệu của Đại hạn và Lưu niên; lúc nào tứ hóa của năm sinh bị xung khởi mới cần chú ý, không xung khởi thì tác dụng rất nhỏ.

Tứ hóa của năm sinh cấu tạo thành bản chất thuộc các cung viên, còn Tứ hóa của Đại vận và Lưu niên là hình thành hoàn cảnh của các thời kỳ trong cuộc đời. Do đó tứ hóa năm sinh có ảnh hưởng không lớn đối với hoàn cảnh của các thời kỳ. Điểm này bạn đọc cần hiểu rõ cái lý của nó.

Chỉ khi nào Tứ hóa của năm sinh bị tứ hóa của Đại vận xung hội, hoặc tứ hóa của Lưu niên xung hội, thì tứ hóa của năm sinh mới có tác dụng.

Dưới đây xin đề cử vài ví dụ cụ thể để thuyết minh:

Đơn cử một ví dụ:

Nếu "Thái dương Thái âm" thủ mệnh tại cung Mùi, người sinh năm Canh thì Thái dương hóa Lộc. Đến Đại hạn Ất Dậu, cung mệnh của Đại hạn là "Thiên cơ Cự môn" mà Thiên cơ hóa Lộc, hội hợp với "Thái dương Thái âm" (mượn sao cung Mùi an cung Sửu) mà Thái âm hóa Kị.

Lúc này, Thiên cơ hóa Lộc xung khởi Thái dương hóa Lộc, càng khiến cho Thiên cơ hóa Lộc có sắc thái "vì phục vụ mọi người mà được lợi ích". Thêm vào Thái âm hóa Kị, là bất lợi về kinh doanh riêng, cho nên lúc này chỉ có thể làm việc cho công ty để kiếm tiền, cá nhân thì không nên đầu tư.

Hóa Lộc ở nguyên cục lại hóa Kị ở Đại vận hoặc Lưu niên, ý là "sao hóa Lộc biến thành sao hóa Kị" (thí dụ như Vũ khúc hóa Lộc của nguyên cục biến thành hóa Kị), cho nên có thể vì tiền mà chuốc họa, hoặc sức kiếm tiền ban đầu giảm nhiều.

Hóa Kị ở nguyên cục, lại Hóa Lộc ở Đại vận hoặc Lưu niên, ý là "sao hóa Kị của nguyên cục biến thành sao hóa Lộc" (ví dụ như Cự môn hóa Kị của nguyên cục biến thành hóa Lộc của Đại vận hay Lưu niên). Cho nên, nhân tố bất lợi ban đầu, vào hạn này có thể nhuyễn hóa thành nhân tố có lợi, nhờ đó mà được tài phú.

Hai ví dụ trên cho thấy sự biến hóa thay đổi có ý nghĩa khi hóa diệu giao hội.

Hóa Lộc luận

Hóa Lộc thuộc âm thổ, cai quản tài lộc. Cho nên ưa có Lộc Tồn tương hội, gọi là "Lộc trùng điệp"; lai ưa gặp "Lộc tồn Thiên mã" gọi là cách "Lộc Mã giao trì".

Hóa Lộc không ưa đến 4 cung Tý Ngọ Mão Dậu, nhất là cung Mão, rất ưa đến các cung Dần, Thân, Hợi, cũng ưa cung tứ mộ Thìn, Tuất, Sửu, Mùi. Lộc Tồn không đến các cung Tứ mộ, nên ưa Hóa Lộc bổ túc, cần phải có sao Lộc xung khởi mới phát huy được.

Ý nghĩa của Hóa Lộc, thông thường là chỉ "nguồn tiền tài", tức là tính chất và năng lực kiếm tiền, cũng chỉ "cơ hội kiếm tiền".

Trong các tình hình thông thường, không ưa Địa không, Địa kiếp cùng bay đến (bốn cung Tý Ngọ Mão Dậu). Cổ nhân nói "Lộc mà đến cung nhược thì phát mà không chủ về tài", tức là chỉ được hư danh mà không có lợi lộc thực tế.

Hóa Lộc rất ngại gặp Hóa Kị xung phá, cổ nhân nói: "Lộc gặp xung phá, là trong cái tốt có chứa điềm hung". Trong các tình hình thông thường, chủ về tình hình vì kiếm tiền mà sinh tai họa. Ví dụ như vì cầu tài mà xảy ra bất chắc, đầu tư lớn mà không có thu hoạch, dẫn đến không còn vốn để tiếp tục đầu tư. Những trường hợp này, cần phải xem tổ hợp Sao thực tế mà định tính chất.

Hóa Lộc tượng hội với Hóa Quyền và Hóa Khoa, thông thường là kết cấu rất tốt, được gọi là "Tam kỳ gia hội cách", nhưng vẫn cần xem xét tính chất của các Sao bay đến để định nặng nhẹ.

Như cung mệnh "Liêm trinh Thiên tướng", mà Liêm trinh hóa Lộc, có Phá quân hóa Quyền vây chiếu, hội hợp với Vũ khúc hóa Khoa ở cung Sự nghiệp. rõ rằng là lấy Liêm trinh hóa Lộc làm chủ. Bởi vì "Liêm trinh Thiên tướng" chủ về làm việc trong chính giới, hoặc trong công ty có tính phục vụ, bản chất của cung mệnh này, Phá quân hóa Quyền chỉ làm tăng quyền bính về kinh tế, Hóa Quyền Hóa Khoa chỉ trợ giúp cho tình hình cát lợi của cung mệnh, không thể tính là chủ thể.

Hóa Quyền luận

Hóa Quyền thuộc dương mộc, nên phải đề phòng "cây to thì hứng gió". Cũng chính vì vậy, Đẩu Số ưa "Lộc trùng điệp" mà không ưa "Quyền trùng điệp", lúc hóa Quyền gặp hóa Quyền trùng điệp, sẽ dễ chuốc lực áp chế vào thân.

Nếu Hóa Quyền mà không có Hóa Lộc và Hóa Khoa sánh vai, chủ về dễ bị khuynh đảo, bài xích, chèn ép; nếu lại gặp sát tinh, nhất định sẽ xảy ra nhiều tình huống khó xử.

Hóa Quyền được Hóa Lộc sánh vai, chủ về nhờ quyền lực mà đắc lộc, hoặc nhờ "lộc" mà đắc "quyền", nhưng đừng vì thấy "Lộc Quyền gặp nhau" mà xem thường bản chất của Hóa Quyền.

Cổ nhân hay nhấn mạnh Hóa Quyền không sợ Hóa Kị, ý nói lúc Hóa Kị đến xâm phạm, Hóa Quyền dư sức áp chế. Nhưng theo phái Trung châu Vương Đình chi thì có khác, họ cho rằng ý kiến này hơi phiến diện.

Ví dụ như tinh diệu hóa Quyền ở nguyên cục lại bị Hóa Kị ở vận hạn tương xung, tức là "cây lớn thì hứng gió", "địa vị cao thì thế nguy", nhất là lúc "Quyền trùng điệp", bị sao Kị xung phá, chủ về tranh giành quyền lực, nhất là khi nắm được đại quyền, sẽ dễ phạm lỗi lộng quyền.

Nếu Hóa Kị ở nguyên cục hóa làm sao quyền ở vận hạn, thì phải đề phòng lực áp chế, không phải là hỉ sự. Cần phải xem xét kỹ tính chất phối hợp của toàn cục mà định.

Hóa Khoa luận

Hóa Khoa thuộc dương thủy, chủ về "trí", "lưu truyền", nên là "tiếng tăm, danh dự".

Các sách Đẩu Số thông thường cho rằng Hóa Khoa không nên gặp Hóa Kị. Ở thời cổ đại, hóa Khoa chủ về khoa cử công danh, sĩ tử cần phải xuất thân từ khoa cử thì mới dễ hiển đạt, cho nên không ưa Hóa Kị xung hội Hóa Khoa.

Ở thời hiện đại, không còn chuyên về khoa cử mới công danh hiển quý, cho nên lúc hóa Khoa và hóa Kị xung hội, thường thường chủ về nổi tiếng mà chuốc đố kị, có lúc lại chủ về nhiều người biết tiếng. Vương Đình Chi kể, ông từng đoán mệnh cho một vị luật sư, Cự môn hóa Kị ở cung mệnh, bị Thiên cơ hóa Khoa xung hội, vị luật sư nổi tiếng do tài ăn nói và cơ trí ứng biến lúc biện hộ cho thân chủ.

Nhưng thông thường, Khoa Kị tương xung dễ bị nói xấu, chê bai, dị nghị, phỉ báng, cần phải xem bản chất các sao mà định tốt hay xấu. Nếu Thái dương của cung mệnh nguyên cục Hóa Khoa, lại nhập miếu, chủ về người này ắt sẽ có danh tiếng lớn, đến Đại hạn hoặc Lưu niên không thích gặp Thái dương hóa Kị, chủ về vì có danh tiếng lớn mà chuốc điều tiếng thị phi.

Nếu gặp Thiên đồng hóa Kị, thì vì tiếng tăm mà hay gặp phiền phức và bận rộn, nên ít hưởng thụ, dễ sinh bệnh mà thôi.

Phái Trung châu có một bí truyền về Hóa Khoa, như sau:

Cung mệnh Hóa Khoa, người sinh ban ngày, đến cung hạn Thái dương nhập miếu được cát hóa, bất kể là Lưu niên hay Đại hạn, đều chủ về có thanh danh lớn. Nếu đến cung hạn có Thái dương lạc hãm, lại gặp các sao Sát Kị, thì thanh danh bị tổn thương. Cung mệnh Hóa Khoa, người sinh vào ban đêm, đến cung hạn Thái âm nhập miếu được cát hóa, cũng chủ về có danh tiếng lớn. Nếu đến cung hạn có Thái âm lạc hãm, mà gặp các sao Sát Kị, thì chủ về thanh danh bị tổn thương.

Thông thường, hai trường hợp trên, có thể xem các sao hội hợp thực tế mà định chi tiết.

Hóa Khoa thủ cung mệnh, ở cung độ lục hợp, gặp Hóa Lộc (ví dụ như hóa Khoa ở cung Tý, hóa Lộc ở cung Sửu), gọi là "Khoa minh Lộc ám", chủ về nhờ khoa cử công danh, có tiếng tăm mà được quan lộc, hoặc được nâng cao địa vị xã hội. Đây là nhờ danh mà đắc lợi. (có thể so sánh với cách "minh lộc ám lộc", Lộc tồn và hóa Lộc ở cung lục hợp, cũng chủ về quý hiển, đây là nhờ phú mà được quý, khác với cách "khoa minh lộc ám" là nhờ danh mà được quý).

Hóa Khoa không ưa đồng cung với Địa không Địa kiếp, chủ về khuynh gia bại sản, chỉ có hư danh, hoặc có danh vọng trong phạm vi cực nhỏ, cũng chủ về nghiên cứu triết học tôn giáo.

Hóa Khoa đồng độ với Lộc tồn, mà rơi vào cung có Địa không, Địa kiếp, nhất định sẽ bị Kình dương và Đà la giáp cung, vì vậy tuy tốt nhưng không có danh vọng. Đây gọi là "mạ không trổ bông, sao Khoa hãm ở cung hung". Cho nên, các sao hóa thành sao Khoa, mà danh vọng chỉ giới hạn trong phạm vi nhỏ là do nguyên cớ này, lúc luận đoán phải chú ý.

Hóa Kị luận

Hóa Kị thuộc dương thủy, giống Hóa Khoa, vì lời khen và lời nói xấu có cùng một dạng năng lực là quảng bá.

Hóa Kị chủ về sóng gió, trắc trở, tổn thất, thị phi, đố kị; xem các sao hội hợp thực tế mà định tình hình cụ thể.

Hóa Kị ở các cung, phần nhiều đều là hãm địa. Như các cung Dần, Tị, Ngọ, Thân, Dậu, Tuất, Hợi là lạc hãm, chỉ có cung Sửu là nhập miếu.

Nhưng Thái dương và Thái âm của nguyên cục nhập miếu mà hóa Kị, thì lại chủ về cát lợi, giống như "mây trôi che nhật nguyệt", bất quá chỉ bị lu mờ một chút mà thôi. Thái âm hóa Kị ở cung Hợi, Thái dương hóa Kị ở cung Mão, theo phái Trung châu gọi là "biến cảnh", càng chói mắt người ta, nhưng Thái dương không bằng Thái âm.

Thái dương Thái âm ở hãm địa hóa Kị thì không cát tường, làm mạnh thêm sắc thái thị phi tổn thất.

Các sao có tính chất tinh thần ở cung mệnh mà hóa Kị, cũng chủ về đầu óc trầm tĩnh, lạnh lùng. Thiên đồng hóa Kị ở cung Tuất, Cự môn hóa Kị ở cung Thìn, đều có cách "phản bối" (trở mặt).

Vì vậy không được luận đoán đại khái, hễ gặp hóa Kị lập tức cho là Hung. Mệnh cục gặp hóa Kị phải biết xem trọng sự tu dưỡng tinh thần.

Tử vi Đẩu Số luận đoán Lưu niên vận thế, điều then chốt nhất là giỏi vận dụng hóa diệu.

Như đã biết, thông thường hóa Lộc chủ về kiếm được tiền, hóa Quyền chủ về được thế, hóa Khoa chủ về danh dự địa vị, hóa Kị chủ về bị các tình huống khó xử. Người đời không thể thập toàn thập mỹ, cho nên ngoài vị thế, lợi lộc, danh tiếng ra, ắt phải có sao Kị để điểm xuyết hương vị cuộc đời. Người có kiến giải thông đạt, trong lòng sẽ không buồn phiền khi gặp Hóa Kị.

Tình hình gặp Hóa Kị ở rất nhiều loại, tình hình thường gặp nhất là "chuốc đố kị", nhưng "không chuốc đố kị thì phần nhiều là người tầm thường", cho nên gặp Hóa Kị cũng đừng sợ. Một tình hình khác là, xảy ra hiểu lầm không cần thiết với người khác. Hiểu lầm nhau, có lúc chưa chắc là không tốt, nếu người hiểu lầm quá xấu, thì dù có hiểu lầm, ít đi một người bạn xấu cũng hay.

Hóa Kị dễ khiến cho người ta gặp các tình huống khó xử, bị phỉ báng, nói xấu, bêu rếu. Nhưng thị phi tốt xấu rồi cũng có ngày rõ ràng.

Có lúc Khóa Kị chủ về buồn rầu lo lắng. Như cung Phụ Mẫu hóa Kị, thì có thể phải lo lắng cho sức khỏe của cha mẹ, sinh lão bệnh tử là quá trình tất nhiên của đời người, nên trong tình huống này, nên có kiến giải thông đạt một chút.

Hóa Kị cũng chủ về mắc bệnh, tuy nói là phải có kiến giải thông đạt, nhưng rốt cuộc cũng khiến cho người ta đau khổ, vì vậy trước khi sự việc xảy ra, chúng ta nên gìn giữ sức khỏe là hay nhất.

Tình hình nghiêm trọng nhất củ hóa Kị là phạm pháp, hoặc bị tai họa tới tấp, nhiều khi nhìn thấy tinh hệ này, người ta thường lo láng cho tương lai. Nhưng giả dụ như biết trước được vận thế, cũng không cần phải quá bất an. nhà Phật cho rằng nghiệp lực có thể nhuyễn hóa, trọng nghiệp vẫn có thể có quả báo nhẹ, chỉ cần giữ cho lòng trung hậu, lấy lòng thành để đối đãi với người, lập thân hành sự không hổ thẹn với lòng, thì có thể xoay chuyển được vận thế.

Cho nên, gặp Hóa Kị, phải xem xét cẩn thận tính chất của hóa Kị, và phải xem trọng tu dưỡng tinh thần, giả dụ như có tính tình phóng túng, bất chấp mọi người nghĩ gì, mà không nghĩ đến việc tu dưỡng để bổ cứu, lúc những trắc trở ập đến, không được nói là "do số mạng".

Cách thứ 2: "Văn quế Văn hoa cách"

Tức là mệnh an tại cung Sửu, hoặc cung Mùi, mà trong cung mệnh có hai sao Văn khúc và Văn xương cùng tọa thủ.

Cổ ca nói:

Kinh sách là đạo từ trời ban (Sách thư nhất đạo tự nhiên lai)

Gọi dậy tài an bang tế thế (Hoán khởi nhân gian kinh tế tài)

Mệnh lý vinh hoa đúng đáng khen (Mệnh lý vinh hoa chân khả tiển)

Thong dong thả bước trên cõi bồng (Đẳng nhàn bình bộ thướng bồng lai)

Thời đại khoa cử ngày xưa, học hành để có công danh là con đường tốt nhất, nên cổ nhân dùng Đẩu Số để luận mệnh cũng rất ưa Văn Xương và Văn Khúc. Ngoại trừ "Văn tinh củng mệnh cách", sau đó sẽ thảo luận đến "Văn Lương chấn kỷ cách", "Lộc Văn ám củng cách". Do đó có thể biết cổ nhân xem trong sao "văn" đến mức độ nào.

Trong xã hội hiện đại ta càn phải thảo luận thêm cho phù hợp

Văn Xương Văn Khúc cùng ở cung Mệnh, người này tất nhiên phong lưu nho nhã, có phong cách đặc biệt, hơn nữa còn thông minh tuấn tú. Đây là những ưu điểm của họ.

Nhưng, hai sao Văn xương và Văn Khúc rốt cuộc vẫn không phải là chính diệu, sức yết ớt, trong thời đại xưa, lấy thi cử làm sự cạnh tranh lớn nhất thì còn có thể ứng phó. Còn trong xã hội ngày nay, ngoại trừ thi cử còn có chuyện tranh quyền đoạt lợi khác, thì cần phải có chính diệu hữu lực khác phù trợ, mới có thể thích ứng với thời đại.

Cổ nhân không xem trọng nữ mệnh, cho nên Cách này không liên quan đến nữ mệnh. Nữ mệnh gặp hai sao Xương Khúc cùng tọa thủ, sau kết hôn, dễ có trở ngại về tình cảm, nếu gặp "Thiên phủ Vũ khúc" cùng chiếu cung mệnh, thì càng dễ bị đàn ông đã có gia đình theo đuổi, gây đau khổ, bối rối khó xử về tình cảm. Vì vậy "Văn quế Văn hoa cách" trong bối cảnh xã hội ngày nay chẳng tốt như thời cổ đại.

+ Mệnh an tại cung Mùi có hai sao Văn xương và Văn khúc tọa thủ:

- Năm Giáp Kỷ gặp Thổ cục

- Năm Ất Canh gặp Mộc cục

- Năm Bính Tân gặp Kim cục

- Năm Đinh Nhâm gặp Thủy cục

- Năm Mậu Quý gặp Hỏa cục

Trung châu phái - "Chư tinh cung viên triền thứ hỷ kị ca" khi Cách phối với Cục viết:

Xương Khúc ưa Kim cục, hãm ở cung hỏa viêm (Xương Khúc hỷ Kim cục, hãm vu hỏa viêm hương)

Như vậy, tuổi Bính Tân mệnh tại Mùi, tuổi Mậu Quý mệnh tại Sửu, có Xương Khúc tọa thủ, là Cách phối Cục ứng với "Chư tinh hỉ kị ca".

Bài đọc thêm về Văn Xương - can Bính hóa Khoa

--------------------------------------------------------------

Văn Xương ưa hóa Khoa, nếu so với Văn Khúc, thì Văn xương hóa Khoa thiết thực hơn. Trong các tình hình thông thường, khi Văn xương hóa Khoa lợi về các cuộc thi cử quan trọng, cũng lợi về văn nghệ, hoặc phương diện nghiên cứu học thuật, chủ về nhờ đó mà mang lại danh dự, thậm chí nhờ đó mà mang lại lợi lộc.

Văn xương hóa Khoa ở cung nhập miếu, sẽ chủ về làm tăng năng lực nghiên cứu, có sở trường về lý giải và có thể phát huy, vì vậy chẳng phải được hư danh. Chỉ khi nào Hóa Khoa ở cung lạc hãm (tức 3 cung Dần Ngọ Tuất), thì mới chủ về tự thỏa mãn về mặt tinh thần, có ý vị chỉ được hư danh.

Văn xương hóa Khoa, chủ về nhờ điển thí mà thành danh. Ở thời hiện đại cũng có thể biểu trưng cho sức cạnh tranh trong ti cử, hoặc canh tranh đắc lợi ở phương diện văn nghệ học thuật. Nếu gặp thêm Thiên khôi Thiên việt, mà chính diệu lại "thuần thanh", thì lợi về tham gia các cuộc thi cử cấp quốc gia, hoặc các cuộc thi cử chứng nhận tư cách chuyên viên cao cấp. Hai sao Khôi Việt thường thường có thể giúp thành công, nên Văn xương hóa Khoa rất ưa được chúng phối hợp.

Ở Đại vận hoặc Lưu niên mà gặp Văn xương hóa Khoa, có lúc chủ về được phát biểu tác phẩm, nhà văn thì có tác phẩm xuất bản; cũng lợi về thi cử, hoặc công tác nghiên cứu trước khi thi cử có tâm đắc đặc biệt, cho nên các cuộc thi cử không cần Văn xương hóa Khoa ở năm xảy ra cuộc thi cử, trước thi cử một năm cũng có lợi.

Bài đọc thêm về Văn Khúc - can Tân hóa Khoa

-----------------------------------------------------------

Can Tân là Văn Khúc hóa Khoa và Văn xương hóa Kị, hai sao này thường gặp nhau trong mệnh bàn, do đó cần phải lưu ý bản chất đặc biệt lúc chúng tương hội.

Thông thường, có thể biểu trưng cho học hành thông minh, nhưng lúc xử sự hay ỷ vào sự thông minh của mình, mà thường tự cho mình là đúng. Ở giai đoạn còn đi học, thì chủ về có nhiều hứng thú với toán lý, hoặc ngoại ngữ.

Tính chất cơ bản của Văn khúc hóa Khoa hơi giống Văn xương, đã gặp thuật ở bài trước. Làm tăng năng lực biện luận, ngôn từ dễ làm vui lòng người khác và hấp dẫn người khác giới.

Văn khúc ở 3 cung Dần Ngọ Tuất là hãm nhược, cho dù có Hóa Khoa, cũng chủ về có mầm mà không trổ bông.

---------------------------

Văn Khúc - can Kỷ hóa Kị

Văn khúc hóa Kị, ý nghĩa cơ bản là thiếu văn hóa, bản chất của Văn khúc vì hóa Kị mà bị trắc trở.

Văn khúc là biểu trưng cho tài ăn nói, Hóa Kị thì nói năng sai lầm.

Văn khúc biểu trưng cho văn thư, hợp đồng. Hóa Kị thì văn thư phạm sai lầm, do đó mà gây ra phiền phức, thậm chí còn bị tổn thất.

Văn khúc thường thường còn biểu trưng cho người khác giới để mắt, Hóa Kị thì vì vậy gây ra sóng gió, hoặc gây ra hiểu lầm không cần thiết trong sinh hoạt tình cảm. Có sát tinh nặng, thì biểu trưng cho là khó phát triển tình cảm với người khác giới.

Văn khúc là tài nghệ tinh, Hóa Kị thì lại không có liên quan về phương diện tài năng.

Văn khúc là thiên tài ngôn ngữ, Hóa Kị thì tiêu trừ năng khiếu này. Có sát tinh nặng, thì có thể nói cà răm, nói lắp, có lúc còn làm cho người khác phê bình chỉ trích.

Văn khúc còn mang sác thái kim tiền, Hóa Kị thì tổn thất tiền bạc. Cần phải xem xét các sao hội hợp mà định, như thu lầm chi phiếu không có tiền bảo chứng, hoặc bị lừa, bị hại. Những điều có tính vật chất này, không có ở Văn Xương hóa Kị.

Văn khúc hóa Kị, còn dễ xảy ra tình huống bị tình cảm và tiền bạc cùng gây lụy.

Văn khúc hóa Kị, còn chủ về dễ rơi vào ảo tưởng, mà còn chấp trước ảo tưởng, do đó nảy sinh cảm giác có tài mà không gặp thời.

Văn xương - can Tân hóa Kị

Văn xương hóa Kị, ý nghĩa trực tiếp nhất là "sai lầm về văn thư", cho nên lúc thi cử, làm hợp đồng, gửi văn thư, đều phải cực kỳ cẩn thận để tránh sai lầm, làm tăng thêm phiền phức không cần thiết. Tóm lại, Văn xương hóa Kị là "chữ nghĩa gây ra rối ren, phiền phức".

Văn xương tuy không dính dáng đến kim tiền, nhưng thời hiện đại là xã hội công nghiệp, văn thư thường có liên quan đến thương nghiệp, do đó cũng dễ tạo thành tổn thất kim tiền. Khác với Văn khúc hóa Kị, khi Văn xương hóa Kị là vì yêu cầu của người khác, hay vì sai lầm của người khác, mà bản thân mệnh tạo phải gánh trách nhiệm, còn đối với Văn khúc hóa Kị thì trách nhiệm là do bản thân phải gánh vác, tức sai lầm là do bản thân gây ra. Cho nên Văn xương hóa Kị thường dễ vì cho mượn, hoặc đứng ra lấy tư cách bảo đảm mà bị tổn thất.

Văn xương hóa Kị, lạc hãm thì làm việc không chú tâm, thường thường vì sơ sót mà gây ra trắc trở, còn biểu trưng cho là "mau quên", có lúc lại biểu trưng cho "có tài mà không gặp cơ hội, học mà không dùng", Văn xương hóa Kị cũng có thể biểu trưng cho "bỏ học nửa trừng".

Văn xương thích hợp làm công việc quảng bá, soạn thảo. Ngoài ra Văn xương hóa Kị còn là điềm tượng hôn lẽ không được trọn vẹn, nếu gặp sát tinh nặng, phần nhiều không có hôn lễ, cũng chủ về bị quấy nhiễu, gây khó khăn về tình cảm. Văn xương hóa Kị chủ về "lốm đốm", cho nên biểu trưng cho tàn nhang, nốt ruồi, đậu mùa.

"Mệnh lý phùng không cách"

"Mệnh lý phùng không cách" tức là Địa kiếp và Địa không thủ mệnh, cung mệnh lại không có sao cát.

Cổ ca nói:

Không diệu lai lâm cát diệu vô,

Cầu danh cầu lợi tổng thành hư,

Thanh nhàn cô độc phương diên thọ,

Phú quý vinh hoa quá khích câu.

Dịch nghĩa:

Sao không đến mà cát diệu không

Cầu danh cầu lợi mọi việc hư

Thanh nhàn cô độc sống mới thọ

Vinh hoa phú quý sẽ chóng qua

Theo Vương Đình Chi, trong cổ ca nói "sao không", có người cho là Thiên Không, Tuần Không, Tiệt Không, nhưng trên thực tế không phải vậy, mà là Địa không Địa kiếp.

Cổ nhân cho rằng:

"Địa không là thần Không Vong, thủ thân mệnh thì làm việc trồi sụt, thành bại đa đoan" (Địa không nãi Không Vong chi thần, thủ thân mệnh, tác sự tiến thoái, thành bại đa đoan)

"Địa Kiếp là thần Kiếp Sát, thủ thân mệnh thì làm việc cuồng loạn, không theo chính đạo" (Địa Kiếp nãi Kiếp Sát chi thần, tác sự sơ cuồng, bất hành chính đạo)

Đây là chỗ kị của Cách này. Vương Đình Chi cho rằng, gọi là "làm việc trồi sụt", "làm việc cuồng loạn", đối với người ngày nay gọi là "có cá tính". Những người cố chấp tục xưa mà gặp đám trẻ ngày nay chưng diện, với vẻ mặt cố ý làm ra vẻ lạnh lùng, thì sẽ cho chúng là "cuồng loạn", nhưng thực ra chỉ là thời trang phương tây. Bắt đầu từ thời "hippy", đến nay thành phong trào "hit hop", thực ra chỉ là xu thế phát triển của xã hội, không thể lấy đó để luận đoán suốt đời bất lợi.

Ngược lại, nhiều người "làm việc cuồng loạn", gặp được cơ hội, đùng một cái trở thành siêu sao ca nhạc, nhờ vào dọng ca đặc biệt mà nổi tiếng. Cổ nhân thì không phải vậy, người "có tính cách" phần nhiều ẩn dật chốn sơn lâm, thế là "suốt đời thanh nhàn cô độc". Vì vậy, cổ nhân luận đoán về hai sao Không Kiếp vẫn có chỗ đúng.

Bài đọc thêm về Địa không và Địa kiếp

------------------------------------------------------------

Địa Không thuộc âm hỏa, Địa Kiếp thuộc dương hỏa.

Cổ nhân nói: "Địa không thủ mệnh, chủ về làm việc không tưởng, thành bại đa đoan" (Tác sự hư không, thành bại đa đoan). Địa Kiếp thủ mệnh, chủ về làm việc qua loa, sơ sài, không theo chính đạo. Thực ra có các thuyết này, là vì người có Địa Không thủ mệnh ưa ảo tưởng, cách suy nghĩ của họ, người khác không hiểu được; người có Địa Kiếp thủ mệnh thì thích làm trái với truyền thống, trái với xu thế phát triển của xã hội, hành vi của họ người ta cũng không hiểu được.

Địa Không chủ về tinh thần. Địa Kiếp chủ về vật chất. Cho nên, trắc trở do Địa không mang lại, sẽ đả kích về mặt tinh thần nhiều hơn là tổn thất vật chất. Còn trắc trở do Địa kiếp mang lại sẽ tổn thất về vật chất lớn hơn, đối với sự đả kích về tinh thần.

Địa Không thủ mệnh, ưa gặp tinh hệ chính diệu có sắc thái hành động, như tinh hệ "Vũ khúc Thất sát", hay Tham Lang ở cung vượng, hay Phá quân hóa Lộc, hoặc tinh hệ "Tử vi Thất sát", còn được gặp Cát tinh, tức là chủ về biến những điều không tưởng thành hành động, nhờ vậy có thể tiêu trừ khuyết điểm do Địa Không mang lại.

Nếu Địa Không cùng ở một cung với tinh hệ "Thiên cơ Cự môn", phần nhiều là người không tưởng, hoặc lý tưởng quá cao, mà không thể biến thành hành động thực tế, thế là có biểu hiện "làm việc trồi sụt thất thường", hoặc "làm việc giả dối".

Hỏa trống (không) thì phát, kim rỗng (không) thì kêu, cho nên Địa Không ưa gặp Hỏa tinh ở hai cung Tị hoặc Ngọ, chủ về phát đột ngột, cũng ưa gặp các sao thuộc kim ở hai cung Thân hoặc Dậu chủ về danh vọng. Tuy nhiên, không nên gặp thêm các Sát tinh còn lại và chính diệu hóa thành sao Kị.

Cung Tật Ách có Địa Không bay đến, phần nhiều chủ về mắc bệnh hiếm gặp. Vương Đình Chi từng gặp một trường hợp Thiên Lương thủ cung Tật Ách, gặp Hỏa Linh và Địa Không đồng độ, bị mắc bệnh viêm não.

Địa Kiếp tuy chủ về tổn thất vật chất, nhưng di chứng nhẹ hơn Địa Không. Ví dụ như thất bại của Địa Kiếp giống như mua được một món đồ cỏ quý giá, nhưng khi đến tay thì bị vỡ, tuy có thể sửa chữa, nhưng bản thân thấy không còn thích nữa, còn thất bại của Địa Không thì giống như muốn mua một món đồ cổ, thì lại bị người ta nhanh chân mua trước, cứ tiếc mãi.

Xét từ góc độ tinh thần, thì sự đả kích của Địa Không là khá nặng. Còn nhìn từ góc độ vật chất, thì sự tổn thất của Địa Kiếp là khá lớn. Do đó có thể biết, Địa Không thì không nên ở cung Phúc đức, cung Phu thê, cung Tử tức, đối với Địa Kiếp thì không nên ở cung Mệnh, cung Quan lộc, cung Tài bạch.

Địa Kiếp thủ mệnh, thích hợp với hành động thiết thực, nên khởi nghiệp trong ngành công nghệ, từ đó có thể sáng lập sự nghiệp mới, cũng chủ về có thể phát đạt. Địa Kiếp ưa hai cung Thìn hoặc Tuất, do nhập "Thiên la Địa võng" nên có khuynh hướng khá thực tế.

Không Kiếp giáp mệnh, chủ về cuộc đời gặp nhiều trắc trở, gập gềnh, bất đắc chí

Không Kiếp đồng độ thủ mệnh, hoặc đối xung, phần nhiều chủ về lúc còn nhỏ tuổi bất lợi, không được cha mẹ che trở, hay đau yếu, nghèo khó, hoặc nhiều tai ách. Cần xem xét các tổ hợp sao của các cung mà định tính chất.

Không Kiếp thủ mệnh, hoặc giáp mệnh, cổ nhân cho rằng lợi về xuất gia. Ở thời hiện đại, có thể là người thích nghiên cứu các môn học ít người lưu tâm.

Địa không Địa kiếp chia ra ở cung Phu Thê và cung Mệnh, chủ về vợ chồng có tính cách không hợp nhau, hôn nhân có nỗi khổ khó nói, phần nhiều đều đau khổ trong lòng.

Cự phùng tứ sát cách

"Cự phùng tứ sát cách" tức là Cư Môn lạc hãm thủ cung Thân; tứ sát Hỏa tinh, Linh tinh, Kình dương, Đà la thủ cung Mệnh.

Cổ ca nói:

Cự môn lạc hãm tại thân cung,

Tứ sát thiên vu mệnh lý phùng,

Nhược thị cát tinh vô cứu giải,

Tất tao lưu phối viễn phương trung.

Dịch nghĩa:

Cự Môn lạc hãm ở cung Thân,

Lại gặp hung sát cư Mệnh cung,

Nếu không cát tinh thời giải cứu,

Tất sẽ lưu lạc bốn phương trời.

Cách này, Vương Đình Chi cho rằng có chút nghi vấn. Căn cứ sách "Tử Vi Đẩu Số toàn thư" nói: "Cự Môn ở thân mệnh mà gặp chúng là kị, đối cung có Hỏa tinh, Linh tinh Bạch Hổ, mà không có Đế tinh, sao Lộc, thì lưu đầy ở chân trời" (Cự môn thân mệnh phùng chi vi kị, đối cung Hỏa Linh Bạch hổ cộng bạn, vô Đế Lộc, lưu phối thiên nhai). Ở đây nói, bất kể Cự Môn thủ cung mệnh hay thủ cung thân, đối cung mà gặp sát, thì mới là mệnh "lưu phối" (tức bị xung vào quân ngũ, một hình thức lưu đầy thời xưa), chứ chẳng phải Cự Môn thủ cung thân, còn tứ sát thủ cung mệnh. Nhưng cung thân rất nhiều lúc là cung Thiên Di, cho nên thuật sỹ thời Minh nói thành Cự Môn và tứ sát chia ra thủ cung thân và cung mệnh.

Có khả năng theo thể lệ của "ca quyết" bảy chữ thành câu, vì vậy nói không được rõ. Cự môn thủ mệnh gặp Kình dương Đà la, cổ nhân cho rằng "nam nữ dâm tà"; khi gặp Hỏa tinh Linh tinh là "chết ở ngoài đường". Do đó, người xưa đã gộp hai tính chất này lại thành mệnh cung "lưu đày nơi xa", trừ khi được Tử Vi và Lộc Tôn áp chế.

Theo kinh nghiệm của Vương Đình Chi hầu như lại chẳng gặp hung hiểm gì, bởi vì trong xã hội cổ đại, không có loại nghề nghiệp vận dụng "điều tiếng thị phi"; còn trong xã hội hiện đại, người theo những nghề này rất nhiều (như Luật sư, nhân viên quảng cáo, nhân viên môi giới,.v.v... ) Tức dù Cự môn thủ mệnh gặp tứ sát, cũng chỉ làm cho cuộc đời của người này tăng thêm chút sóng gió, trắc trở mà thôi.

Còn phạm pháp, đây lại là một đặc điểm khác, nếu Cự môn hóa Kị, thì cuộc đời sẽ vào tù ra khám.

Bài đọc thêm về "Cự phùng tứ sát cách"

-------------------------------------------------------------

Tính chất cơ bản của sao Cự Môn

Cự môn miếu ở 4 cung Dần Mão Thân Dậu, hãm ở hai cung Sửu Mùi.

Cự Môn là sao thứ hai của Bắc Đẩu, thuộc âm thổ, còn thuộc âm kim. Cổ nhân có thuyết "thổ yên tĩnh trôn kim", vì vậy lấy Cự Môn làm "ám tinh", chủ về "điều tiếng thị phi", và "tranh ngoài sáng, đấu trong tối".

Ngoài điều tiếng thị phi, Cự Môn còn chủ về khẩu tài, rất ưa Hóa Quyền, cách cục cao thì có thể phú quý, nếu không cũng có thể là bậc thầy dạy học đáng kính. Cự môn hội chiếu với Thái dương thì quang minh lỗi lạc, có thể phú quý.

Thời cổ đại do bị hạn chế điều kiên xã hội, nên người có Cự môn thủ mệnh bị giới hạn về nghề nghiệp, khác với bối cảnh xã hội hiện đại, có thể làm phát thanh viên, hay làm việc trong ngành quan hệ công cộng, thậm chí có thể làm công tác ngoại giao, hoặc luật sư. Nếu gặp các sao Liêm trinh, Tham lang, Long trì, Phượng các, Thiên tài, thì có thể hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn.

Đặc tính của Cự môn là "khẩu tài", nhưng về phương diện giao tế, nó không giống như Tham Lang thiên về hưởng lạc và ham mê tửu sắc, cũng không như Thiên Cơ xử sự tròn trịa, khéo ăn khéo ở, mà nó khá thực tế.

Khẩu tài của Văn Khúc rơi vào tệ "xảo ngôn lệch sắc", mầu mè chải chuốt, hơi sốc nổi, không thiết thực; còn Cự Môn thì có thể dùng ngôn từ để chiếm lòng tin của người khác. Cho nên lúc Cự môn hóa Quyền, lời nói của người này sẽ có tính quyền uy. Nếu Cự môn hóa Lộc, thì thích hợp làm nghệ sỹ biểu diễn, đặc biệt có thể thành người dẫn dắt, điều khiển chương trình ưu tú, khi Cự Môn gặp Văn xương, Văn khúc, Hồng loan, Thiên hỉ, Thiên diêu, Hàm trì thì càng đẹp.

Nếu Cự môn hóa thành sao Quyền, hoặc hóa thành sao Lộc, hội hợp với chính diệu hóa Khoa, thì chủ về thanh danh vang dội, nhất định là người có tiếng tăm trong xã hội., thường phát biểu ngôn luận trước đám đông.

Đặc điểm lớn nhất của Cự môn là bản thân có biểu hiện khá tốt. Nhưng nếu học hành ít, không đủ để vận dụng, thì biến thành cá tính không nể phục người khác, do đó dẫn đến tị hiềm đố kị. Vì vậy Cự Môn rất ưa hội các sao Xương, Khúc, Khoa, cung mệnh dù không gặp sao "văn", nếu cung Phúc đức có văn tinh tụ tập, cũng có thể bổ cứu.

Cự Môn ở hai cung Tí hoặc Ngọ, gọi là "Thạch trung ẩn ngọc cách", chỗ tốt của cách này là giảm thiểu những biểu hiện dục vọng của bản thân, tài năng kín đáo không lộ. Lấy trường hợp gặp Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, làm thượng cách; gặp Lộc Tồn là thứ cách, thảy đều chủ về người có địa vị cao trong xã hội, còn dễ trở nên giầu có. nhưng người thuộc Cách này, một khi đã có địa vị cao, thành nhân vật "số một", sẽ dễ chuốc tị hiềm đố kị mà dẫn đến thân bại danh liệt.. Xét từ Cách này, có thể thấy Cự Môn phải biết tiết chế biểu hiện của mình, đồng thời cũng cần chú ý tu dưỡng sở học.

Thái Dương hội hợp với Cự Môn, có thể giải "ám" của Cự môn. Xét về tính chất, đây là vì người "Nhật Cự thủ mệnh" làm việc phần nhiều đều quang minh lỗi lạc, dễ làm cho người ta hiểu rõ.

Tổ hợp tinh hệ "Thái dương Cự môn" còn có tính chất "người ngoại quốc", nên khi tinh hệ này hội hợp với sao Cát, xem nó rơi vào cung nào, để định tính chát sùng thượng người ngoại quốc, hay kết hôn với người nước ngoài.

Đối với Hỏa tinh, Linh tinh, Kình dương, Đà la, Kiếp sát, Thiên hình, Hóa Kị, thì sao Cự môn đều sợ. Nói chung, thì Kình Đà dễ khiến tình cảm nổi sóng gió, Hỏa Linh khiến đời người thêm nhiều sóng gió, Không Kiếp khiến đời người gập ghềnh, gặp nhiều trở ngại, bất đắc chí. Theo thuyết của cổ nhân, có khả năng thủa nhỏ bị cha mẹ bỏ rơi, gặp các sao Hình Kị, thì xảy ra điều tiếng thị phi. Nếu tứ sát cùng chiếu, lại gặp Thiên hình, cung Tật Ách không tốt thì dễ yểu mạng.

Bài đọc thêm về "Cự phùng tứ sát cách"

-------------------------------------------------

Cự Môn tổng luận

Cự Môn là sao thứ hai của Bắc Đẩu, thuộc âm thổ, khí của nó thuộc âm kim. Trong Đẩu Số, Cự môn là ám tinh. Gọi là "ám tinh", chẳng phải nói Cự môn không có ánh sáng, mà là nói nó giỏi che mất ánh sáng của người khác, cho nên gọi là "ám".

"Che mất ánh sáng của người khác", là sắc thái đặc biệt nhất của sao Cự Môn. Trong xã hội, người nghị luật thao thao bất tuyệt biến người khác đều thành thính giả, cách biểu hiện cái "tôi" như vậy là sắc thái đặc biệt của Cự Môn. Hơn nữa, Cự Môn còn thích tiết lộ chuyện riêng tư của người khác, cho nên cổ nhân nói đặc tính của Cự Môn là "gây chuyện thị phi sau lưng" (bối diện thị phi)

Cự Môn còn có một sắc thái đặc biệt khác là "đa nghi". Cổ nhân nói nó "ở người thì chủ về ám muội, đa nghi thị phi" (vu nhân chủ ám muội, đa nghi thị phi). Đây là do Cự Môn đánh giá người khác phần nhiều thiên nặng về mặt "âm ám", cách nhìn đối với người khác rất phiến diện, đương nhiên có nhiều nghi ngờ.

Do hai tính cách này, nên quan hệ giao tế của Cự Môn không được tốt, nói "ít hợp với lục thân, giao du với người lúc đầu thì tốt, sau cùng thì xấu" là do lý luận này.

Vì vậy, lúc đánh giá Mệnh cục Cự Môn cần phải chú ý các sao nó hội hợp, xem chúng có làm mạnh thêm hai đặc tính này, hay là làm giảm bớt hai đặc tính này, hoặc có thể nhuyễn hóa hai đặc tính này.

Sao có thể hóa giải sự "âm ám" của Cự Môn mạnh nhất là Thái Dương ở cung miếu vượng. Cổ nhân nói "Cự Nhật đồng cung, phong quan ba đời", trường hợp "Thái dương Cự môn" là đúng, do Thái dương ở cung Dần là mặt trời mọc ở phương Đông, ánh sáng rực rỡ đang thịnh, có thể hóa giải "âm ám" của Cự Môn.

Nếu Thái dương ở cung Ngọ, sẽ hội hợp với Cự Môn thủ mệnh ở cung Tuất, cũng dư sức hóa giải tính "âm ám" thị phi của Cự Môn, nên cũng gọi là kết cấu đẹp. Ngoại trừ Thái dương có thể hóa giải tính "âm ám" của nó ra, chỉ còn dùng hóa Quyền và hóa Lộc để hóa giải. Cự Môn sau khi hóa thành sao Lộc, khí chất của Cự Môn biến thành khéo ăn khéo ở, còn Cự Môn sau khi hóa thành sao Quyền, thì tính giảm bớt lòng nghi kị, do đó cũng có thể cải thiện đặc tính của Cự Môn. Phàm Cự môn có cách cục tốt, đều ưa Hóa Lộc, Hóa Quyền là do duyên cớ này.

Có Thiên Cơ đồng độ hoặc đối củng, sẽ làm mạnh thêm khuyết điểm của Cự Môn, bởi vì Thiên Cơ sẽ biến Cự môn thành trôi nổi, không thiết thực, mà còn làm tăng đặc tính đa nghi của nó, cũng sẽ khiến nó hay "gây chuyện thị phi sau lưng", nhờ vào ngôn từ mưu trí và quyền biến, để chiếm lòng tin của người khác. Cần phải hóa Lộc, hóa Quyền, và hội hợp với các sao Cát, mới là cách cục tốt. Nếu có Sát tinh đồng cung, là cách cục phá tán, thất bại.

Sát tinh cũng có thể làm tăng đặc tính xấu của Cự Môn. Cự môn ở hai cung Thìn hoặc Tuất là hãm địa, thì càng nặng. Vì vậy cổ nhân nói: "Cự môn sợ hai cung Thìn hoặc Tuất hãm địa" (Thìn Tuất ứng hiềm hãm Cự môn); "Cự môn gặp tứ sát mà cung hãm thì hung" (Cự môn tứ sát hãm nhi hung); "Cự môn mà gặp Hỏa tinh và Kình dương thì cuối đời tự ải" (Cự Hỏa Kình Dương, chung thân tự ải); "Cự môn gặp Hỏa tinh Linh tinh, mà không có Tử vi và Lộc tồn áp chế, thì nhất định sẽ bị đày ngàn dặm" (Cự môn Hỏa Linh, vô Tử vi Lộc tồn áp chế, quyết phối thiên lý).

Tử phụ, Hữu bật, Văn xương, Văn khúc, có thể nhuyễn hóa tính cách xấu của Cự Môn thành tốt đẹp. Tử phụ, Hữu bật chủ về trợ lực, Văn xương, Văn khúc chủ về tài năng, tuy có nói nhiều thì cũng sẽ không chuyên đi che ám người khác; sau khi được trợ lực rồi, cũng sẽ giảm bớt lòng nghi kị, mà còn có thể mang tính nghi kị biến thành tính lo toan suy nghĩ một cách hữu ích.

Cho nên Cự Môn tuyệt đối không nên gặp Sát tinh, mà rất ưa gặp Lộc tồn, Hóa Lộc, Hóa Quyền, và Tả phụ, Hữu bật, Văn xương, Văn khúc.

Với tính chất sau khi chuyển hóa thành Tốt của Cự Môn, rất thích hợp làm những nghề nghiệp coi tài nói năng là nhân tố quan trọng. Người thuộc thượng cách có thể là Luật sư, hay nhân tài ngoại giao, đây phần nhiều là lấy "tính hay nói xấu" nhuyễn hóa thành "giỏi biện luận", lấy "tính nghi kị" nhuyễn hóa thành "tính lo toan suy nghĩ". Cũng thích hợp làm nghề bán hàng, dạy học, hoặc nghệ thuật biểu diễn để mưu sinh.

Cự Môn phân bổ ở 12 cung, sẽ đồng độ, hoặc đối củng với Thiên Cơ ở hai cung Mão hoặc Dậu, gọi là "Cự Cơ" đồng độ; ở 4 cung Tý Ngọ Mão Dậu là kết cấu "Cự Môn Thiên Cơ".

Ở hai cung Tị hoặc Hợi (sách viết là Thìn hoặc Tuất), thì Cự môn độc tọa, ở đối cung sẽ là Thái Dương; ở hai cung Dần hoặc Thân, thì Cự môn và Thái dương đồng độ. Cho nên, ở 4 cung Dần Thân Tị Hợi là kết cấu "Cự Môn Thái Dương".

Thiên cơ tính trôi nổi, không thiết thực, nên bất lợi đối với Cự Môn, Thiên Đồng thì có thể hòa với khí của Cự môn, nhưng lại có thể khiến cho tâm trạng của Cự Môn càng "âm ám" kín đáo. Thái Dương thì có thể dùng ánh sáng rực rỡ của mình để hóa giải tính "âm ám" của CỰ Môn, thông thường kết cấu "Cự môn, Thái dương" là tốt nhất, nhưng trong đó cũng có biến cách.

Cự Môn thủ mệnh cũng có một số cách cục nổi tiếng, Cự môn độc tọa ở hai cung Tý hoặc Ngọ, hóa Lộc hoặc hóa Quyền, gọi là cách "Thạch trung ẩn ngọc", chủ về mệnh tạo "anh hoa nội liễm" (tài năng không lộ)

Cự môn độc tọa ở cung Thìn, hóa thành sao Lộc, được Văn xương hóa Kị cùng bay đến, ở đối cung có Thiên Đồng, mà còn hội hợp Thái dương hóa Quyền. Hóa Quyền của Thái dương có thể điều hòa tính xấu của Cự môn, hơn nữa bản thân Cự môn đã hóa Lộc, tính chất được nhuyễn hóa, còn Thiên đồng có thể hóa giải Hóa Kị của Văn xương, vậy là vừa khớp trở thành "cách đặc biệt". Cổ nhân nói: "Cự môn ở hai cung thìn hoặc Tuất là không đắc địa, mệnh khổ nhưng trái lại biến thành cách cục đặc biệt" (Cự môn Thìn Tuất bất đắc địa, tân nhân mệnh ngộ phản vi kỳ) là ám chỉ điều vừa nói, nhưng không tiết lộ một điều là cần phải có Văn Cương Hóa Kị đồng độ.

"Cự Môn Thiên cơ" ở cung Mão, Hóa Lộc, hội hợp với Lộc tồn, mà không có thêm Sát tinh, lại được Tả phụ, Hữu bật, Văn xương, Văn khúc, Thiên khôi, Thiên việt hội chiếu, gọi là "Cơ Cự đồng lâm cách", nhưng nếu có Sát tinh là phá Cách, kị nhất là có Kình dương, Hỏa tinh.

Cung mệnh của Đại hạn, hoặc Lưu niên gặp Cự Môn, thì không chủ về có đặc tính của Cự Môn, mà lại chủ về một đoạn đời người gặp cảnh ngộ bị Cự Môn che phủ. Nếu không có Thái dương miếu vượng hóa giải, lại không có Quyền Lộc, trái lại còn gặp các sao Sát Kị, thì chủ về Đại vận hoặc Lưu niên không cát tường, điều tiếng thị phi trùng trùng, mà còn chủ về phạm pháp, kiện tụng, cần phải gặp các sao Cát và cát hóa, sau mới hưng thịnh. Cự Môn là sự phiến nhiễu của thị phi, không thể không thận trọng.

Cự Môn biệt luận: Sáu tình huống Cự Môn tọa mệnh

Cự Môn có quan hệ mật thiết với các sao Thái Dương, Thiên Cơ, Thiên Đồng, được phân bố trong 12 cung như sau:

- Ở hai cung Tý hoặc Ngọ, thì Cự Môn đối chiếu với Thiên Cơ

- Ở hai cung Sửu hoặc Mùi, thì Cự Môn đồng cung với Thiên Đồng.

- Ở hai cung Dần hoặc Thân, thì Cự Môn đồng cung với Thái Dương.

- Ở hai cung Mão hoặc Dậu, thì Cự Môn đông cung với Thiên Cơ.

- Ở hai cung Thìn hoặc Tuất, thì Cự Môn đối chiếu với Thiên Đồng.

- Ở hai cung Tị hoặc Hợi, thì Cự Môn đối chiếu với Thái Dương.

Về đại thể, quan hệ giữa Cự môn với Thái dương, đồng cung sẽ không bằng đối chiếu, bởi vì Cự môn là "ám tinh", khi đồng cung với Thái dương, là một "minh" và một "ám" cùng ở một cung vị, trái lại sẽ gây lụy cho Thái dương. Đối chiếu thì khác, "ám" của Cự môn không đủ sức truyền đi xa, nhưng ánh sáng và nhiệt của Thái dương lại có thể chiếu tới Cự môn, nên có thể giải trừ "ám" của Cự môn.

Quan hệ với Thiên Đồng, thì đồng cung ưu hơn đối cung, bởi vì Thiên Đồng có tính cách bảo thủ, chỉ lo bảo toàn bản thân, mà bất kể thế sự, lại còn hay sợ việc. Ưu điểm của Cự môn là không chiếu xạ đối cung của mình, mà còn bị ảnh hưởng ngược lại từ đối cung, khiến cho tính chất (tính cách) của Cự môn xảy ra thay đổi. Đồng cung thì khác, hai bên sẽ tác động lẫn nhau, nên có thể "hơi" thay đổi khuyết điểm của Cự môn, làm giảm bớt điều tiếng thị phi.

Cự Môn quan hệ với Thiên Cơ, dù đối chiếu hay đồng cung, đều có sở trường riêng. Tổ hợp tinh hệ này, phần nhiều đều có chút tính chất khéo ăn khéo ở, còn giỏi biểu đạt và điều hòa. Khi Thiên cơ và Cự môn đồng cung, tính cách (tính chất) khéo léo của Thiên Cơ sẽ cải thiện tính chất điều tiếng thị phi của Cự Môn, nhưng cũng đồng thời làm giảm bớt tính chất "Thiên Cơ hóa khí thành khéo léo" dẽ thành đầu môi trót lưỡi, bụng dạ hẹp hòi. Lúc Thiên cơ và Cự môn đối chiếu, tính chất của hai bên sẽ dung hòa, Thiên cơ không đến nỗi biến thành bụng dạ hẹp hòi vì ảnh hưởng của Cự môn, mà Cự môn cũng không đến nỗi biến thành sốc nổi, không thiết thực, vì ảnh hưởng của Thiên Cơ. Nhưng tính chất "điều tiếng thị phi" của bản thân Cự môn vẫn không bị ảnh hưởng, dễ nhanh mồm nhanh miệng mà chuốc họa.

Cỏ nhân nói: "Giao du với người có mệnh Cự môn, lúc đầu tốt về sau xấu", đại khái là lấy tổ hợp tinh hệ "Thiên cơ Cự môn" để nói, bởi vì bất kể hai sao đối chiếu hay đồng cung, cũng đều có những khiếm khuyết đáng tiếc, hơi thiếu đường đường chính chính.

Cự Môn cát hay hung là do có tài học hay không

Cổ nhân rất có thiên kiến với Cự Môn, có thuyết: "Cự môn miếu vượng, tuy phú quý cũng không được lâu bền"; hay "Cự môn thủ cung mệnh hoặc cung thân, một đời chuốc điều tiếng thị phi", thậm chí khi luận các cung Huynh đệ còn nói "anh em thảm thương", cung Phu thê còn nói "vợ chồng thất tiết", cung Tử tức còn nói "con cái tổn hậu", hay cung Tài bạch còn nói "tiền bạc khéo trộm mà có",.v.v... có thể nói là không có chỗ nào đúng.

Vương Đình Chi cho rằng, tiền nhân của phái Trung Châu đánh giá Cự Môn khách quan hơn, cho rằng: "Cự môn có lòng chính nghĩa, thường thường sở học ít khi tinh thâm, tài không đủ để dùng" nhưng chính nhờ đó mới có tính bỗng nhiên lãnh ngộ.

Người có Cự môn ở cung mệnh, đại khái đều có biểu hiện tốt về tính cách của bản thân, thêm vào đó còn giỏi biện luận, do đó thường dễ chuốc tị hiềm đố kị. Nếu như tài học của mệnh tạo đủ sức khiến cho người ta khâm phục, thì tính chất "chuốc tị hiềm đố kị" sẽ giảm bớt, sẽ khiến người ta ghét tính nói nhiều của mệnh tạo, quan hệ nhân tế đương nhiên rất tệ, gây nên "một đời chuốc lấy điều tiếng thị phi", "tuy phú quý nhưng không được lâu bền". Đây cũng là nói, hễ người có Cự Môn tọa cung mệnh, nếu có tài học, mà còn học tinh thâm, thì cũng là mệnh cục tốt.

Cổ nhân rất ưa Cự môn đồng cung hay đối chiếu với Thái dương, cho rằng Thái dương có thể giải "ám" của Cự môn, thực ra chỉ vì người có "Cự Nhật thủ mệnh" làm việc quang minh lỗi lạc, dễ làm cho người ta dễ hiểu mình mà thôi.

Cự Môn ở hai cung Tý hoặc Ngọ, tuy không gặp Thái dương, nhưng có Hóa Lộc, Hóa Quyền, hoặc Hóa Khoa, ba sao hợp chiếu, cổ nhân cũng cho rằng đây là cách cục tốt, gọi là "Thạch trung ẩn ngọc", đó là vì nhờ có các sao hóa diệu này, nên sở học của mệnh tạo không đến nỗi tệ, thêm vào đó Thiên Cơ ở đối cung "hóa khí thành khéo léo", nên vừa có tài học, vừa có tu dưỡng, do đó tính chất "điều tiếng thị phi" của Cự môn sẽ nhuyễn hóa thành tài ăn nói, lời nói ra ắt sẽ khéo léo, biến thành cách cục tốt.

Cổ nhân luận mệnh thích giấu đi một chút, thường chỉ nêu ra một Sao để phán định, cho nên dễ khiến cho hậu nhân mơ mơ hồ hồ, nếu không động não phân tích thì khó mà hiểu được.

Nói về ánh của các Sao, thì Thái dương là không có chỗ nào không chiếu đến, vì vậy Cự môn không thể che ánh sáng của Thái dương, chỉ khi Thái dương lạc hãm, lúc đó ánh sáng yếu nhất, Cự Môn mới che được, do đó Thái dương lạc hãm cũng không nên hội Cự môn.

Ảnh hưởng của Cự Môn đối với các sao, dựa vào kết quả tính chất của các sao bị "ám" mà định.

Như Thiên Đồng gặp Cự Môn, đồng độ hoặc vây chiếu, Thiên Đồng chủ về tình cảm và tâm trạng, sẽ biến thành tình cảm và tâm trạng u ám. Thế là tận trong thâm sau nội tâm, có nỗi đau khổ thầm kín mà không thể cho ai biết.

Lại như Thiên Cơ gặp Cự Môn, đồng độ hoặc vây chiếu, Thiên Cơ chủ về cơ mưu, kế hoạch, biến thành cơ mưu và kế hoạch bị tính toán sai, do đó có phản ứng sai lầm, tiến thoái không hợp thời cơ, do dự thiếu quyết đoán. Có điều Thái Dương gặp Cự Môn đồng độ hoặc vây chiếu, nếu Thái dương nhập miếu thì không bị Cự môn "ám", ánh sáng chiếu xa, nên chủ về được người ngoại quốc hoặc người ở nơi xa xem trọng, còn khi lạc hãm thì ánh sáng lu mờ, làm việc đầu voi đuôi chuột.

Như đã thuật ở trên, để luận đoán điềm quan trọng của Cự Môn, cần phải xem xét tính chất toàn bộ các sao mà định, sau đó "thâm nhập" tính chất "che ám", thì mới có thể luận đoán hoàn chỉnh.

Ví dụ như tinh hệ "Thiên cơ Cự môn" vốn chủ về phản ứng sai lầm, tiến thoái không hợp thời cơ, cho nên chủ về ý chí không kiên định, nhưng nếu Thiên Cơ hóa Quyền làm tăng tính ổn định, thì lực "che ám" của Cự Môn lại biến thành chủ quan quyết định mà phạm sai lầm, vì vậy mà đánh mất cơ hội tốt.

Lại ví dụ như tinh hệ "Thiên đồng Cự môn", vốn chủ về có ẩn tình che dấu triền miên, nhưng nếu Thiên Đồng hóa Lộc, thì lại có thể biến thành chấp trước một môn học nào đó, hoặc chấp trước một thú vui sở thích nào đó. Như vậy chưa chắc là không tốt. "Cự Môn Thiên Đồng" đồng độ, phải có sao Lộc, nếu không có Lộc, dù gặp Cát tinh cũng không cát tường. Cổ nhân nói "Cự môn ở Sửu Mùi là hạ cách, dù phú quý cũng không được lâu" (Sửu Mùi Cự môn vi hạ cách, túng nhiên phú quý diệc bất trường). Khuyết điểm của kết cấu tinh hệ này là ở chỗ: dễ nghe lời dèm xiểm, nói xấu, xử sự nặng tình cảm mà dẫn đến thất bại.

Cự môn đồng độ với Thiên cơ, cần phải được cát hóa và có sao Cát thì mới phú quý (ở cung Mão ưu hơn ở cung Dậu), nhưng gặp Hỏa tinh hoặc Linh tinh bay đến là phá Cách, chủ về cuộc đời nhiều chìm nổi. Không gặp Cát tinh hoặc không được Cát hóa, mà gặp sát tinh thì phá tán, tàn tật.

Cự môn ở hai cung Tý hoặc Ngọ là cách "Thạch trung ẩn ngọc" được cát hóa là tốt, hóa Lộc thì chủ về phú, hóa Quyền thì chủ về quý. Có điều cuộc đời không nên ở vị trí tối cao.

Trường hợp Cự môn hóa Lộc hay hóa Quyền, thường đều thất bại ở Đại vận cung Tị; hóa Quyền thì thất bại vì tranh quyền; hóa Lộc thì thất bại vì quá muốn làm giầu. Nó thường thành công ở những đại vận "Vũ khúc Thất sát", Thiên phủ.

Cự môn ở hau cung Tý hoặc Ngọ, đồng độ với Lộc tồn, cần phải gặp Cát tinh mới phú quý. Rất kị cung hạn Thiên Cơ, cũng không ưa cung ở tam phương có Địa không Địa kiếp bay đến. Nó thường thành công ở Đại vận có sao Lộc trùng điệp.

Cự môn ở hai cung Tý hoặc Ngọ, không có sao Lộc, cần phải đến Đại vận hoặc Lưu niên gặp sao Lộc, mới chủ về phát vượt lên, gặp niên hạn có Địa không, Địa kiếp và Hóa Kị (nhất là Thiên cơ hóa Kị), sẽ chủ về phá tán, thất bại.

Cự môn ở hai cung Tý hoặc Ngọ, thông thường bất lợi cung Huynh đệ. Vì vậy không nên hợp tác với người khác, cũng thường chủ về kết hôn muộn, Cự môn ở cung Tý thì càng đúng.

Cự môn ở hai cung Thìn hoặc Tuất, thông thường là bát lợi. Cổ nhân nói: "Cự môn ngại bị hãm ở hai cung Thìn Tuất" (Thìn Tuất ứng hiềm hãm Cự môn), chủ về vất vả, tranh chấp thị phi. Khi Cự môn hóa Kị, có sát tinh bay đến là hạ cách. Cự môn ở hai cung Thìn hay Tuất, thì không nên đến các cung hạn Thiên tướng, Thiên lương, Thiên đồng, Thiên phủ, thường xảy ra sự cố, mà nên đến các cung hạn Thái âm, Thái dương nhập miếu. Rất nên đến các vạn hạn gặp Lộc tồn, Hóa lộc có thể giải tai ách của Cự Môn.

Cự Môn hóa Lộc ở cung Thìn, có Văn Xương hóa Kị đồng cung hoặc vây chiếu, là cách cục đặc biệt, rất phú quý. Đến cung hạn Thiên Phủ, là đại vận phát đạt. Cự môn ưa sao tiền tài, cho nên ưa cung hạn Thiên Phủ. Nhưng Cự môn không nên đến niên hạn Thiên Đồng, thường vì tham cầu thái quá mà gặp hung.

Cự môn ở cung Tuất hóa Lộc hay hóa Quyền đều cát, nhưng không nên gặp Văn Xương hóa Kị, gặp Thiên Phủ thì nên, gặp Thiên đồng thì ngại.

Cự môn ở hai cung Tị hoặc Hợi, có sự khác biệt rất lớn. Ở cung Hợi thì có Thái dương ở cung Tị vậy chiếu cho nên cát, nếu được cát hóa và có sao cát, ắt chủ về phú quý. Nhưng đến Đại vận Thiên cơ Thiên đồng (kị nhất là Lưu niên Thất sát), sẽ dễ vì cố xuất đầu lộ diện mà gây ra tai họa, hoặc vì quá lộ tài năng mà gây ra tai ương.

Cự môn ở cung Tị, thì Thái dương ở đối cung vô lực, cho nên không là cát lợi, chỉ khi nào gặp sao Lộc, mới chủ về nhờ cần kiệm mà trở nên giầu có. Ưa đến các cung hạn "Tử vi Thiên phủ", Vũ khúc, có Lộc tồn, Hóa Lộc, không ưa đến cung hạn Thất sát, cung hạn "Liêm trinh Thiên tướng", cung hạn Tham lang.

Cự Môn ở 12 cung đều ưa gặp sao Lộc, trường hợp hóa thành sao Lộc thì rất tốt, trường hợp Lộc tồn là kế đó. Các vận hạn trong cuộc đời cũng ưa có Hóa Lộc và gặp sao Lộc. Hễ Cự môn hóa Quyền, ưa đến nhất là Đại vận hoặc Lưu niên gặp sao Lộc. Tinh hệ "Thiên đồng Cự môn" ở hai cung Sửu hay Mùi, là được Vũ khúc hóa Lộc và Tham lang hóa Quyền giáp cung, cũng khá tốt. Rất sợ có Hỏa Linh đồng độ, dù phú quý cũng không lâu dài.

Đọc thêm CỰ MÔN - can Đinh hóa Kị

Cự Môn không ưa hóa thành Kị, vì vốn đã có tính chất "điều tiếng thị phi", sau khi Hóa Kị càng làm mạnh thêm tính chất xấu này, khiến cho đời người thêm nhiều phiền phức rắc rối.

Cự Môn sau khi Hóa Kị cũng ảnh hưởng đến phương diện tình cảm, thường dễ xảy ra phiền phức liên tiếp mà không thể đoán trước được. Cho nên người Cự môn hóa Kị tọa mệnh, bất kể các sao của cung Phu Thê hoàn mỹ đến đâu, ít nhất cũng có một lần gãy đổ trong tình yêu hoặc hôn nhân, tất nhiên sau đó để lại vết thương lòng suốt đời khó quên.

Thích cầu toàn cầu mỹ, nhưng bất kể đã nỗ lực như thế nào, sự nghiệp phát triển cũng không được như lý tưởng. Nhưng mệnh tạo lại chấp trước sự hoàn mỹ vì vậy mà sinh ra thất vọng, hơn nữa trong quá trình sự kiện phát triển mệnh tạo rất đau đớn khổ sở và vất vả. Lúc có Đà La đồng độ, khuynh hướng này càng rõ rệt.

Cự Môn hóa Kị độc tọa ở hai cung Tý hoặc Ngọ, đối cung là Thiên cơ hóa Khoa, ắt sẽ có Lộc tồn đồng độ hoặc vây chiếu, cung tam hội có Thái Dương độc tọa và mượn "Thiên Đồng Thiên Lương" mà Thiên Đồng hóa Quyền. Cự môn hóa Kị trong tinh hệ này, thường nhờ "hung sự" mà biến thành lực kích phát. Sự số trắc trở đang trong quá trình phát triển thì ngưng lại, những mỗi lần trắc trở như vậy, thực ra lại khiến cho kết cục càng hoàn mỹ. "Thấy Hung thực ra là Cát" là đặc điểm của nó.

Mệnh cục này bất lợi về hôn nhân, tuy giao du với nhiều người khác giới, nhưng tình cảm vẫn duy trì lâu dài một cách lặng lẽ, hoặc lúc tình cảm phát triển tới mức độ sâu đậm thì bỗng nhiên xảy ra biến cố, dẫn đến chia ly. Ở cung Ngọ dễ chuốc điều tiếng thị phi hơn ở cung Tý, nhưng lại trở thành sức mạnh kích phát.

"Thiên đồng Cự môn" đồng độ ở hai cung Sửu hoặc Mùi, khi Cự môn hóa Kị ắt Thiên đồng hóa Quyền (xin tham khảo phần Thiên Đồng hóa Quyền) khi Thiên đồng hóa Quyền còn làm mạnh thêm sự xung động trong bản thân.

Tinh hệ "Thái dương Cự môn" đồng độ ở hai cung Dần hoặc Thân (ở cung Dần gặp Lộc tồn), Cự môn hóa Kị, cung tam hội mượn "Thiên cơ Thiên lương" mà Thiên cơ hóa Khoa, và mượn "Thái âm Thiên đồng" một sao hóa Lộc một sao hóa Quyền. Tinh hệ này là cách cục tứ hóa hội hợp, nhưng do Cự Môn của bản cung hóa Kị, nên rất bất lợi về quan hệ nhân tế. Thông thường bất lợi đối với người thân phái nam, nên không thích hợp với nữ mệnh, đến tuổi trung niên không có duyên với chồng, đến tuổi vãn niên thì có khoảng cách đối với con cái. Bất kể nam mệnh hay nữ mệnh, đều chủ về thiếu duyên với cha, hoặc dễ xung đột với thượng cấp. Do tính chất "điều tiếng thị phi", nên rất thích hợp với nghề nghiệp "dùng lời nói để kiếm tiền" như luật sư, dạy học,.v.v... nhờ "Lộc Quyền Khoa hội" có thể thăng tiến danh dự và tài lộc.

Tinh hệ "Thiên cơ Cự môn" đồng độ ở hai cung Mão hoặc Dậu, khi Cự môn hóa Kị, ắt Thiên cơ hóa Khoa (xin tham khảo phần Thiên Cơ hóa Khoa)

Cự Môn độc tọa hóa Kị ở hai cung Thìn hoặc Tuất, Thiên Đồng ở đối cung hóa Quyền, cung tam hội Thái dương độc tọa và mượn "Thiên cơ Thái âm" mà Thái âm hóa Lộc, Thiên cơ hóa Khoa. Cự môn hóa Kị ở Thiên la Địa võng lại chủ về cát lợi, tính chất "thấy Hung mà thực ra là Cát" rất rõ ràng. Cho nên bề ngoài tuy gặp trắc trở, điều tiếng thị phi, nhưng kết cục thường thường lại khiến cho người ta bất ngờ, có điều vẫn khó tránh phải trải qua gian khổ, tâm lư lo nghĩ. Nếu gặp Hỏa Linh, hoặc Không Kiếp đồng độ, thì rất thích hợp "dùng lời nói để kiếm tiền". Có điều mệnh tạo ưa giải quyết khó khăn cho người khác, nên sự nghiệp tuy tốt nhưng cuộc đời lại khó được yên tịnh. Hôn nhân cũng chủ về mỹ mãn, bất kể nam mênh hay nữ mệnh, đều nên lấy người có sự nghiệp.

Cự môn độc tọa, hóa Kị ở hai Cung Tị hoặc Hợi, đối nhau với Thái dương, ắt sẽ gặp Kình dương Đà la, hoặc đồng độ với Đà la, cung tam hội là Thiên đồng độc tọa hóa Quyền và Thiên Cơ đọc tọa hóa Khoa. Thông thường, tinh hệ này ảnh hưởng đến lục thân ở mức độ nhẹ, Cự môn ở cung Hợi càng nhẹ hơn, nhưng tình hình về "điều tiếng thị phi", và sóng gió trắc trở trong tình cảm thì khá nặng. Nam mệnh ắt sẽ lấy được vợ đẹp, nữ mệnh ắt sẽ lấy được chồng có đường sự nghiệp tốt, bàng nhân thiên hạ đều cho rằng họ đẹp đôi, nhưng phần nhiều họ lại bất mãn với người phối ngẫu, sau trung niên thường thay lòng đổi dạ, khiến cho mọi người xung quanh đều ngạc nhiên.

Đan trì quế trì cách

"Đan trì quế trì cách" tức là Thái Dương cư Thìn, Thái âm cư Tuất, an mệnh tại cung Thìn hoặc cung Tuất. Thái dương cư Tị, Thái âm cư Dậu, an mệnh ở cung Tị hoặc cung Dậu.

Cổ ca nói:

Nhị diệu thường minh chính đắc trung

Tài hoa thanh thế định anh hùng

Thiếu niên tế đắc phong vân hội

Nhất dược thiên trì tiện hóa long.

Dịch nghĩa:

Hai sao thường sáng chính đắc trung

Tài hoa thanh thế định anh hùng

Tuổi trẻ đỗ đạt ra làm quan

Một bước lên mây hóa thành rồng.

Thái dương thủ mệnh mà nhập miếu, cổ nhân gọi là "đan trì", Thái âm thủ mệnh mà nhập miếu, cổ nhân gọi là "quế trì".

Thời cổ đại xem trọng công danh khoa cử, mà không trọng sự giầu có của giới thương nhân, do đó cho rằng "đan trì quế trì" là đại lợi về cầu Danh. Vì vậy, cổ quyết mới có các thuyết:

- "Thái dương thủ cung Mão, phú quý vinh hoa",

- "Thái dương thủ mệnh ở các cung Mão Thìn Tị Ngọ, gặp các sao Cát, là đại quý" (Thái dương thủ mệnh vu Mão Thìn Tị Ngọ, kiến chư cát đại quý)

- "Thái âm ở cung Tý là đài quế nước trong, được chức quan trọng yếu, là trung thần can gián" (Thái âm cư Tý, thị thủy trừng quế ngạc, đắc thanh yếu chi chức, trung gián ti tài)

"Trăng sáng cửa trời ở cung Hợi, là phong hâu thăng chức tước" (Nguyệt lãng thiên môn vu Hợi địa, tiến bước phong hầu)

Thảy đều vì Thái dương, Thái âm miếu địa mà ra.

Nhưng hậu nhân lại thiên lệch, phải tìm cho ra cách "hai sao đều sáng", với ý đồ làm tăng vẻ vang cho Mệnh Cục, do đó đưa ra cách: "Nhật Nguyệt tịnh minh cách", và "Nhật Nguyệt hội minh cách", ngoài ra còn cật lực tìm ra tinh hệ Nhật Nguyệt cư cung miếu vượng hỗ tương hội chiếu, làm thành mối quan hệ giữa Cách và Cục, còn không dùng cái tên "đan trì" và "quế trì".

Cách này có tính giới hạn cục bộ rất lớn. Thứ nhất là phải gặp sao Lộc, thứ hai là phải gặp các Cát tinh Xương Khúc Tả Hữu, thứ ba là phải gặp một ít Sát tinh trong số Hỏa tinh Linh tinh Kình dương Đà la. Nhưng nếu phù hợp điều kiện này, về căn bản không phải nệ vào cách cục nữa.

Đọc thêm về Đan trì quế trì cách

------------------------------------------

Thái Dương tổng luận

Như chúng ta đã biết, Thái Dương là chủ tinh của các sao Trung thiên, thuộc dương hỏa. Do thái dương là chủ tinh của Trung Thiên, cho nên cũng ưa "bách quan triều củng".

Đặc tính rất quan trọng của Thái Dương là phát ra ánh sáng và nhiệt, nhờ vậy mà ánh sáng chói lọi. Vì vậy, trong đời người nó chủ về thanh danh và quý hiển, trừ phi Thái dương hội hợp với các sao chủ về tài phú, như Thái âm, Hóa Lộc, Lộc tồn, nếu không càng chủ về quý mà không chủ về giầu có.

Chủ về quý là đặc tính của Thái Dương, do đó cũng ưa đồng độ, hoặc hội hợp với các sao mang tính chất quý hiển, như Thiên lương, Thiên khôi, Thiên việt. Thậm chí người Thái Dương tọa mệnh, đến cung hạn có các sao quý hiển tọa thủ như: Tử vi, Thiên phủ, Thiên lương, Thái âm cũng cần đặc biệt chú ý, đây có thể là niên hạn khai vận. Nếu được thêm lưu Khôi, lưu Việt xung chiếu Thiên khôi, Thiên việt của nguyên cục, thì chủ về gặp nhiều cơ hội.

Thái Dương đã có đặc tính phát xạ, vì vậy đang lúc nhập miếu, thì không nên gặp quá nhiều các sao mang tính chất phát xạ, như Thiên Mã, Linh tinh, Hỏa tinh, Thiên lương, Thiên sứ, Cô thần, Quả tú, Phỉ liêm, Phá toái. Nếu không nhiệt và ánh sáng của Thái dương sẽ khuếch tán thái quá, càng dễ thành trống rỗng mà thiếu thực tế.

Cũng vậy, Thái dương thủ mệnh ở cung Ngọ, trái lại, không tốt bằng ở cung Tị. Bởi vì Thái dương của cung Ngọ đã thuộc "Nhật lệ trung thiên", lại đi quá một bước mặt trời bắt đầu lặn về Tây, hơn nữa lúc này ánh nắng rất mãnh liệt, không bằng Thái dương của cung Tị, trái lại còn có chỗ để phát triển.

Cho nên muốn phán đoán sự tốt xấu của Thái Dương, cần phải tuần tự phân tích theo 4 nguyên tắc sau:

(1)- Trước tiên nghiên cứu xem, Thái dương ở vào cung vị miếu vượng lợi hãm thế nào? Đại khái là, nên miếu vượng mà không nên lạc hãm, người sinh vào ban đêm (người sinh vào các giờ Thân Dậu Tuất Hợi Tý Sửu) càng không nên.

(2)- Do không có sao tiền tài hội hợp, mà phán đoán xem nó thuộc sang quý thanh cao, hay thuộc tình huống gồm đủ phú quý, hoặc nhuyễn hóa thành phú mà không quý. Đương nhiên tình huống xấu nhất biến thành không phú mà cũng không quý.

(3)- Như luận đoán trong vận hạn, thì cần lưu ý Thái Dương ở cung mệnh của vận hạn có gặp cơ hội khai vận hay không.

(4)- Bất kể luận đoán cung mệnh của thiên bàn, hoặc cung mệnh của vận hạn, đều phải chú ý "trung hòa". Nếu Thái dương ở trong cung quá mạnh mẽ, thì nên gặp các sao có tính thu liễm. Nếu ánh sáng và nhiệt của Thái dương không đủ (như ở cung Thân đã có hiện tượng mặt trời lặn về Tây), thì có thể nhờ các sao có tính phóng xạ để trợ giúp. Tóm lại, thảy đều phải quy về hai chữ "trung hòa".

Thái dương hóa Lộc chủ về phú và quý. Nhưng khi cung mệnh của vận hạn gặp Thái dương hóa thành sao Lộc, mức độ phú quý của nó vẫn phải căn cứ các sao của của mệnh của "thiên bàn" để tính. Nếu các sao quá yếu, như mệnh vô chính diệu, mượn các sao Thiên đồng Thái âm hóa Kị để nhập cung, hoặc tinh hệ "Cự môn Thiên cơ" lạc hãm, thì mức độ phú quý sẽ giảm rất nhiều.

Thái dương hóa Quyền hóa Khoa sẽ không bằng hóa Lộc, bởi vì hóa Quyền và hóa Khoa chỉ có thể làm tăng sự quý hiển của Thái dương, mà không thể làm cho giầu có được. Thời xưa tệ trọng phú hơn trọng quý còn ít, trong xã hội thương nghiệp hiện đại, người ta trọng phú nhiều hơn là trọng quý. Vì vậy không ưa tính chất hơi thiên lệch của Thái dương hóa Quyền hay hóa Khoa. Bất kể cung mệnh của mệnh bàn, hay cung mệnh của vận hạn, tính chất đều thuộc như vậy.

Người sinh vào ban đêm không nên có Thái Dương tọa mệnh, Thái Dương lạc hãm càng không nên. Nói "không nên" có hai tính chất như sau:

(1)- Bất lợi về lục thân phái nam. Nam thì bất lợi về phụ huynh hoặc trưởng nữ, đối với nữ thì bất lợi về Cha, Chồng và trưởng tử. Nhưng những bất lợi này không nhất định là tử vong, mà có thể là sinh ly, thiếu duyên phận với nhau, hoặc hình thành khoảng cách giữa hai đời, có lúc lục thân bị nạn tai, bệnh tật.

Những tính chất này đối với phái nữ mà nói, thì khá dễ cảm thấy trống rỗng, nhất là sau tuổi trung niên, thiếu duyên với Chồng, tóm lại đúng là khiếm khuyết của đời người.

(2)- Bản thân dễ bị tai nạn, bệnh tật, nhất là chủ về bệnh hệ tuần hoàn, hệ thần kinh. Nếu ánh sáng của Thái dương quá thịnh hoặc quá yếu, thì dễ mắc bệnh ở mắt, nhất là dễ loạn thị lòa mắt.

Kết cấu tinh hệ Thái dương trong 12 cung, luôn đồng độ hoặc đối củng với ba sao Thái Âm, Cự Môn, Thiên Lương, vì vậy 3 sao này ảnh hưởng rất lớn đối với Thái Dương.

Ở hai cung Tý hay Ngọ, Thái dương và Thiên lương chiếu nhau, ở hai cung Mão Dậu, "Thái dương Thiên lương" đồng độ. Cho nên 4 cung Tý Ngọ Mão Dậu là tổ hợp của thái Dương, Thiên Lương.

Ở hai cung Thìn Tuất, Thái dương và Thái âm chiếu nhau, ở hai cung Sửu Mùi, "Thái dương Thái âm" đồng độ. Cho nên 4 cung Thìn Tuất Sửu Mùi là tổ hợp của tinh hệ Thái dương Thái âm.

Ở hai cung Tị Hợi, Thái dương và Cự Môn chiếu nhau, ở hai cung Dần Thân, "Thái dương Cự môn" đồng độ. Cho nên 4 cung Dần Thân Tị Hợi là tổ hợp của tinh hệ Thái dương Cự môn.

Trong các tình huống thông thường, Thái dương rất ưa trường hợp tinh hệ "Thái dương Cự môn" ở cung Dần, hoặc Thái dương độc tọa ở cung Mão, Thìn, Tị. Khá ngại "Thái dương Cự môn" gặp các sao Sát - Kị - Hình ở cung Thân, và tinh hệ "Thái dương Thiên lương" gặp các sao Sát - Kị - Hình ở cung Dậu.

Thái dương còn là sao chủ về kiện tụng và điều tiếng thị phi, vì vậy không nên gặp quá nhiều sao Hình, như Kình dương, Thiên hình, Quan phủ, Bạch hổ. Nhất là Thái Dương hóa thành sao Kị, gặp sao Hình càng dễ chuốc oán, nạn tai.

Liên quan đến kiện tụng thị phi, nhiều lúc do cung Phúc đức mang lại, chứ không chỉ thuộc cung Mệnh, vì vậy khi luận đoán mệnh bàn, gặp Thái dương tọa thủ cung Phúc đức cũng cần chú ý.

Đọc thêm về Đàn trì quế trì cách

-------------------------------------------------

Thái Dương biệt luận

Ba đặc tính của Thái Dương tọa mệnh

Cổ nhân có thiên kiến đối với Thá Dương, cho rằng miếu vương thì Cát, lạc hãm thì Hung. Nói "miếu vượng" tức là mặt Trời (Thái dương) ở vào Giờ có ánh sáng mạnh, bắt đầu từ cung Mão đến cung Ngọ, thì mặt Trời ở giữa Trời, đến cung Dậu bắt đầu mặt Trời lặn về Tây, sau đó đến cung Dần mặt Trời bắt đầu lại nhô lên. Do đó lúc luận đoán đương số có Thái Dương thủ mệnh, cần phải xem trọng tính chất của từng cung độ. Nói cách khác, Thái dương thủ mệnh ở cung Hợi, mệnh vận sẽ không thể bằng ở cung Tị. Công thức đoán mệnh này hầu như đã thành mẫu mực.

Vì vậy, đối với người có Thái Dương thủ mệnh, cổ thư có mấy câu bình giải điển hình như sau:

- "Thái dương thủ mệnh lạc hãm, dù Hóa Quyền Hóa Lộc vẫn hung, quan lộc không hiển đạt, thành bại bất nhất"

- "Thái dương tủ mệnh, lạc hãm mà thêm hung tinh sát tinh, chủ về người mang tật"

- "Thái dương thủ mệnh miếu vượng, phú quý vinh hoa"

- "Nữ mệnh Thái Dương ở bốn cung Mão Thìn Tị Ngọ, không có sát tinh, chủ về vượng phu ích tử"

Tóm lại, cổ nhân cho rằng cung Mệnh mà gặp Thái Dương buổi sáng là Cát, gặp Thái Dương buổi chiều là Hung. Công thức đoán mệnh này đánh mất tính cách thông thường của Thái dương, mà còn bỏ xót một điều rằng: Thái dương buổi sáng cũng có khiếm khuyết của nó, Thái dương buổi chiều cũng có uy lực của nó. Vương Đình Chi cho rằng, phái Trung Châu luận về Thái dương khách quan hơn.

Thái dương tọa mệnh thực ra có 3 đặc điểm như sau:

(1)- Một là: hào phóng. Nói "hào phóng", có nghĩa là không tính toán, so đo tiểu tiết. Cho nên người có Thái dương thủ mệnh thường làm cho người khác phải ghi nhớ trong lòng.

(2)- Thứ hai: danh lớn hơn lợi. Trong Đẩu Số, Thái âm chủ về Phú, Thái dương chủ về Quý. Cho nên người có Thái dương tọa mệnh, bất kể sự nghiệp phát triển lớn đến mức nào, cũng chưa chắc là "cự phú", thậm chí có lúc bản thân không giầu có bằng người dưới quyền của họ.

(3)- Thứ ba: tâm cao khí ngạo. Dù là người ở địa vị dưới cũng thường không phục thượng cấp, trừ khi thượng cấp của họ rất có danh vọng, hoặc rất có tài lãnh đạo. Người có Thái Dương thủ mệnh, thường cảm tháy vận khí của mình không được tốt, mà chẳng cảm thấy chính mình có chỗ không bằng người.

Thái Dượng tọa mệnh có ba loại phối hợp

Thái Dương đồng cung với chính diệu khác, chỉ có 3 tình huống. Một là lúc đồng độ với Thái âm ở cung Sửu hoặc cung Mùi; hai là lúc đồng độ với Cự môn ở cung Dần hoặc cung Thân; ba là lúc đồng độ với Thiên lương tại cung Mão hoặc cung Dậu. Ở sáu cung Tý, Thìn, Tị, Ngọ, Tuất, Hợi còn lại, đều là Thái dương đọc tọa.

Nhưng Thái dương độc tọa cũng có 3 tình huống khác nhau. Thái dương độc tọa ở hai cung Tý hoặc Ngọ, nhất định sẽ đối nhau với Thiên lương, Thái dương độc tọa ở hai cung Tị hoặc Hợi, nhất định sẽ đối nhau với Cự Môn, Thái dương độc tọa ở hai cung Thìn hoặc Tuất, nhất định sẽ đối nhau với Thái âm.

Cho nên, Thái dương có quan hệ với chính diệu, thực ra chỉ có 3 sao Cự môn, Thiên lương, Thái âm, và chia thành hai tình huống: đồng cung và đối cung.

Phái Trung Châu nghiên cứu đặc tính của Thái Dương, rất chú trọng mối quan hệ của Thái dương với Thái âm, Cự môn, Thiên lương, mà không chỉ chăm chú vào tình hình Thái dương ở cung độ sáng hay tối.

Cự môn chủ về "ám", Thái âm chủ về "phú", Thiên lương chủ về "sang quý thanh cao". Ba tính chất cơ bản này sẽ ảnh hưởng đến Thái dương thủ mệnh. Cho nên, về đại thể, Thái dương gặp Cự môn là người chỉ có hư danh, Thái dương gặp Thái âm là người có thể phú quý, cũng có thể chỉ thuộc loại tiểu phú quý, thậm chí chỉ là người ở bậc trung có chút quyền lực, Thái dương gặp Thiên lương là người quá tuân thủ nguyên tắc, thành nhân vật được người trong giới chuyên nghiệp biết đến, nhưng không phải là người trong đại chúng nghe danh.

Đương nhiên, trên chỉ là những đặc tính cơ bản, tình hình cụ thể vẫn phải cần xem xét các sao hội hợp khác mà thay đổi.

So sánh Thái Dương với Tử Vi

Trong Đẩu Số, Thái âm chủ về "phú", Thái dương chủ về "quý", đây là tính chất cơ bản nhất, cho nên hễ người có Thái dương thủ mệnh, thì phải xem xét từ phương diện "quý" này.

Vì chủ về "quý", nên Thái dương rất ưa hội hợp với một số trợ tinh chủ về "quý", như: Thiên khôi, Thiên việt, Tả phụ, Hữu bật, Văn xương, Văn khúc, Tam thai, Bát tọa, Ân quang, Thiên quý, Long trì, Phượng các. Các trợ tinh này chia thành 6 cặp, nếu có "sao đôi" đủ cặp, hội hợp với Thái Dương, thì sức mạnh càng lớn.

Ví dụ: Thái dương hội hợp với 3 sao cát là: Văn xương, Hữu bật, Thiên khôi, sẽ không bằng hội hợp với một cặp "sao đôi" trong đó, như chỉ hội hợp với cặp "sao đôi" Tả phụ, Hữu bật, thì sức mạnh của nó sẽ lớn hơn là hội hợp với ba sao cát phân tán kể trên.

Hai cặp sao đôi Tam thai và Bát tọa, Ân quan và Thiên quý, một khi phân tán sức mạnh sẽ cực kỳ nhỏ. Nhưng nếu "sao đôi" đủ cặp đồng cung với Thái dương, sức mạnh lại cực kỳ lớn, thậm chí so với ba bốn sao lẻ không thành đôi trong lục cát tinh là Văn xương, Văn khúc, Thiên khôi, Thiên việt, Tả phụ, Hữu bật, cũng không lớn bằng.

Tính chất của Thái Dương có thể nói so với Tử Vi thì kém hơn không nhiều, bởi vì Tử vi cũng cần các sao Cát "triều củng", sau đó mới có thể phát huy sức mạnh của nó. Nhưng trong đó cũng có một số phân biệt như sau:

- Tử vi thích Thiên phủ, Thiên tướng triều củng, đối với Thái dương thì không được nói chính diệu triều củng. Trong số lục sát tinh thì Tử vi sợ Tham lang và Phá quân, nhưng Thái dương thì không sợ hai sao này mà lại sợ Cự môn. Tử vi thủ mệnh chủ về rất có tài lãnh đạo và có uy nghiêm, Thái dương thủ mệnh thì chỉ hai có tài lãnh đạo, nhưng lại có đặc tính "cho mà không nhận", dễ khiến người khác gần gũi.

- Nhưng Thái dương lại có lực "hình khắc", còn Tử vi thì không có. Người có Tử vi thủ mệnh, duyên phận với Cha Mẹ, anh em, con cái đều khá tốt. Nhưng người có Thái dương thủ mệnh, thì lại có "hình khắc" đối với Cha, Anh, con cả, nặng thì tử vong, nhẹ thì sinh ly, hoặc tình cảm thân thuộc không được tốt.

- Thậm chí, ngay cả tình hình sức khỏe, tính chất của Tử vi cũng tốt hơn Thái dương.

Thái Dương tọa mệnh, hình khắc hay quý hiển

Do Thái dương có khuyết điểm "hình khắc", cho nên cổ nhân cho rằng "Thái dương Thái âm thủ mệnh không bằng chiếu hợp", lý do là, nếu cung mệnh không gặp Thái dương tọa thủ mà lại được Thái dương vây chiếu, thì vẫn khiến cho cung Mệnh có tính chất "quý", hơn nữa lại có thể giảm bớt mức độ "hình khắc" của Thái dương.

Kinh nghiệm của Vương Đình Chi, người hiện đại nếu gặp Thái dương thủ mệnh, mức độ "hình khắc" trên thực tế chẳng nặng như cổ nhân đã nói, mà mức độ quý hiển cũng không lớn như cổ nhân đã nói.

Có lẽ do phương thức sinh hoạt của cổ nhân và người hiện đại khác nhau. Thời xưa, cha con hai đời cung ở một nhà, dễ xảy ra va chạm, không như người hiện đại, sau khi kết hôn thì ra ở riêng. Vì vậy mệnh tạo có thể phát huy đặc tính tình cảm của sao Thái dương. Nhìn từ góc độ khác, ở riêng cũng có thể tính là "hình khắc" ở mức độ rất nhẹ.

Quan hệ với bạn bè cũng vậy, phạm vi xã giao của cổ nhân khá hẹp, do Thái dương tính tình mạnh mẽ, cho nên khi ở trong một phạm vi nhỏ, người ta khó mà tiếp nhận nổi, biến mệnh tạo thành người không hợp quần. Không như ngày nay, phạm vi xã giao khá lớn, có thể gặp những bạn bè tiếp nhận được mẫu người có tính tình đặc biệt.

Cho nên, dùng Đẩu Số để đoán mệnh, gặp Thái dương thủ mệnh, phải cận thận một chút, không nên hoàn toàn chiếu theo ca quyết của cổ nhân để luận đoán.

Ví dụ như cổ nhân nói: "Thái dương ở Ngọ, quý mà chuyên quyền", đó là vì cổ nhân thích Thái dương có ánh sáng chói lọi ở cung Ngọ. Trên thực tế, người hiện đại chưa chắc đã làm việc trong chính giới, mà con đường làm việc trong chính giới cũng ít, nếu kinh doanh làm ăn, thì người có Thái dương thủ mệnh ở cung Ngọ sẽ dễ biến thành người ưa xuất đầu lộ diện. Đây là vì Thái dương chủ về "quý", nên mệnh tạo ưa thích hư danh, ở phương diện khác Thái dương không chủ về phú, càng ưa hư danh càng dễ khoa trương phù phiếm.

Thái Âm tổng luận

Thái âm thuộc tinh hệ Trung Thiên, người sinh vào ban đêm (giờ Thân, Dậu, Tuất, Hợi, Tý, Sửu) lấy nó làm chủ tinh, thuộc âm thủy.

Do Thái Âm cũng là chủ tinh, nên cũng ưa "bách quan triều củng". Trong các tình hình thông thường, rất ưa Xăn xương, Văn khúc hội hợp, làm tăng sự sáng sủa, rực rỡ của Thái âm, mà còn làm tăng bẩm tính thông minh, khí chất thanh nhã. Nếu chỉ gặp một minh Xăn xương, hoặc một mình Văn khúc thì không phải là cách này, mà biến thành thủ đoạn, cổ nhân gọi là "giả văn vẻ", khi gặp Sát tinh thì biến thành "ngụy quân tử".

Thái Âm tuy cũng sáng sủa, rực rỡ, nhưng tính chất khác với Thái Dương. Tính chất của Thái dương là khuếch tán phát xạ, tính chất của Thái âm thì tiềm tàng và thu vào bên trong. Cho nên, lúc đánh giá mệnh Thái dương, thường ngại ánh sáng của Thái dương quá lộ, cho là điềm không lành; còn khi đánh giá mệnh Thái âm thì ngại sự thu vào bên trong quá đáng của nó, cho là không điều hòa.

Do đó, lúc Thái âm bất hòa, thường cần phải nhờ Thái dương cứu. Lúc Thái âm lạc hãm hóa Kị, hoặc lúc hội hợp với các sao chủ về tiềm tàng và thu vào bên trong như Đà la, Linh tinh, Thiên hình, Đại hao, Thiên hư, Âm sát, nếu được Thái dương nhập miếu, hoặc hóa Lộc ở tam phương tứ chính hội hợp, thì có thể cải thiện tính chất thu vào bên trong quá đáng của Thái âm, phát huy cái tốt của nó, mới không thành vô dụng mà biến thành âm mưu thủ đoạn.

Trái lại, lúc Thái âm nhập miếu, được cát hóa, lại ưa tính thu liễm vào bên trong một cách thích đáng, đây gọi là "anh hoa nội liễm" (tài năng nhưng không lộ ra). Nếu gặp các sao Thiên mã, Hỏa tinh, Thiên thương, Thiên sứ, Cô thần, Quả tú, Phỉ liêm, Phá toái, thì không phải là "anh hoa nội liễm", trái lại sẽ chủ về bên trong trống rỗng, không có thực chất, hành động phù phiếm.

Thái dương chủ về "quý", Thái âm chủ về "phú", vì vậy Thái âm gặp hóa Lộc và Lộc tồn là thành Cách "phú" (phú cách)

Thái âm có sao Lộc mà gặp Văn xương, Văn khúc, thì tính chất của các sao khác mà nó gặp nên vững vàng, như Thái dương đồng độ với Thái âm. Cho nên cổ nhân luận mệnh số, có thuyết "Thái âm Thái dương hội Xương Khúc thì xuất thế vinh hoa". Nếu thuộc tinh hệ hiếu động, trôi nổi, thì không nên gặp Xương Khúc, cổ nhân nói: "Thái âm Thiên cơ Xương Khúc đồng cung ở Dần, nam là nô bộc, nữ là xướng kỹ", là vì tinh hệ "Thái âm Thiên cơ" quá hiếu động, trôi nổi.

Thông minh và cơ trí tiểu xảo vốn cách nhau chỉ một đường ranh. Trong trường hợp hội Xương Khúc, cần phải xem xét kỹ để phân biệt.

Còn trường hợp gặp "sao lẻ" Văn xương, hay Văn khúc, nhất là trương hợp chỉ gặp một mình Văn khúc, đối với Thái âm rất là không nên, người xưa nói đây là Cách yếu kém "Văn khúc Thái âm, cửu lưu thuật sỹ".

Gặp Lộc tồn có nên đồng thời gặp thêm Thiên mã hay không? Còn phải xem Thái âm là nhập miếu hay lạc hãm, tinh hệ có tính ổn định hay hiếu động trôi nổi mà định. Ở đây hơi giống trường hợp Văn xương, Văn khúc.

Có Tả phụ, Hữu bật hội hợp, có thể làm tăng địa vị của người có Thái Âm thủ mệnh. Có Thiên khôi, Thiên việt hội chiếu, thì có lợi trong tranh chấp. Nhưng những phụ diệu này, chỉ có thể dựa vào việc đã có mà làm tốt đẹp thêm, luận về bản chất, thông thường Thái âm vẫn ưa gặp các tá diệu hơn, tức Xương Khúc, Lộc tồn, Thiên mã.

"Phụ diệu" chủ về "tha lực", tức là do người khác giúp sức và gặp cơ hội tốt. Đối với "tá diệu", thì chủ về "tự lực", tức là bản thân phải nỗ lực mới có thể phát huy tiềm năng. Thái âm ưa "tá diệu" hơn "phụ diệu", do đó nỗ lực Hậu thiên trở thành rất quan trọng. Cách Thái âm tọa mệnh có tốt, cũng chủ về phải trải qua phấn đấu mới có thành tựu. Khi luận đoán Đẩu Số, cần phải biết điều này.

Thái Âm giống Thái Dương, không ưa Kình dương, Đà la. Người xưa nói:

- "Thái dương, Thái âm gặp Kình Đà, chủ về phần nhiều khắc người thân"

- "Thái dương Thái âm ở cung hãm gặp các sao ác sát, chủ về vất vả bôn ba"

Nhưng Thái âm lại sợ Kình dương, Đà la hơn Thái dương, cổ nhân nói: "Thái âm gặp Kình dương, Đà la, ắt sẽ xảy ra người thì chia ly, tiền tài thì hao tán".

Đối với sự ưa hay ghét Hỏa tinh, Linh tinh, cần phải xem mức độ sáng sủa rực rỡ của Thái âm mà định.

Lúc có Địa không, Địa kiếp đồng độ, Thái âm sẽ nhiều ảo tưởng, hay bất mãn, điều này dễ thành căn nguyên của sự thất bại trong đời, đối với nữ mệnh cần đề phòng vì vậy mà ảnh hưởng đến đời sống tình cảm.

Thái âm thủ mệnh, cung Phúc đức có ảnh hưởng rất quan trọng đối với mệnh tạo. Khi luận đoán Tử Vi Đẩu Số, cung Mệnh và cung Phúc đức vốn phải xem xét cùng lúc, có điều đối với người Thái âm tọa mệnh, thì vai trò của cung Phúc đức càng quan trọng hơn.

Nếu Thái âm yên tĩnh ở cung Mệnh, mà cung Phúc đức lại biến động thay đổi, không ổn định, ví dụ như cung mệnh là tinh hệ "Thiên đồng Thái âm", Thái âm hóa Lộc, nhưng cung Phúc đức lại là tinh hệ "Thái dương Cự môn", Cự môn hóa Kị, nếu lại thêm các sao Hình - Sát, thì mệnh tạo sẽ bị bối rối khó sử về tinh thần mà ảnh hưởng đến sự yên ổn thực tế.

Nếu Thái âm phát huy anh hoa đúng như phận của nó ở cung mệnh, mà cung Phúc đức lại u ám, trôi nổi, hiếu động. Ví dụ như cung mệnh Thái âm hóa Quyền ở Tuất, ánh sáng rực rỡ phát ra, nhưng Cự môn ở cung Phúc đức lại có Thiên cơ hóa Kị đối củng, nếu lại gặp các sao hình - sát, về tinh thần sẽ nhiều mặt u ám, mà còn hay làm chuyện thị phi sau lưng, nhiều cơ tâm, vì vậy mà ảnh hưởng đến Thái âm ở cung Mệnh. Qua hai thí dụ này, có thể thấy cung Phúc đức của Thái âm thủ mệnh mà có Cự môn thì nên chú ý.

Cổ nhân cho rằng, đời người không nên thuộc Thái Âm tọa mệnh, Thái âm lạc hãm thì càng không nên. Giống như người Thái dương tọa mệnh sinh vào ban đêm, cũng có hai điều không tốt như sau:

(1)- Bất lợi về lục thân phái Nữ, nam mệnh thì bất lợi về Mẹ, Vợ, con gái, nữ mệnh thì bất lợi về Mẹ và trưởng nữ. Bất lợi ở đây không nhất định là tử vong, có thể chỉ thuộc tình cảm không dung hợp, hoặc lục thân gặp nhiều nạn tai, bệnh tật.

(2)- Bản thân mệnh tạo cũng gặp nhiều nạn tai bệnh tật, nhất là bệnh ở thận và các cơ năng trọng yếu. Gặp Đà la thì sinh bệnh tật ở mắt, đặc biệt tinh hệ "Thái âm Thiên đồng" thì càng nghiệm.

Kết cấu tinh hệ Thái Âm ở 12 cung, ắt sẽ đồng độ hoặc đối nhau với Thiên đồng, Thái dương, Thiên cơ. Thái âm ở 4 cung Tý Ngọ Mão Dậu là tổ hợp "Thái âm Thiên đồng". Thái âm ở 4 cung Thìn Tuất Sửu Mùi là tinh hệ "Thái âm Thái dương". Thái âm ở 4 cung Dần Thân Tị Hợi là tổ hợp tinh hệ "Thái âm Thiên cơ". Thông thường trong các tình hình này, khá ưa "Thái âm Thiên đồng" của cung Tý, ưa Thái âm độc tọa của hai cung Tuất hoặc Hợi, hơi ngại Thái âm độc tọa ở cung Tị, "Thái âm Thiên đồng" của cung Ngọ. Những trường hợp kể trên, sẽ thuật rõ ở chương: "Luận về sáu mươi tinh hệ".

Thái âm biệt luận

Thái Âm lạc hãm cũng không đáng sợ

Thái âm tức là mặt Trăng. Trong Tử vi Đẩu Số, Thái âm và Thái dương là một cặp "sao đôi" rất hữu lực của Trung Thiên, không thuộc Nam Đẩu mà cũng không thuộc Bắc Đẩu.

Hễ là "sao đôi" thì đều có tính chất vừa tương đồng lại vừa tương dị. Thái âm chủ về "phú", Thái dương chủ về "quý", Thái âm chủ về Nữ, Thái dương chủ về Nam, Thái âm chủ về nhu, Thái dương chủ về cương, Thái âm chủ về thủy, Thái dương chủ về hỏa.

Cổ nhân cho rằng, Thái Âm có sự biến hóa rất lớn. Ở các cung Hợi Tý Sửu là nhập miếu, về cơ bản là mệnh tốt, ở các cung Tị Ngọ Mùi là lạc hãm, sẽ mang lại tai hại rất lớn. Cổ nhân nói: "Thái âm lạc hãm thì tổn thương vợ và mẹ", tức là bất lợi đối với người thân phái nữ, nếu là nữ mệnh thì nói: "là xướng kỹ tì thiếp, hình phu khắc tử". Thuyết này cổ nhân quá võ đoán. Đẩu Sô không đơn giản như vậy, Thái âm dù lạc hãm thì cũng phải gặp tứ sát tinh và Địa không Địa kiếp, hơn nữa còn phải có Sát tinh đồng cung, thêm vào đó cung Phúc đức và cung Thân cũng không tốt, thì mới xảy ra sự cố không vui vẻ, chứ chẳng phải như cổ nhân đã nói.

Ta lấy Thái âm thủ mệnh cư Ngọ làm thí dụ: Thái âm ở cung Ngọ là lạc hãm, đồng cung với Thiên đồng cũng lạc hãm. Chiểu theo thuyết của cổ nhân là "hóa cát thì thành hung, gặp sát tinh thì dâm tà", tức là nói nếu Thái âm và Thiên đồng mà hóa Lộc hóa Quyền hay hóa Khoa, thì ngược lại sẽ thành hung Cục, nếu còn gặp Hung - Sát tinh thì không còn gì để nói.

Nhưng trên thực tế thì không phải như vậy, có thể nói chẳng có chỗ nào đúng. Vương Đình Chi tôi từng đoán mệnh cho một nam một nữ, đều là người mệnh có "Thiên Đồng Thái Âm" thủ cung Ngọ, nam là một nhân vật quản lý cấp cao trong giới làm ăn kinh doanh, nữ là một chuyên gia trọng yếu của Cty quan hệ công cộng nổi tiếng. Nguyên nhân chủ yếu là vì bối cảnh khác nhau. Phàm là người có "Thiên đồng Thái âm" thủ mệnh ở cung Ngọ, đều có tính cách hướng nội, rất thích hợp với công tác nội vụ, đồng thời có tính kế hoạch rất mạnh, nhưng lại hay tưởng tượng. Tính cách này, ở xã hội cổ đại rất khó phát huy, còn ở xã hội hiện đại, thường có thể óc tưởng tượng mà sinh linh cảm, sau đó biến linh cảm thành kế hoạch. Hơn nữa các Cty hiện đại đều có một bộ phận vạch kế hoạch, nên người có kết cấu cung mệnh dạng này có thể phát huy sở trường của họ.

Thái Âm thủ mệnh, cần phải xem kèm cung Phúc đức

Cổ nhân luận đoán các tình hình Thái âm tọa thủ cung mệnh, chỉ căn cứ bối cảnh xã hội thời cổ đại, cho nên nhiều tư liệu ngày nay chỉ có thể dùng để tham khảo.

Ví dụ Thái Âm thủ mệnh ở cung Tuất, ánh sáng rực rỡ (thừa vượng), nhưng Phúc đức lại có Cự Môn ở cung Tý, cung Phúc đức chủ về tình trạng hưởng thụ tinh thần, Cự Môn tọa thủ cung Tý, ắt sẽ đối xung với Thiên Cơ, một khi gặp Sát tinh, sẽ dễ dẫn đến tranh chấp, khiến thân tâm đều bất an, làm sao "một đời vui vẻ"? Đây là do bối cảnh xã hội khác nhau gây nên sự khác biệt.

Lại như cổ quyết nói: "Thái âm ở cung Tý, thi cử đỗ đạt, làm quan cao, là người trung thành và ngay thẳng". Hễ Thái âm ở cung Tý, ắt sẽ đồng cung với Thiên đồng, cổ nhân xem Thiên đồng là "sao Phúc", khó tránh cổ nhân đã đánh giá quá cao. Nhưng phúc khí của Thiên đồng là phải nỗ lực mới có được, do đó cung Phúc đức càng quan trọng. Lúc Thái âm thủ mệnh ở cung Tý, cung Phúc nhất định là tinh hệ "Thái dương Cự môn" thủ cung Dần, nếu gặp sát tinh, chủ về tinh thần bị rắc rối khó xử, đồng thời vào thời điểm tranh chấp, dễ dùng thủ đoạn không chính đáng. Tình hình này nhất định sẽ ảnh hưởng đến sức kiên nhẫn và sự nỗ lực của Thiên đồng. Do đó cũng cần phải đánh giá lại luận đoán "Thái âm ở cung Tý, thi cử đỗ đạt, làm quan cao, là người trung thành và ngay thẳng".

Ở xã hội cổ đại mọi việc còn đơn thuần, dù Thái dương và Cự môn thủ cung Phúc đức có gặp sát tinh, cũng chủ về người này cần phải động não khi "nói năng" mà thôi, cho nên mới có thể thành "người trung thành và ngay thẳng". Xã hội ngày nay, áp lực cạnh tranh rất lớn, bức bác người có "Thái dương Cự môn" gặp sát tinh, thủ cung Phúc, phải "xuất chiêu quyền biến", làm sao "trung thành và ngay thẳng"? Cho nên, khi luận về Mệnh của người có "Thái âm thủ mệnh", cần phải xem kèm cung Phúc đức để đánh giá.

Tả hữu đồng cung cách

"Tả hữu đồng cung cách" tức là hai Phụ diệu Tử Phụ và Hữu Bật cùng tọa thủ ở cung Mệnh.

Cổ ca nói:

Mệnh cung Phụ Bật hữu căn nguyên

Thiên địa thanh minh vạn tượng tiên

Đức nghiệp nguy nhiên nhân ngưỡng kính

Danh tuyên kim điện ngọc giai tiền.

Dịch nghĩa:

Cung mệnh Phụ Bật là gốc rễ

Trời đất sáng sủa vạn vật tươi

Đức nghiệp lớn lao người kính ngưỡng

Tên được tuyên truyền trước điện ngọc.

Cách này là dựa vào thuyết của người đời Nguyên, như sau: "Tử phụ Hữu bật suốt đời nhiều phúc" (Tử phụ Hữu bật, chung thân phúc hậu) ; "Tả Hữu đồng cung, khoác áo lụa tía" (Tả Hữu đồng cung, phi la y tử). Bởi vì cổ nhân cho rằng, Tử Phụ và Hữu Bật là phụ tá của Hoàng đế, do đó đương nhiên tuyên danh ở điện vàng, thân đứng trước thêm ngọc.

Nhưng, phàm người sinh tháng 4, thì Tả Phụ và Hữu Bật nhất định đồng độ ở cung Mùi ; người sinh tháng 10 thì Tả Phụ và Hữu Bật nhất định đồng độ ở cung Sửu, như vậy người sinh tháng 4 và tháng 10 nhất định làm quan hết sao? Nếu vậy, chẳng phải là có quá nhiều người làm đại quan?

Thực ra thì không phải vậy, Tử phụ Hữu bật tuy trung hậu, tinh thông chữ nghĩa, nhưng dựa vào tính chất của Phụ tá mà nói, bất quá chỉ là mạng thư ký trợ lý mà thôi. Bởi vì trong một cơ cấu, Tổng Giám đốc giống như Vua, tính chất của Tả phụ Hữu bật chỉ là trợ thủ cơ yếu.

Cổ nhân nói "Tả Hữu đồng cung cách" sợ Hỏa tinh và Hóa Kị ở tam phương xung phá, như vậy là phá Cách. Đây là vì xã hội cổ đại vốn không có "thư ký trợ lý", ngày nay thì khác, đây giống như nhân viên trợ lý hay phụ tá. Nhưng điều quan trọng nhất vẫn là hội ngộ với Chính diệu.

Nếu Chính diệu (nên sửa lại là Phụ diệu, tức là Tả Hữu) đồng cung với Liêm trinh, thêm Kình dương, lại gặp Hóa Kị, thì người này thậm chí có thể là kẻ lường gạt, người trong xã hội đen.

Tả Phụ thuộc dương thổ, Hữu Bật thuộc dương thủy.

Tính chất cơ bản của chúng là trợ lực đến từ những người ngang vai hoặc vãn bối: như đồng sự, người dưới quyền, bạn hợp tác, bạn học, môn sinh đệ tử. Khác với tính chất của Thiên khôi và Thiên việt chủ về trợ lực đến từ bậc trưởng bối, hoặc cấp chủ quản.

Tả Phụ và Hữu Bật cũng ưa hình thức "sao đôi" hội nhập một cung, nhất là ở cung viên lục thân. Nếu là "sao lẻ" thì chủ về cha con dòng thứ, hoặc cha mẹ "lưỡng trùng", anh em khác dòng, con cái khác dòng, hai lần hôn nhân, nhưng phải có các sao "đào hoa", hoặc tứ sát tinh hội hợp mới đúng.

Tả Phụ mạnh hơn Hữu Bật. Cho nên Hữu bật ở cung mệnh hội hợp với Tả phụ, thường thường không bằng Tả phụ ở cung mệnh hội hợp với Hữu bật, trợ lực kém hơn.

Tả Phụ và Hữu bật đều chủ về "lạc quan", "khoan dung", "đôn hậu". Cho nên dù chính diệu của cung mệnh có sắc thái lạnh lùng, hà khắc, hoặc bi quan tiêu cực, nếu có Tả Hữu hội hợp, thì cũng giảm nhẹ nhược điểm này.

Tả phụ và Hữu bật rất ưa giáp các chủ tinh, như Tử vi, Thiên phủ, Thái dương, Thái âm. Hội hợp ở tam phương cũng Cát, có thể phát huy trợ lực của nó.

Tả phụ và Hữu bật rất ghét như Thiên đồng, Thiên lương, Thiên cơ, Cự môn, Vũ khúc. Với Thiên lương thì không kiềm chế, với Thiên đồng thì hưởng thụ, với Thiên cơ thì giỏi quyền biến, với Cự môn thì thị phi, với Vũ khúc thì dức khoát, những tính chất này đều không hợp với bản chất của Tả Phụ và Hữu Bật. Tuy nhờ hội hợp với Tả Hữu sẽ giảm nhẹ nhược điểm của chúng, nhưng trợ lực cũng vì vậy mà yếu đi.

Lúc tính chất của tinh hệ xung đột quá nặng với bản chất "chất phác", "khoan dung", "đôn hậu" của Tả Hữu, thì sẽ chủ về nội tâm xảy ra mâu thuẫn xung đột, sẽ nổi lên sóng gió, trắc trở, và các áp lực tình huống khó xử trong cuộc đời.

Tả phụ và Hữu bật chủ về trợ lực "tiên thiên", như dễ kết giao bạn bè, dễ được người dưới quyền giúp sức, mà không cần có ý đi tìm. Nhưng nếu chỉ có "sao lẻ" hội hợp hoặc đồng độ, thì dù có nhiều người dưới quyền cũng chủ về thiếu trợ lực.

Lợi dụng tính chất này, nhiều lúc có thể giúp cho việc luận giải cung mệnh. Như Thất sát an mệnh ở cung Dần hoặc cung Thân, thành cách "Thất sát triều đẩu", "Thất sát ngưỡng đẩu", nếu gặp Tả phụ Hữu bật, sẽ chủ về có nhiều người dưới quyền, mà còn có tài lãnh đạo. Nhưng nếu chỉ gặp "sao lẻ" hoặc là Tả phụ hoặc là Hữu bật, thì có thể chỉ là người quản lý đại diện.

Cung Phu Thê gặp Tả Hữu, cần phải định đó là trợ lực cho hôn nhân, hay là có người thứ ba xen vào. Tình hình thông thường là, gặp "sao lẻ" (nhất là Hữu bật) thì chủ về có người thứ ba.

Nếu gặp Hỏa tinh, Kình dương, thì đoán trong hôn nhân có xảy ra thay đổi, hoặc trước hay sau hôn nhân có tình huống sa chân lỡ bước. Nếu chính diệu là các tinh hệ: "Liêm trinh lạc hãm", "Thiên lương Thiên đồng", "Thiên cơ Cự môn", "Vũ khúc", thì lại chủ về "bi kịch tình yêu", gặp nhiều sóng gió, trắc trở, hay nhiều nỗi khổ tâm đau khổ trong lòng. Nếu lại gặp Văn xương Văn khúc thì cũng chủ về "bi kịch tình yêu", nhưng có thi vị lãng mạn.

Nếu cung Mệnh và cung Phu Thê chia ra có Tả phụ và Hữu bật, mà còn gặp sát tinh, thì hôn nhân không tốt đẹp, phần nhiều thành oán hận nhau. Nếu cung Thân là cung Phu Thê, không gặp sát tinh, sẽ chủ về được vợ trợ giúp.

Cung Huynh đệ gặp Tả Hữu, có lúc chủ về số anh em tăng lên. Như tinh hệ "Tử vi Tham lang" đồng độ, chủ về có 3 anh em, khi gặp thêm Tả Hữu thì sẽ chủ về 5 người, nếu lại có thêm Thiên khôi Thiên việt là 7 người.

Muốn biết cụ thể tăng hay giảm, cần phải xem Tả phụ Hữu bật là miếu, bình, hãm, như thế nào để điều tiết, khi nhập miếu thì tăng lên nhiều, khi lạc hãm thì giảm bớt nhiều.

Cung Tử Tức chỉ gặp Tả phụ hoặc Hữu bật, chủ về sinh gái trước hay sinh trai trước. Tả phụ thuộc dương, tính chất rõ ràng.

Cung Tử tức gặp Tả Hữu, rất khó định là được con cái hay người dưới quyền trợ lực, mà chỉ chủ về có nhiều con cái. Trong các tình hình thông thường, lấy tinh hệ chính diệu của cung viên làm chuẩn. Như cung Tử tức có tinh hệ "Thiên cơ Cự môn", phần nhiều chỉ chủ về có nhiều thuộc hạ, nhưng lại thường hay thay đổi người. Xem con cái thì Tả Hữu sẽ chủ về tăng nhiều con, mà không chủ về trợ lực, vì vậy mà bản thân tinh hệ "Thiên cơ Cự môn" sẽ không có trợ lực.

Tả Phụ và Hữu Bật có Hỏa tinh, Kình dương hội hợp, thì sẽ tiêu trừ khuyết điểm của nhau, cũng giống như lửa nóng luyện kim để thành vật dụng. Nhưng nếu chỉ gặp "sao lẻ" một là Tả phụ hoặc một là Hữu bật, thì âm dương mất điều hòa, cũng giống như lò nấu vàng bị vỡ, xảy ra trở ngại.

Linh tinh và Đà la cung hội hợp với Tả Hữu, phần khuyết điểm cũng có thể được tiêu trừ, mà trở nên đắc dụng. Nhưng nếu chỉ gặp "sao lẻ" như Hữu bật, thì quá âm nhu, âm dương mất điều hòa, sẽ khiến đời người nhiều sóng gió trắc trở.

Dưới đây là một số tính chất của kết cấu Tả Phụ và Hữu Bật:

1)- Tả phụ và Hữu bật giáp hai cung Sửu hoặc Mùi. Tinh hệ chính diệu được giáp cung nhờ vậy mà có trợ lực khá lớn. Dù các sao sát - kị được giáp cung, cũng sẽ nhuyễn hóa các nhân tố bất lợi thành nhân tố có lợi. Như tinh hệ "Vũ khúc tham lang" ở cung Sửu, Tham lang hóa Kị, chủ về dễ dẫn đến tranh đoạt lợi ích, nhưng khi có Tả phụ hữu bật giáp cung, thì có thể nhuyễn hóa thành lợi ích được chia mỏng ra cho hai bên, tính chất khác nhau rất lớn.

Các tinh hệ như "Tử vi Tham lang", Thiên phủ, "Thái âm Thái dương", rất ưa Tử phụ và Hữu bật giáp cung, chủ về tăng cao địa vị xã hội, cũng làm tăng sự ổn định của đời người. Rất ưa có Long trì, Phượng các đồng thời giáp cung, sức mạnh càng tăng, còn chủ về là người có tài nghệ.

2)- Tả phụ và Hữu bật cùng đồng độ ở hai cung Sửu hoặc Mùi, tinh hệ chính diệu cũng được tăng mạnh sự trợ lực.

3)- Tả phụ và Hữu bật vây chiếu ở hai cung Thìn hoặc Tuất, cũng thành kết cấu có trợ lực khá lớn. Trong các tình hình thông thường, các sao ở cung Thìn hoặc Tuất là rơi vào "thiên la địa võng", nhưng có Tả phụ và Hữu bật vậy chiếu, sẽ chủ về có trợ lực thúc đảy thành đột phá. Nếu có thêm Long trì Phương các vây chiếu, cũng chủ về là người có tài nghệ, hoặc tăng cao địa vị xã hội.

4)- Khi chỉ gặp Tả phụ, hoặc chỉ gặp Hữu bật, nếu ở cung mệnh lại là tinh hệ vô chính diệu, "mượn sao an cung" là các tinh hệ "Thiên đồng Cự môn", "Thái dương Thiên lương", "Thiên cơ Thái âm", "Thiên cơ Cự môn", "Thiên đồng Thái âm", sẽ chủ về còn nhỏ đã chia ly với gia đình, xa cha mẹ, làm con nuôi của người khác, hoặc là con dòng thứ.

Nếu Liêm trinh hóa Kị, có Kình dương đồng độ, mà chỉ gặp Tả phụ, hoặc chỉ gặp Hữu bật, sẽ chủ về có khuynh hướng đạo tặc, bất kể giầu có hay nghèo nàn, đều như vậy.

Tử Phủ đồng cung cách

"Tử Phủ đồng cung cách" tức an mệnh ở cung Dần hoặc Thân, trong cung có Tử Vi cà Thiên Phủ đồng tọa.

Cổ ca nói:

Đồng cung Tử Phủ quý sinh nhân

Thiên địa thanh minh vạn tượng tân

Hỷ ngộ Dần Thân đồng đắc địa

Thanh danh lỗi lạc động kiền khôn.

Dịch nghĩa:

Tử Phủ đồng cung sinh quý nhân

Trời đất tươi sáng vạn vật tân

Ưa gặp Dần Thân cùng đắc địa

Tiếng tăm lỗi lạc động khôn kiền.

Đây là cách rất đáng thảo luận. Tử vi là chủ tinh Bắc Đẩu, hơn nữa Tử vi còn chủ về "quý", Thiên phủ chủ về "phú", xem ra đây là một kết cấu hoàn mỹ, không tỳ vết, hai chủ tinh tự thành Cách tốt.

Có biết vấn đề lại ở chỗ "hai chủ tinh đồng cung"! Dùng câu "một núi không thể có hai cọp" để hình dung thì dường như hơi quá đáng, nhưng tính chất mâu thuẫn giữa Tử vi và Thiên phủ lại có thể ảnh hưởng đến cảnh ngộ của cả một đời người.

Tử vi sở trường về sáng tạo, nhưng Thiên phủ lại có khuynh hướng bảo thủ. Tử vi có thể phát triển sự nghiệp mới, nhưng Thiên phủ chỉ giỏi về thủ thành, đây là những tính cách mâu thuẫn của hai sao. Thêm vào đó, tài lãnh đạo của Tử vi có khuynh hướng về uy tín, còn Thiên phủ chỉ khư khư giữ kiểu mẫu cũ để điều hòa. Vì vậy, về phương diện tài năng lãnh đạo cũng bị hai tính chất này gây cản trở, quấy rối nhau, không thể tạo uy tín, mà cũng không thể điều hòa người dưới quyền.

Cổ nhân đánh giá Cách này quá cao, do đương thời xã hội quan liêu, có chút danh vọng địa vị, đối với chính sự có thể vờ vịt làm cho qua, còn sợ mất chức. Còn xã hội ngày nay thì chú trọng đến trình độ và tài năng sáng tạo thực tế, do đó cách "Tử Phủ đồng cung" chỉ có thể đảm nhiệm vai trò chủ quản một bộ phận nhỏ mà thôi.

 Đọc thêm về Tử Phủ đồng cung cách

------------------------------------------------

LUẬN VỀ SÁU MƯƠI TINH HỆ

"Tử vi Thiên phủ" ở hai cung Dần hoặc Thân

"Tử vi Thiên phủ đồng độ ở hai cung Dần hoặc Thân, đối cung là Thất sát, cung tam hợp là Vũ khúc độc tọa, và "Liêm trinh Thiên tướng".

Muốn luận đoán bản tính của nhóm sao "Tử vi Thiên phủ" này, cần chú ý xem chúng là chủ động hay bị động. "Tử vi Thiên phủ" thuộc về tính chủ động thì "công" hay "thủ" đều được, nếu mang sắc thái bị động, thì dễ có phản ứng sai lầm, tiến thoái không hợp thời cơ.

Lấy bản thân "Tử vi Thiên phủ" để nói, thực ra tinh hệ này đã mang tinh chất mâu thuẫn. Tử vi giỏi khai sáng, Thiên phủ giỏi phòng thủ, hai sao ở trong một hệ, nếu tính chất quân bình, đương nhiên vừa có thể công và vừa có thể thủ. Nhưng nếu tính chất thiên nặng một bên, như thiên về Tử vi, thì sẽ bị Thiên phủ gây lụy, lúc đó cần tiến mà không giám tiến. Nếu thiên về Thiên phủ, thì sẽ bị Tử vi gây ảnh hưởng, cần lui lại không chịu lui, lúc đó mọi việc sẽ rơi vào thế bị động, chỉ có thể dùng toàn lực để ứng phó với hoàn cảnh khách quan.

Thất sát và Vũ khúc ở "tam phương tứ chính" đều có thiên hướng nặng tính chất của Tử vi, lúc nào cũng tranh thủ chủ động. Đặc biệt là khi Vũ khúc hóa Khoa, dễ phối hợp với Thiên phủ, tuy chủ động nhưng không khiến sự mẫu thuẫn của hai sao "Tử vi Thiên phủ" quá nặng nề, chỉ cần hệ sao "Liêm trinh Thiên tướng" không bị Hỏa tinh Linh tinh xâm phạm quấy nhiễu, về cơ bản có thể coi "Tử vi Thiên phủ" thuộc loại có tính chất quân bình.

Nếu Vũ khúc độc tọa hóa làm sao Quyền, khiến tăng sắc thái chủ động của Tử vi, tuy vậy tinh hệ "Tử vi Thiên phủ" chưa chắc đã mất quân bình, nhưng sóng gió trắc trở trong đời người, thì vẫn sẽ lớn hơn lúc Vũ khúc hóa Khoa. Bất kể là nam hay nữ mệnh, trong khoảng trước sau khoảng 30 tuổi, phần nhiều sẽ phải trải qua một lần bị trở ngại, là trở ngại về tình cảm hay trở ngại về vật chất, thì cần phải xem xét tổ hợp sao thực tế của đại hạn mà định tính chất cụ thể.

Nếu Vũ khúc hóa Lộc, tính chất đồng khí với Thiên phủ, nhưng cũng lợi cho Tử vi có tính khai sáng, cho nên về cơ bản thuộc loại công hay thủ đều được. Có điều cần phải có Lộc tồn đồng thời bay vào cung độ của "Tử vi Thiên phủ", mới có thể hóa giải khí "cô độc và hình khắc" của Vũ khúc. Vận không có Lộc tồn, thì mệnh tạo thủa nhỏ khá gian khổ.

Nếu tính chất cơ bản của tinh hệ "Liêm trinh Thiên tướng" thiên về Thiên phủ, lúc tinh hệ "Liêm trinh Thiên tướng" thành cách "Hình Kị giáp ấn", sẽ làm mạnh thêm tính bảo thủ của Thiên phủ. Sau trung niên, sự nghiệp đã có sơ sở, thì không nên nghĩ đến việc thay đổi nữa, nếu không sẽ gây ra thất bại. Hoặc sau trung niên bỗng nảy sinh tình huống rắc rối khó sử về tình cảm, sẽ bất lợi về đời sống vợ chồng.

Lúc "Liêm trinh Thiên tướng" thành cách "Tài Ấm giáp ấn", sức phòng thủ càng mạnh, đồng thời sẽ xảy ra tình trạng thay đổi tình cảm, là vì dùng tiền bạc để đo lường. Trong lúc "Tử vi Thiên phủ" đang bị sát tinh quấy nhiễu gây khó khăn, nếu không an phận giữ mình, về phương diện tình cảm hay vạt chất sẽ đều có thể bị trở ngại. Nhất là người thủa nhỏ quá được nuông chiều, sinh hoạt vật chất quá dư giả, thì trở ngại càng lớn.

"Tử vi Thiên phủ" thủ cung lục thân, đều dễ có những khuyết điểm đáng tiếc, như có hai mẹ, hai lần hôn nhân, nếu thủ cung Nô thì cũng mang ý vị thường hay thay đổi bạn. Đây là vì tính chất của Tử vi và Thiên phủ khó có trạng thái cân bằng tuyệt đối. Một khi mất quân bình, mà còn hơi gặp các sao sát - hình, thì dễ biến thành tính chất không lành. Tình hình cụ thể xin đọc lại ở phần 1.

Lúc "Tử vi Thiên phủ" đến cung hạn Thiên cơ độc tọa, sẽ không chủ về biến động thay đổi trong thực tế, mà là chủ về biến động thay đổi trong tư tưởng. Nếu tinh hệ "Tử vi Thiên phủ" có tính chất mất quân bình, đến cung hạn này, thì tính chất của Thiên cơ lại làm mạnh thêm sắc thái mất quân bình, dễ biến thành thâm căn cố đế, có thể ảnh hưởng đến hậu vận.

Ví dụ như nữ mệnh "Tử vi Thiên phủ" của nguyên cục hội hợp với Liên trinh hóa Kị (can Đinh), do đó Thiên phủ chịu ảnh hưởng, dễ trở thành thờ ơ, tiêu cực. Lúc "Tử vi Thiên phủ đến cung hạn Thiên cơ độc tọa, càng dễ rời vào tình trạng chọn lựa kiểu tạm bợ, hoặc nhìn thấy mọi việc có vẻ có vẻ như đang thuận lợi toại ý, dù có ý thay đổi hiện thực thì cũng thiếu dũng khí thay đổi trong thực tế. Sau 10 năm hết vận hạn này, lúc đến vận hạn sau, càng mất hùng tâm trong sự nghiệp. Nhiều lúc thấy ngược lại, một số nữ mệnh, đại hạn có Lộc Quyền Khoa hội hợp, bản thân lại là chủ gia đình, là do nguyên nhân này.

Một thí dụ khác, nam mệnh "Tử vi Thiên phủ" của nguyên cục có Kình dương Đà la chiếu xạ, đặc biệt lúc Vũ khúc "cô kị" đồng độ với Đà la (can Nhâm Lộc tại Hợi), hoặc tinh hệ "Liêm trinh Thiên tướng" thuộc loại "không ưa kích thích" đồng độ với Kình dương (can Bính Mậu), khi "Tử vi Thiên phủ" đến hạn Thiên cơ độc tọa, sẽ thường dễ bị sợ gian nan, mà chọn sai hướng đi trong cuộc đời.

Nếu đại hạn là Thiên cơ hóa Lộc (can Ất), thì thích hợp với "Tử vi Thiên phủ" có tính chủ động. Nếu Thiên cơ hóa Khoa thì trái lại, sẽ thích hợp với "Tử vi Thiên phủ" có tính bị động. Bởi vì gặp sao Lộc là lợi về tranh thủ, gặp sao Khoa thì nên giữ gìn danh dự.

Cung hạn Phá quân hóa Lộc hay hóa Quyền, đều có lợi đối với "Tử vi Thiên phủ" có tính chủ động, nhưng không nên đặt ra lý tưởng quá cao, một khi gặp cơ hội tốt thì từ đó vạn tốt sẽ đến liên tiếp, nếu không, ắt sẽ vì lý tưởng quá cao mà bị trở ngại.

Nếu cung hạn Phá quân có Kình dương Đà la hội chiếu, thì trái lại, thích hợp với "Tử vi Thiên phủ" có tính bị động, nên từ từ khoan tiến tới, để xoay chuyển dần thế xấu. Nếu bị người khác ảnh hưởng, gấp gáp thay đổi sẽ thất bại. Vì vậy lúc đến cung hạn này, phải thận trọng trong việc trọn người hợp tác làm ăn.

Cung hạn Thái dương nhập miếu, thích hợp với "Tử vi Thiên phủ" có tính chủ động, lạc hãm thì nên là "Tử vi Thiên phủ" có tính bị động.

Cung hạn Thái dương nhập miếu, thích hợp với "Tử vi Thiên phủ" có tính chủ động, cũng chủ về "danh" lớn hơn "lợi", hoặc nhờ danh tiếng mà có tài lộc. Nếu Thái dương hóa Kị, thì nên thận trọng trong việc đầu tư. Nếu Thái dương hóa làm sao Quyền hay sao Lộc, thì "Tử vi Thiên phủ" thuộc tính chất nào cũng đều là đại hạn hoặc lưu Niên thuận lợi toại ý.

Cung hạn Vũ khúc độc tọa, thông thường lợi cho "Tử vi Thiên phủ có tính chủ động đến. Có điều Vũ khúc của nguyên cục hóa Kị (can Nhâm), thì Tử vi đồng thời cũng hóa Quyền, như vậy tính chủ động của "Tử vi Thiên phủ" quá mạnh, kết cấu dạng này chỉ có lợi đối với nam mệnh, mà bất lợi đối với nữ mệnh, nữ mệnh sẽ làm tăng tính chất cô độc và hình khắc, mà còn quá chủ động. Còn nam mệnh lúc đến cung hạn Vũ khúc hóa Kị, sẽ không thay đổi tình trạng lực bất tòng tâm, tắc vẫn có thể duy trì tình trạng đã đạt được.

Cung hạn Thiên đồng độc tọa, đối với "Tử vi Thiên phủ" là thuộc loại trung tính. Bất kể Tử Phủ là chủ động hay bị động, Thiên đồng cũng đều nên cát hóa thành Khoa Quyền Lộc (vì Thiên đồng không có Hóa Kị). Nếu gặp các sao Hình - Kị, nhất là Cự môn hóa Kị đến gặp Thiên đồng, thì Tử Phủ dễ bị tình trạng tự mình tìm sự vất vả, tự làm mình rơi vào tình huống rắc rối khó xử. Lưu niên mà gặp nó (can Đinh), thì đây là năm "lòng dạ thay đổi", gặp thêm các sao đào hoa thì càng nghiệm. Nếu các sao Sát - Hình trùng trùng, thì vì "thay lòng đổi dạ" mà ảnh hưởng đến tiền bạc và sự nghiệp. Nếu lại gặp Văn khúc khóa Kị đến hội (can Kỷ), thì đây là "đào hoa kiếp" thuộc loại nghiêm trọng.

Cung hạn Thất sát độc tọa, không nhất định sẽ xảy ra thay đổi, cần phải gặp Lộc tồn và Thiên mã giao hội, mới chủ về vì hoàn cảnh khách quan nên buộc phải thay đổi. Vì vậy Tử Phủ có tính bị động mà đến cung hạn này, cần phải có Lộc tồn, Thất sát, Thiên mã hội hợp, mới chủ về có biên động thay đổi. Biến động thay đổi tốt hay xấu, phải xem các sao hội hợp với đại hạn hoặc lưu niên mà định. Rất ưa gặp Phá quân hóa Quyền (can Quý), đương nhiên đây sẽ là năm mang tính khai sáng, có thể tranh thủ chủ động.

Tử Phủ thông thường không ưa đến cung hạn Thiên lương tọa thủ, bởi vì Thiên lương không có tính chất lãnh đạo. Nếu đại hạn mà gặp nó, thì không có trở ngại gì lớn, chỉ chủ về thoái lui phòng thủ, lúc này đã là vận "già" của tinh hệ "Tử vi Thiên phủ". Nếu lưu niên mà đến cung hạn Thiên lương tọa thủ, có các sao Sát - Kị đến hội, phần nhiều thấy tình thế có vẻ như đang thăng tiến, nhưng thực sự thì lại đang thụt lùi. Nhưng lúc Thái dương nhập miếu, mà còn được cát hóa, thì lại có lợi về cạnh tranh, không phải là điềm ứng thụt lùi.

Cung hạn Liêm Tướng không nên có sao Hình - Kị đến, Tử Phủ có tính chủ động hay bị động mà đến cung hạn này, đều sẽ gặp tình huống đình trệ, bị kiềm chế. Nếu "Tài Ấm" đến giáp cung, thì chỉ nên lùi về địa vị "phó", dù trên thực tế đảm nhiệm công tác lãnh đạo, thì cũng không nên nhận chức danh lãnh đạo.

Gặp Liêm trinh hóa Lộc, cần chú ý không được xuất đầu lộ diện, phô trương tài năng.

Vận hạn Cự môn độc tọa, chỉ cần không hóa Kị, lại có Thái dương vượng cũng chiếu, thì Tử Phủ thuộc tính chất nào đến cũng đều có lợi. Nếu gặp Khoa Quyền Lộc, thì đây sẽ là năm được xứ khác (hay người ngoại quốc) đề bạt, hoặc lợi về hợp tác với người nước ngoài. Nữ mệnh thì nên đề phòng rắc rối về tình cảm. Nam mệnh nếu cung Phúc đức gặp đào hoa, thì dễ thay đổi tình cảm, có người tình khác.

Cung hạn Tham lang độc tọa, nếu hóa làm sao Kị (can Quý), rất có lợi cho Tử Phủ có tính chủ động đến, lúc này biến thành vận trình theo đuổi lý tưởng. Nếu là Tử Phủ có tính bị động đến hạn này, trái lại, sẽ đánh mất cơ hội.

Nếu đại hạn hoặc lưu niên gặp Tham lang, Hỏa tinh, Hóa Lộc, mà Tử Phủ có tính bị động đến sẽ dễ bị thất chí, một khi vào vận tốt sẽ không còn ý đồ tiến thủ, cuối cùng dẫn đến thất bại.

Tử Phủ nên đến cung hạn Thái âm nhập miếu, nếu Thái âm lạc hãm thì không nên. Có lợi đối với Tử Phủ có tính bị động, Tử Phủ có tính chủ động thì hơi kém hơn. Có điều, nếu Thái âm hóa Kị, thì Tử Phủ mà đến đại hạn hoặc lưu niên này, dễ vì say sưa đắc ý, quên mất tình hình thực tế mà đầu tư, dẫn đến thất bại. Thái âm phải hóa làm sao Lộc, sao Quyền, thì mới có thể phát triển lớn được.

Đến đây, đơn cử một ví dụ Tử Phủ ở cung Phu thê cư Thân, cung mệnh là Tham lang cư Tuất, người sinh năm Kỷ, thì Tham lang hóa Quyền đối nhau với Vũ khúc hóa Lộc. Tử Phủ hội hợp với Vũ khúc hóa Lộc mà không có Lộc tồn điều hòa, nên Vũ khúc mang tính "cô độc và hình khắc", các sao của cung mệnh lại mang tính tích cực. Đến đại vận Đinh Sửu, cung Phu thê của đại vận là Cự môn độc tọa hóa Kị ở cung Hợi, còn năm Bính Dần thì cung Phu thê của lưu niên là Liêm Tướng, hóa Kị, Kình dương Đà la cùng chiếu, lại gặp Linh tinh, chủ về người chồng bị mắc bệnh gan rất nặng vào năm đó.

 Phủ Tướng triều viên cách

"Phủ Tướng triều viên cách" tức là hai sao Thiên Phủ và Thiên Tướng hội chiếu cung mệnh. Thêm vào đó, cung mệnh cư Ngọ, Thiên phủ cư Tuất, Thiên tướng cư Dần, là lấy kết cấu "Phủ Tướng triều viên cách".

Cổ ca nói:

Mệnh viên phủ tướng đắc câu phùng

Vô sát thân đương thị thánh quân

Phú quý song toàn nhân cảnh ngưỡng

Nguy nguy hiển nghiệp mãn kiền khôn.

Dịch nghĩa:

Cung mệnh gặp đủ sao Phủ Tướng

Không có sát tinh Thân hầu vua

Phú quý song toàn người ngưỡng mộ

Đức nghiệp lớn lao khắp đất trời.

Thiên phủ là chủ tinh Nam Đẩu, cổ nhân gọi là "Ti mệnh thượng tướng" (Thượng tướng cai quản mệnh lệnh), "Trấn quốc chi tinh" (Sao chấn quốc), chuyên giữ kho tiền.

Thiên tướng là "ấn tinh" (sao ấn), người xưa gọi là "Ti tước chi tinh" (Sao cai quản chức tước).

Cho nên Thiên tướng và Thiên Phủ trở thành một cặp "Thần cai quản tước lộc". Trong Đẩu Số, có một số sao thường phải gộp thành cặp để xem, gọi là "sao đôi", "Phủ Tướng" là một cặp sao quan trọng trong số đó. Người xưa nói: "phùng Phủ khán Tướng" (gặp Thiên phủ phải xem Thiên tướng) chính là ý này.

Thiên Phủ ở trong 12 cung vốn ít bị lạc hãm, nhưng Thiên phủ của "Phủ Tướng triều viên cách" thì lại không ưa tọa ở 4 cung Tị Hợi Sửu Mùi, đây là do Thiên tướng lạc hãm ở hai cung Mão Dậu, cho nên Thiên phủ ở cung Hợi hoặc cung Mùi liên đới hội hợp với cung Mão, Thiên phủ ở cung Tị hay cung Sửu, liên đới hội hợp với cung Dậu, tính chất đều thành hơi thiếu lực.

Kết cấu tốt nhất của "Phủ Tướng triều viên cách" là thiên tướng ở cung Tý, Thiên phủ ở cung Thân; Thiên tướng cư cung Ngọ, Thiên phủ ở cung Dần, Thiên tướng cư cung Thân, Thiên phủ ở cung Thìn.

Thiên Phủ lấy trường hợp không độc tọa làm cách cục tốt, chủ về người tính tình công chính, nếu không sẽ dễ trở thành gian giảo. Có điều, gian giảo ở đây thực ra cũng chỉ là mạng làm ăn kinh doanh ngày nay mà thôi.

(Nguồn: sưu tầm)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Phân tích 51 cách cục thường gặp

"Nghĩ khác đi" chính là cách giúp bạn biến điều không thể thành có thể

Chỉ bằng cách nghĩ khác đi, tiếp cận một vấn đề theo phương thức gốc rễ thì sẽ giúp bạn biến điều không thể thành có thể, giải quyết những điều nan giải
"Nghĩ khác đi" chính là cách giúp bạn biến điều không thể thành có thể

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Hãy nghĩ khác đi, bởi con người ta luôn vì lợi ích trước mắt mà quên đi cái lâu dài, vì được mất của bản thân mà không quan tâm tới tập thể. Chỉ bằng cách dung hòa lợi ích giữa mọi người, mới có thể giải quyết được rất nhiều vấn đề tưởng như không thể.

1. Những chiếc dù đạt chuẩn 100%

Trong Thế chiến II, chiếc dù của không quân Mỹ có tỉ lệ đạt tiêu chuẩn 99,9%. Từ tỉ lệ này có thể nói, cứ 1000 binh lính nhảy dù thì sẽ một người tử vong bởi 1 chiếc dù không đạt tiêu chuẩn. Vậy nên, quân đội đã yêu cầu xưởng gia công bằng mọi cách phải làm cho tỉ lệ này đạt tới tiêu chuẩn 100% mới được.

Người phụ trách xưởng nói rằng họ đã cố gắng hết sức, tỷ lệ 99,9% là vượt giới hạn rồi, trừ phi xuất hiện kỳ tích.

Lúc này, quân đội chợt nghĩ khác đi, thay đổi quy trình kiểm tra, mỗi lần trước khi giao hàng thì tùy ý chọn ra một vài cái trong đó để cho người phụ trách xưởng nhảy dù trước. Từ đó, kỳ tích xuất hiện, tỉ lệ đạt chuẩn của dù đã lên được 100%.

2. Vận chuyển tù nhân và phương thức trả tiền

Sau khi châu Úc trở thành thuộc địa của Anh, vì nơi đây còn hoang vắng, chưa được khai phá, nên chính phủ đã khuyến khích người dân Anh di cư đến châu Úc.

Lúc đó, châu Úc rất lạc hậu, không có ai muốn đi. Chính phủ Anh quốc đã nghĩ ra một biện pháp đó là đưa tội phạm đến châu Úc. Điều này vừa giải phóng cho nhà giam, vừa tạo ra nguồn lao động ở châu Úc; hơn nữa, còn giúp họ loại bỏ những người xấu, nước Anh sẽ trở nên tốt đẹp hơn.

Bởi vậy, chính phủ Anh quốc đã thuê các hãng thuyền tư nhân chuyên chở những phạm nhân đến Úc, và dựa vào số người lên thuyền mà trả tiền. Chuyên chở nhiều thì kiếm được nhiều tiền.

Tuy nhiên, chính phủ nhanh chóng nhận ra giải pháp này thực sự rất tai hại. Cách thức trả tiền như vậy khiến tỉ lệ tử vong của tội phạm rất cao, bình quân vượt quá 10%; đặc biệt có chiếc thuyền, tỉ lệ tử vong nghiêm trọng, lên đến 37%.

Những quan chức chính phủ vắt hết óc để nghĩ ra cách giảm tỉ lệ tử vong xuống trong quá trình vận chuyển, bao gồm cả việc phái nhân viên lên thuyền giám sát, hạn chế số người lên thuyền… Nhưng tình hình cũng không giảm xuống bao nhiêu.

Cuối cùng, họ đã nghĩa khác đi, tìm ra được một phương pháp tối ưu, có thể nói là “một lần vất vả suốt đời nhàn nhã”. Họ chỉ cần thay đổi phương thức trả tiền một chút, tức là: “Không căn cứ số người lên thuyền để trả tiền mà là căn cứ theo số người sống sót rời thuyền để trả tiền”. Vì thế, chủ tàu chỉ có thể làm mọi cách để đưa tội phạm còn sống sót đến được châu Úc, thì mới kiếm được tiền chuyên chở.

Chính sách vừa mới ra thì tỉ lệ tội phạm tử vong giảm xuống còn khoảng chừng 1%. Về sau, chủ tàu vì muốn tăng cao tỉ lệ sống sót còn bố trí cả bác sĩ trên thuyền.

3. Giải pháp chia cháo công bằng

Có 7 người ở cùng một chỗ, mỗi ngày được phát cho một thùng cháo lớn. Thế nhưng cháo mỗi ngày đều không đủ cho tất cả. Lúc đầu, họ bốc thăm để chọn ai là người phân chia cháo, mỗi ngày luân phiên nhau. Kết quả, mỗi tuần họ chỉ có một ngày ăn no bụng, bởi vì người nào phân cháo thì sẽ lấy phần nhiều cho mình, ăn no bụng mình trước.

Về sau, chọn ra một người có đạo đức tốt để phân chia cháo nhưng vấn đề vẫn không giải quyết được. Người nắm hết quyền hành trong tay, lại không có sự ước chế, tất sẽ sinh ra mục nát. Mọi người bắt đầu nghĩ cách để nịnh nọt người đó, câu kết với nhau, khiến cho cả nhóm đó bẩn thỉu xấu xa.

Cuối cùng, họ nghĩ khác đi: Cũng là thay phiên nhau phân chia cháo, nhưng người phân chia cháo phải đợi những người khác lấy hết phần của họ trước, sau cùng thì người đó lấy chén cháo còn lại. Vì không để mình là người ăn ít nhất nên mỗi người đều tận lực chia bình quân, cho dù không đều, cũng tự mình chịu mà thôi.

Nhờ vậy, mọi người giữ được không khí vui vẻ hòa ái, ngày tháng trôi qua càng ngày càng tốt hơn.

4. Chuyện về Thiên đường và Địa ngục

Có một tín đồ Cơ Đốc giáo sau khi qua đời đã thỉnh cầu Thượng đế, xin Người đưa ông ta đi thăm địa ngục và thiên đường, nhìn xem rốt cuộc có gì khác nhau.

Đến địa ngục, người này nhìn thấy một bàn ăn rất lớn, bày đầy món ngon vật lạ, nghĩ thầm: “Cuộc sống dưới địa ngục cũng không tệ nhỉ!” Đến giờ dùng cơm, chỉ thấy một đám người gầy như que củi, thoi thóp ngồi vây xung quanh nồi thịt hương thơm tỏa bốn phía. Thế nhưng, chỉ vì cái thìa cầm trong tay quá dài, họ thi nhau đưa miếng thịt vào miệng mình, mà không ăn được, vừa thèm, vừa đói lại vừa xót xa.

Thượng đế nói: “Đây là địa ngục”.

Họ lại đi vào một căn phòng khác, tại đây cũng giống như địa ngục kia, hương thơm của đồ ăn tỏa khắp nơi, người ở đây cũng cầm trong tay cái thìa cực lớn. Thế nhưng mọi người nơi đây mặt mày hồng hào, tinh thần thoải mái. Vốn dĩ, mỗi người họ đều đút miếng thịt vào miệng đối phương, thế nên ai cũng được ăn.

Thượng đế nói: “Đây là thiên đường”.

Người khác nhau, hoàn cảnh khác nhau, có thể sinh ra văn hóa khác nhau và kết quả cũng khác nhau.

Những điều này, chính là sức mạnh của sự chế ước.

Một xã hội tốt có thể khiến tư tưởng xấu xa của người ta được ước chế; một xã hội xấu xa sẽ khiến những tư tưởng tốt đẹp của người ta lụi tàn. Chỉ bằng cách dung hòa lợi ích giữa mọi người, mới có thể giải quyết được rất nhiều vấn đề tưởng chừng như không thể.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: "Nghĩ khác đi" chính là cách giúp bạn biến điều không thể thành có thể

Câu nói cảm ơn chân thành nhất tặng mọi người

Câu nói cảm ơn chân thành nhất tặng mọi người. Những câu nói cảm ơn chân thành nhất tặng mọi người là tổng hợp những câu nói đơn giản
Câu nói cảm ơn chân thành nhất tặng mọi người

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Câu nói cảm ơn chân thành nhất tặng mọi người. Những câu nói cảm ơn chân thành nhất tặng mọi người là tổng hợp những câu nói đơn giản gửi tặng mọi người xung quanh bạn. Những câu nói cảm ơn chân thành nhất như là mộ món quà nhỏ nhưng vô cùng ý nghĩa gửi tặng đến những người thân, bạn bè, đồng nghiệp…của bạn.

Nhận được từ ai đó lời cảm ơn, chúng ta đều vui vẻ và thấy mình có ích với cuộc đời. Vì vậy, đừng tiếc rẻ khi cảm ơn ai đó đã giúp bạn, dù là việc nhỏ nhất.

Lời cảm ơn không chỉ dành cho những việc tốt. Khi ai đó làm bạn khóc và đau khổ, hãy cảm ơn vì họ đã cho bạn một bài học quý giá mà không trường lớp nào dạy bạn. Khi bạn thoát khỏi thần chết trong tích tắc, hãy cảm ơn sự may mắn đã cứu bạn. Khi bạn làm tốt một việc gì đó, hãy tự cảm ơn mình vì đã cố gắng phấn đấu. Và đừng quên cảm ơn bố mẹ bạn, những gì họ cho bạn còn lớn hơn gấp ngàn lần số lượng tế bào có trong cơ thể bạn. Nhưng sự thật là chúng ta quên cảm ơn bố mẹ chỉ vì nghĩ không cần thiết hoặc không nói ra được bởi không hợp. Hãy nhớ, nếu không nói cảm ơn, khi bố mẹ không còn nữa, bạn sẽ trở thành kẻ phung phí lời xin lỗi.

Câu nói cảm ơn chân thành nhất tặng mọi người

1. Ai trong đời rồi cũng phải cảm ơn những khiếm khuyết của mình.

2.Phần lớn con người sẽ đáp lại những ơn huệ nhỏ, thừa nhận ơn huệ

trung bình và trả ơn huệ lớn – bằng sự vô ơn.

3. Lòng tốt không đúng chỗ sẽ chẳng được cảm ơn.

4. Đôi lúc ánh sáng trong cuộc đời ta lịm tắt, và được nhen nhóm lại bởi tia lửa của một ai đó. Mỗi chúng ta phải nghĩ tới những người đã đốt lên ngọn lửa trong ta với lòng biết ơn sâu sắc.

5. Hãy cảm ơn những điều bạn chưa biết. Bởi nếu không, bạn sẽ không trưởng thành lên được. Hãy cảm ơn những lúc bạn gặp khó khăn, bởi nếu không có khó khăn, bạn sẽ không có cơ hội để hiểu mình và trải nghiệm cuộc sống.

Câu nói cảm ơn chân thành nhất tặng mọi người

6. Ba mẹ à, con cảm ơn ba mẹ, cảm ơn vì ba mẹ là ba mẹ của con, đã sinh thành và nuôi con khôn lớn, những điều tưởng chừng như đơn giản này chưa lần nào con nói thành lời với ba mẹ cả.

7. Ngày em đến cho anh bao niềm vui. Ngày em đến xóa trong anh buồn đau. Ngày em đến cho a bao niềm tin và ngày em đến cho anh một tình yêu. Cám ơn em – thiên thần của anh.

8. Ánh mắt, nụ cười, mái tóc, giọng nói, bờ môi và cả cái mũi xinh xinh of em nữa. tất cả đều được a ghi tạc vào trái tim cho anh nhớ cho anh mơ cho a đắm say. Ko có gì có thể làm fai mờ hình bóng em trong anh. Cám ơn e đã luôn yêu và tin anh. Nhớ em thật nhiều.

Hãy học cách nói lời cảm ơn mỗi ngày và thật nhiều nhé, như vậy bạn cũng sẽ được nhận nhiều lời cảm ơn từ người khác. Chúc bạn thành công trong cuộc sống. Hãy tham khảo những câu nói hay nhất để tích lũy kiến thức cũng như suy ngẫm về cuộc đời mà ## tổng hợp được nhé.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Câu nói cảm ơn chân thành nhất tặng mọi người

Tìm hiểu về đá Canxedon –

Thế giới đá quý luôn là chủ đề được nhiều người quan tâm kể từ thời sơ khai cho đến nay bởi con người cho rằng, các loại đá này mang những ý nghĩa riêng giúp cho cuộc sống của con người có thêm niềm tin vào cuộc sống. Một trong số những loại đá rất p

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

hổ biến trong giới đá quý ngày nay là Đá Canxedon. Bài viết sau cùng Tìm hiểu về đá Canxedon.

Nội dung

  • 1 Đá Canxedon là đá gì ?
  • 2 Nguồn gốc của đá Canxedon
  • 3 Đá Canxedon có ý nghĩa phong thủy gì không?
  • 4 Cách sử dụng đá Canxedon

Đá Canxedon là đá gì ?

Canxedon là một loại đá được tạo thành bởi thạch anh và các hạt moganit rất nhỏ và xen kết nhau. Thạch anh hay moganit đều có thành phần giống nhau nhưng cấu trúc tinh thể lại khác nhau, moganit là tinh thể đơn tà còn thạch anh lại là hệ tinh thể ba phương.

Đá Canxedon có màu khá mờ và ánh sáp, nhưng rất đa dạng về màu sắc, phổ biến nhất là xám xanh, trắng tới xám và nâu tới đen. Canxedon không hoàn toàn được gọi là đá quý mà là đá bán quý.

Đá mã não (Agat) cũng là một dạng của Canxedon nhưng có bề mặt gồm nhiều vân đồng tâm.

Nguồn gốc của đá Canxedon

– Tạo thành trong các lỗ hổng trong nhiều loại đá khác nhau, đặc biệt là trong dung nham núi lửa. Phần lớn Canxedon thành tạo ở nhiệt độ tương đối thấp, là sản phẩm kết tủa từ các dung dịch giàu SiO2. Canxedon còn là sản phẩm mất nước của opal.

Đá Canxedon có ý nghĩa phong thủy gì không?

Canxedon màu xanh lam được nhiều người tin là có thể giúp chủ nhân tránh khỏi cơn sầu muộn và giảm bợt giận dữ.

Trong Canxedon có nhiều ete và các túi khí có thể làm bình ổn tâm lí và tình cảm của con người.

Đồ trang sức làm từ canxedon hỗ trợ rất tốt với người dễ bị kích động, trầm cảm và hỗ trợ điều trị bệnh về thần kinh.

Cũng như agat (mã não) canxedon còn được coi là lá bùa hộ mệnh, đặc biệt với những người thủy thủy.

Canxedon còn được coi là lá bùa hộ mệnh, đặc biệt với những người mệnh thủy và theo quan niệm của người cổ xưa có ghi chép lại, Canxedon được coi là lá bùa hộ mệnh cho những người đi biển. Canxedon mang trong nó tính nữ vừa ban tặng cuộc sống và đồng thời đầy mâu thuẫn. Người Mông Cổ xưa gọi những viên Canxedon màu xanh da trời được tìm thấy trong sa mạc Gobi là “đá niềm vui”. Họ có niềm tin rằng chúng có khả năng xua đuổi nỗi buồn và thay vào đó là tâm trạng hứng khởi và vui vẻ. Theo một số văn bản cổ của Ấn Độ ghi lại rằng loại đá này có ánh sáng của ý thức tinh khiết. Khi đeo trang sức bằng Canxedon màu xanh da trời, nó có khả năng loại trừ nổi sợ hãi và đem đến cho người sở hữu niềm tin vào sức mạnh của chính mình.

Trong một vài văn bản cổ tại Ấn Độ, đá được cho là mang tới năng lượng tinh khiết cho ý thức con người.

Đá Canxedon có màu xanh da trời có thể mang tới niềm tin vào sức mạnh bản thân.

Canxedon màu xanh lam được nhiều người tin là có thể giúp chủ nhân tránh khỏi cơn sầu muộn và giảm sự giận dữ. Bởi trong Canxedon có nhiều ete và các túi khí có chức năng làm bình ổn tâm lí và tình cảm của con người. Vì vậy đồ trang sức làm từ Đá Canxedon hỗ trợ rất tốt cho người dễ bị kích động, trầm cảm và hỗ trợ điều trị các bệnh về thần kinh.

Cách sử dụng đá Canxedon

Canxedon là đá biểu tượng cho chòm sao Nhân Mã, nếu người sinh vào tháng thuộc Nhân Mã mà đeo trang sức từ đá này có thể gặp may mắn trong tình yêu và luôn có một sức hấp dẫn với người khác giới.

Để biết đá có hợp với mệnh của mình hay không còn tùy thuộc vào màu sắc của Canxedon.

Nếu Canxedon màu xám hoặc trắng thì hợp với người mệnh Kim, Thổ và Thủy.

Nếu Canxedon màu nâu thì hợp với người mệnh Thổ, Hỏa và Kim.

Nếu Canxedon màu đen thì hợp với người mệnh Thủy, Mộc và Kim.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tìm hiểu về đá Canxedon –

Phòng ngủ nên và không nên treo những loại tranh nào ?

Tranh trong phòng ngủ phản ánh cá tính, sở thích và mong muốn của chủ nhân nhưng vẫn phải tuân theo nguyên tắc phong thủy. Cần đáp ứng được mục tiêu chính của phòng ngủ là: nghỉ ngơi, lãng mạn và thư giãn.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo



Tranh ảnh trong phòng trẻ em
:



- Tránh treo con vật ác và nhân vật dữ tợn.

- Nên treo những bức tranh có hình ảnh tươi sáng, hạnh phúc.

- Treo những hình ảnh có nội dung về học tập như quả địa cầu, sách hoặc các kinh nghiệm học tập...

- Không treo các bức ảnh về nước, sông hồ, đại dương.

- Tránh các bức tranh về chủ đề tôn giáo như là cây thánh giá hoặc các nhân vật tôn giáo.

- Chọn hình ảnh những con vật mang ý nghĩa tích cực như ngựa (rất tốt cho phòng bé trai). Ngựa mang hàm nghĩa hạnh phúc, không sợ hãi. Rùa cũng là con vật có ích. Tránh các con vật như ếch hoặc cóc.

- Treo tranh bố mẹ trong phòng con cái để chúng biết cách đối xử hơn và kính trọng cha mẹ hơn.

- Mây là hình ảnh rất phổ biến trong phòng ngủ của trẻ. Nếu là mây trên trần nhà hãy đảm bảo phía đầu trẻ không có mây bao phủ. Bởi vì hình ảnh đó có thể tạo ra khó khăn cho chúng. Đối với phòng người lớn cũng như vậy.


Tranh ảnh trong phòng ngủ của người lớn:



- Đối với phòng ngủ của vợ chồng, hãy treo những bức tranh có đôi có cặp (ngỗng, vịt, ghế, bình…) nhằm tạo sự gắn kết.

- Tránh những bức tranh về thiên đàng, các vị thần, các nhân vật tôn giáo…

- Tránh những bức tranh về các vật thể đơn lẻ mang hàm nghĩa đơn độc.

- Tránh tranh về hoa và cây cối, trừ trường hợp trong nhà có người bị ốm. Cây cối hoặc tranh về cây, hoa sẽ khiến các cặp đôi hay tranh cãi.

- Hãy treo những bức tranh về tình yêu như vợ chồng ôm nhau, tranh sexy hoặc tình cảm.

- Không treo ảnh trẻ con trong phòng ngủ. Bạn đã có thời từng là trẻ nhỏ rồi. Bây giờ, bạn cần không gian riêng cho bạn và người ấy.

- Nếu ở một mình, hãy treo những bức tranh về người mà bạn đang kiếm tìm. Ví dụ, phụ nữ ở một mình nên treo tranh có những người đàn ông.

- Để tạo cơ hội cho chính mình, hãy treo tranh về cánh đồng rộng mở ở bức tường đối diện với giường. Điều này hàm nghĩa cuộc sống của bạn sẽ rộng mở và mọi trở ngại sẽ được gỡ bỏ.

Lưu ý về tranh treo đầu giường:

- Tránh tranh ảnh trừu tượng vì treo loại tranh này giống như là có một người đang cưỡi trên đầu bạn, ám chỉ việc tinh thần sa sút, tài vận cũng dễ bị kẻ xấu lấy đi hết.

- Tránh treo tranh sơn thủy bởi núi rất nặng nề sẽ gây áp lực lớn về tinh thần đối với người nằm trên giường, khiến họ không thể ngủ ngon. Nước thì lại hình thành nên "thủy lâm đầu sát", mang lại bệnh tật và vận rủi ro cho chủ nhân.

- Tránh treo tranh ảnh về các loại chim muông, thú dữ vì chúng sẽ khiến bạn luôn cảm thấy lo lắng, sợ sệt, ảnh hưởng tới chất lượng giấc ngủ. Hơn nữa, điều này cũng có thể mang lại cảm giác chim muông thú dữ đang mổ (ngoạm) đầu người. Từ đó sẽ xuất hiện các triệu chứng như đau đầu, mất ngủ, tinh thần mệt mỏi, ảnh hưởng không tốt tới sức khỏe, tài vận của bạn.

- Chỉ nên treo 1 bức tranh ở đây. Nếu treo nhiều tranh sẽ ảnh hưởng tới tâm tư của người sống trong phòng.

- Tránh treo ảnh chân dung của người thân ở đầu giường, vì như vậy sẽ làm tăng áp lực cho chủ nhân khi làm bất cứ việc gì.

(Theo Xzone)
 

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Phòng ngủ nên và không nên treo những loại tranh nào ?

Mệnh Lô Trung Hỏa

Sách Bác Vật Vựng Biên chép: “Bính Dần, Đinh Mão, Dần là Tam dương, Mão là Tứ dương, Hỏa được đất lại có Dần Mão Mộc trợ lực, trời đất lúc ấy như lò lửa và vạn vật nảy sinh, nên gọi bằng Lô Trung Hỏa”.
Mệnh Lô Trung Hỏa

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Bính Dần Đinh Mão, khí thế phát huy nhờ chất đốt mà hiển minh, âm dương còn lẫn, thiên địa chung một lò lửa. Lửa dung hóa tất cả từ âm dương đến sáng tối cả trời lẫn đất nói chung là vạn vật trong vũ trụ. Dùng Hỏa để cải tạo vạn vật.
Có câu: “Lô Trung Hỏa giả, thiên địa vi lô, âm dương vi thán, quang huy ưu vũ trụ, đào dã ưu càn khôn” (Lửa trong lò vũ trụ, trời đất, âm dương, càn khôn đều được đào luyện).
Người Lô Trung Hỏa có mệnh lớn, tâm tưởng bao la, lúc đắc thế khả dĩ hiển hiện tài hoa danh tiếng với đời. Lô Trung Hỏa mang một khuyết điểm nếu mệnh kèm theo những hung sát tinh hãm dễ thành kiêu căng ngạo mạn, dễ bị nghe theo lời nịnh hót mà thất bại.
Bính Dần Đinh Mão hai hàng chi đều thuộc Mộc, Mộc sinh Hỏa tước nhược gặp hung vận thiếu trầm tĩnh giải quyết công việc.

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Mệnh Lô Trung Hỏa
Click to listen highlighted text! Powered By DVMS co.,ltd