Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,...   Click to listen highlighted text! Chào mừng bạn đến với website Tử vi, tướng số, phong thủy, bói, quẻ,... Powered By DVMS co.,ltd
Kính mời quý khách like fanpage ủng hộ Vạn Sự !

Vạn Sự

Những câu nói hài hước nhất về bóng đá

Những câu nói hài hước nhất về bóng đá. Những phát biểu của các cầu thủ trước và sau trận đấu bóng đá vô tình trở thành những câu nói bất hủ trong bóng đá
Những câu nói hài hước nhất về bóng đá

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Những câu nói hài hước nhất về bóng đá. Những phát biểu của các cầu thủ trước và sau trận đấu bóng đá, những câu nói “bốc đồng” vô tình trở thành những câu nói bất hủ trong bóng đá những một số cũng trở thành những câu nói hài hước, ngốc nghếch nhất trong bóng đá. Đọc và cùng cảm nhận, cùng cười

Những câu nói hài hước nhất về bóng đá

Những câu nói hay của các HVL bóng đá

1. Bill Shankly
“Những ai quá khích thường sẵn sàng sống hay chết với bóng đá. Tôi không thích ý nghĩ đó. Bởi, tôi chắc chắn rằng nó còn quan trọng hơn thế.” Huyền thoại của CLB Liverpool phát biểu sau khi đưa The Reds đoạt chức vô địch FA Cup năm 1965. Liverpool vượt qua Leeds United với tỷ số 2-1 sau 120 phút quần thảo.

——–

2. Kevin Keegan
“Hãy đến vào bảo ông ta rằng, chúng tôi vẫn sẽ chiến đấu vì danh hiệu vô địch tới cùng. Và hãy nói với ông ta, một cách từ tốn, rằng chúng tôi sẽ “làm tình” với chiếc cúp vô địch một khi chúng tôi đánh bại họ.” King Kev dường như trở lên mất kiểm soát bởi trò khích tướng của HLV Ferguson trong cuộc đua tới chức vô địch Ngoại hạng Anh năm 1996. Khi ấy, Chích chòe đã hơn Quỷ đỏ những 12 điểm ở thời điểm tháng 1/1996, nhưng lại mất điểm ở các vòng cuối và để mất ngôi vị số 1.

——–

3. Brian Clough
“Tôi không dám khẳng định mình là HLV tài năng nhất, nhưng tôi chắc chắn rằng tôi là người đứng số 1 trong tốp 10 người giỏi nhất.” HLV huyền thoại người Anh khiêm tốn phát biểu. Ông mất năm 2004, sau khi đã trải qua quãng thời gian dẫn dắt Leeds Utd và đặc biệt là Nottingham Forest, giúp CLB này giành 2 chức vô địch châu Âu (1979 và 1980).

4. Jose Mourinho
“Tôi là Người đặc biệt.” HLV người Bồ Đào Nha đã gây ấn tượng mạnh với báo chí nước Anh ngay ở câu nói đầu tiên trong ngày ra mắt CLB Chelsea.
“Tôi là người đặc biệt”

5. John Lambie
“Hãy nói rằng cậu ta là Pele và mang cậu ta về CLB.” HLV của CLB vô danh Partick Thistle của Scotland đã nói như vậy khi tiền đạo Colin McGlashan bị chấn động sau một vụ tai nạn và không biết mình là ai.

6. Graham Taylor
Khi được các phóng viên hỏi về phong độ “tuyệt vời” của hàng thủ, trong trận đấu mà ĐT Anh chỉ để lọt lưới 1 bàn thuộc khuôn khổ vòng loại World Cup 1994, HLV Taylor nói: “Chính xác! Các cầu thủ hãy luôn làm như thế.” Tuy nhiên, ông lại quên rằng Tam Sư năm ấy thậm chí còn không lọt qua vòng loại.

7. Alex Ferguson
“Trong suốt mùa giải, tôi cảm thấy ngay sau mông mình là tiếng kêu chin chít của lũ chuột tham lam.” Sir Alex ám chỉ màn rượt đuổi ở mùa giải 2002/03, khi MU vô địch với 5 điểm nhiều hơn Arsenal.
HLV Wenger và Ferguson cũng có những phát biểu đặc sắc

8. Graham Taylor
“Làm ơn, hãy đến và nói với ông bạn của ngài rằng, nhờ ông ấy mà tôi sắp bị đuổi việc. Tôi cảm ơn, thật đấy!” HLV Taylor nói với một trọng tài biên khi ĐT Anh đứng trước nguy cơ bị loại khỏi vòng loại World Cup 94.

9. Arsene Wenger
“Tôi không nhìn thấy gì cả. Tôi thề đấy!” Giáo sư người Pháp cố tình làm ngơ trước những hành đồng trái luật trên sân cỏ của các học trò.

10. Ian Holloway
“Lúc này, tôi như điên dại vì mọi thứ đã vượt khỏi tầm kiểm soát. Và nếu có sa vào một nơi gồm toàn những bộ ngực phụ nữ tròn trịa, tôi cũng chỉ mút ngón tay cái của mình mà thôi”, cựu HLV Queen Park Rangers cho hay trong buổi họp báo sau một trận thua ở FA Cup.
Sơn Huy

Những câu nói hay nhất trong bóng đá

1.“Tôi sẽ không gặp phiền phức nào nếu chúng tôi thua tất cả các trận đấu, miễn sao chúng tôi vô địch giải đấu này” – Mark Viduka.

2.“Chúng tôi thua vì chúng tôi đã không thắng” – Ronaldo.

3. “Bạn đã tin tưởng rằng mình sẽ chiến thắng. Và tôi cũng tin rằng đội mình sẽ chiến thắng đến tận khi tiếng còi kết thúc trận đấu vang lên và chúng tôi đã… thua” – Peter Shilton.

4. Maradona vừa trả lời câu hỏi của phóng viên:ai là số một thế giới giữa Maradona và pele.Maradona trả lời: mẹ cửa tôi nói rằng tôi là số một,còn mẹ của pele nói rằng ông ấy là số một”

5.J.Mourinho:
Nếu như quyết định mua A.Robben là của Ranieri thì tôi phải nói lời cảm ơn ông ấy, còn nếu là ý kiến của Kenyon hay Abramovic thì tôi nghĩ họ có thể tự làm HLV được.

6.Trần Duy Long:
Vì không hợp khẩu vị nên chúng tôi phải mang theo Mỳ ăn liền (sang Tajikistan, Turkmenistan), để ăn thêm. Vì thế nên các cầu thủ không đủ sức khoẻ để đá. Chúng tôi sẽ lùi 1 buớc để tiến 2 bước! (nói sau trận thua Tajikistan 0-4)

7. P. Anderson:
—phóng viên(hỏi khi anh chuyển từ B. Munich sang Barca): anh có cảm thấy một sức ép nào khi đeo số áo của J. Guardiola (4) để lại không?
—-Anderson: Xin lỗi, ở Munich tôi mặc áo số 6 của F. Beckenbauer!!!

8. I. Semark(2001/2002)
Mùa bóng tới nếu giữ được phong độ cao và không bị chấn thương thì nhất định tôi sẽ thành công

9. De Rossi:
Ở Roma có những kẻ luôn luôn kêu gào đòi được ra sân, nhưng khi ra sân thì không thèm chạy. Lại có những người nghĩ rằng chỉ cần mình có mặt trên sân và hôn lên chiếc áo đấu là đủ!!

10. BLV Long Vũ:
—Vừa rồi là một cú sút cực kì nguy hiểm nhưng không khó cho thủ môn!!

11. Tom Cruise:
–Đội của cậu mặc áo màu trắng hay màu tím?!!!

12. Không thể tin được có cha nào chua ngoa như thế này:

‘Bà tôi cũng có thể chơi cho đội tuyển Mỹ’

Đó là nguyên văn lời phát biểu của HLV đội tuyển Mexico, La Volpe, sau khi ông và các học trò bị chủ nhà Mỹ đánh bại trong trận đấu có tính quyết định ở vòng loại khu vực CONCACAF

13. Tôi chả sợ thằng nào cả, trừ bà vợ Amelia của tôi…- Mourinho

14.Lê Bửu khi nhận chức tổng cục trưởng Tổng cục TDTT VN năm 1987:

“Ngày nào còn ông Lê Thế Thọ là bóng đá VN còn không phát triển được”!

15. Edson Silva Dido:
“Mục tiêu của tôi là HCV. Người ta chỉ nhớ đến bạn khi bạn đoạt huy chương vàng chứ không ai nghĩ đến bạn khi bạn đoạt huy chương bạc cả”
// Thế mà người ta vẫn nhớ đến ông này vì thành tích nói giỏi hơn làm

16. Mourinho:
-“Chúa trời cũng chỉ nổi tiếng đến như …. tôi là cùng”

17. Cái thằng gì tóc vàng của MU ngày xưa và Villa ngày nay í, tự nhiên quên mất
Nói chuyện với Giggs:
-Cậu đá hay thế sao chẳng bao giờ đc gọi vào ĐT Anh thế?
-Tớ là người xứ Wales mà (cười ngạc nhiên)
-Thế nó ở đâu í nhỉ, cái Sứ Wales ấy????

18.Câu hỏi: “Liệu có công bằng không khi người ta nói rằng anh là một cầu thủ chơi rất thiếu ổn định?”. Trả lời: “Ồ, tôi có thể chơi được ở tuyến giữa, bên cánh phải và đôi lúc là bên cánh trái” – David Beckham.

19. “Đức là một đối thủ cực kỳ khó đại bại… họ có tới 11 cầu thủ quốc tế trong đội hình” – Steve Lomas.

20 “Tôi có thói quen là luôn luôn đi giày chân phải trước, sau đó mới đi tất chân phải” – Barry Venison.

21.“Người Brazil thì ở Nam Mỹ còn người Ukraina có lẽ sẽ là người châu Âu” – Phil Neville.

22.“Tôi đã rất ngạc nhiên, nhưng tôi luôn luôn nói rằng chẳng gì có thể làm tôi ngạc nhiên trong bóng đá cả” – Les Ferdinand.

23. “Tôi muốn chơi bóng cho một CLB bóng đá Italia, giống như Barcelona chẳng hạn”(???) – Mark Draper.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những câu nói hài hước nhất về bóng đá

Tìm hiểu vấn đề đa thê qua Tử vi

Tục ngữ có câu “Ớt nào mà ớt chẳng cay” để nói lên bản tính ghen tuông cố hữu của giới phụ nữ có chồng. Thậm chí khoa Tử Vi cũng được các bà chiếu cố tận tình để tìm hiểu tâm hồn thầm kín của chồng

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tục ngữ có câu “Ớt nào mà ớt chẳng cay” để nói lên bản tính ghen tuông cố hữu của giới phụ nữ có chồng. và khổ một nỗi là các đấng lang quân đều có tâm hồn lả lướt, không nhiều thì ít, cứ luôn đề cao “trai anh hùng năm thê bảy thiếp, gái chính chuyên chỉ có 1 chồng” để tự bào chữa, khiến cho các bà vợ lúc nào cũng nghi ngờ và theo dõi chồng. Thậm chí khoa Tử Vi cũng được các bà chiếu cố tận tình để tìm hiểu tâm hồn thầm kín của chồng.

Vì vậy tôi xin dành trọn bài hôm nay để bàn về “đa thê” thực sự ngõ hầu giúp được phần nào các bà biết Tử Vi đang thắc mắc về người bạn đời của mình. Nhưng tôi cũng xin nói trước với quý bà là đừng quá câu nệ tử vi (do bất cứ ai giải đoán) để đến nỗi “chén đĩa bay” 1 cách oan uổng thì lại còn tệ hại hơn, vì những điều giải đoán tử vi không bao giờ có thể hoàn toàn chính xác, nhất là khi người sử dụng không biết nắm vững.

1. Môi trường Tử vi thuận lợi cho đa thê

Tôi buộc lòng phải nêu ra một cách tương đối như vậy vì e rằng các bà áp dụng quá máy móc, đâm ra tai hại, nghĩa là tôi chỉ muốn nói rằng, nếu đàn ông nằm trong một trường hợp nào đó dưới đây có thể vướng vào vòng đa thê chứ không phải chắc chắn, vì có nhiều yếu tố linh động gia giảm mức ứng nghiệm đi. Tôi xin lỗi quý bạn vì sự dè dặt của tôi vì vấn đề này rất phức tạp và dễ gây hậu quả không hay.

Thông thường chúng ta có thói quen để ý đến các sao Đào, hồng, tả Hữu, Riêu, Mộc, Cái chiếu Thê Thiếp hoặc nô bộc hay Mệnh Thân hầu tìm hiểu về khía cạnh đa thê. Nếu chỉ có thế thực quá dễ dàng, đơn giản, chẳng cần phải nhờ đến thầy Tử Vi, vẫn biết rằng khi cung Thê có Đào hồng. Tả Hữu cũng hay ứng nghiệm như vậy, nhưng nhiều trường hợp không có các sao đó mà người chồng vẫn cứ đa thê thì làm sao ta hiểu được. Vì vậy ta cần phải phân biệt môi trường tạm gọi là “lộ” và “ẩn”.

a. Môi trường lộ

Xét về môi trường này tương đối dễ dàng, miễn là quý bạn thận trọng kết hợp một số cung và sao liên hệ là có thể thấy kết luận khá rõ rệt, vì đã gọi là “lộ” nghĩa là không có ý nghĩa ngược lại hoặc khác đi.

- Ví dụ : Một ông chồng Mệnh có Riêu, Mộc; cung Thê có Đồng âm, Trường Sinh, Đế Vượng; cung Nô có Tả Hữu, Đào hồng, Mộ; cung Di có Hoa Cái; cung Tài có Song Lộc thì hơi khó tránh được vấn đề đa thê. Tại sao vậy? Vì khi Mệnh có Riêu, mộc là tâm hồn ưa nhục dục; Cung Thê có những sao liệt kê trên là chủ về vợ mềm yếu, không áp đảo được chồng, nhất là sao Thiên Đồng thường chủ về canh cải, có nghĩa là vợ đổi mới hoài; Cung nô có đủ bộ sao chủ về ăn chơi, trụy lạc và được nhiều con gái thương yêu, phù hợp với Hoa Cái cư Thiên Di là ra ngoài được long nhiều người, bất luận nam nữ, già trẻ; trong khi đó, cung Tài song Lộc lại càng them phương tiện thu hút phái nữ cũng như bao bọc cho họ vì tiền bạc quá sung túc, thừa thãi…tức là quá đủ cho môi trường đa thê.

Trường hợp ông chồng Mệnh có Khôi Việt hội Đào hoa; cung Nô có Hồng Loan, Riêu hỉ; cung Quan có Tả Hữu; cung Thê có Cô Quả, Không Kiếp cũng chẳng kém gì trường hợp trên vì khi Mệnh có Khôi Việt hội Đào hoa thường chủ về hào hoa phong nhã, ưa bao dung phụ nữ, bất kể người đó là con gái hay đã có chồng. Cung Nô có hồng, Riêu, hỉ, chủ về phụ nữ dưới quyền hoặc trong giới giao du thiếu đứng đắn và ưa sắc dục, làm gì họ không mê dáng đẹp kiêu hung của Khôi Việt Đào. Trong khi đó, cung Quan lại có Tả Hữu là cách sốt sắng giúp đỡ mọi người, dễ đắc nhân tâm nên càng them sức hấp dẫn. Còn cung Thê thì dễ làm cho chồng xa lánh vì có Cô Quả Không Kiếp. Như thế tưởng cũng đã quá đủ yếu tố thuận lợi cho con người đa thê.

Vì mục “lộ” này khá dễ dàng nên tôi chỉ cần nêu ra hai ví dụ và chắc quý bạn có thể suy luận ra các trường hợp khác. Nghĩa là cứ thấy các cung và sao liên hệ hoàn toàn bổ túc cho nhau chứ không tương phản hoặc trái ngược nhau là dễ kết luận dứt khoát.

b. Môi trường ẩn

Khía cạnh này có thể nói là rất khó tìm ra vì cần xét cả yếu tố tâm lý. Nếu quý bạn chỉ xem phớt qua thì thế nào cũng lầm. Tôi cũng đã có lần chỉ muốn vứt bỏ Tử Vi vì không sao tìm hiểu được khía cạnh đa thê “ẩn”. Nay tôi xin nêu ra những ví dụ để quý bạn hiểu rõ, chứ không thể nào đưa ra một phương thức tổng quát để giải đoán vì khía cạnh này rất uyển chuyển

Tôi có được coi lá số 1 ông chồng Mệnh rất đứng đắn, vắng bóng hẳn các sao Đào, Riêu, mộc, Cái, Tham Lang; cung Thê cũng chứng tỏ là cô vợ đoan trang, nết hạnh, hiền thục và còn xinh đẹp nữa (vì có Long Phượng, Khoa, Quan, Phúc, Tứ Đức…); rồi cung Quan và Tài cho thấy đương số có chức phận và tiền bạc; duy chỉ còn cung Nô là có Tả Hữu, hóa Quyền, Xương Khúc, Thai Tọa, Khôi Việt – nghĩa là chưa có đủ yếu tố để đoán là đương số đa thê. Nhưng trên thực tế, đương số lại có ba vợ mới khổ chứ. Chính vì trường hợp này mà tôi nản chí nghiên cứu Tử vi. Nhưng cũng chính nhờ trường hợp này mà tôi đã tiếp tục hăng say, miệt mài với lý số khi đã được một cao thủ Tử Vi chỉ dẫn cách đây nhiều năm.

Thực thế, lá số trên không phải là sai trật, chỉ vì tôi đã bỏ qua một cung rất quan trọng, đó là cung Tử tức. Cung này có Đẩu Quân, Cô Quả, Kình Đà cho thấy là đương số rất hiếm con. Do đó, tuy là con người đứng đắn và biết yêu thương vợ đoan trang, nhưng đương số vì quá ham muốn có con, bất luận trai gái nên đã đành phải lấy thêm người con gái khác sau khi được sự thỏa thuận thực tình của người vợ. Tuy nhiên, khổ một nỗi là với bà thứ hai cũng chả có đứa con nào nên đương số lại kết hôn không chính thức với một bà thứ ba, và bà này sinh được một đứa con gái. Từ đó đương số sống với cả ba bà một cách thuận thảo…

Nếu suy nghĩ kỹ và lý luận, các bạn thấy rằng nhờ cung Thê thuần hậu, biết điều nên đương số mới tiện lấy vợ bé, và nhất là cung Nô quá tốt nên mới đem lại nguồn vui cho đương số, vì hóa Quyền trong trường hợp này không còn có nghĩa là vợ bé áp đảo, bắt nạt vợ cả mà thực ra chỉ chủ về uy tín (vì đã sinh được người con), huống chi lại có Khôi, Việt, Thai, Tọa, Xương Khúc chủ về người có tư cách, thông minh thì làm gì không biết cách làm vừa long vợ cả. Nói tóm lại, đầu dây mối nhợ là do cung Tử hiếm, rồi mới nhờ đến cung nô, nhưng cũng phải xét đến cung Tài và Quan, chứng tỏ là đương số phải đủy cả quyền quý nên mới nghĩ nhiều đến con cái nối dõi, và mới đủ khả năng bao bọc nhiều vợ, chứ nghèo nàn làm sao thực hiện được ý muốn của mình

Một trường hợp khác về đa thê rất lờ mờ mà tôi đã được coi cũng bắt nguồn từ cung Tử tức, nhưng lại không phải là hiếm con mà trái lại rất nhiều (chắc bây giờ phải có tới trên 10 người con) vì có Tả Hữu hội Trường Sinh, Đế Vượng (nguyên Tả Hữu cũng chủ về nhiều con, đó là cách “trập trập ưu trung tư” theo câu phú). Nếu không nhờ có sao Phục binh hội Đào hoa, Tướng Quân và Thai thì có lẽ không thể biết là đương số đa thê vì những sao trên thường chủ về có con riêng, con rơi, tức là khó có 1 vợ được, nhất là khi cung Thê không chứng tỏ là người vợ thường gần gũi chồng vì có Lộc Tồn hội Cô Quả, Đẩu Quân, khiến cho người chồng hướng về người khác.

Trong trường hợp này không cần phải có cung Nô có yếu tố phù hợp mạnh mẽ vì cung Tử lại đóng vai trò chính yếu. tuy nhiên, có 1 điểm khác với trường hợp trên là các người vợ nhỏ khó sống chung được với vợ cả vì dù sao cung Thê cũng có uy lực mạnh hơn và có óc cố chấp (cô Quả) khiến cho khó dung hòa được với cung Nô. Hơn nữa, cung Tử tức cũng chỉ chứng tỏ có sự lén lút, vụng trộm nên mới có con riêng, con rơi…Vì vậy, bề ngoài ta rất khó nhận thấy đương số có nhiều vợ, nhất là khi Mệnh của đương số là những sao đứng đắn, tư cách. Sở dĩ đương số ham nhục dục nhiều là vì cung ách có Riêu, mộc, cái hội Tham Lang tức là sự ham muốn rất kín đáo, tiềm tang mà chỉ đương số mới nhận biết.

2. Môi trường trở ngại cho đa thê

a. Môi trường tuyệt đối

Trong phần này, tôi đề cập đến trường hợp rõ ràng không thể đa thê được, nghĩa là khi ta thấy cung Mệnh và Thân chỉ có những sao đứng đắn hoặc cô đơn, lạnh lùng; Cung Thê chứng tỏ vợ chồng thuận hòa, khắng khít; Cung Nô không thuận lợi cho việc giao du với phụ nữ hoặc ít ra không chứng tỏ họ lãng mạn,m đa tình hay trội hơn cung Thê, và sau hết (nếu có càng chắc), cung Tử Tức không có gì khả nghi về 2 dòng con hoặc quá hiếm hoi

Ví dụ : Nếu Mệnh có Lộc Tồn, Vũ khúc, Thân có Thiên Phủ hội Cô Quả chủ về đứng đắn, trung hậu, thích thanh tịnh; Cung Thê có Long Phương, Khoa, Thai Tọa, Quang Quý chủ về hạnh phúc lứa đôi bền vững, khắng khít; Cung Nô có Quan Phúc, bộ Tứ Đức…chứng tỏ phụ nữ giao thiệp với mình, nếu có đều biết luân thường đạo lý, đoan trang nết hạnh, không ưa chuyện cướp chồng người, thì làm sao ta dám nghĩ rằng đương số có vợ nọ, con kia. Nếu lại được them cung Tử hội các soa Khôi Việt, Khoa, Quyền, Sinh Vượng…chủ về con cái đầy đàn và thành đạt khiến cho gia đình them đầm ấm, lại còn chắc ăn hơn nữa

b. Môi trường tương đối

Nói đến tương đối có nghĩa là các cung và sao liên hệ vấn đề trở ngại không thuần nhất. Ví dụ được cung Mệnh đứng đắn cô đơn nhưng cung Nô lại quá lả lướt….hoặc được cung Thê chứng tỏ vợ chồng thương yêu nhau nhưng cung Mệnh lại biểu lộ sự đam mê nhục dục, ăn chơi trụy lạc…Gặp trường hợp như thế, ta cần xét kỹ càng tới những yếu tố chế hóa mà tôi xin trình bày qua những ví dụ sau :

-Tôi đề cập ngay tới yếu tố đa thê mạnh nhất là Đào hồng, tả Hữu chiếu Thê để quý bạn thấy, để chế hóa nó ta cần phải có những khía cạnh nào. Trong trường hợp này, chỉ cần phải có cung Mệnh và Thân hội nhiều sao cô đơn, đứng đắn, khắc kỷ như Vũ Khúc, Lộc Tồn, Cô Quả, Khoa, Khôi việt, Quan Phúc, Thai Tọa và cung Tử Tức không có gì khả nghi về khả năng có hai dòng con là đủ mức tin tưởng đương số không đa thê, dù cho cung Nô có những yếu tố chứng tỏ sự ăn chơi chăng nữa. Vì khi Mệnh và Thân là vai trò chủ chốt không có khuynh hướng 5 thê bảy thiếp thì các sao Đào hoa, Tả Hữu sẽ chuyển hướng hết. Lúc đó ta có thể ước đoán là đương số khó lây vợ, cứ mai mối hết đám này tới đám khác (Tả Hữu) và đám nào cũng xinh đẹp (Đào hồng), nhưng khi lấy được vợ rồi thì chính mình dễ bị cắm sừng vì Đào hồng lại ứng vào vợ bay bướm. Do đó, bà nào thấy chồng mình có trường hợp như trên, đừng bao giờ nghi ngờ chồng mà trái lại tự kiểm điểm tâm hồn mình xem có lệch lạc không.

- Ngoài thành kiến về Đào hồng, Tả Hữu chiếu Thê trên đây, đa số những người mới biết xem Tử vi cung4hay nghi ngờ những ông Mệnh có Đào hoa, Riêu, hỉ và cung Nô có Tham Lang, hồng Loan, Mộ hoặc ngược lại, cho rằng họ rất dễ đa thê. Thật ra trường hợp trên dễ bị vô hiệu hóa vì chỉ cần cung Thê có bản lĩnh chi phối được người chồng là đủ (ví dụ như có Hóa Quyền, Tướng Ấn, Khoa Lộc; Lộc Tồn hội Liêm Phủ…) Khi đó ông chồng chỉ dám vui chơi trong khoảnh khắc như đi phòng trà, khiêu vũ…chứ đâu có liều mạng ăn ở với phụ nữ khác trước người vợ quyền uy của mình. Và có khi ngay cả vấn đề vui chơi chồng cũng phải lén lút và giới hạn nữa. Trường hợp cung Thê không đủ áp đảo ông chồng thì cần phải có các sao thuần hậu như Quang Quý, Long Phương, Quan Phúc, Khôi việt …để thu hút người chồng. Ngoài ra cần phải có them những đại hạn liên hệ hỗ trợ mạnh mẽ, nghĩa là không có các sao tạo môi trường thuận lợi cho việc ăn chơi hoặc tình yêu nồng nàn (ví dụ như Cô Quả, Thái Tuế, Đẩu Quân, Tang Hổ, khốc Hư). Nếu chỉ có một đại hạn hỗ trợ thì chưa đủ vì có người luống tuổi rồi mới đèo bồng vợ nhỏ, nghĩa là cần có sự trở ngại cho giai đoạn từ 30-60….thì mới yên 1 bề vì í tai có vợ nhỏ trước 30 và sau 60, trừ một vài trường hợp cá biệt

Qua những điều trình bày trên đây, quý bạn hẳn thấy rằng quyết đoán một người đàn ông đa thê rất phức tạp, hấp tấp một chút là sai lạc dễ dàng và còn tai hại cho hạnh phúc vợ chồng. Về phần quý bà có gia đình cũng vậy, không nên lấy Tử Vi làm cứu cánh để nghi ngờ hoặc quá tin tưởng chồng mà đâm ra tự mình phá vỡ hạnh phúc gia đình 

trích ( KHHB )


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tìm hiểu vấn đề đa thê qua Tử vi

Lá số tử vi cao sang được sao Thái Dương chiếu mệnh

Thuộc tính ngũ hành của sao Thái Dương là dương Hỏa, chủ tinh, cát tinh chòm Trung Thiên Đẩu, chủ cung Quan Lộc. Sao Thái Sương chiếu mệnh là người có số quyền
Lá số tử vi cao sang được sao Thái Dương chiếu mệnh

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Thuộc tính ngũ hành của sao Thái Dương là dương Hỏa, chủ tinh, cát tinh chòm Trung Thiên Đẩu, chủ cung Quan Lộc. Xem lá số tử vi mà có sao Thái Dương thì là người có mệnh quyền quý, nổi bật hơn người.


La so tu vi cao sang duoc sao Thai Duong chieu menh hinh anh
 
Sao Thái Dương là dương Hỏa, là tinh hoa của Mặt Trời, là chuẩn mực của tạo hóa. Tại Số chủ về danh vọng, sau đó là giàu có, văn võ song toàn, ưa gặp Phụ Bật để được trợ giúp, gặp Lộc Tồn sẽ có tước lộc cao, gặp Thái Âm sẽ tương sinh. Gặp các cát tinh sẽ được may mắn cát tường, gặp sát tinh sẽ vất vả truân chuyên. Nếu đóng tại cung Mệnh/Thân lại miếu, vượng sẽ là sao tốt trong mệnh số, tốt nhất là ở cung Quan Lộc.
 
Vầng Thái Dương có lúc mọc lúc lặn nên trong lá số tử vi, sao Thái Dương cũng biến đổi theo từng cung. Tại cung Dần, Mão là Mặt Trời mới mọc; tại cung Thìn, Tỵ là thăng điện; tại cung Ngọ là Mặt Trời giữa trưa, chủ về đại phú quý; tại cung Mùi, Thân là xế bóng chủ về trước chuyên cần, sau trễ nải; tại cung Dậu là lặn về Tây, hữu danh vô thực, đẹp mã mà rỗng tuếch; tại cung Tuất, Hợi, Tý, Sửu là mất sáng, nếu gặp Cự Môn, Phá Quân chủ về một đời vất vả, bần hàn, tính cách khó gần, dễ gặp thị phi.
 
Sao Thái Dương chủ về đường chức tước nên tốt nhất khi đóng ở cung Quan Lộc, đặc biệt khi xuất hiện một mình tại cung Ngọ là thế “Nhật lệ trung niên”, chủ về sự nghiệp lẫy lừng có thể là bậc lãnh tụ phi phàm.
 
Sao Thái Dương ưa nằm cùng hoặc hội chiếu với 6 cát tinh, đặc biệt hợp với sao Tam Thai, Bát Tọa, có thể tăng cường vẻ sáng; cũng ưa nắm cùng với Ân Quang, Thiên Quý chủ về được nhận ân huệ đặc biệt, có vinh dự lớn. Nếu sao Thái Dương nằm cùng cung với Đế Tọa, Tả Phụ, Hữu Bật tuy hãm nhưng vẫn luận là quý, chỉ là có phần vất vả hơn.
 
Sao Thái Dương nếu miếu, vượng mà gặp sát tinh xâm phạm sẽ gây ảnh hưởng đến người thân là nam giới, còn về bản thân thì sẽ tăng thêm ít vất vả chứ không giảm tốt. Ánh sáng sao Thái Dương không bị Thiên La, Địa Võng khống chế. Sao Thái Dương tuy không sợ 6 sát tinh nhưng trường hợp nằm ở cung Mão thì sợ gặp Hóa Kỵ, đặc biệt nếu nằm ở vị trí hãm thì rất bất lợi cho mắt.
 
Sao Thái Dương không ngừng di chuyển, gặp Tả Hữu sẽ phò trợ cho quân chủ, gặp Lộc Tồn sẽ trợ phúc, gặp cát tinh nhập miếu sẽ cát; lạc hãm gặp hung tinh sẽ vất vả. Nếu đóng tại cung Mệnh, vận mệnh con người có tính tình trung hậu, rộng rãi, không chấp nhặt. Nếu miếu, vượng gặp Hóa Lộc, Hóa Quyền càng thêm hiển quý. Nếu được Tả, Hữu, Xương, Khúc, Khôi Việt tam hợp chiếu hai cung Tài, Quan thì chủ về phú quý tột đỉnh; nếu lại gặp tứ sát thì chủ về đủ ăn đủ mặc.
 
Sao Thái Dương có tính động nếu đóng tại Mệnh chủ về một đời không được nhàn nhã. Thái Dương chủ về sang chứ không giàu nên hiển quý, thanh cao, cho dù gặp Lộc Tồn cũng phải vất vả mới kiếm được tiền bạc.
 
Nếu Thái Dương, Thái Âm kèm hai bên Thiên Phủ hoặc Vũ Khúc, Tham Lang đóng tại cung Mệnh ở Sửu, Mùi là cách cục “Nhật Nguyệt giáp mệnh” chủ về giàu có (nếu kèm hai bên Vũ Khúc, Tham Lang sẽ phát tài muộn).
 
Sao Thái Dương đóng cung Mệnh tại Ngọ là cách “Kim xán quang huy” (hay còn gọi là “Nhật lệ trung Thiên”), chủ về tài hoa, có thành tựu cao. Nếu Thái Dương, Thiên Lương đóng tại Mão, tam hợp hội chiếu sao Thái Âm tại Hợi là cách “Nhật chiếu lôi môn” hay “Nhật xuất phù tang”, có tài lãnh đạo tốt.
 
Nếu cung Mệnh đóng tại Mùi, sao Thái Dương tại Mão, Thái Âm tại Hợi, Thiên Đồng và Cự Môn tại Sửu hội chiếu là cách “Minh Châu xuất hải”, vững bước đường mây. Nếu cung Mệnh đóng tại Sửu hoặc Mùi, Thái Dương và Thái Âm miếu, vượng tại cung tam hợp hội chiếu; hoặc Thái Dương tại Thìn, Tỵ, Thái Âm tại Tuất, Dậu là cách “Nhật Nguyệt tịnh minh” hay “Đan trì quế trì”, chủ về công danh sớm rộng mở. 
 
Nếu cung Mệnh đóng tại Sửu, Mùi lại gặp Thái Dương, Thái Âm hoặc nằm cung đối chiếu là cách “Nhật Nguyệt đồng lâm”, chủ về sẽ làm quan lớn. Nếu Thái Dương, Thái Âm đều nằm tại cung Điền Trạch hoặc tại cung tam hợp hội chiếu là cách “Nhật Nguyệt chiếu bích” sẽ sở hữu rất nhiều bất động sản. 
 
Nếu Thái Dương và Cự Môn đóng tại Dần, Thân là cách “Cự Nhật đồng cung”, chủ về trước khổ sau sướng. Nếu sao Thái Dương, Thiên Lương, Văn Xương, Lộc Tồn tụ tập tại các cung tam phương, tứ chính là cách “Dương Lương Xương Lộc”, chủ về có đầy đủ tước vị lẫn tiền tài.  Nếu sao Thái Âm tại Thìn, Mão, sao Thái Dương tại Tuất, Hợi lạc hãm trấn Mệnh là cách “Nhật Nguyệt phản bội”, số mệnh vất vả, lao nhọc, ít duyên với cha mẹ. Nếu sao Thái Dương, Thái Âm hãm đóng cung Tật Ách là cách “Nhật Nguyệt tật ách”, chủ về bị khuyết tật.

► Xem bói ngày tháng năm sinh để biết vận mệnh của bạn

ST

 
 
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Lá số tử vi cao sang được sao Thái Dương chiếu mệnh

Tiết khí với Tử Vi Đẩu Số

Một bài dịch khá hay của anh Quách Ngọc Bội. Mời mọi người cùng tham khảo.
Tiết khí với Tử Vi Đẩu Số

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Bài viết chép lại của anh Quách Ngọc Bội

Đẩu Số với Tiết Khí

Trong các thảo luận về mệnh lý tại các khu vực khác nhau, thỉnh thoảng lại có người nhắc đến vấn đề tương quan giữa Tử Vi Đẩu Số với Tiết Khí. Có thể thấy rằng, Tử Vi Đẩu Số dù muốn hay không muốn tham khảo đến vấn đề của Tiết Khí thì cho đến nay vẫn cứ đã và đang khiến nhiều học giả nghiên cứu tử vi cảm thấy có chút bối rối. Thành thực mà nói, cá nhân tôi (QNB chú: tác giả bài viết, Phan Văn Khâm, Đài Loan) cũng từng rất bối rối, có thời gian dài mà tôi thậm chí chả dám dùng Tử Vi Đẩu Số để mà toán mệnh cho người ta ấy chứ!

Suy cho cùng thì Tử Vi Đẩu Số ở trong lúc bài bố mệnh bàn (lá số) có cần hay không việc đối chiếu với Tiết Khí đây? Trước khi thảo luận nghiên cứu vấn đề này, chúng ta còn nhất thiết phải giải quyết một vấn đề tranh nghị nhiều năm từ xưa đến nay của môn Tử Vi Đẩu Số, đó chính là vấn đề của "tháng Nhuận". Bởi vì vấn đề "tháng Nhuận" và "Tiết Khí" có tồn tại mối quan hệ rất mật thiết.

Người từng học qua môn Tử Vi Đẩu Số đều biết rằng, trong việc an lá số mà đụng phải vấn đề đương số sinh vào tháng Nhuận là một vấn đề khá hóc búa (tối thiểu thì với người mới học là như vậy). Song, đối diện với thời đại trăm nhà đua tiếng về thuật số, riêng đối với phép bài bố tháng Nhuận của Tử Vi đẩu số đã có rất nhiều phương pháp khiến cho người ta phải suy nghĩ.

Có người nói, tháng Nhuận thì cứ lấy tháng sau đó mà toán; có người cho rằng lấy chính tháng đó mà toán; còn có người nói theo tháng sau đó mà khởi 2 cung Mệnh Thân nhưng mà các tinh diệu theo tháng thì vẫn lấy tháng trước đó để bài bố an định; lại thêm có người đem tháng trước đó với tháng Nhuận cộng lại khởi đến gần 60 ngày; v.v...

Các bố đó kiến giải nhiều cái cũng rối rắm khiến cho người ta bất giác hoa mày chóng mặt. Thế nhưng mà, trong đó có rất nhiều luận điệu kỳ kỳ quái quái, cứ như là chẳng ai sẵn lòng đem Tử Vi Đẩu Số để đối mặt với "Tiết Khí". Chỉ đơn giản là do một câu "Bất y Ngũ Tinh yếu quá Tiết" (chẳng giống như môn Ngũ Tinh chú trọng đến Tiết Khí) ở trong bài Tử Vi Đẩu Số Tổng Quyết.

[Xin chú ý! bài Tử Vi Đẩu Số Tổng Quyết nói trên trong hai bản cổ thư của môn Tử Vi Đẩu Số, thì chỉ có cuốn <<Thập Bát Phi Tinh sách thiên Tử Vi Đẩu Số toàn tập>> có ghi lại, còn trong một cuốn khác là <<Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư>> lại hoàn toàn chẳng thấy có ghi lại!]

(QNB chú: bản TVĐS Toàn Thư mà QNB dịch cũng không thấy ghi chép về bài quyết này, nhưng QNB có sưu tầm từ một số nguồn khác nhau và cũng đã có dịch bài Đẩu Số Tổng Quyết này đăng trên tuvilyso.org và chép lại trong quyển Tử Vi Ca Phú Tập Thành. Quý độc giả nêu chưa rõ bài này thì tham khảo thêm).

Không biết quý vị độc có từng hay không nảy ra ý nghĩ là, nhỡ may cái câu "Bất y Ngũ Tinh yếu quá Tiết" chính là "ngụy quyết" (câu quyết giả) hoặc là cả cái bài Tử Vi Đẩu Số Tổng Quyết ấy đều là "ngụy quyết" thì làm sao?

Mọi người chớ có vội cho rằng bút giả nói chuyện giật gân, từ rất lâu rồi cho tới nay trong giới Đẩu Số vẫn liên tục có tồn tại tranh luận <<Thập Bát Phi Tinh sách thiên Tử Vi Đẩu Số toàn tập>> và <<Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư>> thì quyển nào mới là "Thiên Thư" chính thống. Chỉ đơn giản là trong hai bản cổ thư đó có tồn tại rất nhiều sự khác biệt. Trong các sách của giới tiền bối mệnh lý trụ cột như Liễu Vô Cư Sĩ, Tuệ Canh, Nhật Nguyệt Đạo Nhân,... có thảo luận tỉ mỉ kỹ càng với các khảo chứng, cái gì thực cái gì hư, đọc giả có thể tự mình nhận xét đánh giá, bút giả khỏi cần phải nói rườm rà thêm!

Trở lại với nội dung chính của vấn đề, đầu tiên chúng ta nghiên cứu xem "tháng Nhuận" là cái gì?

Trước hết, chúng ta cần bắt đầu nghiên cứu một chút về "Lịch Pháp" của Trung Quốc. Ở đây chúng ta viện dẫn trong sách <<Lịch pháp tùng đàm>> (phiếm đàm về Lịch Pháp) của tiên sinh Trịnh Thiên Kiệt trước tác, do Đại Học Văn Hóa Trung Quốc xuất bản:

Trung lịch dựa theo nóng lạnh bốn mùa mà xác định năm, lấy Đông Chí làm Tuế Nguyên (bắt đầu của năm), từ Đông Chí này đến Đông Chí tiếp theo là 1 năm; Nhật Nguyệt hợp Sóc mà xác định tháng, lấy ngày Sóc làm Nguyệt Thủ (đầu mối của tháng),... Cho nên "niên vi hồi quy niên" (năm là "năm hồi quy"), còn gọi là "năm Thái Dương"; nguyệt vi hợp sóc nguyệt (tháng là tháng theo Sóc), cũng gọi là "tháng Sóc Vọng" hoặc là "tháng Thái Âm";...

Năm Trung lịch là năm Thái Dương, độ dài của năm có 365.2422 ngày, gọi là Tuế Thực, một năm dựa vào Thái Dương ở tại vị trí trên vòng Hoàng Đạo mà chia làm 12 Tiết nguyệt, tức 12 tháng Thái Dương,... Dựa vào 12 Chi làm thứ tự Tiết nguyệt, còn gọi là Thập Nhị Kiến Nguyệt.

Trung lịch căn cứ vào sự tròn khuyết của Thái Âm để tính toán tháng, mỗi một tháng Thái Âm có độ dài là 29.53058 ngày, gọi là Sóc Sách, lấy số nguyên là 30 ngày hoặc 29 ngày làm một tháng (âm) lịch.

Trung lịch lấy 12 tháng Thái Âm làm một năm (âm) lịch, số ngày của một 12 tháng Thái Âm lịch trong một năm là 354 hoặc 355 ngày;

Một năm (âm) lịch so với Tuế Thực của năm dương lịch ước chừng ít hơn 11 ngày. Cho nên một vài năm lại cần bố trí tháng Nhuận để điều chỉnh Tiết hậu. Năm Nhuận thì một năm có chứa 13 tháng (âm) lịch.

Trung lịch dựa vào tháng Thái Âm của nó cần phối hợp Nguyệt tượng, trường độ Sóc Sách của một tháng, hợp với 29.53058 ngày; dựa vào năm Thái Dương của nó cần phối hợp Tiết Khí, trường độ của một năm, Tuế Thực, hợp với 365.2422 ngày; đem trường độ của Sóc Sách với Tuế Thực đối chiếu lên để tìm ra bội số chung nhỏ nhất của chúng chính là 19 năm (tính theo năm Thái Dương) gọi là 1 Chương, trong một Chương có 235 tháng (tính theo tháng Thái Âm), số ngày của nó và số ngày của 19 năm Thái Dương là tương đồng (6939.6 ngày)... Đó là lý do mà trong 1 Chương, 19 năm, thì thiết lập có 7 tháng Nhuận....

Chúng ta nên biết rằng, biến đổi diễn hóa của bất kỳ một môn mệnh lý thuật số thì không có môn nào mà các bậc tiên hiền cổ thánh lại không căn cứ vào định luật của thế giới tự nhiên hoặc là quy luật vận hành của Nhật Nguyệt theo sự quan sát mà suy tính ra. Theo như bên trên đã nói, chúng ta có thể biết được "Tháng Nhuận" chính là vì sự phối hợp năm Thái Dương được dùng để điều chỉnh số phần tháng Thái Âm. Trong Thiên Văn, Lịch Pháp, hoặc Chiêm Tinh học, "tháng Nhuận" chỉ là chúng ta sửa đổi lại việc thiết kế an bài của "Năm". Tháng của Thái Âm lịch có thứ tự từ tháng Giêng (Chính Nguyệt), tháng Hai, tháng Ba,... tháng Mười Hai (Chạp) cũng chính là sự bài bố theo số chứ chẳng có công dụng gì khác trên thực tế, trái lại, mỗi một Thái Dương Tiết Nguyệt trong Thiên Văn học lại có một địa vị trọng yếu tương xứng với nó. Quý vị mà không ngại thì hãy xem lại ngày sinh dương lịch của bản thân mình, bởi vì mỗi năm vào ngày ấy thì vị trí Thái Dương trên Hoàng Đạo là đều tương đồng vị trí với lúc sinh ra. Nhưng mà người Trung Quốc luôn luôn chịu ảnh hưởng sâu sắc và coi trọng ngày sinh theo nông lịch (lịch âm), mà theo Thiên Văn thì nó không có nhiều điểm đặc biệt. Đó là lý do mà chúng ta không thể không nghi ngờ chất vấn trong môn Tử Vi Đẩu Số đối với vấn đề phép xem "tháng Nhuận" dường như có ý nghĩa bàn luận có giá trị đặc biệt.

Đã từng có đại sư môn Đẩu Số cho rằng phải căn cứ vào "Thái Âm lịch" mà quy định (đây cũng là quan điểm mà nhiều đại sư Đẩu Số khăng khăng giữ). Nhưng mà, chúng ta cho rằng cái quan điểm đặc biệt ấy có giá trị thảo luận, chúng ta đừng ngại nghiên cứu thêm một chút:

Trước tiên, chúng ta khảo cứu tất cả lịch pháp của Trung Quốc, ngàn năm qua đều áp dụng "Âm Dương hợp lịch", vì vậy mới có sự xuất hiện của "tháng Nhuận". Còn nếu chỉ dùng riêng mình "Thái Âm lịch" thì tựa hồ như chưa từng xuất hiện qua, dù cho trong dân gian lấy Thái Âm để tính toán tháng, cũng đều là vẫn muốn phối hợp Tiết Khí làm căn cứ, điểm này chúng ta có thể qua nông lịch thịnh hành trong dân gian mà hiểu được.

Thứ hai, cho dù nói theo quan điểm của Thiên Văn học và Vật Lý học, lực ảnh hưởng của Thái Dương (Mặt Trời) đối với Địa Cầu nếu như so với Mặt Trăng thì mạnh hơn rất nhiều. Chúng ta đều biết rằng, hết thảy các sinh vật trên Địa Cầu đều có 3 yếu tố duy trì sinh mệnh là: Ánh dương quang, Không khí và Nước. Trên Địa Cầu nếu như mà không có dương quang thì sẽ không có tồn tại sự sống, do đó, giả sử như Tử Vi Đẩu Số trong buổi thiết lập ban đầu sơ khai, mà bỏ qua Thái Dương không dùng lại chỉ dùng mỗi Nguyệt Lượng (Mặt Trăng), thì dường như lại có điểm không thể nào nói nổi. Đây cũng chính là cái mà tại làm sao hết thảy các môn thuật số Trung Quốc bao gồm: Bát Tự, Lục Hào quái, Mai Hoa dịch, Kỳ Môn Độn Giáp, Phong Thủy Dương Trạch, Tướng Mặt Tướng Tay,... đều cần tham chiếu Tiết Khí của Thái Dương lịch làm căn cứ xuất phát. Thậm chí, ngay cả thuật Chiêm Tinh phương Tây cũng đều chịu ảnh hưởng sâu sắc của Tiết Khí ấy chứ! (Trong chiêm tinh học, Thái Dương qua 12 chòm sao Hoàng Đạo chính là cái mà chúng ta gọi là Tiết Khí). Đương nhiên, Nguyệt Lượng đối với chúng ta cũng có lực ảnh hưởng tương đối lớn, điểm này, sau đây chúng ta sẽ thảo luận nghiên cứu.

Lại theo kết cấu bên trong của Tử Vi Đẩu Số để xét, giả sử nếu quả thực Tử Vi Đẩu Số chỉ khảo sát mình Thái Âm lịch hoặc năm Thái Âm, thì tại sao trong kỹ thuật Đẩu Số còn cần thiết lập một ngôi sao "Thái Dương" để làm cái gì? Trong phần "Chư Tinh vấn đáp luận" của sách Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư có ghi chép:

"Thái Dương tinh thuộc hỏa nhật chi tinh vậy, chính là biểu nghi của tạo hóa,... làm nguồn chiếu sáng ở trong số, chính là then chốt của quan lộc...

Hi Di tiên sinh viết: Độ số trải qua vòng chu thiên của Thái Dương tinh vận chuyển vô cùng...

Bạch Ngọc Thiềm tiên sinh viết: Thái Dương ti quyền quý làm văn, gặp Thiên Hình thì làm võ, tại Dần mão là sơ thăng (mới bắt đầu mọc), tại Thìn Tị là thăng điện (đã lên đến cung điện), tại Ngọ là Nhật lệ trung thiên (Mặt trời sáng rực rỡ giữa bầu trời), đại phú đại quý, tại Mùi Thân là thiên viên (xế khỏi cung viên)... tại Dậu là Tây một (lặn xuống phía Tây)... tại Tuất Hợi Tý là thất huy (mất ánh sáng)... v.v..."

Những quan điểm này đều cùng phù hợp với Thái Dương ở trong Chiêm Tinh học, có thể thấy trong buổi ban sơ thiết lập môn Đẩu Số, đích xác có suy xét khảo sát đến lực ảnh hưởng của Thái Dương.

Theo những gì đã thảo luận trong đoạn nói trên, chúng ta thực sự không tìm ra chứng cứ mạnh mẽ của việc Tử Vi Đẩu Số lấy Thái Âm lịch làm chủ. Có lẽ sẽ có người nghi ngờ chất vấn:

- Không lẽ vận hành của Nguyệt Lượng (mặt trăng) với Sóc Vọng tròn khuyết của nó lại không có ảnh hưởng tới sinh vật hay sao?

Chúng tôi có thể khẳng định chắc chắn với mọi người rằng:

- "Có"! Nguyệt Lượng thực sự cũng có lực ảnh hưởng rất lớn.

Trong Chiêm Tinh học, lực ảnh hưởng của Nguyệt Lượng là ngay kế sau Thái Dương. Trong mệnh bàn (lá số) có chiếm phân lượng tương đương. Nhưng mà then chốt của sự biến hóa thay đổi tròn khuyết của nó là ở "Nhật" (ngày) chứ không phải là ở "Nguyệt" (tháng). Chúng ta đều biết rằng ngày mồng Một âm lịch là không thấy ánh trăng, mà lúc trăng tròn thì nhất định là xảy ra xung quanh ngày 15. Cái này cũng chính là vì sao mà Tử Vi Đẩu Số khi an bài xác định sao Tử Vi cần phải theo ngũ hành Cục phối hợp với "số ngày sinh" để khởi. Ví dụ như: Trong khẩu quyết khởi Tử Vi tinh của Thủy Nhị Cục:

"Khảm thủy cung trung nhị tuế hành,

sơ nhất khởi sửu xuất nhị dần,

thuận hành nhất cung an nhị nhật,

âm dương tuy thù hành tắc đồng"

Nghĩa đen:

"Trong cung Khảm thủy hai năm chuyển

Mồng Một khởi ở Sửu, ra đến mồng Hai ở Dần

Chuyển theo chiều thuận, mỗi cung an hai ngày

Âm dương tuy có khác biệt nhưng di chuyển thì lại giống nhau"

Nôm na tức là:

"Đối với cung có Cục thuộc hành Thủy và cơ số vận hành là 2

Khởi sao Tử Vi với ngày mồng Một tại cung Sửu, mồng Hai tại cung Dần

Chuyển theo chiều thuận, cứ mỗi cung thì an hai ngày tiếp theo

Âm Dương tuy có khác biệt nhưng di chuyển lại giống nhau".

Ngoài ra thì ngũ hành cục khởi Tử Vi tinh cũng đều là tương đồng.

Trở lại, chúng ta xem phương pháp sắp đặt Mệnh Thân cung của Tử Vi Đẩu Số với phương pháp xác định cung Mệnh trong Chiêm Tinh học cũng có chút sự giống nhau. Lấy môn Quả Lão Tinh Tông (hoặc gọi là Thất Chính Tứ Dư) làm ví dụ, phương pháp an cung Mệnh của nó là lấy Thái Dương đến trong cung Hoàng Đạo mà khởi giờ sinh, thuận hành đếm đến Mão thì an cung Mệnh; còn phương thức của Tử Vi Đẩu Số thì lấy tháng sinh khởi giờ Tý, đếm nghịch đến giờ sinh thì an cung Mệnh. Phương diện này kỳ thực là có yếu tố tương tự rất to lớn, người nào mà học qua Thất Chính Tứ Dư (hoặc Chiêm Tinh) đều biết rõ, Thái Dương đến trong cung Hoàng Đạo kỳ thực chính là Tiết Khí mà chúng ta vẫn thường dùng, cũng chính là "tháng Thái Dương"; mà giải thiết là Tử Vi Đẩu Số cũng dùng Tiết Khí để phân chi Nguyệt Lệnh, như thế thì chẳng phải là cách an cung Mệnh của Tinh Tông và Tử Vi Đẩu Số là đều cùng một dạng theo Nguyệt Lệnh khởi đầu hay sao? Khác biệt chỉ ở phép đi thuận nghịch theo cung vị mà thôi. (Ở trong điều này còn liên quan tới vấn đề kết cấu của mệnh bàn Đẩu Số với Tinh Tông, có lẽ sau này sẽ trình bày ra).

Nếu như chúng ta còn bới lông tìm vết, theo cổ thư bắt đầu khảo chứng, cũng có thể tìm được một chút manh mối để thảo luận:

Hiện nay các học giả Tử Vi Đẩu Số chủ trương rằng nguyên do mà Tử Vi Đẩu Số không theo Tiết Khí là căn cứ cổ thư <<Thập Bát Phi Tinh sách thiên Tử Vi Đẩu Số toàn tập>> bên trong có bài "Tử Vi Đẩu Số Tổng Quyết" để mà lý luận. Chúng ta tạm thời trước tiên không bàn luận tới tính chân thực của nó, chỉ đơn thuần thảo luận nghiên cứu về câu bên trong bài "Tử Vi Đẩu Số Tổng Quyết":

"Tử Vi Đẩu Số Tổng Quyết" khai tông minh nghĩa có giảng rằng:

"Hi Di ngưỡng quan thiên thượng tinh,

Tác thành đấu sổ thôi nhân mệnh,

Bất y Ngũ Tinh ( yếu ) quá tiết,

Chích luận niên nguyệt nhật thì sinh

...

Hà dụng cầm đường giảng Ngũ Tinh".

=

(Ngài Hi Di ngẩng đầu ngắm sao trên trời,

Tạo ra môn Đẩu Số để suy đoán mệnh người,

Không giống với (môn) Ngũ Tinh, quá chú trọng đến Tiết khí,

(Mà) Chỉ luận về năm, tháng, ngày, giờ sinh).

...

Thì còn cần dùng phòng nhạc ("cầm đường") để giảng về môn Ngũ Tinh nữa chăng?)

và chúng ta thảo luận đến nhân tố then chốt có liên quan ở hai câu là "Bất y Ngũ Tinh yếu quá Tiết" và "Hà dụng cầm đường giảng Ngũ Tinh".

Trước tiên ta phải làm sáng tỏ hai chữ "Ngũ Tinh", bình thường dù sao vẫn cho rằng "Ngũ Tinh" chính là đại biểu cho "Quả Lão Tinh Tông" hoặc "Thất Chính Tứ Dư", nhưng kỳ thực điều này là sự hiểu lầm rất lớn. Cổ nhân giảng "Thất Chính Tứ Dư" là đem Thái Dương, Nguyệt Lượng, Thủy Tinh, Kim Tinh, Hỏa Tinh, Mộc Tinh, Thổ Tinh, mà quy làm "Thất Chính"; mà trong "Thất Chính" thì Thủy Tinh, Kim Tinh, Hỏa Tinh, Mộc Tinh, Thổ Tinh được gọi là "Ngũ Tinh"; địa vị của Thái Dương và Thái Âm là ở trên cả "Tinh". Do đó, "Ngũ Tinh" chẳng qua chỉ là một bộ phận bên trong của "Thất Chính", chứ không thể đại biểu cho toàn bộ "Thất Chính Tứ Dư".

Người mà học qua môn Chiêm Tinh học đều biết rằng trong hết thảy "Thất Chính Tứ Dư" thì chỉ có sự vận hành của Thái Dương với Thái Âm là có quy luật thời gian nhất định, còn "Ngũ Tinh" của nó đối chiếu với thời gian của Địa Cầu mà nói thì không có quy luật nhất định. Chúng ta đem quy luật biến hóa của Thái Dương diễn biến thành "Tiết Khí", còn sự trong khuyết của Thái Âm theo sự vận hành của nó thì biểu hiện sự biến hóa thay đổi theo mỗi một ngày đêm. Nhưng mà sự vận hành của "Ngũ Tinh" thì căn bản không có tuân theo quy tắc thời gian, mà hoàn toàn cần phải dựa vào quan trắc và tính toán theo số học mới có thể biết được. Cái này cũng chính là nguyên nhân vì sao mà cổ nhân học "Thất Chính Tứ Dư" cần phải học đầy đủ về diễn toán (tính toán theo công thức) số học và họ về quan trắc Thiên Văn, chỉ có như thế mới có thể hiểu rõ ràng chính xác về quy tắc vận hành của "Ngũ Tinh". Người hiện đại thì khỏi phải phiền phức như vậy, chỉ cần bấm máy tính một cái, thì toàn bộ vị trí của Thất Chính Tứ Dư đều hiển hiện rõ ràng! Bởi vậy, tại đây tôi nhất định phải nhấn mạnh rằng:

Sự vận hành căn bản của "Ngũ Tinh" với "Tiết Khí là không có sự liên quan.

Đó chính là lý do mà nếu như câu "Bất y Ngũ Tinh yếu quá Tiết" là nói Tử Vi Đẩu Số không chiểu theo quy tắc bài bố của "Ngũ Tinh" thì sẽ không cần nói đến việc khảo xét đến Thái Dương Tiết Khí. Trong toàn bộ kết cấu của câu trên, cũng có vẻ như có điểm mà nói chửa được thông.

Thứ hai, cổ nhân viết văn chương là hoàn toàn không có ngắt câu (các dấu câu chấm phẩy), do đó cái câu thoại "Bất y Ngũ Tinh yếu quá Tiết" nhỡ có thể là "Bất y Ngũ Tinh, yếu quá Tiết" (Không như Ngũ Tinh, phải chú trọng thông qua Tiết Khí) ấy chứ? Cứ kiểu như thế thì phản chuyển lại trở thành môn Tử Vi Đẩu Số lại cần chú trọng nhấn mạnh đến Tiết Khí hay sao?

Ngoài ra, quy ước an Thân Mệnh trong <<Tử Vi Đẩu Số toàn thư>> có nhắc đến:

"Đại để nhân mệnh cú tòng dần thượng khởi chính nguyệt..., hựu nhược nhuận Chính nguyệt sinh giả yếu tại Nhị nguyệt nội khởi an Thân Mệnh, phàm hữu nhuận nguyệt câu yếu y thử vi lệ."

(Đại khái là nhân Mệnh theo cung Dần khởi tháng Giêng... Lại nếu như người sinh vào tháng Giêng nhuận, thì phải từ Tháng Hai mà khởi an Thân Mệnh, phàm cứ xuất hiện tháng nhuận thì phải y theo quy tắc ấy.)

[QNB chú: độc giả lưu ý, có lẽ khi La Hồng Tiên biên soạn cuốn TVĐSTT này, năm Canh Tuất đời Gia Tĩnh triều Minh, thì chưa có sự điều chỉnh về quy ước cho tháng nhuận là "không được nhuận vào các tháng Một (11), Chạp (12), Giêng (1)”, cho nên ở trên mới đề cập tới chi tiết "tháng Giêng nhuận" như vậy. Quy ước ấy, có lẽ xuất hiện theo bộ lịch Thời Hiến, khoảng năm 1644-1674 thuộc 2 đời Thuận Trị và Khang Hi triều Thanh].

Cái đoạn thoại ở trên đây cũng chính là một trong những lý do khiến cho các đại sư môn Đẩu Số kiên trì với quan điểm Tử Vi Đẩu Số không theo Tiết Khí. Nhưng mà, quý vị độc giả đã từng khảo xét qua hay chưa, khi người viết ra cuốn sách <<Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư>> này là ông La Hồng Tiên, Tiến Sĩ của triều Thanh (QNB chú: có lẽ tác giả nhầm. La Hồng Tiên là Tiến Sĩ của triều Minh). Ở trong phần tựa mở đầu cuốn <<Tử Vi Đẩu Số toàn thư>> thì ông ấy có nói Tử Vi Đẩu Số là được một vị đạo sĩ ở núi Hoa Sơn có năm tu cỡ hai chục năm, dáng vẻ lão thành, đem tặng cuốn sách. Sau đó dựa theo sách mà học tập mà đoán ứng nghiệm như thần, bởi vì không dám giấu kín cho riêng mình nên đem công bố ra thiên hạ. Như thế thì, nói cách khác, cái bản <<Tử Vi Đẩu Số toàn thư>> này chính là sở học sở tích lũy theo quá trình tự nghiên cứu Tử Vi Đẩu Số của La Hồng Tiên, mang những điều tâm đắc mà viết thành. Cũng có thể nói, <<Tử Vi Đẩu Số toàn thư>> quy ước an Thân Mệnh kia cũng là theo sở kiến cá nhân của La Hồng Tiên, là một bộ phận trong tác phẩm của ông ấy, chứ cũng chẳng phải là chính đích thân lão thần tiên Trần Hi Di viết ra. Như thế, thì nhiều điều luận trong cuốn <<Tử vi Đẩu Số toàn thư>> này có gì cam đoan là hoàn toàn không có sai lầm hay không? Cổ nhân viết sách in sách bởi vì việc sao chép là không dễ dàng gì, cho nên thường ngày sửa lỗi in đầy rẫy, chữ tác đánh thành chữ tộ ("lỗ ngư hợi thỉ" là thành ngữ, chữ Lỗ viết thành chữ Ngư, chữ Hợi viết thành chữ Thỉ). Chúng ta có thể rất dễ dàng đưa ra nhiều chỗ nhầm lẫn trong cuốn <<Tử Vi Đẩu Số toàn thư>>. Do đó, phương thức xử lý tháng Nhuận của Tử Vi Đẩu Số ở đây cũng có thể là đại biểu cho ý kiến cá nhân của ông La Hồng Tiên mà thôi. Hơn nữa, các học giả hậu thế đều không hoàn toàn chiểu theo y như phương pháp xử lý tháng Nhuận theo quy ước an Mệnh Thân trong <<Tử Vi Đẩu Số toàn thư>>. Do đó, cái này cũng không thể được nhận định là chứng cứ hùng hồn về việc Tử Vi Đẩu Số không theo Tiết Khí. Huống hồ Tử Vi Đẩu Số lưu truyền đến nay, trong kết cấu cũng không phát sinh quá nhiều thay đổi trọng đại? Các vị không ngại thì đến tiệm sách mà xem các tác phẩm của Tử Vân tiên sinh, Liễu Vô Cư Sĩ, cùng với một số quảng cáo rùm beng về Khâm Thiên Tứ Hóa phi tinh,... ngoại trừ 14 chính tinh tương đồng với truyền thống ra thì còn lại đều không thấy nhiều bóng dáng của hình ảnh cổ thư nữa! Thậm chí ngay cả Tứ Hóa truyền thống đều biến thành ra "nhị Hóa", trong đó Hóa Quyền với Hóa Khoa bị tỉnh lược đi! Nhất thời đúng hay sai khó mà phân biện cho rõ, nhưng mà cũng đại biểu cho phép xem không chính gốc của cổ nhân lưu lại, người hậu thế từ kinh qua nghiệm chứng mà san định sửa đổi.

Thảo luận tới đây, chúng ta không ngần ngại để làm một loại "giả thiết", đó chính là nếu như "Tử Vi Đẩu Số" là sự lột xác từ "Quả Lão Tinh Tông" hoặc Chiêm Tinh học thì "Tử Vi Đẩu Số" nhất định chẳng thể nào thoát ly được cặp ảnh hưởng của Thái Dương và Thái Âm. Do đó, tiên hiền cổ thánh lúc ban sơ thiết kế môn "Tử Vi Đẩu Số", tham chiếu phỏng theo vận hành của Nhật Nguyệt âm dương với biến hóa bốn Mùa, lấy "Tiết Khí" của Thái Dương vận hành trên Hoàng Đạo mà định Thân, Mệnh cung; lại tham khảo lấy "Nhật kỳ" của Nguyệt Lượng (mặt trăng) tròn khuyết để khởi Tử Vi tinh bàn. Như thế, cái tổ hợp cấu thành của thuật số mệnh học, nhất định sẽ phải giống ở riêng việc theo "Tiết Khí" làm căn cứ của thuật số để tiên tiến và chuẩn xác hơn.

Gần đây trên mạng có người hồi đáp Nguyệt Phần (số tháng) của Tử Vi Đẩu Số là căn cứ vào "Đẩu bính" để mà xác định, tháng Giêng thì "Đẩu bính" chỉ Dần, tháng Hai "Đẩu bính" chỉ Mão, tháng Ba thì "Đẩu bính" chỉ Thìn, v.v... Cái phép suy luận này cũng có vài điểm có chỗ mâu thuẫn:

Trước tiên, cái gọi là "Đẩu bính" là cái gì? Ứng với đúng cái phần phần đuôi của "Bắc đẩu thất tinh"! Nếu như quả chính xác là vậy thì tôi nhất định phải đưa ra sự sửa chữa uốn nắn! Bởi vì vị trí của chỗ "Đẩu bính" chỉ vào vẫn cùng với Tiết Khí có quan hệ không tách rời được!

Hoài Nam Tử viết: "Đẩu bính chỉ hướng Đông, thiên hạ đều Xuân; Đẩu bính chỉ Nam, thiên hạ đều Hè; Đẩu bính chỉ Tây, thiên hạ đều Thu; Đẩu bính chỉ Bắc, thiên hạ đều Đông".

Đây chính là cổ nhân lấy Bắc Đẩu thất tinh xem như ghi chép của quan trắc thời lệnh Tiết Khí. Cổ nhân phát hiện mà đem nó ghi chép lại. Thế thì vì sao mà có cái mối quan hệ đối ứng phù hợp như vậy nhỉ? Chủ yếu nhất vẫn là bởi vì Địa Cầu quay xung quanh Thái Dương mà biến đổi mối quan hệ của vị trí Hoàng Đạo. Do đó, chúng ta có thể nói "Đẩu bính" với Tiết Khí không liên quan hay sao? Huống hồ chỗ "Đẩu bính" chỉ vào Dần, Mão, Thìn, Tị,... cũng đều căn cứ vào sở định của Tiết Khí cả, không phải hay sao? Nếu như mà chẳng phải, thế thì xin hỏi rằng vào lúc tháng Nhuận của năm Nhuận thì "Đẩu bính" nó chỉ vào chỗ nào nhỉ?

Thứ hai, vị trí của chỗ "Đẩu bính" chỉ vào còn thuộc về "hiện tượng Thiên văn" mà làm sao có thể nói Đẩu Số với Thiên Văn là không liên quan đây? Ngoài ra, theo tôi được biết, vị trí của "Đẩu bính" di động mỗi ngày, từng Thời Thần (canh giờ) đều có vị trí biến động [Nó chỉ đúng chân thực phương hướng Đông Tây Nam Bắc hay không thì tôi vẫn còn nghi ngờ]. Vì thế, tôi còn đặc biệt đi sắm về một bộ giáo cụ rất đẹp của Bộ Giáo Dục phát hành - bàn chuyển các chòm sao để quan sát sao trời nhé! Đối với cái này mà có người nghi vấn, thì đề nghị ngài đừng ngại tới tiệm sách mà mua sắm vậy, đồng thời đi để mà quan sát một phen, ngài có thể hiểu rõ hơn!

Còn có người cho rằng Tử Vi Đẩu Số sở áp dụng chính là hệ thống "Hư tinh" chứ không phải là giống như Chiêm Tinh học xét đến sự vận hành của tinh thể thực tế. Do đó, khỏi cần đi giải thích về sự vận hành biến hóa của các tinh thể như là trong Chiêm Tinh học. Nên vì thế càng không cần bàn về việc Thái Dương quá cung với vấn đề Tiết Khí!

Về cơ bản, quan điểm này cũng có trăm ngàn chỗ sơ hở, chúng ta hãy nhìn quanh xem các môn chiêm bốc tinh mệnh của Trung Quốc, ngoại trừ Thất Chính Tứ Dư với Chiêm Tinh học hiện nay là cùng áp dụng sự vận hành của các tinh thể thực tế để mà làm cơ sở đoán mệnh ra, thì xin hỏi các vị, còn có một môn học thuật nào là xét đến hệ thống "Thực tinh" hay không? Thiên Can Địa Chi của Tử Bình Bát Tự, xin hỏi là có ai nhìn thấy được không? Hệ thống cửu tinh của Kỳ Môn Độn Giáp cũng chẳng phải là hư tinh hay sao? Hệ thống bát quái chẳng có nhẽ nào lại là tinh thể thực tế đấy à? Thế mà các môn đó đều dựa vào Tiết Khí để làm căn cứ, thế ngài cho rằng Tử Vi Đẩu Số có thể là ngoại lệ hay sao?

Một số bằng hữu có trả lời rằng chẳng cần biết mèo đen hay mèo trắng, có thể bắt được chuột thì chính là mèo tốt. Ý tức là chẳng kể là môn phái nào, chỉ cần toán được đúng thì nhất định là chính xác. Cái quan điểm này, cá nhân tôi đặc biệt tán thành, nhưng mà đây lại là một công trình khó khăn đặc biệt. Bởi vì Mệnh lý học chẳng phải là Toán học, nó cũng không có đáp án chuẩn mực, hoàn toàn chiểu theo kinh nghiệm cá nhân, cảm giác để mà nhận định, tựa hồ như rất khó có đáp án khách quan. Trừ phi có thể có một tổ chức đoàn thể giám sát cùng với một kho tư liệu khổng lồ để kiểm chứng tương hỗ, bằng không thì rất dễ rơi vào cái cảnh ông nói thì cho là ông có lý, bà nói thì cho là bà có lý, ai nói theo kiểu của người đó.

Ngoài ra, cá nhân tôi tuyệt đối tin tưởng vào "Mệnh vận tuyển trạch luận", nói cách khác là con người có thể thông qua sự lựa chọn để cải biến mệnh vận. Do đó, nhân tố của ảnh hưởng mệnh vận cũng không chỉ có riêng sinh thần bát tự, mà còn bao quát cả phong thủy, hoàn cảnh lớn lên, bối cảnh giáo dục, cha mẹ, vợ con,...

Chúng ta chỉ có thể căn cứ xác định một số đáp án sự kiện đã biết để suy đoán, bởi vì thực sự rất khó có một đáp án chuẩn mực, bất quá chúng ta vẫn đều là hy vọng có thể tập hợp một số học giả có chí hướng để nghiên cứu và thống kê, hy vọng có thể tiếp cận các chiêm tinh gia nước ngoài cùng đề xuất số liệu thống kê tin cậy để làm bằng chứng, cho nên tôi nói đây là một công trình đặc biệt to lớn.

Cuối cùng, tôi còn muốn nhấn mạnh một điểm, lập trường nghiên cứu Tử Vi Đẩu Số của tôi tuyệt đối không phải là bảo thủ cứng nhắc, đứng ở lập trường người nghiên cứu mệnh lý, tôi thực sự mong muốn mở rộng tấm lòng để kiểm xét lại từ đầu các bảo vật mà Trần Đoàn lão tổ lưu lại, cái hay thì đường nhiên phải được tăng cường bảo tồn lưu giữ, có vấn đề thì chúng ta đương nhiên phải giải quyết vấn đề. Chiêm tinh thuật của người phương Tây có cục diện như ngày hôn nay cũng chính là công lao thuộc về sự phát triển của khoa học Thiên Văn cùng với sự sôi nổi của các học giả nghiên cứu, mới có thể có được hệ thống lý luận tương đối hoàn chỉnh (Tuy nhiên vẫn còn có một số vấn đề, nhưng ít ra thì trong phương diện cơ sở lý luận thì họ có rất ít tranh cãi). Trái lại thì Tử Vi Đẩu Số ở trong nước (các môn thuật số khác cũng thế) còn dừng lại ở quy mô mỗi ông nói một chút, mỗi cá nhân đều có một phần lý luận cao siêu có thể tự bào chữa, gặp lúc có ý kiến bất đồng thì choảng nhau chí chóe, cũng chẳng chịu tĩnh tâm để mà nghe ý kiến phản biện của người ta. Xin hỏi cái loại nghiên cứu học thuật như thế sẽ tiến bộ được chăng? Riêng vấn đề của Tiết Khí, Tứ Hóa, khởi Đại Hạn có ở cung Mệnh hay không, cũng đã khiến cho người nghiên cứu Tử Vi Đẩu Số đau hết cả đầu! Những cái khác càng không cần phải nói! Chúng tôi thực sự rất lo ngại, giả như có một ngày nào đó mà Đại Học trong nước (thậm chí Đại Học nước ngoài) muốn mở ra xây dựng chương trình học phần của môn Tử Vi Đẩu Số, thì không hiểu là sẽ phải giảng dạy như thế nào? Cho dù có chọn được người dạy được phù hợp, xin hỏi sẽ có bao nhiêu người tín phục nghe theo đây? Tới lúc đó, tôi có lẽ sẽ không nhịn được nếu như cứ nói đi nói lại cái luận điệu cũ rích: học tập mệnh lý cần không sợ tính toán sai lầm, chỉ sợ đến cố sống cố chết không nhận sai lầm!

Và quý vị cao nhân bậc thầy cùng chung sức. Nếu như tôi có sai lầm! Cũng hoan nghênh các cao nhân bậc thầy gửi thư đến phê bình và chỉ giáo! Tôi sẽ rất sẵn lòng hoan hỉ tiếp thu!

Phan Văn Khâm.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tiết khí với Tử Vi Đẩu Số

Những điều cấm kỵ với cửa trong nhà

Theo phong thủy, một số kiêng kỵ với cửa cổng trong nhà sẽ giúp bạn tránh được những xui xẻo không đáng có và mang lại tài vận cho gia đình mình.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Cửa trước và sau tránh đối diện

Cửa trước và cửa sau nếu đặt đối diện nhau thì sinh khí trong nhà sau khi đi vào từ cửa trước, sẽ thoát hết ra cửa sau. Mặt khác tuy gió thông mát mẻ nhưng rất nguy hiểm, rất dễ gây “phản gió” làm tổn hại đến sức khỏe.

Một ngôi nhà tụ khí, đường lối đi ngoắt ngoéo sẽ tạo ra sự ấm áp và là “giai khí” (khí tốt lành, may mắn). Nó có tác dụng dưỡng thần, dưỡng khí và tăng vận may, thịnh vượng.

Nếu ngôi nhà có cửa sau thì cửa này phải đặt so le với cửa trước để khí lưu thông trong nhà từ trước ra sau dích dắc theo hình chữ “S”, như vậy khí sẽ tụ lâu trong nhà.

 nhung dieu cam ky voi cua trong nha - 1

Cửa nhà vệ sinh không được đối diện với cửa lớn vào nhà

Cửa chính là nơi sinh khí của trời đất vào, và sinh khí ấy phải lưu động trong lòng nhà mà không nên xộc vào nhà vệ sinh. Nếu cửa nhà vệ sinh đối diện với cửa chính, thì sinh khí khi đi vào sẽ xộc thẳng vào nơi khí uế, âm khí nặng nề.

Cửa bếp và phòng chứa đồ tránh đối diện với phòng ngủ

Phòng ngủ là nơi nghỉ ngơi, phải luôn tạo cảm giác hài hoà, yên tĩnh, an toàn, không bị phiền nhiều bởi nước, lửa. Bếp là nơi thường ngày dùng lửa, có khói, khi nấu nướng sẽ ảnh hưởng đến không khí phòng ngủ.

Nước, lửa trong căn bếp cũng tiềm ẩn mối nguy hiểm, đặc biệt là khả năng xảy ra sự cố rò rỉ khí ga và cả khí than bếp. Bởi vậy, cửa bếp và phòng ngủ phải so le và cách nhau tương đối xa.

Cửa phòng chứa đồ cũng vậy. Phòng này là nơi chứa mọi tạp chất. Khi mở cửa, hơi ẩm mốc đủ loại xộc ra, sẽ tràn thẳng vào cửa phòng ngủ, đó là điều tối kỵ.

Cửa bếp và cửa nhà vệ sinh tránh đối diện nhau

Bếp là nơi đun nấu, chế biến đồ ăn thức uống, còn phòng vệ sinh là nơi nuôi dưỡng vi khuẩn và không khí bẩn, nếu cửa đối diện nhau sẽ ảnh hưởng tới vệ sinh, tổn hại sức khỏe.

 nhung dieu cam ky voi cua trong nha - 2

Cửa phòng ngủ và cửa chính không nên đối diện

Phòng ngủ là nơi nghỉ ngơi, thư giãn, cần yên tĩnh, kín đáo, còn cửa chính là nơi người nhà, khách khứa thường xuyên ra vào, sẽ ảnh hưởng tới sự yên tĩnh cần thiết. Vì vậy, cửa chính không nên đặt đối diện với cửa buồng ngủ vì nó sẽ dễ ảnh hưởng tới sức khỏe.

Cửa gian bếp không đối diện với cửa chính

Gian bếp là nơi tượng trưng cho sự giàu có của một gia đình. Vì vậy, nếu của bếp đối diện với cửa chính thì tài khí sẽ lọt hết ra ngoài.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những điều cấm kỵ với cửa trong nhà

Tuổi Bính Thìn 1976 làm ăn hợp với tuổi nào?

Bạn muốn biết mình sinh năm 1976 hợp làm ăn với tuổi nào? Những người tuổi 1976 thì nên kết hợp làm ăn với các tuổi nào để được phát tài phát lộc, công việc hanh thông. Và không nên kết hợp làm ăn với những tuổi này để tránh gặp xui xẻo.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Bạn muốn biết mình sinh năm 1976 hợp làm ăn với tuổi nào? Những người tuổi 1976 thì nên kết hợp làm ăn với các tuổi nào để được phát tài phát lộc, công việc hanh thông. Và không nên kết hợp làm ăn với những tuổi này để tránh gặp xui xẻo.

Tuổi Bính Thìn 1976 làm ăn hợp với tuổi nào?

Vài nét về tuổi Bính Thìn 1976

Người tuổi Bính Thìn sinh năm 1976, năm con rồng, cung mệnh Khảm, mạng cốt tinh Thổ

Tính tình của người tuổi Bính Thìn: là người có trí tuệ thông minh, tự tin, chỉ đạo nhiều người. Không thích đứng bằng đôi chân của người khác, có thể tự tạo lập công danh.

Xem thêm: Giới tâm linh giải mã hiện tượng nhảy mũi như thế nào?

Tuổi Bính Thìn hợp làm ăn với tuổi nào:

Nghề hợp với tuổi Bính Thìn: Thích hợp với nghề kinh doanh.

Tuổi 1976 hợp làm ăn với các tuổi Mậu Ngọ, Kỷ Mùi, Giáp Thìn, Ất Tỵ, Bính Dần, Đinh Mão, Giáp Tuất, Ất Hợi ( thuộc mệnh Hỏa) thì làm ăn dễ dàng, có nhiều tài lộc.

Khi người sinh năm 1976 kết hợp làm ăn với các tuổi Nhâm Thân, Quý Dận, Ất Sửu, Giáp Tý, Nhâm Dần, Quý Mão, Canh Tuất, Tân Hợi ( thuộc mệnh Kim) thì người tuổi Bính Thìn thường là cấp dưới hoặc trợ lí của những người mệnh Kim thì công việc mới thuận buồm xuôi gió.

Khi người sinh năm 1976 kết hợp làm ăn với tuổi Bình Thìn, Đinh Tỵ, Mậu Thân, Kỷ Dậu, Canh Tý, Tân Sửu, Canh Ngọ, Tân Mùi ( thuộc mệnh Thổ) thì công việc bình hòa, cả hai ngươi làm ăn, có lợi cùng hưởng có họa cùng chia, rất bình đẳng.

Khi người tuổi Bính Thìn kết hợp làm ăn với những tuổi Giáp Dần, Ất Mão, Nhâm Tuất, Quý Hợi, Bính Ngọ, Đinh Mùi, Bính Tý, Đinh Sửu ( thuộc hành Thủy) thì công việc làm ăn luôn được thuận lợi, nhanh phát tài.

Tuổi 1976 không nên kết hợp làm ăn với những người ở tuổi Mậu Thìn, Kỷ Tỵ, Mậu Tuất, Kỷ Hợi, Nhâm Tý, Quý Sửu, Canh Thân, Tân Dậu ( thuộc mệnh Mộc). Vì khi kết hợp làm việc với những người này thì công việc làm ăn thường hay thua thiệt, gặp nhiều khó khăn trở ngại, tốt nhất không nên hợp tác làm ăn.

Màu và hướng đặt bàn làm việc hợp với tuổi Bính Thìn

Màu hợp tuổi Bính Thìn: hồng, đỏ, tím, vàng, vàng nhạt.

Hướng đặt bàn làm việc hợp với tuổi Bình Thìn: Đối với nam giới đặt bàn thờ nhìn hướng chính Bắc, đối với nữ giới đặt bàn làm việc nhìn hướng chính Tây.

Xem thêm những bài viết hữu ích khác tại: Phong thủy số


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tuổi Bính Thìn 1976 làm ăn hợp với tuổi nào?

Chuyên gia khoa học lý giải về chuyện mộ kết trong dân gian

Mộ kết luôn được gắn với những câu chuyện kì bí trong dân gian.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


“Tôi đã bảo rồi mà chúng nó không tin, bây giờ thì có họa to rồi”, ông Long, 67 tuổi, sống ở Thủy Nguyên, Hải Phòng luôn nói như vậy khi có ai hỏi đến chuyện mồ mả nhà bà Hoài, em dâu họ của ông. Chồng bà chết vì tai nạn vào đúng ngày Rằm, được chôn ở một vuông đất khá cao ráo.

Nhân chứng lên tiếng

Sau 3 năm rưỡi, bà đi xem ngày giờ để bốc mộ cho chồng, thì ông Long cản: “Không bốc được đâu thím ơi, mộ chú nó kết rồi, tôi để ý lâu rồi, thấy cái mộ ngày càng to ra, nở nang lắm, cỏ, mấy cây hoa trồng trên mộ và cả những cây xung quanh thì tươi tốt lạ thường. Thím cứ để vậy, con cháu sẽ học hành đỗ đạt, làm ăn phát tài, hoặc được làm quan. Chứ thím mà bốc lên là chết cả nút đấy”.

Bà Hoài nghe cũng sợ, nhưng bà không biết mộ chồng mình có kết thật không. Nếu không phải mà cứ để ông nằm mãi đó, không được cải táng thì tội ông quá, vong linh ông không mát mẻ thì con cháu làm sao yên ổn được. Nghĩ thế, bà bèn đi tìm thầy để xem, cả mấy ông thầy đều khẳng định chả kết kiếc gì hết, cứ thế mà bốc.

 chuyen gia khoa hoc ly giai ve chuyen mo ket trong dan gian - 1

Đâu đó trong dân gian vẫn lưu truyền các câu chuyện về huyệt mộ kết phát giúp cả một dòng họ trở nên sang giàu. Trong ảnh là mộ vua Trần ở Thái Bình.

“Đúng là đầu óc đàn bà, nói phải không nghe, giờ thì suốt ngày khóc than bảo giá như em vâng lời bác”, ông Long phẫn nộ. “Hôm bốc mộ chú nó, đưa lên thi thể gần như còn nguyên. Mẹ con nhà nó sợ quá cho lấp lại như cũ, rồi cúng vái đủ kiểu, nhưng muộn mất rồi. Chỉ hơn một năm sau đã thấy ngay tác hại. Cả hai thằng con đều khôi ngô tuấn tú, học hành giỏi giang, đùng một cái một đứa nghiện game bỏ học bỏ thi, bị đuổi khỏi trường đại học; một thằng chơi cá độ bóng đá nợ hàng tỉ đồng, bị chúng nó vác dao tìm giết, phải trốn vào Nam không dám về. Còn mẹ chúng nó nay ốm mai đau, đúng là họa tự mình rước lấy”,  ông Long kể.

Họ hàng, làng xóm đều xanh mắt, coi hoàn cảnh nhà bà Hoài như một bài học xương máu về chuyện không cẩn thận về mồ mả. Nhưng cũng có người nói, hai đứa con bà vốn thừa kế cái máu ham chơi và mê cờ bạc từ ông bố, ngay cả trước khi bốc mộ, trước sau gì chẳng dẫn đến kết cục như vậy. Mà con đã thế, mẹ không ốm đau mới lạ.

Thế nhưng, không chỉ nhà bà Hoài, mà người dân còn kể cho nhau vô số chuyện ly kỳ về mộ kết, khiến ngay cả những người vô thần cũng hoang mang, nửa tin nửa ngờ, không biết nên nghĩ gì. Anh Trần Văn Kiệt, 22 tuổi, nhà ở Vĩnh Phúc, nói: “Em vốn cũng không tin, nhưng giờ thì sợ lắm rồi. Cách đây mấy năm, nhà thằng bạn thân của em bốc mộ bà nội, em cũng đến động viên tinh thần. Thực ra mẹ nó đi xem bói thấy bảo mộ kết rồi không bốc được, nhưng ông bố không nghe, bảo đừng có mê tín dị đoan vớ vẩn.

Ai ngờ lúc mở quan tài ra thấy tơ trắng như bông quấn lấy cả người bà cụ, da thịt chưa hóa tí gì. Bố thằng bạn em bảo tại đất khô nên chậm hóa là bình thường, cứ cho thợ làm. Làm xong mấy tháng thì ông ấy đau nặng, đi khám thì là ung thư giai đoạn cuối, sống được thêm có nửa năm”.

Sau chuyện đó, anh Kiệt bắt đầu để ý đến chuyện mộ kết và nghe được khối chuyện rùng mình. Chẳng hạn một nhà ở quê anh bốc mộ cho ông cố, đào lên mới thấy mộ đã kết, chuẩn bị phát, rễ cây tơ hồng đâm vào rất nhiều. Chỉ trong vòng 5 năm sau, nhà ấy có liên tiếp 3 người chết. Còn nhà khác, vì nghe lời thầy, không bốc mộ, vì ngôi mộ ấy kết rất tốt. Đúng là như có phép lạ, đứa con gái xấu như ma chỉ trong vòng một năm lấy được chồng giàu, còn anh con trai thì được thăng lên tổng giám đốc.

Cả dân gian lẫn nhiều tài liệu phong thủy đều nói về mộ kết, chung quy là nếu mộ kết mà để yên như vậy thì mấy đời con cháu đều hưng thịnh, phúc lộc dồi dào, còn nếu cứ đào lên thì phúc biến thành họa, mà là đại họa, không lụn bại về kinh tế thì cũng thiệt về sức khỏe, mạng sống, hoặc bại hoại thanh danh, hay phải “đáo tụng đình”...

Dấu hiệu mộ kết được truyền lại là: Ngôi mộ và vùng đất đặt mộ ngày càng nổi cao lên hoặc nở to ra, đất xốp mịn (có quan điểm lại nói là đất rất cứng), trong quan tài có mạng nhện hay màng tơ (màu trắng hoặc đỏ) bao bọc, di hài còn nguyên vẹn, hoặc mộ bị mối đùn lên, kết thành một khối vững chắc... Tóm lại, gặp trường hợp này thì con cháu nên để nguyên rồi xây mộ kiên cố trùm lên chứ không được bốc.

Lý giải khoa học

Trao đổi với phóng viên về vấn đề mộ kết, Giáo sư Lê Chí Quế, chuyên gia đầu ngành về văn học dân gian chia sẻ: “Những câu chuyện kỳ bí liên quan đến mộ kết tôi đã được nghe nhiều nhưng chưa có dịp nghiên cứu sâu về vấn đề này. Tuy nhiên, việc những ngôi mộ sau một thời gian hoặc vừa chôn đất,  cứ đùn lên ngày càng to khác thường có thể là do tính chất vật lý của đất. Có thể đất chỗ đó có sự giãn nở khác thường hoặc do giun, mối đùn đất cao lên. Và trong mỗi ngôi mộ kết ấy thường có dây tơ hồng quấn quanh người chết. Cái này xuất phát từ suy nghĩ bên ngoài đẹp, bên trong cũng sẽ đẹp như vậy. Còn xét về góc độ tín ngưỡng, hiện tượng mộ phát liên quan đến gốc tích phồn thực. Phồn là sự sinh sôi, phát triển, nở ra: Người sinh đẻ, cây cối sinh sôi... Từ hiện tượng tự nhiên, người ta gắn với tín ngưỡng cho rằng sự sinh sôi nảy nở này gắn với những ước mơ về sự giàu sang, no ấm trong cuộc đời mỗi con người và nó kéo dài mãi mãi từ đời này sang đời khác. Nhiều người cho rằng mộ kết thì phải giữ nguyên, không được cải táng thì sự tốt đẹp mới kéo dài mãi. Ngược lại, nếu cải táng mộ kết, sự tốt đẹp biến thành điềm xấu, hủy diệt cả dòng họ... Tất cả xuất phát từ gốc tích tín ngưỡng phồn thực”.

Những nhà giàu có, mua quan tài gỗ tốt, khâm liệm nhiều lớp, trong quan tài để nhiều chất chống ẩm, lại nhờ thầy địa lý chọn được huyệt đất trên gò hay núi cao, khô ráo, nên thi thể chậm phân huỷ hơn người bình thường. Họ đã giàu thì con cháu có điều kiện học hành, việc kiếm được quan chức hoặc ngày càng giàu thêm cũng phải lẽ, nhất là khi tâm lý thư thái, tự tin vì nghĩ mộ tổ tiên mình đã kết”.

Các tài liệu của thế kỷ trước khi nhắc đến mộ kết cũng có nhắc đến loại “đất dưỡng thi”, loại đất có khả năng giữ cho thi hài trải qua nhiều năm mà da thịt không hoại. Có lẽ những thành phần đặc biệt trong loại đất này khiến các loại vi khuẩn, cả hiếu khí lẫn yếm khí, đều không sống nổi, gây “kết phát” cho những ngôi mộ vô tình được táng vào đây.   


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Chuyên gia khoa học lý giải về chuyện mộ kết trong dân gian

Mỹ nhân Trung Hoa

Câu Dặc Phu Nhân Ở giai đoạn tuổi già, Hán Vũ Đế đã sủng ái một mỹ nữ khác là Triệu Tiệp Dư. Một lần nọ, Vũ Đế đi thị sát vùng Hà Giang, có một ông thầy bói tâu với nhà vua:

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

– Nơi đây có một vị kỳ nữ. Từ ngày cô ấy hạ sinh đến nay, hai bàn tay luôn luôn nắm chặt, không bao giờ xòe ra.

Vũ Đế cảm thấy lạ, vội vàng phái người đi triệu cô gái ấy tới. Khi nhà vua cầm bàn tay của cô gái ấy lên, thì bàn tay liền xòe ra, bên trong nắm chặt một chiếc móc bằng ngọc, cho nên về sau được mọi người gọi là “Câu Dặc Phu Nhân”. Vũ Đế rất mê tín, cho rằng cô gái này không phải tầm thường, nên đem về cung và sủng ái nàng. Đến niên hiệu Thái Thủy năm thứ ba, khi Vũ Đế đã được sáu mươi ba tuổi thì Câu Dặc Phu Nhân hạ sinh cho nhà vua một hoàng tử. Đó là hoàng tử Lưu Phất Lăng, vị hoàng tử nhỏ nhất, mà sau này đã trở thành Chiêu Đế.

Sau khi sự kiện trù ếm xảy ra, Vũ Đế định lập người con nhỏ nhất là Lưu Phất Lăng làm thái tử, nhưng vì sợ sau này lại xuất hiện tình hình mẫu hậu can thiệp vào triều chính, nên Vũ Đế bèn quyết định giết Triệu Tiệp Dư.

Ít lâu sau đó, nhà vua cố ý tìm một khuyết điểm của Triệu Tiệp Dư và gay gắt quở trách. Triệu Tiệp Dư gỡ bỏ tất cả những đồ trang sức đeo trên người, rồi dập đầu tạ tội. Vũ Đế dù cảm thấy rất đáng thương, nhưng vẫn hạ lệnh cho thần hạ của mình:

– Hãy dẫn bà ấy tống vào nhà giam.

Câu Dặc Phu Nhân cứ bước đi một bước lại quay đầu nhìn, đôi mắt như van xin, nhưng Vũ Đế khoát tay nói:

– Hãy đi cho mau, nhà người đừng mong chi được sống sót!

Ngày xử tử Câu Dặc Phu Nhân, mây mù ảm đạm, gió to thét gào. Bá tánh hay tin, không ai là không cảm thấy thương tiếc, một giai nhân trẻ tuổi và ngây thơ như thế, mà lại chấm dứt cuộc đời quá ư bi thảm.

1 thuyết khác về cái chết của Câu Dặc phu nhân.

Câu Dặc còn quá trẻ, còn mình đã 66 tuổi, Vũ Đế sợ sau khi mình chết, Phất Lăng kế vị còn trẻ thơ thì Câu Dặc sẽ được nhiếp chính, thao túng triều cương. Cho nên Vũ Đế bắt Câu Dặc phải chọn: hoặc là hai mẹ con ra khỏi cung, hoặc tự sát để Phất Lăng lên làm Thái tử. Vì tương lai của con, Câu Dặc chịu chết

Chung Vô Diệm

Tóm tắt sơ lược:

Chung Vô Diệm (Hán tự: 鐘無艷, không rõ năm sinh năm mất) tên là Xuân, họ Chung Ly, người đất Vô Diệm (nay thuộc nay thuộc phía đông huyện Đông Bình tỉnh Sơn Đông). Thường gọi là Chung Ly Vô Diệm, bà là Vương hậu của Tuyên Vương Điền Tịch Cương nước Tề.

Chung Vô Diệm là người đàn bà nổi tiếng trong lịch sử, được mệnh danh là một trong Ngũ xú Trung Hoa. Sinh ra trán cao, mắt sâu, bụng dài, chân thô, mũi hếch, xương cổ lòi ra, cổ to, tóc thưa, bụng phệ, lưng gù, da đen đúa… (無艷, Vô Diệm trong tên bà có nghĩa là Không đẹp) Do dung mạo xấu xí, đến 40 tuổi vẫn chưa chọn được người chồng vừa ý. Bà ta tuy xấu nhưng thông minh tài trí hơn người, là nữ chính trị gia tài giỏi.

Giai thoại về Chung Vô Diệm

Một hôm Tuyên Vương đang uống rượu giữa bầy cung nga xinh đẹp, vui chơi ở Tiệm Đài. Chung vô Diệm xin vào yết kiến, tự xưng là người con gái không lấy được chồng của nước Tề, nghe nói Tề Vương là người hiền minh, xin vào hậu cung lo việc quét tước cho vua. Các cung nữ nghe xong bụm miệng cười, Tuyên Vương nghe tâu cũng tức cười nhưng vì lòng hiếu kỳ, ra lệnh cho vào yết kiến. Tuyên Vương hỏi: “Xú phụ! ngưoi sao không chịu ở yên nơi quê hương mà tự tiến tới vua phải chăng ngươi có tài nghệ cao kỳ?”. Vô Diệm đáp: “Không dám nói kỳ tài cao nghệ, chỉ học được thuật ẩn hình, xin vì đại vương hiến chút nghề mọn để giúp vui”. Nói xong liền ẩn mình, không ai thấy nữa. Hôm sau Triệu Vương lại triệu đến làm trò. Vô Diệm không nói, chỉ trừng mắt, cắn răng, giơ tay, vỗ gối… làm 4 động tác và kêu liên tiếp 4 tiếng “hiểm”. Tuyên Vương hỏi ý nghĩa ra sao? Vô Diệm nói rằng: “Nay nước Tề có sự uy hiếp của Tần ở phía Tây, Sở phía Nam, đó là nguy hiểm thứ nhất. Đại vương làm nhọc sức dân, hao tốn tiền của, lập Tiệm đài hoa lệ, đó là điều nguy hiểm thứ hai. Trong triều thì biếm ngưòi hiền, dùng kẻ nịnh, đó là điều nguy hiểm thứ ba. Đấng quân vương đam mê tửu sắc, không sửa sang chính trị trong nước, đó là điều nguy hiểm thứ tư. Thiếp trừng mắt vì đại vưong xét cái biến phong hoả, cắn răng là thay đại vương trừng trị cái miệng chống can gián, giơ tay là vì đại vưong đuổi kẻ bề tôi xàm nịnh, vỗ gối là xin đại vương dẹp bỏ cái đài ăn chơi.”

Tề Tuyên Vương nhận lời can gián, từ đó bỏ yến nhạc, phá Tiệm đài, trừ tôi nịnh, làm cho binh mã mạnh, kho lẫm đầy… lập Chung vô Diệm làm Vương hậu, và với sự phụ tá của bà, nước Tề trở nên cường thịnh. Trong thời Tề Tuyên vương tại vị, không có nước nào đến xâm phạm. Người sau viết rất nhiều truyện về nàng Chung Vô Diệm để ca ngợi tài năng, đức độ và sự dũng cảm của nàng. Tuy nhiên phần cuối truyện có thay đổi, thêm vào nội dung sau khi Chung Vô Diệm giúp vua trị vì thiên hạ thành công, cuối cùng đã hóa thành người đàn bà đẹp như tiên và coi Chung Vô Diệm là tiên nữ bị đày xuống trần giúp vua.

Đậu Hoàng hậu (Hiếu Văn thái hậu)

Đậu Hoàng hậu (trước 205 – 135 trước công nguyên) – Hoàng hậu của Hán Văn Đế

Đậu Hoàng hậu, người Quan Tân Thanh Hà (nay là đông bắc huyện Táo Cường tỉnh Hà Bắc) là hoàng hậu Hán Văn đế Lưu Hằng.

Đậu thị xuất thân hàn vi, cha bà chạy loạn đời Tần đến Quan Tân ở ẩn, câu cá để sống, không may ngã xuống sông mà chết, để lại ba con nhỏ. Thời Hán Sơ, triều đình đến Thanh Hà mộ cung nữ, Đậu thị tuổi nhỏ, ứng tuyển vào cung. Khi đó Lữ hậu nắm quyền, đưa Đậu thị đ ến nước Đại, làm cung nữ cho đ ại vương Lưu Hằng, sau được tiến làm vương phi. Đậu thị sinh được 2 trai là Lưu Khải và Lưu Vũ và một gái là Lưu Phiêu.

Phu nhân của đại vương mất sớm, 4 người con của bà cũng lần lượt chết theo. Đại vương xem Đậu thị là phu nhân.

Năm 180 trước công nguyên, đại vương Lưu Hằng lên ngôi là Hán Văn Đế, lập Đậu thị làm hoàng hậu, trưởng tử Lưu Khải làm thái tử, thứ tử Lưu Vũ làm Hòai Dương Vương.

Do Đậu thị xuất thân nghèo khổ, nên thông cảm với những cảnh khổ của nhân dân, thường khuyên Văn đế tiết kiệm, giảm nhẹ sự đóng góp của nhân dân. Trong Hán thư phần của “Hán Văn Đế” có viết “tức nhị thập tam niên, cung thất, uyển hựu, xa kị phục ngự vô sở tăng ích” ( ở ngôi 23 năm, cung thất, vườn hoa, xe ngựa, đồ ngự dụng không tăng thêm). Sau anh em của Đậu thị là Đậu Trưởng Quân và Đậu Quảng Quốc đến Trường An nhìn bà con, Hán Văn Đế gặp hai vị quốc cữu rất mừng, phân cho hai người nhà ở và ruộng đất không ít, lưu ở lại Trường An. Tể tướng Quán Anh và Chu Bột cho là hai vị quốc cữu xuất thân hàn vi, không có học hành tốt, nên chọn vị thầy có phẩm chất đạo đức dạy dỗ, để không rơi vào bánh xe cũ ngọai thích họ Lữ làm lọan. Trong Hán thư, phần “ Ngọai thích truyện” có viết: “Do thủ thối nhược quân tử, bất cảm dĩ phú quý kiêu nhân” ( do đó biết khiêm nhường bậc quân tử, không dám lấy sự giàu sang mà khinh người)

Năm 157 trước công nguyên ( năm thứ bảy Hán Văn Đế hậu nguyên), Lưu Khải được kế lập là Cảnh đế, tôn Đậu thị làm hòang thái hậu. Lúc đó, Đậu thái hậu hai mắt đã mờ, bà ham thích thuật Hòang Lão. Cảnh đế và anh em Đậu thị không thể không đọc” Lão thị” đề cao thuật Hòang Lão. Hòang Lão là chỉ Hòang đế và Lão Tử, đạo gia tôn Hòang Lão làm tổ, chủ trương “vô tri nhi trị” nên dùng chính sách rộng rãi (khoan chính) đối với dân chúng. Đậu thị trải qua hai triều đại Văn đế và Cảnh đê, sử gọi là “Văn Cảnh chỉ trị”, sự thịnh trị của đời Văn Cảnh và chính sách khoan dân theo thuật Hòang Lão có quan hệ rất lớn.

Đậu thái hậu chết năm 135 trước công nguyên ( năm thứ sáu Kiến nguyên Hán Vũ Đế) thọ khỏang 71 tuổi

Hoàng Phủ Phi Giao

Hoàng Phủ Thiếu Hoa và Mạnh Lệ Quân có bốn người con : Triệu Câu, Triệu Lân, Triệu Phượng và Mạnh Phi Giao, từ khi còn ở phủ Hoàng Phủ Phi Giao đã bộc lộ bản tính muốn cai trị cả thiên hạ, nàng thường mơ ước mình có thể giống như Võ Tắc Thiên nên thạo bức chân dung của Võ Mỹ Nương mà ngắm nhìn và tôn vinh. Thái Thượng Hoàng của Minh triều muốn ẩn dật tu hành nên truyền ngôi lại cho con trai của ông là Anh Tôn lập hữu hậu là Hùng Ngọc Dung con gái của Hùng Hữu Hạo cũng là chỗ thâm tình của Hoàng Phủ Thiếu Hoa, Thái Thượng Hoàng còn truyền thánh chỉ lập Phi Giao làm hữu hậu điều này càng làm cho Hoàng Phủ Thiếu Hoa lo sợ vì bản tính của Phi Giao nhưng cũng đành chấp nhận vì ko thể nào kháng chỉ.

Từ khi Phi Giao nhập cung, Anh Tôn đã mê mẩn tâm hồn trước sắc đẹp của Phi Giao, Phi Giao vì muốn loại bỏ Hùng Ngọc Dung nên đã lập mưu sai Đồ Mang Hưng Phục và Thái giám Mã Thuận vu khống cho Hùng Hữu Hạo tội mưu phản. Anh Tôn nghe theo lời Phi Giao xử tội chết cả nhà Hùng Hữu Hạo, còn phần Ngọc Dung vì đang mang thai nên bị xử giam vào lãnh cung chờ ngày sanh nở và truyền lệnh cho Bình Bộ Thượng Thơ hạ sắc chỉ phong cho Phi Giao làm Chiêu Vương Hoàng Hậu được quyền nhiếp chính giữa triều đình.

Ngay lúc đem Hùng Hữu Hạo ra pháp trường thì cả nhà Hoàng Phủ đến giải cứu, Hoàng Phủ Thiếu Hoa quyết định lên thâm sơn tìm Thái Thượng Hoàng mời Ngài về trừng trị Phi Giao, Hùng Hữu Hạo cùng lên đường với Thiếu Hoa. Về phần Ngọc Dung sinh được Hoàng tử, Triệu Lân không ngại khó khăn đến lãnh cung mang Hoàng tử về gởi cho chị dâu của mình nuôi dưỡng, Phi Giao thấy mẹ cứ chống lại ý nàng nên dựa vào chức quyền đã truyền thánh chỉ phong toả cung Nam Thanh giam Mẹ và Hoàng Thái Hậu. Hoàng Phủ Thiếu Hoa và Hùng Hữu Hạo sau 1 thời gian dài đã tìm được Thái Thượng Hoàng, ngài đồng ý trở về triều để xử tội. Triệu Lân sau 1 đêm trằn trọc tìm mưu kế truất phế Phi Giao thì từ tóc xanh trở nên đầu bạc, và đã tìm được kế vẹn toàn đưa Đồ Mang Hưng Phục lên làm vua nhằm tạo sự bất hòa sau đó thỉnh Thái Thượng Hoàng đăng điện để xử án. Hùng Ngọc Dung gặp lại Hoàng Tử sau nhiều năm xa cách mẫu tử tương phùng, Đồ Mang Hưng Phục và Mã Thuận bị xử tội chết, Anh Tôn đau khổ khi Thái Thượng Hoàng bắt buộc chính Anh Tôn phải hạ chỉ xử Phi Giao tội chết, Phi Giao bị xử bá đao trảm quyết nhưng vì bá quan văn võ quỳ xin tội nên Thái Thượng Hoàng giảm án xử Phi Giao tam ban triều điển, nhà Hoàng Phủ khóc tiễn con nhưng cũng đành phải chịu vì luật nước không thể nào chống lại.

Khách Thị

Vua Minh Hi Tông hiệu Thiên Khải với nhũ mẫu Khách thị được coi là mối tình điên loạn trong lịch sử Trung Quốc. Lịch sử chép lại: Khách thị và Thiên Khải Đế Châu Do Hiệu đã có quan hệ tình dục với nhau. khi Hy Tông lên ngôi năm 15 tuổi, phong Khách thị làm Phụng thánh phu nhân Trong cung triều Minh, Khách thị là người dâm loạn nổi tiếng, làm sao có thể bỏ qua vị hoàng đế trẻ trung? Quan hệ giữa Khách thị và Thiên Khải Đế khác hẳn mối quan hệ giữa nhũ mẫu và con nuôi.

Thường thì khi thái tử đã trưởng thành, chức trách của nhũ mẫu cũng hết, không nhất thiết phải sớm tối gặp gỡ tiếp xúc. Nhưng đối với Khách thị, mọi chuyện lại không diễn ra như thế. Lịch sử ghi chép rằng: Sáng sớm mỗi ngày Khách thị bước vào gian lò sưởi cung Càn Thanh, nơi tẩm cung của Thiên Khải Đế, hầu hạ Thiên Khải Đế cho tới nửa đêm mới về cung. Nếu giải thích chuyện này vì Khách thị xuất phát tình yêu thương với Thiên Khải Đế như mẹ yêu con, thì trong mối tình bất chính sau này của Khách thị với Ngụy Trung Hiền, vì cớ gì mà Khách thị đã không còn quan tâm tới Thiên Khải Đế. Thậm chí, trong lần ăn uống vui vẻ ở hồ Thái Dịch, Khách thị và Ngụy Trung Hiền quyến luyến không rời, Thiên Khải Đế trèo cây bắt chim ngã lộn cổ, quần áo rách toạc, máu chảy đầy mặt, Khách thị không hề xót thương, vẫn cười đùa vui vẻ với tình lang, Khách thị còn cấu kết với Ngụy Trung Hiền khống chế các thế lực trong triều

Khách thị xinh đẹp lẳng lơ, đứng trước mặt Thiên Khải Đế chưa bao giờ tự coi mình là nhũ mẫu, mà chỉ là người đàn bà và giống hệt như kẻ cầu xin sủng ái. Lịch sử ghi chép: Khách thị khi đã trên 40 tuổi, sắc mặt vẫn đẹp như mỹ nhân 28. Sắc đẹp và vẻ lẳng lơ của Khách thị đã làm cho mọi người sửng sốt, ngay đến các cung tần, tần phi trẻ cũng không thể sánh kịp. Để bảo vệ vẻ đẹp, đương thời Khách thị luôn dùng nước bọt các cung nữ trẻ để chải tóc, đảm bảo sự đen bóng của mái tóc. Mái tóc đẹp như mây đã tôn thêm vẻ xinh đẹp tha thướt của thiếu nữ.

Làm nhũ mẫu của Thiên Khải Đế, Khách thị tranh giành ghen tuông bóng gió, hại chết mấy tần phi từng được Thiên Khải Đế gần gũi.Minh Quang Tôn tuyển được một người phi là Triệu Thị. Người này có chút xích mích với Khách Thị, bà ta bèn giả thánh chỉ buộc Triệu Thị phải thắt cổ tự vẫn. Nhưng,đáng thương nhất là Trương Dụ phi. Trương Dụ phi có thai với Thiên Khải Đế, khi sắp đẻ, Khách thị hạ lệnh không cấp thức ăn đồ uống cho Trương Dụ phi, không cho người đến đỡ đẻ. Trong đêm mưa bão điên cuồng, Trương Dụ phi đói khát không chịu nổi, lê thân thể nặng nề khó nhọc trèo lên mái nhà hứng nước mưa uống cho đỡ khát, tủi thân gào khóc và qua đời trong cơn đói hành hạ. Ngoài Trương Dụ, còn có ba hoàng tử, hai hoàng nữ vì sự bức hại của Khách thị mà chết yểu vô tội. Tổng số cung nữ được hoàng đế sủng hạnh hoặc mang thai bị Khách thị giết hại không thể đếm được chính xác.

Trương Hoàng hậu rất ghét Khách Thị nên lựa lời khuyên Hy Tôn đừng nghe lời bà ta trừng phạt người ngay, nhưng ông ta không nghe. Khách Thị mua chuộc được một cung nữ trong cung Càn Ninh để ra tay hại Hoàng hậu. Khi đó Trương Hoàng hậu đang có mang, thường mỏi lưng nên sai cung nữ bóp lưng. Cung nữ đã ra tay khiến bà bị sảy thai. Chỉ vì dung túng cho Khách Thị làm hại những phụ nữ trong cung mà Minh Hy Tôn đã chịu họa tuyệt tự.

Vương Kiều Loan

Kiều Loan là một người rất thông minh, lại được cha mẹ nuông chiều cho nên từ nhỏ đã thông kinh bác sử, văn hay chữ tốt. Nếu là con trai thì đã chiếm được bảng vàng, phò vua giúp nước, danh tiếng lưu truyền thiên thu.

Chỉ trách chuyện tìn duyên của nàng lại lắm bi ai. Lúc đầu, từ việc viết thư cho nhau, nàng và Chu Đình Chương ngày càng hiểu thêm về nhau rồi tình càm đôi bên bắt đầu nảy sinh. Trong phủ họ Vương, lại có thêm Tào Di như người “bắc cầu” cho cả hai nên tình duyên ngày càng sâu đậm. Chu Đình Chương lúc đầu là một người phong lưu nho nhã, có tài thi phú, ĐC và KL quả là một đôi trai tài gái sắc. Nhưng từ sau khi về quê, được Chu tư giáo sắp đặt hôn lể với Ngụy Đồng tiểu thư thì ĐC đã quên hẳn lời thề xưa với KL. KL vẫn đêm ngày mong mỏi, viết thư cho ĐC nhưng không bao giờ được hồi âm. Khi biết được sự thực ĐC phụ bạc mình, KL vô cùng thất vọng và không còn thiết sống nữa. Trước khi tự tử, nàng gom tất cả các thư từ xướng họa với Đình Chương. thêm vào đó những dòng chữ thề nguyền và thiên Trường hận đóng vào một tập, cho vào bao công văn gửi đến vệ quân Ngô Giang nhờ bắt một tên quân tại đào. Trên phong thư đề “Nam Dương vệ chưởng ấn Vương Thiên hộ kính gửi chức lệ Tô Châu phủ, Ngô Giang huyện, huyện lệnh đại nhân”.

Phàm Công đọc tất cả thơ từ và thiên Trường hận, lòng tấm tắc ngợi khen tài năng của Kiều Loan và trách Đình Chương là một tên bạc tình, bèn cho người đi bắt Đình Chương đến. Lúc đầu ĐC chối cãi nhưng lúc sau khi thấy những tập thơ ấy thì bèn nhận tội. Phàm Công sa lính đánh ĐC đến tan xương nát thịt

Từ Hi thái hậu (Lan Nhi)

Thái hậu Từ Hi (1835 – 1908) là người nắm quyền lực thực tế của triều đình Thanh mạt trong hơn 40 năm. Bà cùng với Võ Tắc Thiên được xem như là hai người phụ nữ nắm quyền lực cao nhất của đế quốc Trung Hoa, vốn có tư tưởng kỳ thị phụ nữ nặng nề (trọng nam khinh nữ), trong một thời gian dài.

*Xuất thân

Bà xuất thân từ bộ tộc Mãn Châu Yenonala (Diệc Hách Na Lạp thị), mới đầu chỉ là một cung tần, nhờ hát hay, khéo nịnh được Hàm Phong yêu, được phong đến chức Lan Quý nhân. Năm 1856, bà sinh một trai, về sau là Hoàng đế Đồng Trị (trị vì 1861 – 1875), từ đó càng được sủng ái.

Nhờ trí thông minh, lại có tính cách mạnh mẽ, bà dần can thiệp vào chuyện triều chính, từ đó sinh ra hách dịch, độc tài. Tương truyền vua Hàm Phong biết trước rằng sau này bà sẽ là một tai họa cho nhà Thanh nên trước khi chết đã để lại di chúc bảo phải giết đi, nhưng viên thái giám Lý Liên Anh cho bà hay rồi hủy di chúc này, giúp đỡ bà đưa Đồng Trị lên ngôi. Lý Liên Anh từ đó thành sủng thần của Từ Hi, tham ô, làm loạn trong cung.

*Làm Phụ chính lần thứ nhất

Sau khi Hoàng đế Hàm Phong qua đời, Hoàng hậu Từ An và Lan Quý nhân được triều đình tôn xưng là Từ An Thái hậu và Từ Hi Thái hậu, và quyết định để cho hai bà làm “thùy liêm thính chính” (rủ mành mành mà nghe việc nước), nghĩa là cùng Phụ chính cho Hoàng đế Đồng Trị còn nhỏ tuổi. Hai đại thần Cung Thân Vương và Văn Tường đều là người có năng lực, giúp ý kiến hai bà.

Thái hậu Từ An ít học nhưng đôn hậu, có phẩm cách. Từ Hi học khá hơn, đọc viết được chữ Hán, thông minh, lanh lợi, rất có bản lĩnh, nhưng cũng có nhiều tật: ham quyền thế, dâm dật, xa xỉ, muốn đạt mục đích đến cùng. Bà cũng có tính tình bất thường, lúc thì hiền, rộng lượng, lúc thì tàn nhẫn vô cùng. Do đó dần dần Từ Hi lấn Từ An, quyết định mọi việc. Từ An hiền hậu, nhượng bộ nhiều lần. Năm 1872, Đồng Trị 18 tuổi, hai Thái hậu dự định cưới vợ cho Đồng Trị rồi sẽ thôi thính chính nữa.

Từ An là vợ chính thức của Hàm Phong, vốn không có con, nhưng theo phong tục Trung Hoa, Đồng Trị vẫn đối đãi với bà như là mẹ cả. Đồng Trị lại không ưa mẹ đẻ mà quý Thái hậu Từ An. Do đó mà Từ Hi ghét cả Đồng Trị lẫn Từ An. Tính cách bà lại ham quyền lực, vì vậy tự ý quyết định mọi việc, lũng đoạn cả triều đình. Đồng Trị sinh chán nản, bỏ bê triều chính, thường cùng với một vài hoạn quan ban đêm trốn ra khỏi cấm thành, đi chơi phố phường, có lần về trễ, không kịp buổi triều. Hai năm sau ông chết, sử chép là do bệnh đậu, nhưng dân gian đều cho là do bệnh hoa liễu.

Do Đồng Trị không có con, Từ Hi tìm một đứa cháu trong hoàng tộc, mới bốn tuổi, em con chú của Đồng Trị, đưa lên ngôi, lấy hiệu là Quang Tự. Cũng trong thời gian này, Thái hậu Từ An đã chết một cách bí ẩn, không một người nào hay. Tương truyền bà đã bị Từ Hi đầu độc chỉ vì bắt gặp một nhà sư trong phòng ngủ của Từ Hi. Có thuyết cho rằng, vì Từ Hy biết rằng Thái Hậu Từ An có trong tay một Di Chiếu của Hàm Phong Hoàng Đế là có thể trút phế Từ Hy bất cứ lúc nào nên Từ Hy đã ra lệnh giết Từ An. Từ Hy đã bỏ thuốc độc vào thức ăn của Từ An để bà trúng độc mà chết. Cái Di Chiếu đó chỉ có Từ An và Cung Thân Vương biết.

Quang Tự còn nhỏ tuổi bị Từ Hi quản thúc chặt chẽ quá, hóa ra khiếp nhược. Kể từ khi lên ngôi vua lúc 5 tuổi, không một người nào – ngay cả mẹ nữa – được phép lại gần, trừ mỗi một người là Từ Hi. Từ Hi “luyện vua” cho tới mức sợ bà như sợ cọp, bảo gì cũng phải nghe. Lớn lên vua Quang Tự mỗi ngày phải vào vấn an bà một lần, mà vấn an thì phải quỳ, cho phép đứng dậy mới đứng.

Thái giám Lý Liên Anh, sủng thần của Từ Hi, cũng ăn hiếp Quang Tự, đối xử vô cùng tàn nhẫn. Xuất thân là kép hát, rất đẹp trai, hát rất hay, được Từ Hi sủng ái, tới mức ông nói gì, bà ta cũng nghe, ông ta tự phụ, tự coi là ngang với bà. Đình thần sợ ông như sợ bà vậy. Hoàng đế Quang Tự cũng phải nhẫn nhịn Lý nhiều lần. Sau vụ Mậu Tuất chính biến, Quang Tự bị giam trong một phòng bẩn thỉu, ăn không được no, mặc không đủ ấm, chịu nhục nhã tới khi chết, một phần cũng là do ý của Lý.

*Cuộc vận động tự cường (1862 – 1882)

Trước chiến tranh nha phiến, Mãn Thanh tự hào là Thiên triều, xem thường các nước Tây phương là ngoại di. Sau khi liên quân Anh–Pháp tới Bắc Kinh, buộc phải ký điều ước nhục nhã với họ, nhà Thanh mới chịu nhận rằng bọn ngoại di đó mạnh hơn mình nhiều, và muốn chống cự với họ thì phải có tàu bè như họ, súng ống như họ, quân đội phải luyện tập theo lối của họ. Vài người Mãn như Cung Thân Vương, Quế Lương nghĩ đến việc tự cường, bàn với Tăng Quốc Phiên, Lý Hồng Chương, Tả Tôn Đường. Họ đồng ý với nhau rằng “muốn tự cường thì việc luyện binh là quan trọng nhất, mà muốn luyện binh thì trước hết phải chế tạo vũ khí giới”. Năm 1862, họ giao cho Lý Hồng Chương thi hành.

Tăng Quốc Phiên và Lý Hồng Chương tiếp xúc với Ung Wing, một sinh viên nghèo ở Ma Cao và là du học sinh đầu tiên ở Mỹ, do một hội truyền giáo trợ cấp, năm 1854 đậu bằng cấp Đại học Yale. Tăng Quốc Phiên phái Ung Wing qua Mỹ mua máy. Ông này thuyết phục Tăng Quốc Phiên gởi 120 thanh niên đi du học. Một số lớn qua Mỹ, ba chục người sang Anh, ba chục qua Pháp, một số nhỏ qua Đức.

Phong trào tự cường tiến chậm, chủ yếu là nhắm vào quốc phòng mà thôi, chưa phải là một cuộc cải cách lớn. Nhưng nhóm thủ cựu nổi lên phản đối, cho Lý Hồng Chương là Hán gian, theo Tây phương, làm cho Trung Quốc hóa ra di địch. Họ họp thành một phe không bao giờ bàn tới học thuật Tây phương, tự cho mình là thanh cao. Dân chúng thì đại đa số vẫn cày cấy để kiếm cơm ăn, việc nước không hề biết tới. Có một người sáng suốt là Wong Tao học giỏi chữ Hán, ngoài hai chục tuổi, trong khoảng từ 1840 đến 1860 giúp việc cho nhà in của một hội truyền giáo Anh ở Thượng Hải. Bị nghi ngờ là tiếp xúc với Thái Bình Thiên quốc, ông phải trốn qua cử nhân, giúp dịch Tứ Thư và Ngũ Kinh rồi qua ở Scotland hai năm.

Khi trở về Hồng Kông, Wong Tao xuât bản một nhật báo riêng, sau hợp tác với một tờ báo của người Anh ở Thượng Hải nữa (1872). Ông cảnh cáo nhà cầm quyền rằng công cuộc tự cường không có kết quả được vì chỉ trị ngọn chứ không trị gốc. Phải thay đổi cả chế độ mới được. Nhưng triều đình Thanh thì vẫn không chấp nhận.

*Chính biến Mậu Tuất (1898)

Sau vụ Trung Nhật chiến tranh, thấy một nước lớn như Trung Quốc mà bị một nước nhỏ xưa nay mình vẫn khinh khi là Nhật Bản đánh thua, người Trung Hoa nhận ra rằng công cuộc tự cường hơn hai chục năm không có kết quả gì cả, vũ khí không đủ để cứu nước, phải cải cách từ gốc, thay đổi chế độ, như Wang Tao đã cảnh cáo thì mới được. Họ cổ vũ canh tân chính trị, tổ chức lại điều đình, giảm phung phí trong xã hội, bỏ hệ thống khoa cử cũ, tuyển nhân tài theo cách mới… Do đó mà có cuộc vận động duy tân (đổi mới) khắp trong nước.

Hai người đề xướng là Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu, đưa ra khẩu hiệu là “toàn biến, tốc biến” (thay đổi triệt để và mau). Lương Khải Siêu làm đại biểu cho một nhóm 190 cử nhân Quảng Đông lên kinh thi, dâng thư lên triều đình bàn về thời cuộc. Khang Hữu Vi cùng nhóm 3.000 cử nhân khác dâng thư xin biến pháp. Rồi hai nhóm họp làm một. Kể từ thế kỷ 12 đời Nam Tống (trên bảy thế kỷ), bây giờ mới lại thấy một phong trào học sinh dâng thỉnh nguyện lên vua. Lần này, thỉnh nguyện của nhóm Khang, Lương không được chấp nhận.

Năm 1896, Khang Hữu Vi lần nữa dâng thư xin biến pháp. Lần này ông đạt được đến Quang Tự nhờ một vị đại thần, thầy học cũ của Quang Tự.

Quang Tự lúc này đã thực sự cầm quyền (từ năm 1889); Thái hậu Từ Hi lui về nghỉ ở Di Hòa viên, dĩ nhiên vẫn theo dõi hành động của ông. Ông tuy e sợ “Phật bà” – Từ Hi – nhưng sáng suốt, nhiệt tâm muốn cứu Trung Quốc, cho mời Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu lên kinh bàn việc nước. Ông tiếp Khang, Lương suốt một buổi, phong cho họ chức tước để cùng mưu việc biến pháp.

Đề nghị nào họ đưa ra Quang Tự cũng chấp nhận hết: cải cách việc triều đình cho mới mẻ, bỏ lối văn bát cổ trong các khoa thi mà lấy môn luận về thời vụ thay vào, lập học hiệu, khuyến khích kẻ viết sách mới và kẻ chế khí cụ mới, bỏ những nha thự ít việc, luyện tập quân đội theo lối mới, trù lập ngân hàng, làm đường xe lửa, khai mỏ, mở nông và công nghiệp, lập hội buôn, mỏ rộng đường ngôn luận, cầu nhân tài… Trong khoảng chưa đầy ba tháng, hơn một trăm đạo chiếu được ban ra, làm cho cả trong triều lẫn ngoài tỉnh xôn xao. Đúng là “toàn biến” và “tốc biến”.

Khang Hữu Vi biết rằng nhóm cựu thần tất phản đối, nên khuyên vua đừng vội bỏ hết các nha môn, mà giữ họ lại, phong đất cho họ để không mất lộc. Nhưng vị “Phật bà” ở Di Hòa Viên hay biết, có ác cảm với biến pháp. Bà bổ nhiệm một người cùng phe bà là Vinh Lộc, tổng đốc Trực Lệ, chỉ huy quân đội ở thủ đô để củng cố thế lực của bà. Vua Quang Tự cương quyết, bảo: “Không cho ra biến pháp thì giết ta còn hơn”.

Đàm Tự Đồng thấy Từ Hi cản trở công cuộc đổi mới, khuyên Quang Tự đoạt lại chính quyền. Quang Tự nghe lời, triệu Viên Thế Khải, (học trò của Lý Hồng Chương trong việc đào tạo quân đội) lúc đó đang thống lĩnh 7.000 quân tâm phúc, về Bắc Kinh bàn việc, có ý dùng quân của Viên để bao vây Di Hòa Viên.

Chẳng may việc đó bị tiết lộ (chính Viên phản vua, vì thấy Từ Hi còn mạnh). Từ Hi hay được, vội vàng từ Di Hòa Viên trở về Bắc Kinh, họp Quang Tự và các đại thần lại, bắt Quang Tự quỳ một bên, các đại thần quỳ một bên, trừng mắt, lớn tiếng mắng Quang Tự một cách tàn nhẫn: “Thiên hạ này là thiên hạ của tổ tiên, mày sao dám tự ý làm bậy? Các quan đây đều do tao tuyển dụng trong nhiều năm để họ giúp mày, mày sao dám tự ý không dùng người ta?…” Rồi bà quay sang phía các đại thần mắng là bất lực, không tận tâm với quốc sự…

*Làm Phụ chính lần thứ hai

Sau cùng, năm 1889, Từ Hi tuyên bố rằng Quang Tự đau, bà phải thính chính trở lại, và đem giam Quang Tự ở Doanh Đài, trong hồ Tây Uyển. Vậy là cuộc biến pháp thành cuộc chính biến.

Bà ban lệnh cấm dân dâng thư, phế bỏ cục Quan Báo, đình chỉ việc lập học hiệu trung, tiểu ở các tỉnh, các huyện; dùng lại lối văn tám vế để lựa kẻ sĩ, bỏ khoa thi đặc biệt về kinh tế; bỏ các tổng cục nông công, thương, cấm báo quản, truy nã chủ bút, cấm hội họp, dùng lại các vũ khí cung đao…; tóm lại là chỉ trong một hai tuần toàn hủy, tốc hủy các canh tân của Quang Tự. Sử gọi vụ đó là “Chính biến Mậu Tuất” (1898); cũng gọi là vụ “Duy tân 100 ngày”.

Khang Hữu Vi hay tin trước, bỏ trốn. Lương Khải Siêu, sau khi việc xảy ra, mới trốn qua Nhật. Đàm Tự Đồng không chịu trốn, muốn lấy máu mình nuôi cách mạng, nên bị giết với năm người nữa: Khang Quảng Nhân, (em Khang Hữu Vi) Lưu Quang Đệ, Lâm Húc, Dương Nhuệ, Dương Thâm Tú.

Khang Hữu Vi ở Nhật lập đảng Bảo hoàng mong lật đổ Từ Hi, phò trợ Quang Tự lên cầm quyền; Lương Khai Siêu xuất bản tờ báo Thanh Nghị mạt sát Từ Hi.

Từ Hi xin Anh, Nhật giao Khang Hữu Vi và Lương Khai Siêu cho bà, nhưng họ không nghe, còn bảo vệ cho hai người mà họ coi là phạm nhân chính trị. Từ Hi còn muốn bắt Quang Tự thoái vị để đưa một người khác lên, sai người cho dò ý công sứ các nước, họ đều phản đối. Hoa kiều ở hải ngoại đánh điện về ủng hộ Quang Tự, Từ Hi càng ghét ngoại nhân đã mớm cho Trung Hoa những ý tưởng phản động: hiến pháp, dân chủ…

Thái giám Liên Anh rất ghét nhóm Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu mà Quang Tự trông cậy để đổi mới Trung Quốc. Cũng chính Lý Liên Anh khuyên Từ Hi dùng quyền phỉ để diệt người da trắng, do đó mà liên quân tám nước (Bát Quốc Liên Quân) vào phá Bắc Kinh. Chính vì sự tấn công này mà triều đình nhà Thanh phải ký hòa ước Tân Sửu nhục nhã với liệt cường năm 1901.

*Dự bị lập hiến (1902 – 1908)

Sau hòa ước nhục nhã Tân Sửu (1901), Từ Hi bị dân chúng vạch tội, muốn mua chuộc lại lòng dân, mới chỉnh sửa đổi chính sách, bao nhiêu sắc lệnh biến pháp của Quang Tự mà năm 1898, bà hủy bỏ thì bây giờ thực hiện hết, lại lập nhiều cơ quan mới như hội nghị chính vụ xứ, thượng bộ, học bộ, luyện tân quân, chấn hưng công, thương.

Khanh Hữu Vi ghét Từ Hi nhưng vẫn chưa oán người Thanh, lập Đảng Bảo hoàng, hy vọng nơi Quang Tự, nhưng tư tưởng ông hơi thay đổi, đòi quân chủ lập hiến; Lương Khải Siêu cũng hậu thuẫn ông.

Năm 1905, dân Trung Hoa thấy Nhật theo chế độ quân chủ lập hiến mà mạnh, thắng được Nga theo chế độ quân chủ chuyên chế, nên càng tin ở chế độ lập hiến, và đòi Thanh đình phải lập hiến, chứ chỉ sửa đổi chính sách (Thanh đình gọi là Tân Chính: Chính sách mới) chỉ duy tân thì không đủ. Ngay một số đại thần Hán trung với Thanh như Trương Chi Động, Viên Thế Khải cũng chủ trương lập hiến. Phong trào lập hiến sôi nổi trong nước.

Từ Hi bất đắc dĩ phải phái năm đại thần đi Nhật, Anh, Đức để khảo sát chế độ lập hiến của ba quốc gia đó.

Năm sau, họ trở về đều chủ trương lập hiến. Từ Hi xuống dụ: “Trước hết cải cách quan chế rồi đến chính trị, khiến sĩ dân hiểu rõ quốc chính để dự bị cơ sở cho việc lập hiến, vài năm sau, xét lại tình hình, xem tiến bộ mau chóng mà định kỳ hạn xa gần.”

Rồi triều đình sửa đổi quan chế: đặt ra Tư chính viện ở kinh sư, Tư nghị cuộc ở các tỉnh để làm cơ sở cho Quốc hội và Tỉnh nghị hội, lập thẩm kê viện, thẩm phán sảnh, ban bố Hình luật mới…, nhưng một số biện pháp không thực hành được, có danh mà không thực.

Triều đình lại hạ chiếu lập một nội các mới bề ngoài có vẻ tiến bộ mà sự thực chỉ là để phá nguyên tắc Mãn và Hán ngang nhau, vì trong số 12 thượng thư chỉ có 4 người Hán, 1 người Mãn, 2 thị lang Mãn, 2 thị lang Hán), còn 8 người kia là Mãn, mà 5 người là hoàng tộc; vì vậy người Trung Hoa gọi nội các đó là nội các hoàng tộc.

Sau cùng, năm 1908, triều đình ban bố Hiến pháp đại cương gồm 15 điều mà điều số 1 là: Hoàng đế Đại Thanh thống trị Đế quốc Đại Thanh, nối tiếp nhau tới vạn đời, và điều số 2 là: Hoàng đế tôn nghiêm như thần, thánh, bất khả xâm phạm. Nội dung là quyền vua rất lớn, quyền dân rất ít, nghị viện chỉ là một cơ quan tư vấn. Họ dự bị 9 năm sau mới hoàn thành hiến pháp. Có ý kiến nghi ngờ thực tâm muốn lập hiến theo đường lối dân chủ.

Trong năm đó, sau khi ban bố Hiến pháp đại cương thì Quang Tự chết trước rồi Từ Hi chết sau, chỉ cách nhau có mấy giờ. Dân chúng ngờ rằng Từ Hi biết mình sắp chết, không muốn cho Quang Tự sống nên đầu độc Quang Tự.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Mỹ nhân Trung Hoa

SAO THIÊN SỨ - THIÊN THƯƠNG TRONG TỬ VI

thiên sứ (Thủy) thiên thương (Thổ) *** Hai sao này đóng ở vị trí cố định: Sứ đóng ở cung Tật, Thương đóng ở ...
SAO THIÊN SỨ - THIÊN THƯƠNG TRONG TỬ VI

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

thiên sứ (Thủy) thiên thương (Thổ) 


***
Hai sao này đóng ở vị trí cố định: Sứ đóng ở cung Tật, Thương đóng ở cung Nô. Cả hai đều là hung tinh, chỉ dùng để xem hạn, đặc  biệt là tiểu hạn, chứ không có ý nghĩa lắm trên toàn cuộc đời.  Thành thử, bao giờ cần giải đoán vận hạn, thì mới nên lưu ý đến vị trí và sự hội tụ của Thương Sứ với các sao khác.

1. Ý nghĩa của thương, sứ:             - buồn thảm             - xui xẻo, không may, ngăn trở mọi công việc             - mang lại tang thương, bệnh tật, tai họa

2. Ý nghĩa của thương, sứ ở cung hạn:
Thương Xương hay Khúc: tác họa khủng khiếp, có thể chết non nếu 2 hạn cùng xấu.
Thương, Sứ, Kình, Hỏa, Riêu, Cự: hại của, hại người
Thương, Sứ: hay ốm đau (Sứ), hay rắc rối vì bạn
Sứ, Cơ, Cự, Hình: kiện tụng
Sứ, Tuế: chết nếu đại hạn xấu
Sứ, Thiên Không, Lưu Kình đồng chiếu vào hạn: chết
Sứ, Tang Hổ: có tang. Tại cung nào, tang có thể xảy ra cho người đó.
Sứ ở Tý, Kình Đà, Tuế vào nhị hạn : chết
-  Sứ gặp Lục Sát: chết
Thương Sứ ở Tý, Dần: độc
Sứ, Kình, Đà: dữ (Tử, Đồng, Lương giải được)
Sứ Xương: khoa trường, thi cử lận đận
Thiên Thương, Thiên Hình: bị đánh
Thiên Thương, Tang Môn: có tang, có sự biến đổi phi thường
Thương, Khốc: thi cử lận đận.
Năm hạn mà gặp 2 sao này thì không chết cũng nguy mạng, nếu thiếu sao giải đủ mạnh.             - họa sẽ đến mau nếu Thiên Sứ ở Dần, Thân, Tỵ, Hợi             - họa sẽ đến thật mau nếu:                         + Thiên Thương ở Sửu, Mão, Thìn, Dậu, Tuất                         + Thiên Sứ ở Tý, Mão, Thìn, Ngọ, Mùi

3. những sao giải thương, sứ:
a. Chính tinh: Tử, Phủ, Lương, Đồng
b. Bàng tinh: - Khoa, Lộc, Tả, Hữu, Quang Quý, Khôi Việt                         - Thiên Giải, Địa Giải, Giải Thần                         - Thiên Quan, Thiên Phúc                         -  Tuần, Triệt
c. Cung phúc tốt: Ngoài ra, nếu Phúc có nhiều sao tốt và mạnh thì sẽ chế giải khá mạnh và toàn diện.
Việc chế giải ở đây không có nghĩa là sự việc đó hoàn toàn không xảy đến mà là nếu có đến, chuyện chẳng may đó không tác họa đúng mức, nếu gặp sao giải hiệu lực.

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: SAO THIÊN SỨ - THIÊN THƯƠNG TRONG TỬ VI

Hợp tác kinh doanh của người tuổi Ngọ

Người tuổi Ngọ và tuổi Tý không nên hợp tác kinh doanh vì hai tuổi này xung khắc, áp chế lẫn nhau.
Hợp tác kinh doanh của người tuổi Ngọ

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Người tuổi Ngọ và tuổi Tý không nên hợp tác kinh doanh vì hai tuổi này xung khắc, áp chế lẫn nhau.

Người tuổi Ngọ và tuổi Sửu hợp tác tương đối ăn ý. Họ đều cố gắng hết sức để xây dựng cho sự nghiệp chung giúp cho việc kinh doanh phát triển thuận lợi.

Người tuổi Ngọ và tuổi Dần có thể hợp tác. Hai bên đều có ý tưởng của riêng mình. Họ cũng biết hướng đến công việc chung nên có thể gắn bó chặt chẽ với nhau.

Người tuổi Ngọ và tuổi Mão có thể hợp tác. Mèo thích quậy phá nhưng ngựa lại biết tự chăm sóc mình.

Người tuổi Ngọ và tuổi Thìn có thể hợp tác trong thời gian ngắn. Nếu hợp tác lâu dài đôi bên sẽ nảy sinh mâu thuẫn. Họ cũng không thể chung sức gánh vác công việc lớn.

Người tuổi Ngọ và tuổi Tỵ hợp tác ăn ý nhất. Hai bên đều có nhiệt huyết với sự nghiệp. Tuổi Tỵ giỏi tính toán, tuổi Ngọ cần cù, chịu khó, đôi bên hợp tác nhất định sẽ thành công.

(Ảnh chỉ mang tính chất minh họa)

Người tuổi Ngọ và tuổi Ngọ không dễ hợp tác vì họ không hợp tính cách của nhau.

Người tuổi Ngọ và tuổi Mùi hợp tác khá mạo hiểm. Mặc dù ngựa có tài nhưng khi hợp tác với dê sẽ gặp rủi ro.

Người tuổi Ngọ và tuổi Thân khó hợp tác kinh doanh. Ngựa biết mình sẽ thiệt thòi nên không chọn khỉ để hợp tác. Khỉ thông minh nhưng cũng không chi phối được ngựa.

Người tuổi Ngọ và tuổi Dậu có thể hợp tác. Tuy nhiên, người tuổi Dậu không nên dựa dẫm quá nhiều vào tuổi Ngọ. Nếu người tuổi Ngọ thấy được sự lười biếng của tuổi Dậu, hợp tác sẽ chấm dứt.

Người tuổi Ngọ và tuổi Tuất hợp tác khá vui vẻ. Song, hai bên thường có những cải tiến trong công việc nên kế hoạch thường xuyên thay đổi.

Người tuổi Ngọ và tuổi Hợi khó hợp tác thân thiết trong sự nghiệp. Cả hai đều có ý tưởng riêng và xu hướng thích đi xa mà không đồng nhất được quan điểm.

(Theo Bách khoa toàn thư 12 con giáp)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Hợp tác kinh doanh của người tuổi Ngọ

Bàn chân của tỉ phú có điều gì khác biệt? - Nhân tướng - Xem Tử Vi

Bàn chân của tỉ phú có điều gì khác biệt?, Nhân tướng, Xem Tử Vi, xem bói, xem tử vi Bàn chân của tỉ phú có điều gì khác biệt?, tu vi Bàn chân của tỉ phú có điều gì khác biệt?, tu vi Nhân tướng

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Bàn chân của tỉ phú có điều gì khác biệt?

Những người nhiều tiền của thường có tướng bàn chân khác biệt so với người bình thường. Dưới đây là những sự khác biệt đó.

1. Ngón chân thứ hai dài hơn ngón chân cái

Ban chan cua ti phu co dieu gi khac biet hinh anh
 

Trong nhân tướng học gọi đây là kiểu tướng chân Hy Lạp. Từ xa xưa, các vị vua chúa cổ đại hay những người nắm giữa vị trí cao trong xã hội đa phần đều có kiểu chân với ngón chân thứ hai nổi trội, dài hơn tất cả những ngón chân khác. Chủ nhân của tướng chân này là người quyết đoán, có khả năng lãnh đạo tốt, tinh thần trách nhiệm cao, kể cả trong công việc và cuộc sống.

Hơn thế, người này tính tình sôi nổi, lúc nào cũng căng tràn sức sống nên dỡ trở thành trung tâm của mọi sự chú ý. Nhờ những mối quan hệ hài hòa, họ dễ dàng đạt được thành công hơn so với người khác.

2. Ngón chân cái, ngón thứ hai và ba bằng nhau

Độ dài ba ngón chân cái, thứ hai và thứ ba bằng nhau được gọi là kiểu chân La Mã. Người có tướng chân này tính tình hài hòa, hướng ngoại, dễ được mọi người yêu mến. Ngoài ra, người này có tính cách độc lập, tự tin vào bản thân, ghét phải phụ thuộc vào người khác nên lúc nào cũng cố gắng để tìm kiếm con đường phát triển của riêng mình.

Bên cạnh đó, người này còn có số khởi nghiệp sớm, ban đầu gặp không ít khó khăn, trở ngại nhưng cuối cùng thành công rực rỡ, hưởng cuộc sống vinh hoa phú quý.

Ban chan cua ti phu co dieu gi khac biet hinh anh
 

3. Ngón chân cái dài nhất

Kiểu chân này còn được gọi là chân Ai Cập. 5 ngón của bàn chân hình thành một cái dốc với đỉnh dốc là ngón chân cái.

Chủ nhân kiểu chân này có cá tính mạnh mẽ, tự tin vào bản thân nhưng đôi khi thái quá trở thành kiêu căng, ngạo mạn. Tuy nhiên, khi đã quyết tâm làm việc gì họ sẽ nỗ lực tới cùng. Do đó, đây cũng là một trong tướng chân của người giàu có, không phải lo lắng nhiều về vật chất.

4. Đặc điểm móng chân

Những người có móng chân hình tròn, trơn bóng, sắc hồng hào thường có số giàu sang phú quý. Đặc biệt nếu là nữ giới thì có mệnh làm phu nhân, không những được hưởng tiền bạc từ chồng mà còn có kẻ hầu người hạ để sai khiến. Nếu cộng thêm đặc điểm móng chân cụp xuống dưới càng chứng tỏ người này giàu sang, có thể trở thành tỉ phú.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Bàn chân của tỉ phú có điều gì khác biệt? - Nhân tướng - Xem Tử Vi

Văn Khấn Tân gia (Cáo yết Táo quân Thổ thần)

Văn Khấn Tân gia (Cáo yết Táo quân Thổ thần) dùng sau lễ Nhập trạch, dọn về nhà mới, gia chủ phải làm lễ Tân Gia, thường được tổ chức long trọng
Văn Khấn Tân gia (Cáo yết Táo quân Thổ thần)

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Văn Khấn Tân gia (Cáo yết Táo quân Thổ thần) dùng sau lễ Nhập trạch. Theo tục xưa sau lễ Nhập trạch dọn về nhà mới, gia chủ phải làm lễ Tân Gia. Lễ Tân Gia thường được tổ chức Long trọng.

Sắm lễ cúng Tân gia (Cáo yết Táo quân Thổ thần)

Trước tiên dâng lễ: Hương, hoa, vàng mã, trầu, rượu và mâm cỗ mặn thịnh soạn để cúng Táo quân, Thổ thần, Gia Tiên.

Tiếp đó mời: bạn bè, họ hàng, người thân, hàng xóm đến dự lễ Tân Gia- ăn mừng nhà mới. Những người được mời thường mang lễ vật đến như: các bức đại tự, câu đối, trầu cau, quà kỷ niệm… và nói lời chúc mừng gia chủ.

Văn Khấn Tân gia (Cáo yết Táo quân Thổ thần)

– Văn khấn yết cáo Táo quân Thổ thần
Con lạy chín phương trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.
Hôm nay là ngày…. tháng………. năm ………..
Tại thôn……. xã…… huyện…….. tỉnh………..
Tín chủ con là ……….
Thành tâm sắm lễ, quả cau lá trầu, hương hoa trà quả, thắp nén tâm hương dâng lên truởc án toạ Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân. Kính cẩn tâu rằng:
Ngài giữ ngôi nam thái
Trừ tai cứu hoạ, bảo vệ dân lành
Nay bản gia hoàn tất công trình
Chọn ngày lành gia đình nhóm lửa
Nhân lễ khánh hạ, kính cẩn tâu trình:
Cầu xin gia đình, an ninh khang thái
Làm ăn tấn tới, tài lộc dồi dào
Cửa rộng nhà cao, trong êm ngoài ấm
Vợ chồng hoà thuận, con cháu sum vầy
Cúi nhờ ân đức cao dày
Đoái thương phù trì bảo hộ.
Chúng con lễ bạc têm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ bảo trì


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Văn Khấn Tân gia (Cáo yết Táo quân Thổ thần)

Những điều kiêng kị ở đầu giường ngủ –

Có những người thường hay bị khó hoặc mất ngủ hoặc bị bệnh tật triền miên. Khi đến các bệnh viện để khám, bác sĩ không chỉ ra được nguyên nhân. Trong những trường hợp này bạn nên kiểm tra đầu giường của mình, kê giường cần loại bỏ những điều kiêng kỵ
Những điều kiêng kị ở đầu giường ngủ –

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

trong phong thủy nhà ở dưới đây.

giuongngu Những điều kiêng kị ở đầu giường ngủ

Nếu đầu giường của bạn không được kê sát vào tường hoặc tủ quần áo sẽ hình thành thế không điểm tựa được gọi là điềm “hung cô đơn”. Lúc này bạn sẽ không được quý nhân phù trợ, dễ phát sinh những tiêu cực và thường có cảm giác cô đơn, trống trải, uể oải trong mọi công việc.

Nếu giường kê trong phòng ngay phía dưới dầm ngang sẽ hình thành cảm giác như luôn bị đè nén, trong phong thủy nhà ở gọi là “hung hình”. Dầm ngang nằm bất kỳ bên trên vị trí nào của giường đều có ảnh hưởng không ít thì nhiều tới sức khỏe. Nếu dầm ngang vắt ngang qua đầu giường sẽ làm bạn luôn trong trạng thái nhức đầu và đồng thời tính tình của bạn cũng như trở nên khô khan hơn. Bạn cần di dời giường tới một vị trí khác không có dầm chạy qua hoặc sử dụng trần giả che lấp dầm ngang.

vi tri ke giuong hop phong thuy Những điều kiêng kị ở đầu giường ngủ


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Những điều kiêng kị ở đầu giường ngủ –

Ngón cái có 4 lóng thì có ý nghĩa gì?

Các nhà nhân tướng học chỉ cần dựa vào lòng bàn tay và các ngón tay cũng có thể phán đoán được tài năng và khả năng của con người. Nếu ngón tay cái có 4 lóng hay bạn có thể biết được người thân của mình có ngón tay cái có 4 lóng.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Các nhà nhân tướng học chỉ cần dựa vào lòng bàn tay và các ngón tay cũng có thể phán đoán được tài năng và khả năng của con người. Nếu ngón tay cái có 4 lóng hay bạn có thể biết được người thân của mình có ngón tay cái có 4 lóng. Vậy ý nghĩa của hiện tượng đó là gì? Bài viết dưới đây, ## sẽ giới thiệu tới bạn ý nghĩa của ngón cái có 4 lóng.

Ngón cái có 4 lóng thì có ý nghĩa gì?

Bạn Huyền cần hỏi: “Tất cả các các ngón tay của em đều khá dài và nhất là ngón cái có 4 lóng. Điều đó có ý nghĩa là gì ạ? Em xin cảm ơn!”

Trả lời:

Thông thường rất ít người ngón cái có 4 lóng, nhất là với bạn có 4 lóng rõ ràng. Càng rõ ràng. thì ý nghĩa của nó cũng tăng lên. Ý nghĩa của những người có 4 lóng tay là sự nổi bật, sự nổi tiếng hay sự hơn người của họ. Nói chung, họ luôn nổi bật hơn những người xung quanh. Ví dụ bạn có thể là một đầu bếp nổi tiếng, bạn có thể là một nghệ sĩ được nhiều người biết đến, hoặc cũng có thể nổi bật theo chiều hướng ngược lại. Ví dụ như bạn có thể là một học sinh cá biệt, hay một con nợ,....

Trên đây là ý nghĩa của việc bạn có ngón cái có 4 lóng tay. Để tham khảo thêm những bài viết khác, bạn có thể tìm hiểu tại đây:

Ý nghĩa của móng tay hình bán nguyệt

Đoán tính cách qua độ dài các ngón tay

Những đường chỉ tay cơ bản và đường chỉ tay hiếm

+ Xem bói chỉ tay đoán vận mệnh, tình yêu của bạn


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Ngón cái có 4 lóng thì có ý nghĩa gì?

Xem tử vi tháng 4 của người tuổi Dậu

Tử vi tháng 4 của người tuổi Dậu có địa chi Tỵ Dậu Sửu tam hợp trường sinh vị. Vậy nên người này sẽ nhận được động lực không ngừng.
Xem tử vi tháng 4 của người tuổi Dậu

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

- Tử vi tháng 4 của người tuổi Dậu có địa chi Tỵ Dậu Sửu tam hợp trường sinh vị. Vậy nên người này sẽ nhận được động lực không ngừng, tài lộc hưng thịnh quan hệ xã giao thuận lợi. 
 

=> Xem thêm: Tử vi trọn đời theo ngày tháng năm sinh

tu vi thang 4 cua nguoi tuoi Dau hinh anh goc
 
TỴ DẬU SỬU TRƯỜNG SINH VỊ   Đây sẽ là tháng tốt nhất của người tuổi Dậu, địa chi Tỵ Dậu Sửu tam hợp trường sinh vị. Vậy nên người này sẽ nhận được động lực không ngừng, tài lộc hưng thịnh quan hệ xã giao thuận lợi. Chuyện tình cảm thì khó mà cảm thông cho nhau, hay cãi cọ.  
tu vi thang 4 cua nguoi tuoi Dau hinh anh goc 2
 
SỰ NGHIỆP    Vận công việc của người tuổi Dậu phát triển rất thuận lợi, có quý nhân nâng đỡ. Khi đã đạt được thành tích tốt, nên học cách khiêm tốn, chủ động tiếp nhận các công việc khó khăn hơn nữa. Như vậy lãnh đạo ủng hộ, thăng chức tăng lương không còn xa nữa. Giữa tháng, có người tham mưu cho bạn về công việc, tuy nhiên chỉ nên tham khảo những thông tin cần thiết.   
tu vi thang 4 cua nguoi tuoi Dau hinh anh goc 3
 
TÀI LỘC    Trong tháng 4, người tuổi Dậu có nhiều cơ hội kiếm tiền, hãy nhanh chóng nắm bắt. Vì Tỵ Hỏa đốt Dậu Kim, chưa kể quan hệ Tỵ Dậu Sửu trường sinh vị, đây là cơ hội tốt cho những người muốn làm việc lớn. Với người làm công ăn lương, nếu muốn tăng cơ hội kiếm tiền, có thể bán đi một số bất động sản có giá trị để đầu tư phát triển sự nghiệp, thậm chí từ bỏ công việc đang làm để tìm kiếm sự mạo hiểm mới, tỉ lệ thành công khá cao.   TÌNH CẢM    Chuyện tình cảm không lý tưởng, mâu thuẫn vẫn nảy sinh nhưng nó sẽ không là gì nếu bạn kịp thời hóa giải hiểu nhầm. Vận đào hoa của người độc thân tốt, cơ hội tiếp nhận tình cảm mới không phải là ít. Tuy nhiên bạn không nên để những lời đường mật làm mờ mắt. Người có gia đình nên học cách đồng cảm với những áp lực mà nửa kia phải chịu đựng. Lúc nóng giận không nên nói lời chia ly, hãy nghĩ về con cái.    SỨC KHỎE   Người tuổi Dậu dễ bị thương bởi tác động ngoại lực, các bệnh tật thường bắt nguồn từ bệnh mãn tính. Vì vậy cần phải lưu ý tới các vấn đề về sức khỏe, dưỡng sinh mọi lúc mọi nơi. Người già và trẻ nhỏ nên tránh xa đồ ngọt, bệnh sâu răng và tiểu đường đang có nguy cơ bùng phát.   Nhìn chung, dù ảnh hưởng bởi quan hệ Tỷ Kiếp đoạt tài, nhưng quan hệ bán hợp Kim cục vẫn đem tới một vận trình tốt đẹp dành cho người tuổi Dậu. Dù công việc vẫn gặp khó khăn nhưng nhờ quý nhân mà sự nghiệp luôn thuận lợi. Hãy tạo ra các mối quan hệ hữu hảo, ắt có lợi cho bản thân.
 
 
tu vi thang 4 cua nguoi tuoi Dau hinh anh goc 4
 
Lichngaytot.com

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Xem tử vi tháng 4 của người tuổi Dậu

Cách xếp Trụ Ngày

Trụ ngày tức ngàyngười đó sinh ra theo can chi âm lịch. Can chi ngày cũng có vòng tuần hoàn theo60 ngày. Vì có tháng đủ, tháng thiếu và tháng nhuận, nên muốn tìm can chi ngàyphải tra trong lịch vạn niên. Trong dân gian, người mù thường dùng bài catruyền miệng đơn giản để tìm ra can ngày khi đoán mệnh. Trong cuốn sách “Nhậpmôn Chu dịch dự đoán học”, tôi cũng đã từng giới thiệu bảng tra can chi ngàytheo ngày giáp tí và cách lấy số tuổi của đại vận. Ngoài ra còn có một sốphương pháp khác. Vì có liên quan đến năm nhuận, nên những người mới học khôngnên mất thời gian để ghi nhớ mà nên tra sách thì nhanh hơn.
Cách xếp Trụ Ngày

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Trụ ngày trong mệnh học lấy giờ tí bắt đầu, tính thuận chiều kim đồng hồ đến giờ hợi, tức một ngày chia làm 12 giờ, mỗi giờ hai tiếng đồng hồ. Phân giới giữa ngày trước và ngày sau được lấy theo giờ tí, nói chung để đơn giản thường tính giờ tí bắt đầu từ 11 giờ đêm. Trước 11 giờ đêm là giờ hợi ngày hôm trước, sau 11 giờ đêm là giờ tí của ngày hôm sau. Trong dự đoán phải đặc biệt chú ý lập chính xác giờ sinh ở ranh giới của ngày. Rất nhiều người sinh đêm đó, nhưng vì không chú ý đã sang giờ tí hay chưa, nên không quyết định được thuộc ngày hôm trước hay ngày hôm sau. Ngoài ra cũng có một số người do không hiểu nên cứ lấy ranh giới giữa hai ngày là 12 giờ đêm. Như thế nên khi sinh trước 12 giờ đêm lại tính nhầm ngày hôm trước. Sự sai lầm đó quả thật là “sai một ly đi một dặm” , khiến cho Tứ trụ không còn là của người đó. Tổ hợp của Tứ trụ không giống nhau, kết quả sự cân bằng cũng không còn đúng nữa. Điều đó dẫn đến dự đoán không chuẩn do lấy thời gian sai. Dự đoán vốn là để tim điều tốt mà hướng tới, nhưng khi lấy sai ngày thì làm sao bảo đảm cho lời nói của minh đối với người muốn đoán được . Tuy nhiên đối với người có kỹ thuật đoán cao, có thể thông qua đoán quá khứ của người đó để thử, xác định  lại ngày giờ sinh cho chuẩn, nhưng đó lại là việc rất mất thời gian và tâm lực. Nếu đoán không tốt lại còn ảnh hưởng đến cả danh dự của mình. Cho nên nếu đã đoán thì người muốn đoán cần cố gắng cung cấp chính xác những thông tin về ngày sinh tháng đẻ.

Ngày nay ngày sinh nói chung ghi theo dương lịch. Ta có thể tra Lịch vạn niên để tìm ra can chi ngày âm lịch. Lịch vạn niên mấy năm về trước lấy 10 ngày làm một tuần. Ví dụ ngày 1  là ngày giáp dần, ngày 11 là ngày giáp tý, ngày 21 là ngày giáp tuất. Nếu sinh ngày 4 thì cách tính là giáp dần, ất mão, bính thìn và đinh mão. Mấy năm lại đây, tra Lịch vạn niên không những có thể tra được can chi năm, can chi tháng mà còn có cả can chi ngày. Trong điều kiện không có Lịch vạn niên thì vẫn phải cố gắng nắm được phương pháp tính trên bàn tay kết hợp với các bài ca truyền miệng.




Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Cách xếp Trụ Ngày

Tìm may mắn cho tuổi Nhâm Thân: Cuộc đời nhiều thăng trầm

Tuổi Nhâm Thân (mệnh Kim, sinh năm 1932, 1992) cuộc đời thăng trầm, tiền vận, trung vận gặp nhiều khó khăn, buồn tủi, nhờ may mắn được người thân giúp đỡ.
Tìm may mắn cho tuổi Nhâm Thân: Cuộc đời nhiều thăng trầm

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tuổi Nhâm Thân (mệnh Kim, sinh năm 1932, 1992) cuộc đời thăng trầm, tiền vận, trung vận gặp nhiều khó khăn, buồn tủi, nhờ số may mắn được người thân giúp đỡ nên mọi sự cũng yên bình. Hậu vận an nhàn, phúc lộc dồi dào, hưng vượng, phú quý.

Tim may man cho tuoi Nham Than: Cuoc doi nhieu thang tram
 
Nam giới tuổi Nhâm Thân có vợ hiền lành, được mọi người yên mến. Nữ tuổi Nhâm Thân có mệnh phú quý, suốt đời hưởng lộc.

Những tuổi đại kỵ với tuổi Nhâm Thân là: Ất Hợi, Bính Tý, Nhâm Ngọ, Đinh Hợi, Mậu Tý, Canh Ngọ, Giáp Tý.

Các năm khó khăn nhất trong cuộc đời nữ Nhâm Thân là tuổi: 24, 26, 30, 33; ở nam là: 25, 28, 36, 42.

Tính cách: Là người hiền lành, ôn hòa, khôn khéo, thông minh, nhạy bén, giàu nghị lực.

Tình duyên: Tuổi Nhâm Thân tình duyên lận đận nhất là nam giới sinh vào các tháng: 5, 6, 9; nữ sinh vào các tháng: 1, 7.

Để hôn nhân hòa hợp, hạnh phúc tuổi Nhâm Thân nên kết hôn với các tuổi: Quý Dậu, Kỷ Mão, Ất Dậu.

Công danh sự nghiệp: Là người nhiều hoài bão nhưng công danh chỉ đạt được mức trung bình, từ 36 tuổi sự nghiệp phát triển mạnh.

Việc làm ăn sẽ thuận lợi, tốt đẹp nếu tuổi này kết hợp với các tuổi: Nhâm Thân, Giáp Tuất, Mậu Dần.

Tiền bạc: Tuổi Nhâm Thân thời trẻ tiền bạc bất ổn, thu nhiều, tiêu nhiều. Trung vận, hậu vận tiền bạc dồi dào, giàu sang phú quý.

Nữ Nhâm Thân số may mắn về tiền bạc, suốt đời sung túc, giàu sang.

Mời bạn đọc xem thêm bài viết:
Giải mã vận mệnh người tuổi Nhâm Thân theo Lục thập Hoa giáp

(Theo 12 con giáp, tính cách con người qua năm sinh)


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tìm may mắn cho tuổi Nhâm Thân: Cuộc đời nhiều thăng trầm

Sim số đẹp và Sim phong thủy hợp tuổi

Vì sao ai cũng mong muốn mình sở hữu được một sim số đẹp. Nhận biết thế nào là sim đẹp theo kinh dịch và sim phong thủy có hợp tuổi với mệnh của bạn không

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Vì sao ai cũng mong muốn mình sở hữu được một sim số đẹp?

Trong cuộc sống hiện đại ngày nay chiếc điện thoại đã ngày càng trở nên gắn bó và thân thiết với mỗi chúng ta hơn, là công cụ kết nối với thế giới xung quanh, kết nối với bạn bè người thân đối tác kinh doanh, đồng nghiệp. Số sim điện thoại của mỗi người giờ đây cũng đóng vai trò như cái tên của mỗi chúng ta, nó đại diện cho chủ nhân của chiếc điện thoại vậy, với tầm quan trọng của nó như vậy nên ai cũng mong muốn mình sở hữu một sim số đẹp.

Những quan niệm về sim số đẹp

Mọi người vẫn thường nghe nhắc đến các từ như sim tam hoa, sim tứ quý, sim ngũ quý và nhiều loại sim số khác... chúng thường có giá trị lên đến cả chục triệu hay đặc biệt hơn đến cả trăm triệu. Còn bình thường hơn thì mọi người hay sử dụng đến các số thần tài 39, 79, rồi số lộc phát (68), phát lộc (86) hay nhất lộc phát (168) có giá từ vài trăm cho đến vài triệu.

sim số đẹp

Vậy các số sim trên có thực sự đẹp cho người dùng, đấy là điều khó xác định, nhưng để sở hữu những số như vậy thì không phải ai cũng dễ dàng sở hữu được. Có những người mua được những số sim đẹp trên thì thấy mọi người cũng nể trọng mình hơn, làm ăn giao dịch cũngg may mắn hơn, nhưng cũng có nhiều người lại thấy mình không thay đổi gì cả, lại có cả những người từ khi sử dụng các sim đẹp trên lại còn thấy vận khí của mình xấu đi.

Vậy để thấy quan niệm thế nào sim số đẹp cũng còn nhiều điều cần phải bàn luận và nghiên cứu, các số sim thường được gọi là đẹp ở trên gần như mới thể hiện được nét đẹp về mặt ngôn ngữ, nâng cao giá trị bản thân cho người sử dụng chúng. Chúng ta vẫn thường thấy ở những cuộc thi hoa hậu, người đẹp, thì việc đánh giá chọn ra đánh giá người đẹp nhất, toàn diện nhất là một điều khó khăn, trăm sự cũng tại một chữ “ĐẸP” . Với một quan điểm khác, mới mẻ hơn, có hệ thống triết lý hơn, chúng ta cùng bàn luận tìm hiểu về sim số đẹp phong thủy và sim số đẹp kinh dịch mà hay được gọi là xem bói số điện thoại.

Sim đẹp theo kinh dịch

Vậy kinh dịch là gì? Kinh dịch là một kỳ thư của văn hóa phương đông, hàm chứa trong đó là các nguyên lý biến dịch, bất dịch và giản dị, đây cũng là quy luật của vũ trụ.  Kinh dịch có vai trò vô cùng to lớn trong cuộc sống, với nhiều lĩnh vực như y học, thiên văn học, chính trị kinh tế học hay quân sự học, đặc biệt là ứng dụng trong dự đoán học với nhiều trường phái ra đời như tử vi, phong thủy, thái ất, độn giáp, bốc phệ hay tứ trụ.

Mọi sự vật tồn tại và phát triển luôn chịu sự chi phối tương tác lẫn nhau, bản thân một sự vật nào cũng hàm chứa cả hai tính âm và dương. Ứng dụng kinh dịch trong việc dự đoán học khi xem số điện thoại cũng nhằm giải mã hai điều đấy, một là tìm hiểu xem số sim đấy hàm chứa may mắn nhiều hay ít, lành hay xấu, hai là số sim điện thoại đấy tác động đến người sử dụng nó như thế nào lớn hay nhỏ. Dưới đây là một đoạn phân tích số sim đẹp theo kinh dịch mẫu:

Xem số điện thoại 0913227523 được biến đổi thành 3 quẻ như sau:

- Quẻ Chủ: Sơn Hỏa Bí, cung Cấn:

Có văn, có vẻ cũng hay.
Cũng đôi chút lợi, cũng dầy công lao.

- Quẻ Thể: Lôi Thủy Giải, cung Chấn:

Giải là giải nạn, tế nguy,
Khuôn phù đại chúng, vậy thì mới hay.
Xin đừng dở dói, múa may,
Theo nề nếp cũ, dựng gầy cơ ngơi.
Tinh hoa xưa, chẳng bỏ rời,
Ấy là may mắn, ấy thôi tốt lành.
Nếu còn việc phải thi hành,
Thời nên làm gấp, cho nhanh, cho rồi.

Quẻ Biến: Ly Vi Thủy, cung Ly:

Nương tựa chính trung, lợi lại hay,
Nhu thuận một lòng sẽ mắn may.
Ví như nuôi được con trâu cái,
Vừa khỏe, vừa ngoan, thật tốt thay.

Luận quẻ: 

“Thành công cần có thực lực” là lời chính của quẻ trong công việc của bạn, những dự định, kế hoạch mà ban định triển khai nếu xác định đủ nguồn lực thì bạn có thể tiến hành thực hiện, những công việc đã tiến hành thì cần chú trọng đến năng lực thực có, cũng như tìm cách bổ xung nâng cao thêm, có như thế thì mọi việc mới trở nên thuận lợi đối với bạn.

“Nghìn năm khó gặp, hoa nên hái thì phải hái” , hiện tại là cơ hội rất tốt cho bạn, thời cơ tốt để phát triển sự nghiệp đã đến, trở ngại đã trôi qua, khó khăn đã tan biến. Bạn cần nắm bắt lấy cơ hội này, tích cực nỗ lực hướng về phía trước, nhất định đừng do dự mà đánh mất thời cơ. Tuy vậy bạn vẫn phải rất cẩn thận, nhanh nhưng không được vội mà lại hỏng.

Lời quẻ: “Sự nghiệp hưng thịnh như mặt trời giữa trưa, tránh thái độ kiêu căng tự mãn” Quẻ này dự báo cho bạn biết tuy vận thế rất tốt, có nhiều thành công trong công việc và sự nghiệp, nhưng bạn cũng vẫn cần thận trọng, khiêm tốn tiếp thu để tránh nhận hậu quả trái ngược.

Vậy sim thế nào là sim đẹp theo dự đoán kinh dịch?

Những sim điện thoại mà hàm chứa trong nó những quẻ Kinh dịch có dự báo những điều cát lợi may mắn , điều tốt đẹp thuận lợi, có tính cân bằng âm dương, thuận sinh theo chiều phát triển của vũ trụ.

Những sim kinh dịch mà đạt được những yêu cầu như vậy chắc chắn sẽ có ảnh hưởng tích cực thuận lợi đến người sử dụng nó, và như vậy có thể coi đấy là sim số đẹp.

Các bạn có thể sử dụng tiện ích trực tuyến tra sim số đẹp của Xem Tướng chấm net để kiểm tra số điện thoại của mình.

Sim phong thủy

Khái niệm phong thủy chắc không còn xa lạ với nhiều người nữa, tính ứng dụng và hữu ích của nó trong cuộc sống đã ngày càng được minh chứng rõ nét, như ứng dụng phong thủy trong nhà cửa kiến trúc, trong kinh doanh..

Vạn vật tồn tại và phát triển đều bị tác động ảnh hưởng bởi quy luật âm dương và ngũ hành. Giữa chiếc điện thoại và bạn cũng vậy, bạn tác động vào nó và nó cũng tác động ngược lại, đôi khi ta chỉ nhìn thấy những tác động về mặt cơ học vật chất, còn tác động về những mặt khác thì ta không nhìn thấy được. Bạn sử dụng điện thoại càng nhiều thì sự tương tác của điện thoại lên bạn cũng tăng lên, ta có thể gọi nó là hệ số ảnh hưởng như trong toán học vậy.

Mỗi một con số đều tồn tại tính ngũ hành, một dãy số cũng tồn tại tính ngũ hành đại diện của dãy, một số sim cũng vậy, đều có tính ngũ hành riêng của nó, nếu bạn có một ít kiến thức về phong thủy học thì bạn cũng có thể dễ dàng tự xác định được tính ngũ hành của số sim điện thoại.

ngũ hành sinh khắc

Đặc biệt là con người cũng vậy, luôn tồn tại ngũ hành bản thể, vậy tính ngũ hành của con người được xác định như thế nào:

- Theo phong thủy học thì ngũ hành bản mệnh được xác định theo năm sinh, ví dụ như: sinh ngày 15.4.2015 thì ngũ hành bản mệnh của bạn là Sa Trung Kim. 

- Theo Tứ trụ học thì ngũ hành đại diện của bạn được xác định phức tạp hơn, người có chuyên môn cần lấy đủ ngày giờ tháng năm sinh của bạn để phân tích, so sánh độ mạnh yếu của các ngũ hành trong tứ trụ của bạn, xác định độ vượng suy của chúng để tìm ra ngũ hành tương ứng hoặc thiếu khuyết.

Trong tứ trụ học tìm ra được ngũ hành vượng suy thiếu khuyết vô cùng quan trọng, bởi con người cần đạt đến sự cân bằng điều hòa, xác định được ngũ hành thiếu khuyết hay vượng suy ta có thể tìm ra cách bổ trợ hay chế hóa nhằm giúp ta có được nhiều tốt đẹp, may mắn thuận lợi hơn, ít khó khăn bệnh tật hơn trong cuộc sống.

Vậy thế nào là một sim phong thủy được gọi là đẹp?

Những sim điện thoại mà có tính ngũ hành hợp tương sinh cho ngũ hành bản mệnh, hay bổ trợ cho hành khuyết hay tương sinh cho ngũ hành suy, chế hóa ngũ hành vượng trong tứ trụ được coi là sim phong thủy hợp tuổi.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Sim số đẹp và Sim phong thủy hợp tuổi

10 đại kị phong thủy thư phòng nên biết để tránh

Hãy kiểm tra ngay xem có đang phạm một trong mười đại kị phong thủy thư phòng dưới đây hay không. Nếu có phải nhanh chóng sửa chữa.
10 đại kị phong thủy thư phòng nên biết để tránh

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Thư phòng không phải khái niệm xa lạ với nhiều gia đình. Phòng đọc sách, phòng làm việc chính là thư phòng. Phong thủy thư phòng tốt, tự nhiên có lợi cho việc học tập, tiếp thu tri thức và thăng tiến sự nghiệp. Vì thế hãy kiểm tra ngay xem có đang phạm một trong mười đại kị phong thủy thư phòng dưới đây hay không. Nếu có phải nhanh chóng sửa chữa.  


1. Thư phòng bên trong phòng ngủ

  Đây là lỗi phong thủy thư phòng rất nặng bởi có thể thư phòng sẽ phạm phải vị trí thai thần, bất lợi cho nữ chủ nhân. Dù muốn tiết kiệm không gian hay muốn tiện lợi để làm việc xong có nghỉ ngơi luôn thì cũng không nên bố trí như vậy, ảnh hưởng tới sức khỏe, đặc biệt là khi trong nhà có phụ nữ mang thai. 

2. Bàn học, bàn làm việc đối diện cửa thư phòng


10 dai ki phong thuy thu phong nen biet de tranh
 
Bàn làm việc, bàn học bố trí chính diện với cửa là phạm thế “trùng môn”, dẫn tới thiếu tập trung. Nếu làm việc, học tập trong phòng này thì sự nghiệp không tốt, học nghiệp thụt lùi, dễ gặp tiểu nhân, bị người khác gièm pha, dòm ngó khiến mọi sự không thuận lợi như ý.   Hãy xác định bằng cách đứng ở cửa lớn của thư phòng nhìn thẳng vào bên trong, nếu thấy ngay bàn học, bàn làm việc thì nên chuyển đổi phương hướng sao cho khuất hơn hoặc dùng bình phong ngăn cách để hóa giải bớt thế hung hiểm. 
Xem thêm bài viết Giá sách phong thủy: Nhiều người phạm cấm kỵ mà không hề hay biết
 

3. Màu sắc thư phòng quá phức tạp

 

Theo nghiên cứu khoa học, màu sắc có ảnh hưởng tới sự tập trung và phát triển tư duy của con người. Còn theo phong thủy, thư phòng chỉ nên bố trí những màu trang nhã, nhẹ nhàng, tránh những màu quá phức tạp, rực rỡ hoặc quá âm trầm sẽ gây bất lợi cho sự nghiệp, học nghiệp.   Các màu sắc được ưu tiên là xanh nhạt, vàng nhạt, hồng phấn, xanh lá,… Bố cục, phối màu trong phòng cũng nên theo hướng tự nhiên, đơn giản, tiết chế khoảng 2 tới 3 màu là đủ, không nên quá nhiều.   

4. Bàn học, bàn làm việc dựa vào cửa thư phòng

  Đại kị phong thủy thư phòng là sắp xếp bàn quay lưng ra cửa, không những khiến người ngồi làm việc, học tập cảm thấy bất an, thiếu tự tin, không được cấp trên, thầy cô coi trọng, đề bạt. Hơn nữa, cách bố trí như thế này còn đặc biệt có hại cho tinh thần và thu hút tiểu nhân quấy nhiễu.  

5. Trong thư phòng có nhà vệ sinh

  Để tiện lợi, nhiều người bố trí nhà vệ sinh trong thư phòng mà không biết rằng như vậy rất không hợp phong thủy. Thư phòng không thể ẩn chứa nơi có nhiều uế khí, trọc khí như nhà vệ sinh. Điều đó khiến mai một sự thông minh tài trí của chủ nhân đồng thời có ảnh hưởng không tốt tới sức khỏe.   

6. Thư phòng bày nhiều thiết bị điện


loi phong thuy thu phong
 
Đồ điện có từ trường lớn, có thể dẫn tới đau đầu, mất tập trung nên tốt nhất là không nên bày ở thư phòng. Tủ lạnh, ti vi đều là những vật không tốt, nếu có chỉ nên máy vi tính phục vụ học tập, làm việc mà thôi.
Xem thêm bài viết Xác định Văn Xương vị năm 2017 để sự nghiệp thành công
 

7. Bàn học, bàn làm việc sát cửa sổ, ở trung cung

  Bàn học, bàn làm việc kê sát cửa sổ tạo cảm giác vô vọng, bất an và làm chủ nhân mất tập trung, dễ bị nhiễu loạn do ảnh hưởng từ bên ngoài. Bàn học, bàn làm việc ở trung cung – vị trí trung tâm phòng thì bốn phía không có chỗ dựa, đại biểu tứ cố vô thân, bất kể là công việc hay học tập đều rất gian nan, không nổi bật.   

8. Thư phòng có xà ngang áp đỉnh

  Xà ngang áp đỉnh trong thư phòng khiến tinh thần uể oải, áp lực, lúc nào cũng bị chèn ép, không thể tiến lên. Điều này chẳng những không tốt cho sự nghiệp, học nghiệp mà còn bất lợi về sức khỏe, làm chuyện gì cũng không như ý, dễ sinh chán nản mệt mỏi.   

9. Bàn học, bàn làm việc quá lớn

  Nhiều người cho rằng bàn càng lớn thì vận càng phát là không hề chuẩn. Phong thủy thư phòng nhấn mạnh tới tính phù hợp, bàn học bàn làm việc có kích thước vừa vặn với diện tích căn phòng thì vừa đẹp không gian lại có lợi phong thủy. Nhỏ quá không hay mà lớn quá cũng không cát, hài hòa là chuẩn.   Bàn, ghế, tủ sách nên dùng chất liệu gỗ là tốt nhất vì gỗ thuộc ngũ hành Mộc, Mộc chủ mùa xuân, đại diện cho sự phát triển, mới mẻ, may mắn. Những đồ vật này sẽ giúp tăng cường dương khí nhưng cũng chứa tính nhu khiến con người tâm tính ôn hòa, sáng suốt, trọn vẹn đôi đường. 
Xem thêm bài viết Phong thủy bàn làm việc đuổi tiểu nhân, rước may mắn
 

10. Thư phòng bày nhiều đồ trang trí

 

Cấm kị trong phong thủy thư phòng là bày quá nhiều đồ vật trang trí ở trên tường, trên tủ kệ và trên mặt bàn. Như vậy dễ sản sinh nhiễu loạn tinh thần, ác mộng, thiếu tập trung. Chỉ bày một số ít vật phẩm có lợi như tháp Văn Xương, thần thú khai vật và chậu cây xanh có ý nghĩa tốt lành như vạn niên thanh, trúc phú quý, cây tơ nhện,…    Bí quyết để sở hữu thư phòng có phong thủy trong mơ Phối màu phòng đọc sách theo phong thủy đẹp mà hay Hướng tốt cho thư phòng
Thái Vân



Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: 10 đại kị phong thủy thư phòng nên biết để tránh

Công việc phù hợp với 12 chòm sao

Công việc phù hợp với 12 chòm sao như nào, bạn đã biết chưa? Mỗi cung hoàng đạo sở hữu cá tính và tài năng riêng biệt. Điều đó chi phối khá lớn tới quyết định
Công việc phù hợp với 12 chòm sao

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

– Mỗi cung hoàng đạo sở hữu cá tính và tài năng riêng biệt. Điều đó chi phối khá lớn tới quyết định chọn nghề nghiệp, công việc trong tương lai của họ.


► Xem thêm: Bí mật 12 cung hoàng đạo cùng những tin tức Horoscope được cập nhật mới nhất


Bạch Dương

Bạch Dương mạnh mẽ, quyết đoán, tham vọng, thẳng thắn và năng động. Họ cũng thân thiện, cởi mở và đam mê khám phá những điều mới lạ, hấp dẫn.

Do đó, công việc phù hợp với Dương Cưu gồm: cảnh sát, nhân viên cứu hỏa, doanh nhân, bộ đội, chính trị gia, công việc trong lĩnh vực truyền hình, phát thanh.

Cong viec phu hop voi 12 chom sao hinh anh
 
Kim Ngưu


Thuộc chòm sao Kim Ngưu, bạn chăm chỉ, siêng năng, có khiếu thẩm mỹ và luôn tìm kiếm sự ổn định trong cuộc sống.

Theo đó, Ngưu Nhi thích hợp làm những công việc như: kĩ sư, lập trình máy tính, luật sư, bác sĩ phẫu thuật, đầu bếp, kế toán và nhà giáo dục.

Song Tử

Trong 12 cung hoàng đạo, Song Sinh có trí tuệ nổi trội hơn hẳn. Thêm nữa, họ lại năng động, hoạt bát, hài hước và có tài ăn nói.

Chính vì thế, trong tương lai Song Tử có thể trở thành: nhà môi giới, kiến trúc sư, đạo diễn, nhà sản xuất phim, nhân viên cứu hộ, giáo viên, nhân viên kĩ thuật.

Cự Giải

Cự Giải thích hòa mình vào thiên nhiên, cây cỏ, có trí tưởng tượng phong phú, dễ xúc động, chu đáo và tốt bụng.

Họ nên làm những công việc như: bác sĩ, luật sư, nhà văn, nhà biên tập, giáo viên, nhân viên phòng nhân sự, người làm vườn.

Cong viec phu hop voi 12 chom sao hinh anh 2
 
Sư Tử


Sư Tử là những nhà lãnh đạo thiên bẩm, luôn truyền cảm hứng cho người khác để họ làm việc và đi theo mình.

Bởi vậy chòm sao này phù hợp với những công việc liên quan đến quản lí như: chính trị gia, giám đốc điều hành, nghệ sĩ, nhà thiết kế, doanh nhân, hướng dẫn viên du lịch.

Xử Nữ

Quan tâm đến tiểu tiết, theo chủ nghĩa hoàn hảo, kĩ năng làm việc nhóm tốt là những từ được dùng để miêu tả Xử Nữ. Họ có thể làm tốt những công việc như: nhà văn, biên tập viên, giáo viên, kế toán, nhà phê bình, dịch giả, nhà phân tích dữ liệu.

Cong viec phu hop voi 12 chom sao hinh anh 3
 
Thiên Bình


Những người thuộc cung Thiên Bình thường khéo léo trong cách ứng xử, có tài ăn nói, giỏi đàm phán. Hiển nhiên, họ thích hợp với những công việc liên quan đến ngoại giao như: nhà ngoại giao, nhân viên bán hàng, nhân viên chăm sóc khách hàng, nhà đàm phán, nhân viên chăm sóc khách hàng, giám sát, phát thanh viên truyền hình.

Thiên Yết


Thuộc cung hoàng đạo này, bạn thông minh, chăm chỉ, có giác quan thứ sáu mạnh mẽ, trí tưởng tượng phong phú, nên thích làm những công việc sáng tạo như: bác sĩ phẫu thuật, nhà khoa học, thám tử, luật sư, nhà nghiên cứu, lập trình máy tính, nhà vật lí.

Nhân Mã

Nhân Mã tốt bụng, dễ đồng cảm và rất quyết đoán. Những công việc họ nên chọn là: nhân viên quan hệ công chúng, nhà sản xuất phim, giáo viên, nhà lãnh đạo tinh thần, biên tập viên, bộ trưởng, công việc liên quan đến du lịch, lữ hành.

Những con số đem lại may mắn cho 12 chòm sao năm 2016
- Trong năm 2016, số 1 và số 9 sẽ đem lại may mắn và cơ hội thăng tiến trong sự nghiệp của Bạch Dương...
Ma Kết

Xem công việc phù hợp với 12 chòm sao, thấy Ma Kết không bao giờ có định nghĩa “cao su” trong thời gian, giỏi quản lí tiền bạc và rất cẩn thận, tỉ mỉ. Do đó, Ma Kết nên tìm những công việc như: quản lí văn phòng, biên tập viên, nhân viên ngân hàng, nhà nghiên cứu khoa học, quản trị viên.

Bảo Bình

Bảo Bình thường được nhận xét là có tầm nhìn xa trông rộng, thích tự mình khám phá, tìm tòi những chân trời mới. Họ không thích bị bó buộc với một công việc cả đời. Họ thích hợp để trở thành: doanh nhân, nhạc sĩ, nghệ sĩ, nhà phát minh, nhà thiết kế, nhà khoa học.

Song Ngư

Có lòng thương người, khoan dung, độ lượng cùng với sự sáng tạo và trí tưởng tượng phong phú, Song Ngư thích hợp làm những công việc vì con người, liên quan đến nghệ thuật như: nhà hảo tâm, nhà tâm lí học, y tá, hộ sĩ, điều dưỡng viên, bác sĩ trị liệu, nghệ sĩ.


Phùng Hiền

 

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Công việc phù hợp với 12 chòm sao

Cách hóa giải phong thủy hữu hiệu cho nhà ở (văn phòng)

Phong thủy Nhà ở (văn phòng) là một vấn đề quan trọng liên quan đến đời sống của chúng ta, một căn nhà tốt về mặt phong thủy đảm bảo cho gia đình được êm ấm hạnh phúc, tiền bạc làm ra tích lũy được, con cái ngoan hiền hiếu thảo. Trái lại một căn nhà có khuyết điểm về phong thủy thường mang lại nhiều trở ngại và bất ổn trong cuộc sống. Khi mua nhà hay thuê nhà ai ai cũng mong muốn có được một căn nhà hoàn chỉnh về phong thủy.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Thế nhưng trên thực tế hiếm khi các bạn có được cơ hội đó bởi nhiều yếu tố sau:

- Căn nhà hợp với chủ cũ khác tuổi tác của mình nên vấn đề phong thủy cũng có phần sai biệt.
- Sự thiết kế của căn nhà không phù hợp với nhu cầu hạnh phúc của gia đình trong mỗi giai đoạn cuộc đời.
Vì thế khi vào ở một căn nhà chúng ta phải biết rõ khuyết điểm của căn nhà và khoa phong thủy có tác dụng điều chỉnh hay hóa giải những khuyết điểm kể trên để cuộc sống ngày càng tươi đẹp hơn.

Phương cách hóa giải phong thuỷ thì nhiều và đa dạng phong phú. Thế nhưng để chọn lựa phương cách hóa giải phong thuỷ phù hợp với mức độ ảnh hưởng xấu để không gây ra những ảnh hưởng phụ khác đó là điều nên thận trọng. Và để hóa giải phong thủy của một căn nhà chúng ta cần phải nghiên cứu từng bước một.
Nghiên cứu toàn bộ khuyết điểm Phong thủy căn nhà:
Ðây là bước đầu tiên cũng là bước quan trọng nhất quyết định thành công hay thất bại trong việc hóa giải. Nếu công việc này làm không hiệu quả hay thiếu sót thì việc hóa giải chỉ nửa vời không đạt được kết quả mong muốn.
Nhiều người cho rằng gia chủ có một căn nhà hợp hướng là tốt đủ rồi, không cần quan tâm đến những điều khác. Ðây là một điều sai lạc vô cùng. Một căn nhà tốt phải hội đủ và hài hòa tất cả yếu tố phong thủy trong căn nhà chứ không chỉ riêng phương hướng là đủ. Ví dụ một căn nhà vượng Sơn vượng Hướng nhưng tọa tạc trên một mảnh đất tam giác, đất nghiêng trủng, hay là ở trong nhà có bếp lò, nhà cầu, cầu thang nằm sai vị trí các Cung (Linh Thần hoặc Chính Thần) thì cũng không tốt. Tóm lại có rất nhiều điều cần phải quan tâm đến khi muốn biết một căn nhà hợp phong thủy hay không.
Khi xem phong thủy một căn nhà là phải tổng hợp tất cả các yếu tố trong và ngoài căn nhà chứ không nên dựa vào một vài đặc điểm nào đó mà bỏ quên đặc điểm khác (Phong thuỷ Hình Thế và Phong thuỷ Lý Khí tương hợp).


Tìm biết hết tất cả khuyết điểm của căn nhà là một điều cần thiết, vì có như vậy chúng ta mới có thể hóa giải triệt để những ảnh hưởng xấu đối với căn nhà. Có thể tạm phân loại các khuyết điểm về phong thủy như sau :
- Hình thể nhà và đất : Do khuyết điểm của thế đất không bằng phẳng, hình dáng khuyết tật, nhà cửa xây dựng mất cân đối, các cung vị bát quái bị lồi lõm.
- Những tác hại xấu do bên ngoài: như là ngã ba đâm vào, đòn dông, cột đèn, cây cổ thụ, biển báo, độ dốc, ao hồ sông rạch, núi đồi cản trở.
- Âm dương (Linh & Chính): Một căn nhà gặp khuyết điểm về âm dương thường rơi vào trường hợp cô dương hay cô âm: Trường hợp cô dương (hay dương thịnh) như sáng quá, chói lòa, màu sắc rực rỡ, ồn ào, náo nhiệt. Hay cô âm (hay âm thịnh) như u tối, thiếu ánh sáng, trống vắng, thiếu sinh khí, màu sắc ảm đạm, âm u, ẩm mốc bẩn thỉu mang nhiều âm khí đều không tốt cho gia chủ, ảnh hưởng đến hạnh phúc vợ chồng.
- Những tác hại xấu từ bên trong: Thường do sự bài trí các công nămg không đúng phương vị (Cung) hoặc như là kê bàn, ghế, tủ, góc nhà tạo nhiều cạnh đâm vào cửa chính, phòng ngủ, xà nhà chắn ngang đầu… Những yếu tố xấu này thường ảnh hưởng đến sức khỏe của những người sống trong nhà.
- Ngũ hành: Một căn nhà phạm khuyết điểm về ngũ hành thường do việc bố trí phòng ốc hay trang trí không thích hợp như là phối trí màu sắc, bông hoa, cây cỏ, bàn thờ, bếp, bồn cá, lò sưởi không đúng phương vị. Nếu có sự xung khắc thường mang lại sự xung đột bất hòa trong cuộc sống.
- Phòng ốc: Sự bố trí phòng ốc trong căn nhà được hài hòa thuận vị là điều tốt đẹp. Thế nhưng nếu bố trí nghịch vị thì cần phải có sự hóa giải đúng mức và kịp thời. Ví dụ như cửa phòng ngủ trực diện với phòng tắm; phòng ngủ nằm ngay cửa bếp, bàn thờ; cầu thang trổ ra ngay sát cửa, phòng tắm nằm ngay trên, phía trước cửa chính; cầu thang đổ ra cửa; ba cửa nhà thông thương; nhà hay phòng có hai lối rẽ; nền nhà cao thấp hay khuyết góc.
Nhu cầu hạnh phúc của gia đình:
Ðây là bước thứ hai cũng không kém phần quan trọng. Cần biết đâu là nhu cầu hạnh phúc của gia đình trong đại vận hiện tại thì mới có thể đề ra những biện pháp hóa giải hữu hiệu. Ví dụ : Một gia đình lớn tuổi nhu cầu hạnh phúc chính yếu nhất là sức khỏe và tuổi thọ. Nếu có hóa giải khuyết điểm căn nhà thì phải chọn lựa những biểu tượng mang tính hòa hợp tươi vui nhưng trầm mặc như là rùa, hồ lô, sáo trúc, tùng, tượng ngư tiều canh độc.
Trái lại vợ chồng son trẻ có làm ăn ở nhà, không muốn bị quấy nhiễu hạnh phúc có thể hóa giải phong thủy bằng những biểu tượng mang thể loại mạnh mẽ hơn như thú dữ, xương rồng, thanh kiếm, mũi tên sắc, súng đại bác.
Trường hợp vợ chồng gay cấn, xung đột mong muốn có hạnh phúc thì nên chọn những biểu tượng phong thủy như Long Phụng hòa minh, đôi chim tỉa cánh, bông hoa mang màu sắc tươi mát và thích hợp với ngũ hành của hai người.
Trở lại ví dụ đầu tiên, nếu căn nhà xấu đối với người lớn tuổi mà dùng các biểu tượng như thú dữ, hay vật dụng hung hãn, chẳng những không có tác dụng tốt lại còn gây thêm áp lực nặng nề hay tạo thêm cảm giác lo ngại cho người lớn tuổi.
Chúng ta có thể phân loại nhu cầu hạnh phúc của gia đình như sau : Tiền tài, hạnh phúc – sức khỏe, tuổi thọ – con cái (Phú - Quý - Gia Đạo). Tùy theo nhu cầu hạnh phúc của gia đình để chọn lựa những biểu tượng hóa giải thích hợp.
Phương cách hoá giải phong thủy:
Có nhiều phương cách hóa giải thế nhưng trước khi quyết định chọn lựa một phương cách hóa giải thích hợp cần phải quan tâm đến 2 điểm:
1) Khi dùng hóa giải tại cung nào nên chú ý đến ngũ hành của cung đó, để sử dụng các biểu tượng phong thủy thích hợp với hành của cung đó. Ví dụ khi muốn thay đổi hay phát triển công việc, thì công việc đầu tiên phải tăng cường cung Tài Lộc căn nhà, cung đó thuộc hành gì?, do Sao nào quản?. Do vậy những vật dụng tăng cường cung này phải tương sinh với Cung đó.
2) Khi hóa giải một khuyết điểm của căn nhà nên sử dụng đúng mức biện pháp hóa giải, để tránh những ảnh hưởng phụ do hóa giải quá độ gây ra. Ví dụ: khi hóa giải một phòng tắm xấu ở giữa nhà (trung cung) có thể che kiếng là đủ, chứ không nên vừa dùng kiếng, lại thêm cây kiểng hay dùng súng đại bác để bắn tiêu khuyết điểm này.
Ngoài hai yếu tố trên, chúng ta cũng không phải dễ dàng để chọn lựa một biểu tượng thích hợp vì rằng có nhiều biểu tượng hóa giải có cùng tác dụng thì biết chọn biểu tượng nào. Vì thế một biểu tượng hoàn hảo nhất để hóa giải phong thủy phải đạt được các tiêu chuẩn sau đây:
Hợp Phong Thủy: Ðây là tiêu chuẩn quan yếu đầu tiên, cần phải đạt được. Trong trường hợp có nhiều biểu tượng có cùng tác dụng thì biết chọn lựa thứ nào. Ví dụ: để hóa giải một cái đòn dông đâm vào cửa chính chúng ta có thể dùng nhiều phương pháp như: trụ phun nước, dời cửa chính,... nhưng chúng ta chỉ nên chọn lựa một biểu tượng thích hợp nhất mà thôi. Do vậy trước khi quyết định chúng ta phải dựa đến tiêu chuẩn thứ hai.
* Hợp nhu cầu hạnh phúc gia đình: Như trên đã nói, đối với người lớn tuổi mong muốn bình an dĩ hòa vi quý thì nên chọn lựa những biểu tượng nhẹ nhàng, không gây tác hại cho người khác mà cũng có thể đạt mục đích yêu cầu của mình. Trở lại ví dụ trên, chúng ta có thể chọn lựa biện pháp trụ phun nước. Thay vì chúng ta chọn những biểu tượng công phá có thể gây hại cho người khác và cho chính mình mà thôi. Trường hợp có nhiều biểu tượng đạt được hai tiêu chuẩn trên thì biết chọn biểu tượng nào. Chúng ta nên chọn biểu tượng phù hợp với tiêu chuẩn thứ ba.
* Hợp thẩm mỹ, nhu cầu văn hóa gia đình: Ngoài những biểu tượng căn bản chúng ta cũng có thể sáng tạo những biểu tượng khác đạt được mục đích trên lại phù hợp với nhu cầu thẩm mỹ, hay địa vị gia chủ trong xã hội nữa. Ví dụ : ở khu vực kinh doanh người Mỹ có khi chúng ta dùng những vật dụng đầy thẩm mỹ khác chẳng hạn.

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Cách hóa giải phong thủy hữu hiệu cho nhà ở (văn phòng)

Cỗ Tết ba miền

Năm mới gia đình cùng sum họp quanh mâm cỗ tết là một mỹ tục mà dân tộc Việt Nam đã lưu truyền bao đời nay; thể hiện sự thiện lành, tính khoan hoà của dân tộc với nền văn hoá nông nghiệp truyền thống.

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tinh tế cỗ Bắc

Mâm cỗ vùng đồng bằng Bắc bộ thường tuân thủ đúng bài bản. Mâm cỗ thường gồm bốn dĩa và bốn bát không kể những dĩa xôi và các bát nước chấm. Bốn dĩa gồm hai dĩa thịt có thể là gà và heo, một dĩa nem thính, một dĩa giò lụa. Có thể thêm một dĩa giò mỡ (giò thủ hoặc thịt đông). Bốn bát gồm bát ninh, bát măng hầm giò heo, bát miến, bát mộc. Đây là những yêu cầu căn bản của mâm cổ. Tuỳ gia đình có thể thêm những món như nộm, xào, ngày tết còn có món đặc trưng như bánh chưng, dưa hành. Tráng miệng có mứt sen, quất, gừng, chè kho.

Chăm chút cỗ Trung


Những món trên mâm cỗ miền Trung thường chú trọng đến sự chăm chút và tính bảo quản do khí hậu khắc nghiệt. Những món nguội như chả phụng, nem, tré. Gỏi có gà bóp rau răm; gỏi trái vả; măng, mít trộn. Món nóng có nem lụi, bò nướng sả ớt. Những món nguội lưu trữ được dài ngày thường được cuốn với bánh tráng, dưa kiệu.

Món chính để ăn với cơm có món quay, rán từ heo, gà. Món nấu có bò nấu thưng, củ cải kho nạc heo, thịt nạc rim, hon… Và thường không thiếu món canh giò heo hầm, gà tiềm, bánh tét, dưa món. Và nhiều món tráng miệng từ mứt; bánh có bánh tổ, bánh in, bánh thuẩn, bánh bột sắn, bánh ít, bánh đậu xanh sấy, bánh bảy lửa, cốm…

Phong phú cỗ Nam


Mâm cỗ tết miền Nam thường có thịt kho nước dừa và canh khổ qua.

Với món nguội có nem, bì, lòng heo khìa, giò heo nhồi, lạp xưởng tươi, gỏi ngó sen… Riêng gỏi gà luộc xé phay trộn củ hành, kiệu là món thường có trên mâm cỗ. Các món ngâm chua như lỗ tai heo ngâm giấm, tôm khô củ kiệu cũng được ưa chuộng. Món chính để ăn cơm như bò nấu đun, gà rim nước dừa tươi. Đặc biệt, hầu như khắp nơi ở Nam bộ nhà nào cũng có nồi thịt kho nước dừa ăn với dưa giá và canh khổ qua. Hai món này luôn có trong mâm cơm cúng ông bà ngày 30 tết. Theo dân gian thì “khổ qua” là món ăn để mong ước sự cơ cực qua đi cho năm mới tốt đẹp hơn. Xét thực tế đây là món ăn mát, giải mỡ, lưu trữ lâu ở thời tiết nóng miền Nam. Và thường phải có món bánh tét nhân mỡ ăn với củ cải ngâm nước mắm.

Tráng miệng có những loại mứt trái cây như mứt dừa, me, mãng cầu, gừng dẻo, củ năn, thèo lèo, kẹo chuối, xôi vị, bánh bò, bánh ít, bánh tét ngọt…

Cân bằng âm dương, thể hiện ngũ hành

Nhìn chung mâm cỗ ngày tết ba miền có những nét riêng thay đổi theo thổ nhưỡng, tập quán. Nhưng riêng bánh chưng, bánh tét thì không có sự khác biệt về nguyên liệu.

Cỗ tết, luôn có thịt mỡ, tinh bột, bánh mứt nhiều nên vị ngọt béo hơn hẳn ngày thường. Đồng thời mùa tết không khí cũng hanh khô. Do đó cách ăn ở ba miền đều thể hiện sự cân bằng âm dương, kèm những món nhiều đạm mỡ là dưa hành, cải chua, củ kiệu, dưa giá… nhằm làm bớt sự ngán ngậy.

Đặc biệt còn có thức ăn uống mang tính tiêu thực tốt như rượu nếp cẩm của miền Bắc, cơm rượu của miền Trung và Nam. Sự phối hợp nguyên liệu nóng và nguyên liệu mát cũng là nghệ thuật cân bằng âm dương trong món ăn ngày tết. Chẳng hạn, cá lóc kho kèm thịt heo (cá nước – âm hơn, heo trên cạn – dương hơn). Thịt, cá (dương hơn) được xào với rau củ (âm hơn).

Nhìn mâm cỗ tết Việt, màu sắc hài hoà. Rau quả xanh tươi của hành mộc thể hiện sự tươi mới mùa Xuân. Màu đỏ – hành hoả, màu của thịt thà, nem chả mang đầy năng lượng cho cuộc sống. Màu vàng – hành thổ từ sắc vàng như bánh mứt thể hiện sự an lành. Màu trắng – hành kim của các món bún, cơm, xôi, bánh tráng tượng cho sự vững chắc, bền bỉ. Và màu nâu sẫm, màu đen – hành thuỷ của các loại nấm, tóc tiên… tượng trưng cho sự may mắn, hanh thông. Màu sắc ngũ hành có đủ trong mâm cỗ tết thể hiện sự ước mong điều tốt lành trong năm mới.

Trich tu: SGTT.VN


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Cỗ Tết ba miền

Thời điểm tốt nhất trong năm để cải táng

Theo tâm linh, lựa chọn thời điểm để cải táng là một việc vô cùng quan trọng, liên quan tới hưng vong thịnh suy của cả gia đình.
Thời điểm tốt nhất trong năm để cải táng

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo


Thoi diem tot nhat trong nam de cai tang hinh anh
 
Theo phong tục của người Việt Nam, người mất sau 3 năm thì cải táng, cũng là lúc con cháu mãn tang, tức là hoàn toàn hết để tang vong linh. Vì thế, việc cải tháng thường được tiến hành sau 3 năm chôn hung táng.
 
Tuy nhiên hiện nay, thực tế môi trường địa lý và khí hậu có nhiều thay đổi, các hoá chất được sử dụng nhiều trong đất để phục vụ cho sản xuất nông nghiệp. Hiện tượng sau 3 năm xác người chết chưa phân huỷ diễn ra khá phổ biến nên nhiều gia đình lựa chọn giải pháp là để thời gian cải táng lâu từ 4 đến 5 năm để tránh hiện tượng trên.
 
Theo sách xưa để lại, thời điểm tốt nhất để cải táng là từ cuối Thu đến trước ngày Đông Chí của năm. Không ai làm đầu năm cũng như sau Đông Chí. Ngày Đông Chí là ngày cực Âm và là ngày có khí Nhất Dương sinh ra. Đặt mộ phần trong thời gian trước Đông Chí là vì lý do đó. Sau Đông Chí, khí Dương ngày càng tăng và khí Âm ngày càng giảm.
 
Việc chọn ngày bốc và di dời mộ cũng rất quan trọng. Theo lịch Âm, tháng đủ có 30 ngày, tháng thiếu có 29 ngày. Tuy lịch xếp là vậy nhưng trong việc chọn ngày không phải cứ giở lịch ra thấy ngày 29 hoặc 30 đã là hết tháng. Ta cần phải căn cứ vào 24 tiết khí hay chỗ nào hòa trực (tức là hai trực giống nhau nằm kề ngày nhau), lúc đó mới sang tháng khác. Bởi vậy, nhiều khi đã sang tháng mới theo lịch 5 - 7 ngày mà vẫn phải tính theo tháng cũ. 
 
Nên để ý là đầu tiết bao giờ cũng đi liền 2 trực giống nhau, một trực là ngày cuối tháng, một trực là ngày đầu tháng. 12 trực là: Kiến – Trừ - Mãn – Nguy – Thành – Thâu – Khai – Bế, mỗi ngày là một trực. Các trực tốt nên sử dụng là  trực Thành, trực Mãn đa phú quý; Trực Khai, trực Thâu họa không vong (họa không tới); Trực Bình, trực Định hưng nhân khẩu.
 
Một lưu ý nữa là chọn ngày cải táng thì phải coi theo tuổi của người chết. Như vậy, năm để tiến hành cải táng phải lựa chọn theo tuổi của người đã mất, tránh những năm xung sát. Ngoài ra còn phải căn cứ theo tuổi của trưởng nam trong nhà vì trưởng nam là người phải gánh mọi sự may rủi.Tuổi và ngày nên chọn theo Tam hợp, Lục hợp, Chi đức hợp, Tứ kiểm hợp. Tránh các ngày Lục xung, Lục hình, Lục hại. 
 
Về Ngũ hành nên chọn ngày tương sinh hay tỷ hòa, tránh chọn ngày tương khắc. Tùy theo tháng mà khi bốc hay di dời mộ cần phải tránh thêm các ngày Trùng tang, Trùng phục, Tam tang, Thọ tử Sát chủ, Nguyệt phá, Thiên tặc Hà khôi…
► ## cung cấp công cụ Xem ngày tốt xấu chuẩn xác theo Lịch vạn sự

Theo Xuân giao
 

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Thời điểm tốt nhất trong năm để cải táng

Phước 70 đời, phước do chính mình tạo nên, không cầu được

Mỗi khi tai qua nạn khỏi, thoát khỏi lưỡi hái tử thần, người ta lại nói rằng phước 70 đời hay phước do ông bà để lại, điều này có nghĩa gì trong Phật giáo?
Phước 70 đời, phước do chính mình tạo nên, không cầu được

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Mỗi khi tai qua nạn khỏi, thoát khỏi lưỡi hái tử thần, người ta lại nói rằng may mắn “phước 70 đời” hay “phước do ông bà để lại”… Dưới góc nhìn Phật giáo, điều này có nghĩa gì?

 

1. Đạo Phật cho rằng nhân sinh không có sự may mắn ngẫu nhiên

  Theo đạo Phật, không có sự may mắn ngẫu nhiên, vì nếu có thì làm sao giải thích tại sao may mắn đến với người này mà không đến với người kế bên. Điều này cũng không chắc là do "phước đức ông bà để lại”. Bởi nếu nhìn lại cuộc đời tổ tiên, nhiều khi thấy cuộc đời họ thật khốn khổ bất hạnh, phước của họ còn không đủ đem lại cho chính họ chút sung sướng hạnh phúc nào, lấy gì họ để lại cho con cháu về sau dùng…    Phước 70 đời, chỉ có duy nhất phước đức chính bản thân mình tích tụ từ bao đời trước, như một vòng bảo vệ khổng lồ bao bọc lấy mình khi hoạn nạn ập tới trong cuộc đời, như thuyền to giữa biển, như áo lạnh cực tốt giữa cơn bão tuyết… hay áo giáp sắt che kín thân trước cung tên giáo mác đạn dược đang phóng tứ tung.   Hoạn nạn từ bên ngoài tới là do những ác nghiệp mình tạo ra đời trước hay đời này, đáo hạn thì nó tới không gì ngăn cản nổi, không tránh đâu thoát được, cách duy nhất là hứng chịu... Vấn đề là hứng chịu với cái áo giáp phước đức dầy hay mỏng, lành lặn hay rách nát thôi.  
Phuoc 70 doi, phuoc do chinh minh tao nen, khong cau duoc hinh anh
 

2. Phước đức do chính mình tạo nên chứ không thể cầu mà có được

 

Câu hỏi đặt ra là làm làm sao tạo đươc chiếc áo giáp vạn năng kể trên?

  Lời Phật dạy, Phước phải do chính mình tạo nên chứ không thể cầu mà có. Chỉ ngồi yên một chỗ cầu khẩn mà không hành động thì cũng vô ích.   Làm phước thì được phước, cầu phước thì không có phước. Giống như kiến thức phải học mới có, sự no bụng phải ăn mới được chứ không thể cầu xin phép lạ từ ai.   Làm phước là làm những việc nhằm mang lại lợi ích cho người khác, dẫu mình không được hưởng hay thậm chí phải chịu hy sinh, thiệt thòi về thời gian công sức của cải. Bên cạnh đó, kiểm soát được lời nói của mình cũng là phước đức lớn nhất trong đời.   
Phuoc 70 doi, phuoc do chinh minh tao nen, khong cau duoc hinh anh
 
Một việc làm như vậy dẫu nhỏ bé đến mấy cũng sinh phước, còn chỉ nhắm cho lợi ích bản thân thì dẫu tốn kém bao nhiêu cũng không mảy may sinh ra chút phước nào.   Người kém phước dẫu ở giữa người thân thuộc quen biết, cũng vẫn phải vất vả khó nhọc tự lo mọi việc, có cần giúp đỡ cũng phải kêu cầu nhưng cũng chẳng được vừa ý, bởi trong quá khứ, ngay những người thân này cũng chưa được mình giúp đỡ nên đời này họ không có ý muốn báo đáp.   Người có phước dẫu một mình ở nơi xa lạ trong hoàn cảnh nào cũng được giúp đỡ tận, được che chở bảo bọc an toàn trong hoạn nạn, hay ở giữa kẻ thù.   Vậy mới nói, làm phước, trước hết để chuyển nghiệp của chính mình, để cuộc đời ta đi lên từ từ. Cứ mỗi kiếp sau sẽ hạnh phúc hơn kiếp này; trí tuệ hơn; dung mạo uy nghi hơn; uy đức lớn lao hơn. Có nhiều cách tích đức tạo nghiệp lành lưu đời con cháu không tốn một xu, đó cũng là cách để tạo phước đức cho chính bản thân mình.  
Phuoc 70 doi, phuoc do chinh minh tao nen, khong cau duoc hinh anh
 
Đừng nghĩ cái tâm ta là của ta, đừng tưởng những ý nghĩ trong đầu ta là của riêng mình, tự mình tạo ra không ai biết. Ý nghĩ trong đầu mình chính là do nhân quả mà thành.   Có những khi ta nghĩ những chuyện tốt đẹp, có những lúc ta nghĩ chuyện xấu xa làm ta cũng phải giật mình, tại sao ta lại có suy nghĩ đến kỳ quặc như vậy, vì nhân quả.   Đó là do ta đã phạm lỗi gì đó của hôm nay, hôm qua, hôm kia, tuần trước, hay tháng trước… ta lỡ xúc phạm một bậc đáng kính nào đó mà tâm ta thay đổi, tự nhiên ý nghĩ bất thiện khởi lên một cách tự nhiên, như thành bản chất của mình, như mình đã từng là người xấu xa vô đạo đức.   Một người luôn nghĩ điều tốt, điều thiện, từ bi, nghĩ về đạo đức là do phước. Trong từng ngày của đời sống, ta đều giữ gìn tâm hạnh kỹ lưỡng, lễ kính Phật, khiêm nhu, không dám xúc phạm đến ai. Tự nhân quả nó tạo nguồn tư tưởng tốt trong tâm, lời nói tốt, hành vi tốt, rồi phước cứ tăng dần mà đi lên. Mỗi người cần phải hiểu lời Phật dạy về nhân quả thì mới có thể áp dụng đúng trong cuộc sống.   T.H   Lời Phật dạy: Trân trọng phụ nữ là phúc báo nghiệp lành Lời Phật dạy: Tham sắc dục thì sẽ phải nhận quả báo Lời Phật dạy: Đoán biết người có vận mệnh tốt hay xấu chỉ cần nghe họ nói

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Phước 70 đời, phước do chính mình tạo nên, không cầu được

SAO THANH LONG TRONG TỬ VI

thanh long (Thủy) *** 1. Ý nghĩa tướng mạo: Gương mặt tuấn tú, phương phi, cốt cách sang trọng. Đến hạn gặp T...
SAO THANH LONG TRONG TỬ VI

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

thanh long (Thủy) 



***

1. Ý nghĩa tướng mạo: Gương mặt tuấn tú, phương phi, cốt cách sang trọng. Đến hạn gặp Thanh Long thì sắc diện phát hiện tú khí, nhất là khi Thanh Long đắc địa ở Thìn, Tuất, Sửu, Mùi và ở hai cung Thủy là Hợi và Tý.

2. Ý nghĩa tính tình:             - vui vẻ, hòa nhã             - lợi ích cho việc cầu danh, thi cử             - may mắn về hôn nhân             - may mắn về sinh nở             - giải trừ được bệnh tật, tai họa nhỏ Với những ý nghĩa đó, Thanh Long đồng nghĩa với Long Phượng.

3. Ý nghĩa của thanh long và một số sao khác:
Long, Kỵ ở Tứ Mộ: Thanh Long được ví như rồng xanh ẩn trong mây ngũ sắc, nghĩa như rồng gặp mây, người gặp thời rực rỡ, có lợi cho phú quý, hôn nhân, sinh nở, thi cử.
Thanh Long, Lưu Hà: đồng nghĩa như trên
Thanh Long, Bạch Hổ, Hoa Cái: cách này gọi là Long Hổ Cái, cũng rực rỡ về tài quan
Thanh Long, Bạch Hổ, Hoa Cái, Phượng Các: cách này gọi là Tứ Linh, cũng rực rỡ về công danh, tài lộc
Thanh Long, Quan Đới: người gặp thời, đắc dụng
Thanh Long, sát tinh: mất hết uy lực, trở thành yếu và hèn nhát.

4. Ý nghĩa của thanh long  ở các cung:
            - Thanh Long rất đẹp nếu ở hai cung Thủy là Hợi và Tý, hoặc ở cung Thìn (Long cư Long vị) cũng rực rỡ như trường hợp Long Kỵ, Long Hà.             - Nếu có tại cung Mệnh, Thân, Quan, Di, Tài hay Hạn đều đắc dụng, đắc lợi cho đương số             - Nếu Mệnh hay Quan giáp Long, giáp Mã thì cũng hiển đạt về công danh, chức vị.

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: SAO THANH LONG TRONG TỬ VI

Quẻ Quan Âm Ngọc Liên Hội Thập Bằng

Quẻ Quan Âm Ngọc Liên Hội Thập Bằng có bắt nguồn như sau: Câu chuyện tình yêu giữa Vương Thập Bằng và Tiền Ngọc Liên có nguồn gốc từ "Kinh thoa ký"
Quẻ Quan Âm Ngọc Liên Hội Thập Bằng

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Đây là điển cố thứ Tư trong quẻ Quan Âm, mang tên Ngọc Liên Hội Thập Bằng (còn gọi là quẻ Ngọc Liên Gặp Thập Bằng). Quẻ Quan Âm Ngọc Liên Hội Thập Bằng có bắt nguồn như sau:

Câu chuyện tình yêu giữa Vương Thập Bằng và Tiền Ngọc Liên có nguồn gốc từ “Kinh thoa ký”. Từ Vị trong “Nam tự lục” có nói rằng, “Kinh thoa ký” có hai bản, một bản không rõ tác giả là ai, được soạn vào khoảng thời Tống, Nguyên; một bản là do Lý cảnh Vân đầu đời Minh soạn. Toàn bộ vở kịch “Kinh thoa ký” có bốn mươi tám màn, nội dung chính kê’ về nàng Tiền Ngọc Liên cự tuyệt lời cầu hôn của Tôn Nhữ Quyền giàu có, quyết lấy anh chàng thư sinh Vương Thập Bằng nghèo khố, đã dùng cây thoa bằng cỏ kinh làm sính lễ.

Thư sinh Vương Thập Bằng mất cha khi còn nhỏ, gia cảnh nghèo khó, cùng với mẹ nương tựa vào nhau mà sống. Có vị cống nguyên tên là Tiền Lưu Hành thấy Vương Thập Bằng thông minh hiếu học, là người đứng đắn, bèn đem người con gái của vợ trước là Tiền Ngọc Liên gả cho Vương Thập Bằng. Vương Thập Bằng do gia đình nghèo khó, bèn lấy cây trâm làm bằng cỏ kinh làm sính lễ. Nhưng mẹ kế của Ngọc Liên chê nghèo tham giàu, muốn đem Ngọc Liên gả cho Tôn Nhữ Quyền là nhà giàu có trong vùng. Ngọc Liên không vâng theo, chỉ muốn gả cho Vương Thập Bằng theo sự sắp xếp của cha.

Sau khi kết hôn được nửa năm, kỳ thi đã đến, Vương Thập Bằng bèn từ biệt mẹ và vợ, lên kinh dự thi, kết quả đã thi đỗ Trạng nguyên, được nhận chức Thiêm phán ở Nhiêu Chân, Giang Tây. Thừa tướng Vạn Sĩ thấy Vương Thập Bằng tài mạo song toàn, muốn mời về làm rể. Vương Thập Bằng chối từ, khiến Vạn Sĩ giận dữ, điều Vương Thập Bằng đi nhậm chức Thiêm phán ở Triều Dương thuộc Quảng Đông, không cho phép được về nhà thăm người thân.

Vương Thập Bằng rời kinh thành đi nhậm chức, nhờ sai dịch của quan phủ chuyển về nhà một bức thư, không ngờ bị Tôn Nhữ Quyền vốn đi theo Vương Thập Bằng đến kinh thành lừa lấy mất, lại đem sửa đổi bức thư, giả thành Vương Thập Bằng đã vào làm rể trong phủ Thừa tướng, nhắn Ngọc Liên hãy đi lấy người khác. Sau khi Tôn Nhữ Quyền về tới ôn Châu, lập tức tìm mẹ kế của Ngọc Liên, ép Ngọc Liên lấy Tôn Nhữ Quyền. Ngọc Liên thề chết cũng không thuận theo, nhảy xuống sông tự vẫn. May được quan An phủ Phúc Kiến vừa mới nhậm chức là Tiền Đới Hòa cứu vớt, nhận làm con gái nuôi, đưa đến nơi nhậm chức. Sau khi Tiền Đới Hòa đến Phúc Kiến nhậm chức, lập tức sai người đi Nhiêu Châu tìm

Vương Thập Bằng. Sai nha nghe được tin người mới nhận chức Thái thú ở Nhiêu Châu cũng họ Vương, đến nhận chức không lâu thì ốm chết, bèn trở về nói cho Ngọc Liên biết. Ngọc Liên nhầm tưởng chồng mình đã qua đời, đau khổ muốn chết. Còn Vương Thập Bằng trước khi đi nhậm chức đã đi đón mẹ và vợ đến kinh thành, nghe tin Ngọc Liên nhảy xuống sông mà chết, cũng vô cùng đau khổ.

Năm năm sau, Vương Thập Bằng được điều đi nhậm chức Thái thú ở Cát An, mà Tiền Đới Hòa cũng được thăng chức từ An phủ Phúc Kiến lên Tuần phủ Lưỡng Quảng. Trên đường đi nhậm chức, khi đi qua phủ Cát An, Vương Thập Bằng đến bến sông bái kiến Tiền Đới Hòa. Sau khi Tiền Đới Hòa biết được Vương Thập Bằng chính là chồng của Ngọc Liên, bèn mở tiệc trên thuyền, mừng Thập Bằng và Ngọc Liên được đoàn tụ.

Trong thực tế, vào thời Nam Tống quả thực có người tên là Vương Thập Bằng, “Kinh thoa ký” đã mượn cái tên này để soạn ra tích truyện trên.

Vương Thập Bằng thời Nam Tống (1112 -1171) là nhà thơ và nhà chính trị nối tiếng, tự là Quy Linh, hiệu là Mai Khê, là người thôn Mai Khê, Tả Nguyên, Tứ Đô, Đông Thanh (nay là thành phố Đông Thanh, tỉnh Triết Giang). Ông làm quan đến chức Long Đồ các Học sĩ, có câu đối nổi tiếng được lưu truyền: “Vân triêu triều, triêu triêu triều, triêu triều triêu tán; Triều trường trướng, trường trường trướng, trường trướng trường tiêu” (Sáng ra mây tụ, ngày ngày tụ, tụ rồi lại tan; Thủy triều thường lên, thường thường lên, lên rồi lại xuống).

Vương Thập Bằng bảy tuổi đi học, mười bốn tuổi học thông kinh sử, thơ văn nổi tiếng xa gần. Mười bảy tuổi, cảm thương cho thời cuộc, buồn cho hai vị vua Tống Huy Tông và Tống Khâm Tông bị bắt, nhà Tống bị ép dời đô về phương nam, đến năm mười chín tuổi đã viết ra câu thơ nổi tiếng “Bắc Đẩu thành trì tăng vương khí, Đông Âu sơn thủy phát thanh huy” (thành trì Bắc Đẩu thêm vương khí, non nước Đông Âu thật sáng trong). Có tài văn chương thơ phú, chấn động thi đàn Triết Nam. Do sự hủ bại của nền chính trị Nam Tống lúc bấy giờ, gian thần Tần cối lộng hành chuyên quyền, trường thi tệ lậu, cho nên Vương Thập Bằng đi thi nhiều lần mà không đỗ. Mãi đến năm bốn mươi sáu tuổi, sau khi Tần Cối chết, ông lấy cảm hứng từ chữ “lãm quyền” (nắm quyền) để đối đáp, đỗ Tiến sĩ đệ nhất, được phong làm Trạng nguyên, ban đầu được giữ chức Thừa sự lang, kiêm chức Giáo thụ tiểu học ở Kiến Vương phủ. Do ông chủ trương kháng chiến, lại tiến cử vị lão tướng yêu nước Trương Lăng và Lưu Kỹ, nên về sau Vương Thập Bằng bị phái chủ hòa bài xích, phải rời kinh đô về làng.


Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Quẻ Quan Âm Ngọc Liên Hội Thập Bằng

Tên và Bảng Hiệu doanh nghiệp hợp phong thủy

Tên doanh nghiệp và bảng hiệu logo nên hợp với phong thủy bởi đó là nơi nhận diện thương hiệu trong tâm trí khách hàng, nếu nhìn thì thuận mắt, nếu nghe
Tên và Bảng Hiệu doanh nghiệp hợp phong thủy

Tử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói, Phong Thủy, 12 con giáp, 12 cung hoàng đạo

Tên và bảng hiệu logo hợp phong thủy của cơ sở doanh nghiệp rất quan trọng vì nó là biếu tượng nhận diện, tượng trưng cho tinh thần của công ty.

Tên doanh nghiệp

Tên của cơ sở doanh nghiệp rất quan trọng vì nó biếu tượng cho công ty. Nếu tên nào nói lên ý nghĩa “vận may” có thể mang lại cho ban quản trị một mong ước về tinh thần. Cho nên cần chọn một cái tên có ý nghĩa với điềm lành.

Ngũ hành cũng ảnh hưởng đến tên của cơ sở:

  • Những âm bắt đầu bằng C, Q, R, S, X hoặc Z thì thuộc âm Kim,
  • Âm G hoặc K thuộc Mộc,
  • Âm B, F, M, H hoặc P thuộc Thuỷ,
  • Âm D, J, L, N, T thuộc Hoả
  • Và âm A, W, Y, E hoặc O thuộc Thổ.

Nên theo ngũ hành tương sinh như Kim với Mộc, Mộc với Hoả, Hoả với Thổ, Thổ với Kim, Kim với Thuỷ. Không nên ghép theo ngũ hành tương khắc như Thổ với Thuỷ, Thuỷ với Hoả, Hoả với Kim, Kim với Mộc và Mộc với Thổ.

Một khi các yếu tố âm dương và ngũ hành hài hoà với nhau thì kiểm tra lại tổng số nét. Những số sau đây được coi là có điểm tốt: 3, 5, 6, 6, 8, 11, 13, 15, 16, 17, 18, 21, 23, 24, 25, 29, 31, 32, 35, 37, 38, 48, 52, 63, 65, 67, 68, 73, 75, 77, 78, 80, 81, 83, 84, 87, 88, 89, 90, 91, 92, 97, 98, 99, 100

Bảng hiệu (biển hiệu) và Logo

Bảng hiệu, logo rất quan trọng cho cơ sở doanh nghiệp vì nó giúp nhận diện thương hiệu công ty, bởi vậy phải dễ đọc và cân bằng về kích thước, tỷ lệ và nghệ thuật vẽ trên đó.

Kích thước của bảng hiệu tuỳ vào âm dương. Thí dụ: nếu bề dài là âm (88cm) thì bề rộng phải dương, cho là 81cm.

Bảng hiệu nên có từ 3 – 5 màu, 3 tượng trưng cho lớn mạnh, 5 là đầy đủ. Bảng hiệu có 2 hoặc 4 màu thì không được tốt lắm. Việc chọn màu phải tuỳ thuộc vào việc định hướng như bảng dưới đây:

Các quy tắc tổng quát:

  1. Nhìn thuận mắt
  2. Hình dáng cân bằng
  3. Không che cửa sổ hay cửa lớn
  4. Không được hình tam giác.
  5. Không được làm bằng gỗ mềm
  6. Tỷ lệ với kích thước ngôi nhà
  7. Được gắn chặt một cách an toàn

Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:

Xem thêm: Tên và Bảng Hiệu doanh nghiệp hợp phong thủy
Click to listen highlighted text! Powered By DVMS co.,ltd