Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,...   Click to listen highlighted text! Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,... Powered By DVMS co.,ltd
Kính mời quý khách like fanpage ủng hộ Vạn Sự !

Vạn Sự

Địa không, Địa Kiếp

Một trích đoạn cuốn sách Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tứ Hóa Phái của tác giả Nguyễn Anh Vũ. Mời các bạn đọc tham khảo.
Địa không, Địa Kiếp

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Địa không thuộc âm hỏa, Địa kiếp thuộc dương hỏa. Cổ nhân nói Địa Không thủ cung mệnh, chủ về "làm việc không thiết thực, thành bại đa đoan"; Địa Kiếp thủ cung mệnh, là ý tượng: "làm việc lơ là, không có thực chất, không theo chính đạo". Sở dĩ có thuyết này thực ra là vì người có Địa Không thủ cung Mệnh ưa ảo tưởng, người khác không thể hiểu được cách suy nghĩ của họ; còn người có Địa Kiếp thủ cung mệnh thì ưa chống lại truyền thống, đi ngược với trào lưu, hành vi của họ người khác cũng không thể hiểu được.

Địa Không chủ về tinh thần, Địa Kiếp chủ về vật chất. Cho nên Địa không mang lại trở ngại, đả kích về mặt tinh thần hơn là tổn thất về mặt vật chất; còn Địa Kiếp thì mang lại trở ngại, tổn thất về mặt vật chất lớn hơn đả kích về mặt tinh thần.

Địa Không thủ mệnh, ưa thấy các sao mang sắc thái hành động. Như "Vũ khúc, Thất Sát", Tham Lang ở cung vượng, Phá Quân Hóa Lộc; hoặc "Tử Vi, Thất Sát" thấy cát tinh; đều chủ về có thể biến những điều không tưởng thành hành động, triệt tiêu những khuyết điểm do Địa Không mang lại.

Nếu Địa Không đồng độ với Thiên Cơ, Cự Môn, phần nhiều là không tưởng, hoặc lí tưởng quá cao, không thể biến thành hành động thực tế nên dễ có biểu hiện "làm việc lúc hăng hái, lúc lại không có tinh thần", hoặc "làm việc thiếu thiết thực".

"Lửa trống thì phát, kim rỗng thì kêu to", cho nên Địa Không ưa gặp Hỏa Tinh ở cung Tý hay cung Ngọ, là ý tượng: phát đột ngột; cung ưa gặp các sao thuộc kim ở cung Thân hay cung Dậu, là ý tương: danh vọng, nhưng không nên thấy thêm sát tinh khác.

Cung Tật Ách có Địa Không đồng độ, phần nhiều chủ về bệnh hiếm gặp. Ví dụ như Thiên Lương thủ cung tật ách, có Địa Không, Địa Kiếp đồng độ, gặp Hỏa Tinh và Linh Tinh, là ý tượng: mắc bệnh lao, viêm não.

Địa Kiếp chủ về tổn thất vật chất, nhưng di chứng về sau nhẹ hơn Địa Không. Thất bại của Địa Kiếp cũng giống như có được một món đồ cổ đắt giá, nhưng đến tay thì bị vỡ, tuy có thể sửa chữa, nhưng không còn được như cũ; còn thất bại của Địa Không thì giống như muốn mua một món đồ cổ nhưng bị người ta nhanh chân mua trước, cuộc đời thường hay hối tiếc. Xét từ góc độ tinh thần, đả kích của Địa không nặng hơn; xét từ góc độ vật chất, thì tổn thất của Địa Kiếp nặng hơn. Do đó có thể biết, Địa Không không nên nhập cung phúc đức, cung phu thê, cung tử nữ; còn Địa Kiếp thì không nên nhập cung Mệnh, cung sự nghiệp, cung tài bạch.

Người có Địa Kiếp thủ cung mệnh, nên thiết thực, thích hợp khởi nghiệp bằng công nghệ vì có thể sáng tạo ra cái mới nên cũng chủ về có thể phát đạt. Địa Kiếp ưa ở hai cung Thìn hoặc Tuất, do nhặp Thiên La, Địa Võng nên có khuynh hướng hiện thực hơn. Không, Kiếp mà giáp cung mệnh thì đường đời gập ghềnh, nhiều trắc trở.

Không, Kiếp đồng độ thủ cung mệnh, hoặc chia ra ở hai cung đối xung, phần nhiều chủ về tuổi trẻ bất lợi, không được cha mẹ che chở, hoặc hay bệnh đau, nghèo khổ, nhiều tai ách.

Không, Kiếp thủ cung mệnh hoặc giáp cung mệnh, cổ nhân cho rằng nên xuất gia. Ở thời hiện đại có thể nghiên cứu những môn học ít người chú ý. Địa Không nên nghiên cứu triết học; Địa Kiếp nên theo ngành công nghệ. Cung phu thê và cung mệnh chia ra thấy Không, Kiếp, là ý tượng: vợ chồng tính cách không hợp nhau, đời sống hôn nhân có điều khó nói, thường đau khổ về nội tâm.

Theo: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tứ Hóa Phái tập 2, tác giả Nguyễn Anh Vũ


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Địa không, Địa Kiếp

Cảnh quan môi trường học có quan hệ như thế nào với phong thủy? –

Sự sinh tồn của con người trong môi trường tự nhiên, đây là núi sông lưu thủy của môi trường, cây cối hoa cỏ và các loại tổ hợp, hình thành nên các cảnh quan môi trường của tự nhiên. Mọi người vì tạo sự thoải mái, môi trường sinh tồn của mỹ quan, còn
Cảnh quan môi trường học có quan hệ như thế nào với phong thủy? –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

sáng tạo ra một số cảnh quan kiến trúc là các cảnh quan nhân văn và khu vườn nhân tạo. Những cảnh quan này do tự nhiên hình thành và do con người tạo thành sẽ sản sinh những hiệu ứng vật lý, sinh lý và tâm lí đối với nhân loại.

Con người là thể hữu cơ có trình độ tự động hoá rất cao, có năng lực phản ứng đối với sự vật ngoại giới rất mạnh, kết cấu, màu sắc xung quanh cảnh quan môi trường hình thành dẫn đến sức hút, khí trường… đều sẽ ảnh hưởng quan trọng đa phương diện đến sức khỏe và phát triển sự nghiệp của con người.

canh-quan-san-vuon-2

Ví dụ: Những người sống trong cảnh quan môi trường dễ chịu, màu sắc hài hoà, thì sẽ cảm thấy hứng thú, thoải mái, tâm trạng thư thái, tư duy tinh tế, sáng tạo, vô cùng linh hoạt.

Trung Quốc thời cổ đại rất coi trọng đến đinh viện mỹ hoá, cũng rất coi trọng đến đinh viện phong thủy. Họ cho rằng: Kiến trúc đình viện, cây cối hoa cỏ, tổ hợp bố cục của giả sơn lưu thủy, phải phù hợp với yêu cầu của phong thủy, như vậy thì sẽ có lợi cho sức khoẻ cơ thể và tài vận sự nghiệp. Đây chính là  ý thức cảnh quan môi trường bổ tố trong phong thủy học truyền thống, ví dụ như các khu vườn ở Tô Châu chính là mô hình mẫu mực của phong thủy cảnh quan môi trường nhân tạo.

Nội hàm của phong thủy học và một trong các sử mệnh chính là: Phải bổ tố chân lý của phong thủy học truyền thống, kết hợp tương bổ với cảnh quan môi trường học hiện tại: không chỉ nghiên cứu quy luật mỹ học, quy luật kiến trúc học, quy luật thực vật học của cảnh quan môi trường, mà càng phải đi sâu nghiên cứu kết cấu, phương vị, tư liệu, màu sắc, ngoại hình và các trường phái tin tức khác của cảnh quan môi trường có các tác dụng đối với tâm lí và sinh lý của con người. Từ đó tìm hiểu lựa chọn và tạo ra các quy luật và phương pháp khoa học của cảnh quan môi trường có lợi cho sức khỏe bản thân và phát triển sự nghiệp của mỗi người xung quanh.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Cảnh quan môi trường học có quan hệ như thế nào với phong thủy? –

Nguyên tắc chọn rèm cửa hợp phong thủy

Rèm cửa không chỉ mang lại sự kín đáo, có tác dụng trang trí mà nó còn hỗ trợ cho phong thủy, có ảnh hưởng đến vận mệnh chủ nhà.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Chọn rèm cửa có màu sắc hợp với mệnh sẽ có tác dụng hỗ trợ tốt cho sức khỏe, tài vận, sự nghiệp và cả tình duyên của gia chủ. Nếu chủ nhà hợp với kim nên chọn rèm màu trắng; hợp với mộc, chọn rèm màu xanh; hợp với hỏa, chọn màu tím; hợp với thổ nên chọn màu vàng; hợp thủy nên chọn màu xanh lam.    nguyên tắc chọn rèm cửa hợp phong thủy 1

Không nên sử dụng rèm cửa có các gam màu đỏ, đen vì chúng khiến thần kinh bị ức chế, gây căng thẳng. Rèm cửa trong phòng ngủ nên tránh dùng màu hồng bởi màu này kích thích tính đào hoa. Đối với người đã có gia đình, rèm cửa hồng có thể dẫn đến sự xuất hiện của người thứ ba, gây ảnh hưởng đến tình cảm vợ chồng.   nguyên tắc chọn rèm cửa hợp phong thủy 2

Ngoài ra, màu sắc rèm cửa nên hài hòa với màu tường và trần nhà. Theo phong thủy, trần nhà đại diện cho trời, sàn nhà đại diện cho đất, tường đại diện cho con người. Màu sắc tường hay rèm cửa có tác dụng kết nối trần và sàn nhà. Tốt nhất màu của tường và rèm cửa nên sẫm hơn trần nhà và nhạt hơn sàn nhà để tạo ra sự hài hòa.   nguyên tắc chọn rèm cửa hợp phong thủy 3

Những người có cá tính thường thích lựa chọn rèm cửa với các hình vẽ phá cách và thời thượng. Tuy nhiên nhiều trong số các hình vẽ này có thể ngụ ý về điều không lành, chẳng hạn như các hình thù kỳ quái, đầu lâu hay các loài động vật hung dữ.   nguyên tắc chọn rèm cửa hợp phong thủy 4

Bạn nên lựa chọn họa tiết rèm cửa cẩn thận, đặc biệt là đối với phòng của người già và trẻ em. Tuyệt đối không nên dùng rèm cửa có các hình ảnh xấu, kỳ quái để tránh các ảnh hưởng xấu đến chủ nhân.   nguyên tắc chọn rèm cửa hợp phong thủy 5

Rèm cửa với các hình vẽ quá mỹ miều cũng không tốt, nó có thể khiến gia đình bạn ít khách khứa. Lựa chọn họa tiết tối ưu của rèm cửa nên là các hình vẽ hoặc hoa văn đơn giản.   nguyên tắc chọn rèm cửa hợp phong thủy 6

Rèm cửa không nên quá dày bởi chúng sẽ gây ra cảm giác nặng nề, mang lại áp lực, từ đó có thể ảnh hưởng đến sức khỏe các thành viên trong gia đình.   nguyên tắc chọn rèm cửa hợp phong thủy 7

Rèm của dày và nặng cũng ảnh hưởng không tốt đến mối quan hệ của các thành viên trong gia đình. Thiết kế rèm cửa như vậy trong phòng ngủ cũng khiến chủ nhân thường xuyên mệt mỏi, buồn ngủ, giảm hiệu quả công việc.   nguyên tắc chọn rèm cửa hợp phong thủy 8

Đối với căn phòng có không gian nhỏ, rèm cửa nên thiết kế đơn giản. Ngược lại, một không gian lớn, bạn có thể sử dụng rèm cửa có thiết kế cầu kỳ hơn để mang lại hiệu quả thẩm mỹ cho toàn bộ căn phòng.   nguyên tắc chọn rèm cửa hợp phong thủy 9

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Nguyên tắc chọn rèm cửa hợp phong thủy

12 con giáp nên hay tránh việc gì ngày 8/3 - 12 con giáp - Xem Tử Vi

12 con giáp nên hay tránh việc gì ngày 8/3, 12 con giáp, Xem Tử Vi, xem bói, xem tử vi 12 con giáp nên hay tránh việc gì ngày 8/3, tu vi 12 con giáp nên hay tránh việc gì ngày 8/3, tu vi 12 con giáp

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

12 con giáp nên hay tránh việc gì ngày 8/3

Trong ngày 8/3 vận đào hoa khá vượng, những cô nàng cầm tinh con Chuột nên chủ động mở rộng các mối quan hệ, giao lưu kết bạn.

Để có thể đón ngày Quốc tế phụ nữ 8/3 vui vẻ và trọn vẹn nhất, 12 con giáp nên tham khảo những điều nên và không nên dưới đây nhé.

Quý cô tuổi Tý

Con giáp này có ngũ hành mệnh thuộc yếu tố Thủy. Trong ngày 8/3 vận đào hoa khá vượng, những cô nàng cầm tinh con Chuột nên chủ động mở rộng các mối quan hệ, giao lưu kết bạn, hoặc có thể đi gặp mặt anh chàng nào đó theo sự giới thiệu của người thân.

Trong ngày vì Thổ vượng khắc Thủy, nên kiêng những việc động thổ, tu sửa nhà cửa hay lui tới những công trình đang thi công, đề phòng tai nạn bất ngờ.

Quý cô tuổi Sửu

Người tuổi Sửu có ngũ hành mệnh thuộc yếu tố Thổ. Phụ nữ tuổi Sửu nên quan tâm hơn tới người lớn và trẻ nhỏ trong nhà. Chỉ cần một vài lời động viên, hỏi thăm, chia sẻ của con giáp này là mọi chuyện đều tốt đẹp. 

Ngày này Thổ vượng gặp Thổ, không thích hợp cho các hoạt động cầu tài, đề phòng hao tốn tiền của.

Quý cô tuổi Dần

Người tuổi Dần có ngũ hành mệnh thuộc yếu tố Mộc. Mộc vượng thích hợp cho việc cắt tóc, làm đẹp, mua sắm…

Nhưng vì Thổ và Mộc đều vượng, Mộc Thổ tương khắc, dễ xảy ra mâu thuẫn, cãi vã, cô nàng tuổi Dần phải hết sức tiết chế cảm xúc. Ngoài ra, cần đề phòng thị phi, hao tài tốn của.

Quý cô tuổi Mão

Người tuổi Mão có ngũ hành mệnh thuộc yếu tố Mộc. Mộc vượng khắc Thổ, thích hợp cho việc cầu tài, đầu tư, kí kết hợp đồng, giao dịch…

Tuy nhiên, trong ngày 8/3 kị việc các cô nàng tuổi Mão nói nhiều, dẫn tới mâu thuẫn, cãi vã với chồng hoặc người yêu.

Quý cô tuổi Thìn

Người tuổi Thìn có ngũ hành mệnh thuộc yếu tố Thổ. Ngày này thích hợp cho việc gửi tiền tiết kiệm, đòi nợ người khác.

Nhưng vì Thổ vượng gặp Thổ, không thích hợp cho việc tiệc tùng thâu đêm suốt sáng, dễ bị kẻ xấu lợi dụng.

Quý cô tuổi Tỵ

Người tuổi Tỵ có ngũ hành mệnh thuộc yếu tố Hỏa, thích hợp cho việc chủ động đưa ra ý tưởng hay dự án mới, tỉ lệ thành công cao.

Hỏa sinh vượng Thổ, cô nàng tuổi Tỵ cần tránh thái độ kiêu ngạo, công việc sẽ bị kẻ tiểu nhân quấy nhiễu, tình cảm không thuận lợi.

Quý cô tuổi Ngọ

Người tuổi Ngọ có ngũ hành mệnh thuộc yếu tố Hỏa. Ngày này vận đào hoa rất vượng, thích hợp cho việc gặp gỡ kết bạn, ra mắt gia đình hai bên… nhưng lại kiêng kị việc cầu tài, đầu tư mù quáng, vừa đau đầu mệt óc lại không có lợi lộc gì.

Quý cô tuổi Mùi

Người tuổi Mùi có ngũ hành mệnh thuộc yếu tố Thổ. Đây là ngày tốt, rất thích hợp để đi du lịch, công tác, xuất hành xa, nhưng cần đề phòng thị phi hoặc thương tật nhỏ ở tay chân.

Quý cô tuổi Thân

Người tuổi Thân có ngũ hành mệnh thuộc yếu tố Kim. Thổ vượng sinh Kim, thích hợp cho cầu tài lộc, đầu tư kinh doanh phát tài phát lộc, sự nghiệp có quý nhân tương trợ.

Tuy nhiên trong ngày đào hoa vượng, cô nàng tuổi Thân cần thận trọng trong mọi hành động, cử chỉ của mình, tránh bị vướng vào chuyện tình cảm phức tạp.

Quý cô tuổi Dậu

Người tuổi Dậu có ngũ hành mệnh thuộc yếu tố Kim. Trong ngày được quý nhân phù trợ, công việc thuận lợi, làm đâu thắng đó, cầu tài phát tài, cầu lộc phát lộc.

Tuy nhiên, con giáp này không nên vận động quá mạnh, đề phòng thương tật tay chân, đau nhức xương khớp.

Quý cô tuổi Tuất

Người tuổi Tuất có ngũ hành mệnh cách thuộc yếu tố Thổ, thích hợp tìm kiếm việc làm mới, gặp gỡ kết bạn, thúc đẩy tình cảm thăng hoa. Trong ngày cần đề phòng thị phi, hiện tượng phá tài, không thích hợp để cầu tài.

Quý cô tuổi Hợi

Người tuổi Hợi có ngũ hành mệnh cách thuộc yếu tố Thủy. Trong ngày, cô nàng tuổi Hợi nên quan tâm nhiều hơn tới trẻ nhỏ trong nhà, bồi dưỡng tình cảm để gia đình luôn vui vẻ, hạnh phúc.

Vì Thủy vượng sinh Mộc, Mộc vượng khắc Thổ, bạn nên chủ động tiết chế cảm xúc bản thân, tránh bị rơi vào tâm trạng buồn bực, phiền não.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: 12 con giáp nên hay tránh việc gì ngày 8/3 - 12 con giáp - Xem Tử Vi

Bảng vợ chồng tương sinh tương khắc của người tuổi Tuất

Hai vợ chồng đều tuổi Tuất, cuộc sống tuy hòa hợp, nhưng sẽ có lúc phải trải qua giai đoạn vô cùng khó khăn trong đời.
Bảng vợ chồng tương sinh tương khắc của người tuổi Tuất

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

bang-vo-chong-tuong-sinh-tuong-khac-cua-nguoi-tuoi-tuat
Tuất - Tý Tuất - Sửu Tuất - Dần Tuất - Mão
Tuất - Thìn Tuất - Tỵ Tuất - Ngọ Tuất - Mùi
Tuất - Thân Tuất - Dậu Tuất - Tuất Tuất - Hợi

Maruko (theo Sohu)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Bảng vợ chồng tương sinh tương khắc của người tuổi Tuất

Luận sơ lược Tử vi Tuổi Mùi

TÂN-MÙI 23 TUỔI: (Sinh từ 15/2/1991 đến 3/2/1992). Mệnh: Lộ bàng Thổ (Đất trên đường đi)
Luận sơ lược Tử vi Tuổi Mùi

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

NAM: Cung Ly, sao Thái-Dương, hạn Tán-Tận và đầu Tam Tai: Mẫu người có chí lớn, thích kết giao bằng hữu, sẵn sàng giúp đỡ người khác với một tâm hồn phóng khoáng.“ Tân” là cay đắng khổ sở nên tiền vận gian nan, tình duyên trắc trở, ly hương mới được nhiều may mắn. Bạn nào sinh tháng 6, 7, 11 thường được sung túc ấm êm. Nhà ở và làm ăn hạp hướng Đông và Bắc. Lấy vợ hợp với những tuổi Kỷ-Mão (1999), Mậu-Dần (1998), Canh-Thìn ( 2000), Tân-Tỵ   (2001), Qúi-Dậu (1993) và Đinh-Sửu ( 1997).

“ Tuổi trẻ hôm nay ráng học hành

Ngày mai rạng rỡ bước công danh

Chuyên cần chăm chỉ lo đèn sách

Hiếu thảo đền ơn đấng sinh thành”

Năm nay đi thi sẽ đậu. Tốt nghiệp ra trường có thể được việc làm như ý, nhưng có khi phải đi xa. Công danh thăng tiến. Tình trạng tài chánh được cải thiện.  Tuy nhiên trước khi lái xe đi xa phải bảo trì xe cộ kỹ lưỡng, tránh rủi ro nằm đường.

NỮ: Cung Càn, sao Thổ-Tú, hạn Hùynh-Tuyền: Mẫu người biết cố gắng và chịu khó để tạo dựng công danh. Tánh tình hào phóng, rộng rãi, sẵn sàng giúp đỡ bè bạn. “Tân” cũng có nghĩa là đắng cay nên nếu lấy chồng không hợp tuổi, tình duyên gia đạo dễ lận đận ba chìm bảy nổi! Lấy chồng hạp với tuổi At-Sửu (1985), Mậu-Thìn (1988), Kỷ-Tỵ (1989) và At-Hợi ( 1995). Khi cưới hỏi nên chọn ngày giờ tốt trong các tháng 5 hay 11 âm lịch, bất luận năm nào. Hướng làm ăn tốt nhất là Đông Bắc, Tây Nam và Tây Bắc.

Sáng suốt chơi chung với bạn hiền

Học hành chăm chỉ mới an yên

Đừng nên vương vấn tình yêu sớm

Cố gắng nên người lo bút nghiên”

Năm nay đi thi sẽ đậu. Tốt nghiệp ra trường được việc làm như ý,  nhưng có khi phải đi xa. Gia đình có người đau ốm bệnh hoạn hay có tang chế bà con trong tháng 4, tháng 8. Trước khi lái xe đi xa phải bảo trì xe cộ kỹ lưỡng tránh nằm đường.  Nếu đã lập gia đình, muốn có con, thì nên có thai sau tháng 6, để sinh con tuổi Giáp-Ngọ, có thể tốt cho cha mẹ trong 20 năm.

KỶ-MÙI 35 TUỔI: (Sinh từ 28/1/1979 đến 15/2/1980).

Mệnh: Thiên Thượng Hỏa (Lửa trên trời).

NAM: Cung Chấn, sao Thái-Am, hạn Diêm-Vương và đầu Tam Tai: Cá tánh ngay thẳng, thích sinh hoạt cộng đồng, ưa làm việc thiện. Mẫu người nghĩa khí, ân oán phân minh. Rất chịu khó và có tinh thần trách nhiệm. Tiền vận trước 30 tài chánh bất định, công danh gặp bước thăng trầm. Tình cảm phức tạp rối ren vì hay thay đổi đối tượng, ý kiến. Tuy nhiên khi ly hương lại phát triển lâu bền. Người yêu lý tưởng có thể tìm thấy trong các tuổi Canh-Thân (1980), Kỷ-Mùi (1979), Giáp-Tí (1984) và Ất-Sửu (1985). Tối kỵ màu đen. Nhà cửa và làm ăn, chọn hướng chánh Nam và chánh Đông là tốt nhất.

“ Thích làm việc thiện tánh hiền nhân

Ngay thẳng chơn tâm luôn góp phần

Giúp đỡ mọi người trong cuộc sống

Gặp bước thăng trầm chẳng phân vân”

Năm nay bàn tay Kim-Lâu nhằm “Nhị Nghi”, nên nếu muốn xây cất chỉnh trang nhà cửa và cơ sở thương mại, có thể thực hiện. Bạn nào làm việc nhiều bằng computer thì mắt yếu, phải lo chăm sóc. Mặc dù công việc làm ăn có chiều hướng đi lên thuận lợi, nhưng hạn chế tối đa việc đi xa xuất ngoại vì sẽ gánh chịu nhiều hao tán bất khả tiên liệu. Phải bảo trì xe cộ kỹ lưỡng trước khi đi xa, tránh bị nằm đường.

NỮ: Cung Chấn, sao Thái-Bạch, hạn Thiên-La và đầu Tam Tai: Mẫu người thông minh, trọng tình nghĩa, biết người biết ta, tình cảm dịu dàng dễ tin, nặng tình hơn lý. Cuộc sống ít thăng trầm, tình duyên gia đạo cũng êm đềm không sóng gió. Ly hương tự lập thường công thành danh toại. Hậu vận sang giàu thảnh thơi. Người yêu lý tưởng nên chọn trong các tuổi Ất-Mão (1975), Bính-Thìn (1976), Mậu-Ngọ (1978), Kỷ-Mùi (1979) và Tân-Dậu (1981). Kỵ tuổi Canh-Tuất (1970). Bất luận năm nào, khi cưới hỏi nên chọn ngày giờ tốt trong các tháng 5 và 11 âm lịch. Tối kỵ màu đen. Hướng làm ăn tốt nhất là chánh Nam và chánh Đông.

“ Mẫu người tình cảm dịu dàng

Nặng tình hơn lý chẳng màng thấp cao

Dễ tin nên lắm lao đao

Xét suy dè dặt trước sau mới bền”

Năm nay bàn tay Kim Lâu nhằm “Nhị Nghi” nên nếu muốn xây cất chỉnh trang nhà cửa hay cơ sở thương mãi, có thể thực hiện được. Mặc dù công việc làm ăn có chiều hướng đi lên thuận lợi nhưng hạn chế tối đa việc đi xa xuất ngoại vì sẽ nảy sinh nhiều hao tán bất khả tiên liệu. Phải bảo trì xe cộ kỹ lưỡng trước khi đi xa tránh nằm đường! Nếu muốn sinh con út, thì nên có thai sau tháng 6, sẽ sinh con Giáp-Ngọ, có thể tốt cho cha mẹ 20 năm.

ĐINH-MÙI 47 TUỔI: (Sinh từ 9/2/1967 đến 28/1/1968).

Mệnh: Thiên Hà Thủy (Nước ở trên trời)

NAM: Cung Càn, sao Thổ-Tú, hạn Ngũ-Mộ và đầu Tam Tai: Người thông minh, giỏi tính toán, thích giao du bằng hữu. Nhiều khi không dám dấn thân nên mất nhiều cơ hội để tiến lên. Lúc nhỏ hay ốm đau lặt vặt khó nuôi. Tiền vận trước 30 nhiều gian nan tân khổ trong sự nghiệp lẫn tình duyên. Từ trung vận về sau thì đa số có đời sống vững vàng. Mặc dù tình yêu trong đời luôn luôn nửa cay đắng, nửa ngọt ngào, nhưng đã đến lúc kết thúc tốt đẹp. Bạn nào còn độc thân mà gặp đối tượng tuổi Canh-Tuất (1970), Nhâm-Tuất ( 1982), Tân-Hợi (1971), Qúy-Hợi ( 1983),Ất-Mão (1975), Bính-Ngọ (1966) thì nên gấp rút đi tới hôn nhân bởi tri kỷ khó tìm. Nhà cửa và làm ăn thuận lợi nhất trên Đông Bắc, Tây Nam và Tây Bắc.

“ Thuở nhỏ ốm đau cũng quá  nhiều

Duyên tình lận đận bởi vì yêu

Luyến lưu khi gặp người tri kỷ

Công thành danh toại khối tình siêu”

Năm nay bàn tay Kim-Lâu nhằm “Ngũ Thọ Tử”, không nên  xây cất chỉnh trang nhà cửa, cũng như cơ sở thương mãi. Tháng 4, tháng 8 trong gia đình có người bệnh hoạn ốm đau, hay tang chế bà con.Tuy nhiên mọi việc làm ăn đều có chiều hướng phát đạt thăng tiến. Tình trạng tài chánh được cải thiện. Qúy bạn làm công chức được lên chức lên lương. Muốn đi xa xuất ngoại sẽ có hoàn cảnh thuận lợi để thực hiện.

NỮ: Cung Ly, sao Vân-Hớn, hạn Ngũ-Mộ: Mẫu người thanh nhàn, mê âm nhạc, nặng tình hơn lý, dễ tin người, không thích tranh giành hơn thua nên bình yên, ít sóng gió trong đời. Người sinh ban đêm mùa Thu, Đông thì con cái thành đạt, đời sống an nhàn. Lúc nhỏ hay đau ốm lặt vặt  khó nuôi. Đã đến lúc phải dừng chân lại trước cánh cửa mở rộng. Trên sỏi đá khô cằn vẫn mọc lên những cánh hoa tươi thắm. Tình yêu và hạnh phúc như hình với bóng, nếu biết bảo vệ thì hạnh phúc là điều có thực. Tuổi chồng hợp nhất là Ất-Mùi (1955), Kỷ-Hợi (1959), Mậu-Tuất (1958), Bính-Ngọ (1966), Mậu-Thân (1968) và Kỷ-Dậu (1969). Hướng làm ăn tốt nhất là chánh Đông và chánh Bắc.

” Đam mê văn nghệ nhẹ nhàng

Tài hoa thông thái nghĩ bàn hồng ân

Quí nhân giúp đỡ, thiện căn

Giàu sang hạnh phúc vinh thăng một đời”

Năm nay bàn tay Kim-Lâu nhằm“Ngũ Thọ Tử ”; không nên xây cất, chỉnh trang nhà cửa và cơ sở kinh doanh. Đầu năm không nên đầu tư chứng khoán. Cuối năm cẩn thận lời nói, tránh ngộ nhận hiểu lầm, gây miệng tiếng thị phi. Tuy nhiên, việc làm ăn có chiều hướng phát đạt đi lên. Nhờ đó, tình trạng tài chánh được cải thiện. Qúy bạn làm công chức sẽ được lên chức lên lương. Muốn đi xa xuất ngoại cũng thực hiện được.

ẤT-MÙI 59 TUỔI: (Sinh từ 24/1/1955 đến 11/2/1956).

Mệnh: Sa Trung kim (Vàng trong cát)

NAM: Cung Ly, sao Thái-Dương, hạn Thiên-La và đầu Tam Tai: Mẫu người trực tính, trọng tín nghĩa nhưng thiếu nhạy bén trong cách ứng xử nên hay giúp người mà ít khi được người đền đáp. Người có tài mà không gặp thời, mất nhiều cơ hội để tạo dựng sự nghiệp. Người sinh mùa Thu Đông thì học hành đỗ đạt. Tiền vận trước 30 gian nan vất vả với những thăng trầm thành bại. Không gần gũi được với cha mẹ anh chị em. Kỵ màu đỏ, hạp màu vàng. Hướng nhà cửa và kinh doanh tốt nhất là chánh Đông và chánh Bắc. Lấy vợ hợp với các tuổi Canh-Tí (1960), Tân-Sửu (1961), Nhâm-Dần (1962), Đinh-Mùi (1967) và At-Mùi (1955), đại kỵ Đinh-Dậu (1957).

“ Có tài nhưng chẳng gặp thời

Nhiều phen vất vả cuộc đời lá lay

Thành bại cũng chớ đổi thay

Giàu sang phú quí tương lai hưởng dài”

Năm nay bàn tay Kim-Lâu nhằm“Nhị Nghi”, nên nếu muốn xây cất, chỉnh trang nhà cửa hay cơ sở thương mãi, có thể thực hiện được. Công việc làm ăn có chiều hướng phát đạt đi lên. Nhờ đó, tình trạng tài chánh được cải thiện. Qúy ông làm công chức sẽ được thăng quan tiến chức. Tốt nhứt là trong mùa Đông. Gia đình có hỉ sự như con cái thi cử đỗ đạt, ra trường.

NỮ: Cung càn, sao Thổ-Tú, hạn Diêm-Vương:  Mẫu người đoan chính có tinh thần trách nhiệm, nặng tình hơn lý, dễ tin người. Đam mê âm nhạc với nhiều cao vọng và trọng hình thức bên ngoài. Tuy nhiên cũng rất giỏi hoạt động làm ăn và thích đi xa. Người sinh mùa Thu, Đông sớm thành sự nghiệp.Tình duyên rất trắc trở, xa cách ly tán buổi đầu.  Kỵ màu đỏ, hạp màu vàng. Nếu chồng bằng tuổi, hoặc Ất-Dậu (1945), Tân-Tỵ (1941), Kỷ-Sửu (1949), Mậu-Tý (1948) thì gia đạo vững bền, tiền tài thịnh vượng. Hướng làm ăn tốt nhất là Đông Bắc, Tây Nam và Tây Bắc.

“ Vì tin nên dễ lầm người

Duyên tình dang dở khóc cười bao phen

Hết cơn bỉ cực rối ren

Công danh toại nguyện sang hèn do ta”

Năm nay bàn tay Kim Lâu nhằm “Nhị Nghi” nên nếu muốn xây cất hoặc chỉnh trang nhà cửa hay cơ sở thương mãi, có thể thực hiện được. Trong gia đình có người bệnh hoạn ốm đau hay tang chế bà con trong tháng 4, tháng 8. Tuy nhiên có tin vui cưới gả con cái hay thi cử đỗ đạt. Việc làm ăn có chiều hướng phát đạt đi lên. Nhờ đó, tình trạng tài chánh được cải thiện.

QUÝ-MÙI 71 TUỔI: (Sinh từ 5/2/1943 đến 24/1/1944).

Mệnh: Dương Liễu Mộc (Gỗ cây dương liễu)

NAM: Cung Chấn sao Thái-Am, hạn Diêm-Vương: Mẫu người lịch sự, phong nhã, hào hoa bặt thiệp, ít lo lắng, việc tới đâu hay tới đó, miễn nhàn là được. Những ba chìm bảy nổi đã thuộc về quá khứ. Hiện tại là khúc sông êm đềm và bình lặng. Hiền nội là cánh tay phải giúp chồng rất đắc lực nếu nhằm vào các tuổi Quý-Tị (1953), Nhâm-Thìn (1952), Canh-Dần (1950), Kỷ-Sửu (1949), Mậu-Tí (1948). Hướng nhà và kinh doanh tốt nhất là chánh Nam và chánh Đông.

“ Ba chìm bảy nổi hết rồi

Sóng yên gió lặng êm trôi thuận chiều

Vợ hiền chung thủy ấp yêu

Gia đình hỷ sự dập dìu thiện nhân”

Năm nay qúy ông còn làm việc nhiều bằng computer, mắt sẽ yếu, phải chăm sóc nhiều về mắt. Chưa cần về hưu nếu sức khỏe tốt. Qúy ông kinh doanh thương mãi rất phát đạt, tiền vô nhanh như ngựa chạy. Qúy ông còn làm công chức vẫn vững vàng trong công vụ. Muốn thay đổi chỗ ở, chỗ làm hay đi xa xuất ngoại sẽ được thành công như ý. Gia đình có hỉ sự như có thêm cháu nội, ngoại.

NỮ: Cung Chấn, sao Thái-Bạch, hạn Thiên-La và đầu tam Tai: Mẫu người giỏi về ngoại giao, tinh tấn nhẫn nhục, thích giúp đỡ người khác. Số ly hương tự lập mà tạo nên sự nghiệp. Hôn nhân nhiều trắc trở, khó tìm thấy hạnh phúc vững bền. Sẵn sàng đứng đầu sóng ngọn gió, đối đầu với phong ba bão táp. Dù trong lúc thất thế ngậm đắng nuốt cay hay khi vinh quang rực rỡ, qúy bà luôn là chính nhân quân tử, sống không thẹn với lòng. Mẫu người cao thượng mãi mãi hy sinh cho gia đình thân thuộc với một tấm lòng sâu hơn biển. Chính nhờ tài đức đó mà làm cho mình khác người. Hướng làm ăn tốt nhất là Nam và Đông.

“ Tánh người cao thượng suốt đời

Hy sinh nhẫn nhục cho người yên vui

Dẫu bao sóng dập gió vùi

Liên hoa nở rộ tỏa mùi thanh hương

Quyết tâm gìn giữ tâm chơn

Thi ân bố đức qua cơn hiểm nghèo.

Năm nay trong gia đình có người đau ốm bệnh hoạn hay tang chế bà con trong tháng 5. Mặc dù “ Thất thập cổ lai hi”. Năm nay qúi bà đã 71. Tuy nhiên,  công việc làm ăn vẫn đang thịnh vượng. Qúy bà còn làm công chức vẫn vững vàng trong công vụ. Muốn thay đổi chỗ ở, chỗ làm, hay đi xa xuất ngoại cũng thành công như ý. Gia đình hỷ sự trùng phùng, có thêm cháu nội ngoại.

Nguồn Vietstar

Xin Lưu ý: Đây chỉ là tài liệu tham khảo, nếu Quý khách hàng muốn có bài luận giải tử vi đúng của chính mình, xin vui lòng đóng phí ở dịch vụ Xem tử vi trọn đời để được chuyên gia gửi bài luận giải qua địa chỉ email.



Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Luận sơ lược Tử vi Tuổi Mùi

Phong thủy tình yêu lý giải đàn ông trăng hoa

Phong thủy tình yêu: Phụ nữ không những khóa chặt trái tim đàn ông bằng đường dạ dày mà có thể áp dụng thuật phong thủy nhà cửa để giữ trọn trái tim chàng.
Phong thủy tình yêu lý giải đàn ông trăng hoa

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

– Phong thủy hiện hữu ở mọi lúc, mọi nơi, trong mọi sự vật. Phụ nữ không những khóa chặt trái tim đàn ông bằng đường dạ dày mà có thể áp dụng thuật phong thủy nhà cửa để giữ trọn trái tim chàng.


Ngoài bản tính, thói trăng hoa của đàn ông ngày càng mạnh dần khi sống trong môi trường phạm phong thủy. Cụ thể như sau:

1. Nhà cửa trang trí quá rối ren, cầu kỳ

Nếu ngày nào cũng phải sống trong không gian được trang trí quá rườm rà, rối ren, cầu kì với nhiều chi tiết hỗn loạn, đèn sáng lập lòe như một vũ trường, quán bar, người đàn ông sẽ khó tránh những suy nghĩ vẩn vơ, ngoài luồng, khó mà thủy chung với nửa kia.

Cách hóa giải: Nếu đã lỡ trang trí nhà cửa như trên, bạn có thể khắc phục bằng cách bỏ bớt các chi tiết cầu kỳ, giữ lại những gì càng đơn giản càng tốt. Đồng thời, có thể đặt gương long phượng để trấn sát khí, củng cố và duy trì mối quan hệ vợ chồng.

Phong thuy tinh yeu ly giai dan ong trang hoa hinh anh
 
2. Vị trí phòng ngủ sát ngay đường đi


Phòng ngủ ở dưới tầng một hay bị bố trí sát với đường đi, đặc biệt là làn đường dành cho xe chạy. Điều này sẽ tạo cho người đàn ông cảm giác chưa hoàn thành việc gì đó, dù không muốn đi ra ngoài nhưng nhìn thấy xe cộ tấp nập, ồn ào nên trong lòng ngứa ngáy. Lúc này người vợ cũng khó mà ngăn cản nổi anh ta. Phong thủy tình yêu rất kiêng kị điều này.

Phong thuy tinh yeu ly giai dan ong trang hoa hinh anh 2
 
3. Nhà vệ sinh có 2 cửa

Các nhà vệ sinh thông thường chỉ có một cửa, nhưng cũng có trường hợp một số người thiết kế 2 cửa để thuận tiện trong việc đi lại. Đây là cách làm phản phong thủy bởi 2 cửa gây cảm giác không an toàn, thiếu sự riêng tư, trong lòng bất an, ngay cả việc đi vệ sinh cũng không an tâm chứ chưa nói tới làm những việc khác.

Ví tiền của bạn có thể hút tài lộc hay không?
– “Ví tiền đi liền khúc ruột”, ai ai cũng có nhưng chưa chắc mọi người đã biết sử dụng đúng phong thủy để hút thêm nhiều tài nhiều lộc.
Ở trong ngôi nhà có phòng vệ sinh kiểu này, đàn ông sẽ khó kiềm chế bản thân, suốt ngày chìm đắm trong tâm lí ngờ vực, thiếu sự tin tưởng đối phương. Do đó, việc ra ngoài tìm “nguồn vui mới” là điều khó tránh.

► Mời bạn đọc: Những câu nói hay về tình yêu và suy ngẫm

Ngọc Điệp

Xem thêm video: Không phải ai cũng biết về vật khí phong thủy


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Phong thủy tình yêu lý giải đàn ông trăng hoa

Nếu ngủ mơ thấy người nhà bị ma nhập là điềm báo gì? –

Trên thế giới hiện nay còn rất nhiều hiện tượng kỳ bí mà khoa học không thể giải thích được, tiêu biểu nhất trong đó là những chuyện liên quan đến ma quỷ, hồn phách, thế giới âm dương. Mặc dù hiện nay thế giới có tồn tại rất nhiều nền tôn giáo với ph
Nếu ngủ mơ thấy người nhà bị ma nhập là điềm báo gì? –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Nếu ngủ mơ thấy người nhà bị ma nhập là điềm báo gì? –

Chùa Ngọc Hoàng - TP Hồ Chí Minh

Chùa Ngọc Hoàng là tên thường gọi của Ngọc Hoàng Điện, tên chữ là Phước Hải Tự hiện tọa lạc tại số 73 đường Mai Thị Lựu, quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh
Chùa Ngọc Hoàng - TP Hồ Chí Minh

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Chùa Ngọc Hoàng là tên thường gọi của Ngọc Hoàng Điện, tên chữ là Phước Hải Tự (người Pháp thì gọi là chùa Đa Kao); hiện tọa lạc tại số 73 đường Mai Thị Lựu, quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam.

Ngọc Hoàng Điện vốn là một điện thờ Ngọc Hoàng Thượng đế do một người tên Lưu Minh (pháp danh là Lưu Đạo Nguyên, người Quảng Đông, Trung Quốc) xây dựng vào khoảng đầu thế kỷ 20 . Theo học giả Vương Hồng Sển, thì Lưu Minh là người “ăn chay ròng, giữ đạo Minh Sư, lập chí quyết lật đổ nhà Mãn Thanh, xuất tiền tạo lập chùa vừa để thờ phượng vừa để làm nơi hội kín”…

Năm 1982, Hòa thượng Thích Vĩnh Khương đến tiếp quản điện thờ. Kể từ đó điện thờ này thuộc về Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Đến năm 1984, thì điện Ngọc Hoàng được đổi tên là “Phước Hải Tự”.

Phước Hải Tự là một ngôi chùa cổ, làm theo kiểu đền chùa Trung Hoa với mô típ trang trí rực rỡ. Chùa xây gạch, mái lợp ngói âm dương, trang trí bờ nóc, góc mái bằng nhiều tượng gốm màu. Trong chùa có nhiều tác phẩm nghệ thuật: tranh thờ, tượng thờ, bao lam, liễn đối, hương án… bằng các chất liệu: gỗ, gốm, giấy bồi.

Khuôn viên chùa rộng khoảng 2.300 m2. Phía trước có ngôi miếu nhỏ đặt tượng Hộ Pháp. Cổng tam quan nổi bật với những đường nét uốn lượn hình sóng nước của hai con rồng theo tư thế “tranh châu”.

Chính điện thờ Ngọc Hoàng Thượng Đế, Huyền Thiên Bắc Đế với các thiên binh, thiên tướng. Có phối thờ Quan Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát và một số thần linh quen thuộc trong tín ngưỡng của người Hoa như: Thiên Lôi, thần Môn Quan (thần giữ cửa), thần Thổ Địa(thần đất đai), thần Táo Quân (thần lò bếp), thần Hà Bá (thần sông nước), Văn Xương và thần Lã Tổ (thần văn chương), Thái Tuế (sao giải hạn), Lỗ Ban (thầy dạy nghề), Nữ Oa Thánh Mẫu, 12 bà mụ, 13 đức thầy , v.v… Ngoài ra, chùa còn thờ thần Thành hoàng…Nhìn chung, các pho tượng thờ trong điện thờ đều là những tác phẩm điêu khắc gỗ đẹp.

Hàng ngày khách trong và ngoài nước đến chiêm bái chùa rất đông. Lễ hội lớn nhất là Vía Ngọc Hoàng diễn ra ngày 9 tháng Giêng (âm lịch) hàng năm.

Ngày 15 tháng 10 năm 1994, chùa Ngọc Hoàng được công nhận là một di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Chùa Ngọc Hoàng - TP Hồ Chí Minh

Xem tướng lông mày trên khuôn mặt

Xem tướng lông mày nghĩa là quan sát lông mày trên khuôn mặt độ đậm, nhạt, rậm, thưa, dài ngắn, vểnh lên hay cụp xuống, từ đó có thể nhận xét về tài vận
Xem tướng lông mày trên khuôn mặt

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Lông mày hay còn gọi là Bảo thọ quan, xem tướng lông mày nghĩa là quan sát độ đậm nhạt, hình dáng, màu sắc, dài ngắn của lông mày, từ đó nhận định được những điểm đặc biệt của con người này.

1. Lông mày hình chim nhạn bay trên bầu trời là tướng tốt lành

Trong Quảng giám tập có nói: Lông mày tượng trưng cho vua, mắt tượng trưng cho bề tôi. Tướng lông mày thanh tú mà dài hơn so với mắt, hình trạng của lông mày tựa như hình trạng của chim nhạn bay trên tròi là tướng tốt lành. Người có lông mày ngắn hơn so với mắt khó có anh em. Nếu có nhiều anh em, hầu hết cũng vất vả chẳng cậy nhờ được.

Xem tướng qua lông mày nhận định: Người có lông mày dài hơn so với mắt sẽ có anh chị em; lông mày dài hơn so với mắt, lại có hình trạng tựa như cầm chổi quét, người đó có nhiều anh chị em hơn. Người có lông mày và mắt dài bằng nhau, chỉ có 1 đến 2 anh em. Người có lông mày ngắn hơn so vối mắt, không có anh em, còn nếu có 1 đến 2 anh em thì cũng không phải là anh em ruột thịt. Từ 26 đến 35 tuổi về cơ bản có khoảng 4 – 5 năm vận số không tốt.

2. Tướng lông mày tựa trăng đầu tháng, cả đời hạnh phúc

Trong Quảng giám tập có chép: Lông mày được xem là vua của mắt, mầm của túi mật, vẻ ngoài của mặt. Lông mày thanh tú tức là tựa như vầng trăng khuyết, người như thế, đầu óc thông minh, có trí tuệ, có tài năng văn học, rất phú quý, địa vị hiển hách, cả đời giàu có. Từ năm 26 tuổi đến trung niên, công danh hiển hách. Quách Lâm Tông nói: Người có lông mày tựa như trăng khuyết, danh vang thiên hạ. Hứa Phụ nói rằng: Người có lông mày cong tựa hình trăng khuvết, chẳng phải lo chuyện cơm áo, cả đời chẳng nghèo khổ. Trong Thái thanh thần giám cho rằng: Người có lông mày cong cong, học thức cao siêu.

3. Giữa 2 mày rộng thoáng, cả đời hưởng phúc

Giữa 2 lông mày là Ấn đường, cũng được gọi là cung Quan lộc, cung Tướng mạo, cung Phúc đức, cung Tử khí. Trên mặt người, Ấn đường có mối quan hệ rất mật thiết với chuyện họa phúc của đời người. Người mà giữa 2 lông mày rộng thoáng, chia ra hai bên nhập vào tóc mai, cả đời hưỏng phúc, là người quý hiển. Năm 26 tuổi mới bắt đầu vận số, đến thời kỳ trung niên mới có thế có được công danh. Có một vị chân nhân là Vệ Lâm từng nói: Lông mày được tượng trưng bởi hai sao La hầu và Kế đô, mày rộng là tướng tốt. Mày nhập vào cung Tử khí là tướng xấu. Ngoài ra, 2 lông mày không được gần sát nhau. Trần Đồ Nam từng nói rằng: Người mà có lông mày dựng thẳng, lòng lang hiểm độc

4. Xem tướng lông mày dựng đứng có tâm thích sát phạt.

Trong Đại thống phú có chép: Người có lông mày dựng thẳng đứng, tính tình vội vàng, thần thái hung mãnh, thích tranh đấu với người khác, có sát khí, làm việc vô nguyên tắc. Lại nói: Người có lông mày dựng thẳng đứng thường là người lòng lang hiểm độc.

5. Xem Tướng lông mày đen dày, trông không cân xứng với mặt, chủ vất vả cả đời.

Trong Ngủ tổng quy có nói: Lông mày rậm đen, tóc thô dày cuộc sống sẽ không thuận lợi. Trong Vạn kim tướng nói: Nam là dương, người con trai mà có lông mày tựa mày hổ cả đời vất vả. Vậy lông mày như thế nào gọi là lông mày hổ? Lông mày đen dày đậm tức là lông mày hổ. Người mà có lông mày hổ, cả đời chẳng gặp nhiều chuyện vui vẻ. Từ 26 đến 35 tuổi vận số không tốt, chủ vất vả.

6. Xem bói lông mày giao nhau ở Ấn đường, cả đời bôn ba

2 lông mày tại vị trí của Ấn đường có sự giao hòa với nhau, tức là mọc lấn vào vị trí Ân đường. Vì Ân đường được gọi là cung Quan lộc nên người mà lông mày không mọc lấn vào Ấn đường sẽ được làm quan, lại có cuộc sống an nhàn. Người mà có tướng lông mày giao nhau, chẳng có được quan lộc, ngược lại còn phải bôn ba vất vả kiếm sống. Ấn đường cũng được gọi là cung Mệnh, lông mày được gọi là sao La, Kế, cho nên người mà có sao La, Kế nhập vào cung mệnh, cùng không được hưởng quan lộc.

7. Tướng lông mày dài sát mắt, tai họa không ngừng

Trong Quảng giám tập có nói: Lông mày là hai sao La hầu, Kế đô, tượng trưng cho mặt trăng và mặt trời của mắt. Lông mày sát mắt, tức là lông mày và mắt có sự tương liên, như thế là biểu hiện của 2 sao La hầu, Kế đô xâm phạm vào Thái âm và Thái dương. Mà Thái âm, Thái dương là sự hòa hợp của mặt trăng và mặt trời, là chủ của thân. Cho nên vận hạn qua tướng lông mày của những người này, từ 26 đến 29 tuổi vận thế không tốt; 37, 38, 39 tuổi cũng không thuận lợi. Tình hình như thế, nếu có sao Nguyệt bột chiếu rộng, Nhật, Nguyệt rõ ràng thì tai họa có thể giảm đi.

8. Xem bói người có xương mày nổi cao không nên kết giao

Lăng cốt nổi cao tức là người có xương nơi lông mày nối cao lớn và lộ rõ ra, cử chỉ thô lỗ, làm việc máy móc, chỉ biết hướng vể phía trước mà không biết tùy cơ ứng biến nên lùi về sau. Họ chỉ biết giữ mà không biết mất, chỉ biết thành công mà không biết đến thất bại. Kiêu ngạo, tự cao, tự đắc, rõ ràng biết việc không thể thành công nhưng vẫn theo đuổi một cách mù quáng, tính tình nóng vội, có tâm sát phạt. Người như thế không thế kết giao.

9. Trong lông mày có nốt ruồi, tốt xấu chẳng rõ

Trong tướng thuật, 2 lông mày có thể quản vận hạn của 4 năm. Trong đó, lông mày trái quản vận hạn 2 năm từ năm 26 đến năm 27 tuổi, còn lông mày phải quản vận hạn 2 năm từ 28 đến nảm 29 tuổi. Trong lông mày có nốt ruồi hoặc có đường vân, điềm tốt xấu trong đó có thể chia thành mấy loại sau đây:

-Người mà trong lông mày có nốt ruồi đen, khi còn nhỏ phòng gặp tai họa liên quan đến sông nước.

-Người mà đầu mày có nốt ruồi, tính cách thường cương nghị. Nếu phía trên lông mày có nốt ruồi, tất sẽ được làm quan mà trở thành quý nhân. Trong lông mày mà

có đường vân hình chữ “nguyên” hoặc chữ “thập” , người đó có phúc lại có tài. Trong lông mày mà có đường vân hình chữ “thổ”, hoặc có đường vân hình cánh chim, hình cá tất sẽ làm tới hàng đại tướng, công khanh.

– Người mà có khí sắc trên lông mày bỗng chuyển sang trắng tất gặp họa. Người mà phía trên lông mày bỗng chuyến sang màu hồng, trong vòng ít ngày tới sẽ bị quan trên trách mắng. Người mà trong lông mày bỗng nhiên xuất hiện lông tơ, được gọi là thọ mao (lông trường thọ). Tuy nhiên thọ mao xuất hiện sớm là không tốt. Trong Vạn kim tướng có nói: Người mà năm 20 tuổi có thọ mao sẽ khó sống qua 30 tuổi; 40 tuổi mới xuất hiện thọ mao, như thế tuổi thọ rất dài. Nếu 40 tuổi trở lên, trong lông mày đột xuất hiện thọ mao dài, người như thế trong vòng 3 năm sẽ gặp được việc tốt lành.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem tướng lông mày trên khuôn mặt

Có nên trồng liễu trước cửa nhà?

Liễu là loại cây đẹp với bóng dáng mềm mại và màu xanh dịu mát. Nó thường được trồng nhiều ở ven hồ, trong các công viên tạo vẻ đẹp thơ mộng. Vậy cây liễu có thích hợp khi trồng trước cửa nhà?
Có nên trồng liễu trước cửa nhà?

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Xét về quan điểm hình thế, phần trước của ngôi nhà (minh đường) luôn cần sự quang đãng, sáng sủa, tránh bị che chắn làm giảm tầm nhìn, ngăn cản sự lưu thông của sinh khí vào đại môn (cửa chính).
Cây lá lòa xòa trước nhà, theo phong thủy như vậy tức là Mộc khắc Thổ. Nếu cây to sẽ có rễ lớn ăn vào đất ảnh hưởng đến nền nhà, đi lại dễ bị va vấp. Loại cây nhiều lá thì lá rụng đầy sân, bóng râm che khuất khiến nhà thiếu ánh sáng mặt trời. Như vậy, gia chủ gặp nhiều điều bất lợi.
Cây liễu được trồng nhiều bên bờ hồ nhưng khi trồng vào khuôn viên nhà với diện tích đất nhỏ, không đủ độ thoáng, thiếu mặt nước rộng tạo độ ẩm để cây phát triển tốt... thì từ liễu rủ nó sẽ dễ trở thành lòa xòa, rũ rượi không đẹp mắt.
Đa phần nhà ở truyền thống của cha ông ta đều quay về hướng Nam hoặc Đông Nam là hướng gió chủ đạo. Cây có nhiều lá trồng trước nhà sẽ cản trở gió lành. Vì thế trước nhà chỉ nên trồng cây kiểng hoặc cây mảnh, dáng cao, lá sáng (cau, dừa cảnh). Sau nhà là những cây lá dày rậm (như chuối, bàng…) để che bớt gió lạnh phương Bắc và Đông Bắc.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Có nên trồng liễu trước cửa nhà?

Cách hóa giải tam địa sát –

Hoả khí tụ tại phương Nam, Hoả vượng tại Ngọ nên vào năm Giáp Ngọ 2014, Hỏa khí mạnh lên, xung chiếu Thủy khí ở cung đối diện là phương Bắc. Thủy - Hoả đấu nhau, tạo ra hung sát, những ngôi nhà/căn hộ có cửa ra vào tại phương Bắc sẽ chịu tác động xấu

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Hoả khí tụ tại phương Nam, Hoả vượng tại Ngọ nên vào năm Giáp Ngọ 2014, Hỏa khí mạnh lên, xung chiếu Thủy khí ở cung đối diện là phương Bắc.

Thủy – Hoả đấu nhau, tạo ra hung sát, những ngôi nhà/căn hộ có cửa ra vào tại phương Bắc sẽ chịu tác động xấu trong năm nay. Năm 2014, phương Bắc là phương vị bị Tam sát. Tam sát là gọi tắt của Kiếp sát, Tai sát và Tuế sát. Theo phong thủy học, Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ là 5 loại khí (năng lượng). Phương Đông tụ tập Mộc khí, phương Tây tụ tập Kim khí, phương Nam tụ tập Hoả khí, phương Bắc tụ tập Thuỷ khí, trung cung tụ tập Thổ khí. Các khí ở vị trí đối nhau có tính chất tương phản, thông qua tác dụng của Thổ ở trung cung mà tương khắc, tương xung, tạo ra hung sát. Tuy nhiên, không phải lúc nào khí của các cung đối nhau cũng tạo ra hung sát, mà phải căn cứ theo năm, tháng khác nhau, khí của phương vị nào đó thịnh vượng thì mới tạo ra hung sát.  cách hóa giải tam địa sát Xét theo năm, các năm Dần, Ngọ, Tuất, hung sát xuất hiện tại phương Bắc. Bởi lẽ, Hoả khí ở phương Nam, sinh ở Dần, lại thêm Thái tuế đến Dần, sinh khí cực thịnh. Hoả vượng tại Ngọ, lại thêm Thái tuế đến Ngọ, vượng khí càng vượng. Hoả ẩn tại Tuất, lại thêm Thái tuế đến Tuất, mộ khí của Hoả cực thịnh. Dần, Ngọ, Tuất hình thành cuộc Hoả tam hợp. Ba năm này, Hoả tụ tại phương Ngọ (chính Nam), xung chiếu Thủy khí ở cung đối diện là phương Bắc. Thủy – Hoả đấu nhau, xung sát rất mạnh, cho nên các năm Dần, Ngọ, Tuất, hung sát tại phương Bắc. Mặt khác, tam hợp địa chi Dần, Ngọ, Tuất “tuyệt” (tan rã) tại Hợi, nên vị trí Hợi có hung sát, được gọi là Kiếp sát. Tam hợp địa chi Dần, Ngọ, Tuất “thai” (phôi thai) tại Tý, nên vị trí Tý có hung sát, được gọi là Tai sát. Tam hợp, địa chi Dần, Ngọ, Tuất “dưỡng” (thai trưởng) tại Sửu, nên vị trí Sửu có hung sát, được gọi là Tuế sát. Theo đó, năm 2014, Tam sát ở hướng Bắc, phương vị là Hợi, Tý, Sửu. Phạm Kiếp sát dễ gặp tai nạn, mất mát tiền của. Phạm Tai sát dễ bị ốm đau, bệnh tật. Phạm Tuế sát dễ bị thương tật, rủi ro, bất lợi trong công việc và các mối quan hệ. Cổ nhân có câu: “Cát hung sinh ra do động, nếu đã bị phạm thì nên tĩnh, không nên động, nếu động thì là hung”. Do đó, trong năm 2014, kị tu tạo phương Bắc, vì đây là phương xung với Hoả khí năm Ngọ. Đặc biệt, tránh động thổ, tu sửa nhà cửa tại vị trí Tam sát là Hợi, Tý, Sửu, tức các vị trí (theo thứ tự): từ 322,5 độ đến 337,5 độ; từ 352,5 độ đến 7,5 độ (tức từ 352,5 độ đến 360 độ và từ 0 độ đến 7,5 độ); từ 22,5 độ đến 37,5 độ. Nếu cửa chính ở phương Bắc, nhất là vị trí Hợi, Tý, Sửu, thì năm nay phạm phải Tam sát. Cửa chính là nơi ra vào thường xuyên của người trong nhà, khuấy động sát khí thì nhân khẩu trong gia đình sẽ bị ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ. Mức độ ảnh hưởng của Tam sát là mạnh nhất khi cửa chính đặt tại phương vị Tý (chính giữa phương Bắc), vì đây là vị trí chính xung trong tam hợp Dần, Ngọ, Tuất. Đáng chú ý, phương Bắc đại diện cho thứ nam, tức con trai thứ trong nhà, hoặc người nam từ 16 đến 30 tuổi, do đó, mức độ ảnh hưởng của Tam sát đến những người này sẽ nhiều hơn những người khác. Ngoài ra, không nên bố trí các vật mang tính “động” như tivi, loa đài, quạt điện… tại phương Bắc; hạn chế ngồi học, làm việc tại phương Bắc và/hoặc quay lưng về hướng Bắc (quay mặt về hướng Bắc không kị). Ngồi quay lưng về hướng Bắc, tức mặt quay về hướng Nam sẽ bị Hỏa khí phương Nam xung chiếu, nhất là đối với người tuổi Tý (xung Thái tuế năm Ngọ). Một cách cơ bản để hoá giải hạn Tam sát là sử dụng kỳ lân, một trong bốn linh vật trong tứ linh theo tín ngưỡng dân gian Á Đông. Kỳ lân trong truyền thuyết là nhân thú, tức con thú có lòng nhân từ, gặp người tốt sẽ giúp đỡ. Kỳ lân có hình thù đặc biệt, với các đặc điểm như: đầu rồng, sừng nai, mũi sư tử, thân ngựa, đuôi bò… Trong phong thủy học, kỳ lân có tác dụng tăng uy vũ, trấn trạch, chiêu tài, hoá sát, hỗ trợ tiêu tai giải nạn, thúc tài thăng quan, vượng nhân đinh… Trong trường hợp cửa nhà phạm Tam sát nêu trên, nên đặt ở hai bên cửa một đôi kỳ lân bằng ngọc, hoặc bằng đồng. Nếu vị trí không thuận tiện thì có thể đặt ba con kỳ lân liền nhau ở bên trong, chẳng hạn trên bàn, đầu hướng ra cửa. Điều kiện kinh tế chưa cho phép thì có thể treo hai bức tranh hình kỳ lân lên hai cánh cửa. Phía ngoài cửa (bên trái) có không gian rộng thì nên trồng một loại cây thân gỗ để hấp thu hung sát, ngăn ngừa khí hung phát tác.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Cách hóa giải tam địa sát –

Cách xem tướng đoán tính cách con người qua hình dạng ngón tay –

Cách xem tướng. Đầu ngón tay thường có nhiều hình dạng khác nhau: hình nhọn, hình vuông,…Đầu ngón tay nhọn là người tỉ mỉ, kĩ càng, chính xác và sáng tạo Cách xem tướng. Trên một bàn tay, các đầu ngón tay có khi giống nhau nhưng ở một số người, chún
Cách xem tướng đoán tính cách con người qua hình dạng ngón tay –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Cách xem tướng đoán tính cách con người qua hình dạng ngón tay –

Xem tướng phụ nữ qua gò má –

Hai gò má (lưỡng quyền) được khoa nhân tướng học ngày nay đưa vào hạng mục “tướng của xương” để xem xét góp phần phân tích và dự báo về “đường đời” của mỗi người trong cuộc nhân sinh... Nhất là hai gò má của phụ nữ thường được gợi lên bằng các hình d

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Hai gò má (lưỡng quyền) được khoa nhân tướng học ngày nay đưa vào hạng mục “tướng của xương” để xem xét góp phần phân tích và dự báo về “đường đời” của mỗi người trong cuộc nhân sinh…

Nhất là hai gò má của phụ nữ thường được gợi lên bằng các hình dung từ bay bướm như: má hồng, má phấn, má đào… Phụ nữ có má đào là “má đỏ như quả đào chín”, má phấn là “má tô phấn, thường chỉ người gái giang hồ” và má hồng dùng “tỷ dụ người đẹp” . Song đó chỉ là những cách gọi dựa phần lớn vào sắc diện bên ngoài; chứ thực tướng của các “gò má” được quyết định bởi cấu trúc của phần xương bên trong.

Đối với phụ nữ mà nói thì đôi gò má trên gương mặt chính là nơi thể hiện cá tính của người này trong cuộc sống hôn nhân và sự nghiệp của họ.

Vì thế để xem xét nhân tướng cho rạch ròi, người ta đã gọi lưỡng quyền ở mỗi người (cả nam lẫn nữ) bằng hai tên gọi: “gò Tây” (gò má phía bên phải của khuôn mặt) và “gò Đông” (gò má phía bên trái của khuôn mặt), chẳng hạn:

Theo nhân tướng học thì người phụ nữ có khuôn trăng đầy đặn với hai gò Đông – Tây nằm cân xứng ở hai bên mặt thì là người phụ nữ có mệnh số cao, tương lai có thể vào hàng phu nhân quyền quý trong xã hội.

Nếu xương ở hai gò má không nhô cao lắm và nằm cân xứng nhau ở vị trí ngang với tóc mai là tướng tốt, sẽ đem đến nhiều điều may mắn, thuận lợi và sức khỏe ngay từ tuổi hoa niên. Còn như xương gò má kéo dài đến hai bờ tóc mai và nhô lên có sắc hồng hoặc có ánh vàng trơn láng vào giờ Ngọ, sẽ được nhiều người mến mộ, theo đuổi và thương yêu.

Xương gò má cùng các xương khác trong người đại thể có nhiều tướng trạng khác nhau, song theo các nhà nghiên cứu và dịch thuật có uy tín về nhân dạng học như Lê Giảng, Hoài Chiêm Tinh, Mã Khắc Hồng, Mai Giáo Chủ, thì tất cả các xương có một số đồng dạng về nhân tướng sau đây.

Hễ xương lộ ra quá mức sẽ thường gặp chuyện tranh chấp, cãi vã với người chung quanh. Hễ xương nhô ra có hình nhọn sẽ gặp trắc trở trong công việc kinh doanh vào tuổi trung niên. Người ta còn gọi gò Đông là “Đông nhạc” và gò Tây là “Tây nhạc”.

Người phụ nữ có Đông nhạc cao và cân xứng với Tây nhạc sẽ sống thọ – cao và nhô lên sát hai bên tai thuộc dạng xương Phượng Vỹ, tức đuôi con chim phượng, nếu theo nghiệp võ sẽ thành đạt vào hàng tướng tá quan quyền…

Cách xem tướng gò má phụ nữ đoán tính cách, sự nghiệp

Gò má nhô cao

Đối với những người phụ nữ có gò má quá cao là những người nhân tướng học cho là xấu số nhất. Người phụ nữ có gò má quá cao có tướng sát phu, gây hại cho chồng còn, thường xuyên gặp chuyện tranh chấp cãi vã với người xung quanh. Những người phụ nữ này thường không gây được thiện cảm đối với người lớn tuổi. Đôi gò má quá cao cũng làm gương mặt người phụ nữ trở nên già nua, góc cạnh hơn, mất đi tính thẩm mỹ của gương mặt.

Nhiều người Á Đông ủng hộ với quan điểm gò má cao sát chồng nhưng cũng chưa có bất kì một bằng chứng khoa học nào chứng minh cho điều ấy. Ngược lại, ở các nước phương Tây những người phụ nữ gò má cao luôn được đánh giá là người có cá tính mạnh mẽ và cuộc sống hôn nhân của họ không hề bị ảnh hưởng bởi quan điểm trên.

Trong công việc, cá tính mạnh mẽ ấy chính là ý trí kiên cường vượt qua mọi khó khăn, có khả năng gánh vác được nhiều việc quan trọng. Hơn nữa, tính cách cởi mở với mọi người giúp người phụ nữ chiếm được cảm tình của gia đình và bạn bè của mình. Đối với những người phụ nữ gò má cao và chóp mũi to, đây quả là sự kết hợp tuyệt vời. Chủ nhân vốn hiền lành và lương thiện này sẽ gặp nhiều may mắn và thành công hơn trên mọi lĩnh vực.

Người phụ nữ có gò má cao thường là người đạt được sự giàu có nhất định bởi theo nhân tướng học, người phụ nữ có gò má cao thường tích cực có ý chí phấn đấu, tuy nhiên do quyền hành cao hơn năng lực bản thân, nên để củng cố quyền hành cần phải cố gắng quá nhiều, thậm chí dùng cả thủ đoạn, dẫn tới chỗ trở thành kẻ hung hăng, tiểu nhân, dẫn tới hậu quả xấu cho người đó, vậy coi như gò má xếp nhầm chỗ (cao hơn mũi) không tốt.

Cung gò má quá to

Người phụ nữ có cung gò má quá to: Chủ nhân bản tính khá ương ngạnh và cố chấp. Thường gây mâu thuẫn với mọi người xung quanh vì không chịu nhường nhịn mọi người cuộc sống hôn nhân vì thế cũng có phần khó khăn.

Cung gò má nở rộng

Việc sở hữu đôi gò má nở to được xem là một hình mẫu lý tưởng, bởi chủ nhân của đôi gò má này là người có trí tuệ sắc sảo, có tinh thần cảnh giác cao và đặc biệt là khả năng nhìn xa trông rộng. Hầu hết ở họ điểm chung nổi bật nhất là có tố chất làm lãnh đạo. Nhờ vào ưu điểm đặc biệt này, bạn có thể thành công ở hầu hết các lĩnh vực kinh tế với tư cách là đầu tàu.

Nếu người phụ nữ cung gò má nở rộng, mũi nhỏ, thì là người phụ nữ tính tình nóng vội, hay can thiệp chuyện của chồng, gây chuyện thị phi, đa nghi điều này khiến vợ chồng hay xảy ra mâu thuẫn. Cần phải biết kiềm chế và suy nghĩ chín chắn trước khi phát ngôn.

Gò má vừa rộng vừa cao

Trong cuộc sống, người này tự tin làm việc độc lập mà không cần nhận sự giúp đỡ của một ai khác khiến mọi người tưởng rằng bạn theo chủ nghĩa cá nhân. Đôi khi họ lại hơi quá tập trung vào giai đoạn ăn mừng chiến thắng làm bạn bè và người thân hiểu lầm rằng họ tự đắc. Nhưng nhờ sự chân thành, nỗ lực không ngừng khắc phục những nhược điểm của mình, mọi người không chỉ hiểu họ hơn mà còn ủng hộ họ thực hiện tiếp những hoài bão của mình. Phụ nữ độ tuổi trung niên là khoảng thời gian họ gặt hái được nhiểu thành công nhất.

Gò má thấp

Người phụ nữ sở hữu kiểu gò mà này thường nung nấu trong mình nhiều ước mơ và hoài bão cháy bỏng. Tuy nhiên, điểu đó chưa đủ để biến chúng thành sự thật nếu kế hoạch và chiến lược thực hiện không được triển khai. Lý do lớn nhất là họ vẫn chưa đủ lòng tin để xúc tiến một mình và họ lo sợ về khả năng thất bại cao. Đôi lúc tính cách rụt rè, nhút nhát, hướng nội đã làm cản trở họ thực hiện niềm đam mê. Điều quan trọng của mẫu người phụ nữ sở hữu loại gò má này chính là củng cố lòng tin vào chính mình.

Gò má tròn đầy đặn

Lưỡng quyền đầy đặn: là người có ý chí kiên cường, tinh thần phấn đấu cao, có năng lực ứng phó. Nếu phụ nữ tướng này sẽ là tướng vượng phu (giúp ích cho chồng trong sự nghiệp và cuộc sống). Phụ nữ có gò má đầy đặn, cao, tròn và thanh, không lộ xương là tướng gò má đẹp. Họ sẽ đạt được nhiều thành công trong sự nghiệp ở tuổi trung niên.

Không thích sự gò bó, thích phiêu lưu, chan hòa, hướng ngoại, khao khát sự chú ý của mọi người và có khả năng ứng phó với tình huống là những tính cách điển hình của người này. Trên con đường sự nghiệp, họ tỏa sáng và được sống thực với con người mình nhất chính là những công việc liên quan tới nhóm ngành giải trí như diễn viên điện ảnh, người mẫu, hoặc nhà báo…v..v.

Mặc dù áp lực công việc luôn đè nặng đôi vai nhưng sự thông minh và khéo léo của mình đã giúp họ cân bằng được mọi việc. Trong cuộc sống hạnh phúc gia đình, họ không chỉ là một người vợ, người mẹ chăm sóc chồng con chu đáo mà còn là nguồn động viên kịp thời cho những người thân yêu.

Gò má hai bên không cân xứng

Với những người phụ nữ có gò má hai bên không cân xứng nhau hay cái cao cái thấp thì được dự đoán là là người gặp khó khăn trên đường làm ăn,đường tình yêu gặp nhiều trở ngại, phải lớn tuổi mới lập gia đình. Tục ngữ xưa cũng đã đúc kết việc hai gò má không cân xứng nhau thành câu:

“Gò má mà chẳng cân phân. Cuộc đời cam chịu lắm phần lao đao”.

Nếu hai gò má sát gần với đuôi lông mày, hậu vận sẽ có phần khá hơn, vì được sự giúp đỡ của quý nhân và con cháu.

Cách xem tướng gò má phụ nữ đoán định vận mệnh và tình duyên, hôn nhân, hạnh phúc gia đình

– Phụ nữ có gò má thanh, tròn và ẩn, mắt và mũi thanh, chủ nhân là mẫu người vợ hiền, mẹ giỏi, có thể lấy được người chồng thành đạt, có trách nhiệm với gia đình.

– Phụ nữ có bờ gò má cao tới Thiên Thương (phía trên chân mày), chủ nhân là người từng trải, song, hôn nhân không mấy tốt đẹp, gia đình gặp chuyện xung khắc hoặc ly tán.

– Cung gò má của người phụ nữ nhô cao, chủ nhân cả đời nghèo hèn. Cung gò má lõm, chủ nhân không giúp được gì cho chồng con.

– Cung gò má quá to, chủ nhân bản tính dữ dằn, không hiếu thuận, hôn nhân cũng không mấy tốt đẹp, cuộc sống vất vả, về già cô độc.

– Cung gò má nhô cao, trán cao, chủ nhân có lối sống không lành mạnh, có thể khắc tới ba đời chồng.

– Cung gò má cao và to, bàn tay to, chủ nhân có thể chịu đựng được gian khổ, giỏi lập nghiệp nhưng khó hưởng phúc của chồng con.

– Cung gò má cao nhưng mũi lại nhỏ, chủ nhân hay làm trái lời chồng, chồng gặp nhiều khó khăn, cuộc sống hôn nhân không mấy tốt đẹp.

 

– Cung gò má nở rộng, mũi nhỏ, chủ nhân tính tình nóng vội, hay can thiệp chuyện của chồng, gây chuyện thị phi, đa nghi và đời sống hôn nhân không tốt đẹp.

– Cung gò má có sắc khí vàng tươi, môi đỏ, chủ nhân là cánh tay đắc lực của chồng con, được hưởng hạnh phúc đến già. Nếu có sắc khí vàng sẫm, chủ nhân có cuộc sống nghèo hèn.

– Sắc khí cung gò má xanh biếc, chủ nhân có tâm ý độc địa, khắc chồng, gia đình tan vỡ.

– Cung gò má lúc trắng, lúc đỏ gọi là “khuôn mặt đào hoa”, chủ nhân có lối sống buông thả, hời hợt trong chuyện tình cảm.

– Cung gò má và một số bộ phận khác có sắc trắng bệch, chủ nhân khắc chồng con, hôn nhân không mấy tốt đẹp.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem tướng phụ nữ qua gò má –

Phong thủy thúc vượng đào hoa, dân văn phòng thoát ế

Phong thủy thúc vượng đào hoa: Chỉ cần bạn biết vận dụng kiến thức phong thủy đúng cách, vận đào hoa ắt vượng, giúp bạn thoát ế nhanh chóng.
Phong thủy thúc vượng đào hoa, dân văn phòng thoát ế

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Cả ngày tất bật với công việc trong văn phòng, thử hỏi thời gian đâu để bạn đi tìm nửa kia cho mình? Thực ra, xung quanh nơi làm việc có khá nhiều đối tượng phù hợp, chỉ cần bạn biết vận dụng kiến thức phong thủy đúng cách, vận đào hoa ắt vượng, giúp bạn thoát ế nhanh chóng.


Dưới đây là một vài ứng dụng phong thủy thúc vượng đào hoa đơn giản, ai cũng có thể dễ dàng thực hiện được mà hiệu quả khiến bạn phải bất ngờ.
1. Xác định phương vị đào hoa   Phương vị đào hoa được xác định theo các tuổi như sau: Người tuổi Thân, Tý, Thìn có phương vị đào hoa ở hướng Chính Tây. Người tuổi Dần, Ngọ, Tuất ở hướng Chính Đông. Người tuổi Hợi, Mão, Mùi ở hướng Chính Bắc. Còn người tuổi Tỵ, Dậu, Sửu ở hướng Chính Nam.  
Phong thuy thuc vuong dao hoa, dan van phong thoat e hinh anh
 
2. Bài trí đồ phong thủy ở phương vị đào hoa   Sau khi đã xác định được phương vị đào hoa của mình, bạn nên sử dụng một số vật phẩm phong thủy để bài trí tại đó sẽ thúc đẩy đào hoa khí vượng, giúp bạn sớm tìm được nửa kia ưng ý.
a. Thủy tinh màu hồng   Trong phong thủy, thủy tinh còn được gọi là đá phong thủy. Thủy tinh màu hồng có tác dụng thúc đẩy tình cảm phát triển ổn định, thúc vượng nhân duyên, là “trợ thủ đắc lực” trên con đường chinh phục tình yêu của bạn.  
Phong thuy thuc vuong dao hoa, dan van phong thoat e hinh anh 2
 
Do đó, tại phương vị đào hoa trên bàn làm việc của mình, bạn có thể đặt một quả cầu thủy tinh trên một chiếc cốc hay ly bằng gốm màu trắng. Điều này có tác dụng hữu hiệu trong việc thu hút sự chú ý của các đối tượng khác giới.
b. Chậu cây xanh   Thực vật có màu xanh không chỉ tạo cảm giác mát mắt, thư giãn mà còn thúc đẩy nhân duyên vượng, tăng sức mạnh đào hoa. Vì thế, bạn có thể trưng chậu cây cảnh màu xanh ở phương vị đào hoa trên bàn làm việc của mình để sớm tìm được tình yêu đích thực.   Lưu ý, chỉ nên chọn những loại cây có tán rộng, lá tròn trịa, không gai góc. Đồng thời, nên chăm sóc chúng hàng ngày, tránh để xảy ra hiện tượng héo úa hay rụng lá. Có như vậy mới phát huy tác dụng tối ưu trong việc chiêu nạp đào hoa khí, giúp bạn nhanh chóng thoát ế.   Mách nước cho hội FA tìm được nửa yêu thương trong năm 2016 Chỉ với một vài sự thay đổi nho nhỏ về phong thủy, bạn sẽ tự kích hoạt cung đào hoa cho mình. Từ đó, hội FA có thể tìm được “gấu” trong năm mới một cách dễ

c. Thiệp mời hay kẹo cưới
 
Phong thuy thuc vuong dao hoa, dan van phong thoat e hinh anh 3
 
Sau khi tham gia lễ cưới của bạn bè, bạn có thể giữ lại thiệp mời hoặc lấy hai vài túi, viên kẹo cưới mang về để ở bàn làm việc.   Theo phong thủy, những đồ vật này chứa nhiều hỉ khí, giúp bạn sớm đón nhận tinh vui trong tình yêu. Đồng thời bày kẹo cưới theo cặp cũng mang ý nghĩa bạn sớm tìm được người “xứng đôi vừa lứa” với mình.  
► Cùng bói tình yêu theo cung hoàng đạo để biết hai bạn có hợp nhau không

Hoàng Linh (Theo MGSP)  
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Phong thủy thúc vượng đào hoa, dân văn phòng thoát ế

18 mẹo phong thủy cho đàn ông cần nhớ

Phong thủy truyền thống cho rằng, nam nữ là hai cá thể khác biệt nên có những điểm mà nam hung nhưng nữ cát. 18 lưu ý phong thủy dành cho đàn ông dưới đây là
18 mẹo phong thủy cho đàn ông cần nhớ

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Phong thủy truyền thống cho rằng, nam nữ là hai cá thể khác biệt nên có những điểm mà nam hung nhưng nữ cát, nữ xấu nhưng nam tốt. 18 lưu ý phong thủy dành cho đàn ông dưới đây là ví dụ điển hình.


18 meo phong thuy danh rieng cho phai manh hinh anh
 
1. Đàn ông nếu ở lâu dài trong phòng tại tầng hầm hoặc phòng của phụ nữ thì dương khí sẽ không đủ.
  2. Lưu ý phong thủy dành cho đàn ông là nếu ở nhà tọa Tây Nam hoặc giường ngủ kê hướng về phía Tây thì tình duyên sẽ gặp nhiều trắc trở.   3. Hình xăm đồng dạng (nhất là hình hai chiếc đầu, bộ ngực) sẽ làm cho tài vận và duyên vận của đàn ông giảm sút.   4. Đàn ông thường xuyên ở trong phòng có tạp vật, bừa bãi thì tài vận quanh co.   5. Người nuôi cá, trồng hoa thường xuyên không thành công hoặc chỉ nhất thời hứng khởi sẽ ảnh hưởng tới quý nhân vận.   6. Phòng treo nhiều tranh ảnh phụ nữ mà không phải người thân hay người yêu thì dễ mắc nạn đào hoa.   7. Mua hoặc thuê nhà khuyết góc Tây Bắc thì không bị nữ nhân coi thường, kết hôn xong bị vợ quản.   8. Lưu ý phong thủy đàn ông phải tránh là không được giặt nội y bừa bãi, không nên mang ra hàng giặt công cộng, dễ khiến tình cảm giảm sút.   Bốn nỗi khổ lớn của một đời người và cách để thay đổi chúng
9. Không có cốc uống nước cố định thì với người đàn ông mệnh Mộc đã tự đánh mất nhiều cơ hội tốt trong sự nghiệp.
  10. Hủy hoại hay vô tình làm hỏng, làm mất đồ trang sức mà mình từng tặng cho phụ nữ cũng là lỗi phong thủy đàn ông hay mắc mà không biết điều đó sẽ khiến tình cảm tan vỡ, tình duyên lận đận.   11. Thường xuyên quan hệ với những người phụ nữ mình không yêu sẽ tổn thương nguyên khí.   12. Thường xuyên lấy người khác ra làm trò đùa sẽ dễ gặp tiểu nhân.   13. Đàn ông có thói quen để “áo mưa” ở ngăn kéo bên trái trong phòng làm việc thì dễ bị “cắm sừng”.   14. Vị trí làm việc ở phía sau phụ nữ lại cạnh bên nhà vệ sinh thì nhất định sự nghiệp không thể phát triển.   15. Ở nhà riêng hay phòng làm việc chỉ nên đặt một chậu cây nhỏ, nếu trưng bụi cây lớn thì dễ lâm vào khốn cảnh, tự mình hại mình, vận thế giảm xuống.
18 meo phong thuy danh rieng cho phai manh hinh anh
 
16. Đàn ông khiến phụ nữ có thai sinh non, sảy thai mà không tiến hành siêu độ thỏa đáng thì về sau rắc rối càng nhiều.
  17. Thường xuyên vung vãi tiền lẻ rồi hàng tháng lại phải vay tiền, thậm chí vay tiền phụ nữ khiến tài vận và sự nghiệp không thể khởi sắc.   18.  Tùy ý nói năng, sử dụng những lời lẽ không tốt, ác ý công kích người khác sẽ khiến tài vận, tình vận cùng sức khỏe phát sinh sự cố ngoài ý muốn.  
► Lịch ngày tốt cung cấp công cụ xem tử vi số mệnh của bạn nhanh, chuẩn xác

Trần Hồng

Xem Clip Ăn ở phúc đức, một đời no đủ

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: 18 mẹo phong thủy cho đàn ông cần nhớ

Đặt tên Con theo mùa sinh mang lại may mắn

Tên con theo đúng mùa sinh có thể mang lại may mắn phát tai, bố mẹ có thể tham khảo tên theo theo đúng mùa sinh và xem có phù hợp với con mình hay không?

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Bé sinh vào mùa nào đặt tên theo tiết trời, thiên nhiên của mùa ấy là cách đặt tên vừa hay, ý nghĩa, lại hòa hợp theo phong thủy, đem lại may mắn, phát tài. Hãy thử tham khảo kiểu đặt tên con theo đúng mùa sinh và xem tên có phù hợp với con mình hay không?

Đặt tên con theo mùa xuân

Mùa xuân là mùa bắt đầu của một năm, mùa của cây cối đâm chồi nảy lộc, của muôn hoa khoe sắc thắm, mùa của những loài chim (đặc biệt là chim én) bay về làm tổ. Vì thế, có rất nhiều gợi ý thú vị cho những cái tên của bé yêu sinh vào mùa xuân:

Tên cho bé gái:

Mang ý nghĩa của mùa xuân: Minh Xuân (mùa xuân tươi sáng); Mỹ Xuân, Diễm Xuân (mùa xuân tươi đẹp); Thanh Xuân (tuổi trẻ tràn đầy sức sống); Hương Xuân (hương thơm của mùa xuân).

Các loài chim của mùa xuân: Hoàng Yến, Thanh Yến, Diệu Yến, Hồng Yến, Nhã Yến, Ngọc Yến, Bảo Yến, Phương Yến, Minh Yến, Xuân Yến, Kim Yến, Quỳnh Yến.

Các loài hoa của mùa xuân: Tú Mai, Thủy Tiên, Thanh Mai, Yến Thảo, Xuân Mai, Hải Đường, Nguyệt Mai, Cát Tường, Anh Đào, Tầm Xuân, Xuân Đào, Trà My, Thanh Đào, Anh Thảo.

Tên cho bé trai:

Mang ý nghĩa mùa xuân: Xuân Trường (mùa xuân trường tồn); Thanh Minh (tiết thanh minh của mùa xuân); Vĩnh Xuân (mùa xuân vĩnh cửu); Đông Phong (làn gió từ phương đông, gió mùa xuân); Đông Quân (vị thần của mặt trời, của mùa xuân).

Đặt tên con theo mùa hạ

Nhắc đến mùa hạ là nhắc đến sự rạo rực, sôi động và tràn đầy năng lượng từ ánh nắng mặt trời, từ những loài hoa nhiệt đới nhiều màu sặc sỡ và những cơn mưa mùa hạ tươi mát. Mùa hạ đem tới nhiều cảm hứng để đặt tên cho bé trai và bé gái:

Tên bé gái theo mùa hạ: Hạ Vy (mùa hạ nho nhỏ); Hạ Miên (giấc mơ mùa hạ); Diệp Hạ (lá cây mùa hạ); Lam Hạ (mùa hè xanh); An Hạ (mùa hè bình an); Thanh Hạ (mùa hè thanh bình); Hạ Vân (đám mây mùa hạ); Thùy Dương (án nắng rực rỡ); Thiên Thanh (bầu trời xanh)

Tên bé gá theo loài hoa mùa hạ: Đỗ Quyên, Hồng Liên, Mộc Miên, Diên Vỹ, Ngọc Phượng, Cát Phượng, Hướng Dương.

Tên bé trai theo mùa hạ: Hạ Vũ (mưa mùa hạ); Khởi Hạ (sự bắt đầu của mùa hạ); Quang Hạ (ánh nắng mùa hạ), Thái Dương (ánh mặt trời rực rỡ); Nam Phong (ngọn gió phía  nam, gió mùa hạ)

Đặt tên con theo mùa thu

Mùa thu đem đến cảm giác tươi sáng, nhẹ nhàng, lãng mạn. Đây là mùa có ngày Quốc khánh, ngày lễ vui và thiêng liêng của cả đất nước, mùa có trăng tròn đầy và viên mãn nhất:

Tên bé gái theo mùa thu: Hương Thu (hương thơm mùa thu); Diễm Thu (mùa thu đẹp); Hoài Thu (mùa thu thương nhớ); Minh Thu (mùa thu trong sáng); Bích Thu (mùa thu xanh)

Tên bé gái theo hiện tượng mùa thu: Thùy Vân (đám mây diêu bồng); Minh Nguyệt (ánh trăng sáng trong); Thu Nguyệt (ánh trăng mùa thu); Thu Thủy (làn nước mùa thu);

Tên bé gái theo loài hoa mùa thu: Thạch Thảo, Hoàng Cúc, Thanh Cúc, Hồng Cúc, Họa Mi, Vân Anh, Trúc Đào.

Tên bé trai theo mùa thu: Quốc Khánh (ngày vui của đất nước); Thanh Phong (ngọn gió mát màu thu); Vĩnh Thu (mùa thu dài bất tận)

Đặt tên con theo mùa đông

Ấn tượng về mùa đông luôn là sự giá băng, lạnh lẽo. Vì thế, những cái tên liên quan đến các loài cây mạnh mẽ, chịu được sương gió bão tuyết cực kì thích hợp để đặt tên cho các bé trai. Những hiện tượng thiên nhiên lãng mạn như băng , tuyết cũng rất hợp để đặt tên cho bé gái:

Tên bé gái theo mùa đông: Đông Vy, Quỳnh Đông, Đông Nhi, Đông Phương

Tên bé gái theo hiện tượng mùa đông: Thanh Băng, Tuyết Nhi, Băng Di, Tuyết Ngọc, Tuyết Mai, Hải Băng, Ngọc Tuyết, Hàn Thư, Tuyết Vân, Hàn Nhi, Băng Tâm, Hàn Thanh, Khánh Băng, Minh Tuyết.

Tên bé trai theo mùa đông: Huỳnh Đông, Quang Đông, Hải Đông, Chí Đông, Giang Đông, Thụy Đông, Khả Đông.

Tên bé trai theo loài cây mùa đông: Hoàng Bách, Sơn Bách, Lâm Tùng, Thanh Tùng, Đức Tùng, Danh Tùng, Hoàng Thông, Huy Thông,


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Đặt tên Con theo mùa sinh mang lại may mắn

Giải mã vận mệnh người tuổi Canh Thân theo Lục Thập Hoa Giáp

Tử vi của người sinh năm Canh Thân, ngũ hành thuộc Kim, mệnh Thạch lựu Mộc, là người có số phát tài phát lộc.
Giải mã vận mệnh người tuổi Canh Thân theo Lục Thập Hoa Giáp

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tử vi của người sinh năm Canh Thân, ngũ hành thuộc Kim, mệnh Thạch lựu Mộc, là người có số phát tài phát lộc.


Giai ma van menh nguoi tuoi Canh Than theo Luc Thap Hoa Giap hinh anh
 
Người ngũ hành Kim có bí quyết phát tài ẩn giấu trong mình, tốc độ quay vòng tài chính nhanh nên đường làm ăn thuận lợi. Nhưng tử vi của người sinh năm Canh Thân là giàu có nhờ tích cóp và chăm chỉ làm ăn chứ không phải là phất lên nhanh chóng. Có tiền nên mua bất động sản, không nên cất giữ tiền mặt.   Thạch lựu Mộc tính tình cứng cỏi, mạnh mẽ và có nghĩa khí, nạp âm Mộc nhưng là Mộc cứng, không dễ dàng bị người khác khuất phục. Gặp Thổ thì hỉ dụng, có Bính tân Đinh Canh thì tương hỗ quan trường, có Mậu Tân thì trợ giúp ấn tín, chủ cát lợi về đường thăng tiến sự nghiệp, làm lãnh đạo, dấn thân quan trường.   Gặp Sa trung Kim là đại cát, chủ đại phú đại quý, trong nguy nan có quý nhân, trong sóng gió có thuyền lớn. Gặp Kiếm phong Kim cũng là đắc cách, trước có bụi vàng, có thể chế nguy thành an, không có hại. Gặp Tỉnh tuyền Thủy, Giản hạ Thủy, Đại hải Thủy thì phải có Thổ chế nước mới tốt, có thể hưởng cuộc sống an nhàn lâu dài, ít lo nghĩ âu sầu.
Phong thủy kinh tế năm Bính Thân 2016
Giống như bản chất hoạt bát của Khỉ, chứng khoán năm nay sẽ liên tục biến động. Trong khi đó, các ngành liên quan đến yếu tố Kim sẽ có nhiều cơ hội tốt.

Nếu người này sinh vào ngày tháng năm có Mộc, ngày có Hỏa thì chủ quý vì Thạch lựu Mộc dưỡng Hỏa, năm dưỡng ngày, đại cát đại lợi, cả đời không phải lo ăn lo mặc. Gặp Dương liễu Mộc, Tang đố Mộc thì xấu, duy có gặp Đại lâm Mộc thì tốt hơn, có thể tránh họa, cây to đón gió lớn, gặp biến không lui.
  Số mệnh người tuổi Canh Thân tiểu nhân bên người rất nhiều, giao tiếp xã hội không có hồi báo nên tự thân lập thân, không nhờ vả được ai. Nên dùng các vật phẩm phong thủy cát tường làm bằng đá hồng trúc, đá mã não mang bên mình để hộ thân, cầu bình an. Tốt nhất là đeo vòng tay hoặc bùa hộ mệnh.
Trần Hồng
 

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Giải mã vận mệnh người tuổi Canh Thân theo Lục Thập Hoa Giáp

Cách hóa giải bàn làm việc hướng xấu –

Theo phong thủy, một số lỗi trong việc bài trí chỗ ngồi tại nơi làm việc có thể khiến bạn gặp khó khăn, thậm chí còn có nguy cơ thất nghiệp. Những biện pháp sau sẽ giúp bạn hóa giải điều đó. Mâu thuẫn với cấp trên Lỗi phong thủy: Nếu chỗ ngồi của bạn

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Theo phong thủy, một số lỗi trong việc bài trí chỗ ngồi tại nơi làm việc có thể khiến bạn gặp khó khăn, thậm chí còn có nguy cơ thất nghiệp. Những biện pháp sau sẽ giúp bạn hóa giải điều đó.

Mâu thuẫn với cấp trên

Lỗi phong thủy: Nếu chỗ ngồi của bạn đối diện thẳng với cửa phòng làm việc của cấp trên, điều đó chứng tỏ bạn đang đối đầu với sếp của mình. Nếu bạn có tính cách bướng bỉnh, không chịu khuất phục, chắc hẳn có không ít lần nảy sinh mâu thuẫn với cấp trên. Điều đó chứng tỏ rằng chẳng bao lâu nữa bạn sẽ bị khai trừ khỏi nơi này.

Cách hóa giải: Nếu như không thể thay đổi chỗ ngồi, bạn hãy điều chỉnh độ cao của ghế thấp hơn một chút, sau đó đặt một chậu cây cảnh có lá hình tròn tại vị trí trên bàn làm việc hướng về phía cửa phòng sếp để làm tấm bình phong ngăn cách hai bên.

Bị tiểu nhân hãm hại

Lỗi phong thủy: Nếu như bạn thường bị những đồng nghiệp xấu hạnh họe, gây khó dễ, rất có thể là do bạn đặt bên phải bàn làm việc quá nhiều vật gây phiền phức như những cuốn tạp chí mang tính giải trí, tiêu khiển. Ngoài điều này ra, khi bạn gọi điện trong giờ làm việc thì những tín hiệu từ trường sản sinh ra cũng có thể làm tăng những luồng khí xấu.

Cách hóa giải: Trước tiên, bạn nên bỏ đi những cuốn tạp chí giải trí trên, sau đó hãy đặt viên thạch xuân (một loại đá có thể trừ khí theo phong thủy) thật lớn phía bên tay phải. Cần lưu ý là không được đặt những loại cây có gai như xương rồng ở đó, mặc dù loại cây này có tác dụng bức xạ rất tốt, nhưng vẫn có thể gây ra nhiều bất lợi cho chúng ta.

Năng lực có hạn, không được sếp để ý

file_378765

Lỗi phong thủy: Tại nơi làm việc, nếu như bạn không được những người xung quanh để ý, chứng tỏ năng lực có hạn của bạn, dễ dẫn đến nguy cơ bị đào thải. Như vậy rất có thể bạn đã bị rơi vào tình huống “lưng không có kháo sơn” trong phòng làm việc, tức sau chỗ ngồi của bạn không có tường mà là cửa sổ hoặc lối đi.

Cách hóa giải: Nếu như không tiện cho việc thay đổi vị trí chỗ ngồi, bạn nên chọn loại ghế ngồi có lưng tựa cao, sau đó đặt thêm một chiếc đệm lót màu vàng đất để tựa lưng. Ngoài ra, nếu muốn có quý nhân phù trợ, bạn còn có thể đặt một chậu cây luôn xanh tốt như cây trúc ở bên trái chỗ ngồi của bạn.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Cách hóa giải bàn làm việc hướng xấu –

Vị trí đặt bàn thờ phù hợp với phong thủy –

Theo văn hóa phương Đông, thờ cúng tổ tiên là một việc làm mang tính linh thiêng, do vậy mà bàn thờ lúc nào cũng được đặt ở nơi trang trọng nhất trong nhà. Với nhà tầng, nhà truyền thống Hiện nay, vị trí bàn thờ thường được đặt trong một phòng riêng

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Theo văn hóa phương Đông, thờ cúng tổ tiên là một việc làm mang tính linh thiêng, do vậy mà bàn thờ lúc nào cũng được đặt ở nơi trang trọng nhất trong nhà.

Với nhà tầng, nhà truyền thống

Hiện nay, vị trí bàn thờ thường được đặt trong một phòng riêng ở tầng trên cùng của ngôi nhà. Bởi vị trí này không chỉ tạo được không khí trang nghiêm, kín đáo, tĩnh lặng… mà còn thuận tiện cho gia chủ trong việc cúng bái, hóa vàng ngoài trời.

Bàn thờ luôn phải đảm bảo được đặt tại vị trí cao, phía trên bàn thờ là nóc nhà và bầu trời, không bị các không gian sinh hoạt khác đè lên… để khi cúng bái, con cháu trong nhà tỏ được sự ngưỡng vọng thành kính của mình với ông bà, tổ tiên.

Theo cách xây nhà truyền thống của người Việt thì ngôi nhà thường có ba hoặc năm gian. Trong đó, gian giữa được xem là gian trung tâm của căn nhà và cũng là vị trí đặt cửa ra vào, mở cửa ra là nhìn thấy trời đất, âm dương hòa hợp. Bởi vậy, gian giữa cũng là gian được các gia đình đặt bàn thờ.

Bàn thờ có được thiết kế như thế nào thì nhất thiết nó luôn ở vị trí trang trọng, có độ cao thích hợp để khi cúng mọi người tỏ đựợc sự ngưỡng vọng thành kính của mình với tổ tiên. Kiểu bàn thờ của truyền thống vẫn đặt ở vị trí theo đúng phong thủy trong ngôi nhà. Nhà phố thường bị vây chặt bởi các nhà chung quanh, nếu đặt bàn thờ dưới tầng trệt ngay trong phòng khách bước vào sẽ khó thông thoáng, thắp nhang nhiều sẽ làm ố vàng cả trần nhà. Bên cạnh đó cần tránh trên đầu của bàn thờ là phòng vệ sinh, phòng trẻ em chơi đùa… bởi nó sẽ làm giảm tính tôn nghiêm của không gian trang trọng này. Và một lẽ nữa không nên để mọi người từ ngoài cửa nhìn thấy hết bàn thờ, bài vị, hình ảnh tổ tiên. Nhất thiết phải đặt bàn thờ ở tầng trên cùng, tránh đặt ở tầng trệt ngay trong phòng khách vì khói hương sẽ làm ố vàng trần nhà và khách vào sẽ có cảm giác ngột ngạt, đồng thời tránh để mọi người từ ngoài cửa nhìn thấy hết bài vị, hình ảnh tổ tiên. Đặc biệt, tránh trên đầu bàn thờ là nhà vệ sinh, phòng chơi của trẻ em bởi sẽ làm mất sự tôn nghiêm, trang trọng.

Kích thước bàn thờ cúng rất quan trọng. Gia chủ nên chọn kích thước bàn thờ hợp với không gian, diện tích nơi mình sinh sống. Tránh trường hợp bàn thờ quá to trong khi căn hộ lại nhỏ hoặc căn biệt thự quá lớn lại chỉ đặt bàn thờ bé, không tốt cho phong thủy.

Với nhà chung cư

Bàn thờ cần phải “tọa cát hướng cát” – tức là nằm ở vị trí thuận tiện, trang trọng và nhìn ra hướng tốt so với tuổi của gia chủ. Bàn thờ nên đặt trong khoảng giữa các mặt bằng căn hộ . Vì căn hộ không thể làm phòng thờ riêng biệt như nhà phố hay biệt thự, căn hộ nào cũng có khoảng đi lại ở khoảng giữa nhà, nên nếu khéo tính toán sẽ tránh tình trạng bố trí bàn thờ tùy tiện.

Phải chú ý bức tường treo bàn thờ hay đặt tủ thờ. Với bức tường liền kề, tiếp giáp là không gian nào, kể cả không gian của hàng xóm để bài trí hợp lý. Không bao giờ được kê chung bức tường của không gian bàn thờ mà tựa lưng vào đầu giường ngủ trong căn hộ. Với những bức tường của các khu bực ô uế, thì việc đặt bàn thờ càng tối kỵ.

Tuyệt đối tránh đặt gương soi chiếu thẳng vào bàn thờ, gây hiện tượng kim quan sát, tối kỵ trong phong thủy.”

Những điều cấm ki khi đặt bàn thờ

Bố trí bàn thờ gia chủ cần phải suy xét thật cẩn thận và nhất định không được phạm phải những cấm kỵ sau.

Bàn thờ không được đặt dưới xà ngang. Nếu xà ngang trên trần nhà ở ngay trên bàn thờ sẽ sản sinh ra sát khí áp lực, khiến cho các thành viên trong gia đình mệt mỏi, nặng thì khiến vận thế trong gia đình bị ảnh hưởng.

Phía sau ban thờ đặc biệt không được có nhà vệ sinh, nhà tắm do có âm khí và xú khí nặng, chủ nhà dễ bị trúng phong, gặp ác mộng và đau lưng. Sau bàn thờ cũng không được có thang máy, cầu thang, nếu không chủ nhân dễ bị tán tài tán của, thương tật ở lưng.

Bàn thờ không được đối diện với lò, bếp, kể cả hướng lệch sang bên cũng không tốt. Nếu không còn vị trí nào khác để đặt ban thờ thì nên lấy bình phong che lại. Phòng thờ không nên đặt ở nền đất vốn trước đây là nhà bếp, nhà vệ sinh do chất đất không tốt.

Bên phải bàn thờ không được đặt đồ điện Nếu không sẽ phạm vào sát khí của Bạch Hổ, dễ xảy ra chuyện không may. Bên phải bàn thờ nên đặt một đôi tì hưu hoặc long quy, có thể hóa giải sát khí, cải thiện môi trường phong thủy.

Bên trái bàn thờ không được bừa bộn. Phía bên trái bàn thờ nếu như để bừa bộn hoặc có thùng rác hay các vật ô uế sẽ gây ảnh hưởng đến vận thế, sức khỏe và sự nghiệp của gia đình, nhất là con trai và người đàn ông trong gia đình.

Phía dưới bàn thờ không được để đồ. Phía dưới bàn thờ cần được giữ sạch sẽ, không được chất đống đồ đạc ở dưới, nếu có thì chỉ nên để một chiếc la bàn. Nhất là không để đồ điện và bể các vì sẽ làm tinh thần gia chủ bị sa sút, tài sản hao hụt.

Bàn thờ không nên treo trên không, không có chỗ dựa lưng hoặc trên đường đi. Người xưa cho rằng bàn thờ là nơi cần được hội tụ linh khí, khí trường bàn thờ sung mãn có thể khiến toàn gia đình được an lành hạnh phúc. Nếu bàn thờ treo trên không, không có chỗ dựa lưng hoặc ở nơi đi lại dễ khiến người trong nhà bất an, gia vận trồi sụt khó đoán.

Bàn thờ ngược với hướng nhà dễ khiến người trong nhà bất hòa, dễ gặp bất trắc bệnh tật. Nếu đặt ở vị trí quay sang trái hoặc sang phải nhà thì chủ nhân dễ có tâm sự phiền muộn khó nói ra.

Bàn thờ không được xung với đường đi. Bàn thờ bị đường đi đâm thẳng vào dễ gây bất an tổn hại đến cung tài lộc, dễ gây tai nạn ngoài ý muốn hoặc bệnh tật ốm đau.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Vị trí đặt bàn thờ phù hợp với phong thủy –

Chiêm tinh học và thuật bói toán tại việt nam cổ truyền

Một bài dịch rất hay về bói toán cổ truyền tại việt nam. Mời các bạn cùng đọc.
Chiêm tinh học và thuật bói toán tại việt nam cổ truyền

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Alexei Volkov

(University of Tsinghua, Beijing)

CHIÊM TINH HỌC VÀ THUẬT BÓI TOÁN TẠI VIỆT NAM CỔ TRUYỀN

Ngô Bắc dịch

Lời Người Dịch:

Dưới đây là bản dịch của một bài viết hiếm hoi của một tác giả Tây Phương về khoa Chiêm Tinh Học và Thuật Bói Toán tại Việt Nam từ xa xưa. Bởi phải chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa kéo dài cả nghìn năm lệ thuộc, chiêm tinh học và thuật bói toán Việt Nam đều bắt nguồn từ các kinh sách của Trung Hoa. Tác giả đã hoàn toàn dựa vào các sự phân tích hàn lâm, tức trên sách vở không thôi, và không nêu ra các sự khảo sát về mặt thực hành. Trong thực tế, đã có ít nhiều sự khác biệt trong sự thực hành, đôi khi chỉ trên hình thức, tạo ra sự khác biệt của khoa chiêm tinh và thuật bói toán của Việt Nam với Trung Hoa. Chẳng hạn như phép bói Bát Tự hay cách lập quẻ bằng giờ, ngày, tháng, năm sinh và giới tính vốn thông dụng tại Trung Hoa nhưng hầu như rất ít được áp dụng tại Việt Nam, hay trong bản tử vi của Việt Nam, con Mèo (Mão) đã thay cho con Thỏ trong 12 con vật thuộc địa chi của tử vi Trung Hoa.

Điều lạ lùng là tác giả không hề nói gì về Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, người được xem là nhà tiên tri nổi tiếng nhất của Việt Nam, kẻ mà người dân Việt Nam nào cùng nghe biết đến qua các lời được cho là sấm truyền của cụ trong hơn 500 năm qua, tuy chẳng hiểu biết một cách xác thực về nhân vật gần như huyền thoại này./-

***

Dẫn Nhập: Bối Cảnh Lịch Sử

Miền bắc của Việt Nam ngày nay đã từng chính thức trở thành một tỉnh của Đế Quốc Nhà Hán Trung Hoa vào cuối thế kỷ thứ 2 Trước Công Nguyên [từ giờ trở đi viết tắt là TCN, chú của người dịch], song các sự trao đổi trí thức giữa miền này với các phần khác của Trung Hoa đã hiện diện từ lâu trước thời điểm đó. Khi Việt Nam thôi không còn là một tỉnh của Trung Hoa trong thế kỷ thứ 10 Sau Công Nguyên [SCN], quốc gia Việt Nam mới khai sinh đã thực hiện một hệ thống thư lại tương tự như hệ thống của triều đại nhà Tống Trung Hoa (960-1279), kể cả các định chế giáo dục và hệ thống khảo thí. Ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa vẫn còn mạnh trong suốt các triều đại Việt Nam liên tiếp nhau, và còn trở nên mạnh hơn trong và sau sự chiếm đóng ngắn ngủi của Trung Hoa tại Việt Nam trong các năm 1407-1427. Chính sách thực dân của Pháp đã khởi sự với chiến dịch Nam Kỳ (Cochinchina) trong các năm 1858-1862 đánh dấu bước khởi đầu của một sự suy sụp mau chóng học thuật Trung-Việt cổ truyền và phát súng ân huệ quyết định đã được bắn ra với sự xóa bỏ hệ thống khảo thí quốc gia trong năm 1919.

Trong thời kỳ mà Việt Nam là một tỉnh chính thức của đế quốc Trung Hoa (giờ đây thường được nói đến bởi các tác giả Việt Nam như thời “đô hộ của giặc Tàu”), chính quyền địa phương đã sử dụng tiếng Hoa cổ diển cho các tài liệu chính thức, trong giáo dục, và các cuộc khảo thí quốc gia. Các tài liệu sớm nhất (các bi ký trên các bia đá của thiên niên kỷ đầu tiên SCN) không chứa đựng, hay rất ít, các chữ “địa phương” được sắp xếp trên căn bản của Hán tự. Sau khi có sự tách biệt Việt Nam ra khỏi Trung Hoa trong thế kỷ thứ 10, một số lượng gia tăng các chữ địa phương xuất hiện trong các tài liệu văn bản. Chữ viết địa phương thiết kế trên căn bản Hán tự và dùng để ký tự ngôn ngữ Việt Nam được gọi là chữ Nôm . 2 Vài lần các nhà cai trị Việt Nam đã cố gắng để dùng chữ Nôm làm ngôn ngữ cho việc soạn thảo văn kiện chính thức và học thuật thay cho tiếng Hoa (Hán: 漢) cổ điển, nhưng Hoa ngữ cổ điển vẫn còn được dùng thường xuyên hơn. Ngay này từ ngữ “các sách Hán Nôm 漢 ” được dùng để chỉ toàn thể sưu tập các sách Việt Nam viết bằng Hoa ngữ cổ điển hay bằng tiếng Việt (dùng chữ Nôm), hay bằng cả hai ngôn ngữ hỗn hợp).

Vào cuối thế kỷ thứ 19, chính quyền thực dân Pháp đã diệt trừ một cách có hệ thống hệ thống chữ viết Hán Nôm cổ truyền, một phần vì ngộ nhận một cách ngây thơ, phần kia bị giải thích một cách cố ý bởi các kẻ bênh vực cho chính sách thực dân Pháp, như một dấu hiệu đô hộ chính trị và văn hóa của Trung Hoa trên Việt Nam. Sự sử dụng hệ thống ký âm dùng mẫu tự La Tinh với các dấu nhấn biến âm được đặt ra bởi các nhà truyền giáo Công Giáo hồi cuối thế kỷ thứ 16 và đầu thế kỷ thứ 17 (một cách mỉa mai, ngày nay được nói đến ở Việt Nam là Quốc Ngữ 國 語, “ngôn ngữ dân tộc”) nguyên thủy được nghĩ như một giải pháp cho vấn đề phát sinh từ những khó khăn được kinh nghiệm bởi các công chức của chính quyền thực dân khi dùng tiếng Việt. Cùng lúc, nó được nhận thức như một phương tiện để diệt trừ sự lệ thuộc vào hệ thống giáo dục kiểu Trung Hoa và, sau cùng, để thay thế nó bằng giáo dục hiện đại của Pháp. 4 Các phong trào chống thực dân của Việt Nam giành được động lực hồi đầu thế kỷ thứ 20 cũng bênh vực cho Quốc Ngữ viết bằng mẫu tự [La Tinh] là quan trọng cho cuộc giải phóng dân tộc và cho sự hiện đại hóa nhanh chóng xứ sở. 5 Sau này, khi sự giảng dạy của và bằng tiếng Pháp bị gián đoạn (trong thập niên 1940 tại miền Bắc) hay giảm bớt (tại Miền Nam), chữ Quốc Ngữ sau rốt trở thành ngôn ngữ viết duy nhất được sử dụng bởi nhóm dân tộc đa số của Việt Nam, người Kinh (hay Việt, ngày nay cấu thành khoảng 85% của toàn thể dân chúng.) Hậu quả, di sản văn chương của hơn mười thế kỷ của sự phát triển độc lập của dân tộc bị mất đi chỉ trong vòng vài thập niên, và ngày nay chỉ còn một ít cá nhân có khả năng đọc được các văn bản cổ viết bằng chữ Hán Nôm. Hơn nữa, trong suốt các cuộc chiến tranh xảy ra tại Việt Nam trong thế kỷ thứ 20, các sách được bảo tồn tại Thư Viện Hoàng Triều tại Huế cũng như tại các sưu tập tư nhân bị tổn hại, phá hủy, hay mất mát. Liên quan đến các sách về bói toán, trong các năm 1948-49, 1956, 1968, và 1976, chính quyền [cộng sản] Việt Nam đã thực hiện vài chiến dịch nhằm vào việc diệt trừ “các mê tín dị đoan”, đặc biệt về bói toán, trong đó các dụng cụ và sách vở được sử dụng bởi các nhà bói toán chuyên nghiệp bị tịch thu. 6 Để kết luận, tại Việt Nam trong vài thập niên qua một số lượng lớn lao các sách liên hệ đến thuật bói toán đã bị mất mát, hủy diệt, hay trở nên không thể cung ứng cho các nhà nghiên cứu.

Chiêm Tinh Học Việt Nam:

Các Nguồn Tài Liệu Chính Yếu Và

Văn Chương Thứ Yếu

Lịch sử của thuật bói toán được thực hành bởi nhóm dân tộc đa số, người Kinh [tiếng Việt trong nguyên bản, chú của người dịch] theo sự hiểu biết của tôi, chưa bao giờ được thảo luận một cách có hệ thống trong các ấn phẩm bằng ngôn ngữ Tây Phương. 7 Các nỗ lực đầu tiên để nghiên cứu và trình bày các nguồn văn liệu Việt Nam cũng như các sự thực hành thực tế của các người bói toán được thực hiện bởi các học giả thực dân Pháp Gustave Dumouyier (1850-1904) và Georges Coulet (tích cực trong thập niên 1920). 8 Một sự giới thiệu văn minh Việt Nam được viết cho khối độc giả đại chúng bởi Nguyễn Văn Huyên đề cập rất ngắn vài loại bói toán, đặc biệt những loại liên quan đến các cách thức lên đồng (mediumistic practices). 9 Các tác giả Huard và Durand (1954) đưa ra một sự phác họa đại cương thuật bói toán Việt Nam (trong trường hợp này rõ ràng để chỉ thuật bói toán của người Kinh, bởi các tác giả không hề nói tới bất kỳ nhóm dân tộc ít người nào khác); họ liệt kê địa lý phong thủy (geomancy), chiêm tinh (astrology), “phù thủy: sorcery”, xem tướng (physiognomy), và “xem bói bằng chân tay thú vật [xem chân gà?]: zoochiromancy” như các hình thức được thực hành rộng rãi nhất của thuật bói toán. 10 Nguồn gốc Trung Hoa của truyền thống bói toán Việt Nam không được thảo luận bởi Huard và Durand, nhưng họ có đề cập đến tập khảo cứu chiêm tinh Zi wei dou shu quan shu (tiếng Việt là Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư) 紫微斗數全書 của tác giả Trung Hoa Chen Tuan 陳摶 [tiếng Việt là Trần Đoàn, chú của người dịch] (cũng được gọi là Chen Xiyi 陳希夷 [Trần Hi Di, ND], 871-989) như là tập cẩm nang bói toán phổ thông nhất tại Việt Nam. 11

Các khảo luận còn tồn tại về thuật bói toán có thể được thấy liệt kê trong hai thư mục tiêu chuẩn về các sách Hán-Nôm. Một trong chúng là một thư tịch song ngữ (tiếng Việt và tiếng Pháp) bởi Trần Nghĩa và François Gros (1993), và thư mục kia là một thư tịch được biên soạn (bằng Hán tự) bởi Liu Chun-Yin 劉春銀 (Lưu Xuân Ngân), Wang Xiaodun 王小盾 (Vương Tiểu Thuẫn) và Trần Nghĩa 陳義 (Liu và các tác giả khác, 2002). Thư tịch của họ Trần và Gros (1993) gồm 5,038 đầu mục thư tịch liệt kê số tài liệu lưu trữ của thu viện Viện Nghiên Cứu Hán-Nôm (Hà Nội), các thư viện của Trường Viễn Đông Bác Cổ (École française d’Extrême-Orient (từ giờ trở đi viết tắt là EFEO) và Hội Á Châu học (Société Asiatique (cả hai ở Paris), cũng như một số thư viện Việt Nam và Nhật Bản. Mỗi đầu mục của thư tịch bao gồm các phần chú giải ngắn bằng tiếng Việt và tiếng Pháp; các nhan đề của các quyển sách được liệt kê theo thứ tự mẫu tự ABC trong hệ thống ký âm Quốc Ngữ. Để xác định các sách về thuật bói toán, người ta có thể sử dụng một bảng chỉ dẫn theo đầu mục (index) được cung cấp ở cuối thư tịch. Các sách về chiêm tinh học được tìm thấy trong phân mục Tín ngưỡng dân gian (các tín ngưỡng truyền thống) chứa đựng các sự tham chiếu đến các tác phẩm thuộc vào một loạt rộng rãi nhiều ngành học thuật, từ “nhân chủng học: anthropology” và “tôn giáo: religion” đến “văn chương: literature”. Hệ thống phân loại này gây khó khăn cho việc nhận dạng các sách liên quan đặc biệt đên khoa chiêm tinh. Thư tịch của họ Liu và các tác giả khác (2002) thì dựa trên thư tịch của Trần và Gros (1993), nhưng các đầu mục thư tịch trong đó được tái sắp xếp theo hệ thống Trung Hoa cổ truyền thành “bốn loại” (“các kinh sách”: 經 (kinh), “các biên tập về lịch sử”: 史 (sử), “các trường phái triết học”: 子 (tử), và “sưu tập văn chương”: 集 (tập). Các sách về bói toán được tìm thấy trong mục “số mệnh học: numerology” (shushu 數 術: số thuật) thuộc loại “tử: sách về các trường phái triết học” và được phân chia thành năm phân loại: xem thế đất: geomancy (kanyu 堪 輿: kham dư), chiêm tinh học (xingming 星 命: tinh mệnh), bói toán dựa trên 6 hào (hexagrams) của Yijing [Dịch Kinh] (Yigua 易 卦: dịch quái), xem tướng (physiognomy) và các loại linh tinh liên hệ đến bói toán (xiangfa zazhan 相 法 雜 占: tướng pháp tạp chiêm), và “xóc quẻ xin xâm: tallies and omens” (qianchen 籤 讖: thiêm sấm). Tuy nhiên, một sự kiểm tra lướt nhanh trên phần về bingjia: binh gia 兵 家 (nghệ thuật quân sự) trong sách của họ Liu và các tác giả khác (2002) cho thấy rằng nó cũng chứa đựng các tác phẩm mà các sự mô tả chúng khiến nghĩ rằng chúng có thể trình bày các phương pháp bói toán liên hệ đến các vấn đề quân sự. Tương tự, các quyển chuyên về Yijing (Dịch Kinh) trong loại “kinh: canonical books” 經 và một số khảo luận y học chứa đựng các sự trình bày về các phương thức bói toán hay các sự thảo luận về các nền tảng triết lý và lý thuyết của thuật bói toán.

Cả hai thư tịch Trần và Gros (1993) và Liu và các tác giả khác (2002) đều không liệt kê các sách được bảo tồn trong vài sưu tập lớn chứa đựng các văn bản về chiêm tinh học. 12 Cũng có lý do để tin tưởng rằng một số các sách Hán-Nôm về chiêm tinh học từ thư viện Hoàng Triều tại Huế vẫn còn tồn tại; không may, chúng được bảo tồn trong các sưu tập tư nhân và do đó vẫn chưa được cung ứng cho sự nghiên cứu có hệ thống. Tổng quan về các tài liệu chính yếu trong bài viết này chính vì thế nhất thiết vẫn chưa đầy đủ.

Các Cơ Sở Chiêm Tinh Và Thiên Văn Của Việt Nam:

Một Tổng Quan

Theo quyển [Đại] Việt Sử Lược [大] 越 史 略 (Sơ Lược Lịch Sử [Đại] Việt) trong thời khoảng từ thế kỷ thứ 2 TCN đến năm 1225 và được xem bởi một số sử gia là niên sử Việt Nam xưa nhất còn tồn tại, 13 các nhà cai trị Việt Nam đã khởi sự xây dựng các cơ sở thiên văn/chiêm tinh tại kinh đô Thăng Long昇 龍 (tức Hà Nội ngày nay) ngay từ năm 1029, khi vị Hoàng Đế thứ nhì của nhà (Hậu) Lý (後) 李 朝 (1009-1225), Thái Tông 太 宗 (tên cá nhân là Lý Phật Mã 李 佛 瑪, trị vì 1028-1054), ra lệnh tái xây cất Càn Nguyên Điện 乾 元 殿 sau trận động đất năm 1017; 14 các cơ sở mới xây dựng gồm có điện thờ Trời: Phụng Thiên Điện 奉 天 殿 mà trên nóc điện có đặt một Tòa Tháp Chính Ngọ (Chính Dương Lâu 正 陽 樓) với một đồng hồ nước bên trong. 15 Rõ ràng hoàn toàn có xác suất rằng các sự quan sát thiên văn và chiêm tinh tại các triều đình của các nhà vua Việt Nam có thể đã khởi sự sớm hơn nữa, vào cuối thế kỷ thứ 10, gần như ngay sau khi Việt Nam giành được sự độc lập khỏi Trung Hoa. Thời điểm khi các sự quan sát đầu tiên được thực hiện có thể được tính toán phỏng đoán trên căn bản các tài liệu về các vụ nhật thực (xem bên dưới).

Trong năm 1206, cơ sở thiên văn này đã bị hư hại vì hỏa hoạn, và nó đã chỉ được phục hồi vào một thời gian nào sau đó 16, điều, trên lý thuyết, có thể là lý do tại sao các niên sử Việt Nam [Đại] Việt Sử Lược [大] 越 史 略 và Đại Việt Sử Ký Toàn Thư 大 越 史 記 全 書không có các tài liệu về các vụ nhật thực xảy ra giữa các năm 1206 và 1242. 17 Hai cơ sở nhiều xác suất nhất liên hệ đến các hoạt động thiên văn và chiêm tinh được mô tả là tọa lạc gần Cung Điện [Nhà Vua] trong một bản sao lục hồi thế kỷ thứ 17 tập Hồng Đức Bản Đồ 洪 德 版 圖 (Các Bản Đồ [của Việt Nam] được in dưới thời Hồng Đức) soạn thảo năm 1490 (Hình 1), 18, đó là Phụng Thiên Phủ 奉 先 府(Văn Phòng Thờ Phụng Trời) và Ti [Ty] Thiên Giám 司 天 監 Si tian jian, ty phụ trách Quan Sát Các Hiện Tượng Trên Trời). 19

Hình 1: Bản đồ Hà Nội từ tập Hồng Đức Bản Đồ

(hướng Tây ở trên cùng) cho thấy các địa điểm của Ti Thiên Giám 司 天 監 (A),

Phụng Thiên Phủ奉 先 府 (B), và Quốc Tử Giám 國 子 監 ©.

Posted Image

Ngay dù tên gọi Phụng Thiên Phủ có nói đến Trời và hiển nhiên gần giống như Phụng Thiên Điện 奉 先 殿 của nhà (Hậu) Lý, tôi giờ này không hay biết về bất kỳ bằng chứng nào khiến nghĩ rằng các chức năng của [Phụng Thiên] Phủ có dính líu đến việc ghi chép thời gian hay các hoạt động khác liên quan đến các sự quan sát thiên văn. Ti Thiên Giám được trình bày trên bản đồ tọa lạc phía nam của Cung Điện Hoàng Triều nằm giữa Phụng Thiên PhủQuốc Tử Giám 國子監, cơ quan thẩm quyền bậc đại học. Danh xưng của định chế kể trước, Ti Thiên Giám 司天監, giống y như tên của cơ quan đối tác phía Trung Hoa của nó; tại Trung Hoa, tên này được đặt cho Văn Phòng Thiên Văn/Chiêm Tinh lần đầu tiên trong thế kỷ thứ 10 và được dùng hầu như một cách có hệ thống trong thời nhà Nguyên (bắt đầu từ thập niên 1260), nhà Minh, và (một cách không chính thức) dưới thời nhà Thanh. 20 Thời điểm chính xác của sự thiết lập Ti Thiên Giám của Việt Nam không được hay biết.

Điều vẫn chưa rõ rằng liệu “Ti Thiên Giám” nguyên thủy hồi đầu thế kỷ thứ 11 có phải đã được xây dựng tại địa điểm được thể hiện trên bản đồ hay không. Rất nhiều phần nó đã bị đóng cửa trong thời gian chiếm đóng của Trung Hoa (1407-1427), bởi nếu không, nó sẽ thách đố quyền hạn chuyên độc của các nhà chiêm tinh chính thức của Trung Hoa trong việc thực hiện và giải thích các sự nhận xét về thiên văn học. Người ta có thể ức đoán rằng định chế này đã được mở cửa lại không lâu sau sự triệt thoái của quân đội Trung Hoa, và đã duy trì hoạt động trong suốt thế kỷ thứ 17, khi một bản sao lục trình bày nơi Hình 1 được in ra.

Điều cũng không được rõ là cách thức mà các nhân viên làm công việc thiên văn/chiêm tinh đã được huấn luyện ra sao, song có thể hữu lý để ức đoán rằng các nhà cầm quyền Việt Nam đã thiết lập một chương trình giáo dục đặc biệt để huấn luyện các nhà thiên văn học và chiêm tinh học tương lai, giống như trường hợp của Trung Quốc. Ti Thiên Giám chính vì thế sẽ chịu trách nhiệm về việc thực hiện các sự quan sát, giải thích các dữ liệu về thiên văn học và khí tượng học, thi hành các sự tính toán niên lịch, tiên đoán các vụ nhật thực, và huấn luyện các nhân viên tương lai. Có rất nhiều xác suất rằng định chế này đã có một thư viện chuyên khoa lưu trữ các tác phẩm về thiên văn học và chiêm tinh học được giả định không có lưu hành ở bên ngoài văn phòng. Một mảnh bằng chứng gián tiếp hậu thuẫn cho giả định này được tìm thấy trong sưu tập các pháp điển Trung Hoa Song hui yao 宋 會 要, Tống hội yếu. Trong một tài liệu đề năm 1107 nó có lưu ý rằng các sứ giả Việt Nam sang Trung Hoa đã cố tìm mua sách thuộc nhiều khoa học, và rằng họ được phép để mua mọi văn bản ngoại trừ các sách được xem “bị cấm đoán”, tức, liên quan đên thuật bói toán, yin-yang (âm dương), niên lịch, và số mệnh học (numerology); chính sự lưu ý này xem ra làm ta suy nghĩ rằng các sứ giả đã đặc biệt chú ý đến các sách về các đề tài này. 21 Các nỗ lực để thụ đắc các sách vở liên hệ đến các niên lịch (và, với nhiều xác suất nhất, đến chiêm tinh học) tiếp tục cho đến đầu thế kỷ thứ 14. 22

Học trình của khoa Toán Học: Suan xue 算 學 Trung Hoa hồi đầu thế kỷ thứ 12 bao gồm một số chủ đề liên hệ trực tiếp đến sách lịch và khoa chiêm tinh, đặc biệt đến điều được gọi là “ba lược đồ: schemes” hay “ba biểu thức vũ trụ”: san shi 三 式, tam thức, có nghĩa ba phương pháp chính yếu của thuật bói toán (xem bên dưới), cũng như các văn bản chiêm tinh học không được xác định khác. 23 Nếu các sách vở thiên văn học và chiêm tinh học được bao gồm trong học trình của ngành học được nói là “đếm, tính: 算” (Toán trong tiếng Việt, Suan trong tiếng Hán) tại Việt Nam, khi đó các cuộc khảo thí quốc gia về “tính toán” được đề cập đến trong các tài liệu lịch sử có thể bao gồm các phần liên quan đến sự tinh toán để làm sách lịch và chiêm tinh, như trong trường hợp tại Trung Hoa dưới thời nhà Tống. 24 Có hiện hữu các tài liệu về các cuộc khảo thí quốc gia về “tính toán” được tổ chức tại Việt Nam trong năm 1077, 25 1261, 26 1363, 27 1404, 28, 1477, 29 1507, 30 và 1762. 31

Các sự trình bày về các hoạt động của các nhà thiên văn học và chiêm tinh học chuyên nghiệp được sử dụng bởi các nhà cầm quyền Việt Nam có thể được tìm thấy trong các hồi ký của các Tu Sĩ Dòng Tên người Ý Đại Lợi, Christophoro Borri (1583-1632) và Giovanni Filippo de Marini (1608-1682), các kẻ đã lần lượt đến thăm Đàng Trong: Cochinchina (Trung Kỳ Việt Nam) và Đàng Ngoài: Tonkin (Bắc Kỳ Việt Nam). Sự mô tả của Borri cho thấy rằng không chỉ Chúa Đàng Trong (Cochinchina), mà cả các ông hoàng, đều có các nhà chiêm tinh riêng của mình với công việc gồm cả sự tính toán các vụ nhật thực; de Marini mô tả một nghi thức đặc biệt được giả định sẽ được thực hiện bởi nhà vua trong ngày có nhật thực. 32 Các sự trình bày này khiến ta nghĩ rằng vào khoảng thế kỷ thứ 17, các nhà thiên văn học Việt Nam thụ hưởng một quy chế quan chức khá cao, rằng họ đã sử dụng các phương pháp của Trung Hoa về sự tiên đoán các vụ nhật thực, và rằng đôi khi họ không thể điều chỉnh một cách chính xác các phương pháp này với các vị trí (có nghĩa miền bắc và miền trung Việt Nam) nơi mà các vụ nhật thực được giả định sẽ được quan sát.

Một định chế chính thức chịu trách nhiệm về các công việc thiên văn và làm sách lịch tiếp tục hiện hữu tại Việt Nam cho đến thế kỷ thứ 20. Một sự trình bày (có niên kỷ năm 1930) về văn phòng thiên văn/chiêm tinh Khâm Thiên Giám 欽 天 監, cơ quan kế nhiệm Ti Thiên Giám 司 天 監, 33 mô tả cơ cấu và nhân viên văn phòng thiên văn/chiêm tinh tọa lạc tại Huế, kinh đô của triều Nguyễn (1802-1945), và thuật lại một cách ngắn gọn lịch sử của nó, bắt đầu từ thời Hoàng Đế Minh Mạng (trị vì từ 1820-1841). 34

Các Sự Quan Sát Thiên Văn

Được Thực Hiện Tại Việt Nam

Tác giả Ho Peng Yoke trong bài viết của ông (1964) có cung cấp một danh sách các vụ nhật thực được đề cập tới trong bộ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư 大 越 史 記 全 書 như được quan sát tại Việt Nam. Sự phân tích của họ Hồ chứng tỏ rằng “phần lớn các tài liệu ban đầu của quyển Đại Việt Sử Ký Toàn Thư được rút ra từ các nguồn sách vở Trung Hoa, kể cả các lỗi sai lầm của chúng” (trang 128). Các tài liệu về các vụ nhật thực trong các Niên Sử đã không được phát hành một cách đồng nhất: có 21 vụ nhật thực trong thời khoảng từ 205 TCN đên 122 TCN, một vụ nhật thực cho mỗi năm 41, 479 và 547 SCN, 35 và sau đó một loạt 45 vụ nhật thực cho thời khoảng từ 993 SCN đến 1671 SCN. Các tài liệu liên quan đến các vụ nhật thực từ năm 205 TCN đến 547 SCN, theo ý kiến của tác giả họ Hồ, được sao chép từ các tài liệu của Trung Hoa. Chính vì thế, người ta dễ bị cám dỗ để nghĩ rằng sự khởi đầu của một sự quan sát (tương đối) có hệ thống của các vụ nhật thực tại Việt Nam có thể trùng hợp với sự thiết lập công tác thiên văn / chiêm tinh tại kinh đô. 36 Bộ [Đại] Việt Sử Lược nêu ở trên cũng chứa đựng các sự ghi chép về các vụ nhật thực, song các sự ghi chép này không giống với các vụ được liệt kê trong bộ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư. Một cách cụ thể hơn, [Đại] Việt Sử Lược chứa đựng các sự ghi chép chỉ có năm vụ nhật thực, trong đó vụ sớm nhất có nhật kỳ là ngày 15 Tháng Hai 1040; 37 vụ nhật thực này, được thực sự nhìn thấy tại Việt Nam, cũng được liệt kê trong bộ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư. 38 Điều đáng chú ý, bốn vụ thiên thực còn lại được ghi chép trong bộ [Đại] Việt Sử Lược đã không được tìm thấy trong bộ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư. Chỉ có một vụ trong đó, vụ nhật thực vào ngày 11 Tháng Ba, 1206, phù hợp với một vụ thiên thực thực sự xảy ra (ngay dù rất nhiều phần nó đã không được nhìn thấy tại Việt Nam); 39 hai trong số ba vụ thiên thực còn lại đã xảy ra trong các năm hơi khác biệt với những năm được nêu ra trong bộ [Đại] Việt Sử Lược, 40 trong khi có một sự ghi chép không phù hợp với bất kỳ vụ thiên thực thực sự nào có thể xảy ra hoặc trước hay sau đó, trừ khi cả tháng và năm của vụ thiên thực đã bị thay đổi một cách đáng kể bởi các nhà biên soạn bộ sử ký hay bởi các người sao chép sau này. 41

Các Khảo Luận Về Chiêm Tinh Học:

Các Nhận Xét Dẫn Nhập

Các khảo luận về chiêm tinh học được bảo tồn trong các sưu tập các sách Việt Nam viết bằng tiếng Hán và tiêng Nôm được liệt kê trong thư tịch ở cuối bài viết này; độc giả có thể nhìn thấy rằng trong phần lớn các trường hợp, người ta đối diện với các bản chép tay không ghi niên đại của nguyên bản không xác định chắc chắn. Các sách được in thường có mang các niên kỳ xuất bản, và các niên kỳ này tương đối gần đây, từ cuối thế kỷ thứ 19 đến đầu thế kỷ thứ 20. Những niên kỳ muộn màng này của các ấn phẩm không nhất thiết tương ứng với thời điểm thực sự của sự biên soạn; tuy nhiên, không có bằng chứng vững chắc ngược lại, điều xem ra hợp lý để nghĩ rằng phần lớn các tài liệu hiện tồn của Việt Nam về chiêm tinh học đã thực sự được sản xuất ra tương đối muộn, ngay dù, một cách giả thiết, chúng có thể dựa trên các nguồn tài liệu xưa hơn. Sự phát biểu này không phủ nhận về mặt lịch sử văn liệu chiêm tinh học xưa hơn nhiều rất có thể đã hiện hữu tại Việt Nam. Có hai lý do để phát biểu như thế: trước tiên, các định chế chính thức đối phó với các vấn đề thiên văn và chiêm tinh được thiết lập tại nước Việt Nam độc lập hồi đầu thế kỷ thứ 11 hẳn phải sở hữu một số văn bản liên hệ đến các hoạt động của chúng; thứ nhì, có các sự đề cập đến các tác phẩm chiêm tinh có ảnh hưởng được soạn thảo bởi các học giả Việt Nam không còn hiện hữu nữa. Thí dụ, điều được hay biết rằng Trần Nguyên Đán 陳 元旦 (1325-1390), một cố vấn cao cấp cạnh Hoàng Đế Việt Nam, có soạn thảo quyển khảo luận Bách Thế Thông Kỷ Thư 百 世 通 紀 書 (Văn Bản Niên Sử Bao Quát Một Trăm Thế Hệ); tập khảo luận này bị mất, nhưng, theo một sự trình bày được tìm thấy trong một văn bản hơi muộn hơn, nó có chứa đựng một sự tái thiết niên biểu Trung Hoa (?) và một sự tính toán (hồi tố?) các vụ thiên thực. 42

Theo các sự tường thuật quy ước, một số lượng lớn lao các sách trong các thư viện chính quyền Việt Nam đã bị mất vì cháy hay tịch thu bởi quân xâm nhập Trung Hoa hồi cuối thế kỷ thứ 14 – đầu thế kỷ thứ 15. Nếu, theo các truyền thuyết, vụ hỏa hoạn xảy ra trong cuộc lục soát kinh đô bởi người Chàm hồi năm 1371 đã hủy diệt bừa bãi một số không rõ các thư viện, quân xâm lăng Trung Hoa đã tịch thu theo lời cáo giác một số lượng lớn lao các quyển sách và chuyển chúng về Trung Hoa, đã nhắm, với nhiều xác xuất nhất, một cách đặc biệt vào các sách vở bị nhìn như khẳng định một cách biểu trưng sự độc lập của quốc gia Việt Nam, tức, trước tiên, các niên sử địa phương, các sách lịch, các văn bản thiên văn học và chiêm tinh học. 43

Sự truy tầm các tài liệu Việt Nam về chiêm tinh học cũng bị khó khăn bởi cơ cấu hỗn hợp của các văn bản hiện tồn; một số các thủ bản (sách chép tay) được bảo tồn trong các thư viện là các sưu tập của các văn bản thuộc nhiều bản chất khác nhau có thể chứa đựng các phần sao chép từ các sách về chiêm tinh học. Một vài khảo luận chiêm tinh học được ghi trong thư tịch của Trần và Gros 1992 và Liu và các tác giả khác chứa đựng các phụ lục đôi khi gồm một số văn bản chiêm tinh học không quan trọng với các nhan đề khác biệt thường không liên hệ với nhau và với các luận thuyết chính yếu (muốn có các thí dụ, xem bên dưới). Hơn nữa, ngay cả khi nhan đề của một khảo luận trùng hợp với nhan đề của một văn bản chiêm tinh học Trung Hoa nổi tiếng, nó rất có thể là một sự tóm lược hay một biến thể của chủ đề trong nguyên bản Trung Hoa, hay một ấn bản với các lời bình luận bằng tiếng Hán cổ điển hay tiếng Nôm được thêm vào bởi các tác giả Việt Nam. Đây là lý do tại sao các nguồn tài liệu chiêm tinh học chủ yếu được tìm thấy trong thư tịch dưới đây không thể được xem là hoàn chỉnh; tuy thế, nó cho phép chúng ta được nhìn thấy, đến một mức độ nào đó, những loại văn bản chiêm tinh học nào thường được sao chép và bình luận nhiều nhất.

Trong đoạn kế tiếp tôi sẽ thảo luận một cách ngắn gọn các nguồn tài liệu hiện tồn. Cuộc thảo luận được chia nhỏ thành hai phần: trước tiên, tôi sẽ giới thiệu ba hệ thống chính yếu của chiêm tinh học Trung Hoa và trình bày ngắn gọn các khảo luận Việt Nam hiện tồn rõ ràng bị ảnh hưởng bởi chúng; thứ nhì, tôi sẽ, cũng ngắn gọn như thế, thảo luận cơ cấu của một khảo luận Việt Nam dựa trên một nguyên mẫu Trung Hoa.

Ba Truyền Thống Chiêm Tinh Học Trung Cổ

Của Trung Hoa và

Sự Đón Nhận Chúng Tại Việt Nam

Ba truyền thống ảnh hưởng nhất của chiêm tinh học Trung Hoa, được trình bày trong học trình của Trường Toán Học thời nhà Tống như “ba lược đồ [chiêm tinh]” hay “ba bảng vũ trụ” (san shi 三 式 tam thức là các hệ thống bói toán Tai yi 太 乙: thái ất, Qimen dunjia 奇門遁甲: Kỳ Môn Độn Giáp, và Liu ren 六 壬 Lục Nhâm. 44

(1) Hệ Thống Thái Ất (Tai Yi).

Tại Trung Hoa, hệ thống này được chấp nhận bởi Phòng Thiên Văn dưới thời nhà Đường (618-907) và được sử dụng suốt thời nhà Tống (960-1279). 45 Yan Dunjie 嚴 敦 杰 Nghiêm Đôn Kiệt (1917-1988) khám phá rằng các kỹ thuật bói toán của truyền thống này đã sẵn hiện diện hồi đầu thế kỷ thứ 6 SCN. 46 Văn bản nền tảng của truyền thống này là quyển Taiyi jinjing shijing 太 乙 金 鏡 式 經 Thái Ất Kim Kính Thức Kinh (Cẩm Nang Gương Vàng cho Biểu Đồ Vũ Trụ Thái Ất) của Wang Ximing 王 希 明 Vương Hy Minh (nhà Đường), được bảo tồn (có lẽ với các sự bổ túc sau này) trong tuyển tập Trung Hoa thế kỷ thứ 18 Si ku quan shu 四 庫 全 書 (Tứ Khố Toàn Thư). Cách thức bói toán liên quan đến sự vận dụng một bảng bói toán (hay, có thể, một biểu đồ) vẽ một vòng tròn trung tâm và bốn lớp vòng tròn đồng tâm được chia thành 16 phần trên mỗi vòng tròn. Lớp đầu tiên được ghi đầy bằng các con số từ 1 đến 4 và từ 6 đến 9, tạo thành, cùng với số 5 tại vòng tròn trung tâm, một hình vuông ma thuật; lớp vòng tròn đầu tiên cũng chứa 8 hình ba hào (trigrams) và một số dấu hiệu quay tròn tuần hoàn. Lớp kế tiếp chứa danh tính của “các tác nhân thần thánh: divine agents”, và lớp thứ ba, tên của các tỉnh của Trung Hoa. 47 Lớp sau cùng thì để trống và được giả định sẽ được lấp kín trong tiến trình bói toán. Như tác giả họ Ho nêu ý kiến, các sự áp dụng phương pháp này chính yếu liên hệ đến các sự vụ quân sự, song đã có những trường hợp khi sự bói toán liên can đến các hiện tượng thiên nhiên, chẳng hạn như các vụ động đất, giông bão với sấm sét, và ngay cả các vụ thiên thực. 48

Trong số các văn bản Việt Nam hiện tồn có hai tập khảo luận trực tiếp liên hệ đến truyền thống này: Thái Ất Dị Giản Lục 太 乙 易 簡 錄 (Tài liệu giản lược [liên can đến bói toán theo phương pháp] Thái Ất và theo Kinh Dịch) [A38] và quyển Thái Ất Thống Tông Bảo Giám 太 乙統 宗 寳 鑑 (Gương Quý Báu của Các Nguồn Gốc Thống Nhất của [các phương pháp của] Thái Ất [A39]. Quyển khảo luận kể tên trước được quy cho sự trước tác của danh sĩ Lê Quý Đôn 黎貴 惇 (1726-1784). Theo quyển tiểu sử của Lê Quý Đôn của Nguyễn Hữu Tạo 阮 有 造 (đỗ tiến sĩ 進 士 jinshi năm 1844), ông Lê còn viết ba quyển khảo luận về thiên văn học khác, một quyển trong đó là quyển Thái Ất Quái Vận 太 乙 卦 運 (Sự Tuần Hoàn Của Thái Ất [giữa các hào], giờ đây đã bị mất, rõ ràng có liên quan đến cùng hệ thống bói toán. 49 Về quyển khảo luận Thái Ất Thống Tông Bảo Giám太 乙 統 宗 寳 鑑, có thể quyển sách này là một bản sao chép hay một bản tóm lược khảo luận Trung Hoa (được tái xuất bản trong bộ Tứ Khố Toàn Thư: Si ku quan shu 四 庫 全 書) có cùng nhan đề viết bởi một một tác giả không có tiếng tăm thời nhà Nguyên (1279-1368) được biết dưới bút hiệu “Lão Già Núi Xiao” (Xiao shan lao ren 曉 山 老 人 Hiệu Sơn Lão Nhân). Một vài văn bản tiếng Hán của tập khảo luận Trung Hoa này còn hiện hữu, ấn bản sớm nhất là một bản chép tay (thủ bản) thời nhà Minh và có vài ấn bản có niên đại từ thời nhà Thanh.

Tại Trung Hoa, hệ thống Thái Ất được bảo tồn trong phạm vi của cái gọi là truyền thống “Bói Toán Theo Con Số Của Các Hoa Hồng [sic] Màu Tím và Chùm Sao” (Ziwei doushu 紫 微 (= 薇) 斗 數 Tử Vi Đẩu Số). 50 Tác giả Ho Peng Yoke tuyên bố rằng có hai nhánh của truyền thống kể tên sau: một trong chúng là một sự liên tục trực tiếp của hệ thống Thái Ất, trong khi nhánh kia, được đại diện bởi một phiên bản của tập khảo luận được tìm thấy trong Kinh Sách Đạo Giáo (Daoist Canon) (Daozang 道 藏 Đạo Tang), sinh ra từ một sự tổng hợp một vài hệ thống thiên văn có nguồn gốc Tây Phương. 51 Còn hiện hữu bảy văn bản Việt Nam thuộc vào truyền thống này: An Tử Vi Quốc Ngữ Ca 安 紫 微 國 語 歌 [A1], Tử Vi Đẩu Số 紫 微 (-- 薇) 斗 數 [A47], Tử Vi Đẩu Số Giải Âm 紫 微 (= 薇) 斗 數 解 音 [A48], Tử Vi Giải 紫 微 解 [A49], Tử Vi Hà Lạc Nhâm Thìn Số 紫 微 河 洛 壬 辰 數 [A50], Tử Vi Số 紫 微 數 [A51], và Tử Vi Thập Nhị Cung Đoán Pháp Quốc Âm Ca 紫 微 十 二 宮 斷 法 國 音 歌 [A52]. Bốn trong bảy quyển khảo luận này tức các quyển A1, A47, A48, A52, được viết bằng chữ Nôm hay chứa các lời bình giải bằng chữ Nôm và rõ ràng được nhắm dành cho các độc giả không thoải mái với tiếng Hán cổ điển.

Hình 2: Một lá số tử vi từ quyển Tử Vi Đẩu Số紫 微斗 數

(Viện Hán-Nôm, số thư tịch VHb.163)

Posted Image

Có 10 bản sao chép bằng tay của quyển [A47] (một lá số tử vi từ quyển sách được trình bày nơi Hình 2); số lượng nhiều bản sao chép cho thấy khảo luận này khá phổ thông trong những người hành nghề bói toán. Trong khi đó, hai trong bảy văn bản, [A49] và [A50] là các bản sao chép tay các ấn phẩm Trung Hoa không được xác minh. Không may, không một trong các bản văn chép tay này có ghi niên đại. Các nhan đề của các tập khảo luận xem ra khiến ta nghĩ rằng chúng hoàn toàn được dành cho một hệ thống bói toán duy nhất; tuy nhiên, điều này không nhất thiết xảy ra: thí dụ, văn bản [A1] chứa đựng một khảo luận độc lập Mã Tiền Bốc Pháp 馬 前 卜法 [A24] làm phần cuối cùng của nó.

(2)Hệ Thống Kỳ Môn Độn Giáp

Các sự đề cập ban sơ về các phương pháp Qimen 奇 門 Kỳ Môndunjia 遁 甲Độn Giáp có thể được tìm thấy trong tập khảo luận Baopuzi 抱 撲 子 Bao Phác Tử được trước tác bởi học giả Trung Hoa nổi tiếng Ge Hong 葛洪 Cát Hồng (283-343). Một số sách rõ ràng có liên hệ đến truyền thống Độn Giáp được đề cập trong các chương của các sử ký Trung Hoa tiêu chuẩn như Hou Han shu 後 漢 書 Hậu Hán Thư, Sui shu 隋 書 Tùy thư, Jiu Tang shu 舊 唐 書 Cựu Đường ThưXin Tang shu 新 唐 書 Tân Đường thư, nhưng không một trong các sách này còn tồn tại ngày nay. Một quyển sách nhan đề Huangting Dunjia yuan shen jing 黃 庭 遁 甲 緣 身 經 Hoàng Đình Độn Giáp Duyên Thân Kinh được tìm thấy trong juan (quyển) 14 của tuyển tập của Đạo Giáo nhan đề Yun ji qi qian 雲 笈 七 籤: Vân Cập Thất Thiêm (Bảy Quẻ từ Nơi Tàng Trữ Sách Mây) được biên tập hồi đầu thế kỷ thứ 11 và được bảo tồn trong Daozang: Đạo Tang; tuy nhiên, hệ thống được trình bày trong đó không phải là một trong “ba biểu thức vũ trụ” được dùng để giảng dạy tại “Trường Toán Học” 52 dưới thời nhà Tống. Điều rõ ràng rằng từ nguyên thủy Qimem (Kỳ Môn)Dunjia (Độn Giáp) nói đến hai hệ thống khác biệt được tổng hợp lại, muộn nhất là ở thế kỷ thứ 8.

Truyền thống này rõ ràng không được thật ưa chuộng tại Việt Nam; tôi đã chỉ có thể tìm được hai thủ bản liên quan đến nó, quyển Độn Giáp Kì [Kỷ] Môn 遁 甲 奇 門 [A13] và Tam Kì Bát Môn Độn Pháp 三 奇 八 門 遁 法 [A36]. Cả hai được biên soạn bằng tiếng Hán cổ điển bởi các tác giả vô danh; niên đại biên soạn của chúng không được hay biết. Thủ bản nêu tên trước có gồm một phụ lục nhan đề Chiêm Tinh Bốc Pháp 占 星卜 法 (Các Phương Pháp bói toán trên căn bản các chùm sao (asterisms). Tuy nhiên, điều rõ ràng rằng một số các khảo luận hiện tồn lưu giữ các thành tố của hệ thống Kỳ Môn Độn Giáp được kết hợp với biểu thức thứ ba của các truyền thống “biểu thức vũ trụ”, Liu ren: Lục Nhâm.

(3) Hệ thống Lục Nhâm: Liu ren.

Căn nguyên của hệ thống “biểu thức vũ trụ” Trung Hoa thứ ba cho thuật bói toán, liu ren 六 壬 (Lục Nhâm trong tiếng Việt), trở lùi về đến thời tiền nhà Hán (206 TCN – 220 SCN), mặc dù sự trình bày đầy đủ lần đầu về hệ thống có niên đại thời nhà Đường (618 – 907). 53 Một sự thảo luận chi tiết về phương pháp được cung cấp bởi nhà thông thái Shen Gua 沈 栝 Trầm Quát (hay Shen Kuo, 1031 – 1095) trong sách của ông nhan đề Mengxi bitan 夢 溪 筆 談 Mộng Khê Bút Đàm cho thấy cho thấy hệ thống Lục Nhâm tương liên với niên lịch nhiều đến đâu. 54 Trong tiến trình bói toán một bảng xoay tròn chia làm mươi hai cung (duodenary) được giả định sẽ được dùng đến; nó có thể được thay thế bởi lòng bàn tay của thày bói, điều khiến cho hệ thống trở nên “thuận thủ: portable” hơn, khi so sánh với hai hệ thống kia. 55

Truyền thống này rõ ràng thụ hưởng sự ưa chuộng lớn lao tại Việt Nam; tôi đã có thể tìm được các quyển khảo luận sau đây: Đại Lục Nhâm Đại Toàn 大 六 壬 大 全 [A11], Lục Nhâm 六 壬 [A17], Lục Nhâm Đại Độn 六 壬 大 遁 [A18, A19], Lục Nhâm Đại Độn Pháp 六 壬 大 遁 法 [A20], Lục Nhâm Kinh Vĩ Lược 六 壬 經 緯 略[A21], Lục Nhâm Quốc Ngữ 六 壬 國 語 [A22], Lục Nhâm Tiện Lãm 六 壬 便 藍[A23], và Tân San Lục Nhâm Đại Độn Bí Truyền 新 刊 六 壬大 遁 泌 傳 [A35]. 56 Quyển đầu tiên của các văn bản này [A11] là một sự phỏng tác các quyển (juan 卷) 4 và 5 của tập khảo luận của Trung Hoa nhan đề Liu ren da quan 六 壬 大 全 Lục Nhâm Đại Toàn của tác giả người Trung Hoa thời nhà Minh tên Guo Zailai 郭 載 騋 Quách Tải Lai (niên đại không rõ, hoạt động hồi đầu thế kỷ thứ 17); một trong các ấn bản hiện tồn cũng gồm cả các quyển (juan) 118 và 119 của tập khảo luận của Trung Hoa có tên Wubei zhi 武 備 志 Vũ Bị Chí (Tài Liệu Về Các Sự Dự Phòng Quân Sự, 1621) của Mao Yuanyi 茅 元 儀 Mao Nguyên Nghi (1594 – 1640). Thủ bản [A19] có chứa hai phụ lục nhan đề Lục Nhâm Khởi Lệ 六 壬 起 栵 (các thí dụ cho sự khởi đầu trong phương pháp Lục Nhâm) và Ngọc Trướng Đàm Binh Ca 玉 帳 談 兵歌 (các đoạn thơ ngắn thảo luận các sự áp dụng quân sự từ trướng bằng ngọc) giải thích bằng tiếng Nôm hệ thống bói toán Lục Nhâm (tức Liu ren 六 壬); các phụ lục này được gán cho sự trước tác của nhà trí thức nổi tiếng và viên chức chính quyền cao cấp Phùng Khắc Khoan 馮 克 寬 (1528 – 1613), kẻ đã được phái làm sứ giả sang Trung Hoa trong năm 1597 và trở về nước năm 1599. 57 Theo một số nguồn tài liệu, Phùng Khắc Khoan đã phiên dịch Yijing: Dịch Kinh sang tiếng Việt (tức tiếng Nôm); 58 Sự kiện này có thể được sử dụng để xác nhận sự tinh thông của ông về văn chương bói toán cũng như sự quan tâm của ông đến việc phiên dịch các văn bản tiếng Hán sang tiếng Việt, ngay dù người ta không thể hoàn toàn gạt bỏ khả tính rằng sự trước tác mang tên họ Phùng, vị học giả nổi tiếng và sứ giả sang Trung Hoa, đã chỉ được gán cho các văn bản chiêm tinh vô danh sau này hầu làm tăng tầm quan trọng của chúng. Một văn bản nhan đề Binh gia yếu chỉ 兵 家 要 旨 bing jia yao zhi (các chỉ dẫn thiết yếu cho nhà binh), chuyên khảo về các ứng dụng của thuật bói toán cho các mục đích quân sự và được giả định được trước tác bởi họ Phùng, được phụ đính vào tập khảo luận [A22], trong khi một tập khảo luận ngắn nhan đề Thiên Vận Bí Thư 天 運 铋 書 tian yun bi shu, (văn bản bí mật về các chu kỳ của trời), trình bày các liên hệ giữa các hiện tượng khí hậu và các niên lịch, và cũng được gán cho sự trước tác của họ Phùng, được phụ đính theo tập khảo luận Xin lue tian shu 心 略 天 樞 Tâm Lược Thiên Xu được viết bởi học giả và chiêm tinh gia Trung Hoa nổi tiếng Liu Bowen 劉 伯 溫 Lưu Bá Ôn (Liu Ji 劉 基 Lưu Cơ), 1311 – 1375). 59

Cải Biên Các Văn Bản Trung Hoa:

Thí Dụ Về Quyển Ngọc Hạp Kí 玉 Yu xia ji

Trong phần này, tôi muốn trình bày sự phức tạp của tiến trình biên soạn các văn sách chiêm tinh Việt Nam trên căn bản nguyên bản Trung Hoa của chúng. Chúng ta hay cứu xét trường hợp của một nhóm các khảo luận liên hệ đến truyền thống trích yếu chiêm tinh Trung Hoa Yu xia ji 玉 匣 記 Ngọc Hạp Ký (Các Tài Liệu Từ Rương Bằng Ngọc). Các nhan đề của một số các văn bản Việt Nam có chứa hai từ Ngọc Hạp 玉 匣 (Rương bằng Ngọc), gồm, Ngọc Hạp 玉 匣 [A25], Ngọc Hạp Toản Yếu 玉 匣 攢 要 [A26], Ngọc Hạp Toản Yếu Thông Dụng 玉 匣 攢 要 通 用[A27], Tăng Bổ Tuyển Trạch Thông Thư Quảng Ngọc Hạp Ký 增 補 選 擇 通 書 廣 玉 匣 記 [A37] và Thông Thư Quảng Ngọc Hạp Ký 擇 通 書 廣 玉 匣 記 [A44]. Truyền thống này rõ ràng khá phổ thông: Thư Viện của Viện Hán-Nôm trữ 10 bản in của [A25], một trong chúng có niên đại năm 1876 và một bản năm 1923; các khảo luận [A27], [A37], và [A44] cũng được in. Các tác giả của các thư tịch Trần và Gros 1993 và Liu 2002 đồng ý rằng các văn bản này in lại một nguyên bản Trung Hoa và gán nguồn trước tác cho một Đạo Sĩ bất tử “Perfected Lord Xu” (許 真 君: Hứa Chân Quân, tức Xu Xun 許 遜 Hứa Tốn (239-292/374?). 60 Văn bản của Daozang (Đạo Tang) nhan đề Xu zhen jun yu xia ji 許 真 君 玉 匣 記 Hứa Chân Quân Ngọc Hạp Ký (Các Tài Liệu Từ Rương Bằng Ngọc của Hứa Chân Quân) với một lời đề tựa năm 1433 [YXJ: Ngọc Hạp Ký], trong thực tế, được quy kết công khai do sự trước tác của ông. 61 Có đúng Xu Xun (Hứa Tốn), nổi tiếng chính yếu như một kẻ hạ sát con rồng và một người con hiếu thảo, cũng là một chuyên viên trong khoa chiêm tinh học hay khổng? 62 Câu hỏi này có lẽ không liên hệ đến chủ đề của phần này cho bằng câu hỏi sau đây: Có phải văn bản này từ Daozang (Đạo Tang) trong thực tế đã được in lại trong các khảo luận Việt Nam được nói đến ở trên? Một sự phân tích sơ lược cho thấy rằng câu trả lời ở thể xác định, nhưng tình trạng còn lâu mới đơn giản. Văn bản nguyên thủy được tìm thấy trong Daozang (Đạo Tang) dưới nhan đề 玉 匣 記 Ngọc Hạp Ký (Các Tài Liệu Từ Rương bằng Ngọc) chứa đựng về mặt kỹ thuật, ba phần: (A) văn bản nhan đề Zhu shen sheng dan ling jie ri qi 諸 神 聖 誕 令 節 日 期 Chư Thần Thánh Đản Lệnh Tiết Nhật Kỳ có ghi niên đại giữa thế kỷ thứ 15; (B) văn bản đã nói ở trên Xu zhen jun yu xia ji 許 真 君 玉 匣 記 Hứa Chân Quân Ngọc Hạp Ký [YXJ]; và © Fa shi xuan ze ji 法 師 選 擇 記 Pháp Sư Tuyển Trạch Ký (Các Tài Liệu Về Các Sự Lựa Chọn [Các Ngày Tốt] của Pháp Sư) [XZJ]. Đoạn mở đầu tương đối ngắn của phần ©, từ giờ trở đi gọi tắt là C1 [XZJ: 325-326], có niên đại là 627 SCN và được tiếp nối bởi một đoạn “Tái Bút: Postscript)” (C2) [XZJ: 327-346] rất dài có niên đại là 1488 và gồm một số lượng lớn các văn bản chiêm tinh tương đối ngắn. Nếu bây giờ chúng ta xét đến tập khảo luận Việt Nam Ngọc Hạp Toản Yếu Thông Dụng 玉 匣 攢 要 通 用 [A27], chúng ta có thể nhìn thấy rằng phần (A) hoàn toàn bị bỏ ra, phần lớn phần (B) được sao chép lại nơi đoạn mở đầu của tập khảo luận Việt Nam (các trang 2b – 6b), và phần (C1) được in lại ngay sau đó (các trang 6b – 9b); kế đến, theo sau là một đoạn dài có nhan đề (bằng tiếng Hán) “Zhan san shi er gua ding ji xiong” 占 三 十 二 掛 定 吉 凶, Chiêm Tam Thập Nhị Quái Định Cát Hung (Thuật Bói Toán [sử dụng] 32 quẻ 6 hào (hexagrams) để xác định điều (ngày) tốt và xấu, các trang 9b – 19b) không được tìm thấy trong ấn bản Daozang: Đạo Tang. Chỉ sau đó mới đến đoạn mang nhan đề [bằng tiếng Hán] “Jin fu jing” 金 符 經 “Kim Phù Kinh” (Khảo luận về Kim Phù [Thẻ bài, phù hiệu bằng vàng: Golden Talisman, các trang 19b – 25a) được in lại từ văn bản Daozang (Đạo Tang) [XZJ: 331 – 334], và sự kiện rằng các nhà biên soạn ấn bản Việt Nam đã xác định một cách chính xác vị trí của nhan đề trong ấn bản của văn bản của họ khiến ta suy tưởng một cách vững chắc rằng họ đã có trong tay một phiên bản của tập khảo luận không dựa trên ấn bản Daozang(Đạo Tang) . Bằng cách nào và vào lúc nào phiên bản thay thế này của tập khảo luận đã vươn tới các nhà bói toán Việt Nam có lẽ vẫn chưa được hay biết.

Các Kết Luận

Để nghiên cứu lịch sử truyền thống chiêm tinh Việt Nam, một vài khảo hướng rõ ràng đáng tin cậy ngang nhau. Một cuộc điều tra các nguồn văn bản hiện tồn được cung cấp trong bài viết này chỉ là một trong các khảo hướng; một phương pháp đáng tin cậy khác sẽ là một sự nghiên cứu các bản văn báo cáo của các giáo sĩ truyền đạo Tây Phương hoạt động tại Việt Nam từ hồi đầu thế kỷ thứ 17, cũng như của các khách lữ hành và các thương nhân Tây Phương và Trung Hoa. Muốn có một sự nghiên cứu về tình hình ngày nay, các kết quả của các cuộc nghiên cứu thực địa khảo cổ gần đây có thể được sử dụng. Mỗi khảo hướng đều có các nhược điểm của nó. Vô số tài liệu cổ xưa bị đánh mất, và điều không được hay biết là các khảo luận Hán-Nôm hiện tồn đại diện đến tầm mức nào sự sao chép các tác phẩm chiêm tinh đã được lưu hành trong giới các nhà chiêm tinh Việt Nam từ thế kỷ thứ 10 đến đầu thế kỷ thứ 20; điều cũng không được biết rõ các cách thực hành bói toán thực sự của các nhà chiêm tinh đó nhiều đến đâu tương ứng với các văn bản thành văn. Nếu người ta nghiên cứu các báo cáo của các nhà truyền giáo, các thương nhân và các khách lữ hành, các sự đề cập hiếm hoi đến các sự thực hành thuật bói toán bản địa cho thấy rõ rằng sự nghiên cứu của họ đã không tập trung vào nghị trình học thuật của các nhà truyền giáo và các nhà thám hiểm, và, hơn nữa, sự lý giải của các cách thực hành bói toán cũng như các tài liệu liên hệ không bao giờ được tiết lộ cho họ bởi các nhà bói toán Việt Nam. Đối với các nhà nhân chủng học hiện đại, ngay cả những người trong họ đã cố gắng để có cái nhìn sát cận hơn đến các sự thực hành thực sự của các nhà bói toán ngày nay, trong phần lớn trường hợp, đã không quen thuộc với các tiền lệ lịch sử của các hiện tượng mà họ quan sát, đặc biệt với các văn sách bói toán bằng Hán-Nôm.

Trong bài viết này tôi đã trình bày ngắn gọn khung cảnh định chế của các thế kỷ đầu tiên của truyền thống chiêm tinh Việt Nam được bảo trợ bởi nhà nước độc lập, và cung cấp các kết quả của một sự kiểm tra sơ lược một phần nhỏ của các tài liệu chiêm tinh hiện tồn. Tất cả các tài liệu thảo luận hóa ra hoặc là các bản sao chép các văn bản Trung Hoa (đôi khi được thay đổi hay tóm lược) hay các tác phẩm dựa trên các nguyên tác Trung Hoa. Lịch sử của sự chuyển giao chúng sang Việt Nam thì không rõ ràng; đa số các văn bản Việt Nam hiện tồn không có ghi niên đại, và những văn sách có ghi niên đại được sản xuất (thường được in ấn) tương đối sau này. Rất thường nguồn gốc tác giả của các văn bản không được biết rõ; trong một số trường hợp, các niên đại của đời sống của các tác giả phỏng định khiến ta nghĩ rằng sự chuyển giao có thể đã xảy ra khá sớm, như trong trường hợp các tập khảo luận được gán cho sự trước tác của Phùng Khắc Khoan 馮 克 寬, song luôn luôn có một khả tính rằng tên họ của tác giả giả định, thường là một học giả nổi tiếng hay một viên chức cao cấp, chỉ được liên kết với một văn bản vô danh sau sinh thời của nhà học giả. Tuy nhiên, như lịch sử của các định chế chiêm tinh chứng minh, ngành chiêm tinh học chắc chắn đã khởi sự được thực hành cho các mục đích của nhà nước Việt Nam ngay từ thế kỷ thứ 11; không may, điều vẫn chưa được hay biết về phương cách và thời gian mà các văn bản chiêm tinh Trung Hoa đã tìm đường đến tỉnh hạt ly khai sau thế kỷ thứ 10, và chúng đích xác là những gì. Tại các thư viện hiện đại lưu trữ các sưu tập sách Hán-Nôm, tất cả các văn sách chiêm tinh được gộp chung lại với nhau, điều có vẻ khiến ta suy nghĩ rằng chiêm tinh học đã là một ngành được thực hành bởi chỉ một nhóm duy nhất các chuyên viên; tuy nhiên, người ta có thể lập luận rằng sự chuyển giao các văn bản chiêm tinh và kỹ năng chuyên môn đi từ Trung Hoa sang Việt Nam xuyên qua một số luồng, và ở cả hai phía, các nhóm xã hội liên can đến tiến trình này bao gồm từ các nhà chiêm tinh của hoàng triều đến các thày bói ở thôn quê./-

____

CHÚ THÍCH

1. Cuộc nghiên cứu các khảo luận Việt Nam thảo luận trong bài viết này được yểm trợ bởi các khoản trợ cấp sưu khảo 95-2411-H-007-037 (trong các năm 2006-2007) và 96-2411-H-007-004-MY3 (trong các năm 2007-2012) của Hội Đồng Khoa Học Quốc Gia (National Science Council) (Đài Loan), cũng như bởi một khoản trợ cấp từ Dự Án “Chính Sách Đa Văn Hóa Tại Á Châu Gió Mùa: Multiculturalism in Monsoon Asia” (Đại Học National Tsing-Hua University, Hsinchu, Taiwan) trong các năm 2008-2012. Tác giả cám ơn hai vị ẩn danh đã xét duyệt về các ý kiến hữu ích trên bản thảo đầu tiên của bài viết này.

2. Muốn có một sự mô tả chi tiết về lịch sử và các đặc tính chính yếu về chữ Nôm, xem Lê 1995; trên các trang 93-96 của luận án này, người đọc sẽ tìm thấy nhiều sự tham chiếu liên quan đến các ấn phẩm bằng tiếng Việt và tiếng Pháp. Muốn có các ấn phẩm bằng tiếng Anh, xin xem, thí dụ, Nguyễn 1956; 1990.

3. Ở đây và nơi khác trong bài viết này, tôi cung cấp các cách đọc trong tiếng Việt các chữ Hán-Nôm; cách đọc chúng trong Hoa ngữ theo hệ thống phiên âm pinyin, khi được cung cấp, được ghi dấu với từ ngữ “Hán tự: Chinese”. Các nhan đề của các sách tiếng Hán và tên gọi của các tác giả Trung Hoa đuợc cung cấp theo hệ thống phiên âm pinyin mà không có cách đọc theo Hán Nôm [người dịch đã phiên âm sang tiếng việt trong các trường hợp này, Ngô Bắc].

4. Trong năm 1878, chính quyền thực dân ra nghị định rằng sau năm 1882, Quốc Ngữ sẽ là hình thức chính thức duy nhất của chữ viết, ngoài tiếng Pháp; xem Osborne 1997: 163. Tuy nhiên, như được nêu ý kiến một cách tức thời bởi các người điểm bài ẩn danh của bài viết này, lập trường được lấy bởi các thẩm quyền thực dân Pháp và bởi giới văn nhân Việt Nam về sự giảng dạy, và bằng Quốc Ngữ, đã trải qua các sự sửa đổi đáng kể trong đầu thế kỷ thứ 20. Không may, một sự thảo luận chi tiết về đề tài hấp dẫn này sẽ không liên quan đến nơi đây; độc giả quan tâm được giới thiệu đến Marr 1981, Osborne 1997, Poisson 2004, và Trịnh 1995, trong số nhiều tác giả khác.

5. Như D. Marr đã viết về nó, “Vào khoảng 1930 ý tưởng rằng sự phát triển và phổ biến chữ Quốc Ngữ cấu thành các thành tố thiết yếu của cuộc đấu tranh giành độc lập và tự do đã là một phần của mọi đề cương [chống thực dân] triệt để”. (Marr 1981: 150).

6. Văn 2008: 266-267.

7. Về các kỹ thuật bói toán được dùng bởi một số dân tộc ít người tại Việt Nam xem, thí dụ, Arhem 2009; Vargyas 2004.

8. Dumountier 1899; 1914; 1915; Coulet 1926; 1929.

9. Nguyễn 2002: 245-256.

10. Huard và Durand 1954: 65-71.

11. Huard và Durand 1954: 66. Đã có nhiều ấn bản khác nhau của quyển sách nhan đề Tử Vi Đẩu Số 紫 微 斗 數, được bảo quản tại thư viện Viện Hán Nôm (Hà Nội) cũng như tại thư viện Hội Nghiên Cứu Á Châu (Société Asiatique) (Paris) (xem mục số [A47] trong thư tịch ở cuối bài viết này), nhưng tôi không thể xác định được bất kỳ ấn bản nào của quyển Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư được đề cập tới bởi Huard và Durand. Một cách ngạc nhiên, các tác giả cũng xác nhận rằng các nhà chiêm tinh Việt Nam có sử dụng bộ bách khoa về toán học của Trung Hoa, Số Lý Tinh Uẩn 數 理 精(Shu li jing yun) được soạn thảo năm 1723 dưới sự chỉ đạo của Mei Juecheng 梅瑴 成 Mai Quyết [?] Thành (1681-1763). Xin đối chiếu với một sự đề cập đến sưu tập này trong một quyển lịch chính thức của Trung Hoa, được trích dẫn (nhưng không xác định một cách xác thực) bởi tác giả C. Morgan (1980: 21).

12. Chẳng hạn như sưu tập của Thư Viện Quốc Gia (Hà Nội) cũng như một số sưu tập nhỏ hơn, thí dụ, sưu tập của Viện Sử Học, Hàn Lâm Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam. Sự kiểm tra của tôi tại hai thư viện kể sau tiến hành trong các năm 1998 – 2008 cho thấy chúng có lưu giữ một số các văn bản về bói toán (kể cả chiêm tinh học) không được liệt kê trong thư mục của Trần và Gros (1993) hay của Lii và các tác giả khác (2002).

13. Quyển [Đại] Việt Sử Lược [SL 1936] có gồm một phụ lục nhan đề “Niên Biểu Triều Trần 陳“viết cho thời khoảng từ 1225 đến 1377; L. Cadière và P. Pelliot (1904: 626) đã dùng sự kiện này để kết luận rằng quyển niên biểu đã được soạn tháo trong thời trị vì của Hoàng Đế Trần Phế Đế 陳 廢 帝 (tên riêng là Trần Hiện 陳晛, trị vì từ 1377-1388). Tuy nhiên, A. Polyakov, trên căn bản sự phân tích văn bản của ông về quyển niên biểu, đã lập luận với đầy sức thuyết phục rằng hai chương đầu tiên của nó đã được soạn thảo hồi đầu kỷ thứ 12 (Polyakov 1980: 74).

14. SL 1936: 27; Polyakov 1980: 143.

15. Tài liệu liên hệ trong [Đại] Việt Sử Lược [大] 越 史 略 viết: 前 安 奉 天 殿o 上 建 正 陽 樓o 為 掌 漏 刻 之 處: tiền an Phụng Thiên Điện, thượng kiến Chính Dương Lâu, vi chưởng lậu khắc chi xử [SL 1936: 29], có nghĩa “Trước Thềm Rồng [Dragon Stairs 龍 墀 Long Trì, chỉ Quốc Vương] có dựng Đàn Tế Trời (Pavilion of Paying Tribute to Heaven). Trên nóc [của nó nhà vua] xây Chính Dương Lâu正 陽 樓 là nơi để điều khiển đồng hồ bằng nước (clepsydra); cũng xem một bản dịch trong Polyakov [1980: 147]. Biến cố này có được trình bày trong quyển Đại Việt Sử Ký Toàn Thư 大越 史 記 全 書 bằng các từ ngữ khác biệt đôi chút: “ 前 安 奉 天 殿o 上 建 正 陽 樓o 刻 之 處: tiền an Phụng Thiên Điện, thượng kiến Chính Dương Lâu, vi chủ chưởng trù khắc chi xử [TT 1984: 221] [các chữ màu đậm chỉ sự khác biệt, nhấn mạnh bởi người dịch]. Nếu từ ngữ 籌 trù: thẻ [bằng tre, gỗ, ngà voi ….để đếm hay làm toán, chú của người dịch] không phải là một sự nhầm lẫn của kẻ sao chép, nó có thể chỉ các que đếm (hay thẻ bài) được dùng trong các sự tính toán thiên văn. Các que đếm này cũng được sử dụng bởi các nhà chiêm tinh Việt Nam cho đến thế kỷ thứ 17 hay còn sau hơn thế; xem Volkov 2009.

16. SL 1936: 61; Polyakov 1980: 206.

17. Các niên sử không đề cập đến vụ thiên thực hình vành khuyên ngày 4 Tháng Tám 1217, được trông thấy thấy Bắc Việt Nam, hay vụ thiên thực ngày 23 Tháng Năm 1221, được trông thấy tại Trung Hoa và Bắc Việt Nam. [Đại] Việt Sử Lược không chứa bất kỳ tin tức nào liên hệ có niên kỳ sau năm 1225, và Đại Việt Sử Ký Toàn Thư 大 越 史 記 全 書 không đề cập đến các vụ thiên thực xảy ra vào ngày 3 Tháng Bảy 1228 và ngày 19 Tháng Mười Hai 1237. Vụ thiên thực năm 1229 được đề cập trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (Ho, 1964: 139, số 34) là tưởng tượng; vụ thiên thực thực sự sớm nhất trong số các vụ thiên thực được liệt kê trong bộ niên sử kể tên sau như đã xảy ra trong thế kỷ thứ 13 là vụ thiên thực ngày 26 Tháng Chín 1242 (cùng nơi đã dẫn: ibid., số 35). Tin tức về các vụ thiên thực này và các vụ nhật thực khác được lấy từ trang mạng của Cơ Quan NASA nhan đề “Các sự Tiên Đoán Thiên Thực của Fred Espenak ("Eclipse Predictions by Fred Espenak, NASA's GSFC") tại

http://eclipse.gsfc....as/SEatlas.html.

18. Sự thay thế các từ kỵ húy 邦 [bang] và 新 [tân] (được dùng trong tên cá nhân của các hoàng đế Việt Nam Anh Tông 英 宗, tên cá nhân là Lê Duy Bang 黎 維 邦, trị vì 1557-1572, và Kính Tông 敬 宗, tên cá nhân là Lê Duy Tân 黎 維 新 trị vì 1600-1618, trong tập bản đồ hiện tồn khiến ta nghĩ rằng nó không phải là một bản sao chính xác của nguyên bản mà là của phiên bản đã được sửa đổi sau này, xem Liu và các tác giả khác, 2002: 305. Tác giả John K. Whitmore (1995: 486) đưa ra các chi tiết bổ túc khiến ta nghĩ rằng tập bản đồ hiện tồn là một quyển tái bản trong thế kỷ thứ 17 của nguyên bản thuộc thế kỷ thứ 15; cũng xem Papin 2001: 123-124.

19. Bởi có sự đồng âm tên gọi định chế này trong Hán tự, Si tian jian 司 天 監 Ty Thiên Giám tác giả Hucker (1985: 456) đề nghị thay bằng tên gọi là “Nha Thiên Văn: Directorate of Astronomy”; sự diễn dịch này có thể hàm ý rằng văn phòng này (theo sát nghĩa “Cơ Quan Thẩm Quyền Giám Sát phụ trách các vấn đề liên quan đến Trời (Heaven)”) thực hiện các hoạt động chỉ chuyên về thiên văn, trong khi định chế thực sự phụ trách việc quan sát mọi loại hiện tượng trên trời (kể cả các hiện tượng về khí tượng) và về sự giải thích của chúng, về thiên văn (astronomy) cũng như chiêm tinh học (astrological).

20. Hucker 1985: 456-457, số 5780.

21. Han 1991: 4. Về các sự hạn chế áp đặt trên sự lưu hành tài liệu thiên văn và chiêm tinh dưới các triều đại nhà Đường và nhà Tống, xem Morgan 1987: 57.

22. Fedorin 2009.

23. Lee 1985: 96; Friedsam 2003: 52.

24. Các người điểm duyệt ẩn danh bài viết này đã vạch ra một cách chính xác rằng sự mô tả các cuộc khảo thí về “tính toán” năm 1762 (CM 1996: 3720-3721) nói đến các bài toán đố về sự phân chia theo tỷ lệ cố định và cân nhắc cá biệt (tiếng Việt lần lượt là bình phân 平 分 và sai phân 差 分) như là đề mục của các cuộc khảo thí về ‘toán” (thực ra, niên sử đề cập đề mục này như một trong nhiều môn thi khác nhau, song các “môn kia” đã không được xác định cụ thể); về các vấn đề phân chia trong toán học Việt Nam, see Volkov 2012, và về các hoạt động hành chính liên can đến một số kiến thức toán học nào đó, chẳng hạn như khảo sát địa chính và kế toán, xem Poisson 2004. Chính vì thế, tài liệu này khiến ta nghĩ rằng vào thế kỷ thứ 18, các môn toán học và thiên văn gần như chắc chắn đã được giảng dạy một cách riêng rẽ; sự phỏng đoán này có thể được hậu thuẫn bởi một tài liệu có niên kỳ vào năm thứ 7 niên hiệu (Việt Nam) Cảnh Hưng 景 興 (1740-1786), tức năm 1746 (được tham chiếu trong CM 1969 là tương ứng với năm thứ 11 niên hiệu (Trung Hoa) Càn Long 乾 隆, 1735-1796, tức năm 1745) liên quan đến các cuộc khảo thí được thực hiện chuyên biệt về các chủ đề thiên văn (CM 1969: 3606). Tuy nhiên, sự phân biệt giữa hai ngành học xuất hiện trong các tài liệu này hồi giữa thế kỷ thứ 18 không bảo đảm cho kết luận rằng sự giảng dạy về toán học và thiên văn học luôn luôn được thực hiện một cách riêng biệt; nói cách khác, điều không có thể loại bỏ rằng tại một giai đoạn sớm hơn, sự giảng dạy toán học của Việt Nam bắt chước theo mô hình triều đại nhà Tống trong đó một số các đề mục, có tính chất toán học thuần túy theo một quan điểm hiện đại, đã được dạy cùng với các đề tài thiên văn và chiêm tinh, xem Lee 1985: 96 và Friedsam 2003: 52.

25. CM 1969: 697.

26. CM 1969: 984.

27. CM 1969: 1292.

28. CM 1969: 1458. Trong nguồn tài liệu này, năm trong vấn đề đưọc nói đến là năm thứ nhì của niên hiêu Khai Đại 開 大(1403-1407)của triều đại nhà Hồ 胡 (1400–1407), tức năm 1404, và cùng lúc, năm thứ nhì của niên hiệu Trung Hoa Vĩnh Lạc 永 樂 Yongle (1402-1424), tức năm 1403.

29. CM 1969: 2253, TT 1984: 703; bị in sai là năm "1472" trong sách của Han 1991: 6.

30. CM 1969: 2456. Các cuộc khảo thí đã diễn ra trong Tháng 12 của năm đầu tiên niên hiệu Trung Hoa Chính Đức 正 德 (1506-1522) và của năm thứ nhì niên hiệu Việt Nam Đoan Khánh 端 慶 (1505-1509); cả hai niên kỳ đều tương ứng với khoảng đầu năm 1507.

31. CM 1996: 3720-3721. Tài liệu này chứa đựng sự mô tả đã nêu trước đây về một cuộc khảo thí diễn ra trong Tháng Năm năm thứ 23 niên hiệu (Việt Nam) Cảnh Hưng 景 興 (1740-1786, tức năm 1762, được đề cập trong CM là tương ứng với năm thứ 27 niên hiệu (Trung Hoa) Càn Long 乾 隆 Qianlong, 1735-1796, tức năm 1761。

32. Volkov 2008.

33. Tên của định chế này trùng hợp với tên của đối nhiệm Trung Hoa của nó, Qin tian jian 欽 天監 Khâm Thiên Giám, được dùng vào cuối thời nhà Minh và trong thời nhà Thanh tại Trung Hoa; xem Hucker 1985: 169. Hucker phiên dịch tên của định chế này (theo sát nghĩa “Nha Bày Tỏ Sự Tôn Kính Ông Trời”) là “Nha Thiên Văn: Directorate of Astronomy”, ngay dù sự trình bày của chính ông nói rõ rằng các chức nghiệp của nhân viên của nó gồm cả các việc quan sát khí tượng và bói toán.

34. Xem [KTG].

35. Ho 1964: 138, các [chú thích?] số 22-24, lần lượt.

36. Có thể rằng sự phân bố các vụ thiên thực [nhật hay nguyệt thực] được nói đến trong quyển Đại Việt Sử Ký Toàn Thư đã cố ý được sắp đặt cho tương ứng với lịch sử chính trị của Việt Nam, bởi vì tất cả các vụ thiên thực ghi nhận được, ngoại trừ các vụ thiên thực của năm 479 và 1422, đều nằm trong các thời kỳ độc lập chính thức của Việt Nam ra khỏi Trung Hoa: thời kỳ từ 205 đến 122 TCN tương ứng với triều đại nhà Triệu 趙 Việt Nam (207-111TCN), vụ thiên thực năm 41 SCN xảy ra trong thời khoảng có sự nổi dậy của chị em Bà Trưng 徵 (40-43 SCN), và vụ thiên thực năm 547 nằm trong thời kỳ trị vì của nhà Tiền Lý Việt Nam (544-602). Vụ thiên thực vào ngày 8 Tháng Tư năm 479 là một vụ thiên thực hình vành khuyên, được nhìn thấy tại Ấn Độ và Trung Hoa, có thể khó nhìn thấy tại Việt Nam; ngược lại, vụ toàn thực ngày 20 Tháng Chín năm 461, được nhìn thấy hoàn toàn tại Bắc Việt Nam, lại không được liệt kê. Vụ thiên thực ngày 23 Tháng Một năm 1422 cũng không được nhìn thấy tại Việt Nam.

37. SL 1936: 30; Polyakov 1980: 149.

38. Ho 1964: 139, số 29.

39. SL 1936: 61; Polyakov 1980: 206.

40. Hai vụ thiên thực này là: (1) một vụ vào ngày đầu tiên của Tháng Mười Một năm 1105 (thiên thực một phần), xem SL 1936: 42; và Polyakov 1980: 173, và (2) vụ xảy ra ngày đầu tiên của tháng thứ nhì năm 1188, xem SL 1936: 57, và Polyakov 1980: 198. Sự ghi chép vụ trước có lẽ tương ứng với vụ thiên thực vào ngày 16 Tháng Mười Hai năm 1107, và vụ kể sau tương ứng với vụ thiên thực vào ngày 17 Tháng Hai năm 1189; cả hai vụ thiên thực đều được nhìn thấy tại Việt Nam.

41. Vụ thiên thực vào ngày đầu tiên của tháng thứ mười năm 1093; xem SL 1936: 41; Polyakov 1980: 170. Từ 1081 đến 1100 đã chỉ có hai vụ thiên thực có thể được nhìn thấy tại Hà Nội: một vụ vào ngày 19 Tháng Ba năm 1094, và vụ kia vào ngày 14 Tháng Mười năm 1083. Không có vụ thiên thực nào được nhìn thấy tại Trung Hoa trong thời khoảng này.

42. Xem Nam Ông Mộng Lục (Ghi chép về các giấc mơ của một Ông Già từ Phương Nam) 南 翁 夢 錄 Nan weng meng lu, của Hồ Nguyên Trừng 胡 元 澄 (cũng được biết là Lê Trừng 黎 澄, 1374?-1446?), đoạn trích dẫn liên hệ như sau:

(Người này [=Trần Nguyên Đán] am tường và hiểu biết các phương pháp về niên lịch; [ông ta] đã biên soạn quyển Bách Thế Thông Kỷ Thư 百 世 通 紀 書, khởi đầu với cấu hình của chùm sao nguyên thủy của vua Nghiêu [vị hoàng đế Trung Hoa trong huyền thoại] xuống tới các triều đại nhà Tống và nhà Nguyên. [Ông] đã tính toán (?) các sự giao hội giữa mặt trăng và mặt trời, và các vụ thiên thực, các độ đo [= tọa độ] của các hành tinh và các ngôi sao trên quỹ đạo liên hệ của chúng. [Tất cả các dữ liệu này (?)] rất phù hợp với thời thượng cổ.); cũng xem Knorozova 2009: 156-157.

43. Trần 1938: 43, n. 3; Cadière và Pelliot 1904: 619, n. 3.

44. Ho Peng Yoke (2003) đề nghị sự phiên dịch tên gọi của ba kỹ thuật chiêm tinh này như sau: (1) Phương pháp của vị Thần Taiyi: Thái Ất” (36), (2) “[Sắp xếp] các điểm, sự việc, yếu tố và các Cửa [tốt, cát, lành] [cùng với] việc che dấu can Giáp [Wood [Mộc?]: yia” (trang 84) trong khi chỉ trích sự phiên dịch trực tiếp hơn như “Các Kỹ Thuật Trốn Tránh Các Cửa Kỳ Lạ: Strange Gates Escaping Techniques” (trang 83), và (3) “phương pháp sử dụng sáu năm trong lục tuần hoa giáp của can Nhâm (Dương Thủy)” (trang 5), đã ưa thích nó hơn là cách phiên dịch sát nghĩa hơn “Nghệ thuật Lục Nhâm (Dương Thủy)” (trang 113. Để giản tiện, tôi sẽ dùng tên phiên âm từ Hán tự cho các tên gọi này như dưới đây.

45. Ho 2003: 36.

46. Ho 2003: 36-40:171, [chú thích] số 3-4; tác giả Ho nêu ý kiến rằng một công cụ bói toán mới được khai quật gần đây thuộc thời nhà Hán có thể tượng trưng cho một hình thức thô sơ của kỹ thuật này (trang 41). Cũng xem Kalinowski 1991: 105, 542, [chú thích?] số 79, 568, số 23.

47. Thành phần này của phương thức bói toán rõ ràng đã bị sửa đổi khi được truyền bá tại Việt Nam.

48. Ho 2003: 66-68.

49. Trần 1937: 33. Hai khảo luận khác có liên hệ đến hệ thống bói toán Lục Nhâm: Liu ren; tôi sẽ trở lại chúng bên dưới. Họ Trần cũng đề cập tới công trình văn chương khác của ông Lê dành cho thuật bói toán (Trần 1937: 34); văn bản này, có nhan đề là Hải hội minh châu 海 會 明 珠, được cung ứng vào lúc họ Trần soạn bài viết của ông, giờ đây bị mất đi.

50. Ở đây, hoa hồng (rose) là loại có tên khoa học là Rosa Muliflora: hoa nở thành từng cụm nhiều hoa (Hán tự là wei vi. Zi wei 紫 薇 (Hồng Đỏ Tím): Tử Vi để chỉ một chùm sao gần bắc cực, xem, thí dụ, Ho 2003: 76.

51. Ho 2003: 74-82.

52. Ho 2003: 83-84.

53. Kalinowski 1983.

54. Ho 2003: 113-119.

55. Ho 2003: 137.

56. Trần 1937: 33 có nói đến hai tập khảo luận nữa liên quan đến truyền thống Lục Nhâm (tức liu ren 六 壬) được trước tác bởi Lê Quý Đôn 黎 貴 惇 (xem bên trên): quyển Lục Nhâm Hội Thông 六 壬 會 通 (Họ Trần dịch nhan đề này là Notions generals de la science de la divination appliquée à la guerre (Các Khái Niệm Tổng Quát về khoa học bói toán áp dụng cho chiến tranh), có lẽ dựa trên căn bản nội dung của nó) và Lục Nhâm Tuyển Túy 六 壬 選 粹 (Choix de principes essentiels de la science de la divination appliquée à la guerre), theo họ Trần; cả hai khảo luận này đều không được tìm thấy trong các thư tịch của Trần và Gros 1993, Liu và các tác giả khác 2002, hay tại Thư Viện Quốc Gia Việt Nam.

57. Cuộc du hành của ông sang Trung Hoa được đề cập tới trong quyển CM 1969: 2832; nó được ghi niên kỳ là tháng thứ tư của năm thứ 20 niên hiệu (Việt Nam) Quang Hưng 光 興, 1578-1599, tức năm 1697 [nhiều phần xếp chữ sai, phải là 1597, chú của người dịch] (được cho biết trong CM 1969 là năm thứ 25 niên hiệu (Trung Hoa) Wanli 萬 曆 Vạn Lịch, 1572-1620, tức năm 1596). Họ Phùng đã trở về từ Trung Hoa trong tháng thứ 12 năm thứ 21 niên hiệu Quang Hưng, tức, trong năm 1599 (được nói là năm thứ 26 niên hiệu Vạn Lịch, tức năm 1598), xem CM 1969: 2847. Về Phùng Khắc Khoan, cũng xem Gaspardone 1934: 115-116; Trần 1938: 106-107, 117; Knorozova 2009: 244, chú thích số 38; về cuộc gặp gỡ của ông với sứ giả Triều Tiên, xem Cheng 2009.

58. Trần 1938: 106-107.

59. Cũng xem văn bản viết tay đồ sộ Binh Pháp Tập Lược 兵 法 輯 略 (phiên âm theo hán tự bing fa ji lue) được cho là được biên soạn bởi Liu Bowen (Liu Ji) (Lưu Bá Ôn tức Lưu Cơ) và biên tập bởi Nguyễn Đức Uông 阮 德 汪 (không ghi niên kỳ), TG 246 (một bản chup bằng vi phim của nó được cung ứng tại thư viện của Trường EFEO ở Paris; tập khảo luận này dành cho các sự ứng dụng quân sự của khoa chiêm tinh.

60. Muốn có các dữ liệu tiểu sử của Xu Xun (Hứa Tốn) như được tìm thấy Daozang (Đạo Tang) và sự sùng bái ông ta, xem Boltz 1987: 70-78.

61. Muốn có một sự trình bày ngắn gọn, xem Ren 1991: 1170, số 1467.

62. Một văn bản không sớm hơn năm 1295 đề cập đến Xu Xun (Hứa Tốn) là “Xu Taishi zhenjun” 許 太 史 真 君 Hứa Thái Sư Chân Quân”, tức Hứa Tốn đã được nói đến một cách công nhiên như Nhà Đại Chiêm Tinh taishi 太 史 thái sư: Great Astrologer (Trưởng Phòng Chiêm Tinh, xem Hucker 1985: 481, số. 6212); J. Boltz đề nghị dịch là “Perfected Lord Xu, the Grand Scribe: Ngài họ Hứa hoàn hảo, Nhà Đại Thư Pháp” (1987: 75)

---------

SÁCH THAM KHẢO

1. Các Tài liệu Chính Yếu

A. Các khảo luận chiêm tinh học bằng tiếng Việt còn tồn tại đến nay

[Các văn bản trong phần này được sắp xếp theo thứ tự ABC các nhan đề của chúng theo cách đọc trong Việt ngữ. Đối với mỗi nhan đề, tôi cung cấp nhan đề của nó theo cách đọc Việt Ngữ, nhan đề nguyên thủy của nó bằng Hán Nôm, cách đọc theo phiên âm kiểu pinyin cho chữ Hán, và một tên tạm dịch (trong một số trường hợp có thể không hoàn toàn thỏa đáng). Mỗi văn bản có một ký số tham khảo được dùng trong thân bài của bài viết này, thí dụ, A35 để chỉ văn bản được liệt kê nơi phần này [phần A] với ký số 35. Các niên kỳ biên soạn và xuất bản, tên của (các) tác giả được nói đến trong các trường hợp hay biết được; nếu tên họ của họ không được cung cấp, điều đó có nghĩa họ vẫn chưa được hay biết đối với tôi. Với mỗi văn bản, các sự tham chiếu được cung cấp theo các thư tịch Trần and Gros 1993 (bắt đầu với các mẫu tư TG) và Liu et al. 2002 (bắt đầu với mẫu tự L); trong các trường hợp khi một văn bản được tìm thấy tại Thư Viện Quốc Gia Việt Nam, tôi cung câp số ký gọi từ thư tịch của thư viện này bắt đầu bằng các mẫu tự BNV.]

1. An tử vi quốc ngữ ca 安 紫 微 國 語 歌 (An zi wei guo yu ge). (Các lời giải đoán thuật bói toán số mệnh theo Tử Vi bằng thơ viết bằng chữ quốc gia [= Nôm]. BNV R. 293.

2. Bốc Phệ Chính Tông 卜 筮 正 宗 (Bu shi zheng zong) (Nguồn gốc chính thống của [các phương pháp bói toán] bốcphệ), 1848-1859. Của Tiên Sinh Cổ La 古 羅 先 生 (Âm Hán tự: Gu Luo) (không ghi niên kỳ). TG 227; L 2470.

3. Chiêm Bốc Tạp Nghiệm 占 卜 雜 驗 (Zhan bu za yan) Các cách thức bói toán linh tinh). TG 440; L 2491.

4. Chiêm Luận Sự Niên Nguyệt Nhật Thì Tích 占 論 事 年 月 日 辰 跡 (Zhan lun shi nian yue ri chen ji) ((Bói Toán dựa trên năm, tháng, ngày, và chùm sao [= giờ] sinh). TG 442; L 2492.

5. Chiêm Nhật Nguyệt Cát Hung Đồ 占 日 月 吉 凶 圖 (Zhan ri yue ji xiong tu) (Các biểu đồ bói toán liên quan đến điều tốt và điều xấu theo căn bản ngày tháng). TG 443; L 2493.

6. Chiêm Phu Thê Giá Thú Hợp Hôn Cát Hung Số 占 夫 妻 嫁 娶 合 婚 吉 凶 數 (Zhan fu qi jia qu he hun ji xiong shu) (Bói toán về các điều tốt và xấu của hôn nhân). TG 444; L 2493.

7. Chiêm Thiên Văn Chư Loại Đẳng Tinh Cát Hung Đồ 占 天 文 諸 類 等 星 吉 凶 圖 (Zhan tian wen zhu lei deng xing ji xiong tu) (Các biểu đồ bói toán về các nhân vật trên trời, thiên thể mọi loại và đẳng cấp, liên can đến các điều tốt và xấu). TG 447; L 2485.

8. Chiêm Thiên Văn Loại 占 天 文 類 (Zhan tian wen lei) (Các loại bói toán về các khuôn mẫu trên trời). TG 448; L 2486.

9. Chiêm Thiên Văn Thư 占 天 文 書 (Zhan tian wen shu) (Kinh sách bói toán về các khuôn mẫu trên trời). TG 449; L 2487.

10. Cửu Thiên Huyền Nữ Toán Pháp 九 天 玄女 算 法 (Jiu tian xuan nu suan fa) (Các Phép Tính Của Thiếu Nữ Huyền Bí Của Chín Tầng Trời). TG 640; L 2471.

11. Đại Lục Nhâm Đại Toàn 大 六 壬 大 全 (Da Liuren da quan) (Đại toát yếu về Sáu [các dấu hiệu, các can] Nhâm: ren. Nhan đề thay thế khác: Đại Lục Nhâm Đại Độn [trong nguyên bản đánh máy sai là Toàn] 大 六 壬 大 遁 (Da Liuren da dun) [Các Phương Pháp] của Cuộc Đại Lẩn Tránh và Của Sáu can Nhâm. Của Guo Zailai 郭 載 騋 thời nhà Minh. TG 823; L 2472.

12. Diệu Tiên Kinh 曜 仙 經 (Yao xian jing) (Khảo luận về thuật bói toán của các [Đạo Sĩ] bất tử (?)). TG 736; L 2504.

13. Độn Giáp Kì [Kỳ?] Môn 遁 甲奇 門 (Dun jia qi men) ([Các phương pháp] Độn Giáp và Kỳ Môn). 63 TG 1094; L 2500.

14. Khâm Định Hiệp Kỉ [Kỷ?] Biện Phương 欽 定 協 紀 辨 方 (Qin ding xie ji bian fang) ([Kinh sách] về các thời đại hợp nhất và các phương vị tách biệt, được phê chuẩn bởi Hoàng Đế). Các nhan đề thay thế khác: Hiệp Biện 協 辨 (Xie bian) (Thống Nhất và Tách Biệt); Tạp Chiêm 雜 占 (Za zhan) ([Các phương pháp] linh tinh của sự bói toán). TG 1652; L2498.

15. Linh Văn Thắng Lãm Kinh Tổng Luận 靈 文 勝 覽 經 總 論 (Ling wen sheng lan jing zong lun) (Tổng luận dựa theo sự kiểm tra các khảo luận về “kinh sách của các thần linh”). TG 2010; L 2506.

16. Lục Giáp Toàn Thư 六 甲 全 書 (Liu jia quan shu) (Toàn bộ kinh sách liên can đến phương pháp Lục Giáp). TG 2075; L 2507.

17. Lục Nhâm 六 壬 (Liu ren). TG 2077; L 2476.

18. Lục Nhâm Đại Độn 六 壬 大 遁 (Liu ren da dun) {[Các phương pháp của] Lục Nhâm và của Cuộc Đại Lẩn Tránh}. TG 2078; L 2508.

19. Lục Nhâm Đại Độn 六 壬 大 遁 (Liu ren da dun) {[Các phương pháp của] Lục Nhâm và của Cuộc Đại Lẩn Tránh}. TG 2079; L 2477.

20. Lục Nhâm Đại Độn Pháp 六 壬 大 遁 法 (Liu ren da dun fa) {[Các phương pháp của] Lục Nhâm và của Cuộc Đại Lẩn Tránh}. TG 2080; L 2478.

21. Lục Nhâm Kinh Vĩ Lược 六 壬 經 緯 略 (Liu ren jing wei lue) (Tóm lược Kinh Sách và Kinh Ngụy Tác về Lục Nhâm. TG 2082; L 2479.

22. Lục Nhâm Quốc Ngữ 六 壬 國 語 (Liu ren guo yu) ([Các phương pháp] Lục Nhâm [được giải thích bằng tiếng dân ta [= Nôm]]. TG 2083; L 2480.

23. Lục Nhâm Tiện Lãm 六 壬 便 覽 (Liu ren bian lan) (Tóm lược dành cho độc giả về Lục Nhâm). TG 2084; L 2481.

24. Mã Tiền Bốc Pháp 馬 前 卜 法 (Ma qian bu fa) (Các phương pháp bói toán [liên can đến việc “đổ nước] ở phía trước con ngựa của một người”). 64

25. Ngọc Hạp 玉 匣 (âm Hán tự: Yu xia) ([Tài liệu từ] rương bằng ngọc). Của Hứa Chân Quân 許 真 君 (Xu Xun: 許 遜 Hứa Tốn). TG 4744; L 2511.

26. Ngọc Hạp Toản Yếu 玉 匣 纂 要 (Yu xia zuan yao) (Cốt yếu của sự biên soạn từ Rương Bằng Ngọc). TG 4745; L 2483.

27. Ngọc Hạp Toản Yếu Thông Dụng 玉 匣 纂 要 通 用(Yu xia zuan yao tong yong) (Sự sử dụng thông thường các điều cốt yếu của sưu tập từ Rương Bằng Ngọc). In năm 1926. BNV R.2227.

28. Ngọc Trướng Huyền Cơ 玉 帳 玄 機 (Yu zhang xuan ji) ([Các phương pháp của] Bộ Máy [trong nguyên bản dịch chữ Cơ là Cực 極, được viết khác với chữ Cơ 機 trong nhan đề, vốn có nghĩa là Bộ Máy, chú của người dịch] Huyền Bí và Trướng Treo Ngọc). TG 2354; L 2488.

29. Ngọc Trướng Huyền Cơ Bí Độn Thư Pháp 玉 帳 玄 機 泌 遁 書 法 (Yu zhang xuan ji bi dun shu fa) (Các phương pháp của kinh sách về sự chạy trốn bí mật theo tập khảo luận về của Bộ Máy Huyền Bí và Trướng Treo Ngọc). TG 2355; L 2489.

30. Ngọc Trướng Huyền Cơ Bí Pháp 玉 帳 玄 機 泌 法 (Yu zhang xuan ji bi fa) (Các phương pháp bí mật của Bộ Máy Huyền Bí và Trướng Treo Ngọc). TG 2356; L 2490.

31. Quỷ Cốc Đại Định Hoàng Tuyền Số 鬼 谷 大 定 黃 泉 數 (Gui gu da ding huang quan shu) ([Sự bói toán] số mệnh về sự [quay về] Suối Vàng, được ấn định một cách uy nghiêm bởi [thầy] Quỷ Cốc). TG 2912; L 2496.

32. Quỳnh Lâm Huyết Hải Thư 瓊 林 血 海 書 (Qiong lin xue hai shu) (Kinh sách về Rừng Quỳnh và Biển Máu). TG 2914; L 2505.

33. Sách Coi Số 冊 […] 65 數 (Ce […] shu) (Coi số theo các [ ….] sách). TG 2921; L 2494.

34. Số Pháp Thư 數 法 書 (Shu fa shu) (Kinh sách về các phương pháp coi số). TG 2966; L 2502。

35. Tân San Lục Nhâm Đại Độn Bí Truyền 新 刊 六 壬 大 遁 泌 傳 (Xin kan Liu ren da dun bi chuan) (Truyền thống bí mật mới được ấn hành về [các phương pháp của] Lục Nhâm và của Sự Lẩn Tránh Lớn Lao). Một thủ bản đề niên kỳ 1883. TG 3192; L. 2501.

36. Tam Kì Bát Môn Độn Pháp 三 奇 八 門 遁 法 (San qi ba men dun fa) (Các phương pháp của Sự Lẩn Tránh [sử dụng] Ba [Tác Nhân] Kỳ Lạ và Tám Cửa). TG 3078; L 2473.

37. Tăng Bổ Tuyển Trạch Thông Thư Quảng Ngọc Hạp Ký 增 補 選 擇 通 書 廣 玉 匣 記 (Zeng bu xuanze tong shu guang Yu xia ji) (Niên giám về sự lựa chọn [các ngày tốt] cùng với quyển Ngọc Hạp Ký triển khai có các sự tăng bổ). Một nhan đề thay thế khác: Tuyển Trạch Thông Thư Quảng Ngọc Hạp Ký 選 擇 通 書 廣 玉 匣 記 (Xuanze tong shu guang Yu xia ji) (Niên giám về sự lựa chọn [các ngày tốt] cùng với quyển Ngọc Hạp Ký triển khai). Các ấn bản các năm 1876, 1920, và 1923. Của Hứa Chân Quân 許 真 君 (tức Xu Xun: 許 遜 Hứa Tốn). TG 4855; L 2518; BNV R.60.

38. Thái Ất Dị Giản Lục 太 乙 易 簡 錄 (Tai Yi yi jian lu) (Tài liệu giản lược [về bói toán theo phương pháp của] Thái Ất và theo Kinh Dịch. Được biên soạn bởi Lê Quý Đôn 黎 貴 惇 (1726-1784). TG 3290; L 2475.

39. Thái Ất Thống Tông Bảo Giám 太 乙 統 宗 寳監 鑑 (Tai yi tong zong bao jian) (Gương soi quý giá của Các Căn Nguyên Thống Nhất của [các phương pháp] Thái Ất). TG 3291; L 2482.

40. Tham Bình Bí Quyết Kim Tỏa Ngân Chủy Ca 參 評 泌 訣 金 鎖 銀 匙 歌 (Can ping bi jue jin suo yin shi ge) (Các bài thơ ngắn về các bí quyết được so sánh và bình luận về Kim Tỏa (Khóa Vàng) và Ngân Chủy (Chìa Khóa bằng bạc). TG 4889; L 2514.

41. Thần Lịch Tạp Kị [Kỵ?] Pháp 神 歷 雜 忌 法 (Shen li za ji fa) (Các phương pháp khác nhau về [các ngày] xấu [theo] lịch trình của các thần linh). TG 3388; L 2521.

42. Thiên Văn Thể 天 文 體 (Tian wen ti) (Cấu trúc (?) của các thiên thể). TG 3543; L 2474.

43. Thông Thư Chính Quyển 通 書 正 巻 (Tong shu zheng quan) Niên Giám: quyển chính thống). TG 3601; L 2497.

44. Thông Thư Quảng Ngọc Hạp Ký 通 書廣 玉 匣 記 (Tong shu guang Yu Xia ji) (Niên Giám cùng với Ngọc Hạp Ký triển khai). In năm 1876. TG 4926; L 2513.

45. Tiền Định Lâp Thành 前 定 立 成 (Qian ding li cheng) ({Cẩm Nang} lập sẵn để xác định số phận đã định). TG 3724; L 2495.

46. Toát Kim Bốc Pháp 撮 金 卜 法 (Cuo jin bu fa) (Các phương pháp bói toán [trị giá một toát vàng: cuo [đơn vị đo trọng lượng của Trung Hoa, 1/1000 đấu (thặng), chú của người dịch]]. TG 3797; L 2524,

47. Tử Vi Đẩu Số 紫 微 斗 數 (Zi wei dou shu) (Đoán số mệnh theo phương pháp của Tử Vi). TG 4992; L 2515.

48. Tử Vi Đẩu Số Giải Âm 紫 微 斗 數 解 音 (Zi wei dou shu jie yin) (Các sự giải thích và xem [chính xác] số mệnh theo phương pháp của Tử Vi). TG 4102; L 2509.

49. Tử Vi Giải 紫 微 解 (Zi wei jie) (Các sự giải thích về phương pháp của Tử Vi). TG 4993; L 2516.

50. Tử Vi Hà Lạc Nhâm Thìn Số 紫 微 河 洛 壬 辰 數 (Zi wei He Luo ren chen shu) (Đoán số mệnh theo các phương pháp của Tử Vi và Hà [tu] và Lạc [shu, Lục Nhâm và các chùm sao]. TG 4995; L 2517.

51. Tử Vi Số 紫 微 (Zi wei shu) (Đoán số mệnh theo Tử Vi). TG 4103; L 2499.

52. Tử Vi Thập Nhị Cung Đoán Pháp Quốc Âm Ca 紫 微 十 二 宮 斷 法 國 音 歌 (Zi wei shi er gong duan fa guo yin ge) (Các phương pháp có vần điệu để giải đoán trên căn bản các phương pháp của Tử Vi và Mười Hai Cung được diễn đạt bằng tiêng dân ta [tức chữ Nôm]). TG 4104; L 2510.

53. Tuyển Trạch Thông Thư Đại Toàn 選 擇 通 書 大 全 (Xuan ze tong shu da quan) (Các đề tài tuyển trạch từ bản tóm lược tổng quát các niên giám). Một bản sao của MS ghi niên kỳ năm 1880. TG 4044; L 2503.

B. Các Niên Sử Việt Nam

CM 1969 – Trần Văn Vi 陳 文 為 và các tác giả khác, đồng biên tập, Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục 欽 定 越 史 通 鑑 綱. Taipei: Guoli zhongyang tushuguan.

SL 1936 – [Khuyết danh], [Đại] Việt Sử Lược [大] 越史略.Shanghai: Shangwu yinshuguan.

TT 1984 – Chen Jinghe 陳 荊 和 Trần Kính Hòa (biên tập), 校 合 本 大 越 史 記 全 書 Khảo (hay Hiệu) Hợp Bản Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Tokyo: Viện Nghiên Cứu Cao Cấp Về Á Châu, Đại Học Tokyo, 3 quyển, 1984-1986.

C. Các Tài Liệu Chính Yếu Khác

KTG – Khâm Thiên Giám 欽 天 監. Một thủ bản có niên kỳ 1930 được bảo tồn tại Viện Hán Nôm, Hà Nội; ký số VHv. 1261.

LHT – Lê Công Hành Trạng 黎 公 行 狀 (Một tiểu sử của Lê Quý Đôn). Thủ bản được bảo tồn tại Viện Hán Nôm, Hà Nội; ký số A. 43.

XZJ – Fa shi xuan ze ji 法 師 選 擇 記 Pháp Sư Tuyển Trạch Ký (Tài liệu về các sự lựa chọn ngày tốt của Pháp Sư). Trong Zhengtong Daozang 正 統 道 藏 Chính Thống Đạo Tang, Taibei: Hsin Wen Feng Publishing Company, 1977, quyển 60: 325-346.

YXJ – Xu zhenjun Yuxia ji 許 真 君 玉 匣 記 Hứa Chân Quân Ngọc Hạp Ký (Tài Liệu Từ Rương Bằng Ngọc của Hứa Chân Quân (tức Xu Xun 許 遜 Hứa Tốn), Trong Zhengtong Daozang 正 統 道 藏 Chính Thống Đạo Tang Taibei: Hsin Wen Feng Publishing Company, 1977, quyển 60: 321-324.

II. Các Nguồn Tài Liệu Thứ Yếu và Các Bản Dịch

ARHEM, Nikolas (2009). In the Sacred Forest: Landscape, Livelihood and Spirit Beliefs among the Katu of Vietnam. SANS Papers in Social Anthropology 10, Gothenburg, University of Gothenburg.

BOLTZ, Judith M. (1987). A survey of Taoist literature: Tenth to Seventeenth Centuries. Berkeley, University of California, Institute of East Asian studies.

CADIÈRE, Leopold và PELLIOT, Paul (1904). "Première étude sur les sources annamites de l'histoire d'Annam." Bulletin de l'École française d'Extrême-Orient, t. 4: 617-671.

CHAPUIS, Oscar (1995). A History of Vietnam: from Hong Bang to Tu Duc. Westport, Greenwood Press.

CHENG Wing-sheung 鄭 永 常 Trịnh Vĩnh Thường (Tháng Sáu 2009). "Yi ci qiyi de shi zhi waijiao: Feng Kekuan yu Li Suiguang zai Beijing de jiaohui 一 次 奇 異 的 時 之 外 交: 馮 克 寬 與 李 脺 光 在 北 京 的 交 會 [Nhất thứ kỳ dị đích thời chi ngoại giao: Phùng Khắc Khoan dữ Lý Tụy Quang tại Bắc Kinh đích giao hội] (Một Trường Hợp Ngoại Giao Kỳ Lạ qua Thi Ca: Cuộc Gặp Gỡ của Phùng Khắc Khoan và Lý Tụy Quang [phiên âm theo tiếng Hàn Quốc là Yi Su-Gwang, sứ giả của Triều Tiên, chú của người dịch] tại Bắc Kinh). Taiwan gudian wenxue yanji[u] jikan 臺 灣 古 典 文 學 研 究 集 刊 [Đài Loan Cổ Điển Văn Học Nghiên Cứu Tập San], quyển 1: 345-347, 349-372.

COULET, Georges (1926). Les Sociétés secrètes en terre d'Annam. Saigon, Ardin.

COULET, Georges (1929). Cultes et religions de l'Indochine annamite. Saigon, Ardin.

DUMOUTIER, Gustave (1899). "Études d'ethnographie religieuse annamite: Sorcellerie et Divination." Actes du XI' Congrès international des Orientalistes (1897), Paris, tome II: 275-409.

DUMOUTIER, Gustave (nov.-déc. 1914). "L'astrologie considérée plus spécialement dans ses applications à l'art militaire." Revue Indochinoise: 456-475.

DUMOUTIER, Gustave (July-Aug. 1915). "L'astrologie chez les Annamites: ses applications a l'art militaire." Revue Indochinoise: 101-126.

FEDORIN, Andrei [Фeдopин, Aндрй ЛЬВОВИЧ] (2009). "Лунно-солнечнЫй каленларЬ на ЛалЬнем Востоке: вЬетнамский вариант" (Âm-Dương (Luni-Solar) lịch tại vùng Viễn Đông: một phiên bản của Việt Nam). ПроблемЫ ДалЬнеƨо Восмока, no. 4: 158-162.

FRIEDSAM, Manfred (2003). "L'enseignement des mathématiques sous les Song et Yuan." In C. Despeux and C. Nguyen Tri {eds.). Éducation et instruction en Chine, vol. 2 {Les formations spécialisées), Paris/Louvain. Éditions Peeters: 49-68.

GASPARDONE, Emile (1934). "Bibliographie Annamite." BEFEO, fasc. 1: 1-173.

HAN Qi 韓 琦 Hàn Kỳ (1991). "Zhong Yue lishi shang tian wen xue yu shuxue de jiaoliu 中 越 歷 史 上 天 學 與 數 學 的 交 流 Trung Việt lịch sử thượng văn học dữ số học đích giao lưu (Sự tương tác giữa thiên văn học và số học của Trung Hoa và Việt Nam trong lịch sử)." Zhongguo keji shiliao 中 國 科 技 史 料 Trung quốc khoa kỹ sử liệu, quyển 12.2: 3-8.

Ho Peng Yoke (1964). "Natural phenomena recorded in the Đại Việt sử ký toàn thư, an early Annamese historical source." Journal of the American Oriental Society, vol. 84.2: 127-149.

Ho Peng Yoke (2003). Chinese Mathematical Astrology: Reaching out to the Stars. London and New York, RoutledgeCurzon.

HUARD, Pierre, và DURAND, Maurice (1954). Connaissance du Viet-Nam. Paris/Hanoi, Imprémerie Nationale/École Française d'Extrême-Orient.

HUCKER, Charles O. (1985, bản in lại năm 1988). A Dictionary of Official titles in Imperial China. Taibei, Southern Materials Center (bản in lại năm 1988; nguyên thủy được ấn hành bởi Stanford University Press năm 1985).

KALINOWSKI, Marc (1983). "Les instruments astro-calendriques des Han et la méthode Liu Ren." Bulletin de l'École française d'Extrême-Orient, tập 72: 309-419.

KALINOWSKI, Marc (1989). "La littérature divinatoire dans le Daozang." Cahiers d'Extrême-Asie, vol. 5: 85-114.

KALINOWSKI, Marc (tr.) (1991). Cosmologie et divination dans la Chine ancienne. Le Compendium de Cinq Agents (Wuxing dayi, VIè siècle). Paris, EFEO.

KALINOWSKI, Marc (éd.) (2003). Divination et société dans la Chine médiévale. Paris, Bibliothèque Nationale de France.

KNOROZOVA, Ekaterina [Kнорозова, Eкатерина Юрьевна] (2009). Cmpaнсmeuя е бесконечном (Wandering in the infinite). Sankt-Peterburg, BRAN & Alfaret Publishers.

LÊ, Alexandre (1995). Etude du Nom, écriture idéographique de la langue Vietnamienne: son histoire, sa structure et sa valeur littéraire. Mémoire de D.R.E.A. de Vietnamien. Paris, INALCO (luận án chưa được xuất bản).

LEE, Thomas H.C. (1985). Government Education and Examinations in Sung China. Hong Kong, The Chinese University Press, and New York, St. Martin's Press.

Liu Chun-Yin 劉 春 銀, Wang Xiaodun 王 小 盾, Trần Nghîa 陳 義 (2002). Yuenan Han-Nan wenxian mulu tiyao 越 南 漢 文 獻 目 錄 提 要 Việt Nam Hán-Nôm Văn Hiến Mục Lục đề yếu (Mục Lục chú giải các tài liệu văn chương Hán Nôm). Taibei, Academia Sinica.

MARR, David G. (1981). Vietnamese Tradition on Trial, 1920-1945. Berkely etc. [?], University of California Press.

MORGAN, Carole (1980). Le Tableau du boeuf du printemps. Étude d'une page de l'almanach chinois. Paris, Collège de France, Institut des Hautes Études Chinoises.

MORGAN, Carole (1987). "La divination d'après les croassements des corbeaux dans les manuscrits de Dunhuang." Cahiers d'Extrême-Asie, vol. 3: 55-76.

NGUYỄN Đình Hòa (1959). "Chữ Nôm, the Demotic System of Writing in Vietnam."Journal of the American Oriental Society, vol. 79, no. 4: 270-274.

NGUYỄN Đình Hòa (1990). "Graphemic borrowing from Chinese: the case of chữ nôm, Vietnam's demotic script." Bulletin of the Institute of History and Philology, Academia Sinica [Taiwan], 61: 383-432.

NGUYỄN Văn Huyên (2002). The Ancient Civilization of Vietnam. Hanoi, The Gioi.

OSBORNE, Milton E. (1997, bản in lại ấn bản năm 1969). The French Presence in Cochinchina and Cambodia: Rule and Response (1859-1905). Bangkok, White Lotus Press [được ấn hành lần đầu tiên bởi Cornell University trong năm 1969].

PAPIN, Philippe (2001). Histoire de Hanoi. Paris, Fayard.

POISSON, Emmanuel (2004). Mandarins et subalternes au nord du Viêt Nam (1820-1918) - une bureaucratie à l'épreuve. Paris, Maisonneuve et Larose.

POLYAKOV, Aleksei [UOUHKOB, AjieKceÄ BOPHCOBHH] (tr.) (1980). KpamKan ucmopun Bbema. Bbem uiu AUOK (Tóm lược lịch sử Việt Nam. The Việt Sử Lược). Moscow, Nauka.

REN Jiyu 任 繼 愈 Nhậm Kế Dụ và các tác giả khác (đồng biên tập) (ấn bản lần thứ nhì năm 1995). Daozang tiyao 道 藏 提 要 Đạo Tang đề yếu (Chú Giải Đạo Tang). Beijing, Zhongguo shehui kexue chubanshe.

SMITH, Richard J. (1991, bản in lại năm 1993). Fortune-tellers and Philosophers. Divination in Traditional Chinese Society. Boulder, Westview Press; in lại tại Taipei, SMC Publishing Inc.

TRẦN Văn Giáp (1983). "Les chapitres bibliographiques de Le-qui-Don et de Phan-huy-Chu." Bulletin de la Société des Études Indochinoises, Saigon, Testelin, Nouvelle série, t. 13, no. 1: 13-217.

TRẦN Nghîa et Gros, François (eds.) (1993). Catalogue des livres en Han-Nôm. Hà Nội, Nhà xuất bản khoa học xã hội/Edition [des] sciences sociales.

TRỊNH Văn Thao (1995). L'École française en Indochine. Paris, Karthala.

VĂN An Vi (2008). "A Thai Divination Kit in the Vietnam Museum of Ethnology." Asian Ethnology, vol. 67, no. 2: 257-269.

VARGYAS, Gabor (2004). "Thuật Tiên Tri trong Lễ Lên Đồng của Người Bru” [Divination in Bru Shamanism]. Trong sách biên tập bởi Ngô Đức Thịnh, Đạo Mẫu và các Hình Thức Shaman Trong Các Tộc Người ở Việt Nam và Châu Á. Hà Nội, Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội [Social Sciences Publishers]: 537-548.

VOLKOV, Alexei (2008). "Traditional Vietnamese Astronomy in Accounts of Jesuit Missionaries." Trong sách đồng biên tập bởi L. Saraiva và C. Jami. History of Mathematical Sciences, Portugal and East Asia III: The Jesuits, the Padroado and East Asian Science (1552-1773), Singapore etc. [?]. World Scientific: 161-185.

VOLKOV, Alexei (2009). "Mathematics and Mathematics Education in Traditional Vietnam." Trong sách đồng biên tập bởi E. Robson và J. Stedall, Oxford Handbook of the History of Mathematics, Oxford, Oxford University Press: 153-176.

VOLKOV, Alexei (2012). "Argumentation for State Examinations: Demonstration in Traditional Chinese and Vietnamese mathematics." Trong sách biên tập bởi K. Chemla, The History of Mathematical Proof in Ancient Traditions, Cambridge, Cambridge University Press: 509-551.

WHITMORE, John. K. (1995). "Cartography in Vietnam," trong sách đồng biên tập bởi J. B. Harley và David Woodward, The History of Cartography, vol. 2, book 2: 478-508.

_____

Nguồn: Alexei Volkov, Astrology and Hemerology in Tradional Vietnam, Extrême-Orient, Extrême-Occident, 35 – 2013, các trang 113 – 140.

Alexei Volkow

Ngô Bắc dịch


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Chiêm tinh học và thuật bói toán tại việt nam cổ truyền

Tăng cường sức khỏe nhờ bàn ăn hợp phong thủy

Bài trí bàn ăn hợp phong thủy không chỉ mang lại bữa ăn ngon miệng, vui vẻ mà còn giúp tăng cường sức khỏe và tinh thần cho mọi thành viên trong gia đình.
Tăng cường sức khỏe nhờ bàn ăn hợp phong thủy

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Bài trí bàn ăn hợp phong thủy không chỉ mang lại bữa ăn ngon miệng, vui vẻ mà còn giúp tăng cường sức khỏe và tinh thần cho mọi thành viên trong gia đình.


► Xem thêm: Những yếu tố phong thủy phòng ngủ ảnh hưởng đến gia đình bạn

- Theo quan điểm phong thủy nhà bếp, kiêng kị đặt bàn ăn đối diện với ban thần Tài. Dù trong nhà có bàn thờ thần Tài hay không, bạn cũng nên lưu ý, tránh kê bàn ăn đối diện với hướng thần Tài sẽ tạo tạo thế đối xung, tài lộc không vào trong nhà do bàn ăn cản trở. Do đó, cần giữ một khoảng cách nhất định giữa bàn ăn và ban thần Tài, không nên đặt ở ngay cạnh hoặc đối diện.

Tang cuong suc khoe nho ban an hop phong thuy hinh anh
Ảnh minh họa

- Mặt bàn cần phải phẳng và sắp xếp gọn gàng. Bởi nếu ngồi ăn trên một chiếc bàn mà mặt bàn gồ ghề, lộn xộn sẽ gây cảm giác khó chịu, không ngon miệng, lâu dần ảnh hưởng đến sức khỏe và không khí tụ họp của cả gia đình. 
 
Ngoài ra, bàn ăn là nơi tụ tập ăn uống đông đúc nên không tránh khỏi việc va chạm bát đũa. Nếu mặt bàn không phẳng và nhiều tạp vật linh tinh thì chỉ cần va chạm nhẹ cũng làm đổ thức ăn hoặc vướng víu khiến bát đĩa rơi vỡ.
 
- Kích thước bàn ăn cũng cần phù hợp với diện tích căn phòng. Nếu kê bàn ăn quá to trong phòng hẹp và ngược lại sẽ làm mất cân đối không gian, khiến mọi người đứng ngồi không yên chứ chưa nói tới việc có thể ngồi thưởng thưởng món ăn một cách ngon lành.
 
- Nên sử dụng bàn ăn hình tròn hoặc vuông thay vì các hình thù kì dị khác, bởi những kiểu dáng đó sẽ phá vỡ cấu trúc phong thủy, mang đến sự xui xẻo cho gia chủ.
 
Bên cạnh đó, nên chọn số ghế và những vật trang trí đi kèm là số chẵn tạo cảm giác tương xứng và hài hòa về mặt thẩm mĩ, đồng thời những mang lại nhiều điều may mắn về phong thủy.
 
- Lưu ý, khu vực xung quanh bàn ăn cần phải gọn gàng sạch sẽ. Điều đó không những tốt về mặt mĩ quan mà còn giúp mọi người thuận tiện đi lại, không va chạm đổ vỡ hoặc cảm thấy mất hứng ăn uống.
 
ST  
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tăng cường sức khỏe nhờ bàn ăn hợp phong thủy

'Thầy' đặt tên, con phú quý?

Khi bé còn chưa chào đời, nhiều bậc cha mẹ đã 'săn' thầy để cậy nhờ tìm một cái tên phú quý, cát tường.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Khi đặt tên cần tuân thủ các nguyên tắc

Âm vần của tên gọi phải hay, đẹp: đặt tên là để người khác gọi, vì thế phải hay, kêu, tránh thô tục, không trúc trắc. Tiếp đến là tránh họ và tên cùng vần cùng chữ, tránh dùng nhiều chữ để dễ gọi.

Tên gọi phải có kiểu chữ đẹp, dễ viết, tạo nên chữ ký đẹp, chân phương.

Khi đặt tên cần chú ý sự thống nhất hài hoà giữa họ và tên, ví dụ Bạch Như Băng khiến người ta có cảm giác trong trắng như băng.

Tên gọi phải có ngụ ý hay: điều quan trọng nhất của việc đặt tên là chọn chữ nghĩa sao cho hay và lịch sự. Vì thế phải căn cứ vào thẩm mỹ, chí hướng, và sở thích để chọn chữ nghĩa.

Điều kiêng kỵ khi đặt tên

Tốt nhất là không đặt tên dở tây dở ta như Mali Hồng Ngọc, Giôn Vũ Mạnh, Miki Lan Hương, Ana Hoài Thu v.v... khi con cái trưởng thành, nếu có dịp tên gọi được xuất hiện trên các báo chí, đài phát thanh truyền hình thì độc giả, thính giả sẽ phải đoán người đó là Tây hay ta.

Khi đặt tên không nên chạy theo thời cuộc chính trị, đặt tên gọi mang mầu sắc chính trị ví dụ trong chiến tranh giải phóng dân tộc có người đặt tên cho con là Giải Phóng, Phản Đế, Kháng Mỹ... hoặc là sau này lại đặt tên là Văn Cách, Hồng Vệ...

Khi đặt tên không nên dùng những từ cầu lợi, ví dụ Phú Quý, Kim Ngân làm cho người khác có cảm giác đó là sự nghèo nàn về học vấn.

Khi đặt tên không nên cuồng tín, nông cạn quá, ví dụ đặt tên là Vô Địch, Vĩnh Phát... Đặt tên gọi tuyệt đối quá, cực đoan quá sẽ làm cho người khác không có ấn tượng tốt.

Không nên đặt tên nam nữ, âm dương trái ngược nhau, nữ không nên đặt tên Nam, nam không nên đặt tên Nữ để người khác dễ phân biệt.

Theo Bách khoa tri thức

Trích từ nguồn: EVA.VN
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: 'Thầy' đặt tên, con phú quý?

Sao Long Đức

Hành: Thủy Loại: Thiện Tinh Đặc Tính: Khoan hòa, nhân hậu, đoan chính, phúc thiện, giải được tai nạn hung nguy Phụ tinh. Sao thứ 8 ...
Sao Long Đức

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Hành: ThủyLoại: Thiện TinhĐặc Tính: Khoan hòa, nhân hậu, đoan chính, phúc thiện, giải được tai nạn hung nguy
Phụ tinh. Sao thứ 8 trong 12 sao thuộc vòng sao Thái Tuế theo thứ tự: Thái Tuế, Thiếu Dương, Tang Môn, Thiếu Âm, Quan Phù, Tử Phù, Tuế Phá, Long Đức, Bạch Hổ, Phúc Đức, Điếu Khách, Trực Phù. Phân loại theo tính chất là Thiện Tinh.

Ý Nghĩa Long Đức Ở Cung Mệnh
Tính Tình

  • Ôn hòa, nhân hậu, đức hạnh, đẹp nết.
  • Từ bi, từ thiện hay giúp đỡ, làm phúc.
Phúc Thọ Tai Họa
Sao Long Đức có thể giải trừ được những bệnh tật nhỏ và tai họa nhỏ, mang lại một số may mắn, hỷ sự. Do đó, sao này giống như các sao Thiên Giải, Địa Giải, Giải Thần, Thiên Quan, Thiên Phúc, Thiếu Âm, Thiếu Dương, Quang Quý, Tả Hữu, Sinh, Vượng. Sự kết hợp càng nhiều giải tinh càng làm tăng hiệu lực cứu giải.
Ý Nghĩa Long Đức Ở Cung Phụ Mẫu
Cha mẹ nhân hậu, từ thiện, có nghề khéo.
Ý Nghĩa Long Đức Ở Cung Phúc Đức
Thiên Đức, Nguyệt Đức đồng cung thì họ hàng phúc hậu, mồ mã thuận vị.
Ý Nghĩa Long Đức Ở Cung Điền Trạch
Đi đâu cũng có người giúp đỡ về nhà cửa, nơi ăn chốn ở.
Ý Nghĩa Long Đức Ở Cung Quan Lộc
Công danh hay gặp may, có lương tâm nghề nghiệp.
Ý Nghĩa Long Đức Ở Cung Nô Bộc
Bè bạn, người làm, người giúp việc, nhân hậu.
Ý Nghĩa Long Đức Ở Cung Thiên Di
Ra ngoài khiêm tốn, hay gặp quý nhân.
Ý Nghĩa Long Đức Ở Cung Tật Ách
Giải trừ được tai nạn, bệnh tật nhỏ.
Ý Nghĩa Long Đức Ở Cung Tài Bạch
  • Kiếm tiền chính đáng, có lòng từ thiện.
  • Được giúp đỡ hoặc gặp may về tiền bạc.
Ý Nghĩa Long Đức Ở Cung Tử Tức
  • Con cái hòa thuận, hiếu thảo.
  • Thiên Đồng, Nguyệt Đức: Vợ chồng có con sớm.
Ý Nghĩa Long Đức Ở Cung Phu Thê
  • Người hôn phối có nhan sắc, đứng đắn.
  • Có Thiên Đức, Nguyệt Đức, Đào Hoa thì vợ chồng tốt đôi, tương đắc.
Ý Nghĩa Long Đức Ở Cung Huynh Đệ
Anh chị em hòa thuận.
Long Đức Khi Vào Các Hạn
Nguyệt Đức, Đào Hồng: Gặp giai nhân giúp đỡ nên tình duyên (có phụ nữ làm mai mối được vợ chồng).
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Sao Long Đức

Nghề nghiệp phù hợp với người tuổi Dậu

Người tuổi Dậu không quá quan tâm đến tiền bạc và là mẫu người có tinh thần tự lập cao. Họ luôn biết trân trọng những gì đã đạt được và biết vượt qua khó khăn
Nghề nghiệp phù hợp với người tuổi Dậu

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Người tuổi Dậu không quá quan tâm đến tiền bạc và là mẫu người có tinh thần tự lập cao. Họ luôn biết trân trọng những gì đã đạt được và biết vượt qua khó khăn trong cuộc sống để vươn lên. Tính cách này có thể mang đến cho họ sự phù hợp khi bước chân vào lĩnh vực chính trị.

Bên cạnh đó, họ còn là người có tư duy nhạy bén và lòng dũng cảm. Nếu hoạt động ở lĩnh vực an ninh, quân đội họ sẽ mau chóng được đề bạt lên chức vụ cao.

Ngoài ra, người tuổi Dậu còn có thể lực tốt, sức khỏe dẻo dai, ưa thích các hoạt động thể thao, nếu trở thành vận động viên cũng rất phù hợp với họ.

Khả năng thuyết phục tốt,  tài tạo lập quan hệ, người cầm tinh con gà hoàn toàn có thể đảm đương công việc ngoại giao. Đó là lĩnh vực mà họ nên thử sức mình nếu muốn trở nên nổi tiếng và có cơ hội làm giàu.

Người tuổi Dậu còn rất khéo tay, tỷ mỷ, cẩn thận và cần mẫn, đặc biệt là nữ giới. Do vậy, họ cũng nên tìm đến những công việc như liên quan đến hóa trang, may mặc hay lĩnh vực giải trí.

(Theo 12 con giáp về sự nghiệp cuộc đời)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Nghề nghiệp phù hợp với người tuổi Dậu

Tướng người có tài –

Theo nhân tướng học, những đặc điểm sau đây là biểu hiện của những người có tài. 1. Người có mũi to và thẳng Người có mũi to và thẳng, hơn nữa chóp mũi lại tròn đầy, hai bên gò má cũng đầy đặn, đó là những người vô cùng sung sức hết lòng vì sự nghiệp
Tướng người có tài –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tướng người có tài –

Số chứng minh thư hé lộ bí mật gì về vận thế cuộc đời

Số chứng minh thư tưởng chừng là một dãy số ngẫu nhiên, không có sự sắp xếp nào nhưng kỳ thực lại ẩn chứa rất nhiều bí mật về vận mệnh, cuộc đời con người.
Số chứng minh thư hé lộ bí mật gì về vận thế cuộc đời

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Số chứng minh thư tưởng chừng là một dãy số ngẫu nhiên, không có sự sắp xếp nào nhưng kì thực lại ẩn chứa rất nhiều bí mật về vận mệnh con người. Bạn đã biết số chứng minh thư của mình có thể tiết lộ những điều gì chưa?   Số chứng minh thư nhân dân tưởng chừng chỉ là dãy số ngẫu nhiên mà mỗi chúng ta có được, nhưng kì thực mỗi chuyện xảy đến với chúng ta đều là do nhân duyên sắp đặt. Theo phong thủy, số chứng minh thư có thể tiết lộ vận thế cuộc đời của mỗi người.
 
Số chứng minh thư nhân dân là giấy tờ tùy thân của mỗi công dân, là thông tin quan trọng về cá nhân. Chỉ từ dãy số đơn giản này, người ta có thể tra ra rất nhiều thông tin cụ thể về một người, ví dụ như nơi sinh, ngày sinh, hộ khẩu thường trú hay quê quán…
 
Vậy qua dãy số phong thủy này, chúng ta có thể nhìn thấy vận thế cát hung của mỗi người được không? Trong số chứng minh thư nhân dân ẩn giấu rất nhiều bí mật về vận mệnh mà không nhiều người biết được. Bằng cách lý giải khoa học, chúng ta có thể qua đó hiểu được tất cả những thông tin quan trọng về cuộc đời con người như tính cách, sự nghiệp, tài lộc… Hãy cùng Lịch ngày tốt khám phá nhé.


So chung minh thu he lo bi mat gi ve van the cuoc doi hinh anh
 
  Trước tiên, chúng ta sẽ tìm hiểu về cách tra bảng số chứng minh thư như sau. Ghi ra dãy số phong thủy đó, xem trong dãy số ấy không xuất hiện con số nào. Ví dụ, số chứng minh thư của bạn là 145064321, trong đó không xuất hiện 3 con số là 7, 8 và 9. Chỉ cần tra theo 3 con số này với lời luận giải tương ứng dưới đây là được.

Tất nhiên cuộc đời con người bị ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố. Với con số phong thủy của chứng minh thư nhân dân, bạn có thể tham khảo các luận điểm lý giải dưới đây và kết hợp tổng hòa giữa các nội dung để có được đáp án thích hợp nhất đối với mình.

So chung minh thu he lo bi mat gi ve van the cuoc doi hinh anh 2
 

Số chứng minh thư không có số 0
 

Tính cách
 

Người có dãy số chứng minh thư phong thủy không có số 0 trời sinh thông minh đĩnh ngộ, thiên tư lỗi lạc hơn người. Tính cách họ hoạt bát, vui vẻ, sống lạc quan yêu đời. Người này tâm địa thiện lương, ngay thẳng chính trực, hay giúp đỡ mọi người. Họ hiếm khi suy tính thiệt hơn mà hành động theo trái tim mách bảo, dù phải hy sinh lợi ích của bản thân mình cũng chẳng nề hà.

Hiểu ý nghĩa con số trong phong thủy sẽ mang lại tài lộc vô biên, bạn đã biết chưa?
 

Vận thế cuộc đời
 

Người này có số vinh hoa phú quý. Thời trẻ, vốn thông minh lại ham học hỏi nên học hành đỗ đạt khá cao, cuộc đời bằng phẳng, không phải nghĩ suy quá nhiều. Sự nghiệp được gây dựng từ những ngày đầu trai trẻ cũng có những thành công nhất định, tới tuổi trung niên thì mọi chuyện càng thuận buồm xuôi gió, sự nghiệp ngày càng phát triển đi lên.
 
Người sở hữu số chứng minh thư nhân dân không có số 0 có hậu vận cực kì tốt đẹp. Dù là tài lộc hay sự nghiệp đều vô cùng rực rỡ, công danh tài lộc đủ đầy. Về già có thể hưởng cuộc sống an nhàn, phú quý.


So chung minh thu he lo bi mat gi ve van the cuoc doi hinh anh 2
 

Số chứng minh thư không có số 1
 

Tính cách
 

Người sở hữu dãy số phong thủy thiếu số 1 tính cách trung hậu, thật thà, là người có trách nhiệm, sống nghiêm túc, không xa hoa phù phiếm cũng chẳng màng danh lợi cao xa. Dù là nam hay nữ thì người này đều khá phóng khoáng, rộng rãi.
 
Ẩn sâu trong bạn là tâm hồn nghĩa hiệp, thích giúp đỡ mọi người, cũng rất thích đi khắp mọi miền trên thế giới. Đi tới đâu, bạn cũng dễ dàng trở thành trung tâm của đám đông. Mọi người yêu quý vì tính cách hào sảng, thân thiện của bạn, không vì khác biệt giàu nghèo hay giai cấp mà chia rõ ranh giới. 
 

Vận thế cuộc đời
 

Tiền vận, cuộc đời bạn không phải trải qua nhiều sóng gió, con đường học hành hay phát triển sự nghiệp đều khá bằng phẳng, tuy không có bước tiến gì đáng kể nhưng cũng không gặp vận hạn gì.
 
Trung vận, bạn bắt đầu an nhàn, thu nhập tăng đều, mọi sự trôi chảy. Tới hậu vận, vận thế của bạn càng tốt hơn, cũng có đủ sức để che chở và hỗ trợ cho con cháu. Đây là người có số hạnh phúc, giàu sang.
 
Nam giới có số nhờ vợ, người vợ này khá tháo vát, sắc sảo trong làm ăn buôn bán, cũng có tài sản không nhỏ. Tuy nhiên, không vì nắm tài chính trong tay mà người vợ lên mặt sai bảo chồng, hai vợ chồng luôn yêu thương, chăm sóc lẫn nhau. Cuộc sống yên ấm, đủ đầy, không có nhiều điều phải lo nghĩ.


So chung minh thu he lo bi mat gi ve van the cuoc doi hinh anh 2
 

 

Số chứng minh thư không có số 2
 

Tính cách

 

Người mà số chứng minh thư nhân dân không xuất hiện con số 2 trời định đường hôn nhân gặp nhiều trắc trở. Nếu kết hôn sớm, đa phần đều chịu cảnh bất hạnh. Kết hôn muộn hơn có thể có được cuộc sống hôn nhân hạnh phúc và bền vững lâu dài.
 

Vận thế cuộc đời
 

Tiền vận, sức khỏe người này thời thơ ấu không được tốt, hay ốm đau bệnh tật. Tới thời trai trẻ, vận thế cũng khá kém, tình cảm gia đình lạnh nhạt, phải tự dựa vào sức mình để gây dựng sự nghiệp, chịu nhiều khổ đau vất vả.
 
Trung vận, vận thế dần tốt lên, sự nghiệp và tài lộc có những biến chuyển rõ rệt, không còn phải long đong lận đận như trước nữa. Trong thời gian này, nên ăn chắc mặc bền, nỗ lực bằng chính sức mình chứ đừng mơ tưởng những thứ cao xa. Nên cẩn trọng trong đầu tư, buôn bán, đừng ham cái lợi trước mắt mà bị kẻ xấu lừa gạt.
 
Hậu vận, cuộc sống êm ả, bình yên, vật chất đủ đầy, tinh thần thỏa mãn. Có thể nói, người này có mệnh số khá tốt.

Có thể bạn chưa biết: 9 phát ngôn của bậc thầy phong thủy làm lay động lòng người.


So chung minh thu he lo bi mat gi ve van the cuoc doi hinh anh 2
 

Số chứng minh thư không có số 3
 

Tính cách
 

Dãy số phong thủy thiếu số 3 chứng tỏ đây là người có tính cách linh hoạt, thậm chí có phần giảo hoạt. Tuy nhiên, trong cuộc sống hàng ngày, họ lại rất đơn giản và dễ thỏa mãn, cũng rất chăm chỉ cần cù, luôn nỗ lực không ngừng trong công việc. 
 
Tuy thu nhập khá cao nhưng việc cần phải chi tiêu ngoài dự kiến cũng rất nhiều. Nếu không có kế hoạch tài chính rõ ràng thì khó lòng tích tài tụ lộc.
 

Vận thế cuộc đời
 

Tiền vận, người này thời niên thiếu phải trải qua nhiều sóng gió. Tâm tính cũng vì thế mà bất định, dễ thay đổi. Họ hiếm khi sống được ở nơi nào đó trong thời gian dài mà thường xuyên phải thay đổi chỗ ở. Chuyện học hành đèn sách hay gây dựng sự nghiệp đều gặp phải trắc trở, khó lòng tiến tới thành công.
 
Trung vận, vận thế bắt đầu xoay chuyển, có thêm nhiều tín hiệu đáng mừng. Nếu phát triển sự nghiệp xa quê hương thì khả năng thành công sẽ lớn, còn định cư ở nước ngoài thì tỉ lệ thành công lại càng cao. Nỗ lực, kiên trì theo đuổi mục tiêu thì chắc chắn sẽ giành được những thành quả đáng mong đợi.
 
Hậu vận, người này sẽ thoải mái an hưởng tuổi già, cuộc sống ổn định, không còn phải lo ăn lo mặc. Về vận số, đây là người có số hưởng về hậu vận.


So chung minh thu he lo bi mat gi ve van the cuoc doi hinh anh 2
 

Số chứng minh thư không có số 4
 

Tính cách
 

Tính cách người sở hữu số chứng minh thư không có số 4 khá hiền hòa, nhân hậu. Trái tim lương thiện và sự dịu dàng giúp họ dễ dàng lấy được lòng người. Người này cũng rất khéo léo trong việc đối nhân xử thế, thường xuyên giúp đỡ người già, vui vầy cùng con trẻ, rất được mọi người xung quanh quý mến.
 

Vận thế cuộc đời
 

Tiền vận, người này không may vận thế khá kém, dù là học hành hay công việc cũng đều phải cố gắng hơn người thì mới có được kết quả tốt đẹp.
 
Trung vận,  mọi chuyện dần trở nên suôn sẻ. Nhờ tính cách trung hậu, đối đãi chân thành với mọi người nên rất được lòng cấp trên và người già cả, cũng nhờ đó mà được nâng đỡ rất nhiều trong công việc.
 
Hậu vận, vận thế ngày càng lên cao, sự nghiệp phát triển ổn định, thu nhập dồi dào. Đây là người có mệnh số công thành danh toại.

Đọc thêm Áp dụng phong thủy để công việc lên như diều gặp gió nha bạn.


So chung minh thu he lo bi mat gi ve van the cuoc doi hinh anh 2
 

Số chứng minh thư không có số 5
 

Tính cách
 

Dãy số chứng minh thư phong thủy khuyết thiếu con số 5 thể hiện đây là người thật thà, nghiêm túc, kiên trì hơn người, sự nghiệp cũng có nhiều thành công. Ngoài ra, người sở hữu số chứng minh thư nhân dân này dù là nam hay nữ cũng là mẫu người rất coi trọng gia đình.
 
Tuy nhiên, người này bản tính hiếu kì, hay lo chuyện bao đồng. Nếu tốt đẹp thì được tiếng tốt mà nếu làm chuyện xấu đi thì rất dễ bị chê trách mãi về sau. 
 
Nam giới đường hôn nhân cực kì thuận lợi. Sau khi kết hôn, người này sẽ được vợ đứng sau hậu thuẫn, giúp đỡ rất nhiều trong việc gây dựng sự nghiệp.
 

Vận thế cuộc đời
 

Tiền vận, do tính cách không được bình ổn nên trong các mối quan hệ xã giao thường xử sự chưa được tốt. Sự nghiệp cũng chưa có thành tựu gì đáng kể.
 
Trung vận, cuộc sống dần ổn định hơn, chỉ cần tiếp tục cố gắng nỗ lực phát huy năng lực bản thân thì phần lớn đều sẽ gặt hái được thành công.
 
Hậu vận cực kì tốt đẹp, cả công danh và sự nghiệp đều hiển hách. Đây là người có số vượng phát, cát lành.


So chung minh thu he lo bi mat gi ve van the cuoc doi hinh anh 2
 

Số chứng minh thư không có số 6
 

Tính cách
 

Người có số chứng minh thư không xuất hiện con số 6 tính cách hòa nhã thân thiện, hay giúp đỡ mọi người, cũng may mắn được nhiều người yêu thương và giúp đỡ. Họ là người tài năng, cũng rất nghiêm túc mỗi khi theo đuổi mục tiêu. Thái độ kiên trì, vững lòng trước mọi sóng gió giúp họ vượt mọi khó khăn và đạt đến mục tiêu đã định.
 
Những điều doanh nhân cần biết về phong thủy có lẽ sẽ giúp được bạn rất nhiều trong sự nghiệp đó.
 

Vận thế cuộc đời
 

Đây là người trời sinh vinh hoa phú quý, số mệnh tốt đẹp vô cùng. Người này cũng rất giỏi làm giàu, càng biết tích trữ tiền của, đầu tư sinh lời. Cuộc sống hôn nhân hạnh phúc, hai vợ chồng đồng tâm hiệp lực gây dựng cuộc sống giàu sang.


So chung minh thu he lo bi mat gi ve van the cuoc doi hinh anh 2
 

Số chứng minh thư không có số 7
 

Tính cách
 

Dãy số chứng minh thư nhân dân không có số 7 dự báo về con người tính cách hay thay đổi, nóng vội bốc đồng, cuộc đời cũng trải qua nhiều thăng trầm biến động.
 

Vận thế cuộc đời
 

Tiền vận, tính cách xốc nổi, không được trầm ổn nên hành sự cũng thiếu hài hòa. Thường xuyên thay đổi nơi ở, dễ kích động và tranh đoạt với người. Vận thế giai đoạn này không mấy tốt đẹp.
 
Trung vận, cuộc đời dần khởi sắc. Nếu chuyên tâm làm việc, phát triển tài nghệ, trau dồi bản thân thì sẽ có thể phát triển sự nghiệp rực rỡ. Hậu vận, người này đã gây dựng được cuộc sống ổn định, tiền tài không thiếu, công danh có thừa. Đây là người có phúc, sống thọ, an nhàn lúc tuổi già.


So chung minh thu he lo bi mat gi ve van the cuoc doi hinh anh 2
 

Số chứng minh thư không có số 8
 

Tính cách
 

Tính cách của người này khá hoạt bát, lanh lẹ, thông minh học một biết mười. Trong chuyện đối nhân xử thế, họ biết nhìn trước trông sau, đối đãi chân thành với mọi người, không bao giờ có suy nghĩ dối lừa người khác.
 

Vận thế cuộc đời
 

Tiền vận gặp nhiều trắc trở, phải chịu nhiều vất vả mới có được thành công.
 
Trung vận dường như mọi chuyện vẫn không mấy tốt đẹp, cần phải nỗ lực nhiều hơn nữa, linh hoạt nắm bắt thời cơ thì mới có cơ hội chuyển mình, phát tài phát lộc.
 
Hậu vận gặp phải biến cố bất ngờ, rơi vào cảnh khốn cùng. Tuy nhiên, nếu kiên trì vượt qua thì sẽ có nhiều điều tốt đẹp đón chờ, sự nghiệp phát triển vô cùng, tiền tài cũng dần trở lại. Họ được nhiều người kính trọng, là tấm gương mẫu mực của việc vượt khó vươn lên.

Mời bạn đọc thêm: Ý nghĩa những con số trong phong thủy.


So chung minh thu he lo bi mat gi ve van the cuoc doi hinh anh 2
 

Số chứng minh thư không có số 9
 

Tính cách
 

Số chứng minh thư phong thủy không có sự xuất hiện của con số 9 thể hiện đây là người sống tích cực, lạc quan. Tinh thần sôi nổi, nhiệt tình của họ thắp lửa cho mọi người, truyền cảm hứng cho những người xung quanh. 
 
Bản thân họ không bao giờ sợ khó khăn, họ coi đó là thử thách cuộc đời dành cho mình và vui vẻ, dũng cảm đối mặt với khó khăn, là con người có nghị lực kiên cường.
 
Bất kể nam hay nữ đều có số tài lộc vượng phát, tuy nhiên do cá tính mạnh, cái tôi lớn nên họ khá thích các hoạt động mạo hiểm và ưa tham gia đầu tư sinh lời.
 

Vận thế cuộc đời
 

Tiền vận, người này có cuộc sống khá êm đềm, chuyện học hành suôn sẻ, sự nghiệp cũng thuận buồm xuôi gió. Họ may mắn được nhiều quý nhân giúp đỡ nên công danh sự nghiệp đều phát triển thuận lợi. Nam giới đa phần đều có phúc lấy được vợ hiền, đảm đang chăm chồng chăm con, cũng là cánh tay đắc lực hỗ trợ chồng trong sự nghiệp. 
 
Trung vận, vận thế từ hưng chuyển bình, cuộc đời yên ả, mọi sự đều ổn định. Tuy nhiên vẫn nên chú ý nghiêm túc khi làm việc, tránh lơ là sơ sảy sẽ ảnh hưởng đến vận thế an nhàn của hậu vận.

Hy Vũ
 
*Bài viết chỉ mang tính tham khảo.   Cẩm nang chọn số điện thoại vượng vận cho 12 con giáp Con số 9 có thực sự mang lại nhiều may mắn? Ý nghĩa của các con số trong giấc mơ

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Số chứng minh thư hé lộ bí mật gì về vận thế cuộc đời
Click to listen highlighted text! Powered By DVMS co.,ltd